Author: Nguyễn Huyền

  • Bài tập lớn Sức bền vật liệu

    Bài tập lớn Sức bền vật liệu

    Bài tập lớn Sức bền vật liệu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-S%E1%BB%A9c-b%E1%BB%81n-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Sức bền vật liệu

    PHẦN I: VẼ BIỂU ĐỒ NỘI LỰC

    SƠ ĐỒ A: Hình 4 số liệu 1

    a(m) K q (kN/m) P (kN) M (kNm)
    1 1 2 qa 5qa2

    Tính phản lực

    • = 0 ó

    ∑                  = 0 ó                                                                           ó                                                                   ó

    • =0ó

    ó

    ð                                                               Vậy VA có chiều hướng xuống

    2

    Nhận xét:

    • Tại A có phản lực VA có chiều hướng xuống gây ra bước nhảy có giá trị qa=2kN và do là gối cố định nên không có xuất hiện momen
    • Tại B không có lực cắt nhưng có momen tập trung M nên tại đây xuất hiện bước nhảy chiều hướng xuống với giá trị 5qa2=10 kNm
    • Tại C có phản lực VC có chiều hướng lên với giá trị 2qa=4 kN có chiều hướng lên và làm tại đây có bước nhảy và là gối di động nên không có xuất hiện momen
    • Tại P có lực P=qa=2 kN có chiều hướng lên, tại đây xuất hiện bước nhảy

    Sơ đồ B: Hình 4 số liệu 1

    a(m) k1 k2 q (kN/m) P (kN) M (kNm)
    1 1 0.5 4 5qa 3qa2

    Tính phản lực

    • = 0 ó

    ∑                  = 0 ó                                                                           ó

    3

    ∑              =0ó                                                                                         (                   )             ó

    Xét đoạn AB:

    Dùng mặt cắt 1-1, khảo xát phần bên trái của mặt cắt

    • = 0 ó Nz=0
    • = 0 ó
    • =0ó

    Xét đoạn BC

    4

    Dùng mặt cắt 2-2, khảo xát phần bên trái của mặt cắt

    • = 0 ó Nz=0
    • = 0 ó
    • =0ó

    Xét đoạn CD

    Dùng mặt cắt 3-3, khảo xát phần bên phải của mặt cắt

    • = 0 ó Nz=0

    5

    • = 0 ó
    • =0ó

    Sơ đồ C: Hình 4 số liệu 1

    a(m) q (kN/m) P (kN) M (kNm)
    1 2 6qa 3qa2

    6

    Tính phản lực

    ∑                      = 0 ó

    ∑                  = 0 ó

    ∑               =0ó

    ó

    ó

    ó

    ó

    Vậy chiều của HE và HA ngược với chiều ta xét

    Xét thanh AD:

    Ta tiến hành dời các lực trên thanh CE về điềm C

    • Momen tại C:
    • Lực theo phương ngang :
    • Lực theo phương thẳng đứng:

    7

    Xét thanh CE: ta tiến hành dời các lực trên thanh AD về điểm C

    • Momen tại C:
    • Lực theo phương ngang:
    • Lực theo phương thẳng đứng :

    Kiểm tra: ∑            =Mó

    8

    Sơ đồ D: Hình 4 số liệu 1

    a(m) q (kN/m) P (kN) M (kNm)
    1 2 6qa 3qa2

    Nhận xét:

    –   Xét thanh AB: chịu tác dụng của momen

    , lực phân bố đều q và lực tập trung =12 kN

    • Xét mặt phẳng chứa thanh AB và ngoại lực P, ta thấy thanh có Nz=0; Momen uốn có dạng parabol với momen lớn nhất có giá trị
    • momen xoắn bằng 0.
    • Xét mặt phẳng chứa thanh AB và momen

    . Dễ dàng ta thấy thanh chỉ có momen uốn phân bố đều trên thanh

    • Xét thanh BC: thực hiện dời lực phân bố đều q và momen M về điểm B

    9

    + Việc dời lực phân bố đều về B sinh ra lực tập

    trung                                              momen

    nằm trong mặt phẳng chứa lực P. Vậy tại B có lực P,P’ và momen M,M’ có chiều như hình vẽ:

    • Ta thấy:
    • Thanh có Nz=0
    • Momen M’ gây ra momen xoắn có cùng chiều kim đồng hồ
    • Trong mặt phẳng chứa momen M, momen M gây uốn thanh BC, biểu đồ uốn có dạng phân phối đều với giá trị
    • Trong mặt phẳng chứa P, biểu đồ momen có dạng bậc nhất tuyến tính với lực

    Momen uốn                                                                                                      Momen xoắn

    10

     

    PHẦN II: BÀI TẶP TĂNG CƢỜNG

    BÀI TẬP TĂNG CƢỜNG 1

    Bài 1:

    1.                 Tính phản lực

    • = 0 ó
    • = 0 ó
    • =0ó
    • ó(kN )

    11

    2.                 Biểu đồ Qy và Mx

    Bài 2: Thanh ABC tuyệt đối cứng . các thanh có cùng tiết diện

    [ ]

    12

    1.     Tính nội lực trong các thanh.

    Gọi NzAH, NzBD, NzCD lần lượt là N1, N2, N3

    ∑                     = 0 ó N2                    √                 ó

    • = 0 ó

    ∑                =0ó                                                           ó

    ó                          (kN)

    Vậy chiểu của N1, N2, N3 đúng chiều ta chọn

    2.     Xác định tải trọng cho phép [q]:

    Vì các thanh có cùng tiết diện nên khi xét điều kiện bền, ta xét thanh AH

    AH|     [ σ] ó                          [ ] ó                         [σ]ó

    3.  Tính góc nghiêng của thanh ABC với tải trọng q=

    CC’

    AA’=

    • 000’55”

    Vậy góc nghiêng của ABC với q là 9000’55”

    13

    Bài 3:L=1m, q=20kN/m, P=60kN, M=10kNm

    1.  Phản lực tại các liên kết

    • = 0 ó
    = 0 ó ó
      ó ó
     
    ó        
               

    2.  Biểu đồ nội lực Mx, Qy

    3.     Momen quán tính đối với trục trung tâm Ix

    Ix=   (           )  
               

    4.  Ứng suất pháp trong dầm AB

     

    σ max= -σ min=     | |
       

    14

    5.  Ứng suất tiếp τ nẳm trên đường trung hòa ở mặt cắt có Qmax là:

    Mặt cắt có Qmax tại C với Qmax=P=     kN
       
    τzy= τyz=            
               
    với Sx= (     )  
         
    b=10 cm          

    τzy= τyz=

    15

    Bài 4:

    D=2 cm, q=20kN/m, L=1.5m, E=2.104 kN/cm2

    Tính phản lực:

    Đặt NzCG=N

                                 
    = 0 ó              
                           
    = 0 ó       ó      
                         
                                 
    ó                 ó
                         
                                 
                             
    ó       ó              

    16

    Tanα=                                          ó α  003’26.95”

    Bài 5:

    EIx=hằng số

    Ta dể dàng xác định biểu đồ Momen và dầm giả tạo

    17

    Xét thanh AB:

    Thanh AB có Momen với phương trình

    ó

    ð

    Xét điểm A, z=0 , Qy’=oóC=0

    Xét điểm A: z=0, Mx’=0 ó D=0

    Chuyển vị đứng tại B z=2L

    Góc xoay tại C

    18

    Bài 6:

    σy=0; σx=-6 kN/cm2; τxy=1 kN/cm2; α=1500 1. Giá trị ứng suất pháp σu

    =-5.37(kN/cm2)

    Giá trị ứng suất tiếp

                              (kN/cm2)  

    2.  Ứng suất chính và phương chính của nó

     
       
                              (kN/cm2)  
            √(     )    
               
                        (kN/cm2)  
            (     )    
               

    Vậy αo=-9013’ hoặc αo=80047’

    Thử nghiệm lại vào công thức, ta được:

    αo=-9013’ ứng với

    αo=80047’ ứng với

    19

    Bài 7:

    1. Tìm trọng tâm mặt cắt Chọn chiều như hình vẽ

    Vì hình đối xứng

    1. Momen quán tính đối với trục quán tính chính trung tâm nằm ngang Ix là:

    Bài 8:

    Q=20 kN/m, L=2m.

    20

    1.  Vẽ biểu đồ nội lực

    Tọa độ trọng tâm của mặt cắt ngang

    1. Momen quán tính với trục chính trung tâm nẳm ngang Ix

    4.  Mxmax=0.75qL2=60kNm

    (kN/cm2)

    (kN/cm2)

    21

    4.     Ứng suất tiếp tại đường trung hòa ở mặt cắt có Qmax( tại B)

    Qy=1.75qL=70kN

    τzy= τyz=

    Với b=2 cm;

    τzy= τyz=3.42 kN/cm2

    Bài tập tăng cƣờng 2

    Bài 1:

    P=680kG=68kN; [σk]=400kG/cm2=40kN/cm2; [σn]=1200kG/cm2=120kN/cm2

    Mx=

    My

    Phương trình đường trung hòa:

    22

    • 53x

     

    • Phương trình đường vuông góc đường trung hòa: y=-0.53x (*)

    Phương trình hoành độ giao điểm của đường tròn

    và (*) là:

    ó

    ó

    Dựa vào đồ thị, tọa độ các điểm có

    C(4.42;-2.34) và D(-

    4.42;2.34)

    Vậy thanh bền

    Bài 2: P1=10kN, P2=30kN,P3=20kN

    Ta tiến hành dời các lực về tâm

    23

    24

    Phương trình đường trung hòa:

    25

    Bài 3:P=200kN, a=40cm, b=50cm, xB=-14cm, yB=15cm

    26

    Phương trình đường trung hòa:

    1.4583x-13.89

    27

    Bài 4:

    [σ]=16000 N/cm2, E=2,1.107 N/cm2 cột thép CT3, thép I số hiệu N012 Khoảng cách c để Ix=Iy

    (                                                                   )

    (                    ( )                           )

    • 56 cm

    Xác định tải trọng cho phép [P]

    =100

                               √

    • υ= 0.813

    28

    Áp dung công thức Iasinski

    [ ]                     [ ]ó[ ]

    Xác định hệ số an toàn

    [ ]            ó                                ó

    Bài tập tăng cƣờng 4

    Bài 1:

    Nz=120 kN, Mx=-25kNm, My=20 kNm, Mz=30 kNm, b=10cm, h=15 cm, α=0.231, γ=0.859, [σ]k=[σ]n=16 kN/cm2

    1.     Phương trình đường trung hòa

    29

    1. =

    =

    3.  Kiểm tra điều kiện bền theo thuyết bền thứ ba

    Vậy thanh chưa bền

    4.  Thay mặt cắt ngang hình chữ nhật thành hình tròn có D=12cm

    |        |                           |         |

    Vậy thanh chưa bền

    30

    Bài 2: Đoạn AC có đường kính 10cm, đoạn CD có đường kính 6 cm. L=50cm, g=8.103 kN/cm2, M=8kNm

    Ta giải phóng liên kết ngàm tại D và thay bằng MD có chiều như như hình vẽ

    ó

    Đây là bài toán siêu tĩnh

    Biểu đồ Momen xoắn được phân tích:

    Tại D là tiết diện ngàm, do đó góc xoay của tiết diện D phải bằng không

    ó

    ó

    ó

    31

    ó

    Ứng suất tiếp lớn nhất trong từng đoạn

    Bài 3:

    b=12cm, h=24cm,H=3m, q=10 kN/m, P=250kN

    32

    Mặt cắt nguy hiểm tại đáy

    Phương trình đường trung hòa:

    33

    Bài 4:

    L=2m, E=2.104 kN/cm2, [ ]=16kN/cm2 ; thanh AH và BG có D=8cm Gọi NzAH và Nz BG lần lượt là N1 và N2

    • = 0 ó
    • = 0 ó

                       ó                                                                                                              ó

    Đây là bài toán siêu tĩnh

    ó                   ó   ó

    34

    Điều kiện ổn định của hệ

                      => υ=0.51    
                     
             
                         
                 
    Xét thanh AH:     [      
             
    ó                
                   
    Xét thanh BG:     [        
               
    ó                
    Vậy [q]=0.81 kN/m                

    Bài 5:

    L=100cm, G=8.103 kN/cm2, M=10kNm, đoạn CD có hình vành khăn với đường kính ngoài là 10cm và đường kính trong là 6cm

    35

                     ó                                                                                   ó

    Xét đoạn AB:

    Xét đoạn BC:

    Xét đoạn CD:

    Xét đoạn DK:

    Góc xoắn tại D:

    (                              )

    36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

    STT HỌ VÀ TÊN MSSV
    1 LÊ HẢI HẬU( NT) 41201037
    2 HOÀNG HẢI TRIỀU 21304310
    3 TRƢƠNG QUỐC TUẤN 61104030
    4 PHẠM HOÀNG TRUNG 31003674
    5 LÊ HOÀNG QUÂN 31303209
    6 ĐÀO ĐỨC THẮNG 20902537

     

    ĐỀ TÀI :

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

    Câu 1:

    ·        Cơ sở lý thuyết:

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     ( )    
    ( ) (  )     ( ( ) (  ))
             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

    ( ku ) ‘ = ku

    x ‘ =1

    (uv ) ‘ = uv + uv

    æ 1 ö v
    ç   ÷ = –    
      v 2
    è v ø    

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

    æ u ö u v uv
    ç   ÷ =    
      v 2
    è v ø    

    N , n >1)

    ( v ¹ 0)

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

    Đạo hàm cấp cao:

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

    ·        VÍ DỤ:

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2 f = 30 x – 20 y
      xx  
        f yy  = 12 y -10 f   = 4
          xz  
    f zz  = 18 z + 4 y f yz = 4z
    f = -20x      
      xy        

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20 f = -20 ´ 0 = 0  
              xy    
    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2 = 4  
              fxz  
    f = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22 f = 4 ´ 1 = 4  
    zz          
              yz    
    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   ( ) dưới
    dạng ma trận vuông là:      
      é -20 0 2 ù      
    A = ê 0 2 2 ú      
      ê     ú      
      ê 2 2 22ú      
      ë     û      

    · CODE:

     

    ·        CHẠY THỬ:

    CÂU 2:

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

    2.         Định nghĩa:

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có: f + f × y = 0 (3)              
    x y x              
                         
    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có: g + g × y = 0 (4)  
    x y x
                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

      æ f   g ö æ f   g ö    
    ứng của (3), ta được: ç   + g   ÷ + ç   + g   ÷ = 0 (5)
           
      è x   x ø è y   y ø    

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

    æ f + g g ö = 0  
    ç     ÷ (6)
    y  
    Nghĩa là: è   y ø  

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

    ì f  
    ï    
    x  
    ï f  
    ï
    hệ phương trình: í    
    y  
    ï

    ïïg (x , y)

    î

    + g g = 0    
    x    
               
    + g g = 0 (I)  
    y
               
          = 0    

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

    ìF = f + g g = 0  
         
    ï x     x     y    
    ï              
          f     g    
    ï =   + g = 0  
    íFy       (II)
      y y
    ï              
                     
    ïF   = g (x , y)     = 0  
    ï g                
    î                  

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

    Khi đó xét: D = – 0 D E    
    D A B    
      E B C    
    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại ( )
    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại ( )

    ·        VÍ DỤ:

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

    Ta có x2 – y2 = 1 x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)
    Thay (*) vào f(x,y) ta được:
    f(y) = y2 + y (y R)
    Tập xác định: D = R
    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0
    (   )       ( )    
           
                   
                   
    Xét (   )        
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

    ·        CODE:

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 3:

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV
    V V1 V2
    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

      éj 2 ( x , y ) ù
    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê ò f ( x, y , z )dz ú dxdy
    V ë 1   û
    ê j ( x , y ) ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:
    ·         ; z = 0; y = x;   ;                
                     
    · ( )  ∫                                
                                   
                                   
                             
                     
                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
              ∫∫ ( )      
    ·           (                                   )
                                                   
                                           
                                           
         
    ·                                                      
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2
    ·                                                                                        
                                         
                                     
    ·                                                                                  
                                      (   )                    
                                                 
                           
    ·                                                                                    
                          (     )                                                  
                                                                             
                                                         
                                                                             
    ·                                                                               (   )
                                                                                   
                                                                       
                                                           
                                                               
    ·                                                                                          
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    ·                                                                                      
                                                                                         
                                                                                         
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
    ·                                                                                      
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
    ·                                   )                                                
              (                                                            
                                                                       
                                                       
                                                                     
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
                                                                                                     
    ·                       (           )                             (       )
                                                                     
                                       
                   
    ·             (                         )                                                
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:
    ·                                                                                            
                                                                                               
                                                                                               
    ·                                                                                            
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
    ·           (               )                                                
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             
    ·                                                                                                  
                                                                                                     
                                                                                                     
    ·                                           (           )                           (       )
                                                                                 
                                                             
                                               
    ·       (                                 )                                                  
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3
    ·                   (                   )                                
                                                 
                                                         
    ·                                                                                          
                                                                                             
                                                                                             
    ·   (       )                                     (             )     (       )
                                                                   
                                                               
                                         
    ·         (         )           (         )            
                                                   
                                         
    • Suy ra
    · (     )     (     )                     (         )           (   )            
                             
                           
      (       )       (       )  
                                                                                                                               
                                                           
          (   )   (   )      
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               
    · (         )   (             )       (           )         (   )                                      
                                                                         
                             
                                                                                                                           
      (           (       )  
            )                        
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

    ·        CHẠY THỬ:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực

    Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực

    Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-T%C3%ADnh-Khung-Si%C3%AAu-T%C4%A9nh-B%E1%BA%B1ng-Ph%C6%B0%C6%A1ng-Ph%C3%A1p-L%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực

    Bài tập lớn số 2 : Tính Khung Siêu Tĩnh Bằng Phương Pháp Lực

    Đề số 4.1

    YÊU CẦU VÀ THỨ TỰ THỰC HIỆN

    1.Tính hệ siêu tĩnh do tải trọng tác dụng

    1.1 Vẽ các biểu đồ nội lực: mômen uốn Mp , lực cắt Qp , lực dọc Np trên hệ siêu tĩnh đã cho . Biết F= 10J/L12 (m2)

    1)Xác định bậc siêu tĩnh và chọn hệ cơ bản.

    • Thành lập các phương trình dạng tổng quát.
    • Xác định hệ số và số hạng tự do của phương trình chính tắc, kiểm tra kết quả tính được.
    • Giải hệ phương trình chính tắc.
    • Vẽ biểu đồ mômen trên hệ siêu tĩnh đã cho do tải trọng tác dụng Mp, kiểm tra cân bằng nút và kiểm tra điều kiện chuyển vị.
    • Vẽ biểu đồ lực cắt Qp và lực dọc Np trên hê siêu tĩnh đã cho.

    1.2 Xác định chuyển vị ngang của điểm I hoặc góc xoay của tiết diện K. Biết E=2.108 kN/m2. J=10-6.L14 (m4);

    2. Tính hệ siêu tĩnh chịu tác dụng của ba nguyên nhân (tải trọng, nhiệt độ thay đổi và độ lún gối tựa).

    2.1 Phương trình chính tắc dạng số

    2.2 Trình bày:

    • Cách vẽ biểu đồ mômen Mc do 3 nguyên nhân đồng thời tác dụng lên hệ siêu tĩnh đã cho và cách kiểm tra.
    • Cách tính các chuyển vị đã nêu ở mục trên.

    Biết:

    -Nhiệt độ thay đổi trong thanh xiên thớ trên là tu =+360, thớ dưới là td=+280 -Thanh xiên có chiều cao h=0,1m

    -Hệ số giãn nở dài vì nhiệt độ α= 10-5

    -Chuyển vị gối tựa:

    Gối D dịch chuyển sang phải một đoạn ∆1 =0,001L1 (m)

    Gối tựa H bị lún xuống một đoạn ∆2=0,001L2(m)

    q=30 KN/m

    6 J 2J
     

    M=150 KNm

    P=80 KN

    J 2J

    2J

    • J

    H

    D

    8 8 8

    1.Tính hệ siêu tĩnh do tải trọng tác dụng

    1.1 Vẽ các biểu đồ nội lực Mp ,Qp ,Np trên hệ siêu tĩnh đã cho.

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    1. Xác định bậc siêu tĩnh và chọn hệ cơ bản – Ta có công thức xác định hệ siêu tĩnh là :

    3V – K = 3.2 – 3 = 3 Vậy hệ siêu tĩnh bậc 3

    • Chọn hệ cơ bản

    X3

    X2

    6

    12

    X1

    8 8 8

    1. Thành lập phương trình dạng chữ
      • 11 X1 + δ12 X213 X3  +∆1p =0
    • 21 X1 + δ22 X223 X3  +∆2p =0
    • 31 X1 + δ32 X233 X3  +∆3p =0
    1. xác định các hệ số và số hạng tự do của phương trình chính tắc , kiểm tra các kết quả tính được :

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    12 12

    M1

    KNm

    X1

    X2

    6  6

    M2

    KNm

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    X3

    8

    8

    M3

    KNm

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    1200

    1200

    150

    960

    1350

    2160

    M0p

    KNm

    80 KN

    249,375 KN 350,625 KN

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    Biểu đồ momen đơn vị tổng cộng :

      14   14
         
    12 2 2 12
       
         

    Ms

    KNm

    • Ta có các hệ số và số hạng tự do của phương trình chính tắc :
                1 é12.12     1 12.12 ù   3168
    d11 = (M1 ).(M1 ) =   +12.16.12 + =
      ê   8       8ú    
      2 2   2 EJ
                EJ ë     û  
                                       
    • 12 = d 21 = (M 2 ).(.M 1 ) = EJ1 [16.(-6)]= – 1152EJ

     

    • 13 = d31 = (M 3 ).(M1 ) = 0
              1       é1   2   1   1   2 ù   756  
    d22 = (M             2 ) =                     + 6.16.6 +           =            
    2 )(.M               ê         .6.10.     .6     .       .6.10.     .6ú                      
                        3         3     EJ            
                                                                                                                           
                                    EJ ë2                                         2  2       û                    
              1     é 1   æ   2   ö   1   1     2     ù   80    
                         
                                                                                                                             
    d 23 = d32 = (M 3 .)(M 2 ) =             ê   .6.10ç     .8÷ +     .       .6.10.     .8ú = –                      
                2 3           3   EJ            
    EJ ë è ø 2  2 û  
              1       é 1   2   1   1   2     1 2   ù   661,3    
    d33 = (M             3 ) =             .8 +                   .8 + 2.(8.8.     =
                                                                                                                           
    3 ).(M               ê         .8.10.           .   .8.10.                 .8)ú        
                2 3           3   2 3   EJ
                                      EJ ë                     2  2                                   û    
          1   é1   2   1   ù   383040
      0              
               
    D1 p = (M p ).(M 1 ) =           ê     .12.960.(-       .12) +     .(2160 +1350).16.(-12)ú = –        
                                   
    EJ ë2 3 2 û EJ

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

                            1   é1                   1       3       1   1       3   ù   195480
      0                                                        
                                                             
    D2 p = (M p ).(M 2 ) =       ê     (2160 +1350).16.6 +   .1200.10.   .6 +     .   .1200.10.   .6ú =        
                                 
                              EJ ë2                   3       4       2   3       4   û     EJ
                          1 é1       3     1   1       3       1           8 ù     29280  
      0                                                    
                                                         
    D3 p = (M p ).(M 3 ) =       ê   .1200.10.(-   .8) +   .     .1200.10.     .8 +     .810.16.(-   )ú = –            
                                         
                            EJ ë3       4     2   3       4       2           3 û       EJ
                                                                                                         

    Kiểm tra các hệ số

                1 é12.12   1   1   1   12.12 ù   2016
            1 ) = .8 + .14.14.12 + .2.2.(-12) +   =
    (M S )(M   ê         .     .8ú    
                     
                EJ ë 2   2   2   2   2 û   EJ

    Mặt khác : δ11 + δ12 + δ13 = 31681152 = 2016

    EJ           EJ            EJ

    • Kết quả phù hợp
                    1 é1           2       1     1         2       1       1 ù  
      (M S )(M 2 ) = .2.10.(-   .6) +                 +   -6) + =
        ê         .   .10.14.   .6   .14.14.(   .2.2.6ú
                     
                    EJ ë2           3       2     2         3       2       2 û  
    476                                                                      
    EJ                                                                    
                                                                       
    Mặt khác : δ21 + δ22 + δ23 = 1152 + 756     80 = 476                  
      EJ     EJ     EJ                  
                                                EJ                
    • Kết quả phù hợp
                1 é1   2     1     1       2     1         1 ù   518,3
    (M S )(M 3 ) =   .8 +           .8 +     + =
      ê   .2.10     .   .10.14         .14.14.3,333   .2.2.7,333ú  
                         
                EJ ë2   3     2  2       3     2         2 û   EJ
    Mặt khác : δ31 + δ32 + δ33 = 0 80     + 661,3 = 518,3            
    EJ     EJ EJ              
                                                     
    • Kết quả phù hợp

    (M S )(M p ) =

    1  é 1   3   + 1   1   3   + 1 .960.12.(- 2   +1350.16.(-6) + 1   26 ù
      ê   .1200.10.(   .2)   .   .1200.10.   .14     .12)   .810.16.(   )ú
                       
    EJ ë 3     4     2  3   4     2   3       2     3  û
    • 216840

    EJ

    Mặt khác :  1P2P3P = – 383040 + 195480 29280 = – 216840
    EJ     EJ   EJ   EJ  
               

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    • Kết quả phù hợp

    (M S )(M S ) =

      1  é12.12   + 14.14   2   + 2.2   2   + 8. 1   + 1   1   2   + 1 12.12 ù = 2058.3    
        ê   .8     .   .14   .   .2   .10.2   .   14.10     .14           .8ú            
                                                   
      EJ ë 2     23     2   3     2     2   2   3       2   2   û       EJ  
    Mặt khác : δ11 + δ12 + δ13 + δ21 + δ22 + δ23 + δ31 + δ32 + δ33 = 2016     476 + 518,3 =
      EJ     EJ   EJ
                                                                           

    2058.3

    EJ

    • Kết quả phù hợp
    1. Giải phương trình chính tắc :

    {

    • {

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    1. e) Vẽ biểu đồ momen trên hệ siêu tĩnh đã cho do tải trọng tác dụng (Mp)
    Mp = ̅̅̅̅ ̅̅̅̅ ̅̅̅̅   +
    2869.258   4292.434

    1173.228

    300

    213.228

    150

    2656.03

    3269.206

    Mp

    KNm

    Kiểm tra điều kiện chuyển vị : ̅̅̅̅̅̅̅                      ̅̅̅̅̅                  0

    ̅̅̅̅̅̅̅ ̅̅̅̅̅ 1 *                                            
              EJ                                            
                                    +           .10-4 (m)
    ̅̅̅̅̅̅̅ ̅̅̅̅̅ =     *          
                                                         
                                                         
          +=                                                        

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    ̅̅̅̅̅̅̅  ̅̅̅̅̅ =  *                                                                                                                                                                        +

    = -0.002 (m)

    Ta thấy chuyển vị rất nhỏ do sai số tạo nên.

    Kiểm tra cân bằng nút .

    4292.434KNm

    2656.03KNm

    150KNm

    2869.258KNm

    3269.206KNm

    213.228KNm                                                                                                 1173.228KNm

    • Biểu đồ momen đã vẽ là đúng.
    1. Vẽ biểu đồ lực cắt Qp và lực dọc Np trên hệ siêu tĩnh đã cho.

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    311.4738

    209.661

    491.4738                     –

    29.661

      +
     
      31.136
     

    Np

    KN

    249.375 350.625
     

    309.2434

    385.603

    549.8434

    145.603

    484.904

    Qp

    KN

    17.769 97.769
     

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    1.2 Tính chuyển vị tại I

    Đặt P=1 vào điểm I,giả sử chiều như hình vẽ:

    I

    P=1

    Biểu đồ MI

    I

    P=1                          12

    Mi

    1

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    Chuyển vị ngang tại I :

    ( ̅̅̅̅)( ̅̅̅̅) =                                 (                                              )

    Vậy I dịch chuyển sang phải một đoạn 6,7cm.

    2. tính hệ siêu tĩnh chịu tác dụng của cả 3 nguyên nhân ( tải trọng ,nhiệt độ thay đổi và độ lún gối tựa )

    2.1 viết phương trình chính tắc dạng số :

    1. chọn hệ cơ bản như hình vẽ :

    X3

    X2

    6

    I

    P=1

    12

    X1

    8 8 8

    lập phương trình chính tắc dạng chữ :

    {

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    • Các hệ số của ẩn

    ;                                          ;

    ;                                          ;

    • Các hệ số do tải trọng tác dụng :

    ;                                           ;

    • Tính các hệ số do tác động thay đổi bởi nhiệt độ :
      ̅̅̅̅ ̅̅̅̅
         

    1 KN

    N1

    X1=1

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    0.8

    X2=1

    0.8                                                        +

    1

    N2

    KN

    0.8

    + X3=1
       

    0.6 0.6

    N3

    KN

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

                       –

    1.4

    0.2

    Ns

    KN

    Ta có :

    (             )

    Kiểm tra :

    (                                                )

    =                           +

    • Kết quả phù hợp.

    Tính các hệ số thay đổi bởi chỗ :

    Ta có :                        ∑ ̅̅̅̅̅

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    Kiểm tra :

    Thay các hệ số trên vào hệ phương trình :

    {

    Ta có : s

    {

    {

    Bi ểu đồ MCC = ̅̅̅̅                                        ̅̅̅̅̅                         ̅̅̅̅̅

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    5536,538

    5083,56

    445

    Kiểm tra Mcc. Tách nút :

    5536,538

    9561,658

    6043,56

    150

    3668

    Mcc

    KNm

    9561,658

    445

    3668

    150

    5083,56

    6043,56

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    9561,658

    3668

    150

    6043,56

    Các nút cân bằng.vậy biểu đồ Mcc đã vẽ là đúng.

    Biểu đồ MI

    I

    P=1                  12

    Mi

    1

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53

    Bài tập lớn : cơ học kết cấu

    Giảng viên :TS.Dương Dức Hùng

    Chuyển vị ngang tại I :

    (̅̅̅̅̅).( ̅̅̅̅) =                                                                             = 0,0177 (m)

    Vậy chuyển vị ngang tại I do tất cả cá yếu tố là 0,0177 (m) về bên phải.

    Sinh viên : Phạm Văn Giáp

    Lớp : XDCTN_K53


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ

    BÀI TẬP LỚN TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ

    BÀI TẬP LỚN TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-T%C3%8DNH-TO%C3%81N-S%E1%BB%A8C-K%C3%89O-%C3%94T%C3%94-C%C3%93-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-TRUY%E1%BB%80N-L%E1%BB%B0C-C%C6%A0-KH%C3%8D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ

    TÍNH TOÁN SỨC KÉO ÔTÔ CÓ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC CƠ KHÍ

    A/ NHỮNG THÔNG SỐ BAN ĐẦU VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỌN:

    I. Những dữ liệu cho theo thiết kế phác thảo:

    Loại xe                  :

    Tải trọng                :           1750  Kg

    Vmax                              :           110 km/h = 30.56 m/s

    fmin                                 :           0,02

    fmax                                :           0,04

    imax                                 :           0,36

    Hệ số bám             :

    Xe tham khảo        :

    Ta chọn xe tham khảo :

    ISUZU Forward NKR 4×2

    Loại hệ thống truyền lực : Cơ khí.

    Loại động cơ : Động cơ Diesel 4JJ1-E2N

    – 4 xylanh thẳng hàng, phun nhiên liệu trực tiếp, làm mát bằng nước, OHC

    – D x S : (mm)

    – Dung tích : 2999 cc

    – Nmax : 100/3000 (Kw/rpm)

    – Mmax : 220/2000 (Nm/rpm)

    – Tỉ số nén :

    Kích thước:

    – Chiều rộng cơ sở của ô tô  B=1.400(m)

    – Chiều cao toàn bộ của ô tô H=2.210 (m)

    Cỡ lốp:

    – Trước: 7.00R16 12PR

    – Sau: 7.00R16 12PR

     

    Mitsubisi Canter  4×2

    Loại hệ thống truyền lực : Cơ khí.

    Loại động cơ : Động cơ Diesel 4D34 – 2AT5

    – 4 xylanh thẳng hàng, phun nhiên liệu trực tiếp, làm mát bằng nước, OHC

    – D x S : (mm)

    – Dung tích : 3908  cc

    – Nmax :  110/2900 (Kw/rpm)

    – Mmax :  280/1600 (Nm/rpm)

    – Tỉ số nén : 17,5:1

    Kích thước:

    – Chiều rộng cơ sở của ô tô  B=1.39(m)

    – Chiều cao toàn bộ của ô tô H=2.055 (m)

    Cỡ lốp:

    – Trước: 7.00R16 12PR

    – Sau: 7.00R16 12PR

    Huyndai HD 65 4×2

    Loại hệ thống truyền lực : Cơ khí.

    Loại động cơ : Động cơ Diesel D4DB

    – 4 xylanh thẳng hàng, phun nhiên liệu trực tiếp, làm mát bằng nước, OHC

    – D x S : (mm)

    – Dung tích : 3568  cc

    – Nmax : 120/3200(Kw/rpm)

    – Mmax : 300/2000(Nm/rpm)

    – Tỉ số nén : 18:1

    Kích thước:

    – Chiều rộng cơ sở của ô tô  B=1475(m)

    – Chiều cao toàn bộ của ô tô H=2.285 (m)

    Cỡ lốp:

    – Trước: 7.00R16 10PR

    – Sau: 7.00R16 10PR

    II. Những thông số chọn và tính chọn:

    1.      Trọng lượng không tải của ô tô (tự trọng hay trọng lượng thiết kế )

    Hệ số khai thác KG:

    KG = Gc/G0

    Với:

    + Gc: tải trọng chuyên chở.

    + Go: tự trọng của ô tô.

    Hệ số khai thác KG được tra theo bảng 1.3 tài liệu tính toán sức kéo ô tô máy kéo.

    => Chọn KG =1

    (Kg)

    2.      Tính chọn trọng lượng toàn bộ của ô tô.

    Trọng lượng xe đầy tải: Ga  = Go + A.n + Gc

    Trong đó:

    + A là trọng lượng trung bình của 1 hành khách. Ta chọn A=65(Kg)

    + n là số chỗ ngồi. Ở đây n=3(người)

    è Ga = Go + A.n  + Gc = 1750+ 65*3 + 1750 = 3695(Kg)

    3.      Sự phân bố tải trọng động của ô tô ra các trục bánh xe khi đầy tải.

    Ta sử dụng xe có một cầu chủ động(cầu sau).

    Ta chọn :

    m1 = 0,35 => G1 = Ga . m1 = 1293.25(N)

    m2 = 0,65 => G2 = Ga . m2 = 2401.75(N)

    4.       Hệ số dạng khí động học K, nhân tố cản khí động học W và diện tích cản chính diện F.

    Nhân tố cản khí động học: W=K.F

    Hệ số dạng khí động học K được tra theo bảng 1.3 tài liệu tính toán sức kéo ô tô máy kéo => Chọn K = 0,7 NS2/m4

    Diện tích cản chính diện F:

    F = m. B . H

    Trong đó:

    B – Chiều rộng cơ sở của ô tô  (m)

    H – Chiều cao toàn bộ của ô tô (m)

    m – Hệ số điền đầy, chọn theo loại ô tô:

    + Đối với ô tô tải nặng và ô tô bus: m = 1,00-1,10.

    + Đối với ô tô con và ô tô tải nhẹ:  m = 0,90 ¸ 0,95=> Chọn m=0.9.

    Từ các xe tham khảo ta chọn:

    B=1.4(m)

    H=2.1 (m)

    =>  F = 0.9*1.4*2.1=2646(m2)

    => W = K . F = 0,7*2,646 = 1,8522 (NS2/m2).

    5. Hiệu suất của hệ thống truyền lực, được chọn theo loại ôtô

    – Đối với ô tô con và tải nhẹ: ht = 0,85 ¸ 0,90

    – Đối với ô tô tải nặng và khách: ht = 0,83 ¸ 0,85

    – Đối với ô tô nhiều cầu chủ động: ht = 0,75 ¸ 0,80

    => Chọn .

    6. Tính chọn lốp xe:

    Ta chọn cầu trước có 2 bánh, cầu sau có 4 bánh.

    Trọng lượng được đặt lên mỗi bánh xe:

    m1 = 0,35 => G1 = Ga . m1 = 1293.25(N)

    m2 = 0,65 => G2 = Ga . m2 = 2401.75(N)

    Từ đó, ta chọn lốp như sau:

    7.00R16 12PR cho cầu trước.

    7.00R16 12PR cho cầu sau.

    + Các thông số hình học bánh xe cầu trước và sau:

     

    B. CHỌN ĐỘNG CƠ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG ĐẶC TÍNH NGOÀI CỦA ĐỘNG CƠ.

    1. Xác định NVmax của động cơ ở chế độ vận tốc cực đại Vmax của ô tô.

    <kW>

    Với:

    +

    =>

    2. Chọn động cơ và xây dựng đường đặc tính ngoài của động cơ.

    0a) Chọn động cơ:

    Do yêu cầu sử dụng xe tải có tải trọng lớn nên ta chọn động cơ diesel có buồng cháy thống nhất cho quá trình tính toán.

    1b) Xây dựng đường đặc tính ngoài lý tưởng.

    * Điểm có tọa độ ứng với vận tốc cực đại:

    Theo xe tham khảo, ta chọn sơ bộ các thông số sau:

    Tỉ số truyền cầu chủ động :

    Tỉ số truyền tăng ; iht = 0,7

    Số vòng quay động cơ ứng với vận tốc cực đại của ô tô:

    * Điểm có toạ độ ứng với công suất cực đại:

    Nemax của động cơ được chọn theo công thức thực nghiệm của Leidecman:

    Nemax = NV/[a(nV/nN)+b(nV/nN)2-c(nV/nN)3] (kW)

    Trong đó:

    +  nN là số vòng quay động cơ ứng với công suất cực đại (Nemax).

    Vì động cơ sử dụng là động cơ diesel, nên theo lý thuyết, ta có: nN = nV = 3518 (v/p)

    + Các hệ số a=0.5 ; b=1.5 ; c=1 khi chọn động cơ diesel có buồng cháy thống nhất

    => Nemax = Nvmax = 115.295(kW)

    * Điểm bắt đầu làm việc của bộ điều tốc: nemax = nV + 300 = 3818 (v/p)

    * Điểm có số vòng quay chạy không tải: n = 600 v/p

    * Xây dựng đường đặc tính ngoài lý tưởng cho động cơ:

    Vẽ các đồ thị Ne = f(ne)

    Me = f(ne,Ne)

    Với:

    Bảng ne , K , Ne , Me:

     (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    K 0.1 0.152 0.258 0.376 0.5 0.624
     (W) 12149,21 17524,84 29746,11 43350,92 57647,5 71944,08
     (Nmm) 219894,5 237892,9 269194,6 294236 313017 325537,7
    ne (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    K 0.742 0.848 0.936 1 1.034 1.032
    Ne (W) 85548,89 97770,16 107916,1 115295 119215 118984,4
    Me (Nmm) 331798 331798 325537,7 313017 294236 269194,6

    Ñoà thò:                                                                                   

     

    3. Chọn động cơ và xác định đường đặc tính ngoài thực tế

    C. TÍNH CHỌN TỈ  SỐ TRUYỀN CỦA CẦU CHỦ ĐỘNG

    i0 = ;

    D. XÁC ĐỊNH TỈ SỐ TRUYỀN CỦA HỘP SỐ:

    1 . Tỉ số truyền ở tay số 1:

    Tỉ số truyền của hộp số được xác định bắt đầu từ số 1, phải thỏa mãn hai điều kiện sau: Lực kéo tiếp tuyến lớn nhất ở bánh xe chủ động phải thắng được lực cản tổng cộng lớn nhất của đường và lực kéo này phải thỏa mãn điều kiện bám:

    Hay:

    Lực kéo tiếp tuyến này cũng phải thỏa mãn điều kiện bám (tránh hiện tượng trượt quay của bánh xe chủ động) PKmax < Pj

    2 . Tỉ số truyền các tay số trung gian:

    Theo yêu cầu sử dụng đối với xe tải nặng, ta chọn hộp số có 5 số tới, một số lùi, tỉ số truyền phân bố theo cấp số điều hoà.

    Vậy ta có các tay số sau:

    ih1 = 3.2; ih2 = 1,85; ih3 = 1,3; ih4 = 1; ih5 = 0,8

    3 . Tay số lùi:

    Ta chọn: iR = ih1 = 3,2

    E. XÂY DỰNG ĐỒ THỊ CÂN BẰNG CÔNG SUẤT:

    1. Phương trình cân bằng công suất của ô tô

    Ne = Nr + Nf  Ni + NW  Nj + Nmk + N0

    Trong đó:

    + Ne  – công suất của động cơ

    + Nr = Ne (1 – ht) – công suất tiêu hao do ma sát trong hệ thống truyền lực.

    + Nf  = fGVcosa /1000 – công suất tiêu hao để thắng lực cản lăn(kW).

    + Ni = GVsinsa /1000 – công suất tiêu hao để thắng lực cản dốc(kW).

    + NW = KFV3 /1000 – công suất tiêu hao để thắng lực cản không khí(kW).

    + Nj = (G/g) di.J.V/1000 – công suất tiêu hao để thắng lực cản quán tính(kW).

    + NmK =Pmk.V/1000 – công suất tiêu hao để thắng lực cản ở moóc kéo(kW).

    + N0 = 0,1047.M0. n0 /1000 – công suất tiêu hao do các bộ phận thu công suất(kW).

    Trong điều kiện đường bằng, xe chạy ổn định, không kéo moóc và không trích công suất, sự cân bằng công suất được tính:

    Ne = Nr + Nf + NW + Nd = Nf + NK

    • Trong đó:
    • + Nd = N0NiNj+ NmK là công suất dự dùng để leo dốc, truyền công suất ô tô làm việc ở các giá trị này.

    + NK: Công suất kéo của ô tô ở bánh xe chủ động được tính :

    NK = Ne – Nr = Ne . ht = N+ NW + Nd

    Xác định vận tốc của xe tại các tay số theo công thức sau:

    Vi = 2pnerb/ (60it) = 0,1047 (m/s)

    Vi = vận tốc ở tay số có tỉ số truyền ihi

    Bảng chế độ vận tốc tại các tay số :

      527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (m/s) 1.00252361 1.336698 2.005047 2.673396 3.341745363 4.010094
    (m/s) 1.73409489 2.312127 3.46819 4.624253 5.780316303 6.93638
    (m/s) 2.46775042 3.290334 4.935501 6.580668 8.225834739 9.871002
    (m/s) 3.20807555 4.277434 6.416151 8.554868 10.69358516 12.8323
    (m/s) 4.01009444 5.346793 8.020189 10.69359 13.36698145 16.04038
    (m/s) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (m/s) 4.678444 5.346793 6.015142 6.683491 7.35184 8.020189
    (m/s) 8.092443 9.248506 10.40457 11.56063 12.7167 13.87276
    (m/s) 11.51617 13.16134 14.8065 16.45167 18.09684 19.742
    (m/s) 14.97102 17.10974 19.24845 21.38717 23.52589 25.6646
    (m/s) 18.71377 21.38717 24.06057 26.73396 29.40736 32.08076

    Bảng ne , Ne , Nk , Nfi , Nwi , Nji :

    * Tay số 1 :

    (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (W) 12149,21 17524,84 29746,11 43350,92 57647,5 71944,08
    (kW) 10.3268285 14.89611 25.28419 36.84828 49.000375 61.15247
    (kW) 0.14817299 0.197564 0.296346 0.395128 0.493909965 0.592692
    (kW) 0.00186626 0.004424 0.01493 0.03539 0.06912067 0.119441
    =(kW) 10.1767893 14.69413 24.97292 36.41776 48.43734436 60.44034
    (kW) 0.15003925 0.201988 0.311276 0.430518 0.563030635 0.712132
    (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (W) 85548,89 97770,16 107916,1 115295 119215 118984,4
    (kW) 72.71656 83.10464 91.72869 98.00075 101.3328 101.1367
    (kW) 0.691474 0.790256 0.889038 0.98782 1.086602 1.185384
    (kW) 0.189667 0.283118 0.403112 0.552965 0.735997 0.955524
    =(kW) 71.83542 82.03126 90.43654 96.45996 99.51015 98.99583
    (kW) 0.881141 1.073374 1.29215 1.540785 1.822599 2.140908

    Xeùt taïi n = 3518 voøng/phuùt thì coâng suaát ñaït giaù trò lôùn nhaát

    Suy ra

    Ta coù

    Do chaïy treân ñuôøng baèng , xe khoâng coù mooùc neân , neân

    Tay soá 2:

    (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (W) 12149.21 17524.84 29746.11 43350.92 57647.5 71944.08
    (kW) 10.3268285 14.89611 25.28419 36.84828 49.000375 61.15247
    (kW) 0.25629922 0.341732 0.512598 0.683465 0.85433075 1.025197
    (kW) 0.00965843 0.022894 0.077267 0.183152 0.357719563 0.618139
    =(kW) 10.0608708 14.53149 24.69433 35.98166 47.78832469 59.50913
    (kW) 0.26595765 0.364626 0.589866 0.866617 1.212050313 1.643336
    (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (W) 85548.89 97770.16 107916.1 115295 119215 118984.4
    (kW) 72.71656 83.10464 91.72869 98.00075 101.3328 101.1367
    (kW) 1.196063 1.366929 1.537795 1.708661 1.879528 2.050394
    (kW) 0.981582 1.465219 2.08622 2.861757 3.808998 4.945115
    =(kW) 70.53891 80.27249 88.10467 93.43033 95.64422 94.14123
    (kW) 2.177646 2.832149 3.624016 4.570418 5.688526 6.995509

    * Tay soá 3 :

    (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (W) 12149.21 17524.84 29746.11 43350.92 57647.5 71944.08
    (kW) 10.3268285 14.89611 25.28419 36.84828 49.000375 61.15247
    (kW) 0.36473351 0.486311 0.729467 0.972623 1.215778374 1.458934
    (kW) 0.02783502 0.065979 0.22268 0.527835 1.030926777 1.781441
    =(kW) 9.93425996 14.34382 24.33205 35.34782 46.75366985 57.91209
    (kW) 0.39256854 0.552291 0.952147 1.500457 2.246705152 3.240376
    (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (W) 85548.89 97770.16 107916.1 115295 119215 118984.4
    (kW) 72.71656 83.10464 91.72869 98.00075 101.3328 101.1367
    (kW) 1.70209 1.945245 2.188401 2.431557 2.674712 2.917868
    (kW) 2.828863 4.222676 6.012365 8.247414 10.97731 14.25153
    =(kW) 68.1856 76.93671 83.52792 87.32178 87.68073 83.96734
    (kW) 4.530953 6.167921 8.200766 10.67897 13.65202 17.1694

    * Tay soá 4:

    (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (W) 12149.21 17524.84 29746.11 43350.92 57647.5 71944.08
    (kW) 10.3268285 14.89611 25.28419 36.84828 49.000375 61.15247
    (kW) 0.47415357 0.632205 0.948307 1.26441 1.580511887 1.896614
    (kW) 0.06115355 0.144957 0.489228 1.159652 2.26494613 3.913827
    =(kW) 9.79152139 14.11895 23.84666 34.42422 45.15491698 55.34203
    (kW) 0.53530711 0.777161 1.437535 2.424062 3.845458017 5.810441
    (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (W) 85548.89 97770.16 107916.1 115295 119215 118984.4
    (kW) 72.71656 83.10464 91.72869 98.00075 101.3328 101.1367
    (kW) 2.212717 2.528819 2.844921 3.161024 3.477126 3.793229
    (kW) 6.215012 9.277219 13.20917 18.11957 24.11715 31.31062
    =(kW) 64.28883 71.2986 75.6746 76.72016 73.73848 66.0329
    (kW) 8.427729 11.80604 16.05409 21.28059 27.59427 35.10384

    * Tay soá 5:

    (v/p) 527.7 703.6 1055.4 1407.2 1759 2110.8
    (W) 12149.21 17524.84 29746.11 43350.92 57647.5 71944.08
    (kW) 10.3268285 14.89611 25.28419 36.84828 49.000375 61.15247
    (kW) 0.59269196 0.790256 1.185384 1.580512 1.975639859 2.370768
    (kW) 0.11944052 0.283118 0.955524 2.264946 4.42372291 7.644193
    =(kW) 9.61469602 13.82274 23.14329 33.00282 42.60101223 51.13751
    (kW) 0.71213248 1.073374 2.140908 3.845458 6.399362768 10.01496
    (v/p) 2462.6 2814.4 3166.2 3518 3869.8 4221.6
    (W) 85548.89 97770.16 107916.1 115295 119215 118984.4
    (kW) 72.71656 83.10464 91.72869 98.00075 101.3328 101.1367
    (kW) 2.765896 3.161024 3.556152 3.95128 4.346408 4.741536
    (kW) 12.1387 18.11957 25.79915 35.38978 47.1038 61.15355
    =(kW) 57.81197 61.82404 62.37338 58.65969 49.88254 35.24166
    (kW) 14.90459 21.28059 29.3553 39.34106 51.45021 65.89508

    F. XAÂY DÖÏNG ÑOÀ THÒ CAÂN BAÈNG LÖÏC KEÙO:

    1. Phöông trình caân baèng löïc keùo cuûa oâ toâ

    PK = Pf  Pi + PW  Pj + PmK                                                

    Trong ñoù:             Pf = f.G.cosa (N)                    – löïc caûn laên.

    PW =K.F.V2    (N)                   – löïc caûn gioù.

    Pi = G.sina (N)                       – löïc caûn leân doác.

    Pj = (N)                     – löïc caûn taêng toác.

    PmK (N)                                    – löïc keùo ôû mooùc keùo.

    Löïc keùo baùnh xe chuû ñoäng PK ñöôïc tính:

    PK = (N)

    C1 = (N)                   – haèng soá tính toaùn

    Ñieàu kieän chuyeån ñoäng: Xe chaïy treân ñöôøng baèng(), ñaày taûi, khoâng keùo mooùc, khoâng trích coâng suaát.

    Lực kéo dư Pd =  Pi  Pj  PmK dùng để leo dốc, tăng tốc và kéo moóc.

    Bảng v , Me , Pk , Pf , Pw , Pj :

    * Tay số 1:

      V(m/s) 1.00252361 1.336698 2.005047 2.673396 3.341745363 4.010094  
        219894.5 237892.9 269194.6 294236 313017 325537.7  
        10300.8357 11143.96 12610.27 13783.32 14663.10747 15249.63  
        147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8  
        1.86156025 3.30944 7.446241 13.23776 20.68400281 29.78496  
        10151.1741 10992.85 12455.03 13622.28 14494.62346 15072.05  
        149.66156 151.1094 155.2462 161.0378 168.4840028 177.585  
               
                             
      V(m/s) 4.678444 5.346793 6.015142 6.683491 7.35184 8.020189  
        331798 331798 325537.7 313017 294236 269194.6  
        15542.89 15542.89 15249.63 14663.11 13783.32 12610.27  
        147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8  
        40.54065 52.95105 67.01617 82.73601 100.1106 119.1399  
        15354.55 15342.14 15034.82 14432.57 13535.41 12343.33  
        188.3406 200.751 214.8162 230.536 247.9106 266.9399  
               
                               

    * Tay soá 2:

    V(m/s) 1.73409489 2.312127 3.46819 4.624253 5.780316303 6.93638
      219894.5 237892.9 269194.6 294236 313017 325537.7
      5955.17063 6442.602 7290.313 7968.483 8477.109004 8816.194
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      5.56972301 9.90173 22.27889 39.60692 61.88581117 89.11557
      5801.80091 6284.901 7120.234 7781.076 8267.423193 8579.278
      153.369723 157.7017 170.0789 187.4069 209.6858112 236.9156
    V(m/s) 8.092443 9.248506 10.40457 11.56063 12.7167 13.87276
      331798 331798 325537.7 313017 294236 269194.6
      8985.735 8985.735 8816.194 8477.109 7968.483 7290.313
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      121.2962 158.4277 200.51 247.5432 299.5273 356.4623
      8716.639 8679.507 8467.884 8081.766 7521.156 6786.051
      269.0962 306.2277 348.31 395.3432 447.3273 504.2623

    * Tay số 3:

    V(m/s) 2.46775042 3.290334 4.935501 6.580668 8.225834739 9.871002
      219894.5 237892.9 269194.6 294236 313017 325537.7
      4184.7145 4527.234 5122.923 5599.475 5956.887408 6195.163
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      11.279513 20.05247 45.11805 80.20987 125.3279223 180.4722
      4025.63499 4359.382 4930.005 5371.465 5683.759486 5866.891
      159.079513 167.8525 192.9181 228.0099 273.1279223 328.2722
    V(m/s) 11.51617 13.16134 14.8065 16.45167 18.09684 19.742
      331798 331798 325537.7 313017 294236 269194.6
      6314.3 6314.3 6195.163 5956.887 5599.475 5122.923
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      245.6427 320.8395 406.0625 501.3117 606.5871 721.8888
      5920.858 5845.661 5641.301 5307.776 4845.087 4253.234
      393.4427 468.6395 553.8625 649.1117 754.3871 869.6888

    * Tay số 4:

    V(m/s) 3.20807555 4.277434 6.416151 8.554868 10.69358516 12.8323
      219894.5 237892.9 269194.6 294236 313017 325537.7
      3219.01115 3482.488 3940.71 4307.288 4582.221083 4765.51
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      19.062377 33.88867 76.24951 135.5547 211.8041887 304.998
      3052.14878 3300.799 3716.66 4023.933 4222.616895 4312.712
      166.862377 181.6887 224.0495 283.3547 359.6041887 452.798
    V(m/s) 14.97102 17.10974 19.24845 21.38717 23.52589 25.6646
      331798 331798 325537.7 313017 294236 269194.6
      4857.154 4857.154 4765.51 4582.221 4307.288 3940.71
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      415.1362 542.2187 686.2456 847.2168 1025.132 1219.992
      4294.218 4167.135 3931.465 3587.204 3134.356 2572.918
      562.9362 690.0187 834.0456 995.0168 1172.932 1367.792

    * Tay số 5:

    V(m/s) 4.01009444 5.346793 8.020189 10.69359 13.36698145 16.04038
      2575.20892 2785.99 3152.568 3445.83 3665.776867 3812.408
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      29.784964 52.95105 119.1399 211.8042 330.9440449 476.5594
      2397.62396 2585.239 2885.628 3086.226 3187.032822 3188.049
      177.584964 200.751 266.9399 359.6042 478.7440449 624.3594
      2575.20892 2785.99 3152.568 3445.83 3665.776867 3812.408
    V(m/s) 18.71377 21.38717 24.06057 26.73396 29.40736 32.08076
      3885.723 3885.723 3812.408 3665.777 3445.83 3152.568
      147.8 147.8 147.8 147.8 147.8 147.8
      648.6503 847.2168 1072.259 1323.776 1601.769 1906.238
      3089.273 2890.706 2592.349 2194.201 1696.261 1098.53
      796.4503 995.0168 1220.059 1471.576 1749.569 2054.038
      2054.0377 3536.667 7772.751 13703.27 21328.21887 30647.6

     

    1. XÂY DỰNG ĐỒ THỊ ĐẶC TÍNH ĐỘNG LỰC HỌC:

    Nhân tố động lực học được tính theo công thức sau:

    Bảng v, D:

    * Tay số 1:

    V (m/s) 2,256 2,780 3,985 4,150 4,598
    Pk (N) 10129 11546,8 13078,6 14292 12617,6
    Pw (N) 9,16 13,91 28,58 31,00 38,05
    D 0.27 0.30 0.34 0.37 0.39
    V (m/s) 4,985 5,089 5,168 5,708 5,980
    Pk (N) 10096,8 9730,7 10101,6 9178,5 9935,4
    Pw (N) 44,7 46,6 48,1 58,6 64,4
    D 0.41 0.41 0.41 0.39 0.37

    * Tay soá 2:

    V (m/s) 1.73409489 2.312127 3.46819 4.624253 5.780316303
    Pk (N) 3001.388 3130.758 3208.380 3234.254 3208.380
    Pw (N) 10.817 24.337 43.267 67.604 97.350
    D 0.16 0.17 0.19 0.14 0.22
    V (m/s) 8.092443 9.248506 10.40457 11.56063 12.7167
    Pk (N) 3001.388 2820.270 2587.403 2302.789 1966.427
    Pw (N) 173.066 219.037 270.416 327.204 389.399
    D 0.24 0.24 0.23 0.22 0.20

    * Tay soá 3:

    V (m/s) 2.46775042 3.290334 4.935501 6.580668 8.225834739
    Pk (N) 2573.19 2684.103 2750.651 2772.834 2750.651
    Pw (N) 14.716 33.111 58.864 91.976 132.445
    D 0.11 0.12 0.14 0.15 0.12
    V (m/s) 11.51617 13.16134 14.8065 16.45167 18.09684
    Pk (N) 2573.19 2417.911 2218.267 1974.258 1685.883
    Pw (N) 235.458 298.001 367.903 445.163 529.780
    D 0.16 0.16 0.15 0.15 0.14

    * Tay soá 4:

    V (m/s) 3.20807555 4.277434 6.416151 8.554868 10.69358516
    Pk (N) 2000.925 2087.172 2138.920 2156.169 2138.920
    Pw (N) 24.34 54.76 97.35 152.11 219.04
    D 0.09 0.09 0.10 0.11 0.13
    V (m/s) 14.97102 17.10974 19.24845 21.38717 23.52589
    Pk (N) 2000.925 1880.180 1724.936 1535.193 1310.951
    Pw (N) 389.40 492.83 608.44 736.21 876.15
    D 0.12 0.12 0.11 0.10 0.09

    * Tay soá 5:

    V (m/s) 4.01009444 5.346793 8.020189 10.69359 13.36698145
    Pk (N) 2000.925 2087.172 2138.920 2156.169 2138.920
    Pw (N) 24.34 54.76 97.35 152.11 219.04
    D 0.07 0.07 0.08 0.09 0.09
    V (m/s) 18.71377 21.38717 24.06057 26.73396 29.40736
    Pk (N) 2000.925 1880.180 1724.936 1535.193 1310.951
    Pw (N) 389.40 492.83 608.44 736.21 876.15
    D 0.09 0.08 0.07 0.06 0.05

    2. Ñoà thò nhaân toá ñoäng löïc hoïc:

    Khi oâ toâ chuyeån ñoäng vôùi taûi troïng thay ñoåi, ñaëc tính ñoäng löïc hoïc cuõng seõ thay ñoåi, coù theå aùp duïng ñoà thò tia ñeå khaûo saùt, ñoà thò tia naøy ñöôïc xaây döïng veà phía beân traùi ñoà thò D, caùc tia coù goùc nghieâng ôû goùc toïa ñoä vôùi:

    tga = = ;

    a – goùc nghieâng cuûa tia öùng vôùi soá phaàn traêm taûi troïng söû duïng so vôùi taûi ñònh möùc cuûa xe.

    D vaø Dx – nhaân toá ñoäng löïc hoïc cuûa oâ toâ ôû taûi ñònh möùc Gt vaø ôû taûi Gtx.

    Gx – troïng löôïng toaøn boä cuûa oâ toâ ôû taûi Gtx:  Gx = Go + Gtx.

    Gtx – taûi troïng cuûa oâ toâ.

    Caùc goùc tia:

    Gtx/Gt Gtx Gx=Go+Gtx tga=Gx/Ga a
    0 0 1320 0.804878 38.83
    0.1 32 1352 0.82439 39.50
    0.2 64 1384 0.843902 40.16
    0.4 128 1448 0.882927 41.44
    0.6 192 1512 0.921951 42.67
    0.8 256 1576 0.960976 43.86
    1 320 1640 1 45.00
    1.2 384 1704 1.039024 46.10
    1.4 448 1768 1.078049 47.15
    1.6 512 1832 1.117073 48.17
    1.8 576 1896 1.156098 49.14

     

    H. XAÂY DÖÏNG ÑOÀ THÒ ÑAÏT  TÍNH TAÊNG TOÁC:

     1. Ñoà thò gia toác cuûa oâ toâ

    Gia toác cuûa oâ toâ khi chuyeån ñoäng khoâng oån ñònh ñöôïc tính nhö sau:

    (theâm giaûi thích caùc soá lieäu ,choïn = f min)

    Khi tính gia toác treân ñöôøng baèng (ñöôøng khoâng coù ñoä doác, i=0); y = f.

    di: heä soá tính ñeán aûnh höôûng cuûa caùc khoái löôïng quay, coù theå tính theo coâng thöùc kinh nghieäm: di = 1,03 + a.

    Choïn a = 0,05 =>

    Vì D laø haøm soá cuûa vaän toác, neân j cuõng laø moät haøm töông töï, ôû caùc soá truyeàn khaùc nhau. Theo töøng vaän toác, ta laäp ñöôïc baûng tính toaùn. Töø caùc soá lieäu cuûa baûng naøy, laäp ñoà thò gia toác j = f(V) vaø gia toác ngöôïc 1/j = f (V), ñoà thò gia toác ngöôïc seõ duøng ñeå tính thôøi gian vaø quaõng ñöôøng taêng toác.

    Baûng v , D , j , 1/j:

    * Tay soá 1:

    V (m/s) 1.00252361 1.336698 2.005047 2.673396 3.341745363 4.010094
    D 0.27872731 0.301506 0.341078 0.372668 0.396276684 0.411904
    j (m/s2) 1.67786842 1.825591 2.082217 2.287082 2.440186016 2.54153
    1/j (s2/m) 0.59599429 0.547768 0.480257 0.437238 0.409804824 0.393464
     
    V (m/s) 4.678444 5.346793 6.015142 6.683491 7.35184 8.020189
    D 0.419549 0.419214 0.410896 0.394597 0.370317 0.338055
    j (m/s2) 2.591112 2.588934 2.534995 2.429295 2.271835 2.062613
    1/j (s2/m) 0.385935 0.386259 0.394478 0.411642 0.440173 0.484822

    * Tay soá 2:

    V (m/s) 1.73409489 2.312127 3.46819 4.624253 5.780316303 6.93638
    D 0.16101762 0.174092 0.196699 0.214584 0.22774623 0.236186
    j (m/s2) 0.91451113 0.9993 1.145909 1.261893 1.347251815 1.401985
    1/j (s2/m) 1.09348041 1.000701 0.87267 0.79246 0.742251737 0.713274
     
    V (m/s) 8.092443 9.248506 10.40457 11.56063 12.7167 13.87276
    D 0.239904 0.238899 0.233171 0.222722 0.20755 0.187655
    j (m/s2) 1.426094 1.419577 1.382435 1.314667 1.216275 1.087257
    1/j (s2/m) 0.701216 0.704435 0.723362 0.760649 0.822183 0.919746

    * Tay soá 3:

    V (m/s) 2.46775042 3.290334 4.935501 6.580668 8.225834739 9.871002
    D 0.11294817 0.121981 0.137424 0.149371 0.15782299 0.162779
    j (m/s2) 0.91451113 0.9993 1.145909 1.261893 1.347251815 1.401985
    1/j (s2/m) 1.09348041 1.000701 0.87267 0.79246 0.742251737 0.713274
     
    V (m/s) 11.51617 13.16134 14.8065 16.45167 18.09684 19.742
    D 0.16424 0.162205 0.156674 0.147648 0.135126 0.119108
    j (m/s2) 1.426094 1.419577 1.382435 1.314667 1.216275 1.087257
    1/j (s2/m) 0.701216 0.704435 0.723362 0.760649 0.822183 0.919746

    * Tay soá 4:

    V (m/s) 3.20807555 4.277434 6.416151 8.554868 10.69358516 12.8323
    D 0.08660213 0.093332 0.104586 0.112902 0.118279212 0.120718
    j (m/s2) 0.61668641 0.678995 0.783206 0.860205 0.909992707 0.93257
    1/j (s2/m) 1.62156971 1.472764 1.276804 1.162514 1.098909906 1.072306
     
    V (m/s) 14.97102 17.10974 19.24845 21.38717 23.52589 25.6646
    D 0.120217 0.116778 0.1104 0.101083 0.088827 0.073632
    j (m/s2) 0.927935 0.89609 0.837033 0.750765 0.637287 0.496596
    1/j (s2/m) 1.077662 1.11596 1.194696 1.331974 1.569153 2.013708

    * Tay soá 5:

    V (m/s) 4.01009444 5.346793 8.020189 10.69359 13.36698145 16.04038
    D 0.06888833 0.073966 0.082095 0.087524 0.09025258 0.09028
    j (m/s2) 0.46034213 0.508153 0.584703 0.635823 0.66151205 0.661771
    1/j (s2/m) 2.17229736 1.96791 1.710269 1.572765 1.511688259 1.511097
     
    V (m/s) 18.71377 21.38717 24.06057 26.73396 29.40736 32.08076
    D 0.087607 0.082233 0.074158 0.063383 0.049907 0.03373
    j (m/s2) 0.636599 0.585997 0.509965 0.408503 0.28161 0.129286
    1/j (s2/m) 1.570847 1.706492 1.960918 2.447965 3.551016 7.734785

    2. Ñoà thò thôøi gian vaø quãng đường tăng tốc của ô tô

    Quãng đường tăng tốc của ôtô được tính theo công thức:  

    S =

    Kết quả tính được đưa vào bảng 1.13. Từ kết quả này vẽ đồ thị t = f(V) hình1.8.

    Sử dụng đồ thị  t = f(V) và dùng phương pháp tích phân đồ thị hình 1.8, tính phần diện tích F giữa đường cong và khoảng tung độ ti tương ứng với Vi và lập bảng 1.14.

    Các giá trị Si được tính như sau:

    Trong đó: C – tỉ lệ xích của thời gian tăng tốc (s/mm).

                 Bảng 1.14

    Khoảng Vi m/s 1,4 ¸ 2,8 2,8 ¸ 5,6 5,6 ¸ 14 14¸28 28¸54
    Khoảng ti  (giây) t1 t2 t3    
    Fi  (mm2) F1 F2 F3    
    Fi  (mm2) F1 F1+F2      
    S (m) S1 S2 S3 Sn
    Khoảng Vi m/s 1,4 ¸ 2,8 2,8 ¸ 5,6 5,6 ¸ 14 14¸28 28¸54
    Khoảng ti  (giây)          
    Fi  (mm2) 2.1 4.2 9.8 21 41
    Fi  (mm2) 2.1 6.3 16.1 37.1 78.1
    S (m) S1 S2 S3 Sn

    Sau đó theo bảng 1.14 lập đồ thị S = f(V) từ V0  đến 0,9 Vmax  như  hình 1.8.

    Trong thực tế có sự ảnh hưởng của thời gian chuyển số giữa các số truyền đến quá trình tăng tốc, vì vậy đồ thị thực tế của thời gian tăng tốc và quãng đường tăng tốc có dạng như hình 1.9, với DVc  là tốc độ giảm vận tốc chuyển động khi sang số.

    DVc = y.g.tc/di ;      (m/s)

    tc – thời gian chuyển số:

    ôtô có động cơ xăng: tc = (0,5 ¸1,5) s;

    ô tô có động cơ Diesel:  tc = (1,0 ¸ 4) s

    g = 9,81 m/s2 – gia tốc trọng trường;

    Y – hệ số cản tổng cộng của đường;

    Quãng đường xe chạy được trong thời gian chuyển số được tính:

    S= Vc.tc ,   (m)

    Vđ:  vận tốc ở khi bắt đầu chuyển số (m/s),

    Thời gian tăng tốc ở ô tô con hiện đại là (10 ¸ 15) giây, xe buýt và tải là (25¸40) giây.

    Quãng đường tăng tốc của ô tô đời mới khoảng (400¸900) m.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

    R: tài nguyên thiên nhiên

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

    1.1.2 Dự án đầu tư.

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

    3

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

    Phân loại dự án đầu tư

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

    cuối.

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

    Theo tính chất loại trừ:

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

    5

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

    6

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

    – Đối với chủ đầu tư:

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

    8

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

    9

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

    * Về phía Ngân hàng

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

    10

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

    Cho ai vay?

    Vay như thế nào?

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

    11

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

    12

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

    13

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tính:

    NPV = Co + PV

    Trong đó:

    NPV là giá trị hiện tại ròng

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

    tư)

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính      
    PV = C1 + C2 + C3 + . . . . . + Ct  
             
    (1 +r) (1+r)2 (1+r)3 (1+r)t  
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

    15

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

    Ưu điểm:

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

    Nhược điểm:

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

    16

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

      C1     C2   CT
    NPV = C0   +     +     +…. +     = 0
         
    (1 +IRR)   (1+IRR)2 (1+IRR)T
    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

    Với r2⇒ có NPV2< 0

    Áp dụng công thức:

    IRR = r1 + NPV 1 (r1 r2)  
    NPV 1 NPV 2  
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

    17

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

    nhất.

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

    18

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

    19

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tương tự nhau

      Số năm trước năm   Số năm ngay trước  
      các luồng tiền  
    Thời gian hoàn vốn =   năm các  
    của DA đáp ứng +
      Luồng tiền thu được  
      được chi phí  
        trong năm  
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

    Ưu điểm: của phương pháp này:

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

    20

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

      Bi i  
      n      
           
    BCR = i=0 (1+r)  
    Ci i  
      n      

    i=0 (1+r)

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

    Ci: Chi phí năm i

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

    21

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

    thu:

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

    Q   = FC  
    HV P V  
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn
    RHV = QHV × P = P × FC = FC  
    P V    
      1− V  
      P  
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

    RHV = FC
    n
      ∑(1− V i ) × wi

    i=1          Pi

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

    22

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

      Doanh thu hoà vốn
    Mức hoạt động hoà vốn =   x 100%
     

    Doanh thu lý thuyết

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

    * Độ nhạy của dự án:

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

    23

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

    +Giá bán sản phẩm.

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

    Phân tích luồng tiền mặt.

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

    24

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

    25

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

    27

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

    * Phương pháp thẩm định:

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

    28

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

    * Nội dung thẩm định:

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

    29

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

    Tổ chức điều hành

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

    * Từ phía doanh nghiệp

     

    30

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

    * Môi trường kinh tế

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

    * Môi trường pháp lí

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

    31

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

    Vốn

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

    NHTM, Công ty tài chính,

    bảo hiểm

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    Vốn                                   -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các thị trường tài

    chính

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

    3.1.2.1. Huy động vốn.

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

    * Huy động bằng tiền gửi

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

    34

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

    – Tiền gửi tiết kiệm:

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

    Ưu điểm:

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

    35

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

    * Huy động bằng cách đi vay:

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

    37

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

    mại.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

    38

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

    39

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

    40

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

    41

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

    42

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

    44

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    sao cho có hiệu quả.

    * Đối với Ngân hàng.

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

    Đối với nền kinh tế.

     

    45

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

    46

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

    47

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

    Bước thẩm định sơ bộ.

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

    49

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

    50

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

    Hệ số =   Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp
    tài trợ    
    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

    Năng lực = Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp  
    đi vay Vốn thường xuyên.  
     

    51

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

    52

      Chuyên đề thực tập   Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B
                   
        TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP
        TỪ NĂM 2000-2002
                 
        Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
      I. Tình hình sản xuất kinh          
      doanh          
      1.Giá trị tổng sản lượng          
      2.Giá trị sản lượng hàng hoá          
      tiêu thụ          
      Sản phẩm A          
      Sản phẩm B          
      3. Tổng chi phí          
      4. Kết quả SXKD          
      II.Tình hình tài chính          
      1.Vốn tự có          
      2.Vốn huy động          
      3.Vốn vay          
      Vay ngắn hạn          
      Vay trung- dài hạn          
      4.Các khoản phải thu          
      Trong đó: nợ khó đòi          
      5.Các khoản phải trả          
      6.Tổng tài sản lưu động          
      8.Số lượng lao động          
      9.Thu nhập bình quân          
      III. Các chỉ tiêu kinh tế.          
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
    Khả năng thanh toán chung Số tiền dùng để thanh toán
    =
      Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.
    Khả năng =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải
           
    thu Thanh toán nhanh Các khoản nợ đến hạn
             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

    Khả năng

    TT cuối cùng

    Tài sản   Tài  sản   Chênh lệch tỷ
    có lưu + thiếu chờ + giá và chỉ số
    động xử lý giá chưa xử lý
         

    =

    Nợ ngắn hạn Ngân Các khoản
    hàng và các tổ chức + nợ phải trả
    kinh doanh khác  

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:
    Doanh lợi = Lợi nhuận sau thuế  
    Tổng tài sản có.  
    vốn  

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

    54

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

    Doanh thu

    Tổng tài sản có

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

    55

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

    56

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

    57

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

    Thứ nhất:

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

    58

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

    +Từ NHTM.

    +Từ các nguồn khác.

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

    60

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

    61

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    KẾT LUẬN

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

    62

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-l%C6%B0u-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-V%E1%BA%ADt-t%C6%B0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-Xi-m%C4%83ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    *  Tính cấp thiết của Đề tài :

    Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.

    * Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài :   

    Đối với các Doanh nghiệp , đặc biệt là các Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Quốc Doanh trong nền kinh tế mới phải chủ động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn .Ngoài vốn ngân sách nhà nuớc cấp còn phải huy động từ nhiều nguồn khác .Vì vậy việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả là hết sức quan trọng .Vì nó thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Vì vậy mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, khẳng định những mặt tích cực đã đạt được đồng thời tìm ra một số hạn chế cần khắc phục và có biện pháp hoàn thiện.

    * Phương pháp nghiên cứu :          

                 Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một thành viên trong Tổng công ty xi măng Việt Nam . Công ty được giao nhiệm vụ tổ chức lưu thông tiêu thụ xi măng , giữ bình ổn giá cả thị trường trên các địa bàn được phân công .Như vậy việc tiêu thụ Xi măng là công việc chủ yếu , đẩy nhanh tốc độ hoàn thành vượt mức kế hoạch Tổng Công Ty giao luôn là nhiệm vụ hàng đầu của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của vốn lưu động, Công ty đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức quản lý vốn lưu động để sao cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất.

    Xuất phát từ vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối thiểu, phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình ra sao, Các giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp mình.

    Sau thời gian thực tập tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam , Em đã chọn đề tài “Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng ”.

    * Kết cấu của Luận Văn :

    Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:

    Chương 1 – Những vấn đề lý luận chung của vốn lưu động

    Chương 2 – Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam

    Chương 3 – Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi Măng .

    CHƯƠNG 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

                                                  VỐN LƯU ĐỘNG

     

    1.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG :

    1.1.1- Khái niệm  của vốn lưu động:

    Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

    Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.

    Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.

    Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông.

    Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm. Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.

    Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý không?

    Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.1.2- Đặc điểm của vốn lưu động

    Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Vốn lưu động có hai đặc điểm:

    Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm.

    Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển.

    1.1.3 – Phân loại vốn lưu động:

    Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận trọng yếu của công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ. Do vốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất. Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

    1.1.3.1- Phân loại Vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành ba loại:

    • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
    • Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
    • Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (dầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…)

    Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

    1.1.3.2- Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn loại:

    – Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản vốn có  hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm…

    – Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

    • Các khoản phải thu, phải trả:

    + Các khoản phải thu: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng và các khoản phải thu khác.

    + Các khoản phải trả: là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán

    cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.

    – Vốn lưu động khác: bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược…

    Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

    1.1.3.3- Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn:

    Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố định.

    • Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp…
    • Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.

    Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    1.1.3.4- Phân loại Vốn ưu động theo nguồn hình thành:

    Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi các nguồn vốn sau:

    • Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
    • Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
    • Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
    • Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại hoặc tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
    • Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

    Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.

    1.2 – CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VLĐ:

    Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau . Tuỳ theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp . Sau đây là một số phương pháp chủ yếu :

     1.2.1 – Phương pháp trực tiếp :

    Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ vật tư , sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu cầu của tùng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu VLĐ cho từng khâu kinh doanh của doanh nghiệp :

     

     

    1.2.1.1 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất :

    VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm : giá trị các loại nguyên vật liệu chính , vật liệu phụ , nhiên liệu phụ tùng thay thế , vật đóng gói , công cụ  ,dụng cụ .

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu chính :

    Vnl= Mn x Nnăng lực

    Trong đó :  Vnl :     Nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch

    Mn :     Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về  chi phí VLC

    Nl :  Số ngày dự trữ hợp lý

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu khác :

    Nếu vật liệu này sử dụng thường xuyên và khối lượng lớn thì cách tính như vật liệu chính , nếu sử dụng không thường xuyên thì tính theo công thức :                     Vnk = Mk x T%

    Trong đó :   Vnk : Nhu cầu vật liệu phụ khác

    Mk : Tổng mức luân chuyển từng loại vốn

    T% :Tỉ lệ phần trăm từng loại vốn chiếm trong tổng số

    1.2.1.2 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu sản xuất :

    • Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Công thức tính như sau :   Vdc = Pn x Ck x Hs

    Trong đó :        Vdc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Pn  : Mức chi phí sản xuất bình quân ngày

    Ck :  Chu kì sản xuất sản phẩm

    Hs :  hệ số sản phẩm đang chế tạo

    • Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển :

    Công thức :        Vpb  =  V + Vpt – Vpg

    Trong đó :Vpb  : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch

    V  :Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch

    Vpt  : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ KH

    Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ kế hoạch.

    1.2.1.3 – Xác định nhu cầu vốn trong khâu lưu thông :

              VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm VLĐ để lưu giữ bảo quản sản phẩm trong kho và vốn lưu đông trong khâu thanh toán .

    Công thức  :           Vtp = Zsx x Ntp

               Trong đó : Vtp  : Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch

    Zsx  : Giá thành sản xuất bình quân ngày

    Ntp  : Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm                                                     

    1.2.2 – Phương pháp gián tiếp :

    Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào số VLĐ bình quân năm báo cáo , nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch .

    Công thức tính như sau :  Vnc = VLD0 x  x (1 t%)

    Trong đó :Vnc     : Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch

    VLD0 : Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo

    M 0,1 :  Tổng mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo , kế hoạch

    t%  : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm  kế

    hoạch so với năm báo cáo.

                 t% =                     x 100%

    Trong đó :  K1  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

    K2  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo .

    Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu VLĐ năm kế hoạch các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn và số vòng quay VLĐ dự tính năm kế hoạch . Phương pháp tính như sau :

    Vnc =                        

    Trong đó :  M1  : Tổng mức luân chuyển vốn kế hoạch

    L1   :  Số vòng quay VLĐ kỳ kế hoạch.

    1.3 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG:

    Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

    1.3.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

    Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là vòng quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động.

    • Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu động quay được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ

    VLD: Vốn lưu động

    • Kỳ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay của vốn lưu động.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    K: kỳ luân chuyển vốn lưu động

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    Kỳ luân chuyển càng ngắn thì trình độ sử dụng vốn lưu động càng tốt và ngược lại.

    Giữa kỳ luân chuyển và vòng quay của vốn lưu động có quan hệ mật thiết với nhau và thực chất là một bởi vì vòng quay càng lớn thì kỳ luân chuyển càng ngắn và ngược lại.

    1.3.2-Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:

    ­             Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể.

    Công thức tính toán như sau:

      Trong đó:

    tk : Mức tiết kiệm Vốn lưu động

    K0:   Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo

    M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

     

    1.3.3- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = ­­Doanh thu
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu được tạo ra trên vốn lưu động bình quân là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

    1.3.4- Hàm lượng vốn lưu động:

    Hàm lượng vốn lưu động =  Vốn lưu động bình quân
                 Doanh thu

    Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động trên doanh thu. Chỉ tiêu này cao hay thấp cũng được đánh giá ở các nghành khác nhau. Đối với nghành công nghiệp nhẹ thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu rất cao. Còn đối với nghành công nghiệp nặng thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu thấp.

    1.3.5- Mức doanh lợi vốn lưu động:

    Mức doanh lợi vốn lưu động = Tổng lợi nhuận trước thuế
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.

    1.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, phải trả, hàng hoá tồn kho và tài sản lưu động khác. Vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.

    1.4.1- Quản trị vốn bằng tiền

    Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.

    Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.

     

    1.4.1.1- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý

    Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

    Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ.

    Người ta cũng có thế sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp. Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản cao) để có được lượng tiền mặt như  lúc đầu. Có hai loại chi  phí cần được xem xét khi bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, đó chính là mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi  lần, đóng vai  trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng. Trong điều kiện đó mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn  tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt. Công thức tính như sau:

    Mức vốn tiền mặt dự trữ trung bình là:

              Trong đó:

    Qmax: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa

    Qn: Lượng tiền mặt chi dùng trong năm

    C1: Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt

    C2: Chi phí một lần bán chứng khoán

    • – Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ):

    Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ. Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.

    Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác. Trong các luồng nhập ngân quỹ kể  trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản doanh thu bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.

    Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản  chi cho hoạt động kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo  kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả  tiền lãi phải chia, nộp thuế và các khoản chi  khác.

    Trên  cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thời giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiên được hoặc khéo léo sử dụng các khoản nợ đang trong quá trình thanh toán. Doanh nghiệp cũng có thể huy động các khoản vay thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng nhập ngân quỹ lớn hơn luồng xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện các khoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.

    1.4.1.3 – Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt:

    Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày, hàng giờ; hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao, dễ dàng chuyển hoá sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh bị mất mát, lợi dụng. Các biện pháp quản lý cụ thể là:

    Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thực hiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi.

    Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt, nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ; phải có các biện pháp  quản lý bảo đảm an toàn kho quỹ.

    Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp dụng cho từng trường hợp thu chi. Thông thường các khoản thu chi không lớn thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.

    1.4.2- Quản trị hàng tồn kho dự trữ:

    1.4.2.1-Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn  kho dự trữ:

    Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo nghành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.

    Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp  lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.

                 Đối  với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vận chuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu.

    Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ  thuộc vào: đặc điểm và các yếu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.

                 Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…

    1.4.2.2- Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ:

    *– Phương pháp tổng chi phí tối thiểu

    Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chi  phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường.

    Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho càng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.Vì vậy, doanh nghiệp cần xem xét mức dự trữ hợp lý để giảm tổng chi phi dự trữ tồn kho tới mức thấp nhất. Phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương pháp tổng chi phí tối thiểu.

    *- Phương pháp tồn kho bằng không

    Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí tồn kho dự trữ đến mức tôí thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp thời cho doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hoá khi cần thiết. Do đó có thể giảm được các chi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng. Phương pháp này có ưu điểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới; tuy nhiên phương pháp này lại làm tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức giao hàng đối với các nhà cung cấp.

    1.4.3 –  Quản trị các khoản phải thu, phải trả:

    1.4.3.1- Quản trị các khoản phải thu:

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau:

    Thứ nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng.

    Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.

    Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp: đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản.

     

    1.4.3.2- Quản trị các khoản phải trả:

    Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động. Việc quản trị các khoản phải  trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.

    Để quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Doanh nghiệp còn phải lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp.

    1.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác:

    Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác, khi vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý… doanh nghiệp phải tiến hành cầm cố, ký quỹ, ký cược.

    Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữu của mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền (phía đối tác) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hay thoả thuận.

    Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho thuê động sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá trị khác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê. Trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.

    Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một số tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài khoản phong toả tại Ngân hàng. Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải thực hiện cam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay nhận hàng theo những điều đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ. Bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.

    Vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Do vậy để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì cần phải quản trị tốt vốn lưu động ở từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông.

                

                 Trên đây là một số vấn đề lý luận của vốn lưu động . Để hiểu sâu hơn về Vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.Ta nghiên cứu thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG –TỔNG CÔNG TY XI MĂNG VIỆT NAM

     

    2.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY:

    2.1.1 –  Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:

                 Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là doanh nghiệp nhà nước , thành viên Tổng công ty xi măng Việt Nam  có tư cách pháp nhân , hạch toán độc lập , có trụ sở chính tại Km6 đường Giải Phóng –Quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội

    Công ty được thành lập theo quyết định số 023A-BXD-TCLD ngày 12/2/1993 của Bộ trưởng Bộ xây dựng với nhiệm vụ chức năng ban đầu là cung cấp vật tư  kỹ thuật cho ngành xi măng , tham gia bán lẻ xi măng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh .

    Ngày 30/09/1993 Bộ trưởng Bộ xây dựng có quyết định số 445-BXD-TCLD bổ sung nhiệm vụ chức năng cho công ty được tham gia vào các liên doanh nghiền và sản xuất xi măng

    Từ ngày 01/06/1998 ,theo quyết định 606/XMVN-HĐQT ký ngày 23/05/1998 của Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng tiếp nhận thêm chi nhánh xi măng Bỉm Sơn tại Hà Tây ,Hoà Bình (hoạt động kinh doanh xi măng trên địa bàn các tỉnh Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Điện Biên) đồng thời phương thức kinh doanh từ tổng đại lý sang mua đứt bán đoạn xi măng với các công ty sản xuất xi măng .

    Do yêu cầu của công tác cải tiến hệ thống kinh doanh tiêu thụ xi măng , ngày 21/03/2000 Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam có quyết định số 97/XMVN-HĐQT , chuyển giao nhiệm vụ từ công ty vật tư  vận tải xi măng sang công ty vật tư kỹ thuật xi măng .Theo quyết  định này ,kể từ ngày 01/04/2000 toàn bộ các chi nhánh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng tại Phú Thọ ,Vĩnh Phúc ,Lào Cai , Thái Nguyên được bàn giao cho công ty vật tư kỹ thuật xi măng làm nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng và bình ổn giá xi măng thị trường tại điạ bàn 14 tỉnh thành phố khu vực miền Bắc ,đó là :Hà Nội,Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Lai Châu ,Vĩnh Phúc ,Phú Thọ ,Hà Giang ,Tuyên Quang ,Lào Cai ,Thái Nguyên ,Cao Bằng ,Bắc Cạn ,Yên Bái .

    Như vậy là kể từ khi được thành lập đến nay ,công ty luôn được bổ xung giao thêm nhiệm vụ với địa bàn kinh doanh ngày càng được mở rộng hơn .

    2.1.2 – Một số đặc điểm hoạt động kinh doanh của  Công ty

    2.1.2.1 – Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty:

    *   Ban giám đốc :

    – Giám đốc :Là người đứng đầu công ty , do HĐQT của công ty bổ nhiệm , miễn nhiệm ,khen thưởng ,kỷ luật theo đề nghị của Tổng Giám Đốc .Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Tổng Công Ty và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong công ty .

    – Phó Giám Đốc phụ trách kinh doanh :Có nhiệm vụ trợ giúp giám đốc phụ trách các lĩnh vực hoạt động sau :

    +  Nghiệp vụ kinh doanh , kế hoạch kinh doanh

    +  Hợp đồng kinh tế , thanh lý hợp đồng , kiểm tra và kiện toàn hàng hoá vật tư  .

    – Phó Giám Đốc phụ trách vận tải:phụ trách các hoạt động sau:

    +  Vận chuyển xi măng

    +  Công tác định mức trong khâu vận taỉ ,trong từng cửa hàng

    +  Quy trình ,quy phạm và các quy chế về an toàn của công ty

    +  Công tác đào tạo , cải tiến , sáng kiến kỹ thuật và công tác sửa chữa tài sản cố định .

    *  Các phòng ban , sự nghiệp ,chi nhánh :hoạt động theo chức năng được giám đốc phân công và là bộ máy tham mưu giúp ban giám đốc thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra .

    – Văn phòng công ty:phụ trách về văn thư , lưu trữ hồ sơ ,quản lý con dấu ,mua sắm văn phòng ,in ấn ,quản lý nhà đất nhà cửa ,các công cụ lao động ……

    – Phòng kinh tế kế hoạch :xây dựng kế hoạch ,chủ trì dự thảo hợp đồng kinh tế ,mua và bán xi măng ,hợp đồng thuê phương tiện vận tải xi măng…..

    – Phòng tổ chức lao động : quản lý về mặt nhân sự ,thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên ,xây dựng đơn giá tiền lương

    – Phòng tài chính kế toán :tổ chức thực hiện công tác kế toán tài chính ,lập kế hoạch tài chính cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh , tổ chức thực hiện và kiểm tra thường xuyên công tác thống kê ,hoạch toán kế toán theo đúng với quy định của nhà nước ,trực tiếp kiểm tra và thanh toán công nợ , phải thu phải trả ;thông qua công tác thống kê hoạch toán kế toán bán hàng hàng ngày để phát hiện những sai lệch ,thừa thiếu xi măng trong quá trình tiếp nhận vận chuyển ,dự trữ ,cấp phát và lưu thông để báo cáo Giám Đốc xử lý kịp thời……

    – Phòng quản lý thị trường :giúp Giám Đốc công ty nắm bắt được nhu cầu xi măng trên địa bàn hoạt động của công ty .Theo dõi tình hình biến động giá cả mặt hàng xi măng ,kiểm tra việc thực hiện nội quy , quy chế trong kinh doanh tiêu thụ xi măng

    – Phòng tiêu thụ :tổ chức quản lý mọi hoạt động của các của hàng, đại lý công ty .Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ,mở rộng mạng lưới bán hàng nhằm đáp ứng tới nhu cầu của người tiêu dùng.

    – Phòng kinh doanh tổng hợp: quản lý công tác xây dựng cơ bản nội bộ, thực hiện việc đa dạng hoá kinh doanh, tận dụng lao động cơ sở vật chất kinh doanh vật liệu xây dựng ngoài xi măng.

    – Phòng điều độ và quản lý kho: xây dựng hệ thống mạng lưới kho, đảm bảo xuất nhập xi măng , thực hiện liên tục, điều phối hàng hoá.

    – Xí nghiệp vận tải: có nhiệm vụ thực hiện tiếp nhận Xi măng, là trạm giao nhận đại diện của công ty tại các ga cảng , đầu mối tại Hà Nội về các kho dự trữ.

    – Các chi nhánh công ty vật tư kỹ thuật Xi măng tại Hà Tây, Hoà Bình, Lào Cai, Phú Thọ , Vĩnh Phúc, Thái Nguyên: thực hiện việc kinh doanh, tiêu thụ, đảm bảo bình ổn giá xi măng tại các tỉnh trên

    2.1.2.2 – Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh, tiêu thụ Xi măng, công ty có nhiệm vụ mua Xi măng từ các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam (như Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty xi măng Bỉm Sơn, Công ty xi măng Hải Phòng…) đáp ứng nhu cầu Xi măng của 14 tỉnh thành  phố miền Bắc.  Là nhân tố chính trong việc bình ổn giá thị trường xi măng (tránh các biến động như cơn sốt xi măng năm 1995) góp phần đấu tranh chống lại các hiện tượng làm giả xi măng. Thực hiện tốt những nhiệm vụ kế hoạch về sản lượng khung giá xi măng do Tổng Công ty đề ra.

    Công ty được thành lập trên cơ sở tổ chức của các đơn vị làm nhiệm vụ cung ứng xi măng trước đây, vì thế đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong việc tiêu thụ xi măng, có nhiều bạn hàng truyền thống(như các công ty xây dựng, các công ty vật tư tổng hợp ở các tỉnh) loại Xi măng công ty kinh doanh tiêu thụ là các loại được người tiêu dùng tín nhiệm: xi măng Hoàng Thạch, xi măng Bỉm Sơn, xi măng Hải Phòng… Địa bàn kinh doanh của công ty rộng khắp 14 tỉnh, thành phố miền Bắc. Công ty được sự giúp đỡ to lớn của các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Đồng thời công ty luôn nhận được sự chỉ đạo, quan tâm của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay, ở khu vực miền Bắc ngoài các công ty sản xuất Xi măng , công ty vật tư kỹ thuật Xi măng là đơn vị duy nhất được giao nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng với địa bàn được phân công rõ ràng nhất .

    Dưới đây là bảng kết quả kinh doanh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng  trong năm 2003 và năm 2004 :

    Qua bảng kết quả kinh doanh của 2 năm ta thấy rằng: doanh thu bán hàng của năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 , doanh thu bán hàng của năm 2003 là 1.147.679.225.941VNĐ còn doanh thu bán hàng của năm 2004 là 1.156.533.879.485VNĐ, năm 2004 đã tăng 32% so với năm 2003 đã cho ta thấy sự nỗ lực của công ty trong việc tăng tiêu thụ sản lượng xi măng. Cũng từ đó làm cho lợi nhuận thuần của công ty tăng lên từ 8.481.238.133 VNĐ lên 8.660.885.054VNĐ, tăng 2,1% so với năm 2003.

    BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

                                                                                              ĐVT :VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    1.Doanh thu bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    2.Doanh thu thuần bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    3.Giá vốn hàng bán 971.739.382.548 1.407.399.507.657
    4.Lợi nhuận gộp 175.939.843.393 109.134.371.828
    5.Doanh thu hoạt động tài chính 3.695.157.730 4.155.368.975
    6.Chi phí tài chính 12.283.600 1.739.000
    7.Chi phí bán hàng 156.376.005.538 84.557.739.657
    8.Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.765.473.852 20.069.377.092
    9.Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 8.481.238.133 8.660.885.054
    10.Thu nhập khác 8.107.171.532 18.350.845.185
    11.Chi phí khác 3.714.876.739 3.794.159.424
    12.Tổng lợi nhuận trước thuế 12.196.114.872 12.455.044.478
    13.Thuế thu nhập doanh nghiệp 3.886.756.759 4.520.397.293
    14.Lợi nhuận sau thuế 8.309.358.113 7.934.467.185

    2.1.2.3 -Đặc điểm về cơ cấu bộ máy tổ chức :

    Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và các điều kiện hoạt động ,qua một số lần sáp nhập ,điều chỉnh ,tổ chức bộ máy quản lý của công ty hiện nay đang vận hành theo bảng 2.1.2.3.

    Trong hệ thống các của hàng bán xi măng bao gồm hai loại :cửa  hàng bán xi măng do nhân viên bán hàng của công ty đảm nhận và của hàng bán xi măng của các đơn vị đại lý hưởng hoa hồng .

    Loại hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty đang áp dụng theo kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến –chức năng .Bộ máy quản lý vận hành liên hoàn ,đảm bảo chế độ một thủ trưởng .Giám đốc là người toàn quyền quyết định mọi công việc và chịu trách nhiệm về kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Công việc quản trị kinh doanh được chia ra những đơn vị riêng biệt hình thành nên những người lãnh đạo quản trị thực hiện một hay một số chức năng thuộc phận sự và quyền hạn được giao .Nhờ vậy phát huy được tính năng động sáng tạo và kiến thức kinh nghiệm quản trị của các lãnh đạo chức năng ,cán bộ nhân  viên các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị các quyết định ,hướng dẫn và kiểm tra .Làm cho khả năng thích ứng với những biến động của thị trường ngày càng nhạy bén hơn .

     

     Bảng 2.1.2.3 : Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công Ty

     

    2.1.2.4 -Đặc điểm về vốn của công ty :

      Là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành xi măng nên công ty vật tư kỹ thuật xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của mình .Một thuận lợi rất lớn của công ty là công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một công ty nhà nước trực thuộc Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam nên công ty được sự hỗ trợ một phần vốn đáng kể từ nhà nước .

    Từ  nguồn vốn kinh doanh của công ty tháng 12/2004 ta thấy:Tổng số vốn của công ty là 38.894.724.003 (VNĐ),trong đó tổng số vốn lưu động là 16.299.566.614(VNĐ) nghĩa là chiếm 41,72%,tổng số vốn cố định là 22.595.157.398(VNĐ) chiếm 58,18% .Nguồn vốn kinh doanh của nhà nước cấp chiếm 31,3% tổng nguồn vốn kinh doanh trong đó vốn lưu động do ngân sách cấp chiếm 78,5% tổng số vốn ngân sách cấp .Qua đó ta thấy rõ được sự quan tâm của nhà nước đối với nguồn vốn lưu động .

    Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác Công ty vật tư kỹ thuật xi măng cũng có nguồn vốn lưu động tự bổ xung khá lớn ,nguồn vốn này được tích luỹ trong hoạt động kinh doanh của công ty .

    Ngoài nguồn vốn được ngân sách nhà nước cấp ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng còn có nguồn vốn từ nguồn vốn ngắn hạn .Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu ,nó giúp công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản ,tiện lợi đồng thời giúp cho công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn .

     

    2.2 . THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    2.2.1 . Cơ cấu vốn lưu động của Công ty:

    Để quản lý  và sử dụng Vốn lưu động đạt hiệu quả tốt nhất , các doanh nghiệp cần xây dựng cơ cấu vốn lưu động sao cho thật phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình .Cơ cấu vốn lưu động giúp ta thấy được mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp .Hiểu được điều đó công ty vật tư kỹ thuật xi măng đã cố gắng tổ chức nguồn vốn lưu động của mình thật khoa học ,đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất .Để thấy rõ hơn cơ cấu vốn lưu động của công ty ,ta xem xét số liệu bảng 2.2.1 ,tổng quát ta thấy như sau

    Tính đến tháng 12 năm 2004 tổng vốn lưu động của công ty là 126.237.489.794(VND) so với cùng kỳ năm 2003 thì tổng vốn lưu động đã giảm 2.717.737.185(VND) tương ứng tốc độ giảm 2,11% ,cho thấy thời gian qua công ty đã tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng ,máy móc thiết bị , tài sản cố định …

    Quy mô vốn lưu động giảm đi là do sự tăng giảm về giá trị của hầu hết các loại vốn lưu động của công ty ,trong đó chủ yếu là sự giảm về lượng tiền mà đặc biệt là tiền gửi ngân hàng .Đây là khỏan mục vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động .Năm 2003 vốn bằng tiền chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VND) .Năm 2004 vốn bằng tiền chiếm 68,59% tương ứng với số tiền là 86.591.634.699(VND) .Ta thấy được sự bất cập trong cơ cấu , số lượng tiền gửi ngân hàng là quá lớn .Nhưng đây chính là đặc trưng của công ty đó là do Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là Công ty có quy mô rất là lớn , với mạng lưới bán hàng gần khắp cả nước .Vì thế số lượng hàng hoá bán ra rất là lớn nhưng khi đó người mua chưa trả tiền ngay mà phải đến cuối năm mới trả.Đây chính là số liệu cuối năm vì thế số liệu này sẽ rất lớn . Số liệu này cho thấy khoản mục vốn bằng tiền của công ty năm 2004 giảm so với năm 2003 là 12.106.992.312(VND) giảm 12,27% .Sự sụt giảm này có nguyên nhân chủ yếu là lượng tiền gửi ngân hàng giảm mạnh :Năm 2003 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty là 94.131.943.511(VND) đến năm  2004 là 78.370.857.699(VND) giảm 15.761.085.812 (VND) tương ứng với tỷ lệ giảm 16,74% .Mặc dù bên cạnh đó có sự gia tăng về lượng tiền mặt :lượng tiền mặt tăng lên 3.449.651.500(VND) tương ứng tăng 186,87% . Qua đó cho thấy được công ty đang mở rộng kinh doanh bằng cách rút tiền gửi ngân hàng về quỹ tiền mặt và đem đi đầu tư vào các việc mới như xây dựng nhà máy sản xuất bao bì ,khu vui chơi giải trí thể thao ….

    Hàng tồn kho là khoản mục vốn lưu động chiến tỷ trọng thứ hai trong tổng vốn lưu động của công ty như sự biến động của nó có ảnh hưởng không lớn mặc dù hàng tồn kho của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 .Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VND) chiếm 15,44% đến năm 2004 là 27.396.485.175(VND) chiếm 21,7% .Như vậy năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của công ty đã tăng lên một lượng là 7.480.135.400(VND) chiếm 37,56% . Nguyên nhân là do công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh ,nhập thêm nhiều thiết bị để cung cấp cho khách hàng của công ty .

    Các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 ,khoản phải thu là 9.939.511.417(VND) chiếm 7,71% ,năm 2004 khoản phải thu lên tới 11.259.869.920(VND) chiếm 8,92% .Khoản phải thu đã tăng lên một lượng là 1.320.358.583(VND) chiếm 13,28% .Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu .Khoản phải thu của doanh nghiệp càng cao thì mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp càng lớn .Công ty cần tìm các biện pháp nhằm giảm bớt tình trạng ứ đọng vốn trong khâu này kết hợp với việc hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ của các khách hàng sau đó .

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng số vốn lưu động ứng với số tiền là 400.738.779(VND) .Năm 2004 ,tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền là 989.500.000(VND) .Công ty vật tư kỹ thuật xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu qủa hơn nữa .

    Như vậy qua phân tích ta thấy rằng cơ cấu Vốn lưu động của Công ty mặc dù đã có nhiều chuyển biến rõ rệt nhưng vẫn còn một số điểm chưa hợp lý .Lượng tiền gửi ngân hàng của công ty quá lớn như vậy sẽ bất cập trong việc đầu tư mới .Công ty cần đẩy nhanh công tác thu nợ nhanh như vậy sẽ không gây nên tình trạng tiền bị ứ đọng vào cuối năm. Mặt khác Công ty còn làm chưa tốt trong công tác quản lý hàng tồn kho.Như vậy Công ty cần có những biện pháp nhằm giảm bớt lượng hàng tồn kho.

     

     

     

             Bảng 2.2.1 – Cơ cấu VLĐ của công ty năm 2003 và năm 2004 

                                                                                               ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%)  
    I. Tiền 98698627011 76.54 86591634699 68.59 -12106992312 87.73  
    1.Tiền mặt 1846043500 1.43 5295695000 4.20 3449651500 286.87  
    2.TGNH 94131943511 73.00 78370857699 62.08 -15761085812 83.26  
    3.Tiền đang chuyển 2720640000 2.11 2925082000 2.32 204442000 107.51  
    II.Các khoản pthu 9939511417 7.71 11259869920 8.92 1320358503 113.28  
    1.Phải thu KH 8240668842 6.39 8630501665 6.84 389832823 104.73  
    2.ứng trước người bán 1416555317 1.10 2538445534 2.01 1121890217 179.20  
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0 0 0  
    4.Phải thu khác 282287258 0.22 99597421 0.08 -182689837 35.28  
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8674700 -0.007 -8674700 0  
    III.Hàng tồn kho 19916349775 15.44 27396485175 21.70 7480135400 137.56  
    IV.TSLĐ khác 400738776 0.31 989500000 0.78 588761224 246.92  
    Tổng cộng 128955226979 100 126237489794 100 -2717737185 97.89  

    (Trích Bảng cân đối kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.2.2 – Cơ cấu nguồn vốn lưu động :

    Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành Xi măng nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của công ty.Cùng với nguồn vốn được nhà nước cấp hàng năm,  Công ty đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu nó giúp Công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản, tiện lợi đồng thời giúp Công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn. Tuy nhiên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn lại có mặt hạn chế của nó. Nếu lạm dụng nguồn vốn ngắn hạn nhiều sẽ làm tăng hệ số nợ vay và làm tăng nguy cơ phá sản của Công ty.

    Ta thấy rằng khoản mục Phải trả người bán của Công ty là rất lớn , năm 2003 chiếm 56,08% và đến năm 2004 chiếm 51,8% .Nhưng đây cũng chính là đặc trưng của Công ty. Được sự cho phép của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam ,Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng được phép trả chậm người cung cấp . Có thể thấy rằng cuối năm 2004 khoản mục nợ phải trả của công ty đã giảm đi một lượng 4.557.677.614 (VND) ,hay giảm 4,58% so với năm 2003 .Trong đó khoản mục phải trả người bán giảm một lượng là 7.673.601.911(VND)so với năm 2003 .Điều này có nghĩa là công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà không cần phải chiếm dụng nhiều vốn của nhà cung cấp .Đây là điều đáng mừng cho công ty .

    Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của thị trường xi măng trong nước ,công ty vật tư kỹ thuật Xi măng đã nhập khẩu thêm nhiều tư liệu sản xuất cùng với sự  lớn mạnh không ngừng của công ty  .Do vậy thuế và các khoản phải nộp nhà nước tăng lên 391.361.205(VND) là điều tất yếu . Cùng với đó là khoản người mua trả tiền trước tăng lên chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng vào công ty ngày càng cao. Bên cạnh đó khoản phải trả công nhân viên cũng tăng lên chứng tỏ được quy mô của công ty ngày càng mở rộng, công ty đã thu hút thêm nhiều công nhân viên có trình độ , kỹ thuật cao qua đó đời sống của công nhân viên đã được tăng lên khá rõ rệt .

    Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 một lượng là 2.087.681.268(VND) , nghĩa là tăng lên 4,19% đã cho ta thấy sự phát triển ngày càng lớn mạnh của công ty , cùng với sự quan tâm to lớn của Tổng Công Ty Xi măng .

    Bảng 2.2.2 – Cơ cấu nguồn VLĐ năm 2003 và năm 2004

     

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    A-NỢ PHẢI TRẢ
    99533945689 66.66 94976268075 64.68
    I.Nợ ngắn hạn 95259258535 63.80 89404916138 60.89
    1.Vay ngắn hạn 0 0 0 0
    2.Phải trả cho người bán 83730340885 56.08 76056738974 51.80
    3.Thuế và các khoản phải nộp 723467532 0.48 1036971741 0.71
    4.Người mua trả tiền trước 5924560704 3.97 6315921909 4.30
    5.Phải trả công nhân viên 4048140117 2.71 4832969854 3.29
    6.Phải trả cho các đơn vị nội bộ 420159404 0.28 0 0
    7.Phải trả , phải nộp khác 412589893 0.28 1162313660 0.79
    II. Nợ khác 4274687154 2.86 5571351937 3.79
    B- NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 49773064695 33.34 51860745963 35.32
    Tổng cộng 149307010384 100 146837014038 100

    (Trích bảng cân đối Kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.3- PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    Xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh và đặc điểm về nhu cầu về vốn lưu động hàng năm của công ty nên Công ty xác định nhu cầu Vốn lưu động theo phương pháp gián tiếp ,tức là công ty chủ yếu dựa vào kết quả thống kê kinh nghiệm năm trước và kế hoạch đề ra cho năm sau .Hay cụ thể công ty dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra cho năm sau qua đó lập kế hoạch về số lượng vật tư phục vụ cho sản xuất lập kế hoạch số lượng hàng dự trữ và tiêu thụ .Từ  đó dựa vào các biểu giá được cung cấp bởi bộ phận vật tư ,bộ phận kinh doanh ,bộ phận kế toán tài vụ sẽ lập kế hoạch cho nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch

    Với doanh thu thuần là 1.516.533.879.485(VND) và số vòng quay VLĐ trung bình ngành là 10 vòng/năm nên nhu cầu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh  năm 2004 của công ty được tinh toán như sau :

    VnC=                       =

                                               =151.653.387.948,5 VND

    Như vậy nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho sản xuất năm 2004 là 151.653.387.948,5(VND) .Có sự đột biến  như vậy là do công ty đã ký thêm đựơc nhiều hợp động mới có nhiều khách hàng ngoài  dự kiến ,tăng các khoản phải thu ….Mặc dù vậy công ty  vẫn đáp ứng đủ nhu cầu VLĐ trong năm từ nhiều nguồn khác nhau .Qua đó ta thấy được sự cố gắng rất lớn của công ty trong việc huy động vốn.

    Năm 2005 này , công ty ước tính doanh thu thuần khoảng 578.378.000.000(VNĐ) . Do vậy nhu cầu VLĐ cần thiết cho năm kế hoạch là :

           
           

    VnC =                      =

       = 157.837.800.000 VNĐ

    Sau khi đã có kết quả nhu cầu VLĐ cho năm kế hoạch thì căn cứ vào tình hình thực tế để phân phối cho từng khâu .Về nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu cụ thể trong sản xuất ,dự trữ và lưu thông sản phẩm hàng hoá thì đựơc tính theo phần trăm từng khâu trong tổng nhu cầu dựa vào tỷ trọng thực tế của số vốn được sử dụng trong từng khâu của năm trước đồng thời căn cứ cả vào kế hoạch sản xuất kinh doanh để lập kế hoạch nhu cầu VLĐ cho năm sau.

    2.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    2.4.1 – Quản trị vốn bằng tiền :

    Vốn bằng tiền là loại vốn linh hoạt và có khả năng thanh khoản cao nhất trong vốn lưu động của doanh nghiệp . Do vậy nhu cầu dự trữ vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp là để đáp ứng những nhu cầu giao dịch hàng ngày và nhiều mục đích khác .

    Trong tổng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng , vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng rất lớn , năm 2003 vốn bằng tiền của công ty chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VNĐ) .Đến cuối năm 2004 đã giảm đi còn 68,59% tương ứng là           86.591.634.699(VNĐ) .Như  vậy lượng vốn bằng tiền của công ty đã giảm đi  12.106.992.312(VNĐ) với tốc độ giảm 12,27% .Qua số liệu bảng 2.2.1 ta thấy vốn bằng tiền của công ty giảm đi chủ yếu là do sự sụt giảm của khoản mục tiền gửi ngân hàng mặc dù lượng tiền mặt vẫn tăng lên .

    Bảng 2.4.1 – Cơ cấu Vốn bằng tiền

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I. Tiền 98.698.627.011 76,54 86.591.634.699 68,59
    1.Tiền mặt 1.846.043.500 1,43 5.295.695.000 4,20
    2.TGNH 94.131.943.511 73,00 78.370.857.699 62,08
    3.Tiền đang chuyển 2.720.640.000 2,11 2.925.082.000 2,32

    Tiền mặt tại quỹ là bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn bằng tiền của công ty .Năm 2003 tỷ trọng của khoản vốn này chỉ chiếm 1,43% nhưng đến năm 2004 đã chiếm 4,2% trong tổng vốn lưu động của công ty .Tốc độ tăng vọt (186,87% tương ứng 3.449.651.500 (VNĐ) ) của tiền mặt tại quỹ cho thấy năm 2004 công ty đã có nhu cầu khá lớn về khoản vốn này để mua nguyên vật liệu ,đồng thời làm tăng khả năng thanh toán tức thời cho công ty khi xuất hiện nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn .

    Tiền gửi ngân hàng là bộ phận lớn nhất của vốn bằng tiền của công ty .Trong nền kinh tế thị trường ,xu hướng chung là các doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng ,phương thức này giúp cho hoạt động kinh tế được thuận tiện và an toàn hơn .Nhưng nếu xác định lượng tiền gửi ngân hàng quá lớn sẽ gây nên tồn đọng vốn do không được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh .Do vậy năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty đã giảm xuống so với năm 2003 .Năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng đã giảm 16,74% tương ứng với lượng tiền là 15.761.085.812(VNĐ) .Như vậy năm 2004 công ty đã đầu tư mới vào các hoạt động kinh doanh ,làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng và lớn mạnh .

    Nhìn chung mức dự trữ vốn bằng tiền và cơ cấu của nó được Công ty xác định như vậy là chưa thực sự hợp lý công ty đang để xảy ra tình trạng ứ đọng vốn .Mức dư tiền gửi ngân hàng như hiện tại là quá lớn .Công ty nên mở rộng sản xuất ,đầu tư mới vào các lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận .

    2.4.2 – Quản trị hàng tồn kho dự trữ :

    Hàng tồn kho là khoản mục có giá trị lớn thứ hai trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VNĐ) chiếm 15,44% trong tổng vốn lưu động của Công ty. Đến năm 2004, hàng tồn kho là 27.396.485.175 (VNĐ) chiếm 21,7%. Như vậy, năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của Công ty đã tăng lên một lượng đáng kể so với năm 2003 là 7.480.135.400(VNĐ). Nguyên nhân là do Công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh, nhập thêm nhiều vật tư để cung cấp cho khách hàng trong nước. Tuy nhiên khoản mục hàng tồn kho lớn cũng gây ra nhiều vấn đề đáng lo ngại cho Công ty nhất là sự tồn đọng vốn. Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp là luôn tìm mọi cách để tối ưu hóa các chi phí. Từ thực tế của Công ty, ta thấy rằng tình hình quản trị hàng tồn kho dự trữ của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng chưa được tốt. Do đó, Công ty phải tìm biện pháp để giảm bớt chi phí cho hàng tồn kho mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ hàng hoá cho người tiêu dùng. Đồng thời, Công ty cũng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới và tăng cường các biện pháp bán hàng cần thiết.

    Bảng 2.4.2 – Bảng cơ cấu Hàng tồn kho

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    Hàng tồn kho 19.916.349.775 100 27.396.485.175 100
    1.Hàng mua đang đi trên đường 13.110.615.454 65,83 18.798.083.185 68,62
    2.Nguyên liệu,vật liệu tồn kho 146.688.235 0,74 153.857.825 0,56
    3.Công cụ ,dụng cụ trong kho 35.092.970 0,18 30.894.194 0,11
    4.Hàng hoá tồn kho 6.623.953.115 33,25 8.413.649.971 30,71

    2.4.3 – Quản trị khoản phải thu ,phải trả:

    Các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, khoản phải thu là 9.939.511.417(VNĐ) chiếm 7,71%. Năm 2004, khoản phải thu lên tới 11.259.869.920 (VNĐ) triệu chiếm 8,92%. Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu. Năm 2003 khách hàng nợ Công ty là 8.240.668.842(VNĐ), chiếm 6,39% trong tổng vốn lưu động. Năm 2004 khách hàng nợ 8.630.501.665(VNĐ), chiếm 6,84% trong tổng vốn lưu động. Mặc dù số tiền mà khách hàng nợ Công ty tăng lên 389.832.823(VNĐ) nhưng đây cũng là điều tất yếu , bởi công ty đang ngày càng được mở rộng vì thế nên công ty có nhiều bạn hàng, lượng tiền mà khách nợ công ty tăng lên cũng không lớn . Bên cạnh đó

    cũng có sự gia tăng của các khoản phải thu khác nhưng mà sự gia tăng này không đáng kể.

    Bảng 2.4.3 – Bảng cơ cấu Khoản phải thu , phải trả

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I.Các khoản phải thu 9.939.511.417 7,71 11.259.869.920 8,92
    1.Phải thu KH 8.240.668.842 6,39 8.630.501.665 6,84
    2.Ứng trước người bán 1.416.555.317 1,10 2.538.445.534 2,01
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0
    4.Phải thu khác 282.287.258 0,22 99.597.421 0,08
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8.674.700 -0,007
    II. các khoản phải trả
    99.533.945.689 66,66 94.976.268.075 64,68

    Trả trước cho người bán chiếm  tỷ trọng nhỏ trong Tổng vốn lưu động của Công ty (năm 2003 là 1,1% và năm 2004 là 2,01%),như vậy khoản này đã tăng lên làm khoản phải thu của Công ty đã tăng lên .Công ty đã ứng trước cho các nhà cung cấp để đảm bảo có được nguyên vật liệu kịp thời để phục vụ sản xuất.

    Như vậy ,hầu hết các khoản phải thu của Công ty đã có xu hướng tăng lên.Công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ,kiên quyết không cung cấp hàng cho những khách hàng đang còn nợ lớn , thu hẹp được vốn ở khâu này sẽ hạn chế Vốn lưu động bị chiếm dụng ,giúp Công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn .

    Cùng với các khoản phải thu của doanh nghiệp thì các khoản phải trả của doanh nghiệp cũng đang được giảm dần. Năm 2003 nợ phải trả của công ty là 99.533.945.689 (VNĐ) đến năm 2004 thì chỉ còn 94.976.268.075 (VNĐ) . qua đó thấy được sự cố gắng của công ty trong việc thu hẹp các khoản nợ , tạo niềm tin cho các nhà cung cấp . Sự cố gắng này được thể hiện ở khoản phải trả người bán . Năm 2003 phải trả người bán là 83.730.340.885 (VNĐ) nhưng đến năm 2004 thì khoản phải trả người bán chỉ còn là 76.056.738.974(VNĐ).

    Như vậy , công ty đã đạt được những hiệu quả nhất định trong công tác quản trị các khoản phải thu , phải trả . Thời gian tới công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ, cung với đó công ty cũng nên giảm bớt lượng phải trả người bán nhằm đảm bảo sự an toàn cho công ty . Làm được như vậy sẽ giúp công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn.

    2.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác :

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trong rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng vốn lưu động, ứng với số tiền là 400.738.776(VNĐ). Năm 2004, tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền 989.500.000(VNĐ). Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu quả hơn nữa.

    2.5 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    Công ty sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động :

    – Cách tính vốn lưu động bình quân:

    +     VLĐ bình quân năm 2003   =

                                             =  

                                                     =      118.205.552.134 VNĐ

     +   VLĐ bình quân năm 2004=

    = 127.596.358.386,5 VNĐ

    Các chỉ tiêu được tính toán cụ thể như sau:

    2.5.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (Vòng quay VLĐ):

    L=

    Năm 2003, L =  = 9,7 vòng

    Năm 2004, L =   = 11,92 vòng

    Như vậy, cứ một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được 9,7 đồng doanh thu năm 2003 và 11,92 đồng doanh thu năm 2004.

    2.5.2- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:

                                 K=

    Năm 2003, K =  = 37 ngày

    Năm 2004, K =  = 30 ngày

    Như vậy, năm 2003 cứ 37 ngày thì vốn lưu động thực hiện được một vòng quay và năm 2004 là 30 ngày. Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng được rút ngắn thì chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.

    2.5.3- Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Vtk =  . (K1– K0)

    =  . (30- 37)

    = -29.489.158.767(VNĐ)

    So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tiết kiệm được 29.489.158.767(VNĐ) vốn lưu động. Mức tiết kiệm  này là do Công ty đã tăng vòng quay của vốn lưu động từ 9,7 vòng lên 11,92 vòng năm 2004 và rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu động.

     

     

    Bảng 2.5 : Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng VLĐ

     

    Chỉ tiêu ĐV Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    1. Tổng doanh thu VNĐ 1151374383671 1520689248460 369314864789  
    2. Doanh thu thuần VNĐ 1147679225941 1516533879485 368854653544  
    3. VLĐ bình quân VNĐ 118205552134 127596358387 9390806253  
    4. Giá vốn hàng bán VNĐ 971739382548 1407399507657 435660125109  
    5. LN sau thuế VNĐ 8309358113 7934647185 -374710928  
    6. Vòng quay VLĐ Vòng 9.7 11.9 2.2  
    7. Kỳ luân chuyển VLĐ Ngày 37 30 -7  
    8. Mức tiết kiệm VLĐ VNĐ -29489158767    
    9. Hiệu suất sử dụng VLĐ VNĐ 9.70 11.90 2.2  
    10. Hàm lượng VLĐ VNĐ 0.103 0.084 -0.019  
    11. Mức doanh lợi VLĐ VNĐ 0.07 0.084 0.014  

    2.5.4- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    HSSD VLĐ =

    HSSD VLĐ năm 2003 =

    = 9,7 đồng

    HSSD VLĐ năm 2004 =

    = 11,9 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh năm 2003 cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra có thể làm ra 9,7 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2004 chỉ tiêu này đã tăng lên 11,9 đồng doanh thu thuần trên một đồng vốn lưu động. Như vậy, năm 2004 vốn lưu động được sử dụng có hiệu quả hơn so với năm 2003.

    2.5.5- Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận VLĐ):

    Hàm lượng VLĐ =

    Hàm lượng VLĐ năm 2003 =

    =    0,103 đồng

    Hàm lượng VLĐ năm 2004 =

    =      0,084 đồng

    Như vậy, trong năm 2003 công ty cần 0,103 đồng VLĐ để tạo ra được một đồng doanh thu. Năm 2004 Công ty chỉ cần có 0,084 đồng VLĐ đã tạo ra được một đồng doanh thu. So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tăng được mức độ đảm nhận VLĐ lên và vì vậy sử dụng VLĐ có hiệu quả hơn.

     

    2.5.6- Mức doanh lợi vốn lưu động (Tỷ suất lợi nhuận VLĐ):

    Mức doanh lợi VLĐ =

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2003 =

    =  0,07 đồng

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2004 =

    =  0,062 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra được 0,07 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2003 và 0,062 đồng năm 2004. So với năm 2003 thì mức doanh lợi của Công ty thấp hơn 0,008 đồng.

     

    Qua sự phân tích trên cho thấy thực trạng quản trị vốn lưu động của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng trong nền kinh tế thị trường ta thấy một cách cụ thể những lý luận về vốn lưu động được thể hiện trong thực tiễn . Trong công tác này Công ty có nhiều ưu điểm song vẫn còn những tồn tại cần khắc phục. Sau đây Em xin mạnh dạn đề xuất  một số đánh giá và giải pháp về công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

     

     

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG

    3.1 -ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Sau khi nghiên cứu tình thực tế về công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng ,ta thấy tình hình quản trị vốn lưu động tại công ty có một số ưu , nhược điểm sau :

    3.1.1- Ưu điểm :

    Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn kinh doanh của công ty .Để sử  dụng vốn lưu động có hiệu quả ,tức là sử dụng vừa tiết kiệm lại vừa chính xác ,kịp thời thì công tác quản trị vốn lưu động tại công ty rất quan trọng .Xác định được tầm quan trọng của vấn đề ,Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng luôn tìm mọi cách để quản lý và sử dụng vốn lưu động sao cho tốt nhất và có hiệu quả nhất .Trong những năm qua ,Công ty đã đạt đựơc một số kết quả trong công tác quản trị vốn lưu động như sau :

    Thứ nhất ,về tổ chức bộ máy kế toán :Công ty có một cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán khá chặt chẽ ,với nhiệm vụ cụ thể của từng kế toán viên dưới sự điều hành của kế toán trưởng .Công tác hạch toán kế toán ,kế toán và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc tổ chức và thực hiện tốt đã giúp Công ty nắm đựơc tình hình vốn ,nguồn hình thành ,tình hình tăng giảm vốn lưu động trong kỳ ,khả năng đảm bảo vốn lưu động ,tình hình và khả năng thanh toán .Trên cơ sở đó giúp công ty đề ra được cho mình những giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn lưu động ,xử lý các vấn đề tài chính nảy sinh .

    Thứ hai ,về tình hình quản trị vốn lưu động :Do công ty đã đề ra được kế hoạch về vốn lưu động trong kỳ nên công ty đã chuẩn bị đựơc nguồn vốn lưu động phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của công ty .để đưa ra được các quyết định tài chính phù hợp với vốn lưu động thì công ty đã tổ chức công tác quản trị vốn lưu động một cách toàn diện .

    Thứ ba , về khả năng thanh toán của công ty bằng vốn lưu động :Do Công ty đã dự trữ một lượng tiền mặt khá lớn tại quỹ và tại ngân hàng nên khả năng thanh toán của công ty là rất tốt .Công ty đã thiết lập , mở rộng mối quan hệ với khách hàng và bạn hàng .Tất cả những điều này giúp Công ty mở rộng đựơc thị trường của mình ,tìm thêm cho mình những khách hàng mới thiết lập mối quan hệ tin tưởng  lẫn nhau.Trong quan hệ giao dịch vơi bạn hàng  trên cơ sở xây dựng mối quan hệ lâu dài và uy tín đã giúp cho Công ty có được uy tín thương mại từ phía bạn hàng .Số lượng khách hàng đến với Công ty ngày càng nhiều  điều đó củng cố vị thế của Công ty trong ngành Xi măng .

    Thứ tư, về tình hình huy động vốn lưu động: để đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm đủ số vốn để trang trải cho nhu cầu vốn lưu động của mình. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp nên Công ty muốn mở rộng thị trường kinh doanh cuả mình. Do vậy, Công ty cần một lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh. Tuy nhiên, số vốn được cấp cùng với lợi nhuận không chia để lại doanh nghiệp không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn cho Công ty nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã phải huy động thêm nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động như nguồn vốn tín dụng thương mại . Nguồn vốn tín dụng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn của Công ty. Nó được hình thành khi Công ty nhận được tài sản, dịch vụ của người cung cấp song chưa phải trả tiền ngay. Công ty có thể sử dụng các khoản phải trả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán với khách hàng như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của Công ty.

    Thứ năm , đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty không ngừng được nâng cao .Nếu năm 2003 ,thu nhập bình quân của công nhân viên là 2530000(đồng/người ) thì đến năm 2004 con số này là 3410000(đồng /người ).Đây chính là một minh chứng cụ thể và đầy đủ nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu qủa của công ty .Với lượng công nhân viên khoảng 714 người trong năm 2004 nhưng với bộ máy gọn nhẹ ,cấu trúc đơn giản ,hoạt động có hiệu quả đã cho phép công ty đạt đựơc những thành tựu lớn trong thời gian qua .

                 Thứ sáu ,Công ty được sự quan tâm giúp đỡ của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong việc cung cấp nguồn vốn ,cũng như sự chỉ đạo chặt chẽ đã giúp cho công ty không ngừng lớn mạnh .
    3.1.2- Nhược điểm :

    Bên cạnh các ưu điểm trong công tác quản trị vốn lưu động thì tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn còn một số nhược điểm mà công ty cần phải tìm cách khắc phục:

    Thứ nhất, về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty chưa được tốt. Điều này biểu hiện qua các chỉ tiêu tài chính như vòng quay vốn lưu động cũng như tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty còn thấp. Trong những năm tới, Công ty cần phải đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của vốn, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng trong khâu tiêu thụ nhằm tăng thêm lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ hai, việc xác định nhu cầu vốn lưu động bằng phương pháp gián tiếp tuy có ưu điểm là tương đối đơn giản giúp công ty ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch song chưa đảm bảo được độ chính xác cao.

    Thứ ba , Công ty đã để lượng dư tiền gửi ngân hàng quá nhiều , như vậy cũng có mặt tốt nhưng như vậy một lượng vốn lưu động đã bị tồn đọng làm giảm cơ hội đầu tư  vào những vực mới có nhiều khả năng đem lại lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ tư , Khoản phải thu của Công ty chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn lưu động và ngày càng tăng lên qua các năm . Điều này sẽ làm nguồn vốn lưu động của công ty bị ứ đọng trong tay khách hàng . Tình trạng chiếm dụng vốn ngày càng cao như vậy sẽ gây nhiều khó khăn cho Công ty trong công tác thanh toán của mình .

    Thứ năm ,Sản lượng Xi măng tiêu thụ của công ty tuy vượt mức kế hoạch đặt ra nhưng sản lượng Xi măng Bỉm Sơn , Hoàng Mai đạt còn thấp . Do chưa thực sự quan tâm đẩy mạnh tiêu thụ , tiếp thị , quảng cáo hai chủng loại Xi măng này trên thị trường .

    3.2 -PHƯƠNG HƯỚNG CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI :

    3.2.1 – Phương hướng của công ty trong sản xuất kinh doanh:

    Nước ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và khu vực Mậu dịch tự do Châu Á (AFTA). Điều này đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng mang lại những thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Vì khi đó, Nhà Nước ta mở rộng cánh cửa cho hàng hoá của các nước trong khu vực và trên Thế giới  xâm nhập vào thị trường Việt Nam một cách dễ dàng với mức thuế nhập khẩu tương đối thấp. Do vậy, các sản phẩm được sản xuất ra ở trong nước phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Để làm được điều này thì các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm. Nắm bắt được điều đó nên : Toàn công ty phấn đấu đạt :

                 * Sản lượng xi măng mua vào , bán ra :     2,4 triệu tấn trở lên

                 Trong đó :   + Xi măng Hoàng Thạch : 1200000 tấn

    + Xi măng Bỉm Sơn            : 120000 tấn

    + Xi măng Bút sơn             :  800000 tấn

    + Xi măng Hải Phòng        :  130000 tấn

    + Xi măng Hoàng Mai       : 150000 tấn

    • Lợi nhuận từ 10 tỷ đồng trở lên.
    • Giữ cho thu nhập bằng năm 2004
    • Kế hoạch bán ra giao cho các đơn vị :

    + Phòng tiêu thụ Xi măng       :  1900000 tấn

    + Phòng kinh tế kế hoạch        :  30000    tấn

    + Xí nghiệp vận tải                  :  35000    tấn

    + Chi nhánh Thái Nguyên       :  120000  tấn

    + Chi nhánh Phú Thọ              :   135000  tấn

    +Chi nhánh Vĩnh Phúc            :   110000  tấn

    + Chi nhánh Lào cai                :   70000    tấn

    Trong đơn vị phải phấn đấu vượt mức KH từ 10% trở lên.      

     

     

    3.2.2 – Phương hướng về quản trị vốn lưu động:

    Thứ nhất ,công ty phải luôn tìm hiểu thị trường để nắm bắt được thông tin từ phía người tiêu dùng ,tìm kiếm các nguồn nguyên liệu có chất lượng cao mà giá thành lại  thấp  .

    Thứ hai ,Công ty sẽ đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường để có thể nắm bắt và xử lý các thông tin kinh tế ,dự đoán chính xác nhu cầu và diễn biến của thị trường từ đó tìm kiếm những thị trường tiềm năng mới mà doanh nghiệp chưa khai thác hoặc khai thác chưa triệt để .

    Thứ ba ,Công ty phải đẩy mạnh hình thức bán buôn kết hợp với các hình thức bán lẻ nhằm tăng nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng lợi nhuận của công ty .Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng cũng như hình thức thanh toán nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng .Nâng cao năng lực sản xuất đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10%

    Thứ tư ,Công ty phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động ,tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động .Trong những năm qua ,do công ty đã không sử dụng hết nguồn vốn lưu động sẵn có gây nên tình trạng ứ đọng vốn .Do vậy trong những năm tới công ty phải phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động tránh tình trạng vốn lưu động bị ứ đọng

    Thứ năm ,công ty cần phải phấn đấu tăng thu nhập cho người lao động nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động an tâm làm việc tại công ty .

    Để đạt được mục tiêu như vậy thì  công ty cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả tốt nhất .Phương hướng hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại công ty là hoàn thiện công tác mọi mặt sản xuất kinh doanh nhằm giảm thiểu các chi phí ,duy trì mở rộng thị trường ,có chính sách tín dụng tốt với khách hàng ,quản lý vốn trong thanh toán ,đầu tư đồng bộ cho máy móc thiết bị ….Từ đó sẽ nâng cao công tác quản trị vốn lưu động .

    3.3 -MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ :

    Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng trong thời gian qua , Em xin nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty như sau:

    3.3.1- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu      động:

    3.3.1.1 – Các giải pháp chung:

    Khi tiến hành hoạt dộng sản xuất kinh doanh thì bất cứ một Công ty nào cũng cần chú trọng thực hiện các biện pháp cơ bản sau nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu sử dụng vốn lưu động nói riêng.

    Thứ nhất, Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh: Trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay thì đòi hỏi Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải có một chiến lược kinh doanh chủ động. Muốn vậy thì đội ngũ nhân viên làm việc tại phòng Kinh doanh phải luôn tiếp cận với thị trường, khai thác thông tin từ thị trường để từ đó nắm bắt được nhu cầu của khách hàng. Có như vậy thì hoạt động kinh doanh của Công ty mới có hiệu quả. Quản trị chiến lược kinh doanh tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Công ty, vị thế cũng như hiệu quả kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Thứ hai, lựa chọn quyết định kinh doanh có hiệu quả: trong điều kiện nền kinh tế mở, có nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia vào thị trường làm cho sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp trở nên gay gắt. Do vậy, để tồn tại và phát triển được thì Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải nắm bắt lấy cơ hội và đương đầu với những khó khăn nhằm đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn.

    Thứ ba, nâng cao trình độ và tăng động lực cho đội ngũ lao động: Để mỗi cán bộ công nhân viên xem Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là ngôi nhà thứ hai của mình, Công ty nên có các chương trình hoạt động văn hoá thể thao, tăng cường các qũy phúc lợi, khen thưởng mở các lớp đào tạo chuyên môn , nghiệp vụ. Đồng thời Công ty cũng cần có biện pháp để tăng mức lương cho người lao động. Khi đó, cán bộ công nhân viên của Công ty sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, đem lại hiệu quả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Thứ tư, tăng cường mở rộng quan hệ giữa Công ty với khách hàng: Nếu biết khai thác tốt thị trường cũng như quan hệ bạn hàng thì Công ty sẽ dễ dàng có được những cơ hội phát triển kinh doanh.

    3.3.1.2 -Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty :

    Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng vốn lưu động, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động như sau:

     

    *  Hoàn thiện công tác quản trị vốn bằng tiền

    Qua phân tích tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thụât Xi măng trong hai năm gần đây, ta thấy, công tác quản trị vốn bằng tiền chưa được tốt do Công ty đã dự trữ một lượng tiền  khá lớn tại quỹ. Cụ thể, vốn bằng tiền chiếm một tỷ trọng lớn là 76,54% trong tổng vốn lưu động năm 2003 và chiếm 68,59% trong tổng vốn lưu động năm 2004. Việc dự trữ một khối lượng lớn tiền mặt tại quỹ có thể giúp cho Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả. Nhưng đồng thời nó lại gây nên tình trạng ứ đọng vốn do Công ty đã không sử dụng hết số vốn hiện thời mà mình có. Do vậy, trong những năm tới Công ty cần phải xem xét lại mức dự trữ tiền mặt một cách hợp lý sao cho Công ty vừa có khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ mà vừa không bị dư thừa vốn lưu động.

    *  Hoàn thiện công tác quản trị hàng tồn kho

    Tồn kho dự trữ là khoản mục chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, hàng tồn kho chiếm 15,44% trong tổng tài sản lưu động. So với năm 2003, thì năm 2004  Công ty đã để tăng tỷ lệ hàng tồn kho trong tổng vốn lưu động lên tới 21,7% . Chính vì vậy, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn  áp dụng mọi biện pháp nhằm giảm tối thiểu các chi phí lưu kho đồng thời vẫn đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục.  Một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm khối lượng hàng tồn kho là Công ty nên đầu tư thêm vào lĩnh vực quảng cáo, tham gia các hội chợ triễn lãm để kích thích tiêu dùng nhằm tối ưu chi phí lưu kho số thành phẩm này.

    *  Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động

    Việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động .Do đó tầm quan trọng của công tác này cần được Công ty đánh giá đúng mức để có thể xây dựng được một hệ thống phương pháp khoa học cho công tác xác định nhu cầu vốn lưu động .Qua tìm hiểu thực tiễn về công tác này tại Công ty em xin mạnh dạn đề xuất Công ty nên áp dụng phương pháp trực tiếp trong việc xác định nhu cầu vốn lưu động hàng năm.Mặc dù phương pháp trực tiếp thực hiện phức tạp tốn nhiều thời gian nhưng bù lại phương pháp này giúp cho Công ty đánh giá chính xác hơn về lượng vốn lưu động cần huy động trong các khâu sản xuất , lưu thông sản phẩm hàng hoá .Bằng phương pháp này sau khi tổng hợp các nhu cầu trong từng khâu sản xuất kinh doanh , Công ty sẽ có được tổng nhu cầu về Vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh hàng năm của mình một cách chính xác. Dựa vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh ,Công ty có thể chuẩn bị các biện pháp huy động Vốn lưu động chính xác , kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về Vốn lưu động chính xác, kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về vốn lưu dộng của quá trình sản xuất và tiêu thụ.

    *  Công ty cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng vốn lưu động:

    Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Do vậy, việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động và  sử dụng vốn lưu động vào sản xuất kinh doanh của Công ty là hết sức cần thiết. Công ty cần chủ động khai thác triệt để các nguồn vốn sẵn có và các khoản vốn có thể chiếm dụng được tạm thời như nợ của người cung cấp và các tổ chức tín dụng khác.

     

     

    * Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động:

    Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho Công ty tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động và giảm được các chi phí về hàng tồn kho. Công ty cần phải ưu tiên về thanh toán đối với các khách hàng lâu năm của Công ty nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài.

    *  Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên:

    Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần phải chú trọng vào việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên bằng cách cử cán bộ và công nhân viên có khả năng đi học các lớp bồi dưỡng về chuyên môn. Lãnh đạo Công ty cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, cương quyết thay thế những cán bộ yếu đồng thời đề bạt một số cán bộ có năng lực về chuyên môn, có khả năng đáp ứng những yêu cầu mới.Công ty cũng cần phải khuyến khích về vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên nhằm pháp huy tinh thần trách nhiệm của họ.

    3.3.2 – Một số kiến nghị mang tính chất hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty:

    Sau một thời gian tìm hiểu, phân tích thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng. Em xin đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần giúp Công ty nâng cao hiệu quả tạo vốn và sử dụng vốn lưu động như sau:

     

     

    3.3.2.1 – Một số kiến nghị đối với công ty :

    Hình thức bán hàng mà công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng áp dụng trong những năm qua về cơ bản là phù hợp với hoạt động kinh doanh. Công ty cần tiếp tục đẩy mạnh hình thức bán buôn để đẩy nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong bán buôn, công ty cần tăng cường hình thức bán giao thẳng không qua kho vì hình thức này đảm bảo tiết kiệm nhiều chi phí, thu được lợi nhuận cao và đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động.

    Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng và phương thức thanh toán (như thanh toán nhanh hoặc trả chậm trong một thời gian nhất định) để phục vụ tốt nhu cầu của mọi khách hàng. Ngoài ra Công ty còn phải sử dụng công cụ marketing nhằm thúc  đẩy hoạt động bán hàng.

    Công ty cần mở thêm các văn phòng đại diện cũng như các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh thành trong cả nước, không ngừng huấn luyện đội ngũ bán hàng có năng lực và có kinh nghiệm bán hàng. Công ty cần duy trì và phát triển quan hệ bán hàng với các đơn vị thường xuyên mua hàng của Công ty với khối lượng lớn. Bởi vì bộ phận khách hàng này sẽ đảm bảo hàng hoá tiêu thụ được ổn định. Đối với thị trường mới, Công ty phải có những chiến lược xâm nhập thích hợp bởi đây chính là nơi có thể mở rộng các quan hệ của Công ty với những bạn hàng mới. Do vậy, Công ty phải phân tích những thông tin về các biến cố trên thị trường, xử lý tốt các thông  tin kinh tế nhằm tìm ra cơ hội kinh doanh phù hợp với tiềm năng của Công ty.

     

    3.3.2.2 – Một số kiến nghị đối với Tổng công ty Xi Măngvà nhà nước:

                 Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa nên các đơn vị kinh doanh được quyền tự chủ về các hoạt động kinh doanh của mình. Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng chịu sự quản lý của Tổng Công Ty Xi măng nên vẫn phải chịu ít nhiều sự tác động của Tổng Công Ty và nhà nước như hệ thống các chính sách, chế độ có liên quan.Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới thì Nhà nước, các Bộ, các Ngành phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường.Vì vậy ngoài việc nhanh chóng ban hành đồng bộ các chính sách , Nhà nước cần phải sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô một cách có hiệu quả nhất thiết .Đối với những ngành như ngành Xi măng hiện nay không chỉ do Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam sản xuất kinh doanh(Tổng Công Ty mới chỉ chiếm xấp xỉ 53% thị phần ). Song việc bình ổn giá Xi măng là trách nhiệm của nhà nước giao cho các thành viên của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đảm nhiệm . Hơn nữa Nhà nước vẫn còn thực hiện chính sách xã hội đối với các Tỉnh Miền Núi thông qua một số ngành hàng quan trọng . Vì vậy Nhà nước cần phải ban hành một số cơ chế kiểm soát , chính sách hỗ trợ về Vốn , Thuế , Trợ Giá phù hợp tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện được nhiệm vụ chính trị xã hội nhưng không bị thua lỗ kéo dài .

    Tổng Công Ty Xi măng cần tiến hành giao thêm các chi nhánh tiêu thụ của các Công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công Ty ở khu vực Miền Bắc cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng . Đồng thời có chính sách hợp lý về giá bán nội bộ của các Công ty sản xuất bán cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng để đảm bảo khẳng định cạnh tranh.

    KẾT LUẬN

                 Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự ra đời của nhiều doanh nghiệp, sự canh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày các gay gắt và khốc liệt. Để chiến thắng trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để sử dụng vốn lưu động một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả.Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả chính là cơ sở giúp doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh thuận lợi.

    Trong thời gian qua , tình hình chung của toàn ngành Xi măng còn gặp nhiều khó khăn , nhưng nhờ sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà Nước , Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách để vươn lên và phát triển ổn định. Trong những kết quả đạt được một phần là nhờ Công Ty đã làm tốt công tác quản trị Vốn lưu động của mình, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đồng vốn bỏ ra , mang lại hiệu quả sản xuất ngày càng cao . Tuy nhiên ,trong công tác này của Công ty phải chú trọng hoàn thiện hơn nữa để phát huy tối đa sự vận động và hiệu quả của đồng Vốn lưu động.

    Từ cơ sở lý luận chung và phân tích thực trạng của việc sử dụng vốn lưu động tại công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng – Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong thời gian qua, em có đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty. Mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhưng do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian thực tập ngắn cũng như tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh chắc chắn những  kiến nghị của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, đó là những cố gắng trong việc tìm ra các giải pháp trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc về thực trạng tài chính và các hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua.

    Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Công đoàn đã trao cho em kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.

    Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thạc sỹ Đặng hải Lý cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng Kế toán của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận này.



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%B4ng-t%C3%A1c-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-n%E1%BB%99p-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-M%E1%BA%B7t-Tr%E1%BB%9Di-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong cơ chế tập trung hoá vấn đề tiền lương chưa có sự quan tâm thích đáng, những quan điểm về tiền lương bộc lộ những thiếu sót trong nhận thức như tiền lương không phải là giá cả sức lao động, cơ chế phân phối tiền lương phụ thuộc vào cơ chế phân phối thu nhập quốc dân. Điều đó cho thấy tiền lương trong cơ chế kế hoạch hóa không làm được vai trò là đòn bảy của kinh tế của mình.

    Chuyển sang cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp thực hiện chế độ tự hạch toán đảm bảo tiền lương của cán bộ, công nhân bù đắp hao phí lao động của họ một cách hợp lý, đồng thời tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.

    Chính vì vậy tổ chức kế toán tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của công tác kế toán tiền lương trong doanh nghiệp, nó có quan hệ mật thiết với từng người lao động, đến mọi mặt sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giải quyết quan hệ tiền lương tốt sẽ làm cho người lao động thoả mãn lợi ích vật chất của mình, đồng thời quan tâm đến thành quả lao động, phát huy sáng kiến kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Bên cạnh tổ chức hạch toán tiền lương một cách hợp lý việc

    trích nộp và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Quỹ BHXH, BHYT được thành lập để tạo nguồn tài trợ và đảm bảo quyền lợi cho cán bộ công nhân viên.

    Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong quá trình thực tập tại Công ty Mặt Trời Việt tôi đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp: “Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo

    lương tại Công ty Mặt Trời Việt“. Việc nghiên cứu nhằm mục đích hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về lương, phân tích thực trạng công tác tổ chức kế toán tiền lương ở công ty trên cơ sở hiểu biết của bản thân trong quá trình học

    1

    tập đề suất những biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương.

    Nội dung gồm ba phần sau:

    Phần I : Đặc điểm, tình hình chung của Công ty Mặt Trời Việt

    Phần II : Thực trạng công tác tổ chức kế toán tiền luơng của Công ty Mặt Trời Việt

    Phần III : Nhận xét và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương.

    Mặc dù đã cố gắng nắm bắt vấn đề lý thuyết và áp dụng lý thuyết vào tình hình thực trạng của Công ty nhưng do thời gian có hạn, nên chắc chắn bản báo cáo này vẫn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp của cô giáo để bổ sung vào bản báo cáo thực tập tốt nghiệp và khắc phục những thiếu sót trên.

    2

    PHẦN I

    ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Đặc điểm chung của Công ty

    1.     Quá trình phát triển của Doanh nghiệp

    Công ty Mặt trời Việt là một doanh nghiệp tư nhân chịu sự quản lý của sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội. Được thành lập theo số đăng ký kinh doanh: 0102020255 do sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội cấp ngày13/12/1999. Đánh dấu một bước quan trọng trong ngành quảng cáo, thiết kế dàn dựng triển lãm.

    Những ngày đầu thành lập Công ty Mặt Trời Việt có gần 40 cán bộ công nhân viên, diện tích lúc đó chỉ 600m2 thuộc địa chỉ 60/80 Hoàng Cầu – Hà Nội.Công ty Mặt Trời Việt là hệ thống tổ chức chuyên về dàn dựng thiết bị quảng cáo tại các hội chợ, triển lãm, nhà hàng, khách sạn, có tư cách pháp nhân đầy đủ hạch toán kinh tế độc lập.

    Thực hiện hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh,đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng, nhằm bảo toàn và phát triển vốn của Công ty. Đồng thời giải quyết thoả đáng hài hoà lợi ích cá nhân người lao động trong khuôn khổ luật pháp quy định.

    Cùng với những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước và thủ đô Hà Nội, Công ty Mặt Trời Việt đã có bước phát triển vững chắc và đã đạt được những thành tựu đáng kêtrong công tác quản lý và kinh doanh:

    Năm 2000 đưa dàn máy thiết bị mới vào cải tiến kỹ thuật đổi mới trang bị dàn dựng quảng cáo, nhằm nâng cao và đảm bảo mục tiêu toàn bộ khu vực triển lãm được đánh giá là chất lượng cao.

    3

    Năm 2001 tại hội chợ triển lãm Giảng Võ Công ty Mặt Trời Việt đã dàn dựng thành công 115 gian hàng, sau hội chợ triển lãm đó các đơn vị được Công ty dàn dựng gian hàng đó đã đánh giá một cách khách quan.

    Công ty không ngừng đào tạo, xây dựng đội ngũ và nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên.Với 4 cán bộ có trình độ tay nghề cao (cử nhân) cùng với một đội ngũ công nhân lành nghề nhiều kinh nghiệm.

    Với tổng số gần 100 cán bộ công nhân viên, tiền lương và thu nhập được cải tiến rõ rệt năm sau cao hơn so với năm trước. Thu nhập bình quân của năm 2000 là 658.000đ/người/tháng.Và trong năm 2002 là 1.100.u000đ/người/tháng. Hiện tại, có 100% người lao động trong Công ty được ký hợp đồng lao động theo quy định của Nhà nước ban hành.

    Với những kết quả, những thành tựu đạt được trong những năm gần đây cho ta thấy Công ty Mặt Trời Việt đã không ngừng phấn đấu xây dựng hoạt động giữ lấy chữ tín làm hàng đầu để thu hút thêm nhiều hợp đồng mới, mang lại cho Công ty nhiều nguồn lợi nhuận mới.

    2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty

    Công ty Mặt Trời Việt được thành lập nhằm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nhiệm vụ chính của Công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh bao gồm 2 lĩnh vực cụ thể:

    Kinh doanh dịch vụ

    Cung cấp các thiết bị quảng cáo, giàn dựng cho các Công ty khác ở

    Việt Nam, cho các khách hàng có nhu cầu về thiết kế quảng cáo.

    Hoạt động kinh doanh

    Công ty được phép nhập các mặt hàng phục vụ cho sản xuất hàng hoá

    và phục vụ tiêu dùng cho Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho phép dưới hình thức uỷ thác và trực tiếp.

    Ngày nay, với đòi hỏi bức bách của thị trường, Công ty Mặt Trời Việt được bổ sung chức năng và nhiệm vụ sau :

    • Tổ chức các dịch vụ lắp đặt, thiết kê quảng cáo

    4

    • Tổ chức kinh doanh dịch vụ sửa chữa cho các Công ty và các đơn vị

    ngoài.

    3. Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến đứng đầu là Giám đốc. Giúp việc cho Giám đốc có 2 phó Giám đốc.

    • Giám đốc : Người nắm toàn bộ quyền hành chỉ đạo chung cho toàn

    Công ty. Giám đốc Công ty trực tiếp phụ trách các phòng sau:

    • Văn phòng Công ty là đơn vị tổng hợp hành chính quản trị giúp Giám đốc chỉ đạo quản lý công tác pháp chế, thi đua, tuyên truyền.
    • Phòng kế hoạch vật tư : Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo trong công tác

    kế hoạch, thống kê và các hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác cung ứng vật thiết kế quản lý và sử dụng có hiệu quả vật tư thiết bị trong toàn Công ty.

    • Phòng tổ chức nhân sự : là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo

    quản lý về tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công tác thanh tra, pháp chế và ban hành các quy chế nội bộ.

    • Phòng tài chính Kế toán : là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc về quản

    lý tài chình và tổ chức công tác hạch toán kế toán toán Coong ty.

    • Phòng công nghệ: Giúp Giám đốc trong việc nghiên cứu áp dụng các

    công nghệ mới vào sản xuất.

    • Phó Giám đốc Kinh doanh: Giúp Giám đốc trong việc chỉ đạo điều hành lĩnh vực Kinh doanh của Công ty trực tiếp phụ trách.
    • Phòng Kinh doanh : Giúp Giám đốc chỉ đạo Công ty Kinh doanh.
    • Phòng giao dịch thương mại : có nhiệm vụ trong việc xúc tiến thương

    mại.

    • Tổ bán hàng : thực hiện việc bán sản phẩm do Công ty sản xuất.

    + Phó Giám đốc kỹ thuật : Giúp Giám đốc Công ty về lĩnh vực kỹ thuật lập phương án xây dựngcác công trình về điện tử, quảng cáo và công tác thanh tra an toàn. Phòng kỹ thuật được chia ra làm các tổ kỹ thuật với nhiệm

    5

    vụ sửa chữa là lắp đặt máy móc thiết bị quảng cáo cho các đơn dặt hàng của

    Công ty.

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA

    CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT

    Kế toán trưởng

    Phòng   Th   Kế   Kế   Kế   Kế   Kế   Phó
    kế   qu   toán   toán   toán   toán   toán   phòng (kế
    toán       tin   công   vốn   vt   TSCĐ   toán giá
            n         thành và
    (kế       lươn     bằn   liu      
                        chỉ đạo
    toán       g       g          
                          công tác
                tiền          
    tng                         TCKT)
                             
                                 

    4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty Mặt Trời Việt

     

    Bộ máy kế toán được tổ chức theo kiểu tập trung

    4.1. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Mặt Trời Việt.

    Kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra bảo vệ, sử dụng tài sản nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, chủ động tài chính của Công ty.

    Phòng kế toán tài vụ của Công ty có chức năng và nhiệm vụ như tham mưu cho Giám đốc lên kế hoạch về tài chính vốn và nguồn vốn, kết quả doanh thu từng quý và năm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    6

    Để đảm bảo thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, phòng kế toán tài vụ của Công ty gồm có 06 nhân viên và mỗi nhân viên phải chịu trách nhiệm về một phần việc của mình:

    • Một kế toán trưởng kiêm trưởng phòng
    • Một kế toán lương kiêm TSCĐ, vật tư, hàng hoá
    • Một kế toán thanh toán kiêm giao dịch ngân hàng
    • Một kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành
    • Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán công nợ
    • Thủ quỹ.

    *Kế roán trưởng kiêm trưởng phòng

    • Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo, thực hiện công tác kế toán thống kê của Công ty.
    • Tổ chức thực hiện và kiểm tra thực hiện các chế độ, thể lệ kế toán, các

    chính sách, chế độ tài chính trong Công tycũng như chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, chế độ sổ kế toán, chính sách thuế, chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng.

    • Có nhiệm vụ báo cáo tài chính theo yêu cầu quản lý và theo quy định

    của Tung ương và thành phố cũng như các ngành có chức năng.

    *Kế toán tiền lương kiêm TSCĐ, vật tư, hàng hoá

    • Về tiền lương, BHXH, BHYT: Tổ chức hạch toán cung cấp thông tin

    về tính hình sử dụng lao động tại Công ty, về chi phí tiền lương và các khoản nộp BHXH, BHYT.

    • Về TSCĐ : Xác định giá trị TSCĐ, tham gia kiểm kê tài sản và theo dõi vào sổ sách tình hình tài sản phát sinh trong Công ty.
    • Về vật tư, hàng hoá : Chịu trách nhiệm theo dõi tình hình hiện có và

    biến động từng loại vật tư, hàng hoá, đông thời chấp hành đầy đủ quy định về thủ tục nhập, xuất, bảo quản vật tư.

    *Kế toán thanh toán kiêm giao dịch ngân hàng

    7

    Chịu trách nhiệm về mở TK, ghi séc, uỷ nhiệm chi, thanh toán tiền gửi ngân hàng…, hướng dẫn thủ tục thanh toán, kiểm tra chứng từ, kiểm tra việc mở sổ, ghi sổ xuất, nhập vật tư, hàng hoá của Công ty.

    *Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành

    Thu thập, lập và kiểm tra chứng từ kế toán, tham gia giúp lãnh đạo xét duyệt chi phí cho các hoạt động kinh doanh của Công ty.

    *Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán công nợ

    Theo dõi tình hình công nợ, tạm ứng của khách hàng, của thủ tục kê khai nộp thuế, tổ chức đối chiếucông nợ, thu hồi các khoản nợ của khách hàng, cân đối nhu cầu vốn, tránh tình trạng thiếu vốn trong kinh doanh.

    *Thủ quỹ

    Chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt có nhiệm vụ thu chi tiền mặt khi có sự chỉ đạo của cấp trên.

    4.2.Hệ thống tài khoản

    Công ty đang sử dụng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do Bộ Tài chính quy định.

    4.3.Hình thức sổ kế toán

    Để phù hợp quy mô cũng như điều kiện thực tế, Công ty Mặt Trời

    +Việt áp dụng hình thức hạch toán chứng từ ghi sổ và các loại sổ của hình thức này gồm có: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái và các sổ chi tiết tài khoản.

    *Hệ thống sổ kế toán được áp dụng tại Công ty:

    • Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Sổ chi tiết các tài khoản
    • Sổ cái
    • Bảng tổng hợp chi tiết

    8

    Quy trình hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ tại Công ty được

    thực hiện qua sơ đồ sau :

        Chng t kế toán      
             
               
               
    Sổ đăng ký          
      Chng t ghi s   S chi tiết
    chng t ghi s          
           
               
               
        S cái   Bng TH chi
               

    Bng cân đối s

    Báo cáo kế toán

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối kỳ

    Đối chiếu, so sánh

    4.4.Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán tại Công ty

    Công ty Mặt Trời Việt sử dụng hệ thống báo cáo kế toán theo đúng chế độ và quy định của Nhà nước và thực hiện tốt các báo cáo về các hoạt động tài chính của Công ty.

    *Hệ thống báo cáo tài chính của Công ty Mặt Trời Việt

    • Báo cáo quyết toán
    • Bảng cân đối kế toán
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
    • Bảng cân đối tài khoản
    • Tờ khai chi tiết doanh thu, chi phí thu nhập
    • Quyết toán thuế GTGT
    • Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
    • Thuyết minh báo cáo tài chính

    PHẦN II :

    9

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN VÀ CÁC

    KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY

    MẶT TRỜI VIỆT

    A – THỰC TRẠNG CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Kế toán vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, ứng và trả trước.

    1. Kế toán vốn bằng tiền

    Vốn bằng tiền là vốn lưu động được biểu hiện khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp trong các quan hệ mua bán, thanh toán nói chung.

    Đặc trưng của vốn bằng tiền là tính luân chuyển cao chuyển hoá phức

    tạp. Do vậy yêu cầu kế toán phải quản lý tốt bộ phận này, sử dụng hiệu quả

    tăng cường chống tham ô, lãng phí khi sử dụng. Việc quản lý tốt vốn bằng

    tiền sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp diễn

    ra liên tục.

    Vốn bằng tiền của Công ty bao gồm : tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Để quản lý tốt vốn bằng tiền của Công ty thì kế toán phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ quản lý lưu thông tiền tệ hiện hành của nhà nước, kế toán phải phản ánh kịp thời và đầy đủ chính xác số tiền hiện tại quỹ và tính hình biến động.

