Author: Đức Trong

  • Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ (NNC)

    Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ (NNC)

    Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ (NNC)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Vận dụng lý thuyết khi tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác, chế biến kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-n%E1%BB%99i-b%E1%BB%99-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-%C4%90%C3%A1-N%C3%BAi-Nh%E1%BB%8F-NNC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ (NNC)

    Giới thiệu đầu về bài viết

    Hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) là bộ phận thực hiện chức năng giám sát các hoạt động, nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý. Nó là sản phẩm được tạo ra từ yêu cầu của nhà quản lý. KSNB là những phương pháp và chính sách được thiết kế để ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách, quy trình được thiết lập. Quy mô của công ty ngày càng lởn, việc duy trì hệ thống KSNB là một yêu cầu bắt buộc. Hệ thống KSNB có ý nghĩa sống còn đối với công ty, vì nó giúp cho Công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ (NNC) đạt được các mục tiêu đã đặt ra và giảm thiểu tác hại của các rủi ro đối với công ty


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Vận dụng lý thuyết khi tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác, chế biến kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam

    Vận dụng lý thuyết khi tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác, chế biến kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam

    Vận dụng lý thuyết khi tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác, chế biến kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Quản trị chi phí chiến lược (SCNI) Công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-khi-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-m%C3%B4-h%C3%ACnh-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi-ph%C3%AD-trong-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-khai-th%C3%A1c-ch%E1%BA%BF-bi%E1%BA%BFn-kinh-doanh-%C4%91%C3%A1-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng lý thuyết khi tổ chức mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp khai thác, chế biến kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam

    Sơ lược phần đầu

    Kế toán quản trị (KTQT) là một tập hợp các kỹ thuật, hỗ trợ các chức năng quản lý, với mục tiêu tăng cường giá trị tổ chức. KTQT được thúc đẩy bởi nhu cầu của quản lý chứ không phải, bởi các bên liên quan. Thông qua việc sử dụng các kỹ thuật, KTQT bị ảnh hưởng bơi các tổ chức khác nhau, các yếu tố hành vi, kinh tế và xã hội. Chính vì vậy, các lý thuyết: Lý thuyết dự phòng, lý thuyết đại diện, lý thuyết xã hội học và lý thuyết tâm lý, thuyết phát triển bền vững thường xuyên được áp dụng trong các nghiên cứu KTQT. Áp dụng các lý thuyết khác nhau trong nghiên cứu KTQT, cho phép các nhà nghiên cứu hiệu KTQT từ những quan điểm khác nhau, dê đánh giá hiệu quả của các kỹ thuật khác nhau của KTQT, KTQT chi phi. KTQT là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản lý, đặc biệt đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp (DN) trong nén kinh tế thị trường. Để tổ chức và vận hành tốt công tác KTQT thì người xây dựng mô hình phải dựa vào các lý thuyết nền tảng, để có cơ sở thiết lập phù hợp. Xây dựng bộ máy quản lý, bộ máy kế toán, xác định mối liên hệ giữa các bên liên quan,… đặc biệt là khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường xung quanh, giúp cho các DN phát triển bén vững (PTBV). Trong lĩnh vực khai thác, chế biến và kinh doanh đá xây dựng ở Việt Nam đang rất quan tâm trong việc xây dựng hệ thống KTQT chi phí sản xuất, trong điếu kiện tăng trưởng xanh và PTBV. Các lý thuyết được vận dụng như: Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory) Các nhà nghiên cứu lý thuyết tổ chức truyén thống tin rằng, có thể xác định được cấu trúc tối ưu cho tất cả các tổ chức. Tuy nhiên, trong thực tế, cơ cấu tổ chức có sự thay đổi dáng kể. Các nhà lý thuyết đương dại cho rằng, không có duy nhất một cơ cấu tổ chức tối ưu cho tất cả các tổ chức. Hiệu suất của một tổchức phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức, sự thay đổi của môi trường, chiến lược, công nghệ, quy mô, văn hóa (Chenhall, 2007). Các lý thuyết phù hợp giữa cơ cấu tổ chức và các biến theo ngữ cảnh, được gọi chung là lý thuyết dự phòng. Theo lý thuyết dự phòng, KTQT được xem là thành phần của cơ cấu tổ chức. Việc thông qua lý thuyết dự phòng để nghiên cứu KTQT, là quá trình điểu chỉnh sự phù hợp giữa KTQT chi phí cụ thể với các biến thay đổi trong một tổ chức. Các biến như môi trường bên ngoài, công nghệ, cơ cấu tổ chức và quy mô đã được nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu KTQT, trong hơn 25 năm. Trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu KTQT, thay đổi tập trung vào các biến như vãn hóa và chiến lược (Langfied- Smilth, 2006). Bên cạnh đó, công nghệ là một biến ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu KTQT. Những thay đổi vẻ công nghệ dược sử dụng bởi các tổ chức thường dẫn đến những thay đổi trong các yêu cầu của tổ chức vé KTQT, KTQT chi phí. Ví dụ, tổ chức có sử dụng công nghệ sản xuất hàng loạt trong sản xuất, quá trình sản xuất yêu cấu hệ thống ngân sách hỗ trợ quản lý các hoạt động thường xuyên hàng ngày (Chenhall, 2007). Ngược lại, các tổ chức áp dụng công nghệ sản xuất đơn vị phức tạp, yêu cầu sự kiểm soát và điéu khiển linh hoạt, cẩn khuyến khích các nhân viên phản ứng nhanh với các tình huống khác nhau. Với việc giới thiệu các sáng kiến quản lý đại diện như Just in time (JIT) và quản lý chất lượng toàn diện, tổ chức cần có phương tiện hoạt động hiệu quả để đo lường kết quả của các sáng kiến chiến lược của các nhà quản trị. Quản lý hệ thống kiểm soát liên kết chiến lược và hoạt động giống như thẻ điểm cân bằng phù hợp với nhu cầu của quản trị. Vào những năm 1960, lý thuyết dự phòng đã được phát triển và sử dụng bởi các nhà nghiên cứu KTQT, giữa những năm 1970 đến những năm 1980. Lý thuyết dự phòng có tầm quan trọng đáng kể để nghiên cứu KTQT, vỉ nó đã thống trị kế toán hành vi từ năm 1975. Hơn nữa, lý thuyết dự phòng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về KTQT của Otley, (1980). ứhg dụng nội dung lý thuyết vào đề tài nghiên cứu: Lý thuyết dự phòng nghiên cứu KTQT chi phí, trong mối quan hệ tương tác với môi trường hoạt động của DN. Nói cách khác, một hệ thống KTQT chi phí thích hợp với DN phụ thuộc vào đặc điểm của DN và môi trường DN đó đang hoạt động. Điều này cho thấy, không thể xây dựng một mô hỉnh KTQT chi phí khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các DN Việt Nam, mà việc tổ chức KTQT chi phí vào DN phải tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đồng thời, phải phù hợp-với cơ cấu tổ chức, quy mô DN, trình độ công nghệ sản xuất và chiến lược tổ chức trong từng giai đoạn. Điểu này có nghĩa là, việc xây dựng một hệ thống KTQT chi phí hiệu quả phải thích hợp với từng DN, thích hợp với môi trường bên trong và bên ngoài mà DN đó đang hoạt động. Toomas Haldma, (2002) đã nghiên cứu thực nghiệm vé lý thuyết dự phòng được ứng dụng vào công tác KTQT ở các DN ỏ Estonia. Đồng thời, tác giả nhận định rằng, khía cạnh vể hành vi và tổ chức cũng ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động trong các đơn vị (ví dụ: Môi trường nơi làm việc, sự hài lòng trong công việc, lập dự toán ngân sách,…). Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu thêm những khía cạnh: Mối trường bên ngoài, công nghệ và khía cạnh tổ chức. Tác giả nhận định rằng, những vấn đề trên có ảnh hưởng đến hệ thống kế toán của các DN. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Theo Jensen & Meckling (1976), xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người đại diện – agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyén, để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty. Lý thuyết đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đểu muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình, thi có cơ sở để tin rằng, người quản lý công ty sẽ luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông. Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp cao với nhà quản lý cấp thấp hơn trong hệ thống phân quyển, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của tổ chức. Lý thuyết đại diện cho rằng, xung dột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng, giữa chủ thể và đại diện trong công ty. Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu, bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp, để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ dông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty. Theo Healy và Palepu, (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiên thưởng của các nhà quản trị, giải phảp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị DN (chủ DN) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Những hợp đồng này, thường yêu cầu DN phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: Hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực,… để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ cũng như những cam kết, trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị DN có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đẩu tư bên ngoài.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Quản trị chi phí chiến lược (SCNI) Công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam

    Quản trị chi phí chiến lược (SCNI) Công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam

    Quản trị chi phí chiến lược (SCNI) Công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Quy trình kế toán và đào tạo cử nhân kế toán dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi-ph%C3%AD-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-SCNI-C%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-n%C3%A2ng-cao-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-c%E1%BA%A1nh-tranh-trong-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quản trị chi phí chiến lược (SCNI) Công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam

    Sơ lược phần đầu

    Quản lý chi phí (CP) đặc biệt hữu ích trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) vì nó cho phép sử dụng vốn có hiệu quả. Ngoài ra, việc quản lý CP tốt sẽ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp (DN) thiết lập được mục đích chung là, giảm thiểu CP và tối đa hóa lợi nhuận. CP quản lý là một hoạt động có chức năng như một chiến lược để cắt giảm tất cả các CP không cần thiết, để đạt được một mức độ cao hơn của lợi nhuận trong hoạt động SXKD. Bài báo này nghiên cứu, làm cách nào để giảm thiểu việc chl thừa. Quản lý CP chiến lược tốt là để nâng cao hiệu quả, cũng như tối đa hóa lợi nhuận và nâng cao VỊ thế cạnh tranh trên thị trường, trong các DN Việt Nam. Quản lý CP có hiệu quả là giảm việc sử dụng các loại nguyên vật liệu, giảm CP tài sản cố dmh và CP hành chính, bao gồm cả việc lập kế hoạch, kiểm soát chi tiêu, kiểm soát CP, xác định chỉ số lợi nhuận trên từng sản phẩm, nghiên cứu thị trường tốt là điều cần thiết để cạnh tranh về giá,..

