Author: Nguyễn Huyền

  • Văn Mẫu Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao

    Văn Mẫu Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao

    Văn Mẫu Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Cảm Nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-n%C3%B4ng-d%C3%A2n-v%C3%A0-Ch%C3%AD-Ph%C3%A8o-Nam-Cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao

    ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN

    Phân tích Đề tài người nông dân và Chí Phèo- Nam Cao

    Những nhân vật nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

    Mỗi tác phẩm của nhà văn là một lời tố khổ chân thực, cảm động về cuộc sống tối tăm, thê thảm của người nông dân.

    Nông thôn trong tác phẩm Nam Cao là nông thôn Việt Nam vốn triền miên trong bần cùng, giờ đây đang tiến tới thảm họa khủng khiếp 1945.

    • Cảnh chết đói: lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh chết đói.Anh Cu Phúc chết lặng lẽ trong xó nhà ẩm thấp trước đôi mắt “dại đi vì quá đói ” của hai đức con (Ðiếu văn).

    Bà cái Tí chết vì một bửa quá no, một kiểu chết đói (Một bửa no).

    Cảnh đám cưới chạy đói (Một đám cưới). Một đám cưới của Dần trong cảnh nghèo, không đón đưa, không may mặc, không cỗ bàn, một đám cưới có 6 người cả nhà gái nhà trai: : “cả bọn đi lũi lũi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt nhau đi tìm chỗ ngủ “.

    Còn biết bao nhiêu truyện thương tâm về người nông dân bị đày đọa nhục nhằn xung quanh cái đói (trẻ em không biết ăn thịt chó). Nghèo từ ngày mẹ chết, Ðòn chồng.

    • Nam Cao chú ý đến những người thấp cổ bé họng nhất, bị áp bức bất công nhiều nhất, chịu số phận đen đủi, hẩm hiu. Những kẻ cố cùng như Bình Chức “làm thì cật lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mùng tơi, chỉ vì một miếng ăn mà cũng không giữ được mà ăn, đứa nào vớ được nó cũng xoay mà đứa nào xoay cũng chịu”. Như Chí Phèo bị cả xã hội bỏ rơi ngay từ khi mới ra đời. Ðó là Thị Nở một người đàn bà ế chồng, sinh ra từ một gia đình có mả hủi, bị loài người xa lánh. Ðó là một mụ Lợi, Cu Lộ Lang Rận, những người không được loài người coi là người. Ðó là thân phận trâu ngựa của những đứa ở cho nhà giàu, những cái Tí, cái Dần, anh Cu Phúc ăn thì chẳng bao giờ đủ no mà công việc và những lời chửi rủa thì thừa bửa tứa tát.
    • Bị ức hiếp nhiều nhất có lẽ là người phụ nữ trong xã hội; đó là dì Hảo (Dì Hảo), Nhu (Ở hiền) những cô gái hiền như một ngụm nước mưa, cả đời chỉ biết yêu thương, nhường nhịn nhưng cả đời chỉ gặp cay đắng phủ phàng. Ðó là Mụ Lợi (Lang Rận), 36 tuổi vẫn lận đận về chuyện chồng con, chỉ vì nghèo quá suốt đời đi ở “kể người ta nuôi mụ chỉ biết nuôi, nuôi để mụ hầu hạ người ta, còn cái sự mụ có chồng hay không có chồng thì mặc mụ “.

    Trong xã hội ấy, thân phận người phụ nữ là thân phận nô lệ, luôn bị chà đạp thô bạo, bất công có khi họ là nạn nhân khốn khổ cùng kẻ mà họ phải thờ phụng. Những thằng chồng vũ phu, tham ăn tục uống, hành hạ vợ một cách dã man (Ở hiền, Dì Hảo, Ðòn chồng, Trẻ em không được ăn thịt chó )

    Ði vào cuộc đời những con người bị ức hiếp nhiều nhất, càng hiền lành càng lụi xuống bùn đen, Nam Cao đã làm nổi bật lên tình trạng bất công ghê gớm trong xã hội: “tại sao trên đời này nhiều sự bất công đến thế ?”. câu hỏi không lời giải đáp đó trongỞí hiền” một truyện ngắn có tính chất luận đề nghi vấn, cái “đạo lí ở hiền gặp lành ” cũng là vấn đề Nam Cao đặt ra trong hầu hết tác phẩm của mình.

    • Trong tác phẩm của Nam Cao ta thường gặp những nhân vật nông dân xấu xí, thô lỗ, độc ác, nhục nhã trong cuộc sống của họ. Ðiều đó khiến cho một số người hoài nghi ý nghĩa hiện thực và nhân đạo của nhiều truyện Nam Cao. Ðúng là trong sự biểu hiện một số truyện Nam Cao có vẻ tự nhiên chủ nghĩa. Nhưng không như những nhà văn chủ nghĩa nhìn quần chúng như một lũ vật – người ngu dốt đầy thú tính.

    Trái lại từ cái bề ngoài xấu xí, có khi rất thú vật của người nông dân đã phát hiện ra tâm hồn con người. Nam Cao không chỉ nói đến tình cãnh bị bóc lột về thể chất mà đi sâu vào nổi khổ, tâm hồn con người bị đày đọa, nhân phẩm bị xúc phạm, giá trị làm người bị tước đoạt. $pageOut $pageIn

    “Một bữa no” là câu chuyện cay đắng thê thảm về cái chết nhục nhã của một bà lão khốn nạn

    “Ðòn chồng” là câu chuyện về một người đàn bà khác bị sỉ nhục, bêu riếu hành hạ dã man.

    “Lang Rận” là một câu chuyện cực nhục thê thảm nhất. Lang Rận con người nghèo khổ, bẩn thỉu bị mọi người hắt hủi đã tìm đến với Mụ Lợi – một người đàn bà xấu xí bị hắt hủi như mình. Nhưng mối tình chính đáng tội nghiệp của họ trở thành trò bêu riếu trò chơi thú vị kích thích tính tò mò của hai đưá đàn bà nhà giàu “nồng nộng chơi, không suốt ngày tơ tuốt “, “cười hy hý và phát lưng nhau đồm độp … “. Cuối cùng chúng đã đặt Lang Rận vào một tình thế vô cùng nhục nhã khiến Lang Rận chỉ còn một cách thắt cổ tự tử.

    Bị sỉ nhục tàn tệ, người nông dân khốn khổ chỉ có thể hoặc từ bỏ cuộc sống như Lang Rận, hoặc phải từ bỏ lòng tự trọng nhân phẩm như Cu Lộ, Chí Phèo.

    Nam Cao đã đanh thép lên án cái xã hội chà đạp người nông dân lượng thiện và dõng dạc bênh vực nhân phẩm của họ ngay trong khi bị nhục mạ một cách độc ác bất công.

    Trước Cách mạng tháng Tám ít có nhà văn hiểu được cách sâu xa ngõ ngách sâu kín, những hy sinh thầm lặng mà cao quí trong tâm hồn người nông dân như Nam Cao. Ðó là chỗ mạnh trong cái tài của nhà văn nhưng trước hết là ở cái tâm “chữ tâm kia với bằng ba chữ tài ” tức là ở tấm lòng tri âm của nhà văn đối với người nông dân nghèo khổ.

    Số phận người nông dân có thay đổi được không ? câu hỏi đó, Nam Cao cũng như mọi nhà văn hiện thực phê phán chưa trả lời được. Truyện Nam Cao bao trùm một không khí buồn thảm, u ám. Ðó là cái u ám của hiện thực. Nhưng cũng là u ám trong tâm hồn Nam Cao. Dưới cái nhìn bi quan của nhà văn, cuộc sống là bế tắc vô vọng, con người vật vã quằng quại, đau khổ nhưng chẳng đi đến đâu. Người nông dân thì chỉ biết cúi đầu chịu

    đựng, đến khi không chịu đựng được nữa thì điên lên, liều mạng vát dao giật lấy miếng ăn. Nam Cao không đồng tình đối với thái độ nhẫn nhục cam chịu: “cái nghề đờii hiền quá hóa ngu, đã nhịn thì chúng ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được” (Chí Phèo).

    • Miêu tả người nông dân Nam Cao quá thiên về mặt tha hóa nặng nề, những con người xấu xí đến quái dị, ý nghĩa thẩm mỹ rất mỏng manh.
    • Trong bi quan, bế tắc có lúc Nam Cao như mất phương hướng rơi vào khủng hoảng, khi ấy nhà văn dễ tiếp thu tư tưởng định mệnh, ma quái: “Nửa đêm” những nhân vật chính đều là những con vật người, điên loạn trong một không khí ghê rợn.
    1. Truyện ngắn “Chí Phèo” Chí Phèo lương thiện

    Trong làng Vũ đại, Chí Phèo là thằng cùng hơn cả thằng cùng, không cha mẹ, không người thân thích, không nhà cửa không có miếng đất cắm dùi. $pageOut $pageIn

    Tuổi thơ bơ vơ hết đi ở cho nhà máy lại đi ở cho nhà khác, đến tuổi thanh niên làm canh điền cho Bá Kiến.

    Sống cuộc sống lao động cực khổ của người cố nông, khỏe mạnh, hiền lành, chất phác.

    Có những ước mơ chân chính: một gia đình nhỏ làm thuê cuốc mướn vợ dệt vải. Trong xã hội cũ, ước mơ chỉ là ảo tưởng, còn đau xót khổ cực mới là hiện thực.

    Chí Phèo là một thanh niên có tâm hồn đẹp: yêu – ghét, khinh – trọng rất rõ. Anh đã phân biệt tình yêu chân chính với thói dâm dục xấu xa. Bị gọi lên bóp chân, đùi cho bà ba anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì.

    Khi tỉnh rượu, anh tha thiết được trở lại với xã hội loài người “thèm lương thiện muốn làm hòa với mọi người biết bao”.

    Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã loé lên một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối dằng dặc. Sự săn sóc giải dị ở Thị Nở, người đàn bà khốn khổ ấy đã khơi dậy, đánh, thức bản chất lương thiện của người cố nông Chí Phèo.

    Lần đầu tiên sau bao năm Chí Phèo nghe tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của mấy người đi chợ về, tiếng anh thuyền chài gõ đuổi cá. Ðây là tiếng gọi tha thiết của sự sống đang níu kéo anh trở về với lương thiện.

    b. Chí Phèo lưu manh

    Quãng đời lương thiện của Chí Phèo quá ngắn ngủi và chấm dứt khi bị Bá Kiến cho giải lên huyện rồi đi ở tù : Sau bảy tám năm biền biệt, khi trở về Chí hoàn toàn thay đổi.

    Hắn không còn là người nông dân nữa mà là phần tử bị loại ra ngoài xã hội.

    Nhà tù thực dân bắt người lúc lương thiện và thả ra thành hung dữ, nhà tù giết cái phần “người ” của Chí, chỉ còn lại cái phần “con”. Hiện tượng bi thảm ấy có tính chất qui luật, tính phổ biến trong cái xã hội ăn thịt người. Trong truyện ngắn của Nam Cao, ta đã gặp những họ hàng xa gần của Chí Phèo như Trạch Văn Ðoành, Lê Văn Rự (Ông thiên lôi) “Nửa đêm”, Cu Lộ Tư cách mỏ “, Tư Lăng, Binh Chức, Năm Thọ những tiền bối gần xa của Chí Phèo. $pageOut $pageIn

    Những cơn say triền miên của Chí dẫn đến hậu quả : say ( chửi; say (cướp giật; say ( chém giết.

    Chí Phèo sống cuộc đời bản năng thô bạo, cũng giống như những người bạn say của Chí “lúc nào cũng nghĩ tới màu xanh của một chai rượu văn điển và màu vàng của một đùi thịt chó nướng”.

    Chí Phèo trở thành tên quỉ dữ của làng Vũ Ðại. Chí Phèo sống trần trụi, Chí Phèo gây tội ác một cách vô ý thức.

    Sau khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo rơi vào bi kịch của con người không được làm người, muốn làm lại cuộc đời không được chấp thuận. Trong cơn tuyệt vọng, Chí vác dao đi trả thù.

    Chí Phèo chưa có ý thức giai cấp rõ rệt nhưng dây không phải là một hành động trả thù có tính chất bản năng mù quáng. Chí Phèo truy tìm nguyên nhân, phù hợp với trạng thái như chập chờn say tỉnh của Chí Phèo.

    Chí Phèo chưa có ý thức trả thù Bá Kiến ngay. Trước tiên nghĩ đến bà cô Thị Nở. Phải chăng theo thói quen của bước chân, Chí đến thẳng nhà Bá Kiến, nhưng cũng không hẳn là quen chân mà sâu xa hơn là một nhân tố mới đã xuất hiện trong ý thức của người nông dân.

    Hai chữ “lương thiện” thốt lên ở cửa miệng con người khốn khổ vừa là một lời cầu mong, một niềm phẩn uất đồng thời là một điều tuyệt vọng.

    Chí Phèo trong trạng thái tỉnh của một cơn say đã lần ra đầu mối của vấn đề. Chí Phèo hiểu rỏ Bá Kiến đãtước đi cái quyền làm người lương thiện và khả năng trở lại một người lương thiện. Tiếng gọi đòi trở lại người lương thiện mang nội dung xã hội và có ý nghĩa giai cấp. Nó như một tia sáng vụt dậy qua suốt cả cuộc đời cực nhọc tăm tối và đó cũng là giây phút tỉnh táo, có ý thức nhất, vượt lên khỏi trạng thái bản năng tự nhiên. Chí Phèo

    muốn được trở lại chính mình, trở về với bản chất vốn có của người nông dân sau những năm tháng dài bi tha hóa.

    Hạn chế về mặt nội dung

    “Tre già măng mọc, thằng ấy chết còn thằng khác”. Nhà văn không hề thấy khả năng thay đổi vươn lên làm chủ vận mệnh của người nông dân. Sự thức tỉnh của Chí Phèo chỉ dẫn đến hành động khủng hoảng bi thảm. Trong thế giới nông dân của nhà văn, nếu không phải kẻ mặt mày dữ tợn, những con ác thú, thì cũng là những con sâu cái kiến, sống trong sợ hãi nhẫn nhục đến tê liệt.

    Ngay cả đến Chí Phèo trước khi đi tù, tuy là canh điền khỏe mạnh nhưng vừa bóp chân cho bà Ba vừa run. Binh Chức thì hèn đến nổi “ai quát một tiếng thì đái ra cả quần”. Trong cái làng Vũ Ðại không có lấy một bộ mặt sáng sủa, có sinh khí. Chỉ có một bộ mặt vằn ngang vằn dọc của Chí Phèo, bộ mặt xấu xí “không được như mặt lợn” của Thị Nở. Bộ mặt vô nghĩa lí của lão Tư Lãng thầy cúng kiêm hoạn lợn, của mụ hàng rượu, của bà cô Thị Nở. Trong cái nhìn tri âm của Nam Cao đối với nông dân vẫn đôi lúc xen vào con mặt khinh bạc, cố ý trút tất cả những nét “mỉa mai của hóa công” vào nhân vật Thị Nở một chân dung biếm họa quá ghê tởm và lạc lõng. Nam Cao cũng như hầu hết các nhà văn hiện thực phê phán, chưa thể vưỏn tới nhận thức cách mạng cũng chưa có một quan điểm giai câp chính xác. Khi triết lý một cách bi quan: những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh. Nhà văn đã xóa nhòa ranh giới giai cấp và vô tình biên hộ cho thống trị đầy tội ác mà nhà văn vừa lên án đanh thép .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Cảm Nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc

    Văn Mẫu Cảm Nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc

    Văn Mẫu Cảm Nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-C%E1%BA%A3m-Nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-h%C3%ACnh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-thi%C3%AAn-nhi%C3%AAn-v%C3%A0-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-Vi%E1%BB%87t-B%E1%BA%AFc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Cảm Nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc

    VĂN MẪU LỚP 12

    Cảm nhận

    về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc

     

    Trong đoạn:

    “Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao anh nắng dao gài thắt lưng.

    Ngày xuân hoa nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.” – Việt Bắc (Tố Hữu)

    DÀN Ý:

    I.                   CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ :

    Cách A:1.

    Văn chương kết tinh vẻ đẹp của thời đại. Âm vang của lịch sử dường như đọng lại đẹp

    nhất, rực rỡ nhất trên những trang thơ. Mỗi câu chữ, hình ảnh thơ ngưng tụ hồn sông núi,

    ghi nhận ấn tượng sâu sắc cảm động nhất của một đời người. Hạnh phúc nhất của người

    cầm bút có lẽ là lúc tạo được dấu ấn nghệ thuật không phai mờ trong tâm trí người đọc

    mọi thế hệ.

    1. Việt Bắc của Tố Hữu là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình chung thuỷ như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ đô kháng chiến”,

    thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương.

    1. Trong tâm trạng kẻ ở – người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức, với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay, những câu thơ

    còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng

    chiến khu, hơi ấm của tình người lan toả : “Ta về … ân tình thuỷ chung”.

    Cách B:

    1. Là người, ai cũng có một miền đời để nhớ để thương. Có những mảnh đất tuy không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng vẫn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm. Bởi đó là

    máu thịt, là nơi ghi lại kỷ niệm đẹ p nhất của một đời người. Như Chế Lan Viên đã từng

    triết lý : “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”

    1. Việt Bắc – quê hương của kháng chiến, cách mạng trong những ngày đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà đã trở thành biểu tượng của tấm lòng gắn bó thuỷ chung với cách mạng, dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại mối tình sắt son đậm đà “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” trong bài thơ Việt Bắc , bằng tất cả cảm xúc nồng nàn của một hồn

    thơ đằm thắm thuỷ chung.

    1. Qua bao năm tháng, biến động của lịch sử, tiếng nói thiết tha ấy vẫn rung cảm lòng

    người, Việt Bắc của ngày xưa vẫn nguyên vẹn trong lòng người hôm nay: “Ta về … ân

    tình thuỷ chung”. Tiếng lòng ân tình thuỷ chung ngày ấy phải chăng đã thấm sâu vào

    mạch ân tình chung thuỷ của thi ca dân tộc, cho nên khoảng cách thời gian không làm

    nhạt nhoà ấn tượng về một vùng rừng núi chiến khu xưa hùng vĩ nên thơ?

    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :

    1. Cảm nhận chung :
    1. Điều làm nên sức sống diệu kỳ của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ nói riêng là

    giọng điệu thơ ngọt ngào, dân dã đậm sắc màu ca dao. Mạch tình cảm như suối ngầm ẩn

    tàng trong tâm hồn người Việt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Tố hữu –

    luôn đậm đà tính dân tộc.

    1. Tâm tình lại gắn với hình ảnh quê hương – với những nét gợi thương gợi nhớ – là mạch tâm linh chảy suốt chiều dài lịch sử, chạm vào sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam “Anh đi anh nhớ quê nhà…”
    1. Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình, lẽ sống của nhà thơ,

    Việt Bắc là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm

    • dân tộc và cách mạng. tiếng nói của nhân vật trữ tình nhập vai cũng chính là những suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ. Thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó là một cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình – ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự – trữ tình chính trị như những lời thầm thỉ tâm sự cùng mọi người, thuyết phục lòng người.
    1. Phân tích chi tiết :
    1. Nỗi nhớ :
    1. Là cảm xúc chủ đạo của toàn bộ bài thơ, gắn với “ta – mình”, “mình – ta”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi.
    1. Nỗi nhớ ở đây mượn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người.
    1. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng nguời” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp núi

    rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi

    nhớ qua từng câu càng đậm đà và mãnh liệt hơn. Trên cơ sở đó, nhà thơ hướng toàn bộ

    tâm tư về con người – nhân dân với những phẩm chất bình thường mà vĩ đại.

    1. Bức vẽ quê hương :
    1. Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca – gói trọn bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Bước luân chuyển của thời gian được tác giả chọn ở những thời điểm nên thơ, tạo

    ấn tượng không phai mờ trong ký ức. Nhớ cảnh để nhớ người.

    1. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

    Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối. Chấm phá của tranh

    thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống

    mãnh liệt. Ở đấy là cách nhìn của thi nhân Á Đông, người đọc có thể nhớ đến một cảm

    xúc quen thuộc trong thơ Nguyễn Trãi :

    Hoè lục đùn đùn tán rợp trương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ… (Bảo kính cảnh giới 43)

    Mùa đông trong câu thơ Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm của mùa hè, không hề có cảm giác

    lạnh lẽo, bởi sắc đỏ hoa chuối cũng như phun trào từ giữa màu xanh của rừng.

    Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp của người thật khoẻ khoắn “Nắng ánh dao gài thắt

    lưng” là hình ảnh người dân miền sơn cước. Cách hoán dụ không phải tình cờ ngẫu nhiên

    mà chọn con dao đi rừng – vật bất ly thân của người miền núi – nét đặc trưng của cuộc

    sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng ,

    thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông, mang trong mình nét hiên ngang hùng

    vĩ kiêu hãnh của núi rừng.

    1. Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi

    rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ, nổi bật hình ảnh “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây

    cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Người Việt Bắc hiện lên ở nét đẹp cần

    mẫn, chịu thương chịu khó. Trong cách tả không có một âm vang nào của núi rừng,

    nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi

    thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn

    hàng ngày.

    1. Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh mùa hạ. Và cũng

    đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh

    giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian. Không gian lung linh

    hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao

    xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín

    cánh rừng.

    Nổi bật giữa khung cảnh là hình ảnh “cô em gái”. Cách gọi biểu lộ niềm thân thương trìu

    mến của con người. Câu thơ gợi nhớ vẻ đẹp nên thơ của một “cô hái mơ” trong thơ

    Nguyễn Bính (Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ). Nhưng ở đây cô gái Việt Bắc mang vẻ

    đẹp khoẻ khoắn mộc mạc hơn. Một mình nhưng không tạo cảm giác cô đơn hiu quạnh, vì

    cả không gian nhuộm rực ánh vàng.

    đ. Rừng thu trăng dọi hoà bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

    Không gian chuyển về đêm. Như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng Việt Bắc.

    Đêm thu và ánh trăng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới

    ánh trăng gợi lên vẻ huyền ảo. Khung cảnh gọi hồn thơ.

    Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng, thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ

    không cụ thể một đối tượng nào. Như ca dao :

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

    Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai

    Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở – người đi. Đọng

    lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt.

    1. Tóm ý :

    Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng Việt Bắc. Mỗi mùa mang một sắc

    màu riêng và bốn mùa hoà chung màu sắc đa dạng, làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh

    phong cảnh trữ tình.

    Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng thời gian không làm phai nỗi nhớ. Mỗi mùa đi qua có

    một khoảnh khắc đáng nhớ – đ1o là khi trái tim nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh

    vật.

    Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của

    những người con kháng chiến sâu năng với thủ đô kháng chiến .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước

    Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước

    Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi-ti%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-th%C6%A1-%C4%90%E1%BA%A5t-N%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước

    VĂN MẪU LỚP 12

    Phân tích chi tiết bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

    Nhà thơ nhà văn Nguyễn Khoa Điềm không có nhiều tác phẩm nhưng những tập thơ của ông luôn được độc giả đón nhận và yêu thích. Trong đó không thể không nhắc đến trường ca “Mặt đường khát vọng” vô cùng nổi tiếng mà ta thường biết đến thông qua bài thơ “Đất Nước”. Bài thơ này được trích từ chương V của trường ca.Đây đuợc xem là chương hay và sâu sắc nhất. Tác giả chia đoạn thơ thành 5 khổ, mỗi khổ ứng với một luận điểm, nhưng đều nhằm một mục đích đó là làm sáng tỏ tư tưởng: “Đất nước này là Đất Nước Nhân dân”. Chính luồng tư tưởng này đã thôi thúc tuổi trẻ các tỉnh Miền Nam tham gia chiến đấu giành độc lập cho nước nhà.Không những thế, nó đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta.Bên cạnh đó, Nguyễn Khoa Điềm trình bày rất nghệ thuật nhiều cảm nhận, lý giải mới về đất nước. Từ đó, ta hiểu thêm tính chính luận – trữ tình của thơ ông nói riêng và thơ chống Mỹ nói chung. Câu thơ đầu của đoạn rất đỗi nhẹ nhàng,bình dị nhưng lại vô cùng hàm súc:

    “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

    Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..”mẹ thường hay kể”

    Bốn từ “ngày xửa ngaỳ xưa” sao quá đỗi quen thuộc với chúng ta. Nó xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích bà kể,trong những lời ru tha thiết của mẹ mỗi khi đêm về. Từ lâu nó đã như là một yếu tố không thể thiếu dể tạo nên không gian riêng của nàng Tấm,Hoàng Tử,của Mai An Tiêm… Nay, nó đã đi vào văn chương Việt Nam tạo nên một định nghĩa rất bất ngờ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trong Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, đất nước hiện ra thông qua hình ảnh “Vua chúa” và “sách trời”:

    “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

    Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư”

    (Nam Quốc Sơn Hà)

    Hay như trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của nhà thơ Nguyễn Đỉnh Chiểu:

    “Một mối xa thư đồ sộ,há để ai chém rắn đuổi hươu;hai vầng nhật nguyệt chói loà đâu dung lũ treo dê bán chó”

    (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

    Những từ như “ mối xa thư đồ sộ” hay “ hai vầng nhật nguyệt chói loà” đã trang trọng hoá đất nước.Nó thể hiện sự kì vĩ và cao cả nhưng cũng tạo một khoảng cách thiêng liêng của con người đối với Đất Nước. Nhưng với Nhuyễn Khoa Điềm thì lại khác. Nhà thơ đã xoá bỏ khoảng cách đó.Đất nước đã hoá thân vào những câu chuyện cổ tích hay những câu ca dao rất đỗi quen thuộc và hiện ra thật bình dị và gần gũi.

    “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

    Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

    Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa. Qua hình ảnh “miếng trầu”, Nguyễn Khoa Điềm “nhân dân hóa” thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa. Và Đất Nước cứ lớn dần lên cùng các truyền thống như trồng tre,trồng lúa,đánh đuổi giặc ngoại xâm.

    “Tóc mẹ thì bới sau đầu

    Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

    Cái kèo cái cột thành tên

    Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

    Tác giả đã dành một lời ngợi ca ,một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng khi nói đến “cha mẹ”. Sự thuỷ chung son sắt trải bao gian khó nhọc nhằn được ông đề cao. Vì cuộc sống bấp bênh, đủ mọi khó khăn vất vả, chỉ có “gừng cay” và “muối mặn” chứ ít khi ngọt ngào. Tuy nhiên “cha mẹ” vẫn dành cho nhau sự yêu thương là một điều rất đáng quý. Ở câu thơ này,thay vì dùng chữ “yêu” tác giả lại chọn từ “thương” để đưa vào. Bởi vì ông muốn thơ của mình giản dị và gần với văn học bình dân hơn,gần với nhân dân hơn. Cũng như tác giả mượn hình ảnh “gừng cay muối mặn” từ câu ca dao:

    “Tay nâng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    để thể hịên tình cảm vợ chồng.

    Rồi đến khi “Cái kèo cái cột thành tên” thì dân tộc ta đã bước sang một sự phát triển mới. Ngành nông nghiệp lúa nước ra đời giúp cho cuộc sống nhân dân bớt cơ cực mặc dù cũng phải “một nắng hai sương” theo từng hạt gạo.

    Câu cuối của khổ thơ này, tác giả đúc kết và khẳng định lại một lần nữa về sự ra đời cùa Đất Nước:

    “Đất Nước có từ ngày đó…”

    Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác và sử dựng triệt để vốn văn hoá dân gian sẵn có,sáng tạo lại khiến cho người đọc cảm thấy rất gần gũi và bất ngờ. Trong suốt quá trình phát triển của Đất Nước, ta dều thấy bóng dáng của những con người. Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau.

    Một không gian khác được tác giả mở ra vô cùng khéo léo khi ông tách đôi 2 âm tiết “Đất Nước”.

    “Đất là nơi anh đến trường

    Nước là nơi em tắm

    Đất Nước là nơi ta hò hẹn

    Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

    Trình tự “nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, tưởng như tình cờ mà không sao đảo ngược. Nếu thay đổi dưới dạng: Đất là nơi em đến trường, Nước là nơi anh tắm, cảm hứng thơ sẽ tan biến. Dòng viết trên thành một câu văn xuôi rất đỗi bình thường. 

    Văn hoá dân gian là của nhân dân. Để khẳng định tư tưởng của mình tác giả đã vận dụng chất liệu dân gian vào trong văn thơ của mình. ”Đất nước là của nhân dân” nên việc đưa chất trữ tình của dân gian tạo được hiệu quả cao trong việc xây dựng hình tượng đất nước, qua đó ta thấy được sự sáng tạo cũng như độc đáo trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm. Câu thơ :” Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là một ví dụ. Hẳn ta chưa quên câu ca dao rất đỗi ngọt ngào:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt…”

    Vận dụng ý từ câu ca dao trên,tác giả đã viết nên dòng thơ đậm chất dân gian nhưng không kém phần độc đáo, tạo nên một phong cách rất riêng của nhà thơ.

    Hai câu thơ tiếp theo hình tượng Đất Nước được biến hoá vô cùng sinh động:

    “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

    Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

    Con chim phượng hoàng và cá ngư ông là hai con vật linh thiêng được nhân dân ta thờ phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi. Giữa người và thần dường như không hề có sự ngăn cách, tất cả như hoà vào nhau bình đẳng. Một lần nữa, nhà thơ đã đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất Nước của nhân dân. Và chính tư tưởng đó đã giúp tác giả khám phá Đất Nước trên những khía cạnh khác nhau.Mở đầu là “Thời gian đằng đẵng”. Xuôi theo dòng lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm ghi lại những truyền thuyết, phong tục dân gian vốn rất quen thuộc với chúng ta.