    Các thủ tục và nguyên tắc liên quan đến việc thu, chi tiền mặt kế toán sử dụng tài khoản chứng từ sau :

    • Phiếu thu tiền
    • Phiếu chi tiền và các chứng từ cần thiết khác để ghi sổ kế toán như : Hoá đơn GTGT…

    Bảng kiểm tra quỹ

    Giấy đề nghị tạm ứng

    Giấy thanh toán tạm ứng Sổ quỹ tiền mặt

    PHIẾU CHI Quyển sổ: HM Mẫu sổ C22 – H
      Số : 02 QĐ số 999 – TC/QĐ/CĐKT
         
      10  
    Ngày 28 tháng 2 năm 2004 Ngày 02 tháng 11 năm 2004
    Nợ :… của Bộ Tài Chính  
    Có :…    

    Họ và tên người nhận tiền : Trần Thị Tuyến

    Địa chỉ : Hành Chính

    Lý do chi : Mua gỗ

    Số tiền : 2.500.000đ (bằng chữ : Hai triệu lăm trăm ngàn đồng chẵn)

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Thủ trưởng đơn vị (ky, họ tên, đóng dấu)

    Phụ trách kế toán

    (ký, họ tên)

    Người lập phiếu

    ( ký, họ tên)

    Đã nhận đủ tiền : Hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn.

    Thủ quỹ Ngày 28 tháng 02 năm 2004 (ký, họ tên) Người nhận tiền (ký, họ tên)

    PHIẾU CHI                                 Mẫu sổ C22 – H

    Ngày 28 tháng 02 năm 2004

    Họ và tên người nhận tiền : Trần Thị Tuyến

    Địa chỉ                                             : Phòng Hành Chính

    Lý do chi                                         : Nộp 5% BHXH trả Sở

    Số tiền                                               : 502.200đ

    Viết bằng chữ : Năm trăm linh hai ngàn hai trăm đồng chẵn.

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền : Năm trăm linh hai ngàn hai trăm đồng chẵn.

    Ngày 28 tháng 02 năm 2004

    Thủ trưởng đơn vị                     Phụ trách kế toán                 Người nhận tiền

    (ký tên, đóng dấu)                          (ký, họ tên)                               (ký, họ tên)

    2.Kế toán các khoản phải thu

    Đối tượng các khoản phải thu là cán bộ công nhân viên trong Công ty, hoặc có thể là đối tượng khác ( người vận chuyển, người mua hàng).

    11

    *Các khoản tạm ứng

    Căn cứ các giấy đề nghị tạm ứng hợp lệ ( đã được ký duyệt bởi trưởng các phòng ban và Giám đốc Công ty), Kế toán lập phiếu chi theo đúng số tiền đề nghị tạm ứng

    Ví dụ :

    Ngày 10/03 Anh Nguyễn Duy Minh phòng Kỹ thuật đề nghị xin tạm ứng 2.000.000đ để mua thiết bị về việc quảng cáo. Căn cứ vào đề nghị tạm ứng đã ký duyêt, Kế toán lập phiếu chi và hạch toán vào máy như sau:

    Nợ TK 141 : 2.000.000

    Có TK 111 : 2.000.000

    Việc hạch toán và vào sổ tiến hành theo quy trình của các nghiệp vụ chi tiền như trên.

    Các khoản tạm ứng sẽ được theo dõi chi tiết theo người nhận tạm ứng. Cuối tháng kế toán thanh toán lên bảng kê danh sách nợ tạm ứng để có kế hoạch thanh toán tạm ứng trong thời gian tới. Việc thanh toán tạm ứng tiến hành theo thời hạn thanh toán trên giấy tờ đề nghị tạm ứng.

    Khi các nhiệm vụ đã hoàn thành, cán bộ công nhân viên tập hợp các chứng từ (là các hoá đơn mua hàng, dịch vụ ) kèm theo đề nghị thanh toán việc duyệt chi tạm ứng dựa trên các chứng từ hợp lý, hợp lệ.

    Hoá đơn GTGT với nội dung mua thiết bị về quảng cáo, có giá trị trước thuế là 1.000.000đ, thuế VAT là 100.000, kế toán lập phiếu chi và tạm ứng (

    2.000.000 – 1.100.000 = 900.000đ). Cuối cùng Kế toán định khoản vào máy:

    Nợ TK 111 :       900.000

    Nợ TK 641 : 1.000.000

    Nợ TK 133 :       100.000

    Có TK 141 : 2.000.000

    Đối với các khoản phải thu khách hàng

    12

    Khi xuất hàng giao khách đã tiến hành nghiệm thu bàn giao có sự xác nhận của hai bên, kế toán bán hàng căn cứ hoá đơn giá trị gia tăng

    được xuất ra để ghi nhận khoản phải thu của khách hàng.

    Ví dụ:

    Trường hợp lắp đặt thiết bị như trên, nếu khách hàng không thanh toán ngay, căn cứ số hóa đơn đó , về việc cung cấp dịch vụ lắp đặt thiết bị, có giá trước thuế: 5.000.000 đ, thuế VAT: 500.000 đ, kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 131: 5.500.000 đ

    Nợ TK 511: 5.000.000 đ

    Có TK 333:     5.00.000 đ

    3.Các khoản ứng trước, trả trước

    Đối với những hợp đồng mua bán phải nhập khẩu từ nước ngoài Công ty phải tiến hành đặt trước cho khách hàng đảm bảo bù đắp các chi phí và đảm bảo việc nhập hàng.

    Ví dụ : Ngày 15/08/2004 về việc cung cấp một máy thiết bị mới, phía Công ty Mặt Trời Việt phải đặt cọc trước 30% giá trị hợp đồng tức 21.000USD.

    Ngày 1/09/2004, khi thủ tục chuyển tiền cho bên A đã hoàn tất tiền sẽ

    xuất khỏi tài khoản của Công ty tại ngân hàng với tỉ giá: 15.759 đ/USD, kế toán sẽ hạch toán như sau:

    Nợ TK 331: 330.939.000 đ

    Có TK 112: 330.939.000 đ

    Có TK 112: 330.939.000 đ

    13

    Việc theo dõi các khoản ứng trước, trả trước cũng được theo từng nhà cung cấp.

    Việc mua bán ngoại thương đều thực hiện theo hợp đồng đã ký và luật thương mại quốc tế. Mọi tranh chấp được hai bên thoả thuận bằng văn bản.

    Khi xuất hàng, kiểm tra xác nhận hàng đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng kế toán mới hạch toán.

    Nợ TK 156

    Có TK 331

    II/ Kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ

    1. Kế toán chi tiết vật liệu

     

    Kế toán nghiệp vụ mua nguyên vật liệu:

    • Các nguyên vật liệu chủ yếu như là : gỗ, phoóc mêka…do yêu cầu nên

    khi mua đều phải có hợp đồng.

    • Phương thức thanh toán : Tiền mặt, chuyển khoản, séc.
    • Chứng từ sử dung

    -Hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT, hoá đơn đặc thù.

    -Phiếu chi, giấy báo ngân hàng, phiếu thanh toán tạm ứng.

    -Phiếu nhập kho, biên bản kiểm nghiệm vật tư hàng hoá.

    • Tài khoản sử dụng chủ yếu là TK 152, TK153, TK 111, TK 112, TK113, TK331.

    (Giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho bao gồm giá trên hoá đơn chưa thuế GTGT + Chi phí thu mua).

    14

    TK 331, 111, 112                                                             TK 152, 153

    Trị giá nguyên vật liệu, công cụ , dụng cụ

    TK 133

    Thuế GTGT đầu vào

    Ví dụ : Ngày 03 tháng 10 năm 2004 Ông Nguyễn Ngọc Trãi mua 1.500 bulông mối P43 với giá 5.307đ tại Công ty Cơ khí Hà Nội.

    Kế toán căn cư vào hoá đơn GTGT để ghi bút toán sau :

    Nợ TK 1521 : 7.960.500

    Nợ TK 1331 :      760.050

    Có TK 331.07 : 8.756.550

    *Trường hợp mua nguyên vật liệu thanh toán ngay Công ty Mặt Trời Việt vật liệu tăng chủ yếu do mua ngoài. Có thể dùng tiền mặt, tiền tạm ứng, tiền mua chịu. Trong đó mua chịu vật liệu là nghiệp vụ chủ yếu làm tăng nguyên vật liệu.

    Hiện nay, Công ty tiến hành nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên thuế GTGT được khấu trừ, được phản ánh trên TK 133. Khi dùng tiền mặt để thanh toán với khách hàng thường là thanh toán tiền vận chuyển. Kế toán căn cứ vào hoá đơn, cước vận chuyển và phiếu chi ghi vào sổ Nhật ký chung, sổ cái chi tiết, sổ cái tổng hợp.

    Ví dụ:

    15

    Ngày 14 tháng 10 năm năm 2004, Chị Nguyễn Thị Lan mua nguyên vật

    liệu bằng chuyển khoản về nhập kho giá hoá đơn chưa thuế 12.600.000, thuế

    12.600 giá hạch toán là 12.612.000  
    Nợ TK 152 : 12.600.000
    Nợ TK 133 : 12.600

    Có TK 111 : 12.612.600

    *Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu

    Căn cứ vào kế hoạch mua hàng trong tháng, phòng vật tư tiến hành đi mua nguyên vật liệu.

    Căn cứ hợp đồng ký kết hai bên mua và bán.

    Căn cứ vào hoá đơn GTGT

    Căn cứ vào bản nghiệm thu chất lượng hàng hoá

    Phòng vật tư tiến hành lập phiếu nhập kho.

    Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho chủ yếu là do mua ngoài được xác định.

    Giá thực tế NVL = Giá mua NVL + Chi phí thu mua

    Nhập kho                       (theo hoá đơn)

    16

      HOÁ ĐƠN (GTGT)     Mẫu sổ : 01 GTKT – 311
    Ngày 02 tháng 10 năm 2004         ET/02 – B
      Liên 2 (Giao hàng cho khách hàng)  
    Họ và tên người bán : Xí nghiệp Cơ khí vật tư Đông Anh  
    Địa chỉ : Khối 2B – Đông Anh Hà Nội        
    Điện thoại : Mã số :        
    Họ tên người nua : Trần Văn Chiến        
    Địa chỉ : Công ty Mặt Trời VIệt            
    Hình thức thanh toán : trả chậm       Mã số : 01007696631
                   
    STT Tên nhãn hiệu, quy cách vật ĐVT   Số lượng   Đơn giá Thành tiền
      tư hàng hoá.            
    1 Căn sắt C3 Cái   2.000   8.132 16.264.000
      Tiền hàng           16.264.000
      Thuế GTGT           1.626.400
      Tổng cộng tiền thanh toán           17.89.400
                   

    Số tiền viết bằng chữ : Mười bảy triệu tám trăm chín mươi ngàn bốn trăm đồng.

    Người mua hàng

    (Đã ký)

    Người bán hàng

    (Đã ký )

    Thủ trưởng đơn vị

    (Đã ký)

    III/ Kế toán TSCĐ và đầu tư dài hạn

    1.Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ

    Kế toán trưởng làm thông chi thanh toán lên cấp trên. Sau khi cấp trên chấp nhận đơn vị tiến hành tăng TSCĐ. Hằng ngày căn cứ chứng từ tăng TSCĐ, kế toán vào thẻ TSCĐ và vào sổ TSCĐ. Đồng thời, vào nhật ký chung, cuối tháng kế toán vào sổ cái.

    Ví dụ :

    Công ty mua 1 máy công cụ bằng tiền gửi ngân hàng giá chưa VAT 36.000.000 thuế VAT 36.000, tỉ lệ khấu hao 10%. Tài sản đầu tư bằng kinh

    17

    doanh đã đưa vào sử dụng ở phân xưởng sản xuất chính. Kế toán sẽ ghi như sau:

    Nợ TK 211 : 36.000.000đ

    Nợ TK 133 :            36.000đ

    Có TK 112 : 39.036.000đ

    2.Kế toán tổng hợp giảm TSCĐ

    Khi TSCĐ sử dụng không có hiệu quả thì doanh nghiệp tiến hành nhượng bán nhưng phải có đầy đủ thủ tục như quyết định, hợp, đành, biên bản…

    Ví dụ :

    Công ty nhượng bán TSCĐ ở bộ phận bán hàng nguyên giá 60.000.000. Đã khấu hao 16.000.000 đã thu tiền của ngân hàng theo giá bán là 55.000.000 trong đó thuế VAT 55.000.. Chi phí vận chuyển TSCĐ nhượng bán đã trả bằng tiền mặt 1.000.000đ. Tỉ lệ khấu hao 10%. Kế toán hạch toán như sau:

    Bút toán 1:

    Nợ TK 811 : 44.000.000

    Nợ TK 214 : 16.000.000

    Nợ TK 211 : 60.000.000

    Bút toán 2 :

    Nợ TK 811: 1.000.000

    Có TK 111: 1.000.000

    Bút toán 3 :

    Nợ TK 111 : 55.000.000

    Có TK 711 :            55.000

    Có TK 3331 : 54.945.000

    3.Trích khấu hao TSCĐ

    Do đặc trưng của hoạt động SXKD trong xí nghiệp nên TSCĐ thường phát sinh ít vì thế để tiện theo dõi đơn vị đã hạch toán kế toán TSCĐ theo

    18

    quý. Trong quý, chứng từ nào phát sinh tháng nào thì ghi vào thàng đó trong quý. Cuối tháng mới tính và trích khấu hao.

    + Đơn vị áp dụng tính khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng, tăng tháng này thì tháng sau mới trích khấu hao, giảm tháng này thì tháng sau thôi không trích khấu hao. Những TSCĐ hiện có của doanh nghiệp được sử dụng phục vụ kế toán thì phải trích khấu hao.

    Về phương pháp tính khấu hao đơn vị áp dụng phương pháp khấu

    hao theo đường thẳng.        
    Theo phương pháp này thì:        
    Mức khấu hao =   Nguyên giá   =  Nguyên giá x Tỉ lệ khấu hao năm
    TSCĐ năm Thời gian sử dụng  
    Tỉ lệ khấu hao năm    =   Mức khấu hao TSCĐ   x  100
            Nguyên giá TSCĐ  

    Dựa trên cơ sở thực tế của đơn vị và theo hướng dẫn của cục quản lý

    vốn và tài sản Nhà nước thì doanh nghiệp, đơn vị đã tính khấu hao như sau:

    Mức khấu hao =     Giá trị còn lại của TSCĐ   x 100
    Năm   thời gian còn lại của TSCĐ    
    Mức khấu  =   Mức khấu hao năm        
    hao quý 4        
    Vậy tổng mức khấu hao TSCĐ trong quý được tính như sau :
    Tổng mức khấu = Số khấu hao + Số khấu hao trích – Số khấu hao
    Hao TSCĐ     trong quý quý trước   giảm quý này

    Trong đó :

    Số khấu hao tăng = Tổng (NG TSCĐ cần tăng KH x tỉ lệ KH năm)

    12

    x số tháng cần trích khấu hao trong quý

    Việc hạch toán TSDCC trong Công ty sử dụng những chứng từ sổ sách

    sau:

    *Chứng từ

    19

    • Hợp đồng mua sắm TSCĐ
    • Biên bản giao nhận TSCĐ : MS04 – TSCĐ/HĐ
    • Hợp đồng đóng thầu ( giá trị lớn)
    • Giấy đề nghị tạm ứng (nếu có)
    • Biên bản nghiệm thu
    • Hoá đơn mua TSCĐ
    • Bảng trích khấu hao
    • Biên bản thanh lý hợp đồng mua sắm
    • Phiếu kiểm kê TSCĐ.

    *Sổ sách

    • Thẻ TSCĐ
    • Sổ theo dõi TSCĐ
    • Sổ nhật ký chung
    • Sổ cái

    IV/ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

    V/ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Vì nhiệm vụ của đơn vị là duy tu sửa chữa, làm mới công tác giàn

    dựng, quảng cáo nên đối tượng để lập chi phí là tính giá thành các công trình,

    giàn hàng quảng cáo… Do đặc trưng công việc nên hàng tháng các cung sản

    xuất thường được giao cho một khối lượng công việc nhất định.

    Ví dụ :

    Trong tháng 03 Công ty được giao việc lắp đặt, sửa chữa một gian hàng. Khối lượng việc khá nhiều. Công việc được giao theo định mức và kế hoạch, được Công ty hoàn thành sớm hơn dự kiến. Trong đó: chi phí phát sinh như vật liệu, công cụ dụng cụ và nhân viên. Riêng chi phí sản

    xuất chung theo dự kiến, phát sinh ở bộ phận nào thì tính trực tiếp vào bộ phận đó.

    20

    Những chi phí phát sinh chung trong toàn đơn vị được phân bổ vào chi phí sản xuất theo doanh thu dự kiến trong quý.

    Chi phí sản xuất chung = Tổng chi phí sản xuất chung chờ pbổ

    chờ phân bổ Tổng doanh thu dự kiến trong quý x Doanh thu dự kiến của Công ty.

    Giá thành sản xuất của công trình được tập hợp theo khoản mục chi phí.

    Giá thành sản xuất = Chi phí NVL + Chi nhân công + Chi phí sản xuất

    công trình                       trực tiếp               trực tiếp                           chung

    Giá thành sản xuất công trình = CPDDĐK + CP PS trong – CPDDCK

    Chi phí thực tế = CP thực tế DD đkỳ +   CP thực tế (.) kỳ
    SPDD     trình      
    Gtrị dự toán của công Gtrị dự toán DD c/kỳ

    x Giá trị dự toán dở dang cuối kỳ.

    Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    • Kế toán sử dụng chứng từ, sổ sách như sau:

    *Chứng từ

    • Phiếu chi tiền mặt
    • Giấy uỷ chiệm chi hoặc giấy báo nợ
    • Phiếu nhập xuất thẳng
    • Các chứng từ thanh toán : hợp đồng, dự án, biên bản nghiệm thu, biên bản thanh lý hợp đồng, biên bản quyết toán công trình.
    • Bảng phân bổ vật tư, công cụ dụng cụ
    • Bảng lương BHXH, BHYT, KPCĐ
    • Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ

    *Sổ sách

    • Nhật ký chung
    • Sổ cái
    • Sổ chi tiết

    21

    VI/ Kế toán nguồn vốn

    1.Kế toán các khoản nợ phải trả

    Khi thu được từ nguồn tài chính huy động của các cán bộ công nhân viên trong Công ty hoặc từ các ngân hàng trong nước kế toán hạch toán như sau :

    Ví dụ :

    Công ty thu tiền mặt từ việc bán hàng với giá bán 20.000.000 đồng. Kế toán sẽ hạch toán như sau.

    Nợ TK 111 : 20.000.000

    Có TK 311 : 20.000.000

    Đến kỳ hạn thanh toán các khoản vay kế toán hạch toán khoản phải trả và ghi tiền vay

    Nợ TK 642

    Nợ TK 311

    Có TK 111, 112

    1. Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu

    Trường hợp vốn được cấp bằng tiền, tiền gửi ngân hàng, kế toán hạch

    toán

    Nợ TK 211, 153

    Có TK 411

    VII/ Báo cáo kế toán

    22

    Căn cứ vào các quy định về hệ thống Báo cáo tài chính do Bộ tài chính ban hành theo quyết định 1114 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, căn cứ vào các quy định về hệ thống báo cáo của Công ty Mặt Trời Việt đề ra, căn cứ vào sự phân cấp quản lý, đáp ứng yêu cầu quản lý thống nhất và toàn diện tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của toàn Công ty. Hiện nay với tư cách là một đơn vị độc lập, phòng Kế toán của Công ty đã thực hiện tương đối đầy đủ chế độ Báo cáo tài chính theo quy định, hệ thống Báo cáo tài chính của Công ty bao gồm :

    • Bảng cân đối Kế toán, mẫu số B01 – DN ( lập 3 tháng 1 lần)
    • Báo cáo kết quả kinh doanh, mẫu số B02 – DN (lập 1 tháng 1

    lần)

    • Thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B09 – (lập 3 tháng 1 lần)

    Các báo cáo này đều được lập đúng mẫu biểu quy định, đúng phương pháp và đầy đủ nội dung, phản ánh một cách tổng quát và chân thực về tài sản và sự vận động tài sản cũng như quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty. Các báo cáo này do máy vi tính lập ra, do đó kế toán phải tổng hợp, đối chiếu, kiểm tra số liệu trên máy vi tính, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ các thông tin do máy tính lập ra, sửa các thông tin sai, cung cấp các thông tin đúng, các thông tin còn thiếu hoặc các thông tin mà máy không thể mã hoá để đưa ra được, sau đó trình kế toán truởng kiểm tra và trình giám đốc kiểm tra, duyệt gửi về phòng kế toán của Công ty.

    Kế toán trưởng và các cán bộ kế toán sẽ căn cứ vào các báo cáo kế toán lập ra, từ đó tiến hành phân tích trên cơ sở tình hình kinh doanh cụ thể tại đơn vị để đưa ra những đề xuất, kiến nghị với Giám đốc Công ty và lãnh đạo Công ty nhằm đưa ra quyết định phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản tại Công ty.

    23

    Nhằm nâng cao chất lượng của công tác kế toán, đảm bảo thông tin kế toán cung cấp phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình tài chính của Công ty, phòng kế toán Công ty mặt trời việt đã thực hiện tương đối công tác kiểm tra kế toán. Nội dung cụ thể của công tác này là :

    • Hằng ngày khi nhận được các chứng từ gốc, kế toán tiến hành thủ tục kiểm tra chứng từ, đảm bảo tính chính xác, hợp lý và hợp lệ của chứng

    từ, trên cơ sở đó phản ánh đúng, chính xác và đầy đủ các yếu tố chứng từ. Sau khi hoàn thành tốt việc kiểm tra chứng từ, cán bộ kế toán sẽ tiến hành nhập số liệu trên các chứng từ vào máy vi tính.

    • Sau khi nhập các thông tin vầo máy, kế toán cho hiển thị lại

    (Preview) các bản ghi như : Chứng từ ghi sổ, các sổ cái, các sổ chi tiết…. để

    kiểm tra lại tính chính xác, đầy đủ các thông tin được nhập vào.

    • Cuối tháng kế toán tiến hành khoá sổ kế toán bằng cách kích vào nút “Hệ thống” chọn “ Bút toán khoá sổ” . Trước khi lập Báo cáo tài chính có

    liên quan như : đối chiếu số liệu giữa kế toán tiền gửi ngân hàng với kế toán tiền mặt, đối chiếu giữa tài khoản tổng hợp với tàI khoản chi tiết có liên quan….

    Bên cạnh đó phòng kế toán của Công ty còn cử các cán bộ kế toán của mình đi đến các bộ phận kế toán của đơn vị khác để học hỏi kinh nghiệm của họ về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán. Trọng tâm của việc kiểm tra này là việc chấp hành các chính sách quản lý kinh tế tài chính của Công ty và các chính sách chế độ có thể lệ về tài chính kế toán của nhà nước, kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin kế toán do kế toán của các đơn vị trực thuộc cung cấp trên cơ sở chứng từ gốc, sổ kế toán các Báo cáo kế toán và quá trình nhập và xử lý số liệu. Các kết quả của quá trình kiểm tra đều được phản ánh vào báo cáo kiểm tra sau đó gửi về phòng kế toán của Công ty vào báo cáo lại với ban Giám đốc của Công ty. Căn cứ vào những nhận xét, đánh giá, kiện nghị của cán bộ kiểm tra, ban Giám đốc Công ty sẽ đề ra các

    24

    biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kế toán tại đơn vị cũng như kịp thời xử lý các sai phạm.

    Hiện nay, Công ty đang áp dụng kế toán máy, do đó việc lập Báo cáo tài chính cũng được tiến hành tương đối đơn giản. Cuối tháng, khi lập Báo cáo tài chính kế toán tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán có liên quan, sau đó kích nào nút “ Chứng từ” , trên thanh menu và chọn “ Bút toán kết chuyển” khi đó máy sẽ hiện ra báng kết chuyển, trong bảng này kế toán đã dặt sẵn một số bút toán kết chuyển thông thường, nếu trong kỳ mà có bút toán kết chuyển không nằm trong danh mục các bút toán kết chuyển này thì kế toán tiến hành nhập thêm vào, sau đó ấn nút “ Lưu” và ấn nút “ Kết chuyển”, lập tức máy sẽ tự động kết chuyển và sau đó kế toán tiến hành khoá sổ bằng cách kích vào nút “ Hệ thống” và chọn “ Bút toán khoá sổ”, khi đó máy sẽ tự động khoá sổ, lập các bảng tổng số phát sinh các tài khoản, Bảng tổng hợp chi tiết để kiểm tra, đối chiếu và lập các Báo cáo tài chính cuối kỳ. Khi cần xem, in các Báo cáo tài chính cuối quý, kế toán kích vào nút “ Báo biểu” trên thanh menu, sau đó chọn các báo cáo cần xem, in.

    B – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY.

    I/ Các vấn đề chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp.

    1. Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh

    Lao động là sự hao phí có mục đích thể lực và trí lực của người nhằm tác động vào các vật tự nhiên để tạo thành vật phẩm đáp ứng nhu cầu của con người hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh.

    Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh: Lao động là một trong 3 yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất. Do vậy, việc tổ chức tốt công tác hạch toán lao động (số lượng, thời gian, kết quả lao động) sẽ giúp

    25

    cho công tác quản lý lao động của doanh nghiệp đi vào nề nếp từ đó thúc đẩy công nhân viên chấp hành đúng kỷ luật, thưởng và trợ cấp BHXH theo đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời giúp cho việc quản lý quỹ lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được chặt chẽ đảm bảo việc trả lương và các khoản trợ cấp đúng chế độ chính sách, đúng đối tượng nhằm góp phần vào việc hạ giá thành sản phẩm.

    1. Phân loại lao động trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

    Lao động được chia theo các tiêu thức sau:

    • Phân loại lao động theo thời gian lao động: toàn bộ lao động của

    doanh nghiệp được chia thành các loại sau:

    • Lao động thường xuyên trong danh sách: Lao động thường xuyên trong danh sách là lực lượng lao động do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương gồm: công nhân viên sản xuất kinh doanh cơ bản và công nhân viên thuộc các hoạt động khác (gồm cả số hợp đồng dài hạn và ngắn hạn).
    • Lao động tạm thời tính thời vụ (lao động ngoài danh sách): là lực lượng lao động làm tại doanh nghiệp do các ngành khác chi trả lương như

    cán bộ chuyên trách đoàn thể, học sinh, sinh viên thực tập…

    • Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất:
    • Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các

    công việc nhiệm vụ nhất định.

    + Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    26

    • Phân loại lao động theo chức năng của lao động trong quá trình sản

    xuất kinh doanh

    + Lao động theo chức năng, sản xuất: bao gồm những lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ như: Công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân xưởng…

    + Lao động thực hiện chức năng bán hàng: là những lao động tham gia hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ như: nhân viên bán hàng, nghiên cứu thị trường…

    + Lao động thực hiện chức năng quản lý: là những lao động tham gia hoạt động quản trị kinh doanh và quản lý hành chính như: các nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.

    Cách phân loại này có tác dụng giúp cho việc tập hợp chi phí lao động được kịp thời, chính xác phân định được chi phí và chi phí thời kỳ.

    1. Ý nghĩa, tác dụng của công tác quản lý lao động, tổ chức lao

    động.

    • Đối với doanh nghiệp: Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động, trên cơ sở đó tính đúng, chính xác thù lao cho người lao động, thanh

    toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan.

    • Đối với người lao động: quan tâm đến thời gian, kết quả lao động, chất lượng lao động, chấp hành kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động, góp phần tiết kiệm chi phí lao động sống, hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động.

    27

    1. Các khái niệm và ý nghĩa của tiền lương, các khoản trích theo

     

    lương.

    4.1. Các khái niệm

    • Khái niệm tiền lương:

    Tiền lương là biểu biện bằng tiền phần sản phẩm xã hội mà người chủ sử dụng lao động phải trả cho người lao động tương ứng với thời gian lao động, chất lượng lao động và kết quả lao động.

    • Khái niệm và nội dung các khoản trích theo lương
    • Bảo hiểm xã hội (BHXH):

    BHXH được sử dụng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng BHXH trong trường hợp họ mất khả năng lao động.

    Quỹ BHXH: được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương (gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp khác như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp thâm niên… của công nhân viên thực tế phát sinh trong tháng) phải trả cho cán bộ công nhân viên trong kỳ.

    Nội dung chi quỹ BHXH:

    • Trợ cấp cho công nhân viên nghỉ ốm đau, mất sức lao động, sinh

    đẻ.

    • Trợ cấp cho công nhân viên bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    • Trợ cấp cho công nhân viên nghỉ mất sức.
    • Chi công tác quản lý quỹ BHXH
    • Bảo hiểm y tế (BHYT):

    28

    Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ BHYT trong các hoạt động chăm sóc và khám chữa bệnh.

    Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân viên.

    + Kinh phí công đoàn (KPCĐ):

    KPCĐ được trích lập để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo về quyền lợi cho người lao động.

    KPCĐ được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả cho công nhân viên trong kỳ.

    4.2. Ý nghĩa của tiền lương

    Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ… do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động, trên cơ sở đó tính đúng, chính xác thù lao cho người lao động, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan. Từ đó kích thích người lao động quan tâm đến thời gian, kết quả lao động, chất lượng lao động, chấp hành kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động, góp phần tiết kiệm chi phí lao động sống, hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động.

    4.3. Quỹ tiền lương

    • Khái niệm quỹ tiền lương

    Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương mà donah nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý.

    • Nội dung quỹ tiền lương:

    29

    Quỹ tiền lương của Doanh nghiệp gồm:

    • Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế

    (tiền lương thời gian và tiền lương sản phẩm).

    • Các khoản phụ cấp thường xuyên (các khoản phụ cấp có tính chất lương) như phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, làm thêm

    giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực…

    • Tiền lương trả cho công nhân trong thời gian ngừng sản xuất vì các nguyên nhân khách quan, thời gian hội họp, nghỉ phép…
    • Tiền lương trả cho công nhân làm ra sản phẩm hỏng trong phạm vi

    chế độ quy định.

    • Phân loại quỹ tiền lương trong hạch toán: chia làm 2 loại
    • Tiền lương chính: Là khoản tiền lương trả cho người lao động trong

    thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính, gồm tiền lương cấp bậc và khoản phụ cấp (phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ…).

    • Tiền lương phụ: Là khoản tiền lương trả cho người lao động trong

    thời gian họ thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ, như thời gian lao động, nghỉ phép, nghỉ tết, hội họp… được hưởng lương theo chế độ quyđịnh.

    1. Các chế độ tiền lương, trích lập và sử dụng KPCĐ, BHXH,

    BHYT.

    5.1. Chế độ Nhà nước quy định về tiền lương

    Các doanh nghiệp hiện nay thực hiện tuyển dụng lao động theo chế độ hợp đồng lao động. Người lao động phải tuân thủ những điều cam kết trong

    30

    hợp đồng lao động, còn doanh nghiệp phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong đó có tiền lương và các khoản khác theo quy định trong hợp đồng.

    Theo Điều 56 trong chương VI về “Tiền lương” của bộ luật lao động

    Việt Nam nhà nước quy định như sau:

    Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho mọi người lao động làm việc theo đơn giá làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được làm căn cứ tính các mức lương cho lao động khác Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định là 290.000đ/tháng.

    Chế độ của Nhà nước quy định về tiền lương: Trong chế độ XHCN thì “phân phối theo lao động” là nguyên tắc cơ bản nhất. Tiền lương về thực chất là tiền thuê lao động, là một trong các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Tiền lương phải đảm bảo ba yêu cầu sau:

    Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống

    vật chất, tinh thần cho người lao động. Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.

    Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.

    Để phản ánh đầy đủ những yêu cầu trên, chính sách quản lý tiền lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    • Trả công ngang nhau cho lao động như nhau

    Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau nghĩa là khi quy định các chế độ tiền lương nhất thiết không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc

    Người sử dụng lao động không được trả công cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, phải trả công ngang nhau cho những lao động như nhau nếu kết quả lao động và hiệu quả như nhau trong cùng một đơn vị làm việc.

    31

    • Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việc các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
    • Trình độ lành nghề bình quân của những lao động ở mỗi ngành khác nhau thì phương thức tổ chức tiền lương cũng khác nhau.
    • Những người làm việc trong các ngành nặng nhọc tổn hao nhiều năng lượng

    phải được trả lương cao hơn so với những người làm việc trong điều kiện bình thường để bù đắp lại sức lao động đã hao phí.

    • Sự phân bố khu vực sản xuất của mỗi ngành khác nhau cũng ảnh hưởng đến

    mức tiền lương do điều kiện sinh hoạt chênh lệch.

    Tóm lại nội dung cơ bản của quản lý tiền lương có hiệu quả là xác định được những chế độ và phụ cấp lương cũng như tìm được các hình thức trả lương thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người lao động.

    Các chế độ quy định về

    • Lương ngoài giờ = Lương cơ bản x Số công làm việc thực tế x 150%

     

    • Lương Chủ nhật = Lương cơ bản x Số công là việc thực tế x hệ

    số kinh doanh (nếu có)

    • Lương phép = Lương cơ bản x Số công làm việc thực tế

     

    • Lương lễ = Lương cơ bản x Số công lễ

    5.2. Chế độ Nhà nước quy định về các khoản tính trích theo tiền lương

    • Căn cứ để tính trích : KPCĐ , BHXH , BHYT
    • Kinh phí công đoàn : Trích lập để phục vụ hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo bảo vệ quyền lơi người lao động
    • Bảo hiểm xã hội : Được sử dụng để trợ cấp cho người lao động có

    tham gia đóng BHXH trong trường hợp mất khả năng lao động.

    32

    • Bảo hiểm y tế : Được trích lập để tài trợ người lao động có tham gia đóng góp quỹ BHYT trong các hoạt động chăm sóc, khám chữa bệnh.
    • Tỷ lệ trích BHXH, BHYT và KPCĐ

    + BHXH: Theo chế độ hiện hành, hàng tháng Doanh nghiệp phải trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong tháng, 15% tính vào chi phí sản xuất, 5% trừ vào thu nhập người lao động.

    Theo chế độ hiện hành, toàn bộ số trích BHXH nộp lên cơ quan BHXH quản lý.

    + BHYT: Theo chế độ hiện hành, DN trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên, trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, người lao động đóng góp 1% thu nhập, DN tính trừ vào lương của người lao động.

    Theo chế độ hiện hành, toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan quản lý chuyên trách để mua thẻ BHYT.

    • KPCĐ: Theo chế độ hiện hành, hàng tháng DN trích 2% tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong tháng và tính vào chi phí sản

    xuất kinh doanh. Trong đó 1% số đã trích nộp cơ quan công đoàn cấp trên, phần còn lại chi tại công đoàn cơ sở.

    5.3. Chế độ tiền ăn giữa ca :

    Công ty quy định tiền ăn giữa ca của CNV là 5000đ/người

    5.4. Chế độ tiền thưởng quy định :

    Ngoài tiền lương, công nhân có thành tích tốt trong công tác còn được hưởng khoản tiền thưởng. Việc tính toán tiền thưởng căn cứ vào sự đóng góp của người lao động và chế độ khen thưởng của Doanh nghiệp.

    33

    • Tiền thưởng thi đua chi bằng quỹ khen thưởng, căn cứ vào kết quả

    bình xét thành tích lao động.

    • Tiền thưởng sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm phải căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định, được tính vào chi phí SXKD
    1. Các hình thức tiền lương
    1. Hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động

    6.1.1. Khái niệm hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động

    Tiền lương thời gian: là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật hoặc chức danh và thang bậc lương theo quy định.

    6.1.2. Các hình thức tiền lương thời gian và phương pháp tính lương

    Hình thức tiền lương giản đơn: Là tiền lương được tính theo thời

    gian làm việc và đơn giá lương thời gian.

    Tiền lương giản đơn gồm:

    Tiền lương Thời gian làm Đơn giá tiền lương  
    (hay mức lương thời  
    = x
    thời gian việc thực tế gian)  
       
    • Tiền lương tháng: Là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động hoặc trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định

    gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực…

    (nếu có).

    Tiền lương tháng chủ yếu được áp dụng cho công nhân viên làm công tác quản lý hành chính, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên thuộc ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. Tiền lương tháng gồm tiền lương chính và các khoản phụ có có tính chất tiền lương.

    34

    Tiền lương chính là tiền lương trả theo ngạch bậc tức là căn cứ theotrình độ người lao động, nội dung công việc và thời gian công tác. Được tính theo công thức (Mi x Hj )

    Mi           =           Mn       x     Hi     +         PC

    Trong đó: – Hi: Hệ số cấp bậc lương bậc i

    • Mn: Mức lương tối thiểu
    • Phụ cấp lương (PC) là khoản phải trả cho người lao động chưa được tính vào lương chính.

    Tiền lương phụ cấp gồm 2 loại:

    Loại 1: Tiền lương phụ cấp = Mn x hệ số phụ cấp

    Loại 2: Tiền lương phụ cấp = Mn x Hi x hệ số phụ cấp

    • Tiền lương tuần: Là tiền lương trả cho một tuần làm việc
    Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng  
       
    phải trả    
    52 tuần  
     
       

    Tiền lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và là căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên, trả lương cho cán bộ công nhân viên những ngày hội họp, học tập và lương hợp đồng.

    Tiền lương tháng

    Tiền lương ngày         =

    Số ngày làm việc theo chế độ quy định trong tháng

    • Tiền lương giờ: Là tiền lương trả cho 1 giờ làm việc, làm căn cứ để

    phụ cấp làm thêm giờ.

    35

    Tiền lương ngày

    Tiền lương giờ                      =

    Số ngày làm việc theo chế độ (8h)

    6.1.3.Lương công nhật: Là tiền lương tính theo ngày làm việc và mức tiền lương ngày trả cho người lao động tạm thời chưa xếp vào thang bậc lương.

    Hình thức tiền lương có thưởng: Là kết hợp giữa hình thức tiền lương giản đơn và chế độ tiền thưởng trong sản xuất.

    Tiền lương thời Tiền lương thời gian Tiền thưởng có
    = giản đơn +
    gian có thưởng tính chất lương

    Ưu điểm và nhược điểm của hình thức tiền lương thời gian:

    • Ưu điểm: Đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tính toán đơn giản,

    có thể lập bảng tính sẵn.

    • Nhược điểm: Hình thức tiền lương thời gian chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động.

    6.2.     Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm

    6.2.1. Khái niệm hình thức trả theo sản phẩm

    Khái niệm: Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình thức tiền lương trả cho người lao động tính theo số lượng sản phẩm, công việc, chất lượng sản phẩm hoàn thiện nghiệm thu đảm bảo chất lượng quy dịnh và đơn giá lương sản phẩm.

    6.2.2. Phương pháp xác định mức lao động và đơn giá tiền lương

    Đối với phương pháp xác định mức lao động kế toán phải tính từng người lao động, trong trường hợp tiền lương trả theo sản phẩm đã hoàn thành

    36

    là kết quả của tập thể người lao động thì kế toán chia lương phải trả cho từng người lao động.

    Đơn giá tiền lương sản phẩm áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm gọi là lương sản phẩm.

    6.2.3. Các phương pháp trả lương theo sản phẩm

    Tiền lương sản phẩm trực tiếp: là hình thức trả lương cho người lao động tính theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và

    đơn giá tiền lương sản phẩm.

    Đơn giá tiền

    Khối lượng

    Tiền lương sản phẩm             =                                                  x                 lương sản phẩm

    SPHT

    Tiền lương sản phẩm gián tiếp: được áp dụng đối với công nhân

    phục vụ

    cho công nhân chính như bảo dưỡng máy móc thiết bị v.v…

    Tiền lương sản Đơn giá tiền lương Số lượng sản phẩm
    = x
    phẩm gián tiếp gián tiếp  

    Tiền lương sản phẩm có thưởng: là sự kết hợp giữa hình thức tiền lương sản phẩm với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.

    Tiền lương sản phẩm luỹ tiến: là hình thức tiền lương trả cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền thưởng tính theo

    tỷ lệ luỹ tiến, căn cứ vượt định mức lao động đã quy định.

    Tổng tiền Đơn giá Số lượng Đơn giá Số lượng Tỷ lệ
    lương sản =  lương sản  x SP đã hoàn  + lương x   sp vượt   x tiền
    phẩm luỹ phẩm thành SP kế hoạch lương

    37

    tiến                                                                                                                                                        luỹ tiến

    Tiền lương khoán khối lượng , khoán công việc : áp dụng cho

    những công việc đơn giản , công việc có tính chất đột xuất như khoán bốc vác, vận chuyển NVL thành phẩm …

    Tiền lương cho sản phẩm cuối cùng : áp dụng cho từng bộ phận sản

    xuất.

    Tiền lương trả theo sản phẩm tập thể : áp dụng đối với các doanh

    nghiệp mà kết quả là sản phẩm của cả tập thể công nhân.

    Trường hợp tiền lương sản phẩm là kết quả của tập thể công nhân ,kế toán phải chia lương cho từng công nhân theo 3 phương pháp sau :

    Phương pháp 1: Chia lương sản phẩm theo thời gian làm việc thực tế

    và trình độ cấp bậc kỹ thuật của công việc

    Công thức :

    Li   n Lt xTiHi
     

    TiHi

    • 1

    Trong đó :

    Li : Tiền lương sản phẩm của CNi

    Ti : Thời gian làm việc thực tế của CNi

    Hi : Hệ số cấp bậc kỹ thuật của Cni

    Lt : Tổng tiền lương sản phẩm tập thể

    • : Số lượng người lao động của tập

    38

    Phương pháp 2: Chia lương theo cấp bậc công việc, thời gian làm việc kết hợp với bình công, chấm điểm : áp dụng với điều kiện cấp bậc kỹ

    thuật của công nhân không phù hợp với cấp bậc kỹ thuật công việc do điều kiện sản xuất có sự chênh lệch rõ rệt về năng suất lao động trong tổ hoặc nhóm sản xuất.Toàn bộ tiền lương được chia thành 2 phần . Chia theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc thực tế của mỗi người, chia theo thành tích trên cơ sở bình công chấm điểm mỗi người.

    Phương pháp 3: Chia lương bình công chấm điểm áp dụng trong các trường hợp CN làm việc có kỹ thuật giản đơn , công cụ thô sơ, năng suất lao động chủ yếu do sức khoẻ và thái độ lao động của người lao động. Sau mỗi

    ngày làm việc, tổ trưởng phải tổ chức bình công chấm điểm cho từng người lao động. Cuối tháng căn cứ để chia lương.

    1. Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
    • Tổ chức ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng,

    chất lượng, thời gian và kết quả lao động. Tính đúng, thanh toán kịp thời đầy đủ tiền lương và các khoản khác có liên quan đến thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp. Kiểm tra tình hình huy động và sử dụng tiền lương trong doanh nghiệp, việc chấp hành chính sách và chế độ lao động tiền lương, tình hình sử dụng quỹ tiền lương.

    • Hướng dẫn kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ, thẻ kế

    toán và hạch toán lao động tiền lương đúng chế độ tài chính hiện hành.

    • Tính toán và phân bổ chính sách, đúng đối tượng sử dụng lao động về

    chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận của các đơn vị sử dụng lao động.

    39

    • Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động trong doanh nghiệp ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ chính sách về lao động,

    tiền lương.

    1. Trích trước tiền lương nghỉ phép công nhân sản xuất trực tiếp

    Tại các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ, để tránh sự biến động của giá thành sản phẩm, kế toán thường áp dụng phương pháp trích trước chi như một khoản chi phí phải trả.

    Cách tính như sau:

    Trích trước     Tiền lương chính      
    tiền lương   = thực tế phải trả X Tỷ lệ trích
    phép kế hoạch CNTTSX trong trước
    của CNTTSX   tháng      
    Trong đó:          
    Tỷ lệ     Tổng số lương phép KH năm của CNTTSX    
    trích =         x  100
           
    trước     Tổng số lương chính KH năm của CNTTSX    

    Cũng có thể trên cơ sở kinh nghiệm nhiều năm, doanh nghiệp tự xác định một tỷ lệ trích trước lương phép kế hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất một cách hợp lý.

    1. Kế toán chi tiết tiền lương và khoản trích theo lương

    Tính lương và trợ cấp BHXH

    Nguyên tắc tính lương: Phải tính lương cho từng người lao động. Việc tính lương, trợ cấp BHXH và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp.

    40

    Căn cứ vào các chứng từ như “Bảng chấm công” ; “Bảng thanh toán tiền lương” ; “Bảng trợ cấp bảo hiểm xã hội”. Trong các trường hợp cán bộ

    công nhân viên ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… đã tham gia đóng BHXH thì

    được hưởng trợ cấp BHXH.

    Số BHXH Số ngày nghỉ Lương cấp bậc Tỷ lệ % tính
    = tính BHXH x x
    phải trả bình quân / ngày BHXH

    Trường hợp ốm đau, tỷ lệ trích là : 75% tiền lương tham gia đóng BHXH

    Trường hợp thai sản, tai nạn lao động tỷ lệ trích là: 100% tiền lương tham gia đóng BHXH.

    + Căn cứ vào các chứng từ “ Phiếu nghỉ hưởng BHXH , Biên bản điều tra tai nạn lao động ”, Kế toán tính ra trợ cấp BHXH phải trả công nhân viên và phản ánh vào “ Bảng thanh toán BHXH ”

    + Đối với các khoản tiền thưởng của công nhân viên Kế toán cần tính toán và lập bảng “ thanh toán tiền thưởng ” để theo dõi và chi trả theo chế độ quy định. Căn cứ vào “Bảng thanh toán tiền lương ” của từng bộ phận để chi trả thanh toán lương cho công nhân viên đồng thời tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng lao động, tính BHXH, BHYT, KPCĐ theo chế độ tài chính quy định. Kết quả tổng hợp, tính toán được phản ánh trong “ Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương ”.

    Nếu Doanh nghiệp trả lương cho công nhân viên thành 2 kỳ thì số tiền lương trả kỳ I (thường khoảng giữa tháng) gọi là số tiền lương tạm ứng. Số tiền cần thiết để trả lương kỳ II được tính theo công thức sau:

    Số tiền Tổng số thu   Các khoản khấu
    phải trả   = nhập của Số tiền tạm ứng
    –   trừ vào thu nhập
    cho CNV CNV   lương kỳ I
      của CNV

    41

    1. Kế toán tổng hợp tiền lương, KPCĐ, BHXH, BHYT.
    1. Các tài khoản chủ yếu sử dụng

    TK 334 – Phải trả công nhân viên (PTCNV); TK 335 Chi phí phải trả; TK 338- phải trả phải nộp khác

    • TK 334 – Phải trả công nhân viên: Dùng để phản ánh các khoản thanh

    toán cho CNV của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH vàcác khoản phải trả khác về thu nhập của CNV.

    Bên Nợ:

    • Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng, BHXH và các khoản khác đã trả, chi, đã ứng trước cho CNV.
    • Các khoản khấu trừ lương (tiền công) CNV

    Bên Có:

    Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng, BHXH và các khoản khác phải trả, phải chi cho CNV.

    Số dư bên có: Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng và các khoản khác phải chi cho CNV.

    Trường hợp TK 334- Phải trả CNV có số dư bên nợ, phản ánh số tiền đã trả thừa cho CNV.

    • Tài khoản 335- Chi phí phải trả

    Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản được ghi nhận là chi phí hoạt động, sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa phát sinh, mà sẽ phát sinh trong kỳ này hoặc trong nhiều kỳ sau. Nội dung, kết cấu cụ thể:

    42

    Tài khoản 335- Chi phí phải trả

    Bên Nợ:

    • Các khoản chi phí thực tế phát sinh đã tính vào chi phí phải trả
    • Phản ánh số chênh lệch về chi phí phải trả lớn hơn số chi phí thực tế được ghi giảm chi phí.

    Bên Có:

    • Phản ánh chi phí phải trả dự tính trước và ghi nhận vào CPSXKD.
    • Số chênh lệch giữa chi phí thực tế lớn hơn số trích trước

    Số dư cuối kỳ bên Có:

    Phản ánh chi phí phải trả đã tính vào chi phí hoạt động SXKD.

    • Tài khoản 338- Phải trả phải nộp khác: được dùng để phản ánh tình hình thanh toán các khoản phải trả, phải nộp khác ngoài nội dung, đã được phản

    ánh ở các tài khoản khác (từ TK 331 đến TK 336).

    Nội dung phản ánh trên các TK này: Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí SXKD và BHYT trừ vào thu nhập của CNV được phản ánh vào bên có. Tình hình chỉ tiêu sử dụng KPCĐ, tính trả trợ cấp BHXH cho CNV và nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý cấp trên được phản ánh vào bên có.

    TK 338 có các TK cấp 2 sau:

    • TK 3381 – Tài sản chờ giải quyết
    • TK 3382 – Kinh phí công đoàn
    • TK 3383 – Bảo hiểm xã hội

    43

    • TK 3384 – Bảo hiểm y tế
    • TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện
    • TK 3338 – Phải trả phải nộp khác

    Ngoài các tài khoản trên kế toán tiền lương và BH, KPCĐ còn liên quan đến TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 627 “Chi phí sản xuất

    chung”.

    10.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu

    Giải thích sơ đồ:

    1. Tính tiền lương, các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả

    cho CNV

    1. Tính trước tiền lương nghỉ phép CNV
    1. Tiền thưởng phải trả CNV

    3.1. Tiền thưởng có tính chất thường xuyên (thưởng NSLĐ…)

    3.2. Thưởng CNV trong các kỳ sơ kết, tổng kết… tính vào quỹ khen thưởng

    1. Tính tiền ăn ca phải trả CNV
    1. BHXH phải trả CNV (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động)
    1. Trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí sản xuất
    1. Các khoản khấu trừ vào tiền lương phải trả CNV (tạm ứng BHYT…)
    1. Tính thuế thu nhập của người lao động
    1. Trả tiền lương và các khoản phải trả CNV
    1. Số tiền tạm giữ CNV đi vắng
    1. Trường hợp trả lương cho CNV bằng sản phẩm, hàng hoá
    1. Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị
    1. Chuyển tiền BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý chức năng

    theo chế độ

    1. Cơ quan BHXH thanh toán số thực chi cuối quý

    44

    SƠ ĐỒ TỔNG HỢP KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG CÁC KHOẢN TRÍCH

    THEO LƯƠNG

    TK 141,138, 338                                             TK334                                                 TK 622, 623

    (7)                                                        (1),(4),(3.1)

    TK 333 (3338)

    (8)

    45

     

    TK 333(3338) TK 335
               
      (10)   (2)
               

    TK 431

    TK 512

    TK 3331(33311)

    ( 3.2) TK 627, 641, 642

    (11)

    TK 338

    TK 111, 112 (6)

    (9)

    (5)

    (12), (13)

    (14)

    II/ Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    1. Công tác tổ chức và quản lý lao động tại Doanh nghiệp

    Hiện nay, Công ty Mặt Trời Việt là một Công ty phát triển. Việc sử

    dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm về chi phí lao động. Vì thế Công

    ty Mặt Trời Việt gồm có các nhân viên như sau:

    • Giám đốc : 1 người
    • Phó Giám đốc : 2 người
    • Phòng kỹ thuật : 28 người
    • Phòng Hành Chính : 3 người
    • Phòng Kế toán : 5 người
    • Phòng Dịch vụ : 5 người

    46

    Mỗi nhân viên điều có trách nhiệm những công việc khác nhau vì thế dưới đây là bảng công nhân viên của Công ty Mặt Trời Việt.

    Bảng danh sách nhân viên của Công ty Mặt Trời Việt

    TT Đơn vị Tổng số DH NH Ghi chú
    1 Ban lãnh đạo 2 x    
    2 Phòng hành chính 4 x    
    3 Phòng dịch vụ 5   x  
    4 Phòng tổ chức lao động tiền lương 6   x  
    5 Phòng kỹ thuật 28   x  
    1. Nội dung quỹ tiền lương và thực tế quản lý quỹ tiền lươngcủa

    doanh nghiệp.

    2.1. Nội dung quỹ tiền lương.

    Quỹ tiền lương của doanh nghiệp

    -Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế (Tiền lương thời gian và tiền lương sản phẩm).

    -Các khoản phụ cấp thường xuyên ( các khoản phụ cấp có tính chất lương như phụ cấp học nghề, phụ cấp trách nhiệm…)

    -Tiền lương trả cho công nhân trong thời gian ngừng sản xuất vì các nguyên nhân khách quan, thời gian hội họp, nghỉ phép….

    2.2. Thực trạng công tác quản lý lao động và kế toán tiền lương, các

    khoản trích theo lương.

    • Quản lý lao động và tiền lương là một nội dung quan trọng. Trong

    công tác quảnt lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, Công ty

    Mặt Trời Việt đang quản lý lao động theo 2 loại bao gồm:

    • Lao động dài hạn gồm Giám đốc, phó Giám đốc và Kế toán trưởng.
    • Lao động ngắn hạn gồm tất cả các công nhân còn lại trong Công ty. *Hình thức trả lương của Công ty Mặt Trời Việt

    Hiện nay, Công ty đang áp dụng một hình thức trả lương chính. Đó là

    trả lương theo thời gian mà cụ thể là hình thức trả lương theo tháng.

    47

    Việc xác định tiền lương phải trả cho người lao động căn cứ vào hệ số mức lương, cấp bậc, chức vụ và phụ cấp trách nhiệm.

    Ngoài ra, tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, nên Công ty đạt được mức doanh thu theo chỉ tiêu, kế hoạch đề ra, thì các công nhân trong Công ty sẽ được hưởng thêm một hệ số lương của Công ty. Có thể là 1,5 hoặc 2 tuỳ theo mức lợi nhuận đạt được.

    Thời gian để tính lương và các khoản khác phải trả cho ngưòi lao động là theo tháng.

    Ví dụ :

    Anh Lại Việt Cường, truởng phòng Hành chính của Công ty có hệ

    số lương là 3,94; phụ cấp trách nhiệm là 0,2. Ngoài ra, do hoạt động kinh doanh năm 2002 đạt lợi nhuận cao, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra nên toàn bộ công nhân viên trong Công ty được hưởng thêm một hệ số lương của Công ty là 2. Vậy mức lương tháng 3/2003 của Công ty Anh Cường sẽ là :

    ( 3,94 + 0,2 + 2) x 290.000đ = 598764

    *Chế độ thanh toán BHXH trả thay lương tại Công ty Mặt Trời Việt. Công ty thực hiện đúng chế độ hiện hành của Nhà nước như trong trường hợp nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn rủi ro có xác nhận của cán bộ y tế. Thời gian nghỉ lương BHXH sẽ căn cứ như sau:

    Nếu làm việc trong điều kiện bình thường mà có thời gian đóng

    • Dưới 15 năm sẽ được nghỉ 30ngày/năm
    • Từ 15 năm đến 30 năm được nghỉ 40 ngày/ năm
    • Trên 30 năm được nghỉ 50 ngày/năm.

    Nếu làm việc trong môi trường độc hại, nặng nhọc, nơi có phụ cấp khu

    vực hệ số 0,7 thì được nghỉ thêm 10 ngày so với mức hưởng ở điều kiện làm việc bình thường.

    Nếu bị bệnh dài ngày với bệnh đặc biệt được bộ y tế ban hành thì thời

    gian nghỉ hưởng BHXH, không quá 180 ngày/năm.

    48

    Tỉ lệ hưởng BHXH trong trường hợp này được hưởng 75% lương cơ

    bản .

    *Thực tế công tác kế toán tiền lương tại Công ty:

    Với công thức tính lương BHXH trả thay lương như sau

    Mức lương BHXH = Mức lương cbản x  Số ngày nghỉ  x tỉ lệ hưởng

    trả thay lương                         26 ngày               hưởng BHXH            BHXH

    Ví dụ :

    Trong tháng 3/2004 Anh Phí Anh Dương là nhân viên thuộc phòng kỹ thuật của Công ty bị bệnh có xác nhậ của bác sĩ. Theo bảng chấm công số ngày công thực tế của anh là 6 ngày anh nghỉ ốm 7. Mức lương cơ bản của anh là 2,98. Theo chế độ hiện hành thì anh được hưởng mức lương BHXH trả thay lương như sau:

    Số tiền BHXH trả = 2,98 x 290.000   x  7 x 75% = 203.000
    thay lương 26 ngày  

    Vậy Anh Dương sẽ được hưởng mức lương BHXH trả thay lương tháng là : 203.000đ

    3.Hạch toán lao động và tính lương, trợ cấp BHXH

    3.1.Hạch toán lao động

    Hạch toán lao động là việc thanh toán lao động với mỗi cán bộ công nhân viên ở từng bộ phận. Để phản ánh đúng, kịp thời tình hình sủ dụng lao động kế toán tiền lương ở Công ty Mặt Trời Việt sử dụng “Bảng chấm công”.

    Bảng này hàng tháng do các cán bộ được phân công trực tiếp theo dõi thời gian lao động thực tế (ngày công, giờ công) của công nhân viên trong Công ty.

    Cụ thể trong tháng 3 năm 2003 có bảng chấm công quý I của phòng

    Hành chính như sau:

    Biểu số 1:

    Đơn vị : Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ phận : Phòng Hành chính

    49

    BẢNG CHẤM CÔNG

    Tháng 3 năm 2004

                      Mẫu số : 01 – LĐTL
                                 
    TT Họ và tên Cấp   Ngày trong tháng     Quy ra công
        bậc               Số          
        lương 1   2 ….   30 31 công          
        hoặc               hưởng …. …. …. ….
        cấp bậc               lương          
        chức vụ                          
    A B C 1   2 ….   30 31 32   33 34 35 36
      Nguyễn Thị Hoa 2,74 x   x ….   x x     22      
      Vũ Thanh Hằng 2,26 x   x ….   x x     22      
      Lại Việt Cường 2,26 x   x ….   x x     22      
      Đào Thuỷ Linh 2,06 x   x ….   x x     22      
      ………………         ….                  
                                   
                                   
      Cộng                            
    Người duyệt Phụ trách bộ phận   Người chấm công
      (ký, họ tên)   (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    *Hàng tháng để hạch toán kết quả lao động, kế toán dựa trên các chứng từ báo cáo về kết quả sản xuất ở các phòng ban như : “Bảng theo dõi công tác ở tổ “giấy báo ca”, “phiếu giao nhận sản phẩm”, “phiếu khoán”, “hợp đồng giao khoán”, “phiếu báo làm thêm giờ”. Các chứng từ đó là các báo cáo về kết quả sản xuất tổ trưởng ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận.

    Chứng từ này được chuyển cho phòng kế toán để làm căn cứ tính lương, tính thưởng.

    Cuối tháng, Kế toán lập phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành. Ví dụ : Tại phòng Kinh doanh của Công ty Mặt Trời Việt

    Biểu số 02:

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    50

    Tên đơn vị : Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ phận : Phòng kỹ thuật

    Theo hợp đồng số…../HĐKT/13-HD. Ngày 02 tháng 02 năm 2004

    STT Tên sản phẩm (công Đơn vị Số Đơn giá   Thành tiền   Ghi
      việc)   tính lượng         chú
    A B   C 1 2   3   D
    1 Máy tính Malaisia Bộ 5 7.200.000   360.000.000    
    2 Màn hình LG Chiếc 10 3.450.000   34.550.000    
      Cộng   x x x   70.550.000   x
      Tổng số tiền (Viết bằng chữ): Bảy mươi triệu năm trăm năm mươi  
    nghìn đồng chẵn.                
    Người giao việc Người nhận việc Người kiểm tra Người chuyển  
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)   (Ký, họ tên)  

    Biểu số 3:

    PHIẾU NGHỈ HƯỎNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Họ và tên : Phí Anh Dương – Tuổi 29   Số : 04  
                     
    Tên cơ Ngày   Số ngày nghỉ Y bác Số Xác
    quan y tháng do       sĩ ký ngày nhận của
    tế năm   Tổng Từ ngày Đến hết tên thực phụ
          số     đóng nghỉ trách bộ
                dấu   phận
    A 1 B 2 3 4 C 5 D
    BHYT 15/3/2004 Nghỉ 7 15/3/2004 23/3/2004   7  
    Hà Nội   ốm            

    51

    Phần thanh toán

    Số ngày nghỉ   Lương bình % tính BHXH Số tiền hưởng
    tính BHXH   quân 1 ngày   BHXH
             
    1   2 3 4
             
    7 ngày   29.000 100% 203.000
           
    Trưởng ban BHXH Ngày 23 tháng 06 năm 2004
    ( ký, họ tên)      

    -Hợp đồng giao khoán (Mẫu số 03 – LĐTL) là hợp đồng lao động giữa người sử dụng và đại diện người lao động giao khoán.

    Biểu số 04:

    BẢNG HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

      Nội dung công Khối lượng   Thời gian   Chất  
    TT việc Giao Thực Đơn giá Giao Thực   lượng Thành tiền
          hiện     hiện   đạt  
                    100%  
    1 Bán một dàn máy 01 01 5.000.000 4,5 4,5   100% 5.000.000
      tính                
    2 Vận chuyển thiết 30 30 10.000.000 5,5 5,5   100% 300.000
      bị đến công trình                
    3 Lắp đặt một ổ chức 01 01 1.000.000 01 01   100% 1.000.000
      CV                
      Cộng     16.000.000         6.300.000
      Bên giao khoán         Bên nhận khoán
      (ký)           (ký)  

    52

    • Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH mẫu số (04 – BHXH) trợ cấp BHXH chỉ được BHXH cấp trên quyết toán cuối năm, song hàng

    tháng đều có số công nhân viên bị ốm…

    Biểu số 05 :

    DANH SÁCH NGƯỜI LAO ĐỘNG HƯỞNG TRỢ CẤP BHXH

        Lương Thời Đơn vị đề nghị Cơ quan BHXH xét duyệt
    TT Họ và tên tháng gian Số ngày nghỉ   Số ngày nghỉ  
        đóng đóng Trong Luỹ Tiền trợ Trong kỳ Luỹ kế Tiền trợ
        BHXH BHX kỳ kế đầu cấp     cấp
          H   năm        
    1 Nguyễn Thị Hoa 396.750 22     91.473 3 20 91.473
    2 Vũ Thanh Hằng 396.700 22     95.400 7 30 95.400
      Cộng 793.450       186.873     186.873

    Cuối tháng, kế toán tại Công ty lập danh sách tiền thưởngcho toàn Công ty phụ thuộc vào bậc lương và xếp loại thưởng của Công ty.

    Biểu số 06 :

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN THƯỞNG

    Tháng 03 năm 2004

    TT Họ và tên Bậc   Mức lương   Ghi chú
        lương        
        1 2 3 4
                 
    1 Nguyễn Duy Minh 3,48 A 300.000    
                 
    2 Trần Văn Lâm 2,02 B 200.000    
                 
    3 Vũ Thanh Hằng 1,78 B 100.000    
                 
    4 Lại Việt Cường 1,78 A 200.000    
                 
      ……………….          
                 
      Cộng     800.000    
                 

    Ngày…tháng…năm…..

    53

    Kế toán

    Kế toán trưởng

     

    (ký, họ tên)

    (ký, họ tên)

    3.2.Trình tự tính lương BHXH phải trả và tổng số lương

    Hiện nay, Công ty Mặt Trời Việt đang áp dụng hình thức trả lương theo thời gian đối với tất cả công nhân viên trong toàn Công ty và đuợc hạch toán trực tiếp cho từng loại công nhân viên.

    Công ty cũng áp dụng hình thức trả lương này cho những mức tiền lương cụ thể trong mỗi tháng cho công nhân viên làm công việc đơn giản như bảo vệ….

    Có bảng thanh toán lương cơ bản của cán bộ công nhân viên phòng Hành chính để thấy rõ hơn phương thức trả lương theo thời gian mà Công ty áp dụng để trả lương cho cán bộ công nhân viên.

    Lương cơ bản = 290.000 x Hệ phụ cấp x (số ngày làm việc) + phụ cấp

    22

    Ví dụ :

    Anh Việt Cường đi làm đủ công, không vi phạm gì sẽ có lương cơ bản

    là :

    Lương cơ bản = 290.000 x 1,5 x 21 + 19,728 = 415.247
         
         

    22

    Trong đó : Phụ cấp của Anh Cường là 19.728.

    Hiện tại, Công ty cũng áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng. Về hình thức trả lương này, thì Công ty dựa trên cơ sở khoán doanh thu và khối lượng nhiệm vụ của từng đơn vị hay chính chất lượng công tác của mỗi đơn vị. Căn cứ khối lượng sản phẩm hoàn thành đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quy định được theo dõi ở phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành. (MS 06-LĐTL) và đơn giá tiền lương kế toán tính lương cho từng nhân viên trong Công ty, ví dụ như:

    54

    Anh Lê Văn Hải sẽ có phần lương khoán cá nhân lương theo sản phẩm

    có thưởng là :      
    LKCK =  Quỹ LKT  x Hkcl = 7.426.980 x 363  = 1.231.600
               
      Tổng Hkcl 2.189  
               

    Như trong tháng này tổng lương Anh Hải được lĩnh là:

    TCN = LCB + LKCN = 512.928 + 1.237.830 = 1.750.758 Sau đây là hệ số chức danh để xác định lương khoán tại Công ty.

    Biểu số 07:

    HỆ SỐ CHỨC DANH THEO CÔNG VIỆC

    CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    Loai lao động Hệ số chức danh
       
    Chuyên viên 1 1,65
    Chuyên viên 2 1,45
    Cán sự 1 1,45
    Cán sự 2 1,35
       

    3.3.Trình tự tính lương, BHXH phải trả và tổng số liệu

    *Căn cứ vào chứng từ hạch toán về thời gian lao động và chế độ tiền lương trả theo thời gian áp dụng trong Công ty để tính lương thời

    gian và các khoản phụ cấp phải trả cho một số người lao động điển hình có tên trong bảng chấm công.

    55

    Biểu số 08 :

    Đơn vị : Công ty Mặt Trời VIệt

    Bộ phận : Kỹ thuật

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    Tháng 05 năm 2004

            Lương thời gian   Phụ   Các khoản trừ Số còn lĩnh
    TT   Họ và tên Bậc lương Số   Hệ cấp Cộng Tạm ứng      
      Tiền trách   Kỳ II  
            công số lương lương kỳ I BHXH Ăn ca
              nhiệm  
                           
    1   Nguyễn Thị Hoa 870.500 21 752.230 1,5 24.000 1.570.275 500.000 46.656 459.275 150.000
                             
    2   Vũ Thanh Hằng 754.400 21 721.018 1,5 13.000 890.027 500.000 32.184 39.843 150.000
                             
    3   Lại Việt Cường 290.000 21 415.247 1,5 19.728 636.247 300.000 30.800 223.999 150.000
                             
    4   Đào Thuỷ Linh 392.400 21 375.586 1,5 18.000 579.845 200.000 23.544 206.300 150.000
                             
                  74.728 3.679.394 1.500.000   1.288.417 600.000
                           
    Kế toán thanh toán           Kế toán trưởng      
      (ký, họ tên)           (ký, họ tên)      

    55

    55

    *Căn cứ vào khối lượng sản phẩm hoàn thành dảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quy định được theo dõi bởi phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành (Mẫu số 06 – LĐTL) và đơn giá tiền lương sản phẩm là sản xuất ra một sản phẩm áp dụng trong Công ty để tính tiền lương sản phẩm cho công nhân sản xuất.

    TIỀN LƯƠNG PHẢI TRẢ CHO CÔNG

    NHÂN SẢN XUẤT

    Tên cá nhân : Nguyễn Duy Minh

    STT Tên công việc ĐVT   Số Đơn giá Thành tiền Ghi
              lượng       chú
    A B   C   1 2   3  
    1 Lắp đặt 1 bộ máy Chiếc   1 5.000.000 5.000.000  
      Cộng           5.000.000  
    Tổng số tiền (Viết bằng chữ) : Năm triệu đồng      
    Người giao việc Người nhận việc Người kiểm tra Người duyệt
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)   chất lượng   (ký, họ tên)
                (ký , họ tên)      

    *Cách tính tiền thưởng của doanh nghiệp

    Căn cứ vào bảng thanh toán tiền thưởng đã nêu trên

    Ví dụ :

    Tại Công ty đối với nhân viên Nguyễn Duy Minh với bậc lương của Anh là 798.500 đồng/tháng. Ngoài tiền lương chính Anh còn được thưởng 300.000 đồng/tháng với mức thưởng loại A do Anh thực hiện nghiêm túc chế độ quy định của Cơ quan, hoàn thành tốt công việc được giao, nhận được nhiều hợp đồng mới cho Công ty.

    *Hàng tháng tuỳ thuộc vào số người phải thanh toán trợ cấp BHYT trả thay cho lương trong tháng của đơn vị, kế toán lập bảng tổng hợp tiền lương, tập hợp cho các phòng ban, phân xưởng trong đơn vị, kẻ sổ lập bảng này là “phiếu nghỉ lương BHXH”, khi lập phiếu này phải phân chi tiết theo từng

    56

    trường hợp nghỉ ốm, nghỉ đẻ, sảy thai, nghỉ tai nạn lao động…trong mọi khoản phải phân ra số ngày, số tiền trợ cấp BHXH trả thay lương.

    Cuối tháng, sau khi kế toán tổng hợp số ngày nghỉ, số tiền trợ cấp cho từng người và cho toàn đơn vị, bảng nay được chuyển cho trưởng ban BHXH xác nhận và chuyển cho kế toán trưởng duyệt chi. Bảng này lập 2 liên:

    • 1 liên gửi cho Cơ quan quản lý BHXH cấp trên để tất toán
    • 1 liên lại phòng Kế toán cùng các chứng từ có liên quan.

    Trưòng hợp này của Anh Minh do Anh nghỉ ốm nên được hưởng số tền

    BHXH trả thay lương là Nguyễn Duy Minh do đó phiếu nghỉ hưởng lương

    BHXH (Giấy chứng nhận nghỉ ốm) được sử dụng tại Công ty theo mẫu sau :

    (Mặt trước)      
    Tên Cơ quan y tế Ban hành theo mẫu CV  
    ……………… Số 90TC/CĐ ngày 20/04/99 Quyển số : 12A
    Số KB/BA     Số : 037
    622 GIẤY CHỨNG NHẬN NGHỈ ỐM  
       
    Họ và tên : Nguyễn Duy Minh Tuổi :…36…
    Đơn vị công tác : Công ty Mặt Trời Việt  
    Lý do cho nghỉ : Phẫu thuật xương khớp tay  
    Số ngày cho nghỉ : 15 ngày (từ ngày 3/3 đến ngày 18/3/2005)
        Ngày 02 tháng 03 năm 2005
    Xác nhận phụ trách đơn vị Y bác sĩ khám chữa bệnh
    Số ngày nghỉ : 15 ngày (đã ký, đóng dấu)

    Nguyễn Thị Hương

    57

    (Mặt sau) Số sổ BHXH : 01133943564
    Phần BHXH      
    1-Số ngày nghỉ được hưởng BHXH : 15 ngày
    2-Luỹ kế, ngày nghỉ cùng chế độ : ngày
    3-Lương tháng đóng BHXH   : 270.800đồng
    4-Lương bình quân ngày   : 24.069 đồng
    5-Tỉ lệ hưởng BHXH   : 75%
    6-Số tiền hưởng BHXH   : 270.800 đồng
          Ngày 02 tháng 03 năm 2005
    Cán bộ Cơ quan BHXH   Phụ trách BHXH đơn vị
    (ký, họ tên)     (ký, họ tên)
        Hoàng Ngọc Diệp

    *Cuối kỳ, kế toán lập bảng tổng hợp lương của từng bộ phận gián tiếp các bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp.

    58

    Biểu số 09 :

    Bộ phận : Dịch vụ bán hàng

    BẢNG TỔNG HỢP TIỀN LƯƠNG PHÂN BỔ

    Tháng 05 năm 2005

      TK TK627 TK 622   Chi tiết theo từng loại sản phẩm  
    Tên tổ 642              
        Màn hình Mainboard CPU ổ cứng Notebook
                     
    Tổ 1   1.000.000 35.155.615 35.155.615        
                     
    Tổ 2   1.523.000 47.769.000     47.769.000    
                     
    Tổ 3   976.000 2.829.163       2.829.163  
                     
    Tổ 4   1.154.000 38.590.312         38.590.312
                     
            1.000.000   1.523.000 976.000 1.154.000
                     
    Cộng 4.653.000 124.344.090          
                     

    59

    Biểu số 10 :

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ TIỀN BHXH

    Tháng 05 năm 2005

      Ghi Có TK ghiNợ   TK 334 : Phải trả công nhân viên   TK 338, 3382
    STT các TK sử dụng         +3383 +3384
        Lương chính Lưong phụ Các khoản khác Cộng Có TK 334 Lương cơ bản
                – thuê ngoài
    1 TK 622 : CPNCTT          
        35.155.615        
        47.769.000        
        2.839.163        
        38.590.312        
    2 TK 627: CPSXC 5.200.000 140.000 800.000 8.028.000 23.863.305
        9.200.000 35.000 200.000 1.200.000 5.617.308
        1.200.000 35.000 200.000 2.373.000 3.822.750
        578.000 35.000 200.000 600.000 5.121.436
        2.789.778 35.000 200.000 1.285.000 9.301.811
    3 TK 642 :          
      CPQLDN          
      Cộng         28.912.167

    Tiền lương thuê ngoài :

    Tổ1 : 8.050.000

    Tổ 2: 10.450.000

    Tổ 3 : 3.340.000

    Tổ 4 : 7.250.000

    Cộng : 28.090.000

    BHXH phải trích trong tháng ( 180.259.300 – 28.090.000) x 19% = 28.912.167

    60

    *Căn cứ vào số liệu của bảng tổng hợp lương của từng đội sản xuất và các bộ phận gián tiếp, kế toán lập bảng thanh toán tổng số tiền lương toàn Công ty. Cụ thể bảng tháng lương toàn Công ty trong tháng 05/2004 như sau:

    Biểu số 11:

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG TOÀN CÔNG TY

    Tên đơn Số CN Lương thời gian Lương Phụ Tổng Giảm trừ Số tiền Tiền ăn
    vị   Công Tiền khoán cấp lương Tạm ứng BHXH lĩnh kỳ II ca
                  kỳ I      
    Tổ 1 6     18.899.000 35.000 18.934.000   1.789.980 17.144.020 800.000
    Tổ 2 9     20.782.000 35.000 20.817.000   1.526.500 19.290.500 1.000.000
    Tổ 3 3     4.482.163 35.000 4.517.163   1.726.354 2.790.809 450.000
    Tổ 4 8     19.462.152 35.000 19.497.152   1.624.505 17.872.247 900.000
    Phòng 4 125 4.525.000   70.000 4.595.000 1.500.000 159.000 2.936.000 500.000
    HC                    
    Phòng 5 150 3.450.650   70.000 3.520.650 1.500.000 167.939 1.852.711 700.000
    DV                    
    Phòng 2 150 3.490.365   70.000 3.650.365 1.500.000 133.507 1.926.858 300.000
    TCLĐ                    
    Phòng 6 125 3.563.700   70.000 3.633.700 1.500.000 169.422 1.964.278 850.000
                       
    Cộng 43 410 15.026.715 63.623.013 420.000 59.577.878 6.000.000 7.333.287 65.777.823 5.500.000

    61

    1. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo luơng

    4.1. Các tài khoản kế toán áp dụng trong doanh nghiệp và các khoản tính trích theo lương của doanh nghiệp

    Tiền lương của công nhân viên trong công ty được tập hợp theo dõi trên TK 334 (phải trả công nhân viên) bao gồm tiền lương của các bộ phận quản lý phòng ban, khoản tiền lương này bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ của từng bộ phận và được hạch toán vào chi phí trên các chứng từ ban đầu.

    4.2. Trình tự kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp

    *Từ các chứng từ trên về BHXH trả thay lưong cho công nhân viên và các phiếu chi, Kế toán đưa ra các nghiệp vụ để hạch toán BHXH trả thay lương như sau:

    Nghiệp vụ 1:

    Căn cứ vào bảng thanh toán BHXH và phiếu chi tiền mặt số 43 Ngày 12/3/2003. Kế toán tiền hạch toán vào sổ chi tiết TK 334 số tiền thanh toán cho Anh Phí Anh Dương như sau :

    62

    CHỨNG TỪ GHI SỔ    
    Ngày 30/03         Số 34
                 
    Trích yếu   Số TK   Số tiền Ghi chú
                 
        Nợ      
                 
    Thanh toán chế độ BHXH cho   334 111   203.000  
    nhân viên Nguyễn Duy Minh            
                 
    Cộng         203.000  
                 
    Kèm theo 04 chứng từ gốc          
    Người lập       Kế toán trưởng
    (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    Nghiệp vụ 2

    Cuối tháng 03/2003 Kế toán tiền lương tiến hành hạch toán tiền lương BHXH thay lương cho công nhân viên Phí Anh Dương vào sổ chi tiết TK 3383 như sau :

    Nợ TK 3383 : 203.000

    Có TK 334 : 203.000

    63

    Đồng thời nghiệp vụ trên được nhân viên Kế toán phản ánh ở chứng từ ghi sổ như sau :

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Ngày 31/03           Số 36
                 
    Trích yếu Số TK     Số tiền Ghi chú
                 
      Nợ        
                 
    Số tiền BHXH trả thay lương 3383   334   203.000  
    phải trả cho Phí Anh Dương            
                 
    Cộng         203.000  
                 
    Kèm theo chứng từ gốc            
    Người lập       Kế toán trưởng
    (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    64

    Nghiệp vụ 3

    Căn cư uỷ nhiệm chi số 30 ngày 30/03/2003 của Cơ quan BHXH Quận Hai bà Trưng về việc cấp kinh phí BHXH, Kế toán tiến hành hạch toán vào sổ chi tiết TK 112 như sau :

    Nợ TK 112 : 203.000

    Có TK 338 : 203.000

    Đồng thời nghiệp vụ trên được phản ánh vào chứng từ ghi sổ như sau: từ các chứng từ ghi sổ trên nhân viên kế toán có nhiệm vụ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.

    SỔ ĐĂNG KÝ CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Năm 2004

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
               
    Sinh hoạt NT   SH NT  
               
    12 05/3 4.700.000 32 29/3 2.002.720
               
    21 25/3 9.292.199 34 30/3 203.000
               
    25 26/3 4.596.199 36 31/3 203.000
               
    26 26/3 505.680 38 31/3 203.000
               
    29 28/3 1.517.040      
               
              2.631.000
               

    Cuối tháng, căn cứ vào các chứng từ ghi sổ, Kế toán vào sổ cái TK 111, TK 112, TK 334, TK 338…

    *Tổng hợp tiền lương

    65

    Căn cứ vào số liệu đã tổng hợp trên bảng thanh toán tiền lương toàn Công ty. Kế toán lập định khoản kế toán.

