Category: Ôn thi

  • ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 10

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 10

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 10

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề cương Kỹ thuật viễn thông


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 10

     

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TOÁN

    Phần I : ĐẠI SỐ

    A.ÔN TẬP CHƯƠNG IV

    I.Kiến thức cần nhớ:

    1. Bất phương trình và hệ bất phương trình.

    2.Nhị thức bậc nhất : f(x) = ax + b    (a0)

    Bảng xét dấu nhị thức bậc nhất :              x

    ax + b      trái dấu với a         0     cùng dấu với a

    3.Tam thức bậc hai : f(x) = ax2 + bx + c    (a0)

    Định lý dấu của tam thức bậc hai:

    * Nếu  < 0 , ta có BXD:                            x

    f(x)              cùng dấu với a

    * Nếu = 0, ta có BXD:

    x

    f(x)        cùng dấu với a        0      cùng dấu với a

    * Nếu > 0, gọi x1, x2 là hai nghiệm của tam thức f(x), ta có BXD

    x

    f(x)        cùng dấu với a   0    trái dấu với a        0   cùng dấu với a

    B.ÔN TẬP CHƯƠNG V(THỐNG KÊ)

    C.ÔN TẬP CHƯƠNG VI:

    I.Kiến thức cần nhớ:

    1.Công thức lượng giác cơ bản :

    1)               2)                            3)

    4)    ()               5)   ()

    6)      , ,

    Chú ý:  ,

    ,

    ;  ;

    ;   ;

    2.Giá trị lượng giác của các cung có liên quan đặc biệt:

    1. a) Với hai góc (cung) đối nhau: và -, ta có:

     

    1. b) Với hai góc (cung) bù nhau: và , ta có:
    1. c) Với hai góc (cung) hơn kém nhau : và. Ta có:
    1. d) Với hai góc (cung) phụ nhau : và (), ta có:

    3.Công thức cộng:

    4.Công thức nhân đôi:

    5.Công thức nhân ba:

    ,

    6.Công thức hạ bậc:

    7.Công thức biến đổi tích thành tổng:

     8.Công thức biến đổi tổng thành tích:

     

     

     

     

     

     

    BÀI TẬP LUYỆN TẬP

     

    I. DẤU NHỊ THỨC – TAM THỨC – BẤT PHƯƠNG TRÌNH.

     

    Bài 1. Xét dấu các biểu thức sau:

    1. a) b)
    2. c) c)

    Bài 2. Giải các bất phương trình sau:

    1. a) b)                                          c)                                                      d)

    Bài 3. Giải các bất phương trình:

    1. a)           b)                        c)

    Bài 4. Giải các hệ bất phương trình:

    1. a) b)

    Bài 5. Cho phương trình:

    1. a) Tìm m để phương trình có hai nghiệm phân biệt.
    2. b) Tìm m để phương trình có hai nghiệm trái dấu.

    Bài 6. Cho phương trình:

    1. a) Tìm m để phương trình có hai nghiệm phân biệt.
    2. b) Tìm m để phương trình có hai nghiệm trái dấu.

    II. GIÁ TRỊ  LƯỢNG GIÁC – CÔNG THỨC LƯỢNG GIÁC

    Bài 1. Cho biết   và  . Tính các giá trị lượng giác còn lại của góc a.

    Bài 2. Cho biết   và  . Tính các giá trị lượng giác còn lại của góc .

    Bài 3. Cho biết   và  . Tính các giá trị lượng giác còn lại của góc .

    Bài 4. Cho biết , tính giá trị các biểu thức:

    1. a) b)

    Bài 5. Tính giá trị các biểu thức:

    1. a)           b)                 c)
    2. d)                         e)

    Bài 6. Cho biểu thức

    Rút gọn biểu thức P và tính giá trị biểu thức P khi  x =

    Bài 7. Cho biểu thức

    Rút gọn biểu thức Q và tính giá trị biểu thức Q khi  a =

    Bài 8. Chứng minh các hệ thức:

    1. a) b)

    Bài 9.  Rút gọn các biểu thức :

    1.                                                    b. 
    2.                                        d.

    Bài 10. Chứng minh các đẳng thức:

    1.                           b. 
    2.                                   d.

     

    …………………………………………………………………..

     

    PHẦN II :HÌNH HỌC

    A.ÔN TẬP CHƯƠNG II: TÍCH VÔ HƯỚNG CỦA 2 VECTƠ VÀ ỨNG DỤNG

    1. Kiến thức cần nhớ:
    2. Định lý Côsin:

    Trong tam giác ABC bất kỳ với BC = a; AB = c; CA = b, ta có:

    a2 = b2 + c2 – 2b.c.cosA ;        b2 = a2 + c2 – 2a.c.cosA ;         c2 = a2 + b2 – 2a.b.cosA

    * Hệ quả:

    ;                    ;

    * Công thức tính độ dài trung tuyến

    ;                   ;

    1. Định lý sin:

    Trong tam giác ABC bất kỳ với BC = a; CA = b; AB = c và R là bán kính đường tròn ngoại tiếp, ta có:

    1. Công thức tính diện tích tam giác:

          *

          *

    * S = Pr

          *                        (Công thức Hê rông)

     

    II.BÀI TẬP:

    Bài 1. Cho tam giác ABC có góc A = 600 ; góc B = 450 và cạnh  AC = 4.

    1. a) Tính hai cạnh AB và BC.
    2. b) Tính diện tích tam giác ABC.

    Bài 2. Cho tam giác ABC có ba cạnh  AB = 7; BC = 8; AC = 6.

    1. a) Tính diện tích tam giác ABC.
    2. b) Tính Độ dài đường cao AH của tam giác ABC.
    3. c) Tính bán kính R của đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC

    Bài 3. Cho tam giác ABC có a = 12; b = 16; c = 20.

    1. a) Tính diện tích tam giác ABC
    2. b) Tính bán kính r của đường tròn nội tiếp tam giác ABC.

    Bài 4. Cho tam giác ABC có góc B = 600, cạnh BA = 6, BC = 12.

    1. a) Tính diện tích tam giác ABC.
    2. b) Tính độ dài cạnh AC.
    3. c) Tính bán kính R của đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC.

     

    B – ÔN TẬP CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP TOẠ ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG

     

    1. Kiến thức cần nhớ:
    2. Đường thẳng d đi qua điểm và nhận làm VTPT có phương trình:
    3. Đường thẳng d đi qua điểm và nhận làm VTCP có Phương trình tham số:
    4. Trong mặt phẳng, mọi đường thẳng đều có PTTQ dạng ax + by + c = 0(),trong đó là VTPT của đường thẳng.
    5. Nếu đường thẳng d có VTCP  thì đường thẳng d có hệ số góc
    6. Đường thẳng d có hệ số góc là k có phương trình y = kx + m.

    1.3. Vị trí tương đối của hai đường thẳng:

    Cho hai đường thẳng:

    1 : a1x + b1y + c1 = 0 ;     ∆2 : a2x + b2y + c2 = 0

    * Toạ độ giao điểm của ∆1 và 2 là nghiệm của hệ :

    – Hệ (I) có nghiệm ó ∆1 cắt ∆2

    – Hệ (I) có vô số nghiệm ó ∆1 trùng ∆2

    – Hệ (I) vô nghiệm ó ∆1 song song ∆2

    1.4. Góc giữa hai đường thẳng:

    Cho hai đường thẳng : ∆1 :  a1x + b1y + c1 = 0 và  ∆2 : a2x + b2y + c2 = 0 có hai VTPT lần lượt là :; . Gọi  là góc giữa hai đường thẳng, ta có :

    1.5. Công thức tính khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng:

    Khoảng cách từ điểm M0(x0; y0) đến đường thẳng ∆: ax + by + c = 0 là:

    d(M0; ∆) =

    1. Phương trình đường tròn:

    * Đường tròn (C) tâm I(a; b) và bán kính R  có phương trình là:

    (x – a)2 + (y – b)2 = R2

          * Phương trình   (với ) là pt của đường tròn tâm I(a; b) và bán kính

    * Đường tròn tâm I(a; b), bán kính R, tiếp xúc với đường thẳng ∆: ax + by + c = 0 khi và chỉ khi

    * Phương trình tiếp tuyến của đường tròn:

    * Tiếp tuyến tại điểm M0(x0; y0) của đường tròn tâm I(a; b) có phương trình là :

    (x0 – a)(x – x0) + (y0 – b)(y – y0) =0

     

    3 . Phương trình đường Elip:

    * Cho elip (E) có phương trình chính tắc :  (a >b >0 ; a2 = b2 + c2)

    Ta có :

    + Toạ độ tiêu điểm: F1(-c; 0); F2(c; 0)

    +Toạ độ cácđỉnh: A1(-a; 0); A2(a; 0); B1(0; -b); B2(0; b)

    + Độ dài trục lớn:       A1A2 = 2a

    + Độ dài trục nhỏ:       B1B2 = 2b

    + Tiêu cự:                    F1F2 = 2c

     

    1. Ví dụ minh hoạ:

    Bài 1. Cho tam giác ABC, biết A(1; 4); B(5; 2); C(1; -4)

    1. a) Viết phương trình đường cao AH
    2. b) Viết phương trình đường thẳng d1 đi qua trung điểm cạnh AC và vuông góc với AH.
    3. c) Tính khoảng cách từ điểm A đến đường thẳng d1.

    Giải:

    1. a) Ta có

    AH đi qua A(1; 4) và nhận  làm vectơ pháp tuyến có phương trình:

    -4(x – 1) – 6(y – 4) = 0     ó     2x + 3y – 14 = 0

    1. b) Gọi M là trung điểm của AC, M(3; -2)

    Vì d1  AH =>  là vectơ pháp tuyến của d1.

    Phương trình đường thẳng d1:

    1. c) Phương trình tổng quát của d1 : 3x – 2y – 13 = 0

    d(A,d1) =

    Bài 2. Cho tam giác ABC với A(4; 3); B(1; 2); C(-4; 3)

    1. a) Viết phương trình các đường thẳng AB, BC, CA.
    2. b) Tính góc giữa 2 đường thẳng AB, BC.

    Giải:

    Ta có: ; ;

    • Đường thẳng AB đi qua A(4; 3) và nhận làm VTCP có pt tham số  là:

    – Đường thẳng BC đi qua B(1; 2) và nhận làm VTCP có pt tham số là:

    – Đường thẳng CA đi qua c(-4; 3) và nhậnlàm VTCP có pt tham số  là:

    Bài 3. Trong mặt phẳng toạ độ Oxy cho đường tròn (C) có phương trình:

    x2 + y2 – 6x – 2y + 5 = 0

    1. a) Tìm tâm và bán kính của đường tròn (C).
    2. b) Viết phương trình tiếp tuyến với (C) đi qua điểm A(-1; 1)

    Giải:

    1. a) Ta có I(3; 1); R =
    2. b) Tiếp tuyến với (C) đi qua điểm A(-1; 2) ;có tâm I(3;1) có pt là:

    (-1 – 3)(x + 1) +(1 – 2)(y – 2) = 0

    ó 4x + y + 2 = 0

    Bài 4. Cho (E):

    Hãy xác định độ dài các trục, toạ độ các tiêu điểm, tiêu cự, toạ độ các đỉnh của (E)

    Giải:

    Ta có: a = 3; b = 2

    c2 = a2 – b2 = 5 => c =

    + Độ dài trục lớn:       2a = 6

    + Độ dài trục nhỏ:       2b = 4

    + Toạ độ các đỉnh:       A1(-3; 0); A2(3; 0); B1(0; -2); B2(0; 2)

    + Toạ độ các tiêu điểm:           F1(; 0); F2(; 0)

    + Tiêu cự: 2c = 2

     

    III. Bài tập:

     

    Bài 1. Viết phương trình tham số và tổng quát của đường thẳng d trong các trường hợp sau :

    1. a) Đường thẳng d đi qua điểm M(2 ; -3) và có VTCP .
    2. b) Đường thẳng d đi qua điểm M(2 ; -3) và có VTPT .
    3. c) Đường thẳng d đi qua điểm M(2 ; -3) và có hệ số góc k = .

