Author: Nguyễn Huyền

  • Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý thư viện sách

    Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý thư viện sách

    Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý thư viện sách

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề kiểm tra môn Quản lý nhà nước về kinh tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-th%C6%B0-vi%E1%BB%87n-s%C3%A1ch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý thư viện sách

    Phần 1: Lời nói đầu

    Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, công nghệ thông tin đã trở thành một công nghệ mũi nhọn, nó là ngành khoa học kỹ thuật không thể thiếu trong việc áp dụng vào các hoạt động xã hội như: quản lý hệ thống thư viện sách, kinh tế, thông tin, kinh doanh, và mọi hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu…

    • nước ta hiện nay, việc áp dụng vi tính hóa trong quản lý tại các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức đang rất phổ biến và trở nên cấp thiết, bởi ngành nghề nào cũng đòi hỏi con người phải xử lý khối lượng công việc khổng lồ, và những kiến thức, những suy nghĩ, những đào tạo chuyên sâu. Một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quản lý là làm thế nào để chuẩn hóa cách xử lý dữ liệu ở trường học, chính vì thế chúng em chọn đề tài “Phân tích thiết kế hệ thống quản lý thư viện sách”.

    Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành công việc, nhưng do thời gian có hạn và thiếu kinh nghiệm cũng như kỹ năng chưa cao nên việc phân tích và thiết kế còn nhiều thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn góp ý, bổ sung để chúng em hoàn thiện cho bài tập tốt hơn nữa. Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, 13/4/2012

    –4–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Phần 2: Phát biểu bài toán

    2.1 Hoạt động nghiệp vụ thư viện:

    Các hoạt động nghiệp vụ của một thư viện sách thông thường có thể được tóm tắt như sau:

    • Thư viện tạo các thẻ sách gồm các thông tin: mã số sách, tên tác giả, tên nhà xuất bản, năm xuất bản, số trang, giá tiền, tóm tắt nội dung. Các đầu sách có thể được phân theo chuyên ngành hoặc tài liệu.
    • Mỗi độc giả được cấp một thẻ độc giả, gồm các thông tin: tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh thư.
    • Độc giả muốn mượn sách thì tra cứu các thẻ sách rồi ghi vào phiếu mượn.
    • Sau khi kiểm tra đầy đủ thông tin phiếu mượn, thủ thư kiểm tra điều kiện mượn của độc giả và xác nhận cho phép mượn sách, thu tiền đặt cọc của độc giả. Một số thông tin trong phiếu mượn được lưu lại để quản lý, phiếu mượn sẽ được gài vào chỗ sách được lấy đi, sách được giao cho độc giả.
    • Khi độc giả trả sách: xác nhận thẻ độc giả, xác định phiếu mượn, việc trả sách được ghi nhận vào dòng ngày trả và tình trạng. Phiếu mượn được lưu lại để quản lý và theo dõi.
    • Sách bị trả trễ lịch hẹn hoặc hỏng sẽ bị phạt.

    2.2 Yêu cầu hệ thống:

    1. Hệ thống thư viện sách được xây dựng nhằm mục đích giải quyết các yêu cầu chức năng sau:
    • Giúp độc giả tra cứu sách theo loại sách, theo tên sách, theo tác giả, theo ngôn ngữ, … trên các máy tính trạm.
    • Cung cấp cho thủ thư thông tin về các đầu sách một độc giả đang mượn và hạn phải trả, và các cuốn sách còn đang được mượn.
    • Thống kê hàng tháng số sách cho mượn theo các chủ đề, tác giả,…

    Thống kê các đầu sách không có người mượn trên 1 năm, 2 năm, 3 năm.

    –5–

    • Hỗ trợ thủ thư cập nhật thông tin sách, xác nhận cho mượn sách và nhận lại sách khi độc giả trả sách.
    • Hỗ trợ quản lý các thông tin về độc giả dựa trên thẻ độc giả, thông tin phiếu mượn.
    • Hỗ trợ chức năng quản trị chung hệ thống, trong đó người quản trị chung có thể thay đổi thông tin hoặc thêm bớt các thủ thư.
    1. Yêu cầu phi chức năng:
    • Độc giả có thể tra cứu thông tin sách trên môi trường mạng nội bộ của thư viện. Tuy nhiên, việc mượn và trả sách phải thực hiện trực tiếp trên thư viện. Thủ thư sử dụng hệ thống để cập nhật và quản lý quá trình mượn trả sách.
    • Thông tin thống kê phải đảm bảo tính chính xác, khách quan. Các hình thức phạt đối với độc giả quá hạn sẽ được lưu lại và thông báo cho độc giả biết.

    2.3 Sơ đồ phân cấp chức năng

    • Xác định các chức năng hệ thống:

    Hình 1: Sơ đồ phân cấp chức năng

    –6–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    • Mô tả chức năng:
    • Quản trị hệ thống: admin sử dụng chức năng quản trị hệ thống để quản lý thông tin người dùng và phân quyền sử dụng cho người dùng: thủ thư, thủ kho…
    • Quản lý kho sách: hệ thống cho phép quản lý toàn bộ thông tin của tất cả sách của thư viện, cho phép thêm , xóa, thay đổi thông tin của sách.
    • Quản lý độc giả: hệ thống cho phép quản lý thông tin cá nhân của từng độc giả, thêm, xóa, sửa thông tin của độc giả.
    • Quản lý mượn trả: hệ thống cho phép quản lý việc mượn trả sách của độc giả, hỗ trợ tạo phiếu mượn, gia hạn sách…
    • Thống kê: hệ thống cho phép thống kê số lượng sách đã được mượn, số lượng sách chưa được mượn trong 1 năm …. giúp người quản lý thư viện nắm rõ tình hình mượn trả sách của thư viện .

    2.4 Các hồ sơ

    a) Thẻ sách

    –7–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    b) Thẻ độc giả

    c) Phiếu mượn sách

    –8–

    Phần 3: Phân tích

    3.1 Mô hình hóa nghiệp vụ với biểu đồ hoạt động

    Hình 2: Biểu đồ hoạt động cho ca sử dụng tạo thẻ độc giả

    –9–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 3: Biểu đồ hoạt động cho ca sử dụng nhập sách mới

    –10–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 4: Biểu đồ hoạt động cho ca sử dụng mượn sách

    –11–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    –12–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    3.2 Mô hình hóa nhu cầu với biểu đồ ca sử dụng

    1.     Biểu đồ use case tổng quát

    HÌnh 5: Biểu đồ use case mức tổng quát

    • Mô tả ca sử dụng quản lý kho sách:
    • Mục đích: Dùng để quản lý thông tin chi tiết sách trong kho, xử lý thêm, xóa, sửa thông tin sách.
    • Tác nhân kích hoạt: thủ thư.
    • Các bước tiến hành:
    • Chọn chức năng “Quản lý kho sách”: hệ thống sẽ hiển thị các chức năng con trong mục quản lý kho sách.
    • Hiển thị danh sách sắp xếp sách trong kho theo thứ tự.
    • Thủ thư nhập thông tin sách mới nhập hoặc sửa chữa.
    • Ca sử dụng kết thúc.
    • Các trường hợp khác:

    –13–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    • Thoát: ngưởi dùng có thể thoát ra tại bất cứ thời gian nào của ca sử dụng, người sử dụng có thể ghi lại thông tin trước khi thoát.
    • Nếu thông tin đã có thì cho phép sửa đổi thông tin.
    • Nếu sách đã có(trùng mã sách) thì báo lỗi nhập dữ liệu.
    • Điều kiện trước: thủ thư phải đăng nhập trước.
    • Điều kiện sau:Đưa ra được danh sách sách trong kho sau khi đã thay đổi.
    • Mô tả ca sử dụng quản lý độc giả:
    • Mục đích: sử dụng để quản lý thông tin độc giả, thêm, xóa, sửa thông tin độc giả, báo thẻ độc giả hết hạn.
    • Tác nhân kích hoạt: thủ thư.
    • Các bước tiến hành:
    • Chọn chức năng quản lý độc giả, hệ thống sẽ hiển thị màn hình quản lý độc giả: danh sách các độc giả, các chức năng con thêm, xóa, sửa độc giả.
    • Thủ thư thêm, xóa, sửa độc giả qua các form thêm độc giả, xóa, sửa thông tin độc giả.
    • Ca sử dụng kết thúc.
    • Các trường hợp khác:
    • Người dùng thoát khỏi hệ thống.
    • Nếu có sẵn dữ liệu về độc giả thì cho phép sửa, xóa thông tin.
    • Báo lỗi khi nhập trùng mã độc giả.
    • Điều kiện trước: người dùng phải đăng nhập trước khi sử dụng chức năng quản lý độc giả.
    • Điều kiện sau: hiển thị danh sách độc giả sau khi cập nhật thông tin.

    –14–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    • Mô tả ca sử dụng quản lý mượn trả:
    • Mục đích: quản lý quy trình mượn trả sách.
    • Tác nhân kích hoạt: thủ thư.
    • Các bước tiến hành:
    • Độc giả yêu cầu mượn( trả )sách, thủ thư xác nhận thông tin độc giả bằng chức năng tìm kiếm độc giả.
    • Xác nhận thông tin độc giả thành công, thủ thư kiểm tra thông tin sách độc giả yêu cầu mượn.
    • Thành công, thủ thư tạo phiếu mượn, yêu cầu độc giả thanh toán tiền cọc.
    • Với trường hợp trả sách, thủ thu kiểm tra thông tin phiếu mượn và thông tin sách mượn.
    • Thủ thư hoàn trả lại tiền cọc cho độc giả, cập nhật lại thông tin cho phiếu mượn.
    • Các trường hợp khác:
    • Thẻ độc giả không đúng, báo vi phạm, độc giả không được phép mượn sách.
    • Sách độc giả muốn mượn đã hết.
    • Độc giả vi phạm nội quy quá số lần quy định, không được mượn sách.
    • Sách trả trễ hạn, hỏng, độc giả phải bổi thường theo quy định.
    • Điều kiện trước: thủ thư phải đăng nhập hệ thống.
    • Điều kiện sau: hiển thị thông tin phiếu mượn mới.
    • Mô tả ca sử dụng thống kê:
    • Mục đích: giúp thủ thư nắm rõ tình trạng mượn trả sách, thống kê độc giả thân thiết và sách được mượn nhiều của thư viện.
    • Tác nhân kích hoạt: thủ thư.
    • Các bước tiến hành:

    –15–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    • Thủ thư chọn chức năng thống kê, màn hình thống kê hiện ra.
    • Thủ thư chọn thống kê theo các tiêu chí khác nhau: thống kê sách, độc giả …. theo tháng, năm…
    • Màn hình hiển thị kết quả.
    • Ca sử dụng kết thúc.
    • Các trường hợp khác:
    • Người dùng có thể thoát tại bất cứ thời điểm nào.
    • Các tiêu chí thống kê không đúng.
    • Điều kiện trước: thủ thư phải đăng nhập hệ thống.
    • Điều kiện sau: hiển thị danh sách thống kê theo yêu cầu.
    • Mô tả ca sử dụng quản trị hệ thống:
    • Mục đích: quản lý vai trò, quyền hạn của người sử dụng hệ thống.
    • Tác nhân kích hoạt: admin
    • Các bước tiến hành:
    • Admin đăng nhập bằng tài khoản admin và chọn quản trị hệ thống.
    • Admin lựa chọn các chức năng thêm, xóa, sửa thông tin người dùng và phân quyền cho người dùng.
    • Ca sử dụng kết thúc.
    • Các trường hợp khác:
    • Người dùng không phải admin chọn chức năng quản trị hệ thống, hệ thống sẽ báo lỗi, người dùng không được phép sử dụng chức năng này.
    • Admin sửa thông tin người dùng trong khi người dùng

    đang đăng nhập hệ thống, hệ thống sẽ báo lỗi và yêu cầu người dùng thoát khỏi hệ thống.

    • Điều kiện trước: admin phải đăng nhập hệ thống với quyền admin.

    –16–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    • Điều kiện sau: hiển thị thông tin người dùng sau khi sửa đổi.
    • Mô tả ca sử dụng tìm kiếm:
    • Mục đích: tìm kiếm thông tin sách, độc giả, tác giả…
    • Tác nhân kích hoạt: thủ thư, độc giả.
    • Các bước tiến hành:
    • Người dùng chọn chức năng tìm kiếm.
    • Màn hình tìm kiếm hiển thị, người dùng tiếp tục chọn tìm kiếm theo các tiêu chí có sẵn hoặc nhập từ khóa.
    • Màn hình kết quả tìm kiếm hiển thị.
    • Kết thúc ca sử dụng.
    • Các trường hợp khác:
    • Người dùng có thể thoát tại bất cứ thời điểm nào.
    • Lỗi kết nối cơ sở dữ liệu, không tìm kiếm được thông tin người dùng cần.
    • Điều kiện trước: có chức năng tìm kiếm
    • Điều kiện sau: hiển thị danh sách kết quả tìm kiếm.

    2.     Phân rã biểu đồ use case

    Hình 6: Phân rã use case quản lý độc giả

    –17–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 7: Phân rã use case quản lý sách

    –18–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    –19–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    3.3 Lập biểu đồ lớp cho ca sử dụng

    Hình 8: Biểu đồ lớp cho ca sử dụng đăng nhập

    Hình 9: Biểu đồ lớp cho ca sử dụng tìm kiếm

    –20–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 10: Biểu đồ lớp cho ca sử dụng mượn sách

    Hình 11: Biểu đồ lớpcho ca sử dụng trả sách

    –21–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    3.4 Mô hình hóa sự tương tác với biểu đồ trình tự

    Hình 12: Biểu đồ trình tự cho chức năng đăng nhập

    –22–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 13: Biểu đồ trình tự cho chức năng tìm kiếm

    –23–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 14: Biểu đồ trình tự cho chức năng mượn sách

    Hình 15: Biểu đồ trình tự cho chức năng trả sách

    –24–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 16: Biểu đồ trình tự cho chức năng thống kê thông tin sách mượn

    –25–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 17: Biểu đồ trình tự cho chức năng thống kê thông tin độc giả

    –26–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    3.5 Mô hình hóa sự ứng xử với biểu đồ máy trạng thái

    Hình 18: Biểu đồ trạng thái cho lớp phiếu mượn- chức năng mượn sách

    –27–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 19: Biểu đồ trạng thái cho lớp phiếu mượn- chức năng trả sách

    –28–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Phần 4: Thiết kế

    4.1 Thiết kế cơ sở dữ liệu

    Hình 20: Biểu đồ cơ sở dữ liệu quan hệ

    –29–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    4.2 Thiết kế lớp chi tiết:

    Các lớp chi tiết được xây dựng theo mô hình 3 lớp

    • Presentation Layer : Lớp này làm nhiệm vụ giao tiếp với người dùng cuối để thu thập dữ liệu và hiển thị kết quả/dữ liệu thông qua các thành phần trong giao diện người sử dụng

     

    • Business Logic Layer : Lớp này thực hiện các nghiệp vụ chính của hệ thống, sử dụng các dịch vụ do lớp Data Access cung cấp, và cung cấp các dịch vụ cho lớp Presentation

     

    • Data Access Layer : Lớp này thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến lưu trữ và truy xuất dữ liệu của ứng dụng

    Hình 21: Biểu đồ lớp cho tầng Data Access

    –30–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 22: Biểu đồ lớp cho tầng Business

    Hình 23: Biểu đồ lớp cho tầng Giao diện

    –31–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    4.3 Thiết kế giao diện

    Hình 24: Giao diện cho màn hình chính

    Hình 25: Giao diện cho form quản lý người dung

    –32–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 26: Giao diện cho form quản lý kho sách

    Hình 27: Giao diện cho form quản lý kho sách- thêm sách

    –33–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 28: Giao diện cho form quản lý thẻ độc giả

    Hình 29: Giao diện cho form tìm kiếm

    –34–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Hình 30: Giao diện cho form tìm kiếm nâng cao

    Hình 31: Giao diện cho form quản lý mượn- trả

    –35–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN

    Phần 5: Tài liệu tham khảo

    • Phát triển hệ thống hướng đối tượng với UML 2.0 và C++ – Nguyễn

    Văn Ba

    • Nguyên lý của các hệ cơ sở dữ liệu – Nguyễn Kim Anh
    • Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin – Nguyễn Văn Ba

    –36–

    QUẢN LÝ THƯ VIỆN


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đề kiểm tra môn Quản lý nhà nước về kinh tế

    Đề kiểm tra môn Quản lý nhà nước về kinh tế

    Đề kiểm tra môn Quản lý nhà nước về kinh tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-ki%E1%BB%83m-tra-m%C3%B4n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-v%E1%BB%81-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề kiểm tra môn Quản lý nhà nước về kinh tế

    BÀI KIỂM TRA

    MÔN : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Đề bài :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?

    Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :

    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    • Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.
    • Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế

    giới.

    • Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.
    • Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.
    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    3. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

     

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    • Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.
    • Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    • Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.
    • Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    3.2. Các phương pháp kinh tế :

    Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động. Các phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của Nhà nước thông qua sụ vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế – kỹ thuật; tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế.

    Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ.

    Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được Nhà nước định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh tế từng thời kỳ của đát nước. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ gò ép, mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động. Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau :

    • Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian, từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống.
    • Sử dụng các định mức kinh tế ( mức thuế, mức lãi suất ngân hàng v.v…), các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất theo hướng vừa lợi nhà, vừa ích nước.
    • Bằng chính sách ưu đãi kinh tế để điều chỉnh hoạt động kinh tế trong cả nước và thu hút được tiềm năng của Việt kiều cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    Xu hướng chung ngày nay của các quốc gia là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế. Để thực hiện hiệu quả phương pháp này cần chú ý đến :

    • Hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan hệ thị trường.
    • Thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho các cấp dưới.
    • Các cán bộ quản lý phải là những người có trình độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông

    thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng.

    3.3. Phương pháp giáo dục :

    Phương pháp giáo dục trong quản lý Nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    Phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người – một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội. Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.

    Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân biệt phải – trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp.

    Phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác đông giáo dục rộng rãi trong xã hội.

    Nội dung của phương pháp giáo dục bao gồm :

    • Giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để mọi người dân đều hiểu, đều ủng hộ và đều quyết tâm xây dựng đất nước, có ý chí làm giàu.
    • Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, có tổ chức.
    • Xoá bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất nhỏ mà biểu hiện là chủ nghĩa cá nhân, thu vén nhỏ mọn, tâm lý ích kỷ gia đình, đầu óc thiển cận, hẹp hòi, tư tưởng địa phương, cục bộ, bản vị, phường hội, bình quân chủ nghĩa, không chịu để ai hơn mình, ghen ghét, đố kị nhau, tác phong làm việc luộm thuộm, tuỳ tiện, cửa quyền, không biết tiết kiệm thời giờ, thích hội họp.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến, thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, thích đặc quyền đặc lợi, thích hưởng thụ, kìm hãm thanh niên, coi thường phụ nữ.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng tư sản, với các biểu hiện xấu như chủ nghĩa thực dụng vô đạo đức, chủ nghĩa tự do vô Chính phủ “cá lớn nuốt cá bé”.
    • Xây dựng tác phong đại công nghiệp; tính hiệu quả, hiện thực, tính tổ chức, tính kỷ luật, đảm nhận trách nhiệm, khẩn trương, tiết kiệm.

    Các hình thức giáo dục bao gồm : sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…), sử dụng các đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội. Tiến hành giáo dục cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ triển lãm v.v… sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả v.v…

    Như vậy việc sử dụng các phương pháp quản lý kinh tế vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, phù hợp với đối tượng. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra. Quản lý kinh tế có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý. Đó chính là tài nghệ thuật quản lý, của Nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    4. Sự giống nhau và khác nhau của các phương pháp quản lý Nhà nước về kinh tế trong các chế độ xã hội khác nhau :

    Về bản chất, quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa vì một nhóm nhỏ những người giầu, những người này nắm quyền lực kinh tế, đồng thời nắm quyền lực chính trị – Nhà nước của giai cấp tư sản. Quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa vì đại bộ phận người dân lao động vì xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêu phát triển – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà nước đó sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình.

    Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính thị trường thuần tuý :

    Trong nền kinh tế, các nguồn lực sản xuất cũng như các hàng hoá và dịch vụ kinh tế được phân bố cho các hoạt động và các mục đích sử dụng khác nhau thông qua cái mà người ta gọi là “cơ chế thị trường”. Việc quyết định xem sản xuất và tiêu thụ cái gì bao nhiêu đều được các đơn vị kinh tế cá thể đưa ra. Những đơn vị kinh tế đưa ra quyết định dựa trên các giải pháp mà họ có trong đó có yếu tố giá thị trường của các loại hàng hoá, dịch vụ và nguồn lực mà họ phải chấp nhận, không được tác động đến. Mô hình kinh tế này nhấn mạnh đến cạnh tranh hoàn hảo và bàn tay vô hình. Vai trò quản lý của Nhà nước không được nhấn mạnh, Nhà nước sử dụng các phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh

    tế song chủ yếu phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản chi phối, không chú trọng tới những vấn đề xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường phát triển :

    Chính phủ ngày càng nắm nhiều quyền kiểm soát hơn đối với toàn bộ hoạt động kinh tế, không chỉ thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tài khoá và tiền tệ mà còn thông qua việc :

    • Tham gia trực tiếp ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế dưới hình thức các ngành công nghiệp được quốc hữu hóa, các doanh nghiệp Nhà nước và các chương trình đầu tư công cộng.
    • Kế hoạch hoá kinh tế, điều tiết hoạt động của các công ty tư nhân, đánh thuế các nhà tư doanh và các doanh nghiệp.
    • Tiến hành và điều tiết các hoạt động ngoại thương…

    Trên nhiều phương diện, “bàn tay vô hình ” của cơ chế thị trường đã được thay bởi “bàn tay hữu hinh” chỉ đạo của Chính phủ trung ương như một lực lượng kinh tế chủ yếu trong những xã hội tư bản chủ nghĩa này. Nhà nước sử dụng cả phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh tế.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa “mệnh lệnh”

    Đây là nền kinh tế không chỉ dựa trên chế độ sở hữu công cộng đối với toàn bộ các nguồn lực của sanr xuất mà còn dựa trên việc thay thế hoàn toàn cơ chế giá thị trường bằng việc kế hoạch hoá tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế. Tất cả các loại giá cả đều do Nhà nước quyết định. Các kế hoạch tổng thể cho toàn quốc cũng như cho từng vùng được Nhà nước tạo lập ra hàng năm. Nhu cầu và khả năng sẵn có về nguồn lực được cân đối bởi những quyết định phân bổ của Trung ương chứ không phải bởi những tín hiệu của giá cả trong hệ thống thị trường. Trong nền kinh tế này, Nhà nước chỉ sử dụng phương pháp quản lý hành chính và còn rất nhiều hạn chế làm cho nền kinh tế bị kìm hãm không phát triển được.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng “thị trường” :

    Các hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường cố gắng hội tụ những tinh hoa của cả hai chế độ : tính đơn giản của cơ chế giá tự động và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản thị trường cùng với chủ nghĩa bình quân của hình thức xã hội chủ nghĩa đối với các tư liệu sản xuất và phân phối. Công tác kế hoạch hoá của

    Trung ương đóng vai trò kiểm soát trực tiếp. Nhà nước sử dụng kết hợp cả các phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.

    Trong nền kinh tế hỗn hợp giữa thị trường và kế hoạch hoá :

    • đây, những mức độ khác nhau về sở hữu tư nhân đối với các nguồn lực tồn tại song song với quy mô đáng kể của sở hữu Nhà nước và sự tham gia của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Có sự tồn tại song song của hình thức phân bổ nguồn lực và sản phẩm bởi thị trường và giá cả do Nhà nước quy định, cùng với hình thức kế hoạch hoá tập trung và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nền kinh tế bởi Nhà nước.

    Nền kinh tế Việt nam là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất với hai hình thức Nhà nước và tập thể là chủ yếu, đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các biện pháp cải cách chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực hiện, tạo lập được đồng bộ các yếu tố thị trường, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tài chính, tiền tệ và giá cả. Nhà nước tham gia vào quá trình quản lý kinh tế với tư cách là nhà quản lý vĩ mô, Nhà nước điều tiết các hoạt động thị trường, giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định đi theo đúng định hướng do Đảng, Nhà nước đã vạch ra. Nhà nước sử dụng tổng hợp các phương pháp đã nêu ở trên để quản lý nền kinh tế quốc gia, trong đó phương pháp kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất ( khác hẳn với trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì phương pháp hành chính được sử dụng chủ yếu ). Nhờ vậy trong những năm qua nền kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc, theo đúng định hướng XHCN.

    Trong những năm tới đây, để nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước,chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới, sắp xếp và kiện toàn bộ máy Nhà nước và đặc biệt là củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Có như vậy Nhà nước mới đủ thực lực và sức mạnh kinh tế và quản lý để thực hiện tốt vai trò là bà đỡ cho nền kinh tế phát triển, thực hiện tốt chức năng người quản lý vĩ mô nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kỹ năng quản lý thời gian


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%90%E1%BB%A9c-Tr%E1%BB%8B-c%E1%BB%A7a-Kh%E1%BB%95ng-T%E1%BB%AD-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Kinh tế là một thế giới động luôn phát triển và không ngừng thay đổi, nhất là vào thời đại ngày nay khi chạm ngõ thế kỷ XXI, trên thế giới chu trình toàn cầu hoá là tất yếu khách quan của tăng trưởng, nó tạo ra những khó khăn và thách thức mới cho các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc quản lý tốt hay không, luôn là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn vong của một doanh nghiệp. Nhưng để quản lý tốt cần phải có những yếu tố nào? yếu tố kinh doanh hiện đại hay yếu tố quản lý truyền thống. Quá trình phát triển các học thuyết quản lý trải qua hàng nghìn năm những gì tích luỹ của quá khứ là của cải cho tương lai. Đặc biệt với phong thái quản lý phương Đông – một phong thái gần gũi với Việt Nam vẫn đứng trong kinh doanh thời đại “viễn thông – tên lửa”. Nổi bật nhất là chính sách, vị đức, trung dung trong Đức trị – Khổng Tử. Người viết quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay” nhằm mục đích giải thích, giới thiệu tìm hiểu liệu trong giai đoạn này nó còn đúng đắn hay không hay đã lỗi thời.

    Những khó khăn chồng chất do tư liệu ít, ít người đề cập hay quan tâm đến vấn đề này. Đề tài quá rộng người viết không đủ khả năng khái quát hoặc đưa ra nhận xét hợp lý khi kinh nghiệm thực tiễn không nhiều. Mặt khác do thời gian gấp rút đã làm cho người viết lúng túng khi trong nhận định phân giải. Vượt qua khó khăn, người viết quyết tâm theo đuổi đề tài này, những mong có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu.

    Xin chân thành cảm ơn.

     

    CHƯƠNG I

    TƯ TƯỞNG “ĐỨC TRỊ” CỦA KHỔNG TỬ

    I. Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử

    1. Khổng Tử – Nhà quản lý xuất sắc

    Khổng Tử là một nhân vật lớn có ảnh hưởng tới diện mạo và sự phát triển của một số dân tộc. Ở tổ quốc ông, Khổng học có lúc bị đánh giá là hệ tư tưởng bảo thủ của (những người chịu trách nhiệm rất nhiều về sự trì trệ về mặt xã hội của Trung Quốc”. Ở những nước khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor… Khổng Giáo lại được xem xét như một nền tảng văn hoá tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá các quốc gia theo mô hình xã hội “ổn định, kỷ cương và phát triển”.

    Sự đánh giá về Khổng Tử rất khác nhau, trước hết là vì những mập mờ của lịch sử. Ông sống cách chúng ta hơn 2 nghìn năm trăm năm và sau ông có rất nhiều học trò, môn phái phát triển hệ tư tưởng nho giáo theo nhiều hướng khác nhau. Có khi trái ngược với tư tưởng của thầy. Ở Trung Quốc vai trò của ông đã nhiều lần thăng giáng theo quan điểm và xu hướng chính trị, song đến nay, ông vẫn lại được đánh giá cao, UNESCO đã thừa nhận ông là một “danh nhân văn hoá thế giới”.

    Việc tách riêng từng khía cạnh trong cái tài năng đa dạng và thống nhất của ông đã tìm ra một Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn về Triết học, chính trị học, đạo đức học và giáo dục học. Trong các lĩnh vực đó thật khó xác định đâu là đóng góp lớn nhất của ông. Có thể nhận định rằng, tầm vóc của Khổng Tử lớn hơn khía cạnh đó cộng lại, và sẽ là khiếm khuyết nếu không nghiên cứu ông như một nhà quản lý.

    Nếu thống nhất với quan niệm nhà quản lý là nhà lãnh đạo của một tổ chức, là người “thực hiện công việc của mình thông qua những người khác thì Khổng Tử đúng là người như vậy.

    2. Khổng Tử  – nhà tư tưởng quản lý của thuyết Đức trị

    Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên.

    Khác với Trang Tử coi đời như mộng, kiếp người phù du chỉ cốt “toàn sinh” cho bản thân, Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”.

    Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”.

    Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia.

    Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xaay dựng một xã hội nhân bản.

    2.1. Đạo nhân về quản lý

    Với vũ trụ quan “thiên, địa, nhân – vạn vật nhất thể”, trời và người tương hợp, Khổng Tử nhận thấy các sự vật của vạn vật tuân theo một quy luật khách quan mà ông gọi là trời “mệnh trời”. Con người theo Nho học “là cái đức của trời, sự giao hợp âm dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”. Con người sinh ra đều có bản chất Người (đức – nhân) nhưng do trời phú khác nhau về năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống (môi trường) khác nhau cho nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình – trở thành người Nhân. Và những người hiền này có xứ mệnh giáo hoá xã hội, thực hiện nhân hoá mọi tầng lớp. Nhờ vậy, xã hội trở nên có nhân nghĩa và thịnh trị. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc đức trị: người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo.

    – Về đạo Nhân:

    “Nhân là yêu người” (Nhân là ái nhân). Nhân là giúp đỡ người khác thành công “Người thân, mình muốn thành công thì cũng giúp người khác thành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân”. Nhưng Khổng Tử không nói đến tính nhân chung chung ông coi nó như đức tính cơ bản của nhà quản lý. Nói cách khác, người có nhân luôn tìm mọi cách đủ thu lợi về mình, nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong quan hệ nhà quản lý với đối tượng bị quản lý) vưà là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý. Khổng Tử nâng tư tưởng nhân lên thành đạo (nguyên tắc sống chung cho xã hội) vì là một nhà tư tưởng quản lý sâu sắc, ông thấy đó là nguyên tắc chung gắn kết giữa chủ thể và khách thể quản lý đạt hiệu quả xã hội cao: “người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến” (Dương hoá).

    – Nhân và lễ:

    Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối: “Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm chi”.

    – Nhân và Nghĩa:

    Đúng lễ cũng là làm đúng nghĩa rồi. Nhân gắn liền với Nghĩa vì theo Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình. “Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải như vậy mới được, không nhất định như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”, làm hết mình không thành thì thôi.

    Tư tưởng nhân ái của Khổng Tử có thể so sánh với tình bác ái của chúa Giê su và Đức phật. Nhưng ông khác 2 vị kia ở chỗ, trong tình cảm, có sự phân biệt tuỳ theo các mối quan hệ: trước hết là ruột thịt, sau đến thân, quen và xa hơn là người ngoài.

    – Nhân và Trí

    Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình: “Trí giả lợi Nhân”. Rõ ràng là người Nhân không phải là người ngu, không được để cho kẻ xấu lạm dụng lòng tốt của mình. Trí có lợi cho Nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người Nhân – quân tử, bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng người của họ. Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét.

    – Nhân và Dũng

    Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân, là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân của loạn.

    Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân – Trí – Dũng là những phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó của Khổng Tử được Hồ Chsi Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối với sụ phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài lâu là môi trường chính trị – xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp.

    Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”. Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ: “Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã giàu rồi, lại làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử  nói: “Giáo dục họ”.

    Tư tưởng “làm cho dân giàu”, “tiên phú, hậu giáo” là tư tưởng duy vật của Khổng Tử, được các học giả của Nho gia và Mắc gia sau này phát triển thêm. Nhưng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử để lại cho hậu thế đã không bị mai một theo thời gian. Ngày nay, hệ thống học thuyết của Khổng Tử đã trở nên lạc hậu, trước hết là phần nội dung liên quan tới vấn đề thế giới quan, song nhiều triết lý của ông về đạo đức – đạo lý, giáo dục, cai trị – quản lý con người và xã hội… vẫn là những nguyên tắc và triết học chỉ đạo một số hoạt động. Ví dụ như:

    Khổng Tử nhấn mạnh tới quá trình tự tu dưỡng trong hoạt động quản lý: “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” (Đại học).

    Người Nhân thì phải hết lòng vì người, biết từ bụng ta suy ra bụng người: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Luận ngữ).

    Trong hoạt động kinh tế, không chỉ căn cứ vào lợi nhuận đơn thuần “Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu sang mà trái với đạo lý thì người quân tử không thèm”. Cứ làm việc tốt, phục vụ người tốt thì “bổng lộc tự khắc đến”.

    Ở đây có một điểm cần nói rõ hơn: “Chính” mà Khổng Tử nói ở đây là chính trị, chính sự. Và chính trị là chỉ mọi biện pháp được thi hành để quản lý đất nước, làm cho chính sự được quản lý chặt chẽ; chính sự là chỉ việc làm hành chính. Khổng Tử chủ trương tham gia chính trị nuôi dưỡng nhân tài “Tòng chính” có nghĩa là chấp chính. Lúc bấy giờ, chưa thể có quản lý xí nghiệp cũng như khái niệm về quản lý xí nghiệp. Thời bấy giờ, việc quản lý quốc gia là việc mọi người quan tâm nhất, đó cũng là chính sự. Do đó, Khổng Tử quan tâm đến “Chính”. Quan tâm và nghiên cứu việc quản lý quốc gia là rất tự nhiên. Nhưng quản lý quốc gia là quản lý! Còn về điểm quản lý con người, nó cũng có nét chung như bất cứ việc quản lý nào. Do đấy, tư tưởng quản lý của Khổng Tử có ý nghĩa phổ biến.

    Quản lý học phương Tây truyền thống cho rằng quản lý là quản lý, luân lý đạo đức là luân lý đạo đức, hai phạm trù đó không có liên quan với nhau. Nhưng quản lý là cái gì? Suy cho cùng, quản lý là quản lý con người. Trong quản lý, đối với con người thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức, là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết.

    Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là: Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng… Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện.

    So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị, nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử, nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu “vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có “thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của Khổng Tử.

    Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi.

    2.2. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp

    Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một hệ thống tuyển lựa nhân tài cho quốc gia. Căn cứ vào kết quả các kỳ thi, những người đỗ đạt, dù xuất thân từ giai cấp nào, đều được đề bạt các chức vụ quản lý, từ thấp đến cao. Chế độ tuyển chọn nhân tài này đã tạo ra một đẳng cấp các nhà quản lý ở nhiều nước phương Đông kiểu Khổng giáo.

    Thuyết chính danh của Khổng Tử đòi hỏi đặt tên đúng sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó, khiến danh đúng với thực chất sự vật. Trong quản lý, chính danh là phải làm việc xứng đáng với danh hiệu chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì thân phải chính (có nhân), không chấp nhận thói xảo trá, lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh là vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi. Khổng Tử có tư tưởng khi việc làm vượt quá trách nhiệm và danh vị, Khổng Tử gọi là “Việt vị”. Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc, bất ổn của quốc gia là các hành vi “việt vị”, “tiếm lễ” của tầng lớp cai trị.

    Ngày nay, nhìn lại, chúng ta thấy tư tưởng quản lý của Khổng Tử có nhiều điểm bảo thủ, thiếu dân chủ và ảo tưởng. Nhưng ở thời ông, luật pháp còn rất sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo, dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh như vậy, Khổng Tử muốn xây dựng xã hội lý tưởng bằng cách bắt đầu “từ trên xuống dưới”, ông phải kêu gọi lòng khoan dung, sự gương mẫu của các nhà quản lý.

     

    CHƯƠNG II

    VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI

    I. Vận dụng trong thực tiễn

    Trong thực tiễn cải cách quản lý doanh nghiệp liên quan đến hai đặc tính lớn là tính dân tộc và tính thời đại của quản lý, về khách quan cũng tồn tại hai thái độ cực đoan đối với hai đặc tính lớn này. Đó chính là: Hoặc là chủ nghĩa bảo thủ dân tộc chỉ nhấn mạnh tính dân tộc của quản lý mà coi nhẹ tính thời đaị, hoặc chủ nghĩa hư vô dân tộc chỉ nhấn mạnh tính thời đại của quản lý mà coi nhẹ tính dân tộc. Hai thái độ này, về nhận thức để phiến diện, trong thực tiễn đều là có hại. Noi gương kinh nghiệm của Nhật Bản, trong hai thái độ cực đoan này cũng nên tìm được “Trung đạo” và kiên trì “trung dung”. Đó chính là một mặt biểu hiện khác của đạo trung dung trong quản lý doanh nghiệp. “Trung đạo” này đòi hỏi sự thống nhất hoàn mỹ giữa tính dân tộc và tính thời đại hoá quản lý doanh nghiệp, thực hiện việc hiện đại hoá quản lý doanh nghiệp có bản sắc dân tộc, cũng tức là quản lý doanh nghiệp có đặc sắc của Trung Quốc.

    Từ góc độ quản lý hiện đại, tiến hành phân tích, giám định toàn diện một lượt đối với quản lý truyền thống của Trung Quốc, cũng chính là xem xét một cách hệ thống “hiện thực” quản lý doanh nghiệp. Đối với những tư tưởng, lý luận, chế độ, phương pháp quản lý doanh nghiệp được chứng minh qua thực tiễn lâu dài, đã có đặc điểm văn hoá dân tộc, lại phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, phải tiến hành khẳng định, kế thừa và phát triển một cách đầy đủ. Đối với những cái có đặc điểm văn hoá dân tộc, nhưng không hoàn toàn phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, nên căn cứ  yêu cầu của quản lý hiện đại. Dưới tiền đề giữ gìn đặc tính cơ bản dân tộc, tiến hành cải tạo, loại bỏ, làm cho nó phù hợp với đòi hỏi của quản lý hiện đại. Chẳng hạn thực tiễn công tác giáo dục tư tưởng tiến hành mấy chục năm lại đây trong các xí nghiệp của Trung Quốc đại lục đã phù hợp với quan niệm nghĩa lợi trong truyền thống văn hoá dân tộc, lại nhất trí ở trình độ tương đối lớn với quản lý mềm, quản lý của thế giới ngày nay rất chú trọng đối với các doanh nghiệp.

    Về thực tiễn, quản lý đã có từ lâu. Nhưng quản lý trở thành một khoa học thì khởi đầu phải nói là phương Tây. Ở thế kỷ này, nhất là trước thập kỷ 70, quản lý học phát triển nhanh chóng, các học phái mọc ra như nấm, một cảnh tượng phát triển rực rỡ. Cần phải nói rằng, về mặt khoa học hoá, định lượng hoá về quản lý thì quản lý phương Tây có công đầu.

    Tóm lại: Quản lý doanh nghiệp kiểu Trung Quốc và Nhật Bản cần phải có nét khái quát lớn. Song nó không phải là trạng thái tĩnh, mà là trạng thái động. Nó dứt khoát không phải là một loại mô thức cứng nhắc cố định, hình thức cụ thể của nó phải tuỳ từng nơi mà chế định biện pháp thích hợp, tuỳ lúc mà chế định biện pháp thích hợp, từ đó mà là cái trăm ngàn dáng vẻ, phong phú, đa dạng.

    II. Những điểm lợi và hại của “Đức trị”

    Đường lối đức trị trong quản lý, chủ yếu là dựa vào xây dựng quan niệm giá trị chung của mọi người, dựa vào quyền lực phi chính thức của bản thân người lãnh đạo như phẩm chất đạo đức, tài năng, tình cảm…, dẫn dắt mọi người hoàn thiện cuộc sống tinh thần và tu dưỡng đạo đức, trên cơ sở đó, thực hiện khống chế bên trong của hành vi, khiến cho hành vi của mọi người tự giác đảm bảo nhất trí với mục tiêu tổ chức.

    Cái lợi và cái hại của quản lý đức trị, hầu như ngược lại với quản lý pháp trị, ưu điểm, khuyết điểm trái ngược nhau. Pháp trị dựa vào sức răn đe, luôn luôn có hiệu quả ngay. Đức trị dựa vào giáo hoá, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề. Như vậy, hiệu quả sẽ nhìn thấy chậm. Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lí tưởng, xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một sớm một chiều. Do vậy, dùng nó để ngăn cấm ác, giảm lan truyền thì tỏ ra lực bất tòng tâm. Nhất là trong khi quản lý xuất hiện hỗn loạn, đòi hỏi dẹp loạn để xây dựng lại trật tự, làm cho quản lý nhanh chóng từ không nền nếp chuyển biến thành có nền nếp thì đức trị tỏ ra mềm yếu đuối sức. Nhưng sau khi một loại tư tưởng, một loại quan niệm giá trị được mọi người tiếp nhận, thì thời gian phát huy tác dụng của nó tương đối dài, thậm chí là rất sâu xa. Điểm này quản lý pháp trị không sao bì kịp. Do vậy, có thể nói pháp trị theo đổi là hiệu quả thời gian ngắn, đức trị theo đổi là hiệu quả thời gian dài. Pháp trị là quản lý tính chiến thuật, đức trị là quản lý tính chiến lược.

    Còn chức năng đức trị ở chỗ “khuyên thiện”. Nó không phải là giảm lưu truyền, ngăn chặn “ác” một cách tiêu cực mà là tích cực tiêu diệt tận gốc cái “ác”, thực hiện “chặt đứt gốc rễ”, giải quyết vấn đề từ căn bản.

    III. Nhận xét

    Những phân tích ở trên cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý, hai đường lối quản lý đức trị và pháp trị phải có đủ cả và kết hợp sử dụng, rộng mạnh cùng thi hành. Kết luận của thực tiễn quản lý mấy ngàn năm của Trung Quốc đói với hôm nay phải có ý nghĩa răn bảo. Không chỉ Trung Quốc, ngay ở Nhật Bản, giới xí nghiệp trong tổng kết thực tiễn, cũng rút ra kết luận như vậy. Nhà xí nghiệp nổi tiếng đương đại Songxia nói: “Là một người lãnh đạo, đối với ân uy phải phối hợp vận dụng được”; “ân uy kiêm sử dụng, rộng nghiêm thoả đáng, mới có thể giúp nhau cùng hoàn thành thu được hiệu quả một công đôi việc”.

    Từ chức năng và đặc điểm của đức trị chúng ta có thể thấy nó phù hợp đòi hỏi tổ chức trị an lâu dài của xí nghiệp, có lợi cho phát triển ổn định lâu dài.

    Chức năng của quản lý đức trị dựa vào giáo hoá để hình thành khống chế bên trong của mọi người. Cũng tức là biến mục tiêu, tôn chỉ, quan niệm giá trị của xí nghiệp thành mục tiêu, tôn chỉ quan niệm giá trị của bản thân toàn thể thành viên.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu Luận Quy trình công nghệ sản xuất đường mía


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-th%E1%BB%9Di-gian.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng quản lý thời gian

     

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Thời gian là quý báu cho nhà lãnh đạo. dù ở trong công việc nào, bạn vẫn phải biết quản lý thời gian của mình. không có khác biệt nào giữa các cấp lãnh đạo. làm quản lý thường là giao việc cho người khác. dù vậy, bạn không thể tổ chức giao việc hiệu quả nếu bạn không tự mình tổ chức cho mình. thời gian là tài nguyên hiếm hoi. tự tổ chức và sắp xếp trách nhiệm có ý nghĩa là tổ chức và sử dụng quỹ thời gian của bạn cho cá nhân hay trong công việc, bạn cần xây dựng cho mình một chương trình làm việc xác định rõ quỹ thời gian nào dành cho việc nhỏ, ít quan trọng và dành nhiều thời gian hơn cho việc lớn, quan trọng hơn.

    tính chất phức tạp trong tổ chức ngày nay khiến cho bạn phải thực sự quan tâm đến việc sắp xếp chương trình sao cho tận dụng thời gian tốt nhất để đạt hiệu quả cao nhất.

    cần phải thích ứng để xác định đúng đắn, thận trọng những điều quan trọng thật sự cho dù cá nhân hay trong công việc. bạn phải suy tính như vậy trước khi bắt đầu chương trình hành động nào để tận dụng tối đa thời gian có được.

    bạn cần xác định và phân tích việc sử dụng của bạn hiện nay. chúng tôi đề nghị hãy giảm thiểu những điều ngăn trở thời gian của bạn và đây là vài ý kiến thực tế có thể giúp bạn khắc phục. sau cùng, đề nghị bạn lập ra một phương án riêng, trong đó bạn sẽ quản lý thời gian của mình một cách đều đặn.

    quản lý thời gian

    quản lý nghĩa là làm việc và tổ chức cùng với người khác. phần lớn thời gian bạn đã dùng để giao tiếp, tổ chức công việc với nhân viên. muốn tổ chức với người khác, bạn phải biết tự tổ chức và quản lý thời gian của chính mình.

    quản lý thời gian hiệu quả đem lại nhiều lợi ích thuyết phục

    • làm cho cuộc sống dễ dàng hơn
    • giảm căng thẳng (stress)
    • tăng hiệu quả
    • tăng niềm vui trong công việc
    • tăng năng suất của cá nhân và tập thể
    • tăng “thời gian riêng tư ” cho bạn dùng

    quản lý thời gian hiệu quả sẽ giúp bạn suy nghĩ thêm cho công việc quan trọng và thì giờ giải trí.

    năm chữ << a >> trong quản lý thời gian hiệu quả

    sơ đồ 1

    sơ đồ để quản lý thời gian tốt hơn

    1. aware : nhận biết : để đề ra mục tiêu cho cá nhân & công việc. sau đó sắp xếp ưu tiên
    2. analyse : điều cần làm
    3. attack : ăn cắp thời gian ® loại bỏ kẻ ăn cắp thời gian của mình.
    4. assign : lập thứ tự ưu tiên
    5. arrange : hoàn thiện kỷ năng, lập kế hoạch
    6. save time, better use : tiết kiệm thời gian, sử dụng thời gian tốt hơn
    1. awareness : nhận biết

    nhận biết đâu là điều quan trọng cho cá nhân và công việc. giai đoạn đầu tiên này giúp xác định mục tiêu cụ thể các yếu tố trên. bạn phải coi trọng các yếu tố liên quan đến cách thức sử dụng thời gian, thói quen, tác phong, giao tiếp và trách nhiệm công việc của bạn.

    1. analysis : phân tích điều cần làm.

    để cải thiện sử dụng thời gian bạn cần đào sâu chi tiết về cách sử dụng thời gian hiện tại / những điều làm mất thời gian. phân tích như vậy giúp bạn sẽ xác định được cần làm gì để tốt hơn.

    1. attack : ăn cắp thời gian (tg)

    có nhiều điều làm mất thời gian của bạn. những “kẻ cắp thời gian” cần phải loại bỏ khi bạn chú tâm vào những điều cần yếu.

    1. asignment : lập trật tự ưu tiên

    khi loại trừ “kẻ cắp thời gian”, bạn nhớ lập trật tự ưu tiên cho công việc đang dang dở.

    cần làm những việc này một cách đều đặn.

    1. arrangement : sắp đặt kế hoạch

    giai đoạn cuối cùng là bạn phải sắp xếp thời gian có mục đích rõ ràng. nhớ đều đặn hoàn thiện các kỹ năng “nhỏ bé” kể trên để phục hồi thời gian đã mất. bạn cần phải có kế hoạch thông minh.

    bây giờ chúng ta cùng xem kỹ hơn năm giai đoạn này :

    1. aware : nhận biết

    trước hết cần phải hiểu rõ chính bạn để có thể hoàn thiện việc quản lý thời gian. một, bạn nghiêm túc xác định mục đích cá nhân và công việc (hay các trọng điểm) : sẽ đi đâu và muốn thế nào. hãy viết các mục tiêu ra để thấy rõ mức độ quan trọng ở đó.

    hiệu quả quản lý thời gian có được từ hai cách kiểm soát : tự kiểm soát và kiểm soát công việc. tự kiểm soát là do hiểu biết chính mình : ưu điểm, khuyết điểm, nhân cách, cách nhìn sự việc theo tổng quan hay chi tiết. kiểm soát công việc là hiểu rõ công việc tức là tổ chức và vai trò trong tổ chức ấy. vì là lãnh đạo, bạn cần hiểu rõ mục đích chính của cơ quan. người ta sẽ đánh giá bạn qua sự hiểu biết này.

    khi đề ra mục đích và trọng tâm, bạn đã thấy đâu là điều quan trọng thật sự. hãy nghĩ về con người bạn muốn tạo nên. bạn hướng sự nghiệp về đâu ? cơ quan bạn cần đạt được điều gì ?

    để làm rõ mục đích không phải là chuyện dễ dàng. bạn biết sơ qua những liên quan đến mục tiêu. nhưng còn phải đưa ý tưởng mình ra ánh sáng. hãy làm như sau :

    • quan trong / ưu tiên :

    hãy tách riêng mục tiêu của gia đình với mục đích cá nhân và công việc (sự nghiệp / kinh doanh). nhớ phải giữ thế cân bằng. nếu bạn quyết định lấy bằng đại học, cùng lúc muốn dạy con bạn bơi lội và chơi lướt ván buồm tất cả các thứ một lúc thì xin bạn hãy suy xét lại. mọi mục tiêu đều quan trọng nhưng phải xác định cái nào quan trọng hơn trong thời điểm hiên tại :

    mức độ quan trọng tạm thời có thể hoán chuyển khi một vài trọng điểm đã hoàn tất / các ưu tiên có thay đổi.

    • kinh nghiệm quá khứ :

    hãy nhớ lại những chuyện đã làm hoặc xảy ra mà bạn cảm thấy “hài lòng” : lúc nào bạn đã thành công. có lẽ bạn mừng cho sự thăng chức trong vị trí hiện nay.

    về cá nhân, khi mua nhà mới hoặc đi nghỉ hè với bạn thân đều đem lại niềm sung sướng. nếu cảm nhận sự hài lòng ở đâu thì điều quan trọng cũng ở ngay đó vậy.

    • thực tế : (khi xác định mục tiêu)

    mục đích phải thực tế. nếu chỉ cao 1,45 m mà ước mong là ngôi sao trong đội bóng rổ chuyên nghiệp thì bạn viễn vông lắm đấy.

    • rõ ràng :

    mục đích cần rõ ràng, hợp lý và có hạn định. hãy nghĩ làm thế nào đạt mục đích và lên kế hoạch thực hiện.

    • viết ra giấy : (để hệ thống hóa, tránh sai sót)

    hãy viết ra giấy những ý tưởng của bạn. đừng lừa dối chính mình khi cho là có thể nhớ trong đầu các mục đích đa dạng của bạn.

    chúng ta đang nói đến những mục tiêu dài lâu cả đời người.

    hơn nữa, khi ghi chép các mục đích, bạn sẽ chú tâm đến những điều mình tin tưởng. khi viết ra giấy, các mục tiêu thường khác đi so với khi chúng còn nằm trong trí não.

    bảng sau đây sẽ cho bạn biết về các điều trên. bạn sẽ học cách thiết lập, sắp xếp ưu tiên, làm việc tích cực, hướng về mục đích đề ra.

    còn những điều khác ảnh hưởng đến quỹ thời gian của bạn : tư cách, thói quen và giao tiếp nếu bạn hay truyền miệng để liên lạc với nhân viên thì có ảnh hưởng đến thời gian của bạn là : bạn có thể đã nói đi nói lại mười lần cùng một thứ cho mười người khác nhau. thực ra chỉ cần một lời nhắn ngắn gọn là đủ.

    khó làm thay đổi thói quen nhưng làm vẫn được. còn có trách nhiệm công việc liên quan đến thời gian của bạn. những trách nhiệm này không hằn là điều bạn phải tin là quan trọng. có khi là những yêu cầu đòi hỏi trong công việc mà chúng ta không thích lắm nhưng phải chịu đựng. đó là những điều không quan trọng lắm nhưng lại không thể tránh được. bạn hãy giữ cho quân bình giữa điều quan trọng trong công việc và những bổn phận áp đặt lên bạn. hãy làm rõ trách nhiệm của bạn.

    trách nhiệm của bạn :

    • chịu trách nhiệm về những ai ?
    • mức độ trách nhiệm đối với họ ?
    • tôi có nắm nguồn lực và kinh phí riêng ?
    • tôi làm việc trong môi trường chính yếu nào ?
    • tôi chịu trách nhiệm hành chính nào ?
    • tôi có phải tiếp xúc với khách hàng bên ngoài ?
    • tôi có phải phát huy sáng kiến ?
    • tôi được quyền hạn gì ?
    • nhân viên của tôi trách nhiệm ra sao ?
    • đồng nghiệp của tôi có trách nhiệm nào ?
    • nhiệm vụ của cơ quan tôi là gì ?
    • trong công việc, có nguyện vọng gì tôi chưa đưa ra ?

    có thể liệt kê thêm nữa nhưng khi trả lời những câu hỏi trên sẽ giúp bạn định hình được trách nhiệm của mình.

    1. analyse : phân tích

    khi đã đề ra mục tiêu rồi, bạn phải làm một bước thực tế phân tích cách thức sử dụng thời gian. để kiểm soát được thời gian của mình, bạn phải biết dùng nó thế nào ?

    có vẻ như đơn giản, nhưng phần lớn các lãnh đạo lại không thể nói cho bạn biết chi tiết họ đã dùng thời gian trong ngày hay trong tuần như thế nào.

    bạn cần sử dụng thời gian của mình. cần phân tích rõ cách sử dụng sau khi biết rõ mình phải làm gì. hãy mổ xẻ thì giờ trong ngày và xem xét, tự hỏi : tôi dành thời gian bao lâu để họp hành ? tôi đã làm công việc của người khác mất bao lâu ? hãy biết rõ thực sự bạn đang làm điều gì ?

    nhật ký / tự đánh giá :

    phương pháp này, để bạn tự đánh giá theo mẫu “ngày của dũng” như ở đây / có mẫu khác rõ ràng hơn. hãy sắp xếp công đoạn làm việc theo từng 5, 10, 15 / 30 phút.

    mẫu tự đánh giá : (một thí dụ)

    thứ hai

    giờ                                                        công việc

    7h30 – 8h00         …………………………………………………………………………………………….

    8h00 – 8h30        …………………………………………………………………………………………….

    8h30 – 9h00        …………………………………………………………………………………………….

    9h00 – 9h30        …………………………………………………………………………………………….

    9h30 – 10h00      …………………………………………………………………………………………….

    10h00 – 10h30    …………………………………………………………………………………………….

    10h30 – 11h00    …………………………………………………………………………………………….

    11h00 – 11h30    …………………………………………………………………………………………….

    11h30 – 12h00    …………………………………………………………………………………………….

    12h00 – 12h30    …………………………………………………………………………………………….

    12h30 – 13h00    …………………………………………………………………………………………….

    13h00 – 13h30    …………………………………………………………………………………………….

    13h30 – 14h00    …………………………………………………………………………………………….

    14h00 – 14h30    …………………………………………………………………………………………….

    14h30 – 15h00    …………………………………………………………………………………………….

    15h00 – 15h30    …………………………………………………………………………………………….

    15h30 – 16h00    …………………………………………………………………………………………….

    16h00 – 16h30    …………………………………………………………………………………………….

    16h30 – 17h00    …………………………………………………………………………………………….

    17h00 – 17h30    …………………………………………………………………………………………….