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Quy trình kế toán và đào tạo cử nhân kế toán dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

    Quy trình kế toán và đào tạo cử nhân kế toán dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Lý thuyết về thị trường tài chính và các định chế tài chính ứng dụng trong các thị trường Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Quy-tr%C3%ACnh-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-v%C3%A0-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-c%E1%BB%AD-nh%C3%A2n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-4.0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quy trình kế toán và đào tạo cử nhân kế toán dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0

    Tóm tắt

    Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thì việc chủ động chuẩn bị những nền tảng cần thiết để tiếp cận thành tựu công nghệ mới từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực kế toán và kiểm toán nói riêng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, vào thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán. Với Internet của vạn vật (IOT Internet of Things), các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực. Sau đó, thông qua Internet của các dịch vụ (IOS – Internet of Services), trong đó có hoạt động kế toán, kiểm toán, người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này – đồng nghĩa với sự phức tạp của mạng lưới dịch vụ và nhà cung cấp sẽ tăng lên rất nhiều. Thông qua việc kết nối này, các doanh nghiệp, các tổ chức sẽ tạo ra những mạng lưới thông minh trong toàn bộ chuỗi giá trị để có thể kiểm soát lẫn nhau một cách tự động, qua đó giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học. Kế toán, kiểm toán – khu vực được coi là đứng đầu về ứng dụng công nghệ thông tin sẽ chịu ảnh hưởng và tác động rất lớn của cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Trước hết, CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi hoàn toàn các quy trình và phương pháp kế toán, kiểm toán, phương thức trình bày các báo cáo tài chính, cung cấp thông tin, phương thức tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ kế toán, kiểm toán và kiểm tra đánh giá độ tin cậy của các thông tin kế toán, kiểm toán. Với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng kỹ thuật số, các sản phẩm, các kết quả xử lý thông tin kế toán, kiểm toán có thể tích hợp được với nhiều sản phẩm dịch vụ thông tin phục vụ các nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư, nhà quản lý và nhu cầu của xã hội . Hai là, những ảnh hưởng đáng kể của tiền kỹ thuật số, sự phát triển của các loại tiền kỹ thuật số, cũng như các loại tiền điện tử khác trong nền kinh tế sẽ buộc các tổ chức kinh tế phải thay đổi các phương thức thanh toán, thay đổi chức năng tiền tệ và cách thức điều hành hoạt động kế toán và kiểm toán.. Ba là, với sự xuất hiện của điện thoại thông minh (Smartphone) đã thay đổi cách thức giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh thông tin và các phương thức thanh toán trong nền kinh tế. Sự phát triển của các kênh thông tin, quy trình thu thập, xử lý thông tin qua Internet, Mobile banking, Tablet Banking, mạng xã hội (Social Media), chứng từ điện tử, ngân hàng kỹ thuật số, giao dịch không giấy tờ,… đã làm thay đổi nhiều quan hệ giao tiếp và phương thức chuyển tải và xử lý thông tin, phương thức thanh toán, quyết toán trong nền kinh tế. Bốn là, với CMCN 4.0, các vấn đề như giao diện lập trình ứng dụng (API), phân phối liền mạch hay phân tích thông minh sẽ là những ứng dụng phổ biến trong hoạt động kế toán, kiểm toán và phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán, đặc biệt là các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao của các định chế tài chính, các tổ chức dịch vụ. Trong đó, dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích hành vi các đối tượng giao dịch sẽ là xu hướng trong thời đại công nghệ số khi có thể thu thập dữ liệu bên trong và bên ngoài thông qua tổ chức phân tích hành vi của người giao dịch, người thụ hưởng các sản phẩm dịch vụ kế toán, kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại giá trị gia tăng, tiết giảm chi phí và hỗ trợ cho quá trình phân tích, đánh giá thông tin, quá trình đề ra các quyết định kinh doanh, quyết định quản lý của các tổ chức kinh tế – tài chính. Năm là, CMCN 4.0 chắc chắn sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn, theo những cách thức mới, trên những nội dung mới trong lĩnh vực cung cấp và sử dụng thông tin kế toán, kiểm toán trong thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán. Việt Nam là một trong những thị trường luôn sẵn sàng đón chờ những làn sóng công nghệ tiên tiến nhất. Thương mại điện tử đã và đang trở thành một xu hướng phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống người dân Việt Nam. Khi người dân bắt đầu thấu hiểu được thanh toán điện tử (TTĐT) tiện lợi, tiết kiệm, an toàn, thì Việt Nam hứa hẹn sẽ trở thành một trong những thị trường tiềm năng nhất để phát triển TTĐT. Cùng với sự phát triển của TTĐT, tiềm năng của thanh toán di động (TTDĐ) tại Việt Nam là rất lớn, khi số lượng người sử dụng smartphone ngày một gia tăng. Đây cũng là yếu tố đóng vai trò chủ đạo cho việc phát triển TTDĐ của Việt Nam trong tương lai. Có thể khẳng định rằng, người Việt nhận thấy TTDĐ, hóa đơn điện tử vừa an toàn, vừa tiện lợi, vì thế TTDĐ, hóa đơn điện tử sẽ bùng nổ thành một xu hướng. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam, đối thủ lớn nhất của TTĐT chính là tiền mặt, bởi tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán được ưa chuộng. Vì vậy, cần có chiến lược truyền đạt, phổ biến kiến thức cho những người dân, cho thế hệ trẻ, cho doanh nghiệp, cũng như các tổ chức kinhtế – tài chính. Khi người dân nắm vững được cách sử dụng các công cụ TTĐT, bảo vệ thông tin thanh toán cá nhân cũng như hiểu biết đầy đủ về những tiện ích, sự tiện lợi, sự nhanh chóng, kịp thời và an toàn của công nghệ này thì họ sẽ bắt đầu sử dụng rộng rãi, thường xuyên hơn. Điều đó cũng tạo cho người dân sự tin cậy, thụ hưởng những lợi ích từ các phương thức thanh toán mới đem lại. Sáu là, kế toán là một trong các lĩnh vực dẫn đầu về ứng dụng công nghệ thông tin. Công việc kế toán được tin học hóa. Phần mềm kế toán đã được ứng dụng khá phổ biến và đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình chính khóa ở hầu hết các cơ sở đào tạo về kế toán, kiểm toán. Quy trình kế toán đã và đang có sự thay đổi căn bản khi hầu hết các phần hành kế toán đều ứng dụng công nghệ thông tin, kể cả hoạt động lập chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính và cung cấp thông tin kế toán. Công nghệ Dữ liệu lớn cho phép xử lý nhanh và đơn giản các nghiệp vụ thuộc các phần hành kế toán, cho phép truy cập nhanh vào các dữ liệu trong một thời gian ngắn. Công nghệ chuỗi khối (Blockchain) cho phép sử dụng mật mã và các giao thức tin nhắn phân tán để tạo lập các thông tin kế toán chi tiết theo yêu cầu kế toán quản trị. Bảy là, sự phát triển của hạ tầng viễn thông trong bối cảnh CMCN 4.0 đã và đang đặt ra những thách thức mới về bảo mật, trước hết là bảo mật trong thông tin kế toán quản trị, trong nghiệp vụ thanh toán, trong các hoạt động đầu tư, đảm bảo an toàn về chữ ký điện tử, về các giao dịch kinh tế, giao dịch thanh toán. Do đó, vấn đề an ninh mạng đã trở nên vô cùng quan trọng, vừa đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, tạo lập lòng tin, sự yên tâm, vừa bảo vệ quyền lợi của người sử dụng thông tin kế toán. Đây cũng là cơ hội đề Việt Nam thúc đẩy tài chính toàn diện (tài chính bao trùm). Với sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số và xu hướng chuyển dần sang điện toán đám mây (Cloud Computing), những lỗ hổng bảo mật cũng vì thế có thể tăng, kéo theo những lo ngại ngày càng nghiêm trọng về các rủi ro trong nghiệp vụ thanh toán, trong hoạt động đầu tư, trong truyền tải, cung cấp và sử dụng thông tin. Điều này đòi hỏi những người làm kế toán, kiểm toán phải có trách nhiệm xã hội nhiều hơn, quan tâm nhiều hơn đến tính an toàn và riêng tư trong thông tin kế toán, kiểm toán, đặc biệt là kế toán quản trị và có cách thức phòng thủ mới để bảo đảm an toàn, an ninh và bảo mật mạng. Các tổ chức kinh tế – tài chính, các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán,… ngoài việc trang bị những công cụ, những biện pháp bảo mật mới, cần quan tâm hơn tới việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dự phòng và nâng cao nhận thức về bảo mật, an toàn thông tin trong toàn hệ thống. Yêu cầu đặt ra và những việc phải làm Yêu cầu của tài chính, kế toán kỹ thuật số trong CMCN 4.0, cũng như yêu cầu hội nhập tài chính, kế toán khu vực và quốc tế, đòi hỏi phải chủ động chuẩn bị, tranh thủ tối đa các lợi thế, cũng như hạn chế những tác động bất lợi của CMCN 4.0 đến quy trình kế toán, kiểm toán, đến đào tạo cử nhân kế toán, kiểm toán. Cần tập trung triển khai các công việc sau đây:

     Thứ nhất, thống nhất và nâng cao hơn nữa nhận thức về CMCN 4.0 và những tác động của nó.

    Cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về hoạt động tài chính, kế toán, kiểm toán trong nền kinh tế thị trường, hội nhập, mở cửa và trong bối cảnh khởi phát của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Theo dự báo, Việt Nam sẽ là một quốc gia phát triển rất mạnh về TTĐT với tỷ lệ tăng trưởng cao. Hiện nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều phương thức TTĐT khác nhau trên thị trường: Quẹt thẻ thông thường; thanh toán không tiếp xúc; thanh toán trực tuyến; công nghệ thanh toán qua thẻ tích hợp, giúp cho người dùng có thể thực hiện thanh toán dễ dàng thông qua smartphone… Để thúc đẩy sự phát triển của TTĐT, cần tập trung mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ (gồm cả thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, VISA); phát triển và giới thiệu những công nghệ mới cho thị trường; đồng thời nỗ lực cung cấp, phổ biến kiến thức về tài chính cho các tổ chức, các doanh nghiệp, các nhân viên tài chính, kế toán và người dân. Những kiến thức này không chỉ tập trung vào vấn đề lợi ích của các phương thức thanh toán, của chứng từ thanh toán điện tử, của bảo mật trong thanh toán mà còn hướng dẫn một cách cụ thể cách sử dụng TTĐT để hạch toán, để người dân tiếp cận các sản phẩm, các dịch vụ tài chính một cách tiện lợi, dễ dàng hơn.

     Thứ hai, các tổ chức kinh tế – tài chính và đặc biệt là các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán, tiếp tục thúc đẩy phát triển hạ tầng công nghệ phục vụ phát triển các sản phẩm dịch vụ của các tổ chức dịch vụ kế toán, kiểm toán; đồng thời xây dựng các chính sách khuyến khích các tổ chức tài chính, các định chế tài chính, các tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính, kế toán dựa trên công nghệ số

    .Thứ ba, cần tiếp tục đổi mới và ứng dụng các công nghệ hiện đại thông qua việc xây dựng và hoạch định chiến lược về phát triển công nghệ thông tin của khu vực tài chính, kế toán, kiểm toán, trong đó nhiệm vụ xuyên suốt là nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu công nghệ hiện đại trong các giao dịch tài chính, trong hoạt động thanh toán, trong việc thu thập, xử lý thông tin, lập và cung cấp báo cáo tài chính,trong tiếp cận các sản phẩm kế toán, thúc đẩy tài chính xanh, tài chính toàn diện (financial inclusion).

    Thứ tư, chú trọng và tăng cường quản lý an ninh mạng.

    Các tổ chức tài chính, các tổ chức ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng trung tâm Dự phòng dữ liệu (Disaster Recovery); nâng cấp hệ thống an ninh, bảo mật ở mức cao, đảm bảo việc mở rộng phạm vi hoạt động (nếu có) được ổn định, an toàn, mang lại hiệu quả lâu dài. Thứ năm, đổi mới và thiết lập mới các quy trình kế toán, từ việc thu thập, xử lý chứng từ kế toán, phân loại và nhập dữ liệu thông tin đầu vào đến quá trình xử lý và kết xuất thông tin. Nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc phân tích, đánh giá thông tin kế toán. Tạo điều kiện thuận lợi cho kế toán viên, kiểm toán viên khai thác và sử dụng nguồn dữ liệu kế toán một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Cần nhận dạng và đánh giá đầy đủ các rủi ro mất thông tin, dữ liệu kế toán khi kết nối internet. CMCN 4.0 có thể đưa đến sự cạnh tranh mạnh giữa các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán, nhưng cũng là điều kiện và cơ hội để phát triển các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn quản trị và góp phần công khai, minh bạch các thông tin cũng như chất lượng dịch vụ.

    Thứ sáu, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo cử nhân kế toán. Sử dụng các thành tựu công nghệ số, các mạng Internet,… vào quan hệ giao tiếp giữa người học và người dạy. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực ngành kế toán, kiểm toán, trong đó chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao; tăng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin. Việc đào tạo, quan tâm tới chất lượng nguồn nhân lực công nghệ cao được thực hiện trên toàn hệ thống tài chính, kế toán. Nâng cao tính chuyên nghiệp, khả năng làm chủ các hệ thống công nghệ hiện đại của đội ngũ nhân lực kế toán và kiểm toán. Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, hoạt động tài chính, kế toán, kiểm toán đã và đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu và rộng, trong giai đoạn khởi phát của CMCN 4.0, cần có sự nhận thức đầy đủ và có những biện pháp chủ động để hệ thống tài chính, kế toán vận hành có hiệu quả, hội tụ và hài hòa giữa các quốc gia, tranh thủ các lợi ích và hạn chế những tác động bất lợi từ CMCN 4.0. Sự thành công của kế toán, kiểm toán của mỗi quốc gia phụ thuộc vào ý thức, và trách nhiệm và trí tuệ để đón bắt thời cơ, chủ động vượt qua thách thức


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Lý thuyết về thị trường tài chính và các định chế tài chính ứng dụng trong các thị trường Việt Nam

    Lý thuyết về thị trường tài chính và các định chế tài chính ứng dụng trong các thị trường Việt Nam

    Lý thuyết về thị trường tài chính và các định chế tài chính ứng dụng trong các thị trường Việt Nam

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Hệ thống câu hỏi và nội dung ôn tập Kiểm toán căn bản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/L%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-v%E1%BB%81-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-v%C3%A0-c%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ch%E1%BA%BF-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%A5ng-trong-c%C3%A1c-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lý thuyết về thị trường tài chính và các định chế tài chính ứng dụng trong các thị trường Việt Nam

    Phần 1: CĂN BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

    Chương 1 : KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 

    – Chương 2 : CÁC CÔNG cụ TÀI CHÍNH 

    – Chương 3 : CÔNG TY cổ Ph Xn 

    – Chương 4 : THỊ TRƯỜNG sơ CẤP 

    – Chương 5 : THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP : sở GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 

    Chương 6 : THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP : THỊ TRƯỜNG PHI TẬP TRUNG

    Phần  2: THỊ TRƯỜNG VỐN HAY THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 

    – Chương 7 : THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

    – Chương 8 : THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU 

    – Chương 9 ; THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU LƯU QUỐC TẾ

    Phán 3: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ TT TÀI CHÍNH PHÁI SINH 

    – Chương 10 : THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

    – Chương 11 : THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 

    – Chương 12 : THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH PHÁI SINH

    Phần 4: CÁC TỔ CHỨC VÀ HỆ THỐNG LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG 

    – Chương 13: CÔNG TY CHỨNG KỲ ÁN 

    – Chương 14 : QUỸ ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ

    – Chương 15 : TRUNG TÂM LƯU’ KÝ CK VÀ THANH TOÁN BÙ TRỪ

    – Chương 16 : HỆ THỐNG THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KỲ ÁN

    – Chương 17 : HỆ THỐNG THANH TRA VÀ GIÁM SÁT THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Hệ thống câu hỏi và nội dung ôn tập Kiểm toán căn bản

    Hệ thống câu hỏi và nội dung ôn tập Kiểm toán căn bản

    Hệ thống câu hỏi và nội dung ôn tập Kiểm toán căn bản

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Giáo trình Tiếng anh chuyên ngành Kế toán – CĐ Nghề Công Nghiệp Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/H%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-v%C3%A0-n%E1%BB%99i-dung-%C3%B4n-t%E1%BA%ADp-Ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-c%C4%83n-b%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hệ thống câu hỏi và nội dung ôn tập Kiểm toán căn bản

    CHƯƠNG 1

    Câu 1: Thế nào là kiểm toán? Thế nào là kiểm toán tuân thủ? Kiểm toán báo cáo tài chính? Kiểm toán hoạt động? Thế nào là kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính? Kiểm toán độc lập về báo cáo tài chính? Kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán Nhà nước? Hiểu những nội dung cơ bản trong định nghĩa như thế nào?

    Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin cần kiểm toán (có thể định lượng) của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về sự phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về sự tuân thủ hay chấp hành về luật pháp, chính sách, chế độ và những qui định của một đơn vị cụ thể. Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu. Kiểm toán hoạt động là việc kiểm tra và trình bày ở kiến của Kiểm toán viên về tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của hoạt động được kiểm toán. Kiểm toán nội bộ báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên nội bộ về báo cáo tài chính được kiểm toán. Kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính được kiểm toán. Kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán viên Nhà nước là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của Kiểm toán viên Nhà nước về báo cáo tài chính được kiểm toán. Các nội dung cơ bản trong định nghĩa: – Các chuyên gia (Kiểm toán viên) phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn theo qui định. Phải đáp ứng 06 yêu cầu cơ bản (Chuyên môn hay còn gọi là kỹ năng và khả năng của Kiểm toán viên; Độc lập; Tôn trọng hay tuân thủ pháp luật; Tôn trọng chuẩn mực chuyên môn nghề nghiệp; Bí mật; Đạo đức nghề nghiệp). – Thu thập và đánh giá các bằng chứng là một qui trình có tính chất chuyên môn chặt chẽ phù hợp với từng đơn vị được kiểm toán cụ thể. – Các thông tin cần kiểm toán là các thông tin kinh tế, phi kinh tế, tài chính, phi tài chính. – Đơn vị kiểm toán cụ thể chính là khách thể kiểm toán. – Chuẩn mực đã được thiết lập là các chuẩn mực dùng để đánh giá thông tin được kiểm toán. Mỗi loại kiểm toán khác nhau sẽ có những chuẩn mực dùng để đánh giá thông tin khác nhau. – Báo cáo kết quả là việc trình bày ý kiến của Kiểm toán viên về kết quả kiểm toán tùy thuộc từng loại kiểm toán cụ thể.

    Câu 2: Lịch sử ra đời, hình thành và phát triển kiểm toán ở nước ta và trên thế giới có gì giống và khác nhau? Tại sao?