    Bài 2. Cho hai đường thẳng d1: x + 2y + 4 = 0 và cho d2: 2x – y + 6 = 0. Tính:

    1. a) Số đo bởi góc tạo bởi hai được thẳng d1 và d2.
    2. b) Tìm tọa độ giao điểm của 2 đường thẳng d1 và d2.
    3. c) Tính khoảng cách từ điểm A(1; 3) đến đường thẳng d­1.

    Bài 3. Cho tam giác ABC có A(1; 4); B(3; -1); C(6; 2)

    1. a) Viết phương trình tổng quát của các đường thẳng AB, BC, CA.
    2. b) Viết phương trình tổng quát của đường cao AH và phương trình tham số của trung tuyến AM.

    Bài 4. Cho đường thẳng d: 2x – y – 4 = 0 và điểm M(-1; 2).

    1. a) Viết phương trình tổng quát của đường thẳng d’ đi qua M và song song với đường thẳng d.
    2. b) Viết phương trình tham số của đường thẳng d’’ đi qua M và vuông góc với đường thẳng d. Tìm tọa độ giao điểm của d và d’’.

    Bài 5. Lập phương trình đường tròn (C) trong các trường hợp sau:

    1. a) (C) có tâm I(2; 3) và đi qua điểm M(3; 0).
    2. b) (C) có tâm I(3; -2) và tiếp xúc với ∆: 6x – 8y – 17 = 0
    3. c) (C) đi qua 3 điểm A(-1; -2); B(1; 3); C(2; 1)
    4. d) (C) có đường kính AB với A(1; 1) và B(7; 5)

    Bài 6. Tìm tâm và bán kính của các đường tròn sau:

    1. a) x2+ y2 + 8x + 6y – 12 = 0
    2. b) x2 + y2 – 2x – 4y – 3 = 0
    3. c) x2 + y2 – 4x + 6y – 12 = 0

    Bài 7. Cho đường tròn (C) : x2 + y2 – 4x + 2y  = 0 .

    1. a) Xác định tọa độ tâm I và tính bán kính R của đường tròn (C).
    2. b) Viết phương trình tiếp tuyến của đường tròn (C) tại điểm M(3 ; 1)

    Bài 8. Cho tam giác ABC có  A(1; 3), B(-1 ;1), C(3; -1).

    1. a) Viết phương trình tổng quát của đường thẳng BC.
    2. b) Viết phương trình của đường tròn có tâm là A biết đường tròn này tiếp xúc với đường thẳng BC.

    Bài 9. Xác định độ dài các trục, toạ độ các tiêu điểm, toạ độ các đỉnh, tiêu cự của các elip:

    1.             a)                                                  b)

    Bài 10. Lập phương trình chính tắc của elip (E) trong các trường hợp sau:

    1. a) (E) có độ dài trục lớn bằng 12 và tiêu cự bằng 8.
    2. b) (E) có độ dài trục lớn bằng 20 và độ dài trục bé bằng 4.
    3. c) (E) có độ dài trục lớn bằng 4 và (E) đi qua điểm .

    ………………………………………………………………………………………………………………………………

     

     

     

     

     

     

     

    ĐỀ THAM KHẢO

    Câu 1: (3, 0 đ)

    1. a) Giải phương trình:
    2. b) Tính các giá trị lượng giác của α biết :

    cosα =  và 0 < α <

    1. c) Chứng minh đẳng thức tan2 α – sin2 α = tan2 α sin2 α (nếu cos α ≠ 0)

    Câu 2: (2,0 đ) Cho f(x) = mx2 – 4mx + 3m + 2

    1. a) Giải phương trình f(x) = 0 với m = 4
    2. b) Với những giá trị nào của m thì đa thức f(x) luôn luôn dương?

    Câu 3: (3,0 đ)

    Trong mặt phẳng tọa độ Oxy, cho đường tròn (C) có phương trình:

    (x – 2)2 + (y – 1)2 = 5

    1. a) Tìm tọa độ tâm và bán kính của đường tròn (C)
    2. b) Viết phương trình tiếp tuyến với (C) song song với đường thẳng 2x – y + 3 = 0.

    Câu 4: (2,0 đ) Giải hệ bất phương trình sau:

  • Đề Cương Ôn Thi Đại Học môn Văn 2019

    Đề Cương Ôn Thi Đại Học môn Văn 2019

    Đề Cương Ôn Thi Đại Học môn Văn 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Hướng dẫn viết đề cương nghiên cứu và báo cáo kết quả nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Thi Đại Học môn Văn 2019

    Đề Cương Ôn Thi Đại Học môn Văn 2019

    1. CÁC BÀI KHÁI QUÁT

    Đề 1: Hoàn cảnh lịch sử… ảnh hưởng đến văn học CMT8 1945

    Đề 2: Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

    Đề 3: Thành tựu, hạn chế của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.

    Đề 4: Hoàn cảnh ảnh hưởng đến văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – thế kỷ XX

    Đề 5: Chuyển biến, thành tựu văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – thế kỷ XX

    2. THẠCH LAM

    Đề 1: Giải thích nhan đề “Hai đứa trẻ”

    Đề 2: Cảm nhận về đoạn văn cuối tác phẩm Hai đứa trẻ: “Liên thấy mình sống giữa bao sự…”

    Đề 3: Ý nghĩa đoàn tàu đêm với những toa đèn sáng từ Hà Nội về?

    Đề 4: Phân tích Bức tranh đời sống phố huyên nghèo của Thạch Lam từ khi chiều xuống —> khi chuyến tàu đêm đi qua

    Đề 5: Phân tích tác phẩm “Hai đứa trẻ”

    Đề 6: Vì sao chị e Liên cố thức đợi tàu? Ý nghĩa?

    3. NGUYỄN TUÂN

    Đề 1: Sự nghiệp văn học, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?

    Đề 2: Hình tượng nhân vật Huấn Cao?

    Đề 3: Hình tượng nhân vật Quản ngục?

    Đề 4: Phân tích cảnh cho chữ?

    Đề 5: Đặc sắc phong cách nghệ thuật qua người lái đò?

    Đề 6: Hình tượng người lái đò?

    Đề 7: Hình tượng Sông Đà?

    4. VŨ TRỌNG PHỤNG

    Đề 1: Phân tích nghệ thuật trào phúng: Hạnh phúc của một tang gia?

    Đề 2: Số đỏ thể hiện quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng: “Tiểu thuyết là sự thực ở đời”?

    5. NAM CAO

    Đề 1: Sự nghiệp văn học của Nam Cao?

    Đề 2: Quan điểm sáng tác của Nam Cao?

    Đề 3: Nhan đề truyện Chí Phèo:

    Đề 4: Đoạn văn “Hắn về lớp này …. Trông gớm chết!”

    Đề 5: Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao trích đoạn mở đầu Chí Phèo?

    Đề 6: Ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao? Ý nghĩa tiếng chửi đoạn mở đầu Chí Phèo?

    Đề 7: Sau cơn say, Hộ khóc vì hối hận, nhận là thằng khốn nạn? – đề nâng cao

    Đề 8: Đặc sắc cơ bản của Chí Phèo?

    Đề 9: Tiếng khóc của Chí Phèo

    Đề 10: Bi kịch người trí thức nghèo qua nhân vật Hộ -> Nhân đạo ( so sánh với bi kịch Vũ Như Tô)

    Đề 11: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo?

    Đề 12: Vì sao khi giết Bá Kiến, Chí Phèo lại tự kết liễu đời mình? Hiện thực -> Nhân đạo?

    Đề 13: Phân tích tâm trạng của nhân vật Chí Phèo (từ khi gặp Thị Nở – kết)

    Đề 14: Phân tích bi kịch Chí Phèo và Hộ -> Nhân đạo?

    6. XUÂN DIỆU

    Đề 1: Cuộc đời nhà thơ Xuân Diệu?

    Đề 2: Sự nghiệp văn học của Xuân Diệu?

    Đề 3: Hoài Thanh nói: “Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào… tha thiết”…

    Đề 4: Thế Lữ nói: “Kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại….”

    Đề 5: Phân tích tác phẩm Vội Vàng?

    7. HUY CẬN

    Đề 1: Bình giảng 2 câu thơ: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót. Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

    Đề 2: Bình giảng bài Tràng Giang?

    Đề 3: Phân tích Tràng Giang? – thiên nhiên- cổ điển+hiện đại

    8. HÀN MẶC TỬ

    Đề 1: Cuộc đời, sự nghiệp Hàn Mặc Tử?

    Đề 2: Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vỹ Dạ

    Đề 3: Phân tích bài thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ”?

    Đề 4: Bình giảng khổ thơ 1: “Sao anh K về chơi thôn Vĩ…. điền”?

    Đề 5: Bình giảng đoạn 2: “Gió theo lối gió… kịp tối nay”?

    9. HỒ CHÍ MINH

    Đề 1: Quan điểm sáng tác của HCM?

    Đề 2: Sự nghiệp văn học của HCM?

    Đề 3: Phong cách nghệ thuật HCM?

    Đề 4: So sánh phiên âm bài Mộ. Cảm nhận chữ “hồng”?

    Đề 5: Cảm nhận của em về hình ảnh “lò than rực hồng” Trong tác phẩm “Chiều tối”?

    Đề 5: Phân tích Chiều tối?

    Đề 6: Vẻ đẹp cổ điển, hiện đại trong “Chiều tối”?

    Đề 7: Phân tích “Giải đi sớm” -> Chất thép? – ban nâng cao cần thiết khi làm đề so sánh

    Đề 8: HCM viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham,… đến ngày tự do”. Hãy phân tích?

    Đề 9: Tinh thần nhân đạo trong “Nhật ký trong tù”?

    Đề 10: Thiên nhiên trong “Nhật ký trong tù”?

    Đề 11: Phân tích tác phẩm “Lai Tân” – bài đọc thêm cần thiết khi làm đề so sánh

    Đề 12: “Nhật ký trong tù” – bức chân dung tinh thần tự hoạ của HCM?

    Đề 13: Hoàng Trung Thông viết: Đọc Nhật ký trong tù… tôi đọc trăm bài…?

    Đề 14: Hình tượng thơ HCM luôn vận động hướng về sự sống? Hãy chứng minh qua Chiều tối, Giải đi sớm?

    Đề 15: Văn thơ Bác như Ánh sáng ban ngày,… như cây đàn bầu?

    Đề 16: Nét độc đáo của tập Nhật ký trong tù?

    Đề 17: Hoàn cảnh, đối tượng, mục đích của “Tuyên ngôn độc lập”?

    Đề 18: Giá trị nội dung, nghệ thuật của bản Tuyên ngôn độc lập?

    Đề 19: Phân tích phần mở đầu “Tuyên ngôn độc lập”?

    10. TỐ HỮU

    Đề 1: Nét chính sự nghiệp thơ Tố Hữu?

    Đề 2: Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?

    Đề 3: Nhận xét đại từ nhân xưng trong đoạn thơ:

    “Mình đi, có nhớ những ngày
    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
    Mình về, có nhớ chiến khu
    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
    Mình về, rừng núi nhớ ai
    Trám bùi để rụng, măng mai để già
    Mình đi, có nhớ những nhà
    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
    Mình về, còn nhớ núi non
    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
    Mình đi, mình có nhớ mình
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

    – Ta với mình, mình với ta
    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
    Mình đi, mình lại nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…”

    Đề 4: Phân tích bài thơ Việt Bắc?