    Nghiệp vụ 1

    Hàng tháng, trên cơ sở tính toán tiền lương phải trả cho công nhân viên kế toán ghi sổ ghi theo định khoản sau :

    Nợ TK 622 : 124.344.090

    Nợ TK 627 : 4.653.000

    Nợ TK 642 : 60.113.212

    Có TK 334 : 59.577.878

    Nghiệp vụ II

    Từ ngày 10 đến ngày 15 hàng tháng kế toán Công ty tạm ứng cho các bộ phận quản lý trong Công ty.

    Nợ TK 334 : 6.000.000

    Có TK 111 : 6.000.000

    66

    Nghiệp vụ III

    1-Căn cứ vào bảng thanh toán lương của Công ty Kế toán xác định các khoản khấu trừ vào lương của nhân viên

    Nợ TK 334 : 5.500.000

    Có TK 141 : 5.500.000

    2-Sau đó kế toán tính lương tạm ứng kỳ II cho công nhân viên Nợ TK 334 : 65.777.823

    Có TK 111 : 65.777.823

    Nghiệp vụ IV

    Khi trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất

    Nợ TK 642 : 5.048.862

    Nợ TK 627 : 27.863.305

    Có TK 338 : 28.912.167

    67

    SỔ CÁI

    TK : Tiền mặt

    Số hiệu TK111

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền
    ghi S NT Diễn giải đối Nợ
    sổ H     ứng    
          Số dư đầu kỳ   102.569.780  
    6/3 12 5/3 Thanh toán tạm ứng 334   6.000.000
          lương kỳ I tháng      
          3/2003      
    12/3 18 12/3 Rút TGNH về nhập quỹ 112 45.500.000  
    15/3 18 13/3 Chi tạm ứng tiền hàng 331   42.500.000
          cho Công ty      
          NEWVISION      
    26/3 21 25/3 Thanh toán lương kỳ II 334   65.877.823
          tháng 3/2003      
    28/3 27 28/3 Thu tiền hàng nợ đợt 1 131 17.475.000  
          tháng 3/2003 của Công      
          ty MED      
    29/3 29 29/3 Mua hàng nhập kho 156   38.453.350
    30/3 33 30/3 TríchKPCĐ tháng 3382   101.136
          3/2003      
    31/3 34 30/3 Thanh toán BHXH cho 334   203.000
          Phí Anh Dương      
          Cộng phát sinh   165.544.780 104.534.173
          Dư cuối kỳ   113.376.780  

    68

    SỔ CÁI

    Tên TK : Phải trả, phải nộp khác

    Số hiệu TK : 338

    TK : 3383 BHXH

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền  
    ghi S NT Diễn giải đối Nợ
    sổ H     ứng    
          Số dư đầu kỳ     4.045.440
    27/3 26 26/3 BHXH trích theo lương 334   28.912.167
          công nhân viên tháng      
          3/2003 (5%)      
    28/3 29 28/3 BHXH phải trả công 642   7.333.827
          nhân viên tháng 3/2003      
          (15%)      
    31/3 32 30/3 Chuyển nộp tiền BHXH 112 6.068.160  
          quý I cho toàn Công ty      
    31/3 36 31/3 Thanh toán BHXH trả 334 203.000  
          thay lương cho nhân viên      
          Phí Anh Dương      
    31/3 38 31/3 Nhận uỷ nhiệm chi 112 203.000  
          BHXH      
          Cộng phát sinh   6.271.160 364.489.994
          Dư cuối kỳ      

    69

    70

    SỔ CÁI

    Tên TK : Phải trả công nhân viên

    Số hiệu TK : 334

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền
    ghi sổ S NT Diễn giải đối Nợ
      H     ứng    
          Số dư đầu kỳ     1.176.504
    06/3 12 5/3 Thanh toán tạm ứng lương 1111 6.000.000  
          kỳ I      
          Tháng 3/2003      
    18/3 15 8/3 Trả tiền lương tháng 2 cho 3388 777.756  
          Lại Việt Cường      
    25/3 21 25/3 Thanh toán tiền lương kỳ II 1111 65.777.823  
    27/3 25 26/3 Tiền lương phải trả công 642    
          nhân viên 3/2003      
          Tháng 3/2003      
    30/3 34 30/3 Thanh toán chế độ BHXH 1111 203.000  
          cho Phí Anh Dương      
    31/3 36 30/3 Số tiền BHXH trả thay 3383    
          lương cho Anh Dương      
          Cộng phát sinh   75.758.579  
                 

    71

    SỔ CHI TIẾT TK 334

    Tiền lương

    Năm 2004

    Số NT Nội dung TK Phát sinh trong kỳ    
          đối Nợ Nợ
          ứng        
        Dư đầu kỳ         1.176.504
    12 05/3 Thanh toán tạm ứng 1111 6.000.000      
        Lương kỳ I tháng          
        3/2004          
    15 18/3 Trả tiền lương tháng 1111 777.756      
        2 chưa          
        Lĩnh cho Lại Việt          
        Cường          
    21 25/5 Thanh toán lương 1111 67.777.823      
        kỳ II tháng 3/2004          
    25 26/3 Tiền lương trả cho 642   59.577.878    
        CNV tháng 3/2004          
    34 30/3 Thanh toán BHXH 1111 203.000      
        trả thay cho Anh Phí          
        Anh Dương          
    38 31/3 BHXH phải trả cho 3383   203.000    
        Anh Phí Anh Dương          
        Cộng phát sinh   72.758.579 59.780.878    
        Dư cuối kỳ          

    72

    Phần III :

    HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Nhận xét chung về công tác tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

    của Công ty.

    • Từ khi thành lập, Công ty Mặt Trời Việt đã không ngừng phấn đấu

    hoàn thiệncơ chế quản lý kinh doanh của mình . Ban lãnh đạo Công ty luôn phổ biến kịp thời những văn bản pháp luật mới, nâng cao trình độ hiểu pháp luật và kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao. Bên cạnh đó, Công ty thường xuyên quan tâm, củng cố đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Công ty cử những cán bộ có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức làm công tác chuyên trách thanh tra của Công ty. Đồng thời, luôn tạo điều kiện cho cán bộ chủ chốt của Công ty tham gia các khoá học và tập huấn ngắn hạn do cấp trên mở nhằm mang lại kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn của họ.

    II/ Đánh giá thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo

    luơng của Công ty

    1.Ưu điểm

    Công ty hiện đang áp dụng hình thức hạch toán chứng từ ghi sổ, một loại hình hạch toán không ngừng phù hợp với quy mô của Công ty nà còn rất thuận tiện cho việc cơ giới hoá tính toán. Cùng với sự phát triển của Công ty, tổ chức bộ máy kế toán cũng không ngừng hoàn thiện, tham mưu giúp ban Giám đốc điều hành các phần việc mà mình phụ trách, đảmbảo cung cấp kịp thời chính xác những thông tin về tài chínhcủa Công ty giúp cho lãnh đạo Công ty ra các quyết định đúng đắn về quản lý điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty.

    Bộ phận Kế toán của Công ty đã hoàn thành việc thanh toán tiề lương cho cán bộ công nhân viên trong Công ty rất cụ thể chính xác đáp ứng nhu

    73

    cầu của cán bộ trong Công ty. Việc trả tiền lương thực hiện đúng theo các quy định hiện hành của Nhà nước về các chế độ BHXH, BHYT…Đảm bảo quyền lợi trực tiếp cho người lao động trong Công ty cũng sử dụng đầy đủ các chứng từ kế toán đã quy định trong chế độ ghi chép ban đầu về tiền lương về thanh toán các chế độ BHXH…

    Bên cạnh đó, thực hiện chế độ hưởng lương theo thuận lợi nên khi Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đạt doanh thu cao thì mức thu nhập của cán bộ công nhân viên trong Công ty được nâng cao đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người lao động sẽ khuyến khích được tinh thần nâng cao trách nhiệm của họ trong công việc.

    2. Nhược điểm

    Công ty Mặt Trời Việt là loại hình doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hạch toán kinh tế độc lập. Hiện tại, Công ty đang áp dụng hình thức hưởng lương theo lợi nhận . Theo hình thức trả lương này thì nếu Công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì thu nhập của cán bộ công nhân viên trong Công ty sẽ được nâng cao. Như vậy dảm bảo mưc thu nhập của họ có được ổn định không nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty không đạt hiệu quả hay không đạt được mức doanh thu như kế hoạch đề ra. Do đó, Công ty cần phải có chính sách khen thưởng hợp lý để khuyến khích người lao động trong công việc và cũng phần nào cải thiện đuợc cuộc sống của người lao động.

    Điều đó đòi hỏi ban lãnh đạo Công ty luôn tăng cường công tác quản lý phải luôn luôn quan tâm và củng cố đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn để góp phần phát triển của Công ty giúp cho tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty luôn đạt hiệu quả, đạt doanh thu cao.

    Về hệ thống sổ kế toán, chừng từ kế toán thì áp dụng theo hình thức chứng từ ghi sổ nên trong việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh còn có sự trùng lặp để nhầm lẫn và tốn nhiều công.

    III/ Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các

    khoản trích theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    74

    1.Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các

    khoản trích theo lương

    Ta biết tiền lương là một vấn đề hết sức quan trọng. Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ là cơ sở, đòn bẩy cho sự phát triển của doanh nghiệp. Còn đối với người lao động tiền lương nhận được thoả đáng là động lực thúc đẩy năng lực sáng tạo, sự nhiệt tình trong công việc góp phần không nhỏ nhằm tăng năng suất lao động, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đạt kết quả cao.

    Do đó ở mỗi doanh nghiệp, tuỳ theo loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, quy mo của doanh nghiệp cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình mà có chế độ kế toán sao cho hợp lý, luôn nghiên cứu và hoàn thiện hơn công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, các chế độ hưởng BHXH, các chế độ khen thưởng khuyến khích lương…đẻ sao cho quyền lợi của người lao động luôn đảm bảo và đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, khuyến khích được người lao động trong sản xuất kinh doanh là 1 vấn đề quan trọng.

    2.                 Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

     

    • Tiền lương góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại của

    doanh nghiệp. Đối với nông dân sản xuất kinh doanh, tiền lương là một phần không nhỏ của chi phí sản xuất. Do đó nếu doanh nghiệp vận dụng chế độ thiền lương hợp lý sẽ tạo động lực tăng năng suất lao động.

    Việc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết và quan trọng nhưng nó đòi hỏi phải luôn đảm bảo nguyên tắc công bằngvà xứng đáng với sức lao động mà người lao động đã bỏ ra. Tiền lương nhận được thoả đáng thì người lao động sẵn

    75

    sàng nhận công việc được giao cho dù ở đâu, làm gì trong điều kiện sức lực và trí tuệ của họ cho phép.

    Bên cạnh đó việc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở từng doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc : tuân thủ theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước, của Bộ tài chính về các vấn đề như: cách tính lương, phân bổ tiền lương…cũng như thực hiện đúng hệ thống, sổ sách kế toán có liên quan.

    3. Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

    Tuỳ theo tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà có phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp mình sao cho phù hợp. Doanh nghiệp cần áp dụng các chính sách, quy định ban hành của Nhà nước và chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương. Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động doanh nghiệp cũng cần quantam đến đội ngũ Kế toán của doanh nghiệp, không những thế mà doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn để họ hoàn thành tốt công việc của mình và có thể thích nghi với chế độ chính sách kế toán mới.

    Đảm bảo sao cho người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ hiện hành của Nhà nước cũng như quyền lợi của họ.

    Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp cũng cần phải lập những quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, chế độ trợ cấp và chế độ khen thưởng thiết thực, công bằng hợp lý đối với người lao động để khuyến khích họ trong công việc góp phần giúp họ đảm bảo và nâng cao cuộc sống của bản thân mình và gia đình.

    76

    KẾT LUẬN

    Trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng yêu cầu tổ chức tốt công tác kế toán ngày càng khoa học hợp lý luôn được dặt lên hàng đầu . Việc hoàn thành tổ chức công tác kế toán sẽ góp phần quan trọng trong việc phát huy vai trò của kế toán trong công tác quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường . Trong cơ chế quản lý mới này, việc cung cấp thông tin kế toán một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và chính xác giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp có thể ra được các quyết định phù hợp đã trở thành một yêu cầu cấp bách có tính chất sống còn có sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình chung của công tác tổ chức kế toán tiền lương của Công ty Mặt Trời Việt, đề tài đã chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác tổ chức kế toán tiền lương tại Công ty Mặt Trời Việt, từ đó rút ra nguyên nhân, phân tích và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại Công ty, để công tác kế toán tại Công ty ngày càng khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý và chế độ tài chính kế toán hiện hành.

    Với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo : Ninh Thị Hằng Nga và sự giúp đỡ hết lòng của các cán bộ phòng Tài chính – Kế toán và Giám đốc của Công ty Mặt Trời Việt, cộng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình một cách tương đối, đầy đủ các vấn đề nghiên cứu, song bản báo cáo thực tập tốt nghiệp này khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em rất mong sự đóng góp ý kiến của cô giáo hướng dẫn bản báo cáo thực tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

    77


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành

    Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành

    Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-%E2%80%9CK%E1%BA%BF-toan-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-tr%C3%A1ch-nhi%E1%BB%87m-h%E1%BB%AFu-h%E1%BA%A1n-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Th%C3%A0nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành

    LỜI NÓI ĐẦU

    Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp. Nâng cao năng suất lao động là con đường cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo uy tín và khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

    Tiền lương là một phạm trù kinh tế xã hội đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của người lao động. Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy người lao động nâng cao năng suất lao động. Từ việc gắn tiền lương với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đến việc nâng cao mức sống ổn định và việc phát triển cơ sở kinh tế là những vấn đề không thể tách rời. Từ đó sẽ phục vụ đắc lực cho mục đích cuối cùng là con người thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế, làm cơ sở để từng nâng cao đời sống lao động và cao hơn là hoàn thiện xã hội loài người.

    Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác tiền lương trong quản lý doanh nghiệp em đã chọn đề tài: “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Trường Thành làm khoá luận tốt nghiệp.” Khoá luận ngoài lời mở đầu và kết luận gồm 3 chương:

    Chương I: Lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp.

    Chương II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Tân Trường Thành .

    Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Tân Trường Thành.

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

     

    1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.

    Kế toán là một công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý đã xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống loài người.

    Theo quy định tái sản xuất trong doanh nghiệp cộng nghiệp bao gồm các quá trình sản xuất- phân phối tiêu thụ, các giai đoạn này được diễn ra một cách tuần tự. Sau khi kết thúc một quá trình sản xuất sản phẩm, doanh nghiệp đưa ra sản phẩm sản xuất ra thị trường tiêu thụ, nghĩa là thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm đó. Trong cơ chế thị trường và sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự sống còn của sản phẩm chính là sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Việc bán sản phẩm là một yếu tố khách quan nó không chỉ quyết định sự tồn tại quá trình sản xuất của doanh nghiệp mà còn đảm bảo đời sống cho công nhân, người lao động sản xuất ra sản phẩm đó.

    Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử chính trị và có ý nghĩa xã hội to lớn. Nhưng ngược lại bản thân tiền lương cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của xã hội, tư tưởng chính trị. Cụ thể là trong xã hội tư bản chủ nghĩa tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, là giá cả của sức lao động biểu hiện ra bên ngoài sức lao động, Còn trong xã hội chủ nghĩa tiền lương là giá trị một phần vật chất trong tổng sản phẩm xã hội dùng để phân phối cho người lao động theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Tiền lương mang một ý nghĩa tích cực tạo ra sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân.

    1.1.1. Ý nghĩa của việc quản lý lao động tiền lương và các khoản trích theo lương.

    Lao động là hoạt động của con người sử dụng tư liệu sản xuất tác động vào môi trường tạo ra sản phẩm, hàng hoá hợc đem lại hiệu quả của công tác quản lý. Trong lao động, người lao động( công nhân, viên chức) co vai trò quan trọng nhất. Họ là những người trực tiếp tham gia vào quản lý hoạt động kinh doanh hoặc gián tiếp tham giam vào quá trình tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho tiêu dùng của xã hội

    Phân loại lao động:

    • Lao động trực tiếp: Là những công nhân điều khiển máy móc thiết bị làm ra sản phẩm như công nhân tiện, nguội , bào, khoan trong các công ty cơ khí chế tạo.
    • Lao động gián tiếp: Là các nhân viên quản lý và phục vụ có tính chất chung ở doanh nghiệp như nhân viên phân xưởng, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp như kế toán, thống kê, tổ chức nhân sự.

    * Ý nghĩa của việc quản lý lao động :

    Mỗi khi có hoạt động lao động của con người diễn ra, doanh nghiệp phải chi ra các loại nguyên vật liệu, hao mòn về công cụ dụng cụ cho quá trình sản xuất và thù lao trả cho người lao động ( gọi chung là chi phí ). Chi phí về lao động là một trong ba yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp làm ra. Chi phí về lao động cao hay thâpsex ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Vì vậy muốn quản lý tốt chi phí sản xuất, trước hết cần quản lý chặt chẽ các khoản chi cho lao động và phải quản lý từ tiền lương thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là số lượng và chất lượng lao động.

    1.1.2. Khái niệm, ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương.

    1.1.2.1. Khái niệm tiền lương và các khoản trích theo lương.

    a1) Khái niệm tiền lương.

    Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động.

    Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.

    • Việt nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nước phân phối cho công nhân viên chức bằng hình thức tiền tệ, phù hợp với quy luật phân phối theo lao động. Hiện nay theo Điều 55 – Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định tiền lương của người lao động là do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.

    Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm xã hội biểu hiện bằng tiền được trả cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của mọi người dùng để bù đắp lại hao phí lao động của họ và nó là một vấn đề thiết thực đối với cán bộ công nhân viên.Tiền lương được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất

    5

    mạnh mẽ, nó kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động.

    Người lao động sau khi sử dụng sức lao động tạo ra sản phẩm thì được trả một số tiền công nhất định. Xét về hiện tượng ta thấy sức lao động được đem trao đổi để lấy tiền công. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt. Và tiền lương chính là giá cả của hàng hoá đặc biệt đó, hàng hoá sức lao động. Vì hàng hoá sức lao động cần được đem ra trao đổi trên thị trường lao động trên cơ sở thoả thuận giữa người mua với người bán, chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Do đó giá cả sức lao động sẽ biến đổi theo giá cả của các yếu tố cấu thành cũng như quan hệ cung cầu về lao động. Như vậy khi coi tiền công là giá trị của lao động thì giá cả này sẽ hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Giá cả sức lao động hay tiền công có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào cung cầu hàng hoá sức lao động. Như vậy giá cả tiền công thường xuyên biến động nhưng nó phải xoay quanh giá trị sức lao động cung như các loại hàng hoá thông thường khác, nó đòi hỏi một cách khách quan yêu cầu tính đúng, tính đủ giá trị của nó. Mặt khác giá tiền công có biến động như thế nào thì cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu để người lao động có thể tồn tại và tiếp tục lao động.

    a2) Khái niệm BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động.

    Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn hay tử tuất… sẽ được hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội.

    BHXH chính là các khoản tính vào chi phí để hình thành lên quỹ BHXH, sử dụng để chi trả cho người lao động trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động.

    Khoản chi trợ cấp BHXH cho người lao động khi bị ốm đau, thai sản, tại nạn lao động .. được tính trên cơ sở lương, chất lượng lao động và thời gian mà người lao động đã cống hiến cho xã hội trước đó.

    Nhằm xã hội hoá việc khám chữa bệnh, người lao động còn được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện phí,

    6

    thuốc men, khi bị ốm đau. Điều kiện để người lao động khám chữa bệnh không mất tiền là người lao động phải có thẻ bao hiểm y tế.Thẻ BHYT được mua từ tiền trích BHYT. Đây là chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Ngoài ra để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn được thành lập theo luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. KPCĐ là khoản trích nộp sử dụng với mục đích cho hoạt động của tổ chức công đoàn đảm bảo quyền lợi ích chính đáng cho người lao động.

    1.1.2.2. Ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương.

    Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyêt định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp. Vì vậy để có thể trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Có thể nói hạch toán chính xác đúng đắn tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế.

    Mặt khác, tiền lương là một trong những chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiếm tỉ lệ đáng kể. Mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận nhưng bên cạnh đó phải chú ý đến quyền lợi của người lao động. Do đó làm sao và làm cách nào để vừa đảm bảo quyền lợi của người lao động vừa đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp. Đó là vấn đề nan giải của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương không những có ý nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người lao động mà còn có ý nghĩa giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ tiền lương có hiệu quả nhất tức là hợp lý hoá chi phí giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi. Cung cấp thông tin đâỳ đủ chính xác về tiền lương của doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý cho những kì doanh thu tiếp theo.

    Tiền lương và các khoản trích theo lương sẽ là nguồn thu nhập chính, thường xuyên của người lao động, đảm bảo tái sản xuất và mở rộng sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh khi công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương được hạch toán hợp lý công bằng chính xác.

    7

    Ngoài tiền lương người lao động còn được trợ cấp các khoản phụ cấp, trợ cấp BHXH, BHYT … các khoản này cũng góp phần trợ giúp, động viên người lao động và tăng thêm cho họ trong các trường hợp khó khăn tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động.

    1.1.3. Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ KPCĐ.

    1. a) Quỹ tiền lương.

    Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quảnlý và sử dụng. Thành phần quỹ lương bao gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian thực tế làm việc ( theo thời gian, theo sản phẩm…). Trong quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh, kế toán phân loại quỹ tiền lương của doanh nghiệp thành hai loại cơ bản:

    • Tiền lương chính: Là tiền Lương trả cho người lao động trong thời gian lam nhiệm vụ chính đã được quy định, bao gồm: tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp thường xuyên và tiền thưởng trong sản xuất.
    • Tiền lương phụ : Là tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ phép, thời gian đi làm nghĩa vụ xã hội, hội họp, đi học, tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất.
    1. Quỹ bảo hiểm xã hội.

    Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nan lao động, hưu trí, mất sức…

    Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ BHXH được hình thành bằng các tính theo tỷ lệ 20%trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán. Người sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng quỹ lương và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn 5% trên tổng quỹ lương thì do người lao động trực tiếp đóng góp ( trừ vào thu nhập của họ ). Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trường hợp họ bị ốm đau, tai nạn lao động, nũ công nhân viên nghỉ đẻ hoặc thai sản.. . được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ( có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH. Khi người lao động được nghỉ hưởng

    8

    BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và lập bảng thanh toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với quỹ BHXH.

    1. c) Quỹ bảo hiểm y tế.

    Quỹ bảo hiểm y tế được sử dụng để trợ cấp cho những người tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ BHYT bằng 3% trên số thu nhập tạm tính của người lao động, trong đó doanh nghiệp phải chịu 2%( tính vào chi phí sản xuất kinh doanh) còn người lao động trực tiếp nộp 1% ( trừ vào thu nhập của họ). Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế. Vì vậy, khi trích BHYT, các doanh nghiệp phải nộp cho BHYT ( qua tài khoản của họ ở kho bạc).

    1. d) Kinh phí công đoàn.

    Kinh phí công đoàn là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp. Theo chế độ tài chính hiện hành, KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ ( tính vào chi phí sản xuất kinh doanh ).

    1.1.4. Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

    Ghi chép phản ánh kịp thời số lượng thời gian lao động, chất lượng sản phẩm, tính chính xác tiền lương phải trả cho người lao động. Tính chính xác số tiền BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí và thu từ thu nhập của người lao động.

    Trả lương kịp thời cho người lao động, giám sát tình hình sử dụng quỹ lương, cung cấp tài liệu cho các phòng quản lý, chức năng, lập kế hoach quỹ lương kỳ sau.

    Tính và phân bổ chính xác đối tượng, tính giá thành .

    Phân tích tình hình sử dụng quỹ lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, đề xuất biện pháp tiếp kiệm quỹ lương, cung cấp số liệu cho kế toán tổng hợp và các bộ phận quản lý khác.

    Lập báo cáo về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT,KPCĐ thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT KPCĐ đề xuất các biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động. Đấu tranh chống những hành

    • vô trách nhiệm, vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, chế độ sử dụng chi tiêu KPCĐ, chế độ phân phối theo lao động.

    1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương và các khoản trích theo lương.

     

    *Nhóm nhân tố thuộc thị trường lao động: Cung – cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương.

    Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng.Tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao động thay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …).

    Khi chi phí sinh hoạt thay đổi, do giá cả hàng hoá, dịch vụ thay đổi sẽ kéo theo tiền lương thực tế thay đổi. Cụ thể khi chi phí sinh hoạt tăng thì tiền lương thực tế sẽ giảm. Như vậy buộc các đơn vị, các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa cho công nhân để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, đảm bảo tiền lương thực tế không bị giảm.

    Trên thị trường luôn tồn tại sự chênh lệch tiền lương giữa các khu vực tư nhân, Nhà nước, liên doanh…, chênh lệch giữa các ngành, giữa các công việc có mức độ hấp dẫn khác nhau, yêu cầu về trình độ lao động cũng khác nhau. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp điều tiết tiền lương cho hợp lý.

    *Nhóm nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp

    Các chính sách của doanh nghiệp: các chính sách lương, phụ cấp, giá thành…được áp dụng triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, trực tiếp tăng thu nhập cho bản thân.

    Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương.Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền lương cho người lao động sẽ thuận tiện dễ dàng. Còn ngược lại nếu khả năng tài chính không vững thì tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh.

    Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương.Việc quản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát và đề ra những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động để tăng hiệu quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương.

    *Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động:

    Trình độ lao động:Với lao động có trình độ cao thì sẽ có được thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ thấp hơn bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối cho việc đào tạo đó. Có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanh nghiệp. Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình độ cao mới thực hiện được,

    10

    đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp thì việc hưởng lương cao là tất yếu.

    Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc thường đi đôi với nhau. Một người qua nhiều năm công tác sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra trong công việc, nâng cao bản lĩnh trách nhiệm của mình trước công việc đạt năng suất chất lượng cao vì thế mà thu nhập của họ sẽ ngày càng tăng lên.

    Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đều ảnh hưởng ngay đến tiền lương của người lao động.

    *Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc:

    Mức hấp dẫn của công việc: công việc có sức hấp dẫn cao thu hút được nhiều lao động, khi đó doanh nghiệp sẽ không bị sức ép tăng lương, ngược lại với công việc kém hấp dẫn để thu hút được lao động doanh nghiệp phải có biện pháp đặt mức lương cao hơn.

    Mức độ phức tạp của công việc: Với độ phức tạp của công việc càng cao thì định mức tiền lương cho công việc đó càng cao. Độ phức tạp của công việc có thể là những khó khăn về trình độ kỹ thuật, khó khăn về điều kiện làm việc, mức độ nguy hiểm cho người thực hiện do đó mà tiền lương sẽ cao hơn so với công việc giản đơn.

    Điều kiện thực hiện công việc: tức là để thực hiện công việc cần xác định phần việc phải làm, tiêu chuẩn cụ thể để thực hiện công việc, cách thức làm việc với máy móc, môi trường thực hiện khó khăn hay dễ dàng đều quyết định đến tiền lương.

    Yêu cầu của công việc đối với người thực hiện là cần thiết, rất cần thiết hay chỉ là mong muốn mà doanh nghiệp có quy định mức lương phù hợp.

    *Các nhân tố khác: ở đâu có sự phân biệt đối xử về màu da, giới tính, độ tuổi, thành thị và nông thôn, ở đó có sự chênh lệch về tiền lương rất lớn, không phản ánh được mức lao động thực tế của người lao động đã bỏ ra, không đảm bảo nguyên tắc trả lương nào cả nhưng trên thực tế vẫn tồn tại.

    Sự khác nhau về mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng ảnh hưởng tới tiền lương của lao động

    1.2. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG:

    Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương

     

    11

    áp dụng trả lương ngang nhau cho lao động cùng một đơn vị sản xuất kinh doanh bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động có ý nghĩa khi quyết định các chế độ tiền lương nhất thiết không phân biệt tuổi tác, dân tộc, giới tính.

    • Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương. Đây là nguyên tắc tạo cơ sở cho việc giảm giá thành, tăng tích luỹ bởi vì năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của người lao động (trình độ tay nghề, các biện pháp hợp lý sử dụng thời gian) mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan (sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, áp dụng công nghệ mới).
    • Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý về tiền lương giữa những người làm nghề khác nhau trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.Tính chặt chẽ nghề nghiệp, độ phức tạp về kỹ thuật giữa các ngành nghề đòi hỏi trình độ lành nghề bình quân của người lao động là khác nhau. Những người làm việc trong môi trường độc hại, nặng nhọc, tổn hao nhiều sức lực phải được trả công cao hơn so với những người lao động bình thường. Hình thức tiền lương có xét đến điều kiện lao động có thể thông qua việc thiết kế các hệ số lương hoặc quy định các mức phụ cấp ở các ngành nghề khác nhau.Từ đó các điều kiện lao động đều ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương bình quân của mỗi ngành nghề.

    Đảm bảo tiền lương thực tế tăng lên khi tăng tiền lương nghĩa là tăng sức mua của người lao động.Vì vậy việc tăng tiền lương phải đảm bảo tăng bằng cung cấp hàng hoá, tín dụng tiền tệ. Phải đâỷ mạnh sản xuất, chú trọng công tác quản lý thị trường, tránh đâù cơ tích trữ, nâng giá nhằm đảm bảo lời ích của người lao động. Mặt khác tiền lương còn là một bộ phận cấu thành nên giá trị, giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và là một bộ phận của thu nhập kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó đảm bảo tăng tiền lương thực tế cho người lao động là việc xử lý hài hoà hai mặt của vấn đề cải thiện đời sống cho người lao động phải đi đôi với sử dụng tiền lương như một phương tiện quan trọng kích thích người lao động hăng hái sản xuất có hiệu quả hơn.

    Hiện nay ở nước ta tiền lương cơ bản được áp dụng rộng rãi, có 2 hình thức đó là:

    • Trả lương theo thời gian
    • Trả lương theo sản phẩm.

    1.2.1. Trả lương theo thời gian.

     

    12

    Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động, lương cấp bậc để tính lương cho công nhân viên. Hình thức này được áp dụng chủ yếu cho cán bộ công nhân viên chức, quản lý, y tế giáo dục, sản xuất trên dây chuyền tự động, trong đó có 2 loại:

    Trả lương theo thời gian đơn giản.

    Trả lương theo thời gian có thưởng.

    • Trả lương theo thời gian đơn giản: đây là số tiền trả cho người lao động căn cứ vào bậc lương và thời gian thực tế làm việc không xét đến thái độ và kết quả lao độ
      • Lương tháng: áp dụng đối với cán bộ công nhân viên làm ở bộ phận gián

    tiếp.

    Mức lương = Lương cơ bản + Phụ cấp (nếu có)

    • Lương ngày: đối tượng áp dụng chủ yếu như lương tháng khuyến khích người lao động đi làm đề

    Mứclương =                 Lương tháng            +              số ngày làm

    26 ngày làm việc thực tế            việc thực tế.

    • Trả lương theo thời gian có thưởng: thực chất của chế độ này là sự kết hợp giữa việc trả lương theo thời gian đơn giản và tiền thưởng khi công nhân vượt mức những chỉ tiêu số lượng và chất lượng đã quy đị

    Hình thức này được áp dụng cho công nhân phụ (công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị) hoặc công nhân chính làm việc ở những nơi có trình độ cơ khí hoá, tự động hoá, công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.

    Mức lương = Lương tính theo thời gian giản đơn + Tiền thưởng

    Hình thức này có nhiều ưu điểm hơn hình thức trả lương theo thời gian đơn giản, vừa phản ánh trình độ thành thạo vừa khuyến khích được người lao động có trách nhiệm với công việc. Nhưng việc xác định tiền lương bao nhiêu là hợp lý rất khó khăn. Vì vậy nó chưa đảm bảo phân phối theo lao động.

    1.2.2. Trả lương theo sản phẩm:

    • Tiền lương trả theo sản phẩm là một hình thức lương cơ bản đang áp dụng trong khu vực sản xuất vật chất hiện nay, tiền lương mà công nhân nhận được phụ thuộc vào đơn giá để hoàn thành một đơn vị sản phẩ Hình thức trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương tính theo thời gian.
    • Trả lương theo sản phảm có những tác dụng sau:

    Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượng lao động gắn với thu nhập về tiền lương với kết quả sản xuất của mỗi công nhân.do đó kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động.

    Khuyến khích công nhân ra sức học tập văn hoá kỹ thuật nghiệp vụ, ra sức phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật cải tiến phương pháp lao động, sử dụng tốt máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động, góp phần thúc đẩy cải tiến quản lý doanh nghiệp nhất là công tác lao động và thực hiện tốt công tác kế hoạch cụ thể.

    Khi một doanh nghiệp bố trí lao động chưa hợp lý, việc cung ứng vật tư không kịp thời sẽ tác động trực tiếp đến kết quả lao động như năng suất lao động thấp kém dẫn đến thu nhập của người lao động giảm. Do quyền lợi thiết thực bị ảnh hưởng mà người công nhân sẽ kiến nghị, đề nghị bộ máy quản lý cải tiến lại những bất hợp lý hoặc tự họ tìm ra biện pháp để giải quyết.

    Tuy nhiên để phát huy đầy đủ tác dụng của công tác trả lương theo sản phẩm nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao phải có những điều kiện cơ bản sau đây:

    • Phải xây dựng được định mức lao động có căn cứ khoa họ Điều này tạo điều kiện để tính toán đơn giá tiền lương chính xác.
    • Tổ chức sản xuất và tổ chức lao động phải tương đối hợp lý và ổn đị Đồng thời tổ chức phục vụ tốt lối làm việc để tạo điều kiện cho người lao động trong ca làm việc đạt hiệu quả kinh tế cao.
    • Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm xuất ra để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tránh làm bừa, làm ẩu, chạy theo số lượ
    • Bố trí công nhân vào những công việc phù hợp với bậc thợ của họ. Có các chế độ trả lương sau:

    Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: cách trả lương này được áp dụng rộng rãi đối với người công nhân viên trực tiếp sản xuất trong điều kiện quy trình lao động của người công nhân mang tính độc lập tương đối, có thể quy định mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt. Đơn giá tiền lương của cách trả lương này là cố định và tiền lương của công nhân được tính theo công thức:

    L = ĐG x Q

    14

    Trong đó: ĐG: đơn giá tiền lương.

    • mức sản lượng thực tế.
    • Ưu điểm: là mối quan hệ giữa tiền lương của công nhân nhận được và kết quả lao động thể hiện rõ ràng người lao động xác định ngay được tiền lương của mình, do quan tâm đến năng suất, chất lượng sản phẩm của họ.
    • Nhược điểm: là người công nhân ít quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tinh thần tập thể tương trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất kém, hay có tình trạng dấu nghề, dấu kinh nghiệ

    Chế độ trả lương khoán: được áp dụng cho những công việc nếu giao chi tiết bộ phận sẽ không có lợi bằng giao toàn bộ khối lượng cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định.

    Chế độ lương này sẽ được áp dụng trong xây dựng cơ bản và áp dụng cho

    những công nhân khi làm việc đột xuất như sửa chữa, tháo lắp nhanh một số thiết bị để nhanh chóng đưa vào sản xuất, áp dụng cho cá nhân và tập thể.

    • Ưu điểm: trong chế độ trả lương này người công nhân biết trước được khối lượng tiền lương mà họ sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc và thời gian thành công được giao. Do đó họ chủ động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được giao còn đối với người giao khoán thì yên tâm về khối lượng công việc hoàn thành.
    • Nhược điểm: để đảm bảo thời gian hoàn thành dễ gây ra hiện tượng làm bừa, làm ẩu không đảm bảo chất lượ Do vậy công tác nghiệm thu sản phẩm được tiến hành một cách chặt chẽ.

    1.3. HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG:

    1.3.1. Khái niệm:

    *Hạch toán:

    Hạch toán là những hoạt động quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép của con người đối với các hoạt động kinh tế xảy ra trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm thu nhận, cung cấp những thông tin về quá trình đó phục vụ cho công tác kiểm tra, công tác chỉ đạo những hoạt đông kinh tế, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội đem lại hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội.

    *Hạch toán kế toán:

    Hạch toán kế toán là khoa học thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra giám sát

    toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị đó. Như vậy hạch toán kế toán nghiên cứu về tài sản, sự vận động của tài sản trong các đơn vị, nghiên cứu về các hoạt động kinh tế tài chính xảy ra trong quá trình hoạt động của đơn vị với mục đích kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế tài chính, đảm bảo cho hoạt động đó đem lại lợi ích cho con người.

    Để thực hiện hạch toán, kế toán sử dụng một hệ thống các phương pháp khoa học gồm:

    Phương pháp chứng từ kế toán. Phương pháp tài khoản kế toán. Phương pháp tính giá.

    Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán.

    Sử dụng thước đo tiền tệ để đo lường phạm vi quy mô hoạt động kinh tế tài chính, bên cạnh đó còn sử dụng thước đo lao động và thước đo hiện vật.

    *Hạch toán tiền lương: là quá trình tính toán ghi chép thời gian lao động hao phí và kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất, hoạt động tổ chức và quản lý theo nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm phục vụ công tác kiểm tra tình hình sử dụng quỹ lương, công tác chỉ đạo các hoạt động kinh tế đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội.

    Quỹ tiền lương tăng lên phải tương ứng với khối lượng tăng giá trị tiêu dùng. Nhiệm vụ của hạch toán tiền lương là phải xác định mức độ cơ cấu tiền lương, các yếu tố làm tăng giảm quỹ lương, hạch toán tỉ trọng các hình thức và chế độ tiền lương nhằm tìm ra những hướng kích thích mạnh mẽ và thoả đáng đối với người lao động. Hạch toán tiền lương cấp bậc, tiền thưởng từ quỹ khuyến khích vật chất nhằm chỉ ra hướng đi đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp.

    Hạch toán tiền lương phải cân đối phù hợp với các chỉ tiêu kế hoạch khác, không cho phép vượt chi quỹ tiền lương mà không có căn cứ xác đáng vì điều đó dẫn đến làm tăng giá thành sản phẩm, làm giảm tỉ số tích luỹ. Vượt chi quỹ tiền lương trả cho nhân viên không sản xuất theo quỹ lương kế hoạch và thực tế là vi phạm kỹ thuật tài chính. Hạch toán thực hiện kế hoạch quỹ lương của công nhân sản xuất cần tính đến mức độ hoàn thành kế hoạch khối lượng sản phẩm để tính thực hiện tiết kiệm hay vượt chi tuyệt đối quỹ lương kế hoạch.

    Hạch toán quỹ lương để so sánh giá trị nguồn nhân lực trên thị trường lao động. Hạch toán chế độ tăng tiền lương so sánh với tiến độ tăng năng suất lao động có nghĩa là tỉ trọng tiền lương trong tổng sản phẩm cũng như trong chi phí

    chung cho sản phẩm giảm xuống và ngược lại. Tiến độ tăng tiền lương và tăng năng suất lao động có ảnh hưởng đến cơ cấu giá thành sản phẩm.

    1.3.2.Nội dung và phương pháp hoạch toán:

    *Hạch toán lao động gồm:

    Hạch toán về số lượng lao động. Hạch toán thời gian lao động. Hạch toán kết quả lao động.

    Hạch toán kết quả lao dộng:

    Là việc theo dõi kịp thời chính xác tình hình tăng giảm số lượng lao động theo từng loại lao động. Trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính trả lương và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời. Số lượng lao động của doanh nghiệp được phản ánh trên sổ sách thường do phòng lao động tiền lương lập nhằm nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có.

    Bên cạnh đó doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ lao động được mở cho từng người để quản lý nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng lao động về biến động và chấp hành chế độ đối với người lao động.

    Số lượng lao động tăng lên khi doanh nghiệp tuyển dụng thêm lao động. Chứng từ là các hợp đồng lao động.

    Số lượng lao động giảm khi lao động chuyển công tác khác, thôi việc, về hưu, nghỉ mất sức, …Chứng từ là các quyết định của Giám đốc doanh nghiệp.

    Hạch toán thời gian lao động

    Là việc ghi chép kịp thời, chính xác thời gian lao động của từng

    người.Trên cơ sở đó tính lương phải trả cho chính xác. Hạch toán thời gian lao động phản ánh số ngày, giờ làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ việc của người lao động, từng bộ phận phòng ban trong doanh nghiệp.

    Chứng từ hạch toán là bảng chấm công được lập riêng cho từng bộ phận trong đó ghi rõ ngày làm việc, ngày nghỉ việc của từng người. Bảng do tổ trưởng trực tiếp ghi và để nơi công khai để mọi người giám sát thời gian lao động của từng người. Cuối tháng bảng chấm công được dùng để tổng hợp thời gian lao động và tính lương thưởng cho từng bộ phận.

    Hạch toán kết quả lao động:

    Là ghi chép kịp thời chính xác số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành của

    từng người để từ đó tính lương, thưởng và kiểm tra sự phù hợp của tiền lương

    phải trả với kết quả hoạt động thực tế, tính toán định mức lao dộng từng người, từng bộ phận và cả doanh nghiệp.

    Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng những loại chứng từ ban đầu khác nhau tuỳ theo loại hình, đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp nhưng những chứng từ này đều bao gồm các nội dung cần thiết như tên công nhân, tên công việc, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu.

    Chứng từ hạch toán lao động phải do người lập kí, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận, lãnh đạo duyệt y. Sau đó chuyển cho nhân viên hạch toán phân xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị rồi chuyển về phòng lao động tiền lương xác nhận.

    Cuối cùng chuyển về phòng kế toán của doanh nghiệp để làm căn cứ tính lương, tính thưởng. Để tổng hợp kết quả lao động thì tại mỗi phân xưởng, bộ phận nhân viên hạch toán phân xưởng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động. Trên cơ sở các chứng từ hạch toán kết quả lao động do các bộ phận gửi đến hàng ngày( hoặc định kì) để ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động rồi gửi cho bộ phận quản lý liên quan. Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động để tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp.

    *Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương:

    Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương doanh nghiệp sử dụng các chứng từ sau:

    +Bảng thanh toán tiền lương:

    Là chứng từ làm căn cứ để thanh toán tiền lương, phụ cấp cho công nhan viên trong đơn vị. Bảng thanh toán lương được lập hàng tháng tương ứng với bảng chấm công, phiếu nghỉ hưởng BHXH…Cơ sở để lập bảng thanh toán lương là các chứng từ liên quan như:

    Bảng chấm công.

    Bảng tính phụ cấp, trợ cấp. Phiếu nghỉ hưởng BHXH.

    Cuối mỗi tháng căn cứ vào các chứng từ liên quan kế toán lập bảng thanh toán tiền lương chuyển cho kế toán trưởng hay phụ trách kế toán hoặc giám đốc đơn vị duyệt.Trên cơ sở đó lập phiếu chi và phát lương cho công nhân viên. Bảng thanh toán lương được lưu tại phòng kế toán của đơn vị. + Bảng thanh toán bảo hiểm xã hội:

    Là chứng từ làm căn cứ tổng hợp và thanh toán trợ cấp BHXH trả thay lương cho người lao động, lập báo cáo quyết toán BHXH với cơ quan quản lý BHXH. Tuỳ thuộc vào số người phải thanh toán trợ cấp BHXH trả thay lương trong tháng của đơn vị, kế toán có thể lập bảng này cho từng phòng ban bộ phận hay cho toàn đơn vị. Cơ sở để lập bảng này là “ Phiếu nghỉ hưởng BHXH”, khi lập bảng phải ghi chi tiết từng trường hợp nghỉ và trong mỗi trường hợp phải phân ra số ngày, số tiền trợ cấp BHXH trả thay lương. Cuối tháng kế toán tính tổng số ngày nghỉ và số tiền được trợ cấp trong tháng và luỹ kế từ đầu năm đến tháng báo cáo cho từng người và cho toàn đơn vị. Bảng này được chuyển cho trưởng ban BHXH xác nhận và chuyển cho kế toán trưởng duyệt chi.

    Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các đơn vị sản xuất khác với các đơn vị Hành chính sự nghiệp là các đơn vị Hành chính sự nghiệp được trang trải các chi phí hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân sách hoặc từ công quỹ theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp cho nên tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán cũng khác nhau.

    *Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh:

    Để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng các tài khoản sau:

    TK334 “Phải trả công nhân viên”: Dùng để theo dõi các khoản phải trả công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, phụ cấp, BHXH, tiền thưởng và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động. Kết cấu:

    Bên nợ:

    • Các khoản đã trả công nhân viên.
    • Các khoản khấu trừ vào lươ
    • Các khoản ứng trướ
    • Kết chuyển lương chưa lĩ Bên có:

    Tất cả các khoản phải trả công nhân viên.

    Dư có:

    Các khoản khác còn phải trả công nhân viên.

    Dư nợ:

    Số trả thừa cho công nhân viên.

    Trong hệ thống tài khoản không có tài khoản cấp 2 nhưng chế độ kế toán thường mở 2 tài khoản cấp 2.

    TK 3341: chuyên theo dõi tiền lương.

    TK 3342: theo dõi các khoản khác ngoài lương.

    TK 338 “Phải trả và phải nộp khác”: phản ánh các khoản phải trả, phải nộp cho

    cơ quan pháp luật, cho các tổ chức đoàn thể xã hội, cho cấp trên về BHXH,

    BHYT, KPCĐ, …

    Kết cấu:

    Bên nợ:

    • Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý các quỹ.
    • Các khoản đã chi về KPCĐ tại đơn vị.
    • Xử lý giá trị tài sản thừ Bên có:
    • Các khoản phải trả, phải nộp hay thu hộ
    • Trích các khoản theo lương vào chi phí hàng kì.

    Dư nợ:

    Số chi vượt được cấp bù. Dư có:

    Số chi không hết phải nộp tiếp.

    TK 338 có 5 TK cấp 2 trong đó có 3 TK liên quan trực tiếp đến công nhân viên là:

    TK 3382: Kinh phí công đoàn.

    TK 3383: Bảo hiểm xã hội.

    TK 3384: Bảo hiểm y tế.

    *Phương pháp hạch toán:

    • Hàng tháng trên cơ sở tính toán tiền lương, tiền công phải trả công nhân viên, kế toán ghi sổ:

    Nợ TK 662, 627, 641, 642, 241. Có TK 334

    • Hàng tháng trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí, kế toán ghi:

    Nợ TK 662, 627, 641, 642, 241.

    Có TK 338(3382, 3383, 3384)

    • Phản ánh các khoản BHXH phải trả trực tiếp cho công nhân viên như ốm đau, thai sản, tai nạn lao độ

    Nợ TK 338(3383)

    Có TK 334

    • Cuối kì tính trả số tiền thưởng phải trả cho công nhân viên từ quỹ khen thưởng.

    Nợ TK 431(4311) Có TK 334

    • Tính BHXH, BHYT trừ vào lương của người lao động.

    Nợ TK 334

    Có TK 338(3381, 3382)

    • Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên: Nợ TK334

    Có TK 333 (3383)141, 138

    • Thanh toán lương và các khoản trích theo lương cho công nhân viên: Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    • Nếu thanh toán bằng vật tư hàng hoá

    Nợ TK 632

    Có TK 152, 153, 154, 155

    Nợ TK 334

    Có TK 333(33311)

    • Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý quỹ: Nợ TK 338(3382, 3383, 3384)

    Có TK 111, 112

    • Chi tiêu KPCĐ, BHXH tại doanh nghiệp:

    Nợ TK 338 (3382, 3383)

    Có TK 111, 112

    • Phản ánh BHXH, KPCĐ chi vượt được cấp bù: Nợ TK 111, 112

    Có TK 338 (3382, 3383)

    • Số chi không hết phải nộp cho cơ quan quản lý quỹ: Nợ TK 338 (3382, 3383)

    Có TK 111, 112

    • Cuối kì kết chuyển số tiền công nhân viên đi vắng chưa lĩnh: Nợ TK 334

    Có TK 338 (3388)

    21

    Trình tự hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp sản xuất được thể hiện qua sơ đồ sau:

     

    TK111

    TK333

    TK336

    TK338

    Thanh toán lương và các khoản khác

    Thuế thu nhập

    phải nộp (nếu có)

    Khấu trừ các khoản phải trả nội bộ

    Trích BHXH, BHYT trên tiền lương CNV

    TK138

    TK334                                                           TK335

    TK662

    Tính lương

    Phải trả

    cho CNV

    TK627, 641, 642

    TK431

    Tính thưởng cho CNV

    TK338

    BHXH phải trả

    cho CNV

    Chênh lệch số đã trả

    và khấu trừ lớn hơn số đã trả

    22

    *Đối với các đơn vị Hành chính sự nghiệp:

    Tài khoản sử dụng để hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương như sau:

    TK 334: Phải trả viên chức”: dùng để phản ánh tình hình thanh toán với công chức, viên chức trong đơn vị Hành chính sự nghiệp về tiền lương, phụ cấp và các khoản phải trả theo chế độ nhà nước quy định. Kết cấu:

    Bên nợ:

    • Các khoản đã trả cho công chức viên chức và các đối tượng khác.
    • Các khoản đã khấu trừ vào lươ Bên có:
    • Tiền lương và các khoản phải trả cho công chức, viên chức và các đối tượng khác trong đơn vị

    Dư có:

    Các khoản còn phải trả cho công chức, viên chức cán bộ hợp đồng và các đối tượng khác trong đơn vị.

    TK 334 có 2 TK cấp 2:

    TK 3341: Phải trả viên chức Nhà nước.

    TK 3348: Phải trả các đối tượng khác.

    TK 332 “Các khoản phải nộp theo lương”: phản ánh tình hình trích nộp và thanh

    toán BHXH, BHYT của đơn vị.

    Kết cấu:

    Bên nợ:

    • Số BHXH<BHYT đã nộp cho cơ quan quản lý.
    • Số BHXH đã thanh toán cho người được hưở Bên có:
    • Trích BHXH, BHYT tính vào chi phí của đơn vị.
    • Số BHXH được cấp để chi trả cho công nhân viên.
    • Số BHXH, BHYT mà công chức viên chức phải nộp được trừ vào lươ
    • Số tiền phạt do nộp chậm BHXH.

    Dư có:

    • BHXH, BHYT còn phải nộp cho cơ quan quản lý
    • Số BHXH được cấp nhưng chi chưa hế

    Dư nợ: phản ánh số BHXH đã chi chưa được cơ quan BHXH cấp bù

    TK 332 có 2 TK cấp 2:

    TK 3321: Bảo hiểm xã hội

    TK 3322: Bảo hiểm y tế

    *Phương pháp hạch toán:

    • Hàng tháng trích tiền lương, phụ cấp, sinh hoạt phí, học bổng, phải trả cho viên chức và các đối tượng khác.

    Nợ TK 661, 662, 631

    Có TK 334(3341, 3348)

    • Trích BHXH, BHYT theo quy định:

    Nợ TK 661, 662, 631

    Có TK 334

    Có TK 332(3321, 3322)

    • Tính ra số BHXH phải trả trực tiếp cho người được hưởng: Nợ TK 332(3321)

    Có TK 334

    • Trích quỹ cơ quan để thưởng cho công chức viên chức:

    Nợ TK 431(4311)

    Có TK 334

    • Thanh toán tiền lương, thưởng, phụ cấp, BHXH và các khoản khác Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    • Nộp BHXH, mua thẻ BHYT:

    Nợ TK 332

    Có TK 111, 112, 461

    • Các khoản tạm ứng bồi thường được trừ vào lương: Nợ TK 334

    Có TK 311, 312

    • Số BHXH được cấp để chi trả cho các đối tượng được hưởng: Nợ TK 111, 112

    Có TK 332(3321)

    • Nhận được giấy phạt do nộp chậm BHXH:

    24

    Nợ TK 661, 311

    Có TK 332(3321)

    1.3.3. Hình thức sổ sách kế toán .

    Hình thức kế toán là hình thức tổ chức hệ thống sổ kế toán bao gồm cả sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, kết cấu mẫu sổ và quan hệ kiểm tra đối chiếu các loại sổ.

    Hiện nay các doanh nghiệp có thể lựa chon vận dụng một trong bốn hình thức sổ kế toán sau:

    • Nhật ký chung
    • Nhật kú sổ cái
    • Nhật ký chứng từ
    • Chứng từ ghi sổ

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy mô của doanh nghiệp, yêu cầu quản lý hạch toán mà các doanh nghịêp vận dụng hình thức sổ sao cho phù hợp.

    25

    CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH TÂN TRƯỜNG THÀNH

    2.1. TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY TNHH TÂN TRƯỜNG THÀNH.

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:

    Công ty TNHH Tân Trường Thành trụ sở chính đặt tại 277 – Đường Đê La Thành- phường Ô chợ Dừa – Quân Đống Đa – Hà nội, là một doanh nghiệp quốc doanh. Công ty chuyên sản xuất các loại: giàn giáo xây dựng, giáo trống tổ hợp, gia công lắp dựng kết cấu khung nhà thép, khung nhà kiểu tiệp, kiểu Zamil, cốt pha thép, cột chống đa năng và hộp cột định hình theo tiêu chuẩn TCVN 6052: 1995 do chi cục tiêu chuẩn đo lường thành phố Hà Nội cấp ngày 07 tháng 10 năm 2003. Tự hạch toán kinh tế một cách độc lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND thành phố Hà Nội.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành được thành lập ngày 18 tháng 11 năm 2002, theo giấy phép thành lập số 3413 GP/ TLDL do UBNH thành phố Hà Nội cấp, đăng ký kinh doanh số 0102004405 do sở kế hoach và đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 22 tháng 01 năm 2002.

    Tiền thân của công ty TNHH Tân Trường Thành là hộ kinh doanh hàng vật liệu xây dựng. Lúc đó hình thức sản xuất chủ yếu là kinh doanh vật liệu xây dựng, phần gia công chỉ là các sản phẩm đơn giản, máy móc thiết bị sơ sài, số lượng ít và lạc hậu so với nền công nghiệp đang phát triển. Trong khi đó của các hộ kinh hoàn toàn lệ thuộc vào nhu cầu rải rác của nhu cầu thị trường, các khách hàng ít, giá cả hàng hoá do thị trường quy định. Chính vì thế các hộ kinh doanh thường bị động trong công tác điều hành sản xuất kinh doanh, không có điều kiện phát huy hết năng lực sản xuất.

    Trong những năm 1990 thực hiện chién lược phát triển kinh tế xã hội, đất nước ta thu được nhiều thành tựu, ổn định và tăng trưởng. Mặc dù những diễn biến quốc tế phức tạp đã tác động xấu đến tình hình kinh tế xã hội nhưng với sự chỉ đạo của nhà nước, của nghị quyết đại hội toàn quốc của đảng, nhân dân ta đã nỗ lực kiên trì, khắc phục khó khăn, tìm tòi khai phá con đường đổi mới kinh tế bằng những chính sách phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. Do đó, đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Trong điều kiện và môi trường phát triển kinh tế của đát nước như vậy, cùng với yêu cầu của công tác quản lý sản xuất hợp lý. Các hộ kinh doanh hàng vật liệu xây dựng nhỏ tin tưởng vào sự đổi mới của Đảng, chính sách kinh tế của nhà nước. Tin tưởng vào nghị quyết của Đảng đã xác định nền kinh tế nhiều thành phần các thành phần được bình đẳng ngang nhau. Quốc hội đã thông qua luật doanh nghiệp, từ đó các hộ sản xuất nhỏ ý thức được muốn mở rộng sản xuất, muốn tăng đầu tư và hiện đại thiết bị, quy trình công nghệ thì phải đổi mới mô hình sản xuất. Các hộ kinh doanh đã thống nhất làm hồ sơ xin thành công ty TNHH Tân Trường Thành.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành ra đời trong thời kỳ đát nước thực hiện đổi mới của Đảng. Thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại háo. Thời kỳ các công ty tư nhân ra đời. Các doanh nghiệp tư nhân là lực lượng sản xuất mới ra đời còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp và làm ăn lớn. Mặc khác thị trường sắt thép và xây dựng lại đang gặp khó khăn, nhập khẩu hạn chế các chủng loại, thị trường trong nước có nhiều biến động, chất lượng không ổn định cũng là một khó khăn lớn cho các đơn vị kinh doanh vật xây dựng.

    Công ty THNN Tân Trường Thành ra đời trong bối cảnh chung muôn vàn khó khăn đó, công ty bước vào hoạt động trong khi chỉ có 16 người, vốn ít, mà hạn tầng cơ sở thì hẹp, sản phẩm thì đơn giản, trong khi đó thì năng lực và trình độ yếu, khách hàng thi chưa nhiều và lớn, thiếu kinh nghiệm làm ăn. Măck khác thị trường vật liệu xây dựng đang khó khăn, chất lượng không ôn định cũng là khó khăn lớn cho các đơn vị kinh doanh vật tư .

    Nền kinh tế của chúng ta đã tiếp cận nền kinh tế thị trường trong 1 khoảng thời gian, phạm vi hoạt động còn đan xen của quá trình chuyển hoá, nhiều vấn đền còn chưa được hình thành rõ nét và toàn diện hơn nữa, do đó cơ chế cũ ăn sâu vào tiềm thức và gần như là thói quen trong hành động. Do vậy, không những khó khăn trong công tác quản lý, việc định hướng sản xuất của công ty cũng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ, thị trường trong nước chưa xác định rõ ràng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và tiêu thụ mặt hàng cơ khí-xây dựng, mặt hàng kinh doanh chính của doanh nghiệp.

    Trước tình hình trên lãnh đạo công ty đã xây dựng chương trình chiến lược về vốn, vật tư, thiết bị, nguồn nhân công đặc biệt là bộ máy quản lý thích ứng với từng giai đoạn, từng năm. Đặt ra các vấn đề cần giải quyết làm thế nào để tồn tại trong nền kinh tế thị trường khắc nhiệt, nơi mà mọi hoạt động đều phải tuân theo những quy luật vốn có của nó, quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật

    27

    cạnh tranh và ở đó mọi hoạt động của công ty phait tự cân đối, tự bù đắp thu chi để tiếp tục phát triển.

    Với quá trình tích luỹ những kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện xây dựng quy mô sản xuất. Công ty đã quyết định tập trung vào lĩnh vực kinh doanh xây dựng và gia công sản xuất sản phẩm cơ khí. Phục vụ thị trường trong nước, cải tiến mẫu mã nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tối thiểu chi phí sản xuất cho phép đẩy mạnh quảng cáo, tìm hiểu thị trường.

    Để làm được điều đó, công ty đã mạnh dạn đầu tư nâng cao thiết bị dây truyền máy móc, thiết bị công nghệ bằng nguồn vốn tự có và vay ngân hàng. Cụ thể, năm 2002 số vốn đầu tư ban đầu là 2 tỷ đồng, năm 2003 số vốn đầu tư là 4,2 tỷ đồng, năm 2004 tổng số vốn đầu tư cho máy móc thiết bị là 5.8 tỷ đồng. Để mua mới và nâng cao hệ thốn máy móc. Hiện nay công ty đã trang bị được một hệ thống máy móc hiện đại, đáp ứng nhu cầu của khách hàng như máy khoan, máy tiện, han, phau, máy cắt hơi….. đảm bảo thời gian và chất lượng.

    Ngoài ra công ty còn đàu tư chiếm dụng con người vì yếu tố con người có kĩ thuật, có tay nghề là đảm bảo cho sản phẩm đạt chất lượng cao, có kĩ thuật và đáp ứng được nhu câug của thị trường. Năm mới thành lập có 16 người lao động ( bao gồm cả lãnh đạo). Mới chỉ sau 3 năm thành lập công ty số lao động làm việc tại công ty đã tăng lên 187 người. Đáp ứng được trình độ chuyên môn kỹ thuật tay nghề, có khẳ năng đảm nhận các công trình, sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Chất lượng của cán bộ như: 15% đạt trình độ đại học, cao đẳng; 17,5% đạt trình độ trung học chuyên nghiệp ; 18% công nhân có tay nghề bậc 5/7. Còn lại là lao động phổ thông. Độ tuổi trung bình là 28 tôi; để đạt được chất lượng cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghềđược tuyển dụng thông qua các trường dạy nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm.

    có thể nói sau khi thay đổi cơ chế quản lý hoạt động, có sự định hướng đúng đắn, sản xuất ngày càng cao đạt hiệu quả và có uy tín trên thị trường, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, với hàng trăm công trình trong năm.

    Mặt hàng chủ yếu của công ty là sản xuất các mặt hàng kết cấu các laọi như giàn giáo xậy dựng, giáo chống tổ hợp, cốp pha thép, cột chống đa năng…Sản phẩm của công ty đượ c sản xuất ra đời với chất lượng ngày càng cao, phong phú: chính xác đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi khắt khe của khách hàng.

    Công ty luôn hoàn thành kế hoạch với doanh thu lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước, tăng tích luỹ mở rộng quy mô sản xuất và đảm bảo cho hơn 197 cán

    28

    bộ công nhân có đời sống ổn định. Công ty TNHH Tân Trường Thành đã và đang đóng góp một phần rất vào phát triển kinh tế đất nước.

    2.1.2. Tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất.

    2.1.2.1. Tổ chức phân cấp quản lý của công ty TNHH Tân Trường Thành. Công ty TNHH Tân Trường Thành là một công ty sản xuất có quy mô vừa

    và nhỏ. Trong những năm qua công ty đã xây dựng được cơ chế hoạt động sản xuất trong nội bộ một cách hợp lý đó là sự phân cấp rõ ràng về chức trách quyền hạn của các đơn vị nội bộ- các phân xưởng. Phát huy một cách triệt để tính chủ động, tích cực trong hoạt động sản xuất đặc biệt là các vấn đề, khai thác thị trường, tổ chức sản xuất.

    Cụ thể hàng năm, giám đốc, các phó giám đốc giao kế hoạch cho phân xưởng các chỉ tiêu, tài chính cơ bản, xây dựng cho công ty các chỉ tiêu doanh thu, thuế trích nộp, chi phí quản lý, lợi nhuận, khấu hao, quỹ lương, hàng tháng tuỳ theo khối lượng các công trình, ban giám đốc giao nhiệm vụ cho phòng kĩ thuật, từ đây giao xuống các phân xưởng Các phân xưởng có kế hoạch xây dựng phân phối bố trí lao động hợp lý. Tất cả các vấn đề liên quan đến ký kết hợp đồng, xủ lý hợp đồng, xử lý các vấn đề liên quan đến sản xuất hợp lý kinh doanh, khen thưởng. kỹ luật đều do ban giám đốc quyết định.

    Về mặt tài chính, với các chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra. Phụ trách kế toán của công ty, tổ chức kế toán theo pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước chịu trách nhiệm đảm bảo vốn và luân chuyển vốn kinh doanh.

    có thể nói cơ cấu tổ chức và sự phân cấp quản lý nói trên hoàn toàn phù hợp với sự sống còn của công ty có quy mô sản xuất vùa và nhỏ như công ty THNN Tân Trường Thành điều này cũng hoàn thành phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay, Các bộ phân có chức năng quản lý và phục vụ cho toàn công ty là toàn tổ chức hành chính bảo vệ, phòng kinh tế kỹ thuật, phòng kinh doanh, phòng kế toán.

    Để đảm bảo quá trình hoạt động của công ty đã tổ chức quản lý hợp đồng sản xuất của kinh doanh theo mô hình trực tuyến đứng đầu là giám đốc công ty là người trực tiếp điều hành các hoạt động phòng ban.

    29

    Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty

    (cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Tân Trường Thành)

    Giám đốc

        Phó Giám đốc KD
    Phó Giám đốc KT  
         
         
    Phòng                    
      Phòng   Phòng   Phòng   Các  
    TC-HC   KT-KT   kế toán   KD   phân  
                      xưởng  
                         
                         
                         
            Ban   Px           Px
                Px   Px  
    Ban kế   Ban          
    hoạch   kỹ   CLSP   thép   kết     tạo
    điều độ   thuật     hình   cấu   khí   phôi
            điện                
                             
                             

    Trong đó chức năng của từng bộ phận

    • Giám đốc: Là người điều hành đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm cao nhất về toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh trong Công ty. Giám đốc điều hành Công ty theo chế độ thủ trưởng, có quyền quyết định cơ cấu bộ máy quản lý của công ty theo nguyên tắc tinh giảm gọn nhẹ, có hiệu quả.
    • Phó giám đốc: Là người giúp đỡ giám đốc chỉ đạo các công tác cụ thể như kỹ thuật, công nghệ, công tác maketinh, khai thác htị trường và giải quyết các công việc thay giám đốc khi có uỷ quyền.
    • Phòng kinh doanh có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm; thực hiện các giao dịch kinh doanh tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ tiếp nhận vận chuyển.
    • Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức công ty phù hợp với yêu cầu tổ chức kinh doanh, xây dựng và tổ chức

    30

    thực hịên các kế hoạch về lao động tiền lương, giải quyết chính sách cho người lao động.

    • Phòng kế toán tài vụ: có nhiệm vụ khai thác và tiếp cận các đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế, theo dõi và đôn đốc kế hoạch thực hiện từ đó thiết lập và bóc tách bản vẽ, triển khai xuống từng phân xưởng.
    • Các phân xưởng sản xuất: Đứng đầu là các quản đốc có nhiệm vụ tôt chức thực hiện kế hoạch sản xuất của công ty giao đảm bảo chát lượng và số lượng sản phẩm làm ra. Sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị được giao.

    2.1.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành là công ty chuyên sản xuất xây dựng, chế tạo và tiêu thụ các mặt hàng loại ván khuôn, cốt pha, xà gồ; tư vấn thiết kế bản mã và các sản phẩm cơ khí, chế tạo sản xuất và lắp dựng các khung nhà thép. Công ty là một đơn vị kinh tế vừa mang tính thương mại vừa mang tính sản xuất. Các sản phẩm mà công ty đã và đang sản xuất, thiết kế và xây dựng chính xác.

    Sản phẩm của công ty có đặc điểm đòi hỏi kĩ thuật máy móc thiết bị đầy đủ, công nhân lành nghề, sản xuất nhiều mặt hàng. sản phẩm xây lắp có nhiều đặc điểm là không di chuyển mà cố định ở nơi sản xuất nên chịu ảnh hưởng của địa hình, khí hậu, giá cả thị trường… của nơi đặt sản phâm đặt điểm này buộc phải di chuyển máy móc, công nhân theo địa điểm đặt sản phẩm, làm cho công việc quản lý, sử dụng hạch toán vật tư, tài sản phức tạp.

    Mọi công trình dự toán trước khi tiến hành sản xuất và quá trình sản xuất phải so sánh với dự toán, phải lấy dự toán làm thước đo sản xuất, xây dựng được tiêu thụ theo gián dự toán hoặc thoả thuận với chủ đầu tư khi hoàn thnàh các công trình. Do vậy sản phẩm của công ty luôn đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thiết kế dự toán của công ty.

    31

    Sơ đồ: Tổ chức bộ máy sản xuất tại Công ty.

        Ban giám          
    Khách hàng     Phòng     PX tạo phôi
        đốc   KT-KT      
                   
                   
                   
                  PX thép hình
                   
            Chế bản      
                 
                   
                  PX cơ khí
                   
                   
                  PX kết cấu
                   
        KCS
    Nhập kho  
         

    Việc sản xuất và xây dựng chế tạo ở công ty dựa trên cơ sở các đơn đặt hàng của khách hàng. Ban giám đốc chịu trách nhiệm quản lý hợp đồng sau đó chuyển nội dung hợp đồng cho phòng kinh tế kĩ thuật.

    Phòng kĩ thuật căn cứ theo yêu cầu của khách hàng tiến hành tổ chức thực

    hiện triển khai bóc tách công việc chi tiết xuống từng phân xưởng.

    Các phân xưởng căn cứ vào định mức vật tư của từng công trình, sản phẩm: căn cứ vào yêu cầu kĩ thuật để đảm bảo cho chất lượng thực tế của sản phẩm do phòng kĩ thuật lập để thành sản xuất. Thông thường bắt đầu từ các phân xưởng tạo phôi, phân xưởng thép hình thành rồi đến phân xưởng cơ khí hoặc phân xưởng kết cấu. Cuối cùng sản phẩm lại qua khâu KCS của phòng kĩ thuật để kiểm tra sản phẩm trước khi nhập kho và đem giao cho khách hàng.

    2.1.3. Tổ chức công tác kế toán tại công ty TNHH Tân Trường Thành..

    2.1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán.

    Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Toàn bộ công việc kế toán được tập trung tại phòng kế toán của công ty.

    Bộ máy kế toán ở công ty trực tiếp theo dõi và hạch toán những phần việc nắm chắc tình hình tài chính về vốn, về tài sản của công ty.

    Theo dõi việc thực hiện kế hoạch tài chính cho từng tháng, quý.

    Theo dõi công tác quản lý taid sản. Tính giá thành thực tế các mặt hàng Công tác bán hàng và giao dịch.

    Theo dõi đối chiếu công nợ.

    Các chi phí quản lý của công ty.

    Tổng hợp các số liệu ở các phân xưởng và phần phát sinh ở khối văn phòng hay phòng kĩ thuật- tài chính lập báo cáo chung của toàn công ty.

    Sơ đồ bộ máy kế toán ở công ty TNHH Tân Trường Thành

        KT tổng hợp      
               
               
        KT thanh toán      
               
               
        Thủ quỹ      
    KT trưởng       Thu nhập thông
           
            tin
             
        KT vật tư  
             
             
               
               
        KT tiền lương      
               
               
        Thủ kho      
               

    Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận kế toán:

    • Kế toán trưởng: Phụ trách kế toán, là người đứng đầu phòng kế toán- tài vụ, phụ trách chung tổng hợp thực hiện chức năng và nhiệm vụ kế toán tại Công ty theo quy chế phân cấp quản lý của Giám đốc công ty.
    • Kế toán tổng hợp: là kế toán tổng hợp tất cả các khoản mục kế toán. Theo dõi phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời các hoạt động, phụ trách về các sổ kế toán.
    • Kế toán thanh toán: Theo rõi chặt chẽ tình hình tiêu thụ và thanh toán các công nợ, theo dõi bằng giá trị số dư và biến động trong kỳ của từng loại tiền mặt, tiền gửi ngân hàng của Công ty.
    • Thủ quỹ: Có nhiệm vụ thu, chi, bảo quản tiền mặtbằng việc ghi chép sổ quỹ và báo cáo quỹ hàng ngày.

    33

    • Kế toán vật tư: Theo dõi tình hình Nhập- Xuất- Tồn kho nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế… Kế toán vật tư theo dõi chi tiết từng loại vật tư cuối tháng tính tiền bảo quản vật tư xuất dùng trong kỳ và lập bảng tổng hợp ghi có cho các TK nguyên vật liệu, CCDC, chuyển qua cho KT tổng hợp, KT trưởng của Công ty.
    • Kế toán tiền lương, BHXH: Theo dõi, tính toán tiền lương và các khoản BH cho CBCNV.
    • Thủ kho: Theo dõi tình hình nhập- xuất kho NVL, thành phẩm đối chiếu với KT vật tư vào cuối tháng, cuối quý.

    2.1.3.2. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản.

    Căn cức vào hệ thống tài khoản kế toán do bộ tài chính ban hành. Căn cứ vào tình hình thực tế hạch toán ở đơn vị, doanh nghiệp đã sử dụng một hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại đơn vị. Là những tài khoản sửa đổi theo thông tư mới của bộ tài chính, sử dụng những tài khoản phù hợp với hình thức sản xuất và hạch toán tại đơn vị.

    2.1.3.3. Hình thức kế toán, sổ kế toán.

    1. a) Hình thức kế toán.

    Công ty áp dụng hình thức kế toán theo phương pháp chứng từ ghi sổ và hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ. Rất phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp.

    Sơ đồ hình thức kế toán chứng từ ghi sổ

    34

    Chứng từ gốc

    Chứng từ ghi sổ   Sổ chi tiết TK 632,511,131
             
             
    Sổ đăng ký   Sổ cái các   Bảng tổng   Các sổ kế
    chứng từ ghi   tài khoản   hợp các sổ   toán khác
    sổ       chi tiết    
                 
                 
                 

    Sổ chi tiết TK 911

    Báo cáo tài chính

    Báo cáo chi tiết về doanh thu và kết quả kinh doanh

    Ghi chú:

    : Ghi hàng ngày

    : Ghi cuối tháng

    : Kiểm tra đối chiếu

    b). Sổ kế toán.

    Sổ kế toán dùng để ghi chép hệ thống và lưu giữ cácngiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán.

    Với hình thức kế toán chứng từ ghi sổ thì mọi nghiệp vụ kinh tế ở các chứng từ gốc đều được phân loại và để lập chứng từ ghi sổ trước khi ghi vào sổ kế toán tổng hợp.

    Hệ thống sổ kế toán doanh nghiệp sử dụng bao gồm:

    • Sổ cái các tài khoản.
    • Các sổ, thẻ, kế toán chi tiết.

    Cuối tháng kế toán chi tiết tiến hành tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng, lập chứng từ ghi sổ và sổ cái các tài khoản một lần. Sổ cái mà

    35

    doanh nghiệp sử dụng và mẫu sổ ít cột để phù hợp với đặc điểm vận hành máy, đảm bảo được các nguyên tắc chuẩn mực kế toán chi tiết khi sử dụng máy vi tính.

    2.1.3.4. Hệ thống chứng từ kế toán.

    Các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vị, kế toán phải lập chứng từ kế toán. Mọi hoạt động của Công ty đều được lập chứng từ đầy đủ kịp thời chính xác theo nội dung qui định trên mẫu của Bộ tài chính. Trong quá trình hạch toán có những chứng từ chưa có mẫu kế toán Công ty đã tiến hành tự lập chứng từ nhưng đảm bảo đầy đủ các nội dung qui định tại điều 17 của luật kế toán. Đồng thời rút ngắn thay thế một số chứng từ như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho bằng biên bản giao nhận hàng hoá để phù hợp với hoạt động của Công ty.

    Chứng từ kế toán đảm bảo được lập đúng theo đúng số liên qui định, chứng từ hợp lệ, phù hợp với từng khoản mục.

    • Chứng từ tiền lương: Bảng chấm công, phiếu nghỉ hưởng BHXH, phiếu báo làm thêm giờ.
    • Chứng từ về nguyên vật liệu, thnàh phẩm: Biên bản giao nhận, hoá đơn giá trị gia tăng.

    2.1.3.5. Điều kiện máy móc thiết bị.

    Do qui mô hoạt động của Công ty và đòi hỏi của quản lý, trong hạch toán kế toán Công ty đã đưa vào xử lý trên máy vi tính. Nhưng do hoạt động chưa nhiều nên Công ty không sử dụng phần mền kế toán chuyên dùng nào mà chủ yếu sử dụng những thao tác thống kê, tính toán, trình bày văn bản để có thể hạch toán được công nợ, hạch toán chi tiết các tài khoản và dự trù tính toán các chi phí như nguyên vật liệu, tiền lương một cách nhanh chóng lịp thời.

    2.1.3.6. Hạch toán hàng tồn kho.

    Công ty áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ. Đây là phương pháp không phản ánh theo dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập xuất trên các tài khoản mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ. Do vậy là phương pháp kiểm kê đơn giản gọn nhẹ và không phải điều chỉnh số liệu kiểm kê do đó giảm được lao động và chi phí hạch toán ( phương pháp này thích hợp với hình thức hoạt động của công ty có quy mô sản xuất vừa và nhỏ).

    Trị giá thực              Trị giá thực tế                  Trị giá thực tế                  Trị gián thực tế

    tế hàng hoá    =      của hàng hoá           +      hàng hoá nhập               hàng hoá tồn

    36

    xuất kho                     tồn kho đầu kỳ                kho trong kỳ                      kho cuối kỳ

    2.1.3.7. Chế độ kế toán vận dụng.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành thực hiện đúng chế độ kế toán do bộ tài chính ban hành đó là những thông tư, nghị định, qui định và hướng dẫn về kế toán trong lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được uỷ quyền ban hành. Đó là những thông tư , nghị định sau:

    • Thông tư số 89/ 2002/ TT- BTC hướng dẫn kế toán thực hiện 4 chuẩn mực kế toán ban hành thoe quyết định số 149/2001/QĐ- BTC ngày 31- 12-2002.
    • Pháp lệnh của Chủ Tịch nước về việc công bố luật kế toán số 12/2003/LKTN ngày 26/6/2003.
    • Thông tư số 13/2003/ TT- BLĐTBXH ngày 30/05/2003 của Bộ lao động thương binh và xã hội. Hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp.
    • Thông tư số 07/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Bộ lao động thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định số 01/2003/ NĐ- CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi bổ sung một số điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ.
    • Nghị định số 114/2002/ NĐ- CP ngày 31/12/2002 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về tiền lương.
    • Nghị định số 03/2003/ NĐ- CP ngày 15/01/2003 củ chính phủ về việc điều chỉnh lương trợ cấp XH và đổi mới một bước quản lý tiền lương.

    2.2. TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG Ở CÔNG TY

     

    KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC TNHH TÂN TRƯỜNG THÀNH.

     

    2.2.1. Tình hình chung về quản lý lao động .

    Công ty TNHH Tân Trường Thành là Công ty có khối lượng công việc, mô hình sản xuất thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản phẩm sản xuất ra mang tính đặc thù nên quản lý nguồn lao động của công ty được phân loại như sau:

    • Cán bộ công nhân viên lao động trực tiếp có 136 người. Cấp bậc thợ bình quân toàn công ty là 3/7, với đội ngũ kinh nghiệm trong nhiều năm công tác,

    nên trong những năm qua Công ty luôn hoàn thành những chỉ tiêu đặt ra và ngày càng có uy tín trên thị trường cơ khí, xây dựng, lắp đặt kết cấu tại Miền Bắc và cả nước.

