Category: Thương Mại – Marketing

  • Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bảng mức lương cơ bản và phụ cấp chức danh công việc theo bậc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-chuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-doanh-nghi%E1%BB%87p-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-tr%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

    KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

     

    Nguyễn Tuấn Anh

     

    Trường Đại học Thương mại

     

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  01/03/2019                        Ngày nhận lại:     15/03/2019               Ngày duyêt đăng: 19/03/2019

     

    • iện tượng chuyển giá và quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đã

    được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu cũng như các phương tiện truyền thông bình luận, phân tích và cho thấy, đấu tranh nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi chuyển giá không hề dễ dàng. Mặc dù, các văn bản pháp lý (Thông tư 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC) đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyển giá, nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn. Thực tế có những DN FDI báo cáo thua lỗ liên tục trong nhiều năm liền nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Hiện ở Việt Nam có khoảng hơn 17.000 DN FDI, riêng địa bàn thành phố Hà Nội có trên 6.400, trong đó số lượng DN có kê khai giao dịch liên kết là hơn 1.100.

     

    Trên cơ sở nguồn thông tin thứ cấp về DN FDI và thực trạng kiểm soát chuyển giá đối với nhóm doanh nghiệp này, tác giả bài viết phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thanh tra giá chuyển nhượng (chuyển giá) của DN FDI trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm soát chuyển giá của các cơ quan quản lý nhà nước thời gian tới.

     

    Từ khóa: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giá, giá chuyển nhượng, giao dịch liên kết, kiểm soát chuyển giá.

    1. Thực trạng DN FDI trên địa bàn Hà Nộihạn, chuyển cơ quan thuế quản lý, không hoạt

    Đến cuối năm 2018, tổng số DN FDI trên

    động tại địa chỉ đã đăng ký). Tuy nhiên, kết

    địa bàn Hà Nội đã được cấp mã số thuế là

    quả kinh doanh của khối DN FDI trên địa bàn

    8.688 DN, trong đó số DN đang hoạt động là

    không mấy khả quan. Theo số liệu thống kê

    6.423 DN, chiếm 73,9% (2.265 DN còn lại ở

    từ báo cáo tài chính của các DN FDI do Cục

    trạng thái ngừng hoạt động, đã chấm dứt hiệu

    thuế TP Hà Nội quản lý, số DN lỗ năm 2016

    lực mã số thuế, tạm ngừng kinh doanh có thời

    – 2017 nhiều hơn DN lãi, chiếm tới 55 –

       

    khoa học

     
         

    23

       

    thương mại

    Sè 127/2019

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Bảng 1: Số lượng DN FDI trên địa bàn Hà Nội

     

    Chæ tieâu

    2016

    2017

    2018

           

    Soá löôïng DN ñaõ caáp maõ soá thueá*

    7.417

    8.259

    8.688

           

    Soá löôïng DN thöïc teá ñang hoaït ñoäng*

    5.180

    5.999

    6.423

           
    • Số liệu lũy kế đến cuối các năm Nguồn: Cục Thuế TP Hà Nội

    57%/tổng số DN (xem bảng 2). Thời gian gần

    hành Quyết định số 141/QĐ-TCT ngày

    đây, công tác quản lý thuế của Cục cho thấy

    15/02/2012 thành lập Tổ Quản lý thuế đối với

    hàng loạt DN FDI đang hoạt động trên địa

    hoạt động chuyển giá thuộc Tổng cục thuế.

    bàn thành phố Hà Nội có kê khai kết quả kinh

    Đây là bộ phận đầu tiên chuyên trách tư vấn

    doanh lỗ liên tục, nhưng vẫn tiếp tục đầu tư,

    tham mưu cho TCT. Ngày 12/06/2012, Cục

    mở rộng SXKD tăng doanh thu; nhiều DN có

    Thuế TP Hà Nội ban hành Quyết định số

    lỗ cộng dồn lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu.

    14373/QĐ-CT-TCCB thành lập Tổ công tác

    Có những DN FDI đầu tư 10 năm lỗ, 15 năm

    triển khai chuyên đề Quản lý giá chuyển

    cũng lỗ, cá biệt có trường hợp hơn 20 năm lỗ

    nhượng đối với lĩnh vực xây dựng và kinh

    liên tục nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất

    doanh bất động sản. Năm 2014, Cục Thuế TP

    kinh doanh.

     

    Hà Nội thành lập Tổ triển khai công tác thanh

     

    Bảng 2: Kết quả kinh doanh của DN FDI trên địa bàn Hà Nội

    tra các DN liên kết có dấu

                   

    hiệu  chuyển  giá.

    Ngày

       

    Chæ tieâu

    2016

    2017

     
         

    16/11/2015,

    Cục

    thuế TP

       

    Soá DN kinh doanh coù laõi (%)

     

    45

    43

     
           

    Hà Nội tổ chức hội nghị

       

    Soá DN kinh doanh loã (%)

     

    55

    57

     

    công bố Quyết định số

       

    Soá loã cuûa DN (tyû ñoàng)

    10.601

    6.785

     

    1483/QĐ-BTC

     

    ngày

       

    Toång Nôï phaûi traû (tyû ñoàng)

    172.497

    495.068

     

    29/7/2015

    của

    Bộ

    Tài

                   

    chính và công bố nhân sự.

       

    Voán chuû sôû höõu (tyû ñoàng)

    746.610

    216.517

     
                 

    Phòng                             Thanh                tra            giá

    Nguồn: Báo cáo sức khỏe doanh nghiệp – Cục thuế TP Hà Nội chuyển          nhượng            (GCN)

     

    chính thức đi vào hoạt

     

    2. Thực trạng tổ chức thanh tra và

    động từ ngày 16/11/2015, thực hiện chức

    những khó khăn, vướng mắc trong kiểm

    năng nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định

    soát chuyển giá đối với DN FDI trên địa

    số 1574/QĐ-TCT ngày 01/9/2015 của Tổng

    bàn Hà Nội

    cục Thuế. Ban đầu thành lập, Phòng thanh tra

    * Thực trạng tổ chức thanh tra giá chuyển

    GCN có 14 người, trong đó có 1 trưởng

    nhượng

    phòng, 2 phó phòng và 11 thanh tra viên. Đến

    Trước năm 2011, Cục Thuế TP Hà Nội

    tháng 8/2018, Phòng thanh tra GCN có 17

    chưa có bộ phận chuyên trách nào về chuyển

    người và thành lập 6 Đoàn thanh tra (xem

    giá. Năm 2012 Tổng Cục Thuế (TCT) ban

    Hình 1). Nhân sự của Phòng được điều động

     

    khoa học

     

    24

    thương mại

     

    Sè 127/2019

           

    từ các phòng thanh tra, kiểm tra, kê khai và kế toán thuế, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế (NNT), quản lý và cưỡng chế nợ thuế.

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    • Tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của các DN có quan hệ liên kết.

    CUÏC TRÖÔÛNG

     

    1 PHOÙ CUÏC TRÖÔÛNG PHUÏ TRAÙCH KHOÁI THANH TRA, KIEÅM TRA

     

    PHOØNG THANH TRA GIAÙ CHUYEÅN

     

    NHÖÔÏNG

     

    (01 TRÖÔÛNG PHOØNG)

     

    2 PHOÙ CUÏC TRÖÔÛNG PHUÏ TRAÙCH CAÙC MAÛNG COÂNG VIEÄC KHAÙC

     

    4 PHOØNG THANH TRA, 6 PHOØNG

     

    KIEÅM TRA TUAÂN THUÛ

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG PHOØNG PHUÏ

     

    01 PHOÙ TRÖÔÛNG PHOØNG

    PHOØNG PHUÏ TRAÙCH

     

    TRAÙCH MAÛNG CHÍNH SAÙCH,

     

    PHUÏ TRAÙCH MAÛNG BAÙO

    MAÛNG CÔ SÔÛ DÖÕ LIEÄU

     

    QUY TRÌNH, PHOÁI HÔÏP

     

    CAÙO, ÑAÛNG ÑOAØN, THI

         

    ÑUA KHEN THÖÔÛNG

           
             

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

     

    Ñoaøn thanh

    tra thueá 1

     

    tra thueá 2

     

    tra thueá 3

     

    tra thueá 4

     

    tra thueá 5

     

    tra thueá 6

                         

    Nguồn: Cục thuế TP Hà Nội

     

    Hình 1: Bộ máy quản lý hoạt động thanh tra giá chuyển nhượng tại Cục thuế TP Hà Nội

     

     

    Thời gian đầu đi vào hoạt động, với nguồn nhân lực còn hạn chế, Phòng Thanh tra giá chuyển nhượng triển khai đồng bộ các nhiệm vụ được giao, đồng thời chú trọng đến hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản sau:

     

    • Tham gia biên soạn tài liệu đào tạo và tham gia đào tạo công chức thuế về giá chuyển nhượng thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế.
    • Tổ chức thực hiện công tác thanh tra giá chuyển nhượng theo chương trình kế hoạch thanh tra của Cục Thuế; thanh tra giá chuyển nhượng các trường hợp do Phòng Thanh tra thuế, Phòng Kiểm tra thuế, Chi cục Thuế đề nghị hoặc theo yêu cầu của CQT cấp trên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    • Phối hợp với các phòng chức năng của Cục Thuế và các cơ quan chức năng khác trong việc thanh tra giá chuyển nhượng.
     

    khoa học

     
       

    25

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Trực tiếp đề xuất, tiếp nhận hỗ trợ của Tổng cục Thuế trong quá trình thanh tra giá chuyển nhượng.

     

    • Tổng hợp, báo cáo, đánh giá chất lượng công tác thanh tra giá chuyển nhượng; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra giá chuyển nhượng.

    * Những khó khăn, vướng mắc trong thanh tra giá chuyển nhượng đối với DN FDI trên địa bàn Hà Nội

     

    Khó khăn, vướng mắc từ Cục thuế TP Hà Nội

     

    Các DN FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội là các công ty con được thành lập bởi các công ty mẹ ở nước ngoài, thuộc các công ty liên kết trong hệ thống công ty đa quốc gia. Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các công ty này đều có các giao dịch liên kết trong hệ thống, có dấu hiệu chuyển giá. Tuy nhiên, trong quá trình thanh tra để xác định có hay không hành vi chuyển giá của các DN này, Cục thuế TP Hà Nội đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc.

     

    Một là, cơ sở dữ liệu của Cục thuế TP Hà Nội còn thiếu và chưa đồng bộ, Cục thuế TP Hà Nội chưa sử dụng cơ sở dữ liệu thương mại để so sánh, ấn định tỷ suất lợi nhuận mà vẫn chủ yếu sử dụng cơ sở dữ liệu nội bộ của ngành thuế (còn gọi là dữ liệu bí mật). Do hạn chế về kinh phí nên việc mua cơ sở dữ liệu thương mại của các công ty chuyên cung cấp dữ liệu của nước ngoài đối với ngành thuế là rất khó khăn, phải chờ Tổng cục Thuế (Vụ hợp tác quốc tế) đấu thầu trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa có kết quả. Trong đấu tranh chống chuyển giá, mỗi bên (DN và CQT) sử dụng một dữ liệu riêng dẫn đến việc thiếu thống nhất và dễ gây tranh cãi về tỷ suất lợi nhuận thị trường. Cơ sở dữ liệu khác nhau sẽ cho ra kết quả tỷ suất lợi nhuận khác nhau, bên nào cũng bảo vệ tỷ suất của mình nên

     

    việc khó tìm được điểm chung, dẫn đến nhiều cuộc thanh tra chuyển giá bị kéo dài.

     

    Hai là, Cục thuế TP Hà Nội chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu về giá cả của các loại hàng hóa được giao dịch giữa các công ty độc lập và các công ty liên kết với nhau. CQT khai thác thông tin chủ yếu từ hồ sơ khai thuế và các thông tin này chỉ hỗ trợ và đáp ứng một phần rất nhỏ của công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá. Các ứng dụng về thông tin NNT của ngành thuế còn phân tán không đầy đủ, không có sự kết nối thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các bên khác. Vì vậy, khi một hoạt động nghiệp vụ mua bán nội bộ xảy ra, giữa các công ty có giao dịch liên kết, công ty cùng tập đoàn xảy ra thì CQT rất khó khăn trong việc tìm kiếm một nghiệp vụ mua bán tương đương để so sánh xem nghiệp vụ mua bán nội bộ này của DN có đảm bảo tuân thủ theo nguyên tắc giá thị trường hay không. Đặc biệt, qua thanh tra một số DN chỉ sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa bán cho bên liên kết, có DN sản xuất, gia công cho duy nhất DN mẹ mà không có giá giao dịch độc lập trong nội bộ DN để so sánh hoặc DN tự khai mục tiêu hoạt động SXKD của DN không vì lợi nhuận sẽ khó khăn cho việc xác định tỷ suất lợi nhuận để yêu cầu kê khai giao dịch độc lập.

     

    Ba là, công tác tuyên truyền phổ biến cho DN và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện theo Thông tư 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính còn hạn chế, chưa triệt để nên các DN hầu như không tự điều chỉnh đối với các trường hợp có quan hệ giao dịch kinh doanh liên kết và CQT chưa đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp mạnh đối với các trường hợp không chấp hành. Do đó, việc triển khai thực hiện Thông tư số 66/2010/TT-BTC, Nghị định 20/2017/NĐ-

     

    26

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    CP, Thông tư 41/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính thời gian qua chưa thực hiện được nhiều do tính phức tạp của việc chuyển giá, hướng dẫn của các phương pháp điều chỉnh giá giao dịch độc lập và giá giao dịch liên kết còn chưa thực sự cụ thể nên chưa áp dụng được nhiều trong thực tiễn.

     

    Bốn là, việc thanh tra các DN có dấu hiệu chuyển giá thường phải phân tích số liệu, thu thập thông tin chiếm nhiều thời gian so với thanh tra DN khác. Việc kiểm tra, thanh tra giá chuyển nhượng để có kết quả phải mất nhiều thời gian đối chiếu, phân tích thông tin và phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp thông tin của các bên khi xác định giá thị trường, trong khi thời gian thanh tra, kiểm tra theo quy định lại có giới hạn.

     

    Năm là, công chức thuế tham gia công tác thanh tra chống chuyển giá còn nhiều hạn chế về kỹ năng thanh tra chống chuyển giá, chưa có kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra lĩnh vực này, trình độ ngoại ngữ yếu kém. Các phương pháp xác định giá thị trường rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ thuế phải có kỹ năng chuyên sâu nhưng hiện nay cán bộ thuế vẫn còn bỡ ngỡ, chưa có kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực này; vừa nghiên cứu văn bản, vừa học hỏi, vừa áp dụng thực tiễn và rút kinh nghiệm dần dần. Số lượng cán bộ thanh tra không tăng, nguồn nhân lực thực hiện công tác thanh tra chống chuyển giá còn thiếu và hạn chế: qua 3 năm biên chế của bộ phận thanh tra giá chuyển nhượng của Cục thuế TP Hà Nội mới chỉ tăng từ 14 (năm 2015) lên 17 cán bộ (năm 2018). Đồng thời Cục thuế TP Hà Nội phải huy động cán bộ thanh tra có trình độ nghiệp vụ, hiểu biết về nghiệp vụ thanh tra chống chuyển giá hoặc đã qua nhiều lần được bồi dưỡng kiến thức chống chuyển giá của ngành, hiện nay số cán bộ này qua công tác luân phiên công việc đã được điều chỉnh sang các

     

    bộ phận khác của Cục Thuế hoặc đã chuyển công tác ra khỏi ngành thuế nên ngành thuế càng gặp nhiều khó khăn hơn.

     

    Khó khăn, vướng mắc từ môi trường pháp lý

    Thứ nhất, hiện nay, văn bản pháp luật hiện hành chưa quy định rõ cơ chế phối hợp hoặc quy định trách nhiệm của các cơ quan chức năng có liên quan trong việc phối hợp với CQT, hỗ trợ xác minh về thông tin của các công ty ở nước ngoài tham gia giao dịch liên kết, giá cả thị trường khách quan (cơ quan xuất nhập cảnh, cơ quan ngoại giao, đại sứ quán, tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài). Sự phối hợp trong cung cấp và trao đổi thông tin giữa CQT Việt Nam và CQT các nước còn hạn chế, nên việc tìm kiếm xác định giá thị trường rất khó khăn không đủ cơ sở để ấn định thuế. Do đó còn thu hẹp về đối tượng thực hiện là thuế và DN, chưa thu hút được sự “vào cuộc” của một số đơn vị có liên quan kể cả chính quyền địa phương (UBND tỉnh). Hơn nữa, CQT vẫn chưa có chức năng điều tra thuế… nên không xử lý được các trường hợp vi phạm có tính phức tạp, phạm vi rộng ngoài lãnh thổ Việt Nam.

     

    Thứ hai, chưa có chế tài đủ mạnh, nhằm buộc các DN phải kê khai chính xác về giá đối với các hoat động giao dịch liên kết (phạt về hành vi gian lận thuế, trốn thuế; truy cứu trách nhiệm hình sự; cấm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam…). Căn cứ pháp lý về chống chuyển giá chưa hoàn thiện. Xét ở cấp độ văn bản luật thì quy định về chuyển giá và chống chuyển giá chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng; mới chỉ có Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định một nội dung có liên quan có thể được vận dụng làm cơ sở để đấu tranh chống chuyển giá. Vì vậy, chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh, nhằm ràng buộc các DN phải kê khai chính xác

     

     

    khoa học

     
       

    27

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Khó khăn, vướng mắc từ DN FDI

     

    Một là, các DN FDI có dấu hiệu chuyển giá chủ yếu rơi vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài, đang được hưởng ưu đãi thuế và đa số có số lỗ lớn, do đó khi tiến hành thanh tra thông thường theo quy trình thanh tra không mang lại hiệu quả về số thu nộp NSNN mà chủ yếu chỉ giảm lỗ.

     

    Hai là, các DN FDI thường thuê công ty kiểm toán làm hồ sơ xác định giá thị trường hết sức công phu với đầy đủ lập luận và lý lẽ để nguỵ biện cho kết quả kinh doanh lỗ hoặc tỷ suất lợi nhuận quá thấp của mình, điều này khiến cho cán bộ thanh tra hết sức khó khăn trong khâu phân tích, lập luận để bác các lập luận trong hồ sơ xác định giá thị trường.

     

    Ba là, một số DN FDI khi bị thanh tra giá chuyển nhượng thường cố tình không ký vào Biên bản thanh tra vì tâm lý lo sợ: nếu một công ty ở Việt Nam bị kết luận là chuyển giá, toàn bộ tập đoàn (hoặc công ty mẹ ở nước ngoài) sẽ bị mất uy tín, dẫn đến hiệu ứng lan truyền là các công ty con ở các quốc gia khác trong cùng tập đoàn cũng bị nghi ngờ là “có vấn đề”, do đó việc đấu tranh của CQT đối với DN là hết sức khó khăn vì CQT thường có xu hướng ấn định trên cơ sở phải đạt được sự đồng thuận với DN.

     

    2.           Các biện pháp hoàn thiện kiểm soát chuyển giá đối với DN FDI trên địa bàn

     

    Hà Nội

     

    Đối với Cục thuế TP Hà Nội

     

    Chống chuyển giá là công việc trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Để thực hiện được mục tiêu nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra giá chuyển nhượng, Cục thuế TP Hà Nội cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

    Về phương pháp thanh tra

     

    Triển khai, mở rộng công tác thanh kiểm tra thuế chống chuyển giá theo hướng: lồng ghép công tác chống chuyển giá đối với các DN nằm trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm, xác định những giao dịch liên kết có khả năng thực hiện được (DN liên kết có giao dịch độc lập, kể cả đầu vào, đầu ra; DN có giao dịch đơn giản, ít mặt hàng).

     

    Thay đổi một số nội dung, phương pháp trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm có thể phát hiện và xử lý các hành vi chuyển giá: cần đào sâu vào báo cáo xác định giá thị trường để tìm hiểu các nguyên nhân, những lập luận nguỵ biện cho các nguyên nhân lỗ lớn hoặc lãi không đáng kể. Kỹ năng bác hồ sơ xác định giá thị trường là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà cán bộ thanh tra giá chuyển nhượng cần nắm vững.

     

    Phương pháp và các bước cụ thể để có thể tiến hành cuộc thanh tra chống chuyển giá từ khâu nhận dạng ban đầu đến các chứng cứ và cơ sở pháp lý xác định được giá thị trường khách quan.

     

    Về công tác tuyên truyền

     

    Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tranh thủ sự đồng thuận của các cấp chính quyền, xã hội và cộng đồng các DN. Đồng thời tích cực tuyên truyền để cho các DN biết là CQT đang tiến hành các biện pháp trong công tác chống chuyển giá nhằm cảnh báo, phòng ngừa các hành vi chuyển giá. Quá trình thực hiện cần kịp thời tổng hợp các khó khăn, vướng mắc báo cáo Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính theo dõi chỉ đạo.

     

    Về đôn đốc kê khai thuế

     

    Tiếp tục theo dõi đôn đốc, kiểm tra xử lý đối với các DN chưa thực hiện kê khai giao

     

    28

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    dịch liên kết theo Mẫu số 01 Nghị định 20/2017/NĐ-CP. Đôn đốc, giám sát DN kê khai đầy đủ các giao dịch liên kết theo mẫu. Đối tượng kê khai không chỉ là các DN có vốn đầu tư nước ngoài mà còn bao gồm cả các DN có quan hệ liên kết trong nước. Đây là tiền đề quan trọng để CQT phân loại người nộp thuế, từ đó nhận dạng và “định vị” chính xác các trọng tâm cần thanh tra.

     

    Về cơ sở dữ liệu

     

    Cần hoàn thiện và xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin đầy đủ về NNT nói chung và phục vụ cho hoạt động chống chuyển giá nói riêng; Xây dựng cơ sở dữ liệu về tỷ suất lợi nhuận và giá cả giao dịch để CQT, các cơ quan hữu quan và DN có thể tra cứu và làm căn cứ khi xem xét giao dịch mua bán tại DN có thực hiện thủ thuật chuyển giá hay không hay tuân thủ theo nguyên tắc giá thị trường.

     

    Về phối hợp nội ngành

     

    Để nâng cao hiệu quả thanh tra chống chuyển giá, rất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận thanh tra và bộ phận quản lý thuế các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Sự phối hợp này phải tập trung vào trao đổi thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về NNT là các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

     

    Về công khai dữ liệu về giá thị trường Ngành thuế cần công khai tỷ suất lợi

     

    nhuận bình quân cho từng ngành vào các năm khác nhau. Cục thuế TP Hà Nội và Tổng cục Thống kê cần phải cùng nhau phối hợp xây dựng và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin để cho các cơ quan quản lý thuế cơ sở và các DN trên địa bàn Thành phố Hà Nội thống nhất áp dụng. Bảng tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành là cơ sở pháp lý giúp cho cơ quan thanh tra thuế thực hiện thanh tra khi

     

    thấy DN có những dấu hiệu bất thường về tỷ suất lợi nhuận như quá cao hay quá thấp so với tỷ lệ bình quân ngành.

     

    Về tổ chức thu thập thông tin

     

    Ngoài thông tin trong ngành Thuế, thông tin ở DN cần phải thu thập thêm thông tin của các đối tác khác có liên quan ở trong nước và nhất là ở nước ngoài.

     

    Cục thuế TP Hà Nội cần xây dựng, thành lập một bộ phận chuyên trách về thu thập thông tin phục vụ cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói chung và chống chuyển giá nói riêng từ trung ương đến địa phương phục vụ cho công tác quản lý thuế đối với hoạt động chống chuyển giá. Nâng cao chức năng nhiệm vụ của bộ phận thanh tra giá chuyển nhượng, đồng thời lập bộ phận chuyên thu thập thông tin, dữ liệu để cung cấp và phục vụ cho công tác phân tích, so sánh xác định giá thị trường trong công tác thanh tra chống chuyển giá.

     

    Công tác đào tạo, phổ biến kinh nghiệm Từ kết quả tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế một số DN FDI điển hình có dấu hiệu chuyển giá, Cục Thuế TP Hà Nội nên xây dựng thành phương pháp, kinh nghiệm cho các cán bộ thanh tra, kiểm tra toàn ngành học tập, rút ra kinh nghiệm. Tổ chức một số cuộc thanh tra thuế toàn diện đối với các DN FDI theo phân tích rủi ro để đúc kết những bài học kinh nghiệm và phổ biến cho cán bộ thuế nắm và vận dụng vào tình hình thực tế ở mỗi địa phương. Hỗ trợ 30 Chi cục thuế quận, huyện, thị xã trên địa bàn về việc phân tích thu thập thông tin, làm rõ một số quan hệ giao dịch không được quy định cụ thể trong văn bản

    pháp luật;

     

     

    khoa học

     
       

    29

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Cục Thuế TP Hà Nội cần mở các lớp tập huấn chuyên đề về thanh tra chống chuyển giá cho công chức thuế nhằm nâng cao kỹ năng thanh tra, kiểm tra, chú trọng đào tạo theo từng kỹ năng chuyên sâu về phương pháp thanh tra chống chuyển giá, kỹ năng thanh tra một số chuyên ngành để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác. Đồng thời Cục thuế TP Hà Nội cử một số đoàn thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá làm điểm tại Chi cục thuế (có tham gia của cán bộ kiểm tra chi cục thuế) để các Chi cục Thuế học tập kinh nghiệm.

     

    Bên cạnh đó, cần ban hành sổ tay nghiệp vụ thanh tra thuế theo chuyên đề chống chuyển giá để triển khai cho cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Cục thuế TP Hà Nội thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra chống chuyển giá để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong toàn ngành.

     

    Đối với Tổng cục Thuế

     

    Tổng cục Thuế (Vụ Thanh tra) cần chủ động trong công tác chống chuyển giá qua việc phối hợp với Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Doanh nghiệp lớn để thanh tra các DN lớn do Tổng Cục Thuế trực tiếp quản lý hoặc Cục Thuế quản lý.

     

    Tổng Cục Thuế nên tích cực triển khai áp dụng hình thức thỏa thuận giá trước (APA) trong việc đấu tranh chống chuyển giá. Nghĩa là, trước khi DN đầu tư, DN và cơ quan thuế (CQT) thỏa thuận giá trước để hạn chế những vướng mắc sau này. CQT sẽ tính toán, tham khảo với CQT của nước ngoài để đưa ra mức thuế. Nhà đầu tư sẽ tính toán đầu vào, đầu ra và thấy mức thuế hợp lý thì chấp thuận hoặc trao đổi lại. Theo số liệu thống kê, các vụ APA gần đây chưa nhiều vì trình

     

    tự, thủ tục APA còn rất nhiều khó khăn, DN và CQT cũng phải thống nhất về tỷ suất lợi nhuận và lại quay lại bài toán về cơ sở dữ liệu, CQT muốn 1 tỷ suất cao hơn nhưng DN lại muốn 1 tỷ suất thấp hơn để giảm số thuế (coi như thuế khoán) phải nộp. Số vụ APA không tăng nghĩa là gánh nặng lại đặt lên vai bộ phận thanh tra chống chuyển giá. Vì vậy, càng làm tốt APA thì sẽ giảm tải được số lượng cũng như mức độ phức tạp trong thanh tra chuyển giá.

     

    Đối với Bộ Tài chính

     

    Sửa đổi các phương pháp xác định giá giao dịch thị trường theo hướng ít phương pháp, gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện và có căn cứ để thực hiện. Nghị định 20/2017/NĐ-CP bản chất là gộp 5 phương pháp trong thông tư 66 vào thành 3 phương pháp, tuy nhiên tổng số phương pháp thành phần để xác định giá thị trường trong Nghị định 20/2017/NĐ-CP thì hầu như vẫn giữ nguyên. Cần rút gọn các phương pháp và đơn giản hóa để DN dễ vận dụng trong thực tế, phù hợp với nguồn cơ sở dữ liệu thương mại mà DN thu thập được, đồng thời cũng thuận tiện cho CQT trong thanh kiểm tra.