    Đề 5: Tố Hữu – nhà thơ của tình thương mến?

    Đề 6: Hoàn cảnh ra đời, Giá trị bài Việt Bắc?

    Đề 7: Đặc sắc nghệ thuật của bài Việt Bắc?

    Đề 8: Bình giảng 20 dòng đầu của bài thơ Việt Bắc:]

    ” Mình về mình có nhớ ta
    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
    Mình về mình có nhớ không
    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

    Tiếng ai tha thiết bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
    Áo chàm đưa buổi phân li
    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    – Mình đi, có nhớ những ngày
    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
    Mình về, có nhớ chiến khu
    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
    Mình về, rừng núi nhớ ai
    Trám bùi để rụng, măng mai để già
    Mình đi, có nhớ những nhà
    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
    Mình về, còn nhớ núi non
    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
    Mình đi, mình có nhớ mình
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

    Đề 9: Bình giảng đoạn:

    “Những đường Việt Bắc của ta
    Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
    Quân đi điệp điệp trùng trùng
    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
    Dân công đỏ đuốc từng đoàn
    Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
    Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

    Đề 10: Bình giảng đoạn:

    “Ta về, mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
    Ngày xuân mơ nở trắng rừng
    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
    Ve kêu rừng phách đổ vàng
    Nhớ cô em gái hái măng một mình
    Rừng thu trăng rọi hòa bình
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

    Đề 11: Phân tích bài thơ Từ ấy?

    11. NGUYỄN HUY TƯỞNG

    Đề 1: Xuất xứ vở kịch và giải thích lời đề từ?

    Đề 2: Phân tích nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô để thấy ý nghĩa vở kịch?

    12. TÔ HOÀI

    Đề 1: Nhận xét hình ảnh âm thanh tiếng sáo trong 6 lần xuất hiện?

    Đề 2: Hoàn cảnh diễn ra việc Mị nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ; ý nghĩa

    Đề 3: Sức sống tiềm tàng của Mị (hiện thực-> nhân đạo)?

    Đề 4: Phân tích nhân vật Mị và A Phủ? hiện thực-> nhân đạo

    Đề 5: Hình tượng Mị? hiện thực->nhân đạo

    Đề 6: Sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm mùa xuân? hiện thực-> nhân đạo

    Đề 7: Diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói A Phủ? hiện thực-> nhân đạo

    Đề 8: Giá trị hiện thực – nhân đạo trong Vợ chồng A Phủ?

    13. KIM LÂN

    Đề 1: Giá trị độc đáo tình huống Vợ nhặt

    Đề 2:Tràng nhặt được vợ đã khiến cho những ai ngạc nhiên? ý nghĩa

    Đề 3: Nhân vật bà cụ Tứ? hiện thực-> nhân đạo

    Đề 4: Kim Lân nói: Người đói không nghĩ đến cái chết? hiện thực-> nhân đạo

    Đề 5: Giá trị hiện thực – nhân đạo của Vợ nhặt?

    14. QUANG DŨNG

    Đề 1: Hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa bài thơ Tây Tiến?

    Đề 2: Bình giảng đoạn đầu: “Sông Mã xa rồi… mùa em thơm nếp xôi”

    Đề 3: Bình giảng đoạn hai:

    Đề 4: Bình giảng đoạn 3:

    Đề 5: Cảm hứng lãng mạn và bi tráng là nét nổi bật của Tây Tiến?

    Đề 6: Hình tượng người lính trong Tây Tiến?

    Đề 7: Cảm hứng lãng mạn trong Tây Tiến?

    Đề 8: Vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng trong Tây Tiến?

    15. NGUYỄN KHOA ĐIỂM

    Đề 1: Hoàn cảnh ra đời, thành công của Đất Nước?

    Đề 2: Lòng yêu nước, cảm nhận về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích?

    Đề 3: Những nét đặc sắc và cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm?

    Đề 4: Tư tưởng đất nước của nhân dân trong bài thơ Đất Nước?

    Đề 5: Phân tích đoạn trích Đất Nước?

    16. XUÂN QUỲNH

    Đề 1: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

    Đề 2: Sóng – vẻ đẹp truyền thống và hiện đại của tâm hồn người phụ nữ đang yêu?

    Đề 3: Phân tích hình tượng sóng, cảm nhận về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu?

    Đề 4: Phân tích bài thơ Sóng?

    17. HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

    Đề 1: thượng nguồn sông Hương được ví vẻ đẹp của dòng sông này với hình ảnh hai người phụ nữ,đó là những hình ảnh nào?

    Đề 2: Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?

    Đề 3: Vẻ đẹp thiên nhiên, phong phú, đa dạng, được diễn tả bằng ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Làm rõ qua tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông)?

    Đề 4: Phân tích tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?

    18. NGUYỄN TRUNG THÀNH

    Đề 1: Câu Cụ Mết nói: “Chúng nó cầm súng, mình phải cầm Giáo”

    Đề 2: Ý nghĩa lời nói Cụ Mết: “Giặc đã cầm súng….”

    Đề 3: Hình tượng nhân vật Tnú?

    Đề 4: Phân tích hình tượng cây Xà Nu? Ý nghĩa tên truyện?

    Đề 5: Chất sử thi trong Rừng Xà nu?

    19. NGUYỄN THI

    Đề 1: Cảm nhận về đoạn văn: “Hai chị em… con đường”?

    Đề 2: Vẻ đẹp người Nam Bộ T kháng chiến chống Mĩ qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình?

    Đề 3: So sánh nét giống và khác nhau giữa Chiến và Việt?

    Đề 4: Chú Năm nói: Chuyện gia đình dài như dòng sông?

    20. THANH THẢO

    Đề 1: Hiểu biết về Lorca giúp hiểu bài thơ?

    Đề 2: Giải thích ý nghĩa lời đề từ: “Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn Ghi-ta”?

    Đề 3: Vẻ đẹp bi tráng của Lorca?

    Đề 4: Phân tích bài thơ: Đàn ghi-ta của Lorca?

    Đề 5: “Văn chương không cần những người thợ ,… (Nam Cao). Phân tích đàn Ghi-ta để làm sáng tỏ nhận định trên?

    21. NGUYỄN MINH CHÂU

    Đề 1: Hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”?

    Đề 2: Hình tượng người đàn bà hàng chài?

    Đề 3: Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời thường trong “Chiếc thuyền ngoài xa”?

    Đề 4: Phân tích tình huống nhận thức của Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”?

    22. LƯU QUANG VŨ

    Đề 1: Nhan đề Hồn Trương Ba… So với chuyện cổ dân gian, triết lý về mối quan hệ giữa hồn và xác có gì đặc biệt?

    Đề 2: Phân tích bi kịch Hồn Trương Ba?

    Đề 3: Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba?

    23. NGUYỄN KHẢI

    Đề 1: Trong tác phẩm Người Hà Nội, vì sao Nguyễn Khải gọi bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội?

    Đề 2: Vẻ đẹp của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền?

    24. CHẾ LAN VIÊN

    Đề 1: Ý nghĩa nhan đề bài Tiếng hát con tàu?

    Đề 2: Bình giảng lời đề từ Trong bài Tiếng hát con tàu?

    Đề 3: Bình giảng đoạn:

    Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
    Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
    Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
    Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

    Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

    Đề 4: Ý nghĩa biểu tượng con tàu và địa danh Tây Bắc? Nội dung bài thơ?

    25. DẠNG ĐỀ SO SÁNH (Lớp 11 đề in nghiêng)

    Đề 1: So sánh hai đoạn: “Gió theo lối gió…. về kịp tối nay” (Đây Thôn Vĩ dạ) và “Sóng… dòng” (Tràng Giang)

    Đề 2: So sánh cái Tôi trữ tình của Xuân Diệu và Tố Hữu?

    Đề 3: Người chiến sĩ Cách mạng qua Chiều tối-Từ ấy

    Đề 4 : Ánh sáng-bóng tối qua Hai đứa trẻ, Chữ…tù,

    Đề 5: Cánh chim trong bài thơ Chiều tối-Tràng giang

    Đề 6: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho CPhèo

    Đề 7: So sánh chi tiết tiếng khóc của Chí Phèo_ Hộ

    Đề 8: Cảm nhận về hai đoạn thơ T bài Đây thôn Vĩ Dạ và Tương tư

    Đề 9: So sánh nhân vật Việt và Tnú?

    Đề 10: So sánh vẻ đẹp anh hùng cách mạng của Việt và Tnú?

    Đề 11: Cảm nhận hai đoạn: “Sông Mã… T đêm hơi” (Tây Tiến) và “Nhớ… về” (Việt Bắc)?

    Đề 12: So sánh lòng yêu nước trong 2 bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi?

    Đề 13: So sánh Gương mặt đất nước trong Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi?

    Đề 14: So sánh mùa thu trong Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) và Đất nước của Nguyễn Đình Thi?

    Đề 15: So sánh tình yêu quê hương đất nước trong Việt Bắc của Tố Hữu và trong Đất Nước của Nguyễn Đình Thi?

    Đề 16: So sánh người lính trong Tây Tiến (Quang Dũng) và trong Đồng chí (Chính Hữu)?

    Đề 17: Cảm hứng thơ trong Tây Tiến (Quang Dũng) và Đồng chí (Chính Hữu)?

    Đề 18: Cảm nhận: sợi dây thừng ngoằn nghèo (Sông Đà), tấm lụa (Sông Hương)?

    Đề 19: So sánh nhân vật người lái đò và nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù-> cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

    Đề 20: Cái tôi tác giả NguyễnTuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường qua Sông Đà và Sông Hương?

    Đề 21: Hình tượng Sông Đà – Sông Hương thơ mộng trữ tình?

    Đề 22: Vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà – Sông Hương?

    Đề 23: Tinh thần nhân đạo trong Chí Phèo – Vợ Nhặt; kết Chí Phèo – Vợ Nhặt?

    Đề 24: Cảm nhận về ý nghĩa của kết thúc Chỉ Phèo của Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân

    Đề 25: Số phận con người trong Vợ Nhặt và Vợ Chồng A Phủ?

    Đề 26: Người vợ nhặt của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

  • Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Nghị luận xã hội về Tình bạn

    ĐỀ BÀI :

    Mỗi người thêm một con mắt

    Mỗi người thêm nhiều cảm rung

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    Hãy trình bày ý kiến của em về tình bạn từ những gợi ý ở khổ thơ trên .

    BÀI LÀM

    “ Bạn là của cải chứ không phải của cải là bạn” câu danh ngôn đó đã dành tất cả sự trân trọng ,ưu ái cho tình bạn . Thế gian sẽ đơn điệu biết mấy ,con người sẽ nghèo nàn , nhạt nhẽo nếu tình bạn không tồn tại . Tình bạn ấy là hai tiếng thiêng liêng cao đẹp . Ca dao từng đề cao tình cảm bạn bè :

    Ra đi vừa gặp bạn hiền

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời .

    Bao nhà thơ nhà văn cũng ca ngợi tình bạn . Nhà thơ Trần Lê Văn viết :

    Mỗi người thêm một con mắt

     

    Mỗi người thêm nhiều cảm rung

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    ( Bạn )

    Bốn câu thơ bao hàm một quan niệm ,một cách nhìn nhận sâu sắc và đầy đủ về tình bạn cuaTrần Lê Văn .

    Qua bao tháng năm biến động ccủa cuộc đời tình bạn vẫn tồn tại bền bỉ trong trong tâm hồn mỗi con người vẫn là ngọn lửa ấm nhen lên giúp chúng ta gắn bó đoàn kết yêu thương nhau hơn .

    Có lẽ phải từng trải sống hoà nhả với bạn bè , nhà thơ mới cảm được một cách chính xác :

    “ Mỗi người thêm một con mắt Mỗi người thêm nhiều cảm rung .”