    Trên thế giới, kiểm toán là một công cụ quản lý không thể thiếu được, ở đâu có sự xuất hiện của đồng tiền, đồng thời có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng của tài sản thì ở đó có kế toán và có kiểm toán. Kiểm toán cổ điển ra đời từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại. Ở đâu có Nhà nước thì ở đó có kiểm toán Nhà nước, ở đâu có hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức hiệu quả thì ở đó có kiểm toán nội bộ. Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có kiểm toán độc lập. Ở Việt Nam, trước năm 1986 thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung (hay còn gọi là cơ chế quan liêu bao cấp) nên không có kiểm toán. Mãi đến khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường xuất hiện nhiều thành phần kinh tế và đa phương hoá sở hữu, trước sức ép của hội nhập và sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam đã hình thành 02 công ty kiểm toán đầu tiên (Công ty kiểm toán Việt Nam – VACO và công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán – AASC được thành lập vào ngày 13.5.1991). Mãi đến ngày 11.07.1994 kiểm toán Nhà nước Việt Nam mới được thành lập và trực thuộc Chính phủ. Đến năm 1997, kiểm toán nội bộ các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo qui chế kiểm toán nội bộ số 832 ngày 28.10.1997 của Bộ tài chính. Ở Việt Nam kiểm toán được hình thành không theo qui luật của các nước phát triển trên thế giới, do thể chế chính trị và cơ chế quản lý kinh tế quyết định. 

    Câu 3: Ý nghĩa, vai trò và sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong quản lý?

     + Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường: Kiểm toán ra đời bắt nguồn từ thực tiễn và phục vụ cho quản lý thực tiễn. Xã hội càng phát triển, thông tin kế toán ngày càng nhiều, đa dạng, đa chiều, phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Đối tượng sử dụng thông tin ngày càng được mở rộng phong phú và đa dạng, vì: Thứ nhất: Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin và sự điều chỉnh thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin. Các thông tin được cung cấp có nguy cơ ngày càng bị hợp pháp hoá và thành tích hoá có lợi cho người cung cấp thông tin. Thứ hai: Khối lượng thông tin quá nhiều. xã hội càng phát triển, thông tin càng phong phú, đa dạng với khối lương càng nhiều, khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch trong những thông tin đúng đắn ngày càng tăng. Thứ ba: Tính phức tạp của thông tin và nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng, nguy cơ chứa đựng những thông tin sai lệch là không thể tránh khỏi. Thứ tư: Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin ngày càng lớn, rủi ro thông tin ngày càng cao. Để làm giảm rủi ro thông tin, có 3 cách chủ yếu: Cách 1: Người sử dụng thông tin tự kiểm tra các thông tin mà mình sử dụng. Cách này không hiệu quả, tốn kém, không phù hợp với xu thế phát triển và chuyên môn hoá của thời đại. Mặt khác, có thể có những hạn chế về năng lực của người sử dụng thông tin, đặc biệt đối với những thông tin phức tạp. Cách 2: Người cung cấp thông tin bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý hoặc người sử dụng thông tin chia sẻ rủi ro thông tin cùng nhà quản trị doanh nghiệp hay người cung cấp thông tin theo sự thoả thuận giữa hai bên. Nhưng cách này lại không thể đáp ứng được mục tiêu đặt ra khi người cung cấp thông tin bị giải thể, phá sản, hậu quả khi đó luôn thuộc về người sử dụng thông tin. Cách 3: Chỉ sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính khi đã được kiểm toán độc lập xác nhận. Cách này rất hiệu lực, gắn chặt giữa trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất của Kiểm toán viên với những ý kiến nhận xét, kết luận mà họ cung cấp. Từ đó, kiểm toán ra đời phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin, là một sự cần thiết tất yếu khách quan. Sự cần thiết của kiểm toán còn được thể hiện thông qua vai trò và những tác dụng mà kiểm toán mang lại cho nền kinh tế. Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho quá trình quản lý, cụ thể: Thứ nhất: Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế thị trường, có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị và sự phản ánh của tình hình này trong các tài liệu kế toán và báo cáo tài chính. Các đối tượng quan tâm như: Chính phủ để quản lý vĩ mô nên kinh tế và để thu thuế; các nhà đầu tư để đầu tư vốn; ngân hàng để cho vay; các cổ đông để mua cổ phiếu.v.v. Thứ hai: Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, ổn định củng cố hoạt động tài chính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị được kiểm toán nói chung. Thông qua kiểm toán, khi phát hiện gian lận sai sót, ktv uốn nắn, chỉ dẫn và đề nghị doanh nghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả. Hoạt động kiểm toán không những củng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanh nghiệp nói riêng mà còn làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính. Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính, kiêm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán thấy được những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, uốn nắn, thấy được những vi phạm, lãng phí nhằm xử lý, ngăn chặn để thực hiện kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro. Chức năng này được phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên. Kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin phục vụ việc quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp, giúp chủ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, thuận lợi trong cạnh tranh, khai thác triệt để và sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp. Kiểm toán nhà nước phục vụ việc quản lý vĩ mô của là nước, đảm bảo duy trì kỷ cương, thực hiện nghiêm chính và thống nhất luật pháp, chính sách, chế độ, đồng thời sử dụng tiết kiệm, hiệu quả vốn, tài sản và kinh phí của nhà nước. Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng thông tin của đơn vị được kiểm toán, như: Chính phủ, cố đông, ngân hàng, nhà đầu tư… và cung cấp thông tin rất hữu ích cho chính nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán. 

    Câu 4: Kiểm toán có những chức năng gì? Sự phát triển của các chức năng này qua các thời kỳ có gì giống và khác nhau không? Tại sao? Hãy liên hệ với Việt Nam?

    Kiểm toán có 02 chức năng: Kiểm tra xác nhận (xác minh) và tư vấn (hay trình bày ý kiến). Chức năng kiểm tra xác nhận hay xác minh là chức năng đầu tiên, chức năng ra đời sớm nhất nhằm xác nhận thông tin đã xảy ra, thông tin hướng về quá khứ. Xã hội càng phát triển, chức năng tư vấn hướng đến tương lại được ra đời và phát triển mạnh mẽ vào những năm 80 của thế kỷ XX. Ngày nay, chức năng này giữ vị trí rất quan trọng trong kiểm toán và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ đầu khi kiểm toán mới hình thành, chức năng xác minh hay xác nhận là số 1, chức năng tư vấn hay trình bày ý kiến là số 2. Nhưng ngày này lại ngược lại, chức năng tư vấn là số 1 và chức năng xác minh hay xác nhận là số 2. Việc các chức năng của kiểm toán thay đổi cũng là do yêu cầu thực tiễn và yêu cầu của người sử dụng thông tin thay đổi đi từ nhìn nhận thông tin được kiểm toán hướng về quá khứ sang nhìn nhận thông tin kiểm toán hướng về tương lai. Ở Việt Nam cũng diễn ra tương tự do sự hội nhập kinh tế Quốc tế.

    Câu 5: Phân biệt giữa: đối tượng và khách thể của kiểm toán? khách hàng và đơn vị được kiểm toán? Khách hàng có phải là khách thể kiểm toán không? Ngược lại khách thể kiểm toán có phải là khách hàng kiểm toán không? Tại sao?

    Đối tượng kiểm toán là cái kiểm toán viên cần quan tâm, cần kiểm toán. Còn khách thể kiểm toán là nơi diễn ra hoạt động và có đối tượng mà kiểm toán viên cần kiểm toán. – Đối tượng kiểm toán là những tài liệu, nội dung mà Kiểm toán viên (chủ thể) phải thực hiện kiểm toán. Còn khách thể kiểm toán là những nơi xảy ra, diễn ra hoạt động và công việc cần kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán cũng là khách thể kiểm toán. Khách hàng kiểm toán cũng là khách thể kiểm toán, nhưng khách thể kiểm toán chưa hẳn đã là khách hàng kiểm toán. Chỉ có kiểm toán độc lập thì khách thể kiểm toán mới trở thành khách hàng kiểm toán. Hay khi ta nói khách thể của kiểm toán của kiểm toán độc lập chính là khách hàng, vì kiểm toán độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán và thu phí kiểm toán từ khách hàng. Nói đến khách hàng kiểm toán là nói đến khách thể của kiểm toán độc lập.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Giáo trình Tiếng anh chuyên ngành Kế toán – CĐ Nghề Công Nghiệp Hà Nội

    Giáo trình Tiếng anh chuyên ngành Kế toán – CĐ Nghề Công Nghiệp Hà Nội

    Giáo trình Tiếng anh chuyên ngành Kế toán – CĐ Nghề Công Nghiệp Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Gi%C3%A1o-tr%C3%ACnh-Ti%E1%BA%BFng-anh-chuy%C3%AAn-ng%C3%A0nh-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-C%C4%90-Ngh%E1%BB%81-C%C3%B4ng-Nghi%E1%BB%87p-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giáo trình Tiếng anh chuyên ngành Kế toán – CĐ Nghề Công Nghiệp Hà Nội

    I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC: 

    – Vị trí: Là một trong những môn học chuyên ngành được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung. – Tính chất: Là một môn học bắt buộc, với vai trò công cụ tạo điều kiện cho đất nước hòa nhập với cộng đồng quốc tế và khu vực, hoà nhập kinh tế thị trường thế giới, tiếp cận với những thông tin khoa học kỹ thuật và các nền văn hóa trên thế giới, đồng thời giới thiệu nền văn hoá Việt Nam với thế giới giúp sinh viên nâng cao chuyên môn thông qua đọc, dịch tài liệu chuyên ngành bằng Tiếng Anh.

    II. MỤC TIÊU MÔN HỌC: 

    – Phát triển những kỹ năng như: đọc hiểu, dịch các tài liệu tiếng Anh chuyên ngành tài chính kế toán. – Đọc hiểu được các sổ sách, biểu bảng. – Đọc hiểu các tài liệu đọc thêm bằng tiếng Anh và tóm tắt nội dung chính của tài liệu. – Nắm được vốn từ vựng và ngữ pháp cơ bản của tiếng Anh chuyên ngành tài chính kế toán. 