    • Cán bộ công nhân viên quản lý nghiệp vụ: Khối văn phòng gồm có 1 giám đốc, 2 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng và 39 nhân viên thuộc các phòng ban.
    • Nhân viên khác : Gồm có 8 người ( gồm lái xe, nhà bếp, bảo vệ )

    2.2.2. Đặc điểm tiền lương và quản lý tiền lương ở Công ty.

    Tiền lương chính là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho người lao động đủ để tái sản xuất sức lao động và nâng cao bồi dưỡng sức lao động.

    Nhận thức tầm quan trọng của công tác tiền lương, Ban giám đốc, phòng kế toán – tài vụ ngay từ khi Công ty đi vào hoạt động đã xây dựng hệ thống tiền lương phù hợp đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động.

    Theo quy định đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp không áp dụng hệ thống thang lương, bảng lương do nhà nước quy định ban hành mà người lao động thoả thuận với đại diện công đoàn cơ sở thực hiện ký hợp đồng lao động với Ban giám đốc. Mức lương thoả thuận ghi trong hợp đồng lao động luôn đảm bảo ít nhất bằng mức lương theo nghề hoặc công việc quy định của nhà nước.

    Ngay từ khi bắt đầu thành lập Công ty. Hợp đồng lao động giữa Công ty và người lao động đã thoả thuận một mức lương đó là lương cấp bậc. Chế độ trả lương theo công việc mà người lao động phụ trách cộng với trình độ chuyên môn và bằng cấp đào tạo. Việc quy định phân phối tiền lương cho từng bộ phận

    • cá nhân người lao động theo quy chế phụ thuộc vào năng suất, chất lượng hiệu quả làm việc, công tác của từng bộ phận người lao động, không phân phối bình quân. Đối với người lao động có trình độ chuyên môn cao như tốt nghiệp đại học, thợ bậc cao có kỹ thuật giỏi, giữ vai trò và đóng góp quan trọng cho việc hình thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của đơn vị thì mức tiền lương và thu nhập phải trả tương ứng. Chênh lệch về tiền lương và thu nhập giữa lao động phục vụ giản đơn với lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, giỏi trong nội bộ Công ty được xem xét và quy định cho phù hợp.

    Thực hiện đầy đủ các thông tư nghị định mới quy định mới về tiền lương như thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH, hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định 114/2002 của chính phủ về tiền lương đối với lao động làm việc trong

    38

    doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp; Thông tư số 04/2003/TT-BLĐTBXH, hướng dẫn thực hiện điều chỉnh lương và phụ cấp ; hay nghị định số 03/2003/ NĐ- CP về việc điều chỉnh tiền lương, trợ cấp và đổi mới một bước cơ chế tiền lương hay những quy định thông báo của Công ty về mức lương, thưởng … Hiện nay Công ty đã xây dựng được thang lương cấp bậc hợp lý, phù hợp với mức tăng trong đời sống sinh hoạt, bước đầu đảm bảo cuộc sống của cán bộ công nhân viên.

    Ngoài mức lương cấp bậc được hưởng theo quy định, các cán bộ công nhân viên Công ty còn được hưởng hệ số lương riêng của Công ty dựa trên cấp bậc chức vụ công việc đang làm và định mức công việc được giao. Đó là:

    • Phụ cấp trách nhiệm với cán bộ.
    • Phụ cấp ăn ca, công trình, nhà ở, phụ cấp chung.
    • Phụ cấp khác tính trên số BHXH, BHYT trả thay lương.

    Ngoài ra còn có tiền thưởng theo xếp loại nhân viên hay tiến độ sản xuất của các tổ đội.

    Do tình hình thực tế sản xuất nên Công ty sử dụng chế độ lương khoán sản phẩm, khoán chất lượng nhằm gắn liền nhiệm vụ của người lao động với sản phẩm cuối cùng của đơn vị trên cơ sở quỹ lương được duyệt, việc phân phối tiền lương cho người lao động được áp dụng dưới hình thức khoán gọn công trình cho đơn vị đối với công việc có định mức kỹ thuật. Công nhân viên hỗ trợ sản xuất, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, cán bộ lãnh đạo, quản lý được thực hiện chế độ lương khoán được hưởng đầy đủ các khoản đãi ngộ khác theo chế độ hiện hành.

    Ngoài ra hàng năm căn cứ tình hình thực tế của Công ty, căn cứ năng lực trách nhiệm của cán bộ công nhân. Công ty tiến hành chế độ nâng bậc lương và mức lương cấp bậc cho cán bộ công nhân viên.

    2.2.3. Các hình thức trả lương cho cán bộ công nhân viên ở Công ty.

    Công ty thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo điều 7 nghị định số 114/2002/NĐ- CP ngày 31/12/2003 quy định cụ thể các hình thức trả lương. Căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất và tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp, Công ty đã lựa chọn các hình thức trả lương phù hợp nhất, gắn với yêu cầu và quản lý lao động cụ thể nhằm khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề, năng suất lao động và hiệu quả công tác.Đó là các hình thức sau:

    • Hình thức tiền lương thoe thời gian( theo tháng) áp dụng cho khối văn phòng, những người làm công tác quản lý, chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ.

    39

    • Hình thức tiền lương khoán: Do đặc điểm sản xuất nên tiền lương của công nhân chủ yếu là lương khoán. Trong Công ty lương khoán được chia làm 2 loại. + Lương khoán sản phẩm đơn thuần: áp dụng cho các tổ đội thuộc các phân xưởng đối với những sản phẩm, công trình cần được hoàn thành trong một thời gian nhất định. Công tính cho cán bộ công nhân viên là công khoán.

    + Lương khoán công trìng: Là những trường hợp đi công trình nếu tính công nhật. Thường áp dụng với những công trình có số công ít, mức độ phức tạp khó, đòi hỏi kỹ thuật cao hoặc những công việc yêu cầu sửa chữa.

    2.2.3.1. Lương khoán sản phẩm.

    Nhằm thực hiện việc trả lương theo đơn giá tiền lương sản phẩm- lương khoán có hiệu quả gắn tiền lương với năng suất, chất lượng và lợi nhuận sản xuất kinh doanh của từng đơn vị, từng bộ phận và cá nhân người lao động thuộc quyền quản lý. Công ty đã xây dựng và ban hành quy chế phân phối tiền lương của Công ty theo hướng dẫn tại công văn số 4320/ LĐTBXH- TL ngày 29/12/1998 của bộ lao động thương binh – xã hội.

    a). Quy định về đơn giá tiền lương.

    Do đặc điểm sản xuất mang tính những công trình giao khoán. Bản thân lại là một công ty ngoài quốc doanh nên quy định về đơn giá tiền lương khoán của công ty vừa mang những nét đặc trưng riêng vừa đảm bảo những quy định của nhà nước đã ban hành.

    Căn cứ vào: – Đơn giá cấp bậc.

    • Đơn giá lương tối thiểu
    • Đơn giá sản phẩm.

    Công ty đã cho ra quy định về đơn giá khoán với sản phẩm nhằm đảm bảo chất lượng của các sản phẩm và giữ uy tín của Công ty, Cụ thẻ như: 1> Đối với hàn kết cấu:

    1. Đơn giá hàn kết cấu hoàn chỉnh khung nhà tiệp: 185đ/ kg.
    1. Đơn giá hàn kết cấu hoàn chỉnh khung nhà Zamil: 210đ/kg
    1. Đơn giá hoàn chỉnh vand khuôn phẳng: 5800đ/kg

    2> Đối với dựng khung nhà kiểu Tiệp và Zamil: 210đ/kg b) Lương khoán sản phẩm.

    Các công nhân xây dựng, lắp đặt công trình xậy dựng mức lương theo:

    • Định mức công việc.
    • Đơn giá tiền lương cho từng công việc sản phẩm.

    Tiền lương = Đơn giá tiền lương công việc thực tế * Định mức

    40

    Định mức lao động ở đây do nhà nước quy định cho từng công việc, hạng mục công trình hoặc do doanh nghiệp tự dặt ra theo điều kiện thực tế theo 2 cách sau:

    • Xây dựng định mức lao động từ các thành phần kết cấu.
    • Xây dựng định mức theo số lao động cần thiết.

    Hình thức lương khoán của Công ty là khoán sản phẩm tập thể cho các đội sản xuất, đội xây dựng công trình. Trong quá trình tiến hành, hàng ngày đội trưởng căn cứ vào tay nghề, cấp bậc thợ để phân công công tác để đảm bảo công tác sản xuất. Cuối ngày làm việc chấm công năng suất chất lượng cho tổ viên. Người có năng suất cao, chất lượng tốt thì được cộng thêm, người có năng suất thấp thì hưởng lương ít hơn hoặc bị trừ vào công. Mỗi tháng tổ trưởng, đội trưởng phải có trách nhiệm gửi bảng chấm công một lần lên phòng kế toán để tính lương. Cuối tháng tổng kết vào bảng chấm công để thanh toán lương.

    Cơ sỏ để lập bảng chấm lương khoán là dựa trên phiếu giao việc là nghiệm

    thu thanh toán số công thực tế.

    Tính lương cho cá nhân

    Tổng số tiền lương khoán                       Số  công thực tế  của

    của cả đội trong tháng                   *         công nhân trong tháng

    Tiền lương      =

    Tổng số công sản phẩm thực tế của cả đội trong tháng

    Tiền lương khoán sản phẩm chi trả cho cán bộ công nhân viên ở đây chính là số tiền năng suất chất lượng, người nào làm nhiều công trong tháng sẽ được hưởng nhiều tiền công và ngược lại.

    2.2.3.2. Lương thời gian.

    Đối tượng áp dụng: áp dụng cho tổ văn phòng, các bộ phận phòng ban tong Công ty gồm các cán bộ công nhân viên văn phòng, lực lượng lao động gián tiếp- những người làm công tác quản lý, công tác hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của Công ty.

    Tính lương ca nhân :

    Tiền lương    =      ĐGlcb  * Côngsx          +    Ltn    +      L khác

    Lương cấp bậc

    41

    Trong đó: – ĐG lcb: đơn giá lương cơ bản =

    26

    • Công sx: Công sản xuất
    • Ltn: Lương phu cấp trách nhiệm
    • L khác: phụ cấp ăn ca, nhà ở, công trình, phụ cấp khác.
    • Phụ cấp trách nhiệm : Được tính trên mặt hàng lương tối thiểu của Công ty, hưởng phụ cấp trách nhiệm theo hệ số trách nhiệm và ngày công trực tiếp công tác.

    Cụ thể quy định hệ số phu cấp trách nhiệm tại Công ty TNHH Tân Trường Thành như sau:

    Ktn Chức danh, bộ phận
       
    0,3 Giám đốc, P giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng KT
       
    0,25 Trưởng phòng, chủ tịch công đoàn
    0,2 Phó phòng, phó chủ tịch công đoàn
       
    0,15 Quản đốc, tổ trưởng
       
    0,1 Đội trưởng, tổ phó
       
    • Phụ cấp các loại:
    • Phụ cấp một số tiền cho tất cả cán bộ công nhân viên trong Công ty
    • Đối với công nhân trực tiếp sản xuất và cán bộ từ quản đốc phân xưởng trở lên được trợ cấp 5000đ/ ngày công.
    • Đối với công nhân viên văn phòng, bảo vệ, nhà bếp, VSCN được trợ cấp 4000đ/ngày công.
    • Phụ cấp cho những người lao động ở tỉnh xa đi thuê trọ hoặc những người đi làm xa từ 20km trở lên số tiền 50 000đ/ tháng.
    • Đối với những trường hợp đi công trình nếu tính công nhật quy định phụ cấp
    • Đối với công nhân: Phụ cấp 15 000đ/ ngày.
    • Đối với cán bộ : Phụ cấp 20 000đ/ ngày.
    • Phụ cấp khác: Chính là khoản BHXH, BHYT doanh nghiệp tính vào chi phí sản xuất.

    Đây là khoản BHXH trả thay lương. Sở dĩ đây là một khoản phụ cấp vì trong doanh nghiệp nhiều cán bộ công nhân viên không tham gia đóng BHXH, BHYT như quy định của nhà nước. Cuối tháng đây không phải là một khoản khấu trừ mà là khoản thêm vào tiền lương và thu nhập. Hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích với tỷ lệ khác nhau đối với CBCNV. BHXH được tính theo lương

    42

    cấp bậc từ 15%- 23% tuỳ theo từng người, theo từng thời gian tham gia BHXH

    mà Công ty có thể động viên cho CNV lao động. 15% đối với người lao động

    theo quy định của Công ty từ 35 tuổi trở lên và những cán bộ nghỉ hưu về làm

    thêm tại Công ty, những người chờ việc của các Công ty nhà nước không có việc

    làm; 17% là áp dụng cho người lao động tham gia BHXH từ năm 2002; 23% cho

    những người tham gia trước năm 2002.

    – Trả lương cho các trường hợp khác:

    • Trong trường hợp phải ngừng việc do khách quan như mất điện, máy hỏng người lao động được trả 50% lương ( Phải có biên bản và xác nhân của phòng kỹ thuật, có giám đốc duyệt mới được thanh toán lương).
    • Người lao động làm đủ ngày công, đủ định mức nhưng do bản thân tự nguyện làm thêm giờ thì số giờ làm thêm đó được tính như ngày đi làm bình thường có hưởng hệ số của Công t y ( 150% DG lương)
    • Ngoài ra Công ty còn áp dụng hình thức khen thưởng.
    • Thưởng tiến độ với những tổ đội hoàn thành công trình, sản phẩm đúng tiến độ được giao mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt( kể cả trường hợp giao khoán) thì tuỳ thuộc mức độ công trình sẽ được thưởng từ 100.000đ đến 500000đồng.
    • Hàng tháng căn cứ vào số ngày công thực tế, căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng công việc và ý thức chấp hành nội quy làm việc của Công ty. Phòng tổ chức hành chính phân loại công nhân ra các loại A, B, C. Mức thưởng cụ thể sẽ được Ban giám đốc quyết định sau mỗi tháng tuỳ thuộc vào kết quả SXKD của từng tháng.

    Như từ 01/01/ 2005 đến 30/07/ 2005 Công ty áp dụng tiền thưởng tháng như sau:

    • Loại A: Thưởng 15%*LCB
    • Loại B: Thưởng 10%*LCB
    • Loại C: Thưởng 5%* LCB

    Ngoài ra có mức thưởng với cá nhân, tập thể nếu hoàn thành đầy đủ các công việc trong giờ quy định hay làm thêm và có ý thức chấp hành tốt

    2.2.4. Tổ chức chứng từ hạch toán ban đầu:

    Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vị, kế toán đều phải lập và phản ánh vào chứng từ kế toán. Hạch toán lao động bao gồm việc hạch toán tình hình sử dụng số lượng lao động, hạch toán kết quả lao động. Tổ chức tốt hạch toán lao động giúp cho doanh nghiệp có những tài

    43

    liệu đúng đắn, chính xác để kiểm tra chấp hành kỹ luật lao động- các hạch toán này đều được lập chứng từ đầy đủ. Tuy nhiên các chứng từ ban đầu về lao động là cơ sở để chi trả lương và các khoản phu cấp, trợ cấp cho người lao động đúng chế độ nhà nước đã ban hành cũng như những quy định của doanh nghiệp đã đề ra. Đây là khâu hạch toán ban đầu đối với các nghiệp vụ tính lương. Là cơ sở pháp lý để tiến hành hạch toán tiền lương cho công nhân viên. Chứng từ chủ yếu bao gồm: Bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, phiếu báo làm thêm giờ, hợp đồng giao khoán, phiếu nghỉ hưởng BHXH, biên bản điều tra tai nan lao động…

    • Về bản chấm công: Thời gian lao động của công nhân viên có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để phản ánh kịp thời, chính xác tình hình sử dụng thời gian lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, kế toán sử dụng bảng chấm công.

    Bảng chấm công được lập hàng tháng cho từng tổ, ban, phòng, nhóm và do người phụ trách căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình dể chấm công cho từng người trong ngày theo các ký hiệu. Cuối tháng người chấm công và phụ trách bộ phận ký vào và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan về bộ phận kế toán kiểm tra đối chiếu quy ra công để tính lương và BHXH.

    Bảng chấm công được ghi theo quy định và lập thành 2 bản:

    • Một bản được chuyển lên bộ phận kế toán Công ty để tính lương cho công nhân theo số lượng ngày công.
    • Một bản được để tại phân xưởng, tổ đội để kiểm tra giám sát việc trả lương.

    44

    Biểu số 1

    Công ty TNHH Tân Trương Thành

    Bảng chấm công

    Tháng 07 năm 2005

    Phân xưởng cơ khí

                            Quy ra công    
          Lương       Ngày trong tháng   Số công Số công   số công  
    Stt Họ và tên     Hệ số     hưởng hưởng   nghỉ việc Ký hiệu chấm công
      cấp bậc              
                        lương lương   hưởng theo  
                             
                          khoán thơi gian   chế độ  
                                   
    A B   C   D 1 2 30 31 32 33   34 35
    1 Hoàng Minh Anh   950   1,92           12 15,5     Lương sp: K
    2 Nguyễn Văn Dũng   700   1,72           1 18,5     Lương Tg: +
    3 Nguyễn Thế Đăng   750   1,72           13 7,0     Điều dưỡng: ô
    4 Mai Văn Lâm   750   1,72           3.5 9,5     Con ốm: Cô
    5 Nghiêm Đức Trung   700   1,52           2 19,5     Thai sản: TS
    6 Hoàng Văn Mạnh   800   1,72           5,5 20     Nghỉ phép: P
    7 Lê Tiến Hồng   750   1,72           13 12,5     Hội nghị: H
    8 Nguyễn Văn Quyết   500   1,52           14 11     Nghỉ bù: NB
    9 Nguyễn Mạnh Hà   700   1,72           4 11,5     Tai nạn: T
    10 Mẫn Văn Oanh   700   1,72           9 13,5     Ngừng việc: L
                                   
      Ghi Chú                            
      Người lập biểu               Kế toán trưởng  
        ( Ký tên)               ( Ký tên)  

    46

    Biểu số 2

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Bộ phận: Văn phòng

    Phiếu nghỉ hưởng BHXH

      Họ và tên: Nguyễn Thị Mai Tuổi: 26    
                   
          Số ngày cho nghỉ   Số
    Tên cơ Ngày tháng Tổng     Đến Bác sỹ ngày
    quan Y tế do Từ ngày ký tên thực
          số     ngày   nghỉ
                   
                   
    Bệnh viện 12/03/2005 Thai 123 12/03/05 12/07/05   123
    Thanh   sản            
    Nhàn  Hà                
    Nội                
                     

    Để xác nhận số ngày nghỉ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…. của người

    lao động. Công ty sử dụng phiếu nghỉ hưởng BHXH, đây là căn cứ tính trợ cấp BHXH trả thay lương theo chế độ quy định. Cuối tháng phiếu này kèm theo Bảng chấm công chuyển về phòng kế toán tính BHXH, phiếu này đính kèm “ phiếu thanh toán BHXH” và lưu lại phòng kế toán.

    47

    Biểu số 3

    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    =========****=========

    phiếu thanh toán trợ cấp BHXH

    ( Thanh toán thai sản)

    Họ và tên: Nguyễn Thị Mai                                                            Tuổi: 26

    Nghề nghiệp, chức vụ: Nhân viên kế toán

    Đơi vị công tác: Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Thời gian đóng phí BHXH: 3 năm                                                  Sinh con lần đầu

    Tiền lương đóng BHXH của tháng trước khi nghỉ: 1.78

    Số ngày được nghỉ: 123 ngày                              Từ ngày12/03/05 đến ngày12/07/05

    -Tiền lương: 516 200*4             =                  2 064 000 đồng

    – Trợ cấp một lần khi sinh:                               516 000 đồng

    Cộng:                                                                              2 518 000 đồng

    Ghi bằng chữ: Hai triệu năm trăm mười tám nghìn đồng chẵn

    Ghi chú:

    Phụ trách BHXH đơn vị

    Giám đốc Công ty

     

    48

    2.2.5. Kế toán chi tiết tiền lương.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành là một đơn vị hạch toán độc lập, sản phẩm chủ yếu của Công ty là những thiết bị cơ khí, xây dựng kết cấu được nghiệm thu và đi vào ứng dụng trong sản xuất và sinh hoạt. Lao động có tính chất đặc biệt của ngành đó là sự kết hợp lao động trí óc và hoạt động chân tay. Việc tính lương trong Công ty được tiến hành hàng tháng trên cơ sở các chứng từ hạch toán lao động và các chính sách, chế độ về lao động tiền lương mà nhà nước đã ban hành, các chế độ khác thuộc quy định của doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Công việc tính lương được giao cho các nhân viên thống kê hạch toán ở các phân xưởng tiến hành, được tổng hợp ở phòng tổ chức hành chính và phòng kế toán kiểm tra lại trước khi thanh toán..

    2.2.5.1. Lương khoán sản phẩm tập thể.

    Là hình thức áp dụng trong việc trả lương cho hầu hết lao động trực tiếp của Công ty. Công việc giao khoán thường cho từng tổ đội ở các phân xưởng. Kế toán có trách nhiệm tính lương phải trả cho từng việc khoán và hướng dẫn chia lương cho từng thành viên trong tổ đội theo những phương pháp chia nhất định nhưng luôn đảm bảo hợp lý. Đồng thời khi thực hiện cách tính lương theo tiền lương khoán Công ty luôn chú ý kiểm tra tiến độ và chất lượng công việc khi hoàn thành nghiệm thu nhất là các công trình lắp đặt và xây dựng vì có những phần công việc khuất khi nghiệm thu khối lượng công trình sẽ khó phát hiện.

    Chứng từ xác định tiền lương cho công nhân viên theo lương khoán là dựa trên bảng chấm công, phiếu giao việc, khối lượng công việc hoàn thành nghiệm thu và thanh toán.

    49

    Biểu số 4

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    phiếu giao việc khối lượng công việc hoàn thành, nghiệm thu và thanh toán

    Tổ hàn 1- phân xưởng cơ khí

    Tháng 07/2005

    Stt Hạng mục công việc Đơn vị Khối Đơn Thành tiền  
        tính lượng giá    
                 
    1 Hàn kết cấu dầm gia tải m2 51675 150 7 752 000  
    2 Hàn kết cấu dầm cẩu m2 6715 165 1 108 000  
    3 Hàm dầm cẩu trục nhà 5D m2 4762 153 729 000  
    4 Giằng, ray, dầm cẩu trục kg 3623 70 254 000  
                 
    5 Hàn kết cấu giằng dầu cột m2 850 70 60 000  
      nhà          
                 
      Tổng cộng       9 903 000  
                 
      Ghi chú          
                 
      Căn cứ vào số công của từng công nhân, căn cứ theo cấp bậc và căn cứ vào

    chất lượng khả năng công việc của từng người mà tiến hành chia lương khoán.

    50

    Biểu số 5

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Bảng chia lương khoán

    Tổ hàn 1- phân xưởng Cơ khí

    Stt Họ và tên Chức vụ Lương ăn trưa Thực lĩnh
          khoán    
               
    A B C 1 2 3= 1-2
               
    1 Nguyễn Bá Anh Tổ trưởng 2 210 000   2 210 000
               
    2 Hoàng Văn Tùng Tổ phó 1 780 000   1 780 000
               
      Phạm Văn Tiến CN 946 000   946 000
               
    4 Phạm Minh Tuấn CN 610 000   610 000
    5 Nguyễn Thế Hùng CN 720 000   720 000
               
    6 Nguyễn Văn Cảnh CN 760 000   760 000
               
    7 Hoàng Anh Đức CN 561 000   561 000
               
    8 Nguyễn Văn Vĩnh CN 760 000   760 000
               
    9 Phạm Văn Oánh CN 610 000   610 000
    10 Nguyễn Văn Hạnh CN 946 000   946 000
               
      Tổng cộng   9 903 000   9 903 000
               

    Số công của công nhân được xác định qua bảng chấm công là chứng từ theo dõi thời gian làm việc của mỗi công nhân. Đây là cơ sở lập bảng công tháng cho từng tổ đội.

    2.2.5.2. Trả lương thời gian.

    Đối với nhân viên quản lý, hỗ trợ sản xuất như nhân viên kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, các cán bộ lãnh đạo Công ty được trả lương theo thời gian và được trả dưới nhiều dạng phụ cấp ở những bộ phận này hàng tháng mỗi phòng có một bảng chấm công riêng, trưởng phòng, phó phòng, tổ trưởng có nhiệm vụ chấm công, theo dõi thời gian làm việc của công nhân trong phòng để lập bảng

    51

    chấm công và nộp chứng từ có liên quan cho trưởng phòng tổ chức xem xét và ký duyệt.Sau khi ký duyệt trưởng phòng tổ chức chuyển bảng chấm công và các giấy tờ khác về phòng kế toán để lập bảng tính lương, trả lương cho từng phòng.

    52

    Biểu số 6

    Đơn vị : Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Bảng chấm công

    tháng 07 năm 2005

    Bộ phận văn phòng

                    Quy ra công    
        Lương cấp   Ngày trong tháng số công Số công Số công  
      Họ và tên Hệ số hưởng nghỉ việc Ký hiệu chấm công
      bậc       hưởng lương
                lương hưởng theo  
                  khoán thời gian chế độ  
                     
                         
    A B C D 1 31 32 33 34 35
    1 Mai Văn Anh 2050 4,6         27   Lương sp:K
    2 Hoàng Văn Tài 1600 3,94       4ct 28   Lương tg; +
    3 Nguyễn Tú 1600 3,94         26.5   Điều dưỡng:ô
    4 Hoàng Thị Tú 1600 3,94         27,5   Con ốm: Cô
    5 Mai Thị Tuyết 1050 1,52         27   Thai sản:ts
    6 Phạm Văn Ba 850 1,35         29   Nghỉ phép: P
    7 Nguyễn Hùng 1000 1,78         28.5   Hội nghị: H
    8 Đỗ Xuân Lâm 900 1,7         27   Nghỉ bù: NB
    9 Dương Văn Cái 1550 2,98         28   Tai nạn: T
    10 Bùi Đức Huy 1600 3,94       4ct 29,5   Ngừng việc:L
                         

    53

    Nhìn vào Bảng chấm công tháng 07 năm 2005 của tổ văn phòng ta thấy:

    • Hoàng Văn Tài- Phó giám đốc Công ty phụ trách về kỹ thuật.
      Lương cấp bậc  
    Lương thời gian  =   *  Ngày công làm việc thực  
    26
    1 600 000    
         
    • —————- * 28 = 1 723 000 đồng 26
    • Là phó giám đốc nên hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm là 0,3 Phụ cấp trách nhiệm = Hệ số trách nhiệm * Lương thời gian
      • 3 * 1 723 000 = 517 000 đồng
    • Ngoài ra còn có phụ cấp lương công trình với quy định phụ cấp công trình cho cán bộ là 15 000 đồng/ ngày công.
      • 4* 15 000 = 60 000 đồng
    • Phụ cấp khác

    Chính là khoản BHXH trả thay lương của Công ty đối với cán bộ, tuỳ mức độ mà cồn ty tiến hành phụ cấp với số % cho phù hợp như 15%, 17%, 19% và 23%.

    Theo quy định Phó giám đốc tỷ lệ được hưởng BHXH phụ cấp 15% Phụ cấp khác = 290 000 * Hệ số lương * Hệ số phụ cấp

    = 290 000 * 3.94 * 15% = 171 000 đồng

    Tổng lương = Lương thời gian + phụ cấp TN + phụ cấp ăn ca,.. + phụ cấp khác.

    • 1 723 000 + 517 000 + 60 000 + 171 000
    • 2 471 000 đồng

    Không có khoản khấu trừ nào nên tổng lương bằng thực lĩnh +) Phạm Văn Ba- Nhân viên phòng Marketing

    850 000

    Lương thời gian = —————– * 29 = 948 000 đồng 26

    Phụ cấp khác: do tham gia BHXH nên được hưởng 23 % = 290 000* 23% * 1,35 = 90 000 đồng

    Tổng lương = 948 000 + 90 000 = 1 038 000 đồng Các khoản khấu trừ BHXH phải nộp = 23%* LCB* HSL

    = 23%* 290 000*1.35 = 90 000đồng

    54

    Thực lĩnh = Tổng lương – các khoản khấu trừ = 1 038 000 – 90 000 = 948 000 đ

    55

    Biểu số 7

    CTy TNHH Tân Trường Thành

        BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG THÁNG 7 NĂM 2005      
    Tổ : Văn phòng         Đơn vị tính: 1000Đ          
                               
          Cấp Công, Lương t.g Tiền PC PC   BHXH Thực  
    STT Họ và tên Hệ số bậc       ăn ca, Cộng Ký nhận
    ca CT Công   tiền PCTN khác phải nộp lĩnh
          lương           nhà ở          
    1 Mai Văn Anh 4,6 2050   27   2129 639   200 2968   2968  
    2 Hoàng Văn Tài 3,94 1600 4ct 28   1723 517 60 171 2471   2471  
    3 Nguyễn Tú 3,94 1600   26,5   1631 489   171 2291   2291  
    4 Hoàng Thị Tú 3,94 1600   27,5   1692 508   171 2371   2371  
    5 Mai Thị Tuyết 1,52 1050   27   1090     66 1156   1156  
    6 Phạm Văn Ba 1,35 850   29   948     59 1007   1007  
    7 Nguyễn Hùng 1,78 1000   28,5   1096     119 1215 119 1096  
    8 Đỗ Xuân Lâm 1,7 900   27   935     113 1048 113 935  
    9 Dương Văn Cái 2,98 1550   28   1669 417   130 2216   2216  
    10 Bùi Đức Huy 3,94 1600 4ct 29,5   1815 545 60 171 2591   2591  
                  14235 2967 120 1371 19334 232 19102  

    56

    Biểu số 8

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Bảng thanh toán tiền thêm giờ và bổ sung lương

    tổ: Văn phòng       (đơn vị: 1000đ)
                   
    Stt Họ và tên Lươn Tiền thêm giờ Xếp loại
        g cấp Giờ Tiền Loại Tiền nhận
        bậc          
                   
    1 Mai Văn Anh 2050     A 320  
    2 Hoàng Văn Tài 1600     A 259  
    3 Nguyễn Tú 1600 4,0 45 A 245  
    4 Hoàng Thị Tú 1600 6,5 73 A 254  
    5 Phạm Thái Hà 900 7,5 49 B 135  
    6 Nguyễn Văn Thái 1150 6,0 50 B 122  
    7 Nguyễn Văn Tuệ 400     KXL    
    8 Hoàng Minh Ngọc 1380 1,5 15 A 203  
            132   1403  

    2.2.5.3. Chi trả lương cho cán bộ công ty.

    Công ty thanh toán cho CBCNV hàng tháng làm một kỳ không có kỳ tạm

    ứng.

    Thanh toán lương tháng này vào ngày 05 đến 10 tháng sau.

    Trong tháng tuỳ theo tình hình của công nhân viên có thể được tạm ứng lương theo yêu cầu.

    Lương tạm ứng được quy định bằng 1/3 lương cấp bậc và căn cứ vào bản thân người lao động và số công của công nhân đạt được khi yêu cầu tạm ứng. Căn cứ vào số tiền thanh toán tạm ứng kế toán lạp phiếu chi, các bản thanh toán tạm ứng để thủ quỹ tiến hành chi.

    58

    Biểu số 09

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Giấy đề nghị tạm ứng

    Ngày 18 tháng 07 năm 2005

    Kính gửi: Giám đốc Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Tên tôi là: Đỗ Xuân Lâm

    Địa chỉ : Phòng kĩ thuật

    Đề nghị cho tạm ứng số tiền: 400 000đ

    Viết bằng chữ: Bốn trăm nghìn đồng chẵn

    Lý do tạm ứng: Con ốm

    Thời gian thanh toán: 06/08/2005

     

    Giám đốc Công ty ( ký tên , đóng dấu)

    Kế

    ( ký

    toán

    tên )

    Người đề nghị tạm ứng

    ( ký tên)

     

    Căn cứ vào giấy đề nghị tạm ứng kế toán lập phiếu chi để thanh toán tạm ứng cho công nhân viên.

    59

    Biểu số 10

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    277- Đường Đê La Thành – Hà Nội

    PHIẾU CHI

    Quyển số:

    số

    Ngày18 tháng 07 năm 2005

    Họ tên người nhận tiền: ĐỖ XUÂN LÂM

    Địa chỉ: Phòng kĩ thuật

    Lý do chi : Tạm ứng lương

    Số tiền: 400 000đồng

    Viết bằng chữ: Bốn trăm nghìn đồng chẵn

    Kèm theo: 01 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: ( viết bằng chữ) Bốn trăm nghìn đồng chẵn

    Ngày 18 tháng 07 năm 2005

    Giám đốc             KT trưởng       Người lập             Thủ quỹ                Người nhận

    phiếu                                                              tiền

    Cuối tháng căn cứ bảng lương tháng của từng đội, từng bộ phận phòng kế toán tiến hành tổng hợp thanh toán tiền lương, kế toán tiền lương sẽ tổng hợp cho từng bộ phận, sau khi được sự đồng ý của kế toán trưởng, ban giám đốc, sẽ chuyển bảng tổng hợp lương cho kế toán thanh toán để lập chi .

    số tiền             =         Tổng số tiền                 Số tiền                                Số tiền các

    thực lĩnh                    lương phải                       CBCNV đã                      khoản phải trừ

    trả                                           tạm ứng                               vào lương

    2.2.6. Kế toán tổng hợp tiền lương.

    Việc tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở các tổ đội, phân xưởng và phòng kế toán mới chỉ phản ánh theo dõi một cách chi tiết, tỷ mỉ theo công tác quản lý, chưa phản ánh tổng quát tình hình hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

    60

    Muốn thực hiện được điều này, kế toán cần sử dụng các tài khoản kế toán, sổ kế toán tổng hợp để phản ánh, kiểm tra, giám sát tình hình kế toán tiền lương và đòi hỏi kế toán phải theo dõi một cách thường xuyên, liên tục hàng tuần, hàng tháng.

    Công ty sử dụng các tài khoản sau:

    • TK 334 “ phải trả công nhân viên” Tài khoản này dùng để phản ánh tiền lương và các khoản thanh toán trợ cấp BHXH, tiền thưởng… Thanh toán khác có liên quan đến thu nhập của cán bộ công nhân viên.
    • TK338 “ Phải trả, phải nộp khác” Tài khoản này dùng để phản ánh các

    khoản phải trả, phải nộp cho cơ quan pháp luật, cho các tổ chức đoàn thể xã hội, cho cấp trên về KPCĐ, BHXH, BHYT và các khoản trừ vào lương.

    • Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tai khoản như:
    • TK 335” Chi phí phải trả”
    • TK 622 “ Chi phí nhân công trực tiếp”
    • TK 623 “ Chi phí nhân công vận hành máy”
    • TK627 “ Chi phí sản xuất chung”
    • TK 642 “ Chi phí quản lý Doanh nghiệp”
    • TK 111, 112…..

    Để thấy rõ hơn ta có thể khái quất qua sơ đồ hạch toán sau:

    61

    SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN

    TK112   TK111   TK334 TK622,623
                       
      Rút TGNH về qũy Chi trả lương,tạm  Tiền lương phải trả  
      TM để trả lương ứng cho CBCNNV cho CNLĐ  
                       
                       
                       
    TK338   TK627
          Tiền lương phải trả      
      BHXH, BHYT cho    
      KPCĐ trừ vào bộ phận gián tiếp    
        lương        
          TK642  
           
          Tiền lương trả cho bộ  
          phận quản lý  
                 

    TK431

    Trả thưởng cho

    CBCNV

    Hàng tháng kế toán tiền lương và các khoản trích phải tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tương sử dụng và tính BHXH, BHYT, KPCĐ hàng tháng tính vào chi phí kinh doanh theo mức lương quy định của chế độ và của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp chỉ có một bộ phận cán bộ công nhân viên tham gia đóng BHXH, BHYT nên doanh nghiệp vẫn sử dụng bảng phân bổ tiền lương và BHXH để phân bổ chi phí và lập các bảng tổng hợp thanh toán lương phải trả, bảng thanh toán BHXH, bảng tổng hợp lương trên phạm vi toàn Công ty, su đó sẽ chuyển cho các bộ phận kế toán làm căn cứ ghi sổ và đối chiếu.

    62

    Sau khi lập định khoản kế toán tiến hành phản ánh trên các sổ kế toán: Chứng từ ghi sổ, sổ cái, sổ chi tiết các tài khoản, Bảng thanh toán tiền lương toàn công ty, bản thanh toán BHXH.

    Biểu số 11

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    Chứng từ ghi số

    tháng 07 năm 2005

    Số : 20

    Chứng từ Trích Số hiệu TK Số tiền
    Số Ngày yếu Nợ Nợ
    20 31/07 Tiền 622   120 365 000  
        lương 623   10 940 000  
        phải trả        
        627   8 006 000  
        CNV        
        642   40 145 000  
        tháng        
          334   179 456 000
        07/2005        
               
                 
        Cộng     179 456 000 179 456 000
        Ghi chú        
    Kèm theo : ……….Chứng từ gốc      
    Người lập       Kế toán trưởng

     

    63

    Biểu số 12

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Tháng 07 năm 2005

    Số: 24

    Chứng từ Trích Yếu Số hiệu TK Số tiền  
    Số Ngày   Nợ Nợ
    1/24 31/07/05 Chi TM trả 334 111 153 542 000 153 542 000
        lương T06        
                 
    2/24 31/07/05 BHXH phải 334 338 7 705 000 7 705 000
        nộp        
                 
    3/24 31/07/05 Chi CK 334 112 6 000 000 6 000 000
        CNV        
                 
        Cộng     167 247 000 167 247 000
        Ghi Chú        
    Kèm theo: Chứng từ : Gốc        
    Người lập       Kế toán trướng

    * Cuối tháng căn cứ lập định khoản:

    Nợ TK 622 120 365 000
    Nợ TK 623 10 940 000
    Nợ TK 627 8 006 000
    Nợ TK 642 40 145 000
    Có TK 334 179 456 000
    Thanh toán lương
    Nợ TK 334 167 247 000
    Có TK 111 153 542 000
    Có TK 338 7 705 000
    Có TK 112 6 000 000

    64

    Biểu số 13: Sổ cái tài khoản 334

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN 334

    Tên TK : Phải trả công nhân viên

    Tháng 07 năm 2005

    NT CT ghi   TK đối ứng Số tiền
    GS   sổ Diễn giải
             
                     
      Số   NT   Nợ Nợ
                     
            Dư đầu tháng       260 604 000
            Số phát sinh        
                     
      20   31/7 Tiền lương CNV 622 334   120 365 000
            tháng 06        
                     
              623 334   10 940 000
                     
              627 334   8 006 000
                     
              642     40 145 000
                     
      24   31/7 Trả lương CNV 334 111 153 542 000  
                     
              334 338 7 705 000  
              334 112 6 000 000  
                     
            Cộng số PS     167 247 000 179 456 000
                     
            Dư cuối tháng       272 813 000
                   
    Kế toán trưởng       Kế toán lập biểu
    ( ký tên)           ( ký tên )

    65

    Biểu số 14

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    SỔ CHI TIẾT TK 334

    Tên TK : phải trả CNV

    Tháng 07 năm 2005

    Chứng từ Diễn giải TK Số phát sinh Số dư cuối
          ĐƯ        
    Số ngày   Nợ Nợ
                   
        Dư đầu tháng     260 604 000    
        Số phát sinh          
                   
    480 06/7 chi tiền làm ngoài 112     6 000 000  
        giờ t06          
                   
    490 10/06 Chi tiền lương t06 111     153 542 000  
        BHXH 338     7 705 000  
                   
    20   phân bổ lương t7          
                   
        CNTTSX 622       98 699 300
        CN vân hành máy 623       7 876 800
                   
        Nhân viên quản lý 642       40 145 000
    20 16/7 PB lương ct Việt hàn          
                   
        CNTTSX 622       14 443 800
                   
        CN vận hành máy 623       1 641 000
        Lương gián tiếp 627       5 067 300
    20 24/7 PB lương CT Việt          
        Nhật          
                   
        CNTTSX 622       7 221 900
                   
        CN vận hành máy 623       1 422 200
        Lương gián tiếp 627       2 938 700
        Cộng phát sinh       167 247 000 179 456 000
                   
        Số dư cuối tháng         272 813 000
    Kế toán trưởng       Kế toán lập biểu
      ( ký tên)       ( ký tên )

    66

    2.2.7 Tổ chức kế toán BHXH , BHYT , KPCĐ

    2.2.7.1 Đặc điểm , phương thức của các khoản trích

    Tiền lương là một bộ phận của sản phẩm Xã hội,là nguồn khởi đầu của quá trình tái sản suất tạo ra sản phẩm hàng hoá.Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm:BHXH,BHYT,KPCĐ.Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động .

    Do tình hình lao động của công ty và tình hình quản lý chung ở công ty có rất nhiều điểm khác biệt.Mặc dù số lao động làm việc trong công ty đều ở độ tuổi lao động và theo đúng quy định phải tham gia đầy đủ chính sách BHXH,BHYT của chính phủ và bộ tài chính. Nhưng do là một công ty TNHH, thời gian thành lập chưa lâu, lao động phần lớn là lao động phổ thông ký kết hợp đồng chủ yếu trong một thời gian, khối lượng công việc chủ yếu chưa ổn định và lâu dài. Do vậy chỉ có một bộ phận công nhân viên tham gia đóng BHXH,BHYTo quy định để được hưởng những chính sách trợ cấp khi ốm đau, thai sản, hưu trí và tử tuất.

    Căn cứ vào tình hình thực tế đó, hàng tháng kế toán tiến hành trích khoản BHXH,BHYT trên những công nhân tham gia là 23%

    trong đó: -17% tính vào chi phí

    +15% BHXH

    +2% BHYT

    -6% Trừ vào lương

    +5%BHXH

    +1% BHYT

    Với kinh phí công đoàn, trích 2% trên tổng quỹ lương với tất cả công nhân viên trong công ty. Trong đó nộp cho cấp trên là 0,8%;

    để lại doanh nghiệp hoạt động là 1,2%. hàng tháng công đoàn công ty tiến hành thu đoàn phí trên 1% lương cơ bản trong đóư nộp cho cấp trên là 0,3%; để lại doanh nghiệp hoạt động là 0,7%.

    Tính tiền lương cơ bản(lương cấp bậc) của CBCNV tham gia BHXH, BHYT trong công ty. Cuối tháng căn cứ mức cần thiết phải nộp, kế toán tiền lương và BHXH tiến hành thủ tục đem nộp cho BHXH của cấp quản lý bằng tiền mặt, uỷ nhiệm chi.

    67

    *TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CÁC KHOẢN BHXH,BHYT NHƯ SAU

    TK111,112                                             TK338                                                                 TK622,623

    Trích BHXH,BHYT

    Khi nộp, chi BHXH,BHYT   TK 627
      Trích BHXH,BHYT vào chi phí  
           

    TK 642

    Trích KPCĐ tính vào chi phí

    TK334

    BHXH trừ vào lương

    68

    Biểu số 15

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Tháng 07 năm 2004

    Số 25B

    Chứng từ Trích yếu Số hiệu Số tiền
    Số Ngày   Nợ Nợ
    1/ 25B 31/7/05 Trích 2% KPCĐ 642 338 3 613 528 3 613 528
        trên quỹ lương        
                 
    2/25B 31/7/05 BHXH trả tiền 112 338 1 795 000 1 795 000
        BHXH quý 1+2/05        
                 
    3/25B 31/7/05 Trích BHXH tháng 334 338 8 972 800 8 972 800
        07/05        
                 
        Cộng        
                 
        Ghi chú     14 381 328 14 381 328
                 

    Kèm theo: Chứng từ gôc

    Người lập                                                                                                                       Kế toán trưởng

    ( ký tên )                                                                                                                                 ( ký tên)

    69

    Biểu số 16

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    tháng 07 năm 2005

    Số 25A

    Chứng từ Trích yếu số hiệu Số tiền  
                 
    Số Ngày Nợ Nợ  
     
                   
    1/25A 31/07/05 Nộp BHXH lên cơ 338 112 2 324 248 2 324 248  
        quan cấp trên bằng          
        TGNH          
                   
    2/25A 31/07/05 Trả BHXH thay 338 111 8 128 000 8 128 000  
        lương          
                   
    3/25A 31/07/05 Thu đoàn Phí 338 111 1 203 650 1 203 650  
        T07/05          
                   
        Cộng     11 655 898 11 655 898  
                   
        Ghi Chú          
                   
    Kèm theo : Chứng từ gốc          
    Người lập       Kế toán trưởng  
    ( Ký tên)       ( Ký tên)  

    70

    Biểu số 17

    Công ty TNHH Tân Trường Thành

    SỔ CHI TIẾT TK 338

    Đối tượng BHXH, BHYT, KPCĐ

    Tháng 07 năm 2005

    Ctừ   Diển giải TK Số phát sinh Số dư cuối  
    S N   ĐƯ Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ     23.142.000    
        Số phát sinh          
        Nộp BHXH lên 112     2.324.248  
        cấp trên          
        Trả BHXH thay 111     9.331.650  
        lương + Thu ĐP          
        Trích 2% KPCĐ 642       3.613.528
        Trích BHXH T7          
        CNV LĐTT 622       6 018 050
        CNV Vận hành 623       547 000
        máy          
        CNV sản xuất 627       400 300
        CN quản lý 642       2 007 450
        BHXH trích trả 112       1.795.000
        Cộng       11 655 898 14 381 328
        Dư cuối kỳ         25 867 430
    L ập bả ng       Kế toán trưở ng
    ( Ký tên)       ( Ký tên)  

    CHƯƠNG III.

     

    71

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH TÂN TRƯỜNG THÀNH.

    3.1. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH TÂN TRƯỜNG THÀNH.

    3.1.1. Nhận xét về công tác quản lý và sử dụng lao động.

    Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, trong mỗi doanh nghiệp việc quản lý hợp lý nguồn lao động có ý nghĩa vô cùng to lớn. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa người lao động với tư liệu lao động, môi trường lao động sẽ góp phần tăng năng suất lao động mang lại hiệu quả rất lớn cho doanh nghiệp. Thấy được tầm quan trọng của công tác quản lý lao động. Công ty TNHH Tân Trường Thành đã cố gắng ngày một hoàn thiện công tác quản lý lao động sao cho hợp lý hơn.

    Bảng kê tình hình lao động của công ty TNHH Tân TrườngThành

        Thực hiện Thực hiện So sánh Tỷ lệ
      Chỉ tiêu 2003 2004 2004/2003
      ( 2004/ 2003)
        ( người) ( người) ( người)
         
             
    Tổng số lao động 159 169 tăng 10 6.29%
    1. Trên đại học        
               
    2. Đại học, cao đẳng 16 21 + 5 31,25%
               
    3. Trung cấp 33 37 + 4 12,12%
               
    4. Sơ cấp 28 31 + 3 10,71%
               
    5. CN kỹ thuật 35 37 + 2 5,71%
    LĐ phổ thông 37 43 + 6 16,21%
             
    Tổng số nam 132 142 + 10 7,57%
             
    Tổng số nữ 22 27 + 5 22,72%
             
    Hợp đồng dài hạn 136 140 + 4 2,94%
             
    Hợp đồng ngắn hạn 23 29 +6 26,1%
               

    Qua biểu phân tích ta thấy: số công nhân viên của công ty năm 2004 so với năm 2003 đã tăng lên 10 người tương ứng tăng với tỷ lệ 6,29%.

    Xét về trình độ tính chất công việc, ta thấy năm 2004 số CBCNV có trình độ đại học và cao đẳng tăng thêm 5 người tương ứng với tăng 31,25%. Số công nhân viên tốt nghiệp sơ cấp tăng 3 người ( ứng với tỷ lệ 10,71%). Công nhân học

    qua lớp công nhân kỹ thuật tăng 2 người ( 5,7%). Lực lượng lao động phổ thông tăng 6 người ( 16,21%). Với sự thay đổi này chứng tổ cơ cấu phân bố lao động của công ty đã có sự chuyển dịch đáng kể để phù hợp với nhu cầu tìm kiếm và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Năm 2004 công ty đã ký hợp đồng lao động dài hạn với 4 người tăng 2,94% điều này chứng tỏ đội ngũ công nhân viên hợ đồng làm việc trong công ty chưa lâu nhưng đã đáp ứng được nhu cầu của công việc tạo được sự tin tưởng với công ty. Hiện nay, do thị trường sức lao động đang bị dư thừa nên giá trị sức lao động cũng trở lên rả mạt, các công ty đều tận dụng cơ hội này để tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản xuất, tăng doanh thu, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên. Việc tăng thêm cá hợp đồng dài hạn và ngắn hạn là một dấu hiệu tốt báo hiệu công ty đang trên đà phát triển. Tuy nhiên đối với những người lao động không tham gia đón BHXH, BHYT, đồng nghĩa với việc họ không được hưởng những khoản trợ cấp như ốm đau, thai sản… công ty cần xem xét đến những trường hợp này để đảm bảo an toàn người lao động có như thế mới có thể an tâm làm việc và đóng góp hết khả năng lao động của mình.

    3.1.2. Tình hình tổ chức công tác kế toán tiền lương của công ty

    3.1.2.1. Ưu điểm:

    Công ty TNHH Tân Trường Thành là công ty tổ chức sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ được mở tài khoản tại ngân hàng được sử dụng con dấu riêng và chịu sự quản lý trực tiếp của UBND thành phố Hà Nội. Công ty được thành lập năm 2001 và hoạt động cho đến ay với tinh thần tự cường, chủ động sngs tạo và phấn đấu cố gắng lỗ lực của CBCNV công ty. Công ty ngày càng khẳng định vị trí của mình trong rất nhiều công trình có giá trị thực hiện trong sản xuất. Có được những kết quả đó, ban lãnh đạo cùng toàn thể CBCNV trong công ty đã nhận thức đúng đắn được quy luật vận động của nền kinh tế thị trường từ đó rút ra tiền lương là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, Việc bố trí sắp xếp lao động hợp lý tính toán và phải trả công cho người lao động một cách thoả đáng góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tiết kiệm hao phí lao động từ đó mang lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp. Do vậy việc tính toán chi trả lương ho người lao động là một yếu tố mà ban giám đốc và các phòng ban luôn luôn coi trọng.

    Trong những năm gần đây, về thu nhập bình quân của người lao động luônh tăng theo các năm, cụ thể:

    • Năm 2002 : 800 000đ/ người

    73

    • Năm 2003 : 1 200 000đ/ người
    • Năm 2004 : 1 300 000đ/ người

    Là một Công ty ngoài quốc doanh, hoạt động theo luật doanh nghiệp của nhà nước. Là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo quy mô vừa và nhỏ nên Công ty đã áp dụng hình thức kế toán tapạ trung tức là toàn Công ty chỉ có một phòng kế toán hạch toán chung, còn ở các tổ đội chỉ cử kế toán thống kê, theo dõi, giao dịch và làm việc trực tiếp ở phòng kế toán công ty dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng và ban giám đốc công ty. Về hình thức kế toán hiện nay công ty áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ rất phù hợp với tình hình thực tế của công ty. Do vậy mà kế toán có thể quản lý các chứng từ ghi sổ và kiểm tra đối chiếu với tổng số tiền mà kế toán đã ghi trên các tài khoản được chính xác, kịp thời sửa chữa sai xót và hơn thế nữa là việc tính lương cho cán bộ công nhân viên được phản ánh đúng số công làm việc thực tế của công nhân viên.

    Các chứng từ được sử dụng trong quá trình hạch toán ban đầu đều phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ kinh tế phát sinh và sơ sổ pháp lý của nghiệp vụ. Các chứng từ đều được sử dung đúng mẫu của bộ tài chính, những thông tin kinh tế về nội dung của các nghiệp vụ. Kinh tế phát sinh đều được nghi đày đủ, chính xác vào chứng từ, các chứng từ đều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, điều chỉnh và xử lý kịp thời.

    Đối với công tác hạch toán tổng hợp: Công ty áp dụng đầy đủ chế độ tài chính, kế toán của bộ tài chính ban hành để phù hợp với tình hình và đặc điểm của công ty, kế toán đã mở các tài khoản cấp 2, cấp 3 nhằm phản ánh một cách chi tiết hơn, cụ thể hơn, tình hình biến động của các tài khoản đã giúp cho kế toán thuận tiện hơn cho việc nghi chép một cách đơn giản, rõ ràng mang tính thiết thực, giảm nhẹ phần viêck kế toán, chánh sự chồng chéo, việc ghi chép kế toán.

    Công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương luôn được hoàn thành. Các chế độ về lương, thưởng, phu cấp… của nhà nước luôn được thực hiện đầy đủ và chính xác. Công việc tổ chức tính lương và thanh toán lương đã được làm tốt, với hệ thống sổ sách khá đầy đủ, hoàn thiện với việc nghi chép số liệu chung thực và khách quan theo đúng quy định của nhà nước. Hệ thốnh sổ sách chứng từ ban đàu về tiền lương ban đầu về tiền lương luôn phản ánh đầy đử số lượng và chất lượng.

    74

    Về việc tổ chức tính lương và thanh toán lương công ty luôn nhận thức được chi phí nhân công là một trong ba khoản mục chủ yếu cấu thành lên giá thành sản phẩm lên kế toán tiền lương luôn ý thức được trách nhiệm tính đúng, tính đủ kịp thời lương cho cán bộ công nhân viên. Ngoài ra công ty còn khuyến khích công nhân hoàn thành tốt công việc bằng cách tăng tiền thưởng, bồi dưỡng.

    Về quỹ lương và các khoản trích : Ngay từ đầu công ty đã xây dựng quỹ tiền lương để trả CBCNV, hàng năm căn cứ vào kết quả hoạt động của năm, của mức lợi nhuận năm trước để xây dựng mức lương cho năm nay. Công ty đều tiến hành các quỹ theo đúng quy định, các quỹ tiền thưởng lên tiền lương của CBCNV ngày càng cao. Các quỹ BHXH, BHYT vẫn được thành lập mặc dù chỉ có một bộ phận cán bộ tham gia BHXH và được trích theo đúng quy đinh. Về tổ chức công đoàn là đại diện cho tập thể CBCNV trong công ty luông đứng ra đảm bảo sự công bằng quyền lợi cho CBCNV. Nguồn quỹ KPCĐ của công ty được trích theo đúng tỷ lệ và để trả thưởng cho CBCNV hoàn thành tốt công việc của mình và thăm hỏi gia đình công nhân khi có công việc hay khi ốm đau.

    3.1.2.2. Nhược điểm.

    Bên cạnh những ưu điểm của công tác tiền lương và hạch toán các khoản trích theo lương thì trong kế toán tiền lương vẫn không tránh khỏi những sai sót do thời gian công ty đi vào hoạt động chưa lâu, do đội ngũ cán bộ còn hạn chế về mặt số lượng nên cán bộ phải đảm nhiệm những phần việc khác nhau, điều này dẫn đến tình trạng một số phần việc kế toán còn làm tắt như vậy là phản ánh chưa đúng với yêu cầu của công tác, bên cạnh đó là những hạn chế như:

    • Về quản lý lao động: Việc phân loại lao động trong công ty mặc dù đã tiến hành nhưng hiệu quả lại không cao, phân loại vẫn chưa rõ ràng, quản lý chưa chặt chẽ nhất là những CNV ở những cơ sở phụ không có sự dám sát hay khi đi công trình.
    • Về việc tính lương: Mặc dù đã áp dụng hệ thống lương cấp bận theo quy định nhưng mức lương này theo ban giám đốc quyết định nên vẫn mang tính chủ quan. Trong khi hạch toán lương công nhân làm vào các ngày nghỉ, ngày lễ vẫn hạch toán như ngày công bình thường là chưa hợp lý. Ngoài ra không trích trước tiền lương nghỉ phép cho CBCNV trong kỳ, chỉ những cá nhân tham gia BH mới được hưởng những chế độ, điều này là đúng nhưng lại chưa đảm bảo với những công nhân khác nhất là những công nhân có hoàn cảnh khó khăn.

    75

    3.2. LÝ DO PHẢI HOÀN THIỆN.

    Trong thời gian thực tập, tìm hiểu thực tế về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở công ty TNHH Tân Trường Thành em thấy: Về cơ bản công tác kế toán đã đi vào nề nếp đảm bảo tuân thủ theo đúng kế toán của nhà nước và bộ tài chính ban hành, phù hợp với điều kiện thực tế của công ty hiện nay. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty quản lý. Xác định được đúng kết quả sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ, thực hiện đúng, thực hiện đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Với tinh thần trách nhiệm và khả năng thích ứng, đảm baỏ quá trình hạch toán kịp thời nộp báo cáo đúng thời hạn quy định.

    Trên đây là những mặt tích cực mà công ty đã đạt được cần tiếp tục hoàn thiện và phát huy. Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên quá trình kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở công ty TNHH Tân Trường Thành vẫn không tránh khỏi những tồn tại, những vấn đề chưa hoàn toàn hợp lý và chưa thật tối ưu. Thời gian thực tập tuy ngắn nhưng đã giúp em tìm hiểu tình hình thực tế của công ty và mạnh dạn đưa ra một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tiên lương và các khoản trích theo lương của công ty TNHH Tân Trường Thành.

    3.3. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN.

    • Công tác tổ chức và quản lý lao động
    • Kế toán chi tiết tiền lương
    • Tin học hoá trong công tác kế toán.

    3.4. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN.

    3.4.1. Quản lý lao động .

    Tổ chức bố trí lại lao động cho phù hợp với nôi dung công việc quy trình công nghệ để tận dụng triệt để khã năng lao động và phân phối tiền lương theo hiệu quả đóng góp lao động.

    Để thuận lơi cho việc quản lý và hạch toán, công ty cần tiến hành phân loại lao động và xếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trưng riêng, áp dụng các hình thức sau:

    • Phân loại theo thời gian lao động.
    • Phân loại theo mối quan hệ với quá trĩnh sản xuất
    • Phân loại theo chức năng của lao động.

    3.4.2. Tổ chức tiền lương và các khoản trích.

    – Thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép

    • Sổ sách kế toán tiền lương
    • Sổ chi tiết TK 338 lập thành 3 sổ để theo rõi từng đối tượng trích
    • Sổ chi tiết TK 334 cũng nên tách ra đối với từng loại lao động đẻ dễ theo dõi và hạch toán.

    – Tiến hành trích tiền lương nghỉ phép để đảm bảo đời sống công nhân viên vừa tránh cho công ty những khoản phát sinh đột biến ảnh hưởng đến kế quả kinh doanh.

    3.4.3. Hệ thống tin học hóa ứng dụng trong kế toán tiền lương.

    Công ty TNHH Tân Trường Thành là một công ty kinh doanh thương mại có rất nhiều nghiệp vụ kế toán, nếu ta chỉ sử dụng phần mềm excel thì khối lượng công việc rất nhiều, đôi khi các công thức tính toán khi sao chép từ nơi này sang nơi khấc có thể lệch dòng: đưa ra báo cáo không chính xác, báơ cáo không được đưa ra kịp thời do đó cần thiết sử dụng phần mềm kế toán.

    Với phần mềm chỉ cần nhập dữ liệu đầu vào thì chương trình sẽ tự chạy các báo cáo.

    Giảm bớt khối lượng công việc khối lượng ghi chép thông tin.

    Tạo điều kiện cho việc thu nhập, sử lý cung cấp thông tin nhanh chóng. Tạo niềm tin vào báo cáo tài chính mà công ty cung cấp.

    Giảm sức lao động, giải phóng các kế toán viên khỏi việc tìm kiếm vàkiểm tra việc thông tin số liệu, tăng giảm nhằm tiết kiệm nhiều thời gian.

    Tiến hành lập sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình thời gian, sổ này vừa dùng để đăng ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ, đồng thời kiểm tra đối chiếu các số liệu với bảng cân đối phát sinh.

    Trong tình hình thực tế hiện nay xuất hiện rất nhiều phần mền kế toán chuyên dụng ứng dụng thực tiễn và đem lai hiệu quả trong hạch toán kế toán và nhất là kế toán tiền lương. Với tình hình của công ty đã có đử điều kiện để xây dựng một hệ thống quản lý nhân sự và tính lương bằng máy tính thay vì những thao tác thủ công hiện nay mặc dù đã đưa vào sử dụng nhưng lại chưa phát huy hết khả năng của máy. Hiệu quả của việc sử dụng máy tính là rất lớn, nó bao hàm đầy đủ những chức năng như: Sắp xếp, tìm kiếm, báo cáo, trợ giúp.

    3.5. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN Ý KIẾN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG.

     

    77

    Những ý kiến cũng như những phương hướng khác phục những hạn chế trong công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương mà em trình bày

    • trên sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cụ thể là:
    • Việc phân loại lao động và sếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.
    • Phân loại theo theo thời gian lao động giúp cho doanh nghiệp nắm được tổng số lao động của mình từ đó có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng và huy động khi cần thiết. Đồng thời xác định các nghĩa vụ đối với nhà nước được chính xác.
    • Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất cách phân loại này giúp công ty đánh gia được tính hợp lý của lao động từ đó có biện pháp tổ chức bố trí lao động cho phù hợp.
    • Phân loại theo chức năng lao động có tác dụng cho việc tổng hợp tập hợp chi phí lao động được kịp thời chính xác, phân định được chi phí sản phẩm và chi phí thời kì.

    Như vậy hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong những yêu cầu thiết yếu trong điều kiện kinh tế thị trườngb hiện nay. Song việc vận dụng sáng tạo sổ sách kế toán cho phù hợp với điều kiện thực tế công ty phải đảm bảo không vượt quá giới hạn cho phép của chế độ kế toán hiện hành vừa toạ điều kiện thuận lợi cho công ty, vừa đáp ứng nhu cầu thanh tra khi cần thiết của cơ quan chức năng.

    78

    KẾT LUẬN

    Để xây dựng và phát triển một nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tiền lương và các khoản trích theo lương thực sự phải làm được chức năng là đòn bẩy kinh tế, phải trở thành động lực chính thúc đẩy tăng năng suất lao động, hiệu quả công việc. Mỗi hình thức trả lương đều có ưu điểm, nhược điểm riêng tuỳ từng ngành nghề, từng doanh nghiệp chọn cho mình một hình thức phù hợp nhất đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, tổng hoà giữa các lợi ích: Nhà nước, Doanh nghiệp và Người lao động.

    Công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương đóng góp rất lớn trong quản lý lao động tiền lương. Nếu ta hạch toán đúng, đủ, chính xác sẽ là động lực thúc đẩy người lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy tính sáng tạo, góp phần hoàn thành kế hoạch được giao – là phương cách đúng đắn nhất để tăng thu nhập cho chính mình, tích luỹ cho doanh nghiệp và cho xã hội.

    Trong điều kiện hiện nay việc nâng cao chất lượng công tác trả lương theo thời gian là nhiệm vụ lâu dài của các doanh nghiệp nói chung và Công ty TNHH Tân Trường Thành nói riêng để ngày càng hoàn thiện, phù hợp với công tác quản lý và hạch toán lao động.

    Tuy nhiên trong tình hình kinh tế hiện nay, các chế độ ngân sách luôn thay đổi để phù hợp với tình hình kinh tế mới. Để thích nghi với sự thay đổi đó buộc các đơn vị, các doanh nghiệp cũng phải có những thay đổi theo để ngày càng hoàn thiện công tác quản lý và xây dựng tiền lương.

    Vì thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế đặc biệt là thời gian tiếp xúc làm việc thực tế ít nên không tránh khỏi những sai sót và những biện pháp đưa ra chưa hoàn hảo. Kính mong được sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên để bài viết hoàn thiện hơn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Cô và toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Tân Trường Thành đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập.

    79


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Lời nói đầu

     

    Nền kinh tế nước ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường là thách thức lớn với mọi thành phần kinh tế. Bởi vậy muốn tồn tại một doanh nghiệp đứng vững trong thị trường kinh doanh hiện nay tuỳ thuộc vào kết quả quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà cụ thể là các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận.

    Với doanh nghiệp vừa mang tính chất thương mại, tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình kinh doanh, nó có tính chất quyết định tới thành công hay thất bại của doanh nghiệp, giải quyết tốt khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thực sự thực hiện được chức năng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Điều đó cho thấy công tác hạch toán nói chung và công tác hạch toán xác định kết quả kinh doanh nói riêng là khâu vô cùng quan trọng không thể thiếu với mỗi doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này doanh nghiệp phải lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào có lợi nhất, các phương thức tiêu thụ để làm sao bán được nhiều mặt hàng nhất. Doanh nghiệp nên tiếp tục đầu tư hay chuyển sang hướng khác. Do vậy việc tổ chức tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh như thế nào để có thể cung cấp thông tin nhanh nhất kịp thời cho các nhà quản lý, phân tích đánh giá lựa chọn phương thức kinh doanh thích hợp nhất. Em thấy để có thể tồn tại và phát triển, các nhà doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đặc biệt là thúc đẩy công tác tiêu thụ tìm đầu ra cho sản phẩm của doanh nghiệp mình. Đây là nhiệm vụ sống còn của mỗi doanh nghiệp hiện nay, bởi vậy thông qua việc tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp mới có vốn để tiến hành tái mở rộng, tăng tốc độ lưu chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Xuất phát từ đó em đã chọn đề tài “Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng”.

    Nội dung chia làm ba phần:

    Phần I: Một số vấn đề về lý luận kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty.

    Phần III: Đánh giá thực trạng và phương pháp hoàn thiện kế kế toán bán hàng tại công ty.

    CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1. Khái niệm bán hàng

    Bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện chuyển hóa vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ và hình thành kết quả tiêu thụ.

    2. Đặc điểm của quá trình tiêu thụ hàng hóa

    Đó là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng đồng ý mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán có sự chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng. Doanh nghiệp giao hàng hóa co khách hàng và nhận được từ họ một khoản tiền hay một khoản nợ tương ứng, khoản tiền này được gọi là doanh thu tiêu thụ dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Căn cứ trên số tiền hay khoản nợ, mà khách hàng chấp nhận thanh toán dể hạch toán kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

    3. Vai trò của quá trình bán hàng

    Tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mai doanh nghiệp, nó thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung gian là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí bỏ ra mà còn thực hiện được một phần chi phí thặng dư. Phần thặng dư này chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước mở rộng quy mô kinh doanh.

    Cũng như các quá trình khác, quá trình tiêu thụ hàng hóa cũng chịu sự thay đổi và quản lý của nhà nước, của người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp đó là chủ, doanh nghiệp, các cổ đông, bạn hàng, nhà tài trợ, các cơ quan quản lý nước…Với chức năng thu thập số liệu, xủ lý và cung cấp thông tin, kế toán được coi là một trong những công cụ góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp. Cụ thể kế toán đã theo rõi số lượng, chất lượng, giá trị của tổng lô hàng từ khâu mua đến khâu tiêu thụ. Từ đó doanh nghiệp mới điều chỉnh đưa ra những phương án, các kế hoạch tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được hiệu quả cao nhất.

    4. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Để đáp ứng được yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm và xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm kế toán có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về têu thụ và xác định kết quả tiêu thụ như mức bán ra, doanh thu tiêu thụ, mà quan trọng nhất là lãi thuần của hoạt động tiêu thụ. Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp chi tiết sự biến động của hàng hóa ở tất cả các trạng thái: hàng đi đường, hàng nhập kho…nhằm đăm bảo an toàn cho hàng hóa.

    Tính toán chính xác giá vốn, chi phí khối lượng tiêu thụ hàng hóa, hàng trả lại…

    Phản ánh chính xác, kịp thời doanh thu tiêu thụ để xác định kết quả đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền bán hàng tránh sự chiếm dụng vốn.

    Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện kết quả tiêu thụ, cung cấp số liệu lập báo cáo tài chính và lập quyết toán đày đủ để đánh giá đúng hieuj quả tiêu thụ.

    II. CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1.các phương thức bán hàng

    Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng một số phương thức tiêu thụ sau:

    1.1 Phương thức bán buôn

               Bán buôn hàng hóa được hiểu là hình thức bán hàng cho người mua trung gian để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho các nhà sản xuất. Trong bán buôn thì có hai phương thức:

    Bán buôn qua kho: Là  hàng hóa được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp.

    Bán buôn vận chuyển thẳng: Là hình thức mà các doanh nghiệp thương mại sau khi tiến hành mua hàng hóa không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho bên mua.

    1.2 Phương thức bán lẻ

    Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.

    1.3 Phương thức hàng đổi hàng

    Là phương thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem vật tư, hàng hóa, sản phẩm của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa, sản phẩm của người mua.

    1.4 Phươgn thức bán đại lý

    Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý  dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.

    1.5 Phương thức bán hàng trả góp

    Khi giao cho người mua thì hàng hóa được coi là tiêu thụ. Người mua được trả tiền mua hàng nhiều lần. Ngoài số tiền bán hàng doanh nghiệp còn được hưởng thêm ở người mua một khoản  lãi vì trả chậm.

    2 Kế toán bán hàng

    Kế toán tiêu thụ hàng hóa được thực hiện như sau:

    2.1 Giá vốn hàng bán

    Là giá trị vốn thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ. Đối với doanh nghiệp sản xuất đó là giá trị thực tế thành phẩm suất kho. Đối với doanh nghiệp thương mại giá vốn hàng bán bao gồm giá trị mua của hàng và chi phí mua hàng.

    Kế toán phản ánh giá vốn trên tài khoản 632 Giá vốn hàng bán

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng  các tài khoản liên quan khác: TK156, TK 611

    2.2 Chi phí bán hàng

    Chi phí bán hàng là những khoản chi phí phát sinh co liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí thuê kho bãi, …

    Kế toán sử dụng TK 641 – Chi phí bán hàng để phản ánh

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan như: TK 111, TK 112, … 2.3 Chi 2.3 phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí có liên quan đến toàn bộ hoạt động cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một hoạt động nào. Chi

    quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ, quản lý hành chính và chi phí chung khác.

    Kế toán sử dụng TK 642 để phản ánh chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác như: TK 111, TK 112,…

    2.4 Doanh thu bán hàng

    Là số tiền doanh nghiệp thu được từ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng. Giá trị hàng hóa được thỏa thuận như trên hợp đồng kinh tế về mua bán và cung cấp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lao vụ đã được ghi trên hóa đơn bán hàng.

    Để phản ánh doanh thu kế toán sử dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan: TK 111.TK 112,TK 131,TK 531

    2.5 Các khoản giảm trừ doanh thu

    Hàng bán bị trả lại: Là giá rị của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ,lao vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do nhưng nguyên nhân bị vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế: Hàng hóa bị kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách.

    Kế toán sử dụng TK 531 – Hàng bán bị trả lại

    Giảm giá hàng bán là: khoản giảm trừ được người bán chấp nhận một cách đặc biệt do hàng hóa kém phẩm chất, không đúng quy cách quy định trên hợp đồng

    KT 532 – Giảm giá hàng bán

    Riêng khoản triêt khấu bán hàng không được coi là khoản giảm trừ doanh thu thu mà tính vào chi phí hoạt độngt tài chính( TK 811 – Số tiền triết khấu cho khách hàng )

    2.6 Cách xác định kết quả bán hàng

    Kết quả bán hàng là kết quả bán hàng cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng số tiền lãi hoặc lỗ.

    Kết quả hoạt động tiêu thụ hàng hóa (lãi thuần) được tính bàng cách so sánh giữa một bên là doanh thu thuần vứi một bên là giá vốn hàng bán cho phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp biểu hiện qua chi tiêu lỗ(lãi ) về tiêu thụ.

    Kết quả bán hàng là việc so sánh giữa một bên là doanh thu thần của hoạt động tiêu thụ với một bên là giá bán hàng tiêu thụ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán ra.

    Việc xác định kết quả tiêu thụ được tiến hành vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị.

    Kế toán sử dụng TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh – Không có số dư cuối kỳ.

    CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRỰC TIẾP TẠI CÔNG TY

    A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÔNG TY

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Công ty cổ phần Kim Sơn thành lập ngày 8/4/2007 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy đăng  ký kinh doanh số 0104304411. Trụ sở giao dịch chính của doanh nghiệp hiện nay đóng tại số 144 đường Lê Lai, Phường Nguyễn Trãi – Hà Đông – Hà Nội.

    Trong đó ngành nghề kinh doanh bao gồm:

    – Khai thác và kinh doanh than

    – Chế biến và kinh doanh chất đốt từ than

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    – Suất nhập khẩu sản phẩm vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất, các mặt hàng công ty được phép sản xuất.

    Địa bàn hoạt động khắp các tỉnh trong cả nước

    II. TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY

    1.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

    Mô hình tổ chức được sắp sếp như sau:

     Giám đốc

     

           
     
       Phòng

     

    kế

    hoạch

     
       Phòng

     

    kế

    toán

    1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty:

    Chức năng nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán như sau:

    – Kế toán trưởng: Giúp giám đốc công ty tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán, thống kê,…..

    – Kế toán tổng hợp: kiểm tra toàn bộ hoạt động kế toán của đơn vị vào sổ tổng hợp, lập báo cáo kế toán định kỳ theo chế độ quy định.

    – Kế toán viên: lập các chứng từ kế toán phát sinh,thanh toán đủ tiền lương BHXH cho nhân viên, kiểm tra chứng từ suất nhập kho, theo dõi cập nhật theo dõi về nợ phải thu, nợ phải trả,….

    – Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và các giấy tờ khác như: trái phiếu, cổ phiếu… của công ty.

    III. TÌNH HÌNH VỐN VÀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

    Về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật hàng năn doanh nghiệp đã không ngừng đổi mới, cải tạo lại các văn phòng, đầu tư các trang thiết bị máy móc phục vụ cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Để đầu tư thêm cho quá trình hoạt động kinh doanh ngòai số vốn tự có của mình, doanh nghiệp còn đi vay thêm của ngân hàng để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

    Với số vốn ban đầu của doanh nghiệp là: 55 000 000 000 đ

    Trong đó:   Vốn cố định là: 35 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 20 000 000 000 đ

    Qua hai năm hoạt động kinh doanh đến nay ( 1/6/2009 ) tổng số vốn của doanh nghiệp đã tăng lên là: 90 000 000 000 đ

    Trong đó: Vốn cố định là:   55 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 35 000 000 000 đ

    Nhìn vào vốn kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy tổng số vốn tăng so với ban đầu là: 35 000 000 000 đ trong đó:

    Vốn cố định tăng là:   20 000 000 000 đ

    Vốn lưu động tăng là: 15 000 000 000 đ

    B TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY

    Để thuận tiện cho việc phận công nhiệm vụ và phù hợp với đặc điểm kinh doanh công ty sử dụng hình thức “ Sổ nhật ký chung”. Công ty áp dụng “Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên” và “Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ”

    Chứng từ sổ sách liên quan đến bán hàng bao gồm: Hóa đơn thuế GTGT, phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất…giấy báo nợ, báo có của ngân hàng. Hệ thống sổ sách bao gồm: Sổ nhật ký chung ,sổ thu chi tiền mặt,sổ nhật biên tiền gửi ngân hàng, sổ cái các tài khoản, các sổ kế toán chi tiết,….

    Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng: Căn cứ vào hợp đồng mua bán hoặc nhu cầu của khách hàng kế toán lập hóa đơn GTGT. Hóa đơn GTGT được chia làm 3 liên: Liên 1 lưu chứng từ gốc, liên 2 giao khách hàng, liên 3 để thanh toán.

    Kế toán căn cứ vào hóa đơn để xác định doanh thu và xác lập công nợ với người mua, xác định giá vốn hàng bán. Quá trình này được theo dõi trên sổ nhật ký bán hàng vá sổ cái TK 511 – Doanh thu bán hàng và sổ chi tiết các tài khoản có liên quan.

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường công ty phải tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh, tự mình tìm khách hàng để tiêu thụ hàng hóa.Thi trường tiêu thụ của công ty khá rộng, có lượng khách hàng lớn.

    Phương tức thanh toán chủ yếu băng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản.

    II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY

    1.Phương thức tiêu thụ

    Bán hàng là một trong những hoạt động chính có vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh tại công ty. Bởi vậy công ty luôn chú trọng tới việc tổ chức bán hàng giúp hạn chế ứ đọng vốn và đem lại lợi nhuận cao . Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức bán hàng: Bán buôn, bán lẻ.

    2.Kế toán giá vốn hàng bán

    Giá vốn hàng bán là giá trị thực tế của hàng hóa mua vào hoặc nhập về. Công ty quản lý hàng nhập kho theo từng lô hàng. Do vậy giá vốn thực tế nhập xuất được tính theo giá vốn đích danh.

    Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng tài khoản: TK632 – Giá vốn hàng bán, TK 156 – Hàng hóa, TK 911 –Xác định kết quả kinh doanh.

    Phương pháp tính giá vốn hàng bán:

    Giá trị vốn                               Đơn giá nhập kho của số                            Số lượng hàng

    –                                                                          x

    hàng bán                            hàng bán ra trong kỳ                                   bán ra

    VD: Trong tháng 12/2008 Công ty nhập kho một số hàng hóa như sau:

    Nhập 7.000 tấn than lọai cám với đơn giá 220.000đ/tấn

    5.000 tấn than loại cục 6 với đơn giá 250.000đ/tấn

    10.000 tấn than loại cám 6a với đơn giá 240.000đ/tấn

    Vậy tổng số vốn hàng bán ra:

    4500 x 220.000 + 1700 x 250.000 + 6000x 240.000 = 2.855.000.000đ

    Căn cứ “Phiếu nhậpkho” kế toán hoạch toán nhập kho hàng hóa

    Nợ TK 156: 5.190.000.000đ

    Nợ TK 1331:  259.500.000đ

    Có TK331: 5.449.500.000đ

    Hạch toán giá vốn hàng xuất bán:

    Nợ TK 632: 2.855.000.000đ

    Có TK 156: 2.855.000.000đ

    Kết chuyển giá vốn hàng bán:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK : 2.855.000.000đ

    3. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

    Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghiệp vào chi phí bán hàng:

    Nội dung: Chi phí bán hàng bao gồm: Chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương của cán bộ công nhân viên, chi phí vật liệu quản lý, chi phí công cụ dụng , đồ dùng văn phòng, chi phí điện, nước…chi phí khấu hao TSCĐ, thuế , phí…,chi phí bằng tiền khác.