     

    Đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý đối với các DN có số lỗ luỹ kế lớn hơn số vốn góp theo hướng yêu cầu cơ quan cấp phép rút giấy phép đầu tư, yêu cầu DN làm thủ tục phá sản. Vì căn cứ Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005 quy định pháp nhân phải có đủ các điều kiện sau đây: “Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Căn cứ vào quy định

     

    30

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    đó, những DN lỗ hết vốn sẽ không còn tư cách pháp nhân.

     

    Cho phép cơ quan quản lý thuế được quyền áp dụng những biện pháp tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các DN khai báo kết quả kinh doanh lỗ quá vốn chủ sở hữu cho đến khi DN khắc phục được tình trạng liên tục kê khai lỗ, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đồng bộ với Bộ Luật Dân sự của Việt Nam quy định về các điều kiện tồn tại pháp nhân kinh tế. Ban hành chính sách đối với các trường hợp có quan hệ kinh doanh liên kết sau một thời gian nhất định không tự điều chỉnh, hoặc không phát sinh thu nhập tính thuế trong thời gian 3 năm từ khi thành lập sẽ phải nộp theo một tỷ lệ nhất định theo từng ngành nghề lĩnh vực như đối với thuế nhà thầu.

     

    Thay đổi, bổ sung hoặc sửa đổi một số nội dung trong Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 quy định về xử lý phạt vi phạm hành chính trong việc thực hiện kê khai giao dịch liên kết theo mẫu…, Hiện tại chưa có quy định cụ thể xử lý trong trường hợp DN chưa kê khai giao dịch liên kết.

     

    Thông báo về các thông tin giá cả thị trường, tỷ suất lợi nhuận ngành nghề… trên phạm vi các vùng miền cả nước để các địa phương có cơ sở pháp lý khi áp dụng các phương pháp điều chỉnh quy định tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP. Có giải pháp trong việc trao đổi thông tin với CQT các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với Việt Nam.

     

    Tham mưu Chính phủ đề nghị bổ sung các luật liên quan như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp về các chế tài thu hồi giấy phép đầu tư/giấy chứng nhận đầu tư, chấm dứt hoạt động khi các DN FDI có số lỗ kéo dài nhiều

     

    năm hoặc lỗ quá vốn chủ sở hữu. Về chính sách, cơ chế điều hành quản lý cần có những bổ sung và thay đổi: thu hẹp các ưu đãi thuế; bổ sung nội dung chống chuyển giá, quyền điều tra cho CQT vào Luật Quản lý thuế (trước mắt ở cấp Tổng cục Thuế); Nâng cao tính pháp lý của chính sách thuế có liên quan đến chống chuyển giá, ngoài nghiệp vụ để ấn định thuế cần có các quy định về thu thập thông tin, mối quan hệ giữa các ngành có liên quan kể cả chính quyền địa phương. Trước hết, cần bổ sung một điều luật về chống chuyển giá vào Luật Quản lý thuế, về lâu dài nên ban hành Luật Chống chuyển giá; xây dựng các biện pháp chế tài đủ mạnh cho ngành thuế, xem chuyển giá là hành vi vi phạm tương đương với trốn thuế để đảm bảo tính răng đe, ngăn ngừa, trong đó có cả biện pháp xóa bỏ ưu đãi thuế thu nhập DN khi phát hiện chuyển giá nhằm buộc các DN phải kê khai chính xác về giá đối với các hoạt động giao dịch liên kết.

     

    Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tăng cường công tác quản lý đầu tư, thông qua việc kiểm soát hiệu quả thực hiện dự án đầu tư và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các dự án không đạt mục tiêu đề ra (kết quả kinh doanh lỗ lớn, không đảm bảo điều kiện hoạt động liên tục). Có biện pháp quản lý đối với các dự án đầu tư góp bằng tài sản, máy móc thiết bị theo hướng yêu cầu chủ đầu tư cam kết giá trị tài sản, máy móc thiết bị đem góp vốn được xác định theo giá thị trường.

     

    Đối với Chính phủ: Có văn bản chỉ đạo quy định nhiệm vụ cụ thể cho các ngành có liên quan như: hải quan, công an, viện kiểm sát, ngân hàng,… thực hiện tốt việc phối hợp theo thẩm quyền với ngành thuế nhằm trao

     

     

    khoa học

     
       

    31

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    đổi, cung cấp thông tin, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giao dịch liên kết và chuyển giá của các DN đầu tư nước ngoài.

     

    Kết luận: Chuyển giá tuy không mới nhưng vẫn là cách DN, đặc biệt là các DN FDI, các tập đoàn lách luật phổ biến hiện nay. Kẽ hở của luật còn lớn và chế tài áp dụng chưa đủ mạnh, năng lực của thanh tra chuyển giá còn chưa đáp ứng được yêu cầu… đòi hỏi ngành thuế phải sớm chuyển đổi phương thức quản lý thuế theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa để kiểm soát hình thức trốn – tránh, gian lận thuế thông qua chuyển giá, chống thất thu thuế, đồng thời nâng cao tính tuân thủ của NNT và tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho NNT.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Chính phủ (2017), Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
    1. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/04/2010 v/v hướng dẫn thực hiện xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.
    1. Tổng cục Thuế (2015), Quyết định số 1574/QĐ-TCT ngày 01/09/2015 v/v quy định chức năng, nhiệm vụ phòng thanh tra giá chuyển nhượng thuộc cục thuế tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai.
    1. Cục thuế TP Hà Nội, Kế hoạch thanh tra các doanh nghiệp liên kết, có dấu hiệu chuyển giá các năm 2016, 2017, 2018.

    khoa học

    1. Cục thuế TP Hà Nội, Báo cáo Tổng kết, Tham luận thanh tra chuyên đề các doanh nghiệp liên kết, có dấu hiệu chuyển giá năm 2016, 2017, 2018.

    Summary

     

    Transfer Pricing and state administration on transfer pricing of foreign-invested enter-prises in Vietnam have been discussed and analyzed by many administrators, researchers and media. It is illustrated that the struggle to prevent and eliminate transfer pricing is by no means easy. Although legal documents (Circular No. 66/2010/TT-BTC, Decree No. 20/2017/NĐ-CP, Circular No. 41/2017/TT-BTC) have been issued to create the legal framework for state administration agencies to supervise and control transfer pricing, the outcome remains limited. In fact, many FDI enterprises report losses in many successive years but keep expanding production activi-ties. At present, Vietnam has a total of 17,000 FDI enterprises, with 6,400 located in Hanoi, of which over 1,100 enterprises involve in integration transaction declaration.

     

    Based on the secondary data on FDI enter-prises and the reality of transfer pricing con-trol on these enterprises, the article analyses and evaluates the difficulties and barriers in inspecting transfer pricing of FDI enterprises in Hanoi, then proposes some solutions to complete the controls of state administration agencies in the coming time.

     

    32     thương mại                                                                                                                                   Sè 127/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đánh giá năng lực logistics của Việt Nam thông qua chỉ số Logistics performance index (LPI)

    Đánh giá năng lực logistics của Việt Nam thông qua chỉ số Logistics performance index (LPI)

    Đánh giá năng lực logistics của Việt Nam thông qua chỉ số Logistics performance index (LPI)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Xây dựng phát triển Văn hóa Doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-logistics-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%C3%B4ng-qua-ch%E1%BB%89-s%E1%BB%91-Logistics-performance-index-LPI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh giá năng lực logistics của Việt Nam thông qua chỉ số Logistics performance index (LPI)

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

     

    KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LOGISTICS CỦA VIỆT NAM THÔNG QUA CHỈ SỐ LOGISTICS PERFORMANCE INDEX (LPI) ASSESSING VIETNAM LOGISTICS CAPACITY THROUGH LOGISTICS PERFORMANCE INDEX (LPI)

     

    NGUYỄN THỊ LÊ HẰNG

     

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Chỉ số Logistics performance index (LPI) do Ngân hàng Thế giới tiến hành nghiên cứu và công bố 2 năm 1 lần đánh giá năng lực Logistics của một quốc gia từ lâu đã là chỉ số đáng tin cậy cho các nhà đầu tư và hoạch định chính sách. Chỉ số LPI của Việt Nam 2016 lần đầu tiên ghi nhận sự sụt giảm về thứ hạng trong 6 lần công bố của Ngân hàng Thế giới với hầu hết các tiêu chí đều bị tụt hạng. Bài báo này phân tích nội dung các thành phần mà chỉ số LPI đề cập, đưa ra lý giải về sự tụt hạng của chỉ số LPI Việt Nam 2016. Qua đó đề xuất hướng phát triển và cải thiện cho ngành Logistics Việt Nam.

     

    Từ khóa: Năng lực Logistics, chỉ số LPI, Việt Nam, 2016, sụt giảm.

     

    Abstract

     

    Logistics performance index (LPI) which is conducted by World Bank every 2 year period is a reliable indicator for investors and policy planners. It is the first time that LPI Vietnam 2006 is recorded the decrease of the mark and the ranking for all most criteria in total 6 time publish of World Bank. The paper analyzes the content and all components of LPI, the reasons for the downgrade of LPI Vietnam 2016 as well as proposes some solutions to improve the LPI of Vietnam.

     

    Keywords: Logistics performance index, LPI, Vietnam, 2016, decrease.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Logistics đã xuất hiện lâu đời trong lịch sử loài người nhưng phải đến giữa thế kỉ thứ 20 mới được nhìn nhận với những bước phát triển và thành tựu mạnh mẽ. Logistics hỗ trợ cho mọi hoạt động của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa. Các quốc gia có hoạt động logistics phát triển như Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông, Mỹ, Trung Quốc,… đã trở thành các trung tâm logistics hàng đầu của thế giới và gặt hái được nhiều thành tựu tăng trưởng kinh tế. Hoạt động logistics thúc đẩy thương mại phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

     

    Chỉ số Logistics Performance Index (LPI) đánh giá năng lực logistics do Ngân hàng thế giới công bố cho tới nay là một trong các chỉ số uy tín để đánh giá về hiệu quả hoạt động logistics của các quốc gia trên thế giới. Hơn thế nữa, dựa vào chỉ số này, các quốc gia có thể so sánh tổng quát hiệu quả cũng như đơn lẻ các tiêu chí, đánh giá tốc độ cải thiện của quốc gia đó theo các giai đoạn, hoặc so với quốc gia trong khu vực.

     

    Trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2007 tới 2016, chỉ số LPI đã có tổng cộng 5 lần công bố. Chỉ số LPI Việt Nam ghi nhận sự tăng điểm và tăng thứ hạng trong suốt giai đoạn 2007 – 2014; tuy nhiên chỉ số LPI 2016 lần đầu tiên chứng kiến sự sụt giảm cả về điểm và thứ hạng. Nguyên nhân là do đâu trong khi Việt Nam đang tích cực cải thiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính,… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích chỉ tiêu mà chỉ số LPI đề cập, đánh giá thực trạng logistics của Việt Nam thông qua chỉ số LPI, đưa ra một số nguyên nhân và từ đó đề xuất kiến nghị để cải thiện phát triển hoạt động logistics Việt Nam.

     

    2. Tổng quan về chỉ số LPI

     

    Chỉ số LPI – viết tắt của từ tiếng Anh “Logistics performance index”, do Ngân hàng Thế giới nghiên cứu và công bố trong báo cáo mang tến “Kết nối để cạnh tranh – Ngành logistics trong nền kinh tế toàn cầu”. Chỉ số này so sánh và đưa ra điểm cũng như xếp hạng về năng lực của các quốc gia về Logistics dựa trên bộ tiêu chí gồm nhiều yếu tố; từ đó giúp các quốc gia trên thế giới, các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các công ty logistics,… nhìn nhận ra những ưu điểm, nhược điểm, cũng như cơ hội thách thức của hoạt động logistics ở quốc gia mình.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải     Số 49 – 01/2017                                                                       87

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

     

    Chỉ số LPI được công bố cứ 2 năm một lần, cho tới nay đã có 5 phiên bản được phát hành: 2007, 2010, 2012, 2014 và 2016 với sự tham gia của hơn 150 quốc gia. Kết quả của LPI dựa vào kết quả của cuộc khảo sát trực tuyến của các chuyên gia logistics trên toàn thế giới. Bảng khảo sát được thiết kế theo các dạng câu hỏi định tính, với hầu hết các câu trả lời là thang điểm từ 1 (kém nhất) tới 5 (tốt nhất). Các chuyên gia dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm thực tế trực tiếp liên quan tới công việc giao nhận hàng hóa của mình tại các quốc gia để đánh giá thang điểm. Phần lớn họ là các chuyên gia logistics cấp cao thuộc lĩnh vực giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu và chuyển phát nhanh. Cụ thể, LPI 2016 ghi nhận sự tham gia đánh giá của lãnh đạo tập đoàn (53% số người tham gia), lãnh đạo khu vực hoặc quốc gia (15%), giám đốc phòng ban (16%). Bảng 1 dưới đây tổng kết một số tiêu cơ bản liên quan tới bảng xếp hạng chỉ số LPI.

     

    Bảng 1. Tiêu thức cơ bản của bảng xếp hạng chỉ số LPI

     

    STT

    Nội dung đề cập

     

    Chi tiết

     

    1

    Tổ chức phát hành

    Ngân hàng thế giới

     

    2

    Tần suất phát hành

    2 năm 1 lần (2017, 2010, 2012, 2014, 2016)

     

    3

    Phương pháp đánh giá

    Định lượng, định tính

     

    4

    Đối tượng khảo sát

    Công ty cung cấp dịch vụ Logistics (vận tải, kho bãi, giao

     

    nhận,…), công ty sử dụng dịch vụ Logistics, các chuyên gia

     
       

    5

    Số lượng quốc gia đánh giá

    150 (2007); 155 (2010, 2012); 166 (2014); 160 (2016)

     
       

    1.

    Hiệu quả quy trình thông quan

     
       

    2.

    Chất lượng cơ sở hạ tầng

     

    6

    6 vấn đề được đánh giá

    3.

    Gửi hàng quốc tế

     

    4.

    Năng lực logistics và chất lượng dịch vụ

     
       
       

    5.

    Khả năng theo dõi và tìm kiếm lô hàng

     
       

    6.

    Thời gian giao nhận hàng hóa

     

    (Nguồn: World Bank (2007, 2010, 2012, 2014, 2016): Connecting to compete: Trade logistics in the Global)

     

    Báo cáo “Kết nối để cạnh tranh – Connecting to compete: Trade logistics in the Global” được công bố của ngân hàng thế giới đề cập tới 2 chỉ số LPI: chỉ số LPI quốc tế và chỉ số LPI nội địa. Chỉ số LPI quốc tế sẽ xếp hạng tất cả các quốc gia dựa vào điểm trung bình của 6 thành phần hay còn gọi là 6 tiêu chí về môi trường logistics của 1 quốc gia, gồm:

     

    Hiệu quả quy trình thông quan: đánh giá ở các khía cạnh như tốc độ, tính đơn giản thuận lợi và có thể dự liệu trước của các thủ tục. <Hải quan>

     

    Chất lượng cơ sở hạ tầng: liên quan đến chất lượng của thương mại và vận tải như hệ thống cảng, đường bộ, đường sắt, công nghệ thông tin. <Hạ tầng>

     

    Gửi hàng quốc tế: đề cập tới sự dễ dàng trong việc sắp xếp những chuyến hàng với giá cạnh tranh. <Gửi hàng quốc tế>

     

    Năng lực Logistics và chất lượng dịch vụ Logistics: như điều hành vận tải, môi giới hải quản. <Dịch vụ logistics>

     

    Khả năng theo dõi và tìm kiếm lô hàng. <Theo dõi hàng hóa>

     

    Thời gian giao nhận hàng hóa: Tỉ lệ đúng lịch trình và thời gian giao hàng của các chuyến hàng. <Thời gian giao nhận>

     

    6 tiêu chí này có trọng số tương tự nhau nên chỉ số LPI quốc tế gần như là điểm trung bình của 6 tiêu chí này. Điểm trung bình, điểm của từng tiêu chí được đánh giá cụ thể và xếp hạng giữa các quốc gia. Chỉ số LPI quốc tế là chỉ số quan trọng để các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách có thể hiểu rõ thực trạng ngành logistics của một quốc gia so với quốc gia khác. Chỉ số LPI nội địa sẽ khảo sát cụ thể hơn những thông tin về môi trường logistics của 1 quốc gia như thời gian thực hiện và chi phí, cách thức tổ chức quy trình trong cả khu vực nội địa và khu vực kết nối như cảng, biên giới,… Tuy nhiên chỉ số LPI quốc tế thường được sử dụng vì sự thuận tiện hơn khi so sánh đánh giá sự phát triển năng lực logistics của 1 quốc gia qua các năm hoặc so sánh giữa các quốc gia.

     

    3. LPI Việt Nam từ 2007 tới 2016 [1]

     

    Nhìn vào bảng 2 cho thấy chỉ số LPI từ năm 2007 tới năm 2014 đều ghi nhận sự biến đổi tích cực với sự tăng điểm của hầu hết các điểm thành phần. Trong 3 giai đoạn đầu tiên 2007, 2010 và 2012, chỉ số LPI có sự tăng nhẹ từ 2,89 lên 2,96 và 3 điểm. So với các quốc gia được đánh giá, trong 3 lần công bố đầu tiên, Việt Nam xếp thứ 53 trên hơn 150 quốc gia. Năm 2014, chỉ số LPI của Việt Nam tăng lên ở 5/6 điểm thành phần và đạt 3,15 điểm, dẫn tới thứ hạng của Việt Nam tăng cao 5 bậc (xếp thứ 48/166 quốc gia) (bảng 2). Năm 2016, lần đầu ghi nhận sự giảm điểm của LPI Việt

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải     Số 49 – 01/2017                                                                       88

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

     

    Nam: điểm LPI đạt 2,98, giảm 0,17 điểm so với năm 2014; xếp hạng 64/160, tụt 16 bậc so với năm 2014 (bảng 2).

     

    Bảng 2. Chỉ số LPI Việt Nam từ 2007 đến 2016

     

             

    Điểm thành phần

       

    Năm

    Xếp

    LPI

                 

    Hải

    Hạ

    Gửi hàng

    Dịch vụ

    Theo dõi

    Thời gian

     

    hạng

       

    quan

    tầng

    quốc tế

    logistics

    hàng hóa

    giao nhận

     
         
                       

    2007

    53

    2,89

    2,89

    2,5

    3

    2,8

    2,9

    3,22

     
                       

    2010

    53

    2,96

    2,68

    2,56

    3,04

    2,89

    3,1

    3,44

     
                       

    2012

    53

    3

    2,65

    2,68

    3,14

    2,68

    3,16

    3,64

     
                       

    2014

    48

    3,15

    2,81

    3,11

    3,22

    3,09

    3,19

    3,49

     
                       

    2016

    64

    2,98

    2,75

    2,7

    3,12

    2,88

    2,84

    3,5

     
                       

    2016/2014

    -16

    -0,17

    -0,06

    -0,41

    -0,1

    -0,21

    -0,35

    +0,01

     
                       

    (Nguồn: World Bank (2007, 2010, 2012, 2014, 2016): Connecting to compete: Trade logistics in the Global)

     

    Hình 1 là biểu đồ hình lục giác so sánh tương ứng 6 thành phần chỉ số LPI của 2 năm 2014 và 2016; cho thấy trong 6 thành phần của chỉ số LPI, có đến 5/6 điểm thành phần LPI 2016 bị giảm điểm so với năm 2014; trong đó điểm của 2 thành phần “Hạ tầng” và “Theo dõi hàng hóa” giảm sâu nhất, 3 thành phần “Hải quan”, “Gửi hàng quốc tế”, “Dịch vụ Logsitcs” giảm nhẹ. Chỉ có một thành phần duy nhất “Thời gian giao nhận hàng” của năm 2016 tăng điểm hạn chế (0,01 điểm) so với năm 2014.

     

    2014            2016

     

    Hải quan

    4

    3

    Thời gian giao nhận           2                        Hạ tầng

     

    1

     

    0

     

    Theo dõi hàng hóa                                     Gửi hàng quốc tế

     

    Dịch vụ Logistics

     

    Hình 1. Chỉ số LPI Việt Nam 2014 – 2016 theo 6 yếu tố

     

    (Nguồn: World Bank (2014, 2016): Connecting to compete: Trade logistics in the Global)

     

    Mặc dù sụt giảm về điểm và xếp hạng, nhưng Việt Nam vẫn là một trong 10 nước có năng lực logistics dẫn đầu của nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (lower – middle income). Năm 2014, Việt Nam xếp thứ nhất trong tốp các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Năm 2016, Việt Nam xếp thứ 5, cách nước đứng đầu trong nhóm thu nhập này 29 bậc (bảng 3).

     

    Bảng 3. Nhóm 5 quốc gia thu nhập trung bình – thấp có chỉ số LPI cao nhất

     

    Quốc gia

    Xếp hạng LPI 2016

    Điểm LPI 2016

    Xếp hạng LPI 2014

    Điểm LPI 2014

             

    Ấn Độ

    35

    3,42

    54

    3,08

             

    Kenya

    42

    3,33

    74

    2,81

             

    Ai Cập

    49

    3,18

    62

    2,97

             

    Indonesia

    63

    2,98

    53

    3,08

             

    Việt Nam

    64

    2,98

    48

    3,15

             

    (Nguồn: World Bank (2014, 2016): Connecting to compete: Trade logistics in the Global)

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải     Số 49 – 01/2017                                                                       89

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

     

    4. Nguyên nhân của sự tụt hạng LPI 2016

     

    LPI với 5 thành phần, đặc biệt là 2 yếu tố cơ sở hạ tầng và hải quan của Việt Nam đều sụt giảm mặc dù đây là 2 yếu tố được đầu tư khá nhiều trong nhiều năm qua. Các điểm thành phần này bị sụt giảm có thể giải thích là không phải các yếu tố đó bị kém hay thụt lùi hơn trước mà là những bước tiến hay phát triển của các yếu tố này không làm thỏa mãn những chuyên gia trả lời khảo sát.

     

    Kết cấu hạ tầng, hệ thống cầu đường và cảng biển được đầu tư khá nhiều. Tuy nhiên các chuyên gia đánh giá hạ tầng của Việt Nam còn thiếu đồng bộ. Theo định hướng chính sách quy hoạch chi tiết các nhóm cảng biển, đối với Nhóm cảng biển số 5 (TP. Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu sẽ tập trung di dời hệ thống cảng trên sông Sài Gòn ra khu vực cảng Cái Mép. Tuy nhiên trên thực tế việc di dời hiện nay vẫn chưa được thực hiện xong. Thậm chí TP Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục đầu tư cảng và đưa vào hoạt động dẫn tới hàng container vẫn được giữ lại ở các cảng TP. Hồ Chí Minh, không dịch chuyển nhiều về Vũng Tàu. Điều đó khiến cho cảng Cái Mép – Thị Vải vẫn đang trong tình trạng dư thừa công suất. Thực tế hiện nay, cụm cảng này mới chỉ khai thác được 40% công suất.

     

    Thêm vào đó hệ thống hạ tầng giao thông kết nối cảng Cái Mép – Thị Vải với các khu chế xuất, khu công nghiệp của các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn như Đồng Nai, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh đã quá tải và bất cập. Điển hình như tuyến quốc lộ 51 con đường huyết mạch nối Bà Rịa – Vũng Tàu với các tỉnh khác nằm trong tam giác phát triển kinh tế: Bà Rịa Vũng Tàu – Đồng Nai

    • Hồ Chí Minh.

    Đối với các vấn đề về thủ tục hải quan, Hải quan Việt Nam có rất nhiều cải cách đổi mới tích cực như triển khai hệ thống VNACCS/VCIS được gần 2 năm. Hải quan của Việt Nam đã áp dụng hệ thống hải quan điện tử với nhiều cải cách tích cực hơn trong quy trình và luật. Tuy nhiên, chỉ số thành phần LPI về hải quan vẫn sụt giảm do hoạt động thực tế của các cơ quan chuyên trách vẫn còn nhiều tiêu cự. Các doanh nghiệp phải trả thêm phí ngoài quy định trong quá trình thực hiện các thủ tục hải quan. Nhiều bộ phận công quyền còn quan liêu, gây phiền hà cho hoạt động thông quan hàng hóa.

     

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc ứng dụng một số phần mềm phổ biến trên thế giới như: công nghệ barcode, hệ thống trao đổi điện tử EDI, hệ thống định vị toàn cầu, hệ thống quản lý giao nhận, phần mềm quản lý đặt hàng; trong khi đó việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại như: công nghệ nhận dạng bằng sóng vô tuyến RFID, phần mềm quản lý kho hàng,… còn rất hạn chế [2].

     

    Đứng trên góc nhìn tổng thể, Việt Nam chưa có cơ quan cấp quốc gia chuyên trách về logistics, có đủ thẩm quyền và năng lực để xây dựng, soạn thảo, ban hành và thi hành chương trình hành động quốc gia về logistics. Trên thực tế, theo chỉ đạo của thủ tướng chính phủ, bộ công thương và các ban ngành liên quan đã dự thảo Kế hoạch hành động về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics và xin ý kiến công khai của các đơn vị, doanh nghiệp liên quan trong tháng 9/2016 [3].

     

    5. Kết luận và kiến nghị

     

    Chỉ số LPI là một công cụ đắc lực để Việt Nam nói riêng và các quốc gia nói chung có thể sử dụng để đo lường, đánh giá hoạt động thực trạng của ngành logistics quốc gia mình. Trong khoảng thập niên vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến tích cực thúc đẩy hoạt động logistics phát triển với điểm số LPI liên tục được cải thiện; tuy nhiên thời gian gần đây những cải cách này chưa phát huy hiệu quả tối đa, chưa thỏa mãn sự kì vọng của doanh nghiệp liên quan đến ngành. Bài viết đề xuất một vài kiến nghị để phát triển cũng như cải thiện chỉ số LPI như sau:

     

    Thành lập một cơ quan cấp quốc gia chuyên trách về hoạt động logistics. Cơ quan này sẽ có những hoạt định mang tính dài hạn cho sự phát triển hoạt động logistics của quốc gia. Từ đó các chính sách về cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin sẽ được quy hoạch và triển khai một cách khoa học và đồng bộ hơn.

     

    Nhanh chóng hoàn thành và công bố Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics làm tiền đề và cơ sở cho các ban ngành, doanh nghiệp liên quan. Ngoài ra tổ chức các buổi hội thảo, họp báo, tọa đàm công bố công khai các chính sách, dữ liệu liên quan đến hoạt đông logistics; nâng cao nhận thức, định hướng và hướng dẫn các doanh nghiệp trong hoạt động logistics.