    Vạn vật đều không thể hoàn thiện , cũng như mỗi con nngười không thể biết hết thế gian . Nhưng con người được taọ hoá ban cho đôi mắt để thấu hiểu cuộc đời để cảm nhận thế giới xung quanh . Tục ngữ nói “ giàu hai con mắt” lại nói “Giàu vì bạn sang vì vợ”. Phẩi chăng thêm bạn là thêm giàu , thêm những đôi mắt ,thêm những góc nhìn để tránh phiến diện hoặc sai lầm . “ Học thầy không tày học bạn”, người xưa nhắn con người phải biết mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết bằng cách học hỏi bạn bè . nếu có nhiều bạn thì sẽ có nhiều cơ hội để học hỏi để mở rộng tầm nhìn , trí tuệ . Mỗi người bạn làm nên một thế giới trong ta , giúp ta hiểu thêm một cuộc sống mới . Tình bạn nảy nở sẽ là phương thuốc quý báu giúp ta chống lại phong ba bảo táp , giukps ta nhận rõ đúng saải trái trong ứng xử , nuôi dưỡng và làm mát dịu tâm hồn ta . Khi

    chúng ta có những tình bạn đẹp , tâm hồn không những phong phú mà còn sâu sắc hơn . có thể trước đây ta vô tình hoặc ít tình cảm , chỉ biết sống cho riêng mình với những “giấc mơ con” đủ cho một “cuộc đời con”. Khi có bạn cuộc sống chúng ta sẽ khác “ cảm rung” của ta cũng sẽ khác sẽ nhiều lên , sẽ tinh tế hơn , chân thành hơn . “Người ta là hoa của đất”hoa đã phong phú lắm sắc màu thì cuộc sống sẽ đậm đà biết mấy :

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    Có thêm những người bạn tốt ,cuộc sống trở nên tươi thắm hơn . Trời thêm nhiều màu sắc , không chỉ một màu xanh mà lung linh baycs cầu vồng . đất như cũng mênh mông hơn , mỡ ra cho chúng ta thêm nhiều hiểu biết , hi vọng , nhiều ước mơ và hoài bảo .

    Từ xưa đến nay , người ta đã có bao nhiêu tình bạn cao đẹp , thiêng liêng , biểu hiện sâu sắc của tình bạn là tấm lòng tri âm , tri kỉ . Tiếng đàn của Bá Nha chỉ mình Chung Tử Kì nghe và hiểu được . Đến khi Tử Kì chết Bá Nha treo đàn không đánh vì không còn một Tử Kì thứ hai nữa .

    Song bạn bè hiểu nhau chưa đủ mà còn phải biết quan tâm chăm sóc lẫn nhau . Tình bạn giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Mộng Tuân cũng rất cao đẹp . Nguyễn Trãi nói về bạn mình :

    Nghèo ốm ta thương bạn

    Ngông cuồng bạn giống ta .

    Nguyễn Mộng Tuân mừng nhà mới của bạn đã tạ lại tấm lòng bạn mình :

    Mang rượu đến cùng ông thưởng thức

    Say theo người , chớ tỉnh mình ta .

    Quả thật đó là những tấm lòng tri , kĩ tri âm . Khác với Nguyễn Trãi và Nguyên Mộng Tuân , Nguyễn Khuyến với Dương Khuê Không cùng một tư duy chính trị , Song không vig thế mà họ không trở thành bạn bè , Dương Khuê mất Nguyễn Khuyến đã khóc bạn bằng những vần thơ đầy xúc động :

    Rượu ngon không có bạn hiền

    Không mua không phải không tiền không mua

    Câu thơ nghĩ đắn đo không viết

    Viết đưa ai , ai biết mà đưa

    Giường kia treo những hững hờ

    Dàn kia gãy cũng ngẫn ngơ tiếng đàn

    Viết tiếp những trang ca ngợi tình bạn . Thạch lam đã đem đến một câu chuyện nhẹ nhàng trong sáng : Gió lạnh đầu mùa , trong gió lạnh rét mướt , tình bạn ngây thơ

    • hồn nhiên , trong sáng làm ấm ám tình người . Chị em Sơn quyết định thật nhanh chóngđợi chờ sơn thấy “ lòng ấm áp vui vui”. Niềm vui ấy có lẽ chỉ có ở những con người biết cảm thông chia sẽ với bạn bè.

    Tình bạn cao cả và thiêng liêng chúng ta có thể tìm thấy trong tình v\cảm của những anh bộ đội, những” đôi tri kỉ” trở thành đồng chi sát cánh kề vai “ súng bên súng đầu sát bên đầu” ( Chính Hữu”_ Đồng chí) chiến đấu vì độc lập tự do.

    “Sống không có bạn là chết cô đơn” Giooc- giơ Hê –be). Ai cũng muốn có những người bạn rất tốt của mình. Nhưng kết bạn vốn đã khó, mà gữ giùn tình bạn gắn bó thuỷ chung còn khó hơn nhiều. Lí Thông từng kết nghĩa với Thạch Sanh nhưng sau lại lừa chàng đi vào chỗ chết và cướp đi công chúa của chàng. Trịnh Hâm hãm hại Vân Tiên chỉ vì sự ghen ghét nhỏ mọn, tầm thường. Những tấm gương phản

    bạ đó cho yhấy nếu hẹp hồi, nếu chỉ ích kỉ thì sẽ mù quáng, sẽ mất bạn bè và trở thành kẻ ác. Trịnh Hâm âm mưa hãm hại Vân Tiênchỉ vì sự ghen ghét nhỏ mọn, tầm thường. Những tấm gương phản bạn đó cho thấy nếu hẹp hòi, nếu ích kỉ thì sẽ mù quán, sẽ mất bạn bè và trở thành kẻ ác.

    Sẽ ra sao khi ta phát hiện một tring những người bạn của ta mất khuyết điểm trầm trọng ? Xa lánh ư ? Cắt đứt giao thiệp ư ? Hoặc không có ý kiến gì, vẫn quan hệ bình thường như cũ? Đây là một chuyện rất khó. Nhưng em cho rằng trước hết phải gần gủi và không được bỏ rơi, không xa lánh bạn.Aỉch cóthể mắc khuyết điểm. Nếu ta chỉ chọn những người hoàn hảo để kết bạn thì biết đâu đến lúc nào đó, bạn phát hiện ra nhược điểm của ta củng sẻ bỏ rơi ta ? Nhưng là một người bạn chân thànhcủng không có nghĩalà im lặng, không dám can ngăn, không dám phê bình,thậm chíđẩutanh với sai lầm khuyết điểm của bạn mình. Thái độ tốt nhất trong quan hệ bạn bè là nghiêm khắc với mình và độ lượng, bao dung với bạn. Chỉ có thế ta mới là một người được bạn bè tin cậy, ta mới có nhiều bạn và trở thành người giàu có.

    “Giàu bạn bè là không nghèo về mặt nào cả”. Cuộc sống thật bao la, rực rỡ sắc màu. Mỗi ngượi đều biết độ lựơng, sống cởi mở, khoan dung hơn thì tình bạn sẽ đơm hoa kết trái, sẽ chẳng bao giờ lụi tàn. Lúc ấy con người sẽ sống nhân ái, trong sáng và đẹp hơn nhiều. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca:

    Có gì đẹp trên đời hơn thế,

    Người yêu người sống để yêu nhau.

     

    NHẬN XÉT

     

    Bài viết đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của đề bài : nêu lên quan niệm về tình bạn được trình bày trong khổ thơ. Người viết đã hiểu ý nghĩa của các câu thơ, làm sáng tỏ việc “thêm” những “con mắt” và “cảm rung” ở mỗi người là giàu có về trí tuệ và tình cảm. Đồng thời ý nghĩa mơ hồ, khó nắm bắt hơn trong hai câu thơ : “Trời cũng thêm nhiều màu sắc, Đất cũng thêm chiều mênh mông” được hiểu như cuộc sống đậm đà , tươi thắm hơn.

    Bằng các ví dụ về tình bạn được phản ánh qua văn thơ, người viết đã chứng minh rằng luôn luôn tồn tại những tình bạn thắm thiết qua nhiều thời đại. Tuy nhiênđiểm chính là con người sống giàu trí tuệ hơn, giàu tình cảm hơn, phong phú và sâu sắc hơn thì chưa rõ lắm. Vì quan tâm nhiều đến nội dung quan niệm tình bạn trong khổ thơ nên người viết cũng chưa chú ý đầy đủ đến việc bình luận về quan niệm đó, mặc dù theo mạch văn có thể hiểu là người viết tán thành, coi quan niệm đó là hoàn toàn đúng đắn.

    Quan niệm về tình bạn của người viết là một quan niệm có lí, có tình và khá chân thành, đúng mực.

  • Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Đề bài: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam (đề mở)

    A. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    “Để bài đặt ra một luận đề vừa lí thú lại vừa thiết thực trong cuộc sống của dân tộc ta cũng như của mỗi học sinh chúng ta. Đó là một đạo lí đã trở thành truyền thống đẹp của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay: tôn sư trọng đạo. Ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp của đạo lí này, nhưng hiểu cho hết ý nghĩa sâu xa của nó – cả ngày xưa và hôm nay – thì không đơn giản chút nào. Người viết phải tự mình đặt ra những câu hỏi nhỏ xung quanh truyền thống này để bàn luận, trả lời, giải đáp nhằm làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc. Dĩ nhiên có thể bàn luận cả luận đề hoặc chỉ đi vào một khía cạnh mà mình tâm đắc nhất, vì đây là đề mở. Đề bài không nêu thao tác lập luận để người viết hoàn toàn có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp với vấn đề bàn luận của mình: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận…” (Theo Nguyễn Xuân Lạc)

    B. BÀI LÀM THAM KHẢO

    Mở bài

    Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo. Đó là một truyền thống tốt đẹp của một dân tộc văn hiến và hiếu học. Từ xa xưa đã có câu ca:

    Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

    Hoặc thâm thuý hơn, ông cha ta cũng từng nhắc con cháu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư (Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy).

    Thân bài

    1. Thế nào là tôn sư? Vì sao phải tôn sư ?

    Tôn sư là đề cao, tôn vinh, coi trọng người thầy. Vì sao vậy? Người thầy dạy chữ, dạy kiến thức cho ta, đem đến cho ta những hiểu biết để ta sống tốt hơn, có ích hơn. Người thầy lại dạy ta đạo lí, nhân cách để ta biết làm người trong xã hội. Vai trò người thầy là hết sức quan trọng, không thể thiếu đối với bất kì một quốc gia dân tộc nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thế thì sao lại không tôn vinh, đề cao người thầy? Đây là tôn vinh xuất phát từ chức năng cao quý và trách nhiệm lớn lao của người thầy.

    1. Thế nào là trọng đạo? Vì sao phải trọng đạo?

    Trọng đạo là gì? Trong kết cấu hai vế cân đối tôn sư/ trọng đạo, nếu tôn sư là tôn vinh người thầy thì trọng đạo là coi trọng nghề dạy học. Đạo ở đây là đạo làm thầy (1), là nghề dạy

    học. Nghề dạy học là nghề đáng được coi trọng vì sản phẩm nó đào tạo ra chính là con người, như ai đó đã nói : «Trong các nghề thì nghề dạy học là nghề cao quý nhất». Nhân dân ta «trọng đạo» chính là trọng cái nghề «trồng người» cao quý ấy, cũng như họ đã tôn vinh người thầy là những «kĩ sư tâm hồn».