    Tài khoản sủ dụng: Chi phí bán hàng được phản ánh trên TK 641 “Chi phí bán hàng” được chia thanh các TK cấp 2 sau:

    TK 6411 – Chi phí nhân viên

    TK 6412 – Chi phí vật liệu bao bì

    TK 6413 – Chi phí dụng cụ đồ dùng

    TK 6414 – Chi phí KH TSCĐ

    TK 6417 – Chi phí dịch vụ mua ngoài

    TK 6418 – TK chi phí bằng tiền khác

    Ngoài ra Công ty còn sử dụng các tài khoản đối ứng: TK 111, TK 112, TK 331, TK 911

    Trình tự kế toán:  Hàng ngày khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh liện quan đến chi phí bán hàng, dựa trên cơ sở chứng  từ hợp pháp như hóa đơn thuế GTGT, bảng thanh toán tiền lương, bảng khấu hao TSCĐ.. kế toán sẽ lập phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), lập ủy nhiệm chi (nếu thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng), lập chứng từ ghi sổ (đối với những TK chưa thanh toán), kế toán tập hợp phân loại chứng từ, vào sổ chi tiết tài khoản 641 – Chi phí bán hàng để theo dõi cuối kỳ kết chuyển sang TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.

    Chế độ trả lương cho nhân viên tính theo thời gian trả theo tháng.

    Mức lương phải trả  =  thời gian làm việc  x  mức lươnng thời gian/ ngày

    Trong đó: Mức lương thời gian:

    Lương cơ bản  x  hệ số

    Số ngày theo chế độ

    Và các khoản tính vào thu nhập của nhân viên như thưởng, phụ cấp.

    Còn các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) Công ty áp dụng theo đúng quy định

    VD: Căn cứ vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục, lương cơ bản là 112.315.423đ để tính BHXH kế toán áp dụng theo đúng quy định của Công ty các khoản trích theo lương:

    BHXH =  15%  x  lương cơ bản.

    BHXH =  15%  x  112.315.423  =  16.847.313,45 đ

    BHYT =   2%   x  112.315.423  =  2.246.308,46   đ

    KPCĐ =   2%   x   202.087.242 =  4.041.744,84   đ

    Theo số liệu trên kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6411: 337.538.031,8đ

    Có TK 334:  314.402.665đ

    Có TK 3383: 16.847.313,45 đ

    Có TK 3384: 2.246.308,46   đ

    Có TK 3382: 4.041.744,84   đ

    VD: Căn cứ vào phiếu chi số 178 ngày 30/12/2009 thanh toán tiền phí gửi bưu phẩm là: 3.750.864đ, thuế GTGT 10%. Kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6412: 3.750.864 đ

    Nợ TK 133:  375.086,4  đ

    Có TK 111: 4.125.950,4 đ

    Cách tính khấu hao TSCĐ: Kê toán dùng phương pháp tính khấu hao trung bình theo phương pháp này thì số tiền khấu hao được tính cho mỗi thời kỳ trong thời gian hữu ích của tài sản là như nhau.

    Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao

    TSCĐ phải     =      TS phải trích    +       TSCĐ tăng       –     TSCĐ giảm

    trích trong kỳ                     kỳ trước                           trong kỳ               trong kỳ

    VD: Căn cứ vao số khấu hao TSCĐ trong bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục với số tiền là: 61.834.489đ kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 6414:         61.834.489 đ

    Có TK 2141: 61.834.489 đ

    Dựa vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục ta tổng hợp chi phí bán hàng:

    Nợ TK 641: 707.460.798,8  đ

    Nợ TK 1331: 70.746.079,88 đ

    Có TK 131: 778.206.878,68  đ

    Cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911:  707.460.798,8  đ

    Có TK 641: 707.460.798,8  đ

    1. Kế toán doanh thu bán hàng

    Nội dung: Doanh thu bán hàng là doanh thu ghi trên hóa đơn GTGT xuất cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán.

    Tài khoản sử dụng: Để phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ kế toán sủ dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và một số TK đối ứng như TK 111, TK 112, TK 131, TK911.

    Chứng từ kế toán sử dụng: Hợp đồng mua bán, hóa đơn GTGT, phiếu suất kho.

    Trình tự kế toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán với người mua hoặc nhu cầu khách hàng, kế toán lập hóa đơn thuế GTGT, hóa đơn được lập thành 3 liên: Liên 1 lưu sổ kế toán, liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 dùng để thanh toán. Kế toán sẽ căn cứ hóa đơn bán hàng để ghi nhận doanh thu và xác lập công nợ với người mua đồng thời xác định giá vốn của hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp. Quá trình này được theo dõi trên sổ cái TK 511.

    Phương pháp tiêu thụ tại Công ty: Công ty bán hàng theo phương pháp trực tiếp.

    Trường hợp bán hàng thu tiền ngay: Phương pháp bán hàng này áp dụng cho những khách hàng mua với số lượng ít và Công ty bán lẻ.

    VD: Ngày 17/ 12/2009 Công ty bán cho anh Hoàng 1700 tấn than cucjv[í đơn giá 340.000đ/tấn, thuế suất thuế GTGT là 5%. Theo hợp đồng GTGT 00915. Kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 131: 2.079.000.000 đ

    Có TK 511: 1.980.000.000 đ

    Có TK 3331:    99.000.000 đ

    1. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.

    Công ty không có các khoản giảm doanh thu như: Giảm giá hàng bán, hàng hóa bị trả lại, triết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt. Do vậy doanh thu thuần được xác định chính là doanh thu ban hàng thu được.

    1. Kế toán xác định kết quả bán hàng.

    Tài khoản sủ dụng: Để xác định kết quả bán hàng trong kỳ kế toán sử dụng tài khoản 911 – xác định kết quả bán hàng – và các TK đối ứng như TK 632, TK 641, TK 511, TK 421.

    Cuối tháng khi xác định được doanh thu thuần, các khoản giảm trừ doanh thu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp kế toán tiến hành kết chuyển, để xác định kết quả bán hàng.

    Kết quả kinh doanh của Công ty trong tháng 12/ 2009

    • Giá vốn bán hàng: 2.855.000.000đ
    • Chi phí bán hàng: 707.460.798,8đ
    • Tổng doanh thu bán hàng: 3.953.000.000đ
    • Các khoản giảm trừ doanh thu :0
    • Doanh thu thuần: 3.953.000.000đ

    Kế toán tiến hành kết chuyển xác định kết quả bán hàng

    1. Kết chuyển giá vốn:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK 632: 2.855.000.000đ

    1. Kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911: 707.460.798,8đ

    Có TK 641: 707.460.798,8đ

    1. Kết chuyển doanh thu thuần:

    Nợ TK 511: 3.953.000.000đ

    Có TK 911: 3.953.000.000đ

    1. Kết chuyển lãi:

    Nợ TK 911:  390.539.201,2đ

    Có TK 421:  390.539.201,2đ

    Nhận xét: Vì Công ty hạch toán phụ thuộc lên không hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp riêng mà Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghieepjvaf chi phí bán hàng gây khó khăn trong hạch toán chi tiết. Vì TK 641 – Chi phí bán hàng – chỉ phản ánh các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa. Mà không thể phản ánh hết các khoản chi phí phát sinh ở bộ phận văn phòng Công ty và các chi phí liên quan đến tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty. Công ty nên mở thêm TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp – Để hạch toán dược rễ dàng hơn.

    CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    1. Đánh giá thực trạng kế toán bán hàng tại Công ty


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%E1%BA%A1i-s%E1%BB%9F-giao-d%E1%BB%8Bch-I-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    1.1.    Tổng quan về tín dụng ngân hàng và dự án đầu tư.

    Đầu tư và tăng cường hoạt động đầu tư luôn là một yêu cầu cấp thiết của bất kỳ một nền kinh tế phát triển nào. Thế nhưng, muốn có hoạt động đầu tư thì phải có đủ các nguồn lực cần thiết, và đặc biệt là phải có đủ vốn. Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứu sâu về vấn đề này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về tín dụng ngân hàng và dự án đầu tư.

    1.1.1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế.

    1.1.1.1. Khái niệm

    Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:

    • Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
    • Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả.
    • Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
    • Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.

    Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.

    Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:

    Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

    1

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một số cách phân chia phổ biến mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:

    • Nếu phân theo thời hạn tín dụng ta có:
    • Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vay cho những tiêu dùng cá nhân.
    • Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Loại hình tín dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
    • Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có trên 5 năm. Loại tín dụng này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…

    Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn lưu động.

    • Theo mục đích sử dụng vốn:

    Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phong phú:

    • Cho vay bất động sản.
    • Cho vay thương mại và công nghiệp.
    • Cho vay cá nhân.
    • Cho vay thuê mua.
    • Cho vay khác.

    Trong đó các khoản cho vay thuê mua và cho vay khác chủ yếu bao gồm những khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính, cho vay ngân sách và chuyển nhượng các loại chứng khoán.

    • Phân theo đối tượng tín dụng: theo tiêu thức này, tín dụng được chia làm 2 loại:

    – Tín dụng lưu động: Loại hình tín dụng này được cấp phát để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, như cho vay để dự trữ hành hoá đối với xí nghiệp thương nghiệp; bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời,… Riêng loại hình tín dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời lại được chia làm 2 loại: cho vay để dự trự hàng hoá – chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu. Thời hạn cho vay là ngắn hạn.

    • Tín dụng vốn cố định: Là loại hình tín dụng được cấp phát để hình thành tài sản cố định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dụng các công trình mới,… Thời hạn cho vay đôí với loại này là trung và dài hạn.

    2

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Phân loại theo đồng tiền: Theo tiêu thức này thì TDNH được chia làm

    2 loại:

    • Tín dụng theo VNĐ: Hình thức này thường được dùng trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và giao dịch với các bạn hàng trong nước.
    • Tín dụng theo ngoại tệ (thường quy đổi ra USD hoặc VNĐ): Thường được sử dụng để nhập khẩu hàng hoá, trả nợ bạn hàng nước ngoài, nhập khẩu máy móc thiết bị, các hoạt động kinh tế đối ngoại, kinh doanh ngoại tệ,… Hình thức tín dụng này chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá cũng như chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ.
    • Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế: được phân chia ra làm hai loại:
    • Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh
    • Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

    1.1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế

    Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ của mình, các doanh nghiệp luôn có xu hướng là cần vốn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ hay mở rộng sản xuất kinh doanh, và vấn đề thiếu vốn tạm thời để đầu tư cho các nhu cầu này thường xuyên xảy ra đối với các doanh nghiệp. Trong các trường hợp thiếu vốn, các doanh nghiệp sẽ phải tiến hành huy động từ các nguồn có thể, và một trong những nguồn đó là doanh nghiệp đi vay của các ngân hàng. Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu đó trên cơ sở Hợp đồng tín dụng sau khi được hai bên thoả thuận cho phù hợp nhu cầu, mục đích của mỗi bên và theo đúng quy định của Pháp luật. Khi nhận được vốn vay, doanh nghiệp sẽ có thể nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, và từ đó doanh nghiệp có thể thu hồi vốn và trả nợ cho ngân hàng.

    Không những vậy, tín dụng ngân hàng còn thoả mãn các nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn đóng góp một phần không nhỏ trong việc tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Tín dụng tài trợ cho nền kinh tế tăng gần 25% mỗi năm và được phân bổ một cách phù hợp cho cả khu vực kinh tế quốc doanh cũng như khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đây là mức tăng trưởng hợp lý, do đó góp phần làm giảm áp lực gia tăng tổng phương tiện thanh toán, hạn chế các yếu tố gây lạm phát, làm giảm gánh nặng trong công tác điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính

    • tiền tệ. Tín dụng ngân hàng tập trung phục vụ có hiệu quả các chương trình kinh tế lớn của Chính phủ như cho vay thu mua lương thực, phục vụ xuất khẩu, cho vay phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,… Đặc biệt, đối với những dự án đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, phát triển một số ngành nghề mũi nhọn, tín dụng ngân hàng luôn có sự tham gia không

    3

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nhỏ và đôi khi còn là nhà tài trợ chính cho những dự án này.

    Tín dụng ngân hàng với chức năng chủ yếu là đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại, nó quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, và hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho một ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội, là trung gian chuyển vốn giữa người thừa vốn sang người thiếu vốn, là cầu nối nhanh chóng giữa những chủ đầu tư và những nhu cầu đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ngay từ buổi đầu, hoạt động của ngân hàng thương mại đã tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình sản xuất – kinh doanh, hoặc nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Trong quá trình phát triển không ngừng của nền kinh tế, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiều phương pháp, công cụ kinh doanh mới xuất hiện nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay thường chiếm hơn 70% tổng Tài sản có và tỷ trọng huy động vốn tiền gửi thường chiếm trên 60% tổng Tài sản có của các ngân hàng thương mại. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao hơn, ở các nước phát triển là 60% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng. Ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này chiếm khoảng 60 – 70% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng.

    Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn là công cụ Nhà nước để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Nhà nước thông qua Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện các chính sách tiền tệ của mình bằng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương dựa vào kế hoạch tăng lượng tiền cung ứng trong năm để xác định lượng tiền cần phát hành vào lưu thông với quy mô là bao nhiêu, bằng hình thức nào. Thông thường thì Ngân hàng Trung ưong sẽ thực hiện kế hoạch đó bằng cách cho ngân hàng thương mại vay và thông qua hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, lượng tiền này sẽ được đưa vào lưu thông. Như vậy, Ngân hàng Trung ương đã thực hiện chính sách tiền tệ để kiểm soát và tác động vào tổng lượng tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ, kiểm soát được những biến động trên thị trường và đồng thời có thể nhanh chóng phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.

    1.1.2. Đầu tư và dự án đầu tư

    1.1.2.1. Đầu tư và dự án đầu

    1. Đầu tư:
    • Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư. tư.

     

    Thuật ngữ đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sự hy sinh cái

    4

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gì đó để tác động đến kết quả trong tương lai. Xuất phát nguồn gốc của đầu tư, Paul Samuelson chỉ ra rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng cho tương lai”. Các nhà kinh tế vĩ mô lại cho rằng: “Đầu tư là đưa thêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn”. Và David Begg cho rằng: “Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất mới”. Theo định nghĩa chung nhất, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục đích thu về lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế xã hội.

    Dưới góc độ nào đi nữa thì mọi hoạt động đầu tư đều phải sử dụng các nguồn lực ban đầu. Các nguồn lực này được sử dụng theo mục đích của chủ đầu tư để tạo mới, mở rộng hoặc nâng cao chất lượng hiện có của các tài sản tài chính (tiền vốn…), tài sản vật chất (như nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ (như trình độ văn hoá, chuyên môn…) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mục đích của công cuộc đầu tư là thu được những kết quả nhất định lớn hơn so với nguồn lực đã bỏ ra.

    Hoạt động đầu tư được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, nó không chỉ bó hẹp trong đầu tư tài sản vật chất và sức lao động mà còn tham gia cả đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.

    1. Dự án đầu tư:

    Theo quan điểm chung nhất, dự án đầu tư được hiểu là tài liệu tổng hợp , phản ánh kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về thị trường, về kinh tế, về kỹ thuật, về tài chính,… có liên quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của một công cuộc đầu tư.

    • Việt Nam, theo nghị định số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư được định nghĩa như sau: “ Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.”

    Bất cứ một dự án đầu tư nào kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc đều phải trải qua giai đoạn:

    ¾ Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn 1 có quy trình như sau:

    Nghiên   Báo cáo   Lập dự án   Thẩm định   Quyết
    cứu cơ h ội     đầu tư   dự án đầu   định đầu
      NCKT      
    đầu tư          
               

    5

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư.

    Sau khi ra Quyết định đầu tư, công việc tiếp theo là cụ thể hoá nguồn vốn, hình thành vốn đầu tư và triển khai dự án đầu tư.

    Đàm phán và ký   Xây dựng   Lắp đặt   Vận hành
    kết hợp đồng thi     máy móc  
      công trình     chạy thử
    công công trình     thiết bị  
             
                 
    • Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động.

    Đây là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và đưa ra tiêu thụ trên thị trường.

    Dự án đầu tư có một vai trò rất quan trọng trong bất cứ hoạt động đầu tư nào, điều này được thể hiện:

    • Dự án đầu tư là cơ sở để quyết định bỏ vốn ra đầu tư. Thông qua dự án đầu tư, nhà đầu tư sẽ quyết định có bỏ vốn ra đầu tư hay không và từ số vốn mình bỏ ra với dự án đầu tư này sẽ đem lại hiệu quả, lợi ích như thế nào?
    • Dự án là cơ sở lập kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư. Trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, thông qua dự án nhà đầu tư có thể tự bố trí kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án đồng thời tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi quá trình thực hiện đầu tư.
    • Dự án là cơ sở để thuyết phục các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho dự án. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thông qua việc xem xét, thẩm định dự án đầu tư để đánh giá hiệu quả của dự án, là lãi hay lỗ để từ đó đưa ra quyết định tài trợ vốn cho nhà đầu tư hay không.
    • Dự án là cơ sở để thuyết phục các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét cấp giấy phép đầu tư. Điều này được xem xét trên cơ sở dự án có hiệu quả kinh tế cao, không vi phạm quy định Pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến xã hội và qua đó sẽ đưa ra quyết định cho phép đầu tư hay không.
    • Dự án là một trong những cơ sở Pháp lý để xem xét giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình liên doanh thực hiện đầu tư.

    1.1.2.2. Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư.

    Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia, dự án đó phải thoả mãn các yêu cầu sau:

    • Dự án phải có tính khoa học. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự án đầu tư. Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án. Tính khoa học của dự án được thể hiện: về số liệu thông tin phải đảm bảo trung thực, chính xác; về phương pháp lý giải: các nội dung của dự án không được tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất; về phương pháp tính toán phải đơn giản, chính xác,…
    • Dự án phải có tính pháp lý, tức là dự án phải phản ánh quyền lợi quốc

    6

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gia trong dự án. Nói một cách khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách và Pháp luật của Nhà nước.

    • Dự án phải có tính thực tiễn. Tính thực tiễn vủa dự án đầu tư thể hiện ở chỗ, nó có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế. Mỗi dự án thuộc một ngành nghề cụ thể, có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật cụ thể, cho nên các nội dung, các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể được nghiên cứu một cách chung chung mà phải dựa trên những căn cứ hợp lý, tức là dự án phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, về thị trường vốn và các chỉ tiêu khác.
    • Dự án phải có tính thống nhất. Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án. Để các bên đối tác có quyết định tham gia dự án, các ngân hàng và tổ chức tài chính quyết định tài trợ hay cho vay vốn với các dự án, và muốn được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép đầu tư thì việc xây dựng dự án từ các bước tiến hành đến nội dung, hình thức, cách trình bày dự án cần phải tuân thủ theo những quy định chung mang tính quốc tế.
    • Dự án phải có tính phỏng định. Trong nhiều trường hợp, những nội dung, những tính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận,… trong dựa án chỉ có tính chất dự trù, dự báo do thực tế xảy ra khác xa với dự kiến ban đầu trong dự án. Vì vậy, dự án phải có tính phỏng định, tuy nhiên, sự phỏng định này phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quan nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế độ bất định trong dự án.

    1.2.    Thẩm định dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.

    1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư.

    1. Khái niệm.

    Các dự án đầu tư sau khi được soạn thảo và thiết kế xong dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ lưỡng và chi tiết thì chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được thực hiện hay không thì phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập và tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Quá trình đó gọi là thẩm định dự án. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẩm định tuỳ theo tính chất của công cuộc đầu tư và chủ thể có thẩm quyền thẩm định, song đứng trên góc độ tổng quát có thể định nghĩa như sau:

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (Nhà nước hoặc tư nhân) thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về các mặt pháp lý, các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính hiện thực của dự án, để quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép về đầu tư hay quy định về đầu tư…

    7

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1. Ý nghĩa:

    Thẩm định dự án đầu tư là một công việc quan trọng, nó đề cập đến tất cả những vấn đề của bản thân dự án, và quan trọng hơn, qua quá trình thẩm định, dự án sẽ được tìm hiểu một cách sâu rộng hơn, chuyên môn hơn. Thẩm định dự án có những ý nghĩa vô cùng quan trọng sau đây:

    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư, với những kết quả thu được là một trong những cơ sở quan trọng để có quyết định bỏ vốn đầu tư được đúng đắn.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư, có cơ sở để kiểm tra việc sử dụng vốn đảm bảo đúng mục đích và an toàn vốn.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư có, với những kinh nghiệm và kiến thức của mình sẽ bổ sung thêm những giải pháp góp phần nâng cao tính khả thi của dự án.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư có cơ sở tương đối vững chắc để xác định kết quả đầu tư, thời gian hoàn vốn và trả nợ từ dự án của chủ đầu tư.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư sẽ rút ra được những kinh nghiệm để tiến hành thẩm định các dự án đầu tư sau tốt hơn.

    1.2.2. Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư.

    Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của các thành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân. Nhưng hoạt động đầu tư sẽ không thể tiến hành được khi không có vốn hay không đủ vốn. Một câu hỏi được đặt ra là: “Vốn lấy từ đầu?” Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các nhà đầu tư thường kêu gọi sự tài trợ từ bên ngoài mà trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết rằng vốn vay có được sử dụng an toàn và hiệu quả hay không. Do đó, không chỉ riêng các nhà đầu tư, mà cả ngân hàng và các cơ quan hữu quan cũng phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư tức là đi sâu xem xét, nghiên cứu đánh giá hàng loạt các vấn đề trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyết định đúng

    đắn.

    1.2.2.1. Đối với nhà đầu tư.

    Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp là nhờ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đúng đắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự án. Với tư cách là chủ dự án và là bên lập dự án, chủ đầu tư biết khá rõ và tương đối tỷ mỷ dự án đầu tư của mình, nắm được những điểm mạnh cũng như điểm yếu, những khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện dự án của mình. Trên thực tế, khi đưa ra một quyết định đầu tư, chủ đầu tư thường xây dựng và tính toán các phương án khác nhau. Điều đó có nghĩa là có nhiều dự án khác nhau được đưa ra nhưng không phải dễ dàng gì trong việc lựa chọn dự án này, loại bỏ dự án kia vì nhiều khi khả năng thu thập, nắm bắt những thông tin mới của chủ dự án bị hạn chế nhất là đối với các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và điều này sẽ làm nguy cơ rủi ro tăng cao và làm giảm tính chính xác trong phán

    8

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đoán của họ. Thông qua việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lựa chọn được dự án đầu tư tối ưu và thích hợp nhất với năng lực của mình.

    1.2.2.2. Đối với ngân hàng.

    Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi và cho vay. Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng được ngân hàng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và ngân hàng. Muốn vậy, ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp cho ngân hàng dự án đầu tư. Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan hơn. Việc thẩm định dự án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thòi gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong tương lai.

    Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư là rất quan trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư như thế nào? Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạt được những chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng.

    1.2.2.3. Đối với xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước.

    Đầu tư luôn được coi là động lực phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia. Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là đầu tư như thế nào cho có hiệu quả, bằng không tác động của đầu tư không hợp lý là rất nguy hại và gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Hiệu quả ở đây không đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả các hiệu quả về mặt xã hội như vấn đề giải quyết công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, tăng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề đảm bảo môi trường sinh thái. Ngoài ra, dự án được chọn đầu tư còn phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương mà dự án này thực hiện và phải hoàn toàn tuân thủ các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng và các quy chế quản lý khác của Nhà nước.

    1.2.3. Yêu cầu trong thẩm định dự án đầu tư.

    Thẩm định được tiến hành với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn, của mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu về nội dung thẩm định có khác nhau về mức độ và chi tiết giữa các dự án, tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án, nguồn vốn được huy động và chủ thể có thẩm quyền thẩm định. Tuy vậy, dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, để có kết quả thẩm định có sức thuyết phục thì chủ thể có thẩm quyền thẩm định phải đảm bảo các yêu cầu sau (hoặc một phần trong số các yêu cầu sau):

    9

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng của nhà nước.
    • Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và trình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới. Nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan hệ tài chính – tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các doanh nghiệp khác hoặc chủ đầu tư khác, với các ngân hàng…
    • Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nhgiệp hoặc chủ đầu tư, các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư, từ đó có thêm căn cứ vững chắc để quyết định đầu tư.
    • Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật quan trọng của dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế – kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định.
    • Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung của dự án, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành có liên quan cả trong và ngoài nước.
    • Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ dự án.
    • Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định, phối hợp phát huy được trí tuệ tập thể, tránh gây phiền hà.

    1.2.4. Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư.

    Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tin đáng tin cậy. Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án. Sau đây là những phương pháp thẩm định thường gặp nhất.

    1.2.4.1. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu.

    Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt động. Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:

    • Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được.
    • Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế.
    • Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi.
    • Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
    • Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế – kỹ thuật

    10

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    chính thức hoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế.

    • Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư.
    • Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiện hành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
    • Các chỉ tiêu mới phát sinh…

    Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược). Tránh khuynh hướng so sánh máy móc, cứng nhắc, dập khuôn.

    1.2.4.2. Phương pháp thẩm định theo trình tự.

    Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.

    • Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơ bản thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án. Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các căn cứ pháp lý của dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý dự án dự kiến.
    • Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính hiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ, môi trường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng

    • hay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được. Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác bỏ toàn bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án.

    1.2.4.3. Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án.

    Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.

    Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể. ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự án để xem xét. Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao. Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả

    11

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    năng phát sinh bất trắc đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế.

    1.2.4.4.  Phương pháp dự báo.

    Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của dự án.

    1.2.4.5. Phương pháp triệt tiêu rủi ro

    Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài ý muốn chủ quan. Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến dự án.

    Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểm xây dựng, bảo lãnh hợp đồng. Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quen thuộc nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và uy tín, thế chấp tài sản. Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lần khi vay vốn nên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm.

    1.2.5. Nội dung thẩm định dự án đầu tư.

    • Thẩm định điều kiện pháp lý của dự án và sự cần thiết phải đầu tư:

    Nội dung này bao gồm việc thẩm định các văn bản, thủ tục hồ sơ trình duyệt theo quy định, đặc biệt là xem xét đến tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư. Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án, nó được xem như là điều kiện cần để tiến hành các nội dung thẩm định tiếp theo.

    Dự án có cần thiết đầu tư hay không? Điều này được xác định dựa trên hai khía cạnh: đó là dự án có ưu thế như thế nào trong quy hoạch phát triển chung; đồng thời dự án được đầu tư sẽ đóng góp như thế nào cho các mục tiêu gia tăng thu nhập cho nền kinh tế và doanh nghiệp, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo công ăn việc làm…

    • Thẩm định dự án về phương diện thị trường:

    Kiểm tra phân tích các vấn đề liên quan đến cung cầu về sản phẩm của dự án. Tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản phẩm của dự án, tiến hành lập bảng cân đối về nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng của các nguồn cung hiện có và xu hướng biến động của nguồn đó, đánh giá mức độ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án, công cụ được sử dụng trong cạnh tranh… Từ đó đánh giá mức độ tham gia thị trường mà dự án có thể đạt được. Kết quả phân tích này làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.

    12

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Thẩm định phương diện kỹ thuật và tổ chức của dự án: – Về phương diện kỹ thuật.

     

    Xem xét lựa chọn các phương án địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án.

    Vị trí lựa chọn dự án cần được tối ưu hoá (về quy hoạch xây dựng kiến trúc của địa phương ngành, thuận lợi về giao thông, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, bảo đảm về môi trường…).

    Xem xét lựa chọn các hình thức đầu tư và công suất dự án. Đây là nhiệm vụ của chủ dự án, nhà thẩm định chỉ có trách nhiệm phát hiện sai sót, nhầm lẫn mang tính chủ quan đồng thời kiểm tra loại bỏ dự án sử dụng công nghệ ô nhiễm, lạc hậu so với chiến lược phát triển công nghệ.

    Xem xét lựa chọn công nghệ và dây chuyền thiết bị, đảm bảo phù hợp với điều kiện trong ngành, địa phương và nguồn nguyên liệu đáp ứng.

    – Về phương diện tổ chức

    Xem xét các đơn vị thi công về các khía cạnh tư cách pháp nhân, năng lực thực hiện, khả năng đáp ứng yêu cầu dự án và kế hoạch phòng ngừa rủi ro cũng như phương án tổ chức thực hiện, cơ cấu quản lý và thực hiện.

    • Thẩm định về phương diện tài chính: nội dung thẩm định tài chính bao gồm thẩm định tài chính trong doanh nghiệp (hoặc chủ đầu tư) và thẩm định tài chính đối với chính dự án đang được xem xét.

     

    • Thẩm định về phương diện lợi ích kinh tế xã hội: nhằm so sánh giữa cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế (chứ không chỉ riền cho cơ sở sản xuất kinh doanh). Việc thẩm định kinh tế xã hội của dự án được tính toán trên cơ sở một loạt các tiêu chuẩn đánh giá và chỉ tiêu đánh giá như: Giá trị gia tăng thuần tuý, giá trị gia tăng thuần tuý quốc gia, các chỉ tiêu về số lao động có việc làm, các chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội…

     

    1.2.6. Một số rủi ro chủ yếu trong thẩm định dự án.

     

    Một số dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện đầu tư đi vào sản xuất có thể xảy ra nhiều loại rủi ro khác nhau, có thể là do nguyên nhân chủ quan cũng có thể là do nguyên nhân khách quan. Việc tính toán khả năng tài chính của dự án như đã giới thiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không bị ảnh hưởng bởi một loại các rủi ro có thể xảy ra. Vì vậy, việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu. Dưới đây là một số rủi ro chủ yếu:

     

    • Rủi ro về cơ chế chính sách:

    Rủi ro này được xem là gồm tất cả những bất ổn về tài chính và chính sách của nơi hoặc địa điểm xây dựng dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế và chuyển tiền, quốc hữu hoá, tư hữu hoá hay các luật nghị quyết, nghị định và

    13

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    các chế tài khác có liên quan đến dòng tiền của dự án.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng nhiều cách:

    • Khi thẩm định dự án, phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (theo hồ sơ dự án), để đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh các luật và quy định hiện hành có liên quan tới dự án.
    • Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng quy định về vấn đề này.
    • Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới dự án.
    • Bảo hiểm tín dụng, xuất khẩu…
    • Rủi ro về tiến độ xây dựng, hoàn tất:

    Rủi ro này được xem là việc hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không phù hợp với các tiêu chuẩn và thông số thực hiện. Loại rủi ro này nằm ngoài khả năng điều chỉnh, kiểm soát của ngân hàng, tuy nhiên nó có thể giảm thiểu bằng cách đề xuất với chủ đầu tư thực hiện các biện pháp sau:

    • Lựa chọn nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh tài chính và kinh nghiệm.
    • Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh chất lượng công trình.
    • Giám sát chặt chẽ trong quá trình xây dựng.
    • Hỗ trợ của cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khoa học trong trường hợp vượt dự toán.
    • Quy định rõ trách nhiệm, vấn đề đền bù, giải toả mặt bằng.
    • Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khoá trao tay với sự phân chia rõ ràng nghĩa vụ của mỗi bên.

    ¾ Rủi ro thị trường, thu thập, thanh toán:

    Rủi ro này bao gồm: Thị trường không chấp nhận hoặc không đủ cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; do sức ép cạnh tranh, giá bán sản phẩm không đủ để bù đắp lại các khoản chi phí của dự án;…

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    • Nghiên cứu thị trường, đánh giá phân tích thị trường, thị phần cẩn thận.
    • Dự kiến cung cầu thận trọng, không nên có những dự báo quá lạc quan.
    • Phân tích khả năng thanh toán, thiện ý, hành vi của người tiêu dùng
    • Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng về tài chính.
    • Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm của Chính phủ
    • Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra.
    • Rủi ro về cung cấp:

    Đây là rủi ro khi dự án không có được nguồn nguyên liệu (đầu vào) với số lượng, giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ vốn vay để đầu tư.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    14

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Trong quá trình xem xét dự án, cán bộ thẩm định phải nghiên cứu, đánh giá cẩn trọng các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên nhiên liệu vật liệu đầu vào trong hồ sơ dự án. Đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính toán, xác định hiệu quả tài chính của dự án.
    • Nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật

    liệu.

    • Linh hoạt về thời gian và số lượng nguyên nhiên vật liệu mua vào.
    • Những thoả thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuối cùng.
    • Những hợp đồng cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào dài hạn với nhà cung cấp có uy tín.

    ¾ Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì:

    Đây là những rủi ro về việc dự án không thể vận hành và bảo trì ở mức độ phù hợp với các thông số thiết kế ban đầu.

    Loại rủi ro này, chủ đầu tư có thể giảm thiểu thông qua thực hiện một số biện pháp sau:

    • Sử dụng công nghệ đã được kiểm chứng
    • Bộ phận vận hành dự án phải được đào tạo tốt, có kinh nghiệm.
    • Có thể ký hợp đồng vận hành và bảo trì với những điều khoản khuyến khích và phạt vi phạm rõ ràng.
    • Bảo hiểm các sự kiện bất khả kháng tự nhiên như lụt lội, động đất, chiến

    tranh…

    • Kiểm soát ngân sách và kế hoạch vận hành.
    • Quyền thay thế người vận hành do không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
    • Rủi ro về môi trường, xã hội:

    Rủi ro này thể hiện những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người dân xung quanh.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng một số biện pháp sau:

    • Báo cáo đánh giá tác động của môi trường phải khách quan và toàn diện, được cấp có thẩm quyền chấp nhận bằng văn bản.
    • Nên có sự tham gia của các bên liên quan như cơ quan quản lý môi trường và chính quyền địa phương, từ khi bắt đầu triển khai dự án.
    • Tuân thủ các quy định về môi trường.
    • Rủi ro về kinh tế vĩ mô:

    Đây là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất…

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    • Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản.
    • Sử dụng các công cụ thị trường như hoán đổi và tự bảo hiểm.
    • Bảo vệ trong các hợp đồng như chỉ số hoá, giá cả leo thang, bất khả kháng…

    15

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đảm bảo của Nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối (nếu

    được).

    Trên đây là những nội dung căn bản trong bất cứ một quá trình thẩm định dự án đầu tư nào. Có thể nói, thẩm định dự án đầu tư là một công việc hết sức phức tạp, nó đòi hỏi phải luôn hoàn thiện qua thực tế chứ không phải chỉ dừng lại ở lý thuyết. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư đối với các ngân hàng là điều rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro, phát huy hiệu quả hoạt động của mình một cách tối đa…

    Trong công tác thẩm định dự án đầu tư, việc thẩm định tài chính của dự án đầu tư là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ một dự án nào. Những phân tích, đánh giá về mặt tài chính sẽ giúp người thẩm định tìm hiểu về dự án một cách toàn diện hơn, sâu rộng hơn, có được những đánh giá chính xác hơn đối với dự án đó. Vì xét một cách toàn diện, bất kỳ một dự án nào đều được phản ánh một cách hoàn hảo nhất qua các chỉ tiêu về tài chính như Doanh thu, chi phí, lãi lỗ qua các năm dự tính… Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong phần sau để có được những hiểu biết bao quát hơn về vấn đề này.

    1.3. Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.

    1.3.1. Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM.

    Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đánh giá xem xét phân tích các chi phí và lợi ích tài chính dự toán của dự án. Lợi ích tài chính dự toán của dự án được xem xét thông qua các dòng tiền thu và dòng tiền chi dự toán. Thông qua lợi ích tài chính dự toán và qua các chỉ tiêu tài chính để ngân hàng quyết định cho vay hay bác bỏ cho vay. Thông thường NHTM thẩm định tài chính dự án theo quy trình sau:

    16

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
             
             
      Ph©n tÝch dù b¸o   Ph©n tÝch ®¸nh  
      vÒ nhu cÇu thÞ   gi¸ vÒ nhu cÇu  
      tr−êng   s¶n xuÊt  
             

    Ph©n tÝch kÕ ho¹ch tμi chÝnh

    Ph©n tÝch kÕ ho¹ch thu chi hμng

    TÝnh dßng tiÒn thu chi hμng n¨m cña

    ThÈm ®Þnh hiÖu qu¶ tμi chÝnh

    ChÊp nhËn hay b¸c bá quyÕt ®Þnh

    Sơ đồ 1: Quy trình thẩm định tài chính DAĐT tại các NHTM.

    Để thực hiện được công tác thẩm định về mặt tài chính một cách chuẩn xác và chặt chẽ, có tính thuyết phục cao, các ngân hàng thương mại phải xác định được nguồn thông tin dùng để phân tích. Thông tin bao gồm:

    • Thông tin hành chính: Nắm bắt được hiệu quả tài chính dự án (khả năng thu, chi, trả nợ, nguồn trả…). Các kết luận tài chính…
    • Thông tin phi tài chính: Bao gồm các thông tin về tên doanh nghiệp, văn phòng đại diện, ban giám đốc, số giấy phép đăng ký, cơ cấu vốn pháp định, tài khoản…

    Nếu thẩm định dự án một cách nghiêm túc đúng thủ tục và biện pháp thì quyết định đầu tư, tài trợ hợp lý của ngân hàng sẽ đảm bảo tăng lợi nhuận cho ngân hàng, tránh rủi ro, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư kinh doanh.

    1.3.2. Nội dung thẩm tài chính định dự án đầu tại NHTM.

    1.3.2.1. Xác định tổng vốn đầu tư:

    Đây là một nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án. Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn

    17

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động, tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án. Nếu vốn đầu tư quá thấp thì dự án không thực hiện được và ngược lại, nếu dự tính quá cao thì sẽ không phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án. Tổng mức vốn này được chia ra làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động ban đầu (chỉ tính cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên).

    • Vốn cố định:

    Vốn cố định bao gồm những chi phí sau đây:

    • Chi phí chuẩn bị: là những chi phí trước khi thực hiện dự án (chi phí trước vận hành). Chi phí này không trực tiếp tạo ra tài sản cố định nhưng là chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư. Chi phí này bao gồm:
      • Chi phí cho điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án.
    • Chi phí cho tư vấn, thiết kế, chi phí cho quản lý dự án.
    • Chi phí đào tạo, huấn luyện…

    Các chi phí này khó có thể tính toán chính xác được. Bởi vậy, cần phải được xem xét đầy đủ các khoản mục để dự trù cho chính xác.

    • Chi phí cho xây lắp và mua sắm thiết bị: bao gồm các khoản mục sau:
    • Chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước. Chi phí này phải phù hợp với các quy định của Bộ tài chính về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển.
    • Chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
    • Giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có.
    • Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng hoặc cấu trúc hạ tầng.
    • Chi phí về máy móc thiết bị (bao gồm cả lắp đặt và chạy thử), phương tiện vận tải.
    • Các chi phí khác…
    • Vốn lưu động ban đầu:

    Vốn lưu động ban đầu bao gồm các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên, nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật đã dự kiến. Nó bao gồm:

    • Vốn sản xuất: chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu, phụ tùng…
    • Vốn lưu thông: thành phần tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hoá bán chịu, vốn bằng tiền…

    ¾ Vốn dự phòng:

    Tổng mức vốn đầu tư dự tính của dự án cần được xem xét theo từng giai đoạn của quá trình thực hiện đầu tư và được xác định rõ bằng tiền Việt, ngoại tệ, bằng hiện vật hoặc bằng các tài sản khác…

    18

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.3.2.2. Xác định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự đảm bảo của nguồn vốn tài trợ cho dự án và tiến độ bỏ vốn.

    Đối với một dự án thì các nguồn tài trợ cho dự án có thể do ngân sách cấp phát, ngân hàng cho vay, góp vốn cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanh góp, vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác. Để đảm bảo cho tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn, các nguồn tài trợ nên được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà còn cả về thời điểm được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải được đảm bảo chắc chắn, sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế. Chẳng hạn nếu nguồn tài trợ này bằng văn bản sau khi các cơ quan này đã ký vào hồ sơ thẩm định dự án. Nếu là vốn góp cổ phần hoặc liên doanh phải có sự cam kết về tiến độ và số lượng vốn góp của các cổ động hoặc các bên liên doanh được ghi trong điều lệ liên doanh. Nếu là vốn tự có thì phải có bản giải trình về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở 3 năm trước đây và hiện tại chứng tỏ cơ sở đã, đang và sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ và do đó đảm bảo có vốn để thực hiện dự án.

    Tiếp đó, phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lượng và tiến độ. Nếu khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu cầu thì dự án được chấp nhận. Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xem xét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm quy mô của dự án.

    Sau khi đã xác định được các nguồn tài trợ cho dự án thì cần xác định cơ cấu nguồn vốn cho dự án. Điều này có nghĩa là tính toán tỷ lệ từng nguồn chiếm trong tổng mức vốn đầu tư dự kiến. Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện của các công việc đầu tư (trong phần phân tích kỹ thuật) và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn cụ thể. Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiền cần thiết thực tế phải huy động hàng năm trong trường hợp có biến động giá cả hoặc lạm phát.

    1.3.2.3. Xác định chi phí sản xuất và giá thành:

    Sau khi đã xác định được nguồn vốn cho dự án, ngân hàng tiếp tục xác định tổng chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm dự kiến. Tổng doanh thu bao gồm cho phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm các loại chi phí vật chất, chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí sử dụng vốn và khấu hao TSCĐ. Chi phí ngoài sản xuất bao gồm các loại như chi phí quảng cáo, chi phí dự phòng lưu thông sản phẩm và các chi phí khác… Ngân hàng cần xác định giá thành của từng loại sản phẩm, đánh giá các khoản mục chi phí tạo nên giá thành sản phẩm cao hay thấp, có hợp lý hay không, so sánh với giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm tương tự trên thị trường và từ đó rút ra những kết luận cụ thể. Để tính giá thành sản phẩm cần căn cứ vào tổng mức chi phí, mức chênh lệch giá, xác định được các hao hụt ngoài dự kiến để tiến hành phân bổ cho số lượng thành phẩm một cách hợp lý. Khi đó trong quá trình thẩm

    19

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    định cần chú ý tới toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm, các loại khấu hao (hữu hình và vô hình), kiểm tra chi phí nhân công, phân bổ các chi phí lãi vay ngân hành, tính toán lại các mức thuế phải nộp, tránh thừa thiếu hay áp dụng sai mức thuế.

    1.3.2.4. Xác định doanh thu và lợi nhuận của dự án:

    Doanh thu của dự án là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ thu được trong năm dự kiến. Doanh thu của dự án được xác định trên cơ sở chi phí sản xuất giá bán buôn sản phẩm dịch vụ của dự án. Cần chú ý tới các chỉ tiêu tổng sản lượng, tổng doanh thu, lợi nhuận trước thuế, công suất hoạt động… Doanh thu cần được xác định rõ từng nguồn dự kiến theo năm. Thông thường trong những năm đầu, hoạt động doanh thu đạt thấp hơn những năm sau (50 – 60%) doanh thu khi ổn định).

    Lợi nhuận của dự án là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất các sản phẩm. Lợi nhuận của dự án mà người thẩm định quan tâm bao gồm lợi nhuận gộp, lợi nhuận ròng trước thuế, lợi nhuận ròng sau thuế…

    1.3.2.5. Xác định dòng tiền dự kiến:

    Dòng tiền ròng = Tổng các khoản thu trong kỳ – Chi phí trong kỳ

    NCF      =                      B                                                                      C

    Trong đó, khoản thu trong kỳ (ký hiệu là B): nó có thể là doanh thu thuần

    của các năm trong kỳ, giá trị thanh lý tài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản này hêt tuổi thọ quy định) và ở cuối đời dự án…

    Các khoản chi trong kỳ (ký hiệu là C): nó có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và tạo ra tài sản cố định ở các thời điểm trung gian, chi phí hàng năm của dự án (chi phí này không bao gồm khấu hao)…

    1.3.2.6. Tính toán chỉ tiêu chi phí sử dụng vốn của dự án:

    Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, đặc biệt là những chỉ tiêu hiệu quả tài chính có liên quan đến tỷ suất chiết khấu, ta cần tính được chi phí sử dụng vốn bình quân.

    m

    Σ I k .rk

    r = k =1m

    Σ I k

    k =1

    Trong đó:

    Ik: là số vốn đầu tư của nguồn thứ k

    rk: là lãi suất tương ứng của nguồn đó

    m: là số nguồn vốn huy động được cho dự án

    Tỷ suất chiết khấu r sẽ được dùng trong thẩm định tài chính dự án.

    20

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.3.2.7. Xác định các chỉ tiêu phân tích tài chính dự án (hiệu quả đầu tư):

    Trên thực tế có khá nhiều chỉ tiêu đánh giá dự án về mặt tài chính, song các chỉ tiêu phổ biến và cơ bản nhất thường được dùng trong thẩm định tài chính dự án gồm có:

    • Giá trị hiện tại của thu nhập thuần – NPV (Net Present Value): NPV là thu nhập ròng có được do thực hiện dự án tính ở thời điểm hiện

    tại. Chỉ tiêu NPV cho phép ta đánh giá được một cách đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án. Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí của cả đời dự án. Với ý nghĩa như vậy, NPV được xem như là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá và lựa chọn dự án. NPV được tính theo công thức sau:

    n B C i  
    NPV = Σ i
    (1 + r)i  
    i=0
    • Đánh giá dự án theo chỉ tiêu này đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên

    tắc sau:

    + Chỉ chấp nhận các dự án có NPV > = 0

    • Nếu lựa chọn dự án trong một tập hợp các dự án được chọn là dự án có NPV lớn nhất.
    • Chỉ tiêu NPV có các hạn chế sau:
    • Không thấy được lợi ích thu được từ một đồng vốn đầu tư.
    • Phụ thuộc vào cách lựa chọn tỷ suất triết khấu
    • Không áp dụng được trực tiếp để so sánh, lựa chọn các dự án có vòng đời hay vốn đầu tư khác nhau.

    ¾ Hệ số hoàn vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Returns):

    Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết

    khấu để tính chuyển các khoản thu và các khoản chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại, thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác là giá trị hiện tại của thu nhập thuần của dự án sẽ bằng không. Đây là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính dự án. Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được. Dự án được lựa chọn khi IRRda > MARR (Minimum Attractive Rate of Return). MARR được gọi là mức lãi suất thấp nhất có thể chấp nhận được. Nó chủ yếu được tính trên cơ sở kinh nghiệm của người chủ đầu tư hoặc ngân hàng thẩm định. IRRda được tính theo công thức:

    n Bi n Ci    
    Σ   − Σ   = 0  
    (1+ r)i (1 + r)i
    i=0 i=0    

    Ưu điểm: Có thể tính toán được mà không cần số liệu về tỷ suất chiết khấu.

    Nhược điểm: không xác định được IRR trong trường hợp dòng tiền bị biến dạng, thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc ngược lại, vì có rất nhiều đáp

    21

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    số khác nhau.

    • Thời gian hoàn toàn vốn (Pay – back Period):

    Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời gian cần thiết để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm.

    Thời gian hoàn vốn có thể được tính theo hai cách: Thời gian hoàn vốn giản đơn (không triết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

    Thời gian hoàn vốn giản đơn:

    T                    T

    Σ Bi − Σ Ci  = 0

    i=0                i=0

    Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng không xét đến thời giá của đồng tiền nên không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn.

    Trong đó: T: là thời gian hoàn vốn chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền.

    Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:

    T Bi T Ci    
    Σ   − Σ   = 0  
    (1+ r)i (1 + r)i
    i=0 i=0    

    Trong đó: T là khoảng thời gian hoàn vốn có chiết khấu

    Ưu điểm: Mang tính thực tế cao, là căn cứ để ra quyết định đầu tư, giảm thiểu rủi ro vì dữ kiện trong những năm đầu của dự án bao giờ cũng đạt độ tin cậy cao hơn.

    Nhược điểm: Không cho biết thu nhập lớn hay nhỏ sau kỳ hoàn vốn, trong thực tế đây cũng là mối quan tâm lớn của nhà đầu tư. Có những dự án thời gian đầu mang lại thu nhập rất thấp nhưng triển vọng về lâu dài lại có thể tốt đẹp

    • Điểm hoà vốn của dự án (Break – Even Point):

    Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chi phí bỏ ra. Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, do đó tại đây dự án chưa có lãi nhưng cũng không bị lỗ. Bởi vậy, chỉ tiêu này cho biết khối lượng sản phẩm hoặc mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp nhất cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra. Điểm hoà vốn có thể được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật (sản lượng tại điểm hoà vốn) hoặc chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểm hoà vốn). Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu của dự án tại điểm hoà vốn thì dự án có lãi, ngược lại nếu thấp hơn thì dự án bị lỗ. Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn. Có hai cách xác định điểm hoà vốn đó là phương pháp đại số và phương pháp đồ thị.

    Theo phương pháp đại số, người ta gọi x là khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc bán đựơc, gọi x0 là khối lượng sản phẩm tại điểm hoà vốn, f là chi phí cố

    22

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    định (định phí), v là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm (biến phí), v . x là tổng biến phí, p là đơn giá sản phẩm. Ta có hệ phương trình sau:

    yDT = px

    yCF = v.x + f

    Tại điểm hoà vốn thì px0 = vx0 + f suy ra:

    Sản lượng hoà vốn:

    =          f

    0         p v

    Doanh thu hoà vốn:

    DT0  = 1 f vp

    Người ta có thể tính các loại điểm hoà vốn khác nhau như điểm hoà vốn lãi lỗ, điểm hoà vốn hiện kim hoặc điểm hoà vốn trả nợ.

    • Số lần quay vòng của vốn lưu động:

    L =  0i

    Wci

    Trong đó: Oi: Doanh thu thuần bình quân năm kỳ nghiên cứu

    Wci: Vốn lưu động bình quân năm kỳ nghiên cứu

    Nếu L = [L]: dự án có số quay vòng vốn tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt

    động của dự án. L > [L]: dự án không đạt hiệu quả hoạt động, cần được sửa đổi.

    Trong đó [L] là số vòng quay vốn lưu động bình quân năm cho phép.

    • Tỷ suất sinh lời vốn của vốn đầu tư:

    RRi = WipvIvo

    Trong đó:

    Wipv: Lợi nhuận thuần thu được năm thứ i theo mặt bằng giá trị khi các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.

    Ivo: Tổng vốn đầu tư thực hiện ước tính đến thời điểm các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.

    Trường hợp RRi = [RRi], dự án có tỷ suất sinh lời vốn đầu tư càng lớn thì hiệu quả tài chính dự án càng cao. RRi < [RRi], dự án đầu tư không đạt hiệu quả

    cần được sửa đổi bổ sung. Trong đó [RRi] là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư cho phép.

    Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính dự án. Tuỳ theo yêu cầu hay tình huống cụ thể mà người thẩm định còn có thể lựa chọn rất nhiều các chỉ tiêu khác nữa nhằm đưa ra đánh giá

    23

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tổng quan hơn (ví dụ như tỷ suất sinh lời của vốn tự có, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư…)

    1.3.3. Chất lượng thẩm định tài chính dự án tại NHTM.

    1.3.3.1. Khái niệm chất lượng thẩm định dự án đầu tư:

    Hoạt động thẩm định dự án nói chung và hoạt động thẩm định tài chính dự án nói riêng có ảnh hưởng quyết định và trực tiếp đến các khoản cho vay, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, nâng cao chất lượng thẩm định tài trợ dự án đầu tư là nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên của mỗi ngân hàng.

    Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là sự đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của ngân hàng trong hoạt động cho vay: nâng cao chất lượng cho vay, hỗ trợ cho việc ra quyết định cho vay với phương châm sinh lợi và an toàn của ngân hàng. Trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư, các cán bộ phải xem xét, đánh giá một cách khách quan những vấn đề có liên quan đến khía cạnh tài chính của một dự án đầu tư. Các cán bộ phải đánh giá xem: dự án có mang lại lợi nhuận để có khả năng trả nợ cho ngân hàng không? Thời gian trả nợ là bao lâu? ..v..v..

    Vậy với chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư thể hiện mức độ chính xác, trung thực và linh hoạt trong việc đánh giá khía cạnh tài chính của dự án đầu tư. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tốt sẽ đảm bảo cho các quyết định đầu tư của ngân hàng hợp lý, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, rủi ro không thu hồi được vốn là thấp.

    1.3.3.2.  Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án:

    Thẩm định dự án là một công cụ quản lý và kiểm tra quan trọng của ngân hàng nhằm đưa ra những quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đồng thời tham gia góp ý kiến cho các chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay, thu đủ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Mặt khác, thẩm định tài chính dự án còn là cơ sở để xác định số tiền cho vay, mức thu nợ, thời hạn hợp lý, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

    Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định dự án có ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở các yếu tố, các quy trình thẩm định, ta có thể xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định làm cơ sở, căn cứ cho công tác thẩm định. Đó là yêu cầu và trách nhiệm đồng thời cũng là mong muốn của tất cả hệ thống ngân hàng. Hiện nay ở nước ta chưa có một cơ quan, ban ngành nào thực hiện được điều này.

    Chất lượng thẩm định thể hiện ở chỗ, các kết luận, các đánh giá về dự án có phải là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư cho dự án hay không. Đối với các nhà quản lý ngân hàng, hoạt động thẩm định được coi là có chất lượng khi nó hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định có đầu tư, có cho vay

    24

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    hay không và tất nhiên, là đầu tư phải an toàn, sinh lợi cho ngân hàng.

    Sau đây là một số chỉ tiêu cụ thể phản ánh chất lượng thẩm định:

    • Thẩm định đúng quy trình khoa học và toàn diện
    • Thông tin thu thập đa dạng được sử dụng tốt để làm căn cứ cho ra quyết định đánh giá khách quan
    • Công tác tổ chức và quản lý bộ máy thẩm định phù hợp với hoạt động của ngân hàng
    • Thẩm định với thời gian ngắn, chi phí thấp (giảm thời gian và chi phí thẩm định trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu).
    • Phát hiện và dự báo tốt các xu hướng, các rủi ro liên quan đến quá trình đầu tư, có biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro.
    • Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá dự án phù hợp với từng dự án.

    Kết quả thẩm định đưa về việc đánh giá:

    • Độ rủi ro của dự án
    • Khả năng sinh lời của dự án
    • Tính khả thi của dự án

    Có thích hợp và hợp lý không?

    Cuối cùng, việc cho vay sẽ liên quan đến việc ngân hàng:

    • Có khả năng thu hồi được nợ không? Làm sao để không có nợ quá hạn, nợ khó đòi chỉ là tạm thời?
    • Đóng góp của dự án vào nền kinh tế quốc dân là nhiều hay ít, có thực

    hiện chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội hay không?

    Nếu như việc thẩm định dự án đầu tư được thực hiện với chất lượng tốt thì quyết định đầu tư hợp lý của ngân hàng sẽ dc đảm bảo:

    • Tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
    • Rủi ro không thu hồi được vốn của ngân hàng là thấp nhất.

    Tất nhiên việc đánh giá chính xác hiệu quả của từng quá trình thẩm định dự án là rất khó khăn và đòi hỏi thời gian dài. Mỗi khâu của quá trình thẩm định đạt chất lượng tốt thì chất lượng thẩm định dự án sẽ cao, đem lại hiệu quả cho ngân hàng trong công tác cho vay đầu tư của mình.

    1.3.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư:

    Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư ở ngân hàng thương mại phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau, muốn nâng cao chất lượng hoạt động này ngân hàng phải xem xét kỹ từng nhân tố. Thông thường chất lượng thẩm định tài chính chịu sự tác động của một số nhân tố sau:

    1.3.3.3.1. Về phía ngân hàng:

    • Thông tin:

    25

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thông tin là cơ sở cho phân tích đánh giá, là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Muốn có kết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải có được thông tin, số liệu đầy đủ, chính xác trên nhiều góc độ khác nhau. Để có được nguồn thông tin cần thiết cho dự án, ngân hàng có thể dựa vào các thông tin do chủ đầu tư cung cấp hoặc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến vấn đề cần đánh giá và tiến hành sắp xếp thông tin, sử dụng các phương pháp xử lý thông tin một cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định.

    Hiện nay để có được thông tin về khách hàng của mình không khó đối với ngân hàng nhưng làm sao để có những thông tin chính xác mới là vấn đề ngân hàng phải quan tâm. Thông thường để thuận lợi cho việc đi vay, dự án mà chủ đầu tư đưa đến NH đều khả th và mang tính chủ quan của người lập, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đều cho thấy tình hình tài chính là lành mạnh. Nếu NH chỉ dựa vào các thông tin này thì kết quả thẩm định sẽ không phản ánh đúng thực chất hiệu quả của dự án. Như vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác luôn được đặt ra như một nhu cầu cấp bách đối với công tác thẩm định dự án, thiết lập được một hệ thống thông tin như vậy sẽ giúp cho NH rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH.

    • Cán bộ thẩm định:

    Trong quá trình thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng cán bộ thẩm định luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ họ chính là những người trực tiếp tiến hành hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, và thẩm định tài chính dự án đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi cán bộ thẩm định không những phải có kiến thức sâu về nghiệp vụ, phải am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải có những hiểu biết về các vấn đề liên quan như: Thuế, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ… Do vậy phần nào hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ phụ thuộc vào chất lượng nhân tố con người. Sự hiểu biết và toàn bộ những kiến thức về khoa học, kinh tế, xã hội mà người thẩm định có được dều phải thông qua đào tạo hay sự bồi dưỡng kiến thức mà có; kinh nghiệm, kỹ năng là những gì tích luỹ được thông qua hoạt động thực tiễn; năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở các tri thức, kiến thức đã được tích luỹ. Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt của cán bộ thẩm định là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định và ngược lại, người thẩm định không có kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc, không đánh giá đúng được tính khả thi của dự án.

    Để đạt được chất lượng tốt trong thẩm định tài chính dự án, yêu cầu quan trọng đầu tiên đối với cán bộ thẩm định là phải nắm vững chuyên môn nghiệp vụ. Phải nắm vững các văn bản pháp luật, các chế độ chính sách do Nhà nước

    26

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    quy định đối với các lĩnh vực: Ngân hàng, xây dựng cơ bản, tài chính kế toán… Như vậy cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư. Lấy thông tin gì? Ở đâu? Áp dụng chỉ tiêu nào để đánh giá đều được tiến hành bởi cán bộ thẩm định. Do vậy muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trước hết bản thân trình

    độ kiến thức, năng lực đạo đức của cán bộ thẩm định phải cao.

    • Phương pháp thẩm định và các tiêu chuẩn thẩm định:

    Phương pháp thẩm định là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩm định tài chính dự án. Với nguồn thông tin đã có được, vấn đề đặt ra với ngân hàng là làm thế nào? Lựa chọn phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định dự án có hiệu quả tốt nhất. Mỗi dự án có một đặc trưng nhất định, không phải bất cứ dự án nào cũng cần phải áp dụng và tính toán tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống thẩm định. Việc sử dụng phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định phụ thuộc vào quyết định của mỗi ngân hàng. Với mỗi dự án, phương pháp tốt nhất là phương pháp phù hợp nhất nhưng chưa chưa chắc chắn rằng phương pháp đấy là hiện đại nhất. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, những phương pháp thẩm định tài chính dự án hiện đại đã giúp cho việc phân tích, đánh giá dự án được toàn diện, chính xác và hiệu quả hơn. Song điều quan trọng là ngân hàng phải biết áp dụng đồng bộ các chỉ tiêu đảm bảo tính toàn diện và cũng phải lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất phù hợp với tình hình thực tế của ngành, dự án cũng như khả năng điều kiện cụ thể của ngân hàng.

    Khi dùng một phương pháp, một chỉ tiêu để thẩm dịnh cán bộ thẩm định phải hiểu rõ phương pháp ấy có những ưu nhược điểm gì, có phù hợp để thẩm định dự án không? Ví dụ như dùng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để thẩm định tài chính dự án đầu tư, phương pháp này không quan tâm đến dòng tiền sau năm thu hồi vốn, do đó không lường trước được những rủi ro trong tương lai ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án như thế nào? Do vậy nó thích hợp cho những dự án nhỏ, hao mòn nhanh, phải thu hồi vốn nhanh. Cán bộ thẩm định phải nắm chắc những nhược điểm ấy của chỉ tiêu để thẩm định những dự án phù hợp với nó. Rõ ràng ở đây nếu ngân hàng chỉ áp dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cho các dự án có thời gian dài, quy mô lớn thì không hiệu quả.

    Lạm phát là yếu tố bất định ảnh hưởng đến việc thẩm định tài chính dự án. Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian, do vậy nó làm biến đổi dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi đánh giá tài chính dự án đầu tư. Mức lạm phát không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố: quy luật cung cầu, tâm lý người tiêu dùng, sức mạnh nền kinh tế. Các biến số tài chính trong dự án, các yếu tố đầu vào của các chỉ tiêu NPV, IRR đều chịu tác động của lạm phát. Do vậy để đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó cần phải xác định một cách chính xác hợp lý giá cả của các yếu tố trong chi phí hay doanh thu của dự án. Nếu giá được cung cấp trong dự án là giá cố định,

    27

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    không thay đổi theo thời gian và nếu có được áp dụng trong suốt thời gian hoạt động của dự án thì một mặt người lập dự án đã đơn giản hoá việc xây dựng các bảng tóm tắt tài chính của dự án, mặt khác nó đã loại ra khỏi dự án sự phân tích các thông tin kinh tế, tài chính có thể ảnh hưởng đến kết quả của dự án. Nếu giá cả đầu vào đầu ra của dự án được điều chỉnh trong suốt thời gian hoạt động của dự án theo một xu hướng mà nhà thẩm định giả định cho các thời kỳ trong tương lai thì đó là giá thực. Đó là giá có thể có trong tương lai, được dự đớn trên mức cung cầu hàng hoá hay sản phẩm của dự án trong một khoảng thời gian với các nguồn cung cấp sẵn có và các yếu tố bên ngoài khác có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Sử dụng giá này giúp cho việc tính toán xây dựng các biến số của bảng tài chính sẽ đáng tin cậy hơn, chính xác hơn, giúp cho công tác thẩm định có hiệu quả hơn.

    Lãi suất chiết khấu là yếu tố quan trọng trong thẩm định tài chính dự án đầu tư. Việc thay đổi lãi suất có ảnh hưởng đến giá trị hiện tại của các khoản thu nhập và chi phí. Nếu lãi suất này quá thấp sẽ khuyến khích đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, nếu nó quá cao sẽ hạn chế đầu tư. Hiện nay chúng ta chưa có một quy định thống nhất nào về tỷ lệ này đối với từng ngành nghề cụ thể cũng như không có một chuẩn mực nào để xác định lãi suất chiết khấu dẫn đến dùng các tỷ lệ khác nhau để đánh giá, so sánh dự án gây lên sự khó khăn không chính xác trong công tác thẩm định.

    • Một số nhân tố khác: – Tổ chức điều hành:

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nhiều hoạt động liên quan chặt

    chẽ với nhau, kết quả của nó phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức, điều hành, sự phối hợp các bộ phận trong quá trình thẩm định sẽ tránh được sự chồng chéo, phát huy được những mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu của mỗi tác nhân và trên cơ sở đó giảm bớt chi phí cũng như thời gian thẩm định. Tổ chức thẩm định hợp lý khoa học sẽ khai thác được các nguồn lực cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, qua đó nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH.

    – Trang thiết bị công nghệ:

    Hiện nay khoa học kỹ thuật hiện đại đã ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là công nghệ thông tin đã được ứng vào trong ngành ngân hàng làm tăng khả năng thu thập, xử ký và lưu trữ thông tin một cách hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó cung cấp thông tin cho việc thẩm định tài chính dự án đầu tư một cách hiệu quả hơn. Hiện nay, có rất nhiều phần mềm chuyên dùng cho ngân hàng nói chung và cho công tác thẩm định nói riêng được thuận tiện hơn. Các cán bộ thẩm định có thể truy cập và xử lý một lượng thông tin lớn mà vẫn tiết kiệm thời gian, các chỉ tiêu tính toán đã được cài đặt chỉ cần nạp số liệu vào máy sẽ cho các chỉ tiêu như: NPV, IRR. Nhưng nếu máy hoặc chương trình có sự cố

    28

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    thì sẽ cho kết quả thẩm định không chính xác, đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải xem xét lại kết quả thẩm định để cho một kết luận chính xác.

    1.3.3.3.2. Về phía khách hàng

    Đối vơi khách hàng, các dự án mà khách hàng mang tới ngân hàng phải đưa ra các con số tương đối chính xác về khoản chi phí, doanh thu của khách hàng bởi nhiều khi khách hàng đưa ra những con số không chính xác về giá cả, chi phí, doanh thu, các cán bộ ngân hàng phải mất nhiều thời gian và công sức điều tra lại để có những con số chính xác hoặc ít nhất là tương đối chính xác. Nhưng nếu gặp những cán bộ không có trách nhiệm nghề nghiệp họ sẽ chẳng cần phải kiểm tra lại khi đó tính thiếu chính xác trong những con số mà khách hàng đưa ra sẽ dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng là kết luận sai về tính khả thi của dự án và nếu ngân hàng cho vay thì sẽ dẫn đến thua lỗ. Do đó chất lượng thẩm định dự án của ngân hàng sẽ bị đánh giá là thấp.

    1.3.3.3.3. Về phía cơ quan hữu quan:

    Cơ quan hữu quan – đó là những cơ quan quản lý ngân hàng hoặc những văn bản chính sách của các cơ quan này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Khi các cơ quan này đưa ra những văn bản mới thì sự kịp thời, tính hợp lý của chúng và của các văn bản hướng dẫn kèm theo có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng nói chung và công tác thẩm định của ngân hàng nói riêng. Các văn bản này có thể kể tới các văn bản hướng dẫn tính khấu hao, tính tiền thuế đất đai của nhà nước, tính giá trị của tài sản, hay những hướng dẫn về thuế là những văn bản có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thẩm định của ngân hàng.

    Các yếu tố về phía ngân hàng, khách hàng hay cơ quan hữu quan dù có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng nhưng chúng đều là cơ sở để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án của các ngân hàng.

    29

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG

    ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

    2.1. Khái quát về Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.1. Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.1.1. Lịch sử hình thành:

    Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có tiền thân là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.

    Ngày 26/04/1957, Thủ tướng chính phủ đã ký nghị định 177-TTG thành lập Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính. Ngân hàng thực hiện chức năng thay thế cho Vụ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản, với nhiệm vụ chủ yếu là thanh toán và quản lý vốn do nhà nước cấp cho kiến thiết cơ bản, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược. Từ năm 1957 – 1981, ngân hàng là một cơ quan của Bộ tài chính, hoạt động của ngân hàng nặng về kiểm soát, đánh giá và quản lý vốn, thanh toán các công trình xây dựng cơ bản hơn là cho vay. Ngân hàng không mang bản chất của một ngân hàng thực sự.

    Đến ngày 24/06/1981, Hội đồng chính phủ đã ra quyết định số 259/CP về việc chuyển Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính thành Ngân hàng Đầu tư & Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng vẫn chưa thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, mà nhiệm vụ chính của ngân hàng là thu hút và quản lý các nguồn vốn xây dựng cơ bản, tài trợ cho các công trình không đủ vốn tự có hoặc không nằm trong danh sách do ngân sách cấp, là đại lý thanh toán các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư.

    Ngày 14/01/1990, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định số 401/CT thành lập Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, thay thế cho ngân hàng đầu tư và kiến thiết cũ. Ngân hàng đã bắt đầu thực hiện chức năng kinh doanh và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế, là một trong 5 ngân hàng Quốc doanh có vai trò đi đầu trong lĩnh vực đầu tư và phát triển của nước ta.

    2.1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ:

    Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có các chức năng và nhiệm vụ sau:

    – Huy động vốn ngắn – trung – dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư phát

    triển.

    30

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Kinh doanh đa năng tổng hợp về tài chính, tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng.
    • Làm ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ đầu tư phát triển từ các nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức kinh tế – xã hội, cá nhân và đoàn thể trong và ngoài nước theo quy định về Pháp luật ngân hàng…

    Trong những năm vừa qua, mặc dù nền kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động và bất ổn, nhưng với sự cố gắng của mình, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã sáng tạo, nỗ lực triển khai các giải pháp trong hoạt động kinh doanh, đạt kết quả toàn diện tích cực trên cả 3 mặt: hoàn thành kế hoạch kinh doanh, lộ trình cơ cấu lại và xây dựng ngành, góp phần cùng toàn ngành ngân hàng thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước.

    2.1.2. Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.2.1. Lịch sử hình thành:

    • Căn cứ vào quyết định số 76/QĐ – TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, về việc thành lập Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.
    • Căn cứ vào Điều lệ tổ chức, hoạt động của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam ban hành và quyết định 349/QĐ/NH5 ngày 16/10/1997 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam.

    Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường, trực tiếp kinh doanh và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, có trụ sở chính tại 53 Quang Trung (Đã chuyển về Trung tâm Thương mại VINCOM – 191 Bà Triệu).

    2.1.2.2. Chức năng và nhiệm vụ:

    • Thực hiện cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VND, ngoại tệ, bảo lãnh cho các khách hàng theo các chế độ tín dụng hiện hành, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của đồng vốn.
    • Thực hiện tư vấn trong hoạt động tín dụng và uỷ thác đầu tư theo quy

    định.

    • Thực hiện việc huy động vốn từ mọi nguồn vốn hợp pháp cua các khách hàng như: tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn cả VND và ngoại tệ.
    • Tổ chức việc lập kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm của phòng và tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của SGD.
    • Thực hiện các báo cáo thống kê theo chuyên đề định kỳ hoặc đột xuất về hoạt động tín dụng, bảo lãnh theo quy định của BIDV và giám đốc.
    • Tổ chức thực hiện công tác khách hàng thường xuyên, phục vụ và khai thác tiềm năng của khách hàng truyền thống, mở rộng và phát triển khách hàng mới.

    31

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Tham mưu cho giám đốc về chiến lược kinh doanh, chính sách khách hàng, tín dụng, lãi suất của SGD.
    • Tổ chức lập, lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu theo đúng quy định.
    • Thu chi, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền mặt, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ, vàng bạc đá quý, in ấn giấy tờ có giá tại quỹ nghiệp vụ.

    2.1.2.3. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I:

    Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có cơ cấu tổ chức như sau:

    32

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ban Giám đốc

    Khối tín dụng

    Phòng tín dụng I

    Phòng tín dụng II

    Phòng tín dụng III

    Khối dịch vụ khách hàng

    Phòng Thanh toán quốc tế

    Phòng DV KH cá nhân

    Phòng DV KH doanh nghiệp

    Phòng tiền tệ – Kho quỹ

    Khối hỗ trợ kinh doanh

    Phòng kế hoạch – Nguồn vốn

    Phòng Thẩm định & Quản lý

    Khối nội bộ

    Phòng Tài chính – Kế toán

    Phòng Điện toán

    Phòng Tổ chức – Hành chính

    Phòng K.tra-Kiểm soát nội bộ

    Khối đơn vị trực thuộc

    Phòng Giao dịch I

    PGD Quang Trung

    PGD Nguyễn ĐÌnh Chiểu

    (Nguồn: Báo cáo cơ cấu tổ chức Sở giao dịch I)

    2.1.2.4. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại Sở giao dịch I:

    • Căn cứ quyết định số 76/QĐ – TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng Giám đốc Ngân hàng ĐT&PT VN về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam.

    33

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Căn cứ quyết định số 3198/QĐ – HĐQT ngày 04/09/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng ĐT&PT VN về việc phê duyệt cơ cấu tổ chức bộ máy thí điểm áp dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam.
    • Căn cứ công văn 3220/CV – TCCB2 ngày 05/09/2003 của Ngân hàng ĐT&PT VN về việc bổ nhiệm, bố trí cán bộ;

    Theo đề nghị của Trưởng phòng tổ chức hành chính Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, Giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT VN quyết định thành lập các phòng nghiệp vụ sau đây trực thuộc Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam:

    2.1.2.4.1. Phòng Tín dụng:

    • Thực hiện việc cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn bằng VND và ngoại tệ, bảo lãnh cho các khách hàng theo chế độ tín dụng hiện hành, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho đồng vốn.
    • Thực hiện tư vấn trong hoạt động tín dụng vả dịch vụ uỷ thác đầu tư theo quy định… tổ chức việc lập kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm của phòng và tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của Sở giao dịch.
    • Tổ chức thực hiện công tác khách hàng thường xuyên: phục vụ và khai thác tiềm năng của khách hàng truyền thống, mở rộng phát triển khách hàng mới.
    • Tham mưu cho giám đốc về chiến lược kinh doanh, chính sách khách hàng, chính sách tín dụng và chính sách lãi suất của Sở giao dịch.

    Bên cạnh đó, phòng tín dụng cũng hỗ trợ cho phòng nguồn vốn trong việc huy động vốn nếu có khách hàng gửi vào ngân hàng thông qua phòng tín dụng.

    2.1.2.4.2. Phòng Thanh toán quốc tế:

    Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế như: mở L/C, thanh toán L/C cho khách hàng, thực hiện dịch vụ Ngân hàng quốc tế khác….

    Thực hiện nghĩa vụ đối ngoại với các NH nước ngoài.

    Thực hiện công tác tiếp thị các sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng.

    2.1.2.4.3. Phòng nguồn vốn kinh doanh:

    Phòng nguồn vốn thực hiện việc huy động vốn từ mọi nguồn vốn hợp pháp của khách hàng như: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn… bằng cả VND và ngoại tệ.

    Bên cạnh đó phòng nguồn vốn cũng thực hiện nhiệm vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của tổng giám đốc, phòng tổ chức quản lý và điều hành tài sản nợ, tài sản có bằng tiền của Sở giao dịch để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, an toàn đúng quy định của pháp luật và trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ kinh doanh tại Sở giao dịch theo phân công

    Tổ chức thực hiện công tác thẩm định kinh tế kỹ thuật và tư vấn theo yêu cầu. Tổng hợp thông tin, báo cáo thống kê-phòng ngừa rủi ro phục vụ công tác

    34

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    điều hành của nghành và Sở giao dịch.

    2.1.2.4.4. Phòng tài chính kế toán:

    Thực hiện hạch toán kế toán để phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ phát sinh tại Hội sở Sở giao dịch.

    Thực hiện báo cáo kế toán đối với các cơ quan quản lý Nhà Nước theo chế độ hiện hành và cung cấp số liệu báo cáo định ký hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ban lãnh đạo Ngân Hàng đầu tư và phát triển, Ban giám đốc Sở giao dịch. Trực tiếp thực hiện kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng như: dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ trả lương…

    2.1.2.4.5. Phòng quản lý khách hàng:

    Nghiên cứu thị trường, xác định thị phần của Sở giao dịch để tham mưu cho Giám đốc xây dựng chiến lược khách hàng, định hướng phát triển nền khách hàng bền vững phục vụ kinh doanh của Sở giao dịch. Xây dựng chính sách chung đối với khách hàng, nhóm khách hàng và từng khách hàng cụ thể.

    Tham mưu cho Giám đốc sử dụng chính sách khách hàng linh hoạt trong các thời kỳ, giai đoạn cụ thể về lãi suất, phí, dịch vụ và các chính sách khác để đạt được hiệu quả trong kinh doanh.

    2.1.2.4.6. Phòng thanh toán quốc tế:

    Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế như: mở L/C, thanh toán L/C cho khách hàng, thực hiện dịch vụ Ngân hàng quốc tế khác….

    Thực hiện nghĩa vụ đối ngoại với các NH nước ngoài.

    Thực hiện công tác tiếp thị các sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng.

    2.1.2.4.7. Phòng Tiền tệ – Kho quỹ:

    Thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ kho quỹ :Quản lý quỹ nghiệp vụ của chi nhánh, thu chi tiền mặt, quản lý vàng bạc, kim loại quý, đá quý.Quản lý các chứng chỉ tiền gửi có giá, hồ sơ tài sản cầm cố thế chấp .

    Thực hiện xuất- nhập tiền mặt để đảm bảo thanh khoản tiền mặt cho chi nhánh, thực hiện các dịch vụ tiền tệ kho quỹ cho khách hàng.

    2.1.2.4.8. Phòng Giao dịch:

    Phòng giao dịch chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch đối với khách hàng là cá nhân và các TCKT khác, tiếp nhận các thông tin phản hồi từ khách hàng; duy trì và kiểm soát các giao dịch đối với khách hàng; tiếp thị sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng;

    Tham mưu cho Giám đốc về chính sách khách hàng của Sở giao dịch.

    2.1.2.4.9. Phòng kiểm soát nội bộ:

    Thực hiện công tác kiểm soát trong nội bộ các hoạt động kinh doanh tại Sở giao dịch theo quy chế của nghành, của pháp luật cũng như của bản thân Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    2.1.2.4.10. Phòng Điện toán:

    Quản lý mạng, quản lý hệ thống phân quyền truy cập, kiểm soát theo

    35

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    quyết định của Giám đốc, quản lý hệ thống máy móc thiết bị tin học tại Sở giao dịch, đảm bảo an toàn thông suốt mọi hoạt động của Sở giao dịch;

    Hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ các đơn vị trực thuộc Sở giao dịch vận hành hệ thống tin học phục vụ kinh doanh, quản trị điều hành của Sở giao dịch.

    2.1.2.4.11. Phòng thẩm định quản lý tín dụng:

    Thẩm định các dự án cho vay, bảo lãnh các khoản tín dụng vượt mức phán quyết của trưởng phòng tín dụng.Tham gia ý kiến về quyết định cấp tín dụng đối với các dụ án trung dài hạn.

    Thẩm định đánh giá về tài sản đảm bảo nợ vay.

    Định kỳ kiểm soát phòng tín dụng và việc giải ngân vốn vay.Kiểm tra theo dõi việc sử dụng vốn vay của khách hàng.Giám sát các khoản vay vượt hạn mức, việc trả nợ, giá trị tài sản đảm bảo,các khoản vay đả đến hạn, hết hạn.

    Theo dõi tổng hợp hoạt động tín dụng tại sở giao dịch.Giám sát việc tuân thủ các quy định của NHNN,quy định và chính sách của NHĐT&PTVN.

    Là đầu mối tổng hợp và đánh giá thục hiện các loại báo cáo tín dụng.

    2.1.2.4.12. Phòng tổ chức hành chính:

    Tham mưu cho giám đốc và hướng dẫn cán bộ thực hiện các chế độ chính sách của pháp luật về trách nhiệm và quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động.

    Phối hợp với các phòng nghiệp vụ để xây dựng kế hoạch, phát triển mạng lưới thành lập hay giải thể các đơn vị trực thuộc SGD.

    Lập phương án và tổ chức tuyển dụng nhân sự, theo dõi, bảo mật hồ sơ lý lịch và nhận xét cán bộ công nhân viên

    Quản lý thực hiện chế độ tiền lương và bảo hiểm của cán bộ công nhân viên, thực hiện nội quy cơ quan.

    Thư ủy quyền GĐ ký một số công văn trong pham vi nội bộ do GĐ quy

    định.

    2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Sở giao dịch I trong những năm gần đây.

    Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (2002 – 2004).

    36

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
                 
            Đơn vị: Triệu đồng.
      Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
             
    I. Huy động vốn 6.650.856 7.626.796 8.408.300 8.722.544
    1. Tiền gửi khách hàng 1.953.133 2.338.372 2.771.700 3.705.456
    + Tiền gửi không kỳ hạn 633.032 666.279 556.410 1.019.978
    + Tiền gửi có kỳ hạn 1.320.101 1.672.093 2.215.290 2.685.478
    2. Tiền gửi trong dân cư 4.392.226 5.288.424 5.636.600 5.017.088
    + Tiết kiệm 2.349.607 2.508.236 2.404.572 2.508.801
    + Kỳ phiếu 903.629 1.670.934 1.688.811 461.017
    + Trái phiếu 1.138.990 1.109.203 1.072.424 2.047.270
    3. Huy động khác 96.493   470.793    
    II. Tín dụng 5.223.826 5.660.368 4.994.625 5.319.184
    1. Cho vay ngắn hạn 1.310.429 830.339 825.170 1.069.764
    2. Cho vay trung dài hạn 1.813.109 2.265.679 1.955.707 1.681.642
    3. Cho vay KHNN 1.026.498 1.012.176 728.528 644.344
               
    4. Cho vay uỷ thác, ODA 387.955 432.392 466.980 484.692
    5. Cho vay TCTD khác 381.097     39.120
    6. Cho vay đồng tài trợ 304.738 934.905 1.018.240 1.399.621
               
    III. Chỉ tiêu khác          
    + Thu dịch vụ 18.755 24.300 25.650 24.502
    + Tổng tài sản 7.828.329 9.512.447 11.565.000 10.950.980
                 

    (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Sở giao dịch)

    Trong những năm vừa qua, được sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị, của Ban lãnh đạo Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, cùng với sự hợp tác chặt chẽ của các bạn hàng và sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ công nhân viên, Sở giao dịch I đã đạt được những kết quả khả quan. Sở giao dịch I Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam cũng giống như các ngân hàng thương mại quốc doanh khác, hoạt động đa năng trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc. Hiện nay, Sở giao dịch I đang thực hiện hầu hết các nghiệp vụ tài chính tiền tệ như: Nhận tiền gửi và thanh toán; tín dụng bảo lãnh; kinh doanh ngoại tệ; thanh toán quốc tế; bảo hiểm; chứng khoán; tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp; các dịch vụ khác (Rút tiền tự động ATM, Thẻ tín dụng, Home – Banking,…). Sở giao dịch I là đơn vị luôn dẫn đầu hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam trong nhiều năm qua.

    Tính đến 31/12/2004, tổng tài sản đạt 10.950.980 triệu đồng, giảm so với năm 2003 là 614.306 triệu đồng (giảm 5,3%), nhưng tăng 1.438.533 triệu đồng so vói năm 2002 (tăng hơn 15%). Sự giảm sút này thực chất là do năm 2003 – 2004, Sở giao dịch I đã tiến hành tách Phòng Giao dịch số II, nâng cấp thành chi nhánh Đông Đô – Chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Do vậy sự sụt giảm của tổng tài sản năm 2004 không phản ánh được

    37

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gì nhiều kết quả hoạt động – kinh doanh của Sở giao dịch. Hoạt động của Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam được phản ánh qua các nghiệp vụ chính như sau:

    • Công tác huy động vốn:

    Bước vào năm 2004, trước những thuận lợi cũng như những khó khăn và thách thức của nền kinh tế trong và ngoài nước, Sở giao dịch vẫn giữ vững được vị thế của mình trên địa bàn Hà Nội trong công tác huy động vốn, mặc dù Sở giao dịch phải đứng trước sự cạnh tranh gay gắt từ các TCTD khác trên cùng địa bàn. Nguồn tiền gửi khách hàng tăng trưởng qua các năm, năm 2004 đạt 3.705.456 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 42% trong tổng ngồn vốn huy động, tăng 933.756 triệu đồng so với năm 2003 (tăng 34%); tăng 1.367.084 triệu đồng so với năm 2002 (tăng 58.5%). Trong đó nguồn tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng năm 2004 đạt 1.019.978 triệu đồng tăng nhanh so với các năm trước, tăng 53% so với năm 2002 (666.279), và tăng hơn 83% so với năm 2003 (556.410). Nguồn vốn huy động từ nguồn tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng cũng tăng qua các năm, năm 2004 đạt 2.685.478 triệu đồng, tăng thêm 21% so với năm 2003 và tăng 61% so với năm 2002. Có được kết quả này là do Sở giao dịch I đã có những chủ trương kinh doanh hợp lý trong công tác thu hút khách hàng, mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn cùng với việc triển khai nhiều hình thức huy động vốn như chính sách lãi suất, chế độ ưu đãi lãi suất đối với các khách hàng,… Cơ chế điều hành vốn được tập trung hoá toàn ngành, việc quản lý Tài sản Nợ – Có được xem xét và thực hiện phân tích, đánh giá hướng theo thông lệ. Sở giao dịch cũng đã triển khai các sản phẩm phái sinh trên thị trường ngoại hối để phục vụ khách hàng. Với sự nỗ lực và cố gắng đó, Sở giao dịch đã có được những thành công trong công tác huy động vốn từ nguồn tiền gửi khách hàng, đảm bảo một cơ cấu tín dụng hợp lý trong các nguồn ngắn, trung và dài hạn, đồng thời đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của Sở giao dịch.

    Nguồn vốn huy động từ nguồn tiền gửi trong dân cư của Sở giao dịch có sự biến động qua các năm. Trong khi năm 2003, nguồn này đạt 5.636.600 triệu đồng, tăng thêm 7% so với năm 2002 (đạt 5.288.424 triệu đồng) thì đến năm 2004, nguồn huy động từ dân cư chỉ đạt 5.017.088 triệu đồng, chiếm 58% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 11% so với năm 2003 và 5% so với năm 2002. Đó là do trong năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng liên tục ở mức cao (6 tháng đầu năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng tăng 7.2%, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 2.1%), lạm phát có nguy cơ tăng cao hơn các năm trước đã khiến người dân có xu hướng phải giữ lại tiền để đề phòng sự mất giá của đồng tiền. Bên cạnh đó, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, do đó nhu cầu mua sắm và xây dựng của người dân ngày càng tăng và chưa có xu hướng chậm lại. Sự biến động của các thị trường trong và ngoài nước cũng là một trong những nguyên nhân; như thị trường nhà đất, thị trường lãi suất trên thị trường

    38

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tiền tệ nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng,… Vì vậy, lượng tiền gửi của dân cư hầu như không có sự thay đổi nào đáng kể, các ngân hàng thương mại cũng như Sở giao dịch không có được sự thay đổi nào tích cực trong công tác huy động vốn từ dân cư.

    • Công tác tín dụng:

    Dư nợ tín dụng năm 2004 của Sở giao dịch đã có sự phục hồi trở lại sau 1 năm có tỷ lệ tăng trưởng là -6%. Năm 2003, do tình hình kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động và diễn biến phức tạp nên nền kinh tế Việt Nam không có nhiều chuyển biến tích cực, các khoản đầu tư ngắn, trung và dài hạn giảm. Các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước không có được môi trường đầu tư thuận lợi, do vậy các khoản cho vay ngắn, trung – dài hạn đã giảm. Tuy vậy, hoạt động tín dụng đã được cải thiện đáng kể cả về quy mô cũng như chất lượng, chất lượng thẩm định được nâng cao, các nghiệp vụ tín dụng được cải thiện đã góp phần thu hút thêm được các khách hàng đến giao dịch.

    • Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2004 đạt 1.069.764 triệu đồng chiếm tỷ trọng 20% trong tổng dư nợ, tăng so với 2 năm 2002 và 2003 lần lượt là 29% và 30%. Trong năm 2004, Sở giao dịch cũng đã tiến hành giản ngân các khoản vay, bảo lãnh theo hợp đồng hạn mức đã ký; đồng thời ký các hợp đồng hạn mức với Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Công ty Xây lắp XNK số 8; xem xét về đề nghị vay vốn ngắn hạn của các khách hàng, giải ngân, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng; thẩm định các dự án cho vay đối với các công ty: Cty Cổ phần Xây dựng CTGT 246, Cty Cổ phần Ximăng Thăng Long; tiếp cận một số công ty mới có nhu cầu vay vốn ngắn hạn.
    • Dư nợ tín dụng trung – dài hạn của Sở giao dịch năm 2004 giảm so với 2 năm 2002, 2003. Năm 2004, khoản này chỉ đạt 1.984.642 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 32% trong tổng dư nợ, giảm 14% so với năm 2003 (đạt 1.955.707 triệu đồng) và giảm 26% so với năm 2002 đạt 2.265.679 triệu đồng. Sở giao dịch trong năm vừa qua đã thực hiện được nhiều dự án lớn, như hoàn tất thủ tục cho vay và trình Trung ương dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương của TCT than Việt Nam, dự án của TCT Dầu khí Việt Nam,… đồng thời ký hợp đồng với các đối tác: Lilama, Công ty XNK Intimex, Hagarsco,… giản ngân các hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã ký: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ Long…;
    • Dư nợ tín dụng theo Kế hoạch Nhà nước năm 2004 đã giảm đáng kể so với năm 2002 và 2003. Năm 2004, cho vay theo KHNN đạt 644.344 triệu đồng, giảm 12% so với năm 2003 và 36% so với năm 2002. Điều này là phù hợp với chủ trương và thực tế của Sở giao dịch, giảm cho vay theo chỉ định, tăng cường tìm kiếm các dự án cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh, hạn chế sự phụ thuộc vào một số tổng công ty lớn. Trong khi đó, cho vay theo uỷ thác đầu tư, ODA và cho vay đồng tài trợ năm 2004 đã tăng lên qua các năm, đánh dấu sự

    39

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đổi mới trong công tác cho vay của BIDV nói chung và của Sở giao dịch nói riêng. Cho vay uỷ thác, ODA năm 2004 đạt 474.692 triệu đồng, tăng 4% so với năm 2003 và 12% so với năm 2002; cho vay đồng tài trợ tăng nhanh, đạt 1.399.621 triệu đồng, tăng 37% so với năm 2003 đạt 1.018.240 triệu đồng, tăng 50% so với năm 2002 đạt 934.905 triệu đồng.

    Trong những năm vừa qua, Sở giao dịch I đã thực hiện hàng loạt danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một ngân hàng hiện đại, đáp ứng được phần nào các nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như tòan bộ nền kinh tế, góp phần giữ vững vị thế của hế thống BIDV trên địa bàn và trên cả nước.

    • Các hoạt động và dịch vụ khác.

    Hoạt động dịch vụ năm 2004 đã tăng so với các năm trước cả về quy mô và chất lượng, chiếm 20% chênh lệch thu chi năm 2004. Trong năm 2004, thu từ hoạt động dịch vụ đạt 24.502 triệu đồng, dù giảm nhẹ và tăng không đáng kể so với năm 2003 và 2002 (đạt lần lượt là 25.650 triệu đồng và 24.300 triệu đồng) nhưng các dịch vụ ngân hàng đã có nhiều cải thiện cả về chất lượng và quy mô, thuận lợi, nhanh chóng và hợp lý đối với các khách hàng.

    Sở giao dịch I cũng tích cực thực hiện công tác Marketing và đưa ra những chính sách ưu đãi hợp lý nhằm tăng doanh số và lượng khách hàng đến giao dịch tại sở, phối kết hợp với các phòng giao dịch để nắm bắt các thông tin về phía khách hàng. Sở giao dịch I đã tiến hành tăng cường việc tìm kiếm, phát triển khách hàng, tập trung vào các đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp cổ phần, TNHH hoạt động trong các ngành triển vọng; đẩy mạnh công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới; đồng thời tiếp tục hoàn thiện dự án VCB – Money với Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, khai trương các quỹ tiết kiệm mới như Quỹ tiết kiệm 112 Nguyễn An Ninh… Dịch vụ thanh toán trong nước được mở rộng, tăng cả về quy mô và chất lượng. Hoạt động thẻ được phát huy mạnh mẽ, hệ thống thanh toán tự động ATM được lắp đặt và sử dụng trên nhiều địa bàn trong cả nước. BIDV cũng như Sở giao dịch I luôn cố gắng đem đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ nhanh chóng và thuận lợi nhất.

    Với sự nỗ lực không ngừng của toàn hệ thống, hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng đều đặn qua các năm. Đến cuối năm 2003, hơn 50 chi nhánh của BIDV đã thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp, riêng tại Sở giao dịch I doanh số hoạt động thanh toán quốc tế năm 2003 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2002, phí dịch vụ đạt gần 20 tỷ VNĐ, tăng 27% so với năm 2002, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch. Sở giao dịch I cũng đã mở rộng các dịch vụ thanh toán như thanh toán biên mậu, thanh toán CAD (Cash Against Document), mua bán thanh toán séc du lịch, phát hành séc thanh toán Ngân hàng (Bank Drafts), Đại lý thanh toán thẻ Visa, Master card, kiều hối,… Công tác kinh doanh ngoại tệ có lãi, thu hút được nhiều nguồn tiền chuyển đổi trong và ngoài nước.

    40

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Năm 2004, công tác thẩm định và quản lý tín dụng luôn được đảm bảo đúng tiến độ, đúng quy trình thẩm định của Sở giao dịch. Công tác thẩm định được tiến hành nhanh chóng và chính xác, thoả đáng đối với các đối tác khách hàng, đảm bảo là chỗ dựa cho nghiệp vụ đề phòng rủi ro tín dụng của Sở. Các phòng ban có thẩm quyền về thẩm định và quản lý tín dụng lập các báo cáo định kỳ đúng hạn, các báo cáo đột xuất gửi lên cấp trên nhanh chóng, chính xác, thuận lợi cho công tác quản lý của các cấp lãnh đạo ngân hàng. Công tác tổ chức

    – kế toán được hoạch toán đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ phát sinh, kiểm tra và phát hiện xử lý kịp thời các lỗi sai sót trong thanh toán. Các công tác của Sở được thực hiện chuyên nghiệp, quy mô, nhằm cung cấp được các dịch vụ hoàn thiện cho khách hàng.

    Về công tác bảo lãnh, thu từ công tác bảo lãnh trong năm 2004 tăng nhanh qua các năm, doanh số bảo lãnh đạt trên 5.000 tỷ đồng, tăng hơn 30% so với năm 2003, phí thu từ bảo lãnh đạt gần 15 tỷ đồng. Tuy nhiên, mặc dù doanh số bảo lãnh tăng mạnh nhưng thu dịch vụ đạt được lại tăng không đáng kể. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng. Vì vậy để chiếm được thị phần, SGD phải giảm phí để thu hút khách hàng, dẫn đến phí thu được thấp. Trong thời gian tới, BIDV cần có những phương hướng cần thiết để khắc phục tình trạng này, nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng, đồng thời tạo được ưu thế cạnh tranh trên địa bàn.

    • Hiệu quả kinh doanh.

    Chênh lệch thu – chi của Sở giao dịch I năm 2004 đạt 125 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 105 tỷ, tuy nhiên chỉ số này lại giảm so với năm 2003, đạt chênh lệch 195 tỷ đồng và thu nhập trước thuế đạt 170 tỷ đồng. ROA không ngừng tăng trưởng từ 0.6% năm 2002 lên 0.8% năm 2003 và năm 2004 đạt 0.9%, hoàn thành kế hoạch. Công tác trích dự phòng rủi ro tín dụng cũng được Sở giao dịch hết sức quan tâm và chú trọng. Số tiền trích quỹ dự phòng rủi ro luôn chiếm khoảng 2/3 lợi nhuận sau thuế (năm 2002 đạt 40 tỷ, 2003 đạt 50 tỷ, năm 2004 đạt 40 tỷ). Sở giao dịch I luôn đặt công tác đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng lên hàng đầu, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Sở giao dịch an toàn và chất lượng hơn.

    2.2.  Thực trạng công tác thẩm giao dịch I Ngân hàng Đầu

     

    định tài chính dự án tại Sở tư & Phát triển Việt Nam.

     

    2.2.1. Đánh giá tình hình đầu tư theo dự án tại Sở giao dịch.

    Sở giao dịch I ngay từ khi được thành lập theo sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo và Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã và đang phát huy được thế mạnh và nâng cao được vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng trên địa bàn cả nước. Cùng với sự tăng trưởng của hoạt động

    41

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tín dụng thì công tác cho vay theo dự án của Sở giao dịch I cũng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, khẳng định được ưu thế của Sở trong lĩnh vực này. Năm 2004, Sở giao dịch I đã tiến hành cho vay đối với các dự án trọng điểm lớn, như: Dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương của TCT than Việt Nam, dự án của TCT Dầu khí Việt Nam,… đồng thời ký hợp đồng với các đối tác: Lilama, Công ty XNK Intimex, Hagarsco,… giải ngân các hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã ký: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ Long…; triển khai việc ký kết các hợp đồng bảo đảm, làm việc với TCT Đường sắt Việt Nam, TCT Cà phê Việt Nam… Vốn được đầu tư chủ yếu vào việc nâng cao năng lực và xây dựng mới các công trình trọng điểm, đầu tư thiết bị thi công sản xuất vật liệu xây dựng, đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình thuỷ lợi… của một số Tổng công ty, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có tín nhiệm, các doanh nghiệp nước ngoài có khả năng trả nợ và có đủ tài sản bảo đảm. Với việc đầu tư cho các dự án lớn ngày càng gia tăng thì để nâng cao hiệu quả của công tác cho vay đối với dự án, công tác thẩm định dự án tại Sở giao dịch cũng phải được quan tâm thích đáng, đặc biệt là công tác thẩm định tài chính dự án. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu về công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam để có được cái nhìn bao quát hơn về vấn đề này.

    2.2.2. Quy trình thẩm định dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam:

    Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại Sở giao dịch I được thông qua các phòng Tín dụng, phòng Thẩm định, Cán bộ tín dụng (CBTD), Cán bộ thẩm định (CBTĐ), phòng Nguồn vốn và một số phòng khác có liên quan. Tuy nhiên quy trình này chỉ mang tính chất định hướng, tổng quát và cơ bản. Trong quá trình thẩm định dự án, tuỳ theo quy mô, tính chất, đặc điểm của từng dự án đầu tư xin vay vốn, tuỳ từng khách hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ sử dụng linh hoạt các nội dung theo mức độ hợp lý để bảo đảm tính hiệu quả của công tác thẩm định. Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà CBTĐ cũng có thể xem xét bỏ qua một số nội dung nếu không phù hợp.

    Quy trình thẩm định dự án đầu tư của Sở giao dịch I như sau:

    42

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    LƯU ĐỒ QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ – NH ĐT&PT VN

    Phòng Tín dụng Cán bộ thẩm định Trưởng phòng thẩm định
    Đưa yêu cầu, giao   Tiếp nhận hồ sơ
    hồ sơ vay vốn  
       
         

    Kiểm tra

    Chưa đủ cơ sở để thẩm định                                                      sơ b h

    Nhận hồ sơ để

    thẩm định

      Chưa Thẩm Chưa đạt yêu  
    Bổ sung, giải trình
    cầu  
    định
     

    Kiểm tra,

    Lập báo cáo thẩm  kim soát định

    Đạt

    Nhận lại hồ sơ và   Lưu hồ sơ, tài liệu
    kết quả thẩm định.  
       
         

    43

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trình tự thực hiện thẩm định dự án đầu tư được tiến hành qua các bước chính như sau:

    1. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án xin vay vốn: nếu hồ sơ vay vốn chưa có đủ cơ sở để thẩm định thì chuyển lại để CBTD hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ; nếu đã đủ cơ sở thẩm định thì ký giao nhận hồ sơ vào Sổ theo dõi và giao hồ sơ cho cán bộ trực tiếp thẩm định.

     

    1. Trên cơ sở đối chiếu các quy định, thông tin có liên quan và các nội dung yêu cầu (hoặc tham khảo) được quy định tại các hướng dẫn thuộc Quy trình này, CBTĐ tổ chức xem xét, thẩm định dự án đầu tư và khách hàng xin vay vốn. Nếu cần thiết, đề nghị CBTD hoặc khách hàng bổ sung hồ sơ hoặc giải trình rõ thêm.
    2. CBTĐ lập báo cáo thẩm định dự án trình Trưởng phòng thẩm định xem

     

    xét.

     

    1. Trưởng Phòng thẩm định kiểm tra, kiểm soát về nghiệp vụ, thông qua hoặc yêu cầu CBTĐ chỉnh sửa, làm rõ các nội dung.

     

    1. CBTĐ hoàn chỉnh nội dung Báo cáo thẩm định trình Trưởng Phòng thẩm định thông qua, lưu hồ sơ tài liệu cần thiết và gửi trả hồ sơ kèm Báo cáo thẩm định cho Trưởng Phòng tín dụng.

    2.2.3. Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam:

    Trước khi tiến hành thẩm định dự án một dự án đầu tư, Sở giao dịch (sau đây xin được gọi ngắn gọn là Ngân hàng) thường tiến hành thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn. Nội dung thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Thẩm định quy mô, cơ cấu vốn và tài sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu trong tổng thể cơ cấu nguồn vốn; khả năng thanh toán; tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một vài năm trở lại; phân tích các chỉ tiêu, đánh giá khả năng sinh lời, giải trình các khoản phải thu của doanh nghiệp; xem xét các danh mục hàng tồn kho,… Sau khi Ngân hàng đã tiến hàng thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp, nếu thấy doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh và đang hoạt động tốt trên thị trường, hoặc doanh nghiệp thoả mãn đầy đủ các yêu cầu do Ngân hàng đề ra thì Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án. Công tác thẩm định tài chính dự án bao gồm những nội dung chính sau đây:

     

    • 3.1. Thu thập và xử lý thông tin về khách hàng và dự án.

     

    Khi có một dự án khách hàng mang đến Ngân hàng để xin vay vốn, Ngân hàng cần thẩm định lại tính chính xác của các nguồn thông tin do khách hàng cung cấp. Để làm được điều này, CBTĐ cần đến trực tiếp doanh nghiệp để có thể trực tiếp tìm hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tìm hiểu được về thực trạng nhà xưởng, máy móc thiết bị của doanh nghiệp; xác minh được địa điểm cơ sở nơi đầu tư dự án… Ngoài ra, CBTĐ cần phải thu thập

    44

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    thêm từ các nguồn thông tin bổ sung, các tài liệu liên quan từ các nguồn khác nhau để phục vụ cho quá trình thẩm định như: Đi thực tế để tìm hiểu về giá cả, tình hình cung cầu của thị trường đối với sản phẩm dự kiến của dự án; tìm hiểu từ các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, các nhà tiêu thụ sản phẩm tương tự, tìm hiểu từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ các cơ quan quản lý Nhà nước… Trên cơ sở đó, CBTĐ sẽ xem xét dự án trên các phương diện về mục tiêu của dự án, về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án; khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, nhận xét các phương diện kỹ thuật, phương diện tổ chức quản lý thực hiện dự án,… Tất cả những đánh giá thực hiện đó nhằm mục đích hỗ trợ cho việc tính toán, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án và khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp đối với ngân hàng. Việc xác định hiệu quả tài chính dự án có chính xác hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào việc đánh giá và đưa ra các giả định ban đầu của CBTĐ, từ kết những quả phân tích đó sẽ được lượng hoá thành những giả định phục vụ trực tiếp cho các quá trình tiếp theo của công tác thẩm định đối với các dự án đầu tư.

    2.2.3.2. Thẩm định vốn đầu tư.

    Sau khi đã xác minh lại nguồn thông tin mà khách hàng mang đến, Ngân hàng sẽ căn cứ vào hồ sơ xin vay của khách hàng để xem xét tổng mức vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp, bao gồm: Vốn cố định (VCĐ), Vốn lưu động (VLĐ), Vốn dự phòng (VDP). VCĐ bao gồm vốn thiết bị, vốn xây dựng cơ sở hạ tầng,… VLĐ được xác định căn cứ vào tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của doanh nghiệp cùng ngành nghề, mức VLĐ tự có của doanh nghiệp và phí vốn lưu động hàng năm. CBTĐ tiến hành phân tích so sánh các nội dung trên, nếu thấy có sự khác biệt ở bất kỳ nội dung nào thì CBTĐ phải tập trung phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và từ đó đưa ra cơ cấu vốn đầu tư hợp lý mà vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu dự kiến ban đầu của dự án để làm cơ sở xác định mức tài trợ tối đa mà ngân hàng nên tham gia vào dự án.

    Ngân hàng tiến hành đánh giá tiến độ thực hiện dự án, từ đó xác định nhu cầu vốn cho từng giai đoạn. Việc tính nhu cầu vốn này làm cơ sở cho việc giải ngân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời gian trả nợ của doanh nghiệp vay vốn đầu tư dự án. Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư được duyệt, CBTĐ kiểm tra lại từng loại nguồn vốn tham gia tài trợ cho dự án, đánh giá khả năng tham gia của từng loại nguồn vốn, và từ kết quả phân tích tình hình tài chính của chủ đầu tư để đánh giá khả năng tham gia của nguồn vốn chủ sở hữu, chi phí của từng loại nguồn vốn, các điều kiện vay đi kèm của từng loại nguồn vốn. Dựa vào những tính toán trên, CBTĐ sẽ tiến hành tính toán chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vốn (lãi, phí vay vốn cố định), chi phí sửa chữa TSCĐ, khấu hao TSCĐ trích hàng năm, nợ phải trả của chủ đầu tư dự án trong những giai đoạn nhất định của quá trình đầu tư.

    45

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.3.3. Thẩm định doanh thu – Chi phí của dự án.

    Để thẩm định doanh thu và chi phí của dự án, Ngân hàng tiến hành thẩm định các nội dung sau:

    • Thẩm định yếu tố đầu vào và chi phí của dự án.

    Trên cơ sở hồ sơ dự án và những đặc tính kỹ thuật của dây chuyền công nghệ, CBTĐ đánh giá nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu đầu vào để phục vụ cho sản xuất hàng năm, dự tính những biến động về giá mua – giá bán trong thời gian tới, nhu cầu nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào, dự tính tỷ giá trong trường hợp phải nhập khẩu,… Từ đó CBTĐ tiến hành xác định giá thành đơn vị sản phẩm, tổng chi phí sản xuất trực tiếp cho dự án.

    • Thị trường đầu ra, khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án.

    Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án là những nhân tố giữ vai trò hết sức quan trọng và quyết định đến sự thành bại của dự án. Vì vậy CBTĐ cần xem xét, đánh giá kỹ và chính xác về phương diện này như: đánh giá về mặt thị trường – điểm mạnh cũng như điểm yếu của sản phẩm trên thị trường; khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; những thách thức trong cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của dự án;… Từ đó, CBTĐ đưa ra phương án tiêu thụ sản phẩm để tính toán, như: Mức huy động công suất so với công suất thiết kế; doanh thu dự kiến hàng năm,… Ngoài ra, CBTĐ cần xem xét các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với các dự án để xác định phần trách nhiệm của chủ dự án đầu tư đối với Ngân hàng, từ đó xác định lợi nhuận sau thuế (LNST) của dự án trong nguồn trả nợ của chủ đầu tư dự án đối với Ngân hàng.

    Trên cơ sở những căn cứ nêu trên, CBTĐ sẽ dự tính và thiết lập các bảng tính toán hiệu quả tài chính của dự án, bảng dự kiến dòng tiền hàng năm thu được từ dự án, tính toán các chỉ tiêu tài chính đặc trưng làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả và khả năng trả nợ vốn vay của chủ đầu tư đối với Ngân hàng.

    2.2.3.4. Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Dựa trên cơ sở tất cả những tính toán ở trên, CBTĐ tiến hành tính toán các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời của dự án (như NPV, IRR, ROA, ROE,…) và các

    nhóm chỉ tiêu về khả năng trả nợ (nguồn trả nợ hàng năm; thời gian hoàn trả vốn vay; DSCR) của dự án. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu của từng dự án cụ thể, CBTĐ cần tính toán thêm các chỉ tiêu khác như: Khả năng tái tạo ngoại tệ; khả năng tạo công ăn việc làm; khả năng đổi mới công nghệ của dự án; đào tạo nguồn nhân lực;… Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên chỉ chính xác khi CBTĐ có được các yếu tố đầu vào chính xác. Ngoài ra thời gian hoạt động của dự án thường là trung và dài hạn nên sẽ có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của dự án, đặc biệt là các rủi ro như: Rủi ro thị trường, rủi ro về thu nhập, rủi ro trong thanh toán, rủi ro cung cấp, rủi ro môi trường và xã hội, rủi ro về lạm phát,… Chính vì vậy mà trong quá trình phân tích các chỉ tiêu này, CBTĐ cần tiến hành phân tích

    46

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    độ nhạy của các chỉ tiêu NPV, IRR, DSRC,… một các chính xác và hợp lý, có thể dự đoán được khi các giả định có sự thay đổi, từ đó có thể đảm bảo cho Ngân hàng tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp khi những rủi ro này xảy ra.

    2.2.3.5. Xác định bảng cân đối khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay vốn đầu tư.

    Trong nội dung này, Ngân hàng tiến hành xác định nguồn trả nợ, thời gian trả nợ của khách hàng vay vốn dựa trên các thông số đã phân tích ở trên. Điều này là vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của Ngân hàng trong tương lai.

    • Nguồn trả nợ của khách hàng vay vốn về cơ bản được huy động từ các nguồn chính sau đây:

    – Nguồn từ dự án: Lợi nhuận sau thuế (LNST) giữ lại; Khấu hao cơ bản (KHCB). Đây là nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp vay vốn và trong nhiều trường hợp, đây là nguồn trả nợ duy nhất. KHCB được tính dựa vào kế hoạch khấu hao của doanh nghiệp, còn LNST giữ lại thông thường được tính bằng 50 – 70% LNST của dự án.

    – Nguồn hợp pháp khác ngoài dự án: từ các nguồn tích luỹ của doanh nghiệp hay Tổng công ty. Đây được coi là nguồn trả nợ phụ cho dự án, tuy nhiên trong một số trường hợp nó được coi là nguồn trả nợ chính đặc biệt là khi dựa án gặp rủi ro. Do đó, CBTĐ phải tính toán kỹ lưỡng và chính xác nguồn này và phải thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện của dự án cũng như quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng.

    • Xác định thời gian trả nợ của doanh nghiệp vay vốn: Ngân hàng là người trực tiếp cho doanh nghiệp vay vốn nên việc Ngân hàng quan tâm nhất chính là thời gian thu hồi được vốn vay. Khi tính toán thời hạn trả nợ, CBTĐ cần xem xét đến thời gian vay vốn, thời gian thi công, thời gian trả nợ gốc, thời gian ân hạn; đặc biệt là thời gian thi công để có kế hoạch thu nợ hợp lý. Đồng thời tuỳ theo đặc điểm mức doanh thu của từng dự án mà Ngân hàng xác định mức trả gốc, trả lãi vay cho từng kỳ hạn một cách phù hợp, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của doanh nghiệp vay vốn trong việc đầu tư của mình.

    Hiện nay tại Sở giao dịch, nếu chỉ dùng tiền từ dự án để trả nợ thì:

    Tổng vốn vay

    Thời gian trả nợ =

    KHCB + Lợi nhuận dùng để trả nợ

    2.2.3.6. Kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn vốn vay.

    Ngân hàng cần xem xét các điều kiện bảo đảm an toàn vốn vay của doanh nghiệp vay vốn đầu tư để đề phòng rủi ro cho nguồn vốn cho vay của mình:

    • Doanh nghiệp phải chỉ rõ nguồn trả nợ có thể huy động được từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong và ngoài dự án đầu tư để bảo đảm khả năng trả

    47

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nợ Ngân hàng đúng thời hạn.

    • Yêu cầu sự bảo lãnh của bên thứ ba nếu như Ngân hàng thấy cần thiết. Bên bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn phải ký hợp đồng bảo lãnh cam kết trả nợ thay cho doanh nghiệp trong trường hợp chủ dự án không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.
    • Doanh nghiệp phải mở và duy trì hoạt động tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, đảm bảo số dư tối thiểu trên tài khoản bằng một kỳ hạn trả nợ trước mỗi kỳ hạn trả nợ.
    • Doanh nghiệp cam kết sẽ chuyển toàn bộ doanh thu của dự án vào tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng để đảm bảo nguồn trả nợ, trả lãi vay theo lịch trả nợ kể thừ khi dự án bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Trên cơ sở kết quả thẩm định theo những nội dung trên, CBTĐ phải lập Báo cáo thẩm định dưới dạng tài liệu văn bản trong đó nêu cụ thể những kết quả của quá trình thẩm định, đánh giá dự án đầu tư xin vay vốn của khách hàng cũng như các ý kiến đề xuất đối với các đề nghị của khách hàng.

    2.2.4. Giới thiệu dự án cụ thể.

    Qua phần nghiên cứu ở trên, chúng ta đã tìm hiểu cụ thể về công tác thẩm định tài chính tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Sau đây tôi xin giới thiệu một dự án cụ thể mà tôi đã nghiên cứu tại Phòng tín dụng I

    – Sở giao dịch I để chúng ta có được những hiểu biết sát thực hơn về vấn đề này. Tên dự án : “Dự án đầu tư nhà máy thép tấm mạ sơn màu LILAMA

    công suất 80.000 tấn/năm”

    Chủ đầu tư: Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.

    2.2.4.1. Giới thiệu và đánh giá về Doanh nghiệp.

    2.2.4.1.1. Giới thiệu về Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.

    • Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội (tên viết tắt là LILAMA Hà Nội) là công ty đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (tên viết tắt là LILAMA) thuộc Bộ xây dựng; là khách hàng truyền thống của Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt

    Nam trong nhiều năm qua.

    • Hồ sơ Pháp lý.
    • Quyết định thành lập Doanh nghiệp số 031ABXDTCLD của Bộ xây dựng ngày 27/01/1993.
    • Giấy phép kinh doanh số 109587 ngày 08/03/1996 do Uỷ ban KH Hà Nội cấp.
    • Mã số đăng ký thuế số: 0100105341.
    • Người đại diện theo Pháp luật: ông Ngô Công Cường – Giám đốc.
    • Kế toán trưởng: Trần Đức Thọ.

    48

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Xây dựng công trình công nghiệp đường dây tải điện, trạm biến thế, lắp ráp thiết bị máy móc cho các công trình, xây dựng nhà ở: Trang trí nội thất, sản xuất phụ tùng cấu kiện kim loại cho xây dựng; Sản xuất vật liệu xây dựng, gạch lát, tấm lợp, đá ốp lát, đất đèn ôxy que hàn. Kinh doanh vật tư thiết bị, vật liệu xây dựng.

    • Trụ sở chính:
    • 52 Lĩnh Nam – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.

    2.2.4.1.2. Đánh giá tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Biểu 1: Một vài số liệu cơ bản về tình hình tài chính và SXKD của Doanh nghiệp.

    Đơn vị: Triệu đồng.

        Thực hiện Thực hiện Thực hiện % %
    STT Chỉ tiêu năm 2002 năm 2003 năm 2004 03/02 04/03
    1 Tổng doanh thu 104,239 124,122 101,868 119% 82%
    2 Thu nhập B.quân 1,5 triệu 1,5 triệu 1,5 triệu    
    3 LN trước thuế 2,329 1,068 319 46% 30%
    4 Tổng tài sản 77,878 134,165 393,114 172% 293%

    * Phân tích tình hình tài chính của Doanh nghiệp:

    Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và sổ sách kế toán qua các năm 2002, 2003, 2004 của Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội (sau đây xin được gọi ngắn gọn là Doanh nghiệp), tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp qua các năm như sau:

    Biểu 2: Các thông số chủ yếu về tình hình tài chính của Doanh nghiệp qua các thòi kỳ

    Đơn vị: Triệu đồng

        Chỉ tiêu   Năm 2002   Năm 2003   Năm 2004 Tăng
          Số tiền %   Số tiền %   Số tiền % trưởng
                TS     TS     TS 04/03  
                                 
        Tổng tài sản     77,877     100%   134,163   100%   393,114   100% 293%  
      I.. Tài sản lưu động     51,286     66%   93,463   70%   88,364   22% 95%  
      1. Tiền 4,200   5% 1,396 1% 2,970 3% 213%  
      2. Đầu tư tài chính ngắn hạn 0   0% 0 0% 0 0% 0%  
      3. Các khoản phải thu 29,711   38% 66,171 49% 43,674 49% 66%  
      4. Hàng tồn kho 16,824   21% 25,241 19% 40,217 46% 159%  
      5. Tài sản lưu động khác 551   1% 655     1,503 2% 229%  
      6. Chi sự nghiệp 0   0% 0 0% 0 0% 0%  
      II. Tài sản cố định &                                
      Đầu tư dài hạn   29,591     34%   40,700   30%   304,750   73% 749%  
      1. Tài sản cố định 22,012   83% 22,623 17% 22,037 7% 97%  
                                           

    49

     

        Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp  
                                                           
      2. Đầu tư tài chính dài hạn     0       0%   0   0%     0     0%     0%  
                       
      3. Chi phí XDCB dở dang     4,569       17%   18,059   44%   282,713     93%     1565%  
      4. Khoản ký quỹdài hạn                                                
      5. Chi phí trả trước dài hạn     10       0%   9   0%           0%          
          Tổng nguồn vốn       77,877       100%   134,163 100%   393,14     100%     293%  
      I. Nợ phải trả       68,180       88%   124,414   93%   383,34     98%     308%  
      1. Nợ ngắn hạn     57,723       85%   75,881   61%   83,646     21%     110%  
      2. Nợ dài hạn     10,257       15%   47,466   35%   299,33     76%     631%  
      3. Nợ khác     200       0%   1,067   1%     361     0%     34%  
      II. Nguồn vốn CSH       9,697       12%   9,749   7%   9,774     2%     100%  
      1. Nguồn vốn quỹ     9,122       94%   9,280   95%   9,724     2%     105%  
      – Nguồn vốn kinh doanh     7,509       82%   7,383   80%   8,226     85%     111%  
      – Chênh lệch đánh giá lại TS                                                
      – Chênh lệch tỷ giá                                                
      – Quỹ đầu tư phát triển     1,106       12%   1,342   14%   1,006     10%     75%  
      – Quỹ dự phòng tài chính     388       4%   435   5%     373     4%     86%  
      – Lợi nhuận chưa phân phối     0           0                            
      – Nguồn vốn đầu tư XDCB     119       1%   120   1%     119     1%     99%  
      2. Nguồn kinh phí,quỹ khác     575       6%   469   5%     50     0%     11%  
                                     
          MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH TRUNG GIAN                  
          Chỉ tiêu               2002     2003   2004          
        I. Khả năng thanh toán                                            
        1. Khả năng thanh toán ngắn hạn       0.89     1.23   1.06          
        2. Khả năng thanh toán nhanh       0.59     0.89   0.56          
        3. Khả năng thanh toán tức thời       0.07     0.02   0.04          
        II. Khả năng độc lập tài chính                                    
        1. Tỷ suất Nợ – Tài sản               88%     93%   98%          
        2. Tỷ suất Nợ – Vốn chủ sở hữu       703%   1276%   3922%          
        III. Khả năng đảm bảo nguồn vốn KD                                  
        1. Nguồn vốn ngắn hạn               19,954   57,215 309,107          
        – VCSH               9,697     9,749   9,774          
        – Nợ dài hạn               10,257   47,466 299,333          
        2. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn       26,591   40,700 304,750          
        3. Vốn lưu động thường xuyên       -6,637   16,515   4,357          
        IV. Khả năng sinh lời                                            
        1. LN trước thuế/Tổng tài sản (%) (ROA)     2.98%     0.80%   0.08%          
        2. LN sau thuế/Vốn CSH (%) (ROE)     16.30%     7.50%   2.29%          
        3. LN sau thuế/Doanh thu (%)       1.50%     0.60%   0.36%          
        V. Năng lực hoạt động                                            
        1. Vòng quay các khoản phải thu       3.51     2.59   1.85          
                                                             

    50

     

      Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n       Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
                         
      2. Kỳ thu tiền bình quân   102.31   139.05   194.1    
             
      3. Vòng quay hàng tồn kho   5.73   5.53   2.84    
      4. Số ngày dự trữ hàng tồn kho   62.86   65.09   126.76    
      5. Vòng quay vốn lưu động   2.03   1.71   1.12    
      6. Chu kỳ sản xuất kinh doanh   177.12   209.91   321.29    

    Hai biểu trên đã phản ánh đầy đủ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp qua 3 năm trở lại đây. Qua đó, chúng ta có thể thấy được:

    • Cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp:

    Năm 2004 có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp. Tỷ trọng tài sản lưu động trên tổng tài sản năm 2003 là 70%, đến năm 2004 giảm xuống còn 22%. Tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư dài hạn trên tổng tài sản tăng, chiếm 78% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp năm 2004. Nguyên nhân của sự gia tăng tỷ trọng và giá trị sản lượng trong năm 2004 là do Doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng 02 nhà máy mới: Nhà máy sơn mạ màu công suất 80.000 tấn/năm với tổng vốn đầu tư là 390 tỷ đồng và Nhà máy chế tạo thiết bị Hà Nội công suất 6.000 tấn/năm với tổng vốn đầu tư là 22 tỷ đồng, làm tăng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản dở dang của hai nhà máy này lên tới: 282.71 tỷ đồng. Vì vậy đã làm chuyển dịch cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp.

    Trong khoản mục tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn. Các khoản phải thu chiếm 49% so với tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với giá trị tuyệt đối 43.674 triệu đồng. Hàng tồn kho chiếm 45% tài sản lưu động tương ứng với giá trị tuyệt đối 40.217 triệu đồng. Tài sản lưu động khác và tiền chiếm tỷ trọng nhỏ chưa đến 5% giá trị tài sản lưu động và đầu tư dài hạn. Điều đó cho thấy Doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn lớn.

    • Cơ cấu nguồn vốn của Doanh nghiệp.

    Tỷ trọng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn qua các năm khá cao, trên 95% tổng nguồn vốn. Trong đó Nợ dài hạn tăng cao từ 47.466 triệu đồng năm 2003 lên 293.33 triệu đồng năm 2004. Nguồn vốn vay dài hạn tăng được sử dụng cho việc đầu tư xây dựng hai nhà máy là Nhà máy Sơn mạ màu và Nhà máy ché tạo thiết bị. Vay ngắn hạn chiếm 34% tên Tổng nợ ngắn hạn. Nguồn vốn vay ngắn hạn chủ yếu là do Doanh nghiệp vay hai ngân hàng là Ngân hàng Nông nghiệp

    • Phát triển nông thôn chi nhánh Láng Hạ và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư
    • Phát triển Việt Nam để phục vụ cho mục đích thi công các công trình mà Doanh nghiệp đã trúng thầu: Công trình Bia Thanh Hoá, công trình Bia Hà Nội hoặc được Tổng Công ty giao cho làm thầu phụ như: Công trình Nhiệt điện Uông Bí mở rộng, nhà máy xi măng Hải Phòng,…

    Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp năm 2004 thấp, chỉ chiếm 2.47% giá trị tổng nguồn vốn phản ánh vốn chủ sở hữu thấp, hoạt động

    51

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp bị phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Với nguồn vốn CSH thấp như vậy, Doanh nghiệp khó chủ động trong hoạt động sản xuất và khả năng thanh toán công nợ của mình.

    Dự định đến năm 2005, Doanh nghiệp sẽ chuyển đổi hình thức từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần, do vậy có thể huy động thêm vốn từ các cổ đông để nâng cao khả năng độc lập về tài chính. Dự kiến năm 2005, Doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phiếu mới với giá trị ước tính khoảng 35 tỷ đồng và làm tăng VCSH của Doanh nghiệp lên khoảng 45 tỷ đồng.

    • Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Công ty Lắp máy và xây dựng Hà Nội là đơn vị có uy tín trong hoạt động xây lắp, khả năng thi công cao. Công ty đã trúng thầu nhiều công trình có giá trị lớn, như: Công trình Bia Hà Nội, Gang thép Thái Nguyên, Kính Đáp Cầu,…

    Là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam, với năng lực của mình Doanh nghiệp cũng nhận được sự hỗ trợ từ Tổng Công ty mẹ dưới hình thức nhận làm nhà thầu phụ thi công các công trình như: Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy điện Uông Bí mở rộng, Trung tâm hội nghị quốc gia,… Trong quá trình thi công, Doanh nghiệp thực hiện tốt chất lương thi công, đảm bảo thi công đúng tiến độ đã cam kết với nhà thầu, các khối lượng đang thi công đều được nghiệm thu đúng quy định xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan, chủ đầu tư thanh toán chậm các công trình, tạm thời làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình tài chính của Doanh nghiệp.

    Về Doanh thu và giá vốn hàng bán: Cơ cấu chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung trong tổng chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh tương đối hợp lý. Chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng 52%, chi phí nhân công trực tiếp chiếm 13% so với tổng chi phí phát sinh. Tỷ trọng trên cho thấy Doanh nghiệp không quá bị phụ thuộc vào giá nguyên vật liệu, do vậy mà Doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro khi có sự biến động về giá cả nguyên vật liệu trên thị trường. Tỷ lệ công trình bị lỗ trên tổng số công trình thực hiện năm 2004 là 11 trên 32 công trình, chiếm 32% với tổng giá trị là 1.199 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí nhân công trực tiếp của các công trình này tăng cao dẫn đến tổng chi phí phát sinh tăng cao, làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỷ trọng các công trình phát sinh lợi nhuận dương

    • lớn nên trong năm 2004, Doanh nghiệp thu được khoản tiền lãi là 3.005 triệu đồng chiếm 4.9% tổng lợi nhuận của Doanh nghiệp.

    Như vậy, cơ cấu giữa giá vốn hàng bán và doanh thu của Doanh nghiệp tương đối hợp lý, tổng chi phí bỏ ra nhỏ hơn doanh thu đảm bảo cho Doanh nghiệp hoạt động có lãi. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực xây lắp nên tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu và vốn CSH không lớn. Năm 2005, hai nhà máy “Thép mạ và sơn màu” và “Nhà máy chế tạo thiết bị Hà Nội” sẽ đi vào hoạt động, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh và tính chủ động cho Doanh nghiệp, nâng cao

    52

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    VCSH, Doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong thanh toán. Doanh nghiệp đang hoạt động tốt và có lãi qua các năm, hơn nữa Doanh nghiệp lại là bạn hàng lâu năm của Sở giao dịch I, do vậy Doanh nghiệp hoàn toàn có đủ năng lực thực hiện việc giao dịch với Sở giao dịch I để thoả mãn nhu cầu về vốn của mình.

    2.2.4.2. Giới thiệu dự án.

    Dự án đầu tư Nhà máy sản xuất thép tấm mạ sơn màu LILAMA đã được Bộ xây dựng chấp thuận về chủ trương đầu tư và về nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi tại các công văn số 748/BXD-KHTH ngày 21/05/2002 và công văn số 1096/BXD-KHTH ngày 19/07/2002. Tại quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt với nội dung chính như sau:

    • Tên dự án: Nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm.
    • Chủ đầu tư: Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.
    • Mục tiêu: Xây dựng nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA từ tôn đen dạng cuộn để đáp ứng nhu cầu sử dụng tôn lợp trong Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cà cung cấp cho thị trường trong nước tiến tới xuất khẩu.
    • Công suất thiết kế:
    + Tôn mạ kẽm : 80.000 tấn/năm.
    + Tôn mạ kẽm sơn phủ : 50.000 tấn/năm.
    + Tôn cán sóng : 10.000 tấn/năm.
    • Xà gồ và các phụ kiện : 15.000 tấn/năm.
    • Sự cần thiết phải đầu tư:

    Ứng dụng chủ yếu của tôn mạ kẽm nhúng nóng và tôn mạ kẽm sơn phủ là sử dụng để lợp mái và bao che tường, gò hàn, vỏ của các thiết bị gia dụng, các ứng dụng che phủ, sản xuất xà gồ có kết cấu nhẹ, các cấu kiện nội thất và các công việc định khung khác. Nhu cầu sử dụng về nhóm vật liệu này gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nhưng cho đến nay nước ta không sản xuất được thép tấm cán nóng hay cán nguội, sản phẩm này vẫn phải nhập khẩu 100%. Hiện nay ở nước ta mới chỉ có 02 nhà máy đặt tại TP Hồ Chí Minh, nhưng sản phẩm chủ yếu phục vụ cho thị trường phía Nam, để cung cấp cho thị trường phía Bắc thì phải tính thêm cả giá cước vận chuyển (40-50USD/tấn); nhưng cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu thị trường.

    Với định hướng phát triển chiến lược của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam trong thòi gian tới là Tổng thầu EPC cho các dự án trong và ngoài nước, việc đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất tấm lợp từ tôn đen dạng cuộn để có thể tự cung tự cấp cho các công trình của Tổng Công ty đang thi công, tiết kiệm vốn đầu tư là hết sức cần thiết, tạo nên sức chủ động và cạnh tranh cao cho Tổng Công ty trong việc thắng thầu. Một nhà máy trong thời gian tới là nắm bắt được

    53

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đúng thời điểm, cơ hội đầu tư, phục vụ nhu cầu thiết yếu của Tổng Công ty nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung, đặc biệt nâng cao tính hiệu quả kinh tế trong công tác xây dựng cơ bản trên thị trường.

    * Mô tả dự án – Địa điểm xây dựng dự án:

    Nhà máy được xây dựng ở thị tứ Quang Minh – Huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc, nằm sát địa phận xã Tiền Phong – huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc; nằm song song với đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài, nối liền với đầmVân Trì – Đông Anh – Hà Nội.

    Khu đất nghiên cứu có giới hạn như sau:

    • Phía Bắc giáp với khu đất dự trữ khu Công nghiệp.
    • Phía Đông – Nam giáp với nhà máy sản xuất và lắp ráp máy vi tính.
    • Phía Tây – Nam giáp với đường sắt Hà Nội – Yên Bái.
    • Phía Tây – Bắc giáp với nhà máy sản xuất thiết bị thi công.

    Đây là khu trung tâm của 3 khu Công nghiệp lớn là Thăng Long, Nội Bài, Mê Linh và gần sát khu đô thị mới Nam Thăng Long và Bắc Thăng Long. Khu vực này cũng là trung tâm đầu mối giao thông của các tỉnh đi Tây Bắc – Đông Bắc và Châu thổ sông Hồng, gồm các đường Quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 18, quốc lộ 5,…

    2.2.4.2.1. Phân tích tài chính dự án “ Nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm.”

    • Xác định tổng vốn đầu tư.

    Tại quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng

    Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt:

    • Tổng vốn đầu tư: 000.000.000 đồng (390 tỷ đồng).
    • 490.196 USD với tỷ giá USD/VNĐ = 15.300. Thời gian hoạt động của dự án: 25 năm.

    Với cơ cấu vốn như sau:

    Biểu 3: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Doanh nghiệp.

      Nguồn vốn VNĐ USD
           
    1. Vốn xây lắp 55,121,369,143 3,602,704
    2. Vốn mua sắm thiết bị 256,942,515,180 16,793,628
    3. Chi phí khác 9,933,705,833 649,262
    3.1. CP giai đoạn chuẩn bị đầu tư 888,454,343 58,069
    3.2. CP giai đoạn thực hiện đầu tư 8,085,600,383 528,471
    3.3. Cp giai đoạn kết thúc xây dựng 959,651,107 62,722
    4. Lãi vay trong thời gian xây dựng 14,304,649,344 934,944
    5. Vốn dự phòng 18,697,760,500 1,222,076
    6. Vốn lưu động 35,000,000,000 2,287,582
      Tổng vốn đầu tư 390,000,000,000 25,490,196

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    Trong đó, Vốn được đầu tư bằng:

    54

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Vốn tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng: 000.000.000 VNĐ.

    –    Vốn tự có (23%)                                                                   : 90.000.000.000 VNĐ.

    Nguồn vốn đầu tư có kết cấu như sau:

    • Vốn cố định, vay với lãi suất 0.74%/tháng = 8.88%/năm.
    • Vốn lưu động, vay với lãi suất 0.62%/tháng = 7.44%/năm.

    Tiến độ đầu tư: Căn cứ vào phân đợt xây dựng và tiến độ thực hiện của dự án và nhu cầu vốn đầu tư cho từng công việc. Xác định tiến độ hoạt động như sau:

    • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Lập và thẩm định dự án.
    • Khảo sát địa chất, thiết kế xây dựng và lập tổng dự toán.
    • Thẩm định hồ sơ thiết kế và Tổng dự toán.
    • Năm 2003 doanh nghiệp đầu tư 329.890.947.000 VNĐ cho các công việc:
    • Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị công nghệ.
    • San lấp mặt bằng.
    • Xây dựng cổng tường rào, nhà thường trực.
    • Xây dựng một phần xưởng tôn cuốn.

    Doanh nghiệp chịu thuế suất theo quy định:

    • Thuế VAT : 5%.
    • Thuế TNDN : 25%.

    Tỷ giá ngoại tệ: USD/VNĐ = 15.300.

    • Cơ cấu vốn chi tiết: – Vốn cố định:

     

    • Vốn thiết bị: 256,942,515,180 VNĐ.

    Biểu 4a: Vốn đầu tư thiết bị của dự án.

        Nội dung chi phí Đơn vị Giá trị  
      I. Thiết bị nhập khẩu đ 231,691,750,000  
      1. Dây chuyền mạ tôn kẽm và sơn phủ d.chuyền 229,500,000,000  
      2. Các chi phí khác của thiết bị nhập đ 2,191,750,000  
      2.1. Uỷ thác nhập khẩu đ 1,377,000,000  
      2.2. Vận chuyển nội địa đ 500,000,000  
      2.3. Chi phí bảo quản, bảo dưỡng (0.05%GTB) đ 114,750,000  
      2.4. Chi phí lưu kho bãi tại cảng đ 100,000,000  
      2.5. Chi phí giám định chất lượng hàng hoá đ 100,000,000  
      II. Thiết bị mua trong nước đ 25,250,765,180  
      1. Thiết bị công nghệ mua trong nước đ 14,006,765,180  
      1.1. Dây chuyền gia công xà gồ thép đ 3,901,485,000  
      1.2. Dây chuyền cán tôn tấm tự động đ 5,105,280,180  
      1.3. Dây chuyền mạ tôn kẽm và sơn phủ đ 5,000,000,000  
      2. Thiết bị trạm biến áp và trạm điện Diezel đ 2,000,000,000  
      3. Thiết bị trạm xử lý nước thải đ 500,000,000  
      4. Thiết bị trạm khí nén đ 300,000,000  
      5. Thiết bị cân đ 200,000,000  

    55

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
           
           
    6. Thiết bị trạm cung ứng nước đ 200,000,000
    7. Bể LGG + trạm điều áp cấp I đ 994,000,000
    8. Máy sản xuất H2: 20m3/h đ 1,800,000,000
    9. Máy khử khoáng cho nước đ 300,000,000
    10. Thiết bị cơ khí sửa chữa đ 150,000,000
    11. Thiết bị nhà ăn đ 100,000,000
    12. Phương tiện vận tải + cần trục (6 cái) đ 4,000,000,000
    13. Thiết bị thí nghiệm đ 400,000,000
    14. Thiết bị điều hoà đ 200,000,000
    15. Thiết bị văn phòng đ 100,000,000
    16. Thiết bị PCCC đ 50,000,000
        Tổng chi phí thiết bị đ 265,942,515,180

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    • Vốn đầu tư xây lắp (có VAT = 5%): 53,479,035,810 VNĐ. Vốn đầu tư xây lắp có quy mô như sau:

    Biểu 4b: Vốn đầu tư xây lắp của dự án.

        Hạng mục xây lắp Giá trị trước thuế Giá trị sau thuế
    I. Chi phí xây dựng 46,629,448,571 48,960,921,000
    1. San lấp mặt bằng 1,260,000,000 1,323,000,000
    2. Cổng 60,000,000 63,000,000
    3. Nhà thường trực và bảo vệ 88,320,000 92,736,000
    4. Gara ô tô, xe máy 135,000,000 141,750,000
    5. Phân xưởng mạ + kho 10,601,500,000 11,131,575,000
    6. Phân xưởng sơn + kho 13,123,200,000 13,779,360,000
    7. Phân xưởng sản xuất xà gồ + tấm lợp 9,216,000,000 9,676,800,000
    8. Kho kẽm thỏi + SCRUF 672,000,000 705,600,000
    9. Bể sục 90,000,000 94,500,000
    10. Móng máy 476,190,476 500,000,000
    11. Nhà hành chính + Nhà ăn 1,575,000,000 1,653,750,000
    12. Trạm điện Diezel 110,400,000 115,920,000
    13. Trạm biến thế 72,000,000 75,600,000
    14. Trạm cấp ga 540,000,000 567,000,000
    15. Nhà nồi hơi 360,000,000 378,000,000
    16. Nhà vệ sinh 48,600,000 51,030,000
    17. Khu xử lý nước thải 476,190,476 500,000,000
    18. Trạm cầu cân 50,000,000 52,500,000
    19. Trạm cung cấp nước 936,000,000 982,800,000
    20. Đường nội bộ 3,000,000,000 3,150,000,000
    21. Tuyến ống cấp nước sạch 190,476,190 200,000,000
    22. Hệ thống thoát nước mưa 714,285,714 750,000,000
               

    56

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
               
             
    23. Hệ thống thoát nước thải 300,000,000   315,000,000
    24. Hệ thống cung cấp điện 714,285,714   750,000,000
    25. Điện chiếu sáng nội bộ 1,200,000,000   1,260,000,000
    26. Cây xanh + hàng rào 620,000,000   651,000,000
    II. Chi phí lắp đặt thiết bị (2%GTB) 4,302,966,486   4,518,114,810
      Tổng chi phí xây lắp 50,932,415,057   53,479,035,810

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    • Vốn lưu động: 000.000.000 VNĐ.
    • Sau khi xem xét kỹ hồ sơ của Doanh nghiệp vay vốn, Cán bộ tín dụng đã đi đến thống nhất với Doanh nghiệp vay vốn về nguồn vốn của dự án đầu tư như sau:

     

    • Vốn tự có của Doanh nghiệp (chiếm 23%): 000.000.000 đồng.
    • Vốn vay dài hạn thương mại tại Ngân hàng:
    • Tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Việt Nam chi nhánh Láng Hạ, vốn vay trung – dài hạn: 000.000.000 đồng.
    • Tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, vốn vay trung – dài hạn đầu tư một dây chuyền công nghệ ngoại nhập với giá trị tối đa là
    • 000.000.000 đồng.

    Lãi suất vay được quy định ở trên.

    • Doanh thu – Chi phí của dự án. * Căn cứ tính:

     

    – Theo quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ tài

    chính về ban hành chế độ quản lý, sử dụng vốn và trích KHTSCĐ.

    • Theo các bảng giá tính toán kèm theo Quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt.
    • Theo tính toán về chi phí thực tế của Doanh nghiệp.
    • Theo giá thị trường của một số mặt hàng.

    * Phương pháp tính:

    • Theo nghiên cứu của Doanh nghiệp thì doanh thu thu được của mỗi loại sản phẩm đặc trưng sau khi nhà máy được đưa vào hoạt động là:

    57

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 5: Doanh thu tính trên mỗi loại sản phẩm.

    Đơn vị: nghìn đồng.

      Doanh thu             Năm hoạt động          
          1     2     3     4     …25  
                             
    1. DT từ tôn mạ                              
    kẽm 186,054,788   212,634,043   252,502,926     265,792,554   265,792,554  
    2. DT từ tôn sơn                              
    sau mạ 273,616,891   312,705,019   371,337,210   390,881,273 390,881,273  
    3.DT từ tấm lợp 88,195,392   100,794,734   119,693,747     125,993,418   125,993,418  
                     
    4. DT từ phụ kiện 46,403,648   53,032,741   62,976,380   66,290,926 66,290,926
               
    5. DT từ xà gồ                              
    thép 63,201,051 72,229,773   85,772,855   90,287,216 90,287,216
      Tổng DT     657,471,770     751,396,310     892,283,118     939,245,387     939,245,387  

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp vay vốn)

    • Chi phí của dự án được Doanh nghiệp dự tính:

    58

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 6: Danh mục dự tính chi phí của Doanh nghiệp trong.

    Đơn vị: Triệu đồng.

      Loại chi phí                             Năm hoạt động                        
          1     2     3     4     5     6     7     8     9     10  
                                                 
    1. Nguyên liệu chính 468,920   535,909   636,392   669,866 669,866   669,866 669,866   669,866 669,866 669,866  
    2. Nguyên liệu phụ 11,173   12,770   15,164 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962
    3. Nhiên liệu 3,780   4,320   5,130   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400  
    4. Điện năng 6,111   6,984   8,294   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730  
    5. Tiền lương CNSX 1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440  
    6. BHXH (17% lương) 216 216 216 216 216 216 216 216 216 216  
    7. BHYT (2% lương) 29   29   29   29   29   29   29   29   29   29  
    8. CP quản lý hành chính 34,416 39,317 46,667 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116
    9. Các CP khác 19,661 22,467 26,667 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067
    10. Tiền thuê đất 118   118   118   118   118   118 118   118 118 118  
    11. KHTSCĐ 38,480   38,480   38,480 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168
    12. Lãi vay hàng năm 34,152   29,420   24,688   19,956   15,223   10,491   5,759   2,604   2,604   2,604
      Tổng chi phí     618,496     691,470     803,285     823,068     818,335     813,603     808,871     805,716     805,716     805,716  

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp vay vốn).

    (Dự tính trong 10 năm đầu Doanh nghiệp đi vào hoạt động).

    59

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trong phần này, Doanh thu mà Ngân hàng sau khi thẩm định lại dự án dự tính thấp hơn so với Doanh nghiệp. Đó là vì khi tham khảo trên thị trường và các yếu tố chi phối khác, Ngân hàng đã giảm đơn giá trong quá trình sản xuất sau khi nhà máy đi vào hoạt động so với đơn giá do Doanh nghiệp dự tính là 10%. Điều này là hợp lý vì khi lập dự án, Doanh nghiệp đã dự tính các khoản mục thấp hơn so với thời điểm khi Ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự án, đồng thời Ngân hàng đã giảm công suất hoạt động của Nhà máy để phù hợp với năng lực và cân đối so với nhu cầu của thị trường.

    Ngân hàng cũng tiến hành thẩm định lại chi phí thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp khi Nhà máy đi vào hoạt động. Kết quả là Doanh nghiệp đã dự tính chi phí có nhiều điểm khác biệt so với khoản mục chi phí do Ngân hàng dự tính:

    • Doanh nghiệp đã không dự tính các khoản chi phí cho việc sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị khi Nhà máy thực hiện sản xuất. Ngân hàng đã dựa trên khoản mục bảo trì máy móc để dự tính lại khoản này của Doanh nghiệp.
    • Chi phí trả tiền lương cho công nhân sản xuất có sự khác biệt. Doanh nghiệp đã không dự tính đến sự thay đổi của khoản chi phí này qua các năm. Ngân hàng đã dự tính chi phí lương trả cho công nhân sản xuất tăng lên qua các năm, điều này là hợp lý vì mức lương trả cho công nhân có xu hướng thay đổi qua từng thời kỳ.
    • Về khấu hao tài sản cố định, Doanh nghiệp đã dự tính mức khấu hao quá nhanh so với thực tế (20%). Ngân hàng đã dựa theo quy định của Bộ xây dựng để tính lại mức khấu hao hàng năm của Doanh nghiệp (14%).
    • Doanh nghiệp đã không dự tính chính xác khoản mục chi phí trả lãi vay hàng năm của mình. Ngân hàng đã căn cứ vào nhu cầu cho sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp khi nhà máy đi vào hoạt động để dự tính khoản chi phí này.

    ¾ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án:

    Sau khi tiến hành thẩm định lại dự án của Doanh nghiệp vay vốn đầu tư, Ngân hàng đã cân đối lại các khoản mục chi phí và doanh thu của Doanh nghiệp, bổ sung sửa đổi các khoản còn thiếu cũng như điều chỉnh lại các danh mục cần thiết. Ngân hàng đã tính toán lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp qua bảng chỉ tiêu sau:

    60

     

      Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n       Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp              
                                             
                    Biểu 7: Bảng đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án.          
        Khoản mục     Đơn vị               Năm hoạt động            
              1   2 3 4   5 6 7 8 9 10
      1. Công suất hoạt động %   70%   75% 80% 85%   90% 95% 100% 100% 100% 100%
        2. Sản lượng     tấn/năm   63,000   67,500 72,000 76,500   81,000 85,500 90,000 90,000 90,000 90,000
      – Tôn mạ kẽm   tấn/năm 21,000   22,500 24,000 25,500 27,000 28,500 30,000 30,000 30,000 30,000
      – Tôn mạ sơn phủ   tấn/năm 24,500   26,250 28,000 29,750 31,500 33,250 35,000 35,000 35,000 35,000
      – Tấm lợp kim loại   tấn/năm 7,000   7,500 8,000 8,500 9,000 9,500 10,000 10,000 10,000 10,000
      – Phụ kiện   tấn/năm 3,500   3,750 4,000 4,250 4,500 4,750 5,000 5,000 5,000 5,000
      – Xà gồ   tấn/năm 7,000   7,500 8,000 8,500 9,000 9,500 10,000 10,000 10,000 10,000
        3. Doanh thu     trđ   629,274   674,222 719,170 764,119   809,067 854,015 898,963 898,963 898,963 898,963
      – DT có VAT   trđ 660,738   707,933 755,129 802,325 849,520 896,716 943,911 943,911 943,911 943,911
      – VAT (5%DT)   trđ 31,464   33,711 35,959 38,206 40,453 42,701 44,948 44,948 44,948 44,948
        4. Tổng chi phí     trđ   631,321   668,319 704,698 740,370   775,573 776,616 835,082 835,082 835,082 835,082
      – CP nguyên liệu   trđ 489,580   524,550 559,520 594,490 629,460 664,430 699,400 699,400 699,400 699,400
      – CP sửa chữa lớn   trđ 2,989   2,989 2,989 2,989 2,989 2,417 2,417 2,417 2,417 2,417
      – CP s.chữa thường xuyên   trđ 448   448 448 448 448 363 363 363 363 363
      – CP bán hàng   trđ 19,822   21,238 22,654 24,070 25,486 2,691 28,317 28,317 28,317 28,317
      – CP quản lý Doanh nghiệp   trđ 33,037   35,397 37,756 40,116 42,476 44,836 47,196 47,196 47,196 47,196
      – CP lương + BHXH   trđ 1,190   1,257 1,360 1,445 1,530 1,615 1,700 1,700 1,700 1,700
      – Phân bổ lãi vay trong kỳ   trđ 2,861   2,861 2,861 2,861 2,861              
      – Lãi vay Vốn lưu động   trđ 17,506   18,749 19,991 21,234 22,476 23,698 24,941 24,941 24,941 24,941
      – Lãi vay Vốn cố định   trđ 33,994   30,936 27,225 22,823 17,953 12,398 6,580 6,580 6,580 6,580
      – KHCB   trđ 29,894   29,894 29,894 29,894 29,894 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168
        5. Lợi nhuận trước thuế     trđ   -2,048   5,885 14,471 23,747   33,492 53,189 63,882 70,462 70,462 70,462
        6. Thuế TNDN     trđ         2,968 4,186 13,297 15,971 17,615 17,615 17,615
        7. Lợi nhuận ròng     trđ   -2,048   5,885 14,471 20,779   29,306 39,892 47,911 52,847 52,847 52,847
                                             

    61

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Các khoản mục do Ngân hàng tính toán trên đây đã phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu tài chính dự tính của Doanh nghiệp trong thời gian hoạt động của Doanh nghiệp (Chỉ dự tính trong 10 năm đầu từ khi nhà máy chính thức được đưa vào sản xuất kinh doanh). Có thể thấy là Doanh nghiệp hoạt động có kết quả khả quan và thu được lợi nhuận sau thuế tăng dần và tăng ổn định qua các năm, đồng thời phản ánh được hiệu quả kinh tế cao của dự án khi Nhà máy đi vào sản xuất và hoạt động đúng công suất đã đề ra. Khoản này sẽ là một nguồn quan trọng trong việc trả nợ vay cho Ngân hàng của Doanh nghiệp.

    Qua các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp, Ngân hàng đã tính toán các chỉ tiêu tài chính như dòng tiền của dự án qua các năm, hiện giá dòng tiền, NPV, IRR, DSCR của dự án. Tuy nhiên về khoản mục này, Ngân hàng đã tính toán và thu được kết quả thấp hơn so với Doanh nghiệp và đó là do sự khác biệt trong tính toán chi phí cũng như doanh thu của Doanh nghiệp đã nêu ở trên. (Biểu 8: Bảng cân đối dòng tiền dưới đây).

    Để có được sự đánh giá toàn diện hơn về dự án, Ngân hàng cũng đánh giá các chỉ tiêu tài chính qua Bảng thử độ nhạy công suất của dự án (Biểu 9: Bảng thử độ nhạy công suất kèm theo dưới đây). Qua sự thay đổi của từng mức công suất hoạt động của dự án, chúng ta có thể thấy được sự biến đổi của các chỉ tiêu như NPV, IRR, DSCR của dự án, sự co giãn của các chỉ tiêu này khi có sự thay đổi của công suất cũng như giá bán hay chi phí nguyên vật liệu của dự án. Điều này đã phản ánh độ nhạy cảm của dự án khi nhà máy chính thức đi vào hoạt động và đứng trước những khó khăn, thách thức trong cạnh tranh trên thị trường, đồng thời cũng dự tính những chỉ tiêu có thể chịu ảnh hưởng khi có sự biến động trên thị trường như thời gian trả nợ của Doanh nghiệp, mức hiệu quả trong hoạt động của dự án… Việc phân tích này là cần thiết, vì nó đã đề cập đến mức độ phù hợp của dự án khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích tính thích ứng cần thiết của dự án trong những trường hợp không mong muốn có thể xảy đến với Doanh nghiệp trong tương lai.

    62

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 8: Dòng tiền và các chỉ tiêu đánh giá.

        Khoản mục                             Năm hoạt động                            
            0     1     2     3     4     5     6     7     8     9     10  
                                                       
    1. Dòng tiền dự án -390,000 61,480 66,715 71,590 73,496 77,153   76,458 78,659 77,014 77,014 77,014
    2. Hiện giá đồng tiền -390,000 56,218 55,136 53,787 50,199 47,906   43,158 40,365 35,928 32,662 29,693
    3. NPV 231,638                                                              
    4. IRR 17.80%                                                              
    5. Thời gian trả nợ (tròn năm) 7                                                              
    6. Dòng tiền trả nợ       62,840   65,950   68,749   68,763   70,362     67,288   68,681                    
    7. Kế hoạch trả nợ vốn vay                                                                  
    7.1. Nợ gốc dài hạn phải trả       28,846   35,014   41,524   45,940   52,408     54,890   62,073                    
    7.2. Lãi vay vốn cố định       33,994   30,936   27,225   22,823   17,953     12,398   6,580                    
    8. Chỉ số khả năng thanh toán                                                                  
    8.1. DSCR trong năm trả nợ       1.00   1.00   1.00   1.00   1.00     1.00   1.00   1.00   1.00   1.00  
    8.2. DSCR nhỏ nhất 1.00                                                              
    8.3. DSCR trung bình 1.00                                                              

    (Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    (Chú ý: NPV, IRR được dự tính trong 10 năm đầu hoạt động của dự án).

    63

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 9: Bảng thử độ nhạy công suất của dự án.

      Giá trị thay đổi     Đơn vị                                      
      Công suất huy động ban đầu     %     70%     50%     55%     60%     75%     80%  
      Kết quả                                            
    1. NPV   trđ 231,689   142,045   166,302   189,362   250,559   267,477  
    2. IRR %   17.8% 14.5% 15.3% 16.1% 18.6% 19.3%  
    3. Thời gian trả nợ   năm 8   10   9   9   7   7  
    4. DSCR trung bình   lần 3.11   1.11   1.04   2.31   1.07   1.27  
        Giá trị thay đổi     Đơn vị                  
      1. Giá bán sản phẩm     trđ       Giảm 3%     Giảm 2%    
      2. Chi phí nguyên vật liệu     trđ             Tăng 2%   Tăng 5%
        Kết quả                        
    1. NPV   trđ 231,689 81,224 43,822 12,913
    2. IRR %   17.8% 12.8% 11.6%   10.5%
    3. Thời gian trả nợ   năm 8 10 12   13
    4. DSCR trung bình   lần 3.11 1.02   1.95   1.06

    Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    (Chú ý: NPV, IRR được dự tính trong 10 năm đầu hoạt động của dự án).

    64

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Cân đối nguồn và khả năng trả nợ của Doanh nghiệp. Lịch trả nợ của Doanh nghiệp.

    – Doanh nghiệp vay vốn trung – dài hạn của Ngân hàng với thời gian là 96 tháng (08 năm). Trong đó thời hạn cho vay thực tế là 84 tháng (07 năm) và 12 tháng là thời gian ân hạn trả nợ của Doanh nghiệp.

     

    – Các nguồn trả nợ của Doanh nghiệp được đảm bảo dựa trên nguồn lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận giữ lại, các khoản khấu hao của Doanh nghiệp, các nguồn tài trợ hợp pháp của Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

     

    – Doanh nghiệp vay vốn: 200.000.000.000 đồng tại Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam chi nhánh Láng Hạ và 99.000.000.000 đồng tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Doanh nghiệp cam kết các khoản nợ vay bằng ngoại tệ (USD) sẽ được tiến hành trả cả gốc và lãi bằng ngoại tệ (USD) cho Ngân hàng.

    – Doanh nghiệp được bảo lãnh vay vốn từ Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (tên viết tắt là LILAMA). Doanh nghiệp cũng thế chấp quyền sử dụng đất tại 53 Lĩnh Nam – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội và toàn bộ tài sản hiện có của Doanh nghiệp hình thành trên khu đất cho Ngân hàng; đồng thời Doanh nghiệp cam kết toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay (bao gồm cả quyền sử dụng đất tại xã Quang Minh – Huyện Mê Linh – Vĩnh Phúc) làm tài sản bảo đảm nợ vay cho Ngân hàng để vay vốn.

    Lịch trả nợ của Doanh nghiệp được xác định như sau:

    65

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 10: Lịch trả nợ của Doanh nghiệp đối với Ngân hàng.

    Đơn vị: Triệu đồng.

      STT     Chỉ tiêu                       Năm hoạt động                  
              0     1     2     3     4     5     6     7  
                                               
    1   Dư nợ đầu năm 320,695   320,695 291,849 256,835   215,311 169,371   116,963 62,073  
    2   Nợ gốc phải trả hàng năm       28,846   35,014   41,524   45,940 52,408 54,890 62,073
    3   Lãi vay phải trả trong năm       33,994   30,936   27,225   22,823   17,953   12,398   6,580
    4   Tổng mức trả nợ hàng năm       62,840   65,950   68,749   68,763 70,362 67,288 68,653
    5   Dư nợ cuối năm 320,695   291,849 256,835 215,311   169,371 116,963 62,073   0  
    6   Luỹ kế nợ gốc phải trả hàng năm       28,846   63,860   105,384   151,324   203,732   258,622 320,695
    7   Luỹ kế trả nợ lãi hàng năm       33,994   64,930   92,154   114,977   132,930   145,329 151,908

    (Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    66

     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.4.2.2. Ý kiến trình Ban Lãnh Đạo Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Qua Báo cáo thẩm định chung giữa Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam về dự án xây dựng “Nhà máy sản xuất thép tấm lợp và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm”, qua đánh giá về tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của cơ quan chủ quản đầu tư và Doanh nghiệp vay vốn, cân đối khả năng vay trả của dự án và của toàn công ty, Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam xét thấy cho vay dự án khả thi và có khả năng thu hồi được nợ vay.

    Sở giao dịch I trình Ban Lãnh Đạo xét duyệt cho Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội – Tổng Công ty lắp máy Việt Nam được vay vốn tín dụng dài hạn thương mại năm 2002 – 2004 với những nội dung sau:

    1. Tổng số tiền vay tối đa của dự án: 300 tỷ đồng (gồm 312 triệu đồng và 15.143.000 USD). Phần vốn thiết bị ngoại nhập sẽ vay bằng ngoại tệ, vốn xây lắp, chi phí khác và chi phí dự phòng sẽ vay bằng VNĐ.

    Trong đó:

    + Ngân hàng No&PT Nông thôn Chi nhánh Láng Hạ cho vay (Ngân hàng đầu mối): 200 tỷ đồng.

    + Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cho vay tối đa 100 tỷ đồng.

    (Dự kiến Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam sẽ cho vay đầu tư 01 dây chuyền sơn mạ mầu bằng USD quy đổi với tổng giá trị quy đổi tương đương tối đa 99 tỷ đồng)

    – Thời gian xây dựng dự án: 12 tháng.

    – Thời gian cho vay: 96 tháng (8 năm) bao gồm cả thời gian ân hạn.

    – Thời gian trả nợ: 84 tháng (7 năm).

    – Lịch trả nợ chi tiết: Quy định tại hợp đồng đồng tài trợ và hoạt động tín dụng dài hạn.

    1. Lãi suất cho vay:
    • Lãi suất cho vay được xác định trên nguyên tắc thả nổi, được điều chỉnh

    6 tháng 1 lần vào ngày làm việc đầu tiên của Quý I và III hàng năm:

    • Đối với VNĐ: Lãi suất cho vay bằng bình quân lãi suất tiết kiệm trả lãi sau của 2 Ngân hàng cho vay cộng (+) phí Ngân hàng là 2,2% mỗi năm.
    • Đối với USD: như trên.
    1. Điều kiện bảo đảm nợ vay:
    • Bảo lãnh vay vốn của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam.
    • Quyền sử dụng đất tại 52 Lĩnh Nam – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội và toàn bộ tài sản hiện có của Doanh nghiệp hình thành trên khu đất mà Doanh nghiệp thế chấp cho Ngân hàng.
    • Doanh nghiệp cam kết toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay (bao gồm
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 67
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cả quyền sử dụng đất tại xã Quang Minh – Huyện Mê Linh – Vĩnh Phúc) làm tài sản bảo đảm nợ vay cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi.

    1. Điều kiện cho vay:
    • Doanh nghiệp chuyển và duy trì toàn bộ doanh thu và các dịch vụ liên quan đến dự án về Tài khoản tiền gửi của Doanh nghiệp tại các Ngân hàng Đồng tài trợ (NH ĐTT) theo tỷ lệ vốn tham gia.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cam kết hỗ trợ vốn cho dự án để Doanh nghiệp có đủ vốn tự có tham gia theo như cam kết.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam bảo lãnh khoản vay. Trong Hợp đồng bảo lãnh phải ghi rõ: Tổng Công ty lắp máy Việt Nam sẽ cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho Doanh nghiệp trong trường hợp Doanh nghiệp không trả được nợ vay NH ĐTT đúng thời hạn.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cam kết yêu cầu các Công ty thành viên phải dùng sản phẩm của dự án vào các công trình thi công khi có nhu cầu và hỗ trợ ngoại tệ cho Doanh nghiệp để đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng.
    • Toàn bộ TSCĐ của dự án phải được mua bảo hiểm trong suốt thời gian còn dư nợ vay. Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ trong trường hợp xảy ra rủi ro, bên thụ hưởng hưởng quyền và quyền lợi số 1 là các NH ĐTT.

    2.3. Một số đánh giá về công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.3.1. Những ưu điểm đạt được:

    Qua hơn 10 năm hoạt động, Sở giao dịch I đã không ngừng đổi mới và ngày một lớn mạnh trên các mặt công tác, đồng thời khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ và ngân hàng. Góp phần vào sự phát triển chung của Sở giao dịch, công tác thẩm định dự án cũng ngày một được quan tâm hơn và không ngừng hoàn thiện, với mục đích nhằm cung cấp được những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Sở giao dịch I, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn và bảo đảm chất lượng tín dụng, cùng với sự ra đời của Phòng thẩm định và quản lý tín dụng tháng 10/2003 đã tiến hành nghiên cứu, thẩm định các dự án đầu tư của khách hàng, góp phần quan trọng trong tăng trưởng tín dụng và mang lại hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Công tác thẩm định dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam năm 2004 đạt được một số kết quả khả quan như sau:

    • Tổng số dự án thẩm định là hơn 50 dự án, tăng hơn 25% so với năm 2003.
    • Tổng số dư nợ cho vay theo dự án: 4.257.500 triệu đồng, tăng 108.5% so với năm 2003 đạt 3.924.170 triệu đồng.

    Tháng 09/2001, Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 68
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đã ra quyết định quy định về “Quy trình thẩm định dự án đầu tư” và được áp dụng trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Quy trình thẩm định này được tiến hành thao một trình tự logic, đã đề cập được đầy đủ các nội dung của công tác thẩm định dự án, đặc biệt là trong thẩm định tài chính dự án các chỉ tiêu được đưa ra để thẩm định khá đầy đủ và chi tiết, đảm bảo cho việc thẩm định được chính xác và nhất là việc đánh giá khả năng hoàn vốn và thời gian trả nợ của khách hàng vay vốn. Quy định phối hợp giữa phòng tín dụng, phòng nguồn vốn và phòng thẩm định đã giúp Ngân hàng phát hiện được những sai sót khách quan một cách dễ dàng hơn, đồng thời giúp Ngân hàng có thể đưa ra kết quả đánh giá chính xác hơn về dự án, có được sự thống nhất trước khi lập tờ trình Ban lãnh đạo Ngân hàng. Cách làm việc tập thể này cũng giúp Ngân hàng giảm thiểu được rủi ro đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trách nhiệm của mỗi cán bộ, góp phần vào việc hoàn thiện công tác thẩm định dự án.

    Việc trang bị các thiết bị máy móc hiện đại, các phương tiện làm việc thuận tiện cho các cán bộ thẩm định đã được Sở giao dịch quan tâm một cách đầy đủ và thường xuyên hơn. Những công việc tính toán, soạn thảo, lưu trữ ngày càng được thực hiện chính xác, nhanh chóng và khoa học hơn, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, điện thoại, máy fax, mạng nội bộ, mạng Internet… đã và đang được trang bị và hoàn thiện giúp cán bộ thẩm định thu thập thông tin, khai thác các nguồn thông tin bổ có hiệu quả và chính xác hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lương thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng tại Sở giao dịch.

    Bên cạnh đó, Sở giao dịch cũng quan tâm và chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác thẩm định, giúp cho các cán bộ thẩm định có được trình độ chuyên môn ngày càng cao, đạo đức nghề nghiệp ngày càng vững vàng, có được những phẩm chất cần thiết của một cán bộ ngân hàng và đáp ứng được những yêu cầu của công việc đòi hỏi.

    2.3.2. Những hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I.

    Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thẩm định dự án nói chung và công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng tại Sở giao dịch I còn mắc phải không ít những hạn chế.

    Thứ nhất: Việc xem xét đánh giá từng nội dung trong quy trình thẩm định còn sơ sài, đôi lúc còn mang nặng tính hình thức và có nhiều điểm chưa hợp lý, nhiều khi công tác thẩm định còn chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ chủ quan giữa Sở giao dịch và khách hàng, hay do chỉ định theo kế hoạch Nhà nước. Kết quả là đến nay vẫn còn nhiều dự án ở tình trạng khó thu nợ hay nợ quá hạn không có khả năng thanh toán, buộc ngân hàng phải có biện pháp tháo gỡ như gia hạn nợ, giảm lãi suất cho vay, thu nợ gốc trước thu lãi sau,… trở thành gánh

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 69
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nặng đối với Sở giao dịch.

    Thứ hai: Nội dung, phương pháp thẩm định tài chính dự án, việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính chưa thực sự có hiệu quả. Trong thẩm định tổng vốn đầu tư cũng như cơ cấu tốc độ bỏ vốn đầu tư Sở giao dịch thường chấp nhận những dự toán của chủ đầu tư đưa ra trong dự án mà chưa cân nhắc đánh giá một cách kỹ lưỡng. Điều này đôi khi gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Sở giao dịch trong tương lai.

    Việc thẩm định doanh thu của dự án, thông thường cán bộ thẩm định chỉ phân tích sản phẩm có được chấp nhận trên thị trường hay không, và cho công suất tăng dần theo cảm tính hoặc thụ động theo kế hoạch của Doanh nghiệp. Cán bộ thẩm định đơn thuần chỉ đặt giả thiết về giá bán sản phẩm chủ yếu dựa vào phương pháp đơn đặt hàng, chưa thực sự tiến hành phân tích dựa vào các yếu tố cung cầu trên thị trường. Việc xác định chi phí và nhiều khoản mục chi phí đôi khi còn bị Sở giao dịch bỏ qua hoặc mặc nhiên chấp nhận định mức của chi phí do Doanh nghiệp đưa ra. Điều này sẽ gây ảnh hưởng tới độ chuẩn mực của dự án, đồng thời sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho cả khách hàng và Sở giao dịch trong những trường hợp bất lợi của thị trường. Sở giao dịch cần tránh rơi vào tình trạng này vì lợi ích của cả hai bên.

    Trong thẩm định tài chính dự án, một số chỉ tiêu như NPV, IRR, DSCR,… được dùng để đánh giá, xếp hạng dự án, tuy đã được đề cập đến nhưng không được Sở giao dịch sử dụng một cách thường xuyên, và nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở giai đoạn tính toán mà chưa đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa chúng, chưa so sánh với các chỉ tiêu khác. Hơn nữa, giá trị thời gian của tiền không được đề cập đến trong nhiều dự án, Sở giao dịch chú trọng nhiều đến việc tính toán thời gian thu hồi vốn và xác định nguồn trả nợ của dự án mà chưa quan tâm đến vòng đời dự án. Chính vì vậy, Sở giao dịch sẽ gặp nhiều khó khăn khi thị trường có biến động về tài chính như lạm phát, đồng tiền mất giá,… Điều này sẽ tác động không nhỏ đến khả năng hoạt động tốt, có hiệu quả của Sở giao dịch.

    Thứ ba: Tại các Ngân hàng thương mại hiện nay và tại Sở giao dịch I, việc thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư mới ở trạng thái “tĩnh” là chủ yếu, Sở giao dịch còn hạn chế trong việc thẩm định dự án và tài chính dự án ở trạng thái “động” của dự án. Điều này có nghĩa Sở giao dịch nên đặt dự án, các chỉ tiêu tài chính của dự án vào nhiều trường hợp hơn để tiến hành phân tích và thẩm định, từ đó Sở giao dịch sẽ nhận biết được khả năng thích ứng của dự án trong trạng thái “động” của thị trường. Ví dụ như: sự phát sinh các dòng tiền theo diễn biến của các giai đoạn dự án, dưới tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài như giá cả, môi trường kinh doanh, sự phát sinh ngoài dự tính của lạm phát, phá giá tiền tệ,… Đó chính là trạng thái “động” của thị trường, và trạng thái này luôn có xu hướng diễn ra bất cứ lúc nào.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 70
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thứ tư: Nguồn thông tin mà cán bộ thẩm định sử dụng để thẩm định dự án và thẩm định tài chính dự án còn nhiều hạn chế, độ tin cậy chưa cao. Nguồn dùng trong thẩm định vẫn chủ yếu là do Doanh nghiệp cung cấp cho Sở giao dịch, chính bản thân cán bộ thẩm định cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định lại độ chính xác và cập nhật của các thông tin này. Nguồn thông tin này không được các cơ quan độc lập chứng nhận, do đó dễ gây ra tình trạng gian lận từ phía khách hàng để việc vay vốn của mình được thuận lợi hơn, dễ gây ra sai lệch trong quá trình đánh giá hiệu quả tài chính của sự án và nhầm lẫn trong quyết định cho vay của Sở giao dịch.

    Thứ năm: Tiến độ thẩm định chưa thật sự nhanh chóng và sự kết hợp giữa các phòng tín dụng, phòng nguồn vốn và phòng thẩm định trong quá trình thẩm định còn chưa chặt chẽ, chưa phát huy được hiệu quả của mình. Một số dự án còn gặp phải tình trạng thời gian thẩm định kéo dài do các phòng tiến hành thẩm định và phân tích, lập tờ trình lên Ban lãnh đạo, hoặc do việc bổ sung thông tin được đề nghị nhưng không có sự phản hồi nhanh chóng từ phía Doanh nghiệp,… Điều này gây ảnh hưởng không chỉ đến cơ hội đầu tư của khách hàng mà còn tác động đến nguồn vốn của Sở giao dịch trong công tác cho vay.

    Thứ sáu: Công tác tái thẩm định dự án sau khi Sở giao dịch tiến hành giải ngân vốn vay cho Doanh nghiệp vay vốn còn chưa được quan tâm đúng mức. Một số dự án không phát huy được hiệu quả theo kỳ vọng nhưng chưa được Sở giao dịch đánh giá và nhìn nhận một cách khách quan, độc lập, do vậy chưa đánh giá đúng mức hiệu quả của vốn đầu tư. Việc đầu tư có hiệu quả hay không sẽ quyết định đến khả năng hoàn trả vốn vay vủa Doanh nghiệp đối với ngân hàng, Sở giao dịch cần xem xét về vấn đề này để có thể rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong công tác cho vay vốn để đầu tư.

    Thứ bảy: Chưa có sự phân biệt rõ ràng trong quy trình, nội dung, phương pháp phân tích hiệu quả tài chính dự án đối với các dự án thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác thẩm định dự án nói chung và công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng.

    Một trong những biểu hiện cụ thể về hạn chế của công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam là tỷ lệ nợ quá hạn cho vay theo dự án. Chúng ta nghiên cứu bảng sau:

    Đơn vị: Triệu đồng.

    Chỉ tiêu   Năm 2002   Năm 2003   Năm 2004  
             
    – Tổng dư nợ cho vay theo dự án 3,710,383   3,924,170 4,257,500
    – NQH cho vay theo dự án 52,425   54,000 56,500  
    – Tỷ lệ NQH 1.41%   1.38% 1.33%  

    (Nguồn: Số liệu tại phòng Tín dụng I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

     

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           71

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Theo số liệu ở trên, tỷ lệ NQH cho vay theo dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam ở mức thấp hơn 2%, tuy nhiên số tuyệt đối NQH cho vay theo dự án đầu tư có xu hướng tăng qua các năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, và một phần là do Sở giao dịch I đã thực hiện chuyển NQH theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước; đồng thời cũng một phần là do việc cho vay đầu tư của Sở giao dịch chưa đạt hiệu quả hay nói một cách khác, công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I chưa có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động cho vay theo dự án. Quá trình từ khâu thẩm định tài chính dự án đến khi dự án thực sự đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều bất cập và khó khăn, phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp, từ đó có thể gây ra rủi ro cho dự án. Và kết quả là, Doanh nghiệp không hoàn thành được các quy trình đầu tư theo đúng tiến độ mong muốn, Doanh nghiệp không có được thu nhập kỳ vọng và Doanh nghiệp không thể trả nợ vay cho Ngân hàng đúng thời hạn.

    Chúng ta đã nghiên cứu và chỉ ra một số hạn chế trong công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Vậy nguyên nhân gây ra những hạn chế đó là gì? Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn về nguyên nhân gây ra các hạn chế đó.

    2.3.3.  Một số nguyên nhân chính gây ra các hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Những hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I là do sự tác động của nhiều nguyên nhân, tuy nhiên chúng ta có thể quy gọn chúng vào hai nhóm nguyên nhân chính như sau: Nguyên nhân khách quan và Nguyên nhân chủ quan.

    2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan.

    Thứ nhất, Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển toàn diện và chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, do vậy nền kinh tế còn có nhiều khó khăn, bất ổn và dễ chịu những tác động từ bên ngoài. Nền kinh tế thị trường còn chưa được định hình một cách rõ ràng, do vậy các hoạt động kinh tế còn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức, đồng thời còn phải đương đầu với nhiều rủi ro, bất ổn trong quá trình hội nhập và phát triển hiện tại. Có thể nói đây là cội nguồn của các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án tại các NHTM.

    Thứ hai, hệ thống thông tin trong nền kinh tế giúp cho công tác thẩm định tài chính dự án còn nghèo nàn và thiếu thốn, chưa có hệ thống, thiếu tính cập nhật và độ chính xác cần thiết – những yếu tố hết sức cần thiết trong công tác thẩm định dự án. Các Ngân hàng vẫn phải dựa vào các nguồn thông tin từ phía khách hàng là chủ yếu mà đa số các nguồn thông tin đó thiếu tính khách quan

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 72
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần thiết, và nhiều khi cán bộ thẩm định còn gặp nhièu khó khăn trong việc thẩm định lại tính chuẩn xác của các nguồn thông tin đó. Tình trạng này đã làm cho nội dung và phương pháp thẩm định tài chính dự án bị thiếu hụt rất nhiều, tạo nên xu hướng đơn giản hoá trong việc phân tích, đánh giá, tính toán các chỉ tiêu tài chính của dự án, do vậy không phản ánh hết tính chân thực của dự án, gây nhiều bất lợi về phía Ngân hàng trong tương lai.

    Thứ ba, tình trạng lập dự án thiếu tính chính xác, thiếu căn cứ khoa học của chủ đầu tư đã làm cho công tác thẩm định gặp không ít khó khăn để có thể đánh giá một cách chính xác nhất các dự án đó. Một số các chủ đầu tư khi lập dự án thường chỉ tập trung vào một số những nội dung chính mang tính nghiên cứu chủ đạo, thiếu sự hợp lý cần thiết và rất chiếu lệ. Điều này một phần là do sự thiếu hụt về thông tin cũng như sự hạn chế về công nghệ, một phần cũng là do trình độ còn hạn chế của các cán bộ quản lý ở các Doanh nghiệp. Hạn chế này cũng là một nguyên nhân khách quan tác động đến quá trình hoàn thiện công tác th tài chính dự án của Ngân hàng.

    Thứ tư, tình hình thị trường giá cả nói chung, thị trường giá cả tiền tệ nói riêng tuy đã có sự ổn định tương đối nhưng vẫn còn không ít khó khăn, nhiều bất ổn đã gây ảnh hưởng xấu đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư do quy trình thẩm định vẫn chưa thực sự quan tâm đến giá trị của đồng tiền qua các thời kỳ. Thêm vào đó, các hình thức của thị trường tài chính vẫn chưa phát triển đầy đủ ở nước ta, tâm lý và thói quen đầu tư chưa hình thành rõ nét, chưa có sự quan tâm đúng mức tới các yếu tố tác động tới quy mô dòng tiền của Doanh nghiệp. Do đó, việc thẩm định tài chính dự án vẫn chưa có được một căn bản hoàn hảo để phát triển và hoàn thiện được.

    Thứ năm, môi trường Pháp lý trong hoạt động tín dụng ngân hàng còn nhiều bất cập. Một số cơ chế chính sách, các Quyết định – Nghị định, các văn bản chế độ luật của ngân hàng còn nhiều kẽ hở dễ bị khai thác trong quá trình thực hiện các mối quan hệ tín dụng của Doanh nghiệp với Ngân hàng. Hơn nữa, việc có những thay đổi thường xuyên của các chế độ chính sách như hiện nay cũng làm cho ngân hàng khó có thể đưa ra những nhận xét chính xác trong tương lai, do vậy gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án. Công tác thẩm định tại các NHTM vẫn chưa có được một môi trường pháp lý vững chắc để phát triển và hoàn thiện, trong thời gian tới mong rằng điều này sẽ được khắc phục nhanh chóng để nâng cao năng lực tài chính tại các NHTM, và công tác thẩm định sẽ là cơ sở vững chắc của quá trình đầu tư dự án tại các Doanh nghiệp cũng như trong các NHTM nói chung và Sở giao dịch I nói riêng.

    2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan.

    Bên cạnh những nguyên nhân khách quan ở trên, những nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng cũng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 73
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I. Có một số nguyên nhân chủ quan sau:

    Thứ nhất, về phía Ngân hàng vẫn chưa thực sự coi trọng kết quả thẩm định. Việc thẩm định tài chính dự án của các Ngân hàng đôi khi không được coi trọng. Điều này thể hiện trong việc Ngân hàng khi tiến hành thẩm định dự án đã quá coi trọng đến việc thẩm định tài sản cầm cố, thế chấp, thời gian trả nợ vay của các Doanh nghiệp hay đơn vị bảo lãnh mà không thẩm định kỹ các nội dung tài chính cũng như hiệu quả tài chính của dự án. Đây cũng là lý do lý giải vì sao khách hàng trong cho vay trung – dài hạn của Sở giao dịch chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, các khách hàng truyền thống và có uy tín với Sở, còn khu vực kinh tế tư nhân, khối kinh tế ngoài quốc doanh chưa thực sự được coi trọng.

    Thứ hai, hệ thống tổ chức, quản lý điều hành thẩm định tài chính dự án còn nhiều yếu kém và hạn chế. Mặc dù Sở giao dịch I đã thành lập Phòng thẩm định riêng nhưng do mới được thành lập, lượng cán bộ có kinh nghiệm và trình độ cao còn ít nên chưa thực sự phát huy được hiệu quả cần thiết. Hơn nữa, dù quá trình thẩm định được tiến hành thông qua sự phối hợp của nhiều phòng chức năng nhưng sự phối hợp giữa các phòng đôi khi còn lệch lạc, chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất nên chưa phát huy được năng lực cần thiết của mình trong quá trình thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tai Sở giao dịch.

    Thứ ba, trình độ của cán bộ thẩm định vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù Sở giao dịch I đã có quy trình thẩm định dự án theo Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, nhưng do trình độ năng lực của cán bộ thẩm định còn nhiều hạn chế nên nhiều khi còn thiếu sót, bỏ qua một số bước hoặc thẩm định một cách sơ sài, chiếu lệ. Đội ngũ cán bộ thẩm định đa số còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chỉ mới nghiên cứu công tác thẩm định tài chính dự án qua tài liệu tự nghiên cứu, tự tham khảo mà không được đào tạo một cách bài bản. Sở giao dịch I chưa có được một chương trình đào tạo phát triển tổng thể cho đội ngũ cán bộ thẩm định mà mới chỉ dừng lại ở hình thức tập huấn ngắn ngày.

    Thứ tư, việc áp dụng trang bị hiện đại cho công tác thẩm định còn nhiều hạn chế. Mặc dù Sở giao dịch đã và đang được trang bị hệ thống máy tính khá đầy đủ nhưng do năng lực còn nhiều hạn chế nên các cán bộ thẩm định chưa khai thác được hết các công dụng của hệ thống máy tính trong công việc của mình, chưa ứng dụng được thành thạo các phần mềm chuyên dụng trong công tác thẩm định. Đặc biệt công tác thẩm định tài chính dự án cần có sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng và doanh nghiệp nhưng hiện nay, sự phối hợp này còn hạn hẹp, tồn tại nhiều vướng mắc và bất cập cả về công nghệ cũng như mức độ hợp tác của các ngân hàng.

    Nói tóm lại, trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu thu được thì Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cũng gặp phải không ít khó khăn, hạn chế trong công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 74
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    dự án. Để hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong thời gian tới, Sở giao dịch I phải có được các giải pháp kịp thời và nhanh chóng, phù hợp với Sở giao dịch I, từng bước nâng cao chất lượng của công tác thẩm định và giúp Sở giao dịch I cũng như Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có được một công cụ tốt nhất để có thể hoạt động – kinh doanh đạt hiệu quả cao, phát triển vững mạnh trong tương lai.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           75

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

    DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH I.

    3.1. Định hướng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam là một ngân hàng đa năng chuyên sâu về phục vụ đầu tư và phát triển cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm tới, SGD sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác cho vay đầu tư trung – dài hạn, đồng thời mở rộng cho vay ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế có nhu cầu về vốn. Nắm được tình hình sản xuất kinh doanh, nhu cầu thị trường, SGD sẽ chuẩn bị đầy đủ vốn sẵn sàng phục vụ cho vay các dự án đầu tư, SGD ưu tiên tập trung vốn cho các dự án trong điểm của ngành, của địa phương và của nền kinh tế nhằm tạo việc làm, tăng thu ngân sách phục vụ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Với mục tiêu tổng quát phát triển của toàn hệ thống NHĐT&PT Việt Nam trong thời gian tới là “ cấu lại gắn liền với phát triển toàn diện vững chắc”, SGD luôn phấn đấu giữ vững nhịp độ tăng trưởng cao, hiệu quả an toàn hệ thống và truyền thống phục vụ đầu tư tốt, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và toàn hệ thống theo đòi hỏi của thị trường và lộ trình hội nhập quốc tế. SGD luôn đặt mục tiêu phát triển bền vững hệ thống NHĐT&PT, làm nòng cốt cho việc xây dựng và phát triển tập đoàn tài chính (tài chính tín dụng) đa năng, vững mạnh, hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phát triển kinh tế xã hội theo con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Bên cạnh đó, chất lượng, hiệu quả và an toàn trong toàn bộ hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng chỉ có thể đạt được khi công tác thẩm định của SGD được tiến hành một cách nghiêm túc và hợp lý. Vì vậy, công tác thẩm định tài chính dự án phải được đặt đúng vị trí của nó dưới sự chỉ đạo chặt chẽ, có cơ chế quy trình công nghệ toàn diện và đồng bộ với quy trình công nghệ khác, tạo thành một tổng thể giải pháp mang tính chiến lược trong định hướng phát triển của toàn hệ thống. Để củng cố và phát triển công tác này trong thời gian tới, SGD đưa ra một số nội dung chính về phương hướng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

    • Xác định phương hướng, nhiệm vụ trước tiên phải xuất phát từ việc xác định đúng vị trí, vai trò và nội dung của công tác thẩm định tài chính dự án. Thực hiện tốt công tác này là một trong những yếu tố chính và là yếu tố quyết định, góp
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 76
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    phần bảo vệ và nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh của SGD.

    • Củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức thẩm định dự án: Các phòng chức năng trong công tác thẩm định của ngân hàng sẽ được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, đảm đương tốt nhiệm vụ, thực hiện tốt chức năng được chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, hướng dẫn công tác thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng. Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại để thích ứng và phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế trong thời gian tới.
    • Ngoài các dự án đã và đang đầu tư, SGD còn chủ động tìm kiếm các dự án để cho vay, từ trong kế hoạch và ý tưởng đầu tư của doanh nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp khi xét thấy dự án khả thi.
    • Đẩy mạnh việc phân tích tổng hợp các thước đo, chỉ tiêu khoa học kỹ thuật, giá thành sản phẩm, tỷ suất hoàn vốn với một số ngành hay loại hình đầu tư.
    • Công tác thẩm định tài chính dự án phải phù hợp với tính đa dạng trong đầu tư, thực hiện chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau. Công tác thẩm định tài chính phải trở thành một thế mạnh trong cạnh tranh và kinh doanh, coi đó là một yếu tố thu hút khách hàng.

    * Đặc điểm của cho vay dự án là rủi ro cao do thời gian vay vốn thường là dài hạn. Và để hạn chế rủi ro, SGD tiến hành:

    • Cho vay đối với các dự án đầy đủ hồ sơ pháp lý theo quy định, phải có khả năng thu hồi vốn và thể hiện rõ hiệu quả đầu tư.
    • Kiểm tra, tính toán cẩn thận tính hiệu quả của dự án trên cơ sở nắm chắc thông tin về doanh nghiệp đồng thời chỉ ra những rủi ro tiềm ẩn để có biện pháp phòng ngừa.
    • Tăng cường giám sát, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay hay nói cách khác, cán bộ của SGD cần phải thẩm định dự án trong từng giai đoạn từ khi xem xét tiếp nhận hồ sơ đến khi vận hành và kết thúc dự án đầu tư.

    Trên cơ sở phân tích lý luận và quan sát thực tế công tác thẩm định tín dụng tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, nhận định nguyên nhân và những tồn đọng chủ yếu trong quá trình thẩm định với tư cách như một nhà đầu tư, sau đây em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hơn công tác thẩm định tài chính dự án tại SGD.

    3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    3.2.1. Giải pháp về phương pháp thẩm định.

    Với những ưu thế của những phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư được áp dụng trong các tổ chức kinh tế, tài chính ngân hàng trên thế giới, SGD nên nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế tại SGD. Điều

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 77
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    này hết sức cần thiết bởi vì trong thời điểm mở cửa nền kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực như hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế đang du nhập vào Việt Nam với những phương pháp thẩm định ở các giác độ khác nhau, góc nhìn khác nhau. Do đó, SGD cần chủ động lựa chọn phương pháp thẩm định tài chính có hiệu quả nhất, hợp lý nhất và phù hợp nhất với toàn cảnh thực tế để ứng dụng công tác thẩm định vào thực tiễn. SGD cần tiến hành kiểm tra và ra soát lại toàn bộ cách tính toán các chỉ tiêu được sử dụng để phân tích nhằm tìm ra những thiếu sót, bất hợp lý để bổ sung, thay đổi cho phù hợp. Việc này phải được tiến hành bởi những người trực tiếp tham gia thẩm định và tiến hành song song với việc tăng cường tham khảo các phương pháp hiện đại, và vấn đề chỉ còn là ứng dụng đến đâu, ứng dụng như thế nào cho phù hợp với SGD, bởi mỗi dự án đều có đặc thù riêng. Do đó, cách thẩm định ở mỗi dự án là khác nhau, cán bộ thẩm định cần phải lựa chọn phương pháp thẩm định cho phù hợp với từng dự án.

    • Thứ nhất, thẩm định một cách kỹ lưỡng vốn đầu tư.

    Đây là vấn đề mà ngân hàng thường không xác định kỹ, việc thẩm định đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải thẩm định chính xác vốn đầu tư và các chi phí liên quan, tránh tình trạng chủ đầu tư có thể tính toán mức vốn quá cao để tránh thủ vốn, gây lãng phí, ứ đọng vốn làm giảm hiệu quả đầu tư; hay chủ đầu tư lập dự án tính mức vốn quá thấp để tăng hiệu quả đầu tư giả tạo dẫn đến quyết định đầu tư sai lệch. Việc xác định tổng vốn đầu tư sát với thực tế là cơ sở để tính toán hiệu quả tài chính và dự kiến khả năng trả nợ của dự án.

    Muốn vậy, các cán bộ thẩm định phải tích cực tìm hiểu thị trường, căn cứ vào các định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành, các đơn giá của nhà nước hay qua viện nghiên cứu mức độ hiện đại của công nghệ, tình hình giá cả ở thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần tích cực tìm hiểu, lưu trữ các thông tin của các dự án điển hình trong cả nước làm cơ sở cho việc kiểm tra, thẩm định tổng mức vốn đầu tư, trong một số trường hợp có thể thuê cơ quan tư vấn nếu cần thiết.

    Đối với các dự án xây dựng, đặc biệt là các dự án xây dựng có nhiều hạng mục công trình, kéo dài trong nhiều năm, ngoài việc tính các chi phí liên quan còn phải tính đến các yếu tố lạm phát, tỷ giá (nếu dự án mua máy móc từ bên ngoài)được áp dụng của dự án. Đã có không ít những dự án gặp phải khó khăn về tiến độ thi công do giá vật liệu tăng mà trước đó khi thẩm định không được tính toán đến. Việc xác định, đánh giá và tính toán trước những yếu tố trên sẽ giúp chủ đầu tư có thể phản ứng nhanh hơn trước những biến đổi bất lợi của thị trường.

    • Thứ hai, cần tính toán doanh thu và chi phí của dự án một cách sát thực và thực tế.

     

    Để thẩm định về doanh thu và chi phí chính xác cần phải có kết quả ở khâu thẩm định thị trường tốt, Ngân hàng phải quan tâm đến nguồn cung cấp nguyên vật liệu và khả năng tiêu thụ của sản phẩm hay nói cách khác, Ngân hàng phải xem xét đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án. Nghiên cứu vấn đề này là

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 78
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    một việc khó khăn nhưng hết sức cần thiết, bên cạnh việc SGD phải dự toán doanh thu và chi phí trong tương lai. Muốn vậy, SGD cần phải nghiên cứu thị trường trên các mặt như: quan hệ cung cầu của sản phẩm, điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm, đối tượng, phương thức tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là tình hình cạnh tranh trên thị trường. Do đó, phòng thẩm định cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu điểm mạnh điểm yếu, cơ hội và sự đe doạ của sản phẩm, và cách tốt nhất để thực hiện được điều này là Ngân hàng đẩy mạnh và chi tiết hoá các mô hình đánh giá chủ yếu như: mô hình SWOT, mô hình PORTER.

    Việc tính toán chi phí sản phẩm kinh doanh phải được tham khảo quy định của Bộ Tài chính, cơ quan chủ quản của doanh nghiệp và trên thị trường. Các loại chi phí như: quản lý doanh nghiệp, lãi vay vốn lưu động, chi phí thuê đất, thuê chuyên gia SGD không nên chấp nhận mặc nhiên theo cách tính toán của doanh nghiệp hay tuỳ tiện nâng lên để an toàn hơn. Đối với các dự án mở rộng hoặc dự án mới của doanh nghiệp đã hoạt động trong ngành đó, cán bộ có thể lấy các chỉ tiêu cũ làm cơ sở. Nếu là các dự án và doanh nghiệp mới hoàn toàn, các chỉ tiêu của các doanh nghiệp tương tự cũng là những yếu tố tham khảo tốt cho công tác thẩm định.

    Xuất phát từ thực tế, các chủ đầu tư do mong muốn có được quyết định đầu tư và được vay vốn ngân hàng một cách nhanh chóng, mặt khác họ lại đoán được tâm lý của ngân hàng hay quan tâm đến nhiều các chỉ số NPV, IRR, DSCR, nguồn trả nợ nên họ thường tính chi phí cao, đặc biệt là chi phí mua máy móc thiết bị và xây dựng nhà xưởng. Vì vậy khi tính khấu hao tài sản cố định Doanh nghiệp luôn tính cao hơn thực tế, vì nếu thế, doanh nghiệp vừa giảm được thuế thu nhập Doanh nghiệp lại vừa có nguồn trả nợ từ khấu hao cao. Do đó khi thẩm định, SGD phải xem xét một cách kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác của khoản mục chi phí này. Khi tính khấu hao, nếu doanh nghiệp tính sai so với quy định về khấu hao của Bộ tài chính thì SGD nên tính lại và có ý kiến với doanh nghiệp. Khi xem xét, tính toán khấu hao cơ bản cũng phải xem xét trong mối quan hệ đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, đến tính khả thi của dự án, bởi khấu hao cơ bản không phải là nguồn trả nợ sẵn có hiển nhiên. Trên thực tế nó chỉ là con số trên sổ sách, nó rất có thể là con số vô nghĩa nếu dự án không khả thi, sản phẩm không tiêu thụ được. SGD cũng cần phải lập bảng tính giá thành sản phẩm dịch vụ. Bước này rất quan trọng vì giá thành là cơ sở để xác định giá bán, liên quan chặt chẽ đến căn cứ dự kiến doanh thu, lỗ, lãi của Doanh nghiệp. Dựa vào các chỉ tiêu này, cán bộ thẩm định có thể chỉ ra được các chi phí bất hợp lý được kê khai trong dự án, các chi phí không được công nhận trong chế độ kế toán thống kê của dự án.

    Muốn tính chính xác doanh thu của dự án, các cán bộ thẩm định phải xác định được xu hướng mức biến động về lợi nhuận, sự bảo đảm nguồn cung cấp, nguồn tiêu thụ, những yếu tố này đảm bảo cho việc tính toán doanh thu một cách

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 79
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    chính xác hơn. Muốn vậy, các cán bộ thẩm định phải nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu thị trường, đặc biệt là chú ý tới các sản phẩm cùng loại, tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm về chất lượng, lợi nhuận và uy tín. Đẩy mạnh sử dụng phương pháp phân tích SWOT và PORTER, SGD cũng nên nghĩ đến việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng trong dự báo khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng phát triển cho những dự án quan trọng. Dự báo chính xác xu hướng phát triển cung cầu thị trường trong nước cũng như khu vực và trên thế giới là điều rất quan trọng và cần thiết trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế như hiện nay. Bên cạnh đó, một yếu tố khác có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của dự án, đó là công nghệ của dự án. Vấn đề đặt ra ở đây đối với các dự án là phải có được công nghệ phù hợp với dự án, ở đây, công nghệ phù hợp không bắt buộc phải là công nghệ hiện đại nhất, tiên tiến nhất có trên thế giới. Bởi vì nếu là hiện đại quá trong khi mà trình độ và năng lực của công nhân Việt Nam chưa đủ để sử dụng thì sẽ sử dụng không hết công suất lãng phí, giá thành lại cao; mặt khác, nhiều công nghệ thải của nước ngoài vẫn hiện đại hơn của chúng ta nhưng nếu đầu tư vào thì sản phẩm lại có khả năng cạnh tranh kém trên thị trường. Điều này cần được các Doanh nghiệp nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng trước khi tiến hành đầu tư.

    Sau khi tính toán được doanh thu và chi phí của dự án, SGD cần tính được dòng tiền ròng (NCF) hàng năm của dự án. SGD nên xây dựng bảng lưu chuyển tiền tệ của dự án, trên cơ sở đó phản ánh đầy đủ các khoản thu chi của dự án, từ đó xác định được các dòng tiền vào ra của dự án. Khi xác định NCF của dự án, SGD cần lưu ý đến việc thu hồi giá trị thanh lý khi dự án chấm dứt hoạt động kinh doanh. Thực tế cho thấy, một số máy móc thiết bị vẫn còn giá trị sử dụng khi dự án kết thúc, khi bán sẽ xuất hiện một luồng tiền thu cuối dự án, tuỳ theo từng trường hợp, luồng tiền này có thể phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hay không. Theo chế độ kế toán hiện hành thì nếu giá bán lớn hơn chi phí thanh lý cộng với giá trị còn lại của tài sản cố định thì phần chênh lệch này phải chịu thuế thu nhập, ngược lại nếu nhỏ hơn thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế:

    CF thanh lý tài sản cố định = S – (S – B)*T

    Trong đó:               S: giá bán TSCĐ.

    B: Tổng giá trị còn lại và CF thanh lý.

    Luồng tiền này được cộng vào năm cuối của dự án. Ngoài ra SGD cũng cần tính tới khoản thu hồi vốn lưu động ròng, khoản này cũng sẽ được cộng vào dòng tiền ở năm cuối cùng của dự án.

    • Thứ ba, SGD cần coi việc tính các chỉ tiêu hiệu quả dự án: NPV, IRR, PP, DSCR là bắt buộc khi thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    Có khá nhiều chỉ tiêu để thẩm định tài chính dự án, tuy nhiên ngân hàng nên áp dụng các chỉ tiêu: NPV, IRR, PP, DSCR và coi đây là chỉ tiêu cơ bản, bắt

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 80
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    buộc trong thẩm định tài chính dự án bởi các chỉ tiêu này là những chỉ tiêu tổng hợp cơ bản, phản ánh hiệu quả, tính chất của doanh nghiệp, chúng được xây dựng, tính toán dựa trên số liệu từ bảng dự trù cân đối thu chi của dự án hàng năm. Tuy nhiên, khi kết hợp hai chỉ tiêu này để ra quyết định đối với một dự án thì nhiều khi nó cho biết tỷ lệ sinh lời của dự án mà không quan tâm đến quy mô nguồn vốn và lợi nhuận tuyệt đối của dự án. Nhiều dự án có IRR cao nhưng lợi nhuận tuyệt đối lại thấp, lúc này IRR không phản ánh trực tiếp sự gia tăng này. Hơn nữa, NPV được giả định rằng các luồng tiền của dự án được chiết khấu theo chi phí vốn của dự án, nhưng IRR lại chiết khấu các luồng tiền theo IRR của dự án và điều này là không hợp lý. Tuy IRR đơn giản hơn thông qua việc so sánh tỷ lệ phần trăm, do đó nó có sức hấp dẫn, dễ hiểu hơn nhưng ta cũng phải thừa nhận rằng phương pháp IRR không hoàn thiện bằng phương pháp NPV, vì nó không đề cập đến độ lớn của dự án và không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư. Lựa chọn một trong nhiều dự án đầu tư loại trừ nhau theo đó phải dựa trên phương pháp NPV. Để đảm bảo độ tin cậy cho các chỉ tiêu tính toán, điều quan trọng là phải xác định được thời điểm phát sinh các dòng tiền và quy mô của nó. Dòng tiền của dự án không nhất thiết phải là chi phí, có những khoản mục kế toán đưa vào chi phí nhưng trong thẩm định dự án nó không được coi là dòng tiền vì không liên quan đến hoạt động thu chi tiền thực sự (chẳng hạn như khoản mục khấu hao). Dòng tiền cũng độc lập một cách tương đối với doanh thu từ dự án, doanh thu có thể tăng, giảm nhưng dòng tiền mặt vẫn không thay đổi (trường hợp biến động các khoản phải thu, hàng gửi bán). Do đó, khi xác định dòng tiền phát sinh cần lưu ý những điểm sau:

    • Các dòng tiền phát sinh ở bất kỳ thời điểm nào được giả định phát sinh ở

    cuối kỳ.

    • Xử lý các khoản thu hồi: Vốn đầu tư vào TSCĐ được thu hồi dẫn qua KHTSCĐ. Nếu TSCĐ đã trích hết khấu hao nhưng vẫn bán được thì khoản tiền đó được tính là dòng voà ở thời điểm phát sinh và chịu thuế TNDN theo quy định. Trường hợp TSCĐ chưa trích hết khấu hao, phải thanh lý thì thu nhập từ hoạt động thanh lý cũng là một dòng vào của dự án, vẫn phải chịu thuế TNDN. Giá trị còn lại của TSCĐ theo sổ sách kế toán được đưa vào cho phí trong kỳ, làm giảm thuế TNDN. Bản thân giá trị còn lại không được coi là dòng ra vì đó không phải là một khoản chi tiền thật sự.

    Vốn đầu tư vào TSLĐ sẽ được thu hồi khi dự án kết thúc, được tính như một dòng vào tại kỳ cuối cùng và không phải chịu thuế TNDN.

    • Đối với các dự án đầu tư thay thế, dòng tiền có một số điểm khác biệt:

    Dự án đầu tư mới có thể không làm tăng doanh thu nhưng làm giảm chi phí. Khoản giảm chi phí đó phải được coi như một dòng vào của dự án mới.

    Khi mua thiết bị mới về thay thế thiết bị cũ, tiền thu được do bán tài sản cũ cũng là một dòng vào của dự án. Tiền bán tài sản và giá trị còn lại của nó đều có

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 81
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    ảnh hưởng đến thuế TNDN phải nộp. Nếu tiền bán lớn hơn giá trị còn lại làm tăng thuế, sẽ xuất hiện mộg dòng ra có độ lớn bằng chênh lệch giữa tiền bán TSCĐ và giá trị còn lại theo sổ sách nhân với thuế suất thuế TNDN. Ngược lại sẽ là một dòng vào có độ lớn là chênh lệch giữa giá trị còn lại và tiền bán TSCĐ nhân với thuế suất.

    • Các dòng tiền ròng có thể bao gồm hoặc không bao gồm các dòng tài chính. Việc đưa hay không đưa các dòng tài chính vào tính toán phụ thuộc vào vị trí của người xem xét: là doanh nghiệp hay là ngân hàng. Nếu không đưa các dòng tài chính vào (các dòng vay, trả nợ gốc, trả lãi vay) việc tính chỉ tiêu thời gian hoàn vốn trở nên chính xác hơn.

    Số vốn đầu tư có thể được hiểu là số vốn của bản thân dự án (không tính tiền vay tại thời điểm đầu tư) hoặc là số vốn chủ đầu tư bỏ ra (có tính đến tiền vay tại thời điểm đầu tư). Với cách hiểu thứ nhất, thời gian hoàn vốn sẽ là thời gian để dự án thu hồi được số vốn đầu tư ban đầu. Với cách hiểu thứ hai, thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian chủ đầu tư thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra (ngân hàng thu được vốn cho vay). Điều này được khẳng định rằng, trong các dự án được đầu tư bằng 100% vốn vay ngân hàng, chủ đầu tư sẽ không lo lắng đến hiệu quả dự án bằng SGD, SGD sẽ là người gánh chịu nhiều rủi ro nhất.

    ¾ Thứ tư, xác định lãi chiết khấu hợp lý đối với từng dự án.

    Xác định LSCK của dự án đầu tư là việc làm không đơn giản. Có thể hiểu LSCK là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp rủi ro, khi rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh nghiệp và chính sách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án thì LSCK bằng với chi phí bình quân của vốn (WACC), nó thể hiện chi phí cơ hội của các nguồn vốn tham gia vào dự án. Các nguồn vốn thường có trong dự án là vốn vay và vốn chủ sở hữu (VCSH).

    • Nếu nguồn vốn vay được dùng để đầu tư thì:

    LSCK = Lãi suất vay trước thuế* (1 – thuế suất TNDN)

    • Nếu nguồn vốn chủ sở hữu được dùng để đầu tư thì: LSCK = Chi phí trung bình của vốn.
    • Nếu nguồn gồm cả vốn cho vay và chủ vốn sở hữu dùng để đầu tư thì LSCK = Chi phí bình quân gia quyền.

    Trên thực tế, các ngân hàng thường lấy lãi suất cho vay dài hạn của ngân hàng làm LSCK, điều này chỉ chính xác khi toàn bộ vốn của dự án là vốn vay từ ngân hàng, nhưng vốn cho dự án lại vừa là vốn của doanh nghiệp, vừa là vốn vay của ngân hàng. Do vậy, sử dụng LSCK như vậy là không hợp lý, LSCK hợp lý là lãi suất được xác định theo công thức trên.

    Ngoài ra SGD có thể lấy lãi suất trái phiếu kho bạc nhà nước làm tỷ lệ chiết khấu cộng thêm một số mức độ rủi ro tương ứng của ngành nghề sản xuất kinh doanh mà dự án hoạt động. SGD phải xem xét mức độ rủi ro ảnh hưởng đến lãi suất của các yếu tố sau:

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 82
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Tỷ lệ làm phát hàng năm: tỷ lệ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì LSCK cũng tăng và ngược lại, nếu tỷ lệ làm phát giảm thì LSCK cũng giảm một cách tương ứng.
    • Tỷ lệ gia tăng do sử dụng phương án này mà không sử dụng phương án khác, hay nói cách khác là chi phí cơ hội. Tỷ lệ gia tăng này xuất hiện khi cùng một kế hoạch đầu tư nhưng có nhiều phương án khác nhau.
    • SGD cũng có thể sử dụng các lãi suất không cố định để phản ánh kẹp thời các điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới quá trình thực hiện dự án sao cho giá trị hiện tại thực của dự án không bị quá thổi phồng hoặc giảm đi.

    ¾ Thứ năm, SGD cần coi dòng tiền của dự án là nguồn trả nợ duy nhất cho mình.

    Điều này SGD quan tâm nhất khi thẩm định tài chính dự án đầu tư là khi nào dự án, doanh nghiệp có tiền và có kảh năng trả nợ, do vậy phải thực sự quan tâm tới dòng tiền dự tính của dự án. Đây phải là tiền mặt chứ không phải là nguồn từ khấu hao TSCĐ hay từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, bởi vì đó chỉ là những số liệu trên sổ sách kế toán, lợi nhuận cao chưa chắc khả năng thanh toán cao, nhiều doanh nghiệp có lợi cao nhưng thực sự vẫn có nguy cơ bị phá sản vì tình trạng lãi giả, lỗ thật thì làm sao họ có thể thanh toán nợ với ngân hàng. Trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp, doanh thu được ghi khi khách hàng chấp nhận thanh toán nhưng thời điểm từ khi doanh thu được ghi cho tới khi doanh nghiệp được nhận tiền là cả một thời gian dài, thậm chí là vô hạn. Vì vậy, quan điểm nguồn trả nợ duy nhát của doanh nghiệp là dòng tiền mặt cần được tiêu chuẩn hoá trong toàn SGD. Theo đó, số liệu mà SGD quan tâm là tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp và căn cứ để lập lịch trình trả nợ cần dựa vào chu kỳ tiền mặt của doanh nghiệp.

    Dòng tiền của dự án:

    CF = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra.

    Dòng vào: là toàn bộ khoản thực thu bằng tiền mặt từ việc bán sản phẩm, dịch vụ (chỉ tính phần thu được) và giá trị khoản phải thu (thực sự thu được).

    Dòng ra: là tất cả chi phí sản xuất, vận hành chi trả lãi vay và các khoản thực phải chi.

    Trên cơ sở luồng tiền mặt vào và ra của dự án, doanh nghiệp sẽ xác định được tình trạng tiền mặt của dự án để kiểm tra nhu cầu tiền vay doanh nghiệp cho đủ.

    Trong công tác thẩm định, SGD cần chú trọng tới việc phân tích kế hoạch tài chính ngắn hạn. SGD phải xem xét nhu cầu vốn lưu động, tính hợp lý của chính sách quản lý tiền mặt, chính sách dự trữ, chính sách tín dụng khách hàng để xác định khả năng thanh toán. Kế hoạch ngắn hạn đảm bảo giữa nguồn và sử dụng vốn của Sở giao dịch I, nâng cao tính chủ động của SGD trong thời gian tới.

    ¾ Thứ sáu, SGD cần tính toán chính xác vòng đời của dự án.

    Một nội dung nữa cần quan tâm trong đánh giá tài chính dự án tại SGD là

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 83
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần hoàn thiện nội dung tính toán đời dự án, vòng đời công nghệ và các tiêu chí phân tích cung cầu thị trường. Vòng đời dự án là một tiêu chí quan trọng, nó cho biết thời gian dự án tồn tại từ khi hoàn thiện công tác thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý dự án. Tiêu chí này giúp cán bộ thẩm định có cái nhìn tổng thể và sát thực về dự án, xác định được tổng thu nhập của dự án cũng như dự kiến những biến đổi bất thường của môi trường đầu tư tác động tới dự án, dự trù chi phí bổ sung cần thiết. Tuổi thọ công nghệ được xem như một yếu tố hữu cơ tác động đến đời dự án, trong phân tích tài chính cán bộ thẩm định cần hình thành hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tuổi thọ công nghệ dựa trên các quy định của nhà nước cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật, công suất của công nghệ. Trong việc xác định nhu cầu của thị trường về sản phẩm dự án cần tiến hành xem xét trong trạng thái “động”, tức là phân tích dựa trên các giả thuyết biến động của thị trường, trong sức ép của cạnh tranh (đặc biệt trong thời gian tới khi hàng rào thuế quan hoàn toàn được rõ bỏ).

    • Thứ bảy, SGD cần đẩy mạnh hơn nữa công tác phân tích tài chính dự án trong các dự án đầu tư.

    Một mục tiêu quan trọng SGD cần chú trọng hơn nữa là việc phân tích tài chính dự án hàng năm. Để thuận lợi cho việc này, tốt nhất SGD nên lập thêm các bảng dự trù cân đối tài sản, bảng dự trù cân đối thu chi của các doanh nghiệp. Trong việc phân tích này, SGD có thể sử dụng phương pháp tỷ lệ với một số chỉ tiêu chủ yếu: khả năng thanh toán, hiệu suất sử dụng tài sản, doanh lợi tiêu thụ sản phẩm, bảng thử độ nhạy của công suất, của sản phẩm. Ngoài phương pháp tỷ lệ, SGD còn có thể sử dụng cả phương pháp phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, phân tích luồng tiền mặt để đánh giá tài chính dự án. Đặc biệt, trong phân tích tài chính dự án, SGD nên quan tâm đến phân tích cơ cấu vốn và khả năng thanh toán.

     

    Mục đích của phân tích cơ cấu vốn là đánh giá nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn tài chính cho việc thực hiện liên tục và hiệu quả các dự án đầu tư. Do đó, SGD cần phải xem xét từng hoạt động kinh doanh hoàn trả được nợ hay không, có mức lãi suất cho phép hoạt động kinh doanh có hoàn trả được nợ hay không, có đưa cam kết bằng hợp đồng tín dụng của bên cung ứng vốn không. SGD cũng cần đánh giá tài chính dự án trên các khía cạnh: chi phí của dự án về vốn cố định và vốn lưu động vận hành như thế nào? Chúng được tài trợ bằng nguồn vay ngắn hạn hay dài hạn? Nếu một phần vốn cố định được tài trợ bằng vay ngắn hạn thì sẽ gây khó khăn như thế nào trong việc cân đối thu chi? Việc xác định một cơ cấu vốn hợp lý cho dự án là điều rất cần thiết. SGD phải phân tích tỷ trọng giữa hai nguồn vốn: Vốn tự có và nợ.

    Tỷ trọng giữa nguồn vốn tự có và vốn đi vay ngân hàng cho phép xác định trạng thái tài chính của dự án, một dự án được đánh giá là có tình trrạng tài chính lành mạnh nếu dự án có tỷ lệ nợ vừa phải, có khả năng trả nợ ngân hàng và có

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 84
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    một mức độ rủi ro dự tính là có thể chấp nhận được. Vì vậy, một cơ cấu vốn hợp lý là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu bằng 1.

    Một cơ cấu vốn tối ưu cũng cần được xác định trên cơ sở cân nhắc mức doanh lợi và khả năng thanh toán của dự án. Một dự án có khả năng sinh lợi cao và khả năng thanh toán tốt có thể chấp nhận một tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu cao hơn các dự án bình thường khác. Phân tích khả năng thanh toán có nhiệm vụ đánh giá tình trạng tiền mặt trong suốt quá trình hoạt động của dự án. Nó giúp cho việc xem xét liệu vốn tự có và các khoản vay dài hạn có thích hợp với các điều kiện vay trả đã ký kết trong hợp đồng tín dụng hay không, liệu sự thiếu hụt tiền mặt có xảy ra không và nếu xảy ra thì sẽ đựơc gải quyết như thế nào.

    SGD phải tính toán chi tiết khả năng hoàn trả đối với từng khoản nợ theo kỳ hạn trả nợ thực tế, không nên làm tròn số, nên tính cho từng năm của dự án. Trong những năm lợi nhuận âm, SGD phải tính đến việc khấu trừ khoản đó khỏi nguồn trả nợ nếu doanh nghiệp không chắc chắn huy động được nguồn vốn khác để thay thế. Nếu dự án thực sự có hiệu quả nhưng trong suốt một số năm đầu dự án thiếu nguồn trả nợ thì SGD nên hỗ trợ doanh nghiệp trả nợ cho năm đó. Với DNNN, khi tính toán khả năng trả nợ, SGD cần phải loại trừ phần thu sử dụng vốn NSNN ra khỏi phần lợi nhuận sau thuế để xác định khoản lợi nhuận ròng dùng trả nợ cho chính xác.

    3.2.2. Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin.

    Ngày nay, thông tin được sử dụng như một nguồn lực, một loại vũ khí trong môi trường cạnh tranh, các tổ chức kinh tế nói chung, các ngân hàng nói riêng phải sử dụng thông tin ngày càng nhiều để tăng năng lực, tăng hiệu quả trong hoạt động và đem lại lợi ích cho nền kinh tế cũng như cho ngân hàng. Trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư thì thông tin cũng đóng vai trò quyết định đến chất lượng của công tác thẩm định. Thông tin cung cấp chính xác, kịp thời sẽ giúp cho hiệu quả thẩm định cao hơn, hạn chế được rủi ro có thể xảy ra, còn thông tin không cập nhật sẽ làm cho quyết định cho vay của ngân hàng bị hạn chế. Do vậy, việc xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống thông tin đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời, đầy đủ các thông tin phục vụ công tác thẩm định là yêu cầu bức thiết của ngân hàng. Trong suốt quá trình thẩm định, những thông tin liên quan đến dự án phải được cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời. Hiện nay, công tác thẩm định cần một số thông tin quan trọng sau:

    • Thông tin về kinh tế xã hội: đó là những chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Theo em, ở đây ngoài việc nắm bắt các định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, cần đặc biệt quan tâm đến những quy định của nhà nước liên quan đến lĩnh vực đầu tư mà cán bộ thẩm định phải nắm chắc, đó là: quy định về dự toán vốn đầu tư và xây dựng. Quy định về đấu thầu; quy định vể bảo vệ môi trường; quy định về quy hoạch kiến trúc và xây dựng; quy định về chế độ tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp; quy định về chế độ tài chính với
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 85
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    từng loại hình doanh nghiệp; quy định về chế độ khấu hao tài sản cố định, tiền lương; quy định về thuế; quy định về miễn giảm ưu đãi, hộ trợ và khuyến khích đầu tư.

    • Các thông tin về tài chính ngân hàng: Đây là những thông tin cực kỳ quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất lượng thẩm định tài chính dự án của SGD. Thông tin về số lượng các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm trong cùng một khu vực thị trường; Mức cầu về sản phẩm cùng loại trong năm qua đây để thấy được tốc độ tăng trưởng và làm cơ sở cho việc dự báo tốc độ tăng trwongr trong thời gian tới; Mức cung thực thế của các doanh nghiệp trên thị trường hiện tại; Thông tin về giá cả, dự báo thị trường trong nườc và quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu trong những năm qua, quy hoạch kế hoạch đầu tư, định hướng phát triển do Bộ, ngành xác định và công bố.

    Các thông tin trên SGD có thể thu thập từ nhiều nguồn. Hiện nay ở tại ngân hàng, nguồn thông tin từ mạng internet chưa được khai thác triệt để, do vậy SGD phải biết tận dụng các ứng dụng của công nghệ thông tin để thu được những thông tin rất có giá trị trong công tác thẩm định. Bên cạnh đó, SGD có thể thu thập thông tin từ báo chí, từ khảo sát trên thị trường, từ hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra SGD có thể thu thập thêm thông tin nhờ việc gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp khách hàng xin vay vốn, thông qua cuộc phỏng vấn SGD có thể nắm bắt những thông tin như:

    • Mục đích, nhu cầu sử dụng vốn vay
    • Lĩnh vực hoạt động, sản phẩm chủ yếu, phương thức tiêu thụ.
    • Trình độ ban lãnh đạo, kinh nghiệm và khả năng chỉ đạo, điều hành của nhân viên quản lý.
    • Khả năng tạo ra nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng vốn vay của SGD để trả nợ.
    • Những nguồn khác để SGD có thể thu nợ ngoài nguồn thu nhập tạo ra từ

    dự án.

    • Các khó khăn mà dự án sẽ gặp phải và biện pháp khắc phục của doanh

    nghiệp.

    Để có được thông tin tốt với chất lượng tốt thì cán bộ thẩm định cần có sự chuẩn bị, tổ chức các cuộc phỏng vấn một cách chu đáo và nghiêm túc kết hợp với kỹ năng quan sát và giao tiếp tốt. Bên cạnh đó, SGD cũng có thể thu thập thông tin về doanh nghiệp từ các nguồn khách như từ phía các bạn hành và các đối tác của doanh nghiệp, hay điều tra từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trước kia đã từng có sự quan hệ với doanh nghiệp hoặc nhờ sự giúp đỡ của các công ty kiểm toán. Để thông tin chính xác từ phía khách hàng thì SGD cần phải đảm bảo các điều kiện sau:

    • Thực sự có uy tín trong việc thu thập thông tin, thông tin phải chính xác, có tính cập nhật.
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 86
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đảm bảo bí mật về thông tin tốt, đảm bảo cho công tác thẩm định tài chính dự án.
    • Hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin báo cáo nội bộ, phải làm sao để thông tin được đầy đủ, thông suốt, không phiến diện, làm cơ sở cho việc cung cấp thông tin cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư được nhanh chóng thuận tiện và hiệu quả.
    • SGD cần có qui định cụ thể về việc cung cấp những thông tin từ những dự án đã, đang hoạt động, xử lý khối lượng thông tin này tạo cho SGD một cơ sở dữ liệu thông tin rất đa dạng về mọi loại hình doanh nghiệp. Cần có sự phối hợp tích cực giữa các phòng ban SGD và NHĐT&PTVN với phòng tín dụng để tái thẩm định tài chính dự án và có thông tin đa chiều, đặc biệt giữa phòng kế toán, phòng tín dụng và phòng nguồn vốn kinh doanh. Khi có một khách hàng được vay vốn tại SGD thì các tài khoản và tất cả các khoản thanh toán qua SGD được theo dõi thường xuyên bởi phòng kế toán. Song cán bộ tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng cũng cần nắm được thông tin này.
    • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thu nhập, xử lý thông tin về thị trường, khách hàng, nắm bắt biến động về cung cầu vốn trong từng thời kỳ để điều chỉnh lãi suất cho hợp lý.
    • SGD cần phát triển hệ thống thông tin từ bên ngoài theo hướng mới qua hệ thống mạng thông tin, trung tâm thông tin trong nước và quốc tế. Đây là một nguồn thông tin rất chính xác mà SGD cần khai thác để phục vụ cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư. Bên cạnh đó, SGD cần tăng cường quan hệ hợp tác với các NHTM, các bộ, ngành, các cơ quan, tổ chức khác để khai thác, tận dụng thông tin.

    Để thực hiện được những điều này đòi hỏi SGD cần phải có một hệ thống máy tính hiện đại, được nối mạng trong toàn hệ thống. SGD nên nghiên cứu ứng dụng các phần mềm tin học đủ mạnh để quản lý, lưu trữ, phân tích và truyền tin nhằm đảm bảo tính chính xác kịp thời của thông tin phục vụ cho công tác thẩm định.

    3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực.

    Đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng, con người luôn là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định. Con người ở đây là đội ngũ cán bộ thẩm định dự án, là chủ thể của mọi hoạt động, từ việc hoạch định chính sách đến việc thẩm định dự án, xét duyệt cho vay. Do vậy, để nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án cần xây dựng đội ngũ cán bộ thẩm định có đủ về số lượng, chất lượng để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khó khăn của công việc. Mỗi cán bộ thẩm định cần đạt được những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực làm việc và phẩm chất đạo đức, cụ thể: các cán bộ thẩm định phải có trình độ đại học trở lên, có kiến thức cơ bản về kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng, kiến thức về lĩnh vực

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 87
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tài chính, phải là người có kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động thẩm định, tham gia theo dõi, quản lý tài chính một số dự án cụ thể trước khi được làm công tác thẩm định; phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, trung thực, có tinh thần trách nhiệm, kỷ luật nghề nghiệp cao. Muốn là được điều đó, SGD cần tập trung vào các công việc sau:

    • Sở giao dịch cần có cán bộ chuyên trách về quản lý nhân sự. Căn cứ vào yêu cầu công việc của từng bộ phận, từng nghiệp vụ của SGD cũng như trình độ hiện tại của cán bộ tín dụng (người làm công tác thẩm định nhất thiết phải từng hoạt động trong lĩnh vực tín dụng) chuyên viên nhân sự sẽ phối hợp với các trưởng, phó phòng xác định nhu cầu nhân sự cho từng phòng, có kế hoạch sắp xếp, điều chuyển nhân sự hợp lý hơn. Ngoài ra, chuyên viên nhân sự cần phân tích biến động môi trường kinh doanh, tính hình đối thủ cạnh tranh, mục tiêu hoạt động của SGD để dự báo số nhân viên tăng giảm trong tương lai.
    • Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ ngay từ khâu tuyển chọn nhân viên. Tuyển dụng nhân viên mới vào làm công tác tín dụng (thẩm định) phải là người tốt nghiệp đại học hệ chính quy theo đúng chuyên ngành phù hợp. Ngoài ra còn phải có các tố chất khác như: nhanh nhẹn, nắm bắt tâm lý tốt, có óc phân tích. Công tác tổ chức thi tuyển phải công khai, chặt chẽ, đảm bảo công bằng để có thể lựa chọn được những người giỏi nhất. Việc kiểm tra, sát hạch trình độ chuyên môn, nghiệp vụ người được dự tuyển phải do các cán bộ thẩm định có kinh nghiệm, thâm niên công tác trực tiếp tiến hành.

    Những người vượt qua được kỳ thi tuyển phải qua thời gian thử việc thích hợp (có thể những công việc hỗ trợ cho cán bộ thẩm định trong thẩm định dự án đầu tư) để đánh giá khả năng ứng dụng các kiến thức trong công việc thực tế. Hết sức tránh việc thuyên chuyển cán bộ: kế toán, kiểm ngân, văn thư sang làm công tác thẩm định.

    • Thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thẩm định. Cán bộ thẩm định cần được cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương, chiến lược phát triển ngành, các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng cũng như những kiến thức pháp luật trong lĩnh vực liên quan. SGD cần thiết phải tăng cường đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn ngoài giời hành chính cho nhân viên về nghiệp vụ tín dụng, thẩm định. Việc này có thể được thực hiện dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước. Cuối mỗi khoa học cần tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả được để rút ra kinh nghiệm cho những lần tổ chức sau đạt kết quả tốt hơn.
    • SGD cần coi trọng, khuyến khích khả năng tự đào tạo của mỗi cán bộ thẩm định.

    Các kiến thức họ nhận được trong trường đại học sẽ nhanh chóng bị lạc hậu, SGD có thể hỗ trợ quá trình tự đào tạo bằng cách cung cấp những tài liệu,

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 88
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    sách báo mới nhất trong các lĩnh vực có liên quan.

    • SGD phải không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức mỗi cán bộ thẩm định. Phẩm chất đạo đức có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Đây là việc làm khó khăn nhất, đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức và vật chất. SGD cần quy định mức khen thưởng xứng đáng với một dự án phức tạp được thẩm định tốt, hoạt động hiệu quả, đồng thời phải có mức phạt thích đáng trong các trường hợp vi phạm nguyên tắc tín dụng, móc ngoặc với doanh nghiệp vay vốn ngân hàng.
    • Tiến hành đánh giá trình độ cán bộ tín dụng thường xuyên qua hoạt động thực tiễn và thi tuyển định kỳ để có kế hoạch điều chuyển vị trí công tác cũng như xét duyệt mức lương hợp lý.

    Mức lương được hưởng phải căn cứ vào năng lực thực sự chứ không phải thâm niên công tác.

    3.2.4. Giải pháp về trang thiết bị ngân hàng.

    Hiện nay, trình độ công nghệ của ngân hàng và công nghệ thẩm định của các tổ chức tín dụng khu vực và trên thế giới đã rất phát triển. Do vậy, muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tương xứng với yêu cầu hiện nay thì công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phải được chú trọng và đổi mới hơn nữa. Để thực hiện được điều này, SGD cần trang bị cho bộ phận thẩm định đầy đủ phương tiện làm việc tuỳ theo tính chất công việc để có thể truy cập, xử lý lượng thông tin lớn, áp dụng các phương pháp thẩm định hiện đại, phức tạp với số liệu tính toán lớn. Theo hướng này, mỗi cán bộ thẩm định nên được trang bị một máy tính được nối mạng. SGD cần nghiên cứu lắp đặt một hệ thống máy tính mạng cục bộ giữa các bộ phận thẩm định và các bộ phận khác của SGD để phục vụ việc truyền tin báo cáo, khai thác thông tin. Tuy nhiên, tuỳ theo quy mô, tính chất công việc mà có sự đầu tư phù hợp để vừa không lãng phí, vừa đảm bảo phục vụ tốt nhất cho yêu cầu công việc. SGD nên tự nghiên cứu hoặc đặt mua số phần mềm hỗ trợ cho công tác thẩm định tài chính dự án hoặc trao đổi thông tin.

    3.2.5. Giải pháp về tổ chức điều hành.

    Thẩm định dự án đầu tư là tập hợp của rất nhiều hoạt động khác nhau nhưng nó lại có liên quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, việc sắp xếp, tổ chức ra sao để các bộ phận hoạt động một cách nhịp nhàng, kế thừa và hỗ trợ cho nhau một thể thống nhất là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án. Một cơ chế tổ chức hoạt động phải đủ hai tiêu chuẩn: hiệu quả và an toàn. Tuy SGD đã hoạt động khá hiệu quả với mô hình tổ chức và cách quản lý như hiện nay trong nhiều năm. Nhưng thực tế cho thấy để hoạt động có hiệu quả hơn nữa Sở cần có những thay đổi cả về hình thức quản lý và mô hình tổ chức cho phù hợp với điều kiện hoạt động hiện nay. SGD cần tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các chi nhánh, các phòng ban trong quá trình thực hiện các công đoạn khác nhau của hoạt động thẩm định dự án nói chung, thẩm định tài chính dự án đầu tư nói chung.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 89
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thực tế cho thấy, với cách tổ chức và quản lý như hiện nay SGD chưa tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, chi nhánh trong ngân hàng. Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chưa đạt hiệu quả mong muốn, không tạo được sức mạnh tập thể của cánh tay phải trong hệ thống NHĐT&PTVN.

    Để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho việc phát triển hoạt động tín dụng nói chung, hoạt động thẩm định tài chính án nói riêng. SGD nhất thiết phải kiện toàn lại bộ máy, điều chỉnh lại hình thức quản lý theo đúng ý tưởng thành lập ban đầu. Việc quản lý tập trung, phân công hợp lý, phối hợp nhịp nhàng một SGD có tầm cỡ lớn như SGD I đòi hỏi những yêu cầu hết sức khắt khe về quy chế hoạt động, khả năng tổ chức và lãnh đạo của cán bộ quản lý. Điều đó không dễ dàng thực hiện và đòi hỏi những chi phí về thời gian, tiền của, công sức không nhỏ. Tuy nhiên, chỉ có làm được điều đó SGD I – NHĐT & PTVN mới có thể tạo được sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ phận trong hệ thống, phát huy được tiềm lực và các thế mạnh của một cánh tay phải đắc lực trong một hệ thống ngân hàng đồ sộ như NHĐT &PTVN.

    3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư là công việc rất phức tạp, khối lượng công việc nhiều, liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau, là công việc đòi hỏi tính chính xác cao. Để công tác thẩm định tài chính được tốt, có chất lượng cao, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận có liên quan thì mới đáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, em xin đề ra một số kiến nghị sau:

    3.3.1. Với chính phủ và các bộ ngành liên quan.

    Chính phủ phải có những quy định để tăng cường tính công khai trong hoạt động kế toán tài chính. Tất cả mọi nỗ lực của ngân hàng chỉ có hiệu quả khi thông tin mà họ nhận được là trung thực. Nếu các báo cáo tài chính không minh bạch sẽ làm biến dạng, sai lệch các chỉ tiêu kết quả. Do đó, Chính phủ cần phải ban hành quy chế bắt buộc và công khai kiểm toán của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thuê các công ty kiểm toán độc lập kiểm tra lại các báo cáo tài chính hàng năm.

    • Đề nghị các Bộ, ngành địa phương nghiêm chỉnh thực hiện công tác kế hoạch hoá đầu tư theo thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch Đầu tư.
    • Đề nghị các Bộ, ngành cùng phối hợp để xây dựng các mức thông số kỹ thuật của từng ngành, các lĩnh vực kinh doanh để làm cơ sở cho việc so sánh hiệu quả của dự án được sát hơn, cụ thể hơn như tỷ lệ lãi suất của nền kinh tế, giá cơ sở của các mặt hàng chủ lực, các định mức tiêu hao nguyên liệu.
    • Đề nghị các Bộ, ngành cần hệ thống hoá các thông tin liên quan đến lĩnh
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 90
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    vực mình quản lý. Hàng năm, trên báo cáo tổng kết cần công khai tình hình hoạt động, đưa ra những chỉ số chung phản ánh tốc độ tăng trưởng và các chỉ số liên quan của ngành thông qua tài liệu chuyên ngành hay thông qua trung tâm thông tin của ngành.

    -Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có biến pháp bắt buộc chủ đầu tư tuân thu các quy định đã ban hành về lập luận chứng kinh tế: các chỉ tiêu đưa ra phải rõ ràng, đầy đủ và được giải thích hợp lý, căn cứ tính toán phải thoả mãn yêu cầu là có thể kiểm tra được. Bộ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về kế hoạch đầu tư của Nhà nước như: dự báo chính xác về khả năng nguồn vốn trong kỳ kế hoạch, hướng dẫn đầu tư vào các chương trình, các dự án trọng điểm, các lĩnh vực then chốt, ưu tiên của nền kinh tế. Trong đó cần đẩy mạnh bám sát các mục tiêu ưu tiên của nền kinh tế, các lĩnh vực sản xuất đang được nhà nước khuyến khích và khả năng thực tế của Bộ, ngành địa phương. Khi ghi đến nguồn nhập thiết bị trả chậm kế hoạch ghi rõ nguồn vốn ngoại tệ nhập, ngoại tệ trả nợ.

    Bộ Tài chính cần có biện pháp bắt buộc các doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán thống nhất và tăng các biện pháp quản lý kinh doanh đối với doanh nghiệp theo đúng chức năng, quy mô hoạt động phù hợp với vốn điệu lệ và năng lực.

    • Cần tạo một khung pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải công khai tình hình tài chính của mình với ngân hàng khi xin vay. Để làm được điều này phải tiến hành kiểm toán các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước nhằm có được các báo cáo tài chính có độ tin cậy cao. Các công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước đánh giá của mình.
    • Đề nghị các Bộ, ngành địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong việc phê duyệt và thẩm định các dự án vì nội dung dự án gồm nhiều khía cạnh có quan hệ chặt chẽ với nhau, các Bộ, ngành địa phương tham gia thẩm định dự án trên các khía cạnh khác ấy, sự phân phối này nhằm nâng cao trách nhiệm của từng bộ phận thẩm định dự án.
    • Các Bộ, ngành địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơn trong việc trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết và phát triển một mạng thông tin trong toàn quốc với sự tham gia của các cơ quan trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động đầu tư và công tác thẩm định.

    3.3.2. Với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại

    khác.

    Đề nghị ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường hỗ trợ cho việc nâng cao trình độ thẩm định, phát triển đội ngũ nhân viên, trợ giúp thông tin, kinh nghiệm cho các ngân hàng, hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về thẩm định dự án, mở rộng phạm vi thông tin tín dụng về các doanh nghiệp, giúp cho các tổ chức tín dụng nhận định đúng và có những cơ sở thẩm định trước khi đầu tư vốn cho doanh nghiệp.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 91
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đề nghị ngân hàng Nhà nước có biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm phòng ngừa rủi ro (CIC), cần đưa ra mức độ rủi ro về từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp để làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại, xếp hạng doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư.
    • Cần chính thức hoá tài liệu nghiệp vụ ngân hàng Nhà nước về thẩm định dự án đầu tư để các cấp cơ sở thực hiện. Với chủ trương cải cách hành chính hiện nay của Đảng và Nhà nước, tài liệu này cần được rút gọn vào một số điểm và có sự phân công giữa các Bộ, ngành, các cấp.
    • Đề nghị các ngân hàng thương mại quốc doanh khác toàn quốc tăng cường hợp tác trong việc xử lý thông tin và trao đổi kinh nghiệm, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.3.3. Với Ngân hàng Đầu tư &Phát triển Việt Nam.

    • Tăng cường tổ chức các khoá học ngắn hạn, các lớp tập huấn chuyên để thẩm định dự án đàu tư, tổ chức đi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm công tác thẩm định cho các chi nhánh nhằm tăng nâng cao năng lực thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng trong toàn hệ thống.
    • Cần hoàn thiện quy trình tín dụng cũng như quy trình thẩm định dự án đầu tư thống nhất trong toàn hệ thống cho phù hợp với tình hình mới để SGD có thể căn cứ vào đó mà thực hiện.
    • Đề nghị NHĐT &PTVN cần thành lập mộtk mạng lưới thông tin; thống nhất mẫu báo cáo thẩm định trong toàn chi nhánh NHĐT &PT.
    • Cần tăng cường hoạt động của bộ phận thông tin phòng ngừa rủi ro thuộc NHĐT &PTVN để có thể cung cấp thông tin thường xuyên cho các chi nhánh của mình.
    • NHĐT &PTVN cần có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến các chi nhánh. Cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết các tỷ lệ tài chính trung bình từng ngành để tạo thuận lợi cho công tác thẩm định ở mỗi chi nhánh. Bên cạnh đó, NHĐT &PTVN cần tích luỹ các chỉ tiêu dự án sau khi đã kiểm chứng qua thực tế cùng với việc sưu tầm những chỉ tiêu của các ngân hàng bạn. Tập hợp các tông tin về chất lượng phát triển của các ngành, tình hình đầu tư, hiệu quả đầu tư của các ngành trên toàn quốc sẽ được NHĐT &PTVN xây dựng thành hệ thống thông tin của ngành và đưa lên mạng nội bộ.
    • Định kỳ có tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm trong toàn hệ thống để làm bài học chung trong lĩnh vực đàu tư.

    3.3.4. Với các khách hàng.

    Để giúp cho SGD có thể nâng cao chất lượng thẩm định dự án, có quyết định chính xác trong quyết định cho vay đói với dự án, tránh những trường hợp từ chối không cho vay những dự án có hiệu quả do nguyên nhân từ công tác thẩm định làm mất cơ hội đầu tư của dự án. Các doanh nghiệp có dự án xin vay vốn tại

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 92
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SGD cần phải cung cấp đầy đủ những tài liệu cần thiết và trung thực cho SGD đúng như quy định, để công tác thẩm định được tiến hành nhanh chóng hơn. Đây là nghĩa vụ của doanh nghiệp vì khi đánh giá dự án, nếu SGD không thấy được những rủi ro, vì những rủi ro này đã bị doanh nghiệp giấu đi. Thì khi rủi ro xảy ra thì hậu quả doanh nghiệp cũng phải chịu.

    Các chủ đầu tư cần nghiêm chỉnh chấp hành việc xây dựng và lập dự án đúng nội dung quy định của các văn bản pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Chủ đầu tư phải lập đầy đủ các biểu mẫu quy định trong dự án như: bảng tính vốn đầu tư theo khoản mục, bảng tính huy động vốn theo chương trình đầu tư và thực hiện dự án, bảng tính vốn hoạt động, bảng tính khả năng trả nợ theo cả gốc và lãi. Các chủ đầu tư phải tính toán đầy đủ các chi phí, đặc biệt là chi phí lãi vay vốn lưu động, chi phí đầu tư bổ sung đối với những dự án có vòng đời kéo dài, đây là những vấn đề mà hiện nay khách hàng chưa thực hiện đúng yêu cầu của SGD.

    Các chủ đầu tư cần tự nâng cao năng lực lập và thẩm định dự án đầu tư, cần nhận thức đúng vai trò, vị trí của công tác thẩm định dự án khi quyết định đầu tư để có những dự án thực sự hiệu quả. Khi thi công dự án cần đảm bảo đúng những nội dung đã lập ra trong dự án theo đúng kế hoạch, cần phối hợp với SGD giải quyết các bất trắc xảy ra trong quá trình thi công của Doanh nghiệp.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           93


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]