     

    Tập trung mở rộng nguồn hàng cho cụm cảng Cái Mép – Thị Vải, đưa cụm cảng trở thành cảng trung chuyển hàng hóa quốc tế lớn trong khu vực.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải     Số 49 – 01/2017                                                                       90


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ LIÊN KẾT GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM CHÈ THÁI NGUYÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-THU-H%C3%9AT-V%C3%80-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-V%E1%BB%90N-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-C%E1%BB%A6A-T%E1%BB%88NH-L%C3%80O-CAI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 177 – 184

    e-ISSN: 2615-9562

     

    GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỈNH LÀO CAI

     

    Nguyễn Thanh Minh*, Nguyễn Thị Vân, La Quý Dương, Nguyễn Thị Hương Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu có mục đích phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách của tỉnh Lào Cai, các hoạt động hỗ trợ của tỉnh, đề xuất giải pháp đặc thù nhằm tăng cường thu h t và s dụng v n đ u tư vào Lào Cai. Với cách tiếp cận hệ th ng và các yếu t tác động, s dụng các phương pháp nghiên cứu như th ng kê mô tả, phân tổ th ng kê, so sánh, nhóm tác giả đã phản ánh thực trạng cơ chế, chính sách và phân tích, đánh giá các hoạt động hỗ trợ của tỉnh trong đ u tư xây dựng cơ sở hạ t ng, cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, thanh tra, kiểm tra sau cấp phép đ u tư. Giai đoạn (2015-2017) tỉnh Lào Cai đã thu h t được nhiều nhà đ u tư, doanh nghiệp với hàng ngàn tỷ đồng góp ph n tạo nên một diện mạo mới, tăng thu ngân sách và đang từng bước nâng cao chất lượng cuộc s ng cho người dân. Nhóm tác giả chỉ ra những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của nó trong thực hiện cơ chế, chính sách của đ a phương, từ đó đề xuất nhóm giải pháp thu h t và s dụng hiệu quả v n đ u tư vào tỉnh Lào Cai.

     

    Từ khóa: Cơ chế, chính sách kinh tế; hoạt động hỗ trợ nhà đầu tư; thu hút vốn đầu tư; sử dụng vốn đầu tư; thực trạng thu hút và sử dụng; giải pháp thu hút và sử dụng.

     

    Ngày nhận bài: 16/4/2019; Ngày hoàn thiện: 19/6/2019; Ngày duyệt đăng: 19/6/2019

     

    SOLUTIONS TO ATTRACT AND USE INVESTMENTS

    IN LAO CAI PROVINCE

     

    Nguyen Thanh Minh*, Nguyen Thi Van

    La Quy Duong, Nguyen Thi Huong

     

    TNU –  University of Economics and Business Administration

     

    niversity of Economics and Business Administration

    ABSTRACT

     

    The study aims to analyze and assess the status of the mechanism and policies of Lao Cai province, support activities of the province, propose specific solutions to enhance the attraction and use of investment capital in Lao Cai. With a systematic approach and impact factors, using research methods such as descriptive statistics, statistical analysis, comparison, authors’ group reflected the current status of mechanism, policy and analysis and assess the province’s support activities in investment in infrastructure construction, administrative procedure reform, ground clearance, inspection and post-investment inspection. In the period 2015-2017, Lao Cai province has attracted many investors and businesses with thousands of billion dongs, contributing to creating a new face, increasing budget revenue and gradually improving the quality of life for people. The authors pointed out limitations, shortcomings and causes in implementing local mechanisms and policies, thereby proposed a group of solutions to attract and effectively use investment capital in Lao Cai province.

     

    Keywords: Economic mechanisms and policies; activities to support investors; attract investment; using investment capital; actual situation of attraction and use; solutions to attract and use.

     

    Received: 16/4/2019; Revised: 19/6/2019; Approved: 19/6/2019

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         177

     

    Nguyễn Thanh Minh và Đtg      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 177 – 184

     

    1. Đặt vấn đề

     

    • u tư là yếu t quyết đ nh tới sự phát triển và là chìa khoá cho sự tăng trưởng của mỗi qu c gia [1]. Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để thu h t ngày càng nhiều nhà đ u tư (NĐT), doanh nghiệp (DN) sẵn sàng đ u tư v n vào hoạt động sản xuất kinh doanh góp ph n phát triển kinh tế ở từng đ a phương. Đây là bài toán c n có lời giải sắc bén và t i ưu. Thực tiễn đã chỉ ra ở đ a phương nào, qu c gia nào có cơ chế, chính sách và các hỗ trợ liên quan đến đ u tư được thực thi, đảm bảo sự hài hoà lợi ích các bên trong đó đặc biệt là NĐT/ DN sẽ khích lệ họ tăng cường v n đ u tư nhằm thu được lợi ích kinh tế cao hơn (Vĩnh Ph c với Tập đoàn Honda, Thái Nguyên với Tập đoàn Samsung…). Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới trong những năm qua đã có những cơ chế, chính sách và hoạt động hỗ trợ để thu h t các nguồn v n đ u tư vào đ a bàn, góp ph n thay đổi diện mạo và phát triển kinh tế – xã hội đ a phương. Tuy nhiên, cũng còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại. Bài viết sẽ tập trung làm rõ những cơ chế, chính sách kinh tế mà tỉnh Lào Cai đã thực hiện, phân tích các hoạt động hỗ trợ của đ a phương cho NĐT/ DN, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế tồn tại, nguyên nhân của hạn chế tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thu h t và s dụng v n đ u tư cho phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai trong thời gian tới.

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    • Cách tiếp cận: Tiếp cận hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh Lào Cai liên quan đến thu h t và s dụng các nguồn v n đ u tư (NVĐT), làm rõ thuận lợi, hạn chế

    của cơ chế, chính sách đến thu h t và s dụng các NVĐT tại tỉnh Lào Cai; tiếp cận theo các yếu tố tác động: xem xét, phân tích các yếu t tác động đến thu h t và s dụng các nguồn

     

    • n đ u tư vào tỉnh Lào Cai, chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân. Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục nhằm thu h t và s dụng có

    hiệu quả các NVĐT vào tỉnh Lào Cai.

     

    Để biết được nhận đ nh, đánh giá về cơ chế, chính sách và các hoạt động hỗ trợ của tỉnh, nhóm tác giả tiến hành điều tra, khảo sát NĐT/ DN theo mẫu phiếu hỏi in sẵn, việc chọn mẫu phiếu được áp dụng theo công thức tính Slovin n=N/(1+ N*e2). Trong đó N là NĐT/ DN = 1000, độ chính xác là 95% sai s tiêu chuẩn e là 5%, cỡ mẫu n được xác đ nh là 285, Các tiêu chí đánh giá theo thang đo Likert 5 bậc, bậc 1 tương ứng 1 điểm… bậc 5 là 5 điểm.

     

    Phương pháp: S dụng phương pháp điều tra, khảo sát để thu thập thông tin sơ cấp, dùng ph n mềm Word và Excel để x lý thông tin; s dụng phương pháp th ng kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia để phân tích thực trạng và các yếu t tác động; phân tích chỉ s năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), bộ chỉ s đánh giá năng lực cạnh tranh và cảm nhận của doanh nghiệp về môi trường đ u tư, kinh doanh của cấp huyện, thành ph và các sở, ban, ngành của tỉnh (DCI) và hiệu quả quản tr và hành chính công cấp huyện (PAPI).

     

    1. Th c ng  hu h                      ng     n đầu

    ư   nh L o Cai

     

    3.1.    h  c tr ng thu h  t v n đ u t        t i t nh

     

    Lào Cai

     

    Để thu h t các NĐT/ DN, ngoài sự cam kết với chín nội dung [2] thiết thực và xác đ nh sự thành công, th nh vượng, phát đạt của các NĐT/ DN chính là sự phát triển của Lào Cai trong giai đoạn từ 2012-2017, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai đã áp dụng một loạt chính sách và biện pháp hỗ trợ trong các hoạt động như:

     

    Quy hoạch: Tỉnh đã có quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH và quy hoạch ngành, lĩnh vực trên đ a bàn giai đoạn năm 2012 đến năm 2017. Bên cạnh đó, các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm của huyện thành đã được UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt và cho phép thực hiện. Vào đ u tháng 5/2017, Hội đồng nhân dân (HĐND)

     

    178                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    tỉnh Lào Cai đã thông qua Ngh quyết nâng cấp huyện Sa Pa thành th xã Sa Pa, nhằm xây dựng Sa Pa không chỉ là khu du l ch qu c gia mà phấn đấu trở thành khu du l ch qu c tế, đây là thông tin rất quan trọng để thu h t NĐT/ DN. Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 300 ha tại th trấn Sa Pa và các xã Sa Pả, Tả Phìn, Trung Chải, San Sả Hồ, Tả Giàng Phìn và Tả Van [3].

     

    Thủ tục hành chính: Thành lập tổ hỗ trợ DN về thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực đ u tư trên đ a bàn tỉnh theo QĐ s 638/QĐ-UBND ngày 18/3/2012 của UBND tỉnh; tổ chức rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đưa đi đào tạo, nâng cao chất lượng chuyên môn và tác phong làm việc chuyên nghiệp; thường xuyên rà soát các TTHC theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, đề xuất cấp có thẩm quyền loại bỏ những thủ tục không c n thiết, riêng năm 2017 các cơ quan, đơn v đã xây dựng kế hoạch kiểm soát TTHC, lập danh mục đăng ký cắt giảm 30% thời gian giải quyết TTHC [2]; hàng năm tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính (CCHC) để đánh giá kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và có giải pháp khắc phục; tổ chức triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trên nền tảng xây dựng chính quyền điện t như: ph n mềm quản lý văn bản và điều hành, thư điện t , cổng thông tin điện t (đến năm 2017, cổng thông tin điện t của tỉnh đã đăng tải trên 200 TTHC, h u hết các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh đều được đưa vào triển khai thực hiện d ch vụ công hành chính mức độ 2 [2]), ph n mềm ứng dụng tại bộ phận “một c a”, d ch vụ công trực tuyến (ph n mềm một c a tích hợp d ch vụ công trực tuyến với 314 d ch vụ, trong đó 287 d ch vụ công mức độ 2 và 29 d ch vụ công mức độ 3 [2]) và chỉ

     

    • năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Lào Cai liên tục tăng qua các năm 2015, 2016 đến 2017 với điểm tương ứng 62,32; 62,32 và 64,98 [3].

    Cơ sở hạ t ng: UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, các cấp quan tâm ph i hợp để đẩy

     

    nhanh tiến độ công tác giải phóng mặt bằng (GPMB); chi phí bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái đ nh cư với các dự án đ u tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ t ng khu công nghiệp (KCN) được ngân sách tỉnh ứng trước 30% chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái đ nh cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt với mức

     

    • i đa không quá 50 tỷ đồng cho một dự án; với các dự án đ u tư thuộc danh mục kêu gọi đ u tư theo quyết đ nh của UBND tỉnh, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, trong các khu du l ch được ngân sách tỉnh ứng trước 50% chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Hỗ trợ NĐT/ DN: NĐT/ DN được ưu đãi (trừ Khu kinh tế c a khẩu Lào Cai) thời gian thuê đất bằng thời gian của đời dự án, t i đa 50 năm; miễn tiền thuê đất 7 năm với dự án

     

    • u tư thông thường; miễn tiền thuê đất 11 năm với các dự án đ u tư thuộc danh mục khuyến khích đ u tư; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 4 năm kể từ năm đ u tiên có thu nhập ch u thuế; giảm 50% thuế TNDN trong 9 năm tiếp theo; các cơ quan chức năng liên quan sẽ hỗ trợ NĐT triển khai các bước theo quy đ nh để GPMB, tạo mặt bằng sạch cho NĐT; hỗ trợ t i đa 30% kinh phí GPMB trong hàng rào của dự án tại các KDL, riêng dự án du l ch có t m quan trọng đặc biệt, UBND tỉnh th ng nhất với Thường trực hội đồng nhân dân tỉnh có quy đ nh cụ thể, NSNN cấp 100% kinh phí GPMB trong các KCN; dự án đ u tư vào các KCN, khu du l ch (KDL) được các ngân hàng thương mại qu c doanh trên đ a bàn tỉnh cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và cho thuê tài chính với lãi suất giảm từ 5% – 10% so với lãi suất cho vay v n và lãi suất cho thuê tài chính đ i với khách hàng bình thường, miễn thu phí d ch vụ tư vấn vay v n và tư vấn xây dựng dự án kinh tế khi ngân hàng tư vấn cho DN; giảm 10% – 15% mức phí cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro.

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          179

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    Kết quả thu h t v n đ u tư tại tỉnh Lào Cai

     

    giai đoạn 2015 – 2017 được cụ thể là: năm

     

    2015 đạt 16.080.469 triệu đồng, năm 2016 là

     

    17.960.918 triệu đồng, đến năm 2017 tăng lên

     

    19.307.282 triệu đồng [4].

     

    Giai đoạn 2015-2017 cũng chứng kiến sự thu

     

    • t đáng kể v n đ u tư nước ngoài vào Lào Cai, rất nhiều dự án có quy mô lớn đã được triển khai thực hiện. Tính đến tháng 10/2017 Lào Cai có 744 dự án đ u tư trực tiếp trong nước (DDI) và 24 dự án đ u tư trực tiếp nước ngoài (FDI) [3]. Năm 2017, tỉnh Lào Cai đã rà soát và công b quy hoạch chi tiết đ nh hướng phát triển tỉnh Lào Cai, nhờ đó mà đã thu h t thêm 4 dự án đ u tư với tổng v n đ u tư là 5.240 tỷ đồng [5].

    3.2. h c tr ng s d ng v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy, v n đ u tư giai đoạn 2015-2017 ở Lào Cai được s dụng nhiều vào lĩnh vực thương mại

     

    – du l ch, tiếp đó là lĩnh vực xây dựng đô th , nông lâm ngư nghiệp, riêng các lĩnh vực Văn hóa-y tế – giáo dục, công nghiệp thì ít được đ u tư, chi tiết phản ánh trên bảng 1. Sở dĩ có hiện tượng trên là do Lào Cai có nhiều lợi thế cạnh tranh về du l ch, cùng với cơ chế chính sách thông thoáng, gợi mở và thu hút các nhà đ u tư.

     

    Sự tăng trưởng v n đ u tư kéo theo tăng trưởng kinh tế tỉnh Lào Cai, t c độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) năm

    2017 đạt 10, 15%, duy trì cơ cấu kinh tế tích cực, hợp lý (Ngành công nghiệp – xây dựng 43,2%; d ch vụ chiếm 42,56%; nông nghiệp 14,24%); GRDP bình quân đ u người đạt 51,2 triệu đồng, tăng 11,3% so năm 2016. Nông lâm thủy sản tăng 6,23%; Công nghiệp

     

    • Xây dựng tăng 11,59%; D ch vụ tăng 10,08% [4]. Chỉ tính riêng huyện Sa Pa đã thu h t hơn 10 dự án đ u tư vào hệ th ng khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp, mỗi dự án có v n đ u tư từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng với các nhà đ u tư lớn như: Tổng công ty Du l ch Sài Gòn TNHH một thành viên (Saigontourist); Công ty CP Đ u tư Indochina; Tập đoàn D u khí Việt Nam, Tập đoàn Cao su Việt Nam… S dự án trong lĩnh vực khách sạn ngày càng gia tăng với nhiều cơ sở lưu tr cao cấp đáp ứng nhu c u đa dạng của khách du l ch. Hiện tại Sa Pa đã có 320 cơ sở lưu tr với trên 3.000 phòng phục vụ du khách; trong đó, có 80 cơ sở đạt chất

    lượng từ 1 – 4 sao, 100 nhà nghỉ lưu tr tại gia ở các thôn bản phát triển du l ch cộng đồng [2]. S lượng khách du l ch, s ngày lưu tr của khách và doanh thu từ các hoạt động du l ch không ngừng tăng lên. Năm 2017 có khoảng 85.000 lượt khách, trong đó khách nước ngoài chiếm 44%, khách trong nước chiếm 56%, tăng 280% so với năm 2010. Doanh thu từ 23.068 triệu đồng năm 2010 tăng lên 111.883 triệu đồng năm 2015 và năm 2017 là 123.000 triệu đồng. S ngày lưu tr đạt 1,66 ngày đêm/khách du l ch [2].

     

    Bảng 1. Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2017

     

               

    ĐVT: Tỷ đồng

                 
     

    2015

     

    2016

     

    2017

     

    V n đầu  ư

                 

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

    V n đầu  ư

    Cơ cấu

     

    (%)

    (%)

    (%)

     
             

    Xây dựng đô th

    3.222,525

    20,04

    3.143,160

    17,50

    2.488,708

    12,89

     

    Công nghiệp

    649,650

    4,04

    908,822

    5,06

    1.029,078

    5,33

     

    Thương mại – Du l ch

    9.728,683

    60,5

    11.441,104

    63,70

    12.825,827

    66,43

     

    Nông lâm ngư nghiệp

    1.611,263

    10,02

    1.706,287

    9,50

    1.660,426

    8,60

     

    Văn hóa-y tế – giáo dục

    868,345

    5,40

    761,542

    4,24

    1.303,241

    6,75

     

    Tổng

    16.080,469

    100,00

    17.960,918

    100,00

    19.307,282

    100,00

     

    Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai

     

    180                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    3.3. Đánh giá khả năng thu h t và s d ng v n đ u t của t nh Lào Cai

     

    Chỉ s năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 3 năm 2015, 2016 và 2017 luôn trong t p 11 tỉnh, thành ph đứng đ u cả nước. Trong 10 chỉ s thành ph n PCI 2016, Lào Cai có 6 chỉ

     

    • tăng điểm (chi phí gia nhập th trường, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, chi phí không chính thức, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, đào tạo lao động,

    thiết chế pháp lý) và 4 chỉ s giảm điểm (tiếp cận đất đai và tính ổn đ nh trong việc s dụng đất, chi phí thời gian trong thực hiện các TTHC, cạnh tranh bình đẳng, d ch vụ hỗ trợ doanh nghiệp) [3]. Có thể khẳng đ nh thời gian qua Lào Cai đã có chuyển biến tích cực trong nhiều lĩnh vực, như thủ tục thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký đ u tư, x c tiến đ u tư, thương mại. Chỉ s DCI các huyện, thành ph tỉnh Lào Cai năm 2017 cụ thể như: TP Lào Cai 79,77, Văn Bàn 78,42, Bắc Hà 77,48, Bát Sát 69,14, Sa Pa 62,70, Mường Khương 53,56, Bảo Thắng 51,44 và Bảo Yên 39,63 [3]. Thông qua chỉ s này mà các huyện thành đã có giải pháp đột phá, thể hiện quyết tâm của chính quyền trong việc CCHC, cải thiện môi trường kinh doanh, thể hiện sự tôn trọng của chính quyền đ i với tiếng nói của cộng đồng DN.

     

    Bảng 2. Kết quả đánh giá của nhà đầu tư/

    doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai

    STT

    Tiêu chí đánh giá

    Điểm

     

    trung bình

     
         

    1

    Cơ chế và chính sách của tỉnh

    3,90

     

    Lào Cai

     
           

    2

    Năng  lực

    quản  lý  điều  hành

    3,46

     

    của CBCC

     
           

    3

    Hệ  th  ng

    cơ  sở  hạ  t ng  kỹ

    3,79

     

    thuật tỉnh Lào Cai

         

    4

    V  trí đ a lý, tiềm năng lợi thế

    4,05

     

    5

    Nguồn nhân lực của tỉnh Lào Cai

    3,05

     

    Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của nhóm tác giả

     

    Kết quả điều tra được tính toán và tổng hợp trên bảng 2. Từ s liệu trên bảng 2 cho thấy NĐT/ DN hoàn toàn hài lòng với v trí đ a lý, tiềm năng lợi thế, cơ chế chính sách và hệ th ng cơ sở hạ t ng kỹ thuật tỉnh Lào Cai.

     

    Đây là động lực thu h t NĐT/ DN trong thời gian qua. Tuy nhiên, năng lực quản lý điều hành của cán bộ, công chức và nguồn nhân lực của tỉnh Lào Cai vẫn kém hấp dẫn NĐT/ DN, đây là những hạn chế c n sớm được khắc phục.

     

    3.4.      n ch    t n t i và nguy n nh n

     

    3 4 1 Hạn chế tồn tại

     

    • rong thu h t v n đ u t : Quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được xây dựng nhưng chất lượng chưa cao, tính khả thi thấp và chưa hấp dẫn NĐT, nhiều dự án lớn khi vào đ u tư phải bổ sung quy hoạch; cơ chế, chính sách chưa thật sự hấp dẫn NĐT; hạ t ng khu kinh tế đang được đ u tư xây dựng theo quy hoạch nhưng thiếu v n, đ u tư dàn trải, hạ t ng thiết yếu còn thiếu như x lý nước thải, cấp nước sạch,…; cải cách hành chính còn chậm, vẫn còn phiền hà, rườm rà làm nản lòng các NĐT; công tác giải phóng mặt bằng rất khó khăn, chậm trễ, kéo dài.

    * Trong s  d  ng v n đ u t  : S     lượng các dự

     

    án đi vào triển khai hoạt động còn thấp hơn nhiều so với đăng ký, v n thực hiện của các dự án đạt thấp (chỉ chiếm 30,63% v n đăng ký), tiến độ triển khai của các dự án còn chậm (trung bình 01 dự án đưa vào hoạt động mất từ 1-3 năm); việc chấp hành chính sách pháp luật về đ u tư của một s NĐT còn hạn chế, s lượng các dự án không triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ so với cam kết tăng; lực lượng lao động của Lao Cai dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa cao, lao động đã qua đào tạo không phù hợp, h u như DN phải đào tạo lại sau tuyển dụng; d ch vụ cho cá nhân và gia đình người nước ngoài chưa đáp ứng được yêu c u do chưa có các trường học qu c tế, các d ch vụ chất lượng cao,…

     

    3.4.2. Nguyên nhân

     

    • rong thu h t v n đ u t : Tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế qu c gia đang trong thời kỳ cơ cấu lại làm giảm dòng v n đ u tư công và DNNN; hệ th ng cơ sở hạ t ng chung tuy có lợi thế so với các tỉnh khác trong khu vực

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          181

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

       

    nhưng các hạ t ng thiết yếu mà NĐT c n gắn với dự án, khu, cụm công nghiệp chưa đáp ứng được yêu c u; chi phí đ u tư tại Lao Cai cao do chi phí GPMB và san nền cao, đã ảnh hưởng đến quyết đ nh lựa chọn đ a bàn ưu tiên đ u tư của các NĐT, nhất là các NĐT nước ngoài; hệ th ng pháp luật, chính sách và thủ tục đ u tư chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và thay đổi nhanh, chồng chéo giữa hệ th ng pháp luật đ u tư, Luật doanh nghiệp và các luật chuyên ngành… chưa đủ sức hấp dẫn đ i với một s ngành, lĩnh vực c n khuyến khích

     

    • u tư như lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ; môi trường đ u tư còn thiếu sự ph i hợp của các cấp, các ngành trong thu h t
    • u tư.

    * rong s d ng v n đ u t : Công tác tham mưu, chỉ đạo điều hành chưa quyết liệt, chưa k p thời; vai trò người đứng đ u của một s cấp, ngành còn yếu; phân công, phân cấp còn

     

    • ng t ng, kiểm tra, đôn đ c thực hiện chưa t t; cấp ủy đảng, chính quyền và cộng đồng dân cư chưa hiểu hết lợi ích thiết thực và lâu dài trong thu h t các dự án đ u tư để tạo sự đồng thuận và nhất trí trong thu h t đ u tư. Cán bộ, công chức; năng lực, phẩm chất và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao, kỹ năng hành chính thiếu chuyên nghiệp, tư duy, phương pháp làm việc còn chậm đổi mới, nặng l i mòn, thiếu chủ động; chỉ đạo, giải quyết vướng mắc cho NĐT chậm, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. V n đ u tư cho xây dựng cơ sở hạ t ng như giao thông, điện, nước, nhất là trong các KCN, CCN còn thấp, một s hạng mục đã đ u tư nhưng lại chưa phát huy được hiệu quả. Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu c u của NĐT.
    1. Đề uấ m            giải pháp nh m    hu h

          ng     n đầu  ư    i   nh L o Cai

     

    4.1.    uan đi         đ nh h    ng nh        thu h  t

     

    và s   d  ng v n đ u t      của t nh Lào Cai

     

    Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ th ng chính tr vào

     

    cải thiện mạnh mẽ môi trường đ u tư, đặc biệt là CCHC có hiệu quả thiết thực. Tập trung khắc phục có hiệu quả những nguyên nhân gây trở ngại làm ảnh hưởng đến môi trường

     

    • u tư kinh doanh của tỉnh. Nhất quán trong cơ chế, chính sách thu h t đ u tư để tạo niềm tin và sự an tâm cho các NĐT trong việc triển khai thực hiện Dự án.

    Lào Cai đ nh hướng thu h t đ u tư trên từng lĩnh vực cụ thể là: Phát triển thương mại – d ch vụ trong đó khuyến khích đ u tư các dự án phát triển d ch vụ tại khu kinh tế c a khẩu Lào Cai, khu đô th thành ph Lào Cai; du l ch, nông nghiệp ôn đới công nghệ cao trong đó ưu tiên thu h t các dự án phát triển du l ch tại đ a phương có nhiều thế mạnh đặc thù, phát triển về du l ch tại các huyện Sa Pa, Bắc Hà; các dự án nông nghiệp quy mô sản xuất lớn, công nghệ cao; công nghiệp – xây dựng cơ bản… Giai đoạn 2017-2020 Lào Cai đ nh hướng kêu gọi thu h t đ u tư vào 42 dự án với tổng v n dự kiến là 43.950 tỷ đồng [6].

     

    4.2. Nh giải pháp thu h t v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Giải pháp về quy ho ch cơ ch   chính sách

     

    • Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020, có tính đến 2030; quy hoạch đô th TP Lao Cai, Sa Pa, quy hoạch phát triển khu du l ch qu c gia Sa Pa để làm căn cứ xây dựng và triển khai các quy hoạch ngành, lĩnh vực để vận động, thu h t đ u tư; rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch khu đô th , các khu du l ch, khu nông nghiệp công nghệ cao,… cho phù hợp với tình hình mới, gắn với hiệu quả, ít ảnh hưởng đến nhân dân vùng quy hoạch.
    • Rà soát cơ chế, chính sách ưu đãi đ u tư trên đ a bàn tỉnh, huyện để điều chỉnh bổ sung phù hợp với tình hình thực tế và nguồn v n ngân sách đ a phương; c n nghiên cứu và có chính sách vận động thu h t đ u tư từ các NĐT/ DN phù hợp với đ nh hướng thu h t đ u tư của tỉnh, huyện (phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường).

    182                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thanh Minh và Đtg         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 177 – 184

     

    Giải pháp về cải cách hành chính

     

    Soát xét thủ tục đ u tư, kiên quyết loại bỏ các thủ tục rườm rà, không c n thiết, pháp luật không quy đ nh, nhập các thủ tục có thể nhập được để đơn giản, gọn nhất các thủ tục đ u tư; rà soát, điều chỉnh quy đ nh nhằm bảo đảm hoạt động hiệu quả thực sự một c a liên thông, NĐT chỉ đến nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một c a liên thông; thiết lập đường dây nóng để các NĐT/ DN phản ánh những trường hợp cán bộ, công chức gây nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong quá trình x lý hồ sơ dự án đ u tư; tăng cường thanh tra công vụ đ i với việc tiếp nhận, x lý, giải quyết các TTHC tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đ u tư; công khai minh bạch trên Internet về TTHC và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, đơn v nơi trực tiếp giải quyết TTHC; xây dựng, ứng dụng ph n mềm tiếp nhận và trả kết quả liên thông giữa các cơ quan gắn với việc xây dựng chính quyền điện t .

     

    Phát tri n cơ sở h   t ng

     

    Chỉ đạo xây dựng các cơ sở hạ t ng quan trọng thiết yếu phục vụ thu h t đ u tư; cân đ i dành v n hàng năm để GPMB, chủ động tạo quỹ đất sạch hợp lý sẵn sàng đón các NĐT; tranh thủ t i đa các nguồn lực để đ u tư phát triển kết cấu hạ t ng, đặc biệt là nguồn v n ngoài ngân sách nhà nước; s dụng hình thức hợp tác Nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ t ng (PPP).

     

    Về hỗ trợ nhà đ u t

     

    Tiếp tục chỉ đạo xóa bỏ những lực cản trong công tác bồi thường, GPMB và tái đ nh cư; hỗ trợ nhà đ u tư có được mặt bằng nhanh chóng, thuận lợi; hỗ trợ cung ứng và đào tạo lao động.