    “Đất là nơi Chim về

    Nước là nơi Rồng ở

    Lạc Long Quân và Âu Cơ

    Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

    Những ai đã khuất

    Những ai bây giờ

    Yêu nhau và sinh con đẻ cái

    Gánh vác phần người đi trước để lại

    Dặn dò con cháu chuyện mai sau

    Hàng năm ăn đâu ở đâu

    Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”

    Song song với quá trình tách – hợp, là sự hài hòa trong mối quan hệ: “anh” – “em” thành “ta” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nên mối tình Lạc Long Quân – Âu Cơ. Qua các câu thơ, tác giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hình thành, “lớn lên” như những mối tình thân thiết, yêu thương. Đây là quãng thời gian thấm đẫm cội nguồn,thể hiện ước muốn ngược dòng thời gian trở về cội nguồn, lịch sử hình thành Đất Nước. Nó khoác lên “Đất Nước” một vẻ đẹp lạ lùng, lấp lánh chất huyền thoại.Đất Nước không đơn thuần chỉ là núi song. Đó là nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ yêu nhau,đó là nơi dân mình được sinh ra và đoàn tụ. Từ đó, đất nước thành không gian của mọi người, của cộng đồng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-C%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-h%C3%ACnh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh-T%C3%A2y-Ti%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

    Cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn: ” Tây

     

    Tiến đoàn binh không mọc tóc ….. Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

     

     

    Tìm hiểu đề

     

    • Đề bài thuộc dạng phân tích tác phẩm văn học. Cụ thể là phân tích một đoạn thơ.
    • Để có thể phân tích sâu sắc đoạn thơ này, cần phải có cái nhìn tổng quát về cả bài thơ

    Tây Tiến. Bài thơ có hai đặc điểm nổi bật, bao trùm : cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi

    tráng. Cả hai đặc điểm ấy đều được thể hiện rất rõ trong đoạn thơ cần phân tích.

    • Đoạn thơ này, về thực chất khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến. Vì thế, khi phân tích, cần phải làm sáng tỏ vẻ đẹp của hình tượng này.

    Gợi ý làm bài

    I. Đặt vấn đề :

     

    • Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng

    viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.

    • Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.
    • Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

    II. Giải quyết vấn đề :

    1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :

    Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn

    với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác

    động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người

    đọc.

    • Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ,

    thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây

    Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    … Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    • Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua

    ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác

    thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ

    trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn

    lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều

    tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến

    họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét

    của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ

    nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ

    (mắt trừng gửi mộng) của họ …

    • Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn

    câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến

    không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế

    giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

    1. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :

    – Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh

    nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút

    ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang

    chất bi hùng:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    ….Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    – Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm

    người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương

    lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà

    hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước

    lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người

    lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của

    nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át

    hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã :

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng.

    Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân

    trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

    • Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

    III. Kết thúc vấn đề :

    • Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả

    được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không

    trở lại.

    – Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang

    Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những

    người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-TUY%E1%BB%82N-CH%E1%BB%8CN-5-B%C3%80I-V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-%E2%80%9CPH%C3%82N-T%C3%8DCH-B%C3%80I-TH%C6%A0-T%C3%82Y-TI%E1%BA%BEN-C%E1%BB%A6A-QUANG-D%C5%A8NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

    VĂN MẪU LỚP 12: TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

    TUYỂN CHỌN 5 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG

    DŨNG”

    BÀI MẪU SỐ 1:

    Mở bài:

    Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

    “Sông Mã xa rồi TâyTiến ơi!

    *****

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Thân bài:

    Nhắc đến nhà thơ Quang Dũng, chúng ta nghĩ ngay đến tác phẩm để đời của ông – Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó 1 thời sâu sắc với nhà thơ. Tây Tiến là 1 đơn vị bộ đội thời kháng chiến chống Pháp được thành lập năm 1947 làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào, trấn giữ 1 vùng rộng lớn ở Tây Bắc nước ta và biên giới Việt Lào. Quang Dũng từng là đại đội trưởng cuả binh đoàn Tây Tiến nhưng đến đầu năm 1948 vì yêu cầu nhiệm vụ ông chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ được sáng tác cuối năm 1948 khi nhà thơ đóng quân ở Phù Lưu Chanh_ 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Lúc đầu, ông đặt bài thơ là “Nhớ Tây Tiến” nhưng về sau đổi lại thành “Tây Tiến” vì cả bài thơ đã là một nỗi nhớ và chỉ với 2 từ “Tây Tiến” cũng đủ gợi lên nỗi nhớ – cảm hứng chủ đạo trong toàn bộ bài thơ.

    Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, sống và chiến đấu nơi núi rừng gian khổ nhưng chất thi sĩ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng nhà thơ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng đội, với núi rừng đã làm cho ông ko khỏi bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức cuả nhà thơ.

    “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

    Câu thơ như tiếng gọi chân thành , tha thiết xuất phát từ trái tim và tâm hồn người thi sĩ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán và thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ trở nên đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko đơn thuần là 1 con sông – nơi đã từng là địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến – mà nó đã trở thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao

    Truy cập we

    nỗi vui_buồn, được_mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị bộ đội mà nó đã trở thành 1 người bạn ” tri âm tri kỉ” để nhà thơ giãi bày tâm sự.

    Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm trí Quang Dũng. Tính từ “chơi vơi” – biểu cảm một nỗi nhớ nhẹ và rất sâu – kết hợp với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ. Và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm trí đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. Có lẽ Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ trong ca dao:

    “Ra về nhớ bạn chơi vơi

    Nhớ chiếu bạn trải

    Nhớ chăn bạn nằm”

    2 câu đầu với cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ.

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông…- địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến – những cái tên mang âm hưởng của rừng núi hoang vu và mang dại. Núi rừng Tây Bắc đẹp hùng vĩ mà dữ dội, một vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, nơi rừng thiêng nước độc. Có những đêm dài hành quân người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì Tổ quốc đã làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ rõ hơn sự khắc nghiệt cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

    “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”

    Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Có những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót”. Bởi nói “chót vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, nhà thơ đã làm cho người đọc cảm nhận được cái hoang sơ, dữ dội cuả núi rừng Tây Bắc. Hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ “ súng ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính, cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế oai phong

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 2

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã tạo nên vẻ gân guốc, nhọc nhằn đã nhấn mạnh được cảnh quang thiên nhiên Tây Bắc thật cheo leo, hiểm trở. Đứng trên đỉnh dốc núi cao, họ nhìn xuống con đường hiểm trở vừa vượt qua và con đường gấp khúc sẽ đi xuống. Đường lên dốc và đường xuống dốc đều thăm thẳm, hun hút. Hình ảnh thơ thật đối xứng, câu thơ như một đường thẳng bị bẻ gấp lại:

    “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

    Điệp từ “ngàn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ.

    Bên cạnh cái hiểm trở, hoang sơ ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Xa xa , lẫn trong màn mưa núi sương rừng, bản làng mờ ảo, thấp thoáng trong thung lũng, lúc ẩn lúc hiện. Có những cơn mưa rừng chợt đến đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút cuả Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã thông minh , sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì đó rất kì bí, hoang sơ giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 với 7 thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở cuả núi rừng và mở ra 1 bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. Những câu thơ Tây Tiến giàu chất tạo hình hôm nay gợi nhớ những dòng thơ trong “Chinh phụ ngâm khúc”

    “Hình khe thế núi gần xa

    Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao

    Sương đầu núi buổi chiều như dữ dội

    Nước lòng khe nẻo suối còn sâu”

    8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng đội Tây Tiến. Qua những chi tiết đặc tả về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã trở thành 1 kí ức xa xôi trong tâm trí nhà thơ. Đó là 1 nỗi nhớ mãnh liệt cuả người lính Tây Tiến nói riêng và cuả những người lính nói chung.

    Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên ngang, khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ. Nhưng thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn thẳng vào những tổn thất tất yếu của con người trong cuộc chiến tranh tàn khốc. Hình ảnh người lính Tây Tiến có những phút giây mệt mỏi:

    “Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

    Chữ “dãi dầu” đã lột tả được hết sự khốc liệt của cuộc chiến đấu. Bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy, gian khổ phủ lên đầu người lính nên mệt mỏi, dãi dầu là những phút giây đương nhiên. Người lính Tây Tiến không rũ bỏ, quay lưng lại với kháng chiến, phải chăng phút giây phó mặc, bất cần, đầy ngạo nghễ của người lính cũng là điều tất yếu đó sao. Các anh đã không bước tiếp được nữa trên con đường hành quân đầy gian khổ. Có những người bạn của Quang Dũng ngục lên súng ngủ. “Ngục” là một động từ miêu tả động thái rất nhanh,biểu thị không còn sức chịu đựng được nữa. Các anh cố gượng dậy bước tiếp nhưng không còn sức. Câu thơ: “ngục lên súng mũ bỏ quên đời” tả một giấc ngủ ngàn thu, cực tả những gian khổ và hy sinh.

    Cũng có người hiểu câu thơ này tả một giấc ngủ tranh thủ của người lính để lấy sức tiếp tục đường hành quân. Nhưng câu thơ dẫu viết theo nghĩa nào cũng đều nói về sự gian khổ tột cùng.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 3

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Nhưng nhiều người hiểu theocách ở trên bởi nó phù hợp với chất bi tráng của cuộc đời chiến binh Tây Tiến: chết rồi mà vẫn ngang tàng, khí phách. Ba chữ cuối: “bỏ quên đời” thể hiện tinh thần, thái độ của người lính trước cái chết, xem như đó là điều hiển nhiên, nhẹ tựa lông hồng. Các anh lên đường, đến với núi rừng miền Tây và biết rằng: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” (xưa nay chinh chiến mấy ai trở về)

    Nếu ở mấy câu đầu tác giả mở rộng thiên nhiên miền Tây Bắc mênh mông qua không gian hùng vĩ, thơ mộng của những cơn mưa rừng với độ cao chạm đến cả mây trời của đỉnh núi Tây Bắc. Thì đến với hai câu thơ sau đây thiên nhiên lại được khám phá theo chiều thời gian với hai từ láy “chiều chiều” và “đêm đêm”

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

    Người ta hay nói đến rừng thiêng nước độc, lam sơn chướng khí. Với rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi chiều tà lại nghe tiếng thác gầm thét đổ xuống từ trên cao và cứ mỗi đêm sâu lại nghe tiếng cọp gầm. Âm thanh nào cũng ghê rợn. Quang Dũng bằng tài thẩm âm của mình đã cụ thể hóa và làm sống động hóa những nhận xét của người đời. Vậy chỉ với hai câu thơ, Quang Dũng đã phát huy tối đa trí tưởng tượng để cực tả vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng, miền đất ấy còn chứa nhiều điều hoang sơ và huyền bí của miền rừng núi Tây Bắc. Những hiểm nguy vẫn rình rập đâu đó, những nét dữ dội quyết liệt mà đoàn binh Tây Tiến đã một thời vượt qua.

    “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

    Chiến binh Tây Tiến hào hùng mà cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên và sự đằm thắm tình người. Hai câu thơ không có cảnh thiên nhiên miền Tây, chỉ có cảnh sinh hoạt đời sống thường ngày. Sau những câu thơ rất dữ dội và gân guốc là một cảm xúc thơ đằm thắm, thiết tha. Câu cảm thán gợi nỗi bâng khuâng khi hồi tưởng lại những kỉ niệm ấm áp: lúc đoàn binh dừng lại sau một đoạn đường hành quân vất vả, lều trại được dựng lên ở một bản làng, một bếp lửa ánh đỏ hồng, một nồi xôi hương bay ngào ngạt, khói bếp khói cơm bay lên hòa quyện vào khói lam chiều. Đồng đội lại quây quần bên nhau, quên đi bao vất vả, gian khổ. Chiến tranh lùi lại vào một góc khuất nào đó nhường chỗ cho một cảnh sinh hoạt tưoi vui.

    • đoạn hai, thiên nhiên và con người Tây Bắc lại được mở ra với một vẻ đẹp mới, khác với đoạn đầu. Anh hùng trong chiến đấu nhưng người lính Tây Tiến cũng say mê, lãng mạn trong đêm hội:

    “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 4

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Những câu thơ đầy ánh sáng và âm thanh, có thơ và có nhạc, đối lập hoàn toàn với những con đường hành quân gian lao, nguy hiểm, với những thiếu thốn, nhọc nhằn… Điệu nhạc hồn thơ như thăng hoa cho tâm hồn người chiến sĩ cất cánh, hòa nhịp vào những điệu khèn, câu hát say mê. Không gian Tây Bắc chơi vơi trong một miền tâm thức, với dáng người trên độc mộc, với dòng nước lũ hoa đong đưa, khắc sâu, ghi tạc trong tâm hồn người chiến sĩ. Những câu hỏi tu từ dịu nhẹ, bâng khuâng làm không gian núi rừng thêm chơi vơi, bảng lảng trong sương, trong khói. Ngòi bút tả thực của Quang Dũng đến đây trở nên mềm mại và uyển chuyển, chứa đựng cái tình sâu lắng, thiết tha.

    Qdũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. Qdũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh, để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dân tộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ:

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Rải rác bên cương mồ viển xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào tay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong: ” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình các nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của qdũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc. Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù. Cái giỏi của qdũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ:

    “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”

    Với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc” đã làmâm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. Hai chữ “đoàn binh” – âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Thủ pháp tương phản mà qdũng sử dụng

    • câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”. Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết:“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện sài long xâm lược quân“

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 5

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Có thể nói qdũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.

    Người lính Tây Tiến mạnh mẽ, rắn rỏi trong chiến đấu, nhưng cũng hết sức lãng mạn, say mê trong những giây phút thơ mộng. ở đây, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư chất của một anh hùng và phong cách của một trí thức lãng mạn. Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng trở nên rất đẹp khi qdũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ:

    “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Bao nhiêu yêu thương, nhớ mong, mộng ước của họ được gửi gắm, dồn tụ ở hình ảnh “mắt trừng”. Hình ảnh ấy không chỉ gợi một nỗi niềm đau đáu khôn nguôi mà còn chất chứa bao khắc khoải, mong chờ. Bên giới & Hà Nội hoa lệ có một khoảng cách rất xa xôi, người lính Tây Tiến muốn thông qua những mộng đẹp, những khát vọng diệt thù để làm cầu nối thu gắn không gian, kéo hẹp khoảng cách. “Dáng kiều thơm” và một Hà Nội phồn hoa xa xôi chính là nguyên do của nỗi niềm mong nhớ ấy. Đó không phải là một bóng dáng nào cụ thể nào, cũng không chỉ bó hẹp trong một tình yêu đôi lứa, niềm nhớ thương dâng trào của người lính cao hơn là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về Hà Nội. Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở nước

    – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”

    Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

    “Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Ngay chính trong cái chết, người lính Tây Tiến vẫn thể hiện, khẳng định được khí phách anh hùng, tư thế ngạo nghễ của mình. Người ta có thể rùng mình ghê sợ trước cái lạnh lẽo, hoang vu của những “mồ viễn xứ” nhưng không khỏi tự hào, kiêu hãnh trước sự hi sinh bất khuất anh hùng của đoàn binh. Những từ Hán Việt “biên cương, chiến trường, viễn xứ, độc hành” được sử dụng trang trọng giống như những nén tâm hương trước họ. Ngày xưa, nhà vua vẫn thường ban tặng áo bào cho

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 6

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    các tráng sĩ thắng trận trở về, nhưng ở thời của người lính Tây Tiến thì làm gì có chiếc áo bào nào. Vậy mà Quang Dũng vẫn gọi những manh áo lính với một cách kiêu hãnh là “áo bào”. Những người trong cuộc kể lại rằng ngày ấy lúc đầu có quan tài và bài niệm nhưng sau đó lính Tây Tiến hi sinh nhiều, người bản xứ đã cho những manh chiếu quấn thân, nhưng rồi chiếu cũng hết, họ đã mặc nguyên những chiếc áo lính để trở về với đất mẹ. Quang Dũng muốn tránh đi sự thật đau lòng nên đã gọi đó là chiếc áo bào. Đó là một cách nói sang trọng, an ủi người ra đi và cũng đỡ tủi lòng người đưa tiễn. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Với hai lần xuất hiện trong bài thơ, sông Mã đã luôn gắn liền và dõi theo con đường hành quân, đẩu tranh gian khổ của đoàn binh. Sự ra đi của người lính Tây Tiến là một hiện thực tất yếu của chiến tranh và thiên nhiên hòa cùng nỗi đau với con người. Sông Mã gào thét, vang vọng lên “khúc độc hành” giống như một khúc tráng ca tiễn đưa người anh hùng về với đất mẹ. Sự hi sinh ấy được đặt giữa đất trời, thiên nhiên, có đất mẹ dang tay đón đợi, có dòng sông Mã anh hùng dạo lên khúc tráng ca, đó là sự hi sinh cao đẹp, cao quý nhẩt.

    Qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, hình ảnh người lính hiện lên chân thực, lãng mạn, đa tình, đa cảm đồng thời cũng rất hào hùng. Với nhiều từ ngữ mang sắc thái cổ điển, trang trọng tác giả tạo được không khí thiêng liêng, làm cho cái chết bi tráng của người lính vang động cả thiên nhiên. Âm hưởng bốn câu thơ cuối làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt, hòa với bước đường của người chiến sĩ tình nguyện lên đường vì đất nước.

    “Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Kết bài:

    Hơn năm mươi năm qua, bài thơ Tây Tiến vẫn còn sức quyến rũ với người đọc hôm nay, gợi về những năm tháng không thể nào quên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Bằng bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, Quang Dũng diễn đạt tài tình nỗi gian khổ trên những con đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến, dựng lên được hình tượng vô cùng đẹp đẽ về người lính với hào khí ngất trời trong chiến đấu và nét hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn. Bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 7

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm hội tụ của muôn triệu tấm lòng yêu nước môi trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà đẹp nhất là hình ảnh người lính.

    Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên…, Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượng đông đảo đủ mọi tầng lớp thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội. Có nhiều thanh niên học sinh thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Tất cả những con người ấy ra đi với lí tưởng chung của dân tộc chiến đâu bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ ra đi không hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Cái ảnh thần ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã từng được phản ánh trong một bài hát thời đó:

    Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi,

    Nào có sá chi đâu ngày trở về.

    Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến, thấp hoáng xuất hiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ. Như bao thanh niên trí thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến với một niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh niên “nho sĩ quỵ tộc” ảnh hưởng trong Chinh phụ ngâm:

    Giã nhà đeo bức chiến bào hay Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng. Vào Tây Tiến, Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đó chuyển sang đơn vị khác. Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đâu gian nan nhưng hào hùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi qua. Nỗi nhớ ấy dần lớn lên trong Quang Dũng, bật ra thành hai câu thơ:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

    Cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến cùng những nơi mà đơn vị đã đi qua hẳn là những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ. Hẳn một phần quãng đời Quang Dũng gắn bó với Tây Tiến là cuộc sống hoạt động trong vùng rừng núi. Bởi thế, nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về sông Mã, nhớ về rừng núi với bao kỉ niệm vui buồn, ấn tượng về một miền rừng núi khắc nghiệt đã để lại trong tâm hồn nhà thơ dấu ẩn chẳng phai mờ. Vì thế, Quang Dũng nhớ về những tháng ngày đã qua với một tình cảm yêu thương lắm nhưng chẳng biết gọi lên chính xác nỗi nhớ ây. Nhớ chơi vơi! hai liếng chơi vơi dùng ở đây thật là đắc địa. diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy ắp. Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặp không chỉ một lần trong ca dao: Ra về nhớ bạn chơi vơi, hoặc:

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 8

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.

    Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trứng thêm cho nỗi nhớ chơi vơi của mình, thật là chi tiết đắt giá! Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy thiết tha như thế làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cẩn suy ngẫm nội dung bên trong, chúng ta đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả. Kết câu đoan thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khểnh. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng, tất cả lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng, mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một xứ lạ, phương xa; nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy lan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước , trên con đường xa vạn dặm, với cái trắc trở, gập ghềnh của con đường. Đã dốc lên khúc khuỷu mà còn dốc thăm thẳm, đã ngàn thước lên cao rồi lại ngàn thước xuống thì đúng là đến độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nổi khó khăn của đoàn quân Tây Tiến khi hành quân. Nó ghi lại ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nổi thành cồn heo hút, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ súng ngửi trời nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc? Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết hợp thanh điệu của đoạn thơ cũng đã vẽ lên trước mát ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn vần bằng rất hay:

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Sau khi ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trên nùi cao mà nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong làn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng. Rừng núi trùng, ấn tượng về miền rừng núi cũng thật là khắc nghiệt và dữ dội:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Chỉ hai câu thơ thôi mà gieo vào lòng ta tất cả những sự khắc nghiệt của miền rừng núi này – một miền núi rừng âm u với thú dữ đe doạ con người. Hai chữ Mường Hịch đi với nhau nghe nặng như chân cọp. Có một điều kì lạ là nếu ta thay địa danh này bằng hai chữ khác như Châu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực câu thơ sẽ giảm sút ngay. Qua sự miêu tả của Quang Dũng, một vùng núi rừng biên ải hiện lên với tất cả sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên. Đó là những khó khăn mà người chiến sĩ

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                          Trang | 9

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Tây Tiến phải vượt qua trên con đường hành quân. Cái trắc trở, gian lao cùa con đường Tây Tiến chợt làm chúng ta nhớ đến câu thơ của Lí Bạch:

    Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên.

    (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn lên tận trời xanh).

    Đó là tất cả những gian khổ, nguy hiểm do thiên nhiên đem đến mà người chiến sĩ Tây Tiến phải chịu đựng.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ, bỏ quên đời!

    Quang Dũng nói cái thực trên con đường Tây Tiến. Bao người chiến sĩ đã nằm lại trên con đường hành quân. Có một điều lạ làm toả sáng cả ý thơ là người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của người lính, chết rồi nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình. Bao cảnh gian khổ khó khăn, khắc nghiệt dữ dội của con đường hành quân, của thiên nhiến xứ lạ đã thử thách người chiến sĩ Tây Tiến một cách ghê gớm. Có những người lính đã vượt qua được, và cũng không ít những người phải nằm lại phía sau. Người lính dãi dầu qua mưa nắng, đi từ khó khăn này đến gian khổ khác, chịu hết thử thách này đến thử thách thác mà dường như vẫn chẳng nể hà; đến khi kiệt sức phải gục xuống thì cũng cố gắng gục xuống trong tư thế của người chiến sĩ.

    Cho dù Quang Dũng có nói sự thực về một vùng rừng núi che lấp con người, nhưng chính những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay lên, vượt lên trên cái gian khổ và thiếu thốn. Quang Dũng là một người trong cuộc, rừng là chiến sĩ Tây Tiến, chính vì vậy mà nhà thơ viết về cuộc sống gian khổ của người chiến sĩ Tây Tiến một cách hết sức cảm động. Cái khắc nghiệt, khổ và dữ dội của một miền biên ải, những gian truân mà người chiến sĩ Tiến phải chịu đựng và những ấn tượng không thể nào quên. Quang Dũng về người lính Tây Tiến không như những nhà thơ khác; ông nói thật về sự khổ, hi sinh của người lính một thời. Thế nhưng, hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến không vì thế mà trở nên uỷ mị, ngược lại càng thêm cao đẹp hơn. Miêu tả nét chiến sĩ với cái bi, nhưng là “bi tráng”. Nói cái gian khổ để đề cao chiến thắng nói hi sinh để nâng hình ảnh người lính lên một tầm cao thời đại cũng là một cách “vẽ mây nảy trăng” trong hội hoạ vậy. Bởi chiến thắng có giá trị gì khi chiến thắng dễ dàng, không có hi sinh? Và hình ảnh người lính sẽ không thật cao đẹp nếu họ không trải qua những thử thách gian truân của cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt.

    Lao xao sóng vỗ ngọn tùng

    Gian nan là nợ anh hùng phải vay.

    Đó là một lời đúc kết kinh nghiệm về giá trị cùa chiến thắng, giá trị cả phẩm chất con người.

    Giữa bao cái gian khổ, khắc nghiệt đã thành ấn tượng niềm vui, dù ít ỏi, càng đáng nhớ hơn:

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói ….

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Dường như để trả trạng thái tâm hồn chúng ta về thế cân bằng sau khi chùng xuống trước cuộc sống chiến đấu cùa người chiến sĩ Tây Tiến, Quang Dũng hồi tưởng lại nhiều hình ảnh vui, ấm áp. Khói bếp, mùi thơm cơm nếp gợi cái ấm cúng của cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Sức nóng của nó đủ làm tâm hổn dần ấm lại sau những phút giây chứng kiến những gian khổ của người lính, đuốc hoa là hình ảnh có sức khơi gợi, gợi cho ta cái cảm giác tươi vui như đang chứng kiến lễ hội

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 10

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    đông vui. Hai liếng kìa em vừa ngỡ ngàng, vừa sung sưc nó diễn cả tâm hồn của người chiến sĩ Tây Tiến. Trong cả đoạn thơ dìu dặt thành tiếng nhạc, tiếng khèn, phảng phất hình ảnh vui tươi của cuộc sống ) bình như chẳng biết đến chiến ưanh. Hình ảnh nhạc về Viên Chăn xây hồn là hình ảnh đẹp, thơ mộng, diễn tả tâm hồn phong phú của người lính Tây Tiến . Họ tổ chức hội vui, sau bao thử thách khắc nghiệt của núi rừng dữ dội. Và mặc dù biết rằng sẽ còn liếp tục chịu đựng những gian truân, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan yêu đời. Có thể chỉ ngày hôm sau một người nào đó trong số họ phải nằm lại nơi núi rừng u tịch, nhưng hôm nay làm hồn họ vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh đẹp của thi và hoạ, xây hồn thơ. Và như vậy, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách tiếp theo, coi đó như một việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận. Không lên gân, không khiên cưỡng, mọi gian khổ hi sinh đối với người lính là chuyện binh thường và tất yếu, vì vậy mà họ vẫn lạc quan, vẫn yêu đời, vẫn sống với lâm hồn trẻ trung, tươi mát. Cũng vậy mà người lính Tây Tiến có thể vẫn nhớ một dáng thuyền độc mộc, hoặc một bông hoa trên dòng nước lũ. Những hình ảnh rất binh thường ấy, ngỡ rằng sau bao sự thử thách về tinh thần, người lính sẽ quên đi. Nhưng không, họ vẫn nhớ. Những hình ảnh ấy in sâu vàu tâm hồn ngựời lính Tây Tiến, là nguồn động viên thúc giục họ chiến đấu, dù tiếp tục đón nhận những thử thách mới:

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. li ”àn quân không mọc tóc! Có cách nói nào lại khơi dậy nhiều cảm xúc đến thế! Như vậy thì hình ảnh của anh bộ đội Tây Tiến có trở nên quái đản không? Không đâu! Đó chính là hình ảnh oai hùng của anh “Vệ trọc” nổi tiếng một thời rét nên tóc rụng vả lại, cái cách nói đoàn quân không mọc tóc ấy phần nào cũng dựng nên hình ảnh người tráng sĩ với dáng dấp thật hùng dũng và hiên Quân không mọc tóc, quân lại xanh màu lá, màu xanh ấy có thể do cành lá trang, nhưng chủ yếu là do sốt rét rừng. Những cơn sốt rét ghê gớm đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người chiến sĩ. Ta cảm động trước hình ảnh người sĩ Tây Tiến, và chợi nhớ đến hình ảnh người chiến sĩ trong một số bài thơ đương thời:

    Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật,

    Đâu còn tươi nữa những ngày qua.

    Người lính Tây Tiến cũng chịu đựng những cơn sốt rét ghê gớm ấy, thế nhưng, nó không làm nhụt đi ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại họ càng chiến đấu dũng cảm hơn, kiên cường hơn, quân xanh màu lá nhưng vẫn dữ oai Cái khí phách hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến được ghi lại bằng sự so sánh cân bằng. Nếu ở khổ thơ trên, người lính chịu sự đe doạ của cọp thì họ cũng chiến đấu với tinh thần dũng cảm của một chúa sơn lâm như thế. Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước vút bay lên như ánh hào quang của phẩm chất người lính Tây Tiến. Miêu tả khí thế chiến đấu hào hùng của người chiến thắng một sự so sánh như thế, Quang Dũng thực sự đã hiểu người lính và đã hòa đồng với họ. Chiến đâu dũng mãnh như thế, nhưng người lính Tây Tiến vẫn có đời sống tâm Hà Nội hết sức tinh tế:

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

    Người chiến sĩ ra đi từ những mái trường, chiến đấu nhưng vẫn không quên hậu phương. Phía trước là trận đánh, tình cảm thể hiện qua giấc mộng, có thực, có mơ. Dáng kiều thơm gợi nên

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 11

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    cái dáng vẻ yêu kiều của người con gái Thủ đô chữ thơm được dùng với nghĩa như “sắc nước hương trời” vậy! Người chiến sĩ của Quang Dũng ra đi, mang theo cả phong thái hào hoa của người thanh niên trí thức, cái phong thái đã giúp người chiến sĩ sống bằng đời sống tâm ít phong phú sau mỗi trận đánh ác liệt.

    Cái cuộc sống tâm hồn ây là nguồn động lực giúp người lính tiếp tục chiến đâu để giành lây độc lập, tự do cho Tổ quốc thân thương. Và cũng vì thế, người chiến sĩ chấp nhận sự hi sinh:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc ười xanh.

