Author: Đức Trong

  • Phân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội hay nhất

    Phân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội hay nhất

    Phân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích tình huống truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật bà Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội để làm sáng tỏ nhận định: “Qua nhân vật bà Hiền, nhà văn Nguyễn Khải đã khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội.”

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Khải là nhà văn hiện đại xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Những tác phẩm của ông chủ yếu viết về đề tài nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới. Ông để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết. Truyện ngắn của Nguyễn Khải được đặc trưng bởi lối viết truyện ngắn không có cốt truyện, Một người Hà Nội là truyện ngắn đi theo hướng ấy, hướng của một truyện ngắn không có cốt truyện và nhân vật không hẳn là hình thành trong những tình huống hay xung đột nội tâm. Cô Hiền được coi là một nhân vật chính của truyện ngắn này, khi bàn về nhân vật có ý kiến cho rằng: “ Qua nhân vật cô Hiền nhà văn Nguyễn Khải đã khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội”.

        Truyện ngắn “Một người Hà Nội” là truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Khải phát hiện vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Việt Nam qua bao biến động, thăng trầm của đất nước. Khi xây dựng truyện ngắn này, phải chẳng nhà văn muốn định hình một phong cách sống, một thứ nền nếp, gia phong của người Hà Nội cũng là một sự sàng lọc của thời gian để cái còn lại là những tinh chất, những phẩm chất vượt trội, “ Những hạt bụi vàng” để rồi cả Hà Nội. cả đất kinh kì “chói sáng những ánh vàng” như một niềm tự hào hãnh diện về dân tộc Việt Nam? Cô Hiền là một nhân vật được xây dựng để hoàn thành sứ mệnh cao cả ấy. Đó là một người phụ nữ với phong cách đạo lí vừa triết lí một tính cách vừa thiết thực cũng lại rất đỗi hào hoa xoay quanh những mối quan hệ của nhân vật về gia đình, người thân, đất nước, bạn bè,……ở nhiều thời điểm cả quá khứ, hiện tại, và tương lai.

        Cô Hiền sinh ra trong một gia đình lương thiện, khá giả, được dạy dỗ đàng hoàng, từ nhỏ cô đã là một người con gái xinh đẹp, lớn lên cô trở thành một thiếu nữ Hà Thành, vẫn đầy đủ những nét xinh xắn và vẻ thông minh, sâu sắc của người thiếu nữ ngày nào. Cô là con người trí thức, hiểu biết rộng và còn tự mình mở được một xa lông văn chương, thế giới mà cô tiếp xúc cũng chính là toàn bộ những con người thuộc thế giới thượng lưu, văn nghệ sĩ Hà Thành.

        Qua mỗi thời kì, cô Hiền đều có cho mình những thái độ, cách hành xử phù hợp và thể hiện được những nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội.

        Sau năm 1954 hòa bình lập lại ở miền Bắc, nhân vật “ Tôi” từ chiến trường trở về, Hà Nội nhỏ và vắng hơn trước, bởi rằng, những người vốn sống ở Hà Nội trước đây thì giờ đều chuyển đi những vùng đất mới để làm ăn sinh sống và lập nghiệp. Nhưng, cô Hiền thì lại khác cô vẫn không rời xa Hà Nội, không sinh cơ lập nghiệp ở vùng khác. Phải chăng đây chính là sự gắn bó máu thịt của một con người với vùng đất chôn rau cắt rốn của họ? Sợi dây gắn kết ấy phải có lẽ được tạo ra bởi chính tình yêu của cô đối với Hà Nội.

        Mỗi khi nhân vật “ tôi” về thăm Hà Nội, cô luôn băn khoăn hỏi “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá như thế nào, dân tình thế nào ?”. Câu hỏi ấy tưởng như một câu hỏi xã giao đơn thuần, nhưng thực chất thì lại không phải thế! Ngay trong câu hỏi đã ẩn chứa một nỗi niềm đau đáu, phấp phỏng và tràn đầy hi vọng của một người phụ nữ về vùng đất mà mình yêu mến.

        Cô Hiền mang vẻ đẹp thanh lịch, nhã nhặn của người Hà Nội, một vẻ đẹp mà nhân vật ấy không ngừng xây đắp và luôn luôn có ý thức đề cao. Người xưa đã có câu:

        Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

        Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

        Vẻ đẹp thanh lịch đó thể hiện qua cách cô hiền dạy dỗ và uốn nắn những đứa con của mình. Trong ăn uống, từ cách cầm bát đũa, cách lấy canh, nói chuyện trong bữa ăn, ….đều được cô hướng dẫn tỉ mỉ cẩn thận. Cách ăn uống của gia đình cô Hiền được đặt trong sự đối sánh với cách ăn uống của gia đình nhân vật “tôi” đó là “Cứ việc sục muôi, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát mắng con cái, nhồm nhoàm, hả hê, không phải theo một quy tắc nào cả”. Cách ăn uống ấy chính là biểu hiện của một trong những nét đẹp văn hóa của người Hà Nội, những giá trị văn hóa được lưu giữ và phát triển cho tới ngày hôm nay.

        Bên cạnh cách ăn uống, còn là cách đi đứng, nói năng sao cho chuẩn mực, không tùy tiện buông tuồng và đặc biệt là “ Biết lòng tự trọng, biết xấu hổ.” Sự thanh lịch, những thói quen lịch lãm như dòng máu luôn chảy trong người cô, dù cho giữa nhịp sống xô bồ nhộn nhịp thì những thói quen ấy vẫn luôn giữ cho tốt tất cả những điều này.

        Ngoài những nét thanh lịch, ở cô Hiền còn toát lên vẻ đẹp của bản lĩnh cá nhân, bản lĩnh sống của người Hà Nội, cô có cho mình hiểu biết nhận thức rất thực tế về cuộc sống. Là người phụ nữ nhưng cô luôn khẳng định được vai trò “nội tướng” của mình, luôn chủ động, tự tin, mạnh mẽ, dám làm dám là chính mình. Việc cô Hiền lấy chồng là một ông giáo tiểu học, hiền lành chăm chỉ, sự kiện ấy khiến cả Hà Thành kinh ngạc. Chuyện sinh con đẻ cái cũng vậy, cô tính toán chuyện sinh con sao cho hợp lí và có thể nuôi dạy chúng cho tốt đến khi chúng trưởng thành. So sánh với thời kì phong kiến, hoặc không ít những người phụ nữ ngay trong thời đại của cô, họ là phái yếu luôn bị xã hội khinh rẻ, coi thường thì cô Hiền lại luôn thể hiện ngược lại. Người phụ nữ ấy quyết định nhiều việc trong gia đình, ngay cả vấn đề kinh tế cũng vậy, khi chồng bà định mua máy in, cô đã phân tích cho ông hiểu và thuyết phục thành công người chồng của mình. Như vậy người ta nhìn thấy được ở cô Hiền còn chính là cái nhìn bao quát và toàn diện, sự sâu sắc và thấu đáo trong tất cả những vấn đề của cuộc sống.

        Cô Hiền còn là một người phụ nữ đầy bản lĩnh, tính tình thẳng thắn. Cô đưa ra quan điểm của mình về việc Chính phủ can thiệp quá sâu vào đời sống của người dân, “Chính phủ can thiệp quá nhiều vào việc của dân quá, nào là phải tập thể dục mỗi sáng, sinh hoạt văn nghệ mỗi tối”. Sự thẳng thật với chế độ với thời đại, chính là thái độ thẳng thắn, trung thực của con người Hà Nội.

        Lòng tự trọng, nhân cách cao thượng của cô Hiền thể hiện rõ qua việc cô cho những đứa con của mình đi bộ đội. Khi đứa con trai đầu – “ Dũng” xin đi bộ đội vào Nam chiến đấu bà nói với nhân vật “tôi” : “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Đến lượt thằng con thứ hai lên đường cô cũng nói “Tao không khuyến khích cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm con đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”. Đó chính là một lối sống cao thượng, không thấp hèn, bám vào sự hi sinh của người khác, sống hổ thẹn với lương tâm. Ở đây cô còn hiện lên vẻ đẹp của người mẹ thời chiến có ý thức trách nhiệm với đất nước với dân tộc, biết sẻ chia trước đau thương mất mát của biết bao người mẹ khác. Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với cộng đồng. Ở cô Hiền, lòng tự trọng của cá nhân đã hòa vào lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một cách ứng xử rất nhân bản.

        Đặc biệt, cô Hiền luôn luôn tin tưởng vào những giá trị văn hóa bền vững của con người Hà Nội. Mỗi thời đại, mỗi vẻ đẹp riêng, đều có những nét đẹp không bao giờ đổi thay. Hình ảnh cây si cổ thụ xuất hiện ở cuối truyện đã khẳng định rằng, niềm tin và tình yêu, những giá trị tinh thần chính là liều thuốc quan trọng để lưu giữ và làm sống dậy những gì tưởng chừng như đã mất. Sự sống lại của cây cổ thụ là niềm lạc quan tin tưởng của tác giả vào sự phục hồi của những giá trị văn hóa truyền thống Hà Nội. Những giá trị văn hóa bền vững sẽ không mất đi, nhà văn ao ước những giá trị ấy sẽ hóa thân vào hiện tại “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì…”

        “ Qua nhân vật cô Hiền nhà văn Nguyễn Khải đã khẳng định sức sống bền bỉ của các giá trị văn hóa mang nét đẹp Hà Nội”. Nhận định như một lời nhận xét chính xác và đầy đủ nhất về vẻ đẹp của con người Hà Nội trong mọi thời đại, thời nào cũng vậy, con người nơi đây luôn lưu giữ, duy trì và phát huy những giá trị tốt đẹp. Cô Hiền – nhân vật chính của thiên truyện chính là một người như thế, một con người sắc sảo đến khôn ngoan, trải đời đến già dặn, nhưng cô cũng là một người bộc trực vô tư. Đối với đất nước và cách mạng, cô có quan niệm khá rạch ròi, với cuộc sống bản thân và gia đình, người phụ nữ ấy cũng nuôi dưỡng cho mình những quan niệm rất độc đáo và thông minh.