    1. Bình luận mở rộng : Ý nghĩa của Tôn sư trọng đạo

    Tôn sư trọng đạo hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, đó là sự suy nghĩ, nhìn nhận đúng đắn và tiến bộ của nhân dân ta về một nghề đáng được coi trọng và một con người đáng được tôn vinh. Nó chứng tỏ dân tộc ta là một dân tộc văn hiến và hiếu học, bởi coi trọng nghề dạy học là một biểu hiện sâu sắc của một dân tộc hiếu học. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tôn sư trọng đạo chính là nó gắn bó mật thiết với sự nghiệp trồng người để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội phát triển tốt đẹp. Xưa, ông cha ta đã nói «hiền tài là nguyên khí của quốc gia»; nay, ta lại khẳng định «giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu» – những điều đó không thể không liên quan đến truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Tôn sư trọng đạo đã trở thành một đạo lí, một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta chính là như thế. Nó là sức mạnh tinh thần, tình cảm lớn lao và bền vững của dân tộc để góp phần xây dựng nên một nước Việt nam văn hiến và giàu mạnh.

    1. Truyền thống tôn sư trọng đạo được kế thừa và phát triển trong xã hội ta hiện nay.

    Truyền thống tốt đẹp đó đã được nhân dân ta kế thừa và phát huy trong cuộc sống hiện nay. Trên khắp đất nước, ở đâu cũng vậy, từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi miền ngược, người dân Việt nam đều yêu quý, tôn trọng ông thầy, đều dành cho thầy những tình cảm ưu ái nhất, đặc biệt là lòng biết ơn sâu sắc thầy đã dạy con cái họ nên người. Trong hoàn cảnh nước nhà còn nghèo, đời sống thầy giáo còn nhiều khó khăn, họ đã tận tình giúp đỡ thầy một cách chân thành và cảm động. Các dân tộc vùng cao đã coi các thầy giáo, cô giáo miền xuôi lên dạy học như người con của quê hương mình. Người thầy được tôn vinh thì nghề dạy học cũng được coi trọng. Không phải ngẫu nhiên mà giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và ngày 20 – 11 hàng năm đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân để tôn vinh người thầy và nghề dạy học cao quý. Hình ảnh cha mẹ học sinh tặng hoa các thầy, cô giáo trong ngày 20 – 11 và cả những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước đến thăm thầy giáo cũ đã nói lên sâu sắc truyền thống và đạo lí cao đẹp. Từ một đạo lý truyền thống của dân tộc, tôn sư trọng đạo đã mang một ý nghĩa cách mạng mới trong thời đại ngày nay gắn liền với tư tưởng «trồng người» của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó không chỉ là đạo lí, tình cảm mà còn là tinh thần, sức mạnh, hành động cách mạng để đưa đất nước đi lên ngày càng giàu mạnh, văn minh. Đó là nét mới của truyền thống tôn sư trọng đạo trong cuộc sống hiện nay của nhân dân ta.

    Kết luận

    Bước sang thế kỉ XXI, cuộc sống có nhiều đổi mới kéo theo sự đổi mới của giáo dục, của vai trò người thầy và nghề dạy học. Trên cơ sở kế thừa, giữ gìn những mặt tốt đẹp của truyền thống, chúng ta cần biết phát huy và vận dụng đạo lí tôn sư trọng đạo một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng mới để đạt kết quả tốt đẹp nhất.

    (Bài làm của em Mai Thanh Thuỷ, học sinh

    Trường THPT Lam Sơn, Thành phố Thanh Hóa)

    (Ghi chú: Bài văn trên đây là bài làm của em Mai Thanh Thuỷ, chúng tôi dẫn theo tài liệu của Nguyễn Xuân Lạc, còn những đề mục của kết cấu bài thơ như: «Mở bài», «Thân bài», «Kết bài», và các luận điểm 1, 2, 3, 4, do chúng tôi thêm vào)

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Bài làm

    Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc).

    Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân. Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình. Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác

    lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác

    • khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre- plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

    Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy tháclửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại. (thủy) so sánh với Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh.

    Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình

    • ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ… Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người. Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà…

    Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải

    nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống. Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.

  • Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Đề bài: Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    A. Hướng dẫn cách làm

    1. Giải thích

    Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta: “Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng nhà nước giải quyết, từng bước thanh toán đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, tầng lớp dân cư”

    Tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thể hiện tấm lòng cao cả nhân văn “Thương người như thể thương thân” , “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Mọi người đều nên có ý thức ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” .

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thu được kết quả to lớn trong nhiều năm qua, góp phần cùng nhà nước làm giảm số lượng và tỷ lệ người nghèo. Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng vì đã thành công lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.

    2. Bàn luận

    Xóa đói giảm nghèo chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta

    Xóa đói giảm nghèo muốn thành công phải huy động nguồn lực của toàn xã hội.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là hoạt động thiết thực huy động nguồn lực của toàn xã hội vào công việc xóa đói giảm nghèo.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là nét đẹp phát huy truyền thống đoàn kết, nhân văn, quan tâm đến người nghèo của dân tộc ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Mỗi người dân nên nhiệt tình tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    3. Liên hệ

    • Bản thân em sẽ cố gắng trong từng việc có thể tham gia ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” Tuyên truyền vận động bạn bè và người thân tham gia phong trào.

    B. Bài làm tham khảo

    Đề : Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    Mở bài:

    Nhiều năm nay, “Quỹ vì người nghèo” do mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết lập đã nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân, từ cán bộ, công chức đến tầng lớp doanh nhân. Vì sao phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” lan rộng và sôi nổi như vậy ?

    Thân bài:

    1.“ Quỹ vì người nghèo” góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” chứng tỏ ý thức cộng đồng cao của dân ta, góp sức cùng nhà nước thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tháng vì người nghèo hàng năm thu được hàng nghìn tỷ đồng, liên tục trong hàng chục năm nay, làm cho tỷ lệ người nghèo ở nước ta liên tục giảm xuống. Các nước bè bạn, cả thế giới khâm phục thành công về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Tổ chức Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng về xóa đói giảm nghèo.

    1. Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, của nhân dân ta.

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn cao cả trong tâm hồn con người Việt Nam. Mọi người dân nước ta đều hiểu sâu sắc “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Trải qua bao gian khổ, hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thiên tai bão lụt, dân ta luôn có truyền thống “Thương người như thể thương thân”

    • “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Hình ảnh cụ già bớt chút lương hưu, các em học sinh bớt tiền ăn sáng của bố mẹ cho để san sẻ với bạn nhỏ bất hạnh hơn mình luôn làm cho mọi người xúc động và thức tỉnh lương tâm trách nhiệm ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”.

    Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn phải tiếp tục lâu dài , là mục tiêu “Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc” cũng như của Nhà nước Việt Nam. Chúng ta hàng năm phải có ý thức và hành động thiết thực cùng toàn dân, toàn hệ thống chính trị tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo, mà cụ thể nhất là ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”. “Nhường cơm sẽ áo, chị ngã em nâng”

    1. Mọi người nuôi dưỡng ý thức và hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo. Nước ta là nước đang phát triển, thu nhập thấp, đại bộ phận dân cư sinh sống, làm nghề nông, thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh ở người và gia súc, rủi ro trong làm ăn, tai nạn trong

    sinh hoạt làm cho người ta nghèo đi. Số lượng người nghèo của nước ta rất đông, từ tỷ lệ khoảng 60% cách đây 30 năm, nay vẫn còn khoảng 15% tức là hơn 10 triệu dân trong diện người nghèo. Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn lâu dài và mỗi người chúng ta phải kiên trì hành động, luôn

    Tài liệu khóa học Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn.

    nuôi dưỡng tấm lòng nhân văn cao cả, nghĩa hiệp để có việc làm, hành động đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo.

    Ông cha chúng ta có khái niệm “nợ đồng lần”. Người ta giúp mình việc gì đó không phải để mong được mình trả ơn, mà mong mình sẽ lại đi giúp những người khác. Như thế, những tấm lòng thơm thảo sẽ được nhân lên, những hoàn cảnh được chia sẻ sẽ được tăng lên theo cấp số cộng, cấp số nhân. Nhờ đó, xã hội chúng ta sẽ đầy những tấm lòng nhân ái, cuộc sống ấm áp ngày càng tươi đẹp, thanh bình, hạnh phúc. Giúp đỡ người nghèo, ủng hộ quỹ vì người nghèo là một trong những cách thiết thực biểu hiện sự quan tâm tới người khác, tới xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn mình”.

    Kết luận

    Một nhà văn Nga đã viết “Nơi lạnh nhất không phải Bắc Cực mà là nơi không có tình thương” . Nhà văn Pháp Misen Êken Mongtenho cũng đã viết “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” .Một trong những việc nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người là hàng năm hãy có hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bài Làm

    “…Con sóng dưới lòng sâu…..

    Hướng về anh một phương”.

    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vã, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong mình biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tròn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh một phương”

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của

    tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”.

    bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân

    vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm

    tư. Và có thể nói, khổ thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh – một phương”

    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

    Hai câu thơ với hình thức lặp quyện hòa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới lòng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc

    lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao

    giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “ không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về

    bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Chọn hình tượng sóng-một trong những hình tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chọn hình tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đã vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. Còn sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái lòng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Sóng bây giờ dường như cũng đã không còn đủ sức chuyên chở nỗi lòng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cõi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ “ lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng

    là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua

    biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là

    gan, là ruột của người phụ nữ rồi. “Lòng em nhớ đến anh”, ơi thương

    sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ

    “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Có thể nói,

    với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật

    nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ

    niềm thương

    Sóng-em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng

    cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập (“dẫu”). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn mãi yêu anh. . Chẳng phải là “ngược Bắc”, “xuôi Nam” mà là “xuôi Nam” “ngược Bắc”.Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”. “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh. Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì

    nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã dành “hệ qui chiếu” của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị.

    Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” không chỉ ở tình cảm chân thành nồng cháy mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng_hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một hình tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tròn trong sóng thơ dạt dào. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mãnh liệt. Hình tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã góp vào thi đàn một hình tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có “sóng”.

    Xuân Quỳnh đã đi về một miền miên viễn. Chị đã đi xa nhưng sóng thì vẫn “bạc đầu thương nhớ” còn người thì vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống mãi cùng sóng lòng, sóng thơ và “sóng”. Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn mãi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương.

    Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đã thành con sóng ngàn đời: con sóng tình yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ mãi con sóng thương yêu!

  • Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    của Thanh Hải

    (Tổng hợp)

    Bài Làm

    Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước ,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng .

    Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá :

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc,

    Ơi! con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

    Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc ,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen , bình dị, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế .Bức tranh có không gian thoáng đãng ,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện . Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh” , “bông hoa tím” ,

    cách sử dụng các từ ngữ “ơi” ,“chi” đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả . Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng .Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình :

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng .

    Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong ,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc ,nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng , đắm say . Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân .

    Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước . Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân :

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc dắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ.

    Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước

    .“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương ,rộn ràng , náo nức lan toả khắp tứ thơ :

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao.

    Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả ,hào hùng ,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước :

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước .

    Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng, có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương .

    Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng :

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một canh hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến .

    Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm ,tô điểm thêm cho mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra

    sự đối ứng chặt chẽ . Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương ,con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người .Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác :

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc .

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ , bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối ,có hình ,một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn . Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng , một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả .

    Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết ,gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp , giản dị ,gợi cảm ,những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ .

    Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả .Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành

    tiếng lòng chung của nhiều người .Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị :

    “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ?

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình !”

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    I – Mở bài:

    Mùa xuân từ lâu đã là đề tài vô tận cho các thi sĩ. Nhưng hiếm có bài thơ nào viết về mùa xuân lại hay và trong hoàn cảnh đặc biệt như “mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, nhà thơ của xứ Huế mộng mơ. Bài thơ “mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh và chỉ mấy tuần lễ sau khi hoàn thành bài thơ thì nhà thơ đã qua đời. Đây là một bài thơ hay tiêu biểu cho hồn thơ Thanh Hải đã thể hiện được tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời.