    III. NỘI DUNG MÔN HỌC:

    1. Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:

    2. Yêu cầu về đánh giá hoàn thành môn học: 

    * Về kiến thức: 

    + Sử dụng được những thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến tài chính và kế toán.

    + Sử dụng một số cấu trúc ngữ pháp hay dùng trong tiếng Anh chuyên ngành như: thể bị động, mệnh đề quan hệ, câu mong ước, câu điều kiện, tính từ so sánh, liên từ, câu mục đích, giới từ… 

    * Về kỹ năng:

    Đọc, hiểu và dịch được một số tài liệu liên quan đến chuyên ngành tài chính và kế toán từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt.

     * Về thái độ:

    Người học có thái độ học tập nghiêm túc, cố gắng tiếp thu kiến thức hiệu quả nhất để sau này vận dụng kiến thức đã học vào dịch tài liệu chuyên ngành nhằm nâng cao chuyên môn trong công việc.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-th%C3%B4ng-tin-l%E1%BB%A3i-th%E1%BA%BF-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    1. Giới thiệu

    Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam, lợi thế thương mại không còn là vấn đề mới nhưng vẫn là một vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là đo lường lợi thế thương mại. Nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Nhung (2019a) cho thấy các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về trình bày và công bố thông tin lợi thế thương mại theo chuẩn mực kế toán số 11. Năm 2017, tỷ lệ rất cao các công ty không công bố thông tin về giá trị tài sản thuần của công ty con được sử dụng khi tính toán lợi thế thương mại (67%); tỷ lệ các công ty công bố sử dụng giá trị ghi sổ tài sản thuần của công ty con để tính toán lợi thế thương mại là 5% và tỷ lệ các công ty công bố sử dụng giá trị hợp lý tài sản thuần của công ty con để tính toán lợi thế thương mại là 29%. Các nghiên cứu tại những nước có nền kinh tế phát triển đều cho thấy lợi thế thương mại có mối quan hệ cùng chiều với giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (Chauvin, 1994; McCarthy và Schneider, 1995; Qureshi và Ashraf, 2013). Với mức độ tuân thủ trong công bố thông tin lợi thế thương mại của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn thấp, thông tin lợi thế thương mại có ảnh hưởng đến tăng trưởng giá trị thị trường của các công ty niêm yết hay không vẫn còn là một câu hỏi. Nghiên cứu so sánh tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty công bố thông tin lợi thế thương mại và nhóm công ty không công bố thông tin lợi thế thương mại để chứng minh ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đối với tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 

    2. Tổng quan nghiên cứu

    Một số nghiên cứu điển hình thực hiện đánh giá ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ đều cho kết quả khá thống nhất. Nghiên cứu của Wang (1993) đã chứng minh rằng lợi thế thương mại có mối quan hệ dương với giá trị thị trường của các công ty. Kết quả nghiên cứu của Wang (1995) còn cho thấy ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty còn mạnh hơn ảnh hưởng của các tài sản khác. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Chauvin (1994) lại cho thấy lợi thế thương mại chỉ có mối quan hệ dương với giá trị thị trường của các công ty trong lĩnh vực phi sản xuất. Nghiên cứu của Qureshi và Ashraf (2013) thực hiện đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Anh cũng cho kết quả tương tự như các nghiên cứu tại Mỹ, đó là lợi thế thương mại có ảnh hưởng đáng kể đối với giá trị thị trường của các công ty niêm yết. Như vậy, có thể thấy kết quả nghiên cứu tại những nước có nền kinh tế phát triển, tỷ trọng Lợi thế thương mại trong Tổng tài sản cao (trung bình là 16%) (Giacomino và Akers, 2009), đều thống nhất rằng lợi thế thương mại có tác động tích cực đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết. Điều này chứng tỏ các nhà đầu tư có phản ứng tích cực đối với thông tin lợi thế thương mại. Các nghiên cứu thực hiện tại những nước có nền kinh tế đang phát triển còn rất khiêm tốn và mô hình nghiên cứu đơn giản. Điển hình là nghiên cứu của Zare và cộng sự (2012) cũng đã chỉ ra sự tồn tại mối quan hệ dương giữa lợi thế thương mại với giá trị thị trường của các công ty niêm yết. Tuy nhiên, mô hình của nghiên cứu này chỉ có một biến độc lập duy nhất là biến Lợi thế thương mại. Do đó, kết quả nghiên cứu có độ tin cậy chưa cao. Đoàn Thị Hồng Nhung (2019b) cũng đã chứng minh được ảnh hưởng tích cực của thông tin lợi thế thương mại đối với giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tổng quan các công trình nghiên cứu tiên nghiệm cho thấy các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi quy giá trị thị trường của các công ty theo lợi thế thương mại mà chưa xem xét đến ảnh hưởng của thông tin lợi thế thương mại đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty trong một khoảng thời gian dài. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá sự khác biệt tăng trưởng trung bình giá trị thị trường giữa nhóm công ty công bố thông tin lợi thế thương mại và nhóm công ty không công bố thông tin lợi thế thương mại.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    3.1. Thu thập dữ liệu và chọn mẫu

    Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 8 năm từ 2010 đến 2017. Mẫu thu được 109 công ty theo các tiêu chí cơ bản sau: – Các công ty có thời gian niêm yết tối thiểu từ năm 2010 và vẫn tiếp tục được niêm yết ít nhất đến hết quý 1 năm 2018. – Các công ty được lựa chọn theo tiêu chuẩn phân ngành ICB (Industry Classification Benchmark) gồm: Dầu khí; Công nghiệp; Hàng tiêu dùng; Y tế; Dịch vụ tiêu dùng; Viễn thông; Các dịch vụ hạ tầng; Tài chính; Công nghệ và Vật liệu cơ bản. Thu thập số lượng cổ phiếu thường công bố trên Thuyết minh báo cáo tài chính quý 1 hàng năm đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thu thập giá đóng cửa của cổ phiếu vào ngày giao dịch đầu tiên của quý 2 hàng năm trên trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và các trang thông tin điện tử như www.ssi.com.vn; www.tvsi.com.vn… Giá trị thị trường năm t được tính bằng cách nhân số lượng cổ phiếu tại quý 1 năm t+1 với giá đóng cửa của ngày giao dịch đầu tiên của quý 2 năm t+1. Thông tin về việc công ty công bố giá mua khi hợp nhất: Công ty công bố giá mua thì nhận giá trị 1, công ty không công bố giá mua thì nhận giá trị 0. Thông tin công bố của các công ty về việc sử dụng giá trị tài sản thuần của công ty con khi tính toán giá trị lợi thế thương mại: Công ty công bố sử dụng giá trị hợp lý thì nhận giá trị 2, công ty công bố sử dụng giá trị ghi sổ thì nhận giá trị 1, công ty không công bố thông tin này thì nhận giá trị 0. Tăng trưởng trung bình giá trị thị trường = [(MV2011 – MV2010)/MV2010 + (MV2012 – MV2011)/MV2011 + (MV2013 – MV2012)/MV2012 + (MV2014 – MV2013)/MV2013 + (MV2015 – MV2014)/MV2014 + (MV2016 – MV2015)/MV2015+ (MV2017 – MV2016)/MV2016 ]/7 Trong đó: MV- Giá trị thị trường của các công ty tương ứng với từng năm Với quy mô mẫu nghiên cứu là 109 công ty, tác giả đã sử dụng kiểm định phi tham số MannWhitney để kiểm định sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ và tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Trong nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng, tác giả tiếp tục sử dụng kiểm định Mann-Whitney để kiểm tra sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty công bố giá mua và tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không công bố giá mua và sử dụng kiểm định Kruskal Wallis đánh giá sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của ba nhóm công ty khi công bố thông tin về giá trị tài sản thuần của công ty con sử dụng khi tính lợi thế thương mại gồm: nhóm thứ nhất là nhóm công ty công bố sử dụng giá trị hợp lý tài sản thuần của công ty con; nhóm thứ hai là nhóm công ty công bố sử dụng giá trị ghi sổ tài sản thuần của công ty con và nhóm thứ ba là nhóm công ty không công bố thông tin này.

    3.2. Giả thuyết nghiên cứu

    Giả thuyết 1: H0: Không có sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ so với tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. H1: Có sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ so với tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Trong nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ, tác giả lại tiếp tục kiểm tra xem liệu việc công bố các thông tin liên quan đến lợi thế thương mại tăng có ảnh hưởng đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các nhóm công ty này hay không bằng cách thực hiện kiểm định giả thuyết hai và giả thuyết ba. Giá mua hay được gọi là giá phí hợp nhất kinh doanh. Giá mua bao gồm giá trị hợp lý tại ngày diễn ra trao đổi của các tài sản đem trao đổi, các khoản nợ phải trả đã phát sinh hoặc đã thừa nhận và các công cụ vốn do bên mua phát hành để đổi lấy quyền kiểm soát bên bị mua, cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc hợp nhất kinh doanh (Bộ Tài Chính, 2005). Lợi thế thương mại là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá trị hợp lý tài sản thuần của công ty bị mua. Do đó, giá mua có ảnh hưởng đến kết quả xác định lợi thế thương mại. Chính vì vậy, nghiên cứu tiến hành kiểm định ảnh hưởng của công bố thông tin giá mua đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Giả thuyết 2: H0: Không có sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty công bố giá mua trong kỳ so với tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không công bố giá mua trong kỳ. H1: Có sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty công bố giá mua trong kỳ so với tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không công bố giá mua trong kỳ. Kết quả đo lường giá trị lợi thế thương mại phụ thuộc vào việc đo lường giá trị hợp lý tài sản thuần của công ty bị mua (công ty con). Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ phần trăm rất cao các công ty không công bố thông tin về giá trị tài sản thuần của công ty bị mua khi tính lợi thế thương mại (Đoàn Thị Hồng Nhung, 2019a). Do đó, tác giả thực hiện kiểm định ảnh hưởng của công bố thông tin giá trị tài sản thuần của công ty con đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Giả thuyết 3: H0: Không có sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các nhóm công ty: nhóm công bố sử dụng giá trị hợp lý của công ty con; nhóm công bố sử dụng giá trị ghi sổ của công ty con; nhóm không công bố thông tin. H1: Có sự khác biệt giữa giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các nhóm công ty: nhóm công bố sử dụng giá trị hợp lý của công ty con; nhóm công bố sử dụng giá trị ghi sổ của công ty con; nhóm không công bố thông tin.