     

    4.3. Nh giải pháp s d ng v n đ u t t i t nh Lào Cai

     

    Giải pháp về cơ ch  chính sách

     

    Rà soát, điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách

     

    ưu đãi cho NĐT trên đ a bàn tỉnh để có sự nhất quán và tạo niềm tin, sự an tâm cho các NĐT triển khai thực hiện dự án; c n nghiên cứu và có chính sách vận động thu h t đ u tư từ các NĐT, DN trọng điểm phù hợp với đ nh hướng thu h t đ u tư của tỉnh, huyện.

     

    Về cải cách hành chính

     

    Xác đ nh rõ trách nhiệm NĐT, trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước trong giải quyết các thủ tục hành chính cho NĐT, nhất là người đứng đ u trong giải quyết thủ tục cho NĐT; thiết lập đường dây nóng để các NĐT/ DN phản ánh những trường hợp cán bộ, công chức gây nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong quá trình x lý hồ sơ dự án đ u tư; tăng cường thanh tra công vụ trong tiếp nhận, x lý, giải quyết các TTHC tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đ u tư; công khai minh bạch trên Internet về TTHC và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, đơn v nơi trực tiếp giải quyết TTHC.

     

    ỗ trợ nhà đ u t

     

    Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các DN và cơ sở s dụng lao động, cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý nhà nước để đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ NĐT giải quyết nhanh các TTHC về xin cấp phép đ u tư hoặc điều chỉnh giấy phép đ u tư và các TTHC khác; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án d ch vụ: trường học qu c tế, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, điện, nước, tài chính ngân hàng…

     

    1. Kế luận

    Thực tiễn ở nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy, thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế, đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng cơ chế, chính sách thích hợp với điều kiện thực tế. Tỉnh Lào Cai là tỉnh miền n i ở phía Bắc của tổ qu c, trong những năm qua, lãnh đạo và các cấp chính quyền đ a phương rất năng động, sáng tạo đã

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          183

     

    Nguyễn Thanh Minh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 177 – 184

    đề ra nhiều chủ trương, chính sách cởi mở và hấp dẫn cùng với sự nỗ lực, quyết tâm vào cuộc của cả hệ th ng chính tr cũng như các hoạt động hỗ trợ NĐT/ DN nên đã thu hút và

     

    • dụng được một lượng v n lớn từ các NĐT/ DN trong và ngoài nước. Từng bước thay đổi diện mạo và phát triển KT – XH của tỉnh Lào Cai. Qua phân tích thực trạng cơ chế, chính sách và các hoạt động hỗ trợ từ phía tỉnh Lào Cai bài viết cũng chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong cơ chế, chính sách đặc thù và các hoạt động hỗ trợ của tỉnh từ đó đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm thu h t và s dụng hiệu quả hơn NVĐT vào tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu này cũng đã góp ph n giải quyết một ph n nội dung nghiên cứu của đề tài Mã s ĐH 2017 – TN08 – 04.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    Cai, Báo cáo tổng kết công tác quản lý các khu công nghiệp và các cửa khẩu năm 2018; Phương hướng nhiệm vụ năm 2019 2019.

     

    [3]. Sở kế hoạch và đ u tư tỉnh Lào Cai, Báo cáo tình hình thực hiện thu hút đầu tư vào huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai năm 2015, 2016, 2017, 2015, 2016, 2017.

    • Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai 2017.
    • UBND tỉnh Lào Cai, Quyết đ nh 3601/QĐ-UBND; Quyết đ nh 5557/QĐ-UBND về Phê duyệt bổ sung dự án thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2017, 2017.
    • UBND tỉnh Lào Cai, Quyết đ nh 2284/QĐ-UBND tỉnh Lào Cai ngày 24 tháng 7 năm 2015 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Lào Cai đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, 2015.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-kinh-t%E1%BA%BF-t%C6%B0-nh%C3%A2n-t%E1%BB%89nh-Th%C3%A1i-Nguy%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 185 – 189

    e-ISSN: 2615-9562

     

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

     

    Nguyễn Văn Đức

    Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến nay, góp phần quan trọng chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình lãnh đạo. Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu, báo cáo, văn kiện của Tỉnh ủy Thái Nguyên cũng như Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển phát kinh tế tư nhân, hiệu quả, bền vững, khai thác được những tiềm năng thế mạnh của địa phương, đưa kinh tế tư nhân thật sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Thái Nguyên phát triển.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân; Thái Nguyên; tư nhân; động lực phát triển; giải pháp phát triển kinh tế.

     

    Ngày nhận bài: 22/4/2019; Ngày hoàn thiện: 20/6/2019; Ngày duyệt đăng: 21/6/2019

     

    DEVELOPMENT SOLUTIONS PRIVATE ECONOMY

    OF THAI NGUYEN PROVINCE

     

    Nguyen Van Duc

     

    TNU – University of science

     

    ABSTRACT

     

    Private economy is an economic component based on private ownership of means of production, making an important contribution to socio-economic development. This paper presents a study on the process of Thai Nguyen Provincial Party leadership of private economic development since 1997. The study aims to make an important contribution to point out the advantages, limitations and causes of advantages, limitations and practicalexperience in the leadership. Research methods are based on analysis and evaluation of documents, data, reports, documents of Thai Nguyen Provincial Party Committee as well as Thai Nguyen Statistical Office. This research result would be an important basis for Thai Nguyen Provincial Party Committee to propose specific guidelines and solutions to promote the development of private, effective, sustainable economic development and to tap the potentials. As a result, local strengths and private economy can become an important driving force for the socio-economic development ofThai Nguyen province.

     

    Keywords: Private economy; Thai Nguyen; private; development motivation; economic development solutions.

     

    Received: 22/4/2019; Revised: 20/6/2019; Approved: 21/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         185

     

    Nguyễn Văn Đức                          Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 185 – 189

     

    1. Mở đầu

     

    Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của KTTN, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay KTTN Thái Nguyên có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển. Đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011-2015 đạt 13,1%, trong đó công nghiệp – xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng 20,7%, dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng 7,7%, nông – lâm – thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng 5,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, năm 2015 tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đạt 83,2%, nông nghiệp chỉ còn 16,8% [1, tr. 31-32]. Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2015 là 58.543,9 tỷ đồng trong đó: kinh tế nhà nước 14.259,5 tỷ đồng, kinh tế ngoài nhà nước 27.217,6 tỷ đồng và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 14.272,2 tỷ đồng [2]. Để KTTN Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ và bền vững đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên phải có những chủ trương và giải pháp cụ thể nhằm tạo động lực quan trọng để kinh tế Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ hơn.

     

    2. Nội dung

     

    Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN. Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển KTTN, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định: “Thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, giải quyết việc làm. Khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm tạo nhiều việc làm mới để thu hút lao động”[3, tr. 15]. Cùng với đó phải thực hiện: “Xây dựng cơ chế, chính sách, ưu đãi đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ về công nghệ, thiết bị, đào tạo nguồn

     

    nhân lực, thông tin môi trường đầu tư và thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề ở nông thôn” [1, tr. 62]. Quán triệt thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh, KTTN Thái Nguyên có những chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những kết quả quan trọng. Thứ nhất, KTTN đã góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo ổn định chính trị xã hội. Thứ hai, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tỉnh. Thứ ba, KTTN của tỉnh phát triển nhanh cả về quy môn, số lượng và chất lượng. Thứ tư, KTTN góp phần thúc đẩy phát triển ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được KTTN của tỉnh cũng bộc lộ một số những tồn tại, hạn chế như: Công tác chỉ đạo điều hành, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ, công tác quản lý của các cơ quan chính quyền đối với thành phần KTTN chưa được thường xuyên và chặt chẽ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hỗ trợ nguồn vốn vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập. Các tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mình. Công tác quản lý, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể còn nhiều vướng mắc, bất cập.

     

    Để KTTN tư nhân Thái Nguyên ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ, thu hút được nhiều nguồn đầu tư, phát huy các tiềm năng thế mạnh, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, cần phải thực hiện tốt một số giải pháp sau:

     

    Thứ nhất, Đổi mới công tác quản lý Nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN.

     

     

    186                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Văn Đức                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 185 – 189

     

    Để làm tốt công tác quản lý Nhà nước và cải thiện môi trường đầu tư cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng bộ tỉnh và các ngành chức năng cần phải chú trọng cải thiện chỉ số PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) trong thời gian tới, rà soát ở các sở, ban, ngành và địa phương khắc phục tình trạng yếu kém trong các khâu để cải thiện môi trường kinh doanh. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có thể tiếp cận được với các nguồn vốn, đất đai, lao động, công nghệ và thông tin thị trường.

     

    Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống hành chính Nhà nước cho phù hợp với điều kiện của Thái Nguyên và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhận hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, thực hiện cơ chế một cửa, liên thông trên tất cả các lĩnh vực, nhằm công khai, minh bạch các loại hồ sơ, giấy tờ, lệ phí, thời gian, công sức thực hiện giải quyết các công việc đối với doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN như: đăng ký kinh doanh, cấp phép kinh doanh, kê khai nộp thuế, thủ tục hải quan… Thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt, đối thoại giữa đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, lãnh đạo tỉnh với các doanh nghiệp nhằm nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tạo cơ chế thuận lợi nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp pháp triển [4].

     

    Thứ hai, Hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh.

     

    Các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên các doanh nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2015, số lượng doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh

     

    là 1.984 doanh nghiệp, với tổng số vốn là 68.759,1 tỷ đồng, trong đó số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 70% tổng số vốn kinh doanh [2]. Vì vậy, việc hỗ trợ các doanh nghiệp về mặt tài chính để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, mua sắm thiết bị, là việc làm cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, việc hỗ trợ về tài chính đối với các doanh nghiệp cũng chỉ tập trung vào các lĩnh vực và khu vực mà tỉnh quy hoạch phát triển, tránh việc hỗ trợ một cách tràn lan, không có trọng tâm, trọng điểm. Hiện nay, các khu công nghiệp, các vùng quy hoạch của tỉnh như: SamSung, Điềm Thụy, Yên Bình, Sông Công, Đại Từ, Núi Pháo… đã và đang đi vào hoạt động, đây là những nơi tỉnh quy hoạch, đầu tư phát triển, nên các doanh nghiệp đầu tư, sản xuất kinh doanh ở những nơi này sẽ nhận được những ưu đãi rất tốt về vốn, tài chính và đất đai. Cùng với đó, phải đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ tài chính, tín dụng trên địa bàn tỉnh nhằm giải quyết các vần đề về nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, doanh nhân như: cho vay, tín chấp, bảo lãnh lãi suất thấp… Khuyến khích phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán và các dịch vụ liên quan đến tài chính của doanh nghiệp tư nhân để giúp đỡ các doanh nghiệp khó khăn trong hạch toán, lập báo cáo tài chính, dự án kinh doanh [5].

     

    Để các doanh nghiệp hoạt động và mở rộng sản xuất kinh doanh vấn đề đất đai và mặt bằng sản xuất được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Tỉnh cần phải có những cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân về mặt bằng sản xuất kinh doanh, giúp các doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc. Chính sách đất đai phải khắc phục được bất bình đẳng trong việc giao đất, cấp đất cho sản xuất kinh doanh, mở rộng hơn nữa quyền của các doanh nghiệp tư nhân trong việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải được công khai minh bạch làm cơ sở cho việc giao đất, thuê đất, đấu thầu quyền

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          187

     

    Nguyễn Văn Đức                          Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 185 – 189

     

    sử dụng đất. Đặc biệt, trong quy hoạch đất đai phải nhanh chóng xây dựng khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, là cơ sở để thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đồng thời, những dự án quy hoạch trong thời gian dài không triển khai được cần phải thu hồi, bổ sung quỹ đất cho các dự án khả thi và hiệu quả hơn [6].

     

    Hiện nay, các khu công nghiệp của tỉnh như: Sông Công, Điềm Thụy, SamSung, Yên Bình, Núi Pháo… đã đi vào hoạt động, nhu cầu về vốn và đất đai để mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nhân là rất lớn. Vì vậy, nếu thực hiện tốt những giải pháp trên sẽ là động lực quan trọng để KTTN Thái Nguyên phát triển nhanh và hiệu quả.

     

    Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường kinh doanh.

     

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp tư nhân muốn đứng vững trong cạnh tranh và phát triển, đòi hỏi phải có năng lực, trình độ, tay nghề cao đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Để nâng cao trình độ của nguồn nhân lực đòi hỏi tỉnh Thái Nguyên phải mở các lớp bồi dưỡng cho chủ các doanh nghiệp tư nhân nhằm nâng cao trình độ tri thức quản lý, xây dựng chương trình đào tạo mới phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó, tỉnh phải mở rộng, nâng cấp hệ thống các trường đào tạo nghề trong đó tập vào các lĩnh vực như: cơ khí, khai khoáng, điện tử, may mặc, chế biến nông sản. Với lợi thế là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn thứ ba cả nước Thái Nguyên cần phải đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng lao động, đào tạo nhân lực theo yêu cầu của thị trường. Đồng thời, tỉnh cần phải nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm xúc tiến hỗ trợ việc làm cho người lao động, phát triển thị trường lao động và cho phép các doanh nghiệp tư nhân được mở rộng quyền thuê và tuyển dụng lao động [7].

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày

     

    càng sâu rộng, việc mở rộng thị trường kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân là hết sức cần thiết, mở rộng thị trường đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì vậy, để mở rộng thị trường kinh doanh cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin cần thiết về thị trường, đặc biệt là thị trường xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp có được thông tin cần thiết dễ dàng cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường và nắm bắt được các nhu cầu của đối tác hai bên. Tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch văn hóa với các tỉnh trong khu vực Việt Bắc, đẩy mạnh phát triển kinh tế với thủ đô Hà Nội và các địa phương trong cả nước.

     

    Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư thương mại và du lịch nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tìm kiếm thị trường mới và xuất khẩu mặt hàng mới. Quan tâm mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng, đổi mới mẫu mã sản phẩm (sắt thép, chè) tăng khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường của doanh nghiệp tư nhân một cách vững chắc, chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp đến các thị trường mới trong và ngoài nước. Xây dựng mạng thông tin doanh nghiệp chung của cả tỉnh nhằm giới thiệu hình ảnh và sản phẩm của các doanh nghiệp đến thị trường và các nhà đầu tư. Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, xây dựng chiến lược marketing, chủ động tìm kiếm thị trường mới, sản phẩm mới [5].

     

    Thứ tư, phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức đảng và đoàn thể, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

     

    Tổ chức cơ sở đảng và đoàn thể trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các chủ doanh nghiệp và người lao động. Làm cho chủ doanh nghiệp và người lao động hiểu được quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối

     

    188                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Văn Đức                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 185 – 189

     

    với xã hội. Từ đó, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động với chủ doanh nghiệp và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với việc thực hiện các vấn đề xã hội. Ngoài ra tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp còn có nhiệm vụ lãnh đạo chủ doanh nghiệp, người lao động thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước các hợp đồng lao động đã được ký kết với người lao động. Các tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền lợi của người lao động, giáo dục tinh thần, kỷ luật cho người lao động có ý thức, kỷ cương, trách nhiệm. Vì vậy, phát huy vai trò tổ chức tổ chức cơ sở đảng và đoàn thể là nhằm đảm bảo các doanh nghiệp thực hiện đúng mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của người lao động [8].

     

    Bên cạnh, việc phát huy vài trò của tổ chức đảng và đoàn thể, đòi hỏi Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên và chính quyền các cấp phải đẩy mạnh công tác quản lý đối với thành phần KTTN. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của KTTN như: làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, trốn thuế, không có giấy phép đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng nặt hàng đăng ký, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất [9].

     

    3. Kết luận

     

    Như vậy, từ khi tái lập tỉnh đến nay KTTN Thái Nguyên đã có sự phát triển mạnh mẽ góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển. Bên cạnh, những mặt ưu điểm KTTN Thái Nguyên cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục. Để KTTN của tỉnh phát triển bền vững và hiệu quả cần thực hiện tốt những giải pháp như: đổi mới công tác quản lý Nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN; hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết

     

    những khó khăn về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh; phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường kinh doanh; phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức đảng và đoàn thể, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nếu thực hiện tốt các giải pháp này, sẽ phát huy được hết các tiềm năng thế mạnh của tỉnh, huy động được các nguồn lực vào trong sản xuất kinh doanh, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội Thái Nguyên phát triển.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,

    Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Thái Nguyên 2015, tr. 31-32-62.

     

    • Cục thống kê Thái Nguyên, Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016, Thái Nguyên 2017.
    • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,

    Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Thái Nguyên 1997, tr.15.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo kết quả 2 năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5

    (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Thái Nguyên 2004.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo một số tình hình về phát triển kinh tế tư nhân và đảng viên làm kinh tế tư nhân tại địa phương, Thái Nguyên 2002.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 257-BC/TU ngày 02/12/2013 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Thái Nguyên 2013.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo tình hình phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên 2001.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 14-BC/TU ngày 13/01/2016 kết quả thực hiện Đề án số 10-ĐA/TU ngày 8/8/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng, củng cố, phát triển đảng viên, tổ chức đảng trong doanh nghiệp, giai

    đoạn 2012-2015, Thái Nguyên 2016.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 62 ngày 29/7/2016 về kết quả 10 năm thực hiện Quy

    định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương về đảng viên làm kinh tế tư nhân, Thái Nguyên 2016.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          189

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    190                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%C3%B4-h%C3%ACnh-kinh-t%E1%BA%BF-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-do-ph%E1%BB%A5-n%E1%BB%AF-l%C3%A0m-ch%E1%BB%A7-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Tr%C3%A0-Vinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 109 – 113

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

    KINH TẾ HỢP TÁC DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TẠI TỈNH TRÀ VINH

     

    Hà Minh Tuân1*, Mai Thị Huyền Trang2, Nguyễn Minh Tuấn1,

    Vũ Thị Hải Anh1, Kiều Thị Thu Hương1, Nguyễn Thị Hiền Thương1

    1Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên

    • Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

    TÓM TẮT

     

    Bài viết nhằm mục đích đánh giá thực trạng phát triển, những khó khăn, tồn tại của mô hình kinh tế hợp tác (KTHT), và đặc điểm của các hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác (THT) do phụ nữ làm chủ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT tại địa phương. Phương pháp triển khai gồm thu thập tài liệu thứ cấp từ các đơn vị liên quan, phỏng vấn cá nhân đại diện của Liên minh HTX, khảo sát và thảo luận nhóm của đại diện các HTX và THT do nữ làm chủ. Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT của tỉnh còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, do đó hoạt động tổ chức sản xuất và kinh doanh còn kém hiệu quả, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn yếu. Số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn thấp, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Các khó khăn/rào cản chính gồm thiếu vốn, thị trường đầu ra, sự hạn chế về năng lực khoa học kỹ thuật. Ngoài ra, chính quyền địa phương hiện cũng chưa có các chính sách hỗ trợ đặc thù cho các HTX và THT do nữ làm chủ. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình KTHT do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh.

     

    Từ khóa: Kinh tế hợp tác; hợp tác xã; phụ nữ; tổ hợp tác; Trà Vinh.

     

    Ngày nhận bài: 02/5/2019; Ngày hoàn thiện: 16/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    IMPROVING THE EFFECTIVENESS OF WOMEN-OWNED COOPERATIVE ECONOMICS MODEL IN TRA VINH PROVINCE

     

    Ha Minh Tuan1*, Mai Thi Huyen Trang2, Nguyen Minh Tuan1,

    Vu Thi Hai Anh1, Kieu Thi Thu Huong1, Nguyen Thi Hien Thuong1

    1TNU – University of Agriculture & Forestry

    2TNU – University of Economics & Business Administration

     

    ABSTRACT

     

    This research aims to evaluate the current situation, shortcomings and challenges of cooperative economics models, and characteristics of women-owned cooperatives and farmer groups in Tra Vinh province. The analyses were used to formulate rational recommendations for improving the role and effectiveness of coop economics in the research area. The methodology included destop studies of existing documents from relevant departments and organisations, personal interviews with leaders of the local cooperative alliance, survey and focus group discussions with representative leaders of women-owned cooperatives and coop groups. Results of this study showed that most of the cooperatives and farmer groups still have limited capacity in management and thus ineffective operation of their production and businesses. Limited linkages between production and markets were also found. In addition, the proportion of women-led cooperatives and farmer groups is rather small, coupled with their limited capacity in management and operation of production and businesses. Their stated key challenges and/or barriers include shortage of capital, market outlets and lack of science & technology. Besides, the local government has not issued specific support policies in favour of women-owned cooperatives and farmer groups. Recommendations for addressing the defined challenges are discussed.

     

    Keywords: Cooperative economics; cooperative; women; farmer groups; Tra Vinh.

     

    Received: 02/5/2019; Revised: 16/5/2019; Approved: 06/6/2019

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         109

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 109 – 113

     

    1. Giới thiệu

     

    Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long [1], với tổng diện tích tự nhiên là 2.358,2 km2, và mật độ dân số bình quân là 441 người/km2 [2]. Tính đến cuối năm 2017, tổng dân số của toàn tỉnh là 1.046.121 người. Trong đó, dân số sống tại khu vực nông thôn chiếm 82,3%, và dân số là người dân tộc thiểu số chiếm 31,0%, chủ yếu là người Khmer

     

    • Tổng số lao động đang làm việc là 615,658 người (chiếm 58,9% dân số toàn tỉnh). Trong đó, tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo chiếm 55,0% [3]. Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, toàn tỉnh có 274.064 hộ dân, tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo còn khá lớn, chiếm tỷ lệ lần lượt là 8,66 và 8,34% [4].

    Là một tỉnh nghèo, sinh kế của nhiều hộ dân của tỉnh Trà Vinh phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Chính vì thế, các mô hình kinh tế hợp tác (KTHT) thông qua HTX (hợp tác xã) và THT (tổ hợp tác) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của toàn tỉnh. Trong đó, số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ (với tổng số 3 HTX và 26 THT) trong tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh [5]. Hiện nay, chính quyền địa phương đang trú trọng đến vấn đề bình đẳng giới và dân tộc trong các hoạt động phát triển KT-XH của tỉnh. Do đó, nghiên cứu được triển khai nhằm mục đích đánh giá thực trạng của KTHT của toàn tỉnh và đặc điểm của các HTX và THT do nữ làm chủ, cũng như những khó khăn và thách thức hiện tại, nhằm đưa ra những kiến nghị, đề xuất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh nói riêng và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.1. Phương pháp thu thập thông tin

     

    Nhóm nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng thông qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phỏng vấn cá

     

    nhân và thảo luận nhóm. Số liệu được sử dụng dựa trên 2 nguồn:

     

    • Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tỉnh Trà Vinh, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Trà Vinh, Tổng cục thống kê, Liên Minh HTX Trà Vinh, và Bộ KH&ĐT, …
    • Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp gồm 02 lãnh đạo của Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, đồng thời điều tra, khảo sát và thảo luận nhóm với 12 đại diện THT và 03 HTX do phụ nữ làm chủ năm 2018.

    Nội dung nghiên cứu gồm: thực trạng của KTHT tại tỉnh Trà Vinh; đặc điểm của các HTX và THT do phụ nữ làm chủ; phân tích những khó khăn, tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh.

     

    2.2. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 20, SPSS Inc., Chicago, IL, USA).

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Khái quát về tình hình kinh tế hợp tác tại tỉnh Trà Vinh

     

    Số lượng HTX tại tỉnh Trà Vinh có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2017 thành lập mới 28 HTX với 1.849 thành viên (TV). Tổng số HTX của tỉnh là 121 HTX, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau với số lượng HTX tăng dần như sau: Điện (2 HTX, với 43 TV), tiểu thủ công nghiệp (6 HTX, 52 TV), thương mại, dịch vụ (7 HTX, 151 TV), vận tải (9 HTX, 481 TV), xây dựng (11 HTX, 95 TV), thuỷ sản (12 HTX, 1.218 TV), quỹ tín dụng (16 HTX, 20.807 TV), và nông nghiệp (58 HTX, 3.280 TV). Tổng số vốn điều lệ của HTX tỉnh Trà Vinh tính đến 31/12/2017 là 134.521.400 đồng, trong đó HTX hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có vốn cao nhất (chiếm 22,5%), và ít nhất là lĩnh vực điện (chiếm 0,54%).

     

    110                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    Kết quả phân loại về hiệu quả hoạt động của 93 HTX năm 2017 (không tính đến 28 HTX mới thành lập) cho thấy, có 35 HTX khá (chiếm 37,63%), HTX giỏi không có, còn lại là trung bình (34,41%) và kém (27,96%). Kết quả trên phần nào phản ánh về hiệu quả hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế.

     

    Về THT, tính đến cuối năm 2017 toàn tỉnh Trà Vinh có tới 1.841 THT với 37.344 thành viên (TV) tham gia (35.497 THT nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và 1.847 THT phi nông nghiệp), trong đó có tới 136 THT được thành lập mới, với 1.677 TV.

     

    Trong các lĩnh vực hoạt động của THT thì hoạt động động trong lĩnh vực trồng trọt/cây ăn quả là nhiều nhất, với 1.175 THT (63,8%), tiếp đến là THT chăn nuôi (252 THT, 13,4%), thủy sản (172 THT, 9,3%) và THT hoạt động trong lĩnh vực Thương mại và tiểu thủ công nghiệp chiếm ít nhất với 69 THT (3,8%). Còn lại là các THT hoạt động ở các lĩnh vực khác (173 THT, 9,4%) [5].

     

    Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT trên địa bàn tỉnh hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Số lượng THT gấp nhiều lần so với số lượng HTX, qua đó đã góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình tại địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của cả HTX và THT nhìn chung còn thấp. Đặc biệt, hoạt động của THT còn mang tính đơn lẻ, chưa có sự liên kết vững chắc, thiếu sự hướng dẫn, tư vấn của chính quyền cơ sở, chính sách hỗ trợ cho THT còn rất ít. Do đó, hoạt động chưa đạt hiệu quả cao. Trong năm 2017 toàn tỉnh có tới 196 THT nông – lâm – ngư – diêm nghiệp (với 1.931 TV) đã bị giải thể.

     

    3.2. Đặc điểm của HTX và THT do nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    Trong tổng số 15 đơn vị do phụ nữ làm chủ được phỏng vấn (gồm 3 HTX và 12 THT), có 3 phụ nữ là người Khmer (chiếm 20%). Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh của HTX và THT do nữ làm chủ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp – thủy sản (chiếm 71,4%).

     

     

    Hình 1. Lĩnh vực ngành nghề sản xuất, kinh

    doanh của HTX và THT

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    Ghi chú: NN-TS: Nông nghiệp & Thủy Sản; CN-XD:

    Công nghiệp & xây dựng; TM-DV: Thương mại &

    dịch vụ. Đơn vị tính: %.)

     

    Nhìn chung, trình độ học vấn của lãnh đạo các HTX và THT còn hạn chế, với 85,7% có trình độ học vấn từ cấp 1 đến cấp 3. Chỉ có 14,3% có trình độ Trung cấp và Đại học. Đồng thời, tỷ lệ lãnh đạo HTX và THT đã được tham gia các khóa đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ quản lý HTX/THT còn thấp, mới chiếm 42,9%.