    II – Thân bài:

    1. Mùa xuân của thiên nhiên.

    Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, hiền hoà, đầy sức sống của xứ Huế mộng mơ.

    Mọc giữa dòng sông xanh

    …………

    Tôi đưa tay tôi hứng

    • Xứ Huế đã đi vào trong thi ca của không ít các thi nhân như Hàn Mạc Tử, Tố Hữu… nhưng ở đây với bài thơ này ta vẫn cảm nhận được phong vị rất riêng của Thanh Hải. Bức tranh xuân ấy hiện lên rất ít chi tiết nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện với đầy đủ sắc màu, âm thanh và đường nét. Có một dòng sông xanh hiền hoà, mênh mang làm nền cho sắc tím của bông hoa, màu tím của xứ Huế thơ mộng, của nhớ nhung đã tạo nên cảm giác mát dịu làm sao! Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật vẻ đẹp của bông hoa. Bông hoa ấy mọc từ giữa dòng sông như tâm điểm của một bức tranh đầy ấn tượng. Bông hoa ấy như phát sinh, khởi nguồn từ cái sức sống dồi dào, bất tận của dòng sông xanh để không ngừng vươn lên bất tử. Bức tranh ấy càng sống động hơn bởi âm thanh của tiếng chim chiền chiện quen thuộc của quê hương miền trung. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ thường.
    • Hãy đọc lại khổ thơ đầu và lắng nghe trong đó: có phải là nhạc và thơ đã hoà quyện vào từng chữ, từng dòng trong cả khổ thơ, đem đến môt giai điệu mùa xuân vui tươi, rạo rực ? Nhà thơ lặng ngắm, lắng nghe với vẻ say mê và tấm lòng tràn đầy một cảm xúc thanh cao trong sáng. Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ, nhà thơ đã tạo dựng được một hình ảnh tuyệt đẹp, gợi ra sự liên tưởng phong phú cho người đọc về âm thanh của tiếng chim. Âm thanh mượt mà, trong vắt của tiếng chim thánh thót như chuỗi ngọc long lanh, đọng lại làm thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn đang rạo rực tình xuân. Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhận bằng âm thanh ( thính giác), tác giả đã chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìn được bằng mắt ( thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được như cảm nhận nó bằng da thịt, bằng sự tiếp xúc ( xúc giác).

    Sự chuyển đổi cảm giác ấy là một sáng tạo nghệ thuật gợi cảm từ con mắt nhìn rất thơ của thi sĩ. Hình ảnh đưa tay “hứng” xiết bao yêu quý, nâng niu đã thể hiện được sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc đời.

    2.Trong mùa xuân lớn ấy, đất nước và con người cũng mang vẻ đẹp của sức sống vô tận, rộn ràng bước vào một mùa xuân mới:

    Mùa xuân người cầm súng

    ……

    Lộc trải dài nương mạ

    • Lộc xuân theo người cầm súng, lộc xuân trải dài nương mạ. Hình ảnh dân tộc Việt Nam kết tụ lại ở “người cầm súng” và “người ra đồng”. Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu, của đất nước vất vả gian lao đang đi lên phía trước. Câu thơ vừa tả thực vừa tượng trưng hàm chứa nhiều ý nghĩa trong hình ảnh người lính và người nông dân với từ “lộc” nhiều nghĩa. “Lộc” là chồi non, lá non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân, là sức sống, là thành quả hạnh phúc. Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Âm hưởng thơ hối hả, khẩn trương với nhiều điệp từ, điệp ngữ láy lại ở đầu câu cùng với các tính từ “hối hả”, “xôn xao” làm tăng thêm sức xuân phơi phới, mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng rộng lớn là dân tộc. Điều đó làm cho tác giả nhớ đến niềm tự hào lớn lao của đất nước:

    Đất nước bốn nghìn năm

    ……

    Cứ đi lên phía trước”

    • Đất nước đang bước vào mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người đều hối hả và xôn xao. Mang tình sông núi, nhà thơ Thanh Hải đã có một cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dài lịch sử bốn nghìn năm của đất nước.Đó là truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cù trong dựng xây, là truyền thống nhân ái, là khát vọng hòa bình. Mỗi truyền thống ấy đều được xây đắp nên từ mồ hôi, công sức, nước mắt và thậm chí cả xương máu của biết bao thế hệ con người. Trong quá trình xây dựng và giữ nước, đất nước ta còn đầy vất vả và gian lao nhưng đất nước Việt Nam vẫn ngời sáng cứ tiến lên phía trước như một vì sao sáng. Vần thơ so sánh và nhân hoá thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ, trường tồn. Ba tiếng “cứ đi lên” đã thể hiện ý chí quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng đất nước giàu và mạnh.
    • Đặt bài thơ vào những năm 80 khi nước ta còn đang phải đương đầu với bao khó khăn, nền kinh tế còn rất thấp kém thì ta càng trân trọng lòng yêu đời, yêu cuộc sống và niềm tin của nhà thơ Thanh Hải vào quê hương, đất nước.

    3.Xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước, nhà thơ muốn góp một mùa xuân nho nhỏ của mình để làm nên một mùa xuân lớn, mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:

    Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến

    Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

    Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Thật cảm động làm sao trước ao wowcs của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

    Những câu thơ cuối cùng mang đậm dấu ấn của những làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế. Nó như tiếng tâm tình, thủ thỉ, như tiếng lòng sâu lắng thiết tha, nồng đậm nghĩa tình:

    Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam Ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm

    Nhịp phách tiền đất Huế

    Cùng với ý nguyện ấy, khúc Nam Ai, Nam Bình ở khổ thơ kết nói lên niềm tin yêu tha thiết với quê hương, đất nước và cuộc đời. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ , tình cảm đó càng đáng trân trọng, càng cảm động biết bao !

    III – Kết bài:

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ có tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnh sáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết. Đọc “mùa xuân nho nhỏ”, trái tim ta dường như xao xuyến, một cảm xúc thanh cao, trong sáng từ từ dâng ngập hồn

    1. Bài thơ đem đến cho chúng ta bao cảm xúc đẹp về mùa xuân, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của một tâm hồn trong sáng khiến ta cảm phục và tin yêu. Còn gì đẹp hơn mùa xuân ? Có tình yêu nào rộng lớn hơn tình yêu quê hương đất nước ? Thấm nhuần tâm tư, ước nguyện của của nhà thơ, chúng ta càng thêm tin yêu vào mùa xuân của đất nước và “mùa xuân nho nhỏ” trong lòng mình. Chúng ta muốn cùng con chim chiền chiện hót lên khúc ca ngọt ngào gọi xuân về, muốn học thành tài để hiến dâng cho đất nước, góp phần công sức nhỏ bé để tô điểm cho mùa xuân cuộc đời thêm đẹp.

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Thanh hải là 1 cây bút có công xaay dựng nền văn học cách mạng ở Miền Nam từ những ngày đầu Thơ ông thể hiện niêm yêu mến thiết tha của cuộc sống đất nước ước nguyện của tác giả . Và MXNN là 1 bài thơ nhu thê

    Bài thơ được sáng tác vao nhữung năm cúôi đời của thanh hải thế nhưng đặc biệt tràn ngập cả bai thơ là những cảm xúc của tác giả đi từ mùa xuân thiên nhiên đên mùa xuân đất nưuợc ocn người và cuối cùng đã bộc lộ khát vọng sống của con người . Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ Đã tạo nên 1 giọng điệu thơ sâu lắng trữ tình tha thiết

    Mở đâu bài thơ thanh hải đã fác hoạc cảnh mùa xuân tươi đẹp dang về trên xứ

    huế

    mọc giuẵ dòng sông xanh

    một bông hoa tím biếc

    ơi con chim chiền chiện

    hót chi mà vang trời

    khổ thơ là cảm nhận của thanh hải về mùa xuân thiên mùa xuân quê hương . Đâu có gì nhiều chỉ 1 bông hoa 1 dòng sông 1 tiếng chim hsot . Đơn giản thế nhưng vui và đẹp biết bao ! . Chỉ bằng vài nét fác họa chọn lọc hình ảnh màu sắc và âm thanh nhà thơ như vẽ ra cả 1 không gian cao rộng dòng sông mặt đất bầu trờ cả màu sắc thắm tuơi sông xanh thắm hoa tím biếc và âm thanh rộn rã Tiếng chim chiền chiện hót vang trờ . Truwocs đây cũng đã nhiều thi nhân mieue tả mùa xuân vơi những ítn hiệu bông hoa chim hót

    chim hót véo von liễu nở đầy

    Nhưng điểm đặc biệt trong thơ Tanh hải là cảnh màu xuân mang nét đẹp riêng cảu quê hương xứ huế . Dòng sông xanh đây là dòng sông hương thở mông của huế ko phải là sông hồng đỏ nặng phù sa cũng chẳng phải là Vàm cỏ đông tươi mát trên dòng sông hương giang thơ mộng ấy ” mọc ” lên l1 bông hoa tím biếc. có lẽ đó là họa lục bình . 1 lòai hoa ưa sông nuwocs ưa đồng nội bình dị thân th ương . Thi nhân xuă thường nói đến màu xuân với những loài hoa tiêu biểu kiêu saquí hiếm như hoa đào mai lan nhưng ở đây mùa xuân trong thơ thanh hại lại được báo hiêu băng 1 bông hoa lục binh tím biêc .Cái màu tím đặc trunưg của xứ huếy ngươi huế . Cách đảo ngữ đưa từ mọc lên đầu câu thơ . Mọc giữa dòng sông xanh gây ấn tuợng về sự vương lên đầy sức sống của bông hoa . 1 sức sống tràn trề tuơi trẻ Chỉ với 2 câu thơ mở đầu nhà thơ đa miêu tả đựoc cả 1 sắc xuân đằm thắm dịu dàng mà xao xuyến lòng người Thanh hải còn cảm nhận thêm 1 nét đẹp nữa của thiên nhiên xứ huế đó là tiếng xuân rộn rã reo vui qua âm thanh thánh thó của chim chiền chienẹ . 1 lòai chim sơn ca sống rất nhiều

    • Huế Tiếng chim hót thánh thóe véo von vang vọng cả đâtd trờ Cã không gian cao rộng nghe tiếng chim hót nàh thơ thoế lên lời gọi của chim thậ thiết tha say đăm

    Ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trờ

    Hô ngữ Ơi kết hiưpự với cụm từ hót chi mà nghe sao mà dịu ngọt êm ái thân thương . 1 lần nữa qua cách thể hiện của TH ta bắt gạp các chât thơ ngọ ngào của xứ Huế qua tiếng thơ nhẹn nhang thân thương tràn đầy cảm xúc lẫn chất huế ấy đã thể hiện tình yêu tha thiêt của nàh thơ đối với quê hương ruột thịt của mình

    Thế ta mùa xuân đang đên ở xứ huế rất đẹp của hoa tím sông xanh ở sức sông của bông hoa và ở niềm vui trong tiếng chim chiền chiện hót. Tâm hồn nhà thơ rộng mỡ để đón nhận nâng niu trân trọng vẻ đẹp sứuc sống và niềm vui ấy

    Từng giọt long lanh rờ Tôi đưa tay tôi hứng

    Nhưng dòng thơ đã thể hiện cảm xúc của hôn thơ TH . bàk ca xứa huế vào xuân nghe tiếng hót trong trẻo véo von thánh thót của chim chiền chiện . Âm thanh đó được kết tinh lại đọng lại thanh từng giọt long lanh lấp lánh Và nhà thơ muốn đuă tay đón nhận từn ggiọt âm thẩ ấy . Rất sáng tạo và đầy gợi cảm . TH đã dùng hiện tượng chuyển đổi cảm giác để thể hiện cảm xúc của mình . Từ cái có tính thính giác chỉ có thê4r nghe được là âm thành của tiếng chim nhà thơ tưởng tnhư thấy được và có thể hứng đựoc cả tiếng chim trong tay . Cảm nhận nó bằng xúc giác nêu xuân diệu ddax có lần say sưa trược vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân . Thàng giêng ngon như 1 cặp 1 gần để ròi hào hứng thốt lên