    17h30 – 18h00    …………………………………………………………………………………………….

    khoảng thời gian dự tính tùy theo bạn sắp đặt. cần nhất là bạn phải biết mình đang thực sự làm điều gì lúc này. đề nghị bạn theo dõi thời gian biểu trong vài ngày liền ít nhất 3 lần trong năm. bạn hãy tập ghi chép lại công việc của mình. làm như thế, bạn sẽ biết rõ mình đang làm gì và đặt điều quan trọng nhất bạn muốn làm để hướng gần đến mục tiêu.

    tự xem xét xong, bạn hãy sang phần phân tích. để có ích lợi hơn, chúng ta hãy thực hiện một khoảng thời gian biểu trọn ngày. bạn càng chi tiết càng tốt và liệt kê công việc và thời gian thực hiện.

    thí dụ :  ngày của dũng” là một mẫu tham khảo như sau :

    ngày của dũng

    ngày thứ ba, 23/3
    giờ công việc tham gia
    7.30-7.41 uống cà phê, đọc báo tôi
    7.41-7.44 điện thoại từ chi nhánh số 5, đòi số liệu cho báo cáo
    7.44-7.50 đến phòng thư ký tìm tư liệu tôi
    7.50-7.53 hiền (thư ký) đến tìm tư liệu hiền
    7.53-7.56 sơn ghé vào xác nhận cuộc họp sơn
    7.56-8.00 giải thích xong cho hiền điều cần thiết hiền
    8.00-8.02 điện thoại từ nhà gọi đến lan (vợ tôi)
    8.02-8.16 làm việc về bản báo cáo năm tôi
    8.16-8.18 điện thoại từ chi nhánh số 5. nhắc lấy dữ liệu.

    nhắc hiền đưa dữ liệu cho lý

    8.18-8.23 nhận điện thoại từ hiền hiền
    8.23-8.29 làm tiếp bản báo cáo tôi
    8.29-8.47 tuấn ghé vào mời mọi người dùng cơm trưa tuấn
    8.47-8.49 điện thoại yêu cầu của bộ bộ
    8.49-8.54 hai gặp tuấn và đề nghị dùng cơm trưa ở số 94. hai, tuấn
    8.54-9.01 làm tiếp bản báo cáo tôi
    9.01-9.07 minh (ông chủ) gọi điện báo thay đổi lịch minh
    9.07-9.21 xem lại kế hoạch cho năm sau tôi
    9.21-9.23 phòng máy tính gọi đến đề nghị nâng cấp trang thiết bị phúc
    9.23-9.30 lập chương trình họp tôi
    9.30-9.34 hùng ghé vào để kiểm tra số ngày nghỉ còn tồn đọng và than phiền về cấp trên. buổi gặp mặt được sắp xếp với anh ta cho buổi chiều. hùng
    9.34-9.52 nghỉ giải lao và dùng cà phê những người khác
    9.52-l0.01 chuẩn bị lịch trình cho buổi họp tôi
    10.01-10.20 đi đến phòng họp, ngừng lại tán chuyện với đồng nghiệp những người khác
    l0.20-10.25 chờ mọi người đến dự họp những người khác
    10.25-11.32 điều hành cuộc họp về kế hoạch phát triển năm tới những người khác
    11.32-13.05 ăn trưa những người khác
    13.05-13.20 đi dạo tán gẫu với các đồng nghiệp  
    13.20-13.30 chuẩn bị cho cuộc họp với hùng tôi
    13.30-13.37 hùng đến, buổi họp bắt đầu hùng
    13.37-13.41 thư ký của phó chủ tịch hội đồng điện thoại về việc chậm trễ trả lời thư. thư ký phó chủ tịch hội đồng
    13.41-13.44 gọi điện cho kim nhắc đến lá thư. kim
    13.44-13.52 tiếp tục cuộc thảo luận với hùng hùng
    13.52-13.55 điện thoại từ phân xưởng báo thắng đang cãi nhau với người quản đốc. người khác

    tôi

    13.55-14.00 bảo hùng quay trở lại sau và đi xuống phân xưởng hùng
    14.00-14.24 nói chuyện với thắng và với quản đốc của anh ta để giúp họ giải quyết vấn đề. sắp xếp buổi gặp mặt. thắng và người quản đốc
    14.24-14.35 ký, các lá thư cho hiền và đọc đánh máy bản thông báo nội bộ. hiền
    14.35-14.39 điện thoại của con hỏi xin tiền hiếu
    14.39-14.47 chấm dứt việc đọc đánh máy, ký vài lá thư hiền
    14.47-15.15 dùng cà phê giải lao người khác
    15.15-15.36 thảo luận về những số liệu cho năm tới với các quản đốc. các quản đốc
    15.36-15.38 hai gọi điện báo cô ấy phải về nhà vì bệnh hai
    15.38-15.46 tiếp tục cuộc thảo luận các quản đốc
    15.46-15.49 ở nhà gọi điện bảo lúc về đón con gái mai ở trường lan (vợ)
    15.49-16.07 phi ghé vào nói về việc đề bạt thăng chức

    dời phần còn lại của cuộc thảo luận cho đến ngày mai

    phi

    các quản đốc

    16.07-16.20 thảo luận việc đề bạt thăng chức với phi phi
    16.20-16.22 lan gọi điện hẹn gặp ngày mai lan
    16.22-16.32 thu dọn đồ: số liệu năm sau, bản báo cáo và dụng cụ chơi tennis.  

    bài tập :

    bạn là đồng nghiệp và là một người bạn thân của ông dũng. ông dũng rất không hài lòng với một ngày làm việc như vậy. không may là những ngày làm việc lộn xộn như vậy lại xảy ra rất thường xuyên. ông ta yêu cầu bạn cho một vài lời khuyên nhằm cải thiện việc sắp xếp thời gian của ông ta. bước đầu bạn nên phân tích việc ông dũng đã sử dụng thời gian của mình như thế nào và tại sao lại như vậy. sau đó, bạn hãy đề nghị phương pháp để quản lí thời gian tốt hơn. bạn có thể đặt vài câu hỏi quan trọng với ông dũng để giúp ông ta.

    khi phân tích thời gian biểu hãy nhớ những điểm sau :

    • công việc ích lợi nào chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc vô bổ chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc ích lợi nào không đáng dành nhiều thời gian ?
    • công việc nào cần thời gian nhiều hơn ?
    • lúc nào trong ngày thì bận rộn nhất ?

    sơ đồ 2

    ngày của dũng

    (sau khi phân tích)

    loại công việc động tác thời lượng (phút) % tổng số thời gian
    chuyên môn 7 139 27,5%
    cấp bách 5 41 8,1%
    thường xuyên 25 165 32,6%
    cá nhân 11 161 31,8%

    dũng sắp xếp công việc của mình như sau :

    chuyên môn (c) : công việc nghiệp vụ như lên kế hoạch lâu dài, viết hồ sơ nhân viên, xem xét báo cáo.

    cấp bách (không dự báo trước được) (cb) : việc cần làm ngay như bất đồng cá nhân, quyết định cấp bách.

    thường xuyên (t) : việc hành chánh giấy tờ, thư từ, điện thoại, nhắc nhở nhân viên.

    cá nhân (cn) : việc riêng như gia đình, giải lao.

    trong mỗi phần, dung ghi rõ c, cb, t, cn. sau đó cộng hết thảy động tác của từng loại.

    nhìn chung sẽ thấy dũng mất nhiều thời gian cho những việc không quan trọng. việc hành chánh và cá nhân chiếm quá nhiều thời gian trong một ngày làm việc. nếu bạn cũng thế thì hãy biết còn nhiều người cũng vậy lắm. các nghiên cứu cho thấy người lãnh đạo thường bị lôi cuốn vào những chuyện lung tung, nhất thời và giai đoạn hoặc mất liên tục trong công việc.

    nói thực, bạn sẽ khó tìm được cách giải quyết thỏa đáng cho những điều quan trọng. có khi bạn bận rộn (hay cảm thấy như vậy) vì cứ phải trả lời điện thoại, khách không hẹn trước hoặc giải quyết bất đồng cá nhân. có nhiều người lãnh đạo và tổ chức cho “sự bận rộn” là đồng nghĩa với hiệu suất và cho như vậy là làm việc siêng năng. không phải thế đâu nếu như có ai đó cứ loay hoay bận bịu, lúc nào cũng căng thẳng, ấy là vì họ đã có thể không biết cách sắp xếp thời gian hợp lý.

    nếu bạn giống như họ, bạn sẽ mất nhiều thời gian lệ thuộc vào tác động của người khác thay vì đã có thể lên chương trình làm việc chú tâm vào những điểm cần thiết quan trọng hơn. bạn đang mất nhiều thời gian cho những điều ít hiệu quả.

    1. assign : lập trật tự ưu tiên

    lập thời gian biểu xong, bạn cần biết phân loại như sau :

    • kiểm soát được / chủ động
    • quan trọng
    • khẩn trương
    • giao cho ai khác
    • kiểm soát được / chủ động :

    hãy tự hỏi mình có thể tự kiểm soát được bao nhiêu công việc ? cần bổ sung gì cho công việc. nếu bạn chú tâm vào những việc không liên quan trực tiếp hoặc của người khác đang làm tốt hơn thì bạn đã mất thời gian.

    công việc nào tự bạn làm lấy ? việc nào do người khác đề nghị ? hãy xem lại khung thời gian biểu của mình và chọn ra. tính điểm khả năng chủ động của bạn theo cách sau :

    (điểm 0 đến 6)

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    3 : bạn có kiểm soát một phần trong công việc

    6 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra bạn ở mức độ kiểm soát thế nào trong khung thời gian của mình.

    cũng tính như vậy cho “chủ động

    0 : bạn bị động hoàn toàn trong công việc

    3 : bạn có linh động trong công việc

    6 : chủ động hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra khả năng chủ động của bạn

    • sự quan trọng :

    hãy sắp xếp công việc theo mức độ quan trọng “có” và “không”. nghĩa là phải nghỉ đến hậu quả của các quyết định và hành động. sẽ phí thời gian nếu bị kẹt vào những điều không quan trọng so với mục tiêu đề ratrách nhiệm chính.

    theo pareto’s law, còn gọi là “luật 80/20” thì người lãnh đạo chỉ dành được 20% thời gian cho kết quả tốt. còn lại 80% là chuyện “bỏ đi”.

    • sự khẩn trương :

    công việc có khẩn trương và cần làm ngay không ?

    cần điều kiện thời gian đủ để hoàn tất công việc ngay. liệu có thể để lúc khác được không ?

    hãy phân biệt rõ việc “khẩn” và việc “quan trọng”.

    việc “khẩn” nhiều thì không quan trọng nhưng lại chiếm chỗ trước việc “quan trọng”. việc quan trọng gắn liền với kết quả phải có. việc “khẩn” thường do người khác tác động. bạn hãy kiểm soát lượng thời gian dành cho việc “khẩn”. cũng phải biết xếp thứ tự công việc. đó là sự ưu tiên.

    nhớ chú ý tới hai ảnh quan trọng và khẩn trương được trình bày trong sơ đồ sau đây :

    • khi thật quan trọng và thật khẩn, hãy làm ngay đi. không thể do dự vì đúng là công việc quá quan trọng.
    • khi thật quan trọng nhưng chưa thật khẩn trương thì bạn vẫn còn thời gian sắp xếp và giao phó cho ai một phần để bắt đầu công việc. dù sao cũng đừng để lâu quá. bởi vì đó là việc quan trọng liên quan đến kết quả.

    thí dụ : khi phải báo cáo trong hai tháng tới với ban giám đốc, bạn phải làm nghiêm túc vì có ảnh hưởng đến vị trí công tác và phòng ban trong cơ quan.

    • nếu thật khẩn nhưng không mấy quan trọng, bạn có hai giải pháp :
      • làm liền nhưng đừng kéo dài thời gian, chấm dứt sớm.
      • chuyển giao cho ai khác

    thí dụ : giám đốc cần danh sách nhân viên nghỉ phép trong một giờ tới. hãy làm cho xong vì đó chỉ là hành chánh.

    • nếu chẳng khẩn cũng chẳng quan trọng lắm, bạn hãy tự hỏi có nên làm không ? loại việc này có thể bỏ qua, quên đi hoặc giao cho ai khác.

    thí dụ : người trợ lý hỏi bạn màu xanh hay màu đỏ thì hợp cho bìa bản báo cáo.

    1. attack : kẻ cắp thời gian

    có nhiều thứ làm tiêu hao thời gian. cần phải biết rõ chúng để loại trừ. có hai loại bạn phải thanh toán. một là kẻ cắp bên ngoài : điện thoại nói chuyện lê thê, khách dai dẳng, hội họp thiếu tổ chức, bất hòa cá nhân và chuyện phiếm. hai là kẻ cắp bên trong : chẳng biết nói ”không”, do dự, dời lại công việc, lỗi lầm, không kế hoạch, không biết giao việc.

    bạn chắc đã gặp các thứ này rồi.

    kẻ cắp thời gian tiêu biểu :

    • không biết nói “không”
    • nói chuyện điện thoại lâu quá
    • khách thăm thình nịnh
    • nơi làm việc kém tổ chức
    • dời việc lại sau ® thường sảy ra khi gặp việc khó khăn ® nên : xé nhỏ công việc & bắt tay làm ngay để tránh tress.
    • cầu toàn
    • giấy tờ nhiều quá
    • giao tiếp kém
    • không biết giao việc (không chịu ủy quyền cho người khác)
    • không biết tổ chức buổi họp

    kẻ cắp 1 : không biết nói “không”

    chúng ta khó mà nói “không” với ai đó vì muốn giúp họ hơn là làm buồn lòng họ. có khi bạn khó nói “không” vì đã tham gia nhiều dự án hiệu quả làm cho bạn cảm thấy quan trọng và cần thiết. nói “có”  dễ làm bạn cảm thấy bận rộn và được yêu thích. hãy coi chừng ! nếu bạn cứ nhận đại mọi thứ mọi lúc thì người ta sẽ coi như bạn chắc chắn trả lời “có” bất cứ khi nào.

    • đối phó : sắp xếp ưu tiên cho công việc

    xem xét mọi đề nghị dựa trên mức độ quan trọng đối với bạn và đối với cơ quan. nếu không thấy quan trọng và không liên quan đến trách nhiệm của bạn, hãy từ chối nhẹ nhàng. nếu ai đó nhờ bạn làm một phần việc của họ, chẳng có lợi lộc gì khi bạn nói “có”.

    để ngày mai”, “lúc khác thuận tiện hơn” là một cách để nói “không”.

    tóm tắt

    để nói “không”

    Ø      sắp xếp ưu tiên công việc

    Ø      nói “không” khi việc chẳng quan trọng lắm

    Ø      nói “không” khi chẳng phải trách nhiệm của bạn

    Ø      hãy bắt đầu nói “không” với các đề nghị nhỏ

    Ø      hãy hỏi “có ai khác làm được việc đó không ?”

    Ø      tìm cách nói “không” một cách lịch sự

    kẻ cắp 2 : nói lâu trên điện thoại

    bạn nói chuyện điện thoại bao lâu ? thời gian cần thiết là bao lâu ? chúng ta thường nói lâu hơn cần thiết.

    có nhiều lý do giải thích như sau :

    • kéo dài câu chuyện
    • kể lể chuyện này chuyện kia
    • không chịu dừng đúng lúc
    • trả lời mọi cuộc điện thoại
    • không sử dụng đúng thư ký / không có thư ký
    • đối phó : hãy tách riêng chuyện phiếm với công việc.

    lời chào “thật tốt khi nói chuyện với bạn, các con bạn thế nào ?” thì vô hại nếu không kéo dài sang chuyện khác. hãy viết ra giấy trước những gì bạn cần bàn qua điện thoại. chú tâm vào đó và đừng lạc đề. có nhiều lãnh đạo không làm sao biết dừng một cuộc điện.

    có 2 cách thức liên quan tới nhau. nếu tự trả lời điện thoại hoặc “tự do mở cửa” cho mọi cuộc điện thoại thì bạn đang mất thời gian của mình. nếu có thư ký, hãy dặn dò họ sàng lọc hoặc giới hạn điện thoại. chỉ nên nhận những cuộc điện thoại thật sự quan trọng. hãy sắp xếp những mức độ ưu tiên với thư ký. nếu không có thư ký, bạn cần nhấc ống nghe ra hoặc chuyển tự động sang máy khác để dễ tập trung làm việc.

    sẽ mà làm việc nếu để điện thoại kiểm soát ngày làm việc của bạn.

    tóm tắt

    giải quyết nói chuyện điện thoại lâu

    Ø      phân biệt chuyện phiếm với công việc

    Ø      sắp xếp các ý tưởng cần bàn

    Ø      học cách dùng cuộc điện thoại

    Ø      lấy ống nghe ra khỏi máy

    kẻ cắp 3 : bận rộn vì khách thăm dai dẳng

    “tôi chỉ ghé qua chào bạn. tôi hơi làm biếng. liệu tôi có làm phiền khi xin một tách cà phê không ?”  chuyện như vậy cứ hay xảy đến với mỗi chúng ta, chắc chắn là vậy.

    nhất là khi bạn đang chú tâm vào một việc quan trọng. đôi khi chính là lỗi của bạn. có nhiều lãnh đạo thích “mở cửa tự do”. họ cho phép nhân viên gặp họ bất cứ khi nào muốn nói chuyện chơi hoặc khi có khó khăn bất kỳ. dường như họ nói : “thời gian của tôi không quan trọng lắm, hãy cứ đến mà lấy đi”.

    cho dù bạn không “mở cửa tự do”, bạn vẫn cứ gặp khách thăm dai dẳng với nhiều kiểu lý do khác nhau. nhiều người chẳng làm gì để hạn chế sự việc này.

    người khác lại chẳng biết chấm dứt một câu chuyện vì sợ bị cho là cộc cằn.

    • đối phó :

    1- cho nhân viên biết khi nào bạn tiếp khách được. hãy lập một chính sách “mở cửa” giới hạn. thí dụ : mỗi trưa thứ tư từ 14.00 – 17.00. tuy nhiên, nên đề nghị gặp gỡ chỉ khi thật sự cần thiết kể cả việc riêng tư. hãy dành cho mình các khối thời gian để làm việc quan trọng hơn.

    2- cùng soạn với thư ký một mẫu sàng lọc để lựa chọn cho đúng người cần gặp. không có thư ký thì bạn phải đề nghị hẹn trước để sắp xếp.

    3- nếu khách đến bất chợt không hẹn thì bạn đứng dậy hoặc ngồi trên bàn làm việc tiếp họ và nói rằng “hiện tôi khá bận rộn ?”. hãy giới hạn thời gian và đề nghị họ sớm chấm dứt. hãy nghiêm túc, nhưng đừng cộc cằn. nếu được, bạn hãy ở văn phòng người khác để cho bạn chấm dứt câu chuyện và đi ra. phương pháp trên cũng được dùng được với cấp trên.

    4- nghiêm khắc với thời gian biểu của bạn nhưng từ tốn với các bạn đồng nghiệp. đó là điều tốt vì bạn còn làm việc cùng nhau. nhờ vậy cũng tránh được xáo trộn ngoài ý muốn có khi lại còn chiếm dụng thời gian nhiều hơn. nếu có ai xông vào văn phòng bạn, hãy nhớ những cách xử sự sau :

    • không tỏ vẻ bối rối
    • lắng nghe cẩn thận
    • đừng ngắt lời
    • vào thẳng vấn đề và nói “không” khi cần thiết
    • làm tiếp công việc dở dang sau khi gián đoạn

    tóm tắt

    giải quyết gián đoạn :

    Ø      giới hạn thời gian tiếp khách

    Ø      cho mọi người biết khi nào bạn tiếp khách được

    Ø      đưa ra một phương cách chọn lọc

    Ø      đừng làm phật lòng khách không mời

    Ø      làm chủ tình hình gián đoạn nhưng hãy từ tốn

    kẻ cắp 4 : văn phòng bừa bộn

    văn phòng bừa bộn, bàn làm việc bừa bãi chúng tỏ bạn không có tổ chức.

    • đối phó :
      1. chỉ để ít đồ trên bàn thôi. dành chỗ cho đồ dùng cần thiết như điện thoại, khay hồ sơ “đi”, “đến”, bút viết. như vậy, bạn sẽ có chỗ để làm việc. chỉ nên để việc đang làm trên bàn. đừng chồng chất giấy tờ hồ sơ, làm choáng chỗ và phân tâm trong công việc.
      2. hãy để mọi thứ trong tầm tay : hồ sơ, tủ hồ sơ, vi tính, máy tính… mọi thứ bạn hay thường dùng.
      3. đặt mỗi thứ theo một chỗ nhất định. sẽ tránh được những lúc bực mình chỉ vì không tìm được những thứ mình cần ngay lúc mình cần nó nhất.
      4. nên có một cách sắp xếp hồ sơ hợp lý. có thể dùng nhiều cách : đánh số thứ tự, dùng màu làm dấu, thứ tự a, b, c…soạn lại thường xuyên để lọc bớt dư thừa. ngay lúc này, bạn có dọn sạch một nửa tủ hồ sơ của bạn nếu chịu loại bỏ đi những thứ dư thừa.

    tóm tắt

    giải quyết văn phòng bừa bộn

    Ø      chỉ để thứ cần dùng trên bàn

    Ø      để mọi thứ cần thiết trong tầm tay

    Ø      chỉ định chỗ cho từng vật dụng

    Ø      hồ sơ sắp xếp hợp lý

    Ø      tìm cho bạn cách quản lý thích hợp

    kẻ cắp 5 : dời việc lại

    kẻ cắp này quá quen thuộc, nhất là lúc chúng ta cần giải quyết việc quan trọng hoặc phải làm điều không thích hoặc cần quyết định ngay việc chi. nó ít khi xuất hiện khi chúng ta chỉ có việc lặt vặt tầm thường không quan trọng trước mắt.

    có thể thấy kẻ cắp này trong những chuyện phiếm, đọc thư lại 2-3 lần, xếp tài liệu hoặc dọn bàn làm việc. thời gian của bạn bị gặm nhấm dần dần.

    đã bao nhiêu lần bạn nghĩ : “tôi sẽ làm ngày mai, hôm nay không có thì giờ”.

    • đối phó :
      1. nếu phải làm một việc tẻ nhạt, không thích thú, bạn hãy làm chút ít thôi. hãy chia nhỏ nó ra và làm từng chút một. dù chỉ có 10 phút, cứ làm cho xong.
      2. đừng đặt ưu tiên thấp lên trên ưu tiên cao. thường chúng ta thích làm việc dễ trước. dù sao nó làm cho bạn có vẻ như bận rộn để từ chối những việc cần thiết hơn.
      3. tự dạy cho mình “cần làm ngay”. khi không muốn, hãy nhắc nhở chính mình. làm ngay và quên đi. cố gắng ìấy thái độ “cần làm ngay” thay vào thói quen dời việc.
      4. ghi nhớ và lập lại những mục đích đề ra để tránh sự dời việc. chú tâm vào mục đích để thấy các mức độ quan trọng của từng việc.
      5. hãy chuẩn bị thì giờ bắt đầu công việc, đừng chờ đến cuối mới lo. hãy ghi nhớ giờ “bắt đầu” cùng với giờ “kết thúc”.

    tóm tắt

    giải quyết thói quen dời việc

    Ø      làm từng chút một

    Ø      làm việc quan trọng trước

    Ø      làm ngay đi

    Ø      tự nhắc nhở mục đích đề ra

    Ø      đặt giờ “bắt đầu” và giờ “kết thúc”

    kẻ cắp 6 : tính cầu toàn

    ai cũng thích một việc làm hoàn hảo. nhưng có lãnh đạo quá lo lắng hoàn thiện công tác nên mất thời gian vô ích. khi hướng tới sự quá hoàn mỹ, bạn sẽ quên đi sự giao việc ủy quyền vì sẽ nghĩ rằng không có việc làm tốt nếu không giám sát chặt chẽ. bạn cũng không biết nhờ giúp đỡ vì sợ phạm sai lầm. có lẽ bạn sẽ có ý nghĩ lùi thời hạn lại để bảo đảm mọi việc được hoàn hảo hơn.

    nếu cứ lục soát hồ sơ xem xét cái hoàn mỹ, thì liệu bạn còn thời gian cho việc quan trọng khác không ? có nhà lãnh đạo kia tự hào về khả năng soi mói được cả những lỗi nhỏ nhất trong các giấy tờ : lỗi văn phạm, từ vựng, đánh máy.

    • đối phó :

    hãy sắp đặt ưu tiên cho từng việc. đừng phí thời gian làm quá tốt những việc thứ yếu. bạn hãy tự hỏi : “liệu thời gian bỏ ra có xứng đáng cho chất lượng đạt được không ?”

    để ý chi tiết cũng tốt nhưng sẽ không tốt nếu điều đó làm cho chúng ta không nhìn toàn cảnh : bạn làm gì trong công việc này. hãy ghi nhớ đến các ưu tiên. tốc độ cũng hiệu lực như sự chuẩn xác. hãy sắp xếp ưu tiên cho công việc.

    tóm tắt

    giải quyết sự cầu toàn

    ü      sắp xếp ưu tiên cho từng việc

    ü      đừng mất thời gian cho việc thứ yếu

    ü      ghi nhớ “toàn cảnh”

    ü      không để phân tâm vì những việc lặt vặt

    ü      hãy tin cậy giao việc cho người khác

     

    kẻ cắp 7 : giấy tờ nhiều quá

    trong thời đại vi tính ngày nay, chúng ta vẫn gặp vấn đề với hàng đống giấy tờ hồ sơ, báo cáo, ghi chú, thư từ, quảng cáo, đơn xin…không kể hết. bạn làm gì với hàng đống giấy tờ trên mỗi ngày ?

    bạn xếp chúng thành đống rồi chờ chúng tự biến mất ? hay bạn cất hết chờ khi có lúc

    dùng đến ?

    ngoài việc nhận hàng đống giấy tờ, các nhà lãnh đạo cũng sản sinh ra chúng nữa. có một vị hiệu trưởng kia thích liên hệ với đồng sự và các trưởng khoa bằng tờ ghi chú có khi 2 tờ mỗi ngày. vậy mà phòng hiệu phó chỉ ngay sát bên ! có nhiều lý do khiến chúng ta hay viết như sau :

    1. tự bảo vệ nếu có điều bất trắc
    2. để cho người ta chú ý
    3. để giám đốc chú ý
    4. để cho biết mình hiện hữu
    5. để cho vui

    bạn có thích một trong các lý do kể trên không ? nếu có thì bạn đã gây ra hàng đống giấy tờ vô ích mà không có lý do chính đáng. quá nhiều giấy tờ có 2 ý nghĩa : mình nhận quá nhiều và cũng sản sinh ra thừa thải.

    • đối phó :

    khi nhận hồ sơ, thư từ hãy dành thời gian xử lý trong ngày. nhớ để giỏ rác gần bạn. và bắt đầu xem xét. lướt qua những gì đã nhận và thực hiện ngay một trong các động tác sau đây :

    1. vứt bỏ
    2. chuyển giao
    3. làm theo
    4. lưu : a) dài hạn
    5. b) chờ

    cần biết rằng 80% thư từ có thể xử lý tức thời. khi sàng lọc xong, giỏ rác của bạn chắc phải đầy ắp. hãy cố gắng xử lý một lần đủ cả. sau khi xử lý xong thứ nào thì vứt bỏ đi. có hồ sơ cần lưu lâu hơn hoặc tạm thời. nhớ xác định thời hạn lưu giữ. ghi chú hạn định trên hồ sơ đó để đến lúc cần loại bỏ thì có thể làm ngay.

    hồ sơ lưu phải dễ lấy và ghi chép đầy đủ. xem lại mỗi chu kỳ 6 tháng để loại bớt những hồ sơ không cần thiết nữa.

    bạn đừng sản sinh ra số lượng giấy tờ quá mức cần thiết. truyền miệng tiết kiệm thời gian và có lợi khi làm công việc thứ yếu. nếu phải viết, hãy viết đơn giản. dùng mẫu có sẵn và vào đề ngay. để sắp xếp lại giấy tờ, hãy phân loại theo đề tài đã có trước.

    tóm tắt

    giải quyết đống giấy tờ

    ü      dành thời gian mỗi ngày để xử lý

    ü      sắp xếp ưu tiên và phân loại

    ü      chỉ trả lời trên giấy khi cần thiết

    ü      dùng điện thoại khi tiện lợi

    ü      chỉ xử lý một lần đủ cả

    ü      thông tin bằng truyền miệng

    ü      nếu phải viết, hãy viết đơn giản và thẳng thắn

    kẻ cắp 8 : giao tiếp kém

    thời gian lãng phí cũng có thể do thông tin giao tiếp nội bộ còn kém. nếu nhân viên không hiểu rõ công việc, họ sẽ liên tục làm phiền bạn để làm rõ hoặc tệ hơn, họ chẳng chịu làm công việc cần làm. nhiều khi chúng ta giao tiếp với nhân viên bằng những cách không thích hợp.

    nếu viết ghi chú cho đồng nghiệp ở ngay phòng bên thì thật là vô bổ trừ khi việc cần hồ sơ lưu lại. trách nhiệm lãnh đạo yêu cầu bạn phải tổ chức thông tin giao tiếp nội bộ xuyên suốt để khỏi phải lặp đi lặp lại mãi chỉ một chỉ thị.

    • đối phó :

    hãy nghĩ về điều cần thông báo và chọn phương tiện thích hợp nhất: : họp, điện thoại, bảng biểu, ghi chú… nhớ đưa thông tin sao cho thích nghi với từng cá nhân chịu trách nhiệm. coi chừng thông tin dư thừa. nếu muốn ai làm việc gì cụ thể, chỉ cần đưa yêu cầu cần thiết cho họ mà thôi.

    hãy đảm bảo mọi thông tin đều được hiểu rõ ràng. bạn phải biết truyền đạt qua hệ thống thông tin nội bộ nhanh gọn dễ dàng để người nhận có được thông tin rõ ràng nhất. chỉ nên viết hoặc gặp mặt khi trao đổi các nhóm. ngôn ngữ phải dễ hiểu và được mọi tiếp nhận dễ dàng.

    tóm tắt

    giải quyết giao tiếp kém

    ü      tìm phương tiện truyền đạt thích hợp

    ü      thông tin thích hợp với mức độ phức tạp

    ü      đừng thông tin dư thừẵ

    ü      đảm bảo thông kênh truyền đạt nội bộ

    ü      dùng ngôn ngữ đơn giản

    1. arrange : lập kế hoạch

    không thu xếp thời gian thì mọi thứ kể trên đều vô ích. cần phải biết mình muốn gì và thời điểm thực hiện các công việc. sau đây là hai mẫu kế hoạch thời gian. kế hoạch của cả năm và kế hoạch ngày / tuần.

    kế hoạch cho cả năm :

    bản kế hoạch phải được gắn trên tường và dễ dàng xếp lại mang đi. cần ghi chép nhiều thứ trên đó. hãy dùng các loại màu để đánh dấu. màu xanh lục để cho ngày phép, điều bạn mong chờ. màu đỏ để nhắc nhở về các báo cáo quan trọng đến hạn, các báo cáo thường niên, hai năm, quảng cáo. đánh dấu khung các buổi họp thường lệ và chuyến đi công tác định sẵn.

    bảng biểu này cần được sao lại để treo ở phòng thư ký cho nhân viên đều biết và lịch làm việc của bạn cũng vậy để họ xin hẹn gặp. như vậy, có hai điều ích lợi. mọi người biết bạn đang làm gì và lúc nào bạn rảnh hoặc không rảnh để tiếp khách. nhớ cập nhật thường xuyên. nếu bất tiện, bạn có thể lập lịch làm việc chung cho mỗi tháng một lần.

    kế hoạch ngày / tuần :

    hãy xác định điều cần làm trong tuần và sắp xếp ưu tiên. truởc đó bạn nhớ đem một số chi tiết sang từ bảng kế hoạch năm. bởi vậy, có thể lịch làm việc trong tuần đã khá đầy đủ rồi.

    sơ đồ 3

    kế hoạch tuần / ngày :

    ngày :   tuần : tên :
      thứ hai thứ ba thứ tư thứ năm thứ sáu
    9.00

    9.30

    10.00

             
    10.30

    11.00

    11.30

    12.00

             
    12.30

    13.00

    ăntrưa
    13.30

    14.00

    14.30

    15.00

             
    15.30

    16.00

    16.30

    17.00

    17.30

    18.00

             
    giờ phụ trội thứ bảy
            chủ nhật
    công việc thư từ hẹn điều khác
    việc cần làm trong tuần :

    1.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    2.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    3.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    ghi chú : (đem qua tuần sau)

    bây giờ hãy liệt kê thêm những việc phải làm trong tuần. thí dụ :

    • họp với tuyết
    • xem xét yêu cầu thêm nhân viên
    • kiểm tra khu vực mỗi ngày
    • gặp lan hỏi về thương lượng dự án quốc tế
    • kiểm tra máy móc thiết bị lần 2
    • gặp doanh bàn chuyện ánh sáng văn phòng
    • đề ra kế hoạch cung cấp năm tới
    • kiểm tra hoá đơn cho việc thanh tra hàng năm
    • mời hương dự tiệc chia tay
    • trả lời thư dũng và vân
    • chuẩn bị họp với giám đốc
    • mời trưởng phòng đi họp ngày 12
    • xem xét bồi dưỡng đào tạo nhân viên
    • sinh nhật thanh 16.00 – thứ năm.

    lịch đã có, bây giờ sắp xếp ưu tiên các công việc và nhiệm vụ. xem xét từng việc một để sắp xếp ưu tiên theo mẫu ở phần (3). lập trật tự ưu tiên. công việc quan trọng, khẩn trương thế nào ? có thể đánh số thứ tự hoặc phân loại 3 nhóm : thật quan trọng, quan trọng, không quan trọng. (thật khẩn trương, khẩn trương, không khẩn trương).

    bây giờ hãy ghi công việc vào bảng kế hoạch ngày / tuần. nhớ tính thời gian rộng rãi để không bị hụt hẩng. nếu bạn tính 20 phút thì hãy cho 30 phút để khi làm xong sớm hơn, bạn coi như được thưởng.

    đừng ghi chép lung tung. bạn đang sắp xếp ưu tiên cho công việc chứ không chỉ ghi ra việc cần làm. hãy, suy nghĩ kỹ. những việc quan trọng nhất, cần suy nghĩ nhiều nhất phải ghi vào thời gian “riêng tư”. ghi thư từ và điện thoại vào chỗ thích hợp như khoảng thời gian linh động được giữa hai phần công việc. nếu quan trọng thì đặt vào thời gian đặc biệt.

    cũng vậy, hãy ghi các cuộc hẹn và việc bình thường khác vào chỗ thích hợp dưới bảng biểu. sau đó đặt thời hạn tùy theo mức độ quan trọng và khẩn trương. cuộc hẹn với nhân viên có thể xếp vào khoảng thời gian thích hợp dành cho cuộc gặp đồng nghiệp. hãy thông báo các khoảng thời gian này và từ chối gặp gc’ vào các khoảng thời gian khác nếu nhân viên không cần thì có thể dùng các khoảng thời gian này dể làm những việc bình thường như sắp xếp hồ sơ không lo gián đoạn coi như được lợi.

    có thể dùng bảng này để sắp xếp đời sống riêng tư hàng ngày. công việc không phải là tất cả. phải có sự công bằng giữa công việc và đời sống riêng tư, gia đình, sức khỏe.

    cần dành thời gian mỗi ngày cho những sự kiện đột xuất bất thường nhưng không cần quá nhiều. những khó khăn có thể xảy ra và bạn có thể tạm gác qua mọi sự để giải quyết đây cũng là một phần trọng công việc. bạn cần phải linh động. hãy cố gắng theo sát mục tiêu đề ra, nhưng chớ lo lắng, bối rối hoặc quá căng thẳng nếu có điều bất thường ngăn trở kế hoạch của bạn. nhờ đã chuẩn bị kế hoạch kỹ lưỡng, bạn đã giảm đi nhiều căng thẳng. hãy dành 5 phút mỗi ngày để điều chỉnh những kế hoạch trong ngày. luôn tự nhắc nhở về những ưu tiên và mục tiêu đề ra.

    nhớ lên kế hoạch và soạn thảo thời gian biểu, (gắn liền với mục tiêu và trách nhiệm của bạn), bạn đã khẳng định mức độ quan trọng của thời gian đối với bạn.

    luôn luôn nhắm mục tiêu đề ra, những điều cần thiết nhất trong suốt quá trình lập kế hoạch.

    nhờ đó, bạn có động lực để sử dụng thời gian hiệu quả. khi lên kế hoạch thời gian, bạn sẽ có thể phân tích, nghiên cứu bảng kế hoạch năm và tuần / ngày một cách đều đặn. nhờ vậy, mới thắng hơn những “kẻ cắp thời gian”. cuối ngày, hãy vào những việc thêm vào đột xuất.  giữ bảng kế hoạch từng tháng hoặc 6 tuần và nghiên cứu nội dung như một thời gian biểu. nếu bạn thấy lãng phí nhiều thời gian cho điện thoại thì bạn phải giải quyết ngay một cách nghiêm chỉnh.

    kết luận

    10 bí quyết quản lý thời gian :

    1. hãy bắt đầu dự án ở phần quan trọng nhất. đôi khi không cần phải làm phần còn lại.
    2. kiên trì và nhẫn nại ® tiến hành công việc từ đầu đến cuối.
    3. chỉ xử lý thư từ, giấy tờ một lần đủ cả ® chỉ đọc và giải quyết 1 lần.
    4. dọn bàn sạch sẽ và để thứ cần thiết ngay giữa.
    5. sắp xếp chỗ cho từng vật dụng.
    6. gom những vặt’vãnh cho những kỳ họp 3 giờ trong tháng. ® giành 1 khoảng thời gian trong tháng để sắp xếp lại công việc.
    7. tự thưởng một cách đặc biệt khi làm công việc quan trọng.
    8. nhận biết có lúc mất kiểm soát thời gian vô ích ® đừng sợ.
    9. trả lời thư từ càng sớm càng tốt sau khi nhận.
    10. luôn tự hỏi : ngay bây giờ, làm gì thì tốt nhất ?

     

     

    phần 3

    nghiên cứu tình huống

    một ngày làm việc của giám đốc huy

    như mọi hôm, huy rời khỏi nhà từ 7g15 sáng để đến nhà máy hóa chất bình hòa, nơi anh làm giám đốc từ hai năm nay. đoạn đường này huy đi chỉ mất khoảng 15 phút, nên anh có thể bắt đầu ngày làm việc của mình từ 7g30, sớm hơn giờ làm việc chính thức là nửa giờ. khoảng thời gian nửa giờ này thường được anh dành để suy nghĩ về những việc cần làm trong ngày mà không ngại bị ngắt quãng bởi những việc bất chợt khác cần phải giải quyết. thật ra, huy cũng có thể tìm được một căn nhà khác ở gần nhà máy hơn, nhưng với rlgôi thà hiện anh đang ở, huy nghĩ rằng mình đã có một sự lựa chọn tốt nhất khi vẫn đáp ứng được những nhu cầu của gia đình (khung cảnh sống, láng giềng, trường học cho con, chợ gần nhà, v.v…), và yêu cầu của bản thân anh cần phải tốn thời gian ít nhất cho việc đi đến chỗ làm mỗi ngày.

    nhà máy bình hòa là một đơn vị thuộc ngành thuốc nhuộm của công ty anh quân chuyên sản xuất và kinh doanh trong lãnh vực hóa chất. những lăm gần đây, việc mất đi một số thị trường lớn đã làm giảm hẳn một số hoạt động của công ty và dẫn tới việc tinh giản lao động trong một số đơn vị. chính huy khi vừa nhận chức giám đốc nhà máy bình hòa cũng đã phải giảm hẳn số lượng nhân viên từ 200 còn 150 người.

    việc cắt giảm số lượng nhân viên vừa qua đã gặp không ít khó khăn, và huy đã tỏ ra linh hoạt nhưng kiên quyết. do đó, anh đã giảm thiểu đến mức tối đa những xáo trộn trong nội bộ nhà máy. sự kiện này diễn ra cũng đã được sáu tháng, và hiện nay, huy đang cố gắng xây dựng lại trong nhà máy một  tinh thần làm việc mang tính đồng đội và tập thể cao.

    bối cảnh này làm huy nghĩ đến những việc cần làm trong ngày. ưu tiên số một cần giải quyết của anh là tổ chức lại phân xưởng số 4 vì đó là vấn đề sống còn của nhà máy. huy nhớ là tuần truớc, anh có đề cập đến đề tài này với một trong những giám đốc chuyên môn của công ty. ông này hỏi thăm việc tiến hành công tác cải tổ hiện đến đâu và nhấn mạnh cần phải hoàn thành việc sắp xếp lại trước cuối năm. thời gian chỉ còn chín tháng để hoàn tất công việc cải tổ hầu đạt đến những kết quả khả quan bắt đầu từ năm sau.

    thật ra, huy đã có ý định tổ chức lại phân xưởng này từ những tháng đầu tiên sau khi nhận chức giám đốc nhà máy. nhưng những khó khăn nảy sinh từ việc tinh giản bộ máy đã gây cho anh không ít vấn đề phải giải quyết. hơn nữa, việc xây dựng những mối quan hệ cá nhân với các nhân viên nhằm tạo ra một tinh thần đồng đội gắn bó đã chiếm rất nhiều thời gian của anh. đương nhiên là vẫn còn công việc hằng ngày cần phải giải quyết. do đó mà huy vẫn còn ngần ngừ chưa tiến hành bước thứ hai trong việc cải tổ bộ máy, vì việc này đòi hỏi phải suy nghĩ thật thấu đáo, phải dự báo nhân sự cần điều động, phải thay đổi thói quen làm việc của nhiều người, v.v….

    hôm nay thì huy cho rằng đã đến lúc anh phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc và thấu đáo nhưng vừa bước vào cửa tòa nhà dành cho bộ phận hành chánh, huy đã gặp bạch, quản đốc phân xưởng số 2, với vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt.

    chào anh bạch, hôm nay tình hình thếnào ?” huy hỏi.

    “không tốt lắm”,  bạch trả lời : “tôi có một máy trộn hóa chất bị hư từ tối qua mà các anh bên bảo trì còn chưa thấy tới. ngoài ra, sáng nay khi thay ca, tôi phát hiện ra là mình thiếu một công nhân”.

    “thếcái máy trộn hóa chất của anh có vấn dề gì ?”

    “ồ, anh biết đấy, đây không phải là lần đầu tiên nó bị hư. loại máy này dược thiết kế để chạy ban ngày mà thôi. từ khi chúng ta chuyển sang sản xuất liên tục, kể cả buổi tối, thì chúng thường xuyên bị trục trặc”.

    vậy anh hãy hỏi ý kiến các anh bên bảo trì”

    tôi mới vừa đặt một phiếu sửa chữa lên bàn của bộ phận bảo trì, nhưng tôi biết hiện họ còn đang bận rộn sửa máy phân xưởng số 3 và không dễ gì họ cử một anh đến chỗ chúng tôi trước ngày mai hoặc ngày mốt”.

    “nếu vậy thì anh để tôi giải quyết dùm cho, và anh sẽ thấy là sự việc sẽ không kéo dài đâu !”.

    “tôi còn thiếu một công nhân, và anh cũng biết là việc tinh giản bộ máy không làm công việc của chúng tôi nhẹ hơn để mà choàng việc cho nhau !”.

    “thôi được rồi, anh bạch, anh thế nào cũng tìm ra được cách giải quyết mà ! đây đâu phải lần đầu tiên anh gặp chuyện này đâu !”.  huy nói với bạch và bắt đầu cảm thấy bực bội.

    “chính vì không phải là lần đầu nên tôi lại càng phải báo cho anh biết”, bạch trả lời, nhưng lúc này thì huy đã vào tới phòng của anh rồi.

    vào phòng làm việc, huy nhìn lướt qua xấp giấy tờ cô thư ký của anh đã chuẩn bị sẵn trên khay. sau đó, anh đọc lại bản báo cáo anh vừa soạn tối qua để gửi cho ban giám đốc ngành thuốc nhuộm của công ty. lúc thảo xong thì đã 20 giờ nên huy muốn đọc lại lần nữa, vì bản báo cáo này khá quan trọng…

    huy vẫn còn đang sửa bản báo cáo thì lúc 8g05, cô thư ký bước vào phòng để hỏi xem anh có cần cô giúp gì không. chuông điện thoại reo và huy phải nhấc máy vì không có thư ký trực tổng đài để chọn lọc. trong điện thoại là ông ân, trưởng phòng nhân sự, cần có ý kiến của anh về một đơn xin thuyên chuyển. huy trả lời ông ân và sẳn dịp cũng đề cập đến vấn đề thiếu nhân sự tại phân xưởng 2. sau đó huy kết thúc giao việc cho cô thư ký và anh gọi điện cho trưởng bộ phận bảo trì để yêu cầu cử người sang sửa chữa máy ở phân xưởng 2. lại một lần nữa, anh này tỏ vẻ khó khăn :

    “nhưng anh cũng biết là phân xưởng 3 cũng có máy đang hư”

    “nghe này, anh nên tự thu xếp lấy. dù sao đi nữa, bảo trì phải phục vụ sản xuất chứ không phải là ngược lại”, và huy giận dữ cúp máy.

    đây không phải là lần đầu tiên trưởng bộ phận bảo trì gây khó khăn cho công việc chung. có lẽ vì ngay từ khi mới nhậm chức, huy đã tinh giản bộ máy trước tiên là ở bộ phận này.

    sau đó, huy bắt đầu đọc và giải quyết các công văn. anh yêu cầu cô thư ký cung cấp thông tin để trả lời một số thư, và chừa lại những công văn quan trọng để có thời gian suy nghĩ và trả lời sau. một trong số các công văn này từ ban giám đốc ngành thuốc nhuộm, yêu cầu nộp kế hoạch sản xuất. vì thế huy gọi điện thoại cho trưởng phòng sản xuất để biết kết quả sản xuất tối hôm trước và nhờ anh này mời kỹ sư phụ trách ca tối cùng đến làm việc chung. trong khi chờ đợi, huy lợi dụng chút thời gian rỗi để sấp xếp thứ tự các hồ sơ, vừa suy nghĩ về những khó khăn trong công tác lãnh đạo :

    “vấn đề của một giám đốc là lúc nào cũng phải giải quyết những khó khăn của những người khác mà không còn thời gian để suy nghĩ về công việc của chính mình, cụ thể là sự phát triển trong dài hạn”.

    sau đó, huy có một cuộc họp ngắn trong vòng 15 phút với trưởng phòng sản xuất và kỹ sư trưởng ca đêm. cuộc họp này giúp anh nắm rõ những con số thực hiện bởi ca đêm, nhấn mạnh một số điểm yếu xảy ra tối qua. một lần nữa, huy nhận thấy rằng phần điện tiêu thụ là quá cao, và điều này khiến anh phải thảo luận với các cộng sự về biện pháp điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    đến 8g45, huy đi một vòng nhà máy như mọi hôm. anh cố gắng dành thời gian thực hiện việc này, nhằm mục đích thiết lập những mối quan hệ trục tiếp với nhân viên, lắm bắt những mối quan tâm lo lắng của họ. trên đường đi, huy dừng lại trò chuyện với một kỹ sư phòng phương pháp mà anh đánh giá là rất có triển vọng và muốn động viên. huy đề cập với anh này việc điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    ngoài ra, huy còn gặp người phụ trách bộ phận giao hàng và hỏi ông này về những khó khăn gặp phải. sau cùng, anh còn gặp và nghe ông đại diện công đoàn than phiền rằng công nhân không hài lòng về cách mà các quản đốc giải quyết vấn đề thay người. do cách trình bày của vị đại diện công đoàn đầy ý chỉ trích, huy chuyển ông ta đến làm việc với trưởng phòng nhân sự.

    quay về phòng làm việc của mình, huy có một cuộc họp hàng tuần với các cán bộ chủ chốt của nhà máy. anh tóm lược kết quả làm việc với ban giám đốc ngành thuốc nhuộm vào thứ sáu tuần trước ở trụ sở công ty. huy cũng nhấn mạnh mục tiêu lợi nhuận cần đạt được của ngành, và nhất là của nhà máy bình hòa. sau đó, anh trả lời các câu hỏi thắc mắc của trướng phòng thí nghiệm. một câu hỏi của trưởng bộ phận bảo trì kế đó dẫn đến cuộc thảo luận về sự cần thiết áp dụng một hệ thống phiếu đăng ký sửa chữa mới. đúng lúc đó thì cô thư ký bước vào đưa công văn và báo có điện thoại của giám đốc ngành.

    huy chấm dứt cuộc họp bằng cách đề nghị trưởng phòng sản xuất lập một nhóm làm việc bao gồm hai bộ phận sản xuất và bảo trì.

    giám đốc ngành là thủ trưởng của huy. ông báo cho anh biết sắp tới sẽ có đợt làm việc với một nhóm kiểm toán do công ty cử xuống và họ cùng bàn luận về cách trình bày kết quả đạt được ở nhà máy bình hòa. cùng lúc, họ cũng thảo luận về chiến lược phát triển của công ty và sau cùng, họ thống nhất gặp nhau vào cuối tuần để chuẩn bị đón đoàn kiểm toán. cuộc hẹn này không thuận tiện lắm cho huy vì buộc anh phải đi xuống trung tâm thành phố hai lần trong tuần này, nhưng ông giám đốc ngành không còn ngày nào khác sau khi nói chuyện với cấp trên xong, huy gọi cô thư ký vào để nhờ dời lại các cuộc hẹn trùng giờ. anh nhìn lướt qua xấp thư từ công văn và nhận thấy không có ai khẩn cấp.

    và thế là anh đi ăn trưa cùng với ông trưởng phòng nhân sự. hai người thảo luận về không khí làm việc trong nhà máy và những ảnh hưởng có thể xảy ra từ việc tổ chức lại phân xưởng 4 sẽ thực hiện sắp tới.

    sau khi ăn trưa về, huy hướng dẫn cô thư ký trả lời một số thư nhận được ban sáng và thận được cú điện thoại từ trưởng phòng kinh doanh. ông này đề nghị anh cho phép giao hàng sớm hơn để có thời gian thực hiện một hợp đồng khác quan trọng hơn. điều này khiến huy phải gọi trưởng phòng sản xuất lên gặp để thay đổi kế hoạch sản xuất. sau đó, anh lợi dụng chút thời gian rỗi để sang gặp phòng phương pháp. anh trưởng phòng này nhân dịp đó đã trình bày một số trục trặc với những người nhận gia công, và các khó khăn từ việc tái lập cơ chế gọi thầu từ một tháng lay. cuộc họp ban sáng kết thúc quá sớm làm trưởng phòng phương pháp đã không kịp báo cáo các vấn đề trên.

    cuộc trao đổi này kéo dài gần một giờ nhưng cho phép huy giải quyết một số vấn đề quan trọng, và nhất là giữ được mối quan hệ trực tiếp với trưởng phòng phương pháp là người đã lâu huy không gặp. anh trưởng phòng này cũng lợi dụng cơ hội để trình bày những nguyện vọng thăng tiến cá nhân trong vòng 45 phút. huy cũng cố gắng nghe nhưng không nói gì nhiều vì anh trưởng phòng này đã đạt đến chức vụ cao nhất trong qui trình thăng tiến của anh ta tại công ty. dù sao, việc huy lắng nghe những nguyện vọng cá nhân của cộng sự đã chứng tỏ anh quan tâm đến họ. sau cùng thì anh trưởng phòng phương pháp lại tỏ vẻ hài lòng về cuộc nói chuyện này, dù huy không muốn cũng như không thể hứa hẹn điều gì với anh.

    huy trở về phòng làm việc. anh có một ít thời gian riêng và dùng để đọc một nghiên cứu về thị trường thuốc nhuộm ở các nước vùng asean và về chiến lược của công ty trong vòng năm năm tới. anh có một số ý kiến về kết luận của nghiên cứu và định gửi đến cho ông giám đốc ngành, nhưng cô thư ký của anh đã ra về và huy dời việc này lại vào ngày hôm sau.

    đồng hồ chỉ 18g30, toàn bộ nhân viên hành chánh đã ra về từ 17g. huy nghĩ đến việc nghiên cứu kế hoạch thực hiện cải tổ ở phân xưởng 4. nhưng trời đã tối và anh cảm thấy mệt. thế là huy quyết định về nhà đúng giờ chứ không trễ như mọi hôm. anh xếp vào cặp hai hồ sơ mà anh chưa có thời gian đọc và hướng về chỗ để xe. trên đường đi, huy gặp một quản đốc than phiền về những đoạn đang sửa chữa trên đường dẫn đến nhà máy.

    trên đường về, vừa chú ý lái xe, huy vừa suy nghĩ về ngày làm việc vừa xong. “tôi đã làm được những việc có ích”, anh tự nhủ, “nhưng thật là khó suy nghĩ cặn kẽ và nhìn toàn cảnh các vấn đề khi ở một chức vụ như thế này”.

    câu hỏi

    1. anh (chị) có ý kiến gì về việc sử dụng thời gian của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây ?
    2. anh (chị) hãy phân tích các công việc của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây theo mẫu sau ?

    để thuận tiện cho việc điền vào khung, chúng ta quy định như sau :

    về mức độ “quan trọng” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “khẩn trương” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “kiểm soát” bạn theo cách sau :

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    1 : kiểm soát một phần trong công việc

    2 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    về mức độ “chủ động” bạn theo cách sau :

    0 : bị động hoàn toàn trong công việc

    1 : linh động một phần trong công việc

    2 : chủ động hoàn toàn trong công việc

    công việc quan trọng khẩn trương chủ động kiểm soát ủy quyền các hành động phải tiến hành ưu tiên khi nào
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     

    bài tập

    quản lý thời gian

    nội dung không
    1. tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú    
    2. tôi chẳng bỏ tài liệu lào vì biết đâu có lúc cầrl đến sau này    
    3. tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê    
    4. tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.    
    5. tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ    
    6. tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất    
    7. trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.    
    8. tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.    
    9. tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.    
    10. hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.    
    11. bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý    
    12. tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.    
    13. tôi không quyết định ngay mà dành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       
    14. tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !    
    15. nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc    
    16. tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì    
    17. tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu    
    18. tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả    
    19. tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo    
    20. tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.    

    kết quả : các câu : 8, 9, 10, 18, 19, 20 nếu được đánh dấu “có” Þ tốt

    bài tập 1 : những điều quan tâm

    tt nội dung không
    1 tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú    
    2 tôi chẳng bỏ tài liệu nào vì biết đâu có lúc cần đến sau này    
    3 tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê.    
    4 tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.    
    5 tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ    
    6 tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất    
    7 trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.    
    8 tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.    
    9 tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.    
    10 hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.    
    11 bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý    
    12 tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.    
    13 tôi không quyết định ngay mà đành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       
    14 tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !    
    15 nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc.    
    16 tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì.    
    17 tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu.    
    18 tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả    
    19 tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo    
    20 tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.    

    cách tính điểm :

    – nếu trả lời “có” cho câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 và “không” cho tất cả những câu còn lại thì bạn đã sắp xếp thời gian của mình tương đối khá hợp lý.

    – nếu trả lời “không” cho các câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 hoặc trả lời “có” cho các câu còn lại thì bạn làm mất thời gian quý báu của mình.

     

    bài tập 2 : mục tiêu của bạn

    1. liệt kê trên giấy những điều bạn muốn thực hiện trong hai, ba năm tới : cá nhân, công việc (kinh doanh và sự nghiệp), gia đình.

    hãy viết ra bao nhiêu mục tiêu tùy thích.

    1. hãy để danh sách một bên khoảng vài ngày nếu được. sau đó xem lại danh sách, thay đổi, sửa chữa, hoàn thiện. rồi hãy sắp xếp ưu tiên trong từng lãnh vực : cá nhân, công việc, gia đình. hãy tìm ra 5 điểm quan trọng trong từng lãnh vực. hãy viết theo thứ rự ưu tiên dựa trên mẫu sau đây :

    hãy làm ngay : mục tiêu của tôi

    1. hãy xét kỹ từng mục đích một và xem xét đâu là điểm thực sự quan trọng nhất. sắp xếp theo số từ 1. nếu bạn không thích mức độ chi tiết theo mẫu thì hãy làm như sau :
    2. rất quan trọng
    • quan trọng
    1. không quan trọng lắm
    2. đặt hạn định thử (khi nào xong ?). có mục tiêu ngắn hạn, có cái kéo dài hai năm.

    bạn hãy tự quyết định.

    1. liệt kê vài phương pháp bạn dùng để đạt mục tiêu. bạn có thể làm gì để thực hiện mục tiêu của mình ?

    cá nhân

    ưu tiên trên hết lãnh vực ưu tiên mục tiêu khi nào cách nào ?
      1

    2

    3

    4

    5

         

    công việc

    ưu tiên trên hết lãnh vực ưu tiên mục tiêu khi nào cách nào ?
      1

    2

    3

    4

    5

         

    gia đình

    ưu tiên trên hết lãnh vực ưu tiên mục tiêu khi nào cách nào ?
      1

    2

    3

    4

    5

         

    đây là một thí dụ :

    ưu tiên trên hết lãnh vực ưu tiên mục tiêu khi nào cách nào ?
    3 2 đạt danh hiệu người bán hàng giỏi nhất trong năm 6/1993 liên hệ với hai khách hàng mỗi tuần. giữ liên lạc với khách. tăng thêm đơn đặt hàng

     

    bài tập 3 : ảnh hưởng đối với thời gian – các yếu tố khác

    đây là một phương án làm việc có đánh giá về ảnh hưởng đối với thời gian của lãnh đạo.

    thí dụ :

    mô tả ảnh hưởng đối với thời gian
    cửa luôn mở tiếp nhân viên không cần lý do. gián đoạn công việc luôn. không thể theo dự án dài hạn. không thể tập trung.
    1

    2

    3

    thói quen
    1

    2

    3

    tác phong
    1

    2

    3

    giao tiếp

    bài tập 4 : kiểm soát và chủ động

    hãy đánh dấu x vào điểm gặp nhau của “kiểm soát” và “chủ động”. nếu bạn đánh giá càng cao thì công việc càng quan trọng đối với bạn. khả năng kiểm soát và chủ động của bạn là động lực chính của bạn.

    đây chỉ là một thí dụ nhỏ của một công việc. nếu bạn xem xét hết công việc trong ngày/tuần, bạn sẽ thấy mình rơi vào khu vực (1). có nghĩa là bạn đang bị tác động của người khác thay vì kiểm soát được thời gian của mình. thật ra cũng có những việc bạn không có quyền gì mà chỉ phải làm theo. đó là thực tế nơi làm việc. trong nhiều trường hợp khác, bạn có thể đã bị người khác tác động lên thời gian của mình do những việc họ đề xuất khởi xướng mà chính bạn không cần phải làm theo. thí dụ, một người quen cứ mỗi thứ hai lại ghé văn phòng bàn chuyện bóng đá cuối tuần.

    anh ta bắt đầu câu chuyện và kéo bạn vào theo. nếu cứ để xảy ra, thì bạn mất kiểm soát hoàn toàn trong thời gian bàn luận cả tiếng đồng hồ.

    vậy hãy cố dành thời gian cho khu vực (4). không thể bỏ qua những trách nhiệm khó chịu. nhưng bạn vẫn có thể kiểm soát tình hình ở nhiều cơ hội khác. thí dụ có thể bàn chuyện bóng đá lúc giải lao.

    kiểm soát và chủ động còn có nghĩa “tích cực” và “tiêu cực”.

    công việc tích cực là điều cần làm để đạt mục tiêu.

    công việc tiêu cực là điều ngăn trở xuất hiện tại văn phòng mỗi ngày cần được giải quyết ngay để công việc chạy đều.

    từ ngữ không phải là ý chính. nhưng cần hiểu làm thế nào phân loại trách nhiệm công việc để có thể tập trung thời gian cho điều ích lợi quan trọng hơn.

    bài tập 5 : quan trọng và khẩn trương

    hãy xem xét vài việc trong thời gian biểu của bạn. việc nào quan trọng? việc nào khẩn? đánh giá theo khung sau đây.

    bạn sẽ hình dung ra được cần phải ưu tiên việc nào.