    4. Kết quả và thảo luận

    Để thực hiện kiểm chứng giả thuyết 1, tác giả sử dụng kiểm định Mann-Whitney để kiểm định sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ và tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Kết quả nghiên cứu trong bảng 4.1 cho thấy tồn tại sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ và tăng trưởng trung bình giá trị thị trường nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Tổng hạng trung bình của nhóm 1 (nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ) là 58,49. Tổng hạng trung bình của nhóm 0 (nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ) là 36,12. Với mức ý nghĩa 5% (p- value = 0,007) ta có thể kết luận rằng nhóm công ty có lợi thế thương mại tăng trong kỳ có tăng trưởng trung bình giá trị thị trường cao hơn tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không có lợi thế thương mại tăng trong kỳ. Như vậy, kết quả nghiên cứu này càng góp phần củng cố và khẳng định lợi thế thương mại là một tài sản và nó đóng góp vào tăng trưởng giá trị thị trường của các công ty. Để kiểm định giả thuyết 2, tác giả tiếp tục sử dụng kiểm định Mann-Whitney để kiểm tra sự khác biệt giữa tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty công bố giá mua và tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không công bố giá mua khi các công ty này có lợi thế thương mại tăng thêm trong kỳ. Kết quả kiểm định thể hiện trong bảng 4.2. Kết quả ở bảng 4.2 cho thấy tổng hạng trung bình của nhóm 0 (nhóm công ty không công bố giá mua) là 41,59, trong khi đó tổng hạng trung bình của nhóm 1 (nhóm công ty công bố giá mua) là 54,88. Với mức ý nghĩa 5% (p-value = 0,021) ta có thể kết luận nhóm công ty công bố giá mua có tăng trưởng trung bình giá trị thị trường cao hơn tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của nhóm công ty không công bố giá mua.

    5. Kết luận

    Kết quả của nghiên cứu cho thấy thông tin lợi thế thương mại có ảnh hưởng đến tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mức độ phức tạp của thông tin công bố có ảnh hưởng đến phản ứng của nhà đầu tư. Nhà đầu tư dễ nhận diện thông tin đơn giản như thông tin lợi thế thương mại tăng thêm và thông tin giá mua. Do đó, những thông tin này ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết. Trong khi đó, với các thông tin phức tạp hơn như thông tin giá trị tài sản thuần của công ty con sử dụng để tính lợi thế thương mại thì nhà đầu tư chưa phân biệt được sự khác biệt giữa giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ của công ty con nên phản ứng của họ đối với thông tin này là chưa rõ ràng. Kết quả tăng trưởng trung bình giá trị thị trường của các nhóm này không có sự khác biệt. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-th%C3%B4ng-tin-chia-t%C3%A1ch-c%E1%BB%95-phi%E1%BA%BFu-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-thay-%C4%91%E1%BB%95i-gi%C3%A1-v%C3%A0-thanh-kho%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-c%E1%BB%95-phi%E1%BA%BFu-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-s%E1%BB%9F-giao-d%E1%BB%8Bch-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    1. Giới thiệu

    Thông tin có vai trò hết sức quan trọng đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK). Chính vì vậy, sự phản ứng của nhà đầu tư trước các thông tin được công bố trên TTCK là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chia tách cổ phiếu là một nghiệp vụ mang tính kỹ thuật và được sử dụng khá phổ biến bởi các công ty niêm yết. Về mặt lý thuyết, việc chia tách cổ phiếu đơn giản chỉ làm gia tăng số lượng cổ phiếu mà không làm thay đổi dòng tiền của công ty. Do đó, việc chia tách cổ phiếu không làm thay đổi giá trị của công ty. Tuy nhiên, về mặt tâm lý, thông tin chia tách cổ phiếu có thể được các nhà đầu tư đón nhận như là một thông tin tích cực bởi lý do đơn giản họ nghĩ rằng họ nhận được thêm một số lượng cổ phiếu nhất định mà không phải trả bất kỳ một khoản tiền nào. Về mặt thực nghiệm, kết quả của các nghiên cứu về chủ đề này vẫn chưa thật sự thống nhất với nhau. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thông tin chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu (Ưu và Chang, 1997; Kuse và Yamamoto, 2004; Adida và Caroline, 2010; Li và cộng sự, 2015) trong khi đó một vài nghiên cứu khác lại tìm thấy những kết quả ngược lại (Lamoureux và Poon, 1987; Conroy và các cộng sự, 1990; Leema Kdej, 2007; Patel và cộng sự, 2016). Trên TTCK Việt Nam nói chung và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) nói riêng, việc chia tách cổ phiếu của các công ty niêm yết diễn ra khá phổ biến. Nhà đầu tư phản ứng như thế nào trước thông tin chia tách cổ phiếu là câu hỏi được nhiều người đặt ra, nhưng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là tìm kiếm các bằng chứng thực nghiệm để trả lời cho câu hỏi trên thông qua việc sử dụng dữ liệu bao gồm 179 sự kiện chia tách của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn năm 2015 – 2017. Phần còn lại của bài viết được cấu trúc như sau: Mục 2 lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài viết được trình bày ở Mục 5. 

    2. Lược khảo tài liệu

    Ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những thập niên gần đây. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này đã được công bố. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này vẫn chưa thật sự thống nhất với nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu, trong khi một vài nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại. Wu và Chan (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK Hongkong trong giai đoạn 1986-1992 bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 3 ngày khi việc chia tách được công bố, giá của các cổ phiếu đã tăng 18,2%. Ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến giá cổ phiếu còn được Wuff (2002) tìm thấy trên TTCK Đức. Cụ thể là, giá của các cổ phiếu đã gia tăng trong suốt 4 ngày giao dịch sau khi thông tin chia tách được công bố cũng như sau khi việc chia tách có hiệu lực. Trong một nghiên cứu khác, Elfakhani và Lung (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá cổ phiếu ở TTCK Canada trong giai đoạn 1977-1993. Sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, các tác giả đã đi đến kết luận rằng việc chia tách cổ phiếu có tác động tích cực đến giá của các cổ phiếu và được duy trì trong khoảng thời gian 11 ngày xung quanh ngày công bố thông tin chia tách. Trên TTCK Nhật, Kuse và Yamamoto (2004) đã tìm thấy lợi nhuận bất thường lũy kế trong giai đoạn 30 ngày giao dịch sau khi việc chia tách được công bố so với giai đoạn 30 ngày giao dịch trước khi việc chia tách được công bố. Kết quả này đã giúp các tác giả đi đến kết luận rằng thị trường đã phản ứng tích cực trước thông tin chia tách cổ phiếu. Ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến giá của các cổ phiếu còn được tìm thấy trong nghiên cứu của Li và cộng sự (2015). Các tác giả đã giải thích rằng giá của các cổ phiếu tăng sau khi thông tin chia tách được công bố là do thanh khoản của các cổ phiếu gia tăng. Ở một khía cạnh khác, một số nghiên cứu đã tìm thấy sự ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu. Aduda và Caroline (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Nairobi (Kenya). Áp dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, các tác giả đã chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến khối lượng giao dịch của các cổ phiếu. Rudnicki (2012) đã sử dụng nghiên cứu sự kiện để nghiên cứu ảnh hưởng của sự chia tách cổ phiếu đến thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK Warsaw và TTCK Vienna trong giai đoạn 2000-2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh khoản của các cổ phiếu đã có sự gia tăng đáng kể sau khi thông tin chia tách cổ phiếu được công bố. Huang và cộng sự (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu ở 3 TTCK NYSE, AMEX, và NASDAQ trong giai đoạn 1960- 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các cổ phiếu có thanh khoản tăng đáng kể xung quanh ngày công bố chia tách cổ phiếu. Sau ngày công bố, thanh khoản của các cổ phiếu chia tách có sụt giảm, nhưng vẫn còn cao hơn mức trước khi chia tách. Tuy nhiên, sau ngày chốt quyền, thanh khoản giảm xuống dưới mức trước chia tách. Trái ngược với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tiêu cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu. Leemakdej (2007) sử dụng dữ liệu bao gồm 100 hoạt động chia tách cổ phiếu để nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu trên TTCK Thailand. Nghiên cứu này đã tìm thấy các bằng chứng để kết luận rằng khối lượng giao dịch sau chia tách của các cổ phiếu thấp hơn so với trước chia tách, đặc biệt là trong khoảng thời gian 18 và 20 ngày sau ngày chia tách cổ phiếu. Tương tự, các nghiên cứu được thực hiện bởi Lammoureux và Poon (1987), Conroy và các cộng sự (1990) cũng tìm thấy sự giảm sút trong khối lượng giao dịch của các cổ phiếu sau niêm yết. Gần đây nhất, Patel và cộng sự (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của chia tách cổ phiếu đến giá và tính thanh khoản của cổ phiếu trên TTCK Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin chia tách cổ phiếu đã có ảnh hưởng tiêu cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu. 