    Hơi hồng ta muốn căn vào ngươi thì thanh hải cũng ngất ngây tưởng chứng hưng được cả tiếng xuân . giọt xuana trong tay. Hiện tưởng chueyen đổi cảm giác ấy hoàn toàn màng tính chủ quan có lẽ phi lí ko thực tết .Nhưng đã trở thành nghệ thật trong thơ ca bởi nó đã thể hiện được cái cảm xúc nồng nàn say đăm của nhà thơ . Cací đất trờ xứ huế vào xuân và nhà thơ khương tư dung cũng đã có lần thể hienẹ cảm xúc của mình trong âm thanh của tiếng chim bằng 1 câu thơ có hiện tuơng chuyển đổng cảm giác tương tự

    Một tiếng chim kêu sống cả rừng

    Rồi tờ đó nàh thơ tiếp túc trải dài cảm xúc của mình với mùa xuân đất nước con người

    Mùa xuân người cẩm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    • đay chún gtả đã thây thanh hỉa đề cập đên 2 hình ảnh đó là người cầm súng và người ra đông . Vì sao vậy có pảhi cahưng học chinh alf nhưng người đã chiến đấu bào vệ tổ quốc họl à những người đổ mồ hôi cong sức để góp phần xây dunựg đất nược đocọ lập hạnh phúc cho mọi người . Như vây jchín hhọc là nhưng nguơiừ mang lại mùa xuân cho nguơiừ khác .Bên cạnh 2 hình ản hnày là lộc Nói đến Lộc là nói đến sự đama chồi của cây là . Nhưng trong văn cảnh này lộc mang hàm ý là mùa xuân là sự may mắn là hạnh phúc đến với người khác Và lộc của người cầm sùng đó là cành lá nguyện trang . Và lộc của người ra đồng là nương mạ xanh tốt . Như vaỵa lộc đã

    theo họ ra chiến trường ra ruộng đồng hay là chín họ đã mang lộc về cho đất nước cho mọi người

    Từ hình ảnh con người tác giả đề cập đến hình ảnh đất nước

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước

    Đất nước tả kể từ buổi đầu dựng nước là quá trình giữ nước hết cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác . Cha ông ta sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ nền văn hiến cha ông. Đây là 1 quy trình đầy gian lao vất vả nhưng cũng đầy tự hào Niềm tự hảo đó đã được tác giả so sánh bằng hình ảnh rất đẹp ” như vì sao ” Nói đến vì sao là nói đến các tinh tú lấpl ánh trên bầo trời . Vì sao cứ ngàn năm mãi vình hằng đối với cuộc sống con người và đối với đất nước như vì sao có nghĩa là đất nước ta rất đẹp đất nước ta từ 4000 năm đã đặc xây dựng và phát triển “cứ đi lên phía trước “Chính vì thế mà trước vẻ đẹp đó trước niềm tự hào Con người khi cảm nhận về đó như cảm thấy hối hả . Ở 2 câu này vuằ có điệp từ ” tất cả ” Lạp lại cùng với những hình ảnh đầy hình tượng như âm thanh >Nó gợi tả đươcọ không khi và khí thế rộn ràng vui vẻ cảnh đất nước vào xuân

    Mở đầu bài thơ . Nó đã giớ thiệu cảnh sắc mùa xuana thiên nhiên đẹp tươi ddang đến trên quê hương xứ huế thân thương . Nhưng khổ thơ của thanh hải là cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân đất nước . dân tộc . Và cũng từ mạch cảm xúc đó nhà thơ đã quay về với lòng mình . Suy nghĩ thật chân thành và lắng động

    Ta làm con chim hót

    Ta làm 1 cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến

    Thanh Hải suy nghĩ về mình về trách nhiệm đóng góp của mình trong mùa xuân của đời . Nêu ở khổ thơ đầu mùa xuan thiên nhiên đưộc báo hiệu bằng hình ảnh 1 bông hoa đang nở rộ bằng âm thanh tháng thót của con chim chiền chiện thì giờ đây nhà thơ cũng muốn làm con chim hót 1 cành hoa để góp phần làm nên mùa xuân cho đời . Nêu trong khổ thơ truóc đó nhà thơ đã gợi ra mùa xuân của thiên nhiên đất nưộc dân tộc thì ở đaya nhà thơ đã liên hệ đến mình nghĩ về mình trong nhưng ngày cuối đời . khát khao đưộc cống hiến cho cuộc sống cho đất nước cho cách mạng. Trong cái lớn lao của đất trờ vào xuana . Tổ quốc vào xuân .Thanh Hải chỉ xin góp phần làm 1 tiếng chim trong giọng hót của muôn chim để âm thanh mùa xuân thêm rộn rã tưng bunừg màng đến niềm vui cho người . Làm 1 cành hoa trong hương sắc của muôn hoa góp them vẻ thắm tươi rực rỡ cho đời . Mà đặc biệt múôn làm 1 nốt trầm trong bản hoa tấu muôn lời muôn điều của cuộc sống . Thanh hải chỉ muốn làm 1 nốt trầm không vuốt cao ko âm ỉ một nót phụ trong vè phụ của giàn hợp xướng làm nền cho bè vút lên . Nhưng là 1 nốt trầm nghe xao xuyến lòng người cho đời thêm sinh động đáng yêu Nhà thơ dùng nhữung hình ản hđẹp của thiên nhiên như chim hót cành hòa để nói lên ược nguyện đươcọ sống có ich để cống hiến cái tinh túy cao đẹp nhất của chính mình cho cuộc đời chung . Số từ một đặt trứoc cành hoa notó trầm thể hiện sự khiêm tốn của nhà thơ ko làm đưộc 1 vường hoa thì hãy làm 1 bông hoa bé nhó ko làm 1 giàn hợp xướng thì hãy làm 1 nốt trầm xao xuyến > Chỉ xin làm 1 bông hoa 1 tiếng chim 1 nốt trầm để tô điểm làm đpẹ làm vui cho cuộc sống . Ước nguyện hóa thân ấy

    của nàh thơ ko cao xa vĩ đại mà gần gũi thân thương. đẹp và đáng yêu biêt mấy Bời khát vọng sống có ich có ý nghĩa và vô cùng khiêm tốn . Điệp ngữ ta làm ta nhập như 1 lời tự nhủ cùng với nhịp thơ sôi nổi thiết tha đã thể hienẹ 1 cách gợi cảm mạng mẽ cái khát vọng cháy bỏng của nàh thơ tự nguyện gop xuân đời riêng vào xuân đời chung của đất nước quyêh ương . 1 điều đán gchú ýe là từ chỗ xưng tôi ở đầu bài thơ với bao cảm xúc Thanh Hìa đã chuyển sang xưng ta với bao nhiêu nhận thức suy ngẫm . Rõ ràn gđã có sự vươn lên trong tư duy của nhà thơ để chuyển từ cái cá nhân riêng lẻ đến cái chung rộng lớn với ba ước nguyện cống hiến cho đời . Có thể thanh hải muốn gởi vào cái ta ấy 1 lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta trong cuộc đời này

    ko Những vậy khát vọng cống hiến ây rất khiêm tốn thầm lặng ko ngừng nghĩ . Khiêm tốn ở chỗ tất cả ước nguyện cảu nhà thơ đọng lại trong hìn hảnh

    Một màu xuan nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Hìn hản hthơ ở đay lạp lại nhan đề Mùa Xuân Nho Nhỏ là 1 điểm sáng thẩm mỹ của bìa tohư . Mùa xuana là 1 khải niệm về thơi gian vậy mà nhà thơ đã cụ thể hóa thàn hhính khôi nho nhỏ. Thanạ xinh xắn đễ thưonưg để thể hiện tấm lòng mình . KO phải là 1 mùa xuân xanh 1 mùa xuân hông hay mùa chín nhưng ở thanh hải là mùa xuân nho nhỏ Chính với khát vọng làm 1 tiếng chim hót cành hoa xinh nốt nhạ trầm là thanh hải đã tạo được 1 màu xuân nho nhro đề hòa mình với 1 mùa xuân lớn lao của đất nước .nó dâng hạnh phúc sự sống cho đời . Nhà thơ muốn gởi gắm qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ cái khát vọng thật nhro bé và vô cùng cao đẹp . Ước nguyện được làm 1 mùa xuân nghĩa là muốn song đẹp sống với sức xuana tương trẻ của mình dẫu chỉ là xuân nhỏ nhỏ trong cái mùa xuân rộng lớn của đất nước nhưng trong cái xuân

    đời riêng vào mùa xuân bào la bất tận của cuộc đời là khát vọng khiêm tốn đáng yêu của 1 người thiết tha muốn cống hiến cho tổ quốc và ý thức rất rrõ cái hữu hạn của cá nhân mỗi người truớc cái vô hạn cái rộng lớn của cuộc đời

    Điều đáng quý là cái MXNN mà nhà thơ muốn cống hiến đo ko chút âm ĩ phô trương mà chỉ âm thầm lặng lẽ như 1 dòng sông tháng ngày lặng lẽ bồi đắp phù sa cho ruộng đồng màu mỡ . cây trái xanh tươi. Từ láy gợi tả gơij cảm lặng lẽ của đông từ dàng cho thấy thái độ cống hiến trân trọng mà thầm lặng khiêm tốn đáng yêu đáng quí của nhà thơ . Thái đó cống hiến thầm lặng đó gợi ta nhớ đến cùng sự hi sinh dấn hiên lặng lẽ tuổi xuân xứ huế và hạnh phúc cá nhân mình cho tổ quốc thân yêu . Cú nhưng con người ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước như anh than nhiên, người kĩ sư vường rau , anh cán bố nghiên cứu vê fsét bên dưới cái giá bằng thâm thùng mây tuyết ở Lặng Lẽ Sa Pa

    Điểm đáng nổi bật đặc biệt ở đaya là Thanh Hải dẫu chỉ mong được đóng góp cho đời 1 Mùa xuân nho nhro 1 cách âm thầm lặng lẽ nhưng lại miệt mài ko dứt hay nói cách khác là ko ngừng nghĩ dù khi tuổi trẻ đầu xanh hay tuổi già tóc bạc

    Dù là tuổi 20

    Dù là khi tóc bạc

    Mùa xuân nho nhỏ chính là tấm lòn gđáng quí của thanh hải đôiv ới cuộc đời và tấm kòng ấy còn đáng quí hơn nữa khi đã ý thức được sự hữu hạn cảu đời người trong cái vô cùng của đất trời thiên nhiên nhà thơ vẫn cớ muốn cóng hiến tất cả và mãi mãi cho cuộc sóng . Điệp ngữu dù là để lạp lại như mang ý nhấn mạng đã giúp cho thanh hải thể hiện thành công khát vọng cống hiến ko thôi bất chấp tất cả thách thức của tjhơi gian tuổi già bệnh tật khảng định quyết tâm cống hiến hết mình cống hiến ko

    giừoi hạn ở luằ tuổi nào . ko dừng lại ở thơi điểm nào . khi tuởi 20 tràn đầy như sống hay luắ đóc đã phải suơngư và đã qua đi tuổi xuân của đời mình . Nhà thơ cũng xin cống hiến nhưng gì thật đẹp tất cả sức lực và nhiệt tình coi đó là niềm vui là lẽ sống . khát vọng ấy đã trở thành 1tâm nguyện bất diệt . Thể hiện tình yêu thiết tha đối với quê hương đất nước cuộc đời sâu xa hơn đây là ý thức trách nhiệm đời với xã hội với con người