     

  • Phân tích tình huống truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Phân tích tình huống truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Phân tích tình huống truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích Hồn Trương Da, da hàng thịt

    [toc]

    Đề bài: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Anh, chị hãy làm rõ điều đó.

    Bài văn mẫu

        Được đánh giá là một trong những “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, Nguyễn Minh Châu luôn luôn khao khát khám phá những khía cạnh phức tạp và bí ẩn của đời sống con người. Sau năm 1975, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu thể hiện những trăn trở khôn nguôi của nhà văn trước những mảng tối hiện thực của cuộc sống thời kì hậu chiến. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những tác phẩm như thế. Trong truyện ngắn nhà văn có viết “Một cái gì đó vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ” Câu văn đã tô đậm ý nghĩa của tình huống truyện nhận thức được nhà văn xây dựng trong truyện ngắn này.

        Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 đã thể hiện được những khám phá quan trọng của nhà văn về cuộc sống và nghệ thuật ở thời kì mới. Thành công nổi bật về nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm này có thể kể tới việc xây dựng tình huống truyện vô cùng độc đáo.

        Tình huống truyện là một sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn mô tả trong tác phẩm của mình, tại sự kiện đó nhà văn đã làm sống dậy một tình thế bất thường có tính chất éo le gây bất ngờ trong quan hệ giữa các nhân vật, cũng qua sự kiện đó tính cách nhân vật được bộc lộ sắc nét, ý tưởng của nhà văn cũng được hiện hình khá trọn vẹn.

        Tình huống truyện được chia ra rất nhiều loại, trong đó Chiếc thuyền ngoài xa là tình huống truyện nhận thức của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật qua sự thể hiện nhận thức của nhân vật trong tác phẩm về vấn đề này.

        Sau nhiều ngày tìm kiếm, Phùng đã phát hiện ra một cảnh đẹp tuyệt vời để nhận ra bản thân cái đẹp cũng chính là một giá trị đạo đức và để thấy được những giây phút trong ngần của tâm hồn “Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” và Phùng đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào trong ống kính của mình.

        Thế nhưng, Phùng đã phát hiện ra một sự việc vô cùng tàn nhẫn trong đời sống hiện thực – đó là sự việc người đàn ông làng chài đánh đập, chửi rủa vợ mình một cách tàn tệ ngay trên bãi cát – nơi Phùng đang say sưa với cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Sự việc này khiến Phùng kinh ngạc, đau đớn để từ đó nhận ra những điều phi lí, những sự thật trần trụi vẫn luôn tồn tại trong cuộc sống bề bộn quanh mình. Phùng đã từng trải qua chiến tranh, đã cầm súng để bảo vệ hòa bình và hạnh phúc cho con người nên anh không thể chấp nhận nổi cách ứng xử tàn nhẫn, độc ác của lão đàn ông kia. Đó chính là lí do khiến Phùng không chỉ kinh ngạc phẫn nộ mà còn có những hành động bột phát: Anh quăng chiếc máy ảnh xuống đất, xông vào ngăn cản hành động vũ phu của người đàn ông để bênh vực người đàn bà bất hạnh, yếu đuối. Phản ứng trong tình cảm và hành động của Phùng khi ấy cho thấy anh không chỉ là một người nghệ sĩ có niềm say mê với cái đẹp mà còn là con người có tấm lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm. Cũng chính tấm lòng và trách nhiệm ấy đã khiến anh dù hoàn thành nhiệm vụ của một phóng viên vẫn quyết định ở lại vùng biển thêm mấy ngày để cùng Đẩu giải quyết việc.

        Sau đó, câu chuyện ở tòa án huyện: Cả Phùng và Đẩu đã phải đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác về người đàn bà – nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình kia. Mang tâm lí của một người tự coi mình là ân nhân, xuất hiện để giúp đỡ, che chở bênh vực cho người đàn bà bất hạnh để giúp chị ta thoát khỏi những bi kịch trong cuộc sống của mình , Phùng và Đẩu đã vô cùng bất ngờ khi người đàn bà ấy không nghe theo lời khuyên, từ chối sự giúp đỡ và một mực van xin để không phải bỏ chồng. Sự việc này bất ngờ đến mức Phùng vừa kinh ngạc, vừa khó hiểu, vừa bị sốc tới mức căn phòng đang lộng gió biển mà anh có cảm giác như bị rút hết không khí để trở nên ngột ngạt. Những cảm giác sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất mà Phùng cảm nhận được từ câu chuyện này lại có được chính từ phát hiện mới của anh về con người của người phụ nữ ấy – đó là những phẩm chất đích thực ẩn giấu sau bề ngoài nhẫn nhục cam chịu và có phần u mê. Hóa ra, người phụ nữ ấy hoàn toàn không giống với những gì Phùng và Đẩu thấy: Đằng sau vẻ cam chịu nhẫn nhục là sự hiểu biết, lòng vị tha, tình yêu thương sâu sắc – những phẩm chất chỉ có được ở một người có nhiều trải nghiệm cuộc đời và hiểu được ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Chị nhẫn nhục là vì thương con, chị cam chịu vì lòng độ lượng, vị tha, vì thấu hiểu nguyên cớ dẫn đến những hành động độc ác vũ phu của người chồng và trên hết vì chị có một đức hi sinh vô bờ bến. Tất cả những điều này khiến cả Phùng và Đẩu không thể tiếp tục nhìn chị ta bằng cái nhìn thương hại.

        Và rồi “ Một cái gì đó vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”. Khát vọng, nhu cầu của con người và thực tế cuộc sống mà con người phải đối mặt: Người đàn bà trong câu chuyện chỉ mong có một cuộc sống bình yên, êm ấm, mong được thấy những đứa trẻ ăn no, muốn thấy cảnh vợ chồng quây quần bên nhau để có những phút giây vui vẻ.

        Chính những điều bất ngờ và đầy nghịch lí mà Phùng chứng kiến đã khiến anh không thể tiếp tục nhìn cuộc sống bằng một cái nhìn giản đơn. Nó buộc anh phải suy nghĩ để nhận thức lại tất cả. Cuộc sống chứa đầy những phức tạp, bất ngờ con người ta muốn hiểu được thì cần đi sâu và nhìn nhận mọi thứ đa diện đa chiều hơn.

        Qua tình huống truyện Nguyễn Minh Châu giúp ta nhận ra sự phức tạp ở đời sống con người với những hiện tượng không dễ để đánh giá, những mối quan hệ không dễ để cắt nghĩa lí giải. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn người kể chuyện trong truyện ngắn này là một người nghệ sĩ bởi chính sự mẫn cảm cái nhìn sâu sắc mang tính phát hiện và ý thức trách nhiệm với cuộc đời của nghệ sĩ Phùng đã giúp Nguyễn Minh Châu gửi gắm một quan niệm, một yêu cầu với nghệ thuật : Nghệ thuật cần hướng tới cái đẹp song nghệ thuật không thể chỉ là chiếc thuyền ngoài xa. Nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi bắt nguồn từ cuộc sống, là tiếng nói của đời sống trở thành một phần của cuộc sống này.

     

  • Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích Hồn Trương Da, da hàng thịt

    Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích Hồn Trương Da, da hàng thịt

    Phân tích nhân vật Trương Ba trong đoạn trích Hồn Trương Da, da hàng thịt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài văn Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Hồn Trương Ba, nhân vật bi kịch trong đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.

    Bài văn mẫu

        Một triết gia người Đức đã từng nói : “Anh phải trở về cái gì của chính anh”. Câu nói ấy là tiếng nói phải được sống là chính mình để trở thành một con người hoàn thiện. Tiếng nói ấy cũng gợi chúng ta nghĩ tới vở kịch “ Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, thông qua nhân vật Hồn Trương Ba cũng bật lên tiếng gọi, lời khẩn cầu tha thiết được sống là chính mình “Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Chỉ với câu nói ấy nhưng cũng toát lên một nỗi niềm, nỗi bi kịch đau đớn cùng khát vọng chính đáng của chính nhân vật Hồn Trương Ba.

     

        Trước tiên, xét về thể loại văn học, bi kịch có thể được hiểu là một thể loại kịch trong đó chứa đựng những mâu thuẫn, xung đột căng thẳng, gay gắt giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, giữa cái cao cả và cái thấp hèn do vậy mà nhân vật bi kịch thường xuất phát điểm là những con người hiền lành, lương thiện do các yếu tố chủ quan hay khách quan bị đẩy vào bi kịch, khiến mình trở nên khác đi không còn giống như ban đầu song họ vẫn ý thức được điều đó nên bị rơi vào trạng thái đau khổ, bế tắc, trăn trở tìm lối thoát cho mình nhưng kết thúc thường là cái chết của nhân vật.