     

    Trong số HTX và THT được điều tra, có tới 86,7% đơn vị mới được thành lập và vận hành trong vòng 1-3 năm. Khi được hỏi về lý do thành lập HTX và THT, chỉ có 33,3% đơn vị trả lời là thành lập trên tinh thần tự nguyện và tự thành lập; 26,7% thành lập theo chỉ đạo và hỗ trợ của cơ quan/tổ chức địa phương; và có tới 40,0% thành lập do có sự hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ và tài trợ vốn nước ngoài. Kết quả này cho thấy, phụ nữ có năng lực và chủ động thành lập các HTX/THT còn rất hạn chế, phần lớn vẫn còn được hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước. Ngoài ra, tỷ lệ HTX/THT có thành viên tham gia tự nguyện có góp vốn chỉ chiếm 60,0%, còn lại là không góp vốn (20,0%) hoặc có sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài (chính quyền địa phương hoặc tổ chức phi chính phủ).

     

    Các HTX và THT do nữ làm chủ có quy mô và trình độ kinh doanh còn nhiều hạn chế, với số hộ tham gia còn ít, trung bình 18,8 (± 3,0) hộ thành viên tham gia. Đồng thời, tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh còn rất thấp, trung bình 117,7 (± 44,0) triệu đồng/năm.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          111

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 109 – 113

     
             
       

    Bảng 1. Các thông tin chung về các HTX và THT do phụ nữ làm chủ tại Trà Vinh

       
                   
     

    TT

    Thông tin chung của HTX/THT

    Trung bình

    S.E.

    Tối thiểu

    Tối đa

     

    1

    Số người trong ban quản lý (người)

    3,0

    0,195

    2

    5

     

    2

    Số thành viên nữ trong ban quản lý (người)

    2,3

    0,300

    1

    4

     

    3

    Số hộ tham gia (hộ)

     

    18,8

    3,029

    9

    52

     

    4

    Số thành viên được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ (người)

    12,3

    2,168

    0

    32

     

    5

    Tổng doanh thu/năm (triệu đồng)

    117,7

    44,016

    36

    300

     

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    (Ghi chú: n = 15; S.E là sai số chuẩn của trung bình mẫu; thành viên nữ không nằm trong ban quản lý

     

    nhưng nếu có vốn điều lệ từ 51% trở lên vẫn được coi là HTX/THT do nữ làm chủ).

     

    3.3. Phân tích những khó khăn, tồn tại của HTX và THT tại tỉnh Trà Vinh

     

    3.3.1. Khó khăn, tồn tại của HTX và THT

     

    Theo nhận định của lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, mặc dù HTX và THT có xu hướng tăng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên số đơn vị hoạt động thực sự hiệu quả và bền vững còn thấp, tỷ lệ HTX và THT giải thể hàng năm cũng còn khá cao. Trên toàn tỉnh, chỉ có khoảng 6 HTX là vận hành có hiệu quả thực sự theo mô hình doanh nghiệp nông nghiệp. Điều này có thể cho thấy, trình độ quản lý và vận hành của các HTX hiện nay còn rất hạn chế. Tỷ lệ HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu kém còn cao, vốn tự có thấp, đồng thời chưa có nhiều HTX xây dựng được thương hiệu sản phẩm.

     

    Mặc dù hoạt động theo hình thức tự chủ, tự nguyện tham gia HTX và THT, song nội lực vẫn chưa phát huy tối đa, vẫn còn nhiều đơn vị có tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Nhìn chung, trình độ cán bộ quản lý HTX tuy được nâng lên, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, tỷ lệ cán bộ quản lý HTX và THT chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn khá cao. Các đơn vị còn nhiều lúng túng trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất, kết nối chuỗi giá trị, và phát triển thị trường.

     

    Hoạt động kinh doanh, dịch vụ của HTX và THT là đa ngành nghề, tuy nhiên quy mô hoạt động còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng của các loại hình chưa đồng đều, chưa tạo được sự liên kết bền vững.

     

    3.3.2. Khó khăn và tồn tại của THX, THT do phụ nữ làm chủ

     

    Năng lực nội tại của các HTX và THT do nữ làm chủ của tỉnh Trà Vinh còn nhiều hạn chế, thể hiện ở trình độ học vấn, năng lực quản lý, quy mô sản xuất và hiệu quả kinh doanh.

     

    Các khó khăn của các HTX và THT do nữ làm chủ ở tỉnh Trà Vinh thể hiện ở các khía cạnh sau theo trình tự ưu tiên:

     

    1. Thiếu thị trường đầu ra cho sản phẩm;
    1. Nguồn vốn và tiếp cận vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh còn khó khăn;
    1. Giá cả thị trường thấp và không ổn định;
    1. Kiến thức về khoa học, kỹ thuật của các thành viên HTX và THT còn yếu;
    1. Phương tiện vận chuyển vật tư và sản phẩm chưa chủ động.

    Ngoài ra, năng lực cạnh tranh các sản phẩm của HTX và THT do nữ làm chủ còn yếu, đầu vào phục vụ sản xuất (vật tư, trang thiết bị, giống,…) chưa chủ động, thời tiết bất thường dẫn đến nhiều rủi ro trong sản xuất, trình độ của các TV không đồng đều, quan điểm bất đồng giữa các TV, thủ tục thành lập HTX và THT còn phức tạp.

     

    Hơn nữa, các yếu tố về giới là một trong những hạn chế và rào cản đối với phụ nữ làm chủ HTX và THT. Kết quả thảo luận nhóm cho thấy, các hạn chế sau của phụ nữ so với năm giới:

     

    • Yếu tố năng lực tài chính: không có vốn;
    • Yếu tố văn hóa và giới: chăm sóc gia đình và con cái; nam giới quyết định mọi việc trong gia đình;

    112                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    • Năng lực và đặc điểm phụ nữ: trình độ bản thân; ngại va chạm và thiếu tự tin trong giao tiếp; sợ rủi ro trong kinh doanh và vay nợ; và yếu tố sức khỏe.

    Mặt khác, cơ chế, chính sách hỗ trợ HTX/THT cũng chưa thực thông thoáng và khuyến khích HTX/THT phát triển tại địa phương. Đây cũng là những khó khăn trở ngại cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế này.

     

    Bảng 2. Quan điểm về chính sách ưu tiên HTX/THT do phụ nữ và phụ nữ người dân tộc làm chủ

     

    Quan điểm

    Số người

    Tỷ lệ (%)

     

    trả lời

         
     

    Hoàn toàn đồng ý

    2

    13,3

     

    Đồng ý

    3

    20,0

     

    Đồng ý một phần

    7

    46,7

     

    Không đồng ý

    3

    20,0

     

    Tổng

    15

    100,0

    (Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả, 2018)

     

    Mặc dù tỉnh đã có chủ trương khuyến khích vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, tuy nhiên vẫn chưa có các chính sách đặc thù trong việc hỗ trợ các HTX/THT do nữ làm chủ và nữ là người dân tộc làm chủ tại địa phương.

     

    4. Kết luận

     

    Với đặc thù là tỉnh có tới 82,3% dân số sống

     

    • nông thôn, hoạt động sản xuất nông nghiệp thông qua các mô hình KTHT đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KT-XH của toàn tỉnh. Số lượng HTX và THT trên toàn tỉnh có xu hướng tăng lên về số lượng, do đó chứng minh vai trò của KTHT ở Trà Vinh ngày càng cao. Tuy nhiên, đa số HTX và THT hiện nay còn hạn chế nhiều về năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn mang tính thụ động và hiệu quả chưa cao.

    HTX và THT do nữ làm chủ chiếm tỷ lệ còn rất thấp so với tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh. Trình độ học vấn, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Đồng thời, các HTX và THT do nữ làm chủ còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn sản xuất, thị trường đầu ra cũng như năng lực về

     

    khoa học kỹ thuật. Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương còn ít, đồng thời chưa có những chính sách đặc thù cho nhóm phụ nữ và phụ nữ người dân tộc.

     

    Do đó, chính quyền địa phương cần có những chính sách và hình thức hỗ trợ sau nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT trong phát triển KT-XH và bình đẳng giới tại địa phương:

     

    • Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh cho các HTX và tổ hợp tác trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường các hỗ trợ về chuyển giao khoa học công nghệ và trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Tìm kiếm và kết nối thị trường đầu ra cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh, đồng thời hỗ trợ xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm địa phương.
    • Xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới nhằm nâng cao chất lượng các HTX hiện có, đồng thời khuyến khích các THT phát triển thành các HTX.
    • Tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn, và các chính sách đặc thù hỗ trợ và khuyến khích các HTX và THT do nữ làm chủ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • MPI, “Giới thiệu tổng quan về tỉnh Trà Vinh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư”, http://www. gov.vn/Pages/tinhthanhchitiet.aspx?idTin hThanh=17, 2017.
    • GSO, Dữ liệu thống kê về diện tích tự nhiên và mật độ dân số bình quân tỉnh Trà Vinh năm 2016, Tổng cục Thống kê, 2016.
    • Sở KH&ĐT, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2017 và Kế hoạch 2018 (Số 08/BC-UBND tỉnh Trà Vinh, ngày 18/1/2018),
    • GSO, Dữ liệu thống kê về dân số, lao động tỉnh Trà Vinh năm 2017, Tổng cục Thống kê, 2017.
    • LM HTX TV, Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hoạt động của LM HTX tỉnh Trà Vinh năm 2017, nhiệm vụ trọng tâm năm 2018, Báo cáo số

    138-BC-LMT ngày 29/12/2017, 2017.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          113

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    114                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Kinh-t%E1%BA%BF-t%C6%B0-nh%C3%A2n-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BB%8Bnh-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 165 – 169

    e-ISSN: 2615-9562

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ngô Cẩm Tú

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế tư nhân ở nước ta còn bộc lộ một số hạn chế. Để nghiên cứu rõ hơn về kinh tế tư nhân, bên cạnh việc chỉ ra những thành tựu cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân, trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá những hạn chế của kinh tế tư nhân trong những năm qua. Từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân; thành tựu; hạn chế; kinh tế thị trường; định hướng XHCN.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 17/6/2019; Ngày duyệt đăng: 18/6/2019

     

    THE PRIVATE ECONOMY IN THE SOCIALIST MAKET

    ECONOMY IN VIETNAM TODAY

     

    Ngo Cam Tu

    TNU – University of Information Technology and Communication

     

    ABSTRACT

     

    After more than 30 years of renovation, the private economy in Vietnam has been constantly developing, making a valuable contribution to the country’s renovation and socio-economic development. However, compared to the requirements of the period of accelerating industrialization and modernization associated with the development of knowledge economy and international economic integration, the private economy in the country also reveals some limitations. In order to study the private economy thorougly, besides generalizing the process of innovation of the Party’s thinking about the private economy, the author focused on assessing the status of the private economy in recent years. Since then, several initial solutions are proposed to overcome the limitations so that the private economy really becomes the driving force of the socialist-oriented market economy in Vietnam today.

     

    Keywords: Private economy; achievements; limit; market economy; socialist orientation.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 17/6/2019; Approved: 18/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         165

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân. Việc thừa nhận sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một bước phát triển trong tư duy của Đảng. Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế tư nhân được coi là kinh tế phi xã hội chủ nghĩa không có vai trò động lực thúc đẩy nền kinh tế, là đối tượng bị cải tạo và xóa bỏ. Việc nóng vội xóa bỏ kinh tế tư nhân là một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất và dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Bắt đầu từ Đại hội VI (12-1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện Đảng. Từ năm 1986 đến năm 1998, Đảng ta đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế tư nhân, tuy nhiên về chính sách và luật pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế này vẫn còn nhiều hạn chế. Đại hội IX (1-2001), Đảng ta khẳng định “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.[1] Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”[2]. Đại hội XI (năm 2011) xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân. Đại hội XII (năm 2016) của Đảng khẳng định “một động lực quan trọng” của nền kinh tế và nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[3].

     

    Như vậy, để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế cần nghiên cứu, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổng hợp… để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu.

     

    3. Nội dung

     

    3.1. Khái quát những thành tựu cơ bản của kinh tế tư nhân trong thời gian qua

     

    • Một là, trong những năm qua kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển và có những đóng góp ngày càng lớn mạnh vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100.000 doanh nghiệp thành lập mới. Trong hai năm 2017 – 2018 có gần 259.000 doanh nghiệp được thành lập mới. Kinh tế tư nhân đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; các doanh nghiệp mở rộng thị trường, liên kết đầu tư sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
    • Hai là, kinh tế tư nhân phát triển trên nhiều phương diện; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có một số những doanh nghiệp tư nhân với quy mô rất lớn như: Trường Hải, Vinamilk, Hòa Phát, Vingroup… với những bước tiến mạnh mẽ về đầu tư và công nghệ. Ví dụ như: Tập đoàn SunGroup đầu tư xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn hay tập đoàn Vinfast cho ra mắt dòng sản phẩm xe hơi đầu tiên ở Việt Nam…

    166                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Ba là, kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng 39-40% GDP; năm 2018 đóng góp 42,1% GDP của nền kinh tế. Sự tăng trưởng và mở rộng ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước.
    • Bốn là, kinh tế tư nhân tạo công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống cho nhân dân đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động trong nước và quốc tế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân còn đóng góp to lớn vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, các công trình phúc lợi xã hội… góp phần đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.

     

    • Năm là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.

    3.2. Những hạn chế cơ bản của kinh tế tư nhân

     

    Bênh cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, kinh tế tư nhân còn có một số những hạn chế, những đóng góp của kinh tế tư nhân chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Biểu hiện cụ thể như sau:

     

    • Thứ nhất, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng chưa có có sự thay đổi như kỳ vọng. Trong những năm qua, Nhà nước ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân và có khá nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp dân doanh nhưng sức sống của doanh nghiệp tư nhân khá èo uột. Hàng năm có gần một trăm ngàn doanh nghiệp được thành lập mới nhưng khoảng 50% số đó bị giải thể hoặc phá sản. Theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp năm 2017/2018 của Phòng Công nghiệp và thương

    mại Việt Nam (VCCI): năm 2017 có 126.859 doanh nghiệp doanh nghiệp đăng ký thành lập thì có 60.553 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 47.8%; năm 2018 có trên 131.200 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì có 90.651 doanh nghiệp (chiếm 69%) tạm ngừng hoạt động, trong đó 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể. Tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP gần như không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2016, thậm chí còn có xu hướng giảm (Bảng 1).

     

    • Thứ hai, quy mô của kinh tế tư nhân phổ biến là nhỏ và siêu nhỏ. Do đó, năng lực đầu tư cho công nghệ và khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Nếu tính cả các hộ kinh doanh cá thể thì có tới 90% cơ sở kinh tế tư nhân có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng. Riêng trong khối doanh nghiệp thì lượng vốn bình quân 1 doanh nghiệp tư nhân khoảng 27 tỷ đồng, trong khi vốn của doanh nghiệp nhà nước là 2.616 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 372 tỷ đồng.
    • Thứ ba, năng lực quản lý và tổ chức sản xuất còn lạc hậu, không chuyên nghiệp, mang nặng tính gia đình; chưa thực sự theo hướng hiện đại để bắt kịp xu thế của sản xuất kinh doanh trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    • Thứ tư, chất lượng sản phẩm, dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đa số là đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước. Các doanh nghiệp của Việt Nam hiện chưa thực sự mạnh dạn đầu tư công nghệ, kinh doanh với công nghệ thô sơ mang tính tự phát do đó sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng của sản phẩm Việt Nam còn hạn chế so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia…

    Bảng 1. Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong GDP giai đoạn 2000 – 2016

    Đơn vị tính: %

    Năm

    2000

    2005

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    Kinh tế Nhà nước

    Kinh tế tập thể

    Kinh tế tư nhân

     

    Kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài

     

    38,52

    37,62

    29,34

    29,01

    29,39

    29,01

    28,73

    28,69

    28,50

    8,56

    6,65

    3,99

    3,98

    4,00

    4,03

    4,04

    4,01

    3,95

    39,62

    41,47

    38,97

    39,89

    40,62

    39,49

    39,29

    39,13

    39,40

    13,28

    15,16

    15,15

    15,66

    16,04

    17,36

    17,89

    18,07

    18,20

    Nguồn: Kinh tế 2016 – 2017: Việt Nam và thế giới, Thời báo kinh tế Việt Nam, tr.102

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          167

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    • Thứ năm, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp: Hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA), hiệu suất sinh lời trên vốn (ROE), hiệu suất sinh lời trên doanh thu (ROS) của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng ¼ so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bằng ½ so với doanh nghiệp nhà nước. Các chỉ số trên trong năm 2015 như sau:

    Bảng 2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh

    của DN theo loại hình kinh tế

     

    Đơn vị tính: %

    Chỉ số

    Kinh tế tư

    Kinh tế

    Kinh tế có

     

    nhân

    nhà nước

    vốn ĐTNN

    ROA

    2,9

    6,6

    12,9

    ROE

    5,7

    13,9

    24,8

    ROS

    4,6

    8,0

    10,6

    Nguồn: Tạp chí Lý luận chính tri, số 9/2017, tr.77

     

    • Thứ sáu, có nhiều yếu tố văn hóa mà đội ngũ các chủ doanh nghiệp tư nhân còn thiếu: thiếu tính liên kết, tính cộng đồng, hỗ trợ nhau trong kinh doanh; thiếu tầm nhìn dài hạn; trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh chưa được coi trọng; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc trong kinh doanh. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII (Nghị quyết số 10-NQ/TW) đã chỉ rõ: “Tình trạng vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Việc sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm”, gây hậu quả xấu về kinh tế – xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

    3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Về phía nhà nước:

     

    • Môi trường kinh doanh còn hạn chế, khu vực kinh tế tư nhân còn nhiều rào cản. Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2019 môi trường kinh doanh của Việt Nam

    xếp hạng 69/190 nền kinh tế được khảo sát.

     

    • Hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

    Về nội tại khu vực kinh tế tư nhân:

     

    • Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực quản lý có trình độ thấp. Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực quản lý và quản trị doanh nghiệp.
    • Thiếu vốn: Các cơ sở kinh tế tư nhân chủ yếu hoạt động nhờ vốn đi vay nhưng lại không đủ các điều kiện vay vốn từ các ngân hàng thương mại do không có chiến lược kinh doanh dài hạn, không đủ uy tín với các tổ chức, tín dụng, thủ tục vay vốn phức tạp, lãi suất cao.
    • Trình độ công nghệ lạc hậu: Hiện nay, máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất mà các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đang sử dụng tụt hậu so với mức trung bình của thế giới khoảng 40 – 50 năm. Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ thấp, hệ số công suất sử dụng máy móc, thiết bị chỉ đạt khoảng

    25 – 30%.

     

    • Chủ thể sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân chưa có triết lý kinh doanh sáng rõ; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc.

    3.4. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Về phía nhà nước:

     

    • Hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách, môi trường tâm lý xã hội trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân.
    • Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật. Đảm bảo cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường.

    168                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động.
    • Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn, công nghệ. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thay đổi chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài.
    • Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
    • Thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
    • Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực.
    • Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
    • Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    • Đổi mới nội dung, phương thức tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân.
    • Các cấp ủy đảng tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương nhất quán trong phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân.
    • Cùng với việc quán triệt, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các địa phương đều xác định lấy hiệu quả hoạt động để vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp và người lao động tích cực tham gia vào tổ chức, thành lập và duy trì hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể chính trị – xã hội.

    Về phía các chủ thể kinh tế tư nhân:

     

    • Trước hết, các chủ thể kinh tế tư nhân cần nhận thức rằng: động lực của mọi sự phát triển nằm ở bên trong sự vật. Vì vậy để phát triển thì các chủ thể phải tự thân vận động, không nên trông chờ vào sự hỗ trợ ngày càng lớn từ phía nhà nước. Môi trường vĩ mô tác động tới khu vực kinh tế tư nhân là yếu tố khách quan và bình đẳng với mọi chủ thể trong cùng khu vực kinh tế. Vì vậy chỉ có những chủ thể thông minh, bản lĩnh mới có thể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.
    • Thứ hai, phải rất coi trọng việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt: về lý luận chính trị, về chuyên môn nghề nghiệp, về kỹ năng quản lý và về các kỹ năng mềm khác (kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, khả năng ngoại ngữ…).
    • Thứ ba, phải xây dựng cho mình một triết lý kinh doanh thông thái, phù hợp với thời đại và phải kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp với việc thực hiện trách nhiệm xã hội.

    4. Kết luận

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Để phát huy vai trò đích thực của kinh tế tư nhân cần đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế trong những năm qua và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó. Mặt khác phải có sự đồng tâm, nhất trí của tất cả các lực lượng xã hội để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, phần II, tr. 25.
    • Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

    XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội,

    2016, tr. 108.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          169

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    170                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-kinh-t%E1%BA%BF-trong-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-qua-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%A1c-Li%C3%AAu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 199 – 203

    e-ISSN: 2615-9562

     

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

    (QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TỈNH BẠC LIÊU)

     

    Đào Thị Bích Hồng

    Trường Đại học Bách khoa – ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

     

    TÓM TẮT

     

    Một trong những nội dung cốt lõi của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế cả nước nói chung và mỗi địa phương nói riêng. Bạc Liêu là một tỉnh ven biển, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có ưu thế trong phát triển nông nghiệp. Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bạc Liêu đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Quá trình đó đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế. Từ góc độ lịch sử kinh tế, bài viết này nhằm làm sáng tỏ những yếu tố tác động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu từ năm 1997 đến năm 2018, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương khác trong cả nước.

     

    Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; kinh tế; công nghiệp hóa; hiện đại hóa; tỉnh Bạc Liêu.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 22/6/2019; Ngày duyệt đăng: 24/6/2019

     

    SHIFTING THE ECONOMIC STRUCTURES IN THE PERIOD OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION (RESEARCH BASED ON EMPIRICAL EVIDENCES IN BAC LIEU PROVINCE)

     

    Dao Thi Bich Hong

    VNUHCM – University of Science and Technology

     

    ABSTRACT

     

    One of the core contents regarding the process of developing social-economy and enhancing the industrialization and modernization is the economic structure formation and transformation of the country, in general and of each local, in particular. Bac Lieu is a coastal province belonging to the Mekong Delta area, which posseeses remarkable advantages in agricultural development. In the process of industrialization and modernization, Bac Lieu has gradually and effectively shifted its economic structure, especially the agricultural economic structure. The process has achieved some certain results. However, several limitations are still remained. From an economic – historical perspective, this article aims to clarify the factors affecting as well as the process of the economic restructuring in Bac Lieu province from 1997 to 2018, and eventually remark some prominent and noteworthy experiences for the economic restructuring of the country.

     

    Keywords: Shifting the economic structures; economic; industrialization; modernization; Bac Lieu province.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 22/6/2019; Approved: 24/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         199

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bạc Liêu là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Tổ quốc, được tái lập (ngày 1-1-1997). Nền kinh tế của Bạc Liêu trước ngày tái lập tỉnh mang nặng tính chất thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, kết cấu hạ tầng yếu kém, hệ thống giao thông nông thôn, nguồn lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… Đó là đặc điểm quy định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bạc Liêu phải bắt đầu từ nông nghiệp.

     

    2. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Để làm rõ quá trình tỉnh Bạc Liêu tiến hành chuyến dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2018, trên cơ sở khảo cứu tài liệu, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước, bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận lịch sử và các phương pháp phân tích chính là thống kê mô tả, tổng hợp để làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu bao gồm những yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những thành tựu, hạn chế; và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử làm cơ sở cho các nhà khoa học và các cấp quản lý tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi địa phương và trong cả nước.

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Từ chủ trương phát triển nền nông nghiệp toàn diện đến thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững

     

    Xuất phát từ thực tiễn Bạc Liêu những năm đầu mới được tái lập, Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (1997) xác định nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Phát triển nhanh, vững chắc và toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trên cơ sở gắn chặt với thị trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh” [1].

     

    Do xuất phát điểm thấp, lại là một tỉnh thuần nông nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bạc Liêu trong những năm 1997-2000 là tập trung vào phát triển nông nghiệp, xem đây là mặt trận quan trọng nhất để thúc đẩy sản xuất. Biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh tăng năng suất, áp dụng tiến bộ của khoa học – công nghệ vào sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích. Coi nông nghiệp là hướng chính để tạo bước chuyển biến cho nền kinh tế là sự lựa chọn đúng. Song với một tỉnh ven biển, để khai thác được lợi thế của từng vùng, bên cạnh trồng lúa thì nuôi trồng thủy sản cũng là sự lựa của tỉnh Bạc Liêu: “Tỉnh Bạc Liêu không thể tiến nhanh, tiến mạnh nếu chỉ độc canh cây lúa nước mà phải nhanh chóng chuyển đổi từ cây lúa, cây màu và những cây không có giá trị kinh tế cao sang nuôi trồng thủy sản” [2]. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của kinh tế thủy sản trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đại hội lần thứ XII (2001) và XIII (2006) của Đảng bộ tỉnh đều khẳng định: Tập trung chỉ đạo, đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa các loại thủy sản, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, bảo đảm phát triển bền vững và hiệu quả…” [3].

     

    Gắn với sự phát triển bền vững, theo chiều sâu cùng với khai thác hiệu quả hơn nữa lợi thế của địa phương, Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV (2011) đặt ra mục tiêu tập trung “đầu tư khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là kinh tế biển, du lịch, sản xuất nông nghiệp; đẩy nhanh phát triển công nghiệp, đặc biệt là những dự án trọng điểm để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh” [4].

     

    Để thực hiện khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của Bạc Liêu, nhất là kinh tế biển và sản xuất nông nghiệp, Đại hội Đảng bộ lần thứ XV (2016), đặc biệt lưu ý đến giải pháp: “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng

     

    200                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    dịch vụ, công nghiệp; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại; phát triển mạnh dịch vụ – du lịch; phát triển đô thị hài hòa với nông thôn” [5].

     

    Như vậy, nếu như những năm 1997-2000, hướng chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh, tăng năng suất; trong những năm 2001-2010, hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là từng bước đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; đến những năm 2011-2015, phát triển kinh tế biển được ưu tiên hàng đầu; thì những năm 2015-2020, chủ trương thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế của Bạc Liêu theo hướng phát huy tối đa lợi thế, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng hiệu quả, bền vững, xây dựng Bạc Liêu thành tỉnh có nền nông nghiệp công nghệ cao.

     

    3.2. Tập trung phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, tạo sự phát triển hiệu quả cho kinh tế Bạc Liêu

     

    Trên cơ sở ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò quan trọng kinh tế tư nhân, các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016) đều chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Đại hội X của Đảng (năm 2006) khẳng định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” [6]. Đặc biệt, Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh chủ trương: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” [7].

     

    Bạc Liêu là một tỉnh với xuất phát điểm sản xuất nhỏ, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy việc phát triển các thành phần kinh tế, khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển

     

    kinh tế của tỉnh là yêu cầu cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn của Bạc Liêu, Đảng bộ tỉnh khẳng định: “Nhà nước khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, quản lý, kinh doanh tự đầu tư hoặc liên kết, liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển ngành, nghề dịch vụ, công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế trang trại, sử dụng nhiều lao động” [8].

     

    Xác định là một tỉnh nằm xa các trung tâm kinh tế lớn, nên việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, trong những năm qua, Bạc Liêu xem việc phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của địa phương.

     

    Tạo điều liện cho kinh tế tư nhân phát triển, tỉnh Bạc Liêu đã tích cực cải cách hành chính, rà soát, loại bỏ những thủ tục không phù hợp, không cần thiết; áp dụng cơ chế “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện giao dịch.

     

    Để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh, phát huy nguồn nội lực, ngày 28-6-2012, Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; ngày 15-8-2012, ban hành Kết luận số 09-KL/TU về một số chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh năm 2012 và những năm tiếp theo… Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, Bạc Liêu đã có tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh; cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh hấp dẫn, thông thoáng, đơn giản hóa các hồ sơ, thủ tục hành chính; tháo gỡ khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

     

    Nhờ quyết tâm khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt thu hút nguồn lực từ kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân của tỉnh

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          201

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    có sự chuyển biến mạnh mẽ. Chỉ số cạnh tranh tăng lên hàng năm. Thu hút đầu tư trong những năm 2010-2015 tăng 55 lần so với những năm 2006-2010*.