    Cứ thử làm công việc tách hai câu thơ thành từng câu một. Ôi! Cái ấn tượng bi thảm đên vô cùng mà câu thơ đầu mang đến thật mạnh mẽ. Không hiểusao, cứ mỗi lần đọc đên câu thơ này là tôi lại chìm vào trong suy tưởng và nước mắt cứ rưng rưng! Trên con đường gập ghềnh xa thẳm của miền núi rừng biên giới đoàn quân Tây Tiến cứ đi và thỉnh thoảng có những con người phải tách ra khỏi đội hình. Những nấm mộ của người chiến sĩ mọc lên. Câu thơ thật là bi thảm. Nhưng câu thơ sau như một lực nâng vô hình, đã đưa câu thơ đầu lên cao, cái thảm giờ đây đã trở thành bi tráng. Nó bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của người lính: biết hi sinh, biết gian khổ nhưng vẫn cứ ra đi giải phóng quê nhà. Họ ra đi chẳng tiếc đời xanh, bởi quãng đời tươi đẹp ấy đã hiến dâng cho một lí tưỏng cao đẹp: chiến đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản không một chút vướng bận, cái chết được xem nhẹ lựa lông hồng:

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

    Cách dùng từ áo bào của Quang Dũng làm cho câu thơ trở nên cổ kính, áo bào chứ không phải chiến bào; người chiến sĩ như những danh tướng thời xưa da ngựa bọc thây là một điều vinh quang. Cũng như thế, người lính coi việc hi sinh trên chiến trường là một nghĩa vụ thiêng liêng. Người chiến sĩ Tây Tiến ngã xuống và thanh thản về đất. Đất sinh ra anh và lại đón nhận anh về sau khi làm tròn nghĩa vụ. Anh về đất như một hành động tựu nghĩa của những anh hùng. Mở đầu bài thơ là hình ảnh sông Mã, kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm thét của dòng sông này. Dòng sông tiễn anh ra đi chiến đấu lại đón anh về:

    Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    Quang Dũng khẳng định lại một lần nữa cái ý chí nhất khứ bất phục phản ra đi là không trở lại). Đó cũng là ý chí quyết tâm của cả một thế hệ, của một thời đại.

    Những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể quên. Sẽ không bao giờ còn có lại thời kì gian khổ đến mức ấy và cũng hào hung đến mức ấy. Và cũng khó có thể có được bài thơ Tây Tiến thứ hai.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 12

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 3:

    Chiến tranh, người lính luôn là đề tài không bai giờ cũ đối với những nghệ sỹ thời chiến. Chúng ta bắt gặp hình ảnh những người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. Nhưng có lẽ ấn tượng, trữ tình và chân thực là hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng. Với cách khắc họa hình tượng người lính thành công, người đọc đã không thể quên được hình ảnh những người lính cụ hồ thời kì kháng chiến chống pháp.

    Bài thơ cũng chính là nỗi nhớ của chính tác giả về những năm tháng chiến tranh ác liệt nơi chiến trường xưa. Bài thơ được mở đầu bằng một tiếng gọi tha thiết:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Phù Lao Chanh là mảnh đất mà trước đây đoàn quân đã từng đi qua. Quang Dũng cùng rất nhiều thanh niên khác ở Hà Thành đã xếp bút nghiên lên đường ra chiến trường theo tiếng gọi của tổ quốc. Câu thơ cất lên như một tiếng gọi tha thiết về quá khứ từng trải qua. Sông Mã là con sông lớn, in dấu nhiều cuộc chiến tranh đổ lửa cũng như để lại bao nhiêu hoài niệm thời xa vắng của tác giả. Nỗi nhớ trong lòng tác giả là một nỗi nhớ “chơi vơi”. Một từ ngữ rất nhẹ nhưng dường như lại khiến cho nỗi nhớ thêm đầy, không thể nào vơi đi bớt.

    Quang Dũng đã cụ thể hóa nỗi nhớ đó bằng những hình ảnh còn đọng lại trong ký ức về vùng đất chiến tranh ác liệt này:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Với những địa danh quen thuộc như “Sài Khao” và “Mường Lát” gợi nhớ về những năm tháng chiến tranh đó. Hai câu thơ với giọng rất êm, hình ảnh rất thi vị, nhẹ nhàng khiến cho người đọc cảm nhận đươc sự thi vị và lắng sâu. Đoàn quân Tây Tiến hành quân trong khói sương mù mịt, cái lạnh dường như len lỏi vào sâu trong tim. Một khung cảnh lãnh mạn, trữ tình giữa chiến tranh ác liệt thật khiến nhiều người ngưỡng mộ. Đó chính là một sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc về thiên nhiên giữa núi rừng thăm thẳm.

    Giữa thiên nhiên thơ mộng, trữ tình, hình ảnh kì vĩ, bao la của thiên nhiên và đất trời được phác họa qua nét bút của tác giả khiến cho người đọc cảm nhận được cuộc sống gian khổ, cuộc chiến khó khăn của đoàn quân. Từ ngữ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã phần nào diễn tả được sự gồ ghề, khó khăn, khập khiễng của núi rừng. Có cảm giác như đoàn quân phải vượt qua bao nhiêu ngọn núi, đối mặt với bao nhiêu hiểm nguy mới có thể giành được chiến thắng.

    Có một hình ảnh rất đẹp, rất lãng mạn hiện lên “súng ngửi trời”. Thật thi vị và trữ tình. Hình ảnh “súng ngửi trời” là một hình ảnh mang tính chất nghệ thuật cao, gợi nên khung cảnh thật nên thơ. Nó hoàn toàn đối lập với cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở ngoài kia.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 13

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Chiến địa ác liệt, thiên nhiên hùng vĩ và nguy hiểm là những thử thách mà đoàn quân Tây Tiến cần vượt qua để chiến thắng được kẻ thù. Dù trong mưa bom bão đạn nhưng đoàn quân vẫn luôn lạc quan.

    Câu thơ cuối cùng dường như lắng lại, bình dị, êm đềm:

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Một câu thơ toàn vần bằng gợi lên những lúc nỗi lòng của đoàn quân không vướng bận bất cứ điều gì. Câu thơ diễn tả trận mưa rơi nhẹ tênh, phủ trắng xóa giữa núi rừng. Màn mưa ấy che kín lối đi, phủ kín những con đường mà đoàn quân đi qua.

    Sự tàn khốc ác liệt của thiên nhiên còn được diễn tả một cách gân guốc:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục bên súng mũ bỏ quên đời

    Thiên nhiên giữa núi rừng qua nét bút của Quang Dũng đã phần nào gợi lên sự khắc nghiệt, khó khăn, gian khổ, đầy những hiểm ngụy. Và có rất nhiều chiến sỹ, nhiều đồng đội đã phải bỏ mình nơi đó, tuổi trẻ dở dang ước mơ dở dang. Sự trầm lắng của câu thơ tạo cho cả bài thơ sự thành kính và thiêng liêng đối với những người đã khuất.

    Nối tiếp dòng cảm xúc đó là nỗi nhớ về những năm tháng êm đềm, với những con người bình dị, nghĩa tình nơi đấy. Những kỉ niệm khó lòng quên được:

    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…

    Hình ảnh những mái nhà tranh khi chiều muộn về có những làn khói trắng lan tỏa ra tạo thành từng lớp trắng lảng bảng ở trên núi. Nhớ mùa nếp xôi ấm lòng, gần gũi biết bao nhiêu. Những thước phim đó cứ cuồn cuộn, chảy mãi trong lòng người lính Tây Tiến.

    Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện lên ngày càng rõ nét và chân thưc:

    Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ hà nội dáng kiều thơm.

    Một nét vẽ thật táo bạo, chân thực về lính Tây Tiến. Sự gian khổ, sự khắc nghiệt của thời tiết đã khiến cho những thanh niên Hà Thành trai tráng trở nên mạnh mẽ, chai lì. Mặc dù “không mọc tóc” nhưng nét dữ dằn cũng khiến cho quân giặc phát sợ. Họ vẫn hiên ngang, mạnh mẽ chống chọi lại với quân thù và thời tiết khắc nghiệt/. Dù cuộc chiến có đầy bão giông thì vẫn không khiến cho những người lính thôi mơ mộng, Họ từng là những thanh niên Hà Thành xếp bút nghiên lên đường đi đánh trận, ở nơi xa vẫn có những bóng dáng để họ nhớ, họ mong, làm động lực để họ bước tiếp. Đây là điều đáng trân trọng đối với những người lính.

    Quang Dũng nhận ra sự khắc nghiệt của chiến tranh, những mất mát phải đánh đổi, những hi sinh phải đối mặt:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 14

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Có lẽ đây là đoạn thơ hào hùng, mang âm hưởng bi tránh nhất bài thơ. Những người chiến sỹ đã anh dũng nằm lại với đồng đội, với đất mẹ. Tuổi xuân của họ còn đó nhưng vì đất nước mà hi sinh thì “chẳng tiếc”. Những con người vô danh nhưng họ luôn sống mãi trong lòng người ở lại.

    Họ ra đi nhưng lời hẹn ước hòa bình ngày xưa sẽ để những người còn ở lại tiếp bước mà chiến đấu và cống hiến hết mình.

    Bài thơ “Tây Tiến” của Quang DŨng thực sự gieo vào lòng người nhiều cảm xúc. Là sự ngưỡng mộ, khâm phục cũng như xót xa cho những gì đã xảy ra trong chiến tranh.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 15

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 4:

    Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu của chùm thơ chiến sĩ. Với lời thơ hào hùng, lãng mạn những sáng tác của ông đều để lại âm vang trong lòng người đọc cho đến tận ngày nay. Và “Tây Tiến” là một trong những tác phẩm như thế.

    Tây Tiến là tên của một đoàn quân với đa số là những chàng trai sinh viên hà thành. Đoàn quân được thành lập đầu năm 1947 và đại đội trưởng không ai khác chính là Quang Dũng. Cuối 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Tại làng Phù Lưu Chanh, ông viết bài thơ” Nhớ Tây Tiến” sau in trong “Mây đầu ô” đổi tên thành Tây Tiến. Nổi bật của tác phẩm là cảm hứng lãng mạn và bi tráng của từng câu thơ. Mở đầu tác phẩm là nỗi nhớ miên man trải dài.

    “Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

    Tác giả gọi tên dòng sông Mã- một nhân chứng theo suốt bước chân hành quân của đoàn quân. Quang Dũng nhớ về đồng đội, “nhớ về rừng núi”. Nỗi nhớ ấy cứ cồn cào, da diết để rồi bật lên thành tiếng gọi “Tây Tiến ơi”. Đặc sắc nghệ thuật của hai câu thơ đầu chính là cách gieo vần “ơi” và từ láy “chơi vơi”. Bằng sự thành công của đặc sắc ấy, nhà thơ đã diễn tả hết được nỗi lòng của mình. Nỗi nhớ của ông cứ miên man, cồn cào,da diết khôn nguôi. Nỗi nhớ từ tận đáy lòng rồi bật lên vang vọng.

    Nhớ về Tây Tiến là nhớ đến những khó khăn gian khổ suốt chặng đường hành quân. Một loạt các địa danh được nhà thơ nhắc đến ở những câu tiếp: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu. Đây đều là những địa danh heo hút, hoang vu, là những minh chứng cho chặng đường đầy gian khổ của người lính Tây Tiến.

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

    Hai câu thơ này thể hiện rất rõ cảm hứng lãng mạn trong thơ của Quang Dũng. Trong đêm lạnh

    • vùng cao, sương giăng phủ kín, mặc dù đã “mỏi” nhưng con đường hành quân hiện ra vẫn đẹp, vẫn thơ mộng “hoa về trong đêm hơi”. Những câu thơ tiếp theo thể hiện rõ sự khắc nghiệt của thiên nhiên trên đường hành quân. Một loạt các từ ngữ diễn tả sự gập ghềnh của hành trình ấy đã diễn tả một cách chân thực về thiên nhiên hoang sơ nơi rừng núi:” dốc lên khúc khuỷu, dốc xuống thăm thẳm đường đi heo hút”. Câu thơ “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” như bị chặt đôi đã diễn tả thật rõ sự gập ghềnh của núi, của chặng đường đi. Điều đó càng được tăng lên gấp bội nhờ “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chặng đường ấy cứ trùng trùng điệp điệp nối tiếp nhau. Thế nhưng trước thiên nhiên hoang sơ kĩ vĩ ấy là hình ảnh “súng ngửi trời”. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, lãng mạn của chàng lính Tây Tiến. Giữa núi rừng thiên nhiên hùng vĩ, người chiến sĩ vác súng trên vai. Câu thơ giúp người đọc cảm thấy như mũi súng có thể chạm đến đỉnh trời. Hình ảnh này khẳng định ý chí quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới ” khó khăn nào cũng vượt qua- kẻ thù nào cũng đánh thắng”.Giữa thiên nhiên hoang sơ ấy, tinh thần người chiến sĩ vẫn rất vững vàng:
    • Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 16

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Bằng ngòi bút chân thực, Quang Dũng đã tái hiện sự thật đau thương của cuộc hành quân. Đã biết bao người đã ra đi “anh bạn dãi dầu không bước nữa”. Nhưng hình ảnh ấy qua lời thơ Quang Dũng không hề bi thương mà hào hùng “gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Người chiến sĩ hào hùng hi sinh bên súng mũ trong tư thế hiên ngang “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Hình ảnh người chiến sĩ hi sinh đã đi sâu vào lòng người đọc cho đến tận ngày nay. Quả đúng không ngoa “tượng đài tự do được xây bằng máu và nước mắt”. Những khó khăn mới lại đến với đoàn quân. Đó là hiểm nguy rừng núi, chốn hoang sơ luôn rình rập “cọp trêu người”, “thác gầm thét”. Nhưng không vì thế mà người lính Tây Tiến nao núng. Trái lại họ còn lạc quan nhớ đến sự ấm áp của con người nơi đây ” nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói-Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Cặp từ sáng tạo “mùa em” đã chứa bao tình thương nỗi nhớ của tác giả.

    Thơ Quang Dũng đâu chỉ có hiện thực khắc nghiệt mà còn có phút lãng mạn, vui tươi:

    ” Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có thấy dáng người trên Độc Mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    Đoạn thơ này làm thay đổi không khí của toàn bài. Với âm hưởng vui tươi lạc quan, tác giả đã cho người đọc thấy sự hào hoa của người lính Tây Tiến. Đêm liên hoan văn nghệ thắm đượm tình dân quân đã in hằn trong tâm trí Quang Dũng khiến ông không thể nào quên. Hình ảnh những cô gái Thái xinh đẹp trong xiêm áo, e ấp trong điệu nhạc tiếng khèn, đã khiến người lính phải ngỡ ngàng ” kìa em”. Bằng tâm hồn lãng mạn, nhà thơ đã vẽ lên viễn cảnh mơ mộng của Châu Mộc trong chiều sương với “hồn lau”, “hoa đong đưa”. Phải chăng bông hoa ấy chính là hình ảnh cô lái đò trên dòng nước lũ? Nét duyên dáng thơ ngây của con người và cảnh vật đã được vẽ thành bức họa tuyệt trần qua thơ của Quang Dũng.

    Nối tiếp mạch thơ là hình ảnh người lính Tây Tiến với vẻ đẹp kì dị, lạ lùng:

    • Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Bút pháp tả thực lại một lần nữa được Quang Dũng thực hiện triệt để. “Đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là kết quả của những trận sốt rét rừng. Thời kì này, chiến sĩ của ta chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thiếu thốn lương thực, thuốc men, ngay cả trang bị chiến đấu “áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá’, ” chân không dày”… Chiến sĩ ta nhiều khi chết bệnh còn hơn chết trận. Nhưng dù với dáng vẻ như vậy, người lính Tây Tiến vẫn hiên ngang, uy hùng không hề yếu ớt ” dữ oai hùm”, “mắt trừng”. Đoạn thơ thể hiện rõ cảm hứng lãng mạn và bi tráng của nhà thơ. Quyết tâm giết giặc “gửi mộng qua biên giới” không làm giảm sự lãng mạn của người lính. Họ vẫn nhớ về quê hương, vẫn nhớ về người con gái Hà thành.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 17

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    • Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Một mùi chết chóc sực lên ở đoạn thơ này. Một màu sắc ảm đạm, u uất bao trùm khổ thơ. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó hiện lên bi tráng mà không bi lụy. Cái chí khí của người lính đã được bộc lộ rõ ràng. Họ quyết tâm đi “chẳng tiếc đời xanh” để đem lại nền độc lập cho dân tộc. Họ ngã xuống nhưng vẫn mang trong mình bầu máu nóng nhiệt huyết. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như một cách nói giảm nói tránh. Người chiến sĩ ngã xuống là về với đất mẹ bao la. Một lần nữa, hình ảnh sông Mã lại hiện lên như tiễn đưa linh hồn người lính.

    • Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường đi thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Quang Dũng một lần nữa khẳng định ý chí sắt đá của người lính Tây Tiến. Họ ra đi không hề “hẹn ước”. Họ đã ra đi không hẹn ngày trở về, họ quyết tâm dành lại độc lập cho dân tộc. Tinh thần ” một đi không trở lại” của người lính Tây Tiến cũng như những anh bộ đội cụ Hồ lúc bấy giờ.

    Bằng bút pháp nghệ thuật tả thực cùng cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã tạo ra một thi phẩm tuyệt vời. Chân dung người lính Tây Tiến đã được khắc họa rất rõ qua lời thơ và nỗi nhớ của tác giả dành cho tiểu đội của mình. Quả thực, “Tây Tiến” xứng đáng là bản anh hùng ca của chùm thơ cách mạng Việt Nam thời bấy giờ.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 18

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    BÀI MẪU SỐ 5:

    Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm (tên thường gọi là Dậu), sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, tổng Đại Hoàng (tục gọi là tổng Phùng), huyện Đan Phượng, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

    Tốt nghiệp trường Sư phạm nhưng Quang Dũng không đi dạy học mà theo anh em đàn hát cho một gánh hát ở Hà Nội. Quang Dũng có nhiều năng khiếu về thơ ca, nhạc, họa và tính tình rất hào hoa. ông tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân ngày 19-8-1945. Cuối xuân 1947, sau khi học lớp bổ túc quân sự ở Sơn Tây, Quang Dũng từ giã vợ trẻ, con thơ để gia nhập đoàn quân Tây Tiến và được đề bạt chức vụ Đại đội trưởng.

    Sau thời gian chiến đấu ở biên giới Việt – Lào, ông được điều về làm trưởng ban văn nghệ Phòng chính trị Bộ Tư lệnh Liên khu III. Hòa bình lập lại, ông là biên tập viên Nhà xuất bản Văn học. Ông mất năm 1988 vì bệnh tật. Năm 2001, Quang Dũng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    Quang Dũng đã sống một cuộc đời vô cùng sôi nổi, ông đi nhiều, viết nhiều. Các tác phẩm thể hiện cá tính và phong cách nghệ sĩ độc đáo của ông. Một số tác phẩm đã được xuất bản và giới thiệu ở nước ngoài.

    Bài thơ Tây Tiến ra đời trong những tháng năm không thể nào quên của đất nước và cuộc đời Quang Dũng. Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang Lào bảo vệ biên giới và đánh tiêu hao quân Pháp ở vùng Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam. Các chiến sĩ trong đơn vị đa số là thanh niên Hà Nội, gồm đủ các thành phần trí thức, học sinh, thợ thuyền… Họ sống và gắn bó với nhau nơi rừng sâu nước độc. Đói rét, bệnh tật liên miên, kẻ thù cùng với cái chết luôn rình rập, đe dọa ; song tất cả vẫn hào hứng dấn thân vào cuộc chiến tranh cứu nước.

    Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Trong Đại hội toàn quân Liên khu III tổ chức tại làng Phù Lưu Chanh (thuộc tỉnh Hà Đông cũ), nhớ đơn vị, ông đã xúc động viết nên bài thơ Nhớ Tây Tiến và đọc trước Đại hội, được hoan nghênh nhiệt liệt. Các chiến sĩ đã chuyền tay nhau chép và học thuộc. Có thể nói Quang Dũng đã gia nhập làng thơ Việt Nam từ bài thơ này. Đặt bài thơ vào đúng hoàn cảnh ra đời và tưởng tượng lại không khí buổi đầu kháng chiến thì chúng ta mới thấy hết giá trị của nó. Hơn nửa thế kỉ đã qua mà bài thơ vẫn còn truyền lại nguyên vẹn tình cảm nồng nhiệt của lớp người ra trận thời ấy.

    Thông qua nỗi nhớ về một miền đất dữ dội và một quãng đời chiến đấu gian khổ cùng đồng đội sống chết có nhau, bài thơ dã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp.

    Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng, cảm hứng lãng mạn thể hiện ở “cái tôi” tràn đầy cảm xúc và trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ ; ở sự ca ngợi lí tưởng cao cả, lòng yêu nước thiết tha và tinh thần sẵn sàng hi sinh bảo vệ Tổ quốc của chiến sĩ ta. Tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật cường điệu, đối lập để tô đậm tính chất phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên và hình ảnh kiên cường, anh dũng của đoàn quân Tây Tiến.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 19

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Trong bài thơ Tây Tiến, tác giả không hề có ý định che giấu cái bi bởi bi mà không lụy. Cái bi được thể hiện bằng giọng điệu, âm hưởng hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

    Có thể chia bài thơ thành bốn đoạn như sau:

    Đoạn 1 (14 câu đầu): Qua nỗi nhớ da diết của tác giả, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra trong những cuộc hành quân gian khổ trên cái nền của thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội.

    Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22) : Những kỉ niệm tuyệt đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng.

    Đoạn 3 (từ câu 23 đến câu 30): Khắc họa chân dung người lính Tây Tiến và sự hi sinh bi tráng của họ.

    Đoạn 4 (4 câu cuối) : Xa đơn vị, nhà thơ gửi nỗi nhớ thương và tình cảm gắn bó sâu sắc tới đoàn quân Tây Tiến và biên giới miền Tây Tổ quốc.

    Liên kết giữa các đoạn thơ là mạch cảm xúc dạt dào tuôn chảy trong tâm tưởng nhà thơ. Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, thơ mộng. Bài thơ là hồi ức của Quang Dũng về Tây Tiến. Những kỉ niệm tự nhiên hiện lên, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác, giống như những đợt sóng nối tiếp nhau. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng đã làm cho những kỉ niệm vui buồn trở nên sống động, khiến người đọc có cảm tưởng đang cùng nhà thơ đắm mình trong dòng hồi tưởng.

    Mở đầu bài thơ là tiếng gọi thiết tha như bật thốt tự đáy lòng:

    Sống Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vợi

    Nhớ chơi vơi là nỗi nhớ cồn cào, ám ảnh. Nhớ Tây Tiến là nhớ sông Mã, nhớ quãng đời đầy ắp kỉ niệm khó phai. Nay xa nó, tác giả cảm thấy nỗi trống vắng, hụt hẫng hiện lên trong lòng không gì khỏa lấp được. Âm hưởng câu thơ ngân dài, lan tỏa bởi vần ơi lặp lại tới ba lần, như tiếng vọng vào vách đá, vang xa, xa mãi. Tiếng gọi Tây Tiến ơi tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Sau tiếng gọi ấy, bao nhiêu hình ảnh của quãng đời chiến đấu gian khổ đã qua hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ như những thước phim quay chậm:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

    Bài thơ được làm theo loại cổ phong bảy chữ thể hành với sự chuyển đổi linh hoạt về nhịp điệu nên rất giàu khả năng biểu đạt. Trong đoạn thơ này, cảnh rừng núi miền Tây hiện ra thật sinh động dưới ngòi bút tả thực sắc sảo của nhà thơ. Quy luật miêu tả ở đây có cận cảnh, viễn cảnh, có hiện thực và hư ảo. Đoạn thơ là một thế giới của quá khứ chưa xa hiện lên lung linh trong nỗi nhớ với nét đẹp dữ dội, hoang sơ xen lẫn vẻ tươi mát, thơ mộng của thiên nhiên.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 20

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng núi, nơi đây rừng tiếp rừng, núi tiếp núi, gây ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người đi xa. Rừng núi với những dốc cao vời vợi lẫn vào trong sương mù. Sương che lấp bóng dáng đoàn chiến sĩ đang hành quân vượt dốc: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi. Những làng bản xa xa thấp thoáng trong màn sương: Mường Lát hoa về trong đêm hơi. Câu thơ: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm có tới năm thanh trắc, đặc tả đường hành quân vất vả, khó nhọc của đoàn quân Tây Tiến qua dốc qua đèo, lúc lên thì khúc khuỷu, gập ghềnh, lúc xuống thì thăm thẳm như dẫn xuống vực sâu. Đỉnh núi cao ngất bốn mùa mây phủ. Leo lên đến đỉnh, đầu chiến sĩ ta chạm trời cao và mũi súng dường như cũng ngửi trời. Cụ thể hóa độ cao đáng sợ ấy là hình ảnh đối sánh: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống vẽ ra hai chặng đường hành quân. Hết lên lại xuống, xuống lại lên, dốc nối dốc, đèo nối đèo, trập trùng, hiểm trở.

    Tất cả đều là những thử thách ghê gớm, đáng sợ. Tuy thế, đoàn quân nhỏ bé vẫn ngày qua ngày đối mặt với thiên nhiên, nhẫn nại xuyên rừng mở lối, tiến về phía trước. Uy lực thiên nhiên bị giảm xuống và ý chí con người được nâng lên cao hẳn. Nhạc điệu trong từng câu và trong cả đoạn chuyển đổi hết sức linh hoạt, lúc gập ghềnh, trúc trắc, dồn nén, lúc lại dàn trải, êm đềm, ngân nga: Bắt đầu là Dốc lên / khúc khuỷu / dốc / thăm thẳm (5 thanh trắc) rồi đến Nhà ai / Pha Luông / mưa / xa khơi (7 thanh bằng) khiến cho người đọc có cảm giác như đang ở trạng thái căng thẳng tột cùng bỗng được trở về với sự cân bằng, yên tĩnh của tâm hồn.

    • đoạn này, ngốn ngữ thơ Quang Dũng là thứ ngốn ngữ đa thanh, đa nghĩa, giàu tính hình tượng. Tác giả có những sáng tạo độc đáo, mới lạ. Nói về độ cao mà lại dùng tính từ chỉ độ sâu: Heo hút cồn mây. Núi cao tưởng chừng chạm tới trời, mây nổi thành từng cồn. Đặc biệt thành công là hình ảnh súng ngửi trời. Nó làm tăng thêm độ cao đáng sợ của núi non như ngạo nghễ thách thức con người, đồng thời khẳng định tư thế, tầm vóc hiên ngang sánh với trời đất của chiến sĩ ta. Có một chút ngang tàng, hóm hỉnh trong hình ảnh ấy. Người lính trèo lên những ngọn núi cao, tưởng như đang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống như bẻ làm đôi, diễn tả dốc núi vút lên rồi đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên thì cao chót vót, nhìn xuống thì sâu thăm thẳm. Câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi giúp người đọc hình dung ra cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển mây.

    Bốn câu thơ phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét bút mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng màu sắc trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu cả bức tranh. Đoạn thơ hàm chứa ý nghĩa : cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của quân dân ta gian nan tột bực mà cũng hào hùng tột bực.

    Tác giả nêu hàng loạt địa danh của vùng biên giới phía Tây với dụng ý tạo sự liên tưởng mạnh cho người đọc: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… Toàn là những cái tên chỉ mới nghe qua đã gợi liên tưởng đến vùng đất hoang dã, bí hiểm và xa lạ. Nó hoàn toàn khác hẳn với thôn Đông, thôn Đoài, xóm Thượng, xóm Hạ… quen thuộc, hiền lành xưa nay. Nó gợi trí tò mò và háo hức tìm hiểu của người đọc đối với những nơi heo hút, thâm sâu cùng cốc, ma thiêng nước độc – những chuyện đường rừng làm toát mồ hôi lạnh. Đây cũng là nét mới lạ của bài thơ Tây Tiên.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 21

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Những cuộc hành quân liên miên trong hoàn cảnh gian khổ, khắc nghiệt khiến chiến sĩ ta kiệt sức và không ít người đã ngã xuống trên đường hành quân. Ngòi bút của Quang Dũng không bỏ qua hiện thực khốc liệt ấy:

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

    Trong cuộc hành quân, chiến sĩ ta cứ đi, cứ đi cho tới khi nào kiệt sức tàn hơi thì không bước nữa và Gục lên súng mũ bỏ quên đời. Bỏ quên đời chứ không phải là chết. Nhẹ nhàng lắm, thanh thản lắm! Mạng sống con người là cái đáng quý nhất, ấy thế mà chiến sĩ ta bỏ quên đời như bỏ quên vật gì tầm thường vậy. Cái chết đến nhẹ nhàng như một cơn buồn ngủ. Mệt quá thì chợt thiếp rồi đi luôn, không một lời trăng trối. Con người không khuất phục trước gian nan, thử thách; có chết cũng chết trên đường hành quân tới đích. Đây cũng là một nét kiêu hùng của người lính Tây Tiến.

    Có thể hiểu câu thơ tả thực những người lính kiệt sức, gục ngã trên đường hành quân; nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là hình ảnh về sự mệt mỏi với những giây phút bất chợt thiếp đi của người lính giữa các chặng đường hành quân. Dù hiểu cách nào thì câu thơ cũng phân ánh mức độ gian nạn, vất vả tưởng chừng khó vượt qua. Tuy nhiên giọng điệu và từ ngữ ở hai câu thơ này dù thoáng chút xót xa, ngậm ngùi nhưng vẫn có cái cứng cỏi, ngang tàng rất lính.