    • giao phó :

    hãy tự hỏi xem bạn có cần tự làm hay có thể giao việc cho người khác. nếu giao phó được, vì quyền lợi của cơ quan hay đồng nghiệp, bạn cần gì phải tự làm mất thời gian của mình.

    bài tập 6 : kẻ cắp thời gian của tôi

    dời việc lại   do dự  
    lo lắng   họp kém hiệu quả  
    thiếu tự tin   không giao quyền đủ  
    hội họp không tổ chức   mệt mỏi  
    lỗi lầm   cầu toàn  
    chuyện phiếm   mục đích không rõ ràng  
    thiếu hướng dẫn   kiểm tra kém cõi  
    kế hoạch thiếu sót   viết văn kém  
    nói điện thoại lâu   làm việc của người  
    không lắng nghe   không dùng thì giờ thuận tiện  
    không ghi ra giấy các mục tiêu   giao tiếp không rõ ràng  
    dựa vào ghi chú trên giấy nhỏ   ăn trưa lâu  
    không dùng mẫu có sẵn   không tiết kiệm thời gian  
    rình mò nhân viên   không liên tục  
    không xác định thời hạn   không biết nói “không”  

    bài tập 7 :

    nội dung không
    1. bạn có cần quá 5 phút để tìm thấy một vật trên bàn ?    
    2. bạn có thường bối rối khi phải tìm một vật gì trên bàn ?    
    3. bạn có đống hồ sơ tồn tại quá lâu trên bàn ?    
    4. bạn có đọc và hay lưu thư từ quá nhiều ?    
    5. bạn có phải lục tung giấy tờ trên bàn để tìm tài liệu ?    
    6. bạn có khó tìm một tài liệu trong tủ hồ sơ ?    
    7. bạn có phải rời bàn làm việc mỗi khi lấy vật gì ?    
    8. bạn có hồ sơ nào tồn đọng cả tuần ?    
    9. bạn có nghĩ sẽ tốt hơn nếu có bàn rộng hơn ?    
    10. bạn có để hồ sơ trên bàn mà không ghi chú thời hạn xử lý ?    

    nếu bạn trả lời “có” cho hơn nửa số câu hỏi thì bạn đang bị mất thời gian vì văn phòng bừa bộn quá. cho dù chỉ có một trả lời “có” bạn cũng nên tìm cách khắc phục. nếu trả lời “không” thì chúc mừng bạn có một nơi gọn gàng ít làm tốn thời gian của bạn.

    nhiều người mất nhiều thời gian hồ sơ thất lạc ngay trên đóng tài liệu lộn xộn trên bàn làm việc.

    hãy giữ sạch sẽ gọn gàng và ghi nhớ chỗ của mỗi thứ trên bàn làm việc.

    bài tập 8 : tôi có cầu toàn ?

    khoanh tròn câu thích hợp với bạn

    không thích hợp :              1

    thích hợp chút ít :              2

    hoàn toàn thích hợp :        3

    nội dung khoanh tròn câu thích hợp
    1. nếu muốn hoàn hảo, tôi phải tự làm lấy mới được 1 2 3
    2. yêu cầu cao đối với bản thân. không bao giờ bỏ cuộc 1 2 3
    3. tôi sửa nháp 3 lần cho một lá thư 1 2 3
    4. tôi sẽ gia hạn nếu không bằng lòng kết quả. tôi luôn làm thế 1 2 3
    5. phê bình người khác ở văn phòng cũng như ở nhà 1 2 3
    6. càng đọc các văn bản do tôi viết, tôi càng thấy khó bằng lòng với công việc 1 2 3
    7. khi làm việc tôi hay lưu ý những chi tiết nhỏ 1 2 3
    8. tôi sợ phạm sai lầm . tôi không vui và người khác cũng thế 1 2 3
    9. nhân viên góp ý rằng tôi khó. nhưng tôi chỉ muốn mọi điều tốt 1 2 3
    10. tôi không thích nhờ ai giúp đỡ 1 2 3
    11. tôi ít ủy quyền vì tôi phải mất thời gian giám sát luôn 1 2 3
    12. nếu không tin chắc, tôi không bắt tay vào làm công việc 1 2 3
      tổng số điểm :

    cộng điểm lại và ghi vào ô. nếu :

    > 24 điểm, bạn quá cầu toàn. bạn bị ám ảnh phải làm mọi việc cho bằng được luôn luôn. rất ít việc nào làm như ý bạn muốn. cần phải chấp nhận như vậy nếu không thì bạn lãng phí quá nhiều thời gian.

    hãy tin tưởng người chung quanh để giao việc và chú tâm vào việc quan trọng hơn hết mà thôi.

    bài tập 9 : loại trừ kẻ cắp thời gian

    kẻ cắp 1 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 2 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 3 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Tiểu Luận Quy trình công nghệ sản xuất đường mía

    Tiểu Luận Quy trình công nghệ sản xuất đường mía

    Tiểu Luận Quy trình công nghệ sản xuất đường mía

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi ôn tập trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Quy-tr%C3%ACnh-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-m%C3%ADa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Quy trình công nghệ sản xuất đường mía

     

     

     

    1

     

     

     

     

     

    Tri thức là tiền đề để phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ và các lãnh vực kinh tế. Trong kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa  nông thôn thì công nghiệp mía đường là một chương trình quan trọng phát triển kinh tế nông thôn.

    Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thì đời sống của con người cũng ngày càng được cải thiện và nâng cao, kéo theo đó sự tăng lên về nhu cầu sử dụng đường mía, các sản phẩm từ đường mía. Tuy nhiên phần đông người tiêu dùng hiện nay thường rất ít các thông tin về cách sản xuất đường, cũng như những hướng dẫn về cách làm sao có thể chọn một sản phẩm đường tốt, an toàn.

    Với bài tiểu luận này, tôi mong  rằng sẽ mang lại cho người tiêu dùng những kiến thức cơ bản nhất của các công đoạn trong quá trình sản xuất đường, cũng như một vài lưu ý đối với người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm đường mía.

    2      Chương 1. Tổng quan về nghành mía đường việt nam

     

    Mía đường ở Việt Nam đã có từ xa xưa, nhưng ngành công nghiệp mía đường mới được bắt đầu từ thế kỷ thứ XX.

    Đến năm 1994, cả nước mới có 9 nhà máy đường mía, với tổng công suất gần 11.000 tấn mía ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu. Hàng năm phải nhập khẩu từ 300.000 đến 500.000 tấn đường.

    Năm 1995 . Ở Những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị công nghệ tiến tiến hiện đại, kể cả liên doanh với nước ngoài, sản lượng đường năm 2000 đạt khoảng một triệu tấn

    Sau 5 năm (1995-2000) đã có bước tiến đột phát. Đầu tư mở rộng công suất 9 nhà máy cũ, xây dựng mới 33 nhà máy, tổng số nhà máy đường của cả nước là 44, tổng công suất là 81.500 tấn (so với năm 1994 tăng thêm 33 nhà máy và trên 760.000 tấn công suất), năm 2000 đã đạt mục tiêu 1 triệu tấn đường. Miền Nam: 14 nhà máy, Miền Trung và Tây Nguyên: 15 nhà máy, và miền Bắc: 13 nhà máy.

    Tóm lại, hơn một thập kỷ qua (1995-2006) tuy thời gian chưa nhiều, được sự hỗ trợ và bằng sự tác động có hiệu quả bởi các chính sách của Chính phủ, ngành mía đường non trẻ của Việt Nam đã đóng góp một phần vào sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, và phần quan trọng hơn là góp phần lớn về mặt xã hội, giải quyết việc làm ổn định hàng triệu nông dân trồng mía và hơn 2 vạn công nhân ổn định làm việc trong các nhà máy, có đời sống vật chất tinh thần ổn định ngày một cải thiện, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên các vùng sản xuất hàng hoá lớn, bộ mặt nông thôn các vùng mía được đổi mới…

    Theo Quy hoạch phát triển mía đường  năm 2010, định hướng năm 2020, chỉ tiêu về diện tích mía là 300.000ha, năng suất đạt 65 tấn/ha, sản lượng mía đạt  19,5 triệu tấn, sản lượng đường sản xuất đạt 1,5 triệu tấn/năm.

    Nhưng đến nay, chỉ có tổng công suất nhà máy đạt 105.750 tấn mía/ngày, vượt 0,7% so với kế hoạch, tất cả các chỉ tiêu còn lại đều không đạt. Dự kiến, tổng lượng đường sản xuất niên vụ 2009-2010 chỉ đạt khoảng 984.000 tấn, giảm so với niên vụ trước 5.000 tấn. Nếu mức tiêu thụ đường năm nay như năm 2009, lượng đường hiện có dự kiến sẽ thiếu khoảng 300.000 tấn.

    Để giải quyết tình trạng thiếu hụt đường trong năm 2010, Chính phủ đã đồng ý nâng tổng mức hạn ngạch nhập khẩu đường năm nay lên 200.000 tấn như đề nghị của Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT.

    3      Chương 2. Quy trình công nghệ sản xuất đường

    3.1    2.1. Nguyên liệu mía

    3.1.1    2.1.1. Phân loại

    Cây mía thuộc họ hoà thảo, giống sacarum, được chia làm 3 nhóm chính

    • Nhóm Sacarum officinarum: là giống thường gặp và bao gồm phần lớn các chủng đang trồng phổ biến trên thế giới
    • Nhóm Sacarum violaceum: Lá màu tím, cây ngắn cứng và không trổ cờ
    • Nhóm Sacarum simense: Cây nhỏ cứng, thân màu vàng nâu nhạt, trồng từ lâu ở Trung Quốc.

    Do mía là cây công nghiệp và chính theo mùa vụ nên công nghệ sản xuất đường saccharose từ mía được chia làm hai nhánh là “Sản xuất đường thô và Tinh luyện đường”.

    Khi mía chín, các nhà máy tập trung chủ yếu vào ép mía, lọc sơ bộ và kết tinh để thu được đường thô. Ngoài các vụ mía, các nhà máy sẽ hòa tan đường thô, tinh lọc để sản xuất đường tinh luyện.

    3.1.2    Thu hoạch và bảo quản mía

    Dấu hiệu mía chín, mía chín là lúc hàm lượng đường saccharose trong mía đạt tối đa và l ượng đường khử còn lại ít nhất. Thu hoạch mía tốt nhất là khi mía đạt độ chín kỹ thuật, có hàm lượng đường phần gốc và phần ngọn tương đương nhau.

    Sau thu hoạch mía hàm lượng đường saccharose giảm nhanh, do đó mái cần được vận chuyển về nhà máy và ép càng sớm càng tốt.

    Để giảm suy thoái mía người ta nên đốn mía khi trời mát và cho mía ngả về một phía sao cho ngọn của hàng đốn sau phủ lên gốc của mía đốn trước để không bị phơi nắng. Khi chuyên chở lấy lá mía phủ lên lớp mía, nếu trời nắng gắt thì tưới nước lên mía.

    3.2    2.2. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuât đường saccharose từ mía

     
       
               
       
     
         
     
         
               
           
     
         

    3.3    2.3. Thuyết minh quy trình

    3.3.1    2.3.1. Trích nước mía

    • Mục đích

    Nhằm lấy kiệt lượng đường trong cây mía. Chỉ tiêu quan trọng của công đoạn này là năng suất trích và hiệu suất trích.

    Năng suất trích là số tấn mía ép được trong một đơn vị thời gian với hiệu suất nhất định.

     
       
    • Tiến hành trích nước mía

    Có 2 phương pháp lấy nước mía:

    • Phương pháp ép( thực chất là ép có kết hợp với thẩm thấu nước).
    • Phương pháp khuếch tán( thực chất là khuếch tán kết hợp ép).
      • Phương pháp khuếch tán

    Có hai hệ khuếch tán đường chủ yếu là khuếch tán mía và khuế tán bã.

    Khuếch tán mía : mía được xử lý sơ bộ, sau đó toàn bộ lượng mía đi vào thiết bị khuếch tán.

    Khuếch tán bã : mía sau khi xử lý được qua máy ép để lấy 60 – 70% đường trong mía, phần còn lại trong bã đi vào thiết bị khuếch tán. Nhờ đó, thời gian khuếch tán được rút ngắn, tăng hiệu suất trích và hạn chế sự chuyển hóa đường saccharose.

    • Phương pháp ép

    Ép khô: ép mía không cho nước vào (không thẩm thấu), sản phẩm thu được là nước mía nguyên. Phương pháp này hiệu suất lấy đường thấp, đạt từ 92 – 95%, nhưng thuận lợi cho quá trình bốc hơi. Nó chỉ áp dụng ở các xe nước mía, lò mía thủ công, hoặc trong nhà máy nhưng vào đầu vụ sản xuất và những lúc muốn kiểm tra máy ép.

    Ép ướt: ép mía có cho nước sạch thẩm thấu vào bã. Gồm 3 phương pháp nhỏ :

    Ép thẩm thấu đơn: có cho nước thẩm thấu vào bã nhưng không cho nước mía loãng hoàn lưu về giàn ép.

    Ép thẩm thấu kép: có cho nước thẩm thấu và có hoàn lưu nước mía loãng về giàn ép theo nguyên tắc thẩm thấu kép theo nguyên tắc : nước mía loãng đưa về bã còn ít đường, nước mía đặc hơn đưa về bã còn nhiều đường hơn.

    Ép thẩm thấu kết hợp : phương pháp này áp dụng ở các nhà máy có số bộ máy ép từ 5 bộ trở lên, dùng cho các nhà máy muốn nâng công suất ép. Sử dụng thẩm thấu bằng hai vòng thẩm thấu kép.

    3.3.2    2. 3.2. Làm sạch nước mía

    • Mục đích

    Nước mía sau khi được trích ra khỏi cây mía có tính acid với pH = 4,0 – 5,5 và chứa nhiều tạp chất không đường khác. Các tạp chất trong nước mía hỗn hợp có thể chia thành ba nhóm( các tạp chất thô không hòa tan tồn tại dạng huyền phù làm nước mía đục, các chất màu như carotene, antoxian, clorofil…làm sẫm màu nước mía và các chất không đường hòa tan).

    Trung hòa nước mía hỗn hợp và loại bỏ tối đa các chất không đường nhằm tăng thu hồi đường saccharose và tăng chất lượng thành phẩm.

    • Các phương pháp làm sạch nước mía
      • Phương pháp vôi

    Phương pháp vôi sử dụng để sản xuất đường phèn, đường cát vàng. Sản phẩm thu được qua làm sạch nước mía dưới tác dụng của nhiệt và vôi.

    Phương pháp vôi chia thành 3 dạng sau :

    Vôi hóa lạnh ( Vôi – Nhiệt)

    Vôi hóa nóng ( Nhiệt – Vôi)

    Vôi hóa phân đoạn

    • Vôi hóa lạnh

    Phương pháp này cho sữa vôi vào nước mía, nâng pH nước mía từ (5,0 – 5,5) lên (7,0 – 7,2) rồi mới gia nhiệt lên 1050C nhằm giảm sự chuyển hóa đường. Lượng vôi cho vào khoảng 0,5 ­– 0,9 kg cho mỗi tấn mía.

    • Vôi hóa nóng

    Nước mía hỗn hợp (pH = 5,0 – 5,5) gia nhiệt lên 1050C rồi mới cho sữa vôi vào nâng pH lên (7,0 – 7,2) để kết tủa.

    Đối với phương pháp vôi – nhiệt đường saccharose ít bị chuyển hóa do nước mía được trung hòa trước khi xử lý nhiệt, tuy nhiên lượng kết tủa và keo tụ ít. Ngược lại, ở phương pháp nhiệt – vôi, lượng keo tụ, kết tủa thu được nhiều nhưng nước mía bị gia nhiệt trong điều kiện pH thấp nên đường saccharose bị chuyển hóa nhiều hơn.

    • Vôi hóa phân đoạn (vôi – nhiệt – vôi – nhiệt)

    Phương pháp này, pH và nhiệt độ nước mía nâng lên từ từ, xen kẽ nhau.

    Công đoạn gia vôi 1 nâng pH nước mía lên (6,0 – 6,5) nhằm giảm sự chuyển hóa đường do pH thấp trước công đoạn gia nhiệt 1. Đồng thời gia vôi sơ bộ tạo nhiều ion Ca2+.

    Gia nhiệt 1: nâng nhiệt độ dung dịch lên 90 – 1000C để tăng tốc độ phản ứng keo tụ, kết tủa. Ngay sau đó, gia vôi lần 2 nâng pH dung dịch lên 7,2 – 7,5; ở pH này xảy ra hàng loạt phản ứng keo tụ kết tủa và keo tụ.

    Gia nhiệt 2 : nâng nhiệt độ dung dịch lên 103 – 1050C để tiếp tục tạo kết tủa và giảm độ nhớt dung dịch, tăng tốc độ lắng.

    Phương pháp phân đoạn tuy phức tạp hơn nhưng có nhiều ưu điểm như : tiết kiệm được lượng vôi sử dụng, giảm được tổn thất đường saccharose, độ tinh khiết nước mía cao, hiệu suất làm sạch tốt.

    • Phương pháp sunfit hóa

    Phương pháp sunfit hóa thường sử dụng SO2 xông vào nước mía kết hợp với vôi hóa để làm sạch. Có thể chia làm 2 dạng sau :

    • Phương pháp sunfit hóa acid

    Nước mía hỗn hợp được gia vôi sơ bộ đến pH = (6,2 – 6,6) và nhiệt độ 50 – 600C. Sau đó, SO2 được xông vào để giảm pH xuống 3,4 – 4,0 đi qua pH đại diện nên có nhiều keo ngưng kết. Đồng thời, SO2 phản ứng với Ca2+ tạo ra muối CaSO3. Thời gian xông SO2 rất ngắn, vì ngay sau tạo kết tủa sữa vôi được cho vào một mặt tạo thêm muối CaSO3­, đồng thời trung hòa dịch đường, tránh sự chuyển hóa đường trong điều kiện nhiệt độ cao và pH thấp.

    Đây là phương pháp phổ biến sản xuất đường kính trắng, đường thu được có chất lượng cao. Tuy nhiên, đường bị chuyển hóa nhiều do pH thấp nên thu hồi thấp.

    • Sunfit hóa kiềm nhẹ

    Nước mía hỗn hợp được gia nhiệt lên 70 – 750C, và thêm sữa vôi vào nâng pH dung dịch lên 8 – 8,3 để tạo nhiều nhân Ca2+. Sau đó tiến hành xông SO2 làm giảm pH đến 6,0 – 6,5. Trong điều kiện nhiệt độ cao và nhân Ca2+ đã hình thành trước, phản ứng tạo kết tủa CaSO3 xảy ra nhanh và mạnh mẽ.

    Nước mía sau khi xông SO2 sẽ được trung hòa bằng sữa vôi, nhằm tạo thêm keo ngưng kết và thêm kết tủa CaSO3..

    Sản phẩm làm sạch bằng phương pháp sunfit hóa kiềm nhẹ yêu cầu chất lượng nguyên liệu cao hơn so với phương pháp acid. Tuy nhiên, đường ít bị chuyển hóa nên thu hồi cao.

    • Phương pháp carbonat hóa
      • Mục đích

    Tách loại các chất kết tủa và các keo ngưng tụ phân tán lơ lửng sinh ra trong giai đoạn tạo tủa.

    Cuối quá trình này, khoảng 80 – 85 % nước mía trong được lấy ra và 15 – 20 % nước bùn được đưa vào thiết bị lọc.

    • Nguyên tắc

    Dựa vào độ chênh lệch khối lượng riêng của các hạt kết tủa để phân lớp. Vận tốc lắng hay nổi của các chất kết tủa phụ thuộc vào độ nhớt, kích thước của tủa và độ chênh lệch khối lượng riêng giữa tủa và dung dịch nước mía hỗn hợp. Nước mía hỗn hợp được gia nhiệt vôi sơ bộ nâng pH lên (6,2 – 6,6) nhằm giảm chuyển hóa đường và tạo kết tủa một số keo hữu cơ. Sau đó nước mía được gia nhiệt lần 1 nâng nhiệt độ lên 50 – 550C và bổ sung Ca(OH)2, CO2 nâng pH lên pH đại diện 10,5 tạo kết tủa. Sau đó dung dịch được trung hòa bằng P2O5. P2O5 ngoài tác dụng trung hòa nước mía, nó còn tạo kết  tủa Ca3(PO4)2 có khả năng tẩy màu rất mạnh. Do đó, đường được làm sạch làm sạch bằng phương pháp carbonat hóa rất trắng.

    • Thiết bị

    Bàn lóng : có cấu tạo hình hộp chữ nhật,  đáy nghiêng một góc 300, được gia nhiệt thông qua vách truyền nhiệt. Phương pháp hoạt động của bàn lóng như sau : thổi không khí vào đường ống dẫn dung dịch đường đến bể lóng, tạo áp suất cao hơn áp suất khí quyển. Khi ra khỏi đường ống, dưới tác dụng của áp suất sẽ tạo thành các bọt khí nhỏ li ti phân tán đều trong dung dịch. Các bọt khí này sẽ hấp phụ trên bề mặt các kết tủa và kéo theo kết tủa nổi lên trên và được gạt ra ngoài. Phần kết tủa có trọng lượng riêng nặng hơn sẽ chìm xuống đáy bàn lóng, sau đó được đưa qua máy lọc bùn.

    Các thiết bi lắng đều có dạng thân hình trụ có nhiều ngăn và đáy hình nón. Nước mía sau khi được kết tủa và trung hòa sẽ được gia nhiệt và đưa đến các thiết bị lắng. Nước mía được cho vào từ đỉnh thiết bị theo ống trung tâm phân phối vào các ngăn lắng. Nước mía trong thu hồi, phần nước bùn sẽ được đưa qua thiết bị lọc bùn.

    3.3.3    2.3.3. Lọc bùn

    Nhằm mục đích tận thu lượng đường sót trong bùn. Thông thường người ta thường sử dụng thiết bị lọc khung bản hoặc thiết bị lọc chân không thùng quay.

    3.3.4    2.3.4. Tẩy màu

    • Mục đích

    tẩy màu nhằm mục đích hoàn thiện, loại bỏ các chất màu trong dung dịch, nhằm chuẩn bị để dung dịch nước đường được trong suốt và quá trình kết tinh diễn ra dễ dàng hơn.

    • Phương pháp thực hiện

    Tẩy màu bằng phương pháp hóa lý : nước đường được bổ sung than hoạt tính. Than sẽ hấp phụ các chất màu phân tán trong dung dịch ở dạng keo.

    Tẩy màu bằng phương pháp hóa học : dựa vào khả năng ony hóa các chất màu của khí SO­2, người ta sục khí SO2 vào nước mía sau cô đặc, các gốc mang màu sẽ bị oxy hóa làm cho nước mía mất màu.

    3.3.5    2.3.5. Bốc hơi nước mía

    • Mục đích

    Bốc hơi nước mía có nồng độ từ 13 – 150Bx đến nồng độ 60 – 650Bx – nồng độ thích hợp để chuẩn bị cho quá trình kết tinh đường.

    • Các biến đổi của nguyên liệu

    Nồng độ dung dịch tăng do sự bốc hơi nước, saccharose bị caramel hóa gây sẫm màu nước đường.

    Ở nhiệt độ cao, saccharose dễ bị chuyển hóa thành đường glucose và fructose. Các đường khử này lại bị phân hủy thành các chất màu và acid hữu cơ.Quá trình này diễn ra nhanh hơn nếu dung dịch đường có tính acid.

    Một số chất không đường trong quá trình cô đặc bị thủy phân tạo thành acid.

    Sự tạo cặn trong thiết bị do một phần khoáng chưa được loại bỏ

    • Phương pháp thực hiện

    Quá trình cô đặc được thực hiện ngay sau quá trình lắng lọc. Do nồng độ đường trước và sau quá trình cô đặc khác nhau nhiều nên để giảm bớt sự biến đổi của đường và tiết kiệm năng lượng, cần sử dụng thiết bị cô đặc nhiều nồi liên tiếp nhau. Hơi thứ (hơi nước do nước mía bốc lên) của nồi trước sẽ được tận thu làm hơi đốt của nồi sau.

    Trong quá trình cô đặc, nhiệt độ sôi của dung dịch đường thay đổi theo áp suất, nồng độ đường saccharose và tinh độ của nước mía hỗn hợp. Ngoài ra, trong các nhà máy công nghiệp, cần lưu ý đến tổn thất áp suất do áp suất thủy tĩnh gây ra bởi chiều cao cột nước. Điều  này dẫn đến sự chênh lệch về điểm sôi giữa bề mặt và đáy cột nước. Do đó, cần duy trì ổn định chiều cao dung dịch đường trong thiết bị. Tổn thất nhiệt do đường ống cũng là một vấn đề cần lưu ý khi tính toán lượng cho quá trình cô đặc. Thông thường lấy tổn thất nhiệt  của nồi trước qua nồi sau là 1 – 1,50C.

    Điều kiện cần thiết để truyền nhiệt ở các hiệu là có sự chênh lệch nhiệt độ giữa hơi đốt và dung dịch đường. Tức là có sự chênh lệch áp suất giữa hơi đốt và hơi thứ trong các hiệu. Thông thường, các nhà máy đường ở nước ta sử dụng thiết bị cô đặc bốn hiệu cùng chiều để bốc hơi. Thêm nữa, để đảm bảo nồi cuối vẫn bốc hơi, trong công nghiệp người ta thường sử dụng hệ nồi bốc hơi áp lực – chân không. Áp suất trong nồi cô đặc giảm dần từ hiệu đầu có áp suất cao đến hiệu cuối có độ chân không đến 580 – 650 mmHg. Do dó, nhiệt độ trong các nồi giảm dần từ 1200C xuống 650C.

    3.3.6    2.3.6. Kết tinh đường

    • Khái niệm kết tinh

    Là quá trình tách chất rắn hoà tan trong dung dịch dựa trên sự chuyển đổi trạng thái của chất tan từ hoà tan sang quá bão hoà.

    • Nguyên lý kết tinh
      • Nguyên lý I

    giữ nguyên nhiệt độ, tăng dần nồng độ thì xảy ra sự kết tinh sự cô đặc hoặc là sự kết tinh nóng nấu đường).

    • Nguyên lý II

    Giữ nguyên nồng độ, hạ dần nhiệt độ thì cũng xẩy ra sự kết tinh (làm nguội hoặc kết tinh lạnh hoặc bồi tinh ).

    • Diễn biến quá trình kết tinh đường: 2 giai đoạn
      • Giai đoạn 1: Hình thành nhân tinh thể

    Các tinh thể đường khuếch tán trong dung dịch sẽ tập hợp lại và phân bố lên mạng tinh thề. Giai đoạn 1 diễn ra nhanh.

    • Giai đoạn 2 : Nhân tinh thể phát triền

    Các phân tử đ ường dang tan trong dung dịch sẽ khuếch tán lên trên bề mặt của nh ân tinh thể làm cho nhân tinh thể dần dần lớn lên. Giai đoạn 2 diễn ra chậm, tốc độ kết tinh tính theo giai đoạn 2.

    Trạng thái quá bão hoà của đường Saccharose có thể có thể chia thành 3 vùng với những đặc tính khác nhau:

    • Vùng ổn định ( quá bão hoà thấp α = 1,10 – 1,15 )

    Nếu trong dung dịch có sẵn tinh thể thì tinh thể sẽ lớn lên chứ không xuất hiện tinh thể mới.

    • Vùng trung gian ( quá bão hoà trung bình α = 1,20 – 1,25 )

    Nếu dung dịch có sẵn tinh thể thì tinh thể sẽ lớn lên đồng thời xuất hiện thêm tinh thể mới.

    Nếu dung dịch chưa có sẵn tinh thể thì có thể kích thích để dung dịch xuất hiện tinh thể. Một số cách kích thích : tác động cơ học, hạ nhiệt độ đột ngột, tác động sóng siêu âm hoặc cho vào dung dịch một ít hạt đường hoặc bất kỳ hạt gì làm nhân tinh thể.

    • Vùng biến động ( quá bão hoà cao, α ³ 1,3 )

    Tại vùng này tinh thể tự nhiên xuất hiện liên tục đồng thời lớn lên nhưng rất chậm.

    • Động học của quá trình kết tinh

    Một hạt đường bao giờ cũng có một lớp phim mỏng bao quanh có bề dày d – nồng độ c, bên ngoài lớp phim đó là dung dịch đường đang cô đặc có nồng độ quá bão hoà C > c. Trong quá trình kết tinh thì các phân tử đường sẽ khuếch tán lên bề mặt tinh thể có sẵn làm cho nó lớn lên khi nào còn sự chênh lệch nồng độ. Sự chênh lệch nồng độ ( C –  c ) – gradient nồng độ.

    • Tốc độ kết tinh:
    • Định nghĩa: Tốc độ kết tinh là số gam đường kết tinh lên 1m2 bề mặt tinh thể trong thời gian 1 phút.

    S = K . F . T

    • Sự kết tinh chính là sự khuếch tán nên tuân theo định luật Fich:

    ( C – c ) T

    K = k1.

    dh

    3.3.7    2.3.7. Phương pháp nấu đường

    • Phương pháp nấu gián đoạn ( nấu từng mẻ )

    Gồm 4 giai đoạn :

    • Giai đoạn 1: Cô đặc đầu

    Cho nguyên liệu siro hoặc mật vào thiết bị kết tinh rồi cô đặc lên đến nồng độ quá bão hoà mong muốn.

    Chú ý :

    Nguyên liệu còn loãng nên phải tận dụng khả năng của thiết bị để mau chóng đưa dung dịch lên độ quá bão hoà.

    Không  được rút hết nguyên liệu trong thùng chứa vì lớp đáy có cặn và có thể rút không khí vào nồi làm siro trong nồi bùng lên dẫn đến hiện tượng chạy đường ra tháp ngưng tụ, bốc giọt lên chảo ngăn giọt.

    • Giai đoạn 2: Khởi tinh ( Bắt đầu tạo ra nhân tinh thể )

    Có 3 phương pháp khởi tinh:

    • Phương pháp tự nhiên

    Cô đặc đầu sirô đến độ quá bão hoà cao (vùng biến động ) tinh thể xuất hiện hàng loạt. Rút mẫu để xem thấy đủ số hạt thì cố định số hạt lại bằng cách cho thêm nước nóng vào đề hạ độ quá bão hoà đưa dung dịch về vùng ổn định.

    • Phương pháp kích thích

    Cô đặc đầu đến vùng trung gian α = 1,20 – 1,25) rồi kích thích dung dịch sinh hạt bằng cách

    Hạ nhiệt độ đột ngột bằng cách cho nước lạnh vào dung dịch đường đang sôi.

    Cho một ít đường hạt thì hàng loạt tinh thể sẽ xuất hiện và rút mẫu ra xem nếu đủ số lượng hạt thì tiến hành cố định tinh thể bằng cách đưa vào vùng ổn định. Nếu không sẽ sinh ra các tinh thể có kích thước bé hơn (nguỵ tinh, hạt dại, bụi đường ).

    Phương pháp tinh chủng:

    • Có 3 cách tiến hành

    Bỏ bột đường : Cô đặc đầu đến vùng ổn định rồi bỏ vào đấy 1 lượng bột đường định sẵn, rồi nuôi hạt đường lớn lên. Số hạt đường sau cùng chính là số hạt bột đường ban đầu, nếu giữ vững độ quá bão hoà của dung dịch.

    Phân cắt : Nấu hẳn một mẻ đường non có hạt nhỏ rồi cắt ra hai hoặc ba phần để nấu lên 2 đ ến 3 mẻ đường non mới có hạt lớn hơn.

    Đường hồ ( Magma ) : là đường cát trộn với sirô ( mật ) có nồng độ 920Bx. Dùng Magma của đường cấp thấp để nấu thành đường non cấp cao hơn.

    • Giai đoạn 3 : Nuôi tinh

    Dùng nguyên liệu để nuôi tinh thể lớn lên, vừa mở hơi cô đặc dung dịch đường non, vừa cho nguyên liệu vào. Chú ý giữ vững độ quá bão hoà để tránh sự tan hạt. Nếu độ quá bão hoà giảm nhanh dẫn đến sự tan hạt hoặc nếu độ quá bão hoà tăng nhanh quá sẽ sinh ra nguỵ tinh.

    • Giai đoạn 4

    Sau khi tinh thể lớn đủ kích thước, đã đạt yêu cầu người ta tiến hành cô đặc cuối, ngưng cho nguyên liệu nhưng vẫn tiếp tục mở hơi cô đặc để độ quá bão hoà tăng dần từ từ và giảm hơi từ từ để tránh độ quá bão hoà tăng  đột ngột sinh nguỵ tinh. Cô đặc lên 90- 980Bx thì kết thúc quá trình kết tinh bằng cách đóng hẳn hơi lại.

    Chú ý : Không để độ quá bão hoà tăng đột ngột, có thể cho thêm một ít nước vào để rửa lớp phim mặt.

     

    • Phương pháp nấu liên tục

    Thực chất là các giai đoạn nấu đường được tiến hành cùng lúc trong thiết bị nấu liên tục thường là nồi đường nằm ngang được chia ra làm nhiều ngăn, nhiều buồng.

    Thông thường một nồi nấu đường liên tục gồm 5 buồng và 13 ngăn. Nguyên liệu vào liên tục, sản phẩm ra liên tục thường khởi tinh bằng phương pháp bỏ bột đường hoặc đường hồ.

    3.3.8    2.3.8. Ly tâm

    • Mục đích

    Quá trình ly tâm nhằm tách tinh thể đường ra khỏi mật bằng lực ly tâm.

    • Phương pháp thực hiện

    Máy ly tâm sinh lực ly tâm làm cho mật văng ra qua lưới ly tâm bên thành máy, còn đường cát hạt to không lọt qua lưới nằm lại. Khả năng tách mẩt phụ thuột vào loại “ đường non “ và tính năng máy ly tâm.

    Quá trình ly tâm được chia thành hai giai đoạn. Giai đoan đầu, khi “ đường non” đã được phân phối đều  trong thùng thì tăng dần tốc độ máy lên cực đại. Nhờ lực ly tâm phần lớn mật được tách ra gọi là mật nguyên. Thời gian tách mật phụ thuộc vào bề dày lớp “ đường non” và  độ nhớt của “ đường non”. Ở giai đoạn 2, khi thấy mật rỉ thoát ra ngoài quá ít và thấy “ đường non”, còn dính nhiều mật, cần dùng nước hay hơi để rửa đường. Lượng nước được tách ra lúc này gọi là mật loãng. Sauk hi rửa xong đóng van hơi lại, hãm máy và xả đường. Thiết bị ly tâm có hai loại thông dụng là dạng gián tiếp và dạng liên tục.

    3.3.9    2.3.9. Sấy đường

    • Mục đích

    Sấy đường nhằm tách lớp nước trên bề mặt hạt đường, tăng thời gian bảo quan và tạo độ bóng sáng cho thành phẩm.

    • Thiết bị và thông số công nghệ

    Đường cát sau khi ly tâm, nếu có rửa nước thì độ ẩm khoảng 1,7 – 2.0 %. Trường hợp dùng hơi nóng để rửa thì độ ẩm khoảng 0.7 – 1%. Cần phải  có quá trình sấy để giảm độ ẩm của đường. Có 3 dạng máy sấy đường thường được sử dụng là máy sấy dạng thùng quay, sấy tầng sôi, và tháp sấy mâm. Độ ẩm cuối của đường thành phẩm là 0.1 – 0.2%. Nhiệt độ sấy đường càng thấp thì chất lượng đường càng cao nhưng thời gian sấy càng dài. Tùy nhà máy mà nhiệt độ có thể biến đổi từ 70-1000C.

    Sau khi sấy, đường sẽ được làm nguội, rây và bao gói để thành đường thành phẩm.

    3.3.10 2.3.10. Vận chuyển và bảo quản đường

    Sau khi sấy và làm nguội, đường sau khi đạt các chí tiêu cám quan, hóa lý( TCVNDo ủy ban khoa học và kỹ thuật nhà nước ban hành theo quyết định số 43/ QĐ ngày 11-02-1987) sẽ được vận chuyển bằng hệ thống băng tải sang các sàng phân loại rồi đến các phễu chứa đường. Sau đó đóng bao 50 kg trên máy đóng bao, hay cũng có thể được đóng gói vào các bịch 0.5 kg, 1 kg….. sản phẩm sau đóng gói sẽ được chở vào kho trước khi cung cấp ra thị trường. Cũng như các loại thực phẩm bảo quản dạng bao bì, các bao đường được xếp thành từng dãy trong kho, có thể xếp cao 4-5mét. Kho khô ráo độ ẩm không khí 60% thì tốt. Tường và nền kho lót nguyên liệu cách ẩm, có kệ xếp bao đường.

    3.4    2.4. Khuyến cáo người tiêu dùng

    Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, thì các sản phẩm mới cũng không ngừng xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên bên cạnh những sản phẩm tốt, an toàn thì cũng không ít những sản phẩm làm nhái, làm giả kém chất lượng, lúc này đòi hỏi người tiêu dùng phải có một chút kiến thức để chọn được sản phẩm tốt, đảm bảo cho sức khỏe của mình và gia đình.

    Dưới đây là một vài khuyến cáo cho người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm đường.

    Chọn những sản phẩm có thương hiệu, nguồn gốc.

    Chọn những sản phẩm bao bì ghiđầy đủ thông tin( đơn vị sản xuất, địa chỉ, ngày sản xuất, hạn sử dụng, chỉ tiêu chất lượng….), các thông tin thì rõ dàng, không nhòe nhoẹt, tẩy xóa.

    Chọn những sản phẩm còn nguyên vẹn bao bì, màu sắc, mùi vị  đặc trưng cho sản phẩm, không nhiễm tạp chất, không mùi vị lạ.

    • Các chỉ tiêu đặc trưng của một số sản phẩm đường, bạn có thể xem trong phần phụ lục của bài tiểu luận này.

    3.5    Chương 3. Kết luận

    • Đường là một thức ăn rất quan trọng cho sự sống của con ngườicũng như tinh bột, prôtit,chất béo, muối vô cơ, đường là sản phẩm dinh dưỡng chủ yếu cần thiết cho cơ thể con người.
    • Chúng ta đều biết năng lượng chủ yếu cần cho cơ thể con người do gluxit cung cấp. Đường là một loại Đường có khả năng biến thành năng lượng dễ và nhanh chóng, là tính ưu việt của đường so với các thực phẩm khác. Ngoài ra đường còn có vị ngọt và ngon.
    • Đóng góp lớn đối với ngành kinh tế quốc dân, ngoài việc dùng làm thức ăn trực tiếp đường là một loại thực phẩm có nhiều công dụng như làm bánh kẹo các loại, làm nước giải khát, uống chè, cà phê hoặc làm tăng hương vị của các loại thực phẩm khác như trong kỹ nghệ sản xuất đồ hộp hoặc dùng trong y học để chữa bệnh.
    • Ngoài đường là sản phẩm chính của công nghiệp đường ra còn có những phụ phẩm quantrọng phục vụ cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ khác.
    • Bã mía để đốt lò thay dầu, cứ 3 tấn bã khô cung cấp nhiệt lượng tương đương một tấn dầu; dùng làm ván ép, làm bột giấy, than hoạt tính hoặc là nguyên liệu của công nghiệp chất dẻo, sợi tổng hợp.
    • Mật rỉ là nguyên liệu sản xuất cồn rượu hoặc sử dụng làm môi trường sản xuất men bánh mỳ và các loại men thực phẩm, là nguyên liệu sản xuất axit axetit, axit citric … làm môi trường lên men để sản xuất bột ngọt ..
    • Còn bã bùn dùng sản xuất phân bón cho mía, cà phê, cao su đạt hiệu quả cao.
      • Vì vậy sản xuất đường là một ngành công nghiệp thực phẩm rất cần được coi trọng và phát triển.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Câu hỏi ôn tập trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án

    Câu hỏi ôn tập trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án

    Câu hỏi ôn tập trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Công nghệ chế biến sữa bột


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-%C3%B4n-t%E1%BA%ADp-tr%E1%BA%AFc-nghi%E1%BB%87m-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-v%C3%A0-%C4%91%C3%A1p-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Câu hỏi ôn tập trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án

    80 câu trắc nghiệm công nghệ phần mềm và đáp án

    1.     Câu hỏi không được kỹ sư phần mềm hiện nay quan tâm nữa

    1. Tại sao chi phí phần cứng máy tính quá cao?
    2. Tại sao phần mềm mất một thời gian dài để hoàn tất?
    3. Tại sao người ta tốn nhiếu chi phí để phát triển một mẩu phần mềm?
    4. Tại sao những lỗi phần mềm không được loại bỏ trong sản phẩm trước khi xuất xưởng

    2. Ba giai đoạn tổng quát của công nghệ phần mềm

    1. definition, development, support
      b. what, how, where
      c. programming, debugging, maintenance
      d. analysis, design, testing

    3. Mô hình phát triển ứng dụng nhanh

    1. Một cách gọi khác của mô hình phát triển dựa vào thành phần
    2. Một cách hữu dụng khi khách hàng không xàc định yêu cầu rõ ràng
    3. Sự ráp nối tốc độ cao của mô hình tuần tự tuyến tính
    4. Tất cả mục trên

     4. Mô hình tiến trình phần mềm tiến hóa

    1. Bản chất lặp
    2. Dễ dàng điều tiết những biến đổi yêu cầu sản phẩm
    3. Nói chung không tạo ra những sản phẩm bỏ đi
    4. Tất cả các mục

    5.  Mô hình phát triển phần mềm lặp lại tăng thêm

    1. Một hướng hợp lý khi yêu cầu được xác định rõ
    2. Một hướng tốt khi cần tạo nhanh một sản phẩm thực thi lõi
    3. Một hướng tốt nhất dùng cho những dự án có những nhóm phát triển lớn
    4. Một mô hình cách mạng không nhưng không được dùng cho sản phẩm thương mại

     6. Mô hình phát triển phần mềm xoắn ốc

    1. Kết thúc với việc xuất xưởng sản phẩm phần mềm
    2. Nhiều hỗn độn hơn với mô hình gia tăng
    3. Bao gồm việc đánh giá những rủi ro phần mềm trong mỗi vòng lặp
    4. Tất cả điều trên

     7. Mô hình phát triển dựa vào thành phần

    1. Chỉ phù hợp cho thiết kế phần cứng máy tính
    2. Không thể hỗ trợ phát triển những thành phần sử dụng lại
    3. Dựa vào những kỹ thuật hỗ trợ đối tượng
    4. Không định chi phí hiệu quả bằng những độ đo phần mềm có thể định lượng
    1. Để xây dựng mô hình hệ thống, kỹ sư phải quan tâm tới một trong những nhân tố hạn chế sau :
    1. Những giả định và những ràng buộc
    2. Ngân sách và phí tổn
    3. Những đối tượng và những hoạt động
    4. Lịch biểu và các mốc sự kiện

    9.     Trong kỹ thuật tiến trình nghiệp vụ, ba kiến trúc khác nhau được kiểm tra

    1. Hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu, ứng dụng
    2. Hạ tầng tài chánh, tổ chức và truyền thông
    3. Cấu trúc báo cáo, cơ sở dữ liệu, mạng
    4. Cấu trúc dữ liệu, yêu cầu, hệ thống
    1.  Thành phần nào của kỹ thuật tiến trình nghiệp vụ là trách nhiệm của kỹ sư phần mềm
    1. Phân tích phạm vi nghiệp vụ
    2. Thiết kế hệ thống nghiệp vụ
    3. Kế hoạch sản phẩm
    4. Kế hoạch chiến lược thông tin

    11.                       Những thành phần kiến trúc trong kỹ thuật sản phẩm là

    1. Dữ liệu, phần cứng, phần mềm, con người
    2. Dữ liệu, tài liệu, phần cứng, phần mềm
    3. Dữ liệu, phần cứng, phần mềm, thủ tục
    4. Tài liệu, phần cứng, con người, thủ tục

    12.                       Đặc tả hệ thống mô tả

    1. Chức năng và hành vi của hệ thống dựa vào máy tính
    2. Việc thi hành của mỗi thành phần hệ thống được chỉ
    3. Chi tiết giải thuật và cấu trúc hệ thống
    4. Thời gian đòi hỏi cho việc giả lập hệ thống

    13.                       Cách tốt nhất để đưa tới việc xem xét việc đánh giá yêu cầu là

    1. Kiểm tra lỗi mô hình hệ thống
    2. Nhờ khách hàng kiểm tra yêu cầu
    3. Gởi họ tới đội thiết kế và xem họ có sự quan tâm nào không
    4. Dùng danh sách các câu hỏi kiểm tra để kiểm tra mỗi yêu cầu

    14.                       Sử dụng bảng lần vết giúp

    1. Debug chương trình dựa theo việc phát hiện lỗi thời gian thực
    2. Xác định việc biểu diễn những sự thi hành giải thuật
    3. Xác định, điều khiển và theo vết những thay đổi yêu cầu
    4. Không có mục nào

    15.                       Mẫu mô hình hệ thống chứa thành phần

    1. Input
    2. Output
    3. Giao diện người dùng
    4. Tất cả mục trên
    1.  Tác vụ nào không được biểu diễn như là một phần của phân tích yêu cầu phần mềm
    1. Định giá và tổng hợp
    2. Mô hình hóa và thừa nhận vấn đề
    3. Lập kế hoạch và lịch biểu
    4. Đặc tả và xem xét
    1.  Đích của kỹ thuật đặc tả ứng dụng thuận tiện (FAST – facilitated application specification techniques) là nhờ người phát triển và khách hàng
    1. Xây dựng một nguyên mẫu nhanh chóng
    2. Học công việc lẫn nhau
    3. Làm việc với nhau để phát triển một tập những yêu cầu ban đầu
    4. Làm việc với nhau để phát triển những đặc tả phần mềm kỹ thuật
    1.  Ai là người không thích hợp để tham dự vào nhóm FAST (facilitated application specification techniques)
    1. Kỹ sư phần cứng và phần mềm
    2. Đại diện nhà sản xuất
    3. Đại diện thị trường
    4. Nhân viên tài chánh cao cấp
    1.  Những yêu cầu nào được quan tâm suốt QFD (quality function deployment)
    1. exciting requirements
    2. expected requirement
    3. normal requirements
    4. technology requirements
    1.  Phân tích giá trị được dẫn ra như là một phần của QFD (quality function deployment) nhằm xác định
    1. Chi phí của hoạt động đảm bảo chất lượng của dự án
    2. Chi phí quan hệ của những yêu cầu qua việc triển khai chức năng, tác vụ và thông tin
    3. Độ ưu tiên quan hệ của những yêu cầu qua việc triển khai chức năng, tác vụ và thông tin
    4. Kích thước của bản ý kiến khách hàng

    21.                       Use-cases là một kịch bản mà mô tả

    1. Phần mềm thực hiện như thế nào khi được dùng trong một tình huống cho trước
    2. Những công cụ CASE sẽ được dùng như thế nào để xây dựng hệ thống
    3. Kế hoạch xây dựng cho sản phẩm phần mềm
    4. Những test-case cho sản phẩm phần mềm
    1.  Nội dung thông tin biểu diễn những đối tượng điều khiển và dữ liệu riêng biệt mà bao gồm những thông tin mà
    1. Cần thiết để trình bày tất cả output
    2. Được đòi hỏi cho việc xử lý lỗi
    3. Được đòi hỏi cho hoạt động tạo giao diện hệ thống
    4. Được biến đổi bởi phần mềm

    23.                        Dòng thông tin biểu diễn cách thức mà dữ liệu và điều khiển

    1. Quan hệ với một dữ liệu và điều khiển khác
    2. Biến đổi khi mỗi lần dịch chuyển qua hệ thống
    3. Sẽ được thực thi trong thiết kế cuối cùng
    4. Không có mục nào

    24.                       Cấu trúc thông tin biểu diển tổ chức nội của

    1. Những cấu trúc dữ liệu dùng để biểu diễn loại dữ liệu
    2. Mô hình bố trí nhân viên dự án
    3. Mô hình truyền thông dự án
    4. Những dữ liệu khác nhau và những mục điều khiển

    25.                        Loại mô hình nào được tạo ra trong phân tích yêu cầu phần mềm

    1. Chức năng và hành vi
    2. Giải thuật và cấu trúc dữ liệu
    3. Kiến trúc và cấu trúc
    4. Tính tin cậy và tính sử dụng

    26.                       Trong ngữ cảnh của phân tích yêu cầu, hai loại phân tách vấn đề là

    1. bottom-up và top-down
    2. horizontal and vertical
    3. subordinate và superordinate
    4. Không có mục nào
    1.  Khung nhìn (view) nào được quan tâm đầu tiên trong phân tich yêu cầu phần mềm
    1. actor view
      b. data view
      c. essential view
      d. implementation view
    1.  Tạo nguyên mẫu tiến hóa thường thích được dùng hơn tạo nguyên mẫu bỏ đi bởi vì
    1. Cho phép tái sử dụng nguyên mẫu đầu
    2. Không đòi hỏi làm việc nhiều với khách hàng
    3. Dễ dành thực hiện nhanh
    4. Nhiều tin cậy hơn

    29.                       Những mục nào không là nguyên tắc cho việc biểu diễn yêu cầu

    1. Biểu đồ phải thu hẹp về số và toàn vẹn trong sử dụng
    2. Hình thức và nội dung biểu diễn thích hợp với nội dung
    3. Những biểu diễn phải có thể xem xét lại
    4. Dùng không hơn 7 màu dương và 2 màu âm trong biểu đồ

    30.                       Mục nào không là một  mục đích cho việc xây dựng một mô hình phân tích

    1. Xác định một tập những yêu cầu phần mềm
    2. Mô tả yêu cầu khách hàng
    3. Phát triển một giải pháp tóm tắt cho vấn đề
    4. Thiết lập một nền tảng cho thiết kế phần mềm

    31.                        Sơ đồ luồng dữ liệu

    1. Đưa ra hình ảnh quan hệ giữa các đối tượng dữ liệu
    2. Đưa ra hình ảnh những chức năng biến đổi luồng dữ liệu
    3. Chỉ ra những quyết định logic chính khi chúng xuất hiện
    4. Chỉ ra sự tương tác của hệ thống với sự kiện bên ngoài

    32.                       Biểu đồ quan hệ thực thể

    1. Đưa ra hình ảnh quan hệ giữa các đối tượng dữ liệu
    2. Đưa ra hình ảnh những chức năng biến đổi luồng dữ liệu
    3. Chỉ ra những quyết định logic chính khi chúng xuất hiện
    4. Chỉ ra sự tương tác của hệ thống với sự kiện bên ngoài

    33.                       Biểu đồ dịch chuyển trạng thái

    1. Đưa ra hình ảnh về các đối tượng dữ liệu
    2. Đưa ra hình ảnh chức năng biến đổi luồng dữ liệu
    3. Chỉ ra hình ảnh dữ liệu được biến đổi như thế nào bởi hệ thống
    4. Chỉ ra những tương tác của hệ thống đối với sự kiện bên ngoài
    1. Phân tích văn  phạm của bản tường thuật xử lý là bước đầu tiên tốt nhất để tạo ra
    1. Tự điển dữ liệu
    2. Biểu đồ dòng dữ liệu
    3. Biểu đồ quan hệ thực thể
    4. Biểu đồ dịch chuyển trạng thái

    35.                        Biểu đồ dòng điều khiển

    1. Cần thiết để mô hình những hệ thống hướng sự kiện
    2. Được đòi hỏi cho tất cả hệ thống
    3. Được dùng trong biểu đồ dòng dữ liệu
    4. Hữu dụng trong mô hình hóa giao diện người dùng

    36.                        Từ điển dữ liệu chứa những mô tả của mỗi

    1. Mục cấu hình phần mềm
    2. Đối tượng dữ liệu phần mềm
    3. Biểu đồ phần mềm
    4. Hệ thống ký hiệu phần mềm

    37.                       Mô hình thiết kế không quan tâm tới

    1. Kiến trúc
    2. Dữ liệu
    3. Giao diện
    4. Phạm vi dự án

    38.                       Sự quan trọng của thiết kế phần mềm có thể được tóm tắt bằng từ đơn

    1. Accuracy
    2. Complexity
    3. Efficiency
    4. Quality

    39.                       Một đặc trưng của thiết kế tốt là

    1. Cho thấy sự liên kết mạnh giữa các module
    2. Thực hiện tất cả yêu cầu trong phân tích
    3. Bao gồm những test case cho tất cả thành phần
    4. Kết hợp mã nguồn nhằm mục đích mô tả

    40.                        Mục nào không là đặc trưng chung trong các phương pháp thiết kế

    1. Quản lý cấu hình
    2. Ký hiệu thành phần chức năng
    3. Nguyên tắc đánh giá chất lượng
    4. Heuristic tinh chế

    41.                        Loại trừu tượng nào được dùng trong thiết kế phần mềm

    1. Điều khiển
    2. Dữ liệu
    3. Thủ tục
    4. Tất cả mục trên

    42.                        Loại mô hình nào không được có trong kiến trúc phần mềm

    1. Dữ liệu
    2. Động
    3. Xử lý
    4. Cấu trúc

    43.                        Cấp bậc điều khiển thể hiện

    1. Thứ tự quyết định
    2. Việc tổ chức của các module
    3. Sự lặp lại của những hoạt động
    4. Sự tuần tự của các tiến trình

    44.                       Thủ tục phần mềm tập trung vào

    1. Cấp bậc điều khiển trong một cảm nhận trừu tượng hơn
    2. Xử lý chi tiết của mỗi module riêng biệt
    3. Xử lý chi tiết của mỗi tập module
    4. Quan hệ giữa điều khiển và thủ tục
    1. Nguyên nhân của việc sinh lỗi do thiết kế mức thành phần trước khi thiết kế dữ liệu là
    1. Thiết kế thành phần thì phụ thuộc vào ngôn ngữ còn thiết kế dữ liệu thì không
    2. Thiết kế dữ liệu thì dễ thực hiện hơn
    3. Thiết kế dữ liệu thì khó thực hiện
    4. Cấu trúc dữ liệu thường ảnh hưởng tới cách thức mà thíết kế thành phần phải theo
    1.  Mục đích của tham chiếu chéo những yêu cầu (ma trận) trong tài liệu thiết kế là nhằm
    1. Cho phép người quản lý theo dõi năng suất của nhóm thiết kế
    2. Xác minh là tất cả các yêu cầu đã được xem xét trong thiết kế
    3. Chỉ ra chi phí kết hợp với mỗi yêu cầu
    4. Cung cấp cho việc thực thi tên của những nhà thiết kế cho mỗi yêu cầu

    47.                        Mục nào không là một phần của kiến trúc phần mềm

    1. Chi tiết giải thuật
    2. Cơ sở dữ liệu
    3. Thiết kế dữ liệu
    4. Cấu trúc chương trình
    1.  Đặc trưng nào là đúng cho kho dữ liệu, không phải là cơ sở dữ liệu đặc trưng
    1. Hướng mức nghiệp vụ và kích thước lớn
    2. Thông tin đúng và hợp thời
    3. Tích hợp và không thường thay đổi
    4. Tất cả những mục trên

    49.                       Mẫu kiến trúc nhấn mạnh tới những thành phần

    1. Ràng buộc
    2. Tập hợp những thành phần
    3. Mô hình ngữ nghĩa
    4. Tất cả những mục
    1. Nhằm xác định những mẫu kiến trúc hay kết hợp những mẫu phù hợp nhấtcho hệ thống đề nghị, kỹ thuật yêu cầu dùng để khám phá
      1. Giải thuật phức tạp
      2. Đặc trưng và ràng buộc
      3. Điều khiển và dữ liệu
      4. Những mẫu thiết kế

    51.                       Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của một thiết kế kiến trúc phải dựa vào

    1. Tính truy cập và tính tin cậy của hệ thống
    2. Dữ liệu và điều khiển của hệ thống
    3. Tính chức năng của hệ thống
    4. Những chi tiết thực thi của hệ thống
    1.  Trong phương pháp phân tích kiến trúc, mô tả mẫu kiến trúc thường dùng khung nhìn
    1. Dòng dữ liệu
    2. Module
    3. Tiến trình
    4. Tất cả các mục trên
    1. Khi một luồng tổng thể trong một đoạn của biểu đồ luồng dữ liệu có tínhtrình tự cao và theo sau những những đường thẳng sẽ thể hiện
      1. Liên kết thấp
      2. Module hóa tốt
      3. Luồng giao dịch (transaction)
      4. Luồng biến đổi (transform)
    1.  Khi luồng thông tin trong một đoạn của sơ đồ luồng dữ liệu thể hiện bằng một mục đơn mà bẩy một luồng dữ liệu khác theo một trong nhiều đường sẽ thể hiện
    1. Liên kết thấp
    2. Module hóa tốt
    3. Luồng giao dịch (transaction)
    4. Luồng biến đổi (transform)
    1.  Một bổ sung cần thiết nhằm biến đổi hay ánh xạ giao dịch để tạo một thiết kế kiến trúc đầy đủ là
    1. Sơ đồ quan hệ – thực thể
    2. Từ điển dữ liệu
    3. Mô tả việc xử lý cho mỗi module
    4. Những Test-case cho mỗi module
    1.  Những nguyên lý thiết kế giao diện nào không cho phép người dùng còn điều khiển tương tác với máy tính
    1. Cho phép được gián đoạn
    2. Cho phép tương tác có thể undo
    3. Che dấu những bản chất kỹ thuật với những người dùng thường
    4. Chỉ cung cấp một cách thức xác định cứng khi hoàn thành tác vụ

    57.                       Những nguyên lý thiết kế giao diện cho phép người dùng ít phải nhớ

    1. Xác định những shortcut trực quan
    2. Biểu lộ thông tin theo cách diễn tiến
    3. Thiết lập những trường hợp mặc định có ý nghĩa
    4. Tất cả những mục trên

    58.                       Sự toàn vẹn (consistency) giao diện ngầm định

    1. Những kỹ thuật input giữ tương tự suốt ứng dụng
    2. Mỗi ứng dụng phải có look and feel riêng biệt
    3. Cách thức điều hướng (navigational) nhạy với ngữ cảnh
    4. Câu a và b
    1.  Mô  hình nào đưa ra hình ảnh tiền sử (profile) người dùng cuối của hệ thống dựa vào máy tính
    1. Mô hình thiết kế
    2. Mô hình người dùng
    3. Mô hình của người dùng
    4. Mô hình nhận thức hệ thống

    60.                       Mô  hình nào đưa ra hình ảnh hệ thống trong đầu của người dùng cuối

    1. Mô hình thiết kế
    2. Mô hình người dùng
    3. Hình ảnh hệ thống
    4. Mô hình nhận thức hệ thống
    1.  Mô  hình nào đưa ra hình ảnh look and feel cho giao diện người dùng cùng những thông tin hỗ trợ
    1. Mô hình thiết kế
    2. Mô hình người dùng
    3. Mô hình hình ảnh hệ thống
    4. Mô hình nhận thức hệ thống
    1.  Những hoạt động khung nào thường không kết hợp với những quá trình thiết kế giao diện người dùng
    1. Ước lượng giá
    2. Xây dựng giao diện
    3. Định trị giao diện
    4. Phân tích người dùng và tác vụ
    1.  Hướng tiếp cận nào để những phân tích tác vụ của người dùng trong thiết kế giao diện người dùng
    1. Người dùng cho biết những ưa thích qua bản câu hỏi
    2. Dựa vào ý kiến của những lập trình viên có kinh nghiệm
    3. Nghiên cứu những hệ thống tự động liên quan
    4. Quan sát thao tác người dùng
    1.  Những vấn đề thiết kế chung nổi trội lên trong hầu hết giao diện người dùng
    1. Kết nối tiền sử người dùng (profile) và shortcut chức năng
    2. Xử lý lỗi và thời gian đáp ứng của hệ thống
    3. Quyết định hiển thị hình ảnh và thiết kế icon
    4. Không có mục nào
    1.  Những hệ thống phát triển giao diện người dùng đặc trưng cung cấp những kỹ thuật cho việc xây dựng những nguyên mẫu giao diện bao gồm
    1. Tạo code
    2. Những tool vẽ
    3. Định trị input
    4. Tất cả mục trên
    1.  Những bản câu hỏi có ý nghĩa nhất đối với những người thiết kế giao diện khi được hoàn tất bởi
    1. Khách hàng
    2. Những lập trình viên có kinh nghiệm
    3. Người dùng sản phẩm
    4. Người quản lý dự án
    1.  Nhiều đo lường hữu dụng có thể thu thập khi quan sát những người dùng tương tác với hệ thống máy tính gồm
    1. Thời gian cho ứng dụng
    2. Số khiếm khuyết (defect) phần mềm
    3. Tính tin cậy của phần mềm
    4. Thời gian đọc tài liệu trợ giúp

    68.                       Một bảng quyết định được dùng

    1. Để tư liệu tất cả những trạng thái phụ thuộc
    2. Để hướng dẫn phát triển kế hoạch quản lý dự án
    3. Chỉ khi xây dựng hệ chuyên gia
    4. Khi một tập phức tạp những điều kiện và hoạt động xuất hiện trong thành phần

    69.                       Ngôn ngữ thiết kế chương trình (PDL) thường là một

    1. Sự kết hợp giữa cấu trúc lập trình và văn bản tường thuật
    2. Ngôn ngữ lập trình truyền thống theo luật riêng của nó
    3. Ngôn ngữ phát triển phần mềm có thể đọc bởi máy
    4. Một cách hữu dụng để biểu diễn kiến trúc phần mềm
    1. Những độ đo phức tạp vòng (cyclomatic complexity metric) cung cấp cho người thiết kế thống tin về số
    1. Chu kỳ trong chương trình
    2. Số lỗi trong chương trình
    3. Những đường logic độc lập trong chương trình
    4. Những phát biểu của chương trình
    1.  Kiểm thử điều kiện là một kỹ thuật kiểm thử cấu trúc điều khiển mà những tiêu chuẩn dùng để thiết kế test-case
    1. Dựa vào kiểm thử đường cơ bản
    2. Thử thách điều kiện logic trong module phần mềm
    3. Chọn những đường dẫn kiểm tra dựa vào những vị trí và dùng những biến
    4. Tập trung vào việc kiểm thử việc giá trị những cấu trúc lặp
    1.  Kiểm thử luồng dữ liệu là một kỹ thuật kiểm thử cấu trúc điều khiển mà những tiêu chuẩn dùng để thiết kế test-case
    1. Dựa vào kiểm thử đường cơ bản
    2. Thử thách điều kiện logic trong module phần mềm
    3. Chọn những đường dẫn kiểm tra dựa vào những vị trí và dùng những biến
    4. Tập trung vào việc kiểm thử việc giá trị những cấu trúc lặp
    1.  Kiểm thử lặp là một kỹ thuật kiểm thử cấu trúc điều khiển mà những tiêu chuẩn dùng để thiết kế test-case
    1. Dựa vào kiểm thử đường cơ bản
    2. Thử thách điều kiện logic trong module phần mềm
    3. Chọn những đường dẫn kiểm tra dựa vào những vị trí và dùng những biến
    4. Tập trung vào việc kiểm thử việc giá trị những cấu trúc lặp

    74.                       Kiểm thử Black-box cố gắng tìm ra những lỗi

    1. Chức năng không đầy đủ hay không đúng
    2. Những lỗi giao diện
    3. Những lỗi thực thi
    4. Tất cả mục trên

    75.                       Lý do tốt nhất cho việc dùng nhóm kiểm tra phần mềm độc lập là

    1. Những người phát triển phần mềm không cần làm bất kỳ kiểm thử nào
    2. Những người lạ sẽ kiểm phần mềm rất chặt
    3. Những người kiểm thử không được dính dáng tới dự án cho đến khi kiểm thử bắt đầu
    4. Mâu thuẩn về quyền lợi giữa những người phát triển và những người kiểm thử sẽ giảm

    76.                       Trong một dự án thành công sử dụng chiến lược

    1. Đưa ra những xem xét kỹ thuật hình thức ưu tiên trước khi kiểm thử
    2. Chỉ rõ những yêu cầu trong theo một cách thức có thể định lượng
    3. Quan tâm tới việc sử dụng những nhóm kiểm thử độc lập
    4. Tất cả mục trên

    77.                       Kiểm thử tích hợp Top-down có thuận lợi chính là

    1. Những module mức thấp không bao giờ cần kiểm thử
    2. Những điểm quyết định chính được kiểm thử sớm
    3. Không có những stub cần phải viết
    4. Không có mục nào

    78.                       Kiểm thử tích hợp bottom-up có những thuận lợi chính

    1. Những điểm quyết định chính được kiểm thử sớm
    2. Không có những driver cần được viết
    3. Không có những stub (nhánh) cần phải viết
    4. Không đòi hỏi kiểm thử hồi quy (regression)

    79.                       Hướng debug

    1. Backtracking
    2. Brute force
    3. Sự loại trừ nguyên nhân
    4. Tất cả các mục

    80.                       Những kiểm tra chấp nhận thường được đưa ra bởi

    1. Người phát triển
    2. Những người dùng cuối
    3. Nhóm kiểm thử
    4. Những kỹ sư hệ thống

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Đồ án Công nghệ chế biến sữa bột

    Đồ án Công nghệ chế biến sữa bột

    Đồ án Công nghệ chế biến sữa bột

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Tổng luận về công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-C%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-ch%E1%BA%BF-bi%E1%BA%BFn-s%E1%BB%AFa-b%E1%BB%99t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Công nghệ chế biến sữa bột

    MỞ ĐẦU

     

    Sữa là thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng hoàn hảo được vắt từ vú động vật. Sữa chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho người như protein, gluxit, lipit, vitamin, các muối khoáng. Những hợp chất này rất cần thiết cho khẩu phần thức ăn hằng ngày của con người. Do đó các sản phẩm từ sữa có một ý nghĩa quan trọng đối với dinh dưỡng của con người nhất là đối trẻ em, người già và người bệnh. Từ sữa, người ta có thể sản xuất ra nhiều loại thực phẩm khác nhau như sữa bột, sữa cô đặt, sũa lên men, pho mai, bơ, kem…

    Trong đó, sữa bột thời gian bảo quản rất dài, các nhà sản xuất tiết kiệm được một phần lớn cho chi phí vận chuyển sữa do sản phẩm có khối lượng giảm đi nhiều lần khi ta so sánh với nguyên liệu sữa tươi ban đầu. Sữa bột có một tính chất quan trọng nhất đó là độ hoà tan.