     

    3.3. Phát triển kinh tế biển, khai thác lợi thế của Bạc Liêu là bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng

     

    Bạc Liêu là tỉnh có đường bờ biển khoảng 56 km, vùng lãnh hải rộng hơn 40 nghìn km2, diện tích đất nuôi trồng thủy sản lớn, tài nguyên từ biển, tiềm năng gió… Vì vậy phát triển kinh tế biển cũng là lợi thế của Bạc Liêu. Để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từ biển, phấn đấu trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển và làm giàu từ biển, ngày 24-4-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra Nghị quyết 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A đến năm 2015 và những năm tiếp theo. Nghị quyết nhấn mạnh những nhiệm vụ Bạc Liêu cần tập trung vào giải quyết như: (1) Đầu tư xây dựng các công trình, dự án động lực để làm đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng và cả tỉnh; (2) Phát triển nuôi trồng thủy sản; (3) Khai thác, đánh bắt hải sản; (4) Phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế biển… [9].

     

    Nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của người nông dân, tình hình phát triển phát triển kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn luôn duy trì ở mức cao. Năm 2017, GDP thực tế (GRDP) nông, lâm, thủy sản đạt 10.545 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), chiếm 42% GRDP toàn tỉnh. Từ một nền nông nghiệp độc canh cây lúa, mang tính “tự cung tự cấp”, Bạc Liêu đã hình thành vùng sản xuất mà chủ lực là cây lúa gồm 68.000 ha

     

    • Trong năm 2011-2015, Bạc Liêu thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 98 dự án về phát triển kinh tế – xã hội, tổng số vốn đầu tư hơn 20 ngàn tỷ đồng. Tăng gấp 55 lần so với 2006-2010 (Tỉnh ủy Bạc Liêu, (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Bạc Liêu, tr. 127).

    và vùng sản xuất tôm nước lợ với hơn 124.000 ha; chuyển đổi gần 2/3 diện tích đất sản xuất, trong đó chuyển đổi gần 60.000 ha đất lúa sang nuôi trồng thủy sản để thích ứng biến đổi khí hậu. Nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu quả rất cao như mô hình nuôi tôm “sạch”, nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính, nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, quảng canh cải tiến kết hợp tôm – cua – cá, mô hình lúa – tôm… Qua đó, sản phẩm sạch trong sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng được đòi hỏi khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng.

     

    Những chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần nâng cao đời sống cho người dân Bạc Liêu. Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người ở vùng nông thôn đạt 50 triệu đồng/năm; kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn được quan tâm đầu tư khá đồng bộ; chính sách an sinh xã hội và công tác giảm nghèo được quan tâm thực hiện tốt, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,3% [10].

     

    Bên cạnh những ưu điểm và thành công, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bạc Liêu cũng còn một số hạn chế nhất định:

     

    • Trong quá trình thực hiện quy hoạch sản xuất đang bộc lộ một số bất hợp lý giữa thực tế sản xuất với quy hoạch được duyệt; (2) Sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản của tỉnh còn ở trình độ thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu bền vững do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến bất lợi, dịch bệnh gây hại trên cây trồng, vật nuôi, thị trường không ổn định, giá cả nông sản, thực phẩm luôn biến động bất lợi cho người dân; (3) Sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng lại phân tán, manh mún, không gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản, thực phẩm chưa cao, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo; tình trạng bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thủy sản chưa giải quyết triệt để; nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức, ngày càng cạn kiệt; (4) Nhiều tiến bộ kỹ thuật chậm triển khai nhân rộng như công nghệ sau thu hoạch (máy gặt, máy sấy lúa,…), san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, dụng cụ sạ

    202                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    hàng, máy cấy; (5) Cơ cấu lao động chuyển dịch không đáng kể, quan hệ sản xuất chậm đổi mới, quá trình đô thị hoá nông thôn diễn ra chậm…

     

    Thực tiễn tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu, mà chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, với tất cả ưu điểm và hạn chế, thành công và chưa thành công, để lại một số kinh nghiệm quý báu, cụ thể như sau:

     

    Một là, phải xuất phát từ thực tiễn của địa phương, chủ động khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế và tiềm năng, đề ra chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả.

     

    Hai là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp với xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.

     

    Ba là, phải phát huy ý thức tự lực, tự cường, sáng tạo, huy động sức dân, dựa vào dân để tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng phát triển theo hướng hiện đại.

     

    Bốn là, phải luôn chú trọng nghiên cứu, ứng dụng kịp thời tiến bộ khoa học công nghệ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương.

     

    Năm là, quan tâm công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề cho người lao động, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm trong ngành nông nghiệp.

     

    Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp hài hòa với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững.

     

    Bảy là, chăm lo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, xác định đúng chủ trương, biện pháp; xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

    1. Kết luận

    Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, vấn đề chuyển dịch cơ cấu

     

    kinh tế và mở cửa chủ động hội nhập quốc tế ngày càng quan trọng trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1997 – 2018 đã đạt được những kết quả nhất định; khẳng định trong thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ với tinh thần chủ động và sáng tạo; khẳng định quyết tâm của nhân dân Bạc Liêu ra sức phấn đấu đến năm 2020, Bạc Liêu đứng vào tốp các tỉnh khá trong khu vực và trung bình khá của cả nước. Đó là những yếu tố rất quan trọng để tỉnh Bạc Liêu tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

     

    Lời cám ơn

     

    Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG – HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số C2017-20-07. Tác giả chân thành cảm ơn sự tài trợ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho nghiên cứu này.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XI, 1997, tr. 7.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Niên giám thống , 2008.
    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIII, 2006, tr. 45.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIV, 2011, tr. 33.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, 2015, tr. 79.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 107-108.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Kế hoạch số 14-KH/TU thực hiện Nghị quyết 06 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, 1999, tr. 7-8.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Nghị quyết số 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A tỉnh Bạc Liêu đến năm 2015 và những năm tiếp theo, 2012.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Thực trạng kinh tế – xã hội Bạc Liêu (1997-2001), 2002.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CHUY%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U-KINH-T%E1%BA%BE-T%E1%BB%88NH-TH%C3%81I-NGUY%C3%8AN-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-1997-%E2%80%93-2017.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 45 – 50

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh1*, Hoàng Thị Mỹ Hạnh2

    1 Khoa Ngoại Ngữ – ĐH Thái Nguyên

    2 Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Bắc. Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, từ sau ngày tái lập tỉnh (1/1/1997) đến năm 2017, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã có những chủ trương hợp lý, đúng đắn cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Thái Nguyên đang từng bước hòa nhập với nền kinh tế thị trường của cả nước và thế giới trong thế kỉ XXI.

     

    Từ khóa: Thái Nguyên; nguồn lực; kinh tế; chuyển dịch; cơ cấu.

     

    Ngày nhận bài: 06/03/2019; Ngày hoàn thiện: 23/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    THAI NGUYEN ECONOMIC STRUCTURE TRANSFORMATION

    THE PERIOD 1997 – 2017

     

    Nguyen Thi Thu Oanh1*, Hoang Thi My Hanh2

    1 TNU – School of Foreign Languages

     

    2 TNU – College of Education

     

    ABSTRACT

     

    Thai Nguyen is one of the political, economic and culture of the Northeast. Integrated with the development of the country, since after the re-establishment (1/1/1997) to 2017, Thai Nguyen has gradually economic restructuring towards industrialization and modernization.With its favorable geographical location, land, diverse mineral resources, rich, eco-tourism potential, tourism, history, tourist attractions, the province of Thai Nguyen has many favorable conditions thatmany northern mountainous provinces, help to Thai Nguyen has the potential to develop, not only now, but also in the future. Thai Nguyen Provincial Party has advocated Rational and proper for the sustainable development of the province. Thai Nguyen is gradually integrated with the market economy of the country and the world in the XXI century.

     

    Keyword: Thai Nguyen; resources; economy; transition; structure.

     

    Received: 06/03/2019; Revised: 23/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           45

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    1.   Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

     

    • Vị trí địa lý

    Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc, diện tích tự nhiên 3.526,20 km2 nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 21o19’ đến 22o03’ vĩ độ bắc và 105o29’ đến 106o15’ kinh độ đông [1]. Thái Nguyên phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.

     

    Thái Nguyên có rất nhiều cơ sở kinh tế, văn hóa, quốc phòng có tầm chiến lược của đất nước: Khu công nghiệp Gang thép, Khu công nghiệp Sông Công, 8 trường Đại học, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Bộ Tư lệnh Quân khu I. Nằm kề phía Bắc thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên còn có lợi thế rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả hiện tại và trong tương lai. Tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các mối liên kết về du lịch, dịch vụ với các địa phương lân cận trong và ngoài vùng (Hà Nội, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang…).

     

    Quốc lộ 3 nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước, đồng thời chạy qua huyện Phú Lương lên Bắc Kạn, Cao Bằng để có thể tới biên giới Việt – Trung.

     

    Ngoài ra, các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh. Tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều và tuyến đường sắt Thái Nguyên – Uông Bí là mạch giao thông quan trọng giữa Thái Nguyên với đồng bằng và vùng Đông Bắc.

     

    Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là một trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa, trung tâm đào tạo lớn của đất nước.

     

    1.2. Khí hậu

     

    Cũng như các địa phương khác thuộc miền Bắc Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa biến tính, có hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh mát, mùa mưa nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân là 230C, độ ẩm bình quân là 80%.

     

    1.3. Hệ thống sông, suối, hồ và trữ lượng nước

     

    Thái Nguyên có một hệ thống sông ngòi khá dày. Nguồn nước mặt của Thái Nguyên chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp. Hệ thống sông gồm có: Sông Cầu, sông Chu, sông Đu, sông Công, sông Nghinh Tường, sông Khe Mo

     

    – Huống Thượng. Đại bộ phận lãnh thổ thuộc hệ thống sông Cầu, cứ 1 km2 có 0,93 km sông; sông Công 1,2 km sông/km2; sông Nghinh

    Tường 1,05 km sông/km2. Bên cạnh nguồn nước mặt, Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn, khoảng 3 tỷ m3, nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế [1].

     

    1.4. Địa hình, đất đai

     

    Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 352.621,50 ha [2], Thái Nguyên có các loại đất sau: Đất Feralit đỏ vàng chiếm phần lớn đất đồi núi của tỉnh. Đất thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp; đất đá vôi; đất đầm lầy; đất ruộng lúa (đất có nguồn gốc từ đất Feralit, đất đá vôi, hoặc đất phù sa các sông Cầu, sông Công, sông Chu… Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi, nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác. Đây cũng là một thuận lợi của tỉnh trong việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung mà nhiều tỉnh trung du miền núi khác không có.

     

    Thái Nguyên có 165,1 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 104,8 nghìn ha và rừng trồng có trên 60 nghìn ha. Rừng phòng hộ có diện tích gần 55,6 nghìn ha, rừng đặc dụng gần 28,2 nghìn ha và rừng kinh tế 81,4 nghìn ha. Tổng diện tích đất chưa sử dụng có trên 49 nghìn ha, trong số này có trên 39 nghìn ha có khả năng phục vụ mục đích lâm nghiệp [2].

     

    Về tính đa dạng sinh học, có thể thấy Thái Nguyên khá đa dạng về các loài động thực vật, đặc biệt có nhiều loại cây con dược liệu quý có thể phát triển ở quy mô sản xuất hàng hóa.

     

    1.5. Tài nguyên rừng và khoáng sản

     

    Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Hiện đã phát hiện

     

    46                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    177 điểm quặng và mỏ khoáng sản với hơn 30 loại hình khoáng sản khác nhau phân bố tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai… [3]. Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như quặng, sắt, than (đặc biệt là than mỡ). Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng…

     

    1.6. Tài nguyên du lịch

     

    Tài nguyên du lịch của Thái Nguyên rất đa dạng. Trong đó, hồ Núi Cốc với diện tích 25 km2 cùng nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ đã mở ra tiềm năng du lịch lớn nhất tỉnh. Khu du lịch Hồ Núi Cốc cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía tây, với phong cảnh sơn thủy hữu tình đã trở thành khu du lịch lớn nhất của tỉnh, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, kéo theo sự phát triển của các loại hình dịch vụ du lịch, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, đồng thời mang lại cho tỉnh khoản thu không nhỏ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có bãi đá cổ Thần Sa, Mái Đá Ngườm, nơi được coi là cái nôi của người tiền cổ. Cùng với đó, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, thác Mưa Roi (huyện Võ Nhai), thác bảy tầng, cây đa nghìn tuổi (huyện Định Hóa)… là những tiềm năng du lịch lớn của tỉnh [3].

     

    Thái Nguyên còn có tài nguyên du lịch nhân văn khá lớn với nhiều di tích lịch sử, công trình kiến trúc, nghệ thuật, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số… Thái Nguyên là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, thủ đô kháng chiến – “Thủ đô gióa ngàn” trong kháng chiến chống thực dân Pháp. An toàn khu (ATK) với nhiều địa danh như: đồi Tỉn Keo – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc; khu nhà làm việc của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng là những di tích lịch sử vô cùng quý giá. Bên cạnh đó, với vị trí là trung tâm văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi, có Bảo tàng văn hóa của các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên có lợi thế lớn để phát triển đa dạng các loại hình du lịch.

     

    Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai.

     

    2.   Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

     

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung

    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên tăng trung bình 40,4%/năm. Năm 2000 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chung đạt 1526,57 tỷ đồng (theo giá thực tế) đến năm 2010 tăng gấp 5,04 lần đạt 7696,58 tỷ đồng. Trong đó, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng nhanh nhất từ 1445,13 tỷ đồng lên 7368,58 tỷ đồng (2000 – 2010); giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2010 tăng 3,19 lần so với năm 2000; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2000 là 30,80 tỷ đồng tăng lên 166,30 tỷ đồng năm 2010. Đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,75% (cao nhất trong vùng và cao gấp gần hai lần mức bình quân chung cả nước); cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, thương mại và dịch vụ. Năm 2017, khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 55,4%; khu vực dịch vụ chiếm 32%; khu vực nông – lâm – thủy sản chiếm 12,6%.

     

    Cơ cấu giá trị nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2017 đã có sự chuyển dịch, tuy nhiên chưa rõ nét và ổn định do chịu nhiều tác động của yếu tố thị trường và dịch bệnh bùng phát trong những năm gần đây. Nhìn chung, trong cơ cấu giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ngành nông nghiệp giữ vị trí chủ yếu luôn chiếm trên 90% giá trị sản xuất. Điều này được lý giải do trong những năm vừa qua tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng đầu tư vào một số mặt hàng chủ yếu (cây trồng, vật nuôi) tạo năng suất và sản lượng cao, tạo dựng thương hiệu mạnh trên thị trường trong và ngoài tỉnh như: chè Tân Cương, gạo Bao Thai – Định Hoá,…

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            47

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    2.2. Ngành nông – lâm – thủy sản

     

    Đây là ngành giữ vai trò chủ đạo trong ngành kinh tế của tỉnh. Nhìn chung nông nghiệp và nông thôn Thái Nguyên trong những năm vừa qua có những chuyển biến tích cực, sản phẩm lương thực tăng nhanh và cơ bản bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ. Cơ cấu kinh tế trồng trọt, chăn nuôi và khai thác, dịch vụ nông-lâm-thủy sản đang từng bước chuyển đổi tích cực và sản xuất thêm nhiều mặt hàng, tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân. Tỷ trọng nông – lâm -thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm từ 33,68% (2000) xuống còn 21,73% năm 2010 và đến năm 2017 chiếm 12,6%.

     

    Tiềm năng phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh khá dồi dào. Năm 1997, diện tích trồng rừng là 2.175 ha, tăng 3,1%, đến năm 2017, đã tăng lên 6.684 ha [2]. Thái Nguyên tích cực triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từng bước chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, an toàn (tỉnh đang triển khai thí điểm việc dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn…,) phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một trong những điểm mới của Thái Nguyên là sự hình thành kinh tế trang trại. Năm 2017, toàn tỉnh có hơn 1.000 trang trại, với quy mô vừa và nhỏ. Ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị nông – lâm – thuỷ sản của tỉnh.

     

    Có thể nói, từ năm 1997 – 2017, nông – lâm – thủy sản là những ngành kinh tế sản xuất quan trọng của tỉnh. Ngành này đang từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hoá. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của tỉnh là thóc, chè, lạc, đậu tương, gia súc, gia cầm, hoa quả tươi. Cơ cấu sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi được chuyển dịch phù hợp với nhu cầu thị trường.

     

    2.3. Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

     

    Trong thời kỳ 1997 – 2017, GDP ngành tăng bình quân hằng năm 38,6%. Tỷ trọng của ngành trong GDP toàn tỉnh liên tục tăng lên

     

    qua các năm. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, từng bước khẳng định xu thế đúng đắn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

     

    Công nghiệp có bước phát triển vượt bậc. Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh tính theo giá so sánh 1994 đạt 4.760 tỷ đồng năm 2005. Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) trên địa bàn là 9.912 tỷ đồng, bằng 99,6% kế hoạch đầu năm và bằng 101,66% kế hoạch điều chỉnh, tăng 13,3% so với năm 2008. Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân năm 2017 đạt hơn 571 nghìn tỷ đồng (đứng thứ 7 trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước). Giá trị xuất khẩu bình quân năm 2017 tăng 23% đạt 23,563 tỷ USD (chiếm khoảng 11% giá trị xuất khẩu chung của cả nước). Khu vực kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong ngành công nghiệp tỉnh và thường xuyên đóng góp trên 70% cho giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh [2].

     

    Đến năm 2017, toàn tỉnh có trên 10.452 cơ sở sản xuất công nghiệp. Trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, điển hình là Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty vật liệu xây dựng, Điện lực Thái Nguyên, Công ty phụ tùng máy số I, Công ty Natsteel Vina… Tỉnh Thái Nguyên đã tập trung đầu tư phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trong đó tập trung đẩy mạnh việc hoàn thành giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Sông Công 2. Đồng thời, quan tâm, chú trọng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp (35%), cụm công nghiệp còn lại (74,7%); ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ; chú trọng phát triển công nghiệp địa phương gắn với công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; ưu tiên hình thức liên doanh, liên kết sản xuất với các doanh nghiệp địa phương, hỗ trợ dẫn dắt các doanh nghiệp địa phương cùng phát triển.

     

    • Các ngành tiểu thủ công nghiệp

    Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của Thái Nguyên còn nhỏ bé, tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công,

     

    48                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    huyện Đồng Hỷ và huyện Phổ Yên. Trong những năm gần đây, một số lĩnh vực sản xuất và một số nghề đã từng bước được khôi phục và có chiều hướng phát triển như đan lát (cót, rổ rá, rọ tôm); sản xuất mía đường; chế biến mì, bún bánh và thêu ren.

     

    Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh về các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh đối với một số sản phẩm. Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hoá nông thôn, hình thành thêm các thị trấn, thị tứ trên cơ sở hình thành những ngành nghề mới tại các xã và cụm xã, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

     

    2.4. Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch

     

    Nhìn chung, lĩnh vực dịch vụ tỉnh có mức tăng trưởng cao kể từ khi tách tỉnh đến nay (đạt bình quân 10,5% thời kỳ 1997 – 2005, năm 2005 tăng 10,7% so với năm 2004, tăng bình quân cho cả giai đoạn 2007-2017 là trên 21,1%).

     

    Dịch vụ thương mại

     

    Dịch vụ thương mại đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1997 – 2017 tăng nhanh. Phân ngành này luôn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong ngành dịch vụ tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội của Thái Nguyên tăng bình quân trên 12,3% trong cả thời kỳ 1997 – 2017.

     

    Mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh phát triển rộng khắp. Thương mại miền núi được quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn trong những năm gần đây.

     

    Dịch vụ du lịch – khách sạn – nhà hàng

     

    Điểm đáng lưu ý là mặc dù ngành du lịch được xác định là một ngành kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh và được quan tâm đầu tư nhiều hơn trong những năm qua nhưng tỷ trọng ngành này trong GDP dịch vụ tỉnh lại không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2002 (chiếm 4,7%) và giảm đáng kể từ sau đó. Năm 2005 phân ngành này chỉ chiếm 3,74% GDP

     

    toàn ngành dịch vụ.

     

    Từ năm 2000 đến nay, lượng khách du lịch tăng liên tục với tốc độ bình quân 58,6%/năm (riêng năm 2001 tăng gần 2,2 lần so với năm 2000). Năm 2005 đạt 507 nghìn lượt (trong đó khách nước ngoài có trên 12,2 nghìn lượt). Doanh thu du lịch cũng tăng nhanh (bình quân 15%/năm). Năm 2010 đạt trên 27,2%. Đến năm 2017, du lịch Thái Nguyên đã duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng du lịch đảm bảo mục tiêu đặt ra. Tổng số lượt khách đến Thái Nguyên là 2.229.700 lượt, tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 66.297 lượt tăng 3,5% so với cùng kỳ, khách do cơ sở lưu trú phục vụ đạt 947.625 lượt tăng 5% so với cùng kỳ, khách du lịch đến các điểm tham quan 1.172.075 lượt tăng 10% so với cùng kỳ, khách do các công ty lữ hành phục vụ 110.000 lượt tăng 15% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu từ các doanh nghiệp du lịch đạt 310 tỷ đồng tăng 24% so với cùng kỳ [2].

     

    2.5. Xây dựng cơ sở hạ tầng

     

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế – xã hội phát triển, tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng việc xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng.

     

    Trong những năm 1997 – 2017, Thái Nguyên huy động mọi nguồn vốn đầu tư cho xây dựng và sửa chữa các tuyến đường giao thông do địa phương quản lý. Mặt khác, tỉnh cũng tranh thủ tối đa các nguồn vốn viện trợ, vốn vay ODA (Quỹ giúp đỡ phát triển nước ngoài), đóng góp các tổ chức kinh tế, xã hội và sức dân để phát triển mạnh giao thông nông thôn. Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn tiếp tục được hiện đại hóa, đảm thông tin

     

    • trong nước và quốc tế thông suốt. Mạng lưới điện cũng được mở rộng tới phần lớn các xã trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Hệ thống cấp nước ở đô thị và các khu công nghiệp được cải tạo nâng cấp. Những năm 1997 – 2017, tỉnh đã đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước các thị trấn, thị tứ theo dự án; tiếp tục thực hiện chương trình nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường…

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            49

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    3.   Một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế tỉnh thái nguyên trong giai đoạn tiếp theo

     

    • Giải pháp về vốn đầu tư
    • Đối với vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cần phải phân định rõ thành phần vốn của Nhà nước, của nhân dân đóng góp.
    • Đối với vốn đầu tư phát triển các ngành sản xuất cần có chính sách đẩy mạnh hơn nữa quá trình tích lũy tập trung các nguồn vốn vào các ngành mũi nhọn và các khu vực trọng điểm [4].

    Như vậy, phương châm là huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn để tạo ra sức bật cho ngành kinh tế toàn tỉnh.

     

    3.2. Phát triển nguồn nhân lực

     

    Nhìn chung, nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên rất dồi dào. Để tận dụng được nguồn nhân lực đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho sự phát triển kinh tế, xã hội thì Thái Nguyên cần phải có những biện pháp đào tạo, nâng cao hiệu quả, sử dụng lao động theo những hướng sau:

     

    • Nâng cao dân trí và trình độ học vấn cho nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh bằng các hình thức thông tin đại chúng, văn hóa, thông tin tuyên truyền.
    • Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, dạy nghề, nâng cấp chất lượng các cấp học, phát triển các loại hình liên kết đào tạo.
    • Phát triển các ngành dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động, dạy nghề cho con em đồng bào dân tộc nhằm mục đích sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ.
    • Ưu tiên đào tạo cán bộ là người dân tộc, tạo điều kiện tiếp xúc với khoa học công nghệ, qua các lớp tập huấn.

    3.3. Nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

     

    • Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào mọi lĩnh vự sản xuất và các khâu quản lý.
    • Từng bước đồng bộ hóa công nghệ tiên tiến vào những ngành công nghiệp tạo sản phẩm

    mũi nhọn xuất khẩu như: chè, vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản.

     

    • Ứng dụng công nghệ sinh học vào quá trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi. Phát triển mô hình nông – lâm kết hợp để tăng hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.

    3.4. Đổi mới cơ chế quản lý

     

    Cần thực hiện triệt để việc cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy quản lý của tỉnh sao cho gọn nhẹ và điều hành có hiệu lực, phù hợp với cơ chế quản lý mới. Phát huy hiệu quả vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên và trường chính trị để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của tỉnh, đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng có trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và trình độ chuyên môn cao [4].

     

    4. Kết luận

     

    Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh đã đạt được những kết quả bước đầu đáng phấn khởi: cơ sở vật chất tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, trong cơ cấu nền kinh tế hiện nay của tỉnh, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Để phản ánh đúng điều kiền và tiềm năng, tương xứng với sự đầu tư và các lợi thế của địa phương, Thái Nguyên cần có nhiều giải pháp hơn nữa để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy nguồn lực sẵn có của mình, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Tỉnh ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Địa chí Thái Nguyên, Nxb

    Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.22, tr.68, 2009.

     

    • Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên -Thai Nguyen Statistical YearBook, Thái Nguyên, 20, tr.195, tr.271, tr.303, 2017, 2018.
    • Thái Nguyên – Thế và lực mới trong thế kỉ XXI,

    Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.25 – 29, 2005.

     

    • Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tr.121 – 136, 5/2007.

    50                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-quan-h%E1%BB%87-kinh-t%E1%BA%BF-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-v%C3%A0-hi%E1%BB%87n-t%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế – lịch sử và hiện tại

    Các phương thức . . .

     

    CÁC PHƯƠNG THỨC QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ – LỊCH SỬ VÀ HIỆN TẠI

     

    Trần Đăng Thịnh*

     

    TÓM TẮT

     

    Trong quá trình phát triển, nền kinh tế thế giới trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, tuỳ theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội. Xét một cách tổng thể có thể phân kỳ phát triển nền kinh tế thế giới với các giai đoạn như sau: Giai đoạn xuất hiện nền kinh tế thế giới; giai đoạn tồn tại nền kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất trên phạm vi toàn thế giới; giai đoạn nền kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất bị phá vỡ do sự xuất hiện của nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và giai đoạn hiện nay. Theo đó, quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng, nền kinh tế thế giới nói chung trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau với những phương thức quan hệ kinh tế quốc tế khác nhau và được thể hiện qua sự khái quát của các nhà kinh tế học.

    Từ khóa: Phương thức quan hệ, kinh tế quốc tế, lịch sử, hiện tại

    MODES OF INTERNATIONAL ECONOMICS RELATION-PAST AND PRESENT

     

    ABSTRACT

     

    During the development, the economy worldwide experienced several stages, depending on the development of production forces and social relations. In general, we can divide the world economy into the following stages: the appearance of the world economy, worldwide capitalist economy, and worldwide capitalist economy was broken due to the appearance of the irst socialist economy country and the present stage. Accordingly, international economics relations in particular and the world economy in general experienced different stages of development with the different methods of international economics relations and are summarised by various generalisations of Economists.

     

    Key words: Modes of relation, international economic, history, present

     

     

    1.   Phương thức quan hệ kinh tế quốc tế trong lý luận của các nhà kinh điển

     

    Theo phân kỳ lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, giai đoạn xuất hiện nền kinh tế thế giới rơi vào thời kỳ tư

     

    bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giai đoạn phát triển thứ hai của nền kinh tế thế giới ở vào thời kỳ chủ nghĩa đế quốc bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, theo đó lý luận của các nhà kinh điển mácxít về quan hệ kinh tế quốc tế cũng

     

     

    *   TS. GVC. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh

     

     

    67

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    được phản ánh một cách tập trung trong thời kỳ phát triển này của nền kinh tế thế giới.