     

        Soi chiếu cách hiểu trên vào nhân vật Hồn Trương Ba, ta nhận thấy nhân vật ấy là một nhân vật bi kịch. Đó là nỗi bi kịch tinh thần đau đớn của nhân vật. Bi kịch ấy xuất phát từ nỗi niềm muốn sửa sai của Đế Thích-một quan nhà trời và là bạn chơi cờ của ông Trương Ba đã nhập hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt. Từ đây mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, một con người mà được kết hợp bởi hai thực thể hoàn toàn đối lập, trái ngược nhau. Một Trương Ba yêu thiên nhiên, yêu gia đình, hòa nhã với mọi người, có tài đánh cờ giỏi lại kết hợp với xác anh hàng thịt là một tên đồ tể giết lợn, thô lỗ, cộc cằn, ham rượu, ham đàn bà. Giữa hai thực thể đối lập nhau đã dần dần khiến Hồn Trương Ba tha hóa, biến chất. Hồn người này kết hợp với xác người kia là việc đi ngược lại với quy luật tự nhiên vốn có, một sự áp đặt tùy tiện, máy móc. Cuối cùng Hồn Trương Ba biến chất một cách đau đớn, thảm hại, xót xa. Về hành động, Trương Ba không còn thường hay đánh cờ nữa, trí tuệ không còn được minh mẫn, sáng suốt. Là một người làm vườn, cây cối vốn là một thứ mà trước đây ông hết sức yêu quý và nâng niu, nay ông còn phá hoại cả chúng trên thân xác xù xì, thô kệch và nặng nề của anh hàng thịt : “ông làm gãy tiệt cái chồi non… chân ông giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong vườn, còn “làm hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý”, “lãm gãy cả nan rách giấy” thậm chí “Trương Ba tát người con trai toét máu mồm, máu mũi”. Về cách sống, dường như tính cách Trương Ba thay đổi hẳn, không còn hiền hậu, vui vẻ, tốt bụng với những người trong gia đình và cả với mọi người xung quanh. Ông trở nên cọc cằn, thô lỗ, lại còn bị thân xác lấn át khi ham muốn vợ anh hàng thịt, đứng cạnh vợ anh hàng thịt, ông cảm thấy “tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực”. Như vậy từ hành động tới cách sống của Hồn Trương Ba hoàn toàn biến mất, tha hóa chính là nỗi đau đớn của Hồn Trương Ba. Bởi vì ông hiểu rằng cái tôi của mình trước đây, của một người làm vườn vốn là biểu tượng của cái đẹp song giờ đây, con người ấy lại hòa vào xác anh hàng thịt lại là biểu tượng của sự thô lỗ, cộc cằn, hung bạo, ham dục vọng thì thử hỏi làm sao mà không tha hóa, biến chất sao được. Chính Hồn Trương Ba đã phải bộc lộ rằng : “ Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Lời nói của Hồn Trương Ba biểu hiện nỗi day dứt, giày vò khi con người ngày trước bị biến mất hoàn toàn, quyết liệt bày tỏ với một thái độ dứt khoát “ Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời mi ngay tức khắc ”. Không dừng lại ở đó, Hồn Trương Ba còn bộc lộ sự ghê tởm, chán chường của mình trước thân xác của anh hàng thịt “ Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng ” , ta sẽ “ tách ra khỏi cái xác này dù chỉ là một lát ”. Qua những suy nghĩ và lời nói của nhân vật Hồn Trương Ba ta có thể thấy rõ Lưu Quang Vũ đã đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật, thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau đớn của Hồn Trương Ba.

     

     

     

        Song bi kịch của Hồn Trương Ba không chỉ dừng lại ở đó, ông lại lâm vào bi kịch thứ hai có phần đau đớn hơn bi kịch trước. Đó là khi ông bị gia đình nghi ngờ, xem thường và xa lánh. Tất cả mọi người thân trong gia đình từ người vợ, người con trai cả, đứa cháu gái và cả người con dâu ai ai cũng xa lạ, nghi ngờ và xem thường ông vì họ không tìm thấy ở ông một ông Trương Ba làm vườn của ngày trước hiền lành, đôn hậu. Khi Hồn Trương Ba gần vợ anh hàng thịt khiến ông “ tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực” biểu thị sự ham muốn trỗi dậy không còn “ sự hiền lành, vui vẻ, tốt lành” như xưa, đến nỗi cả vợ ông khi nhìn thấy chồng mình trước tình cảnh như thế, vừa thương vừa giận vừa ghen và muốn xa lánh ông ngay lập tức. Bà vợ đã tâm sự thẳng thắn với ông : “ Ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa” và bà quyết định “ Có lẽ tôi phải đi… đi cấy thuê, làm mướn, ở đâu cũng được…, đi biệt… Để ông được thảnh thơi… với cô vợ hàng thịt… Còn hơn là thế này…”. Những suy nghĩ này của vợ Trương Ba xuất phát từ nỗi đau trong tâm hồn người vợ, khi biết chồng mình đâu còn là con người của trước đây. Rồi người con trai cả, trước kia đều vâng lời lắng nghe ý kiến của cha nhưng nay anh lại “ quyết định, dứt khoát sẽ bán khu vườn để có tiền mở thêm vốn liếng cửa hàng thịt” dù Hồn Trương Ba không chấp nhận. Và hình ảnh cái Gái vốn rất yêu thương, kính mến ông nội nay cũng không thừa nhận ông đồng thời lên án sự thô bạo, tàn nhẫn, giẫm nát cây cối trong vườn, phá hỏng cái diều của cu Tị và phẫn nộ hét lên : “ Ông xấu lắm, ác lắm ! Cút đi ! Lão đồ tể cút đi !” rồi lại nói tiếp : “ Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông”. Ngay cả người con dâu cảm thông, hiểu rõ nỗi đau khổ của bố chồng nhưng sâu trong thâm tâm vẫn nghi ngờ người bố chồng hiện nay. Người con dâu đã tâm sự với ông : “ Thầy bảo con : Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa”. Lời tự bạch của người con dâu rất đỗi chân thật, cảm thông nỗi khổ của bố chồng khi đánh mất những gì tốt đẹp của ngày xưa rồi cô lại tiếp tục nói: “Thầy ơi! Làm sao, làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con ngày xưa”. Hàng loạt những suy nghĩ từ người thân trong gia đình đã chứng tỏ ai ai cũng xa lánh, nghi ngờ, xem thường Trương Ba hiện tại.Như vậy, giữa hai thực thể là người làm vườn biểu tượng cho cái đẹp và thân xác tên đồ tể biểu tượng cho cái xấu, cái ác đã làm cho Trương Ba không còn nguyên vẹn “hồn nào xác ấy” như xưa được nữa.

     

     

     

        Chính vì lâm vào hai bi kịch như trên, Hồn Trương Ba đã mời Đế Thích về để tỏ bày khát vọng chính đáng của mình : “Không thể sống bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” . Hồn Trương Ba tha thiết xin trả lại xác anh hàng thịt và cho mình được chết vì ông nghĩ rằng: “ Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn”. Nhưng Đế Thích vẫn muốn để Trương Ba được sống để tiếp tục có người đánh cờ cùng, có người khen mình là tiên cờ nên đã đề nghị Hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị ( con chị Lụa ) vừa mới chết. Nhưng cách giải quyết này của Đế Thích cũng vẫn là cách đi ngược lại với quy luật của tạo hóa, đâu khác chi với hoàn cảnh thực tại của mình. Và Hồn Trương Ba đã yêu cầu Đế Thích cho anh hàng thịt và cu Tị được sống, được trở về với gia đình và để Trương Ba chết. Hồn Trương Ba nói : “ Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”. Lời nói ấy càng cho thấy rõ sự tắc trách của các quan nhà trời, càng sửa lại càng sai, càng làm cho con người rơi vào bế tắc, đau khổ, đánh mất chính mình. Suy nghĩ của Hồn Trương Ba, dù không còn trên cõi đời này nhưng hình ảnh một ông Trương Ba hiền hậu, vui vẻ sẽ mãi sống trong lòng mọi người với tình yêu thương và lòng kính trọng. Đó chính là một khát vọng sống chính đáng. Vở kịch khép lại, kết thúc bằng cái chết của nhân vật Trương Ba nhưng lại lấp lánh tính nhân văn, triết lí. Đó là một hướng giải quyết phù hợp với lẽ tự nhiên, với quy luật đạo đức với con người.

     

        Làm nên sự thành công của vở kịch, ta không thể không nhắc tới nghệ thuật xây dựng tình huống đầy kịch tính, lời thoại nhân vật sống động, chân thật, đi sâu vào nội tâm nhân vật để khắc họa lên nhân vật Hồn Trương Ba với những bi kịch nhưng đậm chất nhân văn. Lưu Quang Vũ đã thổi vào nền kịch nói Việt Nam sau 1975 một làn gió mới. Và chắc chắn sức sống của nó sẽ còn mãi trong lòng bạn đọc đến hôm nay và cả mai sau.

  • Bài văn Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất

    Bài văn Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất

    Bài văn Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn

    [toc]

    Đề bài: Kịch Lưu Quang Vũ giàu giá trị nhân văn. Anh, chị hãy phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt để làm rõ điều đó.

    Bài văn mẫu

        Lưu Quang Vũ là một người đa tài, ông hoạt động trong hầu hết lĩnh vực nghệ thuật. Ông vừa có thể viết truyện, làm thơ, am hiểu về hội họa… song có lẽ dấu ấn của ông được khẳng định rõ nhất qua kịch. Kịch của Lưu Quang Vũ giàu tính triết lí mang đậm ý nghĩa nhân văn. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” cũng là một tác phẩm như thế. Đăc biệt đoạn trích cảnh VII của vở kịch thể hiện sáng rõ giá trị nhân văn của toàn vở kịch khi diễn ra xung đột gay gắt giữa hồn và xác và được đẩy lên tới đỉnh điểm.

     

        Trước hết, giá trị nhân văn của một tác phẩm có thể được hiểu là vẻ đẹp, phần sáng trong một con người song phần đẹp đẽ của một con người chỉ thực sự được bộc lộ khi được đặt vào các mâu thuẫn, sự đấu tranh trong hoàn cảnh cụ thể. Ở đó nhân vật luôn cố gắng thoát ra khỏi những bóng tối, những cái xấu xa để khẳng định bản thân mình, vươn tới những giá trị đẹp nhất trong xã hội. Nói như thế, phần nổi bật của giá trị nhân văn là giá trị về tinh thần của con người như: trí tuệ, phẩm giá, nhân cách, tâm hồn… Giá trị nhân văn được xem như là thước đo giá trị văn học của mọi thời đại.