    Sữa bột đã xuất hiện từ lâu đời trên thế giới: từ thế kỉ 13-14 người Mông Cổ đã sấy sữa dưới ánh nắng mặt trời. Năm1902 Just Hatmaker đã phát minh ra thiết bị sấy trục để sản xuất sữa bột.Thị trường Việt Nam hiện nay có hai nhóm sản  phẩm là sữa bột nguyên kem và  sữa bột gầy thời gian bảo quản sữa bột nguyên kem là 6 tháng, sữa bột gầy lên đến 3 năm.

    Sữa bột không những được sử dụng tại gia đình để pha chế mà còn là nguyên liệu quan trọng trong nhiều nghành công nghiệp khác nhau như trong sản xuất sữa tái chế và các sản phẩm chế biến từ sữa như: sữa lên men, sữa cô đặc, kem…trong  công nghiệp sản xuất bánh nướng, công nghiệp sản xuất kẹo, chocolate, sôcôla, xúc xích.

    Ở trong đồ án này em sẽ đề cập đến một số vấn đề sau: nguyên liệu sữa, vi sinh vật trong sữa, quá trình công nghệ sản xuất sữa bột, thiết bị chính trong sản xuất sữa bột .

     

    Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    1.1. NGUYÊN LIỆU SỮA

    1.1.1. Giới thiệu về sữa bò

    Sữa là một chất lỏng sinh lý được tiết ra từ tuyến vú của động vật và là nguồn thức ăn để nuôi sống động vật non. Nắm được điều này nghành công nghiệp chế biến sữa đã sản xuất ra nhiều sản phẩm dựa trên ba nguồn nguyên liệu chính: sữa bò, sữa cừu, sữa dê. Ở nước ta sữa bò là chủ yếu.

    Sữa là một chất lỏng đục. Độ đục của sữa là do các chất béo, protein, một số khoáng tạo nên. Màu sắc của sữa chủ yếu phụ thuộc vào hàm lượng -caroten tạo nên. Sữa bò thường có màu sắc từ trắng đến vàng nhạt. Sữa gầy thường trong hơn và ngả màu xanh nhạt. Sữa bò có mùi đặc trưng và  vị ngọt nhẹ.

    1.1.2 Thành phần cửa sữa

    Sữa là một hỗn hợp bao gồm các thành phần chính: nước, lactose, protẹin, một số chất béo. Ngoài ra sữa còn chứa một số khác với hàm lượng nhỏ như các hợp chất chứa nitơ phi protein, vitamin, hooc mon, chất màu và  khí. Hàm lượng các chất trong sũa có thể giao động trong một khoảng rộng.

    1.1.2.1  Nước:

    – Nước tự do chiếm 96 – 97%  tổng lượng nước.Nó có thể được tách trong quá trình cô đặc, sấy vì không có liên kết hoá học với chất khô. Khi bảo quản sữa bột, nước tự do xâm nhập vào làm cho sữa bột bị vón cục.

    – Nước liên kết chiếm một tỉ lệ nhỏ, khoảng 3 -4%. Hàm lượng nước liên kết phụ thuộc vào các thành phần nằm trông hệ keo: protein, các phosphatit, polysacarit.

    1.1.2.2 Đường lactose:

    Glucid của sữa là lactoza hay còn gọi là đường sữa, trung bình mỗi lít sữa chứa 50g trong một lít sữa. Lactose là một đisaccaride do một phân tử glucose và một phân tử galactose liên kết tạo thành. Lactza trong sữa có ý nghĩa quan trọng vì nó dễ bị một số vi sinh vật gây lên men tạo acid lactic và các sản phẩm khác như acetin, metin, diacetin tạo nên mùi vị của các sản phẩm sữa.

    Trong sữa đường lactose tồn tại dưới hai dạng :

    – Dạng-lactose mono hydrat C12H22O11.H2O

    – Dạng-lactose anhydrous C12H22O11

    Ở 20 oC : 40% và : 60%. Khi thây đổi nhiệt độ thì có sự chuyển đổi từ dạng  sang dạng   và ngược lại.

    Bảng 1.1 Tỷ lệ hàm lượng giữa -lactose monohydrate và -lactose anhydrous trong sữa phụ thuộc vào giá trị PH và nhiệt độ của sữa :

    Nhiệt độ dung dịch (oC) 15 20 50 70 90
    Tỷ lệ thành phần -lactose monohydrate và-lactose anhydrous 1:1.63 1:1.59 1:1.51 1:1.45 1:1.40

    Trong sữa đường Lactose ở dạng hoà tan và là đường khử. Độ ngọt của lactose thấp hơn nhiều so với các đisaccaride và monosacride khác (kém 30 lần sacaroza). Lactose có thể bị thuỷ phân thành hai đường monosacaride là glucose và galactose do Enzym-galactosedase.

    C12H22O11     +        H2O     thuỷ phân          +

    Ngoài ra trong sữa bò còn chứa các đường khác nhưng với hàm lượng rất thấp

     

    1.1.2.3 Các hợp chất có chứa Nitơ:

    Thành phần các hợp chất có chứa nitơ trong sữa được trình bày trong bảng:

    Các hợp chất chứa nitơ trong sữa bò (100%)

     
       

     

                a. Casein:

    Casein là nhân tố quan trọng nhất của protid trong sữa, là thành phần protein chủ yếu có trong sữa và là các hạt hình cầu có kích thước 40 – 200µm. Chúng tồn  tại dưới dạng micelle. Mỗi micelle chứa 65% nước, phần còn lại là các loại caseinvà khoáng (canxi, magie, photphate, citrate), casein chiếm 2,7%. Là protein có tính axit vì phân tử của chúng chứa nhiều gốc axit glutamic và axit aspartic.

    -casein: Do sự phân bố điện tích và các phần ưa béo không đồng đều trên phân tử protein nên một đầu mạch -casein tích điện có tính ưa nước, còn đầu mạch kia có tính kị nước.

    -casein: có tính ưa nước cao nhất trong các loại casein do phân tử của nó chứa nhiều nhóm photphoryl và gốc cation.

    -casein: có tính ưa béo cao nhất.

    -casein: chỉ chứa một gốc phosphoryl, có tính lưỡng cực. Đầu amino của phân tử protein thì ưa béo còn đầu cacboxyl, nơi liên kết với nhóm gluxit lại ưa nước.

    -casein: và-casein là những sản phẩm của quá trình thuỷ phân -casein từ máu động vật.

       b. Prôtêin hoà tan:

    Albumin 0,4% và Glubulin 0,2% bị đông tụ khi đun  nóng sữa lên đến 80oC.

    -lactoglobulin:  -lactoglobulin có dạng hình cầu, ít tương tác hoặc kết hợp với các phân tử khác, chiếm 2,5- 4g/l.

    -lactalbumin:  có 0,8-1,5g/l, trong mỗi phân tử có chứa một nguyên tử caxi. Thành phần các acid amin trong phân tử của nó rất cân đối, điểm đẳng điện ở PH =5,1 không bị đông tụ bởi men sữa.

    Peptone-protose: bao gồm những phân đoạn protein khác nhau ( 0,8-1,5g/l)

    Immunoglobulin:   trong sữa bò có ba loại là IgG, IgA, IgM. Trong đó IgG có hàm lượng cao nhất, IgA có chức năng chống nhiễm trùng đường ruột (0,5-0,8g/l).

    Serum-albumin: là protein có phân tử lượng lớn có nguồn gốc từ máu rất mẫn cảm với nhiệt độ.

    Ngoài ra trong sữa còn có protein màng, hàm lượng của chúng rất thấp.

       c. Enzym:

    Enzym do tuyến vú tiết ra hoặc do vi sinh vật trong sữa tổng hợp nên. Sự có mặt của các enzym là nguyên nhân gây biến đổi thành phần hoá học của sữa trong quá trình bảo quản, dẫn đến làm giảm chất lượng hoặc hư hỏng sữa. Nhưng một số   Enzym trong sữa có vai trò kháng khuẩn như lactoperoxydase, lysozyme. Hàm lượng vi sinh vật càng nhiều thì thành phần enzym càng đa dạng và hoạt tính càng cao, có hơn 60 Enzym trong sữa.

    Lactoperoydese: Enzym này xúc tác phản ứng chuyển hoá oxy từ H2O2 đến các chất oxy hoá khác, có PH tối thích là 6,8, hàm lượng trung bình trong sữa là 30mg/l, bị vô hoạt hoá ở 80 oC trong vài giây.

    Catalase: Enzym này luôn có trong sữa do tuyến vú tiết ra, nó xúc tác phản ứng phân huỷ H2O2 thành nước và oxy tự do. Sữa nhiễm vi sinh vật thường có hoạt tính catalase rất cao, có PH tối thích 6,8-7. Catalase bị vô hoạt ở 75 oC trong thời gian một phút, 65 – 68 oC sau 30 phút.

              Lipase: Enzym quan trọng nhất trong sữa được kí hiệu là mLPL, là một  glycoprotein,  PH tối thích là 8.9, hàm lượng  trong sữa chỉ khoảng 1-2mg/l, nó chỉ xúc tác thuỷ phân liên kết ester trong cơ chất triglycerid ở dạng nhũ tương tại bề mặt tiếp xúc pha giữa chất béo và nước, làm tích luỹ các axit béo tự do trong sữa, quá trình phân giải tiếp theo các axit béo này làm cho sữa và sản phẩm từ sữa có vị đắng, mùi ôi khét và mùi kim loại .

    Phosphatase : Chúng xúc tác thuỷ phân liên kết ester giữa  axit phosphoric và glycerin, có hai dạng:

    Phosphatase kiềm  có PH tối thích là 9,6 có khả năng tái hoạt hoá. Bị thuỷ phân ở 30 oC trong 30 phút hoặc 80oC tức thì.

    Phosphatase acid : Enzym này có PH tối thích là 4,7 và là enzym bền nhiệt nhất trong sữa. Để vô hoạt hoá hoàn toàn ta cần gia nhiệt sữa đến 96 oC  trong  5 phút, bị vô hoạt bởi NaF

    Trong suốt chu kì tiết sữa bò, hoạt tính phosphatase axit trong sữa khá ổn định, phosphatase  kiềm tăng dần vào cuối chu kì tiết sữa.

    Lysozym: bền về nhiệt, xúc tác phản ứng thuỷ phân liên kết  giữa acid muramic và glusamine của mucopolysaccride trong màng tế bào vi khuẩn, từ đó gây phân huỷ tế bào. Lysozym có PH tối thích là 7,9, hàm lượng trung bình 130µg/l.

    Proteaza :Enzym này xúc tác phản ứng thuỷ phân protein. Có hai loại protease: proteaza kiềm và proteaza acid. Chúng thường liên kết với casein và cũng bị kết tủa ở PH = 4.6, proteaza axit có PH tối thích 4,0, còn protease kiềm là 7.5 – 8.0. Chúng bị vô hoạt hoàn toàn ở 80oC sau 10 phút.

    1.1.2.4. Chất béo: Chiếm 3,78 %, 25 -45 g/l, gồm Lipit đơn giản chiếm 35-45g, dễ tiêu hoá. Lipit đơn giản gồm  cacbon, hydro và oxy và Lipit phức tạp chiếm 0,3-0,5%; có cacbon, hydro, oxy, photpho, nitơ, lưu huỳnh.

    Bảng 1.2 Thành phần chất béo có trong sữa bò:

     Thành phần Hàm lượng (% so với tổng khối lượng chất béo)           Ghi chú
    Lypid đơngiản

     

    -Glyceride: triglyceride

    Diglyceride

    Monoglycerride

    -Cholesteride

    -Ceride

    98,5

     

    95-96

    2-3

    0,1

    0,03

    0,02

    Ester của acid béo và cholesterol

     

    Ester của acid béo và rượu cao phân tử

    Lipid phức tạp 1,0  
    Các hợp chất tan trong chất béo

     

    – Cholesterol

    – Acid béo tự do

    – Hydrocarbon

    – Vitamin A,D,K,E

    – Rượu

    0,5

     

    0,3

    0,1

    0,1

    vết

    vết

     

    Các chất béo trong sữa thường có dạng hình cầu, đường kính dao động từ 0.1-0.2m. Trong 1ml sữa có khoảng 10-15 tỷ hạt cầu béo. Do đó người ta có thể xem sữa là hệ nhũ tương dầu trong nước. Các màng này có vai trò làm bền hệ nhũ tương trong sữa.

    Các hạt cầu béo có thành phần chủ yếu là glyceride, phospholipit, protein, axit nucleic, enzym, các nguyên tố vi lượng, nước.

    Nếu ta không đồng hoá sữa trong thời gian bảo quản thì các hạt cầu béo có xu hướng kết hợp lại với nhau. Khi đó trong sữa sẽ tồn tại hai pha tách biệt: pha trên cùng với thành phần chủ yếu là lipit; pha dưới với các thành phần có tỉ trọng lớn là nước và một số chất hoà tan trong sữa.

    1.1.2.4 Khoáng :

    Hàm lượng chất khoáng trong sữa dao động từ 8-10g/l. Các muối trong sữa dạng hoà tan hoặc dung dịch keo dễ bị phá vỡ bởi nhiệt độ và PH, các muối khoáng trong sữa hầu hết ở dạng dễ đồng hoá.

    Trong số các nguyên tố khoáng trong sữa, chiếm hàm lượng cao nhất là Ca, P, Mg, K. MỘt phần chúng tham gia vào cấu trúc micelle phần còn lại tồn tại dưới dạng muối hoà tan trong sữa.

    Các nguyên tố khác như: K, Na, Cl… đóng vai trò chất điện ly. Ngoài ra trong sữa còn có các nguyên tố khác như Zn, Al, I, Cu, Mn, Ag… chúng cần thiết cho quá trình dinh dưỡng của con người.

       1.1.2.5 Vitamin

    Tuỳ  theo khả  năng hoà  tan trong nước hay trong chất béo chia các vitamin trong sữa chia làm hai nhóm:

    Vitamin hoà tan trong nước: B1, B2,B3, B5, B6, C, H …

    Vitamin hoà tan trong chất béo: A, D, E

    Nhìn chung hàm lượng các vitamin nhóm B trong sữa bò thường ổn định. Nhưng hàm lượng vitamin tan trong chất béo lại bị ảnh hưởng sâu sắc bởi thành phần thức ăn và điều kiện thời tiết.

    Bảng 1.3 Thành phần các vitamin trong sữa

    Vitamin      mg/l Vitamin  
          A

     

    D

    E

    0,3

     

    0,001

    1,4

    0,4

    1,7

    0,5

    0,005

    C

     

    H

    M

    1

     

    3

    20

    0,04

    0,05

       1.1.2.6. Hormone

    Hormone do các tuyến nội tiết tiết ra và giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của động vật. Trong sữa bò có nhiều loại hormone được chia làm ba nhóm: proteohormone, hormone peptide, hormone steoride.

       1.1.2.7. Các hợp chất khác:

    Trong sữa bò còn chứa các chất khí, chủ yếu là CO2, O2 và N2. tổng hàm lượng của chúng chiếm 5-6% thể tích sữa hay khoảng 70ml/lit trong đó 50-70% là , 5 – 10% là oxy và 20 – 30% là nitơ. Sữa mới vắt ra chứa một lượng lớn khí, sau đó sẽ giảm dần và đạt mức bình thường, trong các loại khí này thì chỉ có oxy là ảnh hưởng xấu vì nó có thể là nguyên nhân phát triển của các quá trình oxy hoá. Khi gia nhiệt thì xuất hiện hiện thượng bài khí khiến cho độ axit của sữa giảm. Các chất khí trong sữa thường tồn tại ở ba dạng: dạng hoà tan, dạng liên kết, dạng phân tán. Sắc tố xanh clorophin, màu trắng do sự khuyếch tán ánh sáng bởi mĩen protêin.

    1.2. HỆ VI SINH VẬT TRONG SỮA

        Bao gồm các loại có lợi và các loại có hại, nguồn gốc của vi sinh vật trong sữa xuất phát từ: Bầu vú của động vật cho sữa, người vắt sữa, thiết bị vắt sữa, thiết bị chứa, môi trường chuồng trại nơi diễn ra  quá trình vắt sữa và trong sản phẩm chế biến sữa.

       1.2.1 Các vi sinh vật bình thường của sữa:

    sống trong sữa ở điều kiện bình thường, có thể nhiễm nội sinh hoặc ngoại sinh và chủ yếu là vi khuẩn.

                   1.2.2.1 Procaryote:

    Vi khuẩn lactic:

    Vi khuẩn lactic có dạng hình cầu hoặc hình gậy đứng riêng lẻ hoặc tạo chuỗi, Gram (+) không có bào tử, không di động, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu 25-47 oC. Hô hấp yếm khí tuỳ tiện hoặc hiếu khí, không sinh calataza, không phân huỷ , không khử nitrat, không phân giải protêin trong sữa, lên men đường tạo thành axit lactic và các sản phẩm khác. Để tồn tại trong sữa, vi khuẩn lactic tổng hợp năng lượng ATP từ cơ chất lactose.

    Có hai nhóm vi khuẩn lactic: vi khuẩn lactic đồng hình và vi khuẩn lactic dị hình .Trong một số sản phẩm từ sữa như phô mai, bơ, yoghurt người ta sử dụng vi khuẩn lactic để thực hiện một số chuyển hoá cần thiết . Còn các vi khuẩn  lactic có mặt trong sữa tươi sau khi vắt được xem là VSV tạp nhiễm. Chúng sẽ tạo ra những chuyển hoá ngoài ý muốn của nhà sản xuất trong quá trình bảo quản sữa trước khi chế biến, làm thay đổi thành phần và giá trị cảm quan của sữa.

    Các vi khuẩn sinh hương: Gồm nhóm vi khuẩn trong quá trình hoạt động có khả năng tạo trong sữa các axit bay hơi như axt acetic, axit propyonic và nhiều chất thơm(diacetin, các ete). Các vi khuẩn sinh hương gồm có streptococcus citrovorus phát triển ở nhiệt độ thích hợp là 30oC. Streptococcus paracitrovorusStreptococcus dicetalactis nhiệt độ thích hợp để phát triển là 35oC có khả năng tạo diacetin cho sản phẩm có mùi dễ chịu. Các vi khoẩn này gây đông tụ sữa sau 16 – 18 giờ.

    Các vi hkuẩn gây đắng: (Streptococcus liquefaciens): nhiệt độ thích hợp 30oC, có khả năng tạo các axit, tạo enzym đông tụ sữa. Enzym và axit này tác dụng đồng thời lên protêin của sữa làm cho sữa đặc lại thành cục và độ axit giảm, loại này phát triển trong sữa gay ra quá trình pepton hoá do đó tạo vị đắng khó chịu cho sản phẩm.

    Vi khuẩn coliform:

    Coliform thuộc nhóm vi khuẩn Gram (-), kị khí tuỳ tiện,nhiệt độ sinh trưởng tối ưu:30 ÷ 44 oC.

    Trong sữa, vi khuẩn coliform sẽ chuyển hoá đường lactose tạo axit lactic và các hợp chất hữu cơ khác, khí CO2 , H2… Chúng làm phân giải protein trong sữa tươi tạo ra các sản phẩm khác làm cho sữa có mùi khó chịu. Ở 75 oC trong khoảng 20 giây vi khuẩn colifrom sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Vi khuẩn sinh acid butyric (clostridium)

    Là vi khuẩn Gram(+) thuộc nhóm kị khí bắt buộc, có khả năng sinh bào tử. Nhiệt độ sinh trưởng tối thích là 37oC. Vi khuẩn clostrudium chuyển hoá dường trong sữa thành nhiều sản phẩm khác nhau như các axit hơi, acid butyric, butalnol, etalnol, ,…làm sữa có mùi khó chịu, làm thay đổi thành phần hoá học của sữa và giá trị cảm quan của sữa trong quá trình bảo quản. Có khả năng tạo bào tử và có khả năng chịu nhiệt cao.

    Vi khuẩn propionic

    Chúng có hình cầu, xếp thành đôi trong hoặc chuỗi, Gram(+)thuộc nhóm kị khí không bắt buộc. Nhiệt độ sinh trưởng tối ưu là 30 oC. Vi khuẩn propionic chuyển hoá đường thành axit propionic, axit acetic, khí CO2 … làm hư hỏng thực phẩm, nhiệt độ phát triển thích hợp là 30-35 oC có khả năng sinh vitamin . Hầu hết các vi khuẩn propionic bị tiêu diệt  khi thanh trùng sữa ở 75oC trong thời gian 20 giây.

    Vi khuẩn gây thối:

    Đó là các vi khuẩn có khả năng sinh tổng hợp protease ngoại bào trong môi trường sữa, không gây lên men đường sữa, là vi khuẩn sinh bào tử, có khả năng sinh ezym protease xúc tác quá trình thuỷ phân protein tạo ra các sản phẩm polypeptit, peptit, acid amin. Các acid amin tiếp tục bị phân huỷ ttạo NH3, H2S … làm cho sữa có mùi khó chịu.

       1.2.2.2. Eucaryote

    Nấm men:

    Là những cơ thể đơn bào có hình cầu, oval, hoặc hình trứng. Chúng phát triển trong sữa và gây ra những biến đổi về thành phần hóa  học trong sữa, gây phản ứng lên men đường lacto tạo  và rượu. Một số nấm men thuộc họ  Mycoderma có khả năng tạo enzym phân huỷ protêin, lipit làm cho các sản phẩm sữa có vị đắng khó chịu.

    Nấm sợi:

    Có dạng hình sợi phân nhánh. Hầu hếtcác nấm sợi thuộc nhóm hiếu khí bắt buộc, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu 20-30 oC. Việc nhiễm nấm sợi vào sữa gây nhiều khó khăn trong sản xuất các sản phẩm từ sữa đặc biệt trong sản xuất pho mai và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Có khả năng phân giải protêin, lipit làm cho sữa có vị đắng. Chúng phát triển sau nấm men nên chỉ có trong sữa đã hư hỏng nặng.

    1.2.2 Hệ vi sinh vật không bình thường trong sữa:

    Sữa bị axit hoá: Do sự biến đổi lactoza thành acid lactic là do Streptococcus lactic, Micrococcus

    Sữa bị phân giải protêin: một số nấm như Geotrichum, Penicillium, Mucor có khả năng phân giải acid lactic dẫn đến đạm dễ bị thoái hoá.

    Micrococcus caseiamara, nấm men torula amara làm cho sữa đắng, bị ôi.

    1.3. BẢO QUẢN SỮA TRƯỚC KHI CHẾ BIẾN

    Sữa là một hỗn hợp chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau. Trong quá trình bảo quản, các hợp chất  sữa sẽ bị biến đổi dẫn đến sự thay đổi về chất lượng của sữa. Các tế bào VSV là nguyên nhân dẫn đến các biến đổi về thầnh phần các chất có trong sữa.

    Để hạn chế các biến đổi làm hư hỏng chất lượng sữa chúng ta cần tiến hành làm lạnh nhanh sữa, nhiệt độ bảo quản không được lớn hơn 4 oC. Ngoài ra, hàm lượng VSV trong sữa phải dược khống chế ở mức thấp nhất. Những va chạm cơ học mạnh, sự tiếp xúc của oxy và ánh sáng mặt trời với sữa phải được hạn chế nhằm bảo toàn các chỉ tiêu cảm quan, hoá học và hoá lý trong quá trình bảo quản sữa trước khi chế biến.

    Ngoài vi sinh vật còn có các tạp chất khác nhau như rơm, phân, kim loại, lông, bụi bặm…cần được loại ra khỏi khối sữa bằng cách lọc.

     

    Chương 2:   QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SỮA BỘT

     

    2.1. NGUYÊN LIỆU TRONG SẢN SUẤT SỮA BỘT

    Nguyên liệu để sản xuất  sữa bột là sữa tươi nguyên cream hoặc sữa gầy. Sữa nguyên là sản phẩm được chế biến từ sữa tươi không hiệu chỉnh hàm lượng chất béo . Sữa gầy là sản phẩm được chế biến từ sữa tươi được tách bớt một phần chất béo. Để sản phẩm có chất lượng ổn định, các yêu cầu về chỉ tiêu hoá lý, vi sinh và cảm quan cho nguyên liệu  cũng khắt khe như đối với nhóm chỉ tiêu vi sinh, tổng số tế bào trong 1l sữa trước khi cô đặc và sấy không vượt quá 3000-5000. Để đạt được yêu cầu này sữa nguyên liệu  phải qua theo một quy trình riêng nhằm làm giảm tổng số tế bào sinh dưỡng và bào tử có trong sữa. mỗi cơ sở sản xuất  sẽ tự thiết lập yêu càu chỉ tiêu chất lượng sữa nguyên liệu  cho quy trình chế biến đang được áp dụng cho nhà máy.

    Ngoài nguyên liệu  chính là  sữa  tươi hoặc sữa gầy, người ta còn áp dụng một số phụ gia trong sản xuất  sữa bột như chất ổn định (polyphosphate, orthophosphate của Na, K, Ca) chất tạo nhũ lecithine, chất chống oxy hoá. Muối phosphate có chức năng kàm ổn định cấu trúc hạt sữa, chống oxy hoá và cải thiện độ hoà tan của sản phẩm.

    Chế biến sữa bột rất có lợi về kinh tế bởi chất khô tăng cao tiết kiệm bao bì và vận chuyển dễ dàng. Các dạng sữa bột hiện có: sữa bột nguyên kem, sữa bột tan nhanh, sữa bột gầy.

     

    2.2 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN SUẤT SỮA BỘT NGUYÊN CREAM

    Hình 2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất  sữa bột nguyên cream

     

       2.2.1. Chuẩn hoá:

    Quá trình chuẩn hoá  sữa nhằm hiệu chỉnh hàm lượng chất béo trong nguyên liệu  và được thực hiện trên dây chuyền tự động bao gồm máy ly tâm, bộ phận phối trộn, các dụng cụ đo (lưu lượng kế, tỷ trọng kế …) bơm và thùng chứa.  Sữa bột nguyên cream có hàm lượng chất béo 26-33%, sữa bột gầy có hàm lượng chất béo 1%.

       2.2.2. Thanh trùng:

    Nhằm làm giảm số VSV trong sữa đến mức thấp nhất, đồng thời vô hoạt các enzym, đặc biệt là nhóm enzym bền nhiệt lipase, làm thay đổi tính chất của prôtein. Thanh trùng thường được thực hiện ở 80-85 oC trong vài giây. Quá trình thanh trùng sữa được thực hiện trên thiết bị trao đổi nhiệt dạng bảng mỏng.

    Để tổng số vi khuẩn đạt được theo yêu cầu các nhà máy còn sở dụng thêm phương pháp ly tâm hoặc vi lọc để tách bớt các VSV ra khỏi sữa. Quá trình ly tâm được thực hiện ở nhiệt độ 55-60 oC. Sau ly tâm tổng số vi khuẩn bị loại có  khi lên đến 99%  so với tổng số vi khuẩn ban đầu có trong sữa. Số lượng các vi khuẩn sinh bào tử chịu nhiệt cũng giảm đi đáng kể như giống Clotridium. Tuy nhiên thanh trùng không thể loại bỏ hết các vi khuẩn nhóm này.

    Quá trình vi lọc được thực hiện trên thiết bị membrane(0,2µ). Khi đó việc tách tế bào vi khuẩn và bào tử của nó giảm đi rất nhiều .Quá trình vi lọc chỉ thực hiện trên nguyên liệu  sữa gầy vì chất  béo trong sữa dễ bị hấp phụ trên membrane, gây tắc nghẽn màng lọc. Phần chất béo sẽ được tiệt trùng riêng sau đó làm nguội và phối trộn với sữa gầy đã qua vi lọc. Phương pháp này cho phép thu nhận sữa nguyên liệu  đạt các chỉ tiêu VSV rất tốt.

    Thanh trùng còn nhằm mục đích tạo nhiệt độ cần thiết để khi đưa vào nồi cô đặc sữa có thể bốc hơi ngay, tránh sự chênh lệch nhiệt độ cao trong nồi chân không. Sau thanh trùng cần làm nguội tới nhiệt độ cô đặc 60 – 70 oC. Khi đã làm nguội đến nhiệt độ này ngưòi ta có thể đưa vào thùng trung gian rồi từ đó cho vào nồi đặc hoặc có thể cho trực tiếp vào nồi cô đặc.

    Quá trình thanh trùng thực phẩm thường bao gồm ba giai đoạn:

    • Gia nhiệt tăng nhiệt độ thực phẩm lên đến nhiệt độ thanh trùng
    • Giữ thực phẩm ở nhiệt độ cần thanh trùng trong một khoảng thời gian xác định.
    • Làm nguội thực phẩm về giá trị nhiệt độ thích hợp.

    ¬ Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thanh trùng:

    • Hệ VSV trong thực phẩm:

    Nếu số lượng VSV càng lớn, để đạt được mức độ vô trùng theo yêu cầu thì chế độ xử lý nhiệt phải nghiêm ngặt với nhiệt độ cao hơn và thời gian dài hơn.

    • Thành phần hoá học trong thực phẩm.
    • Các tính chất vật lý của thực phẩm.

    –    Phương pháp và thiết bị thanh trùng.

      2.2.3. Cô đặc:

     Cô đặc nhằm tách bớt một lượng nước ra khỏi sữa để tiết kiệm chi phí năng lượng cho quá trình sấy sữa tiếp theo. Người ta dùng cô đặc chân không. Cô  đặc  ở  áp  suất  thường thì sản phẩm luôn luôn tiếp xúc với không khí nên luôn luôn bị nhiễm bẩn, các sinh tố và chất béo bị phân huỷ, sản phẩm bị biến tính (đặc sệt, có màu vàng sẫm ). Cô đặc ở áp suất chân không thì thường khắc phục được những nhược điểm trên vì thời gian cô đặc ngắn và nhiệt  độ  thấp nên tránh được các thay đổi sâu sắc về cấu trúc của sữa vốn xảy ra mãnh liệt ở 100 oC, đặc biệt là tránh được sự biến đổi của đường lactoza  do đó sản phẩm có chất lượng và màu sắc tốt.

    Nhiệt độ sữa trong quá trình cô đặc không vượt quá 76oC. Thiết bị cô đặc phổ biến nhất là thiết bị cô đặc nhiều cấp dạng màng rơi. Số cấp sử dụng thường từ 2-7 cấp, thường gặp nhất là 4 cấp, sau cô đặc hàm lượng chất khô trong sữa là 45-55%.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cô đặc bằng nhiệt:

    ¬ Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ truyền  nhiệt:

    – Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hơi gia nhiệt và nhiệt độ sôi của sữa: Nếu độ chênh lệch này càng lớn thì tốc độ truyền nhiệt sẽ càng lớn, để làm tăng mức chênh lệch trên thì ta  giảm nhiệt độ sôi của sữa bằng phương pháp cô đặc trong môi trường chân không.

    – Hiện tượng cặn bám trên bề mặt trao đổi nhiệt

    Trong quá trình bốc hơi, một số cấu tử trong sữa có thể bị bám dính trên bề mặt truyền nhiệt của thiết bị. Dưới tác dụng của nhiệt độ cao, một số phân tử protein sẽ bị biến tính; các hợp chất bị bám dính nói trên sẽ tương tác với nhau hoặc bị phân giải. Kết quả là chúng tạo nên một lớp cháy khét và làm giảm tốc độ truyền nhiệt

    – Hiện tượng màng biên:

    Lớp sữa tiếp xúc với bề mặt truyền nhiệt lớp màng biên trong thiết bị bốc hơi thường tạo ra một trở lực lớn trong quá trình truyền nhiệt.

    – Độ nhớt của nguyên liệu: nếu cao sẽ làm giảm chỉ số Râynol và tốc độ tuần hoàn của nguyên liệu  trong thiết bị, do đó hệ số truyền nhiệt giảm.

    ¬ Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của quá trình cô đặc:

    – Hiện tượng tạo bọt: Dưới tác dụng của nhiệt độ cao và do sự xuất hiện các bong bóng hơi, một số cấu tử trong sữa như protein có khả năng tạo bọt lớp bọt trong thiết bị cô đặc sẽ làm giảm tốc độ thoát hơi thứ ra khỏi sản phẩm.

    – Hiện tượng tổn thất chất khô do bị lôi cuốn bởi hơi thứ: Hơi thứ thoát ra sẽ cuốn theo một số cấu tử ở dạng sương mù nên làm tổn thất chất khô. Người ta sử dụng thiết bị cô đặc nhiều cấp để hạn chế hiện tượng này.

       2.2.4. Đồng hoá.

    Do hàm lượng chất béo trong sữa sau quá trình cô đặc khá cao nên nhà  sản xuất  thực hiện quá trình đồng hoá để giảm kích thước hạt béo và phân bố đều chúng trong sữa. Trong công nghệ chế biến sữa, quá trình đồng hoá được sử dụng với mục đích ổn định hệ nhủ tương, chống lại sự tách pha dưới tác dụng của trọng lực nên còn gọi là quá trình nhũ hoá.

    Nhũ tương là một hệ gồm hai chất lỏng không hoà tan nên được trộn lẫn với nhau. Khi đó một chất lỏng sẽ tồn tại dưới dạng hạt (gọi là pha không liên tục, pha phân tán, pha nội) trong lòng của chất lỏng còn lại (pha không phân tán). Ở đây chỉ xếp hệ nhũ tương đơn giản, dầu trong nước hoặc nước trong dầu.

    Trong quá trình đồng hoá để đạt được hiệu quả cao ta thường sử dụng chất nhũ hoá. Chất nhủ hoá có hai chức năng: Làm giảm sức căng bề mặt giữa hai pha quan hệ nhủ tương và hình thành nên một màng bảo vệ bao bọc xung quanh các hạt của pha phân tán, làm cho chúng không thể kết hợp với nhau để tạo nên các hạt phân tán mới có thể tích lớn hơn. Chất nhũ hoá được sử dụng trong chế biến sữa là phải không độc hại, không màu, không mùi, không vị, ít biến đổi trong quá trình chế biến và bảo quản sữa.

            Kỹ thuật đồng hoá hệ nhũ tương bao gồm các phương pháp: Làm vỡ, làm giảm kích thước những hạt thuộc pha phân tán và phân đều chúng trong pha liên tục.

    ¬ Đồng hoá bằng phương pháp khuấy trộn:

    Sử các cánh khuấy để đồng hoá hệ nhủ tương quả quá trình đồng hoá này không cao, người ta chỉ áp dụng nhằm mục đích chuẩn bị sơ bộ hệ nhũ tương trước khi chuyển qua giai đoạn đồng hoá bằng phương pháp sử dụng áp lực cao.

    ¬ Đồng hoá bằng phương pháp sử dụng áp lực cao:

    Trong phương pháp này các hạt của pha phân tán sẽ bị phá vỡ và giảm kích thước khi ta bơm hệ nhũ tương đi qua một khe hẹp với tốc độ cao. Kích thước của khe hẹp có thể dao động trong khoảng 15÷300m và tốc độ dòng của hệ nhũ tương được đẩy  đến khe hẹp có thể lên đến tới 50÷200 m/s. Sử dụng thiết bị đồng hoá hai cấp và áp lực đồng hoá cho mỗi cấp là 200 bar và 50 bar.

     Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đồng hoá

    – Tỷ lệ phần trăm giữa thể tích pha phân tán và tổng thể tích hệ nhũ tương. Nếu tỷ lệ này nhỏ thì quá trình đồng hoá sẽ được thực hiện dể dàng và hệ nhũ tương có độ bền cao. Ngược lại thì thường khó thực hiện bằng các phương pháp thông thường.

    – Nhiệt độ: Dựa vào thành phần hoá học của hệ nhũ tương mà ta chọn nhiệt độ thích hợp cho quá trình đồng hoá. Trong công nghiệp chế biến sữa nhiệt độ đồng hoá thường dao động từ 55 ÷ 80 oC.

    – Áp suất: Áp suất đồng hoá càng lớn thì thực hiện đồng hoá càng dễ. Trong công nghiệp chế biến sữa áp suất đồng hoá thường dao động từ 100 ÷ 250 bar.

    – Chất nhũ hoá: phải lựa chọn chất nhũ hoá thích hợp cho từng loại sản phẩm. Những chất nhũ hoá thường dùng trong công nghiệp chế biến sữa là lecithin, glycerin ester…

    2.2.5. Sấy sữa:

    Sấy là quá trình làm bốc hơi nước ra khỏi vật liêụ dưới tác dụng của nhiệt. Nước tách ra khỏi vật liệu nhờ sự  khuếch tán do: chênh lệch độ ẩm ở bề mặt và bên trong vật liệu; chênh lệch áp suất hơi riêng phần của nước tại bề mặt vật liệu và môi trường bên trong. Thời gian sấy nhanh, nhiệt của vật liệu sấy thấp, sản phẩm nhận được ở dạng bột nhỏ, không cần phải nghiền lại và có độ hòa tan lớn. Nhiệt của vật liệu trong suốt chu kỳ sấy không vượt quá nồng độ của ẩm bốc hơi (60°C ¸ 70°C)

    Sản phẩm chế biến từ sữa đã cô đặc đến độ khô 35 – 40%, đem sấy khô, nghiền thành bột, sàng, rây được sữa ở dạng bột có độ khô 90 – 96%, độ ẩm 4 – 10%. Tùy thuộc vào thiết bị sấy có được sản phẩm SB có chất lượng khác nhau. Để thu nhận sữa bột người ta có thể sử dụng các phương pháp  sấy khác nhau như sấy thăng hoa, sấy trục, nhưng hiện  nay sấy phun được sử dụng nhiều  hơn cả

    a.Sấy thăng hoa: (sấy chân không)

    Bao gồm nhiều giai đoạn: làm lạnh đông sữa đến xuất hiện những tinh thể đá , tiếp theo là tạo môi trường chân không và nâng dần nhiệt độ để nước từ trạng thái rắn chuyển trực tiếp sang trạng thái hơi. Sấy thăng hoa cho phép sữa bột giữ lại các chất dinh dưỡng và mùi vị của sữa với độ tổn thất thấp nhất. Tuy nhiên chi phí và thiết bị cho sấy thăng hoa rất đắt (tiêu thụ năng lượng lớn ) nên đến nay chưa được ứng dụng trong công nghệp sản xuất  sữa bột, chỉ ứng dụng trong nghành sản xuất sữa bột có chất lượng cao. Sấy thăng hoa cho sản phẩm có độ khô 96 – 97%, độ hoà tan đạt 98 – 99%.

       b. Sấy trục:(sấy màng)

    Sấy trục trước đây được sử dụng phổ biến trong sản xuất  sữa bột, số trục sấy có thể là một hoặc hai trục (thường được sử dụng nhất là hai trục). Nhược điểm của phương pháp này là làm thay đổi rõ rệt các thành phần của sữa: sữa có màu sắc không đẹp, độ hoà tan thấp, chất béo tự do chiếm một tỉ lệ khá cao nên dễ bị oxy hoá trong quá trình bảo quản.

    Sấy màng thì được SB có độ khô 85 – 90%, sấy màng đạt 85 – 88%.

       c. Phương pháp sấy phun:

    Sữa nguyên liệu  được đưa vào vòi phun trở thành những hạt nhỏ li ti trong buồng sấy đồng thời không khí nóng cũng được đưa vào. Khi không khí bị đun nóng, thể tích của nó tăng lên còn mức độ bảo hoà giảm, khả năng hấp thụ nước tăng lên, không khí nóng ở đây đóng vai trò nguồn năng lượng và chất hấp phụ nước. Thời gian tiếp xúc giữa sữa và không khí nóng rất ngắn nên nhiệt độ sữa tăng không quá cao. Do đó phương pháp sấy phun khắc phục được những nhược điểm của sấy trục là hạn chế được sự tổn thất các chất dinh dưỡng và các cấu tử hương trong sữa bột. Sự vô hoạt bất thuận nghịch các protein trong sữa trong quá trình sấy phun là không đáng kể nên sữa bột thành phẩm có độ hoà tan cao. Nhiệt độ không khí vào tháp sấy không quá 180 oC. . Sấy phun cho sản phẩm có độ khô 96 – 97%, sấy phun đạt 96 – 98%.

    Trong sản xuất công nghiệp, thường sử dụng hệ thống sấy phun hai giai đoạn hoặc hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải. Hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải là phổ biến nhất hiện nay. Khi đó quá trình sấy sữa sẽ gồm ba giai đoạn:

    Giai đoạn 1: 

    75% lượng không khí nóng với nhiệt độ 270 – 280 oC sẽ được đưa vào buồng sấy chính tại các vị trí xung quanh vòi phun sữa nguyên liệu, 25% lượng không khí nóng còn lại với nhiệt độ 100-150 oCsẽ đi qua lưới phân bố và toả đều xuống bên dưới từ trần buồng sấy. Các hạt sữa sẽ hình thành trong buồng sấy với độ ẩm dao động từ 6-14% và rơi xuống băng tải đặt bên dưới. Độ ẩm của không khí trong buồng sấy sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc và kích thước hạt sữa thành phẩm. Nếu độ ẩm quá thấp hạt sữa có kích  rất nhỏ và trở nên rời rạc do chúng không kết dính lại với nhau . Nếu độ ẩm quá cao hiện tượng kết dính xảy ra mạnh làm tăng kích thước của chúng. Kết quả sữa bột không đạt độ mịn đồng nhất về kích thước và cấu trúc của hạt.

    Giai đoạn 2: Băng tải vận chuyển sữa từ buồng sấy chính qua buồng sấy phụ, với vận tốc chuyển động của băng tải là 1m/ph. Khi đó dòng tác nhân sấy trên đường thoát ra khỏi thiết bị ở cửa đáy sẽ xuyen qua lớp sữa bột trên băng tải và tách thêm một lượng ẩm nữa trong các hạt sữa. độ ẩm sữa bột giảm xuống còn 3-10%.

    Giai đoạn 3: Tại buồng sấy phụ người ta đưa không khí nóng vào với nhiệt độ 110-140 oC. Dòng tác nhân sấy này sẽ xuyên qua lớp sữa bột trên băng tải rồi thoát ra ngoài dưới đáy buồng. Nhiệt độ khí thoát là 74-76 oC.

    Sau cùng băng tải sẽ đưa sữa bột vào buồng làm nguội. người ta sử dụng tác nhân làm nguội đã qua tách ẩm có nhiệt độ 15-20 oC. Dòng tác nhân làm nguội cung sẽ thổi xuyên qua lớp sữa bột trên băng tải rồi theo cửa thoát bên dưới để ra ngoài. Có 5% lượng sữa bột thoát ra theo các dòng khí thải được thu hồi nhờ hệ thống xyclon. Người ta cũng bố trí hệ thống thu hồi nhiệt từ khí thải để tiết kiệm năng lượng cho quá trình sấy.

    Trong công nghiệp sản xuất sấy phun hay sử dụng sấy phun là do sấy phun có nhiều ưu điểm hơn các quá trình sấy khác:

    – Thời gian tiếp xúc giữa các hạt lỏng và tác nhân sấy trong thiết bị rất ngắn nên sự tổn thất các hợp chất dinh dưỡng mẫn cảm với nhiệt độ là không đáng kể.

    – Sản phẩm sấy phun thu được là những hạt có hình dạng và kích thước tương đối đồng nhất.

    – Thiết bị sấy phun thường có năng suất cao và làm việc liên tục.

    ¬ Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sấy phun

    – Nồng độ chất khô của nguyên liệu: trong công nghiệp sản xuất sữa bột nồng độ chất khô vào buồng sấy khoảng 45÷52%. Nếu cao quá thì ảnh hưởng đến quá trình tạo sương mù trong buồng sấy.

    – Nhiệt độ tác nhân sấy: Nhiệt độ tác nhân sấy ảnh hưởng đến độ ẩm của sản phẩm sau khi sấy phun . Nếu độ ẩm tăng quá cao sẽ gây nên phân huỷ một số cấu tử trong nguyên liệu  và làm tăng mức tiêu hao năng lượng cho toàn bộ quá trình.

    – Kích thước, số lượng và quỹ đạo chuyển động của các hạt nguyên liệu  trong buồng sấy.

        2.2.6. Đóng gói và hoàn thiện sản phẩm :

    Sữa bột sau khi sấy phun sẽ được đưa qua hệ thống rây rồi vào thiết bị đóng gói. Thông thường người ta sử dụng bao bì bằng kim loại hoặc bao bì giấy để đựng sản phẩm.Yêu cầu chung về bao bì là phải hạn chế sự tiếp xúc của ánh sáng, không khí và độ ẩm từ môi trường xung quanh đến sữa bột. Người ta thường đóng gói trong điều kiện chân không hoặc thổi hỗn hợp 90% nitơ, 10% hydro vào hộp trước khi ghép nắp nhằm kéo dài thời gian bảo quản của sản phẩm.

    Sữa bột có khả năng hút ẩm rất cao do đó khi bảo quản trong bao bì kín, sữa bột sẽ hút nước đến độ ẩm cân bằng, tạo thành các cục vón làm giảm độ hoà tan của sữa. Bảo quản lau còn làm cho sữa bị biến màu, chuyển từ vàng nhạt sang ngả nâu, có mùi khét và giảm độ hoà tan rõ rệt.

    2.3. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SỮA BỘT GẦY

    Hình 2.2 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất  sữa bột gầy

    Sữa bột gầy đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung cân bằng sản phẩm protêin, được sử dụng nhiều trong sản xuất bánh kẹo, bánh mì, sữa pha lại, các sản phẩm sữa chua. Khi dùng phương pháp sấy trực tiếp thì chỉ nên cô đặc đến 28 – 32%, sấy phun 36 – 39%. Sữa bột gầy xốp và mịn hơn sữa bột nguyên chất nên sản phẩm không bị dính vào thành tháp sấy và các thiết bị tải. Độ hoà tan của sữa phụ thuộc vào nhiệt độ cô đặc, nhiệt độ cô đặc thích hợp nhất là 57- 60oC Nhiệt độ vào tháp sấy đối với sữa gầy không nên quá 200oC. Sau khi sấy xong phải giải phóng sữa bột ra khỏi tháp sấy ngay để tránh ảnh hưởng không cần thiết của nhiệt độ.

    Sơ đồ quy trình sản xuất  sữa bột gầy tương tự như quy trình sản xuất  sữa bột nguyên cream. Nhưng hàm lượng chất béo trong sữa gầy  rất thấp nên bỏ qua giai đoạn đồng hóa sữa sau giai đoạn cô đặc.

    2.4. QUY TRÌNH SẢN XUẤT SỮA BỘT TAN NHANH:

    Quy trình sản xuất  sữa bột tan nhanh tương tự như quy trình sản xuất  sữa bột nguyên cream hoặc sữa bột gầy. Để sản xuất sản phẩm này người ta hpải xử lý sao cho các hạt sữa bột to hơn, xốp hơn. Do đó điểm khác biệt của quá trình sấy phun là: Đầu tiên các hạt được sấy để phần lớn các nước trong mao quản và giữa các khe được thay bằng không khí. Các hạt sữa  thu được từ buồng sấy phun sẽ được làm ẩm trở lại để quá trình kết dính giữa chúng tạo nên những khối hạt mới diễn ra dễ dàng hơn. Các hạt  sữa  bột từ tháp sấy được làm ẩm trở lại bằng hơi, tiếp đến được sấy bằng không khí nóng và cuối cùng được làm nguội bằng không khí có nhiệt độ 10 – 12oC. Các khối hạt này sẽ được tách ẩm và làm nguội. Các hạt sữa bột thông thường có kích thước 30-80m. Riêng hạt sữa bột tan nhanh sẽ có kích thước 150-200m. Các chỉ tiêu khác như tỷ trọng có giảm đi đôi chút.

    2.5. QUÁ TRÌNH LECITHINE HOÁ TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SỮA BỘT.

    Một số sản phẩm sữa bột có hàm lượng chất béo khá cao nên khó hoà tan được trong nước. Đó là do một số hạt sữa được bao bọc xung quanh bởi một màng mỏng lipit tự do nên chúng trở nên kị nước. Hiện tượng này xảy ra cả đối với sản xuất  sữa bột tan nhanh và ảnh hưởng đến khả năng hoà tan của sản phẩm.

    Để khắc phục hiện tượng trên người ta sử dụng quá trình lecithine hoá. Bản chất của quá trình là tạo một màng mỏng lecithine bao quanh hạt sữa. Nhờ khả năng nhũ hoá của lecithine các hạt sữa với màng lipit bao bọc xung quanh sẽ trở nên hoà tan trong nước lạnh, hạn chế hiện tượng không tan hoặc đóng vón cục khi pha sữa. Lecithine được pha trong dầu bơ với nồng độ 30%. Hỗn hợp này được pha với tỷ lệ 0.2% so với khối lượng sữa bột . Người ta sẽ phun hỗn hợp lecithine trong dầu bơ lên  sữa bột  trong giai đoạn làm nguội sau quá trình sấy phun.

    2.6. SẢN PHẨM SỮA BỘT:

    Chất lượng sữa bột được đánh giá thông qua các nhóm chỉ tiêu dưới đây:

    – Chỉ tiêu cảm quan: màu sắc, mùi ,vị…

    – Chỉ tiêu vi sinh: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, số VSV gây bệnh như  Ecoli, Salmonella , Clostridium…

    – Chỉ tiêu hoá lý: độ ẩm, tỷ trọng, khả năng hoà tan, độ chua, kích thước hạt, hàm lượng các chất dinh dưỡng như hàm lượng chất béo, lactose, vitamin, protein, khoáng…

    Khả năng hoà tan của sữa bột được xác định qua các chỉ tiêu như chỉ số hoà tan, độ thấm ướt, độ phân tán …

    – Chỉ số hoà tan: Nguyên tắc chung của phương pháp chung xác định chỉ số hoà tan là cho 10g sữa bột gầy (hoặc 13g sữa bột nguyên cream) vào 100ml nước ở 20 oC, khuấy trộn trong một thời gian xác định, sau đó đem li tâm trên thiết bị chuẩn với số vòng quay và thời gian xác định. Sau quá trình ly tâm, ta tách bỏ một thể tích xác định phần lỏng, tiếp tục cho một lượng nước cất vào ống ly tâm, lắc đều  rồi đêm ly tâm lần hai.Thể tích cặn thu được chính là chỉ số hoà tan của sản phẩm sữa bột đã khảo sát. Vậy chỉ số hoà tan càng lớn thì độ hoà tan càng thấp.

    – Độ thấm ướt: là thời gian cần thiết tính bằng giây để làm ướt 10g sữa bột gầy hoặc13g sữa bột nguyên cream khi ta đổ sữa vào 100ml nước ở 20 oC

    – Độ phân tán: là tỷ lệ % sữa bột không tan bị giữ lại trên rây có kích thước lỗ 150m so với tổng khối lượng sữa bột đã dùng trong thí nghiệm. Thông thường người ta cho 10g sữa bột gầy  hoặc 13g sữa bột nguyên cream vào 100ml nước ở 20oC, khuấy đều trong 20 giây rồi cho hỗn hợp qua rây với kích thước lỗ như trên.

    Sữa bột được sản xuất  theo phương pháp sấy phun và sấy trục có các chỉ tiêu hoá lý tương tự nhau chỉ khác nhau chỉ số hoà tan của sản phẩm .

    Sữa bột sản xuất theo phương thức sấy phun phù hợp với pha chế thức uống hằng ngày ở mỗi gia đình vì khả năng hoà tan cao. Sữa bột sản xuất  theo phương pháp sấy trục phù hợp với công nghệ sản xuất  bánh nướng ở quy mô công nghiệp.

    Yêu cầu về các chỉ tiêu hoá lý cơ bản của sữa bột gầy theo Viện nghiên cứu sữa bột Hoa Kỳ

    Chỉ tiêu Sữa bột sản xuất  bằng phương pháp sấy phun Sữa bột sản xuất  bằng phương pháp sấy trục
    Độ ẩm

     

    Hàm lượng chất béo

    Độ chua

    Chỉ số hoà tan

    4.1%

     

    1.25%

    0.15%

    1.25ml

    4.0%

     

    1.25%

    0.15%

    15.00ml

     

     

    Chương 3:   THIẾT BỊ CHÍNH TRONG SẢN XUẤT SỮA BỘT

    3.1. THIẾT BỊ LY TÂM:

     Trong quá trình chế biến sữa người ta sử dụng quá trình ly tâm cho các mục đích sau:    – Tách chất béo ra khỏi sữa để hiệu chỉnh hàm lượng Lipit trong sản phẩm.

    – Tách các VSV đặc biệt là các bào tử vi khuẩn chịu nhiệt ra khỏi sữa

    – Tách các chất rắn ra khỏi sữa.

    Quá trình ly tâm có nguồn gốc từ quá trình lắng. Lắng là một phương pháp phân riêng dựa vào sự khác nhau về khối lượng riêng của các cấu tử trong hỗn hợp.

    Có nhiều yếu tố đến khả năng phân chia và thời gian ly tâm: Đường kính hạt phân tán; sự chênh lệch khối lượng riêng giữa pha liên tục và pha phân tán; độ nhớt của pha liên tục; bán kính quay; tốc độ vòng của thiết bị ly tâm… Đối với một hệ nhũ tương hoặc huyền phù xác định bán kính quay và tốc độ vòng của thiết bị ly tâm quyết định đến hiệu quả quá trình phân riêng.Thiết bị ly tâm gồm hai loại:

     

     

    3.1.1. Thiết bị ly tâm tách chất béo ra khỏi sữa:

    Sữa tươi đưa vào ly tâm sẽ thu được hai đòng sản phẩm: Cream (giàu chất béo) có khối lượng riêng nhỏ và sữa gầy (chứa ít chất béo) có khối lượng riêng lớn.