     

    • thời kỳ đầu của nền kinh tế thế giới, phân công lao động quốc tế từ chỗ còn mang tính chất sử dụng những sự khác biệt của điều kiện tự nhiên đã phát triển thành phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa được thực hiện thông qua buôn bán quốc tế. Dần dần, ngày càng nhiều nước và khu vực tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Tuy vậy, trong giai đoạn này, các quan hệ kinh tế quốc tế vẫn chưa mang tính chất thế giới một cách đầy đủ. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất ở một số nước gắn liền với những cố gắng mở rộng thị trường và nơi tiêu thụ hàng hoá nhằm đạt lợi nhuận cao nhất. Đồng thời, phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa đã làm tăng nhanh sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản, làm sâu sắc thêm sự cách biệt trình độ phát triển kinh tế giữa một nhóm nhỏ các nước công nghiệp phát triển với phần còn lại của thế giới.

     

    Sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, phân công lao động quốc tế thế hiện trước hết là sự thống trị thị trường trong nước và ngoài nước của các liên minh độc quyền thế giới mạnh nhất. V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: Giữa liên minh các nhà tư bản, đã được lập nên một số quan hệ nào đó dựa trên sự phân chia thế giới về mặt kinh tế, song song và tương đương với tình trạng đó, liên minh chính trị giữa các nhà nước với nhau, cũng được thành lập nên một số quan hệ nào đó dựa trên việc phân chia lãnh thổ thế giới, dựa trên cuộc đấu tranh giành thuộc địa, dựa trên cuộc đấu tranh thống nhất kinh tế.

     

    Trên cơ sở cuộc đấu tranh thống nhất kinh tế giữa các liên minh độc quyền, giữa các nước đế quốc, các phần còn lại của thế giới được lôi cuốn vào nền kinh tế thế giới và sự

    phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc, đế quốc mạnh nhất cũng kết thúc và gia nhập các khu vực của thế giới vào một hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất trên cơ sở quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa. Các quan hệ thực dân này đã khiến cho các cường quốc công nghiệp phát triển liên hệ chặt chẽ với lãnh thổ hải ngoại rộng lớn mà ở đó trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn rất thấp và tính chất của quan hệ sản xuất này mang tính chất của phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản.

     

    Trong giai đoạn này, trong các nước tư bản công nghiệp phát triển đã diễn ra quá trình tập trung sản xuất vào tay các tổ chức độc quyền, gắn liền với việc tăng nhanh chóng cấu tạo hữu cơ tư bản và năng suất lao động. Sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa tăng lên nhanh chóng. Ngoài nước Anh, một số trung tâm sản xuất công nghiệp máy móc đã hình thành ở Pháp, Đức, Mỹ và một số nước Châu Âu khác. Ngược lại, ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc cũng diễn ra quá trình lạc hậu và ngừng trệ về trình độ phát triển kinh tế như một hình thức đặc trưng của mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trên phạm

     

    • toàn thế giới. Theo đó, giai đoạn này xuất hiện một đặc trưng nổi bật trong quan hệ kinh tế quốc tế, trong nền kinh tế thế giới là xuất khẩu tư bản, trước hết là xuất khẩu tư bản từ chính quốc vào thuộc địa.

     

    Như vậy, có thể nói trong hệ thống lý luận của các nhà kinh điển mácxít, quan hệ kinh tế quốc tế hay nói rộng hơn là nền kinh tế thế giới được phản ánh trong giai đoạn tự do cạnh tranh và độc quyền của chủ nghĩa tư bản, với các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế phổ biến là thương mại quốc tế – chủ yếu là xuất, nhập khẩu hàng hoá (giai đoạn tự do cạnh tranh) và xuất khẩu tư bản (giai đoạn

     

     

    68

     

    Các phương thức . . .

     

    độc quyền). Xuất khẩu hàng hoá là đem hàng hoá ra nước ngoài để bán/tiêu thụ nhằm thực hiện giá trị và giá trị thăng dư, nhưng thực chất là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của những hàng hoá đã được sản xuất trong nước thông qua việc khai thác những lợi thế trong quan hệ thương mại quốc. Xuất khẩu tư bản là hoạt động đầu tư tư bản ra nước ngoài nhằm nâng cao tỷ suất và khối lượng lợi nhuận. Hay nói cách khác xuất khẩu tư bản là hoạt động tìm kiếm nơi đầu tư có lợi nhuận cao nhất cho mỗi một giá trị tư bản. Những phương thức quan hệ kinh tế quốc tế này vẫn tiếp tục phát triển cho đến hiện nay, song đa dạng hơn về hình thức thực hiện để tối đa hoá lợi ích từ các quan hệ kinh tế quốc tế hiện hành.

     

    2.   Phương thức quan hệ kinh tế quốc tế theo quan điểm hiện nay

     

    Dưới sự tác động trực tiếp của khoa học

     

    • công nghệ và quá trình quốc tế hoá – toàn cầu hoá kinh tế (mà trực tiếp là sự chi phối mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế), nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới – nền kinh tế toàn cầu hoá, xu thế này xuất hiện từ 50 năm cuối thế kỷ XIX đến trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù quy mô và phạm vi còn hạn chế nhiều so với những giai đoạn sau này. ở giai đoạn này, xu thế toàn cầu hóa gắn liền với sự bành trướng thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa thông qua việc xâm chiếm, giành giật thuộc địa…, hình thành những khối thị trường khác nhau, biệt lập gồm chính quốc và thuộc địa. Trong thời kỳ từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hóa kinh tế bị suy giảm do tác động nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933. Từ thập niên 50 đến cuối thập

    niên 70 của thế kỷ XX đã diễn ra sự bùng nổ xu thế toàn cầu hóa và rồi lại có phần lắng xuống vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, do sự tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa và kinh tế đầu những năm 70. Và, xu thế toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hoá kinh tế thực sự bùng lên mạnh mẽ từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Cùng với sự kết thúc „chiến tranh lạnh” và sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới đã có sự chuyển biến lớn: so sánh quyền lực giữa các trung tâm quyền lực đã có thay đổi – từ một trật tự thế giới hai cực với hai hệ thống chính trị – xã hội đối lập trước đây chuyển sang cục diện mới „nhất siêu, đưa cường”, không còn sự đối đầu trực tiếp giữa hai hệ thống chính trị – xã hội đối lập. Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển trở thành xu thế lớn của tình hình thế giới, đương nhiên trong đó có đấu tranh; hợp tác và đấu tranh đan xen lẫn nhau.

     

    Toàn cầu hóa trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế là sự dịch chuyển tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn cầu bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến hình thành nền kinh tế toàn cầu. Theo đó, xuất hiện các quan niệm mới, cách tiến cận mới sáng tạo hơn, thích hợp hơn trong quan hệ kinh tế quốc tế, điển hình là xuất hiện xu hướng thừa nhận tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và thừa nhận „tính chất phẳng/ tính thống nhất” của nền kinh tế thế giới. Do đó, các phương thức quan hệ kinh tế quốc tế cũng không ngừng được phát triển mở rộng và đa dạng hơn. Điều đó được thể hiện ở chỗ:

     

    • Các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực… ngày càng vượt qua

     

     

    69

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    biên giới các quốc gia, chúng lưu thông trên phạm vi toàn cầu ngày càng tự do hơn.

     

    • Sự liên kết chặt chẽ kinh tế của các nước trên thế giới thành các luồng phân phối lưu thông, các nguồn lực kinh tế toàn cầu; cầu nối này ngày càng ảnh hưởng và kết hợp chặt chẽ với nhau.

     

    • Nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập với nhau. Sự phát triển của kinh tế các nước trên thế giới và sự vận động của toàn bộ nền kinh tế thế giới ngày càng ảnh hưởng và chế ước lẫn nhau. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành nền kinh tế toàn cầu. Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan.

     

    Hiện thực này cũng đã từng được C.Mác dự báo là đã đến giai đoạn „lịch sử biến thành lịch sử thế giới”. Xuất phát điểm của toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế.

     

    Từ những biến chuyển trong vận động của nền kinh tế thế giới , có thể khái quát phương thức quan hệ kinh tế hiện nay bao gồm các phương thức cơ bản như: Mậu dịch quốc tế; đầu tư quốc tế; hợp tác phân công lao động quốc tế; hợp tác đầu tư, chuyển giao khoa học

     

    • công nghệ quốc tế; tài chính – tiền tệ quốc tế; Liên kết kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế

     

    • tài chính quốc tế.

    Thứ nhất, Quan hệ kinh tế quốc tế về trao đổi hàng hoá (hay còn gọi là mậu dịch quốc tế). Đây là hình thức di chuyển hàng hoá quốc tế – một trong những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu, trong đó diễn ra việc di chuyển hàng hoá từ nước ngày sang nước khác và ngược lại. Di chuyển hàng hoá quốc tế được thực hiện thông qua hình thức buôn bán quốc tế. Trên thị trường thế giới người ta thường chia hàng hoá trao đổi giữa các nước thành hai nhóm: hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình.

    Thứ hai, Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển vốn đầu tư (hay đầu tư quốc tế). Đầu tư quốc tế là hiện tượng di chuyển các phương tiện đầu tư từ nước này sang nước khác nhằm thu lợi nhuận cao. Đầu tư quốc tế thực chất là di chuyển các yếu tố sản xuất trên quy mô toàn thế giới. Trong đó, chiếm tỷ trọng đáng kể là sự di chuyển quốc tế về vốn.

     

    Sự di chuyển quốc tế về vốn là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các quốc gia nhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất tạo điều kiện cho các nền kinh tế riêng biệt của từng quốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế toàn cầu tăng trưởng. Sự di chuyển quốc tế về vốn bao gồm các hình thái: vay mượn vốn, viện trợ, đầu tư giữa các quốc gia.

     

    Hiện nay nhiều nước trên thế giới vừa là người đầu tư, vừa là người nhận đầu tư. Nghĩa là trong cùng một thời gian tại quốc gia có cả hai dòng chảy vốn xảy ra. Nói cách khác quốc gia cùng một lúc mang hai sắc thái: vừa là người đi đầu tư vừa là người tiếp nhận đầu tư.

     

    Thứ ba, Quan hệ kinh tế quốc tế về hợp tác phân công lao động là quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra việc di chuyển sức lao động từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn thế giới thông qua các hợp đồng xuất khẩu lao động, hợp đồng hợp tác trao đổi chuyên gia…

     

    Quá trình di chuyển lao động diễn ra vì các lý do kinh tế hoặc phi kinh tế. Di chuyển lao động vì lý do phi kinh tế là những đợt di cư do áp lực của tôn giáo, chính trị hoặc chiến tranh. Trái lại di chuyển lao động vì lý do kinh tế là do động cơ thu nhập hay môi trường làm việc thúc đẩy. Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là di chuyển lao động từ Đông qua Tây; từ Nam lên Bắc; từ các nước đang phát triển qua các nước phát triển.

     

     

    70

     

    Các phương thức . . .

     

    Nguồn nhân lực của các quốc gia khác nhau về quy mô và chất lượng, không cân xứng với nguồn lực vốn; do vậy dẫn đến tình trạng tiền lương (giá cả sức lao động) tại các quốc gia rất khác nhau. Chính sự chênh lệch về giá cả của sức lao động giữa các quốc gia là nguyên nhân cơ bản hình thành thị trường lao động. Xu hướng toàn câu hoá cùng với sự phát triển của các công ty đa quốc gia dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động trên lĩnh vực toàn cầu.

     

    Di chuyển quốc tế sức lao động cũng được coi như di chuyển hàng hóa quốc tế, nhưng đó là một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động, trên thị trường đặc biệt – thị trường sức lao động. Đây là quan hệ kinh tế quốc tế dẫn đến sự phân bổ lại nguồn lực lao động và trong chừng mực nhất định đưa đến việc di dân trên phạm vi thế giới.

     

    Thứ tư, hợp tác đầu tư nghiên cứu – chuyển giao công nghệ là quan hệ kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ, bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để tiến hành cùng nhau nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về khoa học công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học

     

    • công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất. Hợp tác đầu tư nghiên cứu – chuyển giao công nghệ trong quan hệ kinh tế quốc tế đảm bảo cho quá trình liên kết khoa học với sản xuất đươcvj nhanh chóng và thuận lợi, tiết kiệm vốn đầu tư nghiên cứu và áp dụng thành tựu khoa học-công nghệ, tiết kiệm thời gian tránh sự trùng lặp không cần thiết trong nghiên cứu khoa học – công nghệ, tạo điều kiện khai thác triệt để những sản phẩm trí tuệ của con người. Trong điều kiện hiện nay, hình thức này được thể hiện phổ biến dưới dạng chuyển giao công nghệ: buôn bán Licence, Know-how, Engineering…

    Thứ năm, tài chính-tiền tệ quốc tế là một loại quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó diễn ra sự di chuyển các phương tiện tài chính-tiền tệ từ nước này sang nước khác trên quy mô quốc tế.

     

    Quan hệ tài chính tiền tệ giữa các quốc gia có nguồn gốc từ quan hệ thương mại. Trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia phải thông qua tiền tệ khác nhau, tất yếu dẫn đến mối quan hệ tài chính tiền tệ và hình thành hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế.

     

    Hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới là hệ thống các quy tắc, thể lệ nhằm tác động đến các mối quan hệ tài chính – tiền tệ giữa các quốc gia. Hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới hoạt động nhằm điều chỉnh các mối quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia phục vụ cho thương mại, đầu tư trên thế giới. Hoạt động của hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới gắn liền với cơ chế của tỷ giá hối đoái. Lịch sử phát triển của hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế gắn liền ba hệ thống tỷ giá hối đoái: i/Cơ chế tỷ giá Bản vị vàng;ii/ Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do hoàn toàn, tức là tỷ giá hối đoái thay đổi (tăng giảm) phụ thuộc vào quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường ngoại hối;iii/ Tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý của chính phủ, có nghĩa là căn cứ tình hình cụ thể của thị trường ngoại hối và nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng thời kỳ cũng như chính sách ngoại thương;

     

    Chính phủ can thiệp vào thị trường ngoại hối để tỷ giá có lợi nhất cho nền kinh tế.

     

    Hệ thống tài chính-tiền tệ quốc tế bao gồm hai bộ phận lớn là: hệ thống thanh toán quốc tế và hệ thống tỷ giá hối đoái.

     

    • Hệ thống thanh toán quốc tế: bao gồm bốn hạng mục chủ yếu sau: a/ Thanh toán vãng lai (Tài khoản vãng lai); b/ Hạng mục tư bản (Tài khoản vốn); c/ Sự khác nhau

     

     

    71

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    về mặt thống kê; d/ Kết toán chính thức.

     

    a/ Tài khoản vãng lai (cán cân thanh toán vãng lai)

     

    Tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán ghi lại những luồng hàng hóa và dịch vụ quốc tế và những khoản thu nhập ròng khác từ nước ngoài. Hiệu số giữa tổng số xuất khẩu về hàng hóa và dịch vụ với tổng số nhập khẩu về hàng hóa dịch vụ gọi là cán cân thanh toán vãng lai Trong cán cân thanh toán vãng lai phần quan trọng là cán cân thương mại. Cán cân thương mại bao gồm hai bộ phận: thương mại hữu hình và thương mại vô hình.

     

    Thương mại hữu hình là những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như vật chất nguyên liệu, nhiên liệu, ô tô, sắt thép v.v… Thương mại vô hình là những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu các hoạt động dịch vụ như: vận chuyển, du lịch, ngân hàng v.v…

     

    Nếu giá trị hàng xuất khẩu lớn hơn giá trị hàng nhập khẩu thì người ta gọi là ‘’Cán cân thương mại thuận lợi’’ (xuất siêu).

     

    Ngược lại, nếu giá trị hàng xuất khẩu nhỏ hơn giá trị hàng nhập khẩu người ta gọi là ‘’Cán cân thương mại không thuận lợi’’ (nhập siêu).

     

    Cán cân thương mại và cán cân thanh toán vãng lai không trùng khớp với nhau. Trong cán cân thanh toán vãng lai ngoài bộ phận chủ yếu là cán cân thương mại còn có những khoản như: viện trợ nước ngoài, chi phí quân sự ở nước ngoài, lãi tín dụng, lãi cổ phần, lãi đầu tư v.v…

     

    b/ Tài khoản vốn

     

    Trong cán cân thanh toán ghi lại những giao dịch quốc tế về các tài sản tài chính. Đó là những khoản vốn của tư nhân hoặc chính phủ cho vay hoặc vay của tư nhân hoặc chính phủ nước ngoài. Quyết định khoản mục nào có và khoản mục nào là Nợ trong tài khoản

    vốn (hạng mục tư bản) được tuân thủ theo nguyên tắc sau: khi vay của nước ngoài để tài trở cho một khoản thâm hụt trong tài khoản vãng lai sẽ được ghi vào khoản có. Nếu cho nước ngoài vay để tài trợ cho một công trình nào đó trường hợp này ghi vào khoản nợ.

     

    c/ Sự khác nhau về mặt thống kê (Hạng mục cân đối)

     

    Hạng mục này là một khoản Điều chỉnh có tính chất thống kê. Nó sẽ bằng 0 nếu tất cả các hạng mục trước đó đã dược tính chính xác Nó phản ảnh tình trạng không thể ghi lại hết được những giao dịch bằng những số liệu thống kê chính thức.

     

    d/ Kết toán chính thức (Tài trợ chính thức)

     

    Khoản mục này luôn bằng về trị số và ngược dấu với cán cân thanh toán. Tài trợ chính thức biểu thị những giao dịch quốc tế mà chính phủ tiến hành để Điều chỉnh tất cả những giao dịch khác được ghi trong các hạng mục của cán cân thanh toán.

     

    Như vậy, khi tính cả tài trợ chính thức, tổng các hạng mục trong cán cân thanh toán phải bằng 0. Điều này giống như thị trường ngoại hối phải cân bằng khi tính cả sự can thiệp của ngân hàng trung ương qua việc sử dụng khoản dự trữ ngoại hối. Một khoản thặng dư trong tài khoản vãng lai được bù vào khoản thâm hụt trong tài khoản vốn hoặc dùng để tăng dự trữ ngoại hối. Ngược lại một khoản thâm hụt tài khoản vãng lai phải được bù lại bởi lột khoản thặng dư trong tài khoản vốn hoặc nó sẽ làm hao hụt dự trữ ngoại hối. Hay một khoản thặng dư trong tài khoản vãng lai cần phải được cân đối bằng một khoản gia tăng, tài sản của quốc gia ở nước ngoài. Ngược lại một khoản thâm hụt trong tài khoản vãng lai được cân đối bằng việc giảm bớt tài sản của quốc gia tại nước ngoài.

     

     

    72

     

    Các phương thức . . .

     

     

    • Hệ thống tỷ giá hối đoái

    Sự phát triển thương mại quốc tế đã hình thành hệ thống tiền tệ và hối đoái quốc tế. Ngược lại, hệ thống tiền tệ một vai trò then chốt trong việc làm trơn các bánh xe thương mại quốc tế và đảm bảo sự hoạt động nhịp nhành của nền kinh tế thế giới.

     

    Thị trường ngoại hối là thị trường tiền tệ quốc tế tại đó đồng tiền của các quốc gia khác nhau có thể trao đổi được với nhau. Thị trường ngoại hối là nơi thực hiện, trao đổi mua bán các ngoại tệ và phương tiện chi trả có giá trị như ngoại tệ được xác định trên cơ sở cung cầu.

     

    Quy mô cung, cầu ngoại tệ của quốc gia thay đổi liên tục có lúc hòa với nhau nhưng có những lúc không hài hòa và gây ra sự biến động của tỷ giá có thể dẫn đến những xáo trộn tình hình sản xuất, xuất khẩu của quốc gia. Trước tình hình đó Chính phủ phải có những biện pháp can thiệt vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

     

    Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Hay mức giá mà hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì được gọi là tỷ giá hối đoái.

     

    Ngày nay, tiền tệ biểu hiện nội dung và tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh tế của quốc gia tăng trưởng thì giá trị của đồng tiền cũng tăng, ngược lại kinh tế của quốc gia suy thoái thì giá trị của cua đồng tiền sẽ giảm. Sự thay đổi giá trị của tiền tệ sẽ ảnh hưởng rất lớn đền nhà nền kinh tế ở những mặt sau:

     

    Thứ nhất, đối với ngoại thương; tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm cho giá trị hàng hóa của các quốc gia có thương mại qua lại với

    nhau thay đổi. Điều này sẽ làm thay đổi cán cân thương mại giữa hai quốc gia, bởi vì sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ tác động trực tiếp đến xuất nhập khẩu của quốc gia. Chính vì vậy, hiện nay nhiều chính phủ đã dùng chính sách tỷ giá làm công cụ hữu hiệu nhằm thay đổi tương quan thương mại của hai quốc gia.

    Thứ hai, trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài; sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ tác động trực tiếp đến lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Nó ảnh hưởng đến thu nhập và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài tại nước tiếp nhận đầu tư. Chẳng hạn, việc phá giá tiền tệ của Chính phủ đã làm cho môi trường đầu tư về tài chính xấu đi. Cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997 là bài học thực tế rất bổ ích về chính sách tỷ giá hối đoái đối với đầu tư nước ngoài.

     

    Thứ ba, tỷ giá hối đoái và vấn đề thanh toán nợ nước ngoài; trong nền kinh tế thế giới hiện đại, các quốc gia vừa đi vay đồng thời vừa cho vay. Do vậy, Chính phủ phải có chính sách tỷ giá phù hợp để có lợi cho quốc gia. Khi tỷ giá thay đổi thì gánh nặng nợ nước ngoài cũng thay đổi. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và thanh toán nợ nước ngoài là mối quan hệ ngược chiều.

    Vai trò của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế là rất quan trọng; do vậy chính sách về tỷ giá là một trong những chính sách quan trọng của Chính phủ trong vai trò can thiệp vào nền kinh tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế mà trực tiếp là hoạt động ngoại thương nói riêng.

     

    Thứ tư, Liên kết kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế

     

    Liên kết kinh tế quốc tế đáp ứng yêu cầu phân công lao động quốc tế có hiệu quả giữa các quốc gia để khai thác lợi thế và khắc phục hạn chế, đồng thời như là một sự cần thiết

     

     

    73

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    cho việc bảo hộ thị trường kinh doanh trong và ngoài nước của các thành viên. Quá trình liên kết tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế, trước hết là nhằm đạt tới lợi ích kinh tế cao hơn cho các bên, sau đó là tăng cường sức mạnh quân sự và vị trí chính trị xã hội trong nền kinh tế thế giới.

     

    Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế rất phong phú và đa dạng, song về cơ bản có hai cách tiếp cận phân loại sau:

     

    • Căn cứ vào đối tượng và nội dung liên kết của liên kết có thể chia làm 5 hình thức liên kết đó là: Khu vực mậu dịch tự do; Liên minh thuế quan; Thị trường chung; Liên minh kinh tế; Liên minh tiền tệ.

     

    • Căn cứ vào phương thức điều chỉnh của liên kết, chia liên kết thành các liên kết kinh tế – thương mại chung (GATT, WTO, UNCTAD, ICC); các liên kết kinh tế – thương mại khu vực (ASEAN, APEC, EU, NAFTA,

    MERCOSUR, ANCOM); các liên kết kinh tế

     

    • thương mại chuyên ngành (IATA, FIATA, ICJ, ISCID, WIPO, IMF, UNCITRAL, UNIDO, FAO, OPEC,ADB, CDB…)

     

    Các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế:

     

    Nhằm hướng tới sự điều chỉnh một cách có hiệu quả quan hệ kinh tế quốc tế, các tổ chức kinh tế – tài chính quốc tế đã được hình thành theo tiến trình phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng, sự vận hành của nền kinh tế thế giới nói chung. Các thể chế kinh tế – tài chính quốc tế quan trọng đã được thiết lập và được coi là những công cụ quản lý kinh tế quan trọng đối với sự vận hành nền kinh tế thế giới và điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế có thể kể tới trong lịch sử gồm: Kế hoạch Marshall, hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton Woods, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB); Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Paul R.Krugman- Maurice Obstfeld (1995): “ Kinh tế học quốc tế- Lý thuyết và chính sách ”, tập 1 và 2, Nxb CTQG.
    • .Margaret P.Karn & Karen Mingst (2007): Bài giảng Between Theory and Practice International Relations in the Beginning of the 21 st Century, [Quan hệ quốc tế đầu thế kỷ 21: Giữa lý thuyết và

    thực tiễn], Khoa Quốc tế học – Trường Đại học KHXH&NV.Hạ Long.

     

    • “Kinh tế và chính trị thế giới: Vấn đề và xu hướng tiến triển”, Nxb Lao động, H 2008;

     

    • Lê Bộ Lĩnh (2002), “Chủ nghĩa tư bản hiện đại: Khủng hoảng kinh tế và điều chỉnh”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
    • Hoàng Khắc Nam “Tổ chức quốc tế và chủ thể phi quốc gia”- Viện Kinh tế và chính trị thế giới

     

     

     

    74


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%C3%A1i-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-ng%C3%A0nh-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BA%BFn-chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-t%C4%83ng-n%C4%83ng-su%E1%BA%A5t-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tái cơ cấu ngành kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng năng suất lao động ở Việt Nam

    Tác động của . . .

     

    Kinh tế – Xã hội

    TÁC ĐỘNG CỦA TÁI CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ

     

    ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG,

     

    TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

     

    Nguyễn Quốc Tế (*)

     

    Nguyễn Thị Đông (**)

     

    TÓM TẮT

     

    Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua và cho đến nay chủ yếu vẫn là tăng trưởng theo số lượng và phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là tăng trưởng nhờ vào vốn đầu tư và số lượng lao động. Việc tăng trưởng theo chất lượng, phát triển theo chiều sâu dựa vào năng suất lao động chưa nhiều. Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ tác động đến dịch chuyển lao động từ các ngành, nhóm ngành có năng suất lao động thấp sang ngành, nhóm ngành có năng suất lao động cao, từ đó đáp ứng được chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực canh tranh của nền kinh tế.

     

    Nghiên cứu của bài viết sử dụng phương pháp vector để phân tích “góc chuyển dịch” của cơ cấu ngành kinh tế tác động đến cơ cấu lao động của các ngành, đồng thời tác giả sử dụng phương pháp hệ số co dãn để tính toán hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh đến dịch chuyển cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động của Việt nam trong thời gian qua.

     

    Từ khoá: Tái cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất lao động

     

    THE EFFECT OF THE ECONOMY RECONSTRUCTION TO THE MOVEMENT OF THE LABOR FORCE AND THE LABOR PRODUCTIVITY GROWTH

     

    ABSTRACT

     

    So far, Vietnamese model of economic development has been mainly developed in quantity and grown by width. It means the development bases on investment and the labor force. Qualitative growth as well as deep development have not been achieved much. Economic reconstruction would affect the labor force from all areas or low productivity sectors and move them to high ones, as a result would meet the demand of converting economic development models to increase the labor productivity growth and competitive likeability of the economy.

     

    • TS. Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh ** ThS. GV Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên

     

     

    3

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    This research uses vector method to analyze the “triangle shift “of the economic structure toward the labor force in all areas. At the same time, the author also uses “elasticity method” to estimate the effect of movement of economic sectors to the movement of the labor force structure, increase productivity of the labor force in Vietnam for the past few years.