     

        Hiểu như thế, ta nhận thấy giá trị nhân văn của cảnh VII của vở kịch được khắc họa rõ nét qua nhân vật Trương Ba. Trương Ba là hiện thân của một con người tốt bụng, sống thanh tao và đặc biệt có biệt tài là chơi cờ rất giỏi. Ông là người thường chơi cờ với Đế Thích và hai người trở thành bạn của nhau. Tuy nhiên, do thiếu tinh thần trách nhiệm, tắc trách trong công việc của mình, các quan nhà trời đã gạch tên Trương Ba ở hạ giới khiến ông Trương Ba bị chết oan. Để sửa sai, Đế Thích cũng là một quan nhà trời đã cho hồn Trương Ba sống lại bằng cách nhập vào xác anh hàng thịt mới chết được một ngày. Từ đây, xung đột mâu thuẫn ở trong nhân vật hồn Trương Ba nảy sinh một cách gay gắt. Nhưng chính mâu thuẫn, sự đấu tranh ấy lại làm ngời sáng giá trị nhân văn của tác phẩm.

     

     

     

        Hình ảnh một ông Trương Ba ngồi một mình ôm đầu hồi lâu đã cho chúng ta sự chán nản, tuyệt vọng trong tâm hồn. Hồn Trương Ba cảm thấy nỗi đau đớn của chính mình khi con người thật của mình đã bị đánh mất. Về hành động, Trương Ba không còn thường hay đánh cờ nữa, trí tuệ không còn được minh mẫn, sáng suốt. Là một người làm vườn, cây cối vốn là một thứ mà trước đây ông hết sức yêu quý và nâng niu, nay ông còn phá hoại cả chúng trên thân xác xù xì, thô kệch và nặng nề của anh hàng thịt : “ông làm gãy tiệt cái chồi non… chân ông giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong vườn, còn “làm hỏng mất cái diều đẹp mà cu Tị rất quý”, “lãm gãy cả nan rách giấy” thậm chí “Trương Ba tát người con trai toét máu mồm, máu mũi”. Về cách sống, dường như tính cách Trương Ba thay đổi hẳn, không còn hiền hậu, vui vẻ, tốt bụng với những người trong gia đình và cả với mọi người xung quanh. Ông trở nên cọc cằn, thô lỗ, lại còn bị thân xác lấn át khi ham muốn vợ anh hàng thịt, đứng cạnh vợ anh hàng thịt, ông cảm thấy “tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực”. Như vậy từ hành động tới cách sống của Hồn Trương Ba hoàn toàn biến mất, tha hóa chính là nỗi đau đớn của Hồn Trương Ba. Bởi vì ông hiểu rằng cái tôi của mình trước đây, của một người làm vườn vốn là biểu tượng của cái đẹp song giờ đây, con người ấy lại hòa vào xác anh hàng thịt lại là biểu tượng của sự thô lỗ, cộc cằn, hung bạo, ham dục vọng thì thử hỏi làm sao mà không tha hóa, biến chất sao được. Giá trị nhân văn của tác phẩm lại nằm ở chỗ nhà viết kịch không để Hồn Trương Ba trượt dài trên sự tha hóa, biến chất của thân xác vốn không thuộc về mình, không phải là của mình. Một Trương Ba bị gia đình nghi ngờ, cảm thấy xa lạ, xa lánh nên nhân vật nhận thức rõ điều ấy và không muốn sống một cuộc sống lay lắt, sống dở, chết dở. Hồn Trương Ba quyết tìm gặp Đế Thích để nói lên khát vọng sống đích thực của mình là đòi lại quyền làm người, quyền sống thích đáng của con người. Trong cuộc nói chuyện, Hồn Trương Ba đã lên tiếng phê phán thói ích kỉ của Đế Thích : “ Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!” và bày tỏ ước vọng của mình là muốn được chết vì chỉ có cái chết mới trả lại con người đích thực của Hồn Trương Ba, mới có thể tìm lại một Trương Ba tốt đẹp trong mắt mọi người xung quanh như xưa. Đối với Trương Ba, cái chết là một sự giải thoát thể hiện tinh thần phản kháng, đấu tranh đòi lại quyền làm người, đòi lại một người yêu thiên nhiên, yêu gia đình, yêu mọi người. Với khát vọng “ Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” thì đó lại là một cái chết đẹp. Tiếng nói ấy là một tiếng nói hết sức chính đáng, sống đúng với tư cách của một con người là một phẩm chất đẹp. Hồn Trương Ba quyết liệt tìm đến cái chết : “Tôi không nhập vào hình thù của ai nữa. Tôi đã chết rồi hãy để tôi chết hẳn”. Và ông còn quả quyết khi đưa ra lời đe dọa với Đế Thích “ Nếu ông không giúp, tôi sẽ nhảy xuống sông, hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất…”. Những lời nói phản kháng quyết liệt của Hồn Trương Ba khi đối diện với Đế Thích càng thấy rõ sức sống tiềm tàng trong con người Hồn Trương Ba thật mãnh liệt để tìm lại chính mình, đòi lại quyền làm người thích đáng của mình khi đã bị các quan nhà trời tước đoạt là phẩm chất tốt đẹp ở nhân vật này.

     

     

     

        Một phẩm chất tốt đẹp nữa của Hồn Trương Ba cũng được bộc lộ ở ông đó là tình yêu thương con người. Khi Đế Thích vẫn muốn níu kéo sự sống của Hồn Trương Ba bằng cách đưa ra lời gợi ý, lời khẩn cầu sống trên thân xác của cu Tị hàng xóm trong cơn thập tử nhất sinh, Hồn Trương Ba đã không đồng ý và cùng lúc ấy ông đã xin trả lại sự sống cho anh hàng thịt và cu Tị. Dù Hồn Trương Ba nhận thấy thân xác của anh hàng thịt đã từng cười cợt, ngạo mạn, xem thường, miệt thị Hồn Trương Ba. Nếu không có hắn, Hồn Trương Ba có lẽ sẽ không bị rơi vào tình trạng đau đớn, day dứt, giày vò. Nhưng nguyện vọng của Hồn Trương Ba vẫn xin cho anh hàng thịt được sống, được trở về với gia đình, vợ con đã thể hiện một tấm lòng bao dung, nhân hậu, yêu thương con người của Hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba đã lấy ân báo oán, xóa bỏ thù hận trước kia bởi ông hiểu rõ nỗi đau của người vợ khi mất chồng và nỗi đau của người mẹ khi mất con từ đó yêu cầu tha thiết Đế Thích trả lại sự sống cho anh hàng thịt và cu Tị là một phẩm chất đáng quý.

     

        Để khắc họa lên bản chất tốt đẹp trong sâu thẳm con người của Hồn Trương Ba khiến cho vở kịch mang đậm giá trị nhân văn, Lưu Quang Vũ đã xây dựng được tình huống đầy kịch tính, lời thoại của nhân vật chân thật, sinh động, lôi cuốn, đi sâu vào nội tâm nhân vật với sự đấu tranh mâu thuẫn phức tạp, giằng xé. Kịch bản đã nêu lên được thông điệp: Phải tôn trọng quyền làm người, quyền sống của con người và không có sự áp đặt tùy tiện làm cho con người tha hóa, đánh mất chính mình cũng là ý nghĩa nhân văn của vở kịch.

  • Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn

    Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn

    Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm nhận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, có một lời thoại quan trọng: “Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Anh chị hãy phân tích tình huống éo le của nhân vật Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt để làm sáng tỏ lời thoại trên.

    Bài văn mẫu

        Lưu Quang Vũ được coi là một trong những hiện tượng đáng chú ý của nền văn học dân tộc trong những năm 80 của thế kỉ XX. Không chỉ ghi dấu ấn của mình với thơ, ông còn khẳng định vị thế của mình trong thể loại kịch với số lượng vở kịch được dàn dựng hầu hết thu hút công chúng đến từ mọi miền đất nước. Kịch của Lưu Quang Vũ viết về nhiều đề tài, giàu tính triết lí và “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” cũng là một vở kịch như thế. Ở đây ta dễ dàng bắt gặp tính triết lí ấy hiển hiện ngay trên lời thoại của nhân vật trong đó câu nói “Không thể sống bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” đã thể hiện tình huống éo le của nhân vật Trương Ba.

        Câu nói trên là lời nói của nhân vật Hồn Trương Ba với Đế Thích,mang đậm tính triết lí, ấy là sự hài hòa, thống nhất giữa hồn và xác trong một con người. Nó thể hiện khát vọng sống khi nhân vật ý thức được bi kịch từ cuộc sống của chính mình- phải sống gán gửi, tạm bợ trên thân xác của anh hàng thịt. Nói như thế, có nghĩa là nhân vật muốn thoát ra khỏi thực tại, mong muốn được sống là chính mình mà không bị sự điều khiển, chịu sự chi phối của thân xác vốn không phải là của mình.

        Tình huống éo le của nhân vật xuất phát từ việc sai sót của Nam Tào, Bắc Đẩu khiến ông Trương Ba chết đi và Đế Thích rất có thiện ý muốn sửa sai. Đế Thích đã để ông Trương Ba sống lại trên xác anh hàng thịt vừa mới chết được một ngày. Tưởng đâu được sống lại là hạnh phúc nhưng không ông Trương Ba luôn phải sống trong đau khổ trên thân xác anh hàng thịt. Ông bị người vợ nghi ngờ vì những ham muốn, những dục vọng đối với vợ anh hàng thịt. Rồi bị cái Gái xa lánh vì cái thân xác nặng nề vốn nâng niu cây cối mà làm gãy cả chồi non, chân giẫm nát cả cây sâm mới ươm, làm hỏng cả cái diều của cu Tị. Đến người con dâu cũng nhận thấy sự xa lạ của một ông Trương Ba trước kia với bây giờ dần dà cô cũng có lúc “không nhận ra thầy nữa”.