    Để tách chất béo ra khỏi sữa người ta sử dụng thiết bị ly tâm dạng đĩa:

    ­ Cấu tạo:

    Thiết bị gồm có thân máy, bên trong là thùng quay, được nối với một motor truyền động bên ngoài thông qua trục dẫn. Các đĩa quay có đường kính dao động từ 20 ÷102 cm và được xếp chồng lên nhau. Các lỗ trên đĩa ly tâm sẽ tạo nên những kênh dẫn theo phương thẳng đứng. Khoảng cách giữa hai đĩa ly tâm liên tiếp là  0.5 ÷ 1.3 mm.

     
       

              Đĩa quay

    Hình 3.1 Nguyên lý hoạt động của thiết bị ly tâm dạng đĩa sữa vào từ phía trên.

    1
    4
    2
    1
    3
    3
    2
    1.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     a) Đĩa ly tâm                                 b) Sơ đồ chuyển động của dòng
    • Đĩa ly tâm Cream và sữa gầy

    2-   Cửa ra cho cream                             1- Cream

    3- Lổ                                                         2- Sữa gầy

    4- Cửa vào cho nguyên liệu                  3- Đĩa ly tâm

    ­ Nguyên tắc hoạt động: Thiết bị làm việc liên tục

    Sữa nguyên liệu được  nạp vào máy ly tâm theo cửa ở trên thiết bị, tiếp theo sữa sẽ theo hệ thống kênh dẫn để chảy vào các khoảng không gian hẹp giữa các đĩa ly tâm. Dưới tác dụng của lực ly tâm, sữa được phân chia thành hai phần: phần cream có khối lượng riêng thấp sẽ chuyển động về phía trục của thùng quay; phần sữa gầy  có khối lượng riêng cao sẽ chuyển động về phía thành thùng quay. Sau cùng, cả hai dòng sản phẩm sẽ theo những kênh riêng để thoát ra ngoài.

    Trước khi đưa vào thiết bị tách béo, sữa tươi thường được gia nhiệt lên đến 55÷65oC

       3.1.2. Thiết bị ly tâm tách VSV ra khỏi sữa :

    Trong công nghiệp chế biến sữa hiện nay có hai dạng  thiết bị ly tâm tách VSV

    – Thiết bị có hai dòng thoát sản phẩm:

    Sữa nguyên liệu  được nạp vào theo ống dẫn bên dưới thiết bị.Thông qua hệ thống kênh dẫn được tạo thành từ các lỗ trên đĩa ly tâm, dòng sữa giàu VSV (chiếm 3% thể tích sữa nguyên liệu) sẽ chuyển động về phía bên ngoài thùng quay và theo cửa bên hông thùng thoát ra ngoài. Dòng sữa chứa ít VSV sẽ chuyển động về phía trục quay (do có khối lượng riêng nhỏ) rồi thoát ra khỏi thiết bị theo cửa trên đỉnh thùng…

     

     

               

                        

                       

    Sữa với hàm lượng

     

    Vi sinh vật thấp

    Sữa với hàm lượng vsc cao
    Sữa với hàm lượng VSV cao
     
    Nguyên liệu

     

     

    Hình 3.2. Thiết bị ly tâm tách vi sinh vật với hai dòng thoát sản phẩm

                – Thiết bị có một dòng thoát sản phẩm: Chỉ có một cửa thoát duy nhất trên đỉnh thiết bị cho dòng sữa đã tách VSV. Còn các tế bào sinh dưỡng, bào tử VSV dưới tác dụng của lực ly tâm sẽ bám trên thân thùng quay và được tháo bỏ định kỳ.

    Nhiệt độ tối ưu cho quá trình tách VSV ra khỏi sữa bằng phương pháp ly tâm là   55 ÷ 60 oC.

    3.2.Thiết bị thanh trùng:

    Quá trình thanh trùng sữa được sử dụng trên thiết bị trao đổi nhiệt dạng bảng mỏng

    Hình 3.3. Thiết bị trao đổi  nhiệt dạng bảng mỏng

    Thiết bị trao đổi nhiệt dạng bản mỏng: Bộ phận chính của thiết bị là những tấm bảng hình chữ nhật với độ dày rất mỏng và được làm bằng thép không rỉ. Mỗi tấm bảng sẽ có bốn lỗ tại bốn góc và hệ thống các đường rãnh trên khắp các bề mặt để tạo sự chảy rối và tăng diện tích truyền nhiệt. Khi ghép các bảng mỏng lại với nhau trên bộ khung của thiết bị sẽ hình thành trên những hệ thống ddường vào và ra cho sữa.

     
       

     

     

    3.3. THIẾT BỊ MEMBRANE

    Có rất nhiều loại membrane: dạng ống, dạng màng, dạng sợi

     
     
    Nguyên liệu vào

     

    retentate
    ống trụ độc lỗ trên thân làm giá đỡ
    thấm qua

    Hình 3.5 Thiết bị membrane mô hình ống

    3.4. THIẾT BỊ ĐỒNG HOÁ

       3.4.1.Cấu tạo:

               

     

     

     

     

     

               

    Hình 3.6 Hình dáng bên ngoài của thiết bị đồng hóa sữa áp lực cao.

    Cấu tạo bên trong của thiết bị như hình 3.4

     

                    Hình 3.7  Thiết bị đồng hóa sữa sử dụng áp lực cao.

     

     

    • motor chính 6- hộp piston
    • bộ truyền đai 7- bơm
    • đồng hồ đo áp suất    8- van
    • trục quay 9-bộ phận đồng hóa
    • piston 10- hệ thống tạo áp suất thủy lực

    Hình 3.8 Các bộ phận chính trong thiết bị đồng hóa sữa sử dụng áp lực cao

    Trong đó:

    • Bộ phận sinh lực thuộc hệ thống tạo đối áp
    • Vòng đập
    • Bộ phận tạo khe hẹp
    • Hệ thống thủy lực tạo đối áp
    • Khe hẹp

     3.4.2. Nguyên tắc hoạt động:

    Gồm hai bộ phận chính bơm cao áp và hệ thống tạo đối áp

    Bơm cao áp được vận hành bởi động cơ điện (1) thông qua một trục quay (4) và bộ truyền động (2) để chuyển đổi chuyển động quay của động cơ thành chuyển động tịnh tiến của piston. Các piston (5) chuyển động trong xilanh ở áp suất cao. Bên trong thiết bị còn có hệ thống dẫn nước vào nhằm mục đích làm mát cho piston trong suốt quá trình làm việc.

    Mẫu nguyên liệu sẽ được đưa vào thiết bị đồng hoá bởi một bơm piston. Bơm sẽ tăng áp lực cho hệ nhũ tương từ 3bar lên đến 100 ÷ 250 bar hoặc cao hơn tại đầu vào của khe hẹp (5). người ta sẽ tạo ra một đối áp lên hệ nhũ tương bằng cách hiệu chỉnh khoảng cách khe hẹp trong thiết bị giữa bộ phận sinh lực (1) và bộ phận tạo khe hẹp (3). Đối áp này được duy trì bởi một bơm thuỷ lực sử dụng dầu. Khi đó áp suất đồng hoá sẽ cân bằng với áp suất dầu tác động lên piston thuỷ lực.

    Vòng đập (2) được gắn với bộ phận tạo khe hẹp (3) sao cho mặt trong của vòng đập vuông góc với lối thoát ra của hệ nhũ tương khi rời khe hẹp. Như vậy, một số hạt của pha phân tán sẽ tiếp tục va vào vòng đập (2) bị vỡ ra và giảm kích thước. Quá trình đồng hoá chỉ xảy ra trong vòng 15 giây.

    Trong công nghiệp máy đồng hoá có thể thiết kế dưới dạng một cấp hoặc hai cấp.

    Thiết bị đồng hoá một cấp bao gồm một bơm piston để đưa nguyên liệu vào máy, một khe hẹp và một hệ thống thuỷ lực tạo đối áp. Trong công nghiệp chế biến sữa thiết bị này được sử dụng khi sản phẩm có hàm lượng chất béo thấp hoặc hệ nhũ tương sau đồng hoá có độ nhớt cao.

    Thiết bị đồng hoá hai cấp bao gồm một bơm piston để đưa nguyên liệu  vào máy, hai khe hẹp và hai hệ thống thuỷ lực. Thiết bị đồng hoá hai cấp sử dụng phổ biến trong công nghiệp chế biến sữa đặc biệt đối với nhóm sản phẩm có hàm lượng chất béo cao và các sản phẩm yêu cầu có độ nhớt thấp.

    3.5.THIẾT BỊ CÔ ĐẶC BẰNG NHIỆT

    Có hai nhóm thiết bị:

             – Thiết bị cô đặc bốc hơi tuần hoàn

    Thiết bị này dùng để bốc hơi một lượng nước nhỏ trong sữa. Sử dụng khi yêu cầu mức độ cô đặc không cao như sản xuất sữa chua

      – Thiết bị cô đặc bốc hơi dạng màng rơi

    Sữa được gia nhiệt rồi đi vào thiết bị 2 từ phía trên và sẽ chảy xuống tạo một lố màng mỏng bao bọc lấy bề mặt truyền nhiệt. Bề mặt truyền nhiệt là thân các ống hình trụ đứng được đặt trong thiết bị bốc hơi hoặc là những tấm bản mỏng được đặt sát lại với nhau. Để  tiết kiệm năng lượng, hơi gia nhiệt từ buồng 2 sẽ đi vào buồng 1 ngưng tụ dể gia nhiệt sơ bộn cho sữa. Sữa được đun sôi trong buồng 2 và sẽ được đi vào buồng 3 tách hơi thứ. Sữa cô đặc sẽ ra ngoài theo cửa đáy thiết bị 3.

    3
    2
    1
    Hơi thứ
    nước
    Tác nhân gia nhiệt (hơi)
    sản phẩm vào
    Sản phẩm

     

    cô đặc

    Hình 3.9 Hệ thống bốc hơi một cấp dạng màng rơi

    1-buồng gia nhiệt sơ bộ sữa nhờ hơi ngưng tụ

    2- buồng gia nhiệt sữa đến nhiệt độ sôi

    3-buồng tách hơi thứ và sữa cô đặc

    3.6. THIẾT BỊ SẤY PHUN

    Hệ thống sấy phun gồm các bộ phận chính là buồng sấy phun, cơ cấu phun caloriphe để cấp nhiệt cho tác nhân sấy, hệ thống quạt hút và hệ thống thu hồi sản phẩm.

      – Cơ cấu phun

           Cơ cấu phun có chức năng đưa nguyên liệu vào trong buồng sấy dưới dạng hạt mịn. Quá trình tạo sương mù sẽ quyết định kích thước các giọt lỏng và sự phân bố  của chúng trong buồng sấy, do đó sẽ ảnh hưởng đến giá trị bề mặt truyền nhiệt và tốc độ sấy Hiện nay có ba dạng cơ cấu phun sương: đầu phun áp lực, đầu phun ly tâm, dầu phun khí dộng

    Tác nhân sấy

    Không khí nóng là tác nhân sấy thông dụng nhất.

     – Hệ thống thu hồi sản phẩm

    Bột sản phẩm sau khi sấy phun được thu hồi tại cửa đáy buồng sấy. Để tách sản

    phẩm ra khỏi khí thoát hiện nay người ta sử dụng phương pháp lắng xoáy ly tâm, sử dụng cyclon. Khí thoát có chứa các hạt sản phẩm sẽ đi vào cyclontừ phần đỉnh theo phương pháp tiếp tuýên với thiết bị. Bột sản phẩm sẽ di chuyển theo quý x đạo hình xoắn ốc và rơi xuống đáy cyclon. Không khí sạch  thoát ra ngoài theo cửa trên đỉnh cyclon.

                -Quạt

    Trong hệ thống sấy phun người ta sử dụng quạt ly tâm nhằm vào các mục đích tăng lưu lượng những dòng tác nhân sấy; vận chuyển bằng khí động bột sản phẩm sau khi sấy vào thiết bị bảo quản…

       3.5.2 Hệ thống sấy phun hai giai đoạn:

    Sữa nguyên liệu

     

    Tác nhân sấy

    Sữa bột

    Hình 3.10 Hệ thống sấy phun hai giai đoạn

    1-Bộ phận gia nhiệt không khí cho buồng sấy phun; 2- buồng sấy phun; 3- buồng sấy tầng sôi; 4- bộ phận gia nhiệt không khí cho buồng sấy tầng sôi; 5-quạt cung cấp không khí làm nguội; 6-quạt cung cấp không khí có độ ẩm thấp để làm nguội; 7- rây bột sản phẩm.

    Hệ thống sấy phun hai giai đoạn được sử dụng rộng rãi do tiết kiệm được nhiều năng lượng. Độ ẩm bột sản phẩm từ buồn sấy phun được hiệu chỉnh cao hơn 2-5% so với giá trị độ ẩm cuối cùng. Phần ẩm còn lại sẽ được bốc hơi tiếp trong thiết bị sấy tầng sôi. Các thông số hoạt động tương đương với hệ thống sấy phun một giai đoạn

     3.5.3. Hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải

     sữa cô đặc

     

    sữa bột

    tác nhân sấy

    Hình 3.11 Hệ thống sấy phun có sử dụng băng tải

    1- Bơm nguyên liệu; 2- các cơ cấu phun; 3- buồng sấy phun; 4- bộ phận lọc khí; 5- bộ phận gia nhiệt/làm nguội không khí; 6- bộ phận phân phối tác nhân sấy; 7-băng tải; 8,9-buuòng sấy kết thúc; 10-buồng làm nguội sản phẩm; 11-bộ phận tháo sản phẩm; 12-cyclon thu hồi sản phấm; 12-quạt; 14-hệ thống thu hồi bột sản phẩm từ cyclon; 15-bộ phận xử lý sản phẩm; 16-bộ phận thu hồi sản phẩm.

    Nguyên tắc hoạt động:Bột sản phẩm thu được sau quá trình sấy phun sẽ được đưa xuống băng tải (7) vào hai buồng sấy 8 và 9 để nước tiếp tục bốc hơi và độ ẩm sản phẩm theo yêu cầu.Cuối cùng băng tải sẽ đưa vào buồng làm nguội 10 rồi qua 11 tháo sản phẩm ra ngoài. Thiết bị 15 làm phá vỡ các chùm hạt trong khối sản phẩm.

     3.5.4. thiết bị sấy tầng sôi sản xuất bột tan nhanh

    sản phẩm

     

    hơi

    không khí nóng

    không khí lạnh

    sản phẩm
    Không khí lạnh
    Không khí nóng
    Hơi
    sữa bột vào

    Hình 3.12 Thiết bị sấy tầng sôi sản xuất bột tan nhanh

     

    KẾT LUẬN

            Sau một thời gian tìm hiểu em đã hoàn thành xong đồ án của mình. Mặc dù đã tham khảo tài liệu nhưng kiến thức thực tế về công nghệ chế biến các sản phẩm từ sữa đặc biệt là sữa bột em chưa được tiếp cận  nên đồ án còn rất nhiều thiếu sót. Đặc biệt là việc chọn các thông số kỹ thuật như  nhiệt độ, áp suất, độ ẩm…còn thiếu sót hoặc chưa đúng với thực tế, bên cạnh đó nhiều tài liệu không có sự thống nhất về các thông số hoặc các khoảng giá trị đó rất rộng. Mong thầy đóng góp ý kiến để em rút kinh nghiêm cho đồ án lần sau.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Lê Văn Việt Mẫn(2004), Công nghệ sản xuất các sản phẩm từ sữa,NXB Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, HCM.
    2. Lâm Xuân Thanh (2004), Giáo trình công nghệ các sản phẩm sữa, NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật, Hà Nội.
    3. Lê Thị Liên Thanh – Lê Văn Hoàng (2005), Công nghệ chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật, Hà Nội.
    4. L ê Xuân Phương (2001), Vi Sinh Vật Công Nghiệp, NXB xây dựng, Hà Nội.
     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Tổng luận về công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam

    Luận văn Tổng luận về công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam

    Luận văn Tổng luận về công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi ôn Tập Trắc nghiệm về công nghệ thông tin


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-T%E1%BB%95ng-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-ch%E1%BA%A5t-th%E1%BA%A3i-r%E1%BA%AFn-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-v%C3%A0-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Tổng luận về công nghệ xử lý chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam

     

     

    LỜI GIỚI THIỆU

     

    Hiện nay, việc quản lý chất thải đô thị ở Việt Nam cũng như trong thế giới phát triển đang đặt ra thách thức lớn chưa từng có. Việc áp dụng các chính sách đặc thù cho mỗi quốc gia để quản lý chất thải là biện pháp hữu hiệu, cần thiết để đối phó với tình trạng này. Tuy nhiên, quản lý chất thải là vấn đề toàn cầu và là yếu tố quyết định để tạo ra các công nghệ xử lý phù hợp mang lại hiệu quả. Vì vậy, điều quan trọng là phải hướng tới xây dựng một hệ thống chất thải chung, bao gồm từ khâu xử lý ban đầu đến khâu sử dụng cuối cùng.

    Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia giới thiệu Tổng luận về Công nghệ Xử lý Chất thải rắn của một số nước và ở Việt Nam, hy vọng tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin cho việc lựa chọn phương pháp xử lý chất thải rắn phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương, góp phần bảo vệ bảo vệ môi trường phát triển kinh tế bền vững ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia

     

     

    NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

     

     

     

      Nội dung Chữ viết tắt
    1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH
    2 Chất thải rắn CTR
    3 Chất thải rắn đô thị CTRĐT
    4 Chất thải điện tử CTĐT
    5 Sản xuất nhiên liệu từ chất thải RDF
    6 Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD
    7 Các tổ chức phi chính phủ NGOs
    8 Ngân hàng Thế giới WB
    9 Hệ thống kết hợp điện và nhiệt CHP
    10 Cơ quan Bảo vệ môi trường Hồng Kông EPD
    11 Cơ quan Bảo vệ môi trường Thụy Điển EPA

     

     

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Trong tiến trình hội nhập, công tác bảo vệ môi trường là một điều kiện tiên quyết để Việt Nam nâng tầm, hội nhập với thế giới. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2001 – 2010 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, thông qua cũng đã khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.

    Trong trong thời gian gần đây, hệ thống chính sách, thể chế ở nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường, Bộ Chính trị (Khoá VIII) cũng đã ban hành Nghị quyết số 41 NQ/TƯ; Chỉ thị số 36 – CT/TƯ về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có những văn bản, chỉ thị về bảo vệ môi trường, nhất là ở các đô thị, khu công nghiệp. Nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường cũng được các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân ngày càng quan tâm; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế.

    Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến lúc báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh. Ở nhiều đô thị, khu dân cư, không khí bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch không bảo đảm. Tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, gia tăng dân số… đã gây áp lực lớn cho công tác bảo vệ môi trường, nhất là ở các đô thị. Chỉ thị số 23/2005/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ đã nhận định, công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém. Lượng chất thải rắn thu gom chỉ mới đạt khoảng 70% và chủ yếu tập trung ở nội thị; công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được chú trọng nghiên cứu và chưa hoàn thiện, còn phân tán, khép kín theo địa giới hành chính; việc đầu tư, quản lý còn kém hiệu quả…

    Nhiều địa phương đã nhập khẩu các dây chuyền xử lý rác thải của nước ngoài, tuy nhiên, hiện công nghệ này chỉ xử lý được rác hữu cơ, còn lại phải chôn lấp khoảng 70 – 80%, chưa kể giá nhập khẩu thiết bị rất cao, vốn đầu tư cho lắp đặt lớn… Cũng đã xuất hiện những dây chuyền công nghệ xử lý rác do các công ty tư nhân dầu tư, nghiên cứu, thử nghiệm ở một số địa phương trong nước… Nhưng cho đến nay, vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi cũng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan. Phần lớn các doanh nghiệp đều gặp khó khăn về huy động tài chính, song lại chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ ngân sách Nhà nước.

    Để tăng cường công tác quản lý Chất thải rắn, ngày 9-4-2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định s59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn. Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến chất thải rắn trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp Việt Nam có thể triển khai, áp dụng một cách hiệu quả các công nghệ xử lý chất thải rắn phục vụ phát triển bền vững ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    II. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ

     

    1. Khái niệm về chất thải

    Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế- xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn.

    Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác động của nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân trí.

     

    2. Phân loại chất thải

    2.1. Phân loại  theo nguồn phát sinh

    – Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên.

    – Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)

    – Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.

    – Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.

    2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại

    – Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

    – Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị….

    2.3. Phân loại theo thành phần

    – Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình.

    – Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật.

    2.4. Phân loại theo trạng thái chất thải

    – Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng ( kim loại, da, hoá chất sơn , nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng…)

    – Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp….

    – Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…

     

    3. Xử lý chất thải

    3.1. Khái niệm về xử lý chất thải

    3.1.1. Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế.

    3.1.2. Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải.

    3.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn

    –      Phương pháp cơ học bao gồm: Tách kim loại, thuỷ tinh; nhựa ra khỏi chất thải; sơ chế, đốt chất thải không có thu hồi nhiệt; lọc tạo rắn đối với các chất thải bán lỏng.

    –      Phương pháp cơ-lý: phân loại vật liệu; thuỷ phân; sử dụng chất thải như nhiên liệu; đúc ép các chất thải, sử dụng làm vật liệu xây dựng.

    –      Phương pháp sinh học: chế biến ủ sinh học; mêtan hoá trong các bể thu hồi sinh học.

    Các phương pháp xử lý chất thải có thể khái quát theo sơ đồ hình 1.

     
       

     

     

    Hình 1:  Các phương pháp xử lý chất thải rắn

    3.2.1. Phương pháp ủ sinh học làm phân compost

    Phương pháp này thích hợp với loại chất thải rắn hữu cơ trong chất thải sinh hoạt chứa nhiều cácbonhyđrat như đường, xenllulo, lignin, mỡ, protein, những chất này có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước. Quá trinh phân huỷ các chất hữu cơ dạng này thường xảy ra với sự có mặt của ôxy không khí (phân huỷ hiếu khí) hay không có không khí (phân huỷ yếm khí, lên men). Hai quá trình này xảy ra đồng thời ở một khu vực chứa chất thải và tuỳ theo mức độ thông khí mà dạng này hay dạng kia chiếm ưu thế. Phương pháp ủ sinh học làm phân compost được thể hiện ở hình 2.

     
       

     

     

    Nhặt thủ công

    Máy xúc

    Máy xúc

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 2: Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp

     

    3.2.2. Phương pháp thiêu đốt

    Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có thể làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng. Nếu áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ mang lại nhiều ý nghĩa đối với môi trường, song đây là phương pháp xử lý tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh, chi phí để đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần.

    Công nghệ đốt rác thường được sử dụng ở các nước phát triển vì phải có nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác thải sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội của toàn dân. Tuy nhiên, việc thu đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sẽ tạo ra khói độc đioxin, nếu không xử lý được loại khí này là rất nguy hiểm tới sức khoẻ.

    Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghiệp nhiệt và phát điện. Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém để khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra.

    Hiện nay, tại các nước châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàng loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết. Việc thu đốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại như rác thải bệnh viện hoặc rác thải công nghiệp vì các phương pháp xử lý khác không thể xử lý triệt để được. Phương pháp thiêu đốt được thể hiện ở hình 3.

    3.2.3. Phương pháp chôn lấp

    Phương pháp này chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển. Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách sử dụng xe chuyên dùng chở rác tới các bãi đã xây dựng trước. Sau khi rác được đổ xuống, dùng xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất. Hàng ngày phun thuốc diệt muỗi và rắc vôi bột…. Theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở lên tơi xốp và thể tích của các bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy thì chuyển sang bãi mới. Hiện nay, việc chôn lấp rác thải sinh hoạt và rác thải hữu cơ vẫn được sử dụng ở các nước đang phát triển, nhưng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Việc chôn lấp chất thải có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang phát triển. Các bãi chôn lấp rác thải phải được đặt cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước mặt và nước ngầm. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ một lớp chống thấm bằng màng địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác cần thiết phải thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải ra môi trường. Việc thu khí gas để biến đổi thành năng lượng là một trong những khả năng thu hồi một phần kinh phí đầu tư cho bãi rác.

    Phương pháp này có các ưu điểm như: công nghệ đơn giản; chi phí thấp, song nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất tương đối lớn; không được sự đồng tình của dân cư xung quanh; việc tìm kiếm xây dựng bãi chôn lấp mới là khó khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, gây cháy nổ.

    Hình 3: Hệ thống thiêu đốt chất thải

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3.2.4. Các phương pháp xử lý khác

    – Xử lý chất thải  bằng công nghệ ép kiện

    Rác thu gom tập trung về nhà máy chế biến được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải. Các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như : Kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa…. được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyển qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện có tỷ số nén cao (hình 4). Các khối rác ép này được sử dụng vào việc san lấp, làm bờ chắn các vùng đất trũng.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 4:  Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện

     

    – Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex

    Công nghệ Hydromex (hình 5) nhằm xử lý rác  đô thị thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và các sản phẩm nông nghiệp hữu ích.

    Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác, sau đó polyme hóa và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm. Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy, không cần phân loại được đưa vào máy cắt, nghiền nhỏ, sau đó đi qua băng tải chuyển đến các thiết bị trộn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 5:  Xử lý chất thải theo công nghệ Hydromex

    III. CHẤT THẢI RẮN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TÌNH HÌNH XỬ LÝ

     

    1. Tình hình chung trên thế giới

    Ước tính hàng năm lượng chất thải được thu gom trên thế giới từ 2,5 đến 4 tỷ tấn (ngoại trừ  các lĩnh vực xây dựng và tháo dỡ, khai thác mỏ và nông nghiệp). Năm 2004, tổng lượng chất thải đô thị được thu gom trên toàn thế giới ước tính là 1,2 tỷ tấn. Con số này thực tế chỉ gồm các nước OECD và các khu đô thị mới nổi và các nước đang phát triển.

    Thu gom chất thải rắn đô thị trên toàn thế giới năm 2004 (triệu tấn)
    Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD 620
    Cộng đồng các quốc gia độc lập (trừ các nước ở biển Ban tích) 65
    Châu Á (trừ các nước thuộc OECD) 300
    Trung Mỹ 30
    Nam Mỹ 86
    Bắc Phi & Trung Đông 50
    Châu Phi cận Sahara 53
    Tổng số: 1.204

    Nếu các số liệu trên đổi thành đơn vị tấn chất thải rắn được thu gom mỗi năm trên đầu người, thì tại các khu đô thị ở Hoa Kỳ có đến hơn 700 kg chất thải và gần 150 kg ở Ấn Độ. Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị cao đó là; Hoa Kỳ tiếp sau là Tây Âu và Ôxtrâylia (600-700 kg/người), sau đó đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Âu (300-400kg/người).

    Thị trường chất thải đô thị có giá trị cao nhất là Hoa Kỳ với 46,5 tỷ USD, sau đó là châu Âu với 36 tỷ USD và Nhật Bản là 30,5 tỷ. Chưa đánh giá được chính xác chất thải công nghiệp. Hiện nay chưa có dữ liệu về chất thải của Liên bang Nga và những con số ước tính lượng chất thải của Trung Quốc là chưa chính xác. Ngoài ra, chưa có định lượng rõ ràng về chất thải công nghiệp ở Hoa Kỳ. Chất thải nguy hại thậm chỉ còn khó đánh giá hơn, đặc biệt là do danh mục chất thải nguy hại vẫn đang được bổ sung, đặc biệt là ở châu Âu.

    Hiện nay, chất thải được tái chế bằng nhiều cách vừa biến thành năng lượng lẫn thu hồi nguyên liệu, và những thị trường thứ cấp đang xuất hiện ngày càng nhiều trên phạm vi toàn cầu. Trên thế giới, ước tính sơ bộ khối lượng nguyên liệu thứ cấp được trao đổi là 135 triệu tấn. Các nguyên liệu thứ cấp hiện là một trong những dòng nguyên liệu quan trọng nhất trên toàn thế giới.

    Loại hình thu gom và xử lý chất thải đô thị theo thu nhập mỗi nước
      Các nước thu nhập thấp (Ấn Độ, Ai Cập-các nước châu Phi) Các nước thu nhập trung bình (Ắchentina-Đài Loan (TQ) – Singapo-Thái Lan – EUNMS10) Các nước có thu nhập cao (Hoa Kỳ-15 nước EU-Hồng Kông)
    GDP (USD/người/năm) <5.000 5.000 – 15.000 >20.000
    Tiêu thụ giấy/bìa trung bình (kg/người/năm) 20 20-70 130-300
    Chất thải đô thị (kg/người/năm) 150-250 250-550 350-750
    Tỷ lệ thu gom % <70 70-95 >95
    Các quy định về chất thải Không có Chiến lược môi trường quốc gia

     

    Các quy định hầu như không có

    Không có số liệu thống kê

    Chiến lược môi trường quốc gia

     

    Cơ quan môi trường quốc gia

    Luật môi trường

    Một vài số liệu thống kê

    Chiến lược môi trường quốc gia

     

    Cơ quan môi trường quốc gia

    Các quy định chặt chẽ và cụ thể

    Nhiều số liệu thống kê

    Thành phần chất thải đô thị (%)

     

    ·      Chất thải thực phẩm/dễ phân hủy

    ·      Giấy và bìa

    ·      Nhựa

    ·      Kim loại

    ·      Thủy tinh

    50-80

     

    4-15

    5-12

    1-5

    1-5

    20-65

     

    15-40

    7-15

    1-5

    1-5

    20-40

     

    15-50

    10-15

    5-8

    5-8

    Độ ẩm (%) 50-80 40-60 20-30
    Nhiệt trị (kcal/kg) 800-1.100 1.100-1.300 1.500-2.700
    Phương pháp xử lý Điểm chứa chất thải bất hợp pháp >50%

     

    Tái chế không chính thức 5%-15%

    Bãi chôn lấp >90%

     

    Bắt đầu thu gom có chọn lọc

    Tái chế có tổ chức 5%

    Thu gom có chọn lọc

     

    Thiêu đốt

    Tái chế >20%

    Biến chất thải thành năng lượng: là nhiệm vụ của họat động triển khai sử dụng tài nguyên tái tạo, giảm các khí nhà kính và phát triển thị trường cácbon. Thiêu đốt chất thải có thu hồi năng lượng bao gồm xử lý chất thải để sản xuất năng lượng cung cấp cho các nhà máy và nhà ở. Năng lượng sản xuất ra nhiều hơn năng lượng được sử dụng để vận hành lò đốt.

    Hiện nay có hơn 600 lò đốt chất thải thu hồi năng lượng ở 35 nước. Các thiết bị này xử lý 170 triệu tấn chất thải đô thị. Đó là nguồn năng lượng tương đương với 220 triệu thùng dầu hay 600.000 thùng/ngày. Hoa Kỳ tiêu thụ 20 triệu thùng dầu/ngày. Năng lượng được sản xuất từ 400 lò đốt chất thải ở châu Âu cung cấp điện cho 27 triệu dân hay cung cấp nhiệt cho 13 triệu dân. Thị trường đốt chất thải ở châu Âu ước tính trị giá 9 tỷ USD. Một Chỉ thị của châu Âu đề ra mục tiêu đến năm 2010, tổng tiêu thụ năng lượng nội địa là 12% và sản xuất 22,1% điện năng bằng tài nguyên tái tạo. Các bãi chôn lấp hiện đại nhất cho phép sản xuất khí biogas thông qua việc lên men chất thải, có thể tái sử dụng dưới dạng điện năng. Ở Hoa Kỳ có 340 trong số 2975 bãi chôn lấp thu hồi khí biogas và xử lý chất thải có liên quan đến vấn đề giảm các khí nhà kính.

    Tiết kiệm tài nguyên:  Tiết kiệm tài nguyên là một trong những lợi ích chủ yếu của họat động thu hồi và tái chế chất thải. Lợi ích nữa của tái chế là giảm các ảnh hưởng liên quan đến việc sử dụng và chuyển đổi các nguyên liệu thô.

    Các số liệu về lượng chất thải vẫn chưa đầy đủ và một số nguyên liệu được tái sử dụng trực tiếp không được chuyển qua các thiết bị thu hồi làm cho khó đánh giá.

    Những nguyên liệu chính được thu hồi và xử lý để tái sử dụng, bao gồm:

    • Chất hữu cơ và gỗ
    • Giấy, bìa cứng
    • Nhựa
    • Thủy tinh
    • Kim loại có chứa sắt & không chứa sắt
    • Vải dệt
    • Ắc quy
    • Chất thải điện và điện tử (CTĐT) & dung môi.
    Thu hồi nguyên liệu từ chất thải đô thị ở châu Âu và Hoa Kỳ (nghìn tấn)
      Đức Pháp Anh Italia Tây Ban Nha 15 nước EU còn lại Toàn châu Âu Hoa Kỳ
    Giấy & Thẻ 8.500 5.200 3.700 2.000 3.500 9.800 32.700 40.000
    Nhựa 3.850 350 450 350 310 1.200 6.500 1.930
    Thủy tinh 3.300 2.000 1.500 1.000 510 1.690 10.000 2.350
    Kim loại không chứa sắt 1.204 1.750 75 278 121 797 3.975 1.750
    Tổng số 16.854 9.300 5.725 3.628 4.441 13.487 53.175 46.030
    Ắc qui 11.5 9.6         28  
     Sắt thải từ  xe cộ             11.000 17.000
    1. Ước tính: 30% giấy, 20% nhựa và 20% kim loại không chứa sắt được thu hồi ở 15 nước EU còn lại.

     

    2. Giấy và bìa cứng được thu hồi từ chất thải đô thị và công nghiệp

    Chất thải hữu cơ: Hiện nay ước tính 18 triệu tấn chất thải tươi ở châu Âu được thu gom và được dùng để sản xuất phân compost. Ngoài ra có 3,5 triệu tấn được xử lý trong thùng “phân huỷ”. Tỷ lệ thu hồi chất thải hữu cơ ở châu Âu ước tính là 42%.

    Chất thải là vải dệt ở Pháp và Đức chiếm chưa đến 5% chất thải đô thị. Khoảng 30-40% lượng chất thải này được tái sử dụng, 40-50% được tái chế và số còn lại được chuyển tới bãi chôn lấp. Các chất thải là quần áo cũ trên thế giới đã tăng 10 lần kể từ những năm 90. Theo ước tính, giá trị của lượng chất thải hiện nay là 1 tỷ USD. Họat động nhập khẩu vải dệt với giá rẻ chưa từng có từ châu Á đe dọa khu vực tái sử dụng không chính thức ở châu Phi và ngành công nghiệp tái chế ở châu Âu.

    Thị trường nguyên liệu thứ cấp từ chất thải: Năm 2004, thị trường nguyên liệu thứ cấp toàn cầu đạt 600 triệu tấn với giá trị trên 100 tỷ USD. Thu hồi nguyên liệu được xem như là biện pháp thích hợp nhất để đối phó với vấn đề quản lý lượng chất thải đang gia tăng. Tỷ lệ thu gom có chọn lọc chất thải đô thị và chất thải công nghiệp không nguy hại đang tăng lên ở tất cả các nước, cao hơn 45% so với chất thải đô thị ở một số nước châu Âu.

    Căn cứ vào các số liệu thống kê về số lượng giấy, nhựa và thủy tinh được thu hồi từ chất thải đô thị, ước tính lượng chất thải loại này ở châu Âu hiện nay là hơn 50 triệu tấn. Từ chất thải công nghiệp, tổng lượng chất thải là giấy, nhựa và thủy tinh ở châu Âu được thu hồi là gần 65 triệu tấn. Khoảng 28.000 tấn pin và ắc quy được thu gom và tái chế.

    Tái chế nhựa và giấy: Tỷ lệ tái chế nhựa ở các nước OECD vẫn thấp với tỷ lệ trung bình là 15%. Gần 22% nhựa thải được thu hồi để chuyển đổi thành năng lượng.

    Lượng chất thải tái chế liên tục tăng và hiện nay ở châu Âu chỉ hơn 3 triệu tấn trong số 22,5 triệu tấn được tái chế. Thị trường nhựa được thu hồi chiếm tỷ lệ thấp là 169 triệu tấn nhựa được sản xuất trên thế giới vào năm 2003.Tỷ lệ tái chế giấy dao động từ 10% ở Ai len đến 100% ở Áo. Tỷ lệ này ở Liên minh châu Âu tăng từ 41,5% năm 1991 lên 54% năm 2004. Năm 2004, châu Âu có 5,3 triệu tấn sợi xenlulô  được tái chế.

    Thị trường kim loại thứ cấp: Lần đầu tiên vào năm 2004, tổng sản lượng thép trên thế giới đạt 1 tỷ tấn. Sản lượng kim loại vụn đã tăng 450 triệu tấn. Tỷ lệ tái sử dụng kim loại này có thể ở mức cao từ 60-70%. Năm 2005, hầu hết các kim loại không chứa sắt đạt mức giá cao kỷ lục đã làm tăng nhu cầu đối với kim loại thứ cấp. Ví dụ, việc sản xuất nhôm thứ cấp từ nhôm thải chiếm 20% tổng sản lượng (7,6 triệu tấn).

    Quản lý các dòng chất thải điện và điện tử là ưu tiên đối với các chính trị gia ở các nước OECD. CTĐT chứa khối lượng lớn nguyên liệu có khả năng tái chế như kim loại, thủy tinh, kim loại quý và nhựa. 10 triệu máy tính chứa 135.000 triệu tấn nguyên liệu có thể thu hồi. Mối lo ngại lớn nhất là khối lượng loại chất thải này ngày càng tăng.

    1.1. Phát sinh chất thải rắn ở châu Á

    Châu Á có mức tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá nhanh trong vài thập kỷ qua. Vấn đề chất thải rắn là một trong những thách thức môi trường mà các nước trong khu vực phải đối mặt. Trừ Trung Quốc, tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị của các nước vào khoảng từ 0,5 kg đến 1,5 kg/người/ngày. Tại một số thành phố lớn của Trung Quốc, tỷ lệ này vào khoảng 1,12 đến 1,2 kg/người ngày. Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người. Chất hữu cơ là thành phần chính trong chất thải rắn đô thị trong khu vực và chủ yếu được chôn lấp do chi phí rẻ. Các thành phần khác, như giấy, thuỷ tinh, nhựa tổng hợp và kim loại hầu hết được khu vực không chính thức thu gom và tái chế.

    Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của châu Á  mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày (World Bank, 1999). Chất thải rắn thường được nhóm loại theo chất thải rắn đô thị và chất thải công nghiệp trên cơ sở nguồn phát sinh. Chất thải rắn và chất thải rắn đô thị được định nghĩa rất khác nhau giữa các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực. Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản quy định chất thải rắn đô thị bao gồm một phần chất thải công nghiệp. Trong khi đó, Hồng Kông coi chất thải công nghiệp thuộc chất thải rắn đô thị. Tỷ lệ chất thải gia đình trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước. Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002), 78% ở Hồng Kông (kể cả chất thải thương mại), 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (1999), các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35 % chất thải gia đình trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị.

    Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theo nguyên tắc này. Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA,1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có thu nhập khác nhau là: thu nhập cao: 0,37- 0,55, thu nhập trung bình: 0,37-0,60 và thu nhập thấp: 0,62-0,90 kg/người/ngày. Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính trên đầu người của các nước thuộc  OECD, Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh cao; nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh trung bình và Thuỵ Điển, Nhật Bản được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh thấp.

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích các trường hợp này. Thứ nhất là, không thống kê được đầy đủ tổng lượng thải phát sinh do các hoạt động của khu vực tái chế không chính thức và do phương thức tự tiêu huỷ chất thải ở các nước đang phát triển. Khu vực tái chế không chính thức ở các nước đang phát triển đã góp phần đáng kể giảm thiểu tổng lượng chất thải phát sinh và thu hồi tài nguyên thông qua các hoạt động tái chế. Thứ hai là, năng lực thu gom của các nước đang phát triển còn thấp. Ví dụ, năng lực thu gom chất thải rắn độ thị của Ấn Độ là 72,5%; Malaixia: 70%; Thái Lan: 70-80%; và Philipin: 70% ở đô thị và 40% ở nông thôn.

    Trường hợp của Nhật Bản là một ví dụ thành công về tăng trưởng kinh tế và duy trì tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị thấp so với nhiều nước có GDP cao. Năm 2000, Nhật Bản bắt đầu áp dụng khái niệm mới về xây dựng một “Xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý” hay còn gọi là 3R (Giảm thiểu, Tái sử dụng và Tái chế). Từ những năm 1980, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị của Nhật Bản đã ổn định ở mức khoảng 1,1 kg/người/ngày.

    1.2. Thành phần chất thải rắn đô thị

    Thành phần chất thải rắn đô thị có xu thế thay đổi do tốc độ tăng trưởng và đô thị hoá nhanh ở các nước Châu Á. Nói chung, chất hữu cơ vẫn là thành phần chính trong các dòng chất thải rắn đô thị trong khu vực. Tỷ lệ thành phần hữu cơ chiếm khoảng 34 – 70% cao hơn hẳn hầu hết các nước châu Âu là 20-50% (OECD, 2002).

    Do mức sống của nhiều nước trong khu vực được cải thiện, nên thành phần giấy và nhựa tổng hợp trong chất thải ngày càng tăng. Thành phần giấy trong chất thải của Đài Loan (TQ) và Nhật Bản chiếm 30% tổng lượng chất thải rắn đô thị. Theo Ngân hàng Thế giới (1999), các nước có thu nhập cao khác cũng có tỷ lệ giấy trong chất thải cao. Một số nước như Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ do sử dụng than làm nhiên liệu chủ yếu để đốt và sưởi, vì vậy thành phần xỉ/tro rất lớn trong các dòng chất thải của hai nước này.

    Tại châu Âu, thành phần chất thải rắn đô thị cũng rất khác nhau giữa các nước theo vùng địa lý. Các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Italia và Bồ Đào Nha có tỷ lệ chất thải thức ăn, chất thải vườn cao hơn các nước Bắc Âu như Phần Lan, Đan Mạch, Pháp, Anh, trong khi tỷ lệ thành phần giấy trong các dòng chất thải đô thị của các nước Bắc Âu lại nhiều hơn các nước Nam Âu. Ireland và Thụy Sỹ có tỷ lệ thành phần nhự tổng hợp cao, Pháp và Đức có tỷ lệ thành phần thuỷ tinh cao và Đan Mạch có tỷ lệ thành phần kim loại cao trong dòng chât thải rắn đô thị.

    1.3. Tiêu huỷ chất thải

    Đối với các nước châu Á, chôn lấp chất thải rắn vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu huỷ  vì chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90%. Tỷ lệ thiêu đốt chất thải của Nhật Bản và Đài Loan (TQ) vào loại cao nhất, khoảng 60-80%. Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất, khoảng trên 40%.

    Các bãi chôn lấp chất thải được chia thành 3 loại: bãi đổ lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Chất lượng của các bãi chôn lấp chất thải  liên quan mật thiết với GDP. Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó các bãi đổ hở phổ biến ở các nước đang phát triển. Tuy vậy, các nước đang phát triển đã có nỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp, như Thổ Nhĩ Kỳ đã cấm các bãi đổ hở năm 1991 và ấn Độ đã hạn chế chôn lấp các loại chất thải khó phân huỷ sinh học, chất thải trơ và các loại chất thải có thể tái chế.

    Thiêu đốt là phương pháp tiêu huỷ tốn kém về xây dựng và vận hành. Trong 10 năm qua, lượng chất thải tiêu huỷ bằng phương pháp thiêu đốt chiếm tới 73-78%. Từ cuối những năm 90, Hàn Quốc và Đài Loan đã áp dụng phương pháp thiêu đốt nhiều hơn để xử lý chất thải rắn. Do tốn kém, phương pháp thiêu đốt chất thải nói chung không được chấp nhận ở nhiều nước, thậm chí trường hợp của Philipin cấm thiêu đốt chất thải rắn đô thị, chất thải y tế và chất thải nguy hại, theo quy định của Đạo luật Không khí sạch năm 1999, RA8749.

    Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phương pháp tiêu huỷ chủ yếu. Ấn Độ và Philipin ủ phân compost tới 10% lượng chất thải phát sinh. Tại hầu hết các nước, tái chế chất thải đang ngày càng được coi trọng.

    2. Tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước

    2.1. Singapo

    Là một nước nhỏ, Singapo không có nhiều diện tích đất để chôn lấp chất thải rắn như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằng phương pháp đốt và chôn lấp. Cả nước Singapo có 3 nhà máy đốt rác. Những thành phần chất thải rắn không cháy được chôn lấp ở bãi rác ngoài biển. Bãi chôn lấp rác Semakau được xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapo. Rác thải từ các nguồn khác nhau sau khi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại rác. Ở đây rác được phân loại ra những thành phần cháy được và thành phần không cháy được. Những chất cháy được được chuyển tới các nhà máy đốt rác còn những chất không cháy được được chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan để chở ra khu chôn lấp rác. Ở đây rác thải lại một lần nữa chuyển lên xe tải để đưa đi chôn lấp.

    Các công đoạn trong hệ thống quản lý rác của Singapo hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển đến tận khâu xử lý bằng đốt hay chôn lấp. Xử lý khí thải từ các lò đốt rác được thực hiện theo qui trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí. Xây dựng bãi chôn lấp rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và mở rộng thêm đất khi đóng bãi. Tuy nhiên việc xây dựng những bãi chôn lấp rác như vậy đòi hỏi sự đầu tư ban đầu rất lớn. Mặt khác, việc vận hành bãi rác phải tuân theo những qui trình nghiêm ngặt để đảm bảo sự an toàn của công trình và bảo vệ môi trường.

    2.2. Thái Lan

    Mặc dù công tác xử lý chất thải rắn được đánh giá cao là có hiệu quả và an toàn, song theo bản báo cáo về môi trường ở Thái Lan của năm 2003 thì Thái Lan vẫn còn rất nhiều vấn đề về chất thải cần phải giải quyết. Bằng những nỗ lực của mình, Thái Lan đã xây dựng được một cơ sở có thể xử lý khối lượng lớn chất thải đồng thời thành công trong việc kiểm soát nạn vứt rác bừa bãi tại Băng Cốc. Tuy nhiên, vần còn tình trạng các loại chất thải bệnh viện và chất thải công nghiệp được đem đi chôn lấp tại những bãi rác đã cũ và xử lý kém.

    Theo Ngân hàng thế giới (WB), thì Thái Lan cần phải triển khai một chương trình nhằm cải thiện việc xử lý chất thải tại các bệnh viện cũng như các trung tâm lớn của thành phố. Được biết, hiện tại ở Thái Lan hàng năm có tới khoảng 10.000 chất thải lây nhiễm bệnh được thải ra. Trong đó chỉ khoảng một nửa được xử lý cẩn thận trước khi đem chôn. Tỷ lệ tái sản xuất và sử dụng lại các loại chất thải tại Thái Lan hiện giờ đang có chiều hướng giảm (chỉ khoảng 11% số rác thải có khả năng tái sử dụng được tái sản xuất). Như vậy là còn tới 4,5 triệu tấn rác thải có khả năng tái chế (trị giá khoảng 1,6 tỷ Baht) bị vứt bỏ. Những loại rác thải có khả năng tái chế  bao gồm: nhựa, thuỷ tinh, giấy và kim loại.

    Hàng năm tại Thái Lan có tới 22 triệu tấn chất thải phát sinh. Dự báo con số này có thể sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới. Nếu không có biện pháp cấp bách, tỷ lệ tái chế vẫn còn thấp như hiện nay thì có lẽ đến cuối thập kỷ này, số lượng chất thải đô thị sẽ tăng 25%, còn chất thải độc hại của ngành công nghiệp sẽ tăng 35%. WB đã khuyến nghị Thái Lan cần phải đẩy mạnh chương trình tái chế. Đối với người dân, họ cần được khuyến khích phân loại và tái sử dụng những vật dụng trong gia đình mình. Đồng thời cần ưu tiên phát triển những ngành tư nhân và những chương trình tái chế chất thải công nghiệp.

    Ở Thái Lan, việc phân loại rác được thực hiện ngay từ nguồn. Người ta chia ra 3 loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại. Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sơn khác nhau.

    Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái chế. Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh. Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp. Chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt.

    Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ. Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết. Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường. Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất 30 km.

    2.3.  Malaixia

    Năm 1998, theo báo cáo, mỗi người dân Malaixia đã tạo ra 0,75 kg chất thải rắn đô thị (CTRĐT)/ngày, năm 2004 tăng tới1,2 kg. Khoảng 76% CTRĐT phát sinh ở nước này đã được thu gom, song chỉ có 1,2% được tái chế, số còn lại được chuyển đến 144 bãi chôn lấp. Dù gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các địa điểm làm bãi chôn lấp chất thải, song phương pháp này vẫn là phương pháp xử lý có chi phí thấp hơn cả, chỉ 9,2 USD/tấn, trong khi đó thiêu đốt và ủ phân là 131,6USD/tấn và 56,8 USD/tấn.

    Mức độ phát sinh chất thải tính bình quân đầu người giữa các địa phương, dao động từ 0,25kg/người/ngày đến 2 kg/người/ngày. Các địa phương nằm trong khu vực miền Đông chậm phát triển là Sabath và Sarawak có mức phát sinh chất thải bình quân đầu người là 0,7 và 0,97 kg/người/ngày, còn ở các bang miền Đông Kelantan, Terengganu và Pahang là 0,71. Các bang miền Nam Johor và Melaka là 1,12 kg/người/ngày. Ở các bang miền trung Selangor và Negeri Sembilan, lượng chất thải phát sinh là 1,07kg/người/ngày, trong khi đó ở thủ đô Kuala Lumpur là 2 kg/người/ngày. Tốc độ đô thị hoá cao có xu hướng tạo ra nhiều CTRĐT hơn, có thể dẫn tới những thay đổi trong tiêu thụ và thu nhập.

    Tốc độ phát sinh

    Tốc độ phát sinh chất thải rắn hàng ngày dao động từ 45 tấn đến 3000 tấn. Kuala Lumpur đã phát sinh lượng chất thải cao nhất nước, xấp xỉ 3000 tấn/ngày. Khối lượng chất thải phát sinh phụ thuộc vào nguồn phát sinh và các hoạt động chính diễn ra trong khu vực. Lượng chất thải sinh hoạt lớn nhất ở Johor Bharu chiếm 31%, ở Kuala Terengganu là 80%. Thành phần chất thải rắn của các ngành công nghiệp ở các địa phương khác nhau rõ rệt.

    Ở một số khu vực như Kuatan, tỷ lệ chất thải công nghiệp cao hơn chất thải sinh hoạt. Với tốc độ phát sinh chất thải công nghiệp là 3%/năm, thì cần phải nhanh chóng có biện pháp khắc phục lâu dài để tránh suy thoái môi trường.

    Thành phần chất thải 

    Theo kết quả quan trắc, đặc điểm và thành phần chất thải ở Malaixia thay đổi theo mức độ ảnh hưởng và tốc độ đô thị hoá của khu vực. Gần 38% tổng số chất thải thu gom mỗi ngày được tái chế. Thành phần chất thải thường là 14% giấy, 16% chất dẻo, 3% kim loại và 5% thuỷ tinh, chỉ có gần 47% chứa nguyên liệu dễ bị phân huỷ có thể dùng để ủ phân.

    Chất thải thu gom được tại các bãi chôn lấp của  Malaixia gồm nhiều loại phế thải khác nhau, hầu như không thể tách được các nguyên liệu tái chế. Dữ liệu thu được cho thấy, nhiều khả năng tái chế và ủ phân có thể được kết hợp vào các chương trình quản lý chất thải.Vì vậy, nhờ áp dụng hệ thống quản lý chất thải tổng hợp, việc quản lý chất thải có hiệu quả và năng suất cao có thể làm tăng tuổi thọ bãi chôn lấp và thu hồi nguyên liệu đạt kết quả  trong các quy trình thu hồi. Bằng biện pháp quản lý này có thể xử lý tới 87% tổng số CTRĐT phát sinh hay 14800 tấn/ngày. Ở Malaixia, thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất trong hầu hết các bãi chôn lấp là chất thải hữu cơ có tỷ lệ trung bình là 46,7%, thấp hơn là chất dẻo 14% và giấy 15%.

    Thành phần chất thải và phát sinh chất thải dường như phụ thuộc vào mức thu nhập của người dân. Người dân có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải hơn so với các nhóm người có thu nhập thấp và trung bình. Ở nhóm người có thu nhập cao, tỷ lệ phát sinh trung bình chất thải trong một ngày là 1,7 kg/ người. Ở nhóm người có thu nhập trung bình là 0,71 kg/người/ngày. Ở nhóm người có thu nhập thấp là 0,80 kg/người/ngày. Tỷ lệ chất thải từ thực phẩm dao động từ 34% đối với nhóm có thu nhập trung bình lên tới 44% của nhóm thu nhập cao. Chất thải từ thực phẩm là một trong những thành phần chính góp phần làm cho dòng thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao ở Malaixia. Cùng với chất thải thực phẩm, các nhóm này còn tạo ra khối lượng lớn chất thải từ giấy và chất thải nhựa.

    Thu hồi   

    Mỗi ngày, lợi nhuận thu hồi các chất có thể tái chế trong CTRĐT mỗi tấn trị giá 13 USD. Trong tổng này gồm chất dẻo 3,90 USD, giấy là 1,30 USD, kim loại là 7,50 USD và thuỷ tinh là 0,36 USD, tạo ra 223.700 USD mỗi ngày từ tổng lượng CTRĐT của Malaixia là 17.000 tấn.

    Do thành phần chất thải dễ bị thối rữa trong CTRĐT của Malaixia tăng từ 38%-58%, trung bình là 46,7%, do vậy việc áp dụng hệ thống ủ phân sẽ là phương pháp hiệu quả để giảm khối lượng chất thải ở các bãi chôn lấp. Phương pháp này có thể thực hiện được nhờ các chất phụ gia khác nhau thúc đẩy quá trình ủ phân và  tạo ra tỷ lệ tiêu chuẩn giữa cacbon và nitơ (C/N) trong phân compost.Với khả năng tái chế là 50%, sản xuất phân compost bằng cách ủ phân sẽ đạt 5600 tấn/ngày, khoảng 2 triệu tấn/năm. Khối lượng phân compost gần 4000 tấn/ngày có thể được bán với giá 0,50 USD/kg, như vậy sẽ thu được khoảng 2 triệu USD. Với chi phí ủ phân là 86 USD/tấn, mỗi năm lợi nhuận thực thu được bằng phương pháp này là gần 511 triệu USD.

    Kế hoạch tương lai

    Tái chế là chiến lược quan trọng để duy trì không gian của các bãi chôn lấp và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chỉ được số ít người tham gia thực hiện. Tuy nhiên, để nâng cao nhận thức của người dân quan tâm tới các vấn đề môi trường, đòi hỏi phải có một hệ thống thu gom thuận lợi, dễ dàng lồng ghép vào cơ sở hạ tầng hiện có.

    Ngày nay, nhờ sự hợp tác giữa các chính phủ , Công ty trách nhiệm hữu hạn Alam Flora – công ty quản lý chất thải của tư nhân – Các tổ chức phi chính phủ (NGOs)và công chúng, tỷ lệ tái chế đã đạt được ít nhất là 3% và có thể lên tới 5%. Bên cạnh việc ủ phân hay thu hồi, phương pháp khác sẽ là xử lý nhiệt để thu hồi năng lượng thông qua  sản xuất nhiên liệu từ chất thải (RDF). Quy trình này sử dụng một phần chất thải rắn dễ cháy làm các viên nhỏ đốt cháy tự do, như vậy có thể làm giảm khoảng 30% khối lượng CTRĐT.

    Áp dụng công nghệ RDF sẽ tiết kiệm 40 000 USD/ngày và tạo ra khoản thu là 67 100 USD  Tuy nhiên, giảm thiểu chất thải cần phải trở thành mục tiêu của kế hoạch tương lai hơn là chỉ xử lý chất thải.

    2.4. Trung Quốc

    Mức phát sinh trung bình lượng chất thải rắn ở Trung Quốc là 0,4kg/người/ngày, ở các thành phố mức phát sinh cao hơn là 0,9kg/người/ngày, so với Nhật Bản tương ứng là 1,1 kg/người/ngày và 2,1kg/người/ngày. Tuy nhiên, do mức sống tăng, mức phát sinh  chất thải  rắn trung bình vào năm 2030 sẽ vượt 1 kg/người/ngày. Sự tăng tỷ lệ này do dân số đô thị tăng nhanh, dự báo sẽ tăng gần gấp đôi, từ 456 triệu năm 2000 lên 883 triệu vào năm 2030. Điều này  làm cho tốc độ phát sinh chất thải rắn Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng

    Chất thải rắn đô thị của Trung Quốc chứa một lượng lớn tro thải ( gần 25 triệu tấn /năm hoặc chiếm 13%) lượng chất thải hữu cơ chiếm 40 -65%. Chất thải là giấy, nhựa và giấy phủ nhựa tăng nhanh. Các nước phát triển, như Hoa Kỳ  hoặc EU có lượng chất thải giấy trong chất thải rắn đô thị cao gấp 10 lần so với Trung Quốc. Ước tính khoảng 20% chất thải rắn đô thị phát sinh ở Trung Quốc được thu gom và xử lý phù hợp, mặc dù hàng năm chính phủ đầu tư khoảng 30 tỷ nhân dân tệ (3,7 tỷ USD) cho quản lý chất thải rắn. Số chất thải không thu gom được đổ vào các sông, đốt thành đống, đổ thành đống hoặc xử lý không theo quy định. Tuy nhiên, trong 10 năm qua Trung Quốc đã có những cải thiện đáng kể trong lĩnh vực quản lý chất thải. Hầu hết các thành phố lớn đều chuyển sang chôn lấp hợp vệ sinh và sử dụng nhiều hơn các công nghệ thiêu đốt. Vào những năm 90 WB thông báo các bãi chôn lấp thiếu quản lý là vấn đề nan giải gay gắt nhất của Trung Quốc, do thiếu kiểm soát việc thoát khí mêtan và các khí nhà kính khác, các hoá chất gây ung thư, nước rác độc hại thấm vào nguồn nước ngầm và những mối nguy hiểm về sức khoẻ và môi trường khác

    Việc phân loại và tái chế chất thải rắn ở Trung Quốc được tiến hành bằng lao động thủ công. Một Báo cáo môi trường chính thức của Trung Quốc cho biết khoảng 1,3 triệu người làm  nghề thu gom chất thải, bao gồm những người quét dọn đường phố do chính quyền địa phương trả lương Khoảng 2,5 triệu người sống bằng nghề bới rác, phần lớn là những người nghèo. ở Trung Quốc chưa có hệ thống chính thống để phân loại và tách chất thải.

    Ủ phân compost là một phương pháp khả thi ở Trung Quốc, vì trên 50% lượng chất thải có chứa các chất hữu cơ có thể phân huỷ sinh học. Tuy nhiên, những nỗ lực sản xuất compost bị hạn chế bởi việc tách thuỷ tinh, nhựa và các hoá chất khác không phù hợp trong nguyên liệu làm compost.

    Chôn lấp chất thải là phương pháp xử lý phổ biến nhất ở Trung Quốc. Hiện nay, 660 thành phố có khoảng 1000 bãi chôn lấp lớn, chiếm hơn 50 000 ha đất và ước tính trong 30 năm tới Trung Quốc sẽ cần tới 100 000 ha đất để xây dựng các bãi chôn lấp mới. Trong thập kỷ qua, Trung Quốc mới bắt đầu xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh và phần lớn chất thải rắn vẫn đang gây ra các vấn đề nan giải về môi trường. Nhìn chung, chất lượng các bãi chôn lấp của Trung Quốc không cao theo các tiêu chuẩn của phương Tây. Trên các bãi chôn lấp có cả người , động vật hoạt động, đặc biệt các bãi chôn lấp không có hệ thống xử lý nước rác, kiểm soát khí thải, không được phủ đất.

    Thiêu đốt chất thải rắn đô thị ở Trung Quốc bắt đầu vào cuối những năm 80 và phát triển nhanh chóng vào những năm 90. Số liệu chính xác nhất về trạm thiêu đốt chất thải thu hồi năng lượng năm 2003 trên thực tế là 19, với tổng công suất là 7000 tấn/ngày. Con số này là rất nhỏ đối với một đất nước rộng lớn, trong khi Đài Loan (TQ) là 21 trạm, phục vụ số dân là 22 triệu người, Hoa Kỳ là trên 50 trạm.

    2.5. Hồng Kông

    Hồng Kông là thành phố đông đúc và náo nhiệt với số dân khoảng 6,9 triệu người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới, mỗi ngày thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải.

    Cơ quan bảo vệ môi trường Hồng Kông (EPD) đã phân các chất thải thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại chất thải đòi hỏi phải có phương pháp xử lý riêng.

    CTRĐT bao gồm chất thải rắn từ các nguồn sinh hoạt, thương mại và công nghiệp. MSW được xử lý bằng các biện pháp chôn lấp. Loại chất thải khác, đó là chất thải xây dựng (từ hoạt động xây dựng, nâng cấp và phá huỷ các công trình), chất thải hoá học và các loại chất thải đặc biệt chôn lấp chất thải y tế, chất thải từ vật nuôi, chất phóng xạ, đồ dùng chứa dầu và bùn thải.

    Thách thức đối với Hồng Kông là việc quản lý các loại chất thải đang gia tăng (kể từ năm 1986 tăng 3% mỗi năm) và việc tìm kiếm các bãi đổ chất thải thay thế bãi chôn lấp hiện nay đã quá tải.Với sự gia tăng về dân số và kinh tế phát triển, năm 1990, lượng chất thải sinh hoạt tính theo đầu người tăng từ 0,95 lên 1,11 kg/người/ngày trong năm 2002. Với tình trạng này, Hồng Kông sẽ hết nơi chôn lấp chất thải sớm hơn dự tính.

    Ở Hồng Kông, EPD quản lý các phương tiện thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy các loại chất thải. Mô hình quản lý chất thải này dựa trên điều kiện môi trường đô thị đặc trưng với khoảng không gian chật hẹp và mật độ dân số cao. EPD giám sát việc xây dựng Trung tâm xử lý chất thải hoá học, 3 bãi chôn lấp chiến lược và mạng lưới các trạm trung chuyển chất thải.

    Hồng Kông cũng đang từng bước loại bỏ các bãi chôn lấp cũ, không hợp lý về mặt môi trường, cải tạo chúng thành những nơi an toàn, mở rộng làm khu vui chơi, giải trí như sân vận động và sân gôn. Các trạm trung chuyển chất thải là những điểm tập trung thu gom để vận chuyển chất thải đến các bãi chôn lấp. Chất thải từ những xe thu gom nhỏ được nén chặt và chuyển sang các công-ten-nơ, sau đó đưa ra bãi chôn lấp ở địa phương bằng các loại xe tải hoặc đưa ra biển bằng các xuồng lớn. Hiện nay, ở Hồng Kông có 8 trạm trung chuyển chất thải.

    Trạm trung chuyển đầu tiên của Hồng Kông, nằm ở thị trấn Kennedy gọi là Trạm trung chuyển phía Tây đảo. Được xây dựng ở sườn núi, hàng năm trạm xử lý khoảng 7 triệu tấn chất thải đô thị, trung bình là 130 xe tải  trong một ngày.

    Khi mỗi xe vận chuyển chất thải đến đều được xác định trọng lượng, sau đó được đưa vào các bãi rộng chứa rác ở một trong 12 vịnh và đưa vào máy ép. Tại đó, chất thải được xử lý: Vật liệu rắn được nén và đẩy vào trong công-ten-nơ cao 7m, sau đó được đóng kín. Mỗi công-ten-nơ có thể chứa 15 tấn chất thải đã được nén chặt hoặc đưa vào 5 đến 6 xe tải trung bình.

    Chất thải dạng lỏng được xử lý sinh học nhờ quá trình sục khí được lặp đi lặp lại và được tái sử dụng. Xe vận chuyển chất thải lỏng phải đưa đi rửa nhiều lần trước khi cân lại và rời khỏi  trạm trung chuyển. Thậm chí nước rửa cũng được thu gom, xử lý và tái sử dụng. Sau đó các công-ten-nơ chứa đầy chất thải chuyển đến bãi chôn lấp ở khu vực mới phía Tây bằng đường biển.

    Tất cả các công nghệ xử lý được đặt trong hang đá gồm: Thiết bị xử lý nước thải, các hệ thống thông gió được trang bị thiết bị hút mùi, hàng rào chống ồn, máy quét đường và máy hút bụi công-ten-nơ. Các trạm xử lý được tạo cảnh quan hài hòa với môi trường xung quanh. Như vậy, sẽ không có tiếng ồn, mùi, bụi và nhiệt độ nóng đối với những thiết bị. Trạm trung chuyển có thể xử lý một nửa lượng chất thải hàng ngày ở Hồng Kông.

    Trạm trung chuyển chất thải ở phía Đông đảo được đặt tại Sun Yip, thuộc Chai Wan. Tất cả các quá trình xử lý của trạm giống như trạm ở phía Tây, những trạm nằm trong khu vực các toà, giữa các cao ốc văn phòng được rào chắn xung quanh.

    Nước thải và chất thải từ 8 trạm trung chuyển chất thải đều được kiểm soát. Tất cả các dòng thải đáp ứng tiêu chuẩn thải theo Biên bản kỹ thuật dự thảo về quy định kiểm soát ô nhiễm nước. Lượng chất thải được xác định và các mẫu được gửi đi phân tích ở phòng thí nghiệm.

    Những thuận lợi trong việc sử dụng các trạm trung chuyển thay cho việc vận chuyển trực tiếp chất thải đến bãi chôn lấp, bao gồm:

    – Rút ngắn thời gian, khoảng cách cho những người thu gom chất thải, khi các trạm trung chuyển được đặt tại các khu vực đô thị;

    – Tạo cho người thu gom chất thải tư nhân có nhiều lựa chọn trong việc loại bỏ chất thải;

    – Môi trường ở các trạm trung chuyển sạch, có lợi cho những người thu gom chất thải, giảm chi phí bảo dưỡng các loại phương tiện;

    – Giảm khoảng cách kéo xe đẩy, do đó giảm phát thải các chất gây ô nhiễm trong không khí và ít gây tiếng ồn cho môi trường.

    2.6. Thụy Điển   

    Tháng 12/2003, Chính phủ Thụy Điển đã chỉ đạo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) lập Kế hoạch chất thải quốc gia. Hiện nay EPA Thụy Điển đang dự kiến kế hoạch sửa đổi vào cuối năm 2010. So với 10 năm trước đây, công tác quản lý chất thải ở Thụy Điển đã làm cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên tăng lên nhiều và ít gây tác động môi trường hơn. Những thành công gồm:

    • Chất thải sinh hoạt được đưa đi chôn lấp giảm từ 1,38 triệu tấn trong năm 1994 xuống 0,38 triệu tấn trong năm 2004;
    • Năm 2004, khoảng 1,3 triệu tấn các vật liệu và 5,7 teraWat-giờ (TWh = 1012 Wat-giờ) năng lượng dưới dạng nhiệt và điện năng được thu hồi từ chất thải sinh hoạt;
    • Việc chôn lấp các loại chất thải khác cũng giảm. Trong năm 2004, khoảng 2,1 triệu tấn chất thải, trừ chất thải sinh hoạt được chôn lấp ở ngoài các khu công nghiệp, giảm 56% kể từ năm 1994;
    • Phát thải do thiêu đốt chất thải đã giảm, mặc dù khối lượng chất thải được đem đi thiêu đốt tăng lên rõ rệt. Luật châu Âu yêu cầu, đến năm 2008 cần giảm bớt các điểm chôn lấp chất thải ở Thụy Điển để đạt mục tiêu dài hạn về chôn lấp chất thải an toàn.

    Xử lý chất thải

    Những thành phố tự trị chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt và các loại chất thải tương tự. Trừ chất thải sinh hoạt mà các nhà sản xuất chịu trách nhiệm (như bao bì đóng gói, giấy báo, lốp xe, ô tô và chất thải từ các sản phẩm điện và điện tử). Đối với chất thải khác, trách nhiệm tuỳ thuộc vào chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, nơi chất thải phát sinh.

    Theo số liệu báo cáo của Hiệp hội quản lý chất thải Thuỵ Điển, trong năm 2004, tổng khối lượng chất thải sinh hoạt lên tới 4,17 triệu tấn, tương tự như năm 2003. Khối lượng  này gồm chất thải sinh hoạt và chất thải khác như chất thải đựng trong các thùng và túi, chất thải cồng kềnh, kể cả chất thải từ vườn, chất thải nguy hại và chất thải từ các cửa hàng, công ty, các ngành công nghiệp và các nhà hàng. Ngoài ra, một phần chất thải sinh hoạt thuộc trách nhiệm quản lý của các nhà sản xuất, mặc dù nó không thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý chất thải đô thị. Một số loại chất thải sinh hoạt nhập khẩu lại không được tính. Việc tái chế vật liệu (gồm giấy loại, chất thải đóng gói, chất thải điện và điện tử) chiếm 33,2% chất thải sinh hoạt được xử lý; tăng 1,8% so với năm 2003.

    Việc tách chất thải nguy hại khỏi chất thải sinh hoạt giảm xuống với khối lượng 25.700 tấn, tương đương với 3,6%, mặc dù những nỗ lực về thu gom chất thải tăng lên. So với năm 2003, chất thải nguy hại chiếm 0,6% tổng khối lượng chất thải sinh hoạt được thu gom. Thiết bị CTĐT nằm trong loại vật liệu tái chế. Việc thu hồi các sản phẩm này cũng tăng lên, tương ứng với năm 2004 là 9,6 kg/người.

    Chôn lấp:  Lượng chất thải sinh hoạt được đem đi chôn lấp giảm xuống rõ rệt và năm 2004 là 0,38 triệu tấn. Cho đến thời điểm hiện nay, lần đầu tiên lượng chất thải được đưa đi chôn lấp chiếm gần 10%.

    Xử lý sinh học: Trong năm 2004, 10,4% (0,43 triệu tấn) chất thải sinh hoạt phải qua quá trình xử lý sinh học, tăng 7,7% kể từ năm 2003. Lượng chất thải được phân loại tại nguồn gồm: 0,11 triệu tấn chất thải thực phẩm, 0,14 triệu tấn chất thải xanh (ở các công viên và các khu vườn), 18.000 tấn chất thải sinh hoạt được tách tại nguồn và ước tính có 70.000 tấn chất thải sinh hoạt được ủ phân tại nhà. Có khoảng 48 kg chất thải sinh học/người (gồm chất thải xanh và chất thải thực phẩm) được xử lý. Theo báo cáo của RVF, việc phân loại chất thải thực phẩm tại nguồn sẽ được tiến hành tại hơn một nửa số thành phố tự trị ở Thuỵ Điển vào năm 2010.

    Hiện nay, 110 thành phố tự trị cho phép công dân của họ phân loại chất thải thực phẩm để xử lý tập trung. Trong đó, 20-30% lượng chất thải trong thùng và túi đựng từ các hộ gia đình được phân loại. Khoảng 43% chất thải của các hộ gia đình gồm cả chất thải thực phẩm và 7% chất thải vườn. Hệ thống thu gom phổ biến nhất cho những ngôi nhà riêng là 2 thùng rác khác nhau, một chiếc dùng để đựng chất thải sinh học và một chiếc dùng để đựng các loại chất thải khác. Hệ thống thu gom phổ biến tiếp theo là phân loại bằng trực quan, các túi nilông có màu sắc khác nhau được đặt trong thùng rác tương tự, thường đặt trong 3 thùng khác nhau.

    Biến chất thải thành năng lượng: Hiện nay ở Thuỵ Điển có 29 nhà máy thiêu đốt chất thải sinh hoạt. Trong năm 2004, các nhà máy này đã xử lý được 1,94 triệu tấn hay 46,7% chất thải sinh hoạt, tăng 4,1 % so với năm 2003. Năm 2005, ở Thuỵ Điển tổng lượng chất thải sinh hoạt được thiêu đốt là 216 kg /người. Một số nhà máy lưu giữ chất thải trong khoảng thời gian một năm, thường để dưới dạng đóng kiện, sau đó chất thải có thể được đưa đi thiêu đốt vào mùa lạnh trong năm, khi nhu cầu về nhiệt tăng cao.

    Năm 2004, khoảng 9,3 TWh năng lượng được sản xuất từ chất thải dưới dạng nhiệt và điện năng (trong đó 8,6 TWh ở dạng nhiệt – tương đương với khoảng 950 kWh/người/năm và 0,74 TWh dạng điện năng). So với nhiều quốc gia khác ở châu Âu, Thụy Điển là nơi duy nhất có các hệ thống nhiệt phát triển mạnh trong khu vực. Khoảng 95% nhiệt phát ra được sử dụng vào việc sưởi ấm trong khu vực, chiếm 15% tổng nhu cầu ở Thuỵ Điển, nhưng ở một số thành phố, nhiệt thu được từ chất thải có thể đáp ứng tới một nửa nhu cầu sử dụng.

    Hầu hết tất cả phát thải do quá trình thiêu đốt trong năm 2004 đã giảm xuống so với năm 2003, mặc dù lượng chất thải được đem đi thiêu đốt tăng lên không đáng kể. Vào giữa những năm 1980, phát thải điôxin hầu như đã giảm xuống. Trong năm 2004, tổng lượng điôxin phát ra từ quá trình thiêu đốt chất thải là 0,7g, một phần đã thải vào không khí. Sau quá trình thiêu đốt, phần còn lại gồm xỉ từ lò đốt (chiếm 15-20% trọng lượng ban đầu của chất thải) và tro do quá trình xử lý khí thải ống khói (chiếm 3-5% trọng lượng ban đầu của chất thải). Hầu hết xỉ là phần tro nằm ở đáy, một dạng vật liệu trơ, giống như sỏi nhưng cũng có một số kim loại vụn được tái chế. Hầu hết xỉ được đem đi chôn lấp, nhưng tro ở đáy lại được sử dụng, ví dụ dùng làm vật liệu xây dựng đường xá.

    2.7. Bungari

    ở Bungari việc thu gom chất thải đô thị có tổ chức đạt 84,2% trong dân, gồm hầu hết cư dân ở các thành phố, trong khi ở nông thôn chỉ chiếm gần 40%. Việc phân loại và tái chế chất thải triển khai vẫn còn chậm.

    Chôn lấp chất thải là biện pháp để xử lý chất thải đô thị, biện pháp cơ bản cho tất cả các loại chất thải khác, chiếm 86,5% chất thải phát sinh. Phần lớn các bãi chôn lấp đều không tuân theo quy định và gây rủi ro cao cho sức khoẻ. Vẫn còn tới hơn 1500 bãi đổ chất thải bất hợp pháp. Việc ủ phân và thu hồi năng lượng ở Bungari còn ít.

    Phát sinh chất thải

    Vào năm 2001-2004, lượng chất thải phát sinh trung bình ở Bungari là 13,45 triệu tấn. Đến giai đoạn 2000-2004, khối lượng chất thải rắn đô thị được thu gom đã giảm xuống, mặc dù một phần dân số được đáp ứng các dịch vụ tăng lên 6%. Phát sinh chất thải rắn đô thị  trên đầu người trong năm 2004 là 472 kg; dưới mức trung bình của EU-25 là 537 kg và thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của EU-15 là 580 kg. Lượng chất thải rắn đô thị được thu gom trong năm 2004 là 3,09 triệu tấn, ít hơn năm 2003 là 4%.

    Thu gom chất thải

    Cuối năm 2004, 84,2% dân số Bungari được đáp ứng bởi hệ thống thu gom chất thải đô thị có tổ chức, nhiều hơn 5,6% so với năm 2000. Trong năm 2004, các hệ thống hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải đô thị này đáp ứng 1801 khu dân cư, với số dân là 6.551.181 người, chiếm 84% dân số cả nước. Ở các thành phố, hệ thống thu gom chất thải có tổ chức đáp ứng gần 100% dân số, nhưng ở các làng quê chỉ dưới 40% dân số được đáp ứng.

    Từ năm 2004, Bộ Môi trường và Nước (MOEW) bắt đầu cung cấp tài chính cho các hệ thống thu gom  riêng chất thải là bao gói ở đô thị. Năm 2004, các dự án thí điểm được tài trợ ở 12 thành phố tự trị, 4 tổ chức thu hồi chất thải bao gói được cấp phép và tổng lượng các thùng đóng gói đưa ra thị trường là 446 nghìn tấn.

    Chất thải bao gói phát sinh từ các hộ gia đình và lĩnh vực thương mại chiếm tỷ lệ  từ 41% đến 59%. Mức tiêu thụ các bao bì đóng gói tính theo đầu người năm 2004 là 57,47kg. So với các nước châu Âu khác, số lượng này là thấp và liên quan chặt chẽ với mức tiêu thụ trong nước.

    Việc thu gom chất thải nguy hại để tái chế bị hạn chế bởi việc thu mua lại các pin chì-axít, các sản phẩm dầu và dầu thải đã sử dụng. Hệ thống thu gom một số nhóm chất thải đặc biệt nguy hại như đèn huỳnh quang, ác qui, chất thải hoá học kích thước nhỏ… chưa hoàn chỉnh.

    Thiêu đốt

    Ở Bungari, thiêu đốt chất thải không phải là biện pháp phổ biến. Hiện nay vẫn chưa có thiết bị thiêu đốt chất thải đô thị. Biện pháp thiêu đốt chỉ được sử dụng đối với chất thải y tế. Năm 2004, khoảng 1810 tấn chất thải y tế được xử lý tại 2 lò thiêu đốt chất thải nguy hại ở Sôfia. Các thiết bị thiêu đốt chất thải ở thành phố cảng Varna xử lý chất thải tổng hợp từ các tàu đến.

    Chất thải tươi và gỗ được đốt trong các nồi hơi bằng nhiên liệu rắn. 91% chất thải công nghiệp đặc biệt của ngành công nghiêp chế biến gỗ chủ yếu được sử dụng làm nhiên liệu, 3% được ép thành than bánh và 6% được ủ phân. Quá trình thiêu đốt  đông thời được áp dụng trong các hệ thống thiêu đốt công nghiệp ở 5 nhà máy xi-măng – Tổng khối lượng chất thải đốt để thu hồi năng lượng tại các nhà máy là 2602 tấn.

    Xử lý cơ học

    Ở một số bãi chôn lấp của một vài thành phố tồn tại các trạm trung chuyển và các tuyến phân loại chất thải. Cơ sở xử lý chất thải đô thị hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các cơ sở xử lý chất thải. Tổng lượng chất thải khác có thể tái chế như  nhựa, thuỷ tinh, gỗ và các loại vải chỉ chiếm khoảng 2% chất thải được xử lý cơ học. Việc xử lý sơ bộ chất thải có khả năng phân huỷ sinh học là không đáng kể.

    Xử lý hoá học và lý học

    Xử lý hoá học và lý học chủ yếu được áp dụng đối với chất thải có chứa kim loại (khoảng 90%). Gần đây, người ta quan tâm đến việc xử lý các dầu thực vật dùng trong gia đình. Điêzen sinh học đã được sản xuất từ các loại chất thải này. Cô-ta cho loại “nhiên liệu sinh thái” đã được thiết lập. Ở Bungari, một hệ thống xử lý theo phương pháp này với công suất hơn 10 tấn/năm đã được lắp đặt vận hành.

    Tái chế   

    Theo ước tính, tổng công suất tái chế chất thải giấy và bìa các-tông khoảng 200.000  tấn/năm. Các cơ sở xử lý trong nước chủ yếu từ ngành công nghiệp bột giấy và giấy. Trong năm 2004, khoảng 82.000 tấn giấy được tái chế.

    Việc xử lý chất thải nhựa được tập trung ở 3 nhà máy lớn trong nước với công suất khoảng 12.000 tấn/năm. Khối lượng thực tế chất thải được xử lý thấp hơn nhiều so với công suất, và quá trình xử lý hoàn toàn tập trung vào các vật liệu dạng lá với khối lượng khoảng 5400-7200 tấn/năm. Trong năm 2004, hệ thống tái chế chất thải có công suất 12000 tấn/năm đã được lắp đặt và đi vào hoạt động.

    Thuỷ tinh thải được xử lý tại 6 nhà máy trong nước. Khối lượng chất thải thuỷ tinh được xử lý hàng năm là khoảng 15000 tấn/năm. Cơ sở hạ tầng cần thiết để phân loại, tách và xử lý chất thải thuỷ tinh ở Bungari hiện không còn tồn tại. Trong năm 2004, hệ thống  các nhà máy xử lý đã tái chế được 33.500 tấn thuỷ tinh thải.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật để xử lý chất thải từ các ăcquy được xây dựng ở Bungari. 3 xí nghiệp có hệ thống xử lý chất thải ắcquy với công suất khoảng 23.000 tấn/năm. Năm 2003, hai công nghệ xử lý vỏ lốp đã qua sử dụng được đưa vào hoạt động với tổng công suất là 4 tấn/giờ. Chỉ có một nhà máy được phép thu hồi dầu thải. Với công suất hiện nay 5000 tấn/năm, không cho phép tái chế toàn bộ lượng chất thải này. Theo số liệu của các nhà sản xuất, tái chế trở thành biện pháp xử lý chất thải là bao gói được sử dụng rộng rãi, chiếm 23% tổng lượng chất thải trong năm 2004. Tổng số 101.651 tấn chất thải bao gói được xử lý trong năm 2004, trong đó có 100.610 tấn được tái chế, 47 tấn thu hồi năng lượng và 995 tấn được chôn lấp. Ủ phân và thiêu đốt chất thải để thu hồi năng lượng chưa  phổ biến rộng rãi ở Bungari.

    Chôn lấp chất thải

    Việc chôn lấp chất thải hiện nay vẫn chỉ là biện pháp để xử lý chất thải đô thị trong nước và là biện pháp cơ bản cho tất cả các loại chất thải khác. Trong năm 2004, 86,5% tổng lượng chất thải phát sinh được đem đi chôn lấp. Có 663 bãi chôn lấp dành cho chất thải đô thị, chiếm 780 ha, đây là nơi chôn lấp 3,1 tấn chất thải đô thị. Trong số các bãi chôn lấp này, có 59 bãi chôn lấp đáp ứng nhu cầu của các khu dân cư với số dân là hơn 20.000 người, chiếm 70% dân số của cả nước.

    Theo những cam kết liên quan đến chỉ thị 1999/31, đến ngày 16/7/2009, Bungari cần xây dựng hệ thống gồm 54 bãi chôn lấp (là các bãi chôn lấp trong khu vực) và sửa chữa lại các bãi chôn lấp đang tồn tại và xây dựng các bãi chôn lấp mới trong khu vực để xử lý toàn bộ khối lượng chất thải đô thị được thải ra. Đến cuối năm 2004, Bungari đã xây dựng và đưa vào hoạt động 20 bãi chôn lấp chất thải đô thị trong khu vực, 12 bãi đang xây dựng và số còn lại đang trong các giai đoạn chuẩn bị.

    Công cụ  luật pháp và kinh tế

    Luật bảo vệ môi trường và Luật quản lý chất thải cùng với quy định có liên quan là cơ sở  pháp lý cơ bản trong lĩnh vực quản lý chất thải ở Bungari. Năm 2003, Chương trình quản lý chất thải quốc gia Bungari 2003 – 2007 đã được triển khai thực hiện.

    Những thành phố tự trị chịu trách nhiệm triển khai các Chương trình quản lý chất thải rắn đô thị theo mục tiêu xác định bởi Luật quản lý chất thải. Những yêu cầu cụ thể về quản lý chất thải cấp địa phương được đưa vào trong các quy định, đề ra thủ tục pháp lý và những thuật ngữ về quản lý chất thải đô thị, chất thải xây dựng và các chất thải khác. Các quy định cũng xác định lệ phí đối cho địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ tương ứng.

    Áp dụng biện pháp “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, hội đồng các thành phố ở Bungari đã đề ra “phí chất thải đô thị” theo quy định trong Luật thuế và phí của địa phương. Hàng năm Hội đồng thành phố quy định phí cho từng khu dân cư.Theo Luật quản lý chất thải Bungari, các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu sản phẩm phải có trách nhiệm thu gom,  thu hồi và xử lý chất thải từ các sản phẩm sau khi sử dụng.

    3. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón ở một số nước

    3.1. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Trung Quốc

    Một trong những công nghệ phổ biến của các nhà máy xử lý rác thải như ở Bắc Kinh, Nam Ninh, Thượng Hải của Trung Quốc là áp dụng công nghệ xử lý rác thải trong thiết bị kín. Rác được tiếp nhận, đưa vào thiết bị ủ kín (phần lớn là hầm ủ) 10 -12 ngày, hàm lượng H2S, CH4, SO2 giảm, được đưa ra ngoài ủ chín. Sau đó mới tiến hành phân loại, chế biến thành phân bón hữu cơ. Ưu điểm của phương pháp này là: sau 10-12 ngày mùi của H2S giảm mới đưa ra ngoài, giảm nhẹ độc hại cho người lao động, thu hồi được nước rác để không ảnh hưởng tới tầng nước ngầm; thu hồi đợc sản phẩm tái chế, các chất vô cơ đưa đi chôn lấp không gây mùi, không ảnh hưởng tới tầng nước ngầm vì đã được ô xy hoá trong hầm ủ, thu hồi được thành phẩm phân bón. Công nghệ này cũng bộc lộ một số nhược điểm như: các vi sinh vật gây bệnh trong phân bón chưa được khử triệt để; tỷ lệ thu hồi thành phẩm không cao; thao tác, vận hành phức tạp; thể tích hầm ủ rất lớn và kinh phí đầu tư cao (hình 6).

     
       

    Hình 6:   Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Trung Quốc

     

    3.2. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Công Hoà Liên bang Đức

    Ở Đức, một trong những công nghệ phổ biến của nhà máy xử lý rác thải là áp dụng công nghệ xử lý để thu hồi khí sinh học và phân bón hữu cơ. Rác được tiếp nhận và phân loại, các chất thải hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực bằng thiết bị thu hồi khí trong quá trình lên men phân giải hữu cơ, khả năng thu hồi được 64% CH4 (trong quá trình lên men). Khí qua lọc được sử dụng vào việc chạy máy phát điện, làm chất đốt…. phần bã còn lại sau khi đã lên men được vắt khô tận dụng làm phân bón.

    Công nghệ này có ưu điểm là xử lý triệt để đảm bảo môi trường; thu hồi được sản phẩm khí đốt có giá trị cao; thu hồi được sản phẩm làm phân bón; cung cấp nguyên vật liệu tái chế. Công nghệ này có một số nhược điểm: kinh phí đầu tư, duy trì lớn; sản phẩm khí đốt cần phải phân loại để không lẫn các tạp chất độc hoá học như; Pb, Hg, As, Cd….; chất lượng phân bón không cao (hình 7).

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 7:       Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của CHLB Đức

    3.3. Công nghệ xử lý chất thải làm phân bón của Hoa Kỳ

    Một trong những công nghệ phổ biến của nhà máy xử lý rác thải ở Hoa Kỳ là công nghệ xử lý trong thiết bị ủ kín nhưng không thổi khí. Phương pháp ủ kỵ khí này tuân theo các trình tự sau: Rác được tiếp nhận và tiến hành phân loại, chất thải hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các lò ủ kín có phối hợp các chủng loại men vi sinh vật khử mùi, thúc đẩy quá trình lên men, sau đó đưa ra sấy khô, nghiền và đóng bao.

    Công nghệ này có các ưu điểm là xử lý triệt để bảo vệ được môi trường; thu hồi phân bón; cung cấp được nguyên vật liệu tái chế cho các ngành công nghiệp; không mất kinh phí xử lý nước rác. Nhược điểm của phương pháp này là: kinh phí đầu tư lớn, kinh phí duy trì  cao, chất lượng phân bón thu hồi không cao, công nghệ phức tạp (hình 8).

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 8: Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Hoa Kỳ

    Như vậy, qua nghiên cứu 3 công nghệ trên cho thấy các công nghệ đều có chi phí đầu tư xây dựng lắp đặt, duy trì hoạt động cao; sản phẩm phân bón có chất lượng thấp; vận hành phức tạp; đòi hỏi hầm ủ có thể tích lớn, nên không phù hợp với điều kiện rác thải của Việt Nam do CTR không được phân loại từ đầu nguồn.

    Hiện nay ở Nhật Bản và một số nước châu Âu đang sử dụng công nghệ xử lý chất thải bằng nhiệt phân và khí hoá. Đây là những công nghệ mới, tiên tiến cho phép thu hồi nguồn năng lượng (như nhiệt năng, điện năng hoặc nhiên liệu). Những phương pháp này cũng loại bỏ được các chất thải đô thị có khả năng phân huỷ sinh học khỏi bãi chôn lấp, đây là một yếu tố quan trọng trong chính sách quản lý chất thải.

    3.4  Xử lý chất thải bằng nhiệt phân và khí hóa ở châu Âu và Nhật Bản

    Nhiệt phân và khí hoá không phải là những công nghệ mới, trước đây các công nghệ này được dùng để sản xuất than củi và than cốc từ gỗ và than đá. Tuy nhiên, gần đây phương pháp này đã được sử dụng để xử lý CTRĐT. Hiện nay tại một số nước ở châu Âu và Nhật Bản đang sử dụng phương pháp này mang lại hiệu quả.

    Có một số khác biệt giữa phương pháp thiêu đốt truyền thống và các công nghệ này. Cả hai phương pháp nhiệt phân và khí hoá đều biến chất thải thành những loại nhiên liệu giàu năng lượng bằng việc đốt chất thải ở trạng thái được kiểm soát.

    Ngược lại, phương pháp thiêu đốt chất thải đầu vào, biến đổi thành năng lượng và tro, quy trình xử lý nhiệt đã hạn chế sự biến đổi, để quá trình đốt cháy không xảy ra trực tiếp. Thay vào đó, chất thải được chuyển thành những chất trung gian có giá trị, có thể xử lý thành các vật liệu tái chế hoặc thu hồi năng lượng.Công nghệ này có thể sử dụng để:

    – Xử lý các chất thải nông nghiệp và lâm nghiệp

    – Xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải thương mại

    Đôi khi các hệ thống nhiệt phân và khí hoá không tương thích với việc xử lý  CTRĐT chưa được phân loại. Với xu thế gia tăng lượng chất thải hiện nay, buộc phải có các biện pháp tiền xử lý (thu gom có phân loại…) và các quy trình xử lý này đang trở nên thích hợp hơn.

    Phương pháp nhiệt phân là quá trình làm suy giảm nhiệt của các vật liệu cácbon ở nhiệt độ từ 400 – 800oC hoặc trong điều kiện hoàn toàn thiếu hoặc rất hạn chế ô xy.

    Quá trình này làm bay hơi và phân huỷ các vật liệu hữu cơ rắn bằng nhiệt, không bằng đốt trực tiếp. Khi chất thải bị nhiệt phân (ngược với quá trình đốt trong lò thiêu đốt), khí, chất lỏng, và chất thải than ở dạng rắn được sinh ra.

    So sánh với quá trình đốt cháy và khí hoá, lợi thế chủ yếu của phương pháp nhiệt phân là nhiên liệu ở dạng lỏng vận chuyển dễ dàng hơn các nhiên liệu ở thể rắn, hoặc thể khí. Vì vậy nhà máy xử lý nhiệt phân không nên đặt gần địa điểm sử dụng cuối cùng mà đặt ở gần nguồn cung cấp nhiên liệu để giảm bớt chi phí vận chuyển nhiên liệu.

    Chi phí vận chuyển cao là một trong những yếu tố hạn chế việc xây dựng các nhà máy điện sinh khối quy mô lớn có hiệu suất cao hơn và phát thải thấp hơn so với những nhà máy nhỏ.

    Phương pháp khí hoá

    Theo phương pháp khí hoá, hầu hết cácbon trong chất thải được biến đổi thành những sản phẩm dạng khí và các chất thải trơ. Chỉ một phần phân tử hữu cơ bị phá vỡ, sinh ra một loại khí giàu năng lượng được gọi là khí tổng hợp. Quá trình biến đổi than thành gas là một ví dụ của phương pháp khí hoá.

    Quá trình này sẽ giảm đi trong nhiệt phân và đốt cháy vì nó liên quan tới quá trình ôxy hoá từng phần. Ôxy được bổ sung nhưng chưa đủ lượng để diễn ra quá trình đốt cháy hoàn toàn. Nhiệt độ vận hành thường cao hơn 750 oC.

    Xử lý các sản phẩm dư thừa và các chất thải

    Các chất rắn thải ra từ những quá trình xử lý này gồm các kim loại và cácbon. Lượng cácbon sinh ra từ quá trình nhiệt phân nhiều hơn đáng kể so với quá trình khí hoá. Các hạt  cỡ lớn thải ra nằm ở phần tro dưới đáy. Các hạt nhẹ hơn được tách và lọc. Những kim loại không ổn định như chì, thiếc, catmi và thuỷ ngân tụ lại khi khí được làm mát.

    Quá trình khí hoá và nhiệt phân sinh ra các chất thải tương tự như quá trình thiêu đốt. Các chất thải khí gồm khí chứa axít, điôxin, furan, ôxít nitơ, điôxít sunphua, các hạt, kim loại nặng và hyđrô sunphua.

    Những chất còn lại ở thể rắn gồm tro khoáng trơ, các hợp chất vô cơ và cácbon dư; những chất này có thể tạo thành 8 – 15% lượng chất thải ban đầu.

    Các nhà máy sử dụng công nghệ xử lý nhiệt phân và khí hóa tiên tiến cần những thiết bị vốn lớn và có tuổi thọ thiết kế từ 15-20 năm. Thành phần chất thải sinh ra trong quá trình vận hành có thể thay đổi, vì vậy các thiết bị phải được thiết kế linh hoạt để xử lý được đa dạng vật liệu và có thể thay đổi được khối lượng xử lý.

    Thu hồi năng lượng trong công nghệ nhiệt phân và khí hóa

    Lợi ích của quá trình nhiệt phân và khí hoá là khí tổng hợp được tạo ra có thể sử dụng theo một số cách:

    – Khí tổng hợp có thể được đốt ở trong nồi hơi để tạo ra hơi nước, đi qua tuabin để phát ra điện và cũng cung cấp nhiệt cục bộ. Việc sử dụng nhiệt cũng như phát ra điện sẽ nâng cao hiệu suất năng lượng của hệ thống;

    – Khí tổng hợp có thể được dùng làm nhiên liệu động cơ chạy bằng khí hoặc tuabin khí – làm tăng hiệu suất phát điện, đặc biệt trong các hệ thống kết hợp điện và nhiệt (CHP);

    – Khí tổng hợp cũng có thể được sử dụng làm nguyên liệu hoá học nếu nhà máy xử lý được đặt gần nơi sử dụng cuối cùng.

    Nguồn năng lượng được thu hồi là yếu tố quan trọng về kinh tế. Quy trình xử lý này đơn giản và thu hồi được nhiều năng lượng.

    Các chất có khả năng tái chế từ chất thải hoặc các kim loại được tách ra từ giai đoạn cuối của quá trình xử lý nhiệt phân và khí hóa thường có chất lượng thấp hơn các chất có khả năng tái chế được tách ra từ hệ thống thu gom chất thải sinh hoạt khác, giá trị của chúng cũng thấp hơn .

    Việc khử các kim loại trong công đoạn cuối của hệ thống làm tăng sản lượng tái chế. Các chất dư thừa còn lại ở đáy trong quá trình nhiệt phân luôn chứa một lượng cacbon đáng kể. Phần dư thừa này phải được chôn lấp hoặc xử lý bằng cách khí hoá hoặc thiêu đốt để giảm lượng cacbon. Việc xử lý bổ sung cho phép tái chế các sản phẩm còn lại ở dưới đáy thành một khối kết hợp.

    Một số ưu điểm chính của công nghệ xử lý nhiệt phân và khí hóa

    – Giảm khối lượng chất thải;

    – Làm cho chất thải an toàn và biến thành chất trơ;

    – Thu được giá trị của chất thải, thường là tạo ra điện năng;

    – Đi theo hướng phát triển bền vững, tiến tới việc tái sử dụng và tái chế;

    – Chất thải biến thành năng lượng sẽ hỗ trợ cho quá trình tái chế các vật liệu;

    – Là một biện pháp xử lý thích hợp đối với lượng chất thải đang gia tăng;

    – Làm thay đổi thành phần chất thải rắn ở các bãi chôn lấp;

    – Giải quyết tình trạng thiếu nơi chôn lấp chất thải;

    – Thích ứng với những công cụ kinh tế và tài chính (ví dụ như thuế chôn lấp và các khoản trợ cấp cho nguồn năng lượng thay thế).

    Xử lý nhiệt là biện pháp thay thế cho phương pháp chôn lấp, khi xử lý một lượng lớn các chất có thành phần thay đổi, đặc biệt là CTRĐT. Biện pháp ủ phân và phân huỷ yếm khí chỉ có thể xử lý phần thối rữa.

    Hầu hết quy trình xử lý bằng nhiệt phân và khí hóa tiên tiến sử dụng CTRĐT đã được xử lý ban đầu. Một số hệ thống xử lý sinh học tạo ra loại nhiên liệu sản xuất chủ yếu gồm các thẻ bằng giấy và các loại chất dẻo có nguồn gốc là chất thải.

    Một số công ty hiện nay đang vận hành thử nghiệm các nhà máy khí hoá hoặc nhiệt phân thương mại  mặc dù các thử nghiệm đầu tiên thường thất bại về mặt tài chính. Tuy nhiên, công nghệ hiện nay đang được triển khai trên phạm vi rộng hơn và có một số nhà máy đang chuẩn bị triển khai.

    Lợi thế chủ yếu của phương pháp nhiệt phân so với các quá trình khí hoá và thiêu đốt khác là làm tăng thu hồi các kim loại. Quá trình này khử tất cả các chất hữu cơ thường lẫn với các kim loại như: nhãn mác, nút chai, và thức ăn thừa. Ngoài ra, phương pháp này còn làm giảm lượng không khí, giữ cho các kim loại không bị oxy hoá và thu hồi dễ dàng những kim loại có giá trị cao như nhôm. Lợi thế nữa của quá trình nhiệt phân là không cho phép hình thành chất điôxin, do thiếu ôxy và sử dụng nhiệt ở nhiệt độ khoảng 400oC.

    Ưu điểm chính của các hệ thống xử lý nhiệt tiên tiến này là sản xuất điện năng có hiệu suất cao. Có thể sẽ có nhiều điện năng hơn được sản xuất từ chất thải, bớt nhu cầu sử dụng các nhiên liệu hoá thạch, giảm phát thải khí nhà kính. Tăng hiệu quả sản xuất điện cũng có thể làm giảm chi phí vận hành.

    Phương pháp khí hoá có thể mang lại hiệu quả cao, đặc biệt khi khí được đốt trong tuabin. Các công nghệ đốt khí tổng hợp được cải tiến từ các tuabin khí mà trước đây được thiết kế chỉ để đốt khí thiên nhiên. Hiệu suất của các tuabin được thiết kế đặc biệt để đốt khí tổng hợp có giá trị nhiệt thấp có thể đạt được ở mức cao hơn.

    Một số nhược điểm

    –  Công nghệ vẫn chưa được phổ biến rộng rãi;

    –  Ngành công nghiệp còn bảo thủ, chưa mạnh dạn áp dụng;

    –  Thiếu thành tích thương mại;

    –   Những người sử dụng tiềm năng còn thiếu thông tin về công nghệ này;

    –  Tiền bồi thường đang giảm dần ở một số nước có phát thải đang tăng, làm giảm khả năng ứng dụng công nghệ.

    IV. HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH XỬ LÝ

     

    1. Tình hình phát sinh

    Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh đến hơn 15 triệu tấn chất thải rắn, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước. Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại tuy phát sinh với khối lượng ít hơn nhiều nhưng cũng được coi là nguồn thải đáng lưu ý do chúng có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ và môi trường rất cao nếu như không được xử lý theo cách thích hợp.

    Lượng chất thải phát sinh ở Việt Nam năm 2003
      Nguồn Thành phần Lượng phát sinh (tấn/năm)
    Chất thải sinh hoạt Các khu thương mại, khu dân cư Thức ăn, nhựa, giấy, thuỷ tinh 6.400.000 6.400.000 2.800.000
    Chất thải công nghiệp không nguy hại Các cơ sở công nghiệp Kim loại, gỗ 1.740.000 770.000 2.510.000
    Chất thải công nghiệp nguy hại Các cơ sở công nghiệp Xăng dầu, bùn thải, các chất hữu cơ 126.000 2.400 128.000
    Chất thải y tế nguy hại Bệnh viện Mô, mẫu máu, xi lanh 126.000 2400 21.500
    Tổng lượng chất thải phi nông nghiệp 8.266.000 7.172.400 15.459.000
    Nông nghiệp Trồng trọt, chăn nuôi Thân, rễ, lá cây, cỏ cây Không có 64.560.000 64.560.000

    Nguồn: Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam, 2002, Bộ Y tế 2004, Cục MT 1999, Bộ Công nghiệp 2002 – 2003.

     

    1.1.  Chất thải sinh hoạt

    Các đô thị là nguồn phát sinh chính của chất thải sinh hoạt. Các khu đô thị tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước). Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 2/3 kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người ở vùng nông thôn. Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau. Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, các khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân huỷ (chiếm 60-75%). Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần các chất hữu cơ dễ phân huỷ thấp hơn (chỉ chiếm cỡ 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt). Sự thay đổi về mô hình tiêu thụ và sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến làm tăng tỷ lệ phát sinh chất thải nguy hại và chất thải không phân huỷ được như nhựa, kim loại và thuỷ tinh.

    Phân loại chất thải sinh hoạt

      Lượng phát thải theo đầu người (kg/người/ngày) Tỷ lệ % so với tổng lượng thải Thành phần hữu cơ ( % )
    Đô thị (Toàn quốc) 0,7 50 55
    TP. Hồ Chí Minh 1,3 9  
    Hà Nội 1,0 6
    Đà Nẵng 0,9 2
    Nông thôn (Toàn quốc) 0,3 50 60-65

    Nguồn: Khảo sát của nhóm tư vấn 2004, Cục bảo vệ Môi trường, Bộ Công nghiệp 2002 -2003.

    1.2. Chất thải công nghiệp

    Ước tính, lượng phát sinh chất thải công nghiệp chiếm khoảng 20-25% tổng lượng chất thải sinh hoạt, tuỳ theo quy mô và cơ cấu công nghiệp của từng tỉnh/thành phố. Chất thải công nghiệp tập trung nhiều ở miền Nam. Gần một nửa lượng chất thải công nghiệp của cả nước phát sinh ở khu vực Đông Nam Bộ trong đó Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố chính của khu vực này phát sinh 31% tổng lượng chất thải công nghiệp cả nước. Tiếp theo sau vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Chất thải công nghiệp phát sinh từ các làng nghề ở vùng nông thôn chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Các làng nghề là một yếu tố đặc trưng của Việt Nam. Đây là các làng ở vùng nông thôn với nguồn thu nhập phát sinh chủ yếu từ các hoạt động nghề, đặc biệt là các nghề thủ công như sản xuất đồ gốm, dệt may, tái chế chất thải, chế biến thực phẩm và hàng thủ công mỹ nghệ. Có khoảng 1.450 làng nghề phân bố trên các vùng nông thôn thuộc 56 tỉnh của Việt Nam, mỗi năm phát thải cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại. 54% lượng chất thải này có nguồn gốc phát sinh từ 3 tỉnh phía Bắc là Hà Tây, Bắc Ninh và Hà Nội; khoảng 68% tổng lượng chất thải này phát sinh từ các vùng miền Bắc.

    1.3. Chất thải nguy hại

    Tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trong năm 2003 ước tính cỡ 160.000 tấn. Trong đó 130.000 tấn phát sinh từ ngành công nghiệp. Chất thải y tế nguy hại từ các bệnh viện, cơ sở y tế và điều dưỡng chiếm cỡ 21.000 tấn/năm, trong khi các nguồn phát sinh chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chỉ khoảng 8.600 tấn/năm. Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh ở miền Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả nước, trong đó một nửa là lượng chất thải phát sinh từ Thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp theo là các tỉnh miền Bắc, với lượng chất thải nguy hại phát sinh chiếm 31%.

    Ngành công nghiệp nhẹ là nguồn phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại lớn nhất (chiếm 47%), tiếp theo là ngành công nghiệp hoá chất (24%) và ngành công nghiệp luyện kim (20%). Mỗi tỉnh/thành đều phát sinh một lượng lớn chất thải y tế nguy hại. Khoảng 20% tổng lượng chất thải y tế là chất thải nguy hại. Tuy Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội chiếm 23% tổng công suất bệnh viện của cả nước, nhưng hệ thống các bệnh viện trong cả nước đã được đầu tư xây dựng rất tốt với số lượng giường bệnh của mỗi tỉnh ít nhất đạt được mức 500 giường. Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá và Hà Nội phát sinh khoảng 6.000 tấn chất thải y tế nguy hại mỗi năm. Các tỉnh/thành phố khác có khối lượng phát sinh chất thải y tế nguy hại ít hơn, cỡ khoảng từ 0,2 đến 1,5 tấn mỗi ngày. Các hoạt động nông nghiệp mỗi năm phát sinh một lượng khá lớn các chất tồn dư thuốc bảo vệ thực vật độc hại và các loại bao bì, thùng chứa thuốc trừ sâu. Khoảng 8.600 tấn chất thải nông nghiệp nguy hại chủ yếu gồm các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu, mà trong số đó có nhiều loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng và được nhập lậu. Lượng thuốc trừ sâu được sử dụng nhiều nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, có khoảng 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ cần phải được xử lý kịp thời.

    Việt Nam đang ở trong quá trình phát triển kinh tế, đô thị hoá và hiện đại hoá nhanh. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, dự báo đến năm 2010 tổng lượng chất thải phát sinh sẽ lên đến trên 23 triệu tấn và thành phần chất thải sẽ thay đổi từ chỗ dễ phân huỷ hơn sang ít phân huỷ hơn và nguy hại hơn. Giảm thiểu lượng phát sinh chất thải, có thể tiết kiệm được các nhu cầu tiêu huỷ chất thải sau này. Do lượng chất thải phát sinh sẽ tăng nhanh ở Việt Nam theo như dự báo, việc triển khai thực hiện các chương trình nhằm khuyến khích giảm thiểu lượng phát sinh chất thải tại nguồn như ở các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh, cơ sở công nghiệp và bệnh viện có khả năng sẽ làm giảm đáng kể chi phí cần thiết cho việc tiêu huỷ chất thải trong tương lai.

    Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy có thể giảm đáng kể lượng phát sinh chất thải bằng cách nâng cao nhận thức và tạo các cơ chế khuyến khích về kinh tế và các cơ chế khen thưởng khác. Ví dụ như, giảm 10% lượng phát sinh chất thải có thể sẽ tiết kiệm được xấp xỉ 200 tỷ đồng mỗi năm, lẽ ra phải chi cho việc tiêu huỷ chất thải và khoảng hơn 130 tỷ đồng chi cho việc tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại trong tương lai. Sản xuất sạch hơn cũng là một quy trình có thể áp dụng nhằm tiết kiệm chi phí xử lý chất thải nhờ việc giảm được phát sinh chất thải ngay tại các cơ sở công nghiệp. Quy trình sản xuất sạch hơn đã được áp dụng ở Việt Nam trong 10 năm qua nhằm giảm thiểu lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh và đã cho thấy khả năng đem lại những lợi ích về mặt kinh tế và môi trường.

    2. Tình hình quản lý

    Việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đô thị của các tỉnh/thành phố (URENCO) thực hiện. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp. Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi hành các quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Việt Nam chưa thực sự triển khai theo mô hình này. Chính vì thế, hoạt động của các công ty môi trường đô thị liên quan đến việc xử lý chất thải sinh hoạt là chính do có quá ít thông tin về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác.

    Hệ thống quản lý chất thải rắn ở một số đô thị lớn ở Việt Nam được thể hiện trong hình 9.

    – Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước để đưa ra các luật, chính sách quản lý môi trường quốc gia;

    – Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải;

    – Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện, sở Tài nguyên và Môi trường và sở Giao thông Công chính thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung và luật pháp chung về bảo vệ môi trường của Nhà nước thông qua xây dựng các quy tắc, quy chế cụ thể;

    – URENCO là đơn vị trực đảm nhận nhiệm vụ xử lý chất thải, bảo vệ môi trường thành phố theo chức trách được sở Giao thông Công chính thành phố giao nhiệm vụ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 9: Hệ thống quản lý chất thải ở một số đô thị Việt Nam

    Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt tính trung bình cho cả nước chỉ tăng từ 65-71% ( giai đoạn từ 2000 – 2003). Ở các thành phố lớn hơn thì tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cũng cao hơn, và trong năm 2003 tỷ lệ này dao động từ mức thấp nhất là 45% ở Long An đến mức cao nhất là 95% ở thành phố Huế. Tính trung bình, các thành phố có dân số lớn hơn 500.000 dân có tỷ lệ thu gom đạt 76% trong khi đó tỷ lệ này lại giảm xuống còn 70% ở các thành phố có số dân từ 100.000 – 350.000 người. Ở các vùng nông thôn, tỷ lệ thu gom rất thấp. Do xa xôi và các dịch vụ thu gom không đến được các vùng nông thôn nên chỉ có khoảng 20% nhóm các hộ gia đình có mức thu nhập cao nhất ở các vùng nông thôn được thu gom rác. Ở các vùng đô thị, dịch vụ thu gom chất thải thường cũng chưa cung cấp được cho các khu định cư, các khu nhà ở tạm và ngoại ô thành phố là nơi sinh sống chủ yếu của các hộ dân có thu nhập thấp. Nhiều sáng kiến mới đang được thực hiện nhằm khắc phục tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom chất thải sinh hoạt.

    Với chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, Chính phủ khuyến khích các công ty tư nhân và các tổ chức hoạt động dựa vào cộng đồng cộng tác chặt chẽ với các cơ quan quản lý ở cấp địa phương trong công tác quan lý chất thải rắn. Một số mô hình đã được thử nghiệm, mang lại kết quả khả quan, song  các chính sách và cải cách các cơ chế quản lý cũng cần phải được củng cố. Phần lớn chất thải công nghiệp và chất thải y tế nguy hại được thu gom cùng với chất thải thông thường. Có rất ít số liệu thực tiễn về công tác thu gom và tiêu huỷ chất thải ở các cơ sở công nghiệp và y tế. Phần lớn các cơ sở này đều hợp đồng với công ty môi trường đô thị ở địa phương để tiến hành thu gom chất thải của cơ sở mình. Thậm chí, chất thải nguy hại đã được phân loại từ chất thải y tế tại bệnh viện hay cơ sở công nghiệp, sau đó lại đổ lẫn với các loại chất thải thông thường khác trước khi công ty môi trường đô thị đến thu gom. Các cơ sở y tế có lò đốt chất thải y tế tự xử lý chất thải y tế nguy hại của họ ngay tại cơ sở, chất thải qua xử lý và tro từ lò đốt chất thải sau đó cũng được thu gom cùng với các loại chất thải thông thường khác.

    Cũng giống như nhiều nước khác trong khu vực Nam và Đông Nam Á, tiêu huỷ chất thải ở các bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có kiểm soát là những hình thức xử lý chủ yếu ở Việt Nam. Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2007, trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên cả nước có 49 bãi rác lộ thiên hoặc các khu chôn lấp vận hành không hợp vệ sinh có nguy cơ gây rủi ro cho môi trường và sức khoẻ người dân cao phải được tiến hành xử lý triệt để, tuy nhiên, cần tìm nguồn kinh phí cho các hoạt động xử lý này. Tuy đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng quản lý chất thải sinh hoạt nhưng các thông tin về việc xử lý chất thải nguy hại, đặc biệt là chất thải nguy hại từ công nghiệp còn có rất ít, do đó cần phải quản lý tốt hơn.

    Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ thống xử lý và tiêu huỷ chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp. Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài chính nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Tự tiêu huỷ là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải. Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và tiêu huỷ chất thải buộc phải áp dụng các biện pháp tiêu huỷ của riêng gia đình mình, thường là đem đổ bỏ ở các sông, hồ gần nhà họ, hoặc là vứt bừa bãi ở một nơi nào đó gần nhà.

    Một số phương pháp tự tiêu huỷ khác là đốt hoặc chôn lấp. Tất cả các phương pháp này đều có thể huỷ hoại môi trường một cách nghiêm trọng và có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người. Nhiều bãi rác và bãi chôn lấp đang là mối hiểm hoạ về mặt môi trường đối với người dân địa phương. Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh và các bãi rác lộ thiên gây ra rất nhiều vấn đề môi trường đối với các cộng đồng dân cư xung quanh, bao gồm cả các vấn đề về ô nhiễm nước ngầm và nước mặt do nước rác không được xử lý, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột bọ và ô nhiễm bụi, tiếng ồn.

    Hầu như các phương pháp xử lý chất thải nguy hại đang áp dụng còn chưa được an toàn. Hoạt động giám sát và cưỡng chế việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường đối với các cơ sở công nghiệp, các cơ sở vận chuyển và xử lý chất thải hiện tại còn yếu kém. Chính vì vậy mà có rất ít các cơ chế khuyến khích đối với các cơ sở công nghiệp trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hợp lý và vẫn có nhiều trở ngại lớn đối với việc vận hành một cách an toàn các cơ sở xử lý chất thải cả trong giai đoạn hiện tại và trong tương lai. Cho dù đã có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và quy chế chính thức được áp dụng trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, song việc thiếu các hướng dẫn, thiếu tập huấn và nâng cao nhận thức cho các cơ sở sản xuất về chất thải rắn lại càng làm những trở ngại ngày càng tăng thêm. Hiện nay, dù xử lý chất thải công nghiệp được quy định là thuộc về các cơ sở sản xuất công nghiệp và các ban quản lý khu công nghiệp song việc xử lý các loại chất thải là hoá chất dùng trong nông nghiệp lại là trách nhiệm của các cơ quan môi trường của Chính phủ và do đó kinh phí dành cho hoạt động xử lý này cũng sẽ được đề nghị từ ngân sách Nhà nước.

    3. Tình hình xử lý

    Lượng chất thải rắn thu gom tại các đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 70% yêu cầu so với thực tế và chủ yếu tập trung tại các khu vực nội thành. Phần lớn các đô thị, khu đô thị đều chưa có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và vận hành đúng quy trình. Bên cạnh đó, các loại chất thải nguy hại không được phân loại riêng mà trộn chung với những chất thải sinh hoạt, nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dẫn đến suy thoái môi trường đất, nước, không khí…

    Hiện tại, công nghệ xử lý chất thải rắn ở các đô thị Việt Nam khá đa dạng, tùy theo đặc điểm đô thị mà mỗi đô thị áp dụng những công nghệ xử lý riêng. Công nghệ xử lý rác thải rắn theo kiểu xử lý cuối đường ống, chôn lấp, chế biến rác thành phân vi sinh và sản phẩm nhựa được khá nhiều đô thị áp dụng. Đó là Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (TP. Vinh – Nghệ An) sử dụng công nghệ Seraphin có công suất từ 80 – 150 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (TP. Huế – Thừa Thiên Huế) áp dụng công nghệ ASC, công suất 80 – 150 tấn/ngày, trong đó 85 – 90% rác thải được chế biến và tái chế, 10 – 15% rác thải chôn lấp, không phát sinh nước rỉ rác.

    Ngoài ra, một số đô thị còn áp dụng công nghệ lò đốt chất thải y tế, chất thải công nghiệp nguy hại. Lò đốt CEETIA – CN 150 tại Bãi rác Nam Sơn (Hà Nội) công suất 150kg/h, có buồng đốt đa cấp, hạ nhiệt độ khói thải nhanh trước khi thải qua ống khói để tránh dioxin/furan tái sinh, xử lý khói đa cấp, vận hành tự động hoặc bán tự động. Một số đô thị có mức độ công nghiệp cao còn áp dụng công nghệ xử lý bụi trong khí thải (lọc bụi) như công nghệ Xiclon, công nghệ lọc bụi tĩnh điện (ESP) ở Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. Công nghệ xử lý nước rác của các bãi chôn lấp rác, công nghệ xử lý nước thải tập trung của các đô thị, khu công nghiệp và công nghệ xử lý khí thải SO2 công nghiệp cũng được áp dụng.

    Công nghệ xử lý chất thải rắn ở các đô thị Việt Nam thường là tự thiết kế và chế tạo nhưng đã tập hợp tương đối đầy đủ các loại hình có tính phổ biến để xử lý chất thải rắn, nước thải và khí thải đô thị. Trình độ công nghệ đã đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Đặc biệt, giá  giảm so với giá của công nghệ ngoại nhập. Tuy nhiên, việc sản xuất thiết bị, công nghệ còn ở tình trạng cá thể, đơn chiếc, chưa có sản xuất chế tạo công nghệ môi trường hàng loạt hoặc sản xuất trên dây chuyền công nghiệp. Thị trường công nghệ môi trường nội địa chưa được hình thành cho dù hiện tại đang có nhu cầu. Vốn đầu tư cho môi trường ở nước ta còn rất hạn chế. Khả năng cung thì có nhưng chưa có sản phẩm công nghiệp và thương hiệu để bán. Chưa có đội ngũ các nhà đầu tư chuyên nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh thiết bị công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường. Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường còn yếu và thiếu.