    Tấm lòng và nguyện ước của nhà thơ chính là tư tưởng là nhân sinh quan ai ước mông được sống với sự cống hiến nhiều hơn là hưởng thụ sống cũng là quan niệm sống mà Tố hữu đã từng khẳng định qua 1 khúc ca xuân

    Nếu ta làm con chim chiếc là

    Con chim phải hót , chiếc là phải xanh

    Lẽ nào vay mà ko trả

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình

    Nhưng nàh thơ cách mạng đó đã có chung 1 suy nghĩ thật đpẹ thật cao quý nhưng gì mà mình nhận của đời là vô cùng lớn lao nên sống là phải đóng góp dựng xây cuộc đời . Quan niệm này có nét giống và cũng có nét khác với quan niêm của nguyên công trứ ngày xuă Trước đay đã có nhưung suy nghĩ thật tiến bộ cho rằng khi sinh ra trên đời là để hưởng thụ bào di sản của lớp người đi truớc là ta đã mang 1 món nợ ở đời _ nợ tang bồng Và được vậy phải nhập thể hành đạo để trả nợ

    Nợ tang bồng vay trả trả vay

    Nguyễn Công Trứ đã có 1 nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhận với xã hội và trách nhiêm của mỗi thành viên trong cộngđòng . QUan niệm như thể là đáng quí nhưung theo ông khi

    Nợ tang bồng trong trắc vỗ tay reo

    Thi con người có thể mãng nguyện nghỉ ngơi hương thanh nhàn . ko còn gì vướng bận với đời

    Thảnh thơi thơ túc rượu bầu

    Còn đối với thanh hải và quan niệm xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay thì sự cống hiến cho hạnh phúc chung ko bao giờ có thể nói hoàn thành là kết thúc . Cống hiến ây là vô cùng là mãi mãi và chỉ thức sự chấm dứt khi con người nhắm mắt xuôi tay QUan niệm káht vọng cống hiến mãi ko thôi của Thanh Hải ở đay tích cực hơn đáng quí hơn và do vậy cao đẹp hơn bởi có sự tiếp xức của thời đại và có cội nguồn sâu xa là tình yêu nống thắm đối với con người quê hương cuộc đời .

    Khổ thơ đã khép lại nhưng ý tình vẫn còn lắng đọng và ngân vang trong lòng người phải chăng 1 mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời kìa ko chỉ là của thanh hải mà còn lòa ước nguyện của mỗi chung ta những ai đã đọc bài thơ những ai muốn sống đẹp và hữu ích cho đời Có biết được haòn cảnh ra đời của bài thơ ta mới thây hết giá trị và ý nghĩa cao đẹp của nó . Bài thơ được thanh hải viết vào mùa đông tiết trời lạnh giá lúc nằm trên giường bệnh cận kề cái chết Ta chợt hiểu mùa xuân đây ko pảhi từ bên ngời đên mà đã có trong lòng nguời Như xuân Diệu đã có lần cảm nhận

    Xuân của đất trời hôm nay sao mới đến Trong tôi xuân đến tự lâu rồi ( xuân ko mùa )

    Chính mùa xuân vĩnh cữu trong lòng ấy đã giúp nhà thơ quên đi sự đau đớn của bệnh tật sự rình rập của cái chết đem lại cho nàh thơ niềm say xức với cuộc sống lòng tin yêu lạc quan với cuộc đời

    Hai khổ thơ ko hề có 1 từ ngữ bóng bẩy trau chuốt hoa mỹ lờ thơ nhẹ nhàng chân chất bình dị tình người ko phải ngẫu nhiên mà bài thơ mùa xuân nho nhở được phổ nhạc . Đây là 1 bài thơ giàu nhạc điệu giàu hình ản hvà khi nó đươcọ phổ nhạn thì đáy lại là 1 bài hạc giàu chất thơ. CHỉnh giau điệu nhẹ nhàng và tươi trẻ . từ đó ddax tạo cho bài thơ có sức truyền cảm lạ thường làm nỗi bật hơn những ước vọng cống hiến còa đẹp của 1 người rất tâm huyết với quê hương đất nước cuộc đời

    Chỉ 1 thang sau nàgy sáng tác bài thơ này Thanh ải qua đời Mùa Xuan nho nhỏ trở thành lời di chúc của chính nàh thơ . Bài thơ là lời tâm tình nhỏ nhẻ thiết tha mà vô cùng sâu lắng của 1 hồn thơ dịu dàg đăm thắm yêu đời yêu đất nước và ước nguyện sống đẹp sống có ích cống hiến cho đời tấm lòng khiêm tốn nhà thơ gợi lên trong em người là lẽ sống cao đẹp vượt lên những tình toán nhỏ nhen vuằ đời thường khơi dậy

    • em niềm káht khao muốn theo bước nàh thơ Tự nguyên góp xuân đời riêng vào xuân đời chung của dân tộc quê hương

    Như hạt muối hòa trong biển mặn Cùng góp mình cho cuộc đời chung

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào Thanh Hải cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh

    cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. có thể nói bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.

    Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời.

    Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc.

    Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót cho mà vang trời,

    Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn . Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

    Trước khung cảnh màu xuân ấy, Thanh Hải không giấu nổi cả xúc của mình Từng giọt long lanh rơi,

    Tôi đưa tay tôi hứng”.

    Từ “giọt long lanh” không chỉ hiểu là giọt mưa xuân trong anh sáng của sắc xuân mà còn được hiểu là giọt âm thanh, giọt sắc màu, giọt thời gian khiến tác giả say sưa ngây ngất . Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

    chỉ bằng vài nét điẻm xuyến phác hoạ tác giả đã vẽ ra một không gian cao rộng, sắc màu tươi thắm, âm thanh vang vọng tươi vui của mùa xuân, của thiên nhiên đất trời.

    Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

    “Mùa xuân người cầm súng,

    Lộc giắt đầy trên lưng.

    Mùa xuân người ra đồng,

    Lộc trãi dài nương mạ.

    Tất cả như hối hả,

    Tất cả như xôn xao…”

    Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.

    Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.

    Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất và vào gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    Cùng với động từ Cứ đặt ở đầu câu, tác giả đã khẳng định một sự khẩn trương, hói h, náo nức vào xuân của đất nước với vẻ đẹp lung linh, lấp lánh đang vững bước về phía trước khiến không một thế lực thù địch nào có thể ngăn cản nổi.

    Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước, dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.

    Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc

    bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

    “Ta làm con chim hót,

    Ta làm một cành hoa.

    Ta nhập vào hoà ca,

    Một nốt trầm xao xuyến”

    Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót dâng tiếng ca lảnh lót , một cành hoa toả hương khoe sắc để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.

    Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ

    “Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc”.

    Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho chính cuộc đời của tác giả: sống là cống hiến, cống hiến chính là mùa xuân của cuộc đời?Mà mùa xuân ấy thì là mãi mái: “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc, khi sức cùng lực kiệt vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời . và, dù Thanh Hải cũng có đi xa thì những lời ca tiếng hát mà ông để lại cho đời mãi mãi vẫn có giá trị, mãi mãi vẫn tô điểm cho đất nước đẹp xinh. Điệp ngữ dù là được tác giả nhác lại hai lần như một lời hứa, một lời khẳng định của nhà thơ: sống là phải cống hiếntuyệt đối.nNhư nhà thơ Tố Hữu đã từng viết :

    “Nếu là con chim, chiếc lá,

    Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

    Lẽ nào vay mà không trả,

    Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

    Tác giả Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết

    “Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm tình

    Nước non ngàn dặm mình

    Nhịp phách tiền đất Huế”

    Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những

    điều đúc kết cả cuộc đời của Thanh Hải. Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

    Với thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, ‘’Mùa xuân nho nhỏ’’ mang một nét đặc sắc riêng Nét đặc sắc đó là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung .Bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta

  • Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Bài làm

    Lúc đầu:

    Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn.

    Sau khi gặp Thị Nở:

    • Lúc đầu: Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn. Ở đó, chưa bao giờ Chí Phèo được uống thoả thê đến thế… Người ta cư tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống rượu để cho chúng uống. Khi trở về vườn, Chí đã quá say, không đi vào túp lều mà ra thẳng bờ sông đẻ tắm. Trên đường đi hắn gặp Thị Nở đang ngủ hớ hênh dưới trăng. Sự chung đụng ấy hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say.

    Sự thức tỉnh:

    Sáng hôm sau, khi đã trải qua 2 biến cố: gặp Thị Nở rồi bị trúng gió được Thị Nở đưa vào lều.

    +Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: Đây có lẽ là lần đầu tiên anh ta tỉnh rượu kể từ lúc ra tù về. Những lần trước, mỗi khi tỉnh rượu, anh lại uống, vì thế say kế tiếp say.

    Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “ Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.

    +Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, nah ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay anh chưa bao giờ hết say.

    Không những thế, Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vẵng để hiểu hiện tại.Chí cũng vậy: Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay ch đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Hắn đã tới cái dốc kia của đời.

    Rồi Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa cuối mùa thu cho biết trời gió rét, này mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy

    tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Càng nghĩ, Chí càng lo, vì cô độc đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Nếu không có Thị Nở vào, cứ để hắn vẩn vơ, thì đến khóc được mất. Đến đay, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm giác, cảm xúc, mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân phải là con người bình thường chứ! Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.

    • Khi được chăm sóc: Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.

    +Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ sự đáng thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.

    +Còn Chí Phèo, anh ta cảm nhận được rất nhiều: Lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà” …Hắn chưa được người đàn bà nào yêu cả. Còn lần này, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính anh ta cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.

    +Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt…Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng… Hắn thấy vừa vui vừa buồn… Hắn thấy lòng thành trẻ con.

    Hắn muốn làm nũng Thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền… Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn… hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Anh ta băn khoăn tự hỏi rồi tự trả lời, ngẫm nghĩ mà sợ hãi: Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và doạ nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bầy giờ mới nguy!

    +Bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với, vọi nguời biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lạo không thể đựơc. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện… Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở Thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vuoi chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người. Những ngày sau đó, Chí không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏ tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say. Và hắn say Thị Lắm. Cả người kể chuyện ẩn hình, vốn rất lạnh lùng, cũng không giấu nổi cảm xúc cảm hình khi hình dung về tương lai của họ: Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.

    – Bị từ chối quyền làm người lương thiện:

    Những ngày vui của Chí Phèo không kéo dài được bao lâu. Đến hôm thư sáu, thì Thị bỗng nhớ rằng có một ngưòi cô ở đời… Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã.

    +Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy thằng Chí Phèo vì ai lại đi lấy thằng Chí Phèo, một thằng không cha, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi ngưòi thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại! Đến bà cô của Thị Nở, một người năm muơi tuổi vẫn chưa lấy chồng, sống cái đời dằng dặc, uất ức, còn nghĩ về Chí như vậy huống chi ngườ khác. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc đóng chặt con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo. Vì thế, ban đầu còn ngơ ngác, hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người. Chí thấy cần thiết phải trả thù: Hắn phải đến nhà ****** Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó. Nếu không đâm được, đến lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Với Chí, đập đàu hay kêu làng cũng là cách tỏ rõ sức mạnh của mình, một cách trả thù. Nhưng muốn đập đầu phải uống thật say. Không có rượu lấy gì làm cho máu nó chảy! Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà ngưòi lại tỉnh, khác với những cơn say dài mênh mông trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.

    Khi nghe Thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm

    • “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bời bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về. Tỉnh táo xác định kẻ thù : Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh trai trên mặt này? Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kíêp sống thú vật như trước : Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?…

    Chỉ có một cách là …cái này ! Biết không !… Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chét là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình : …khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Phân tích truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”

    BÀI LÀM

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt.

    Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.

    Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những

    chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại.

    Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước

    vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động.

    Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện

    sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh

    chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân

    dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi

    theo.