        Nhận thấy bi kịch của mình, Hồn Trương Ba thể hiện khát vọng muốn được là mình toàn vẹn giống như trước kia. Nhân vật đã nói chuyện với Đế Thích giãi bày bi kịch sống nhờ, sống không đúng là mình : “Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!” và từ chối cơ hội được sống quý giá của mình. Ngay cả khi Đế Thích đề cập tới việc sống trên thân xác cu Tị trong cơn thập tử nhất sinh, ông cũng nhất mực từ chối vì ông cho rằng một ông già nhập vào xác một đứa trẻ “chưa bắt đầu cuộc đời, còn đang tuổi ăn, tuổi lớn, chạy nhảy vô tư” là không phù hợp, không tương thích.

        Có thể nói, lời thoại trên của nhân vật Hồn Trương Ba đã thể hiện quan niệm của mình về hạnh phúc, về lẽ sống : Hạnh phúc không phải chỉ đơn giản là được sống mà quan trọng hơn đó là sống như thế nào. Bức thông điệp này được nhà viết kịch Lưu Quang Vũ gửi gắm thông qua bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba : Đó là con người phải được sống là chính mình, sống hòa hợp giữa hồn và xác – tâm hồn lương thiện, trong sạch và thân xác khỏe mạnh ấy mới chính là sống hạnh phúc.

        Xây dựng được tình huống éo le của nhân vật trong vở kịch, Lưu Quang Vũ đã phát triển và sáng tạo cốt truyện dân gian. Chính tình huống éo le của nhân vật đã tạo nên nên khác biệt giữa cốt truyện dân gian và kịch bản của Lưu Quang Vũ. Nếu như cốt truyện dân gian hướng tới một kết thúc có hậu đó là khi Hồn Trương Ba sống trên xác anh hàng thịt hạnh phúc bên gia đình và người thân thì ở kịch của Lưu Quang Vũ, sự việc ấy lại làm nảy sinh bi kịch, những nỗi đau khổ của nhân vật. Bên cạnh đó, Lưu Quang Vũ còn dựng lên những kịch tích thông qua hành động, cử chỉ của nhân vật đặc biệt là lời nói của nhân vật vừa đậm triết lí vừa mang tầm khái quát cao.

        Lời thoại trên của nhân vật đã thể hiện một quan niệm sống giàu giá trị nhân văn, không chỉ phản ánh đúng qua đời sống của nhân vật Trương Ba mà còn rất đúng đắn khi mỗi con người, mỗi cá nhân soi chiếu vào đời sống cụ thể của mình. Giờ đây, ta đã hiểu vì sao mà kịch của Lưu Quang Vũ có sức sống lâu bền, thu hút công chúng đến như vậy và chắc chắn vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nói riêng và kịch Lưu Quang Vũ nói riêng sẽ vẫn sống mãi với thời gian.

     

  • Cảm nhận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Cảm nhận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Cảm nhận về nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: So sánh nhân vật Người lái đò với nhân vật Huấn Cao hay nhất

    [toc]

    Đề bài: : Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài hai lần miêu tả A Phủ: Lần thứ nhất, lúc bị đánh trong cuộc xử kiện: “A Phủ chỉ quỳ, im như tượng đá”. Lần thứ hai là lúc được Mị cởi trói: “A Phủ quật sức vùng lên chạy.”

        Cảm nhận hình ảnh nhân vật A Phủ trong hai chi tiết trên. Từ đó phát biểu giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

    Bài văn mẫu

        Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm xuất sắc nhất cũng là tác phẩm đề đời của nhà văn Tô Hoài trong tập “Truyện Tây Bắc”. Và một trong những thành công của truyện là nghệ thuật miêu tả nhân vật A Phủ. Khi miêu tả nhân vật A Phủ nhà văn đã cho thấy tài năng của mình khi bắt đầu kể chuyện từ thời điểm có ý nghĩa trong cuộc đời của A Phủ, để từ đó làm nổi bật lên tính cách của nhân vật. Và trong tác phẩm này, tác giả đã chú ý chọn lựa hai chi tiết tiêu biểu làm nên cá tính của A Phủ: Lần thứ nhất, lúc bị đánh trong cuộc xử kiện: “A Phủ chỉ quỳ, im như tượng đá. Lần thứ hai là lúc được Mị cởi trói: “A Phủ quật sức vùng lên chạy”. Đó là sức mạnh phản kháng ở người nông nô nghèo miền núi.

        A Phủ xuất hiện trong tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh cho người đọc, đó là cảnh A Phủ đánh A Sử, con trai thống lí Pá Trá, khi hắn dám phá đám chơi của A Phủ và đám bạn. Ta tưởng đây là nhân vật có quyền thế nhưng không A Phủ cũng giống như Mị, anh là người nông nô nghèo bị gia đình Pá Tra áp bức, bộc lột và trở thành tôi đòi, con ở, nô lệ cho gia đình thống lí.

        Tuổi thơ của A Phủ đầy bất hạnh, mới mười tuổi đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ trong dịch bệnh đậu mùa. A Phủ trở thành đứa bé tứ cố vô thân không cha mẹ, không anh em, không có ruộng, không có bạc, đã vậy lại bị người làng xấu bụng bán xuống núi thấp để đối lấy thóc, A Phủ không chịu liền trốn lên núi cao lưu lạc đến Hồng Ngài làm thuê làm mướn. Đến lớn, A Phủ trở thành một chàng trai khỏe mạnh, chăm chỉ cày ruộng cuốc đất. Nhưng dù lớn lên trong cảnh nghiệt ngã, A Phủ vẫn hồn nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống tự nhiên, yêu chính nghĩa. Anh vẫn đem sáo, đem khèn đi tìm người yêu.

        Tuy nhiên, đâu chỉ có vậy, số phận nghiệt ngã đã biến A Phủ trở thành nông nô cho nhà thống lí chỉ vì đánh A Sử, người đã phá đám chơi của A Phủ và đám bạn. Trước khi trở thành nông nô cho nhà Pá Tra, A Phủ phải tham gia xử kiện mà không phải lỗi của mình. Anh bị đánh đập dã man, tàn bạo “mặt A Phủ xưng lên môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Đến khi trở thành nông nô cho nhà thống lí Pá Tra, anh bị bóc lột sức lao động một cách tàn nhẫn ở ngoài gò ngoài rừng. Đặc biệt phải chịu hành hạ về nỗi đau tinh thần khi bị con ma trình mặt, phải chịu đựng những lời chửi rủa cay độc của mọi người và Pá Tra.

        Nhưng một lần nữa, Tô Hoài lại cho thấy niềm tin của ông vào giá trị của con người. Nó không chỉ được thể hiện qua nhân vật Mị mà nó còn được thể hiện qua sức mạnh phản kháng ở nhân vật A Phủ. Điều này được nhà văn Tô Hoài chọn lựa chi tiết trong vụ xử kiện, khi bị bọn trai làng xô đến đánh, “A Phủ chỉ quỳ, im như tượng đá”. Nhiều người đọc đến đây cho rằng A Phủ hèn nhát, nhưng không, nếu hèn nhát thì sao A Phủ dám đánh A Sử có nạm vòng bạc ở cổ rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo, ngược lại phải chăng hình ảnh “im như tượng đá” chính là một hành động của sự phản kháng, đó là biểu hiện bất tuân, nén nỗi căm giận vào trong lòng, không nói, không thanh minh đó chính là sức mạnh phản kháng tiềm ẩn bên trong con người nhân vật này.

        Chính cá tính gan góc, mạnh mẽ đó của A Phủ đã tạo nên những con sóng ngầm ngày một mạnh mẽ bên trong anh. Khi hoàn cảnh càng trở nên nghiệt ngã, đau khổ thì sức phản kháng lại càng mạnh mẽ. Nó được thổi bùng trong lần miêu tả thứ hai về A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Sự kiện bắt đầu khi A Phủ vô tình để hồ vồ mất bò do mải bẫy nhím, bị cha con thống lí Pá Tra phát hiện và bắt đứng trói vào cột không cho ăn, không cho uống. Nhưng nhờ sự đồng cảm, tình thương người của Mị, cô đã cởi trói cứu giúp A Phủ. Và trong hoàn cảnh giữa ranh giới của sự sống và cái chết, một lần nữa tinh thần phản kháng ấy lại trỗi dậy và được tài năng Tô Hoài thể hiện “A Phủ bỗng ngã khuỵu xuống không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay. A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy”. Hành động của A Phủ có lẽ lúc đầu chỉ là ý nghĩ chạy trốn khỏi cái chết nhưng sau đó nó đã trở thành hành động đến với con đường giải phóng. Từ việc tìm đường đến nhận đường chính là ý thức làm người, là tinh thần phản kháng, là khát khao sống, khát khao được tự do và đó cũng chính là cơ hội tốt để sau này A Phủ làm du kích cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp Cách mạng.

        Có thể nói, nghệ thuật miêu tả nhân vật A Phủ đầy sắc sảo của Tô Hoài đã tạo nên một hình tượng nhân vật đầy nam tính. Khát vọng tự do công bằng được biểu hiện ở A Phủ âm thầm, mạnh mẽ, hồn nhiên và cũng thật đơn giản. Tính cách của A Phủ mang phẩm chất tiêu biểu của người đàn ông chân chính dân tộc Mông.

        Hai lần miêu tả A Phủ ở hai thời điểm khác nhau có ý kiến trái chiều cho rằng lần miêu tả thứ nhất A Phủ đã cam chịu, cam phận đến lần thứ hai thì đó mới là sức mạnh phản kháng thật sự. Điều này không sai, bởi lẽ A Phủ để mặc cho họ đánh vì sức của A Phủ không thể địch lại với sức của hàng trăm người ở đó, nó là sức cường quyền áp bức lên một người nông nô nghèo thân cô thế cô và hơn nữa ở lâu trong cái khổ thì cũng quen khổ rồi, ở cái đất Hồng Ngài dưới ách thống trị của nhà thống lí Pá Tra thì đâu cũng vậy thôi. Đó cũng chính là sự cam chịu của người nông nô vùng núi cao khi chưa có ánh sáng của Đảng, chưa có sự giác ngộ, chưa biết đoàn kết tạo nên sức mạnh chống lại cường. Và chính lần miêu tả thứ hai khi A Phủ quật sức chạy, nó không chỉ thể hiện tinh thần phản kháng mạnh mẽ ở anh mà hành động quật sức chạy đó phải chăng là cơ hội để A Phủ chạy gần đến bên Cách mạng, được giác ngộ để làm du kích sau này. Từ đây, ta có thể thấy được tài năng am hiểu nội tâm con người của Tô Hoài, ông thật sự là một cây bút già dặn khi nhìn thấy hai mặt đối lập ở một con người A Phủ vừa cam chịu số phận nhưng cũng vừa mạnh mẽ, can trường, bất khuất. Đó cũng chính là niềm tin bất diệt của nhà văn vào tâm hồn, sức sống, sự phản kháng quyết liệt ở con người trên đường đi tìm hạnh phúc, tìm lại chính mình.