    3. Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu

    3.1. Số liệu sử dụng

    Nghiên cứu này sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 179 sự kiện chia tách cổ phiếu của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn 2015- 2017. Giá và khối lượng giao dịch của các cổ phiếu được thu thập trên website của các công ty chứng khoán: https://www.vndirect.com.vn, http://www.cophieu68.vn. Dữ liệu về khối lượng và giá từng phiên của các cổ phiếu được thu thập trong khoảng thời gian trước và sau 10 ngày so với ngày công bố thông tin chia tách. Giá cổ phiếu là giá đóng cửa từng phiên và khối lượng giao dịch là tổng khối lượng khớp lệnh trong phiên. 

    3.2. Phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study) để đo lường ảnh hưởng của việc công bố thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch của các cổ phiếu. Ngày công bố thông tin chia tách cổ phiếu được gọi là ngày sự kiện hay ngày công bố, ký hiệu AD (announcement date). Cửa sổ sự kiện (event window) được sử dụng trong nghiên cứu này là [- 10,+10], 10 ngày trước và sau ngày thông tin chia tách cổ phiếu được công bố. Nhóm nghiên cứu chọn cửa sổ sự kiện như vậy là vì theo Thông tư 155/2015/TT-BTC ban hành ngày 6 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK có quy định về trường hợp công bố thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu, theo đó “công ty đại chúng báo cáo và nộp đầy đủ các tài liệu là căn cứ pháp lý liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng dự kiến thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu cho Trung tâm lưu ký chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch), báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nước, đồng thời công bố thông tin chậm nhất 10 ngày trước ngày đăng ký cuối cùng dự kiến”. Sự thay đổi giá (lợi nhuận) của các cổ phiếu trong nghiên cứu này được tính theo phương pháp đã được sử dụng bởi Kiymaz và Berument (2003), cụ thể như sau: rit = log (Pit) – log (Pi, t-1) = log (Pit/ Pi,t-1) trong đó: rit: Lợi nhuận của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t. Pit: Giá đóng cửa của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t. Pi,t-1: Giá đóng cửa của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t-1. Sau đó, để loại trừ ảnh hưởng của những yếu tố khác đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, lợi nhuận bất thường (lợi nhuận do thông tin niêm yết bổ sung cổ phiếu tạo ra) được xác định theo phương pháp đã được Lynch và Mendenhall (1997) sử dụng, cụ thể như sau: ARit = rit – rMt trong đó: ARit (abnormal return): Lợi nhuận bất thường của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t; rMt: Lợi nhuận thị trường ở phiên giao dịch t. Lợi nhuận thị trường được tính trên cơ sở chỉ số thị trường (HNX-Index) với công thức tính tương tự như trên. Sau đó, lợi nhuận bất thường trung bình của từng phiên (average abnormal return – AAR) và lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế (cumulative average abnormal return- CAAR) các phiên của nhóm cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu cũng được tính theo phương pháp của Lynch và Mendenhall (1997), cụ thể như sau: 53 ? QUẢN TRỊ KINH DOANH thương mại khoa học 1 

    4. Kết quả nghiên cứu

    –  Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu Lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu (AAR)

    Trên cơ sở tính toán lợi nhuận bất thường của 179 sự kiện chia tách cổ phiếu trong giai đoạn 2015- 2017 qua 21 phiên giao dịch liên tục, lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu ở từng phiên đã được xác định. Ngoài ra, để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, giá trị thống kê t cũng được tính toán. Lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu trong suốt giai đoạn nghiên cứu được trình bày chi tiết ở Bảng 1. Kết quả phân tích thống kê cho thấy giá cổ phiếu đã có sự phản ứng tích cực xung quanh ngày công bố thông tin chia tách cổ phiếu. Cụ thể là, trước ngày công bố thông tin 2 ngày (AD-2) giá của các cổ phiếu đã tăng bình quân 0,43% và phiên liền kề trước ngày công bố thông tin (AD-1), giá của các cổ phiếu tiếp tục tăng bình quân 0,68% với mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 10% và 1%. Điều này có nghĩa là thị trường đã phản ứng tích cực với thông tin chia tách cổ phiếu từ trước khi nó được công bố chính thức. Kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng thông tin chia tách cổ phiếu có thể đã bị rò rỉ ra bên ngoài từ trước khi nó được công bố. Ngoài ra, kết quả kiểm định thống kê còn cho thấy giá cổ phiếu tiếp tục tăng sau ngày công bố thông tin. Cụ thể là, tiếp sau ngày công bố thông tin (AD+1), giá của các cổ phiếu tăng 0,83%. Sự tăng giá này có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Bên cạnh đó, sự tăng giá của các cổ phiếu còn được ghi nhận ở phiên AD+7 với mức tăng bình quân là 0,59%. Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu (CAAR) Để quan sát xem sự thay đổi giá của các cổ phiếu được duy trì trong bao lâu, nghiên cứu này thực hiện một bước tiếp theo là xác định lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu trong suốt giai đoạn (cửa sổ) nghiên cứu. Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu được trình bày

    5. Kết luận

    Nghiên cứu này đã bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK cận biên. Bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện với dữ liệu bao gồm 179 sự kiện chia tách của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn 2015- 2017, nghiên cứu này đã tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm để kết luận rằng giá của các cổ phiếu đã có sự thay đổi 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-sinh-l%E1%BB%9Di-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-ni%C3%AAm-y%E1%BA%BFt-tr%C3%AAn-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    1. Giới thiệu chung

    Khả năng sinh lời giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định chính là khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì thế, khả năng sinh lời được coi là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam đang từng bước hòa nhập cùng nền kinh tế thế giới thì việc nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp lại càng quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến sự sống còn của các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến triển vọng phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, trong giai đoạn từ 2012 – 2015, thị trường bất động sản hoạt động khá trầm lắng, chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành xây dựng trong giai đoạn này. Trái ngược với tốc độ tăng trưởng cao của ngành năm 2010, 2011 lên đến 23,1% và 24,1%, thì suốt giai đoạn 2012 – 2016 dù giá trị ngành xây dựng tăng về số tuyệt đối tuy nhiên tốc độ tăng trưởng sụt giảm mạnh so với giai đoạn trước giao động quanh 6% – 7%. Giai đoạn 2012 – 2016 là giai đoạn có nhiều biến động trong các biến số vĩ mô của nền kinh tế, chính sự biến động này tác động không nhỏ tới doanh thu và lợi nhuận các công ty xây dựng. Nếu trong giai đoạn 2009 – 2011, lợi nhuận sau thuế của các công ty xây dựng đạt cao, năm 2009 khoảng 2.091 nghìn tỷ, năm 2010 đột biến là 2.849 nghìn tỷ, năm 2011 giảm xuống còn 1.357 nghìn tỷ. Giai đoạn 2012 – 2016, chứng kiến sự suy giảm trong lợi nhuận sau thuế của các công ty xây dựng, năm 2012 lợi nhuận sau thuế đạt 140 tỷ, đột biến năm 2013 con số tổng lỗ lên tới 1.784tỷ, năm 2014 số lỗ có dấu hiệu giảm đáng kể khi chỉ còn 151 tỷ, năm 2015 các doanh nghiệp ngành xây dựng bắt đầu có lợi nhuận. Năm 2016, tình hình lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp đã có sự cải thiện đáng kể khi nhiều doanh nghiệp đã có lãi, tổng lợi nhuận sau thuế của 59 doanh nghiệp đạt 1.380 tỷ đồng (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu). Ngoài ra, doanh nghiệp xây dựng có đặc điểm kinh doanh khác so với các ngành khác như địa điểm sản xuất không cố định, chu kỳ sản xuất thi công kéo dài, chỉ diễn ra theo đơn đặt hàng và kỹ thuật thi công phức tạp, trang thiết bị tốn kém. Điều này đòi hỏi khi đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành xây dựng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời cần lưu ý đến đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm ra giải pháp nâng cao khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp trong giai đoạn sắp tới, bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệp ngành xây dựng để đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu tập trung vào làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.