    Để đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị về tăng cường quản lý chất rắn. Theo đó, đến năm 2010 xử lý 100% chất thải rắn y tế nguy hại và trên 60% chất thải nguy hại công nghiệp bằng những công nghệ phù hợp; đồng thời xử lý triệt để các bãi rác gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng, địa phương nhanh chóng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về chất thải rắn và khuyến khích 100% đô thị xã hội hóa công tác quản lý, xử lý chất thải rắn bằng nhiều hình thức.

    Thành phố Hà Nội cũng đã ban hành Chương trình hành động về công tác bảo vệ môi trường Thủ đô thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương trình xác định một số chỉ tiêu về môi trường đến năm 2010, trong đó có chỉ tiêu 100% rác thải sinh hoạt đô thị được thu gom, vận chuyển, xử lý hợp vệ sinh và 40% được tái chế. Chương trình này nhằm ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường; giải quyết tích cực những vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt, suy thoái nguồn nước ngầm, rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại công nghiệp, ô nhiễm bụi…

    Thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) cũng vừa được Chính phủ Bỉ tài trợ cho Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường. Dự án này có tổng kinh phí là 3,3 triệu Euro, được triển khai trong 3 năm (2006 – 2008), giúp thành phố Tuy Hòa xây dựng một khu xử lý rác thải hợp vệ sinh nhằm cải thiện điều kiện môi trường, sức khỏe cho người dân trên địa bàn. Dự án cũng góp phần nâng cao năng lực quản lý cho Công ty quản lý môi trường đô thị Phú Yên trong việc thu gom và xử lý rác thải rắn; đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động cải thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường.

    Tỉnh Kiên Giang dự kiến xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải trên đảo Phú Quốc. Đây là đề xuất của Viện tái chế bảo vệ môi trường Cộng hòa Liên bang Đức và Đại học Cần Thơ. Theo đó, điện năng sẽ được sản xuất từ rác và nước thải sinh hoạt thông qua nhà máy khí sinh học biogas và máy đốt sinh khối. Công nghệ này đã được áp dụng thành công ở nhiều nước châu Âu, không chỉ tạo ra điện năng mà còn cho sản phẩm phân bón hữu cơ. Việc xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải rất có lợi cho kinh tế và giải quyết vấn đề môi trường vốn đang bức xúc trên đảo Phú Quốc.

    Hiện trạng của một số nhà máy chế biến compost tập trung ở Việt Nam

     

    Địa điểm Công suất (tấn/ngày) Thời gian bắt đầu hoạt động Nguồn chất thải hữu cơ Hiện trạng
    Cầu Diễn, Hà Nội (1) 140 1992

     

    Mở rộng 2002

    Chất thải từ các khu chợ, đường phố Đang hoạt động, bán 3 loại sản phẩm có chất lượng khác nhau
    TP. Nam Định (1) 250 2003 Chất thải sinh hoạt chưa phân loại Đang hoạt động. Cung cấp Compost sản xuất được miễn phí cho người dân.
    Phúc Khánh – Thái Bình (1) 75 2001 Không rõ Đang hoạt động
    Thành phố Việt Trì – Phú Thọ (1) 35,3 1998 Không rõ Đang hoạt động, bán 3 loại sản phẩm có chất lượng khác nhau, giá khác nhau.
    Hóc Môn – TP. Hồ Chí Minh (1) 240 1982

     

    Đóng cửa 1981

    Chất thải sinh hoạt chưa phân loại Đóng cửa do khó bán sản phẩm
    Phúc Hoà – Tân Thành – Bà Rịa Vũng Tàu (2) 30 Không rõ Không rõ Đang hoạt động
    Tràng Cát – TP. Hải Phòng 50 2004 Bùn, rác nạo vét từ hệ thống cống rãnh và chất thải sinh hoạt chưa phân loại Đang trong thời gian thử nghiệm
    Thuỵ Phương- Huế với Công nghệ Seraphin 159 2004 Chất thải sinh hoạt chưa phân loại Đang hoạt động, sản phẩm bán cho nông dân

    Nguồn: (1) – Nguyễn Thị Kim Thái 2004 – Báo cáo tư vấn cho Ngân hàng Thế giới

                 (2) -Dự án Vệ sinh cho 3 thành phố do Ngân hàng Thế giới tài trợ.

    3.1.  Một số công nghệ xử lý chất thải được sử dụng ở Việt Nam

    Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta trong thời gian gần đây ngày càng trở nên trầm trọng và phổ biến dẫn tới suy thoái môi trường đất, nước, không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn lượng chất thải rắn và nước thải ngày càng gia tăng. Mặc dù số lượng các nhà máy đã xây dựng trạm xử lý chất thải tăng lên trong những năm gần đây nhưng hiện trạng ô nhiễm vẫn chưa được cải thiện do lượng chất thải tăng nhanh.

    Chiến lược bảo vệ môi trường Việt Nam từ 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường kết hợp với xử lý ô nhiễm môi trường là một trong những yếu tố chủ chốt. Ngoài công tác nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, các công nghệ xử lý chất thải là một trong những hướng phát triển ưu tiên hàng đầu kết hợp với các công nghệ thân môi trường tạo đà cho phát triển bền vững. Dưới đây là một số công nghệ xử lý chất thải rắn được áp dụng ở Việt Nam:

    3.1.1.  Công nghệ Dano System

    Đây là công nghệ được đưa vào sử dụng tại Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh năm 1981 do chính phủ Vương Quốc Đan Mạch viện trợ. Công suất xử lý 240 tấn rác/ngày, sản xuất được 25 000 tấn phân hữu cơ/năm, sơ đồ công nghệ thể hiện trong hình10.

    Ưu điểm của công nghệ này là quá trình lên men ủ phân rất đều, quá trình được đảo trộn liên tục trong ống sinh hoá, các vi sinh vật hiếu khí được cung cấp khí và độ ẩm nên phát triển rất nhanh. Nhược điểm của công nghệ này là: Thiết bị nặng nề, khó chế tạo trong nước, đặc biệt là các hệ thống máy nghiền, xích băng tải và các vòng bi lớn. Tiêu thụ điện năng cho hệ thống rất lớn (670 kWh) làm cho giá thành sản phẩm cao. Chất lượng sản phẩm thô không phù hợp với nền nông nghiệp Việt Nam, mà chỉ phù hợp vớ nền nông nghiệp cơ giới hoá.

    Hình 10 :   Sơ đồ công nghệ Dano System

    3.1.2.  Công nghệ  xử lý rác thải sinh hoạt ở Nhà máy phân hữu cơ, Cầu Diễn Hà Nội

    Công nghệ này đưa vào sử dụng vào năm 1992 do UNDP tài trợ. Đây là công nghệ ủ đống tĩnh có thổi khí, quá trình lên men được kiểm soát bằng hệ thống điều khiển tự động nhiệt độ. Nhà máy xử lý nằm trên diện tích 4 ha, với công công suất theo thiết kế 210 tấn/ngày (hình 11). Sản phẩm phân hữu cơ đã được đăng ký tiêu chuẩn chất lượng và đang được bán trên toàn quốc. Các sản phẩm thu hồi phục vụ tái chế là: sắt, nylon, nhựa, giấy, thủy tinh.

    Công nghệ này có ưu điểm : Đơn giản, dễ vận hành; máy móc thiết bị dễ chế tạo, thay thế thuận lợi; tiêu thụ năng lượng ít; đảm bảo hợp vệ sinh; thu hồi được nước rác để phục vụ quá trình ủ lên men, không ảnh hưởng tới  tầng nước ngầm, có điều kiện mở rộng nhà máy để nâng công suất. Tuy nhiên, công nghệ này còn có một số nhược điểm như: Rác lẫn quá nhiều tạp chất, chưa được cơ giới hóa trong khâu phân loại, chất lượng phân bón chưa cao vì còn lẫn tạp chất, dây chuyền chế biến, đóng gói còn thủ công, không có quy trình thu hồi vật liệu tái chế.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 11:   Công nghệ  xử lý rác thải sinh hoạt, Nhà máy phân hữu cơ Cầu Diễn, Hà Nội

    3.1.3. Công nghệ Seraphin

    Seraphin là dây chuyền công nghệ, thiết bị xử lý và tái chế rác thải khép kín do Do Công ty Cổ phần công nghệ Môi trường xanh thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành ( hình 12). Nhà máy xử lý rác Đông Vinh tại thành phố Vinh-Nghệ An được lắp đặt, vận hành năm 2003, đặc biệt thích hợp cho các nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt ở các đô thị Việt Nam. Công nghệ này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm rác thải Việt Nam là không được phân loại từ nguồn. Với công suất 80-150 tấn/ngày, công nghệ Seraphin có thể xử lý triệt để tới 90% khối lượng rác để tái chế thành phân hữu cơ và nguyên liệu làm vật liệu xây dựng.

    So với những công nghệ đã được ứng dụng ở Việt Nam, công nghệ Seraphin có những ưu điểm sau:

    – Có khả năng giảm thiểu triệt để ô nhiễm môi trường vì rác thải sinh hoạt được xử lý ngay trong ngày;

    – Mức đầu tư chỉ bằng 30-40% so với dây chuyền thiết bị tương đương nhập khẩu. Thời gian đầu tư xây dựng và đưa nhà máy xử lý rác vào hoạt động được rút ngắn bằng 1/3-1/5 so với nhà máy xử lý rác nhập ngoại. Máy móc được chế tạo tại Việt Nam nên việc bảo hành, bảo trì thuận lợi, ít tốn kém;

    – Hiệu quả tái chế rác cao, giảm thiểu chôn lấp rác do đó tiết kiệm được diện tích đất và tiến dần tới xóa bỏ các bãi rác đã chôn lấp, thu hồi diện tích đất phục vụ cho các mục đích khác, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường do các bãi rác gây ra;

    – Do tận thu được nguồn tài nguyên từ rác, ngoài tiền bán phân compost, còn thu được tiền bán vật liệu Seraphin nên nhà máy có thêm nguồn thu để cân đối thu chi;

    – Giải quyết được công việc cho khoảng trên 100 công nhân ở mỗi nhà máy xử lý rác.

    Một ưu điểm nữa của việc áp dụng công nghệ Seraphin vào xử lý rác thải là có thể vận hành song song giữa hai dây chuyền sản xuất rác thải tươi (rác trong ngày) và rác thải khô (rác đã chôn lấp) để tạo ra những sản phẩm khác nhau. Sau khi tách lọc được rác hữu cơ làm phân vi sinh như mùn hữu cơ, phân hữu cơ sinh học, những loại rác vô cơ còn lại, dây chuyền tự động sẽ chuyển loại rác này về một bộ phận khác để tạo sản phẩm như nhựa Seraphin, ống cống, bát đựng mủ cao su và các loại xô chậu.. Những sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu Seraphin đã được các cơ quan quản lý tiêu chuẩn kiểm định và chấp nhận về mức độ hợp vệ sinh. Các sản phẩm này cũng đang cạnh tranh trên thị trường.

    – Khi áp dụng công nghệ Seraphin vào việc xử lý rác thải vô cơ (túi nilông, nhựa…) sẽ tiết kiệm được một lượng nước rửa lớn, hạn chế ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp gây nên. Vì các loại rác thải này được đưa vào lồng sấy khô và nhờ sức nóng sẽ làm mất đi những bụi bẩn để tạo ra những sản phẩm sạch.

    3.1.4. Công nghệ ASC

    Công suất xử lý 80 – 150 tấn/ngày do Công ty cổ phần Kỹ nghệ Anh Sinh (ASC) thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành được lắp đặt tại Nhà máy xử lý rác Thuỷ Phương tại thành phố Huế năm 2004 trên cơ sở hoàn thiện công nghệ trước đó. Hiệu quả đạt được là 85 -90% rác thải được chế biến và tái chế; không phát sinh nước rỉ rác. Nhà máy xử lý rác Thuỷ Phương, Công ty cổ phần kỹ thuật ASC vừa được đưa vào sử dụng trên diện tích khoảng 1,7 ha. Đặc biệt, Nhà máy xử lý rác Thuỷ Phương được lắp đặt những thiết bị sản xuất trong nước nên vốn đầu tư cho nhà máy giảm đáng kể, đồng thời các nguyên liệu có được sau phân loại và xử lý rác có thể sản xuất ra các sản phẩm ứng dụng rộng rãi, với giá rẻ, chất lượng tốt phục vụ thiết thực cho cộng đồng.

    Nhà máy xử lý rác thải Thuỷ Phương là nhà máy bước đầu hoàn thiện công nghệ  xử lý rác thải sinh hoạt của Việt Nam do trong nước tự thiết kế, chế tạo, lắp ráp, vận hành đáp ứng nhu cầu giải quyết vấn đề môi trường và tận dụng được rác thải để tạo ra những sản phẩm phục vụ sản xuất và đời sống. Hiệu quả của dây chuyền xử lý rác thải của nhà máy đạt hiệu quả cao, tỉ lệ rác thải cần phải chôn lấp thấp.

    Các sản phẩm được chế biến từ rác của Nhà máy xử lý rác Thuỷ Phương gồm: Phân hữu cơ vi sinh dạng bột, phân hữu cơ vi sinh dạng dẻo, phân hữu cơ vi sinh dạng lỏng, mùn hữu cơ vi sinh, ống cống dùng cho thoá nước, cọc An sinh dùng cho trụ cây tiêu và cây thanh long, thùng đựng rác, dải phân cách đường, ống bọc cáp điện…

    Công nghệ này đã tách được riêng 7 loại rác và từng loại đều được xử lý triệt để. Vì vậy, tỷ lệ chôn lấp thấp, chỉ còn khoảng 12-15%. Với những vùng mưa nhiều, ẩm ướt như Huế thì việc thu hồi nước rác cũng đã được tính đến. Rác được cho vào bể rửa, nước rửa này được thu hồi để phun lên hầm ủ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình 12:   Sơ đồ  xử lý rác thải bằng công nghệ Seraphin

    4. Đánh giá chung về công nghệ xử lý chất thải sử dụng ở Việt Nam

    Một số công nghệ xử lý chất thải được áp dụng tại Việt Nam kể cả trong nước và nước ngoài đã giải quyết được một phần nhu cầu xử lý chất thải trước tình hình phát sinh chất thải gia tăng trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, nhất là một lượng lớn CTRĐT đang có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.

    Một số công nghệ được nhập từ nước ngoài về, thiết bị nặng nề, khó chế tạo trong nước, đặc biệt là các hệ thống máy nghiền, xích băng tải và các vòng bi lớn. Tiêu thụ điện năng cho hệ thống rất lớn làm cho giá thành sản phẩm cao.

    Công nghệ do Việt Nam tự chế tạo đã đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Qua áp dụng 2 công nghệ xử lý rác thải đô thị Seraphin và ASC đã cho hiệu quả xử lý vượt trội so với công nghệ của nước ngoài, chúng ta có thể tự vận hành và bảo dưỡng các thiết bị do Việt Nam tự chế tạo ở điều kiện trong nước. Công nghệ xử lý rác thải do Việt nam tự thiết kế, chế tạo có giá chỉ bằng từ 1/2 đến 2/3 giá của công nghệ nhập ngoại.

    Mặc dù công nghệ Seraphin đã chứng minh được những ưu điểm nổi trội, song trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng cũng đã nảy sinh một số hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể, để làm được phân compost từ rác, phải có diện tích nhà xưởng, hầm ủ lớn, vì thời gian ủ mùn hữu cơ kéo dài có thể  tới 30 ngày, dẫn đến chi phí xây dựng cơ bản lớn. Để khắc phục vấn đề này, cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các thế hệ thiết bị ủ phân compost theo phương pháp ủ hiếu khí có đảo trộn và tạo môi trường tích cực cho vi sinh vật phân huỷ phát triển nhằm rút ngắn thời gian ủ mùn hữu cơ. Mặt khác, khả năng tiêu thụ phân bón compost còn phụ thuộc vào đặc điểm địa hình và tập quán canh tác của mỗi địa phương, cần có chính sách hỗ trợ đối với việc tiêu thụ phân compost.

    Về tình trạng sản xuất thiết bị, công nghệ: Việc sản xuất các thiết bị, máy móc hiện nay còn ở tình trạng cá thể, đơn chiếc, chưa có sản xuất chế tạo hàng loạt hay trên quy mô công nghiệp, phần lớn là do các Viện, các Trung tâm, các Công ty tư vấn thiết kế chế tạo theo các hợp đồng cụ thể, chưa có các hãng sản xuất chuyên nghiệp và thương hiệu cho công nghệ môi trường Việt Nam.

    Một số khó khăn chung trong phát triển công nghệ môi trường:

    – Ở nước ta vẫn chưa hình thành thị trường công nghệ môi trường nội địa: Nhu cầu thì có, nhưng để thực hiện nhu cầu cần phải có vốn. Vốn đầu tư cho công nghệ môi trường ở nước ta còn rất hạn chế. Khả năng cung thì có, nhưng chưa có sản phẩm công nghiệp và thương hiệu để bán;

    – Chưa có các nhà tư bản đầu tư sản xuất kinh doanh về thiết bị công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường;

    – Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường còn yếu và còn thiếu, đặc biệt là chuyên gia chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm;

    – Chế tài chuyển giao công nghệ (đối với các công nghệ mới do cá nhân/đơn vị nghiên cứu, tư vấn đã nghiên cứu thành công) cho các nhà sản xuất kinh doanh công nghệ môi trường chưa  được hoàn thiện.

     

    V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     

    1. Kết luận

    • Dù có áp dụng công nghệ xử lý nào, thì việc nâng cao nhận thức về chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng cho cộng đồng là một nội dung không thể thiếu được. Công tác giảm phát sinh chất thải, thu gom hết chất thải phân loại rác thải từ nguồn là rất quan trọng, vì nguồn rác thải đầu vào xử lý giảm đi, tách riêng từng loại vật liệu (nhất là các chất thải nguy hại phải được tách để xử lý riêng) sẽ là yếu tố quyết định của các sản phẩm đầu ra và khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải, làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của các chất thải độc hại, nguy hại lẫn trong chất thải chung.
    • Để có thể xử lý hiệu quả chất thải rắn trong các đô thị Việt Nam, Nhà nước cần phải tăng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Hiện nay Nhà nước đã dành tỷ lệ 1% chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường và đến 2010 là 2%. Đây là điều kiện tốt để phát triển các công nghệ môi trường, đặc biệt là để xử lý chất thải công cộng, chất thải rắn đô thị… Tuy nhiên, trong nguồn vốn vay ODA và vốn viện trợ không hoàn lại cũng cần dành một phần đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Và trong đàm phán các dự án về môi trường cần ưu tiên sử dụng công nghệ hợp lý về môi trường ở Việt Nam.
    • Việc thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ môi trường, đặc biệt là áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, từ thu phí nước thải tiến tới thu phí khí thải, phí chất thải rắn, chất thải nguy hại sẽ có tác động mạnh mẽ tới quá trình lựa chọn, áp dụng công nghệ. Chuyển từ phạt hành chính đối với những vi phạm Luật Bảo vệ môi trường thành phạt kinh tế. Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tính toán lợi ích kinh tế để đầu tư lắp đặt trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường. Đồng thời, khuyến khích giảm giá thuê đất, ưu đãi thuế và vay vốn đầu tư các dự án sản xuất các trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường.
    • Xây dựng chế tài hợp lý trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu chế tạo công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường vào sản xuất, kinh doanh. Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng các kỹ thuật và chuyên gia về công nghệ môi trường ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ… Lựa chọn các chuyên gia am hiểu chuyên môn, làm việc khách quan tham gia vào Hội đồng chuyên gia để xây dựng cơ chế, chính sách thẩm định công nghệ môi trường quốc gia. Cần lượng hóa đánh giá từng loại công nghệ theo các tiêu chí: Hiệu quả xử lý ô nhiễm, chi phí kinh tế, trình độ công nghệ xử lý, phù hợp với điều kiện Việt Nam và an toàn về môi trường.
    • Thúc đẩy áp dụng công nghệ xử lý do trong nước chế tạo. Công nghệ xử lý rác thải đô thị Seraphin và ASC đã được thiết kế, chế tạo trong nước, qua thời gian vận hành thực tế ở một số cơ sở trong nước đã cho hiệu quả xử lý vượt trội hơn so với công nghệ của nước ngoài chế tạo. Để có thể ứng dụng rộng rãi công nghệ này cần tiến hành tổ chức khảo sát, thẩm định, đánh giá kỹ lưỡng về mặt kinh tế- kỹ thuật, xác định những điểm cần phải hoàn thiện và có kế hoạch triển khai cụ thể, như vậy mới có thể khai thác, phát huy được hiệu quả các công nghệ nội sinh.
    • Phải coi chất thải cũng như là một loại tài nguyên. Quá trình xử lý cần khai thác triệt để tính hữu ích của chất thải. Tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng từ chất thải… là để phát triển một nền kinh tế tuần hoàn phục vụ cuộc sống con người, góp phần làm giảm khối lượng chất thải, giảm chi phí xử lý. Đây là những yếu tố cần thiết trước khi đi đến một quyết định chọn công nghệ xử lý phù hợp.
    • Cho đến nay, xử lý cuối đường ống vẫn được xem là một công cụ hữu hiệu đối với giảm thiểu ô nhiễm môi trường, mặc dù nó vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm. Trong tương lai công nghệ xử lý sẽ tập trung vào những công nghệ ít sử dụng hoá chất và ưu tiên đối với áp dụng công nghệ sinh học, bên cạnh đó các công nghệ tiên tiến như màng lọc, ôxy hoá tiên tiến sẽ được quan tâm hơn đối với việc tái sử dụng nước thải.

    2. Khuyến nghị

    Hiện nay có nhiều loại công nghệ khác nhau để xử lý CTR, mỗi công nghệ chỉ có khả năng ứng dụng tốt trong một phạm vi nhất định, trong điều kiện nhất định. Theo Chiến lược quản lý chất thải quốc gia, CTR phải được xử lý tập trung theo quy trình khép kín. Do điều kiện chưa cho phép nên hiện tại mỗi địa phương đều phải tự vận động theo cách riêng của mình, dẫn đến việc mất cân đối, gây tác động tương tác xấu. Vì vậy, cần phải lựa chọn mô hình quản lý phù hợp hơn, cụ thể là phân nhỏ hợp lý theo từng cụm một hoặc vài tỉnh để đáp ứng nhu cầu quản lý thực tế. Tuy nhiên, dù quản lý theo cách nào đi nữa thì tại các cụm xử lý chất thải rắn khuyến nghị áp dụng các giải pháp công nghệ dưới đây:

    Phân loại và xử lý cơ học

    Đây là khâu ban đầu không thể thiếu trong quy trình xử lý chất thải. Biện pháp này sẽ làm tăng hiệu quả tái chế và xử lý ở các bước tiếp theo. Các công nghệ dùng để phân loại, xử lý cơ học chất thải bao gồm: Cắt, nghiền, sàng, tuyển từ, tuyển khí nén… Ví dụ, các loại chất thải có kích thước lớn và thành phần khác nhau phải được phân loại ngay khi tiếp nhận. Các chất thải rắn chứa các chất độc hại (như muối cyanua rắn) cần phải được đập thành những hạt nhỏ trước khi hòa tan để xử lý hóa học. Các chất thải hữu cơ dạng rắn có kích thước lớn phải được băm và nghiền nhỏ đến kích thước nhất định, rồi trộn với các chất thải hữu cơ khác để xử lý thiêu đốt…

    Công nghệ thiêu đốt

    Đốt là quá trình oxy hóa chất thải ở nhiệt độ cao. Công nghệ này rất phù hợp để xử lý CTR. Để triển khai theo hướng này, cần có thời gian chuẩn bị nhiều mặt, cả về pháp lý, nguồn lực thu gom vận chuyển, sự đồng thuận của cộng đồng và doanh nghiệp. Khi thiết kế lò đốt chất thải phải đảm bảo 4 yêu cầu cơ bản: cung cấp đủ ôxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào buồng đốt một lượng không khí dư; khí dư sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lò đốt đủ để đốt cháy hoàn toàn.

    Công nghệ thiêu đốt có nhiều ưu điểm như khả năng tận dụng nhiệt, xử lý triệt để khối lượng, sạch sẽ, không tốn đất để chôn lấp nhưng cũng có một số hạn chế như chi phí đầu tư, vận hành, xử lý khí thải lớn, dễ tạo ra các sản phẩm phụ nguy hiểm.

    Công nghệ xử lý hóa – lý

    Công nghệ xử lý hóa – lý là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hóa học để làm thay đổi tính chất của chất thải nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năng nguy hại của chất thải đối với môi trường. Công nghệ này rất phổ biến để thu hồi, tái chế chất thải, đặc biệt là một số loại nguy hại như dầu, mỡ, kim loại nặng, dung môi.

    Biện pháp tái chế, thu hồi chất thải bằng công nghệ hóa – lý chỉ thực sự mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường đối với những nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại để có thể thu hồi sản phẩm từ chất thải.

    Công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

    Chôn lấp hợp vệ sinh là biện pháp tiêu hủy chất thải được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới. Trước đây, nhiều quốc gia tiên tiến như Anh, Nhật cũng dùng biện pháp chôn lấp, kể cả một số loại chất thải hạt nhân, lây nhiễm hoặc độc hại, nhưng trước khi chôn lấp phải được cách ly an toàn bằng các vật liệu phù hợp như chì, bêtông nhiều lớp để chống phóng xạ. Theo công nghệ này, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn hoặc sau khi đã cố định ở dạng viên được đưa vào các hố chôn lấp có ít nhất 2 lớp lót chống thấm, có hệ thống thu gom nước rò rỉ để xử lý, có hệ thống thoát khí, có giếng khoan để giám sát khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm.

    Việc xây dựng hố chôn lấp CTR phải theo đúng các quy chuẩn thiết kế về kích thước, độ dốc, các lớp chống thấm đáy và vách, xử lý nước rò rỉ, khí gas và các quy định tiêu chuẩn liên quan khác.

    Ngoài một số giải pháp công nghệ nêu trên, chúng ta cũng nên nghiên cứu, cân nhắc các công nghệ mới, tiên tiến hiện nay đang được một số nước áp dụng mang lại hiệu quả để có thể đưa vào áp dụng. Ví dụ như công nghệ xử lý bằng phương pháp nhiệt phân và khí hóa để có thể thu hồi năng lượng, nâng cao tỷ lệ tái chế, thu được giá trị của chất thải cao hơn và giải quyết tình trạng thiếu nơi chôn lấp hiện nay.

    Biên soạn: ThS. Trần Quang Ninh

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Waste treatment technology in Japan, Golobal Environmental Center Foundation;
    2. Decision- Makers Guide To Solid Waste Management, EPA, USA, 1989;
    3. Environmental Management in Developing Countries, Volum 2, 1995, Institute for Scientific Co-operation, Tubingen, Federal Republic of Germany;
    4. Facts and Fugures on the Environment of Germany 1988/1989, Federal Environmental Agency;
    5. Municipal Solid Waste Management in China, Marco J. Castaldi; Prof. Nickolas J. Themelis, Environmental Engineering Columbia University, New York, NY 10027, 9/2005;
    6. Warmer Bulletin No: 43/2005, 39/2006, 42/2006, 106/2006;
    7. Recycling Organic Waste: From urban pollutant to Farm Resource, Gary Garner, Worldwatch Paper, 1997;
    8. Environment Strategy in the East Asia and Pacific Region, World Bank, 2005;
    9. Advanced Seminar on Municipal Waste Management and planning within a sustainable development framework, Spain, October, 2004;
    10. Handling Municipal Solid Waste, Shuk-wai Fredafung, International Institute Industrial Environmental Economics, Sweden, September 1999;
    11. Municipal Solid Waste Management in Hong Kong, Waste Reduction Group, Environmental Protection Department, June, 2006;
    12. Tuyển tâp công trình khoa học, Trường Đại học Xây dựng, Hà Nội, 2/2000;
    13. Quản lý chất thải rắn, GS-TS Trần Hiếu Nhuệ, TS. Ứng Quốc Dũng, TS. Trần Thị Kim Thái, Tập 1, Nhà Xuất bản Xây dựng, Hà Nội, 2001;
    14. Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
    15. Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2004, Phần Chất thải rắn, Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    16. Nghị định s59/2007/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 9/04/2007 về quản lý chất thải rắn;
    17. Xây dựng một xã hội tái chế, Đinh Xuân Hùng, Trần Quang Ninh, số 7/2005 (209);
    18. Nâng cao nhận thức môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục bảo vệ Môi trường, Hà Nội, 2003
    19. Kinh tế chất thải, Dự án Kinh tế chất thải, NXB Chính trị Quốc gia, 2005;
    20. Báo cáo Hiện trạng Môi trường Việt Nam, 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường;
    21. Kinh tế và Quản lý chất thải ở Việt Nam, Nguyễn Danh Sơn, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2004;
    22. Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Câu hỏi ôn Tập Trắc nghiệm về công nghệ thông tin

    Câu hỏi ôn Tập Trắc nghiệm về công nghệ thông tin

    Câu hỏi ôn Tập Trắc nghiệm về công nghệ thông tin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-%C3%B4n-T%E1%BA%ADp-Tr%E1%BA%AFc-nghi%E1%BB%87m-v%E1%BB%81-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-th%C3%B4ng-tin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Câu hỏi ôn Tập Trắc nghiệm về công nghệ thông tin

    Trắc nghiệm về công nghệ thông tin

    1.     Which OSI layer does IP rely on to determine whether packets have been lost and to request retransmission?

    application

    presentation

    session

    transport

    1. Refer to the exhibit. Which layered network model is shown in the diagram?

    Cisco

    IETF

    OSI

    TCP/IP

    3.                 Refer to the exhibit. The diagram represents the process of sending e-mail between clients. Which list correctly identifies the component or protocol used at each numbered stage of the diagram?

    1.MUA 2.MDA 3.MTA 4.SMTP 5.MTA 6.POP 7.MDA 8.MUA

    1

    1.MUA 2.POP 3.MDA 4.SMTP 5.MTA 6.MDA 7.SMTP 8.MUA

    1.MUA 2.POP 3.SMTP 4.MDA 5.MTA 6.SMTP 7.POP 8.MUA

    1.MUA 2.SMTP 3.MTA 4.SMTP 5.MTA 6.MDA 7.POP 8.MUA

    4.                 A user enters http://www.cisco.com/web1.htm in the address line of a browser. Which statement is true about this transaction?

    The “http” portion indicates the protocol that is being used.

    The “web1.htm” portion is the specific service name.

    The retrieved web page will be displayed in URL code.

    The “www.cisco.com” is the name of the web page file that is called.

    5.                 Which range of port numbers are reserved for services that are commonly used by applications that run on servers?

    0 to 255

    0 to 1023

    1024 to 49151

    49152 to 65535

    1. Which OSI layer addressing is required to route packets between two networks?

    Layer 1

    Layer 2

    Layer 3

    Layer 4

    1. When connectionless protocols are implemented at the lower layers of the OSI model, what is usually used to acknowledge that the data was received and to request the retransmission of missing data?

    IP

    UDP

    Ethernet

    a connectionless acknowledgement

    an upper-layer, connection-oriented protocol or service

    1. Which statement is true about Layer 3 addresses? They are physical addresses.

    They are used in routing decisions.

    They are only used on local networks.

    2

    They are altered each time a packet crosses a router.

    1. Which option shows the PDU that contains the Layer 3 source and destination addressing for a packet?

    3

    1. Refer to the exhibit. Host A sends 1000 bytes of Telnet data to host B. What does host B send back if it only receives the first 500 bytes?

    Source 23 Destination 49321 Seq 1000 Ack 500 Source 23 Destination 49321 Seq 500 Ack 1000 Source 23 Destination 49321 Seq 500 Ack 500 Source 23 Destination 49321 Seq 1000 Ack 501 Source 23 Destination 49321 Seq 501 Ack 1000 Source 23 Destination 49321 Seq 501 Ack 501

    1. Refer to the exhibit. In a network, PC1 sends a message to PC2. The frame received at PC2 is shown. What information in this frame determines the correct destination application?

    timing and synchronization bits

    destination and source physical addresses destination and source logical network addresses destination and source process numbers

    1. What three statements are true about network layer addressing? (Choose three.) Network layer addressing uses a hierarchy.

    It uses addresses that are 48 bits in length.

    It is used by Ethernet switches to make forwarding decisions.

    It does not support broadcasts.

    It uses a method by which the network portion of an address can be identified.

    Network layer addressing identifies each host distinctly.

    4

    1. Which device should be used for enabling a host to communicate with another host on a different network?

    switch

    hub

    router

    Host

    14.

    Refer to the exhibit. Host A attempts to establish a TCP/IP session with host C. During this attempt, a frame was captured with the source MAC address 0050.7320.D632 and the destination MAC address 0030.8517.44C4. The packet inside the captured frame has an IP source address 192.168.7.5, and the destination IP address is 192.168.219.24. At which point in the network was this packet captured?

    leaving host A

    leaving ATL

    leaving Dallas

    leaving NYC

    15.

    5

    Refer to the exhibit. When computer A sends a frame to computer D, what computers receive the frame?

    only computer D

    only computer A and computer D

    only computer B, computer C, and computer D

    all computers

    16.

    What type of network is maintained if a server takes no dedicated role in the network?

    mainframe

    client/server

    peer-to-peer

    centralized

    17.

    6

    Refer to the exhibit. Assume all devices are using default configurations. How many subnets are required to address the topology that is shown?

    1

    3

    4

    5

    7

    18.

    Refer to the exhibit. Which type of network design is shown?

    client/server

    wide area

    dedicated server

    peer-to-peer

    19.

    7

    Refer to the exhibit. Host A is accessing multiple servers. Which combination of port number and address will uniquely identify a particular process running on a specific server?

    MAC address of the server and port number of the service

    IP address of the host and port number of the service

    MAC address of the host and port number of the service

    IP address of the server and port number of the service

    20.

    A network technician is tasked with setting up a network for six users, but the users should be able to use their accounts to log on from any of the six computers. What type of network should be used?

    workgroup

    P2P applications

    peer-to-peer network

    client-server network

    21.

    What are three characteristics of CSMA/CD? (Choose three.)

    Devices can be configured with a higher transmission priority.

    A jam signal indicates that the collision has cleared and the media is not busy.

    A device listens and waits until the media is not busy before transmitting.

    8

    The device with the electronic token is the only one that can transmit after a collision.

    All of the devices on a segment see data that passes on the network medium. After detecting a collision, hosts can attempt to resume transmission after a random time delay has expired.

    22.

    Which of the following are the address ranges of the private IP addresses? (Choose three.)

    10.0.0.0 to 10.255.255.255

    200.100.50.0 to 200.100.25.255

    150.150.0.0 to 150.150.255.255

    172.16.0.0 to 172.31.255.255

    192.168.0.0 to 192.168.255.255

    127.16.0.0 to 127.31.255.255

    23.

    Refer to the exhibit. What function does router RT_A need to provide to allow Internet access for hosts in this network?

    address translation

    DHCP services

    ftpd

    web server

    24.

    9

    Refer to the exhibit. A network technician is trying to determine the correct IP address configuration for Host A. What is a valid configuration for Host A?

    IP address: 192.168.100.19; Subnet Mask: 255.255.255.248; Default Gateway:

    192.16.1.2

    IP address: 192.168.100.20; Subnet Mask: 255.255.255.240; Default Gateway:

    192.168.100.17

    IP address: 192.168.100.21; Subnet Mask: 255.255.255.248; Default Gateway:

    192.168.100.18

    IP address: 192.168.100.22; Subnet Mask: 255.255.255.240; Default Gateway:

    10.1.1.5

    IP address: 192.168.100.30; Subnet Mask: 255.255.255.240; Default Gateway:

    192.168.1.1

    IP address: 192.168.100.31; Subnet Mask: 255.255.255.240; Default Gateway:

    192.168.100.18

    25.

    Refer to the exhibit. Host C is able to ping 127.0.0.1 successfully, but is unable to communicate with hosts A and B in the organization. What is the likely cause of the problem?

    Hosts A and B are not on the same subnet as host C.

    The IP addresses on the router serial interfaces are wrong.

    10

    The subnet mask on host C is improperly configured.

    The FastEthernet interface fa0/0 of router 1 is wrongly configured.

    26.

    What happens when a host station receives a frame that contains its own MAC address in the destination field?

    The Layer 2 information is removed and the frame is pushed up to Layer 3.

    The host station will copy the information to its buffers and send it back out.

    The frame originated from the host and will be ignored.

    The Layer 3 information is added to the frame.

    27.

    Refer to the exhibit. A network administrator is troubleshooting a link that is down between Router1 and Router2. To correct the problem, which wire pairs need to be switched on one of the Ethernet cable ends?

    pair 1 and pair 2

    pair 1 and pair 3

    pair 2 and pair 3

    pair 2 and pair 4

    28.

    11

    Refer to the exhibit. PC1 is unable to access PC2. To troubleshoot this problem, the technician needs to confirm that the next hop interface is operational. Which default gateway address should the technician ping from PC1 to confirm this?

    10.0.0.254

    192.168.0.249

    192.168.0.250

    10.0.1.254

    29.

    Which combination of network id and subnet mask correctly identifies all IP addresses from 172.16.128.0 through 172.16.159.255?

    172.16.128.0 255.255.255.224

    172.16.128.0 255.255.0.0

    172.16.128.0 255.255.192.0

    172.16.128.0 255.255.224.0

    172.16.128.0 255.255.255.192

    30.

    12

    Refer to the exhibit. Host A wants to connect to host B on a different network. Which three IP addresses can be assigned to host A to enable this connectivity? (Choose three.)

    172.16.11.36

    172.16.11.95

    172.16.11.88

    172.16.11.70

    172.16.11.64

    172.16.11.67

    1. A user sees the command prompt: Router(config-if)# . What task can be performed at this mode?

    Reload the device.

    Perform basic tests.

    Configure individual interfaces.

    Configure individual terminal lines.

    32.

    Which password is automatically encrypted when it is created?

    vty

    aux

    console

    enable secret

    enable password

    33.

    Which router component will have contents erased when the command erase startup-

     

    13

    config is issued?

    flash

    RAM

    ROM

    NVRAM

    1. A technician is asked to secure the privileged EXEC mode of a switch by requiring a password. Which type of password would require this login and be considered the most secure?

    console

    enable

    enable secret

    VTY

    35.

    Which exhibit shows the interface that is configured by the command, router(config)# interface serial 0/0/1?

    14

    36.

    When must a router serial interface be configured with the clock rate command? when the interface is functioning as a DTE device

    when the interface timers have been cleared when the connected DTE device is shut down when the interface is functioning as a DCE device

    1. What can the user do from the command prompt, Router(config-line)# ? Configure one of the network interfaces.

    Configure one of the physical or virtual lines.

    Verify the running configuration on the device.

    Configure the parameters for one of the routing protocols.

    15

    38.

    Due to a security violation, the router passwords must be changed. What information can be learned from the following configuration entries? (Choose two.)

    Router(config)# line vty 0 3

    Router(config-line)# password c13c0

    Router(config-line)# login

    The entries specify three Telnet lines for remote access.

    The entries specify four Telnet lines for remote access.

    The entries set the console and Telnet password to “c13c0”.

    Telnet access will be denied because the Telnet configuration is incomplete.

    Access will be permitted for Telnet using “c13c0” as the password.

    39.

    Which prompt represents the appropriate mode used for the copy running-config startup-config command ?

    Switch-6J>

    Switch-6J#

    Switch-6J(config)#

    Switch-6J(config-if)#

    Switch-6J(config-line)#

    40.

    Refer to the exhibit. An employee wants to access the organization intranet from home.

    16

    Which intermediary device should be used to connect the organization intranet to the Internet to enable this access?

    hub

    switch

    router

    wireless access point

    41.

    Refer to the exhibit. A PC is communicating with another PC on a remote network. The two networks are connected by three routers. Which action will help to identify the path between the hosts?

    Use the ipconfig command at the host.

    Use the ipconfig/all command at the destination.

    Use the tracert command at the host.

    Use the ping command at the destination.

    42.

    17

    Refer to the exhibit. RouterB is configured properly. The Ethernet interface Fa0/0 of RouterA is configured with the use of the commands that are shown. However, a ping from the Fa0/0 interface of RouterA to the Fa0/0 interface of RouterB is unsuccessful. What action should be taken on RouterA to solve this problem?

    Use the description command on the FastEthernet interface Fa0/0.

    Configure the clock rate of the FastEthernet interface Fa0/0.

    Use the no shutdown command on the FastEthernet interface Fa0/0.

    Reboot the router.

    Which physical connector type is used for a serial V.35 connection to the CSU/DSU?

    18

    44.

    What information can be gathered by using the command netstat?

    the default gateway

    the routing protocol

    active TCP connections

    the locally configured subnet mask

    45.

    Refer to the exhibit. Each media link is labeled. What type of cable should be used to connect the different devices?

    Connection 1 – rollover cable

    Connection 2 – straight-through cable

    Connection 3 – crossover cable

    Connection 1 – crossover cable

    Connection 2 – rollover cable

    Connection 3 – crossover cable

    Connection 1 – straight-through cable

    Connection 2 – crossover cable

    Connection 3 – crossover cable

    Connection 1 – straight-through cable

    Connection 2 – crossover cable

    Connection 3 – straight-through cable

    Connection 1 – crossover cable

    Connection 2 – straight-through cable

    Connection 3 – crossover cable

    46.

    19

    Refer to the exhibit. A network administrator remotely accesses the CLI of RouterB from PC1 using Telnet. Which statement is true about this connection?

    The data is automatically encrypted.

    A Telnet server process is running on PC1.

    The connection is made through a VTY session on the router.

    A GET request was sent to RouterB to retrieve data during this session.

    47.

    Refer to the exhibit. The tracert command is initiated from PC1 to PC4. Which device will send a response to the initial tracert packet from PC1?

    Athens

    Ankara

    London

    Paris

    PC4

    48.

    20

    Refer to the exhibit. Host A is transmitting data to host B. Which address combination will be used as the data leaves the Router1 Fa0/1 interface?

    Destination IP: 192.168.72.2 Source MAC: 0007.C2B4.3421

    Destination IP: 192.168.10.4 Source MAC: 0030.8596.DE81

    Destination IP: 192.168.10.4 Source MAC: 0007.C2B4.3421

    Destination IP: 192.168.72.2 Source MAC: 0030.8596.DE81

    49.

    Refer to the exhibit. While configuring a network, a technician wired each end of a Category 5e cable as shown. Which two statements are true about this setup? (Choose two.)

    The cable is suitable for connecting a switch to a router Ethernet port.

    The cable is suitable for connecting dissimilar types of devices.

    The cable is unusable and must be rewired.

    The cable is terminated in a way that the transmit pin is wired to the receive pin.

    The cable simulates a point-to-point WAN link.

    50.

    21

    Refer to the exhibit. The ping 127.0.0.1 command is issued on the local host. What do the ping results indicate?

    The local host can send packets on the local network.

    The TCP/IP stack on the local host operates properly.

    The local host has full connectivity to the default gateway.

    The local host has full connectivity to the remote network.

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu Luận Công nghệ sinh học thực vật


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-th%C3%B4ng-tin-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước

    Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT)) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn.

    Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT.

    Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ Việt Nam, như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.”

    Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực.

    Theo định nghĩa này thì không thể nào có chuyên gia CNTT mà lại không hiểu biết về sử dụng máy tính và phần mềm máy tính!

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010

    Huy Tài – 21/04/2009 4:00 PM

    Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đặc biệt là hoạt động quản lý nhà nước. Nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, ngày 31/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010.

    Kế hoạch này đã đưa ra các mục tiêu, nội dung và giải pháp cần thực hiện để nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Trước mắt, từ nay đến hết 2010, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tập trung hoàn thành hai mục tiêu sau:

    Một là nâng cao năng lực quản ký, điều hành của các cơ quan nhà nước. Để thực hiện mục tiêu này, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo: Tỷ lệ trung bình thông tin chỉ đạo, điều hành được đưa lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử là 60%; tỷ lệ trung bình cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử cho công việc là 80%; tỷ lệ Vụ, Văn phòng triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng là 90%. Bên cạnh đó, cần nâng cao tỷ lệ trung bình máy tính trên cán bộ, công chức; giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ; khuyến khích cán bộ, công chức khai thác thông tin trên môi trường mạng phục vụ công tác. Ngoài ra, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần tăng dần và khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa.

    Hai là đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp: Theo mục tiêu này, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo 100% có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử theo quy định của Luật Công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, tùy theo đơn vị phải bảo đảm 80% (đối với Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh) hoặc 100% (đối với Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương) số cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho người dân và doanh nghiệp.

    Để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu trên, Chính phủ đã đưa ra các hoạt động triển khai cụ thể sau:

    Thứ nhất, để nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước, các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cải tiến quy trình công việc, thủ tục và chuẩn hóa nghiệp vụ; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và quản lý của các cơ quan nhà nước, bao gồm các nội dung chủ yếu như: hệ thống thư điện tử; hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành và số hóa nguồn thông tin chưa ở dạng số theo thứ tự ưu tiên về thời gian và tầm quan trọng; tăng cường sử dụng văn bản điện tử; phát triển và cung cấp thông tin trực tuyến phục vụ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; thông tin công khai về tuyển dụng, chế độ lương, hưu, bảo hiểm, khen thưởng và kỷ luật. Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng cần tiếp tục xây dựng và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.

    Bên cạnh đó, các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cuộc họp của các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các cơ quan trực thuộc cần đảm bảo thực hiện từ xa.

    Thứ hai, để đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần xây dựng và hoàn thiện các cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của đơn vị mình để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp, tiếp tục cung cấp biểu mẫu điện tử qua cổng điện tử hoặc trang thông tin điện tử. Bên cạnh đó, các Bộ, Ngành cần căn cứ vào tình hình thực tế chỉ đạo triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3. Trong giai đoạn 2009 – 2010, Chính phủ ưu tiên triển khai các nhóm dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 sau đây: cấp phép giấy đăng ký kinh doanh; giấy phép đầu tư; giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận đăng ký ô tô, xe máy; giấy chứng nhận đăng ký tạm trú, tạm vắng; giấy đăng ký hành nghề y, dược; giấp phép hoặc dịch vụ đặc thù và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần hình thành kênh tiếp nhận ý kiến đóng góp trên môi trường mạng, tổ chức đối thoại trực tuyến, chuyên mục hỏi đáp trực tuyến về hoạt động của các cơ quan nhà nước để phục vụ người dân và doanh nghiệp.

    Bên cạnh những nội dung kể trên, để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đề ra, Chính phủ đưa ra hai nhóm hoạt động khác có tính chất nền tảng, phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với cơ quan quản lý nhà nước.

    Một là xây dựng nền tảng phục vụ Chính phủ điện tử. Nội dung này đòi hỏi Chính phủ, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan phát triển hạ tầng truyền thông; phát triển cơ sở dữ liệu; xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin áp dụng trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn mô hình ứng dụng công nghệ thông tin điển hình cấp huyện để phổ biến áp dụng rộng rãi; bảo đảm an toàn thông tin và hoàn chỉnh môi trường pháp lý.

    Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Nội dung này đòi hỏi các Bộ, Ngành và đơn vị liên quan phải tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ giám đốc công nghệ thông tin; bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu xây dựng chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý dự án công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng đào tạo trực tuyến cho cán bộ, công chức.

    Một số giải pháp thực hiện

    Rõ ràng, việc thực hiện và hoàn thành các mục tiêu lớn nói trên không hề đơn giản. Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra, trong thời gian tới, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:

    Một là kết hợp chặt chẽ việc triển khai Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010 với việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính để ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước có tác dụng thực sự thúc đẩy cải cách hành chính và tăng hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin.

    Hai là đa dạng hóa các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao hiệu quả đầu tư về sử dụng điện thoại, thư điện tử, nhắn tin và các hình thức thông tin liên lạc khác để cung cấp thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp, không giới hạn chỉ sử dụng Internet, mạng máy tính.

    Ba là tăng cường liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, đoàn thể và doanh nghiệp để thực hiện tốt các dịch vụ trực tuyến và các hệ thống thông tin, đảm bảo việc ứng dụng công nghệ thông tin ổn định, thường xuyên.

    Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần triển khai các hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin; khuyến khích tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin; tổ chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về các lợi ích trong việc xây dựng Chính phủ điện tử cho cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp.

    Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là trong thời gian tới, chúng ta cần tích cực nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước có Chính phủ điện tử phát triển; tiếp cận ứng dụng công nghệ, phương thức thực hiện tiên tiến vào điều kiện thực tế của Việt Nam.

    Bên cạnh những mục tiêu từ nay đến hết năm 2010, trong Kế hoạch này, Chính phủ cũng đã đưa ra một số định hướng ứng dụng công nghệ thông tin đối với các cơ quan quản lý nhà nước đến năm 2015, trong đó tập trung vào ba nội dung cơ bản sau:

    Một là, ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 và hoặc 4, người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ, thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng.

    Hai là ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức quản lý tài nguyên thông tin trong các cơ quan nhà nước; phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, đất đai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khai Chính phủ điện tử; từng bước tích hợp các hệ thống thông tin, tiếp tục xây dựng và mở rộng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành chung của các cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Ba là ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm xây dựng môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước trên phạm vi toàn quốc, tạo thói quen làm việc của cán bộ, công chức trên môi trường mạng và hệ thống thông tin trợ giúp, thay thế văn bản giấy.

    Chúng ta tin tưởng rằng trong thời gian tới, với quyết tâm của Chính phủ và sự tham gia tích cực của các Bộ, Ngành, người dân và doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin sẽ là đòn bẩy cơ bản để nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn./.

    Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước: mạnh nhưng còn hoang sơ

    Cập nhật: 20/2/2009 với   no comments
    Xếp trong: công nghệ thông tin

    “Việc ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước hiện vẫn chưa có quy hoạch tổng thể, chưa xác định được hướng đi trong tương lai, mới chỉ mang tính tự phát, không đồng đều” …

    Ông Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở TT&TT TPHCM nhận xét như vậy tại buổi gặp gỡ đầu năm ngành CNTT – TT năm 2009. Theo ông Hà, tại TPHCM, việc áp dụng vào việc quản lý là rất phát triển, trong khi đó một số địa phương khác lại chưa có được bước tiến nào.

    Sau đây là 9 sự kiện CNTT – TT được xem có tác động sâu rộng đến xã hội do Sở TT&TT nêu ra.

    Lãnh đạo các ngành tại buổi hội thảo diễn ra sáng nay (19/2). (Ảnh: Lê Mỹ)

    1. Tăng thêm đầu số điện thoại cố định và thống nhất giá cước điện thoại nội hạt trên toàn quốc

    Trong năm vừa qua, việc tăng thêm đầu số cho điện thoại cố định tại các tỉnh trong nước đã thành công, đây được xem là một bước tiến của ngành viễn thông trong nước. Việc tăng thêm đầu số cũng xảy ra một số khó khăn như người dùng vẫn khó hiểu trong việc áp dụng các đầu số vào điện thoại của các mạng điện thoại khác nhau như EVN, VNPT, Viettel,…Một số doanh nghiệp cũng như các cá nhân phải thay đổi số điện thoại mới, namecard,…

    2. Giá cước giảm, sự gia tăng đột biến số thuê bao di động trả trước và những bất cập.

    Năm 2008, mặc dù nền kinh tế bị khủng hoảng, nhưng giá cước thuê bao di động cũng như điện thoại cố định của Việt Nam lại giảm mạnh, đây được xem là một thành công của ngành này. Bên cạnh đó số thuê bao di động cũng tăng đột biến, theo số liệu thống kê thì cả nước đã có gần 83 triệu thuê bao di động. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều bất cập trong việc quản lý, đặc biệt là các thuê bao di động trả trước dẫn đến xuất hiện rất nhiều số thống kê “ảo”.

    3. Thành lập các sở TT&TT trên toàn quốc

    Đã có rất nhiều sở TT&TT được thành lập trong năm qua, hầu hết các tỉnh đã chú trọng đầu tư cho ngành này.

    4. Dịch vụ nội dung số phát triển nhưng gặp không ít khó khăn

    Nội dung số của Việt Nam đã có bước phát triển mạnh trong năm qua, nhiều cổng thông tin được thành lập, các dịch vụ giá trị gia tăng có nhiều bước tiến. Nhưng song song với nó còn không ít khó khăn trong việc quản lý. Chẳng hạn như các tin nhắn khuyến mãi xuất hiện nhiều nhưng lại có quá nhiều tin nhắn “ma” gây khó chịu cho người dùng. Các trang web có nội dung xấu vẫn hoạt động mạnh, một số đã bị đánh sập nhưng vẫn chưa đáng kể.

    5. Blog và quản lý blog

    Blog đã phát triển mạnh trong năm qua, bên cạnh các blog giải trí, trang nhật ký cá nhân thì cũng xuất hiện những blog có nội dung chính trị. Thông tin đã được truyền đi nhanh chóng và được nhiều người quan tâm.

    Bên cạnh đó blog cũng gây ra nhiều vấn đề đau đầu cho các cơ quan chức năng, chính vì thế Bộ TT&TT đã quyết định đưa nó vào danh mục cần quản lý, có điều việc quản lý blog bước đầu chỉ mang tính tác động tâm lí là chính.

    6. Phát triển mạnh các trạm BTS, cáp viễn thông, truyền hình và biện pháp quản lý

    Các trạm BTS đã được đầu tư phát triển, cả nước đã có 31.000 trạm phát sóng BTS. Có điều song song với nó là sự xuất hiện của các mạng dây cáp chằng chịt trên thành phố, nhiều doanh nghiệp còn vi phạm trong việc cung cấp internet. Đã có 7 doanh nghiệp bị xử lý trong việc cung cấp dịch vụ internet trên cáp truyền hình.

    7. Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước: mạnh nhưng còn hoang sơ

    8. An toàn thông tin

    An toàn thông tin là vấn đề đã được chú trọng trong năm qua, hiệp hội an toàn thông tin trong ngành CNTT đã ra đời và ngày an toàn thông tin đã được tổ chức. Nhưng có thể nói trong năm qua nhiều vi phạm trong an toàn thông tin đã diễn ra, chẳng hạn như PA Việt Nam bị tấn công, nhiều tin tặc tấn công vào website doanh nghiệp,…

    9. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh đến CNTT của Việt Nam

    Việc nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng đã làm cho nhiều doanh nghiệp hoạt động CNTT trong nước gặp không ít khó khăn. Nhiều công ty phải bù lỗ, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa.

    Thương mại điện tử và ứng dụng trong marketing

    Nguyễn Tuyết Mai
    BwPortal
    11:54′ AM – Thứ ba, 25/10/2005
     
    Trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu của mỗi doanh nghiệp, bên cạnh những phương tiện quảng cáo truyền thống như TV, báo, tạp chí, Internet đóng vai trò quan trọng và là một phương tiện hiệu quả, tiết kiệm trong việc xây dựng nhận thức của người tiêu dùng đối với một thương hiệu. Người làm marketing có thể sử dụng tất cả những ứng dụng của trang web, nhằm quảng cáo, tăng cường quan hệ với công chúng, xây dựng những cộng đồng trên mạng để tạo những ấn tượng tốt cho thương hiệu.

     

    Marketing điện tử khuyến khích người tiêu dùng tham gia tích cực vào phát triển thương hiệu, đọc thông tin về sản phẩm, hướng dẫn cụ thể cách sử dụng. Hiệu quả phát triển thương hiệu của những tập đoàn lớn như Fedex, Charles Schwab, The New York Times, Nike, Levi Strauss, Harley Davidson đã chứng minh vai trò của marketing điện tử trong chiến lược marketing thế kỷ 21.

    • Marketing trực tiếp: Nhiều nhà marketing đặt ra những mục tiêu cụ thể hơn trong chiến lược marketing trên mạng là sử dụng Internet thực hiện marketing trực tiếp. Internet tiết kiệm tối thiểu chi phí và đem lại hiệu quả lớn hơn nhiều so với phương pháp gửi quảng cáo bằng thư truyền thống: không tem, không phong bì, không tốn giấy và các chi phí khác. Trên cơ sở dữ liệu về người tiêu dùng, nhà marketing có thể gửi hàng triệu e-mail bằng một lần nhấn chuột, hoặc có thể sử dụng chương trình tự động gửi e-mail cho từng nhóm khách hàng hoặc từng khách hàng những nội dung phù hợp với đặc điểm nhóm này.
    • Bán hàng trên mạng: Người tiêu dùng có thể tìm thấy mọi thứ mình cần trên mạng từ chocolate đến ô-tô. Amazon.com từng có doanh số bán sách 32 triệu USD trong năm đầu khai trương cửa hàng trên mạng.
    • Hỗ trợ tiêu dùng: Hỗ trợ tiêu dùng và khách hàng là một trong những ưu điểm quan trọng của Marketing điện tử mà nhiều công ty không chú ý đến. Hiện nay, hỗ trợ tiêu dùng mới chỉ dừng lại ở dạng sơ khai dưới hình thức các câu hỏi khách hàng thường hỏi (FAQs-Frequent Asked Questions). Những hình thức khác doanh nghiệp có thể áp dụng là trả lời thắc mắc của khách hàng, email trả lời tự động, thông tin cập nhật, diễn đàn người tiêu dùng, tán chuyện trên mạng…
    • Điều tra thị trường: Internet mang lại hiệu quả cao trong nghiên cứu thị trường, thông qua xây dựng hệ thống dữ liệu khách hàng cập nhật và đầy đủ. Điều tra thị trường qua mạng tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và thời gian cho khách hàng. Đồng thời, độ tin cậy của điều tra cũng có thể được kiểm tra chặt chẽ bằng cách kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
    • Theo dõi hành vi người tiêu dùng: Máy chủ cho phép doanh nghiệp theo dõi từng động thái của khách hàng mỗi khi khách hàng xâm nhập vào mạng của công ty: thời gian trên mạng, mở những trang web nào, chọn và mua những sản phẩm gì, đã mở trang web có sản phẩm đó bao nhiêu lần, quan tâm tới nhóm sản phẩm nào, ưa thích màu gì, thường chọn cỡ sản phẩm nào… Thông tin này cho phép người làm marketing giới thiệu sản phẩm phù hợp hoàn toàn với nhu cầu của từng cá nhân khách hàng.