        Như vậy qua nghệ thuật miêu tả cuộc đời, tính cách của nhân vật A Phủ, Tô Hoài đã tố giác giai cấp thống trị miền núi đại diện là cha con nhà thống lí Pá Tra đã đẩy con người hiền lành chất phác như A Phủ vào cảnh bị cướp đoạt sức lao động, cướp đoạt quyền làm người. Viết về điều đó, nhà văn đã cảm thông với những khổ đau, bất hạnh của họ đồng tình với sự phản kháng quyết liệt để mở ra một lối thoát cho những người nghèo lao động miền núi. Qua đây, một lần nữa thể hiện tài năng nắm bắt cá tính con người và tấm lòng nhân đạo vô bờ bến của nhà văn Tô Hoài.

     

  • So sánh nhân vật Người lái đò với nhân vật Huấn Cao hay nhất

    So sánh nhân vật Người lái đò với nhân vật Huấn Cao hay nhất

    So sánh nhân vật Người lái đò với nhân vật Huấn Cao hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) để thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng tám 1945.

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Tuân được biết đến là “một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn” với cá tính mạnh và ngông. Ông là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Và chính cái nhìn độc đáo về con người như vậy, ông đã xây dựng hình tượng nhân vật của mình ở chất tài hoa nghệ sĩ mà tiêu biểu phải nhắc đến hai nhân vật: Huấn Cao (Chữ người tử tù) và người lái đò (Người lái đò sông Đà). Đây là hai nhân vật được khắc họa trong hai giai đoạn sáng tác khác nhau (trước và sau Cách mạng tháng Tám) của nhà văn. Ở hai nhân vật này đều có sự thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân.

        Trước hết, điểm nhất quán đầu tiên ở Huấn Cao và ông lái đò đó là họ đều được tiếp cận ở góc độ văn hóa nghệ thuật, theo tiêu chuẩn tài hoa nghệ sĩ. Nhân vật này đều là những con người nghệ sĩ tài hoa trong nghề nghiệp của mình, họ đều là những anh hùng kiên cường, bất khuất. Và đặc biệt hơn tâm hồn họ luôn trong sáng và cao đẹp. Huấn Cao mang vẻ đẹp thiên lương, nổi loạn không vì tư lợi cá nhân mà vì dân, vì nước, mục đích thể hiện một cái khao khát xây dựng công bằng, xóa sạch mọi bất công, ngang trái trong cuộc đời. Không vì vàng ngọc quyền thế mà ép mình viết chữ và chỉ cho chữ những người tri âm, tri kỉ trong đó có viên quan cai ngục. Khi Huấn Cao nhìn thấy tấm lòng trong sáng viên quản ngục, đã sẵn sàng nhận lỗi và cho chữ “thiếu một chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Huấn Cao quan điểm sống riêng đó là phải sống sao cho xứng đáng với những tấm lòng, phụ tấm lòng của người khác là điều không thể tha thứ. Ông thật sự là một nhân cách cao đẹp kết hợp giữa tâm và tài. Cũng giống như Huấn Cao, ông lái đò cũng được khắc họa chất vàng mười trong tâm hồn nhưng nó là vàng mười của người anh hùng lao động bình thường trên sông nước. Sau khi vượt qua ba chặng thác đầy nguy hiểm, nhưng ông lái đò không bàn tán một lời nào mà chỉ nói về cá anh vũ, cá dầm xanh. Đây chính là vẻ đẹp của người nghệ sĩ lớn, phẩm chất anh hùng lập nên bao chiến công phi thường nhưng lại rất đỗi bình thường. Đó cũng chính là vẻ đẹp của con người thời đại Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới.

        Nhưng ngay cả khi miêu tả nét tài hoa, uyên bác của họ thì Nguyễn Tuân vẫn cho thấy sự khác biệt. Đầu tiên trong cách giới thiệu hai nhân vật này, nếu như Nguyễn Tuân giới thiệu gián tiếp về Huấn Cao, nhà văn đứng ngoài cuộc, ông không đưa bất kì lời bình luận nào mà người đọc chỉ biết đến Huấn Cao qua cuộc trò chuyện với viên quan coi ngục và thầy thơ lại, đây là một con người tài hoa trong viết chữ, trong khi đó nhà văn giới thiệu ông lái đò là người “Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng đôi chục năm nay”, một sơ yếu lí lịch đầy đủ nhưng không cụ thể. Khác với Huấn Cao, ông lái đò không có một cái tên riêng. Như vậy, nếu trước Cách mạng, Nguyễn Tuân chỉ tìm thấy những bông hoa lạc lõng còn vương sót lại trong quá khứ thì sau Cách mạng, nhà văn tìm thấy những bông hoa, trong cuộc đời thật của đại bộ phận nhân dân mà tiêu biểu là ông lái đò.

        Điểm khác biệt tiếp theo được thể hiện chính trong tài năng của hai nhân vật, có nghĩa là dù nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng nét tài hoa ở Huấn Cao khác với nét tài hoa ở ông lái đò. Huấn Cao được xây dựng là một người có tài thư pháp, tài viết chữ đẹp siêu phàm. Cái tài đó nức danh, nổi tiếng khắp vùng. Ông viết chữ rất nhanh và rất đẹp. Chữ của ông “vuông lắm, đẹp lắm”, có được chữ ông Huấn treo trên nhà là có được vật báu trên đời. Không xin được chữ thì đó là niềm ân hận suốt đời của viên quan cai ngục. Và tài năng ấy càng được khẳng định qua thái độ biệt đãi Huấn Cao của viên cai ngục, ông nhìn tử tù Huấn Cao bằng con mắt hiền lành, kiêng nể, sai người quét dọn phòng giam, nhẫn nại và dũng cảm để xin được chữ của Huấn Cao, cho dù Huấn Cao đã đuổi đi “người hỏi ta muốn gì ư, ta chỉ muốn nhà ngươi đừng bước chân vào đây nữa”. Tài năng của Huấn Cao được thể hiện ngay trong nét chữ của ông, đó là nét chữ nhưng cũng là nét người, nét chữ ấy không chỉ vuông, tươi tắn mà còn nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người. Có thể khẳng định chữ viết của Huấn Cao là những tác phẩm mỹ thuật dành riêng cho những tao nhân mặc khách, những người có khiếu văn hóa thẩm mĩ và biết yêu cái đẹp. Nhưng không chỉ tài hoa với nghề viết chữ, Huấn Cao còn hiện lên là một anh hùng khí phách, hiên ngang và bất khuất. Ông dám một mình đứng lên lãnh đạo chống lại triều đình phong kiến thối nát. Khi dấy binh việc lớn không thành, dù có tài vượt ngục bẻ khóa nhưng ông cũng không chạy trốn ngược lại vẫn mang phong thái ung dung, thanh thản đến giây phút cuối cùng. Nửa tháng trời ở trong buồng giam, vẫn thản nhiên nhận rượu thịt giống như lúc bình sinh. Điều này chứng tỏ ông coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, khinh ghét cái xấu chính vì thế ông coi khinh quan cai ngục. Trước cái chết ngày mai vào kinh, pháp trường lập ở đó nhưng Huấn Cao vẫn ung dung chủ động đón nhận cái chết, dám làm dám chịu và vẫn khai sinh ra cái đẹp trong lòng của cái ác, cái xấu đang ngự trị. Đó thật sự là tính cách của người anh hùng kiên cường, bất khuất.

        Khác với Huấn Cao, ông lái đò là người tài hoa, trí dũng trong nghề chở đò của mình. Ông làm nghề chở đò đã suốt mười năm liền và vô cùng am hiểu dòng sông Đà mà ông vẫn chở khách hằng ngày. Để tô đậm vẻ tài hoa trong nghề chèo đò của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả ba chặng vượt thác đầy thử thách. Trong chặng vượt thác thứ nhất, sóng nước Đà giang hiện lên với tính cách của loài thủy chiến, đưa ra những đòn hiểm độc nhằm “bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”, chúng bày thiên la địa võng hò reo vang trời để uy hiếp tinh thần đối phương. Tuy nhiên, ông lái đò vẫn hiện lên là một con người trí tuệ, tài hoa khi nén cơn đau chống đỡ ngón đòn hiểm độc nhất của dòng sông, kiên cường dũng cảm vượt qua hỗn chiến dù cuộc chiến không cân sức này nhiều lúc làm ông rơi vào tình thế bị động nhưng ông vẫn phá được trùng vi thạch trận thứ nhất. Đến chặng thứ hai khi sóng nước Đà giang trở nên nham hiểm, xảo quyệt hơn, nó hiện lên như một con thú muốn đòi ăn chết con thuyền. Nhưng nhờ kinh nghiệm chèo đò và sự am hiểu về con sông Đà cùng tài năng chở đò của mình, ông đã không hề nao núng, tỉnh táo phóng đúng vào cửa sinh làm cho cái thằng đá tướng phải tiu nghỉu cái mặt. Ông lái đò như dũng sĩ tung hoành trên chiến trận, luôn luôn sáng suốt ứng phó kịp thời thay đổi chiến thuật để chế ngự dòng thác man dại, độc địa, xáo trá đó. Như vậy trong chặng thứ nhất ông lái đò ở thế thủ thì đến chặng thứ hai ông đã ở thế công để rồi đến chặng thứ ba đã làm nên chiến tích của mình, ông đã dành phần thắng trong cuộc chiến, đem lại phần thắng vinh quang cho cuộc đời mình. Đó chính là người anh hùng lao động vất vả trong cuộc sống bình thường. Ở ông lái đò, luôn ánh lên vẻ tài hoa, trí dũng, cái mà Nguyễn Tuân gọi là “chất vàng mười đã qua thử lửa”.