    2. Tổng quan nghiên cứu

    Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu xem xét sự tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xây dựng nói riêng. Sivathaasan và các cộng sự (2013) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tất cả các công ty sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Colombia, Sri Lanka từ năm 2008 đến năm 2012. Các biến độc lập (các nhân tố ảnh hưởng) được sử dụng để nghiên cứu là cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng, các biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp là hai tỷ số ROA và ROE. Kết quả là các biến độc lập giải thích được 76.6% và 84.7% cho mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tăng trưởng ROA và ROE của doanh nghiệp. Trong đó, chỉ có cấu trúc vốn có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các công ty, còn các biến cấu trúc tài sản, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng lại không có ảnh hưởng gì đến ROA và ROE. Khidmat và Rehman (2014) đã nghiên cứu trên 9 công ty ngành hóa học niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001 đến năm 2009, với biến phụ thuộc là ROA và các biến độc lập là tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán ngay, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy tính thanh khoản là nhân tố có tác động cùng chiều đến ROA, các nhân tố còn lại có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Bolek và Wiliński (2012) đã tiến hành nghiên cứu sự tác động của các nhân tố kinh tế bên trong lẫn bên ngoài lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu số liệu của tất cả các công ty xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw từ năm 2000 đến năm 2010. Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu ROA đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp, các biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm quy mô công ty, cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán nhanh, kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tiền mặt, tốc độ tăng trưởng doanh thu và tốc độ tăng trưởng GDP. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, trong khi cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và kỳ thu tiền trung bình lại có tác động ngược chiều. Lazaridis và Tryfonidis (2006) đã thu thập số liệu từ 131 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004 nhằm tìm ra mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và khả năng sinh lời. Trong nghiên cứu lợi nhuận gộp là biến phụ thuộc, các biến độc lập bao gồm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (cash cycle), tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ và quy mô doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ cũng có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong khi đó, quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản lại có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Để nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận của công ty, Gill và các cộng sự (2010) đã nghiên cứu 88 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New York từ năm 2005 đến năm 2007. Nghiên cứu sử dụng bốn biến độc lập là kỳ thu tiền trung bình, doanh thu, tỷ lệ nợ và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, trong khi biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời là doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỳ thu tiền trung bình, tỷ lệ nợ và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản đều tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Alshatti (2016) đã tiến hành nghiên cứu trên 13 ngân hàng thương mại ở Jordanian trong giai đoạn 2005 – 2012 nhằm tìm ra mối liên hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời. Bài viết nghiên cứu tác động của các nhân tố tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ số khả năng thanh toán tức thì đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng: tỷ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ lệ đầu tư có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ số khả năng thanh toán tức thì lại có tác động ngược chiều. Pattweekongka & Napompech (2014) đã tìm ra mối quan hệ giữa vốn lưu động và lợi nhuận bằng cách lấy mẫu 255 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán của Thái Lan từ năm 2007 đến năm 2009. Các biến độc lập được tác giả sử dụng trong mô hình bao gồm kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và đặc điểm kinh doanh, biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ lệ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản không tính tài sản tài chính. Kết quả cho thấy kỳ thu tiền trung bình và số ngày một vòng quay hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời; các công ty Thái Lan có thể tăng lợi nhuận bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền trung bình và số ngày một vòng quay hàng tồn kho. Kiểm tra hiệu quả của việc quản lý vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của công ty cho 125 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2004-2009 đã được thực hiện bởi Addae và Nyarko-Baasi (2013). Nghiên cứu cho thấy, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Có nghĩa là các công ty sẽ được lợi hơn nếu họ có thể rút ngắn thời gian của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho với khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Owolabi và các cộng sự (2012) đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho với khả năng sinh lời. Điều này có nghĩa là khi tăng giảm bất kỳ một trong những yếu tố trên thì khả năng sinh lời sẽ đi theo hướng ngược lại. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng quy mô của công ty có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Điều tra mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận, Tu và Nguyen (2014) đã sử dụng mô hình hồi quy phân tích dữ liệu bảng của 208 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012. Các biến được đưa vào mô hình bao gồm kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ tài chính và tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ lệ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản không tính tài sản tài chính. Các nhà nghiên cứu nhận thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu cũng đề nghị giảm kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho sẽ cải thiện tính thanh khoản của các công ty và do đó làm tăng khả năng sinh lời. Dong và Su (2010) đã nghiên cứu sự tác động của việc quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lờicủa các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán của Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008 với các biến ảnh hưởng là tổng tài sản cố định trên tổng tài sản, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền trung bình và vòng quay hàng tồn kho. Qua phân tích, nghiên cứu kết luận rằng chu kỳ chuyển đồi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu trên, chủ yếu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết nói chung, mà rất ít nghiên cứu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong một ngành nhất định, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam. Trong khi đó, mỗi ngành kinh doanh khác nhau có đặc điểm kinh doanh khác nhau, các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời khác nhau nên cần được nghiên cứu một cách riêng biệt để từ đó thấy được ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng sinh lời của từng ngành. Đồng thời, thị trường bất động sản trong giai đoạn này cũng có những thăng trầm nhất định nên cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng. Xuất phát từ những lý do nêu trên tác giả lựa chọn nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng, là ngành kinh doanh khá đặc thù và có mức độ vốn hóa không nhỏ trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    Số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 59 công ty thuộc ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016 theo dữ liệu mảng. Các số liệu tài chính liên quan đến các biến trong mô hình được thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được download từ trang web chính thức của hai Sở giao dịch chứng khoán: Sở GDCK TP HCM (www.hsx.vn) và Sở GDCK Hà Nội (www.hnx.vn). Nghiên cứu lựa chọn sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2012-2016 vì giai đoạn này là giai đoạn thị trường bất động sản cũng như thị trường xây dựng của Việt Nam khá trầm lắng. Chính vì vậy, tác giả muốn xem xét ngoài các nhân tố nội tại của doanh nghiệp thì các nhân tố kinh tế vĩ mô có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp hay không? Xây dựng giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết H1: Quy mô doanh nghiệp (Size) càng lớn thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp càng cao Bài nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu logarit tự nhiên của tổng tài sản để thể hiện cho quy mô của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng thương lượng với nhà cung cấp càng tốt, vì vậy doanh nghiệp thường chịu chi phí phát hành nợ và vốn cổ phần thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ (Michaelas và cộng sự,1999), dẫn đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp tốt hơn. Sivathaasan và các cộng sự (2013) đã chứng minh có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận. Nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả tương tự là nghiên cứu của Bolek và Wiliński (2012) với mẫu nghiên cứu là tất cả các công ty xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw. Tuy nhiên, theo nghiên cứu Ramasamy (2005) trong ngành dầu khí tại Malaysia lại cho kết luận là quy mô doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời. Nguyên nhân lý giải cho kết luận này là, khi quy mô doanh nghiệp càng lớn thì việc quản lý và điều hành doanh nghiệp càng trở nên khó khăn, hơn thế nữa, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều không chỉ cho tài sản mà còn cho các nguồn lực khác như con người, chính vì vậy nên tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp trên một đồng tài sản bị giảm đi. Giả thuyết H2: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER) càng thấp thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp càng cao. Nhìn chung, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng cao, rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp càng thấp. Theo phân tích của Bolek và các cộng sự (2012) tại các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Phần Lan đã cho thấy tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có tác động ngược chiều tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đồng nghĩa là tỷ lệ này càng nhỏ thì càng tốt cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nhân tố này cũng được đề cập đếntrong các kết quả nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Gill và các cộng sự (2010) và Tu và Nguyen (2014). Giả thuyết H3: Tỷ số khả năng thanh toán nhanh (LIQ) càng cao thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Thông thường nếu tỷ số này cao có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của tài sản ngắn hạn, thể hiện khả năng thanh toán cao hơn so với nghĩa vụ phải thanh toán. Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp cận được với nhiều nguồn vốn vay, giảm sức ép từ chủ nợ, tạo tiền đề để tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất và phát triển. Khidmat và Rehman (2014) đã nghiên cứu trên 9 công ty ngành hóa học niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001 đến năm 2009 cũng có kết luận sau khi nghiên cứu mô hình của mình là tính thanh khoản mà đại diện là tỷ số khả năng thanh toán nhanh có tác động cùng chiều đến ROA. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Alshatti (2016). Trong khi đó, nghiên cứu của Bolek và Wiliński (2012) cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và kỳ thu tiền trung bình lại có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Giả thuyết H4: Kỳ thu tiền trung bình (ARC) càng nhỏ thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Kỳ thu tiền trung bình nhỏ thì doanh nghiệp sẽ nhanh thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng, vốn của doanh nghiệp ít bị khách hàng chiếm dụng từ đó tạo điều kiện để tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Bolek và các cộng sự (2012) nghiên cứu các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Phần Lan cũng kết luận rằng kỳ thu tiền trung bình có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Addae và Nyarko-Baasi (2013) đã nghiên cứu 125 công ty không niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2004-2009 và tìm ra nhân tố kỳ thu tiền trung bình có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này cũng được đề cập trong nghiên cứu thực nghiệm của Gill và các cộng sự (2010), Tu và Nguyen (2014) và Pattweekongka & Napompech (2014). Giả thuyết H5: Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (ICC) càng nhỏ thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ thì càng có lợi cho doanh nghiệp, điều này chứng tỏ doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho tốt, công tác dự báo chính xác nên hàng không bị ứ đọng nhiều, giảm chi phí lưu kho và bảo quản, dẫn đến khả năng sinh lời cao hơn. Tu và Nguyen (2014) đã phân tích dữ liệu bảng của 208 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012 và tìm ra số ngày một vòng quay hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Giả định này cũng đã được xem xét đến và khẳng định mối quan hệ này thông qua kết quả nghiên cứu của Gill và các cộng sự (2010), Bolek và các cộng sự (2012), Pattweekongka & Napompech (2014) và Addae và Nyaruko-Baasi (2013). Giả thuyết H6: Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản (PS) càng lớn thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao. Thông thường tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của các doanh nghiệp ngành xây dựng sẽ cao hơn các ngành khác, tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng tốt, do doanh nghiệp có thể tận dụng nhiều hơn lợi thế của mình cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Lazaridis và Tryfonidis (2012) đã thu thập số liệu từ 131 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004 để xem xét sự tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả là nhân tố tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Ngược lại, nghiên cứu của Gill và các cộng sự (2010) lại chứng minh rằng tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản càng lớn thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng thấp khi nghiên cứu về 88 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New York từ năm 2005 đến năm 2007. 

    4. Kết quả nghiên cứu

    Dựa vào bảng phân tích tổng quan dưới đây, ta có thể đưa ra một số nhận xét tổng quan về khả năng sinh lời cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bảng 2 chỉ ra rằng tỷ lệ chi trả cổ tức trung bình của các công ty xây dựng niêm yết trong 5 năm từ 2012 đến 2016 là 2,3% đối với ROA và 8,4% đối với ROE. Tỷ suất này nhìn chung là thấp đối với các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn này do thị trường bất động sản trong năm 2012 đến hết 2014 gần như đóng băng, thị trường chỉ mới bắt đầu phục hồi vào khoảng đầu năm 2016. Đồng thời, sự biến động của ROA và ROE cũng là khá lớn cho thấy có những doanh nghiệp kinh doanh có lãi rất cao nhưng ngược lại cũng có những doanh nghiệp khả năng sinh lời rất thấp. Tương tự như vậy, trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng, thị trường bất động sản sôi động thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành xây dựng cũng rất cao nhưng ngược lại chỉ số này cũng rất thấp trong giai đoạn thị trường kém sôi động, gần như đóng băng. Ngoài ra, bảng 2 cũng cho kết quả thống kê mô tả giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của các biến trong mô hình nghiên cứu. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]