    Thách thức trong phát triển thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

    Một công trình điều tra thị trường do E-CommerceNet.com tiến hành trên cơ sở 1000 phiếu điều tra, trong đó 80% từ các nước châu Á đã rút ra 10 yếu tố cơ bản hạn chế doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia thương mại điện tử là:

    1. Vấn đề an ninh và mã hoá
    2. Độ tin cậy thấp và rủi ro lớn trong giao dịch thương mại điện tử
    3. Thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ kinh doanh và tin học cần thiết
    4. Thiếu mô hình kinh doanh thương mại điện tử phù hợp cho từng quốc gia có mức độ phát triển mạng Internet
    5. Trở ngại văn hoá trong phát triển thương mại điện tử
    6. Đối tượng tham gia thương mại điện tử giới hạn trong nhóm người thuộc tầng lớp trí thức và thu nhập cao
    7. Thương mại điện tử đòi hỏi những thay đổi căn bản trong cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
    8. Rủi ro xuất phát từ gian lận thương mại, nguy cơ hàng giả rất cao trong thương mại điện tử
    9. Tốc độ kết nối mạng Internet ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Việt Nam rất chậm
    10. Các vấn đề luật pháp

    Thách thức đối với quá trình marketing trên nền tảng thương mại điện tử

    Mặc dù mang lại những lợi ích kinh tế lớn, thương mại điện tử cũng đồng thời tạo ra những thách thức mới đối với người làm marketing, đặc biệt trên thị trường quốc tế.

    1. Khó khăn trong xây dựng nhãn hiệu toàn cầu: Câu hỏi đặt ra đối với nhà marketing quốc tế là nên xây dựng một nhãn hiệu toàn cầu hay xây dựng nhãn hiệu khác nhau phù hợp với văn hoá từng địa phương? Nên xây dựng các trang web với hình thức và nội dung căn bản giống nhau hay có thay đổi ở từng quốc gia? Có nên đăng ký địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau hay không? P&G đã sử dụng tới 134 địa chỉ trang web khác nhau ở các quốc gia khác nhau nhằm giới thiệu các sản phẩm đa dạng của P&G.
    2. Thương mại điện tử tạo lực lượng cạnh tranh mới: Với chi phí marketing không cao, hiệu quả kinh tế có thể xác định rõ, thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp mài giũa các công cụ cạnh tranh như giá, quảng cáo và các thông tin marketing khác ngày càng sắc bén và hiệu quả hơn. Nhưng cũng chính tiện ích của thương mại điện tử lại gây ra nhiều lực lượng cạnh tranh đối với một sản phẩm từ nhiều phía.
    3. Hiệu quả ngược của marketing điện tử: Quảng cáo điện tử có thể gây ra những hiệu quả marketing ngược khi quảng cáo ảnh hưởng đến cuộc sống riêng tư của từng cá nhân tiêu dùng. Tâm lý chán ghét và không tin vào quảng cáo đã xuất hiện ở nhiều quốc gia. Người tiêu dùng cảm thấy luôn bị theo dõi mọi hành vi mua hàng và trong cuộc sống, quảng cáo xuất hiện mọi nơi mọi lúc. Bởi vậy, nhà marketing cần thiết phải sử dụng thương mại điện tử thông qua các công cụ marketing có sự cho phép của người nhận thông tin, nhằm hạn chế tối thiểu tác động tiêu cực của marketing điện tử.

    Quả thật, thương mại điện tử luôn là một giải pháp kinh doanh hữu hiệu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải hướng tới trong tương lai. Và để thương mại điện tử thật sự phát huy hết ưu thế trong các hoạt động marketing và kinh doanh, các doanh nghiệp cần chủ động đề ra những chiến lược thích hợp để vượt qua những thách thức khó khăn của thương mại điện tử.

     

    1. Khái niệm về kinh tế thông tin

    Khái niệm xã hội và nền kinh tế hậu công nghiệp được nói đến lần đầu vào những năm 1950, khi người ta nhận thấy sự phát triển không ngừng của một số khu vực (section) phi nông nghiệp và phi công nghiệp trong một số nền kinh tế tiên tiến. Những khu vực đó được xem là hạt nhân của một nền kinh tế mới đang nổi và người ta sử dụng thuật ngữ “hậu công nghiệp” để nói về nền kinh tế này.

    Nền kinh tế “hậu công nghiệp” hiện được nhiều học giả của các trường phái khoa học xã hội gọi là “nền kinh tế tri thức”, còn các học giả của các trường phái khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin gọi là “nền kinh tế thông tin – kinh tế số”. Các khái niệm “kinh tế tri thức”, “kinh tế thông tin” hay “kinh tế số” hiện được dùng với nghĩa gần tương đương, chúng đều nhấn mạnh và khẳng định vai trò động lực phát triển kinh tế toàn cầu của thông tin, tri thức, công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông.

    “Kinh tế thông tin” là gì? Khái niệm này hiện được định nghĩa chưa thật chặt chẽ, được dùng để đặc trưng cho một nền kinh tế với vai trò tăng trưởng của các hoạt động thông tin và công nghiệp thông tin.

    Trong nền kinh tế thông tin, tri thức đóng vai trò chủ đạo bên cạnh các thành tố truyền thống khác của nền kinh tế; các sản phẩm của nền kinh tế đó chứa đựng hàm lượng tri thức cao hơn hẳn so với trước đây. Khái niệm kinh tế thông tin đã chỉ ra sự khác biệt giữa 2 lĩnh vực (domain): lĩnh vực vật chất và năng lượng, và lĩnh vực thông tin, trong đó lĩnh vực đầu tiên bao gồm các khu vực nông nghiệp và công nghiệp, trong khi lĩnh vực thứ 2 tương ứng với khu vực thông tin và quan tâm đến sự biến đổi thông tin từ “dạng này sang dạng khác”.

    Có hai điểm quan trọng còn chưa rõ trong khái niệm kinh tế thông tin. Thứ nhất là chưa rõ tiêu chuẩn nào để đánh giá một nền kinh tế có phải là nền kinh tế thông tin hay không và thứ hai là hiện đang có quá nhiều cách quản lý khác nhau đối với các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến thông tin.

    Nếu đối với vấn đề thứ nhất người ta mới tập trung vào nghiên cứu, đánh giá sự tăng trưởng của các hoạt động thông tin hơn là vào mức độ đạt được của nó, và hiện có rất ít những nghiên cứu nhằm xác định rõ mức độ thông tin hóa nền kinh tế để nó trở thành nền kinh tế thông tin thì đối với vấn đề thứ hai lại được quan tâm nghiên cứu và thảo luận rộng rãi, cộng đồng quốc tế hiện đã khá thống nhất về hệ thống chỉ tiêu hạt nhân để đo nền kinh tế thông tin [10].

    Thực chất của phát triển KTTT là quá trình không ngừng khai thác, phân phối, sử dụng thông tin, tri thức trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở nền giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ hiện đại. Trong nền kinh tế thông tin, tri thức sẽ trở thành đối tượng chủ yếu của sản xuất, phân phối, tiêu thụ và là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được chuyển hoá từ mô hình dựa trên tiêu hao nguồn tài nguyên vật chất sang loại hình dựa trên tri thức và kỹ thuật.

    Cùng với sự phát triển hướng về kinh tế thông tin, cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia cũng đang có sự dịch chuyển về khu vực thông tin – dịch vụ với nhiều ngành, nghề mới được hình thành. Trong số 500 nghề hàng đầu ở những năm cuối thế kỷ trước đã có gần 400 nghề chưa từng xuất hiện ở thời điểm giữa thế kỷ này, riêng trong lĩnh vực CNTT đã có khoảng 40 ngành nghề khác nhau.

    2.Các hoạt động về thông tin

    Người ta phân loại lĩnh vực thông tin thành khu vực thông tin sơ cấp và thứ cấp. Những người làm việc trong khu vực thông tin sơ cấp là những người mà công việc chủ yếu của họ là nhằm tạo ra hoặc quản lý, sử dụng thông tin như các nhà khoa học, các nhà văn, những người làm công tác thư viện, ..; còn những người làm việc trong khu vực thông tin thứ cấp là những người làm việc chủ yếu trên những công việc không phải là thông tin nhưng công việc của họ đòi hỏi phải có thông tin, họ đưa ra thông tin để sử dụng trong sản xuất hàng hóa không phải là hàng hóa thông tin.

    Khu vực thông tin sơ cấp bao gồm: Sản xuất và sáng tạo tri thức (như R&D và các dịch vụ thông tin); Phân phối thông tin và truyền thông (giáo dục đào tạo, dịch vụ thông tin công, viễn thông,…); Quản lý rủi ro (các ngành công nghiệp tài chính, bảo hiểm); Tìm kiếm và hợp tác (các nghề môi giới, quảng cáo); Dịch vụ xử lý và chuyển giao thông tin (xử lý thông tin dựa trên máy tính, hạ tầng kỹ thuật truyền thông); Hàng hóa thông tin (máy tính bỏ túi, chất bán dẫn, máy tính điện tử); Một số hoạt động có lựa chọn của chính phủ (dịch vụ giáo dục, bưu điện..); …

    Khu vực thông tin thứ cấp bao gồm tất cả các dịch vụ thông tin được tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu trong các cơ quản quản lý nhà nước và trong các khu vực phi thông tin, trừ các hoạt động của chính phủ thuộc vào khu vực thông tin sơ cấp nêu ở trên. Các hoạt động khác của chính phủ như lập kế hoạch, hợp tác, giám sát, điều chỉnh, đánh giá và ra quyết định… là thuộc về khu vực thông tin thứ cấp.

    Mặc dù nền kinh tế hậu công nghiệp đã được xác định là nền kinh tế thông tin, nhưng việc tranh luận nhằm xác định xem những hoạt động và hàng hóa nào sẽ được xếp vào lĩnh vực thông tin của nền kinh tế thực tế hiện vẫn còn đang tiếp diễn.

    3. Các ngành công nghiệp thông tin

    Mặc dù còn rất non trẻ, nhưng nền kinh tế thông tin đã chứng tỏ được ưu thế vượt trội và tiềm năng phát triển to lớn của nó. Hiện tại đã xuất hiện các ngành công nghiệp thông tin và chúng đang được coi là quan trọng nhất trong nền kinh tế bởi những lý do chủ yếu là:

    –   Các ngành công nghiệp thông tin là bộ phận tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Nhu cầu về dịch vụ và hàng hoá thông tin từ những người tiêu dùng ngày càng tăng lên. Các phương tiện thông tin đại chúng như máy tính cá nhân, nhạc số, phim kỹ thuật số, truyền hình kỹ thuật số, trò chơi điện tử, là thuộc vào các ngành công nghiệp thông tin và đang có sự bùng nổ về tăng trưởng. Các ngành nghề như lập trình máy tính; thiết kế hệ thống; tin học ứng dụng trong tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và bất động sản; viễn thông và nhiều ngành nghề liên quan đến thông tin khác cũng đang tăng lên không ngừng cả ở phạm vi quốc gia lẫn quốc tế, và đang tạo ra cơ hội để kinh tế phát triển nhanh nếu có chiến lược và bước đi thích hợp, kịp thời trong việc phát triển những ngành nghề đó.

    –   Các ngành công nghiệp thông tin được coi là là những ngành động lực thúc đẩy sự đổi mới và đẩy mạnh sản xuất của các ngành công nghiệp khác. Thực tiễn cho thấy những nền kinh tế với các ngành công nghiệp thông tin vững chắc thường có khả năng cạnh tranh cao hơn các nền kinh tế khác, và các nhân tố trong những nền kinh tế ấy trở lên công bằng hơn.

    –   Người ta nhận thấy rằng tác động của việc thay đổi cơ cấu kinh tế (hay thành phần các ngành công nghiệp trong nền kinh tế) liên quan đến sự thay đổi rộng rãi xã hội. Điều này có nghĩa là khi thông tin trở thành bộ phận trung tâm trong các hoạt động kinh tế, thì xã hội cũng như thế sẽ trở thành xã hội thông tin. Hiện nay vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, và các thông tin trung gian khác trong cuộc sống hàng ngày, trong các hoạt động vui chơi giải trí, trong đời sống xã hội, công việc, chính trị, giáo dục, nghệ thuật và nhiều khía cạnh khác của xã hội đã được tăng lên.

        Phân loại các ngành công nghiệp thông tin:

        Các ngành công nghiệp thông tin đang trở thành các ngành công nghiệp mũi nhọn. Mỗi ngành công nghiệp thông tin có những đặc điểm khác nhau. Xu hướng hiện nay là phân các ngành công nghiệp thông tin thành 6 loại như sau:

    (1) Các ngành công nghiệp sản xuất và bán thông tin dưới dạng hàng hoá hoặc dịch vụ. Các sản phẩm truyền thông đại chúng như chương trình truyền hình, phim ảnh, các cuốn sách và tạp chí được xuất bản định kỳ,… chính là các hàng hóa thông tin điển hình. Một số thông tin được cung cấp không phải là những sản phẩm thông tin hữu hình mà là vô hình, chẳng hạn như tư vấn,…

    (2) Các ngành dịch vụ xử lý thông tin như: các dịch vụ về pháp lý, ngân hàng, bảo hiểm, lập trình máy tính, xử lý dữ liệu, kiểm thử phần mềm và nghiên cứu thị trường,… Mặc dù các dịch vụ này không cung cấp thống tin, nhưng vì lợi ích của khách hàng các dịch vụ đó thường đòi hỏi tính chuyên môn cao.

    (3) Các ngành công nghiệp mà việc phổ biến hàng hoá thông tin là hoạt động chính của nó như: ngành điện thoại, truyền thanh – truyền hình, truyền thông, và bán lẻ sách báo,…,.

    (4) Các nhà sản xuất thiết bị xử lý thông tin. Các sản phẩm này là sống còn đối với các hoạt động xử lý thông tin, chúng bao gồm các loại máy tính điện tử, các thiết bị tin học, các chương trình phần mềm, các máy in và photocopy, các thiết bị ghi âm, ghi hình, …

    (5) Các ngành công nghiệp chuyên về nghiên cứu, nhưng không đóng vai trò như là cơ sở hạ tầng cho sản xuất thông tin hoặc đưa ra quyết định phức tạp như: ngành dược phẩm và khám chữa bệnh, thiết kế thời trang, chế biến thực phẩm và một số ngành công nghiệp công nghệ cao khác,…

    (6) Các ngành công nghiệp không chuyên sâu về nghiên cứu, nhưng lại đóng vai trò như là cơ sở hạ tầng để tạo ra thông tin và đưa ra quyết định phức tạp, chẳng hạn ngành sản xuất các văn phòng phẩm là thuộc loại này, mặc dù đôi khi nó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu tổ chức lực lượng lao động và phát triển chất liệu mới. .

    Hiện nay, các ngành công nghiệp thông tin được nói đến nhiều là: công nghiệp nội dung, công nghiệp phần mềm và công nghiệp phần cứng. Có thể thấy rằng về cơ bản nó tương ứng thuộc về các ngành công nghiệp (1), (2) và (4) theo phân loại ở trên.

    Trong nền kinh tế thông tin, các ngành công nghiệp liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông, tạo nội dung thông tin số hoá giữ vai trò chủ đạo. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, nhất là mạng Internet thế giới dường như được thu nhỏ lại. Nhờ mạng Internet và các kỹ thuật tin học, các quốc gia trên thế giới sẽ dễ dàng liên kết, hợp tác trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và vì thế toàn cầu hoá nhất là toàn cầu hoá về kinh tế sẽ trở thành xu thế tất yếu và ngày càng phát triển.

    4. Các chỉ tiêu hạt nhân đo lường nền kinh tế thông tin

    Các nhà hoạch định chính sách ngày càng có nhu cầu về dữ liệu thực tế và những chỉ số đánh giá về kinh tế thông tin. Trình độ phát triển kinh tế thông tin của mỗi quốc gia được thể hiện tập trung và rõ nét qua trình độ phát triển và mức độ ứng dụng CNTT&TT trong quốc gia đó. CNTT&TT đã trở thành nhân tố chủ yếu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở quy mô vùng, quốc gia cũng như toàn cầu. Việc xác định các chỉ tiêu CNTT&TT để đánh giá tình hình phát triển kinh tế thông tin của một quốc gia là chủ đề của nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức trong nhiều năm, trong đó nhất là hội nghị được tổ chức tại Giơnevơ, từ 7-9/2/2005 [9]. Trong hội nghị này đã đề xuất hệ thống chỉ tiêu CNTT&TT hạt nhân hiện được đa số các nước trên thế giới công nhận. Các chỉ tiêu CNTT&TT hạt nhân được xác định bao gồm:

       a. Nhóm chỉ tiêu cơ bản về CNTT&TT

    –   Số người sử dụng Internet: bao gồm những người sử dụng Internet ở những địa điểm công cộng, ỏ cơ quan, ở các quán cà phê, gia đình…. Số lượng thuê bao Internet không cung cấp đầy đủ thông tin về việc sử dụng Internet vì nhiều người sử dụng Internet cùng sử dụng chung một số thuê bao, và thực tế có rất nhiều người sử dụng Internet ở những địa điểm công cộng, quán cà phê, …

    –   Đường truyền băng thông rộng: là điều kiện tối cần thiết đối với kinh doanh điện tử, cho phép các doanh nghiệp có các đường truyền thông đa mục đích. Nó đặc biệt cần thiết và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đường truyền băng thông rộng có vai trò quan trọng trong việc phố biến và sử dụng CNTT&TT, đóng góp của CNTT&TT trong tăng trưởng kinh tế. Đường truyền băng thông rộng được đo bằng số lượng những người thuê bao.

    –  Số máy tính điện tử: việc truy cập Internet có thể được thực hiện qua nhiều thiết bị khác nhau, nhưng máy tính vẫn là thiết bị chủ yếu và quan trọng nhất. Máy tính là nhất thiết không thể thiếu để phát triển kinh tế thông tin và nhất là để ứng dụng CNTT&TT trong các quá trình sản xuất và kinh doanh điện tử. Việc đánh giá số lượng máy tính được thực hiện qua thống kê các số lượng máy tính được bán ra.

    –  Số máy điện thoại di động: được đo bằng số người thuê bao trên /100 dân.

    b. Nhóm chỉ ttêu về ứng dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp

    –  Thương mại điện tử (e-commerce)

    – Ứng dụng CNTT&TT trong doanh nghiệp (hay e-business): Thuật ngữ e-business được sử dụng để đánh giá việc ứng dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp theo các hoạt động sản xuất kinh doanh và khác với thương mại điện tử, chẳng hạn: các ứng dụng nhằm thay đổi qui trình sản xuất kinh doanh như quản lý việc cung ứng vật liệu và hàng tồn kho, giám sát thực hiện và điều chỉnh kế hoạch, giành và giữ khách hàng, …

    Các giao dịch thương mại điện tử chỉ là một trong số những ứng dụng CNTT&TT trong doanh nghiệp. Thương mại điện tử là một trong những loại ứng dụng mới đang nổi. Về bản chất, đó là những ứng dụng CNTT&TT nhằm tăng hiệu quả các hoạt động giao tiếp giữa doanh nghiệp với người dân và giữa các doanh nghiệp với nhau. Do thương mại điện tử được nhấn mạnh và nói đến nhiều nên có thể đã gây sự hiểu lầm và làm sai lệch sự quan tâm triển khai nhiều ứng dụng CNTT&TT khác không kém phần quan trọng trong các doanh nghiệp.

        Trong Hội nghị Giơnevơ đã xác định 12 chỉ tiêu hạt nhân để đánh giá việc sử dụng CNTT&TT trong các doanh nghiệp (e-business) là :

    Các chỉ hạt nhân cơ bản về e-business

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng máy tính;

    +  Tỷ lệ người lao động sử dụng máy tính;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng Internet;

    +  Tỷ lệ người lao động sử dụng Internet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có Websire riêng;

    +  Tỷ lệ doanh nghiệp có mạng Intranet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng thông qua Internet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp mua hàng thông qua Internet;

    Các chỉ số hạt nhân mở rộng

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp truy cập Internet theo các dạng truy cập;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có mạng nội bộ LAN;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp có mạng Extranet;

    +  Tỷ lệ các doanh nghiệp sử dụng Internet theo các kiểu hoạt động;

      c. Nhóm chỉ tiêu về thẻ điện tử, tài chính thương mại và tài chính điện tử:

    Đánh giá mức độ ứng dụng CNTT&TT trong các ngành tài chính, ngân hàng như chuyển nhượng qua ngân hàng, chi trả và thanh toán, chứng từ nhờ thu và tín dụng chứng từ, cho vay với tổ chức và hộ gia đình, kinh doanh thẻ, theo dõi cho vay và người vay, thông tin tín dụng điện tử và các hoạt động khác,…

        d. Nhóm chỉ tiêu về du lịch điện tử:

    Chủ yếu đánh giá việc ứng dụng CNTT&TT trong việc giới thiệu hình ảnh quốc gia, tổ chức các tour du lịch trực tuyến theo yêu cầu khách hàng và tiết kiệm chi phí cho các tour du lịch,…

    1. Phương hướng cơ bản CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, là nơi đang chiếm đại bộ phận dân cư lao động xã hội và đất đai, có điều kiện phát triển, là nguồn nội lực to lớn và đang là lợi thế của đất nước ta. Phải tập trung cao hơn với những dự án cụ thể thiết thực để đưa nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển, từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phải giành một tỷ lệ quan trọng các nguồn vốn huy động được để đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, hình thành các tổ hợp công – nông nghiệp – dịch vụ ở những địa bàn cho phép để chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất công cụ lao động nông nghiệp, phát triển các loại dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ khoa học – kỹ thuật, cung cấp vật tư, giống cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm cho nông, lâm, ngư nghiệp. Đổi mới chính sách và tháo gỡ các ách tắc để phát triển toàn diện, bền vững; khuyến khích thật mạnh việc khai thác, đưa vào sử dụng đất trống, đồi núi trọc và đất còn hoang hóa, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, tăng sức mua và phát triển ổn định thị trường nông thôn. II. Các giải pháp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới. Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở đảm bảo an toàn lương thực quốc gia. Trước hết hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn để có điều kiện ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến cho những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, tính hàng hóa cao; chuyên canh để có nông sản hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản, bao gồm cả lâm sản và thuỷ, hải sản, ưu tiên phát triển các cây trồng và vật nuôi có quy mô xuất khẩu tương đối lớn và thị trường ổn định, đặc biệt coi trọng các sản phẩm quý hiếm ta có lợi thế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn phải nhằm nâng tỷ trọng và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Muốn vậy, phải coi công nghệ sinh học và công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch nông – lâm – thủy, hải sản để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hàng nông sản là nội dung cốt lõi của CNH, HĐH sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Điều đó đòi hỏi phải có quy hoạch, chính sách phù hợp, kết hợp lợi ích và tìm ra mô hình tối ưu để giải quyết quan hệ giữa người làm ra nguyên liệu và người chế biến tiêu thụ. Hai là, phát triển công nghiệp nông thôn, kết cấu hạ tầng, dịch vụ nông thôn, tiến hành phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng giảm lao động thuần nông, tăng lao động trong những ngành phi nông nghiệp trên cơ sở phát triển các ngành nghề, làng truyền thống và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp nông thôn sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân v.v… Muốn vậy phải tăng tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, ưu đãi, khuyến khích mọi người dân, mọi thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài phát triển công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn nhằm phát triển kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập ở nông thôn. Xây dựng những khu công nghiệp quy mô nhỏ, các trung tâm kinh tế – xã hội ở các vùng nông thôn . Trong phát triển công nghiệp nông thôn thì phải đặc biệt chú ý phát triển công nghiệp chế biến nông sản để đảm bảo tiêu thụ nông sản cho nông dân. Hiện nay, nhiều cơ sở chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp, kể cả cơ sở quy mô lớn, thiết bị và công nghệ còn lạc hậu, hiệu quả thấp, chưa làm được vai trò là người bao mua tin cậy của nông dân, chưa có cơ chế hợp lý để gắn lợi ích của các nhà máy chế biến với lợi ích của nông dân, các hộ nông dân sản xuất nguyên liệu thường phải chịu thiệt thòi, thậm chí thua lỗ. Vì vậy, việc ưu tiên đầu tư nâng cấp, mở rộng các kho chứa, thiết bị phơi sấy, bảo quản sau thu hoạch, các cơ sở chế biến thuộc các thành phần kinh tế trong nông nghiệp đi đôi với chấn chỉnh hoạt động theo hướng gắn kết hài hòa hiệu quả của nhà máy với lợi ích của nông dân, phải được coi là yêu cầu quan trọng để mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân và nâng cao chất lượng hàng nông sản xuất khẩu. Chính phủ sẽ bổ sung chính sách hỗ trợ về vốn vay, về thuế, về chuyển giao công nghệ đối với các cơ sở chế biến nông sản ở nông thôn để giúp họ tự vươn lên đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ba là, thực hiện chính sách ruộng đất theo hướng thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, trên cơ sở sử dụng ruộng đất có hiệu quả. Cho phép tích tụ ruộng đất lành mạnh, nhưng không làm bần cùng hóa một bộ phận nông dân. Tích tụ ruộng đất phải đi đôi với phát triển ngành nghề, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn cho dân cư nông thôn. Phát triển kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau ở những nơi có nhiều ruộng đất, khai phá đất hoang để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc… Chính sách đất đai phải tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện có và khai thác nhanh đất hoang hóa đang còn chiếm một diện tích lớn; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng đất vào mục đích chuyên dùng phù hợp với quy hoạch, đặc biệt là đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Trên nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài với các quyền cụ thể tùy mục đích và đối tượng sử dụng đất. Bốn là, đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, tăng nhanh trang bị kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất nông nghiệp và nông thôn, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cho nông dân. Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất và sử dụng sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp. Nâng cao dần trình độ công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch. Lựa chọn và nhanh chóng tiếp thu những công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến ở những khâu, những ngành then chốt, có ý nghĩa quyết định và tác động trực tiếp đến việc đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ của nhiều ngành khác. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp nông thôn theo sở trường, thế mạnh về năng lực và bàn tay khéo léo của người Việt Nam, phù hợp với nhu cầu thị trường. Công nghiệp và dịch vụ sẽ là những ngành kinh tế ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong kinh tế nông thôn. Nhà nước giúp đào tạo cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật, các nhà kinh doanh cho nông nghiệp, nông thôn. Năm là, chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cả trong và ngoài nước. Đây là vấn đề bức xúc, đóng vai trò quyết định trở lại đối với sản xuất và đời sống của nông ngư dân. Cả nước là một thị trường thống nhất, phát triển sản xuất tăng sức mua dân cư, củng cố hệ thống thương nghiệp nông thôn. Tạo ra một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mà ta có ưu thế và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Giữ vững và mở rộng thị trường đã tạo lập được. Đẩy mạnh việc tìm thị trường mới, đa phương và đa dạng hóa quan hệ thương mại quốc tế, giảm sự tập trung vào một vài đối tác và việc mua bán qua thị trường trung gian nhằm tăng hiệu quả xuất khẩu và tạo được thị trường ổn định. Xuất phát từ nhu cầu thị trường để tổ chức sự hợp tác liên kết từ sản xuất đến lưu thông chế biến tiêu thụ từng loại nông sản. Sáu là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong kinh tế nông nghiệp, nông thôn. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải gắn với chuyển đổi, xây dựng và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác trên cơ sở tự nguyện của các hộ nông dân theo hướng chuyển đổi hợp tác xã

    TRÌNH ÐỘ CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP VÀ

    TÍNH THÍCH ỨNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH ÐÀO TẠO

    1

    PGS.TS. Thái Bá Cần

    Mục tiêu của báo cáo là khảo sát trình độ công nghệ trong sản xuất công

    nghiệp ở một số lĩnh vực kỹ thuật, sự thích ứng của chương trình đào tạo với

    thực tế sản xuất, từ đó đề xuất những kiến nghị trong việc xây dựng chương

    trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Vậy chất lượng

    đào tạo là gì?

    Thông thường nói đến chất lượng đào tạo, người ta chú ý đến ba khía

    cạnh: chất lượng chương trình học, chất lượng giảng dạy và chất lượng học tập.

    Nhưng yếu tố cuối cùng mà xã hội quan tâm chính là sản phẩm của quá trình

    đào tạo: nguồn nhân lực.

    Việc đánh giá sản phẩm đào tạo qua việc nghiên cứu khả năng hoàn tất

    chương trình học của sinh viên qua các kỳ thi và văn bằng là việc đánh giá hiệu

    qủa trong của quá trình đào tạo – công việc thường làm của các trường đại học.

    Ðiều mà các trường đại học của ta thuờng chưa quan tâm đầy đủ là việc đánh

    giá “sự thành công nghề nghiệp” (professional success) của người sinh viên sau

    khi ra trường – đánh giá hiệu qủa ngoài.

    Sự thành công của sinh viên tốt nghiệp được thể hiện qua bốn nhóm yếu

    tố:

    − Các số đo về thời gian chuyển tiếp từ khi người sinh viên tốt nghiệp

    cho đến khi tìm được việc làm.

    − Các số đo về sự thành công nghề nghiệp, trong đó bao gồm cả mức

    lương và chức vụ được đảm nhận.

    − Các số đo chủ quan về sự thành công nghề nghiệp, bao gồm những

    nhận xét chủ quan của người cựu sinh viên về công việc làm của mình: sự

    thỏa mãn trong công việc, cơ hội sử dụng các kiến thức, khả năng đã được

    học tập ở nhà trường, cơ hội tiến xa hơn trong vấn đề đào tạo chuyên

    môn, sự hợp tác với các đồng nghiệp và tính chất an toàn của công việc

    đang đảm nhận cũng như các đánh giá khách quan của người sử dụng lao

    động về khả năng của sinh viên tốt nghiệp (SVTN).

    − Các đánh giá của cựu sinh viên về mối liên hệ giữa chương trình giảng

    dạy – học tập ở nhà trường với thực tiễn nghề nghiệp.

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng đào tạo, nhưng định nghĩa

    đơn giản và được nhiều người chấp nhận là:

    Chất lượng đào tạo là mức độ đáp ứng mục tiêu đề ra

    1

    Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM

    Trong báo cáo này chúng tôi trình bày một số kết qủa khảo sát về trình độ

    công nghệ của sản xuất công nghiệp của một số ngành trong khu vực tam giác

    công nghiệp quan trọng phía Nam: TP. Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương,

    những đánh giá của các cựu sinh viên, những người sử dụng lao động về sự

    thành công nghề nghiệp của những sinh viên tốt nghiệp và về mối liên hệ giữa

    chương trình giảng dạy – học tập ở nhà trường với thực tiễn nghề nghiệp để trên

    cơ sở đó có thể đưa ra được những mục tiêu chính xác cho việc xây dựng

    chương trình đào tạo.

    Mỗi chương trình đào tạo có một mục tiêu cụ thể: sản phẩm được đào tạo

    ra phải thực hiện được những công việc nhất định trong xã hội. Mục tiêu cụ thể

    này phải phù hợp với mục tiêu giáo dục chung đối với từng cấp học đã được qui

    định trong luật giáo dục và phù hợp với những yêu cầu của thực tế sản xuất.

    Ðể xây dựng hoặc đổi mới một chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu

    đề ra, ngoài việc phân tích các yếu tố bên trong như: khối lượng kiến thức, nội

    dung kiến thức, trình độ kỹ năng v.v.. một vấn đề hết sức quan trọng là phải

    phân tích được mối quan hệ giữa chương trình đào tạo, chương trình các môn

    học với môi trường bên ngoài – nơi mà những người tốt nghiệp sẽ ra công tác.

    Ðiều này, trong những năm qua chưa được coi trọng đúng mức, chính vì vậy mà

    sản phẩm đào tạo của các trường luôn bị xã hội cho là chưa đáp ứng yêu cầu về

    chất lượng làm việc, không phù hợp thực tế v.v.. mặc dù trong thời gian học tập

    ở trường sinh viên đã phải học một khối lượng kiến thức khổng lồ !

    Vì vậy, việc nghiên cứu môi trường bên ngoài – trình độ công nghệ và các

    yêu cầu thực tiễn sản xuất – để xây dựng mới cũng như cải tiến các chương trình

    đào tạo hiện có là một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay. Việc nghiên cứu này

    sẽ làm tăng hiệu quả đào tạo giúp cho các trường đưa ra được những chương

    trình đào tạo phù hợp để các sản phẩm được đào tạo ra đáp ứng được các yêu

    cầu nhân lực của xã hội.

    1. Khảo sát về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp:

    Trình độ công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau rất khác nhau. Sự cách biệt

    còn thể hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực. Khó có thể đưa ra

    được một nhận xét chung về trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp hiện

    nay. Vì vậy, việc đánh giá trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp được thực

    hiện bằng các khảo sát riêng rẽ trong từng lĩnh vực.

    Trong quá trình thâm nhập thực tế để thu thập các thông tin phục vụ cho

    việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã chọn một số doanh nghiệp điển hình trong

    từng lĩnh vực để khảo sát. Các lĩnh vực được chọn để khảo sát là:

    Cơ khí chế tạo máy

    Cơ khí ô tô

    Ðiện

    Ðiện tử

    Công nghệ cắt may

    Công nghệ In

    Có trên 50 cơ quan, đơn vị đã được khảo sát trong quá trình thâm nhập thực

    tế, trong đó có:

    Công ty TNHH sửa chữa ôtô Sài Gòn.

    Công ty TNHH Thuận Lân (Peugeot Importer)

    Công ty ôtô Toyota Biên Hòa

    Công ty cơ khí ôtô Sài Gòn (SAMCO)

    Công ty ôtô Toyota Tân Bình

    Công ty ôtô Mêkông

    Công ty ôtô Mercedes – Benz Việt Nam

    Công ty ôtô Ford Việt Nam

    Công ty ôtô Isuzu Việt Nam

    Công ty ôtô Ngôi Sao (VINASTAR)

    Công ty điện tử Toshiba

    Công ty thiết bị điện Thibidi

    Nhà máy thuốc lá Sài Gòn

    Nhà máy thủy điện Trị An

    Nhà máy Giấy Tân Mai

    Nhà máy Casumina

    Công ty truyền tải điện 4

    Công ty TNHH nhựa và hóa chất TPC VINA

    Công ty sữa Việt Nam Foremost

    Công ty sản phẩm máy tính Fujitsu – Việt Nam

    Công ty thang máy Viet – Sin

    Công ty xây lắp và phát triển Bưu điện TP. Hồ Chí Minh

    Công ty điện tử ANAM

    Công ty TNHH V.A.E

    Công ty công nghiệp chính xác (VPIC)

    Công ty may Nhà Bè

    Công TNHH TM – DV điện tử công nghiệp và tự động hóa

    Công ty cổ phần thủy sản số 1

    Công ty Cổ phần Cơ – Ðiện lạnh (REE)

    Công ty TNHH thiết bị lạnh Việt.

    ….

    Các ý kiến đánh giá về thực trạng công nghệ một số ngành:

    1. Ngành công nghệ Cơ khí chế tạo máy:

    Qua khảo sát 14 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ khí cho thấy:

    1. Các cơ sở sản xuất trong nước:

    Hầu hết các thiết bị máy móc có độ tuổi trung bình 30 năm.

    Công suất thiết bị sử dụng rất thấp khoảng 20% 30%, các định mức

    thiết kế tiêu thụ năng lượng đều rất cao.

    Chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định, thiếu phương tiện đo lường

    kiểm soát chất lượng.

    Khoảng 20% trang thiết bị được đổi mới, trong đó chỉ có khoảng 10%

    thiết bị hiện đại nhưng không đồng bộ, chủ yếu ở các cơ sở sản xuất nhỏ, tư

    nhân.

    Một số cơ sở đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.

    1. Các cơ sở sản xuất liên doanh

    Trang thiết bị chủ yếu được sản xuất từ năm 1990 đến năm 1995.

    Mức độ tự động hóa chỉ đạt tới bán phần, chưa có cơ sở đạt mức độ tự

    động hóa hoàn toàn.

    Công suất thiết bị đạt từ 70% đến 80%.

    90% cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO.

    1. Các cơ sở dịch vụ

    Công tác chủ yếu là lắp ráp, bảo trì, bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ.

    1. Ngành công nghệ Cơ khí ôtô:

    Qua khảo sát 10 doanh nghiệp gồm 6 doanh nghiệp liên doanh, 1 doanh

    nghiệp quốc doanh, 3 doanh nghiệp tư doanh thuộc lĩnh vực cơ khí ô tô cho

    thấy:

    Các doanh nghiệp Cơ khí ôtô hoạt động rất đa dạng bao gồm nhiều lĩnh vực:

    sửa chữa, mua bán phụ tùng, lắp ráp tổng thành ôtô, thiết kế chế tạo khung

    thùng ôtô, thiết kế chế tạo bộ phận ôtô chuyên dùng, mua bán ôtô và dịch vụ

    hậu mã, v.v.. Nhìn chung, các doanh nghiệp cơ khí ôtô đều có mức độ phát triển

    tương đồng về trình độ công nghệ.

    Trang thiết bị chủ yếu được sản xuất từ sau năm 1990, đa số thuộc khối

    G7 và Nhật.

    Mức độ tự động hóa của thiết bị : do người trực tiếp điều khiển chiếm

    50%, bán tự động chiếm 40% và tự động hoàn toàn chiếm 10%.

    1. Ngành công nghệ Ðiện – Ðiện tử:

    Qua khảo sát 23 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Ðiện – Ðiện tử cho thấy:

    Công nghệ mà các công ty, nhà máy đang sử dụng thuộc thế hệ từ tương

    đối mới đến thế hệ mới chiếm 81,2%. Các nhà doanh nghiệp đã tự đánh giá về

    trình độ công nghệ của đơn vị mình so với các xí nghiệp cùng lĩnh vực trong

    nước là tân tiến chiếm 62,5%. So với các xí nghiệp cùng lĩnh vực trong khu vực

    và trên thế giới: tiên tiến chiếm 44%, trung bình chiếm 56%

    Tóm lại, thực trạng công nghệ của các công ty, nhà máy trong lĩnh vực Ðiện

    – Ðiện tử khu vực thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận là: công nghệ thuộc

    thế hệ mới và trình độ công nghệ so với khu vực và trên thế giới là trung bình.

    1. Ngành Công nghệ cắt may:

    Ða số trang thiết bị đang được sử dụng tại các doanh nghiệp đều sản

    xuất từ khối G7 và Nhật. Có 1/3 là tương đối mới và 2/3 là mới. Thiết bị cũ

    hầu như không còn được sử dụng.

    Mức độ tự động hóa: hầu hết là tự động bán phần, số còn lại là do

    người trực tiếp điều khiển.

    Trình độ công nghệ: các doanh nghiệp tự đánh giá có trình độ công

    nghệ mới chiếm 75% và trung bình chiếm 25% so với các doanh nghiệp

    trong nước. So với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực trong khu vực và trên thế

    giới thì 75% cho là trung bình, 25% cho là mới.

    1. Ngành Công nghệ In:

    Ngành sản xuất in bao gồm 3 công đoạn: trước in – in – sau in. Vì năng lực

    sản xuất, phần lớn các cơ sở in (từ gọi chung các đơn vị kinh doanh hoạt động

    trong các lĩnh vực liên quan đến mọi hình thức gia công, sản xuất các loại ấn

    phẩm) nhỏ chỉ tập trung thực hiện một công đoạn sản xuất trong 3 công đoạn

    trên. Các cơ sở in quốc doanh lớn thường thực hiện cả 3 công đoạn để chủ động

    trong sản xuất, hoàn thành trọn vẹn ấn phẩm không bị lệ thuộc vào hoạt động

    của các cơ sở khác. Trong 11 cơ sở in trả lời khảo sát, 100% có đủ cả 3 khâu

    sản xuất

    1. Công đoạn trước in:

    Hầu hết các cơ sở in tại thành phố đều dùng phương pháp chế bản điện tử.

    Phương pháp chế bản quang cơ đang bị loại bỏ dần, hiện chỉ còn tồn tại ở các xí

    nghiệp in nhỏ ở các tỉnh.

    Ðể thực hiện việc chế bản điện tử các cơ sở in đều trang bị các máy vi tính

    (IBM hay MAC) có cấu hình phù hợp cho công việc nhưng chỉ xí nghiệp lớn mới

    có đủ khả năng trang bị các máy quét hình (scanner) chuyên dùng có chất lượng

    cao và các máy xuất phim khổ lớn. Trong 11 cơ sở in trả lời khảo sát, 8/11 có

    máy quét hình và xuất phim thuộc thế hệ mới. Tại các cơ sở này yếu tố cạnh

    tranh nằm chủ yếu ở giai đoạn thiết kế ấn phẩm.

    Trong thời gian tới sẽ dần dần chuyển qua công nghệ ghi bản trực tiếp

    (không qua xuất phim – phơi bản như hiện nay) với máy móc hoàn toàn hoạt

    động bằng vi mạch trên cơ sở kỹ thuật số.

    1. Công đoạn in:

    Phần lớn các máy in của các cơ sở in lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà

    Nội được sản xuất từ năm 1985 trở lại với mức độ tự động hóa tương đối cao,

    một số xí nghiệp in (Liksin, Trần Phú, In quân đội 2, v.v..) đã nhập máy tự động

    hóa hoàn toàn, thuộc thế hệ mới nhất của thế giới.

    1. Công đoạn sau in:

    Mới bắt đầu được chú ý đầu tư trong 5 năm gần đây. Có 2 lý do chính khiến

    cho các cơ sở in ít chú trọng giai đoạn sau in này:

    Nhu cầu xã hội chưa đòi hỏi các ấn phẩm có mức độ hoàn tất cao cấp,

    đa dạng, đặc biệt, v.v..

    Giá nhân công tương đối rẻ, phù hợp cho việc gia công thủ công, đơn

    giản.

    Vì 2 lý do nêu trên nên công việc thành phẩm phần lớn đang được thực

    hiện thủ công hoặc bán thủ công với một số kỹ thuật hoàn tất sản phẩm đơn

    giản.

    Tóm lại, mức độ công nghệ của các cơ sở in không đồng đều. Các cơ sở in

    có quy mô lớn, các cơ sở in tại các thành phố lớn có công nghệ, trang thiết bị

    hiện đại hơn các cơ sở in có quy mô nhỏ, các cơ sở in tại các thành phố nhỏ.

    Nhìn chung, mức độ công nghệ trước in và in cao hơn giai đoạn sau in.

    1. Khảo sát tính thích ứng của chương trình đào tạo với thực tế sản

    xuất:

    Sự thích ứng của chương trình đào tạo với thực tế sản xuất là mối quan hệ

    giữa khả năng lao động của sinh viên tốt nghiệp với yêu cầu thực tiễn sản xuất.

    Mối quan hệ này có thể được thể hiện trên nhiều phương diện như:

    Ý kiến đánh giá của người quản lý lao động về khả năng đáp ứng công

    việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp, qua đó cho thấy về khả năng thích ứng

    của chương trình đào tạo.

    Ý kiến của cựu sinh viên về kiến thức được lĩnh hội trong các chương

    trình đào tạo của nhà trường so với yêu cầu thực tiễn trong sản xuất.

    Nhu cầu xã hội đối với đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong tương lai.

    Cụ thể với các ngành đào tạo như sau:

    1. Ý kiến của người sử dụng lao động:
    2. Ngành Cơ khí chế tạo máy:

    Các cơ sở sản xuất luôn có nhu cầu cao trong tuyển dụng kỹ sư cơ khí.

    Các cơ sở dịch vụ đề nghị nên trang bị kiến thức tổng hợp cho sinh viên.

    1. Ngành Cơ khí ôtô:

    Qua thực tế khảo sát và rà soát lại chương trình đào tạo ngành Cơ khí động

    lực (Cơ khí ôtô) của trường, chúng tôi có một số nhận xét sau:

    Hầu hết các doanh nghiệp đều yêu cầu người kỹ sư phải có năng lực tổ

    chức quản lý, có trình độ tin học ứng dụng ở mức khá hoặc giỏi. Riêng các

    doanh nghiệp có thiết kế chế tạo còn đòi hỏi người kỹ sư phải có khả năng

    lập trình ở mức khá hoặc giỏi.

    Về ngoại ngữ, các doanh nghiệp luôn cần người kỹ sư có trình độ B hoặc

    C một ngoại ngữ nào đó phù hợp với công việc được giao, phổ biến nhất là

    Anh ngữ.

    Về kiến thức cơ bản cần trang bị cho sinh viên ở mức tổng quát để có

    thể thích ứng với nhiều mảng công tác khác nhau, trang bị đầy đủ kiến thức

    chuyên môn thuộc chuyên ngành hẹp, kiến thức nghệ thuật giao tiếp khách

    hàng, kiến thức an toàn lao động và luật lao động, tác phong công nghiệp

    cho người lao động tương lai.

    1. Ngành Ðiện – Ðiện tử:

    Qua tìm hiểu từ các buổi trao đổi trực tiếp cũng như căn cứ vào các phiếu

    khảo sát nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực tốt nghiệp từ trường Ðại học Sư

    phạm Kỹ thuật, kết quả cho thấy:

    Các

    nhà quản lý đề xuất cần trang bị thêm cho sinh viên:

    Kiến thức về lĩnh vực tự động thuộc chuyên ngành.

    Kiến thức tổ chức quản lý.

    Kiến thức về công nghệ thông tin.

    Kiến thức ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành.

    1. Ngành Công nghệ cắt may
    2. Khả năng tiếp cận thực tế công việc

    Qua số liệu điều tra, khảo sát tại các công ty đang trực tiếp sử dụng đội ngũ

    kỹ sư ngành Công nghệ cắt may cho thấy:

    Có 85% ý kiến cho rằng sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức vào

    thực tế sản xuất đạt khá (70% đến 80%) và đáp ứng tốt nhu cầu thực tế sản

    xuất. Tuy nhiên, trường chỉ trang bị được cho sinh viên các kiến thức chuyên

    môn cơ bản, tạo tiền đề cho việc tiếp thu những kiến thức chuyên môn nâng

    cao sau này. Vì vậy, so với thực tế sản xuất có một chênh lệch khá xa.

    Có 57,14% lãnh đạo các đơn vị cho rằng do sinh viên ít được đi tham

    quan thực tế, thiếu thực tập nhà máy nhất là môn qui trình công nghệ, sinh

    viên chỉ đáp ứng được về mặt lý thuyết.

    Có 57,1% ý kiến lãnh đạo các công ty và 35,5% ý kiến của các kỹ sư

    cho rằng việc trang bị cho sinh viên khối kiến thức tin học – ngoại ngữ chuyên

    ngành may là cấp thiết.

    Tuy còn nhiều bất cập nhưng số liệu khảo sát cũng cho thấy:

    Có 38,6% ý kiến lãnh đạo các công ty cho rằng sinh viên sau khi tốt

    nghiệp nắm vững các kiến thức chuyên môn tổng quát, nhưng khả năng vận

    dụng vào thực tế còn nhiều hạn chế.

    Có 80% ý kiến lãnh đạo các công ty đánh giá các sinh viên sau khi tốt

    nghiệp có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến, có phương

    pháp làm việc khoa học, có ý thức cầu tiến, có sáng tạo trong khoa học, nhạy

    bén nắm bắt công việc.

    Tuy nhiên do Kiến thức chuyên môn mới chưa được cập nhật kịp thời

    nên khả năng đáp ứng với công việc thực tế của sinh viên chưa cao.

    1. Ngành Công nghệ In:

    Thống kê các bản trả lời khảo sát của 13 cơ sở in cho thấy các kiến thức mà

    các cơ sở sử dụng nhân lực yêu cầu trang bị cho sinh viên như sau:

    Kiến thức tổng quát (theo diện rộng)

    : 4/13

    Kiến thức sâu thuộc chuyên ngành hẹp

    : 9/13

    Kiến thức tổ chức quản lý

    : 9/13

    Kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin

    : 8/13

    Kiến thức ngoại ngữ

    : 9/13

    Kiến thức điều khiển tự động

    : 4/13

    Qua tiếp xúc trực tiếp với các đơn vị đã tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ

    khoa Kỹ thuật in, chúng tôi ghi nhận được các lời phê bình như sau:

    Kiến thức tay nghề thực tế yếu, thiếu khả năng tổng hợp.

    Ý thức làm việc tập thể yếu.

    Thiếu khả năng quản lý, tổ chức công việc (điều độ sản xuất).

    Thiếu kiến thức về kinh tế,

    Khả năng đọc, dịch tài liệu chuyên ngành yếu.

    1. Ý kiến của cựu sinh viên:

    Qua khảo sát 259 ý kiến của cựu sinh viên (tốt nghiệp Ðại học, Cao đẳng)

    loại hình đào tạo chính qui, không chính qui; Trong đó:

    10% thuộc ngành Cơ khí chế tạo máy

    14% thuộc ngành Cơ khí ôtô

    7% thuộc ngành Kỹ thuật công nghiệp

    10% thuộc ngành Kỹ thuật nữ công

    03% thuộc ngành Kỹ thuật in

    20% thuộc ngành Kỹ thuật điện – điện tử

    15% thuộc ngành Ðiện khí hóa – cung cấp điện

    14% thuộc ngành Công nghệ cắt may

    06% thuộc ngành Thiết kế máy

    Kết quả nhận được như sau :

    1. Sự thích ứng của chương trình đào tạo:

    Chưa tốt

    : 34%

    Ðạt yêu cầu

    : 56%

    Rất tốt

    : 7%

    Không có ý kiến

    : 3%

    1. Khả năng bản thân đáp ứng với công việc:

    Bình thường

    : 33%

    Khá tốt

    : 24%

    Tốt

    : 30%

    Rất tốt

    : 4%

    Còn thấp

    : 7%

    Không có ý kiến

    : 2%

    1. Ý kiến về tính phù hợp đối với các khối kiến thức và kiến nghị:

    Cơ bản:

    Hợp lý

    : 27%

    Chưa hợp lý

    : 20%

    Thêm thời gian

    : 16%

    Bớt thời gian

    : 13%

    Không có ý kiến

    : 24%

    Cơ sở:

    Hợp lý

    : 28%

    Chưa hợp lý

    : 18%

    Thêm thời gian

    : 14%

    Bớt thời gian

    : 11%

    Không có ý kiến

    : 29%

    Chuyên ngành

    Hợp lý

    :

    8%

    Chưa hợp lý

    :

    19%

    Thêm thời gian

    :

    63%

    Không ý kiến

    :

    10%

    1. Ðiều chỉnh môn học

    Thời gian

    Tăng lý thuyết

    : 49%

    Tăng thực hành

    : 75%

    Giảm lý thuyết

    : 14%

    Giảm thực hành

    : 3%

    Nội dung

    Tăng lý thuyết

    : 69%

    Tăng thực hành

    : 73%

    Giảm lý thuyết

    : 19%

    Giảm thực hành

    : 3%

    Cần học thêm

    Lý thuyết

    : 43%

    Thực hành, thí nghiệm : 40%

    Thực hành

    : 19%

    Cần bổ sung

    Thí nghiệm

    :

    6%

    Thực hành mô phỏng

    :

    31%

    Thực hành sản xuất

    :

    61%

    Thực tập sản xuất ngoài trường:

    Rất cần thiết

    :

    66%

    Nên

    :

    24%

    Không cần thiết

    :

    9%

    1. Bằng lòng với Ngành, Trường

    Ngành học

    :

    91%

    Không

    :

    7%

    Trường học

    :

    92%

    Không

    :

    5%

    III. Một số kết luận

    Về trình độ công nghệ:

    1. Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp trên địa bàn khảo sát rất

    không đồng đều: có sự chênh lệch lớn trong trình độ công nghệ giữa các ngành

    nghề và trong mỗi nghành trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp cũng có

    khoảng cách khá lớn.

    1. Nhìn chung, ít có doanh nghiệp có trình độ công nghệ ở mức cao, phần lớn ở

    mức trung bình của khu vực, còn nhiều doanh nghiệp đang sản xuất với các công

    nghệ cũ, đặc biệt trong lĩnh vực Cơ khí.

    1. Trình độ quản lý của các doanh nghiệp chưa được cải tiến nhiều, chỉ mới có

    một tỷ lệ nhỏ các doanh nghiệp thực hiện việc quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

    ISO.

    Về chất lượng đào tạo:

    1. Ở các mức độ khác nhau, theo đánh gía của người sử dụng lao động khoảng

    70% SVTN đáp ứng được nhu cầu công việc, con số đó theo sự tự đánh gía của

    cựu sinh viên là 90%.

    1. Những mặt yếu kém của SVTN ở chỗ:

    Kiến thức lý thuyết tạm được nhưng tay nghề thực tế yếu.

    Kiến thức rời rạc, thiếu khả năng tổng hợp. Không biết vận dụng kiến

    thức để giải quyết các vấn đề có tính hệ thống.

    Không biết cách làm việc tập thể, theo đội nhóm với tư cách một thành

    viên.

    Thiếu khả năng quản lý, tổ chức công việc (điều độ sản xuất).

    Thiếu kiến thức về kinh tế, lúng túng khi phải tính gía thành sản phẩm,

    v.v..

    Trình độ ngoại ngữ yếu, đặc biệt là khả năng đọc dịch tài liệu kỹ thuật

    chuyên ngành.

    Về sự thích ứng của chương trình đào tạo

    1. Có 63% cho rằng chương trình đào tạo là phù hợp, 34% cho rằng chưa hợp

    lý và 3% không có ý kiến. Con số này cho thấy chương trình đào tạo còn có

    nhiều bất ổn cần phải điều chỉnh.

    1. Về khối kiến thức Cơ bản và Cơ sở ý kiến khá phân tán nhưng đối với khối

    kiến thức chuyên ngành ý kiến khá tập trung, cụ thể là chỉ có 8% cho là hợp lý

    còn lại phần lớn đều cho rằng cần tăng cường cả về thời lượng lẫn nội dung.

    1. Một số đề xuất cụ thể của cựu sinh viên tập trung vào các điểm:

    Ðề nghị giảm các học phần chính trị, quân sự

    Tăng cường thí nghiệm cho các môn học cơ sở và lý thuyết chuyên

    ngành.

    Bổ sung các môn học mới như: ứng dụng máy tính trong nghề nghiệp,

    kiến thức quản lý, các công nghệ mới như PLC, thủy lực, khí nén, lập trình

    gia công trên máy tính, v.v.. kiến thức về bảo trì, bảo dưỡng công nghiệp.

    Tăng cường thực tập sản xuất ở xí nghiệp.

    Nên cho phép sinh viên ở học kỳ cuối được tự chọn hướng chuyên sâu

    trong ngành đào tạo để có thể đáp ứng ngay cho công việc sau khi tốt

    nghiệp.

    Những ý kiến trên là hết sức xác đáng và cần được điều chỉnh khi thiết kế,

    điều chỉnh các Chương trình đào tạo ở trường ÐHSP KT nói riêng và ở các trường

    ÐH Kỹ thuật nói chung.

    Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, hướng nào?    
    Thứ hai, 04 Tháng 1 2010 10:14
    Mặc dù ngành công nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam đã và đang tăng trưởng khá nhanh nhưng phần lớn các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ, manh mún và năng suất thấp.

     

    Tại buổi tọa đàm “Thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin – truyền thông Việt Nam” do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 23/12, ông Nguyễn Trọng Đường, Vụ trưởng Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành công nghiệp công nghệ thông tin luôn đạt từ 20- 25%/năm. Năm 2008, doanh thu của ngành này đạt hơn 5,22 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2007; năm 2009 cũng ước đạt gần 20%, tương đương khoảng 6,26 tỷ USD.

    Nổi bật là một số ngành như công nghiệp phần mềm, trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng trung bình là 35%/năm; công nghiệp nội dung số tăng trên 55%/năm; công nghiệp phần cứng, điện tử luôn thuộc top 10 ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao; đã có nhiều khu công nghiệp, trung tâm công nghệ thông tin tập trung ở Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng…

    Mặc dù vậy, theo ông Đường, hầu hết các doanh nghiệp công nghệ thông tin đều có quy mô nhỏ, manh mún và năng suất thấp. Như ngành công nghiệp điện tử và phần cứng máy tính đang chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại có giá trị gia tăng rất thấp, chủ yếu là lắp ráp, trong khi công nghệ lõi – lĩnh vực có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao thì lại chưa được đầu tư.

    Ngành công nghiệp phần mềm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng phát triển chủ yếu là… tự phát, mới chỉ tập trung vào các dịch vụ giải trí, các sản phẩm nội dung số nhập ngoại vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các sản phẩm được phát hành.

    “Dù ngành công nghiệp nội dung số đạt 700 hay 800 triệu USD nhưng có tới 70- 80% giá trị là “của những người chơi game đóng góp”, chứ đâu phải mạnh về sản xuất, ngành công nghiệp nội dung số đã có gì đâu”, ông Chu Tiến Dũng, Giám đốc Công ty phần mềm Quang Trung nói.

    Tuy nhiên, theo nhận định của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong những năm tới, ngành này sẽ còn phát triển rất mạnh do xu hướng hội tụ ngày càng sâu rộng giữa điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin. Đặc biệt là ngành nội dung số sẽ có xu hướng phát triển bùng phát, khi các dịch vụ, tiện ích được dự báo sẽ phát triển mạnh trên nền công nghệ 3G.

    “Hơn nữa, Việt Nam đã và đang trở thành điểm đến hấp của nhiều nhà đầu tư và các công ty đa quốc gia, như Intel, Samsung, Foxcon…”, báo cáo của Bộ này cho biết.

    Cần có những công ty chiến lược

    Theo dự tính của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2015, doanh thu của toàn ngành này sẽ đạt khoảng 25,5 tỷ USD, với tốc độ trung bình hàng năm là 20%, trong đó công nghiệp phần cứng là 8 tỷ USD, phần mềm là 2,2 tỷ; nội dung số là 2,3 tỷ và công nghiệp viễn thông là 13 tỷ USD. Còn mục tiêu đến năm 2020, doanh thu toàn ngành đạt khoảng 50 tỷ USD.

    Tuy nhiên, câu hỏi mà nhiều chuyên gia tâm huyết đặt ra là liệu Việt Nam sẽ phát triển nền công nghiệp công nghệ thông tin theo hướng mạnh về sản xuất, để tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu riêng của Việt Nam hay chỉ là nước tiêu thụ, ứng dụng mạnh các sản phẩm, phát minh của thế giới.

    Một số ý kiến cho rằng, để có một nền công nghiệp công nghệ thông tin mạnh thì Việt Nam phải có những công ty, tập đoàn chiến lược của mình.

    Sở dĩ nền công nghiệp công nghệ thông tin của Trung Quốc đang phát triển mạnh là do nhà nước này đã có những chính sách hỗ trợ, đầu tư rất mạnh vào các công ty chiến lược của mình như Huawei, ZTE, Lenovo và lấy các công ty này làm xương sống để phát triển.

    Trong khi đó, theo ông Thân Trọng Phúc, Giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ DVJ VinaCapital, lý do Đài Loan cũng có nền công nghiệp công nghệ thông tin đang khá phát triển là nhà nước đã có chính sách mạnh để “kéo” những kỹ sư Đài Loan đang làm bên Mỹ về để xây dựng các trung tâm sản xuất phần cứng của quốc gia.

    “Để phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin, Việt Nam cần phải có những chính sách riêng để xây dựng các công ty, trung tâm chiến lược, mạnh về công nghệ thông tin cho Việt Nam và trong chuỗi cung ứng sản phẩm quốc tế”, ông Phúc chia sẻ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]