        Như vậy qua việc so sánh hai hình tượng nhân vật Huấn Cao và ông lái đò, ta có thể thấy rằng Nguyễn Tuân luôn hướng vào những con người phi thường, khác thường. Đó phải là những con người tài hoa nghệ sĩ, mang cái nhìn văn hóa bền vững trong phong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân. Nhưng qua đây ta cũng nhìn nhận được điểm khác biệt trong phong cách tiếp cận của nhà văn, nếu trước Cách mạng cái đẹp hiện lên trong sự hoài niệm, hoài cổ, nó đối lập với thực tại nghiệt ngã thì sau Cách mạng cái đẹp được nhìn trong sự hiện hữu của đời thường, trong thực tài và nó hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân. Nhưng cho dù có sự khác biệt đi chăng nữa thì cả hai nhân vật Huấn Cao và ông lái đò đều được thể hiện bởi một ngòi bút tài hoa và uyên bác. Tài hoa trong việc dựng người, dựng cảnh, tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, những so sánh, liên tưởng táo bạo, bất ngờ; uyên bác trong việc vận dụng nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau để làm phong phú và tăng khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương, làm tăng khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu tính tạo hình, vốn từ vựng phong phú.

        Nhìn chung, qua việc khắc họa hai hình tượng nhân vật Huấn Cao và ông lái đò đã cho thấy sự ổn định, nhất quán trong việc tiếp cận con người của Nguyễn Tuân, đồng thời cũng thấy được sự vận động trong phong cách ở hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Từ đây, ta thấy được tài năng của người nghệ sĩ tâm huyết với nghề. Đó là một Nguyễn Tuân đầy cá tính, tài hoa, uyên thâm, với tấm lòng tha thiết yêu thương, trân trọng cái đẹp.

     

  • Cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

    [toc]

    Đề bài: Cảm hứng lãng mạn và bi tráng là nét nổi bật trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên?

    Bài văn mẫu

        Quang Dũng là nhà một trong số những nhà thơ có nhiều sáng tác xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp với hồn thơ đặc biệt lãng mạn, phóng khoáng và hào hoa. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, nổi bật trong đó có bài thơ Tây Tiến. Một trong số những yếu tố làm nên nét nổi bật trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng chính là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng . Nhờ hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng thành công trong việc xây dựng hình ảnh người lính lãng mạn mạn mà vẫn đậm chất bi tráng.

        Đoàn quân Tây Tiến thành lập năm 1947 với nhiệm vụ là phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt-Lào bao gồm phần lớn là thanh niên Hà Nội. Làm đại đội trưởng ở đó đến cuối năm 1948 thì Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Nhà thơ nhớ về đơn vị cũ nên viết bài thơ này ở Phù Lưu chanh. Có lẽ chính vì vậy mà nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến, về những tháng ngày làm việc cùng với biết bao anh em khiến cho nhà thơ nuôi dưỡng cho mình trạng thái cảm xúc mãnh liệt trong những vần thơ và hình ảnh thơ trong bài.

        Cảm hứng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt một tác phẩm thể hiện đồng thời suy nghĩ, tình cảm mãnh liệt của người viết từ đó nó trở thành một vũ khí vô hình tác động không nhẹ đến người đọc. Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến được thể hiện trong việc hướng tới những cái đẹp, những cái lạ, những cái khác thường trong cuộc sống hàng ngày hay tô đậm cái phi thường và ấn tượng mạnh mẽ về những cái phi thường. Còn cảm hứng bi tráng giúp người viết tái hiện những hình ảnh trong thực tế với những khó khăn và thách thức nhưng mọi thứ hiện lên vẫn không hề tầm thường, nhỏ bé. Cảm hứng lãng mạn và bi tráng luôn luôn song hành với nhau trong suốt bài thơ đan xen hòa quyện với nhau trong từng phần phần làm nên những nét đặc sắc rất riêng của Tây Tiến.

        Cảm hứng lãng mạn trước hết được thể hiện qua những câu thơ miêu tả về thiên nhiên vùng núi Tây Bắc. Cảnh vật thiên nhiên trong nỗi nhớ của Quang Dũng là hiện thực cuộc sống đó là sự khắc nghiệt hoang sơ, dữ dội. Nhưng qua cách viết của tác giả thì trước thực tế như vậy, người lính vẫn luôn cảm nhận được sự thơ mộng của cảnh vật trong trạng thái lạc quan, yêu đời. Từ nỗi nhớ mở đầu về dòng sông Mã, nhà thơ nhớ về chặng đường hành quân. Trước tiên đó là hình ảnh màn sương dày đặc lạnh buốt che lấp mỗi bước đi của đoàn quân khiến cho họ trở nên mệt mỏi “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Hay đó là hình ảnh dốc núi quanh co, hiểm trở:

        “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

        Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

        Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

        Bên cạnh việc sự thực khắc nghiệt của cuộc sống được tô đậm thì nhà thơ Quang Dũng cũng tái hiện lại những chi tiết hình ảnh mượt mà nhẹ nhàng và đầy màu sắc của trí tưởng tượng bay bổng. Đó là hình ảnh “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Đi qua địa danh Mường Lát vào ban đêm họ như thấy mùi hương hoa theo về, đi trong màn sương dày đặc lạnh buốt mà tưởng như trong một đêm hơi bồng bềnh, huyền ảo. Có lẽ chính sự tưởng tượng và cảm hứng lãng mạn đã tạo nên một chi tiết vô cùng thi vị và nên thơ dành cho người lính Tây Tiến. Không chỉ vậy nét thơ mộng của cảnh vật tiếp tục được tái hiện ở câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến cho chúng ta cảm nhận được một cảm giác bình yên nhẹ nhàng và thoải mái. Chúng ta có thể hình dung ra một khung cảnh thơ mộng khi người lính sau một chặng đường vất vả vượt dốc cao có thể dừng chân bên trên dốc núi phóng tầm mắt nhìn ra xa để để ngắm nhìn một không gian mịt mù sương núi. Không dừng lại ở đó, vẫn dưới cái nhìn của một tâm hồn nhạy cảm, thiên nhiên Tây Bắc tiếp tục được tái hiện trong những vần thơ miêu tả cảnh sông nước:

        “Khèn lên man điệu nàng e ấp

        Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

        Đây là cảnh thiên nhiên vào một buổi chiều ở Châu Mộc có sương giăng mắc bảng lảng, mơ hồ với dòng sông thi vị nên thơ và bến bờ hoang dại với cả những hồn lau. Trên nền thiên thiên này nổi bật lên hình ảnh con người, dáng đứng trên độc mộc. Đó là dáng đứng đẹp, khỏe khoắn, hùng dũng và hiên ngang của con người Tây Bắc. Những câu thơ trên cũng cho thấy sự đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên (dòng nước lũ) với sự mềm mại tươi mát của hoa đong đưa. Những cánh hoa như có cảm xúc biết làm duyên làm dáng bên dòng nước… Chỉ bằng vài nét gợi tả Quang Dũng đã khắc họa được một bức tranh phong cảnh với vẻ đẹp huyền ảo, xa xăm và thơ mộng cho thiên nhiên Tây Bắc.

        Không chỉ thiên nhiên, cảm hứng lãng mạn còn được thể hiện ở hình ảnh người lính Tây Tiến – những thanh niên của tuổi trẻ Hà thành đầy phong lưu, nhiệt huyết. Điều này thể hiện ở cách nhìn của người lính đối với thiên nhiên. Họ nhìn màn sương với cảm giác bồng bềnh: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Họ tếu táo vui, đùa trước độ cao của dốc núi qua hình ảnh “súng ngùi trời”. Họ phóng tầm mắt mình ra xa để cảm nhận hơi ấm từ những ngôi nhà mịt mù trong sương: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Đặc biệt họ hòa mình vào đêm liên hoan nhộn nhịp, sống động với: “Khèn lên man điệu nàng e ấp /Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Có lẽ cảm hứng lãng mạn được thể hiện đậm nét nhất khi Quang Dũng tái hiện chân dung người lính Tây Tiến bằng những nét vẽ gân guốc, lạ hóa, phi thường “không mọc tóc”, “xanh màu lá”, “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng”. Qua những chi tiết miêu tả ngoại hình kỳ lạ chúng ta thấy được vẻ kiêu hùng oai phong, lẫm liệt của những chiến sĩ can trường. Chính vẻ đẹp lãng mạn như vậy đã nâng đỡ người chiến sĩ vượt qua những khó khăn của thực tế nghiệt ngã. Qua đó chúng ta cũng cảm nhận được về tinh thần lạc quan của thế hệ thanh niên trong cuộc kháng chiến đến mà sự trở về là là một điều mong manh.