    Thiên nhiên hùng vĩ, hoang dã đầy đe dọa với núi cao, vực thẳm, thác gầm, thú dữ… tưởng chừng như nuốt chửng, đè bẹp những ai muốn đối đầu với nó:

    Chiều chiều oai linh thác gầm thét,

    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

    Vẻ hoang sơ, dữ dội, chứa đầy bí ẩn của núi rừng miền Tây được nhà thơ tiếp tục khai thác không chỉ theo chiều không gian mà còn được khám phá ở chiều thời gian. Nó luôn luôn là mối nguy hiểm đáng sợ đối với con người.

    Hai câu cuối đoạn: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi gợi cảm giác tươi mát, ngọt ngào về cuộc sống thanh bình thoáng bắt gặp trên đường hành quân. Bát xôi nóng bốc hơi nghi ngút thơm mùi nếp mới Mai Châu, được nhận từ tay em trao đã làm ấm lòng chiến sĩ và trở thành một kỉ niệm đẹp trong kí ức nhà thơ. Mùa em là từ sáng tạo hoàn toàn của Quang Dũng, nó làm cho câu thơ uyển chuyển, mềm mại và ấm áp thêm nhiều.

    Nhớ Tây Tiến, nhà thơ không chỉ nhớ tới cái khốc liệt, dữ dội mà nhớ cả những nét đẹp đẽ, tươi mát, thân thương của con người và thiên nhiên miền Tây:

    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lên man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 22

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Đoạn thơ lung linh, rộn rã với đuốc, hoa, với nếp xiêm áo dịu dàng của các cô gái vùng cao dang uốn lượn theo tiếng Khèn dìu dặt, bổng trầm như mang hồn rừng sâu núi thẳm : khèn man điệu. Câu thơ Kìa em xiêm áo tự bao giờ như một tiếng reo vui đầy ngạc nhiên, thích thú. Những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân cá nước dã làm giảm đi cái chất gian khổ của đời lính, đem lại niềm vui, niềm tin cho tuổi trẻ.

    Xa Tây Tiến, nhà thơ không bao giờ quên những nét đặc trưng của cảnh, của người. Những chiều sương bảng lảng hoàng hôn, bạt ngàn sắc trắng hoa lau, những ngọn lau phơ phất như bàn tay vẫy gọi dáng người trên độc mộc (độc mộc là loại thuyền được đẽo từ một thân cây lớn, loại phương tiện di chuyển rất thích hợp với sông suối vùng cao lắm thác ghềnh), những bông hoa rừng đong đưa bên dòng nước lũ…

    • đoạn này, bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, tiếng nhạc cất lên từ tâm hồn ngây ngất say mê của người lính Tây Tiến, bốn câu thơ sau là cảnh Châu Mộc với vẻ đẹp thơ mộng, mơ màng

    trong chiều sương được vẽ bằng nét bút tài hoa của Quang Dũng.

    Phải yêu mến cảnh vật đến say mê thì nhà thơ mới có cách cảm nhận và nhớ nhung sâu sắc như vậy. Thiên nhiên, con người miền biên giới phía Tây không còn xa lạ nữa mà trở nên thân thuộc, bình dị và đượm hồn kháng chiến.

    Nếu ở đoạn một, nhà thơ nói tới cái hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng thì đến đoạn hai tác giả lại tập trung thể hiện nét duyên dáng, thơ mộng của con người và cảnh vật. Ở đoạn ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp lạ lùng:

    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

    Quân xanh màu lá dữ oai hùm

    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Bài thơ làm sống dậy hình ảnh của một đoàn quân Vệ quốc. Bước chân họ in trên khắp các nẻo đường đất nước. Họ tình nguyện dấn thân vào cuộc kháng chiến. Gian khổ lắm lúc vượt quá sức chịu đựng của những chàng trai Thủ đô mới từ giã mái trường, góc phố.

    Cách tả cảnh của Quang Dũng đã lạ, cách tả người lại càng lạ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Không ít ý kiến bàn luận về hình ảnh này, khen có, chê có. Hình ảnh người chiến sĩ ở đây quả cũng có nét kì dị, khác thường song phải ghi nhận rằng đó là sự thật – một sự thật trần trụi và khắc khổ về người lính chiến thời ấy. Họ sống và chiến đấu nơi rừng sâu núi thẳm, thiếu ăn, thiếu thuốc, sốt rét liên miên đến rụng tóc, trọc đầu. Quang Dũng chỉ phản ánh lại hiện thực chứ không hề cường điệu. Ẩn chứa trong cái vẻ ngoài kì dị ấy là một phẩm chất vô cùng đẹp đẽ, kiêu hùng của anh bộ đội Cụ Hồ.

    Hình ảnh đoàn binh không mọc tóc chẳng xa lạ gì với những anh “Vệ trọc” thời kì đầu kháng chiến. Cạo bỏ mái tóc xanh đi, để đầu trọc cho gọn, tiện, thích hợp với đời sống chiến đấu – đồng thời đây cũng là một cách bày tỏ quyết tâm đánh giặc.

    Quân xanh màu lá đặc tả một chi tiết thực là màu da của các chiến sĩ Tây Tiến xanh xao vì đói ăn, vì sốt rét rừng, vì trăm ngàn gian khổ khác, thế nhưng họ vẫn bừng bừng khí thế dữ oai hùm khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Đấy mới là nét nổi bật của đoàn quân toát ra từ hình thức không lấy gì làm đẹp. Phải chăng ở đây, tác giả cố ý lấy cái xấu làm nền để tôn thêm cái đẹp như các nhà thơ xưa đã từng làm?

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 23

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Trong đoạn thơ, chất bi tráng, hào hùng hòa quyện với nhau, tạo nên không khí rất riêng của Tây Tiến và cũng rất chung của thời kì đầu nhân dân ta đánh giặc Pháp với hai bàn tay trắng.

    Quyết tâm giết giặc, gian khổ đói rét không làm giảm chất lãng mạn vốn có trong từng chiến sĩ. Giữa những cuộc hành quân, chiến đấu, họ vẫn dành riêng cho mình dăm ba phút để nhớ về quê hương, nhớ về những bóng dáng thân yêu: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

    Mắt trừng là mắt quắc lên vẻ dữ tợn, đe dọa ; gửi mộng là mộng ước giết giặc, quyết tâm giết giặc. Dữ dội như vậy nhưng vẫn không vơi lãng mạn : Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (kiều thơm: ý chỉ người con gái đẹp).

    Có lẽ ở thời ấy, không mấy chàng trai Thủ đô ra trận lại không mang theo trong tim bóng dáng một “nàng Kiều”. Hà Nội với dáng kiều thơm là quá khứ thơ mộng, đẹp đẽ, là hành trang không thể thiếu của mỗi anh lính mới xa nhà để lên đường tham gia kháng chiến. Nhớ để mà vui, mà tin, mà thêm sức mạnh chứ không phải để thối chí, nản lòng. Nét đẹp tâm hồn này bổ sung và làm phong phú thêm vẻ đẹp chung của chiến sĩ Tây Tiến.

    Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ qua những câu thơ đậm đà chất trữ tình.

    Đã có nhiều bài thơ kháng chiến viết về sự hi sinh của người lính nhưng Tây Tiến là một trong số ít bài thơ nói về điều đó một cách thấm thìa bằng cảm hứng bi tráng :

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

    Nếu tách riêng câu Rải rác biên cương mồ viễn xứ ra khỏi đoạn thì câu thơ như một bức tranh với màu sắc ảm đạm, u uất. Song, nếu tìm hiểu kĩ nó trong mối quan hệ nội tại chung với các câu thơ trong đoạn thì ý nghĩa của nó lại khác. Nó có sức gợi rất lớn: Rải rác nơi biên cương là những nấm mổ viễn xứ (mồ của những kẻ chết xa quê), không một vòng hoa, một nén hương tưởng niệm. Lạnh lẽo và thê lương lắm chứ! Nhưng chiến sĩ ta ngay từ lúc bước chân ra đi đã sẵn sàng chấp nhận cái chết như vậy. Câu thơ đó làm nền cho những câu tiếp theo:

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Đời xanh là tuổi trẻ với bao nhiêu hoa mộng. Đẹp là thế, hứa hẹn nhiều là thế nhưng các chiến sĩ ta chẳng tiếc mà nhiệt thành hiến dâng cho Tổ quốc. Hỏi có sự hi sinh nào cao quý hơn, đáng ca ngợi hơn ?

    Phảng phất đâu đây chí khí của Tráng sĩ một đi không trở lại, của bậc trượng phu Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Ý thơ cũ nhưng cái tình thì lại rất mới, rất thật. Những ngày đầu kháng chiến, bao thanh niên học sinh xếp bút nghiên lên đường chiến đấu chống xâm lăng, bảo vệ đất nước. Một trong những động cơ thôi thúc họ là hình ảnh người anh hùng da ngựa bọc thây chốn sa trường mà họ tiếp thu được qua văn chương. Họ hăm hở lên đường chiến đấu với nhiệt tình cháy bỏng và một đam mê trong sáng pha chút lãng mạn.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 24

    Luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2017

    Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

    Ngày xưa, người tráng sĩ chọn cái chết hiên ngang nơi trận mạc với da ngựa bọc thây và coi đó là vinh quang tột đỉnh, còn chiến sĩ Tây Tiến thì; Áo bào / thay chiếu / anh / về / đất. Nhịp điệu câu thơ chậm rãi và trang trọng. Một chi tiết rất thực được nhắc đến trong câu thơ thấp thoáng phong vị cổ này là hình ảnh áo bào thay chiếu, tức là lấy chiếu thay cho áo bào để khâm liệm các chiến sĩ hi sinh. Xuất phát từ chuyện có thật do chính tác giả kể lại là trước lúc hành quân sang đất bạn, nhân dân địa phương nơi trú quân tặng chiến sĩ ta mỗi người một chiếc chiếu cá nhân. Sống thì nằm, chết dùng để liệm. Nhất cử lưỡng tiện. Hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ của chiếc chiến bào trong câu: Áo chàng đỏ tựa ráng pha (Chinh phụ ngâm) giờ được thay bằng chiếc chiếu. Sơ sài thế, tầm thường thế mà vẫn sang trọng, oai vệ như tấm áo bào của các chiến tướng thuở nào. Thay từ chết bằng từ về đất, cách nói này làm giảm nhẹ sự mất mát, đau thương. Bao ý nghĩa lớn lao hàm chứa trong hai từ giản dị, mộc mạc đó. Thanh thản biết mấy là cái chết của những người đã làm xong nghĩa lớn đối với quê hương xứ sở. Anh về đất là hóa thân vào non sống đất nước. Cái chết của các anh trở thành bất tử. Đồng đội, đồng bào, non sông đất nước mãi mãi yêu thương trân trọng và nhớ ơn các anh :

    Sống Mã gầm lên khúc độc hành.

    Người ngã xuống âm thầm, lặng lẽ về với đất. Riêng dòng sông Mã vẫn cất cao khúc độc hành (khúc hát của người đi xa một mình) bằng cái giọng thác ghềnh của nó. Tiếng hát hùng tráng, dữ dội của dòng sống cũng chính là tiếng lòng, là quyết tâm của chiến sĩ ta.

    Đoạn thơ thấm đẫm chất bi tráng. Tác giả có nhắc tới mất mát mà không đau thương, bi lụy bởi đã dùng cái bi để làm bật lên cái tráng.

    Xuyên suốt bài thơ là tình cảm, là trách nhiệm công dân của người chiến sĩ trước vận mệnh đất nước. Tự nguyện dấn thân, chấp nhận gian khổ, hi sinh… là những nét nổi bật trong phẩm chất chiến sĩ ta. Ở khổ thơ cuối bài, Quang Dũng khẳng định thêm một lần nữa cái chí nam nhi rất đáng quý đó:

    Tây Tiến người đi không hẹn ước

    Đường đi thăm thẳm một chia phôi

    Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

    Hồn về Sầm Nưa chẳng về xuôi.

    Đã ra đi là không ước hẹn ngày về, đã ra đi là quyết tâm tới đích. Cái tinh thần “một đi không trở lại ” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của cả đoàn quân Tây Tiến. Không vấn vương, bịn rịn chuyện riêng tư, tất cả cho nhiệm vụ cứu nước. Xác định dứt khoát đến quyết liệt như thế thì mọi chuyện gian khổ hi sinh đều trở nên nhẹ nhàng đối với mọi người. Tây Tiến mùa xuân ấy đã trở thành thời điểm có một không hai. Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời thơ mộng, lãng mạn hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy. Tinh thần ấy cho đến nay vẫn là bài học nhân sinh thiết thực và bổ ích cho mọi người.

    Tây Tiến là cuộc sống, là tấm lòng, là cảm xúc chân thành của Quang Dũng. Bài thơ có nhạc, có họa. Bên cạnh cái dữ dội là cái tươi mát, bên cạnh cái bi thương là cái hào hùng. Tây Tiến là một phần bức tranh hoành tráng về cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ và vĩ đại của dân tộc ta. Tây Tiến là cột mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng. Nhắc đến nhà thơ, người đọc nhớ ngay đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại. Thơ Quang Dũng nói với chúng ta về cái thật, cái đẹp và cái tốt của cuộc đời ; vì thế mà nó sống mãi với thời gian.

    Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác!                                                       Trang | 25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/V%C4%83n-M%E1%BA%ABu-T%C3%93M-T%E1%BA%AET-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-V%C4%82N-XU%C3%94I-L%E1%BB%9AP-12.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12

    Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài ( in trong tập Truyện Tây Bắc,

    1953) :

    Vợ chồng A phủ kể về đôi vợ chồng người H’ Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu . Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra- để xoá nợ. Nhưng một đêm xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng Mị bị đối xử thậm tệ.

    Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ, câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.

    *

    Ngày Tết lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng, định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà, bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt, đau buốt.

    Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử tội và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ.

    *

    Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa . A Phủ vì mải mê bẫy nhím nên đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha.

    Lúc ấy, tuy Mị đã trở thành một con người đờ đẫn, vô cảm nhưng khi nhìn thấy hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen vì kiệt sức, tuyệt vọng, Mị động lòng thương người cùng cảnh ngộ. Sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Rồi, Mị vụt chạy theo anh ta.

    *

    Cả hai băng rừng sang Phiềng Sa, trở thành vợ chồng. Quân Pháp tràn tới, dân làng hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương .

    Tóm tắt VỢ NHẶT (1955) – Kim Lân (in trong tập Con có xấu xí, 1962)

    Giữa lúc xóm ngụ cư xơ xác, tiêu điều trong nạn đói đầu năm 1945, vào một buổi chiều tà, Tràng- một người nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch, lại dở hơi- dẫn một người phụ nữ về nhà.

    Vì đang lâm cảnh ngộ đói rách cùng đường nên chỉ qua vài lần gặp gỡ với một vài câu nói đùa, rồi cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc do Tràng “chiêu đãi”, người phụ nữ này ưng thuận theo không anh về nhà

    Mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng, vừa lo âu, vừa hi vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình.

    Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới

    Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người, trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám.

    Qua lời kể của người vợ, Tràng dần dần hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới.

    Tóm tắt RỪNG XÀ NU ( 1965)- Nguyễn Trung Thành

    Truyện kể về một làng ở Tây Nguyên- làng Xô Man- nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc.

    Chuyện chính thức bắt đầu bằng việc Tnú trở về thăm làng sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân. Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt….

    Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng, gắn bó sâu sắc với cuộc đời Tnú.

    *

    Hồi ấy, Mỹ- Diệm khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Tuy còn nhỏ tuổi, Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết, rồi được anh Quyết dạy chữ.

    Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện, Tnú bị địch phục bắt, bị tra tấn nhưng anh nhất quyết không khai báo. Ở tù ba năm, Tnú vượt ngục trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và kết hôn cùng Mai.

    Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú, cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, bọn giặc bắt Mai với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man.

    Từ vị trí ẩn nấp, Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ con, rồi bị chúng bắt, Mai và đứa con chết. Bọn giặc tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh để khủng bố tinh thần dân làng.

    Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Có tiếng động chung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị cụ Mết và thanh niên diệt gọn. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm.

    Sáng hôm sau, Cụ Mết, Dít tiến anh lên đường . Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn.

    Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi (2/1966)

    Chuyện kể về hai chị em Chiến – Việt, những đứa con trong một gia đình có nhiều mất mát, đau thương: cha bị Pháp chặt đầu hồi chín năm, mẹ vừa bị đại bác Mĩ bắn chết. Khi hai chị em Chiến – Việt trưởng thành, cả hai đều giành nhau tòng quân. Nhờ sự đồng tình của chú Năm, cả hai đều được nhập ngũ và ra trận.

    Trong trận đánh ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng, lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường khi còn ngổn ngang dấu vết của đạn bom và chết chóc. Việt ngất đi, tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, Việt hồi tưởng về gia đình, về những người thân yêu như mẹ, Chú Năm, chị Chiến… .

    Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt trong đêm thứ hai. Tuy mắt không nhìn thấy gì, tay chân đau buốt, tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng

    chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta vì phía đó “là sự sống”.

    Việt hồi tưởng lại những sự việc xảy ra từ sau ngày má mất. Cả hai chị em đều háo hức tòng quân, nhưng Chị Chiến nhất định giành đi trước vì cho rằng Việt chưa đủ 18 tuổi. Đến đêm mít tin, Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước. Chị Chiến chậm chân và “bật mí” chuyện Việt chưa đầy 18 tuổi. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp, Việt mới được tòng quân. Đêm hôm ấy, chị Chiến bàn bạc với Việt về mọi việc trong nhà. Việt răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến, vì Việt thấy chị Chiến nói giống má quá chừng.

    Sáng hôm sau, hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Việt cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”.

    Sau ba ngày đêm, đơn vị đã tìm thấy Việt. Anh được đưa về điều trị tại một bệnh viện dã chiến; sức khoẻ hồi phục dần. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị kể lại chiến công của mình. Việt rất nhớ chị, muốn viết thư nhưng không biết viết như thế nào vì Việt cảm thấy chiến công của mình chưa thấm gì so với thành tích của đơn vị và mong ước của má.

    TÓM  TẮT  CỐT  TRUYỆN  CHIẾC  THUYỀN  NGOÀI  XA  (1983,

    NGUYỄN MINH CHÂU)

    Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một

    cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình.

    Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp . . . Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm ảnh.

    HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT – 1981 (Lưu Quang Vũ)

    Trương Ba, gần 60 tuổi- là một người làm vườn tốt bụng, đặc biệt rất cao cờ. Do tắc trách, Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở làng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được sống lại, ,.

    Trú nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng; gia đình Trương Ba ngày càng lủng củng. Đặc

    biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông. Gay nhất là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị. Lí trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấn lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịu nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô đau khổ.

    Trước nghịch cảnh ấy, Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhận nhập vào xác cu Tị , kiên quyết chấp nhận cái chết.

    Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người (1957) của Sô-lô-

    khốp

    Chiến tranh kết thúc, Xô-cô- lôp giải ngũ nhưng không muốn trở lại quê nhà. Anh đến chỗ của một đồng đội cũ, xin làm lái xe cho một đội vận tải. Tình cờ anh gặp chú bé Va-ni-a mồ côi, không nơi nương tựa vì bố mẹ em đều đã chết trong chiến tranh. Ngay lập tức, anh quyết định nhận Va-ni-a làm con. Chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp là bố đẻ của mình. Xô-cô-lôp yêu thương, chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là niềm vui lớn, niềm an ủi của mình. Tuy nhiên, anh vẫn bị ảm ảnh bởi những mất mát quá lớn trong chiến tranh. Hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con của mình, « thức giấc thì gối đẫm nước mắt ».

    Rồi một chuyện rủi ro xảy ra : xe anh đụng phải con bò và anh bị thu hồi bằng lái, phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm sống. Theo lời mời của một người bạn khác, ở Ka-sa-rư, anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hi vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Dù thế, anh vẫn cố trấn tĩnh, vì không muốn để bé Va-ni-a biết được tâm trạng đau buồn của mình.

    Tóm tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc (1919) của Lỗ Tấn

     

    • Chương I: Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao rất nặng. Nhờ có người mách, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, lão Hoa Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế nó sẽ khỏi bệnh.
    • Chương II: Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này.
    • Chương III: Trời vừa sáng, lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Câu chuyện của khách xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn . Hai là họ bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du người trong địa phương. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh, giành chủ quyền cho người Trung Quốc (Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta). Hạ Du bị bắt vì người bà con tố giác. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Tuy nhiên, tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. Bọn họ cho Hạ Du là điên, là thằng khốn nạn.
    • Chương IV: Vào một buổi sáng Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa (dành cho người nghèo, người tù và người bị chém) viếng mộ con. Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . Họ rất ngạc nhiên khi thấy

    trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo.

    Tóm tắt truyện Ông già và biển cả (1952)của Hê-minh-uê

    Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một “ông già” đánh cá người Cuba, 74 tuổi .

    Suốt 84 ngày liền, ông lão không bắt được một mống cá nào, dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi. Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu chung với lão nữa.

    Vào ngày thứ 85, lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng. Lần này lão đi thật xa, đến tận vùng Giếng Lớn. Khoảng trưa, một con cá lớn cắn câu, kéo thuyền về hướng tây bắc.

    Sáng ngày thứ hai, con cá nhảy lên . Đó là một con cá kiếm, lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy. Con cá lại lặn xuống, kéo thuyền chạy về hướng đông.

    Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về. Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới. Từ đó đến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập- phóng lao, vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh- giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng lão biết con cá kiếm của mình chỉ còn trơ lại một bộ xương.

    Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuống giường và chìm vào giấc ngủ , rồi mơ về những con sư tử

    TÓM TẮT TRÍCH ĐOẠN ĐỌC HIỂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA

    Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Bằng tất cả kinh nghiệm và sự khéo léo lão thận trọng thu dây câu nhưng lão biết vòng tròn còn khá lớn, con cá hãy còn xa tầm tay của lão. Từng tí một lão cố gắng thu hẹp vòng lượn của con cá và phát hiện rằng con cá đã thấm mệt nên liên tục ngoi lên trong lúc bơi.

    Sau cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây, lão sợ con cá nhảy lên có thể làm văng mất lưỡi câu. Nhưng con cá không nhảy lên mà bắt đầu lượn vòng chầm chậm. Lão cho đó là cơ hội lí tưởng để mình nghỉ ngơi dưỡng sức .

    Đến vòng lượn thứ ba, lần đầu tiên lão thấy con cá như một cái bóng đen lướt qua dưới con thuyền, rồi trông thấy rõ hơn khi nó mấp mé mặt nước. Đến vòng lượn tiếp theo, lão trông thấy lưng cá nhưng nó vẫn còn ở xa thuyền. Lão chuẩn bị lao, và thu dần dây câu.Đến mấy vòng lượn sau con cá tiến gần mạn thuyền . Dù đã kiệt sức, lão vẫn giẫm chân giữ dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm vào chỗ hiểm giết chết được con cá. Máu cá loang ra nhuộm sẫm cả vùng nước chung quanh. Con cá chết thẳng đơ, trắng bạc và bồng bềnh theo sóng.

    Không thể đưa con cá lên thuyền vì nó quá lớn, lão cẩn thận buộc nó dọc theo mạn thuyền, giương buồm về bến. Lão thật sự hài lòng và tự hào với thành quả lao động của mình.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Marketing-c%C4%83n-b%E1%BA%A3n-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-gia-s%C6%B0-T%C6%B0%C6%A1ng-Lai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu hướng không ngừng đổi mới nền giáo dục như hiện nay thì chương trình học các cấp tại trường đang là nỗi lo của các bậc phụ huynh và các em học sinh, với khối lượng kiến thức quá nhiều mà lại không đảm bảo đủ thời gian học trên lớp, các em tiếp thu không kịp và phải tự học ở nhà để hiểu bài. Nhiều em học sinh đã bị “stress” nặng dẫn đến kết quả học tập không khả quan sau các kỳ kiểm tra và các đợt thi cuối kỳ. Nhưng việc tự học ở nhà không phải em nào cũng tự giác được vì các em đang ở tuổi ăn tuổi chơi,cuộc sống hiện đại lại có nhiều cám dỗ khiến các em không tập trung cho việc học. Ở trường học cũng mở nhiều lớp dạy thêm ngoài giờ nhưng lại đại trà không chất lượng, nhiều em chỉ đi học vì sợ thầy cô ghét hay đề thi thường ra chỗ mà thầy cô dạy thêm. Nhiều em còn lợi dụng giờ học thêm ngoài giờ để đi chơi,tụ tập bạn bè…. Trước tình hình này, các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của học sinh và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI ra đời với sứ mệnh “ Cung cấp dịch vụ gia sư đa dạng với ba kết hợp hàng đầu là chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp sẽ đem lại sự hài lòng cho bạn khi đến với dịch vụ của chúng tôi. “

    Viễn cảnh mà chúng tôi đem đến: “ Trong tương lai, Trung tâm chúng tôi sẽ là địa chỉ đáng tin cậy, là người bạn đồng hành tốt nhất của các bạn trên chặng đường chinh phục tri thức. “

    Điều gì để chúng tôi có thể khẳng định điều đó, tất cả là nhờ đội ngũ gia sư giỏi uy tín là các giáo viên, sinh viên được chúng tôi tuyển chọn, đó là đội ngũ giàu kinh nghiệm và nhiệt tình để giúp các bạn học sinh yếu củng cố kiến thức căn bản, đồng thời các học sinh khá giỏi có điều kiện để nâng cao trình độ. Trung tâm gia sư chúng tôi cam kết cung cấp nguồn gia sư trình độ chuyên môn cao, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của học sinh các cấp trên khắp các quận, huyện trong địa bàn thành phố Đà Nẵng.

    Với sứ mệnh của mình, là nơi cung cấp dịch vụ gia sư và giảng dạy tại Trung tâm theo ba tiêu chí kết hợp “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”  chúng tôi sẽ đem đến sự hài lòng cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi.

     

     

     

     

     

     I. PHÂN ĐOẠN VÀ ĐỊNH VỊ THỊ TRƯỜNG:

     1. Phân đoạn thị trường:

    Cũng như các doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh, việc phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu là khâu quan trọng đối với Trung tâm gia sư của chúng tôi. Việc phân đoạn thị trường là bước đầu tiên cơ bản trong quá trình làm marketing mục tiêu. Chúng tôi phân đoạn thị trường như sau:

    1.1, Phân đoạn thị trường theo yếu tố địa lí:

    Theo thống kê năm 2012 nước ta có tổng số 14747078 trong đó có7202767 học sinh tiểu học, 4869839 học sinh trung học cơ sở và 2674472 học sinh trung học phổ thông tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị nhất là ở địa bàn các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng , Tp Hồ Chí Minh …

    Ở nông thôn số lượng học sinh ,thu nhập của người dân tương đối thấp hơn so với khu vực thành thị, chủ yếu các em học ở trường và đi học thêm đại trà.

    Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi tập trung vào khai thác thị trường ở khu vực thành thị đặc biệt là ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Hà Nội, Hồ Chí Minh. Trong đó chúng tôi chọn thị trường trọng điểm là thành phố Đà Nẵng – trụ sở chính của trung tâm.

    1.2,  Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học:

    • Theo lứa tuổi: Ở nước ta theo như nghiên cứu thì có hơn 86% phụ huynh bắt con em mình phải đi học thêm vì nhiều lí do khác nhau. Số lượng học sinh đi học thêm rất nhiều. Chúng tôi phân ra thành các đoạn thị trường: bậc Tiểu học (từ 6-12 tuổi) , bậc Trung học cơ sở (từ 13-15 tuổi), bậc Trung học phổ thông (từ16-18 tuổi) và đoạn thị trường dành cho các sĩ tử ôn thi Đại học và Cao đẳng.
    • Theo thu nhập: Việt Nam là 1 nước đang phát triển có thu nhập bình quân trên đầu người thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Những người có thu nhập khá và ổn định là đoạn thị trường mà trung tâm chúng tôi chú trọng. Hầu hết những người trong đoạn thị trường này đều tất bật với công việc công sở ít có thời gian để dạy con học nhưng họ lại rất quan tâm đến kết quả học tập và chất lượng của con em mình. Họ sẵn sàng đầu tư để đem lại kết quả tốt nhất do đó nhu cầu thuê gia sư của họ sẽ thường xuyên hơn.

    1.3, Phân đoạn theo tâm lí:

    Các bậc phụ huynh khi có nhu cầu tìm gia sư cho con mình đều có tâm lí thích người ở cùng nơi sinh sống với mình, có giọng nói dễ nghe, khả năng sư phạm khá tốt và kiến thức vững để có thể hỗ trợ con họ một cách tốt nhất. Và họ thường tìm đến những Trung tâm gia sư có uy tín cao, lâu năm , độ tin cậy lớn. Trong nội thành Đà Nẵng vốn có rất nhiều trung tâm gia sư nhưng trong số đó cũng có không ít những trung tâm giả mạo hoạt động vì tiền mà chất lượng kém, hay xuất hiện những trung tâm lừa đảo sinh viên lấy phí.  Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi luôn đảm bảo ưu tiên chất lượng giảng dạy là hàng đầu, với tiêu chí uy tín và chuyên nghiệp sẽ luôn đem lại cảm giác an toàn cho khách hàng đến với dịch vụ của Trung tâm.

    Hầu hết các em học sinh thích gia sư tại nhà vì theo tâm lí học sinh nào có gia sư chứng tỏ gia đình có tiền,các em sẽ được thoải mái hỏi những điều mà mình chưa biết hoặc đưa ra ý kiến của mình mà không sợ bạn bè chê cười.

    1.4, Phân đoạn theo hành vi:

    • Lí do tìm đến dịch vụ gia sư: trước tình hình học quá tải của con cái, chất lượng học ngày càng không khả quan các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng thời đại, phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn có thể theo dõi và hỗ trợ cho con em họ học tập tố hơn.
    • Lợi ích tìm kiếm: các bậc phụ huynh muốn tìm các gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của con mình và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện. Nhiều nghiên cứu cho biết các em khi học gia sư ở nhà có kết quả khả quan hơn khi học thêm ở ngoài, các em tự tin nói những điều mình chưa biết để khắc phục chứ không như học ở bên ngoài sợ bạn bè chê cười.

    2. Đánh giá các đoạn thị trường:

    Qua sự phân đoạn thị trường như trên,chúng tôi thấy đó đều là những đoạn thị trường hấp dẫn có khả năng phát triển tốt trong tương lai.

    Đoạn thị trường bậc Tiểu học : Đoạn này có quy mô không lớn, các em ở độ tuổi này còn nhỏ cần sự quan tâm từ cha mẹ nhiều, họ sát sao theo dõi và dạy dỗ con họ từng ngày. Mức tăng trưởng cũng không cao và sức hấp dẫn không nhiều. Nhu cầu tìm gia sư ở đoạn này thường ít, mục tiêu của trung tâm chủ yếu là các nhà có điều kiện và tập trung ở các em 10-12 tuổi.

    Đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở: Quy mô ở đoạn này khá hơn đoạn 1, các em bắt đầu học nhiều môn hơn, khối kiến thức rộng và khó hơn. Mức tăng trưởng của đoạn thị trường này rất hứa hẹn vì giai đoạn này nhu cầu học thêm cao nhất là các em 15 tuổi cuối cấp phải thi lên lớp 10. Trường cấp 3 giờ rất phân loại phải học tốt và thi tốt thì mới vào được những trường danh tiếng có chất lượng cao nên nhu cầu tìm gia sư rất nhiều đối với đoạn thị trường này.

    Đoạn thị trường bậc Trung học phổ thông: Quy mô đoạn thị trường này khá lớn, vì là ba năm cuối cấp nên các em cần phải đặt nền tảng cho mình ngay từ khi bước vào lớp 10 và định hướng cho tương lai nên thi vào trường Đại học, Cao đẳng nào, khối nào, ngành gì. Giai đoạn này các bậc phụ huynh cũng rất lo lắng, công việc tất bật con em họ đang ở tuổi dậy thì tuổi ăn tuổi chơi nên cần phải được theo dõi. Nhiều em giai đoạn này lơ là việc học, lợi dụng việc học thêm để đi chơi. Nhu cầu tìm gia sư cũng rất cao,nhất là những gia sư uy tín chất lượng.

    Đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng: Đây là đoạn thị trường tiềm năng khi kì thi này là bước ngoặt đối với mỗi sĩ tử. Nhu cầu cao và mục đích của khách hàng hàng đầu chính là chất lượng giảng dạy và chương trình giảng dạy được khách hàng rất quan tâm khi lựa chọn tại các trung tâm.

    3. Lựa chọn thị trường mục tiêu:

    Qua các đánh giá trên chúng tôi nhận thấy đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở, bậc Trung học phổ thông và đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng là các đoạn thị trường nhiều tiềm năng nhất , đó là đoạn thị trường của các em học sinh cấp 2, cấp 3 và một phần nhỏ bộ phận ôn thi lại Đại học, Cao đẳng. Đây cũng là thị trường mục tiêu mà Trung tâm chúng tôi lựa chọn để phục vụ. Khách hàng ở đoạn này có nhu cầu lớn, Trung tâm chúng tôi có thể đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng nằm trên những đoạn thị trường này, ưu thế nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh, bên cạnh đó trung tâm sẽ có những dịch vụ mới lạ và đa dạng phục vụ tận tình hơn với quý khách hàng. Chúng tôi lấy phương châm “ uy tín hàng đầu chất lượng là cốt lõi ”, cam kết đem lại chất lượng tốt nhất mà quý vị phụ huynh mong đợi.

    4. Định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu :

    Có thể thấy định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu là một bước chiến lược chung nhất cho phối chương tình marketing. Những chiến lược mà Trung tâm gia sư chúng tôi sẽ áp dụng trong hoạt động:

          4.1, Tạo hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, thương hiệu trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu:

    Hình ảnh trong tâm trí khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá của khách hàng về doanh nghiệp và sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng .Nó là một tập hợp các ấn tượng cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và thương hiệu đó.Hình ảnh của trung tâm của chúng tôi đucợ hình thành dựa trên:

    Sự thiết kế và truyền bá những hình ảnh mà trung tâm đã lựa chọn: Trung tâm gia sư chúng tôi hướng đến hình ảnh một trung tâm với chất lượng tốt nhất, phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất và tạo được lòng tin, sự uy tín trong các bậc phụ huynh và các em học sinh với các dịch vụ tiện ích,hỗ trợ tốt nhất mà chỉ Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI có. Một hình ảnh thân thiện, gần gũi và là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các bạn học sinh. Chúng tôi thiết kế các kênh thông tin trên mạng cung cấp rất đầy đủ thông tin và những dịch vụ mà quý vị phụ huynh cần. Chúng tôi thiết lập các đường dây nóng để sẵn sàng hỗ trợ ,tư vấn cho quý vị mọi lúc và sẽ có một bộ phận phụ trách tại của trung tâm có nhiệm vụ đến tận nhà của quý vị để khảo sát tình hình hiện tại của các em nếu nhận được yêu cầu từ khách hàng để có thể khảo sát được chất lượng hiện tại của các em và đưa ra được phương pháp giảng dạy phù hợp. Chúng tôi đảm bảo sẽ đem đến cho khách hàng sự phục vụ tận tình và chu đáo nhất với dịch vụ của mình.

    4.2, Lựa chọn vị thế của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu:

    Nếu chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình ảnh cụ thể cho sản phẩm thương hiệu thì một sản phẩm dịch vụ ,thương hiệu không thể tồn tại và đứng vững lâu dài. Công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng lại ở việc tạo dựng được một hình ảnh mà còn phải lựa chọn cho hình ảnh đó một vị thế trên thị trường mục tiêu .Vị thế đó do khách hàng nhìn nhận và hình thành thái độ như thế nào khi khách hàng tiếp cận với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    Khi mới thành lập thì Trung tâm sẽ gặp phải các đối thủ cạnh tranh lớn đặc biệt là trung tâm gia sư TRÍ VIỆT. TRÍ VIỆT đã xâm nhập thị trường dich vụ gia sư khá lâu với nhiều kinh nghiệm và được mệnh danh là trung tâm gia sư số 1 tại Đà Nẵng: có đội ngũ giáo viên chất lượng,  trình tuyển chọn giáo viên kỹ lưỡng và các chương trình học tập hiệu quả….Khi xâm nhập vào thị trường dich vụ này, để tồn tại và phát triển Trung tâm chúng tôi có những chiến lược cạnh tranh trực tiếp những sản phẩm dịch vụ có ưu điểm tốt hơn và sẽ có khai thác những đoạn thị trường mà trung tâm gia sư TRÍ VIỆT chưa sở  hữu. Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI cần xây dựng một hình ảnh mới mẻ hơn và nhiều dịch vụ hữu ích hơn, tập trung chú trong tới chất lượng dịch vụ để từng bước xây dựng cho mình một vị thế vững chắc trên thị trường dịch vụ gia sư Đà Nẵng.

    4.3, Tạo được sự khác biệt cho thương hiệu dịch vụ:

    4.3.1, Tạo điểm khác biệt cho dịch vụ:

    Trung tâm chúng tôi xây dựng các dịch vụ nhằm phục vụ quý vị phụ huynh và em học sinh một cách tận tình nhất ngoài chất lượng giảng dạy luôn được đảm bảo.

    • Quản lý điểm số, đánh giá chất lượng học tập của học sinh, có “ Bảng Tổng Kết Tình Hình Giảng Dạy ” trong từng tháng, đảm bảo về thông tin và chất lượng giảng dạy của gia sư.
    • Khi gia sư giảng dạy không đạt hiệu quả mong muốn, khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm  đổi gia sư (miễn phí).
    • Chúng tôi hàng kì sẽ có những đợt kiểm tra, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh, nhằm đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên và sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập tại trung tâm.
    • Khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm gia sư TƯƠNG LAI  cung cấp tài liệu học tập và các đề thi từ  thư viện trực tuyến của trung tâm.
    • Đặc biệt trung tâm sẽ cung cấp tài liệu và đề thi và các công cụ hỗ trợ tốt nhất cho các em cuối cấp sắp thi đại học.
    • Ngoài ra trung tâm còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để có thể tiết kiệm thời gian và chi phí hơn cho các em và có thể mở rộng phạm vị cung cấp dịch vụ ra các tỉnh lân cận.

    4.3.2, Tạo điểm khác biệt về nhân sự:

    Chúng tôi luôn cam kết đáp ứng mọi nhu cầu về chất lượng dạy và học, cũng như mọi mong muốn của quí phụ huynh – học sinh. Chúng tôi đặt trọng tâm vào chất lượng dạy và học, điểu này sẽ tạo nên thương hiệu của Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI .Và để đạt được điều đó ban Quản lý trung tâm phải quan tâm tới chất lượng phục vụ là trên hết. Một khi dạy tốt, học sinh tiến bộ sẽ tạo dựng được niềm tin trong lòng người học và nâng cao uy tín của trung tâm.

    Chúng tôi luôn cung ứng gia sư là các giáo viên và sinh viên tốt, nhiều kinh nghiệm, luyện thi vào các trường chuyên, các trường Đại học danh tiếng với điểm đầu vào khắt khe. Quy trình tuyển chọn giảng viên chúng tôi  rất chú ý. Chọn những giáo viên giỏi có nhiều kinh nghiêm trong giảng dạy và những sinh viên có kết quả cao trong các kì thi đại học ở các trường công lập. Đầu vào sinh viên trung tâm chúng tôi sẽ có các bài kiểm tra để thử năng lực của các bạn trước khi đuợc nhận chính thức vào Trung tâm chúng tôi.

    Ngoài ra chúng tôi còn có mời các giáo sư có tiếng trong giảng dạy về tập huấn trao đổi với đội ngũ gia sư của trung tâm để trau dồi và mở những buổi thảo luận nhằm giúp đội ngũ giảng dạy của Trung tâm nâng cao được nghiệp vụ nhằm tìm ra được những phương hướng giảng dạy tốt nhất.

    Đội ngũ giảng viên được bố trí theo đúng công việc và nhiệm vụ và được trang bị những công cụ hỗ trợ tốt nhất để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Trung  tâm còn bố trí các tư vấn viên và đội ngũ giáo viên để tư vấn mọi thắc mắc và khảo sát tình hình hiện tại của các em học sinh để tìm ra phương pháp dạy và họ tốt nhất.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI phân công Điều hành viên, chuyên trách thực hiện hoạt động chăm sóc khách hàng, đại diện cho trung tâm làm việc với khách hàng về các vấn đề: tài chính, chất lượng học và giảng dạy của học sinh và gia sư. Bộ phận nhân viên tư vấn trong Trung tâm được đào tạo làm việc một cách chuyên nghiệp sẽ phục vụ khách hàng với thái độ thân thiện, niềm nở nhất. Sẽ giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng về dịch vụ của trung tâm cũng như mọi thắc mắc liên quan đến học phí và thời gian gảng dạy.

    4.3.3, Tạo sự khác biệt về hình ảnh:

    Khi các sản phẩm và dịch vụ giống nhau thì khách hàng vẫn có phản ứng khác nhau với hình ảnh của doanh nghiệp hay thương hiệu. Công cụ để tạo ra hình ảnh và đặc điểm nhận dạng bao gồm logo, tên gọi, biểu tượng…

    Chúng tôi thiết lập ra một trang web riêng của trung tâm trên đó có ghi đầy đủ thông tin về trung tâm như đội ngũ gia sư ,các lớp dạy, phần dành cho ý kiến phản hồi của phụ huynh, diễn đàn xoay quanh vấn đề học tập….Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để tiết kiệm thời gian và chi phí do đó giá thành sẽ rẻ hơn. Hình ảnh chính mà trung tâm tạo dựng là sự uy tín và chất lượng cốt lõi,cam kết đem lại kết quả mà quý vị mong đợi.

    II. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM:

    2.1, Các cấp độ dịch vụ:

    Dịch vụ Trung tâm tương tự như một sản phẩm cũng có ba cấp độ cấu thành:

    • Lớp lợi ích: Chính là giá trị cốt lõi của dịch vụ mà trung tâm cung cấp. Dịch vụ gia sư do trung tâm chúng tôi cung cấp đảm bảo chất lượng tốt.  Với đội ngũ giáo viên và sinh viên chất lượng đuợc tuyển chọn đầu vào, khách hàng có thể yên tâm về chất lượng chuyên môn cũng như thái độ phục vụ của chúng tôi.
    • Lớp vật chất: Ngoài chất lượng chuyên môn giảng dạy tốt, trung tâm chúng tôi còn có được sự hợp tác và tư vấn bởi nhiều giáo sư có tiếng tăm. Ngoài ra đội ngũ giảng dạy của chúng tôi còn có những gương mặt tiêu biểu giáo viên dạy giỏi, đối với sinh viên, chúng tôi tổ chức những đợt kiểm tra kiến thức đầu vào để tuyển chọn chất lượng, cũng như được hướng dẫn nghiệp vụ sư phạm giảng dạy. Đây chính là tiềm năng về chuyên môn mà chúng tôi thu hút cũng như có được. Trung tâm chúng tôi có website riêng thường xuyên cập nhật những tin tức giảng dạy, kết quả giảng dạy cũng như những ưu đãi được thông báo tới toàn bộ khách hàng.
    • Lớp tăng thêm: Đối với những đợt lớp học mới, trung tâm chúng tôi có thêm những khuyến mãi giá trị hấp dẫn đối với các khách hàng. Tùy theo từng đợt, có thể đó sẽ là việc khách hàng được tặng phiếu giảm mức học phí; khách hàng được tư vấn miễn phí và được sử dụng vụ thử nghiệm mà nếu không vừa lòng có thể ngưng khóa học và không mất phí.. Ngoài ra nếu có kết quả tốt trong học tập (đối với khóa học tại trung tâm), chúng tôi sẽ có những món quà thú vị dành tặng các bạn học sinh như những chuyến du lịch ngắn ngày hay vé xem phim và vé dự các hội thảo về nâng cao kĩ năng mềm hấp dẫn.

    Đây chính là những nét khác biệt về sản phẩm dịch vụ mà trung tâm chúng tôi tạo ra để có thể cạnh tranh và vượt trội trên thị trường.

    2.2,  Phân loại dịch vụ tại trung tâm:

    Dịch vụ trung tâm chúng tôi cung  cấp được phân loại theo hai loại chính :

    • Đối với dịch vụ môi giới gia sư dành cho các cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông : Trung tâm chúng tôi tuyển chọn những bạn sinh viên giỏi và giao những suất dạy phù hợp với yêu cầu của các bạn với mức phí giao nhận nhất định do trung tâm quy định trước. Nhưng trong quá trình giảng dạy vẫn có sự theo dõi của trung tâm về khóa dạy của các bạn để kịp thời xử lý những yêu cầu của hai bên.
    • Đối với dịch vụ dạy học tại Trung tâm: chúng tôi có mở các lớp ôn thi Đại học, cao đẳng ngay tại trung tâm. Có những khóa học ôn thi Đại học, Cao Đẳng các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Anh, Văn, Địa Lý, Lịch Sử cùng đội ngũ giáo viên giỏi và được tuyển chọn sẽ phục vụ việc giảng dạy tốt nhất.

     

    2.3,  Các quyết định về dịch vụ tại trung tâm :

    Quyết định về dịch vụ đơn lẻ:

    *  Đặc tính dịch vụ

    – Chất lượng dịch vụ: chúng tôi cam kết đem đến chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng với phong cách làm việc uy tín và chuyên nghiệp nhất theo tiêu chí 3 kết hợp: “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”.

    – Tính năng:  Cung cấp nguồn chất lượng gia sư tốt nhất, là địa chỉ đáng tin cậy để gửi gắm con em vào việc ôn thi Đại học và Cao đẳng.

    **  Quyết định về thương hiệu:

    • Biển hiệu và địa chỉ rõ ràng.
    • Nơi uy tín phải là nơi công khai mọi người đều biết đến và có thể tìm tới gặp trực tiếp chứ không phải là một trung tâm địa chỉ lập lờ.
    • Thông tin trên website trung thực.
    • Thông tin gia sư trung thực đầy đủ.
    • Website thiết kế uy tín.
    • Phong cách làm việc chuyên nghiệp.
    • Các sinh viên và giáo viên của trung tâm phải mang thẻ do trung tâm cấp khi đi dạy .
    • Tổ chức tặng quà cho các đầu năm cho 1 số khách hàng than thiết.
    • Ghi nhận các phản ảnh và ý kiến của các học sinh cũng như sinh viên của trung tâm từ đó thay đổi để hoàn thiện.

    ***  Nhãn hiệu:

    Logo của Trung tâm :

    (hình ảnh)

      2.4, Các quyết định về hệ hàng:

    *  Hệ hàng: Nhận thấy để tận dụng những nguồn lực dồi dào từ các đoạn thị trường còn lại, trung tâm chúng tôi có mở thêm nhiều dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng như:

    – Dịch vụ luyện chữ đẹp: ngoài dịch vụ gia sư cho các em từ bậc tiểu học tới trung học phổ thông, chúng tôi có thêm dịch vụ luyện viết chữ đẹp tại trung tâm dành cho các em tiểu học lớp 1,2,3 cho nhu cầu.

    – Dịch vụ dạy thiết kế đồ họa: đối với những ai yêu thích đồ họa, trung tâm sẽ có liên kết mở lớp dạy đồ họa.

    – Dịch vụ dạy Tiếng anh bao gồm: Tiếng anh giao tiếp, tiếng anh chuyên ngành  hướng đến các bạn sinh viên và những người đang đi làm cho nhu cầu. Tiếng anh thiếu nhi cho các bé mới bắt đầu với môn Tiếng anh.

    **  Các quyết định về hệ hàng:

    Quyết định về chiều dài mặt hàng:

    Trung tâm sẽ phát triển các hệ hàng bằng cách kết hợp giữa phát triển hướng xuống dưới và hướng lên trên. Các dịch vụ sẽ được phục với mức giá thấp hơn như dịch vụ dạy kèm một buổi theo yêu cầu, gia sư giá rẻ hướng đến những khách hàng không có điều kiện cao. Bên cạnh đó là nâng cao và phát triển thêm một số dịch vụ với mức giá cao hơn nhưng chất lượng cũng đuợc nâng lên trông thấy. Những bước đi này sẽ tiếp cận được tới từng yêu cầu cụ thể của khách hàng và đem lại sự hài lòng về dịch vụ đến cho họ.

    Quyết định tạo đặc trưng của hệ hàng:

    Các dịch vụ gia sư như dạy một buổi nhận tiền ngay (dành cho những học sinh không có điều kiện học thêm muốn chuẩn hóa lại kiến thức để phục vụ thi cử); thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt trao đổi kiến thức và kinh nghiệm cho gia sư và học sinh; gia sư dạy thêm qua skype giá rẻ (dành cho các bộ môn ngoại ngữ). Với những dịch vụ mới lạ này nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho gia sư và học sinh chắc chắn trung tâm sẽ tạo được vị thế của mình đối với khách hàng.

    Quyết định hiện đại hóa mặt hàng:

    Trao đổi tài liệu và giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng một cách nhanh nhất qua internet sẽ là bước đi mà chúng tôi cần phải quan tâm đúng mức.  Điều này sẽ tạo ra sự bứt tốc đối với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó Trung tâm sẽ cố gắng tổ chức các chương trình bổ trợ miễn phí về kĩ năng mềm và kĩ năng vi tính cho khách hàng. Trên wesite của Trung tâm chúng tôi có mục đón nhận ý kiến từ khách hàng, chúng tôi sẽ có những phần quà xứng đáng cho những khách hàng gửi những lời đóng góp ý kiến đúng đắn, xác thực về chất lượng cũng như hoạt động của Trung tâm. Đây là những bước đi mang tầm chiến lược của Trung tâm, điều này giúp các khách hàng cảm thấy được quan trọng và hơn nữa những góp ý chuẩn xác sẽ giúp trung tâm cải thiện những mặt còn yếu kém và đẩy mạnh chất lượng cũng như tốc độ phát triển của Trung tâm. Điều này sẽ là một điểm khác biệt rất mới của Trung tâm chúng tôi.

    2.5,  Kế hoạch chu kỳ sống của sản phẩm:

    Bất kì sản phẩm nào cũng phải trải qua một chu kì sống với đầy đủ các giai đoạn  giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Ở mỗi giai đoạn công ty phải có những chiến lược khác nhau để đứng vững trên thương trường. Với sản phẩm là dịch vụ gia sư chúng tôi có những kế hoạch về chu kì sống như sau:

    * Giai đoạn giới thiệu:

    Ở giai đoạn này với việc  đưa mới sản phẩm vào thị trường, trung tâm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với khách hàng. Dịch vụ  gia sư là một sản phẩm rất phổ biến trên địa bàn Đà Nẵng, chính vì vậy để chứng tỏ thương hiệu với khách hàng về trung tâm không phải là một điều đơn giản. Trong giai đoạn đầu tiên ra mắt, trung tâm sẽ đầu tư tập trung vào những dịch vụ trọng tâm của mình là môi giới gia sư và ôn luyện thi ĐH – CĐ, chấp nhận đầu tư  vào các khâu marketing cho sản phẩm như tăng cường quảng cáo, tập trung vào nhóm khách hàng mục tiêu, thực hiện chiến lược xâm nhập chớp nhoáng bằng cách khởi đầu đưa ra một mức giá thấp so với mặt bằng chung của thị trường nhằm thu hút đối với khách hàng,  ngoài ra mức phí môi giới sinh viên gia sư cho trung tâm cũng  thấp khoảng từ 15% – 20%  khoản phí nhận suất. Tập trung vào nhóm khách hàng tiềm năng với dịch vụ là học sinh từ C1- C3, các sĩ tử đang ôn luyện thi.  Mở rộng quảng bá bằng tờ rơi, truyền đơn, qua internet và áp dụng nhiều ưu đãi với những khách hàng ban đầu. Với chiến lược marketing này trung tâm kêt hợp với khả năng và chất lượng dịch vụ của mình chắc chắn sẽ dễ dàng chiếm được thiện cảm của khách hàng và bước đầu tạo được vị thế của mình.

    ** Giai đoạn phát triển:

    Mức tiêu thụ của dịch vụ bắt đầu tăng nhanh, lợi nhuận trong giai đoạn này của trung tâm sẽ bắt đầu tăng.  Đây là giai đoạn quan trọng nhất và để duy trì và phát triển một cách bền vững trung tâm sẽ tiếp tục mở rộng xúc tiến cổ động và tăng cường quảng cáo thông tin mạnh mẽ tới công chúng. Ngoài ra áp dụng thay đổi chính sách khuyến mãi như việc đăng kí học theo từng nhóm 5 người sẽ được giảm giá khóa học tại trung tâm. Tăng chi phí cho khoản mục kích thích tiêu thụ. Bên cạnh đó sẽ dần tăng mức phí và giá theo thị trường ở đợt mở lớp  sau. Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về dịch vụ và xâm nhập ra những vùng thị trường mới để mở rộng địa bàn trên thành phố Đà Nẵng. Sẽ cố gắng kéo dài giai đoạn này càng dài càng tốt.

    *** Giai đoạn bão hòa:

    Đến lúc này tốc độ  tiêu thụ dịch vụ của trung tâm sẽ có dấu hiệu bị chững lại. Lý do là bởi dịch vụ của trung tâm bắt đầu đã tràn ngập trên các kênh lưu thông và hàm chứa có một sự canh tranh gắt gao của các đối thủ trên thị trường. Để tiếp tục duy trì trung tâm  thực hiện những biện pháp cải biến thị trường, cải biến sản phẩm, tăng cường công tác quảng cáo, đưa ra cách chọn lọc mới để chất lượng gia sư được tốt, thực hiện chế độ đãi ngộ tốt hơn đối với gia sư,  sẽ có nhưng món quà mang ý nghĩa tinh thần dành cho gia sư nếu kết quả học tập của lớp được cải thiện. Đối với khách hàng, nếu có kết quả học tập tốt dựa theo bảng điểm thi đua của trung tâm cũng sẽ nhận được những phần thưởng như : vé xem film cuối tuần, vé dự buổi thảo luận về kĩ năng mềm, những buổi hội thảo về phương pháp học tốt… Ngoài ra trung tâm sẽ tích cực tìm kiếm thêm thị trường mới trên địa bàn Đà Nẵng. Tìm kiếm thị trường mới như môi trường giáo dục mầm non sẽ là cánh cửa mới lúc này với việc dạy cho bé biết chữ, luyện chữ đẹp..

    **** Giai đoạn suy thoái:

    Giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ dịch vụ của trung tâm bắt đầu giảm sút. Do sự canh tranh gay gắt của các trung tâm khác trên địa bàn Đà Nẵng và thị hiếu của khách hàng đã thay đổi, khách hàng bị hấp dẫn bởi những chính sách và dịch vụ của những đối thủ cạnh tranh. Để giải quyết khó khăn trong giai đoạn này trung tâm sẽ dự định thực hiện các biện pháp sau: rút gọn thị trường cung ứng dịch vụ môi giới gia sư đối những thị trường không hiệu quả về mặt lợi nhuận, thu hẹp phạm vi môi giới tập trung vào những phân đoạn lứa tuổi dễ đem lại lợi nhuận cho trung tâm, từ bỏ thị trường nhỏ, cắt giảm chi phí khuyến khích đồng thời hạ giá nhiều hơn. Ngoài ra còn có thêm những chính sách ưu đãi đối với những khách hàng than quen của trung tâm. Trung tâm cần quan sát cụ thể từng chuyển biến mới của dịch vụ để kịp thời điều chỉnh tránh để gây ra những thiệt hại về uy tín cũng như doanh thu trong giai đoạn này.

    III. CHÍNH SÁCH ĐỊNH GIÁ

     

    3.1, Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá là:

    3.1.1, Môi trường bên trong:

    a, Định vị sản phẩm và mục tiêu marketing, marketing mix:

    Trung tâm chúng tôi hoạt động lấy chất lượng và uy tín làm gốc.

    Vì vậy với các mục tiêu marketing, giá cả của trung tâm cũng sẽ có những điều chỉnh thay đổi nhất định.

    Việc ra các quyết định về giá cần phải có sự phối hợp với các chữ P khác theo sơ đồ:

    Chiến lược định vị -> Lựa chọn 4Ps -> Quyết định về giá.

    Giá và các chiến lược marketing mix đưa ra phải có sự hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện chiến lược định vị và mục tiêu marketing đã chọn. Cụ thể:

    – Mục tiêu xây dựng thị phần: để xây dựng thị phần tốt thì trung tâm sẽ xây dựng mức giá thấp và có khả năng cạnh tranh lớn nhất với thị trường.

    –  Mục tiêu chất lượng cao: Trung tâm  ấn đinh mức giá cao so với thị trường  nhưng đổi lại khách hàng sẽ nhận được những gói dịch vụ chất lượng nhất. Cặp quan hệ chất lượng – giá cả sẽ gây ảnh hưởng tới sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng cao mà dịch vụ mang lại.

    –  Mục tiêu đảm bảo sống sót:  định giá đủ để cầm cự, trang trải kinh phí duy trì hoạt động của doanh nghiệp và chờ cơ hội mới.

    b, Chi phí:

    Khoảng cách giữa giá và chi phí là lợi nhuận. Một đồng chi phí tăng thêm là một đồng lợi nhuận giảm xuống khi mức giá bán được ấn định.

    Kiếm soát được chi phí sẽ giúp trung tâm giành thế chủ động trong việc thay đổi giá thành được lợi thế cạnh tranh tránh mạo hiểm.

    c, Đặc điểm Doanh nghiệp:

    Nó được biểu hiện thông qua mục tiêu của chính sách giá đặt ra, khả năng về kỹ thuật, tài chính, tiếp thị và về Marketing của doanh nghiệp. Những ràng buộc về mục tiêu chính sách giá đòi hỏi giá bán sản phẩm của trung tâm  phải đảm bảo những mục tiêu đề ra về khối lượng, lợi nhuận… nhưng vẫn phải bù đắp những chi phí bỏ ra.

    3.1.2, Môi trường bên ngoài:

    • Chủ yếu là đặc điểm của thị trường và nhu cầu của khách hàng.
    • Thị trường gia sư ở nước ta ngày càng nở rộ,nhất là ở các thành phố lớn.vì vậy sẽ có rất nhiều khách hàng tiềm năng.
    • Nhu cầu khách hàng về gia sư rất lớn,vì nhà nhà đều muốn con mình giỏi hết nên việc đưa ra 1 mức giá hợp lí để tạo sư tin tưởng ở khách hàng.
    • Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lí,nhận biết khách hàng về giá mà sản phẩm mình đang quảng bá:
    • Khách hàng sẽ so sánh vs mức giá của các đối thủ cạnh tranh.
    • Khách hàng sẽ chú ý đến những giá tâm lí,giá rẻ (dù ở đây các mức giá chênh lệch không bao nhiêu).
    • Giá của đổi thủ cạnh tranh và chiến lược maketing của họ cũng ảnh hưởng đến việc đinh giá của chúng ta.Một chiến lược đinh giá cao,thu lời cao thì sẽ thu hút sức cạnh tranh,còn chiến lức định giá thấp mức lời thấp thì sẽ làm nản đối thủ cạnh tranh.
    • Biết giá cả và chất lượng của đối thủ cạnh tranh để từ đó xác định chất lượng và mức giá hợp lí cần đưa ra để có khả năng cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cho công ty.
    • Các yếu tố bên ngoài như giá xăng tăng, lạm phát hay suy thoái kinh tế đều có ảnh hưởng ít nhiều đến việc định giá sản phẩm.

    3.2, Các phương pháp xác định giá được trung tâm sử dụng.

    Có nhiều phương pháp định giá của sản phẩm như:

    • Định giá dựa vào chi phí
    • Định giá dựa vào khách hàng
    • Định giá vào đối thủ cạnh tranh.

    Công ty sử dụng phương pháp định giá theo chi phí và định giá theo đối thủ cạnh tranh.

    *  Xác định giá theo chỉ tiêu chi phí:

    Phương pháp định giá này chỉ áp dụng cho dịch vụ dạy tại trung tâm. Đối với dịch vụ môi giới gia sư, trung tâm áp dụng mức phí (%)  trên số tiền khách hàng sẵn sang chi trả cho suất dạy.

    Tổng chi phí cố định (FC):  là tổng chi phí đầu vào cố định, nó không thay đổi trong việc bán dịch vụ.

    Tổng chi phí biến đổi (AVC): là tổng chi phí đầu vào được biến đổi, nó thay đổi cùng với sản lượng.

    Tổng chi phí ( C ) =  Tổng chi phí cố định (FC)+ Tổng chi phí biến đổi(AVC)

    Giá thành sản phẩm được xác định theo CT:

    Giá thành đơn vị sản phẩm =  Tổng chi phí/Sản lượng.

    Sử dụng phương pháp định giá cộng vào chi phí:

    P = C+k.C

    Trong đó C: tổng chi phí , k: hệ số kê lời

    Trung tâm sử dụng phương pháp tính giá này để giảm thiểu sự cạnh tranh về giá, chi phí sản xuất có thể kiểm soát được và xác định được lợi nhuận thu về chắc chắn.

    **  Xác định giá theo đối thủ cạnh tranh:

    Ngoài sử dụng phương pháp định giá theo chi phí, tùy theo từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm mà trung tâm có thể thay đổi cách định giá cho phù hợp và linh hoạt với điều kiện hiện tại. Đối với phương pháp này trung tâm áp dụng:

    – Áp dụng hình thức giá ngang bằng với giá sản phẩm cạnh tranh: áp dụng với các hệ hàng : dịch vụ dạy thiết kế đồ họa, dịch vụ luyện chữ đẹp.

    – Áp dụng hình thức giá cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với dịch vụ tiềm năng của trung tâm, có nét đặc biệt và hoàn toàn có nét vượt trội so với đối thủ cạnh tranh: dịch vụ ôn luyện thi ĐH, CĐ.

    – Áp dụng hình thức giá thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với những khách hàng nhạy cảm về giá, trung tâm áp dụng với dịch vụ môi giới gia sư bằng cách thu mức phí thấp hơn so với mặt bằng chung của thị trường.

    3.3, Các chiến lược định giá.

    3.3.1, Định giá cho sản phẩm mới:

    Nhận thấy thị trường này khá nhạy cảm về giá nên trung tâm áp dụng chiến lượt định giá của  là “bám chắc thị trường” với mục đích nắm giữ thị phần lớn, lâu dài và có được lợi nhuận trong dài hạn.  Hình thức này ban đầu đưa sản phẩm mới vào với mức giá thấp nhằm thâm nhập thị trường, chiếm giữ thị phần. Trung tâm tiếp tục khai thác hiệu quả quy mô để giảm được chi phí dẫn đến giá giảm mà vẫn thu được khoản lợi mong muốn. Giá hạ không thu hút thêm đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

    3.3.2, Định giá cho phối thức sản phẩm:

    Định giá hệ hàng

    Dịch vụ TG 1 khóa học Mức phí cả khóa học Ghi chú
    Luyện chữ đẹp 3 tháng 1.000.000đ  
    Dạy thiết kế đồ họa 5 tháng 1.500.000đ  
    Dạy Tiếng anh
    – TA giao tiếp
    – TA chuyên ngành
    – TA thiếu nhi
    9 tháng
    9 tháng

     

     

    6 tháng

    4.200.000đ

    4.000.000đ

    2.500.000đ

     

    3.3.3, Chiến lược điều chỉnh giá.

    * Chiếu khấu:  Đối với tất cả các dịch vụ dạy tại trung tâm

    • Chiết khấu thanh toán nhanh: Khách hàng thanh toán trong một lần cho toàn bộ khóa học được giảm 3%.
    • Chiết khấu số lượng: Khách hàng đăng kí theo nhóm: trên 5 người giảm 3% học phí cho mỗi khách hàng, trên 10 người giảm 5% cho mỗi khách hàng.
    • Chiết khấu theo mùa: trong hè khách hàng đăng kí được giảm 2% học phí mỗi khách hàng.

    **  Chiến lược giá phân biệt: đối với những khách hàng quen thuộc trung tâm sẽ áp dụng chính sách bớt giá : miễn phí 3 buổi học đầu tiên trong khóa học.

    *** Chiến lược giá khuyến mãi:

    Khách hàng sử dụng dịch vụ dạy học tại trung tâm có thể yêu cầu hoàn tiền trong vòng 3 buổi học đầu nếu thấy chất lượng giảng dạy không hài lòng.

    3.4, Quyết định thay giá đổi sản phẩm:

    3.4.1, Phản ứng trước sự thay đổi giá:

    Sự thay đổi giá là cần thiết trong từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm dịch vụ. Nếu ở giai đoạn phát triển giá dịch vụ tăng nhưng tới giai đoạn suy thoái dịch vụ cần giảm giá để có thể tiếp tục được khách hàng nhạy cảm với giá lựa chọn.

    3.4.2, Tăng giá:

    Nếu giá cả trung bình của thị trường tăng, trung tâm điều chỉnh tăng giá theo để có thể thu thêm lợi nhuận trong trường hợp chi phí phát sinh không thay đổi hoặc ít thay đổi.

    Chi phí phát sinh tăng đột biến cũng dấn đến việc tăng giá.

    Với những dịch vụ trung tâm đầu tư thêm những nét đặc thù khác biệt khiến dịch vụ có chất lượng tốt hơn hấp dẫn  khách hàng, trung tâm sẽ tăng giá để tạo hiệu ứng chất lượng cáo – giá cao nhằm khẳng định thương hiệu của mình.

    IV. CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI

    Phân phối là một hoạt động rất quan trọng để marketing cho sản phẩm. Nó giải quyết vấn đề hàng hóa,dịch vụ được đưa đến tay người tiêu dùng như thế nào. Các quyết định về phân phối rất phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Ngày nay thì phân phối được xem là nhân tố tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Hiểu được tầm quan trọng của nó, chúng tôi những thành viên sáng lập Trung Tâm Gia Sư Tương Lai có những hoạch định như sau:

    4.1, Hệ thống trung gian phân phối:

    4.1.1, Bán lẻ:

    Với quy mô của trung tâm chúng tôi sẽ thiết lập mối quan hệ với các trường đại học, các trường THCS,THPT; các trung tâm tư vấn du học và các trung tâm gia sư khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:  như đặt thỏa thận với các phòng công tác sinh viên và quan hệ doanh nghiệp ở các trường đại học, tạo mối quan hệ tốt đẹp đôi bên cùng có lợi với các trung tâm gia sư khác…nhằm đưa dịch vụ đến gần hơn với khách hàng. Chúng tôi sẽ đưa ra trước mức học phí và mức phí môi giới đối với sinh viên để các bên được rõ qua đó để họ có thể nắm được và đem dịch vụ đến tận tay của khách hàng, trung tâm sẽ trích hoa hồng thích hợp cho các nhà bán lẻ.

    4.1.2, Bán sỉ:

    Vì là trung tâm gia sư mang tính chất của một sản phẩm dịch vụ cho nên chúng tôi sẽ ít chú trọng đến phân phối ra các đại lí bán sỉ. Và hoạt động chúng tôi làm ở đây là tìm đến các trung tâm môi giới việc làm có uy tín để kí hợp đồng và đặt thỏa thuận về việc phân phối sản phẩm của mình. Trung tâm môi giới có thể bán lại cho các trung tâm môi giới khác để kiếm hoa hồng( nhà bán sỉ) hoặc môi giới công việc này cho các sinh viên mới ra trường chưa tìm được việc làm( nhà bán lẻ).

    Với các địa chỉ  tin cậy như ở trên đã nêu chúng tôi tự  tin rằng sản phẩm mang ý nghĩa trồng người này sẽ lan rộng ra đối với toàn thể học sinh, sinh viên và các thầy cô giáo một cách nhanh chóng nhất. Và sẽ đem lại lợi ích rất nhanh cho trung tâm.

    4.2, Kênh phân phối:

    Nhân tố giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng với đúng mức giá họ có thể mua, đúng chủng loại họ cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu.

    4.2.1, Các cấp độ kênh phân phối:

    Trung Tâm Gia sư Tương Lai
               
               
     
     
     
     

    NHÀ BÁN SỈ: các trung tâm môi giới việc làm.

               
         
           
     
    KHÁCH HÀNG

    Trung tâm chúng tôi sử dụng 3 kênh phân phối:

    +Kênh trực tiếp: trung tâm trực tiếp giao nhận công việc với các gia sư và học viên không qua các trung gian. Điều này đem đến sự an toàn và giảm chi phí cho trung tâm.

    +Kênh một cấp: có thêm người bán lẻ. Trung tâm nhượng quyền bán sản phẩm dich vụ của mình cho các nhà bán lẻ. Phương thức này tuy làm phát sinh chi phí nhưng nó lại giúp cho tên tuổi trung tâm lan truyền nhanh hơn và số học viên cũng như gia sư đến với trung tâm dễ dàng hơn.

    +Kênh 2 cấp: Có thêm nhà bán sỉ. Phương thức này trung tâm rất ít sử dụng. Bởi vì nó đem lại chi phí cao và tên tuổi công ty dễ bị tác động xấu.

    Khi sử dụng các kênh phân phối này trung tâm sẽ phân phối chon lọc tức là trung tâm bán sản phẩm của mình qua một số trung gian được chọn lọc theo những tiêu chuẩn nhất định ở mổi cấp độ phân phối.

    4.2.2, Tổ chức kênh phân phối:

    Chúng tôi sẽ tổ chức kênh phân phối liên kết dọc tức là các kênh phân phối có chương trình trọng tâm và quản lí chuyên nghiệp được thiết kế để đạt hiệu phân phối và ảnh hưởng tối đa đến thị trường. Các thành viên trong kênh có sự liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất, vì mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thị trường của cả hệ thống kênh. Việc lựa chọn kênh phân phối theo chiều dọc sẽ giúp chúng tôi kiểm soát hoạt động của kênh và chủ động ngăn ngừa, giải quyết các xung đột, đạt được hiệu quả theo quy mô trong phân phối. Ngoài ra các kênh liên kết dọc sẽ giúp chúng tôi đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu tốt hơn do có khả năng thu nhậ thông tin phản hồi trực tiếp từ thị trường.

    Bên cạnh đó chúng tôi sẽ phát triển thêm kênh phân phối theo chiều ngang tức là liên kết với các tổ chức khác để theo đuổi một cơ hội tiếp thị mới. Ở khía cạnh trung tâm sẽ bắt tay với công ty du lịch Vietravel để tặng thưởng những chuyến du lịch ngắn ngày dành cho học viên đạt điểm cao trong kì thi đại học hoặc là liên kết với các trung tâm rèn luyện về kĩ năng mềm để thường xuyên mời các diễn giả về trung tâm thuyết giảng.

    Với 2 cách tổ chức phân phối này chúng tôi tin chắc rằng những thông tin của trung tâm sẽ đến với học sinh, sinh viên một cách nhanh nhanh chóng nhất.

    4.3, Các quyết định về kênh phân phối:

    4.3.1,  Thiết kế kênh phân phối:

    Phân tích nhu cầu của người tiêu dùng: trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay việc học hành của con em được các bậc phụ huynh đưa lên hàng đầu. Học ở lớp thôi là chưa đủ bởi trong một khoảng thời gian hạn hẹp giáo viên không thể truyền dạy được hết tất cả các kiến thức chứ chưa kể đến kĩ năng là bài cho học sinh. Chính vì vậy học thêm được xem là giải pháp tối ưu nhất để có thể học tập tốt được. Hiểu được điều này chúng tôi đã đưa ra kế hoạch xây dựng một trung tâm gia sư lấy chất lượng tốt làm trọng yếu. Và việc giao hàng càng nhanh, chủng loại sản phẩm càng đa dạng, dịch vụ kèm theo càng phong phú thì tầng dịch vụ phân phối của kênh càng xuất sắc.

    Xác định những mục tiêu và rằng buộc của kênh: Mục tiêu của kênh phân phối sẽ là hướng đến thị trường các đối tượng học sinh trên địa bàn Đà Nẵng và hướng đến mức độ phục vụ một cách tốt nhất (đảm bảo nguồn gia sư chất lượng cao).

    Các ràng buộc sẽ đến từ các nhân tố như người khách hàng mục tiêu, sản phẩm, cạnh tranh, môi trường, trung tâm, trung gian.

    + Khách hàng mục tiêu: đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh.Những yếu tố quan trọng cần xem xét về đặc điểm của khách hàng là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi khách hàng. Chúng tôi sẽ bố trí kênh càng dài ở những nơi phân tán về địa lí khách hàng( như muốn tìm kiếm khách hàng ở Hòa Khánh…); mật độ khách hàng trên đơn vị diện tích càng cao càng nên sử dụng kênh phân phối trực tiếp( ở gần trụ sở của trung tâm).

    +Sản phẩm: Với đặc tính của sản phẩm là dịch vụ gia sư thì kênh phân phối nên là bán trực tiếp.

    +Trung gian thương mại: Cần phải xem xét kĩ các điểm mạnh điểm yếu của các trung gian trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ. Để trung tâm có thể lựa chọn trung gian thich hợp cho kênh phân phối của mình( các trung tâm tư vấn du học…)

    +Đối thủ cạnh tranh: Trung tâm cần phải lựa chọn kênh phân phối có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Nhìn chung cạnh tranh càng mạnh thì trung tâm càng cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.

    +Bản thân trung tâm: Quy mô của trung tâm sẽ quyết đinh thị trường và khả năng của doanh nghiệp tìm được các trung gian thương mại thích hợp.( chúng tôi xây dựng một trung tâm với quy mô khá lớn vì thế thị trường sẽ khá rộng và các trung gian thương mại tương đối nhiều trên địa bàn Đà Nẵng)

    +Môi trường: Khi thiết kế kênh phân phối cần phải quan tâm đến vấn đè môi trường như  kinh tế, pháp lí…(thời điểm này kinh tế đang trên đà phục hồi trung tâm trung tâm sẽ chú trọng các kênh ngắn để bỏ bớt các dịch vụ không cần thiết nhằm giảm giá bán sản phẩm.

    Xác định những lựa chọn chủ yếu: Những nhân tố được đề cập ở đây là hình thức và cấp số kênh, kiểu trung gian, số lượng trung gian. Những nhân tố này đã được chúng tôi trình bày rất kĩ ở trên.

    Đánh giá lựa chọn kênh chính: Trung tâm xác định kênh chính trong phân phối sản phẩm sẽ là kênh trực tiếp. Bởi các lí do sau:

    + Tiêu chuẩn kinh tế: phương thức này cho chí phí rất thấp qua đó đem lại lợi nhuân lớn hơn cho trung tâm.

    +Tiêu chuẩn kiểm soát: phương thức này sẽ giúp trung tâm kiểm soat được một cách chặt chẽ quá trình cung ứng.

    +Tiêu chuẩn thích nghi: thích nghi tốt trong môi trường hiện nay.

    4.3.2, Quản trị kênh phân phối:

    Sau khi kênh phân phối đã được lựa chọn, vấn đề quan trọng là phải quản lí điều hành hoạt động của chúng.

    + Tuyển chọn: Trung tâm sẽ lựa chọn nhưng trung gian có thâm niên và làm ăn có uy tín trên thị trường

    +Kích thích: Các thành viên trong kênh phải thường xuyên được khuyến khích để làm việc tốt nhất. Trước hết, trung tâm sẽ phải tìm hiểu nhu cầu và các mong muốn của các thành viên trong kênh và sẽ cố gắng đáp ứng nó nếu có thể. Trung tâm sẽ sư dụng các phương pháp để khuyến khích thành viên kênh hoạt động như: hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên và xây dựng chương trình phân phối.

    +Đánh giá: Trung tâm phải định kì đánh giá hoạt động của các thành viên kênh theo những tiêu chuẩn như: mức mô giới thành công cho trung tâm, mức độ hợp tác trong các chương trình quảng cáo và huấn luyện gia sư cũng như học viên.

    Như đã trình bày rất cụ thể ở trên về cách phân phối sản phẩm của trung tâm chúng tôi rất hi vọng sẽ chiếm được cảm tình của khách hàng và đưa đến sự thành công của trung tâm. Để trung tâm có thể tiệp tục và duy trì lâu dài sự nghiệp trồng người cho đất nước.

    V. CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG

    5.1 Tiến trình truyền thông cổ động:

    5.1.1,  Định dạng đối tượng:

    Định dạng khán giả mục tiêu

    • Khách hàng hiện tại: là khách hàng đang sử dụng dịch vụ của trung tâm
    • Khách hàng mục tiêu: những khách hàng mục tiêu mà trung tâm đang muốn hướng đến.
    • Nhóm: các nhóm khách hàng có nhu cầu về dịch vụ gần giống nhau
    • Người ảnh hưởng: những khách hàng đã biết và sử dụng dịch vụ của trung tâm và có tầm ảnh hưởng đến những khách hàng khác.
    • Người ra quyết định mua: là người có quyền quyết định trong việc sử dụng dịch vụ.

    Mỗi một loại hình khán giả đều có những nét đặc điểm riêng biệt nên việc định dạng đối tượng giúp cho việc xây dựng và thực hiện truyền thông cổ động chính xác và hiệu quả hơn rất nhiều.

    5.1.2, Xác định mục tiêu truyền thông:

    Khi xây dựng một chương trình truyền thông thì  một điều không thể thiếu là doanh nghiệp sẽ phải xác định những mục tiêu truyền thông. Vì vậy nhiệm vụ truyền thông của công ty trong thời gian đến ngoài việc cần thiết phải xây dựng sự nhận biết của khách hàng tiềm năng đối với trung tâm  mà còn phải làm sao để lôi kéo cũng như kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng, đưa khách hàng đến trạng thái sẵn sang mua cao hơn. Ngoài nhiệm vụ kích thích khách hàng, truyền thông cổ động còn giúp xây dựng và củng cố hình ảnh của trung tâm và một bộ phận đối tượng khách hàng cần sự củng cố quan hệ của trung tâm với họ. Thường đối tượng khác ở đây là các khách hàng thân quen, khách hàng đang sử dụng dịch vụ của đơn vị.

    Để xác định được mục tiêu truyền thông , trung tâm cần hiểu rõ và phân thích được 6 trạng thái sẵn sàng mua hàng khác nhau của khách hàng là:

    Nhận biết -> Hiểu -> Thích -> Ưa chuộng -> Tin tưởng -> Hành động mua.

    6 trạng thái trên được rút gọn thành ba mức độ là nhận thức – cảm thụ – hành vi mua. Khách hàng không nhất thiết phải trải qua 3 giai đoạn của tiến trình từ nhận thức đến cảm thụ và hành vi, mà có thể nhảy vọt từ nhận thức sang hành vi và bỏ đi giai đoạn cảm thụ. Dựa vào tâm lý của khách hàng khi sử dụng dịch vụ du lịch chiến lược truyền thông của trung tâm sẽ bỏ qua giai đoạn cảm thụ của khách hàng mà tiến tới kích thích giai đoạn hành vi.

    5.1.3, Lựa chọn phương tiện truyền thông:

    Kênh lựa chọn: kênh truyền thông không trực tiếp (kênh truyền thông đại chúng) bao gồm những phương tiện truyền thông đại chúng để quảng bá trung tâm gia sư Tương Lai như: internet, tờ rơi,… quá trình quảng cáo thông qua internet làm mấu chốt và trong thời gian dài, còn đối với quảng cáo thông qua tờ rơi sẽ định kỳ 2 lần một tuần. Đối với internet, chúng tôi sẽ tiến hành lập một trang web riêng của trung tâm địa chỉ: https//:wwww.giasutuonglai.com.vn , để quảng bá thương hiệu đối với tất cả tầng lớp trong xã hội. Đối với quảng cáo thông qua tờ rơi, chúng tôi quyết định quảng cáo tại các địa điểm trường học, các trung tâm giáo dục,…từ đó sẽ góp phần mang đến hiệu quả truyền thông cao nhất có thể, để đem đến thông tin chính xác nhất có thể đến với từng khách hàng, các bậc phụ huynh và học sinh. Song song với đó, chúng tôi quyết định đầu tư chi phí quảng cáo thông qua việc kí hợp đồng quảng cáo trên các phương tiện báo chí, cụ thể là các báo: Công an TP Đà nẵng, báo điện tử: www.baodanang.vn ,…

    5.1.4, Lựa chọn thông điệp:

    Sau khi đã xác định được mục tiêu truyền thông công việc tiếp tiếp theo là thiết kế thông điệp truyền đạt đến cho khách hàng. Hiện nay khách hàng sử dụng dịch vụ giáo dục đa số đều quan tâm đến yếu tố chất lượng, chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với khách hàng kế đến là yếu tố thuận tiện trong quá trình sử dụng. Yếu tố giá cả tưởng chừng như đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua dịch vụ nhưng vào thời buổi hiện nay khi mà thu nhập của người dân ngày một tăng cao thì giá cả chỉ được xếp hàng thứ 3. Yếu tố thứ 4 là yếu tố Thương hiệu…  Mới nhất  và cuối cùng là Tiếp thị sản phẩm của công ty.  Vì vậy trong nội dung thông điệp truyền thông của mình trung tâm tập trung và cũng như nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng, yếu tố chất lượng phải luôn đặt lên hàng đầu sau đó là yếu tố thuận tiện dễ dàng trong quá trình sử dụng tiếp theo mới là yếu tố giá cả. Nội dung thông điệp cụ thể như sau:

    “ Trung tâm Gia sư Tương Lai – chất lượng hàng đầu, sự lựa chọn tối ưu dành cho bạn. “

    -Dịch vụ và chất lượng đảm bảo, giá cả phải chăng, đội ngũ gia sư giàu kinh nghiệm, phục vụ ân cần chu đáo. Và luôn đem lại sự thoải mái và tiện lợi nhất cho khách hàng.

    5.2,  Xác định và phân chia ngân quỹ:

    5.2.1, Xác định kinh phí:

    Để tổ chức truyền thông  mỗi doanh nghiệp cần phải có  một lượng ngân sách nhất định. Thông thường ngân sách này là một phần ngân sách dành cho hoạt động marketing. Để tăng cường cạnh tranh các trung tâm cần phải tính toán chi ra một nguồn vốn ngân sách nhất định cho việc truyền thông cổ động. Dựa vào điều kiện kinh tế trung tâm ta có cách xây dựng ngân sách hợp lí như sau:

    Xây dựng ngân sách cho truyền thông trên cơ sở khả năng điều kiện tài chính cho phép của doanh nghiệp. Phương pháp này không tính đến mục tiêu của doanh nghiệp trong tương lai: nó cho phép doanh nghiệp chủ động về tài chính để tổ chức xúc tiến cổ động  và nó thường được sử dụng trong những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng có ưu điểm là đơn giản dễ tính toán và phù hợp với điều kiện tài chính của công ty.

    Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm trên doanh số, phương pháp này định kinh phí cổ động theo theo một tỷ lệ phần trăm nhất định dựa trên doanh số thu nhập của công ty. Ngân sách cổ động thay đổi tùy theo múc độ mà công ty có thể chi tiêu được, nó sẽ làm cho các nhà quản trị hài lòng vì họ cảm thấy chi phí cổ động gắn liền gắn liền với sự thay đổi doanh số của công ty trong chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên phương pháp này xem doanh thu như là một nguyên nhân hơn là kết quả của việc cổ động, việc phụ thuộc của ngân sách cổ động vào sự biến động của doanh số mỗi năm làm cản trở việc lập kế hoạch cổ động dài hạn.

    Vì vậy, sự cần thiết kết hợp cả 2 cách thức trên sẽ là tiền đề cho công ty sẽ đề ra những mục tiêu cần đạt được qua quá trình truyền thông, nó rất hợp lý cho tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp hiện nay. Và sẽ mạng lại những hiệu quả nhất định trong kinh doanh của doanh nghiệp.

    5.2.2,  Phân chia kinh phí:

    Trong quá trình tiến hành công tác truyền thông cho trung tâm, chúng tôi quyết định chiến dịch marketing trong tháng đầu tiên như sau:

    + Chi phí in ấn tờ rơi:

    *giấy in màu: 500.000đ (5000đ x100 tờ)

    *giấy in trắng đen: 200.000đ (200đ x 1000 tờ)

    + Chi phí nhân viên phát tờ rơi: 40h x 2 nhân viên x 50.000đ/1h/1 nhân viên = 4.000.000 đ.

    +chi phí bồi dưỡng nhân viên quản trị website: 500.000đ/1 tháng/ 1 nhân viên

    +chi phí lập website: 500.000đ

    +chi phí phát sinh: 500.000đ

    +CP quảng cáo qua báo chí:

    (theo bản tham khảo giá)

    Chúng tôi quyết định chọn quảng cáo dòng nội dung với kích thước 1/16 trang, trắng đen, chi phí là: 1.300.000đ

    Tổng cộng: 6.200.000 đ

    5.3, Trình bày kế hoạch truyền thông cổ động cụ thể:

    Vì lý do các trường học trên địa bàn đều hầu hết bắt đầu học chính thức trong nửa cuối tháng 8 trở đi. Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện chiến lược trong tháng 9/2013.

    *  Giai đoạn 1: chuẩn bị cho chiến lược  từ 15/8/2013-31/08/2013

    Công việc 1: thành lập ban tổ chức, ban truyền thông, ban tài chính và ban hậu cần. ban tổ chức tiến hành giao công việc cho các ban còn lại và thiết lập nội dung cụ thể cho chương trình chính.

    Công việc 2: ban tổ chức công bố trực tiếp toàn trung tâm về chương trình.

    Công việc 3: ban truyền thông thực hiện công việc in ấn tờ rơi, lập website, …

    Công việc 4: ban hậu cần kết hợp ban tổ chức thực hiện việc ký hợp đồng với các tổ chức báo chí và xin phép được truyền tin quảng cáo cho trung tâm tại các trường học.

    Công việc 5: ban tổ chức quyết định chương trình khuyến mãi trong chương trình:

    Cụ thể: sẽ giảm giá 10% trên tất cả các suất học đăng kí trong quá trình chuyến dịch diễn ra 1/9/2013 – 30/09/2013.

    **  Giai đoạn 2: thực hiện chiến lược chương trình chính: từ 1/9/2013 đến 30/09/2013

    Các ban trong chương trình kết hợp nhân viên phát tờ rơi thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Với những chính sách về thâm nhập thị trường, chính sách về sản phẩm, giá cả, chính sách phân phối cũng như truyền thông cổ động của Trung tâm chúng tôi, nhất định trong tương lai Trung tâm Gia sư Tương Lai sẽ là thương hiệu được nhắc đến hàng đầu trong lĩnh vực môi giới gia sư và đào tạo ôn thi Đại học, Cao đẳng.

    Hãy đến với chúng tôi, nơi có chất lượng phục vụ tốt nhất, nơi uy tín nhất và phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất sẽ làm hài lòng tất cả các bạn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-TPP-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-M%E1%BB%B9-trong-TPP-v%C3%A0-l%E1%BB%A3i-%C3%ADch-c%E1%BB%A7a-TPP-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ng%C3%A0nh-Logistics-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Từ cuối thập kỉ 90 cho đến nay, ở hầu hết các châu lục, hàng loạt các liên minh kinh tế khu vực hoặc liên khu vực dưới dạng khu vực thương mại tự do, liên minh về thuế quan, … đã ra đời khiến việc thành lập các liên kết kinh tế trong khu vực và liên kết giữa nhiều khu vực trở thành một trong các đặc điểm của kinh tế thế giới hiện nay. Hơn nữa, khi mà xu thế quốc tế hóa kinh tế toàn cầu ngày một gia tăng thì chính phủ các nước sử dụng phương pháp ký kết các điều ước và hiệp định mậu dịch để thực hiện mục tiêu của mình trong thương mại quốc tế. Không ai có thể phủ nhận lợi ích to lớn mà các liên kết kinh tế, điều ước hay hiệp định mậu dịch mang lại cho nền kinh tế của quốc gia. Trong thời gian qua, Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (hay còn được gọi là TPP) chính là một trong nhiều vấn đề “nóng hổi” của kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới.

    Chính vì vậy mà em đã chọn lựa đề tài này cho Bài Tập Lớn Môn Logistics Toàn Cầu của mình. Đề tài có 3 chương:

    Chương 1: Cơ sở lý thuyết của các hiệp định thương mại tự do.

    Chương 2: Giới thiệu về TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam.

    Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp.

    Em xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam và Cô Trần Thị Minh Trang – giảng viên trực tiếp hướng dẫn học phần Logistics Toàn Cầu đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.

    Tuy nhiên, do bản thân vẫn còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tế, bài viết của em sẽ không tránh khỏi những sai sót về cả hình thức và nội dung. Em mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp và chỉ bảo của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO.

     

     

    Kể từ cuối thập kỉ 90, nhất là sau khi Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) được ra đời năm 1995, xu hướng các quốc gia trên thế giới ký kết các hiệp định mậu dịch đã có rất nhiều bước phát triển mới cũng như đã có những thay đổi không hề nhỏ về chất. Những dấu hiệu đáng chú ý của trào lưu này là số lượng các hiệp định mậu dịch được ký kết trên thế giới đã tăng vô cùng mạnh kể từ sau năm 1995.

    Ngày nay, khi mà xu thế quốc tế hóa kinh tế trên toàn cầu gia tăng thì để thực hiện các mục tiêu của trong thương mại quốc tế, chính phủ các nước sử dụng hình thức ký kết các điều ước và hiệp định mậu dịch. Một minh chứng cụ thể là chỉ tính đến năm 2002, trên toàn thế giới có khoảng 168 hiệp định mậu dịch được ký kết với quá nửa số đó là ra đời sau năm 1995. Phần lớn các quốc gia có kinh tế tương đối phát triển đều chủ động tham gia vào hoạt động ký kết các hiệp định mậu dịch (hoặc bị lôi kéo tham gia), kể cả những nước mà từ trước tới nay không mấy mặn mà với các hiệp định về thương mại tự do như Trung Quốc và Hàn Quốc.

    1.1.          Hiệp định mậu dịch (hiệp định thương mại tự do).

    1.1.1. Hiệp ước mậu dịch.

    1.1.1.1 Khái niệm.

    Hiệp ước mậu dịch là văn bản được ký kết giữa hai hay nhiều nước có chủ quyền, bao gồm quy định về các quan hệ kinh tế lẫn nhau của các pháp nhân, công dân của các bên tham gia. Nó thể hiện các nguyên tắc cơ bản, phạm vi pháp lý chung. Trên cơ sở đó, các hiệp định kinh tế và mậu dịch ở mức độ thấp hơn được ký kết. (Bài giảng Quan hệ Kinh tế thế giới, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, 2014, trang 40)

    1.1.1.2 Đặc trưng.

    Hiệp ước mậu dịch có các đặc trưng sau đây:

    • Được ký kết ở mức cao nhất:

    Hiệp định mậu dịch phải do người đứng đầu nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn và Quốc hội phải thông qua mới được gọi là có hiệu lực.

    • Có tính chất chung:

    Tức là, không chỉ đề cập đến các quan hệ buôn bán mà còn đến nhiều lĩnh vực quan hệ kinh tế như vận tải, địa vị pháp lý của các pháp nhân và công dân của các bên ký hiệp ước.

    • Có tính chất giới hạn:

    Tức là chỉ xác định những nguyên tắc đối xử lẫn nhau của các bên tham gia.

    • Thời hạn và hiệu lực dài, hiệu lực có thể kéo dài một cách tự động.

    1.1.2. Hiệp định mậu dịch.

    1.1.2.1 Khái niệm.

    • Hiệp định mậu dịch là một văn bản đã ký kết giữa hai nước hoặc nhiều nước nhằm cụ thể hóa những biện pháp thực hiện các hiệp ước mậu dịch mà chính phủ các bên đã ký kết. (Bài giảng Quan hệ Kinh tế thế giới, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, 2014, trang 41)
    • Hiệp định thương mại tự do (FTA) là hiệp định song phương hoặc đa phương (tức là được ký kết giữa 2 nước hoặc giữa nhiều nước) trong đó các nước tham gia ký kết thỏa thuận dành cho nhau những ưu đãi về việc loại bỏ các hàng rào thương mại kể cả thuế quan và phi thuế quan, song mỗi quốc gia thành viên vẫn được tự do quyết định những chính sách thương mại riêng và độc lập của mình đối với các nước không phải là thành viên của hiệp định. (Website của Tạp chí Cộng Sản, 2009)

    Dù là được ký kết giữa hai nước hay nhiều nước thì hiệp định mậu dịch vẫn  đem lại những lợi ích vô cùng to lớn cho nước thành viên trong việc thúc đẩy các hoạt động thương mại và tận dụng được lợi thế so sánh của mình cũng như của đối tác. Hơn nữa, do có phạm vi sâu rộng, hiệp định mậu dịch còn giúp xúc tiến sự tự do hóa trong đầu tư, chuyển giao dây chuyền công nghệ, nâng cao hiệu suất làm các thủ tục hải quan cùng với nhiều dịch vụ khác.

    1.1.2.2 Đặc điểm.

    Đặc điểm của hiệp định mậu dịch:

    • Do các cơ quan nhà nước ký không cần quốc hội phê chuẩn.
    • Trong hiệp định thỏa thuận về các vấn đề rất cụ thể liên quan đến kinh tế và quan hệ mậu dịch giữa các bên. Ví dụ: số tiền viện trợ; hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm; điều kiện thanh toán; …
    • Nó xác định nguyên tắc buôn bán giữa các bên nếu hiệp định được ký mà chưa ký hiệp ước mậu dịch giữa chính phủ các bên tham gia.
    • Thời gian hiệu lực của hiệp định thường ngắn (từ 2 đến 3 năm).

    Các nước trên thế giới thường ký hiệp ước và hiệp định mậu dịch cùng với các biện pháp khác để thực hiện các mục tiêu trong chính sách ngoại thương đặt ra cho mỗi nước. Có nhiều vấn đề mà từ xưa tới nay chưa từng xuất hiện trong các hiệp định mậu dịch thì nay đã xuất hiện như: đầu tư; sức lao động; trợ cấp; mua sắm và tiêu dùng từ Chính phủ; môi trường; …

    Để tránh bị các nước khác phân biệt đối xử hay để giữ vị thế và địa vị của mình, một nước rất có thể buộc phải ký kết và tham gia vào một (hay nhiều) hiệp định mậu dịch với một (hay nhiều) quốc gia khác, ngay cả khi nước đó chưa hoàn toàn sẵn sàng.

    Mục đích của Việt Nam khi đàm phán ký kết các hiệp định mậu dịch cũng tương tự như các quốc gia khác đó là tăng cường hoạt động xuất khẩu, tạo ra sự hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài, nâng cao địa vị và xây dựng hình ảnh của đất nước đối với quốc tế. Hiệp định mậu dịch còn có các tác dụng khác như tăng sức ép nhằm đổi mới và nâng cao khả năng cạnh tranh.

    1.2.          Ví dụ về một hiệp định mậu dịch mà Việt Nam đã ký kết.

    1.2.1.   Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (Việt – Mỹ).

    Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết vào ngày 13/7/2000 là một nấc thang quan trọng trong công cuộc bình thường hóa và phát triển quan hệ kinh tế – thương mại của Việt Nam và Hoa Kỳ, là tiền đề cho việc thúc đẩy tiến trình Việt Nam tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế đa phương và hội nhập kinh tế thế giới.

    • Nội dung của hiệp định.

    Hiệp định thương mại Việt – Mỹ bao gồm 4 nội dung chính:

    • Chương 1: Thương mại hàng hóa.

    Chương này bao gồm 9 điều nói về nguyên tắc đối xử quốc gia; nguyên tắc tối huệ quốc; những nghĩa vụ chung của thương mại; thúc đẩy và mở rộng thương mại; văn phòng thương mại chính phủ; hành động được coi là khẩn cấp đối với nhập khẩu; tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân trong thương mại; thương mại nhà nước và các định nghĩa chung về công ty, xí nghiệp.

    Những nội dung chính của chương thương mại hàng hóa là:

    • Ngay lập tức và không điều kiện, các doanh nghiệp của Việt Nam được quyền tổ chức và phân phối hàng hóa vào thị trường Mỹ; hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam đưa sang Mỹ sẽ được hưởng ưu đãi theo nguyên tắc tối huệ quốc.
    • Chính phủ Việt Nam cam kết tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho mọi doanh nghiệp tới từ các thành phần kinh tế được quyền tự do trong hoạt động kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu.
    • Theo lộ trình, Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ bãi bỏ các rào cản phi thuế quan đã và đang gây ra trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu như hạn ngạch, giấy phép, …
    • Nhà nước ta sẽ áp dụng các phương pháp, cách thức nhằm giảm bớt sự độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thuộc khu vực thương mại nhà. Trừ các doanh nghiệp của nhà nước hoạt động trong một số ngành phi lợi nhuận, các doanh nghiệp nhà nước khác phải tiến hành mọi hoạt động theo cơ chế thị trường.
    • Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ.

    Đây là hiệp định mậu dịch song phương đầu tiên mà Việt Nam đưa quyền sở hữu trí tuệ trở thành một chương riêng với 18 điều khoản giải thích và qui định về các định nghĩa chung; nguyên tắc đối xử quốc gia; quyền tác giả, gồm cả cho tác phẩm viết, phần mềm máy tính, bộ sưu tập nguồn dữ liệu, băng ghi âm và ghi hình; các tín hiệu được truyền dẫn qua vệ tinh; nhãn hiệu của hàng hóa; quyền sáng chế; thiết kế bố trí trong mạch tích hợp; bí mật thương mại; kiểu dáng trong công nghiệp; thực thi các quyền sở hữu trí tuệ, … Trong hiệp định này có tám đối tượng được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là: quyền tác giả; những tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được con người mã hóa; nhãn hiệu của hàng hóa; quyền sáng chế; thiết kế các mạch tích hợp; thông tin bí mật thương mại; kiểu dáng trong công nghiệp; các loại giống thực vật.

    • Chương 3: Thương mại điện tử.

    Đây là hiệp định mậu dịch song phương mà Việt Nam đưa riêng chương trình thương mại dịch vụ một cách độc lập; có thể nói đó là lần đầu tiên trong một hiệp định mậu dịch song phương mà nước ta đã ký kết với các nước có qui định về thương mại và dịch vụ thành một chương riêng. Chương thương mại và dịch vụ của hiệp định chứa đựng 11 điều là  phạm vi, định nghĩa của thương mại dịch vụ; đối xử tối huệ quốc; vấn đề hội nhập trong kinh tế; pháp luật của quốc gia; độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền; tiếp cận thị trường; nguyên tắc đối xử quốc gia; các thỏa thuận bổ sung; lộ trình cụ thể; vấn đề khước từ lợi ích; định nghĩa kèm 2 phụ lục F và G để giải thích cũng như cụ thể hóa thương mại nội địa dịch vụ giữa 2 nước.

    Nội dung chính của chương này là ngay lập tức và không điều kiện, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thực hiện việc kinh doanh các loại hình dịch vụ ở thị trường Mỹ; theo lộ trình được nhắc tới trong phụ lục G, chính phủ Việt Nam sẽ mở cửa thị trường về dịch vụ của mình cho các công dân và công ty đến từ Hoa Kỳ hoạt động trên nguyên tắc đãi ngộ dân tộc và nguyên tắc tối huệ quốc.

    • Chương 4: Phát triển mối quan hệ đầu tư.

    Chương này bao gồm 15 điều quy định về các định nghĩa; nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc; giải quyết các tranh chấp phát sinh; tính minh bạch; chuyển giao quy trình công nghệ; nhập cảnh, tạm trú của lao động nước ngoài; tuyển dụng người lao động nước ngoài; bảo đảm các quyền; tước quyền sở hữu; bồi thường các thiệt hại gây ra bởi chiến tranh; các biện pháp trong đầu tư thương mại; việc áp dụng vấn đề này đối với các doanh nghiệp của nhà nước; đàm phán về các Hiệp định đầu tư song phương khác trong tương lai; việc áp dụng đối với các khoản đầu tư theo Hiệp định này và từ chối lợi ích. Ngoài ra, mối quan hệ về đầu tư còn được nhắc tới trong phụ lục H; thư trao đổi giữa đại diện của hai bên tham gia ký kết hiệp định thương mại về cấp giấy phép đầu tư và ở điều 1, điều 4 của chương 7 trong hiệp định.

    • Lợi ích và khó khăn cuả Việt Nam khi ký kết hiệp định.
    • Thuận lợi:
    • Phát triển mối quan hệ thương mại với Mỹ theo hướng tăng cường xuất khẩu.
    • Việt Nam có thể tăng trưởng kinh tế thông qua tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ do được hưởng nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc ngang bằng quốc gia.
    • Khuyến khích sự cạnh tranh và hoạt động cải cách trong nước; hiện đại hóa; xây dựng hệ thống tài chính vững mạnh và hiệu quả; chuẩn hóa công tác kế toán.
    • Được tiếp cận nguồn đầu tư lớn và khoa học công nghệ hiện đại.
    • Các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển sẽ tạo ra khối lượng việc làm lớn hơn.
    • Người lao động sẽ được tiếp xúc với công nghệ mới và hiện đại; phương thức quản lý được cải thiện; có nhiều cơ hội hơn để phát triển công việc của mình và học tập nhiều kinh nghiệm từ chuyên gia nước ngoài.
    • Thu hút đầu tư nước ngoài.
    • Nâng cao chất lượng của cuộc sống cho nhân dân.
    • Là tiền đề cho việc thúc đẩy tiến trình gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế của Việt Nam.
    • Giúp Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới.
    • Khó khăn:
    • Các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ đầu tư ồ ạt vào nước ta nhưng lại không chú trọng đến việc bảo vệ môi trường gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở một vài khu công nghiệp hoặc nhà máy.
    • Các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn hạn chế về rất nhiều mặt cũng như vốn ít nên gặp phải không ít khó khăn khi bị bắt buộc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ.
      • Lợi ích của Mỹ.
    • Việt Nam ta có vị trí về địa lý vô cùng thuận lợi tạo ra nhiều khả năng để phát triển các hoạt động như tạm nhập tái xuất hay chuyển khẩu hàng hóa sang các khu vực lân cận nên sẽ giúp Mỹ dễ dàng và thuận tiên hơn trong việc mở rộng mối quan hệ hợp tác với các quốc gia khác. Hơn nữa, hợp tác với nước ta cũng là một bước quan trọng để Mỹ xây dựng vị thế cuả mình trong khu vực.
    • Việt Nam có nguồn lao động trẻ, dồi dào, giá nhân công lại rẻ mà bản chất cần cù, chịu khó mặc dù còn hạn chế về trình độ, kinh nghiệm.

    CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH TPP; VAI TRÒ CUẢ MỸ TRONG TPP VÀ LỢI ÍCH CỦA TPP ĐỐI VỚI NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM.

     

    2.1 Giới thiệu chung về TPP.

    2.1.1 Định nghĩa TPP.

     

    Hình 2.1: TPP.

                                                                                     Nguồn: Internet.

    Theo website của Đời sống Pháp luật, TPP, viết tắt của từ Trans Pacific Partnership hay đầy đủ hơn là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Ngọc Anh, 2015).

    Theo Trung tâm WTO của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương (Phạm Tú, 7/12/2010).

    2.1.2 Các thành viên của TPP.

     

    Thành viên của TPP bao gồm 12 quốc gia là: Hoa Kỳ, Austraylia, Nhật Bản, Bru-nây, Mê-xi-cô, Canada, Malaysia, Singapore, Chi-lê, Việt Nam, Peru, New Zealand.

    Ngoài ra, một số nước và vùng lãnh thổ khác như: Hàn Quốc, Colombia, Đài Loan, Phi-líp-pin, Thái Lan, … cũng đã bày tỏ mối quan tâm và ý muốn tham gia TPP.

    Hình 2.2: Các quốc gia thành viên của TPP.

                                                                                                                          Nguồn: Internet.

     

    2.1.3 Lịch sử hình thành của TPP.

     

    Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết từ ngày 3/6/2005; có hiệu lực kể từ 28/5/2006 với 4 nước ban đầu là Bru-nây, Chile, Singapore, New Zealand. Vì vậy, ban đầu Hiệp định này được gọi là TPP4.

    Đến tháng 9/2008, Mỹ bày tỏ ý muốn đàm phán để gia nhập TPP. Hai tháng sau đó, ba quốc gia là Việt Nam, Austraylia, Peru cũng bày tỏ ý muốn tương tự. Tháng 10 năm 2010, Malaysia bày tỏ ý muốn tham gia TPP.

    Từ tháng 3 năm 2010, các nước thành viên đã tổ chức nhiều cuộc đàm phán cấp cao, đàm phán giữa kỳ và cả các cuộc đàm phán có quy mô nhỏ hơn. Đến tháng 11/2010, Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia vào hiệp định này với tư cách cuả một thành viên đầy đủ.

    Ngày 5/10/2015, 12 nước thành viên đã chính thức hoàn tất đàm phán TPP tại Atlanta.

    2.1.4 Mục đích của TPP.

    Ngay từ Chương 0: Chương Mở đầu trong Toàn văn nội dung Hiệp định TPP, các bên tham gia ký kết hiệp định đã đề cập đến mục đích của nó, bao gồm:

    • Thành lập hiệp định mậu dịch khu vực mang tính toàn diện, phục vụ cho việc thúc đẩy hội nhập kinh tế nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư, đem lại sự tăng trưởng cho nền kinh tế và lợi ích cho xã hội, tạo ra nhiều cơ hội mới cho người lao động và doanh nghiệp, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, quan tâm hơn đến những lợi ích của người tiêu dùng, giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
    • Thắt chặt mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Nhà nước, Chính phủ và nhân dân của các quốc gia tham gia vào hiệp định.
    • Xây dựng dựa vào quyền, nghĩa vụ tương ứng theo Hiệp định Marrakesh về thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế.
    • Thừa nhận những sự khác biệt về mức độ đa dạng của các nền kinh tế.
    • Củng cố khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước mình trên thị trường thế giới và tăng cường năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế bằng biện pháp tạo ra các cơ hội cho doanh nghiệp, bao gồm cả việc thúc đẩy phát triển và tăng cường các chuỗi cung ứng trong khu vực.
    • Hỗ trợ tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách tăng cường khả năng của doanh nghiệp trong việc tham gia và được hưởng lợi từ các cơ hội mà TPP đem lại.
    • Thành lập khuôn khổ pháp lý và thương mại để có thể dự đoán cho thương mại và đầu tư trên nguyên tắc tất cả các bên đều có lợi.
    • Tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của khu vực bằng cách khuyến khích các nền kinh tế áp dụng các quy trình, thủ tục hải quan hiệu quả và minh bạch nhằm tiết kiệm hơn về chi phí và đảm bảo khả năng dự báo cho nhà xuất nhập khẩu của các quốc gia.
    • Thừa nhận quyền điều chỉnh, giải quyết sẵn có của các nước để bảo đảm sự linh hoạt của các bên tham gia hiệp định nhằm hình thành các ưu tiên về quy phạm pháp luật, giữ gìn lợi ích của cộng đồng và bảo vệ các mục tiêu của phúc lợi công cộng hợp pháp, ví dụ như y tế công cộng, môi trường, tài nguyên thiên nhiên có khả năng bị cạn kiệt, sự toàn vẹn cũng như ổn định trong hệ thống tài chính kinh tế cùng với đạo đức trong xã hội.
    • Công nhận quyền duy trì, tiếp tục áp dụng hoặc sửa chữa và thay đổi hệ thống chăm sóc cho sức khỏe của các thành viên.
    • Khẳng định doanh nghiệp nhà nước cũng có thể đóng vai trò hợp pháp trong đa dạng kinh tế của các thành viên, công nhận rằng việc cung cấp các lợi thế không công bằng và minh bạch cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ làm suy yếu hoạt động thương mại và đầu tư, thiết lập nguyên tắc cho các doanh nghiệp nhà nước nhằm xây dựng nên một sân chơi hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân.
    • Thúc đẩy vấn đề bảo vệ môi trường thông qua thực hiện có hiệu quả pháp luật môi trường, đẩy mạnh mục tiêu của vấn đề phát triển bền vững thông qua hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại và các chính sách, hoạt động của môi trường.
    • Bảo vệ và thực hiện quyền lợi cuả người lao động, nâng cao chất lượng của điều kiện lao động và mức sống, tăng cường hợp tác về những vấn đề trong lao động.
    • Thúc đẩy minh bạch, quản trị và pháp quyền của pháp luật, loại bỏ hiện tượng tham nhũng, hối lộ trong đầu tư và thương mại.
    • Thừa nhận công việc quan trọng mà cơ quan của các nước thành viên đang thực hiện nhằm tăng cường và cải thiện hợp tác vĩ mô.
    • Thừa nhận sự quan trọng của khác biệt văn hóa giữa các thành viên, công nhận đầu tư và thương mại có thể tạo ra các cơ hội để làm đa dạng hơn văn hóa trong nước mà vẫn giữ gìn được bản sắc của văn hóa nước mình.
    • Đóng góp cho những phát triển của thương mại thế giới, kích thích hợp tác khu vực và thế giới rộng hơn.
    • Thiết lập cơ sở giải quyết những vấn đề về đầu tư và thương mại trong tương lai.
    • Mở rộng các quan hệ đối tác bằng cách khuyến khích việc tham gia của các nước và vùng lãnh thổ khác nhằm nâng cao hơn nữa sự hội nhập kinh tế khu vực, thiết lập nền tảng của một Khu vực thương mại tự do Châu Á – Thái Bình Dương.

    2.1.5. Nội dung của TPP.

    Toàn văn nội dung của Hiệp định TPP gồm 31 chương trong đó Chương 0 là Chương mở đầu đề cập tới mục đích của TPP, Chương 30 là Chương các điều khoản thi hành của TPP còn 29 chương còn lại là nội dung thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên về các vấn đề, lĩnh vực hợp tác.

    • Chương 1: Quy định và định nghĩa chung. Chương này gồm ba điều và một phụ lục đề cập tới mục tiêu lớn nhất là thiết lập một khu vực thương mại tự do theo đúng với các quy định của Hiệp định theo Điều XXIV của GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, trong Phụ lục 1A của Hiệp định WTO) 1994 và Điều V của GATS (Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ, trong Phụ lục 1B của Hiệp định WTO); mối quan hệ của TPP với các hiệp định khác mà các nước thành viên đã ký kết và định nghĩa chung của các thuật ngữ, khái niệm xuất hiện trong hiệp định.
    • Chương 2: Việc tiếp cận thị trường và nguyên tắc đối xử quốc gia. Gồm 34 điều trong đó Điều khoản 2.1 và 2.2 là định nghĩa của các thuật ngữ như: giao dịch lãnh sự, ấn phẩm quảng cáo, … cùng với phạm vi áp dụng. Điều 2.3 quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia. Các điều từ 2.4 đến 2.20 đề cập đến việc mở cửa thị trường hàng hóa với những quy định về xóa bỏ thuế quan, tạm nhập hàng hóa, hàng tái sản xuất, …. Điều khoản từ 2.21 đến 2.29 là những quy định cho ngành nông nghiệp như trợ cấp xuất khẩu nông sản, an ninh lương thực, …. Điều khoản từ 2.30 đến 2.34 là quản lý hạn ngạch thuế quan.
    • Chương 3: Quy tắc và thủ tục về xuất xứ. Bao gồm 32 điều và ba phụ lục trong đó 18 điều khoản đầu tiên (từ 3.1 đến 3.18) là các quy tắc xuất xứ hàng hóa như hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, …. 13 điều khoản tiếp theo (từ 3.19 đến 3.31) là quy định về thủ tục xuất xứ hàng hóa. Điều 3.32 là Uỷ ban về Quy tắc xuất xứ và thủ tục xuất xứ. Ba phụ lục đề cập tới các thỏa thuận khác, yêu cầu dữ liệu tối thiểu và các trường hợp ngoại lệ của Điều 3.11: Hàm lượng không đáng kể.
    • Chương 4: Dệt may. Bao gồm 9 điều, quy định về các vấn đề đối với hàng dệt may như: hợp tác, giám sát, xác minh, bảo mật, Uỷ ban về Hàng dệt may, ….
    • Chương 5: Tạo thuận lợi trong thương mại và quản lý hải quan. Bao gồm 12 điều, thỏa thuận về quản lý hải quan, tạo thuận lợi trong thưowng mại như: phối hợp về hải quan, phán quyết trước, tự động hóa, ….
    • Chương 6: Phòng vệ thương mại. Bao gồm 9 điều, trong đó từ 6.1 đến 6.7 là các biện pháp tự vệ như biện pháp tự vệ toàn cầu, biện pháp tự vệ chuyển tiếp, … và từ 6.8 đến 6.9 là thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp.
    • Chương 7: Biện pháp kiểm dịch và vệ sinh. Bao gồm 18 điều, quy định về biện pháp kiểm dịch và vệ sinh như các cơ quan có thẩm quyền, phân tích rủi ro và khoa học, kiểm tra, ….
    • Chương 8: Rào cản kỹ thuật của thương mại. Gồm 12 điều, quy định về các vấn đề thuộc rào cản kỹ thuật của thương mại như mục tiêu, đánh giá hợp quy, quy chuẩn kỹ thuật, ….
    • Chương 9: Đầu tư. Bao gồm 29 điều, đề cập đến các nội dung của đầu tư như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, hoạt động chuyển nhượng, các biện pháp không tương thích, ….
    • Chương 10: Thương mại dịch vụ xuyên biên giới. Bao gồm 13 điều, quy định về thương mại dịch vụ xuyên biên giới như xâm nhập thị trường, quy định trong nước, ….
    • Chương 11: Dịch vụ tài chính. Bao gồm 22 điều, đề cập tới các vấn đề như dịch vụ tài chính mới, xâm nhập thị trường của các tổ chức tài chính, ….
    • Chương 12: Nhập cảnh tạm thời đối với doanh nhân. Bao gồm 10 điều khoản quy định về thủ tục xin phép nhập cảnh, đi lại công tác, cung cấp thông tin, ….
    • Chương 13: Viễn thông. Gồm 26 điều quy định các vấn đề như chuyển vùng quốc tế, bảo vệ tính cạnh tranh, bán lại, kết nối với nhà cung cấp chính, ….
    • Chương 14: Thương mại điện tử. Bao gồm 18 điều giải quyết các vấn đề như mã nguồn, hợp tác, tin nhắn thương mại điện tử, ….
    • Chương 15: Mua sắm công. Bao gồm 11 điều đề cập tới các vấn đề như năng lực nhà cung cấp, đấu thầu hạn chế, thông tin mua sắm, ….
    • Chương 16: Chính sách cạnh tranh. Bao gồm 9 điều quy định về các vấn đề: hợp tác, hợp tác kỹ thuật, bảo vệ khách hàng, ….
    • Chương 17: Các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị độc quyền. Bao gồm 15 điều quy định về các vấn đề: thẩm quyền được giao phó; tòa án cùng các cơ quan hành chính; trợ giúp phi thương mại; ….
    • Chương 18: Sở hữu trí tuệ. Bao gồm 83 điều quy định về các vấn đề: hợp tác, nhãn hiệu, tên nước, chỉ dẫn địa lý, ….
    • Chương 19: Lao động. Gồm 15 điều giải quyết các vấn đề: hội đồng lao động, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, hợp tác, ….
    • Chương 20: Môi trường. Bao gồm 23 điều khoản quy định về các vấn đề như: hàng hóa và dịch vụ về môi trường; bảo tồn và thương mại; khai thác thủy sản biển; các loài ngoại lai xâm hại; ….
    • Chương 21: Hợp tác và nâng cao năng lực. Gồm 6 điều thỏa thuận về các vấn đề: nguồn lực; lĩnh vực hợp tác và nâng cao năng lực; ….
    • Chương 22: Tạo thuận lợi cho kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Bao gồm 5 điều đề cập về Uỷ ban về năng lực cạnh tranh và tạo thuận lợi cho kinh doanh; chuỗi cung ứng; sự gắn kết với những người quan tâm; ….
    • Chương 23: Phát triển. Gồm 9 điều quy định về một số vấn đề như: khuyến khích phát triển; tăng trưởng kinh tế trên diện rộng; phụ nữ và tăng trưởng kinh tế; ….
    • Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bao gồm 3 điều là: chia sẻ thông tin; Uỷ ban về doanh nghiệp vừa và nhỏ; miễn áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp.
    • Chương 25: Sự đồng nhất trong quản lý. Gồm 11 điều quy định về các vấn đề như: qúa trình, cơ chế điều phối và đánh giá; quy chế thực hành quản lý tốt; Uỷ ban về sự đồng nhất trong quản lý; ….
    • Chương 26: Chống tham nhũng và sự minh bạch. Bao gồm 12 điều thoả thuận về các vấn đề: Luật phòng chống tham nhũng, tăng cường tính liêm chính trong công chức; các biện pháp chống tham nhũng; ….
    • Chương 27: Quy định hành chính và thể chế. Gồm 7 điều quy định về các vấn đề: Uỷ ban Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Uỷ ban TPP); quy tắc về thủ tục của Uỷ ban; đầu mối liên lạc; ….
    • Chương 28: Giải quyết các tranh chấp. Bao gồm 22 điều khoản về giải quyết tranh chấp như lựa chọn tòa án tư pháp; trung gian hòa giải; … và thủ tục tố tụng trong nước; giải quyết tranh chấp thương mại tư nhân.
    • Chương 29: Trường hợp ngoại lệ và quy định chung. Gồm 7 điều quy định về ngoại lệ về an ninh; biện pháp kiểm soát thuốc lá; biện pháp về thuế; ….

    Một điều đặc biệt trong nội dung của TPP là nếu một quốc gia thành viên đưa ra các điều luật hay chính sách không phù hợp hoặc đi ngược lại với tiêu chí và nội dung của TPP thì các doanh nghiệp nước ngoài có thể kiện Chính phủ của các quốc gia đó ra tòa án của TPP.

    2.2. Vai trò của Mỹ trong TPP.

    Đối với Hoa Kỳ, TPP là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện chính sách “ xoay trục” sang khu vực Châu Á sau nhiều năm tự giữ chân mình ở Trung Đông và đối trọng lại những ảnh hưởng ngày càng to lớn của Trung Quốc trên thế giới. Chính vì vậy, Nhà Trắng đã có những đóng góp không hề nhỏ trong sự thành công của TPP.

    Ngay từ những ngày đầu đàm phán, Hiệp định TPP đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ ngay trong nội bộ của nền kinh tế lớn nhất thế giới với những trở lực to lớn như: sự lo ngại, e sợ của các thành phần kinh tế trong nước; sự phản đối của một bộ phận người dân; sự phân hóa trong Quốc hội Hoa Kỳ; …. Để đạt được thành công của cuộc đàm phán tháng 10 vừa qua, Tổng thống Barrack Obama đã phải trải qua một chặng đường dài và đầy gian nan, nhất là thời điểm ông yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ gia hạn Quyền xúc tiến thương mại (TPA) hay còn được gọi với cái tên khác là Quyền đàm phán nhanh để có thể toàn quyền đàm phán các thỏa thuận thương mại toàn cầu mà Quốc hội chỉ có thể thông qua hoặc bác bỏ toàn bộ chứ không có quyền sửa đổi.

    Theo lời chia sẻ của Ông Ron Kirk, một đại diện của Hoa Kỳ: “ Đàm phán TPP rất cam go vì các bên tham gia sẽ phải thảo luận và đưa ra nhiều quyết định khó khăn vì tất cả các vấn đề được thảo luận đều liên quan đến tương lai của đất nước mình.” Để đạt được Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương, phía Hoa Kỳ đã có nhứng nhượng bộ ở hai vấn đề lớn là dược phẩm có nguồn gốc từ sinh học và công nghệ xe hơi. Ví dụ về nhượng bộ của Hoa Kỳ trong vấn đề dược phẩm có nguồn gốc sinh học đó là trong danh mục các loại thuốc mà TPP bàn cãi có hơn ba ngàn loại thuốc được nghiên cứu và chế biến bởi các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều yêu cầu Hoa Kỳ rút ngắn thời hạn khai thác trước khi nó trở thành dược phẩm được các doanh nghiệp khác chế biến trên cơ sở thành phần gốc của doanh nghiệp nghiên cứu ra từ 12 năm xuống còn từ 5-7 năm nhằm nhanh chóng có thuốc rẻ cho người nghèo. Kết quả, Mỹ đã nhượng bộ bằng một số quy định nhập nhằng về kỳ hạn 5 năm và 8 năm.

    Với vị thế là nền kinh tế lớn nhất thế giới, việc Hoa Kỳ tham gia vào Hiệp định TPP đã góp phần nâng cao vị trí, vai trò cũng như tầm ảnh hưởng của TPP đối với kinh tế toàn cầu. Việc Hoa Kỳ tham gia ký kết hiệp định này cũng như nhận thức được những mục đích của Hoa Kỳ khi tham gia TPP, chính Trung Quốc – một quốc gia từ trước đến nay không mấy mặn mà với các hiệp định thương mại tự do cũng phải quan tâm nhiều hơn đến TPP.

    Trong TPP, vì là nền kinh tế số một toàn cầu nên Mỹ giữ vai trò vô cùng quan trọng. Đối với 11 thành viên còn lại của hiệp định, Hoa Kỳ như người anh cả, như cánh chim đầu đàn dẫn dắt các nước khác đặc biệt là các quốc gia đang phát triển tìm thấy con đường và cách thức để phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững. Không chỉ trong vấn đề kinh tế, khi TPP đã được ký kết tức là chính sách “xoay trục” của Tổng thống Obama bước đầu được thực hiện thì với tiềm lực quân sự lớn mạnh  của mình, Hoa Kỳ cũng sẽ trợ giúp các nước thành viên mỗi khi trong khu vực xảy ra những tranh chấp về vấn đề lãnh thổ. Cùng với đó, các quốc gia thành viên sẽ nhận được những giúp đỡ của Mỹ về phát triển và nâng cao trình đọ khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; ….

    2.3. Lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam.

    Theo các thống kê từ Hiệp hội Logistics, chi phí dành cho logistics ở nước ta chiếm khoảng 25% GDP hàng năm, cao hơn nhiều so với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, …. Một khi TPP chính thức được phê duyệt và có hiệu lực với rất nhiều dòng thuế chỉ còn 0% hứa hẹn mang đến sự sôi động, náo nhiệt cho hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng khi TPP được ký kết thì ngành logistics là ngành được hưởng lợi đầu tiên do sự bùng nổ về giao thương. Đây thực sự là một cơ hội để ngành logistics Việt Nam tiếp tục phát triển và hoàn thiện mình.

    Vậy những lợi ích hay cơ hội của ngành logistics Việt Nam khi tham gia TPP là:

    • Các doanh nghiệp logistics Việt Nam sẽ được hưởng lợi một cách gián tiếp khi mà dòng chảy của thương mại mạnh lên sẽ kéo theo các nhu cầu về vận tải và dịch vụ logistics tăng cao.
    • Với những quy định về cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường hàng hóa, thương mại dịch vụ xuyên biên giới, tự do hóa thương mại và đầu tư, … chính là cơ sở để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cuả nước ta và qua đó tạo điều kiện để mở rộng nhu cầu vận chuyển, khả năng cung ứng và đầu tư thêm cho hệ thống kho bãi.
    • Do sản lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng cao nên các hoạt động thuộc dịch vụ logistics sẽ được đẩy mạnh, logistics Việt Nam sẽ chú trọng hơn lĩnh vực đầu tư cho cơ sở vật chất từ đó nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất ngành logistics.
    • Được tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực, được tiếp cận thị trường logistics rộng lớn với nhiều ưu đãi về thương mại để năng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ là cơ hội để ngành logistics Việt Nam phát triển hơn nữa.
    • Khi tham gia TPP, ngành logistics Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp logistics đến từ các nước thành viên khác. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp logistics của nước ta có thể thấy được khả năng thực sự của mình và tự mình tìm ra những bước đi đúng đắn hơn để hoàn thiện chính mình.
    • Cạnh tranh với các ngành logistics phát triển hơn, ngành logistics Việt Nam sẽ có điều kiện để học hỏi các kinh nghiệm về tổ chức, quản lý doanh nghiệp; thu hút khách hàng; nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ; … và nỗ lực hơn nữa để mang đến cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với chi phí hợp lý nhất.
    • Theo những thỏa thuận trong TPP, các nước thành viên có thể thực hiện và tăng cường các hoạt động hợp tác và hỗ trợ nhau nâng cao năng lực trong một số ngành cụ thể trong đó có logistics. Các bên cũng công nhận rằng công nghệ và đổi mới sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho hoạt động hợp tác và năng cao năng lực. Vì vậy, các doanh nghiệp logistics Việt Nam sẽ được hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy và tạo điều kiện xây dựng, đào tạo năng lực; chia sẻ kinh nghiệm về thiết lập, thực hiện chính sách và thủ tục; trao đổi về chuyên gia, thông tin và công nghệ.
    • Cũng theo thỏa thuận của TPP, các quốc gia thành viên sẽ thông qua hoặc duy trì các thủ tục hải quan rút gọn và đơn giản hóa để phục vụ cho việc vận chuyển tốc hành, giải phóng hàng hóa hiệu quả nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa hai bên nên ngành logistics sẽ rút ngắn được thời gian thực hiện đối với nhiều hoạt động của mình.
    • Các chuỗi cung ứng sẽ được thúc đẩy phát triển và được tăng cường để tích hợp sản xuất, tạo thuận lợi cho thương mại và giảm chi phí kinh doanh trong khu vực thương mại tự do.
    • Các doanh nghiệp logistics sẽ được hỗ trợ để tham gia vào chuỗi cung ứng của khu vực thương mại tự do.

     

    CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.

     

    Vào năm 2014, Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) đã quyết định đưa những vấn đề có liên quan đến TPP vào cuộc khảo sát về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để tìm hiểu những quan tâm của các doanh nghiệp Việt Nam đối với Hiệp định TPP. Theo kết quả nhận được từ cuộc khảo sát này, 70% trong số hơn 40000 doanh nghiệp của nước ta và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã biết đến TPP nhưng mức độ hiểu biết còn rất hạn chế. Không nhiều doanh nghiệp đã và đang theo dõi quá trình đàm phán của TPP cũng như những tác động của hiệp định đối với nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của chính mình trong tương lai. Thậm chí, vẫn còn một lượng nhỏ doanh nghiệp không hề biết đến sự tồn tại cuả TPP khi được nhóm nghiên cứu hỏi về vấn đề này.

    Vì vậy, để thực sự tận dụng được những lợi ích to lớn mà TPP mang lại, Đảng, Nhà nước và các doanh nghiệp Việt Nam cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề.

    3.1 Về phía Đảng, Nhà nước và Chính phủ.

    Đảng, Nhà nước và Chính phủ ta cần phải:

    • Nâng cao sự hiểu biết của các doanh nghiệp, người dân về TPP bằng các biện pháp như tuyên truyền, giới thiệu, ….
    • Tổ chức và thực hiện việc thành lập công đoàn riêng độc lập với công đoàn của nhà nước cho công nhân theo đúng thỏa thuận trong TPP.
    • Tìm mọi biện pháp, phương thức có thể để nâng cao hàm lượng nội địa trong tất cả các sản phẩm của mình.
    • Nhanh chóng soạn thảo và đề xuất khung pháp luật phù hợp hơn với TPP; sửa đổi những bất cập vẫn đang tồn đọng trong luật pháp hiện giờ; nhất là đối với thủ tục hải quan.
    • Chú trọng hơn đến việc đào tạo và nâng cao chất lượng của nguồn lao động, cải cách, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của thể chế kinh tế thị trường.
    • Thúc đẩy việc thiết lập một môi trường đầu tư và thương mại mang tính minh bạch và cạnh tranh một cách công bằng để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và phân bổ có hiệu quả các nguồn đầu tư.
    • Cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, nhất là đối với hệ thống giao thông.
    • Thúc đẩy tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp, tăng cường tổ chức các buổi trao đổi hay đối thoại với các doanh nghiệp, hiệp hội để đưa ra các bước đi đúng đắn nhất.
    • Rút ra kinh nghiệm và sửa chữa những sai lầm từ thời ký gia nhập WTO như chưa có những đường lối, ứng xử đúng đắn trong chính sách vĩ mô hay chưa có những cải cách cần thiết, kịp thời ngay từ bên trong quốc gia.

    3.2 Về phía doanh nghiệp.

    Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải:

    • Nâng cao hiểu biết của mình về TPP, những tác động tích cực của nó đến nền kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp mình; cả những khó khăn, thách thức khi tham gia TPP để đề ra hướng đi phù hợp và tận dụng hiệu quả nhất hiệp định này.
    • Chú trọng đầu tư cho đào tạo và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực; cải thiện, đổi mới và tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại; đầu tư thiết bị, máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất lao động.
    • Quan tâm hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình.
    • Tăng cường hợp tác, thiết lập mối quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước.
    • Đổi mới phương pháp tổ chức, quản lý găn liền với việc hoàn thành các nghiã vụ của doanh nghiệp đối với xã hội và chú trọng đến văn hóa trong kinh doanh.
    • Nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
    • Học hỏi cách thức, phương pháp, kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp khác, tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cho mình trên cơ sở những thỏa thuận của TPP và lợi thế so sánh của chính mình.
    • Tận dụng mọi nguồn lực, tiềm năng, khả năng có thể có của doanh nghiệp.
    • Quan tâm hơn nữa đến hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới mẻ và có sức cạnh tranh cao hơn.

    KẾT LUẬN.

    Sự thành công bước đầu trong quá trình đàm phán ký kết Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đánh dấu một cột mốc vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới của Việt Nam.

    Ngoài ra, khi tham gia ký kết TPP, kinh tế Việt Nam nhận được rất nhiều cơ hội để phát triển đặc biệt với những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp không hề nhỏ vào GDP hàng năm như: dệt may, nông nghiệp, ….

    Bên cạnh những cơ hội, lợi thế đó thì nước ta cũng vấp phải những thách thức và khó khăn để có thể thực hiện tốt những vấn đề đã được thỏa thuận trong TPP. Vì vậy, cả Chính phủ và các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn phải nỗ lực rất nhiều nếu không muốn bị loại bỏ.

    Dưới vai trò là một sinh viên chuyên ngành Logistics, em vô cùng mong muốn những tìm hiểu của mình về TPP sẽ có đóng góp sự phát triển của kinh tế Việt Nam và ngành logistics.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-s%E1%BB%91-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-theo-ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-t%C3%ADch-ph%C3%A2n-s%E1%BB%91-IAE-ITAE-ISE-ITSE-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-v%E1%BB%9Bi-Dead-%E2%80%93-Beat-kh%C3%A2u-%C4%91i%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-t%E1%BB%91c-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-DC-Servo-Harmonic-RHS-17-%E2%80%93-6006.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Điều khiển số: Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Lời nói đầu

    Trong những năm gần đây công nghệ thông tin có những bước nhảy vọt, đặc biệt là sự ra đời của máy tính đã tạo cho xã hội một bước phát triển mới, nó ảnh hưởng đến hầu hết các vấn đề của xã hội và trong công nghiệp cũng vậy. Hòa cùng sự phát triển đó, ngày càng nhiều nhà sản xuất đã ứng dụng các họ vi xử lý mạnh vào trong công nghiệp, trong việc điều khiển và xử lý dữ liệu. Những hạn chế của kỹ thuật tương tự như sự trôi thông số, sự làm việc cố định dài hạn, những khó khăn của việc thực hiện chức năng điều khiển phức tạp đã thúc đẩy việc chuyển nhanh công nghệ số. Ngoài ra điều khiển số cho phép tiết kiện linh kiện phần cứng, cho phép tiêu chuẩn hóa. Với cùng một bộ vi xử lý, một cấu trúc phần cứng có thể dùng cho nhiều ứng dụng khác nhau. Tuy nhiên kỹ thuật số cũng có những nhược điểm như xử lý các tín hiệu rời rạc…, đồng thời tín hiệu tương tự có những ưu điểm mà kỹ thuật số không có như tác động nhanh và liên tục. Vì vậy xu hướng điều khiển hiện nay là phối hợp cả điều khiển số và điều khiển tương tự.

    Để nắm vững những kiến thức đã học thì việc nghiên cứu là cần thiết đối với sinh viên. Bài tập lớn Môn “Điều khiển số” đã giúp em biết thêm được rất nhiều về cả kiến thức lẫn kinh nghiệm. Dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Tiến em đã thực hiện xong bài tập “Thiết kế theo tiêu chuẩn tích phân số (IAE, ITAE, ISE, ITSE) kết hợp với Dead – Beat khâu điều chỉnh tốc độ động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006”. Do kiến thức còn hạn chế nên bài tập còn có nhiều sai sót, nên em mong nhận được sự bổ sung của các thầy, cô và các bạn!

     

     

     

    CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG CƠ DC SERVO HARMONIC RHS 32-3018

    1.1. Giới thiệu động cơ servo

    Là động cơ cho phép điều khiển vô cấp tốc độ.

    Điều khiển động cơ DC (DC Motor) là một ứng dụng thuộc dạng cơ bản nhất của điều khiển tự động vì DC Motor là cơ cấu chấp hành (actuator) được dùng nhiều nhất trong các hệ thống tự động (ví dụ robot). DC servo motor là động cơ DC có bộ điều khiển hồi tiếp.

    Mặt khác, động cơ servo được thiết kế cho những hệ thống hồi tiếp vòng kín. Tín hiệu ra của động cơ được nối với một mạch điều khiển. Khi động cơ quay, vận tốc và vị trí sẽ được hồi tiếp về mạch điều khiển này. Nếu có bất kỳ lý do nào ngăn cản chuyển động quay của động cơ, cơ cấu hồi tiếp sẽ nhận thấy tín hiệu ra chưa đạt được vị trí mong muốn. Mạch điều khiển tiếp tục chỉnh sai lệch cho động cơ đạt được điểm chính xác.

    Động cơ servo có nhiều kiểu dáng và kích thước, được sử dụng trong nhiều máy khác nhau, từ máy tiện điều khiển bằng máy tính cho đến các mô hình máy bay, ô tô. Ứng dụng mới nhất cho động cơ servo là dùng trong Robot, cùng loại với các động cơ dùng trong mô hình máy bay và ô tô.

    Cấu tạo động cơ Servo:

    Hình 1.1: Cấu tạo động cơ servo

    1, Động cơ ; 2, Bản mạch

    3, dây dương nguồn ; 4, Dây tín hiệu

    5, Dây âm nguồn ; 6, Điện thế kế

    7, Đầu ra (bánh răng) ; 8, Cơ cấu chấp hành

    9, Vỏ ; 10, Chíp điều khiển

    1.2. Thông số động cơ DC Servo Harmonic RHS 17 – 6006

    Động cơ DC Servo Harmonic là loại động cơ bước nhỏ, được sử dụng trong công nghiệp, khả năng điều khiển chuyển động và momen xoắn với độ chính xác cao. Động cơ có hộp số cho momen xoắn cao, độ cứng xoắn cao và hiệu suất cao. Do đó mà nó được sử dụng trong các robot công nghiệp và tự động hóa.

    Hình 1.2: Đặc tính tải của động cơ

    Thông số kỹ thuật động cơ:

    Thông số Đơn vị Động cơ RHS 17 – 6006
    Công suất đầu ra (sau hộp số) W 65
    Điện áp định mức V 75
    Dòng điện định mức A 1.7
    Mômen định mức TN In-lb 87
    Nm 98
    Tốc độ định mức nN rpm 60
    Mômen hãm liên tục In-lb 100
    Nm 11
    Dòng đỉnh A 43
    Mômen cực đại đầu ra Tm In-lb 300
    Nm 34
    Tốc độ cực đại rpm 80
    Hằng số mômen (KT) In-lb/A 85
    Nm/A 9.6
    Hằng số điện  B.E.M.F ( ảnh hưởng của tốc độ đến sđđ phần ứng )(Kb) v/rpm 1.0
    Mô men quán tính (J) In-bl –sec2 0.79
    Kgm2 0.089
    Hằng số thời gian cơ khí ms 4.7
    Độ dốc đặc tính cơ In-lb/rpm 18
    Nm/rpm 2.1
    Hệ số momen nhớt ( Bf) In-lb/rpm 0.48
    Nm/rpm 5.4*10^-2
    Tỷ số truyền 1:R 1:50
    Tải trọng hướng tâm lb 176
    N 784
    Tải trọng hướng trục lb 176
    N 784
    Công suất động cơ W 100
    Tốc độ định mức động cơ rpm 3000
    Điện trở phần ứng Ω 4.8
    Điện cảm phần ứng mH 2.3
    Dòng thời gian liên tục ms 0.5
    Dòng khởi động A 0.36
    Dòng không tải A 0.7

     

     

     

    CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN TỐC ĐỘ ĐỘNG CƠ DC SERVO HARMONIC RHS 32-3018

    2.1.     Cấu trúc điều khiển tốc độ động cơ

    Hình 2.1: Cấu trúc điều khiển số tốc độ động cơ phản hồi tốc độ từ Encoder

    2.2.     Xây dựng hệ phương trình tính toán động học động cơ Servo

    DC Servo Harmonic RHS 32-3018 có các tham số chính:

    Rư = 4.8 Ω

    Lư = 2.3 mH

    KT = 9.6 Nm/A

    Ke = 1 V/rpm

    Bf = 5.4*10^-2 Nm/rpm

    J = 0.089 Kgm2

    MC= 5.9 Nm

    Nđm = 3000 rpm

    Mô phỏng động cơ trên miền thời gian liên tục

    Hình 2.2. Cấu trúc động cơ DC servo

    Kết quả mô phỏng DC servo Harmonic RHS 17 – 6006 với điện áp định mức 75 V

    Khi không có Mc :

    Hình 2.3. Đặc tính tốc độ động cơ không tải.

    Hình 2.4. Đặt tính dòng điện động cơ

    Khi có Mc

    Hình 2.5. Đặc tính tốc độ động cơ

    Hình 2.6. Đặt tính dòng điện động cơ

    Nhận xét: Đáp ứng đầu ra đúng theo giá trị đặt. Khi có Mc tốc độ giảm, dòng điện tăng

    Mô phỏng động cơ trên miền thời gian gián đoạn

    >> g1= tf(1,[2.3*10^-3 4.8])

    >> G2=9.6

    >> g3=tf(1, [0.089 5.4*10^-2])

    >> G4=1

    >> G0=G1*G2*G3

    >> Gk=feedback(G0,g4)

    >> Gz=c2d(Gk,0.01,’zoh’)

    >> step(75*Gz)

    Hình 2.7. Đặc tính ra với chu kì trích mẫu T=0.01.

    Hình 2.8. Đặc tính ra với chu kì trích mẫu T=0.05.

    Nhận xét: Khi tăng chu kỳ trích mẫu lớn hớn đáp ứng đầu ra nhanh hơn tuy nhiên là dạng đáp ứng không mịn.

    2.2.1. Tổng hợp bộ điều khiển dòng theo Dead – Beat

    Thực hiện trên Matlab

    >> g1i=tf(1,[0.05 1]);

    >> g2i=tf(1,[2.3*10^-3 4.8]);

    >> g0i=g1i*g2i;

    >> gki=feedback(g0i,1)

    >> gzi=c2d(gki,0.01,’zoh’) ;

    Ta được hàm gzi như sau :

    Sampling time: 0.01chia cả 2 vế cho ta được

    Theo phương pháp Dead – Beat

    Chọn hàm L(z-1) = l0 =

    Hình 2.10. Cấu trúc bộ điều khiển dòng

    Kết quả mô phỏng.

    Hình 2.11. Dạng đáp ứng dòng điện.

    2.2.2. Thiết kế bộ điều khiển tốc độ

    Sử dụng Matlab để tính toán:

    >> g1w=9.6;

    >> g2w=tf(1, [0.089 5.4*10^-2])

    >> g2w=tf(1, [0.089 5.4*10^-2]);

    >> g0w=g1w*g2w;

    >> gkw=feedback(g0w,1) ;

    >> gzw=c2d(gkw,0.01,’zoh’)

    Transfer function:

    0.6583

    ———–

    z – 0.338

    Sampling time: 0.01

    >> gzw1=filt(0.6583,[1 -0.338],0.01)

    Transfer function:

    0.6583z^-1

    ——————–

    1 – 0.338 z^-1

    Sampling time: 0.01

    Áp dụng phương pháp tính bộ điều khiển theo tiêu chuẩn tích phân:

    Hàm truyền bộ điều khiển có dạng :

    Chọn r0 = Umax = 75 ;

    P= -1 để có khâu tích phân trong bộ điều khiển

    r1<= – r0(1-r0*b1)

    r1<= – 75*(1-75*0.6583)

    ® r1 = -75

    e0 = 1

    e1 = 1-75*0.003948= 0.7039

    e2 = 2.1992-0.003948*r1

    IQ = e02 +e12 +e22 =6.33195-0.01736*r1+1.55867*10^-5*r1^2

    Ta chọn được r1=-70.547

    Ta có bộ điều khiển tốc độ như sau :

    Ta có sơ đồ mô phỏng mạch vòng tốc độ như sau

    Hình 2.12. sơ đồ mô phỏng mạch vòng tốc độ

    Hình 2.13. Đáp ứng của tốc độ trên miền gián đoạn.

    Kết Luận

    Sau một kì học em đã hoàn thành bài tập lớn của môn học điều khiển số. Kết quả đạt được:

    – Biết cách thiết kế bộ điều khiển số

    – Hiểu sau về động cơ Servo

    Một số điểm chưa đạt được: bộ điều khiển chưa tối ưu, tín hiệu ra chưa át với tín hiêuk đặt.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1

    BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1

    BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Sức bền vật liệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-V%E1%BA%BC-K%E1%BB%B8-THU%E1%BA%ACT-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1

    BÀI TẬP LỚN VẼ KỸ THUẬT 1

    Bài tập lớn Vẽ kỹ thuật 1 có hai phần:

    Phần 1: Vẽ giao của hai đa diện và xét thấy khuất toàn Hình

    e1                    g1                     f1

    B1

    A1 S1

    C1

    e2

    C2

    f2

    B2  S2

    g2

    A2

    m1                         n1                          q1

    a1

    b1

    c1

    q2

    c2

    m2

    n2                                                   a2

    b2

    Đề 1

     

    1

    f1 g1 e B
        1 1

    S1

    A1

    C1

    e2

    C2

    f2

    S2

    B2 g2

     

    a1

    b1

    n1

    c1

    m1

    c2

    a2

    b2

    A2

    q1

    m2 n q2
      2  

    Đề 2

    2

    S1

    S2

    B1

    e1

    A1

    g1

    C1

    f1

    C2

    B2

    A2

    g2                 e2                       f2

    a1

    n1

    b1

    c1

    q1

    m1

    c2

    a2

    b2

    m2                        n2                     q2

    Đề 3

    3

    a1

    n1

    b1

    c1

    q1

    m1

    c2

    a2

    b2

    m n q2
    2 2  

    B1

    A1

      e1
    S1 f1
     
      C1
      g1
      C2
    S2 B2

    A2

    g2                  e2                         f2

    Đề 4

    4

    m1                               n1                               q1

    a1

    b1

    c1

    m2                                                                     q2

    c2

    a2

    b2                                                  n2

    f1 g1 e B
        1 1

    S1

    A1

    C1

    f2 C2
     

    S2

    e2

    g2

    B2

    A2

    Đề 5

    5

      B1
      e1
    A1 S1
     
      g1
      C1
      f1
      C2

    B2

    A2

    f2                       e2                      g2

    m1                             n1                              q1

    m2

    q2

    n2

    S2

    a1

    b1

    c1

    c2

    a2

    b2

     

    Đề 6

    6

    m1                            n1                               q1

    a1

    b1

    c1

    m2                                                                   q2

    c2

    a2

    n2

    b2

    e1                      g1                        f1

    B1

    A1 S1

    C1

    C2  f2

    e2

    g2           S2

    B2

    A2

    Đề 7

    7

    m1                              n1                               q1

    a1

    b1

    c1

    q2

    c2

    m2

    a2                                                                n2

    b2

    B1

    A1

    e1

    S1

    f1

    C1

    g1

    C2

    B2  S2

    A2

    f2                     e2                    g2

    Đề 8

    8

    a1

    b1

    n1

    c1

    m1

    q1

    c2

    a2

    b2

    m2 n q2
      2  
    m1 n1 q1
                  a1
                 
                 
                  b1
                  c1
                 
                q2
               
                  c2
    m2        
             

    n2                                        a2

    b2

    Đề 9

    9

    m1 n q1
      1  

    a1

    b1

    c1

    m2

    c2

    q2

    n2                                            a2

    b2

    a1

    b1

    n1

    q1              c1

    m1

    c2

    a2

    b2

    m2                         n2                    q2

    Đề 10

    10

    HƯỚNG DẪN LÀM PHẦN 1

    1. Trong phần này có 10 đề. Mỗi đề gồm có hai bài toán
    1. Bài tập trình bày trên khổ giấy A4 (297;210). Hai hình làm trên hai tờ.
    1. Sử dụng nét vẽ trong mỗi câu như sau:
    1. Đường dóng, các yếu tố phụ trợ vẽ bằng nét liền mảnh có bề dày nét bằng b/3
    1. Các giao tuyến thấy vẽ bằng nét liền đậm, nếu khuất thì vẽ bằng nét đứt (bề dày nét đứt cũng chọn là b/3)
    1. Các Hình vẽ phải được trình bầy rõ ràng, sạch đẹp, không tẩy xoá. Vẽ các mũi tên chỉ quan hệ dóng. Khổ các chữ và số không được nhỏ hơn 3,5mm.
    2. Khung bản vẽ kẻ bằng nét liền đậm cách các mép tờ giấy một khoảng 5mm. Chiều dầy b của nét liền đậm nên chọn từ 0,5 đến 0,7mm (riêng cạnh trái của khung bản vẽ kẻ cách mép trái của tờ giấy một khoảng 25mm). Tờ bìa được trình bày như Hình dưới. Dòng 1 quy định viết bằng chữ lớn, Khổ 10. Dòng 2 viết bằng chữ con, khổ 7. Dòng 3 viết bằng chữ lớn, khổ 20. Dòng 4, 5, 6 viết bằng chữ con khổ 7. Các chữ viết thẳng hoặc nghiêng 750.

    11

    HƯỚNG DẪN LÀM PHẦN 2

    1. Trong phần này có 10 đề. Mỗi đề có 03 hình chiếu trục đo, trên đó có ghi đầy đủ các kích thước của hình biểu diễn.
    2. Yêu cầu: Sinh viên vẽ ba hình chiếu thẳng góc (Đứng, bằng, cạnh) từ hình chiếu trục đo tương ứng và ghi đầy đủ các kích thước trên các hình chiếu vuông góc.
    3. Bài tập trình bày trên khổ giấy A4 (297;210).
    1. Sử dụng nét vẽ trong mỗi câu như sau:

    Các giao tuyến thấy vẽ bằng nét liền đậm (Nét đậm b), nếu khuất thì vẽ bằng nét đứt (bề dày nét đứt cũng chọn là b/3)

    1. Các Hình vẽ phải được trình bầy rõ ràng, sạch đẹp, không tẩy xoá.
    1. Khung bản vẽ kẻ bằng nét liền đậm cách các mép tờ giấy một khoảng 5mm. Chiều dầy b của nét liền đậm nên chọn từ 0,5 đến 0,7mm (riêng cạnh trái của khung bản vẽ kẻ cách mép trái của tờ giấy một khoảng 25mm).

    12

    Đề 1

    R10

    13

    Đề 2

    R16

    14

    Đề 3

    15

    Đề 4

    L? xuyên su?t

    Ø20

    16

    Đề 5

    17

    Đề 6

    18

    Đề 7

    19

    ĐỀ 8

    20

    Đề 9

    21

    Đề 10

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]