     

    Key words: economic sectors, movement of the labor force structure, labor productivity

     

    growth

     

     

    Đặt vấn đề

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động để tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế là một vấn đề nghiên cứu đã được các nhà khoa học quan tâm trong các giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy vậy, đánh giá đúng vai trò, thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn luôn là một trong những đề tài hấp dẫn từ nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Bài viết phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành dưới góc độ của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hai yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, chuyển dịch cơ cấu kinh tế định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Nhưng để cơ cấu kinh tế chuyển dịch thành công nhất thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp, vì một cơ cấu lao động không phù hợp sẽ làm nảy sinh các vấn đề tiêu cực như thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèo, mất cân đối, mất bình đẳng trong xã hội.

     

    1.   Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động

     

    Cơ cấu ngành kinh tế được hiểu là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Xuất phát từ yêu cầu phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi cơ cấu của ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn

    thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011).

     

    Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất. Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn với sự phát triển kinh tế. Mặt khác, nhịp độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế.

     

    Tái cơ cấu ngành kinh tế sẽ kéo theo cơ cấu lao động thay đổi, lao động được phân bổ và ngành, vùng sẽ khác nhau. Ở các nước đang phát triển, khi tiến hành CNH, HĐH nhất thiết phải thay đổi cơ cấu kinh tế, trong đó cơ cấu ngành có vị trí quan trọng. Việc đầu tư cho các ngành thuộc khu vực CN, XDCB và DV, TM sẽ dịch chuyển lao động từ các ngành có năng suất lao động thấp như nông, lâm nghiệp-thuỷ sản sang các ngành có năng suất lao động cao như : CN, XDCB và TM-DV. Theo nhà kinh tế Dương Ngọc, trong năm 2012, năng suất lao động của các ngành

     

     

    4

     

    Tác động của . . .

     

    nông, lâm nghiệp – thủy sản thấp xa so với năng suất lao động của toàn nền kinh tế và so với các nhóm ngành khác. Cụ thể: của toàn bộ nền kinh tế là 57,1 triệu VND/người, tương tự ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản là 26 triệu; CN, XDCB là 110,2 triệu và của TM, DV là 68,4 triệu.(Thời báo: Kinh tế 2012-2013 Việt nam và thế giới)

     

    Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình phân bổ, bố trí lao động theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ nhằm mục đích sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các nguồn lực để tăng trưởng và phát triển (Nguyễn Tiệp, 2007). Đây được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng, phản ánh thực nhất mức chuyển biến của nền kinh tế. Ở một số quốc gia vẫn tồn tại hiện tượng lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều. Lý giải vấn đề này, các nhà kinh tế học đã chỉ ra tình trạng méo mó về giá cả, nhất là trong các trường hợp có sự chênh lệch giá giữa sản phẩm công nghiệp và dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp khiến cho cơ cấu GDP giữa các ngành không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Lúc này, vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành được nâng cao, đặc biệt các nhà kinh tế học ở Trung Quốc còn xem đây như là chỉ tiêu quyết định nhất để chỉ ra thực trạng nền kinh tế đang tồn tại ở Trung Quốc đầu thế kỷ 21: (1) Kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm cho gần 50% lao động, tương đương với các nước Mỹ, Pháp, Đức năm 1870. (2) Kinh tế công nghiệp, xây dựng, sử dụng 20% lao động đang làm việc.

     

    • Kinh tế dịch vụ, sử dụng 22% lao động.

     

    • Kinh tế tri thức, bao gồm giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật – công nghệ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tạo việc làm cho 5% lao động (Hồ An Cương, 2003).

    Tái cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ tác động qua lại với nhau: tái cơ cấu ngành kinh tế vừa là tiền đề, cơ sở nhưng đồng thời lại vừa là kết quả có được từ quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động.

     

    Trước hết, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế, phục vụ và đáp ứng các yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò là đầu tàu, định hướng và dẫn dắt quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động. Fisher đã phân tích, theo xu thế phát triển của khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất, việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội thì không cần đến một lực lượng lao động như cũ nên tỷ lệ lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế hơn nông nghiệp do tính chất phức tạp hơn của việc sử dụng công nghệ kỹ thuật mới, đồng thời sản phẩm công nghiệp thường có độ co giãn của cầu tiêu dùng là lớn hơn 0, vì vậy theo sự phát triển của kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp có xu hướng tăng lên. Ngành dịch vụ được coi là khó có khả năng thay thế lao động nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra nó, rào cản cho sự thay thế kỹ thuật này rất cao, trong khi đó độ co giãn của nhu cầu sản phẩm dịch vụ khi nền kinh tế ở trình độ phát triển cao là lớn hơn 1, do đó tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng nhanh và ngày càng tăng khi nền kinh tế càng phát triển (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 2011)

     

     

    5

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Như vậy, trong nghiên cứu của Fisher, một ngành phát triển sẽ kéo theo nhu cầu về lao động của ngành đó tăng lên, khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một định hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, nếu cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, nó lại tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế phát triển và thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn. Nhà kinh tế học A. Lewis cho rằng nếu như lao động ở khu vực nông nghiệp với năng suất thấp dịch chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao hơn sẽ làm tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế, đồng nghĩa với việc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh (E. Wayne Nafziger, 1998).

     

    2.   Lượng hóa tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam bằng phương pháp vector và hệ số co giãn

     

    2.1 Phuơng pháp tính toán

     

    Phương pháp vector (hay hệ số Cos) do các chuyên gia ngân hàng thế giới đề xuất được dùng để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu giữa các thời kỳ (Công Văn Dị, 2008). Nghiên cứu này sử dụng phương pháp vector để tính góc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và góc chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.

     

    Theo đó ta có thể tính toán như sau:

     

    y Hệ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành:

     

    /

    N

           

    CODESM {O =

    I =1 B I ( T0 ), B I (T1)

    ( 1 )

    / N

     

    B 2I

    ( T0 ), /N

    B2I (T1)

     

    I = 1

     

    I =1

       

    Trong đó:

     

    –  βI(t0) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t0

     

    –  βI(t1) là tỷ trọng giá trị sản lượng của

     

    ngành i trong GDP tại thời điểm t1

     

    • là góc hợp bởi hai vector cơ cấu βI(t0) và

    βI(t1). Khi cosφ = 1 thì góc giữa hai vector này bằng 00, điều đó có nghĩa là hai cơ cấu đồng nhất; còn khi cosφ = 0 thì góc giữa hai vector này bằng 900 thể hiện các vector cơ cấu là trực giao với nhau. Như vậy, cosφ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy nhiêu và ngược lại, nên giá trị của φ sẽ nằm trong đoạn 0o φ ≤ 900 , với φ = 00 thì không có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế; và φ = 900 thì cơ cấu kinh tế dịch chuyển hoàn toàn.

     

    Từ đó suy ra tỷ lệ chuyển dịch k của cơ cấu kinh tế ngành sẽ là:

    {

    LDE=M O90 * 100 (2)

     

    Công thức tính tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu theo ngành này cũng được áp dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ hoặc theo thành phần kinh tế, lúc đó tỷ trọng ngành i (βI) sẽ được thay bằng tỷ trọng vùng i hay tỷ trọng thành phần kinh tế i.

     

    • Hệ số chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành:
     

    /

    N

    SI (T0 ) .SI (T1)

       

    COS A =

    I =1

     

    (3 )

    /N

    S I2

    (T0 ), /N

    S I2

     

    D E M  O

    (T1)

     

    I =1

     

    I =1

         

    Trong đó:

     

    SI(t0) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm t0

    –  SI(t1) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng lao động đang làm việc

     

    trong nền kinh tế tại thời điểm t1 Tương tự như công thức tính mức độ

    chuyển dịch cơ cấu kinh tế, α cũng là góc hợp bởi hai vector cơ cấu SI(t0) và SI(t1). Do đó, tỷ lệ chuyển dịch l của cơ cấu lao động theo ngành sẽ là:

     

    LD =EM

    A

    * 100 (4)

    O

    90

     

    6

     

    Tác động của . . .

     

    Kết hợp tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo ngành để đánh giá hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua các hệ số co giãn sau:

    • LK = LK (5 )
    • LK là hệ số co giãn của chuyển dịch cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đo lường độ nhạy cảm của chuyển dịch việc làm khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch 1%. Nếu hệ số này dương, có nghĩa chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động thuận chiều đến chuyển dịch việc làm, kết

    quả của chuyển dịch là phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trường hợp ngược lại, nền kinh tế có thể bị rơi vào tình trạng tăng truởng âm, do cơ cấu kinh tế chuyển dịch không phù hợp.

     

    2.2 Kết quả tính toán

     

    Ứng dụng phương pháp vector và hệ số co giãn trình bày ở trên, sử dụng bộ số liệu thống kê của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cùng số liệu thống kê Việt Nam để tính tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đến tạo việc làm trong nền kinh tế giai đoạn 1994 – 2012, kết quả có được như sau:

     

     

    Bảng 1: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hệ số cosφ

     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosφ

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     

    chuyển dịch

     

    dịch φ (độ)

    cấu kinh tế k (%)

     

    NN – CN

    0.992523

    4.206591

    4.67399

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.997999

    2.175326

    2.417029

     

    CHUNG

    0.996428

    2.906371

    3.229301

     

    NN – CN

    0.998441

    1.919746

    2.133052

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.998096

    2.121802

    2.357558

     

    CHUNG

    0.998281

    2.016091

    2.240101

     

    NN – CN

    0.994654

    3.556169

    3.951299

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.997869

    2.244516

    2.493906

     

    CHUNG

    0.996547

    2.857598

    3.175109

     

    NN – CN

    0.996921

    2.698422

    2.998246

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999783

    0.716462

    0.796069

     

    CHUNG

    0.998306

    2.001152

    2.223502

     

    NN – CN

    0.999492

    1.095982

    1.217758

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999906

    0.470415

    0.522684

     

    CHUNG

    0.999524

    1.060308

    1.178121

     

    NN – CN

    0.924136

    13.47691

    14.97434

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980571

    6.787691

    7.541879

     

    CHUNG

    0.959838

    9.775995

    10.86222

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    7

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Nghiên cứu này phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo 5 giai đoạn của thời gian, dựa vào những biến động về mặt kinh tế – xã hội trong nước và trên thế giới.

     

    Giai đoạn 1994 – 1997 được coi là giai đoạn phát triển thành công của Việt Nam bởi cả về quyết định chuyển sang kinh tế thị trường và đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát, tạo nên sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mạnh nhất cho đến nay, với góc chuyển dịch cơ cấu chung là 2,90, đạt 3,23%. Mức chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp cũng đạt cao nhất ở thời kỳ này (4,67%).

     

    Sự kiện khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ vào năm 1997 đã tác động đến nền kinh tế Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo (1997

     

    – 2000), khiến tăng trưởng GDP đang ở mức 9,3% năm 1996 đã bị kéo tuột xuống mức 5,8% vào năm 1998 và năm 1999 là 4,8%. GDP sụt giảm là nguyên nhân khiến cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp ở mức 2,24% với góc chuyển dịch là 20.

     

    Sau khủng hoảng, đã có những chuyển biến thực sự về tư duy kinh tế với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 và hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ được ký kết vào năm 2001, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2004 đã tăng trưởng ổn định ở mức bình quân 7,1%/năm, cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển 3,9%, công nghiệp

     

    – dịch vụ 2,5%, mức dịch chuyển chung của nền kinh tế đạt 3,18%. Nhìn nhận đà tăng trưởng này, các nhà kinh tế dự đoán Việt Nam có thể trở thành “con hổ” kinh tế trong tương lai gần. Tuy nhiên, xét về nội lực của sự phát triển, Việt Nam đã chậm phát triển về chiều sâu tạo nên sức cạnh tranh kinh tế yếu, cộng với tình trạng lãng phí thất thoát vốn và tài sản công diễn ra nghiêm trọng, Việt Nam bắt

    đầu đối diện với nỗi lo về sự bất ổn vĩ mô được biểu hiện thông qua dấu hiệu lạm phát có xu hướng tăng dần: 9,5% cho năm 2004 đến 12,63% của năm 2007 và 19,89% vào năm 2008 (Tổng cục Thống kê, 2013). Sự bất ổn này đã bộc lộ rõ hơn khi nền kinh tế tài chính Mỹ lâm vào khủng hoảng, ảnh hưởng xấu đến cả xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam khiến tốc độ tăng GDP Việt Nam 2008 chỉ đạt xấp xỉ 6,23%, kéo theo đó là chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang dịch vụ giai đoạn 2004

     

    – 2008 chỉ còn ở mức 0,79% và đạt 2,22% tính cho toàn bộ quá trình chuyển dịch.

     

    Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lạm phát cao và tăng trưởng thấp. Tốc độ tăng trưởng GDP 2009 tụt xuống còn 5,32% và năm 2012 là 5,03%, thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh đúng thực trạng của quá trình tăng trưởng, số liệu tính toán cũng cho thấy giai đoạn này có độ chuyển dịch nhỏ nhất trong tất cả các kỳ nghiên cứu, với góc chuyển dịch là 1,060, đạt 1,18%.

     

    Như vậy, kinh tế Việt Nam trong gần

     

    20 năm qua tuy có rất nhiều biến động nhưng nhìn chung cơ cấu kinh tế ngành vẫn có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ với mức chuyển dịch chung là 10,86%, trong đó nông nghiệp – công nghiệp dịch chuyển gần 15% và công nghiệp – dịch vụ dịch chuyển hơn 7,5%. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Sự thay đổi này được thể hiện trong bảng 2.

     

     

    8

     

             

    Tác động của . . .

                 
     

    Bảng 2: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành theo hệ số cosα

                 
     

    Thời gian

    Mức độ

    hệ số cosα

    Độ chuyển

    Tỷ lệ chuyển dịch cơ

     
       

    chuyển dịch

     

    dịch α (độ)

    cấu lao động l (%)

     
       

    NN – CN

    0.999989

    0.161436

    0.179373

     
     

    1994 – 1997

    CN – DV

    0.999875

    0.542763

    0.60307

     
       

    CHUNG

    0.999988

    0.167365

    0.185961

     
       

    NN – CN

    0.999599

    0.973876

    1.082085

     
     

    1997 – 2000

    CN – DV

    0.999565

    1.013658

    1.126286

     
       

    CHUNG

    0.995915

    3.108553

    3.453947

     
       

    NN – CN

    0.991514

    4.481724

    4.979693

     
     

    2000 – 2004

    CN – DV

    0.967427

    8.798447

    9.776052

     
       

    CHUNG

    0.992607

    4.182763

    4.647515

     
       

    NN – CN

    0.997688

    2.338342

    2.598158

     
     

    2004 -2008

    CN – DV

    0.999416

    1.17528

    1.305867

     
       

    CHUNG

    0.992778

    4.134218

    4.593576

     
       

    NN – CN

    0.997951

    2.201163

    2.445737

     
     

    2008 – 2012

    CN – DV

    0.999964

    0.290161

    0.322401

     
       

    CHUNG

    0.995651

    3.207156

    3.563507

     
       

    NN – CN

    0.956674

    10.15654

    11.28505

     
     

    1994 – 2012

    CN – DV

    0.980144

    6.862111

    7.624568

     
       

    CHUNG

    0.931898

    12.76044

    14.17826

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Tính toán ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang công nghiệp qua các giai đoạn có chịu ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng kinh tế. Riêng giai đoạn 1994 – 1997, trong khi tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì sự chuyển dịch còn diễn ra chậm chạp, chỉ đạt gần 0,18%, sự chậm chạp này đánh giá đúng thực trạng của một nền nông nghiệp truyền thống, nơi mà người nông dân đã trải qua bao đời trên đồng ruộng, luôn có tư tưởng “bám đất, bám làng” và tự bằng lòng với những gì mà thiên nhiên ban tặng, cho nên việc chấp nhận thay đổi nghề nghiệp đối với người nông dân không thể diễn ra nhanh được. Chỉ sau khi họ nhìn thấy sự chênh lệch về mức

     

    sống giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp ngày càng tăng cao, thì lao động lúc này mới chuyển dịch mạnh mẽ: nếu giai đoạn 1997 – 2000 chỉ mới ở ngưỡng 1,08% thì giai đoạn tiếp theo sau (2000 – 2004) đã tăng lên thành 4,98%. Những năm 2006 đến nay, kinh tế tăng trưởng chậm lại khiến quá trình chuyển dịch cũng giảm theo. Bên cạnh đó, số liệu tính toán ở bảng 1 và bảng 2 cũng chứng minh rằng cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ có mối tương quan rất chặt chẽ với cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ theo hướng thuận chiều, chứng tỏ giữa lao động công nghiệp và lao động dịch vụ có sự tương đồng về tính chất, trình độ, kỹ năng, nên một sự thay đổi về cơ

     

     

    9

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    cấu kinh tế giữa hai khu vực này sẽ dễ dàng dẫn đến thay đổi về cơ cấu lao động.

     

    Xem xét tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành cho thấy cả hai sự chuyển dịch này đều có tương quan chặt chẽ với nhau, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì chưa thể đánh giá

     

    được mức hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự thay đổi về cơ cấu lao động. Do đó, để định lượng một cách cụ thể mối quan hệ này, nghiên cứu sử dụng hệ số co giãn của cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Kết quả tính toán được biểu diễn ở hình 1.

     

     

     

    Nguồn: tính toán từ số liệu ADB và Niên giám Thống kê Việt Nam

     

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động phản ánh sự thay đổi về tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ứng với mỗi phần trăm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hệ số co giãn càng cao thể hiện khả năng chuyển dịch cơ cấu lao động càng cao, chứng tỏ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tạo thêm được nhiều việc làm hơn cho người lao động.

     

    Hệ số co giãn của cơ cấu lao động nông nghiệp – công nghiệp qua các giai đoạn chuyển biến theo xu hướng tích cực mặc dù kinh tế có lúc tăng trưởng chậm. Sự chuyển biến tích cực này chứa đựng tín hiệu đáng mừng về trình độ của người lao động thuộc khu vực nông thôn rằng họ đã có sự chuẩn bị tốt về các kỹ năng cần thiết để có thể kịp thời đáp ứng được việc làm ở khu vực công nghiệp. Ngược lại với sự tăng lên này theo thời gian, thì hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ biến thiên rất lớn qua các giai đoạn. Trong giai đoạn 2004 – 2008, nếu cơ cấu kinh tế hai ngành này chuyển dịch 1% sẽ kéo theo cơ cấu lao động

     

    dịch chuyển đến hơn 5,4%, thì đến giai đoạn 2008 – 2012 hệ số co giãn chỉ còn lại gần 0,62. Như đã phân tích ở trên, lao động công nghiệp và dịch vụ có nhiều tính chất giống nhau, nhưng mức lương trung bình ở khu vực dịch vụ cao hơn so với khu vực công nghiệp, nên một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ sẽ mở ra nhiều hy vọng cho những lao động công nghiệp muốn chuyển đổi ngành nghề. Mặt khác, giai đoạn 2008 – 2012 là giai đoạn kinh tế thế giới khủng hoảng, và ngành dịch vụ lại chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng này, thất nghiệp tăng cao khiến người lao động e ngại chuyển đổi công việc, đây cũng có thể là nguyên nhân làm hệ số co giãn cơ cấu lao động công nghiệp – dịch vụ trở nên thấp. Như vậy, trong 19 năm qua, cứ trung bình 1,31% cơ cấu lao động dịch chuyển khi cơ cấu kinh tế ngành dịch chuyển 1%. Tính chung trong toàn bộ các ngành, chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

     

    10

     

    Tác động của . . .

     

    1. Khuyến nghị chính sách và giải pháp. sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế, cho thấy

    Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động

    sự chuyển dịch này đã giải quyết được nhiều

    luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tái cơ

    việc làm hơn, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp

    cấu ngành kinh tế thay đổi kéo theo sự thay

    trong tổng số lao động xã hội, tạo điều kiện

    đổi của cơ cấu lao động. Nghiên cứu chỉ ra

    thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện

    sự thay đổi cơ cấu lao động cao hơn so với

    đại hóa đất nước.

    Bảng 3: Hệ số co giãn cơ cấu lao động theo mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số nước khu vực Châu Á.

         

    CDCC

    CDCC lao

    Hệ số

    Nền kinh tế

    Giai đoạn

     

    động ngành

     
         

    kinh tế ngành

     

    co giãn

    Việt Nam

    1994

    – 2012

    10.86222

    14.23328

    1.310348

    Thái Lan

    1994

    -2010

    3.42654

    10.35742

    3.022707

    Indonesia

    1994

    – 2011

    4.90006

    6.81190

    1.390166

    Trung Quốc

    1994

    – 2010

    8.08365

    13.5034

    1.670464

    Hàn Quốc

    1994

    – 2011

    1.15170

    5.58004

    4.845033

    Nguồn: tính toán từ số liệu thống kê ADB cho các nước Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc.

     

     

    Nếu so sánh với một số nước thuộc khu vực châu Á theo từng yếu tố chuyển dịch cơ cấu như bảng 3, nhận thấy Việt Nam là quốc gia có tốc độ dịch chuyển cả về cơ cấu kinh tế lẫn cơ cấu lao động mạnh mẽ nhất trong gần 20 năm qua, điều này vừa chứng tỏ kinh tế Việt Nam đang thực sự khơi dậy và phát huy được những nguồn lực còn tiềm tàng trong xã hội, vừa thể hiện đây là quốc gia mới bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tốc độ dịch chuyển thường rất nhanh. Tuy nhiên, hệ số co giãn ở cột cuối cùng của bảng 3 mới là yếu tố được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu, thì tính toán lại chỉ ra rằng Việt Nam là nước có mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đạt thấp nhất: bằng 0,94 lần so với Indonesia, 0,78 lần so với Trung Quốc, 0,43 lần so với Thái Lan và 0,27 lần

     

    so với Hàn Quốc. Cơ cấu lao động chậm chuyển dịch là dấu hiệu của một quốc gia có quá nhiều lao động trình độ thấp. Theo kết quả khảo sát “Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam” do Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) phối hợp với tập đoàn Manpower tiến hành tại 6.000 doanh nghiệp thuộc 9 lĩnh vực kinh tế tại 9 tỉnh, thành phố ở Việt Nam, các doanh nghiệp đánh giá chất lượng lao động Việt Nam nằm trong nhóm 10% thấp nhất của khu vực. Trong tổng số các doanh nghiệp tham gia khảo sát, có đến 1/4 doanh nghiệp cho rằng lao động Việt Nam thiếu hiểu biết về công nghệ và khả năng sáng tạo; 1/5 nhận xét lao động Việt Nam thiếu khả năng thích nghi với công nghệ mới; 1/3 doanh nghiệp không tìm được lao động có kỹ năng mà họ cần; và 2/5 giám đốc điều hành gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động (Dũng Hiếu, 2012). Do đó, để

     

     

    11

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    đáp ứng được nhu cầu nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành công nghiệp hiện đại, Việt Nam nên tập trung vào việc đổi mới nhanh chóng hệ thống giáo dục theo hướng phát triển năng lực tư duy, năng lực sáng tạo; bồi dưỡng tác phong công nghiệp, tăng tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần hợp tác, tính tự trọng, lòng tin, tính cộng đồng, lương tâm và trách nhiệm công dân. Cần phải xác định đây là việc làm rất khó khăn, không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, song nhất thiết phải thực hiện và cần phải thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, sâu rộng ngay từ trong giáo dục mầm non, tiểu học đến cả trung học phổ thông, đại học sao cho những đức tính đó ngấm dần một cách tự nhiên và trở thành thói quen tự giác của mọi người. Không những thế, Việt Nam còn cần có chiến lược và tư duy đúng đắn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới toàn cầu hóa trên cơ sở xây dựng và điều chỉnh các chính sách hướng nghiệp, dạy nghề; chính sách dự báo nhu cầu lao động và cân đối lao động theo ngành nghề, cấp trình độ; chính sách thu hút các thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính sách chi ngân sách đào tạo nguồn nhân lực; chính sách bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho nhân dân lao động…

     

    Ngoài ra, như đã đề cập, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Vậy nên cơ cấu lao động chậm chuyển dịch cũng được giải thích bởi nguyên nhân từ phía cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch chưa phù hợp với tiềm năng vốn có của đất nước. Nhìn nhận lại thời gian qua, để đạt được mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất

    • tô, sắt thép, đóng tàu… đã được đầu tư hay trợ cấp thông qua ưu đãi thuế nhiều tỷ đô-la, tuy nhiên chưa có một số liệu thống kê nào chứng tỏ rằng đây là những thế mạnh và hứa hẹn của Việt Nam trong tương lai, bởi việc phát triển những ngành công nghiệp này trong thời gian qua chưa thực sự dựa vào nội lực của đất nước mà còn do những yếu tố khác. Trong khi đó, sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ khai thác thế mạnh của mình, Việt Nam đã là “nước lớn” về xuất khẩu nông sản và các mặt hàng gia dụng như hồ tiêu, gạo, cà phê, chè, cao su, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ. Hơn thế, đây chính là những ngành giúp giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho phần lớn người dân Việt Nam, thế nhưng các mặt hàng này mới chỉ dừng ở mức sơ chế hoặc gia công, việc đầu tư vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn dường như chưa được chú trọng đúng mức. Do đó cần phải cơ cấu lại các ngành, nghề, sản phẩm theo hướng ưu tiên lựa chọn phát triển các sản phẩm tiếp theo dựa trên những sản phẩm hiện có, nhất là các sản phẩm xuất khẩu nhằm phát huy năng lực sẵn có của quốc gia. Đồng thời, để việc cơ cấu lại ngành nghề, sản phẩm diễn ra thuận lợi, Chính phủ cần thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất và thu hoạch nông sản, công nghiệp bảo quản sau thu hoạch, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm với trình độ công nghệ cao và sạch nhằm tăng sức cạnh tranh, thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về địa bàn nông thôn để góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động.

     

    Nói tóm lại, sau hơn 25 năm phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, Việt Nam đã có những chuyển đổi tiến hóa của tư duy mới

     

     

    12

     

    Tác động của . . .

     

    về CNH, HĐH khiến cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tuy chuyển dịch chậm nhưng đúng hướng, đã thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Do đó, nếu Việt Nam tạo ra được các điều kiện thuận lợi và ứng dụng được các biện pháp cần thiết để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế thời gian tới. Hai lĩnh vực chính sách có thể tác động để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động là chính sách đào tạo nguồn nhân lực

    và tái cơ cấu ngành kinh tế. Bằng phương pháp vector và hệ số co giãn, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như tính toán của tác giả đã phản ánh phần nào thực trạng về mối quan hệ giữa tái cơ cấu ngành kinh tế kéo theo sự dịch chuyển của cơ cấu lao động, tăng năng lao động để tăng trưởng và phát triển kinh tế qua thời gian. Song, phương pháp này ít có tính dự báo cho tương lai, do vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ này theo nhiều cách tiếp cận khác.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ADB (2012), Key indicators for Asia and the Paciic 2012, adb.org/statistics, truy cập ngày 14/03/2013.

     

    • Tổng cục Thống kê (2013), Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12 so với cùng kỳ năm trước,http://www.gso.gov.vn.
    • Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung (2011), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    • Công Văn Dị (2008), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 361, tr40-45.
    • Hồ An Cương (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, NXB Thông Tấn, Hà Nội.

     

    • Nguyễn Tiệp (2007), Giáo trình Nguồn nhân lực, NXB. Lao động – Xã hội, Hà Nội.

     

    • Wayne Nafziger (1998), Kinh tế học của các nước đang phát triển, NXB Thống Kê, Hà Nội.

     

    • Dũng Hiếu (2012), Năng suất lao động tại Việt Nam thuộc hàng đáy khu vực, vneconomy.vn, truy cập ngày 14/03/2013
    • Thời báo kinh tế Việt Nam (2013), Kinh tế 2012-2013 Việt nam & thế giới.

     

     

     

     

    13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]