        Song song với cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi tráng cũng làm nên vẻ đẹp của người lính Tây Tiến và sự thành công của bài thơ. Người lính Tây Tiến phải đối diện với rất nhiều khó khăn trong thực tế. Đó có thể là hình ảnh sương dày đặc trên đường hành quân, cũng có thể là những lần vượt dốc lội suối với những hiểm nguy và tất nhiên cái chết cũng luôn cận kề. Những cơn sốt rét rừng hành hạ rồi nơi rừng thiêng nước độc không có thuốc đầy đủ khiến cho người lính “không mọc tóc”, “xanh màu lá”. Chính vì như vậy những nấm mồ vô danh nằm rải rác khắp mọi nơi lạnh lẽo:

        “Rải rác biên cương mồ viễn xứ

        Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

        Áo bào thay chiếu anh về đất

        Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

    Sự hi sinh của những người lính Tây Tiến chính là nỗi đau, sự mất mát lớn đối với không chỉ tác giả mà với toàn dân tộc Việt Nam mọi thế hệ. Thế nhưng, qua ngòi bút của Quang Dũng, sự hi sinh ấy, cái bi ấy đã vơi bớt đau thương, không còn là bi lụy nữa mà trở thành hình tượng bi tráng – hình tượng những người con đất Việt dũng cảm, anh hùng. Sáng lên ở đoàn quân Tây Tiến là tinh thần quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ, ở tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh ” Chiến trường đi chẳng tiếc tuổi xanh”. Quang dũng đã thật tài tình khi miêu tả cái chết của người lính trong chiếc áo bào “Áo bào thay chiếu anh về đất” để thể hiện cái tráng. Thật là một hình ảnh xúc động! Tấm áo người lính được gọi một cách trang tọng là “áo bào” – tấm chiến bào rực rỡ của các danh tướng ngày xưa ra trận. Cách nói trang tọng ấy đã giảm phần thê lương của cái chết. “Anh về đất” – Họ không chết mà chỉ đi tiếp con đường của tổ tiên để giữ vững non sông đất nước. Anh đang trở về với đất mẹ, với Tổ tiên khi đã hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc. Âm thanh miêu tả âm thanh của dòng sông Mã cũng là một cách để thể hiện cái tráng ở đây : “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Không giọt lệ rơi, không lời ai điếu, không loạt đạn tiễn đưa mà chỉ một tiếng gầm đã diễn tả đầy đủ nỗi đau dữ dằn thấm thía. Cái chết của người lính hoàn toàn không còn thê thảm, đau thương mà ngược lại, nó tráng lệ và cao đẹp vô cùng!

        Có thể thấy, cảm hứng lãng mạn và bi tráng luôn đi liền với nhau trong suốt tác phẩm. Nhờ có hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng đã có thể tạc lên bức tượng đài bất tử về người lính trên nền thiên nhiên với nhiều màu sắc đẹp đẽ. Cả nội dung và nghệ thuật của bài thơ một lần nữa lại được in đậm.

        Tóm lại, cảm hứng lãng mạn và bi tráng là hai cảm ứng độc đáo trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Chính nhờ hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng đã tạo nên một kiệt tác khiến cho người đọc có thể hình dung được về bức tượng đài mang tên người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp yêu đời lạc quan nhưng cũng đầy kiên cường trước những khó khăn thử thách của thực tế.

     

  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

    Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

    Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Một số đề văn học sinh giỏi

    [toc]

    Đề bài: Về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng, chứ không phải cái buồn đau bi lụy.” (Quang Dũng – Tác phẩm chọn lọc, Trần Lê Văn, H1988)

    Từ cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Tây Tiến. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

    Bài văn mẫu

        Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu khẳng định tài năng của nhà thơ Quang Dũng. Bàn về bài thơ có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau nhưng đó là cái đau bi tráng chứ không phải là cái buồn đau bi lụy”. Với ý kiến này chúng ta có thể hiểu một cách trọn vẹn về bài thơ Tây Tiến.

        Mạch cảm xúc của bài thơ chính là nỗi nhớ, nỗi nhớ như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ đưa nhà thơ trở về với những kỉ niệm đẹp. Trong hành trình của nỗi nhớ có phảng phất những nỗi đau, nỗi buồn. Những nỗi đau, nỗi buồn được nhà thơ tái hiện chân thật bằng cảm xúc chân thành. Tây Tiến vẽ lên một chặng đường dài đầy khó khăn và gian khổ giữa rừng núi hiểm trở. Ngay phần đầu của bài thơ, chúng ta đã nhìn thấy được sự mệt mỏi của đoàn quân: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Sương nhiều và lạnh buốt đến nỗi như vùi lấp từng bước đi của đoàn quân. Thế rồi hình ảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cũng phần nào đó cho thấy những giấc ngủ tranh thủ của người lính hay nhắc tới sự hi sinh trên đường hành quân của họ. Không chỉ vậy, hành trình chiến đấu còn có sự hiểm trở, hoang sơ, dữ dội của dốc núi cheo leo:

       “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

       Heo hút cồn mây súng ngửi trời

       Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

       Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

        Cái oai linh của của nơi rừng thiêng nước độc, cảnh thú dữ rình rập cũng tác động đến con người phần nào đó: “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “.Thế rồi khi bệnh tật, sự thiếu thốn khiến cho người lính có một ngoại hình thật đặc biệt: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/Quân xanh màu lá dữ oai hùm ” và cũng vì vậy mà cái chết cũng luôn rình rập quanh họ: ” Rải rác biên cương mồ viễn xứ /Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “.

        Tuy nhiên nỗi đau, nỗi buồn ở đây không toát lên sự bi lụy, yếu đuối, nhỏ bé của con người mà đó là cách nhìn thẳng vào thực tế của họ. Tận cùng bên trong của những nỗi buồn, nỗi đau đó là vẻ đẹp bi tráng đáng tự hào và ngưỡng mộ. Bi tráng vừa có tính chất bi ai có nghĩa là buồn nhưng cũng vừa có tính chất hùng tráng hay nói cách khác thì bi tráng vừa thể hiện nét bi thương vừa không làm mất đi vẻ gân guốc, mạnh mẽ. Trước những khó khăn trên hành trình, những người lính trẻ vẫn dành cho mình những giây phút bình yên để mà ngắm nhìn khung cảnh lãng mạn nơi rừng núi Tây Bắc hoang sơ và linh thiêng. Đó là những giây phút ngắm nhìn thiên nhiên ở Mường Lát trong đêm đêm hơi với hương hoa đặc biệt khiến cho tâm hồn người lính trở nên dịu dàng hơn sau những sự dữ dằn của cuộc hành trình: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi “.

        Đặc biệt hơn cả trong việc thể hiện nghị lực vượt lên trên nỗi đau là ở cách Quang Dũng miêu tả sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Nói đến cái chết nhưng không còn quá đau buồn mà là nổi bật lên là sự hào hùng:

        ” Rải rác biên cương mồ viễn xứ

       Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

       Áo bào thay chiếu, anh về đất

       Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

        Những nấm mồ nằm rải rác nơi biên cương xa xôi, lạnh lẽo không thể khiến cho người đọc cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng. Những từ Hán Việt mà nhà thơ đã sử dụng trong các câu thơ trên như là “biên cương “,”viễn xứ ” đã làm giảm cái nỗi đau thương và tuyệt vọng ấy. Không những thế, sự quyết tâm và khát vọng chiến đấu đến cùng của người lính”Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã làm mờ hẳn đi sự đau thương, sự sợ hãi. Vì độc lập, vì tự do của dân tộc mình người lính sẵn sàng hi sinh tất cả trong đó có cả tuổi thanh xuân của mình. Cách nói của họ thể hiện niềm tự hào, tự hào vì được hiến dâng cho đất nước. Trong chiến tranh có rất nhiều người đã hi sinh ngay đến cả một manh chiếu để liệm thân cũng không có, những người lính Tây Tiến cũng vậy. Nhưng qua cái nhìn của nhà thơ Quang Dũng sự ra đi của người lính Tây Tiến lại được bọc trong tấm áo bào sang trọng:”Áo bào thay chiếu anh về đất /Sông Mã gầm lên khúc độc hành ” . Hình ảnh chiếc áo bào gợi liên tưởng đến đến sự rực rỡ, đẹp đẽ, lộng lẫy và sang trọng. Sự bi thương, đau buồn trong cái chết của người lính không còn quá đậm nét mà trở nên nhẹ nhàng hơn nhờ cách nói giảm “anh về đất đất” . Về đất là trở về với đất mẹ thân thương trở về với những điều bình dị nhất và gần gũi nhất. Chính vì vậy, không có gì phải tiếc nuối và sợ hãi cả. Tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là âm thanh đặc biệt. Trong bài thơ nghe tiếng sông Mã gầm lên, chúng ta lại hình dung một khúc ca bi tráng tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Có lẽ sức nặng, nội lực của câu thơ tập trung ở động từ “gầm”. Âm hưởng của câu thơ đau xót, nghẹn ngào hơn bao giờ hết. Nó như một tiếng nấc trước sự hi sinh của người lính nhưng đó là tiếng nấc, tiếng khóc của sự tự hào của sự mạnh mẽ. Trong thực tế chúng ta có thể thấy rằng người lính Tây Tiến ra đi trong sự lặng lẽ âm thầm không kèn, không trống nhưng qua cách miêu tả và cảm nhận của nhà thơ thì âm thanh dòng sông Mã đã trở thành khúc nhạc hào hùng tiễn đưa linh hồn của họ về với đất mẹ thân yêu.

        Với những từ ngữ chính xác, tinh tế, hình ảnh chọn lọc đẹp đẽ kết hợp với hồn thơ vốn dĩ đã lãng mạn và hào hoa của Quang Dũng thiên nhiên và đặc biệt là người lính Tây tiến hiện lên chân thực với những sự gian nan của thực tế cuộc sống nhưng không hề đáng thương, yếu đuối mà vẫn giữ cho mình vẻ hùng dũng. Từ đó thể hiện được niềm tin và sức mạnh của thế hệ trẻ trước cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Phải là một người yêu quý và trân trọng Tây Tiến sâu nặng thì mới có thể viết được những vần thơ như thế.

        Qua việc tìm hiểu cả bài thơ, chúng ta đã hiểu về những nỗi đau và nỗi buồn mang màu sắc bi tráng của người lính Tây Tiến qua hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và hào hoa mang tên Quang Dũng. Những vần thơ của Tây Tiến khiến người đọc càng cảm thấy tự hào về một thế hệ đi trước đầy nhiệt huyết và dũng cảm, xứng đáng là một bài thơ tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam.