Category: Thương Mại – Marketing

  • Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-th%C3%A0nh-t%E1%BB%B1u-tr%C3%AAn-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-kinh-t%E1%BA%BF-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-%E1%BB%9F-H%E1%BA%A3i-Ph%C3%B2ng-2005-2010.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    MỘT SỐ THÀNH TỰU TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ HÀNG HẢI Ở HẢI PHÒNG

    (2005 – 2010)

    ACHIEVEMENTS OF MARITIME ECONOMY IN HAIPHONG (2005 – 2010)

     

    ThS. NGUYỄN THỊ THANH

     

    Khoa Lý luận Chính trị, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Kinh tế hàng hải là một thế mạnh của Thành phố Hải Phòng. Bài viết phân tích một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005 – 2010), bao gồm: vận tải biển (vận tải hành khách và vận tải hàng hóa), dịch vụ cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển.

     

    Abstract

     

    Maritime Economy is the strength of Haiphong City. The paper would analyze a number of achievements in the field of maritime economy in Haiphong (2005 – 2010), including sea transport (passenger transport and freight), port services, shipbuilding and repairing industry.

     

    1. Giới thiệu

     

    Trong Quyết định số 1601/QĐ – TTg được Thủ tướng phê duyệt ngày 15/10/2009 đã nêu rõ mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nhằm thực hiện Nghị quyết Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đề ra), kinh tế hàng hải đứng thứ hai và sau năm 2020 kinh tế hàng hải đứng đầu trong 5 lĩnh vực phát triển kinh tế biển; đồng thời góp phần củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước. Là thành phố cảng quốc tế, đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của Việt Nam và khu vực duyên hải, giữ vị trí trọng yếu về an ninh – quốc phòng, Hải Phòng được xác định là một trung tâm phát triển kinh tế biển của quốc gia. Trong đó, kinh tế hàng hải được coi là một thế mạnh của Thành phố.

     

    2. Đối với vận tải biển

     

    Vận tải biển là một nội dung quan trọng của phát triển kinh tế hàng hải ở Hải Phòng. Những kết quả vận tải biển đạt được trên hai khía cạnh: vận tải hành khách và vận tải hàng hóa.

     

    2.1. Vận tải hành khách

     

    Việt Nam có 3.260 km bờ biển, nằm ở vị trí xung yếu trên biển Đông, thuận lợi cho vận tải hàng hoá, hành khách và phát triển du lịch bằng tàu biển. Tuy nhiên, ngành hàng hải Việt Nam và đội tàu biển chủ yếu làm nhiệm vụ vận tải hàng hoá, còn vận tải hành khách và du lịch trên biển gần như từ lâu bị bỏ trống, không mấy hấp dẫn đối với các chủ tàu.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               101

     

    Trong thời gian qua, bên cạnh hoạt động vận chuyển hành khách bằng đường bộ thì vận chuyển hành khách bằng đường biển cũng có những đóng góp không nhỏ. Hoạt động này chủ yếu tập trung đối với khu vực vận tải hành khách nội địa, đặc biệt trên tuyến Hải Phòng – Cát Bà – Hải Phòng. Thống kê khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển trong những năm gần đây có thể thấy qua bảng 1.

     

    Bảng 1. Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hành khách vận chuyển

    Khối lượng hành khách luân chuyển

       

    (1000 người)

       

    (triệu người.km)

     

    Năm

     

    Chia ra

         

    Chia ra

     
     

    Tổng số

    Đường bộ

     

    Đường

    Tổng số

     

    Đường bộ

     

    Đường

           

    thủy

           

    thủy

    2005

    17.860

    15.267

     

    2.593

    598,7

     

    570,1

     

    28,6

    2006

    22.692

    20.040

     

    2.652

    756,0

     

    725,8

     

    30,2

    2007

    25.938

    22.706

     

    3.232

    1.017,0

     

    979,0

     

    38,0

    2008

    29.017

    26.188

     

    2.829

    1.138,3

     

    1.106,2

     

    32,1

    2009

    27.782

    25.555

     

    2.227

    1.043,1

     

    1.017,5

     

    25,5

    2010

    29.250

    26.704

     

    2.546

    1.051,7

     

    1.023,7

     

    28,0

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Nhìn vào bảng 1 có thể thấy, việc vận chuyển và luân chuyển hành khách có xu hướng tăng trong những năm 2005, 2006, 2007. Về khối lượng hành khách vận chuyển: năm 2005 là 2.593.000 người, đến năm 2006 là 2.652.000 người, và đến năm 2007 là 3.232.000 người. Về khối lượng hành khách luân chuyển: năm 2005 là 28,6 triệu người.km, đến năm 2006 là 30,2 triệu người.km, năm 2007 đạt 38,0 triệu người.km. Nhưng đến giai đoạn 2008, 2009, hoạt động vận chuyển, luân chuyển hành khách lại có sự sụt giảm rõ rệt. Khối lượng hành khách vận chuyển năm 2008 giảm xuống 2.829.000 người, năm 2009 tiếp tục giảm mạnh, còn 2.227.000 người (chỉ đạt 78,7%). Khối lượng hành khách luân chuyển năm 2008 giảm xuống 32,1 triệu người.km và năm 2009 là 25,5 triệu người.km. Đến năm 2010 đã có sự gia tăng trở lại, đạt được khối lượng vận chuyển 2.546.000 người và khối lượng luân chuyển 28,0 triệu người.km, với tốc độ tăng tương ứng là 114,3% và 109,7%.

     

    Xét trong tổng số khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển của Hải Phòng thì hoạt động vận tải biển chiếm tỷ lệ còn rất khiêm tốn, chủ yếu là vận tải bằng đường bộ. Điều này dễ hiểu vì tính ưu việt của việc lựa chọn phương tiện đường bộ phục vụ đi lại của hành khách hơn hẳn so với việc lựa chọn phương tiện đường biển. Nhưng cũng đặt ra yêu cầu cho vận tải hành khách bằng đường biển của Hải Phòng cần phải quan tâm đổi mới phương thức hoạt động kinh doanh cho hiệu quả.

     

    2.2. Vận tải hàng hóa

     

    Trong lĩnh vực vận tải biển ở Hải Phòng thì vận tải hàng hóa được coi là hoạt động chủ yếu. Vận tải hàng hóa bằng đường biển giữ vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông hàng hóa ở Hải Phòng, là chủ lực trong xuất khẩu hàng hóa ra thị trường các nước trên thế giới (chiếm đến khoảng 90% đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa).

     

    Trên cơ sở so sánh giữa đường bộ và đường biển trong hoạt động vận chuyển, luân chuyển hàng hóa ở Hải Phòng, tác giả đưa ra số liệu cụ thể trong bảng 2.

     

    Bảng 2. Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hàng hóa vận chuyển

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển

     

    Năm

     

    (1000 tấn)

       

    (triệu tấn.km)

       

    Tổng số

    Chia ra

    Tổng số

    Chia ra

     
       
     

    Đường bộ

    Đường thủy

    Đường bộ

    Đường thủy

     
           

    2005

    25.373

    19.022

    6.351

    6.419,4

    1.578,4

    4.841,0

     

    2006

    26.123

    19.882

    6.241

    7.030,0

    2.089,0

    4.941,0

     

    2007

    31.871

    23.438

    8.433

    8.137,8

    2.528,4

    5.609,4

     

    2008

    40.494

    27.883

    12.611

    9.998,3

    2.756,3

    7.242,0

     
                   

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

     

    102

     

    2009

    47.053

    33.658

    13.395

    15.798,3

    2.775,6

    13.022,7

    2010

    56.599

    39.850

    16.749

    18.238,3

    3.156,0

    15.082,3

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Có thể thấy khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển bằng đường biển tăng đều trong các năm từ 2005 đến 2010. Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2005 đạt 6.351.000 tấn (tăng 109,5%), năm 2006 đạt 6.241.000 tấn (98,3%), năm 2007 đạt 8.433.000 tấn (tăng 135,1%), năm 2008 đạt 12.611.000 tấn (tăng 149,5%), năm 2009 đạt 13.395.000 tấn (tăng 106,2%), năm 2010 đạt 16.749.000 tấn (tăng 125,0%).

     

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển năm 2005 đạt 4.841,0 triệu tấn.km (tăng 136,6%), năm 2006 đạt 4.941,0 triệu tấn.km (102,1%), năm 2007 đạt 5.609,4 triệu tấn.km (tăng 113,5%), năm 2008 đạt 7.242,0 triệu tấn.km (tăng 129,1%), năm 2009 đạt 13.022,7 triệu tấn.km (tăng 179,8%), năm 2010 đạt 15.082,3 triệu tấn.km (tăng 115,8%).

     

    3. Đối với dịch vụ cảng biển

     

    Cảng Hải Phòng nằm trên tuyến đường giao thông trên biển, kết nối Singapo với Hồng Kông và các cảng của Đông Á, Đông Bắc Á. Năm 1999, khi dự báo lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng, nhiều ý kiến cho rằng, đến năm 2010, lượng hàng hóa thông qua đạt khoảng 8,5 triệu tấn. Nhưng Hải Phòng đã chứng minh sự vượt trội khi năm 2010 đạt tới 38,4 triệu tấn; và năm 2011 là 43 triệu tấn, tương đương với nguồn thu hải quan khoảng 40.000 tỷ đồng. Lượng hàng qua Cảng tăng kỷ lục, vượt xa dự báo chính là sự khẳng định, Hải Phòng kiên định mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải, gắn với kinh tế cảng biển.

     

    Việc hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh; duy trì, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, tăng cường tiếp thị, tìm kiếm, xúc tiến thông tin thị trường cho khối cảng…

     

    đưa bạn hàng đến với Hải Phòng nhiều hơn, mật độ tàu hàng có mặt tại các cảng biển Hải Phòng cũng dày lên. Hiện Hải Phòng là địa phương đi đầu cả nước về cảng biển khi có tới 35 doanh nghiệp khai thác cảng với tổng chiều dài cầu cảng hơn 10,5 km, chiếm 1/4 chiều dài cầu cảng của cả nước. Hệ thống thiết bị bốc xếp tại các cảng thuộc hàng tối tân của thế giới như cẩu dàn QC tại Cảng Hải Phòng với sức nâng 50 tấn trở lên, hệ thống cần trục chân đế sức nâng 40 tấn tại các cảng và các loại xe nâng hàng hiện đại, xếp dỡ gần 110 tấn/ngày, tăng gấp 3 lần so với năm 2005.

     

    Không chỉ tăng về số lượng hàng hóa thông qua, doanh thu của các cảng biển cũng tăng trưởng đáng kể khi chuyển hướng sang xếp dỡ hàng container, mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất. Năm 2011, Cảng Hải Phòng đạt sản lượng xếp dỡ 17,5 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn so với năm 2010. Doanh nghiệp tập trung vào chuyển đổi Tân Cảng Đình Vũ thành cảng container chuyên dụng, mở rộng hệ thống kho bãi, đầu tư cần trục, cẩu dàn để đáp ứng nhu cầu phát triển. Không chỉ Cảng Hải Phòng, Công ty CP Cảng Đoạn Xá cũng đầu tư hơn 30 tỷ đồng lắp cần trục chân đế 40 tấn phục vụ việc xếp dỡ container.

     

    Bảng 3. Một số chỉ tiêu chủ yếu của Cảng Hải Phòng

     

     

    Đơn vị

    2000

    2005

    2008

    2009

    2010

     
     

    tính

                 

    Tổng số CNVC bình quân

    Người

    5.350

    5.022

    3.594

    3.679

    3.614

     

    trong danh sách

                 

    Diện tích bãi chứa hàng

    1000m2

    377,6

    258,6

    394,0

    394,0

    394,0

     

    Tổng số tàu vào cảng

    Tàu

    1.559

    2.011

    2.443

    2.410

    2.649

     

    Tàu trong nước

    Tàu

    542

    1.149

    969

    1.011

    1.211

     

    Tàu nước ngoài

    Tàu

    1.017

    862

    1.474

    1.399

    1.438

     

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    12.465

    14.857

    28.572

    31.748

    35.323

     

    qua cảng trên địa bàn

                 

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    7.645

    10.512

    13.969

    14.370

    15.689

     

    qua cảng chính

                 

    Hàng xuất

    1000 tấn

    1.234

    2.349

    3.244

    2.376

    2.862

     

    Hàng nhập

    1000 tấn

    3.586

    5.197

    7.634

    8.226

    7.572

     

    Hàng nội địa

    1000 tấn

    2.825

    2.966

    3.091

    3.768

    5.255

     

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Ghi chú: Trừ chỉ tiêu khối lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, các chỉ tiêu còn lại chỉ của riêng cảng chính (Cảng Hải Phòng)

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               103

     

    Thành phố đã đưa ra một số dự án trọng điểm cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2006 – 2010 nhằm phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của mình, trong đó, có những dự án lớn đầu tư vào cảng biển với số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Có thể theo dõi trong bảng 4.

     

    Bảng 4. Một số dự án trọng điểm ưu tiên đầu tư giai đoạn 2006 – 2010

    Đơn vị: Tỷ đồng

    TT

    Tên dự án

    Tổng mức

    Nguồn vốn

     

    đầu tư

           
     

    Cải tạo Cảng Hải Phòng giai đoạn II

    1.772

    Ngân sách, tín dụng

     
     

    Xây dựng Cảng cửa ngõ Lạch Huyện

    15.400

    Ngân sách, huy động

     
     

    Xây dựng Cầu Đình Vũ – Cát Hải

    3.950

    Ngân sách

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn II

    600

    Vốn tự có, huy động

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn III

    300

    Vốn tự có, huy động

     

    [Nguồn: Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch đầu tư, 2006]

     

    Riêng đối với dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, sau khi hoàn thành có khả năng tiếp nhận các tàu có sức chở lớn từ 30.000 đến 80.000 tấn, trong đó có tàu container.

     

    UBND Thành phố Hải Phòng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho phép Công ty CP vận tải xăng dầu Vipco thực hiện đầu tư giai đoạn 1 cụm kho cảng container hóa dầu tại bán đảo Đình Vũ, Quận Hải An với tổng vốn đầu tư 481 tỷ đồng, trên diện tích sử dụng là 380.000 m2. Thời gian thực hiện 45 năm. Quy mô đầu tư xây dựng cụm cảng xăng dầu gồm: 1 cảng nhập dầu loại tàu trọng tải đến 20.000 DWT và 1 cảng xuất dầu cho sà lan trọng tải đến 5.000 DWT; các kho chứa xăng dầu và các công trình kỹ thuật phụ trợ đồng bộ khác. Cụm cảng container gồm 2 cảng cập tàu container cho tàu trọng tải đến 30.000 DWT; hệ thống bãi chứa container diện tích 36.000 m2, xưởng sửa chữa diện tích 600 m2 và các công trình phụ trợ.

    Trên địa bàn Thành phố còn có những cảng chuyên dụng như Cảng dầu Thượng Lý, Cảng

     

    • măng Chinh Phong, Cảng thuỷ sản Hạ Long… Hàng năm, những cảng này cũng được đầu tư nâng cấp nhằm duy trì và gia tăng năng lực bốc xếp.

    Hệ thống đèn biển cũng không ngừng được đầu tư nâng cấp. Từ năm 2002 đến nay, dự án đầu tư, nâng cấp hệ thống đèn biển đã được thực hiện. Dự án có tổng mức đầu tư là 70 tỷ đồng trong đó 22 tỷ dành cho xây dựng và 48 tỷ cho trang thiết bị đèn biển, một phần từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA của Tây Ban Nha. Mục đích của dự án là xây dựng, hiện đại hoá 32 đèn biển nằm dọc theo tuyến từ Bắc vào Nam, xây mới 16 đèn biển, cải tạo nâng cấp 16 đèn khác, trong đó có 6 đèn cấp 1, có 3 đèn cấp 2, có 9 đèn cấp 3 và 14 đèn cấp 4.

     

    4. Đối với công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển

     

    Ngành công nghiệp đóng tàu được xác định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển công nghiệp của nước ta, được Chính phủ và Thành phố quan tâm với mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp đóng tàu lớn của cả nước.

     

    Trên địa bàn Thành phố Hải Phòng hiện có khoảng 50 doanh nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, chiếm khoảng 50% doanh nghiệp đóng tàu của quốc gia. Từ chỗ chỉ đóng được những con tàu vận tải cỡ nhỏ từ 400 đến 1.400 tấn, đến nay những kỹ sư và công nhân Hải Phòng đã đóng được những tàu biển có trọng tải lớn, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đạt tiêu chuẩn kiểm định nghiêm ngặt của hàng hải quốc tế từ 22.500 tấn đến 36.000 tấn và 53.000 tấn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Từ năm 2005 đến năm 2010, các doanh nghiệp đóng tàu đã huy động hàng nghìn tỷ đồng nâng cấp các ụ, triền đà cho phép đóng các chủng loại tàu trọng tải từ 6.500 tấn đến 100.000 tấn.

     

    Từ năm 2010 đến nay là thời điểm các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng lao đao. Với sự chỉ đạo, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các cấp, các ngành có liên quan, các doanh nghiệp đóng tàu đã dần từng bước củng cố và ổn định sản xuất. Các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng đã tập trung thực hiện tái cơ cấu ba lĩnh vực chính theo chỉ đạo. Trong đó, tập trung vào công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu biển và đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp tàu biển. Ðây là một công việc đầy khó khăn, gian khổ và phức tạp. Các doanh nghiệp đã chuyển nhượng, sáp nhập, giải thể, thoái vốn, bán cổ phiếu những đơn vị kinh doanh không hiệu quả, những công ty không thuộc ngành nghề kinh doanh chính, để tập trung cho ngành nghề sản xuất chính và những đơn vị hoạt động có lãi, nhằm từng bước củng cố, ổn định và phát triển. Ðây mới

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               104


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gia%CC%89i-pha%CC%81p-thu-hu%CC%81t-ha%CC%80ng-ho%CC%81a-trung-chuy%C3%AA%CC%89n-n%C3%B4%CC%A3i-%C4%91%E1%BB%8Ba-%C4%91%C3%AA%CC%81n-ca%CC%81c-b%C3%AA%CC%81n-ca%CC%89ng-khu-v%C6%B0%CC%A3c-Ca%CC%81i-Me%CC%81p-Th%E1%BB%8B-V%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải

    SOLUTIONS TO ATTRACT INLAND TRANSSHIPMENT GOODS TO CAI

    MEP – THI VAI PORTS

     

    1. BÙI THIÊN THU; ThS. NGUYỄN XUÂN TUẤN

    Cục Hàng hải Việt Nam

     

    Tóm tắt

    Bài viế ttổng hợp vềthực trạng đầ u tư,khai thác các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Phân tích nguyên nhân tác động đến sức hấp dẫn hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa trung chuyển nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Từ đó, cung cấp cho các nhà hoạch đinḥ chính sách một số giải pháp cải thiện sức hấp dẫn hàng hóa trung chuyển nội đi ,̣agóp phần nâng cao hiệu quả khai thác cảng biển khu vực.

    Abstract

     

    The article summarizes about current status of investing and operating Cai Mep – Thi Vai ports. The article analyzes cause impact on the attractiveness of goods, especially inland transshipment goods to Cai mep – Thi Vai ports. Therefrom supplies to policy makers some solutions to improve inland transshipment good attractiveness, contribute to improving the operation efficiency of seaports.

     

    1.   Đặt vấ n đề

     

    Đất nước ta cóbờ biển trải dài trên 3.260km, hàng trăm vũng vinḥ cókhảnăng xây dựng cảng biển, tuy vậy, không phải vi ̣trínào cũng cónhững điều kiện thuận lợi đểphát triển bến cảng nước sâu. Cái Mép – Thi ̣Vải tinh̉ Bà Riạ – Vũng Tàu làmột trong sốit́ những vi ̣tríđược đánh giá là có những ưu thếvượt trội so với các khu vực khác của Việt Nam, vừa có điều kiện tựnhiên thuận lợi cóthểxây dựng cảng biển tiếp nhận tàu đến hàng trăm ngàn tấn vừa gắn với Vùng kinh tếtrọng điểm phiá Nam là trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính hàng đầu cả nước, đóng góp hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch xuất khẩu cả nước [1].

     

    Với những lợi thếvềđiều kiện tựnhiên, kinh tếxãhội, quy hoạch phát triển Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030 đãxác đinḥ cảng biển Bà Riạ – Vũng Tàu làmột trong 03 cảng biển cửa ngõquốc tếquan trọng trong hệthống cảng biển Việt Nam cókế t hợpthực hiện di ̣ch vụtrng chuyển container quốc tế.

     

    Thực hiện quy hoạch phát triển cảng biển, khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải đãđược đầu tư các bến có quy mô lớn, hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, song hiện nay hiệu suấ tkhai thác các bến cảng rất thấp, chi ̉đạt khoảng 1/5 công suất thiết kế. Hàng hóa xuất nhập khẩu trên tuyến biển xa phần lớn vẫn phải trung chuyển qua các cảng khác trong khu vực như Hồng Kông, Xin – ga – po (Singapo)làm ảnh hướng lớn đến tinh́ cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, việc thu hút hàng hóa trung chuyển nội điạ của Việt Nam đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải sẽgóp phần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa vànâng cao hiệu quảkhai thác cảng biển.

     

    2.   Thực trạng đầu tư, khai thác cảng tại khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Đến cuối năm 2013, khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải đãđưa vào khai thác 17 bến cảng hàng khô trong đó có 11 bến hàng tổng hợp và 06 bến container với tổng công suất khoảng 103 triệu tấn/năm trong đóbao gồm khoảng 21,3 triệu tấn hàng tổng hợp và 6,8 triệu TEU container. Ngoài ra, hiện naycó 02 bến cảng tổng hợp và 01 bến cảng container khác đang trong giai đoạn xây dựng với công suất thông qua khoảng 2,5 triệu tấn hàng tổng hợp và 2,1 triệu TEU container (khoảng 28 triệu tấn/năm) [2]. Năm 2013, Cảng Bà Riạ Vũng Tàu thông qua 22,6 triệu tấn hàng khô chiếm khoảng 22% công suất cảng, riêng hàng container đạt945.740 Teu, chiếm khoảng 14% công suất các bến container chuyên dùng [3].

     

    Bảng 1. Các bến cảng chuyên dùng container tại Cái Mép – Thi ̣Vải [4],[5]

     

    Tên bến cảng

    Công suất TK

    TMĐT

    Nhà đầu tư

    Năm hoạt động

     

    (TEU/năm)

    (Triệu USD)

           

    Đang hoạt động

    6.800.000

             

    SITV

    1.100.000

     

    267

    SICC + Hutchison (Hongkong)

    9/2010

     

    SP-PSA

    740.000

     

    240

    Vinalines + CSG + PSA (Singapore)

    5/2009

     
                 

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

    93

     

    Tên bến cảng

    Công suất TK

    TMĐT

    Nhà đầu tư

    Năm hoạt động

     

    (TEU/năm)

    (Triệu USD)

           

    – TCCT

    1.500.000

    204

    – Tân Cảng Sài Gòn

    5/2010

     

    – TCIT

    – TCSG + MOL + Wanhai + Hanjin

    01/2011

     
       

    CMIT

    1.150.000

    268,6

    Vinalines + CSG + APMT (Đan

    3/2011

     

    Mạch)

             

    SSIT

    1.570.000

    240

    Vinalines + CSG + SSA Marine (Mỹ)

    2012

     

    ODA Cái Mép

    740.000

    326,8

    Nhà nước

    2013

     

    Đang xây dựng

    1.700.000

           

    Gemalink

    1.700.000

    300

    Gemadept + CMA CGM (Pháp)

       

    Tổng cộng

    8.500.000

    1.846,4

         

     

     

    Hình 1. Hàng xuất – nhậpkhẩu bằng đường biển từ các cảng Nhóm 5 [6]

     

    Thời gian qua các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải chưa phát huy hiệu quảchức năng theo quy hoạch. Hàng hóa từ Nhóm cảng biển số 5 (gồm các cảng Tp. HồChíMinh, Đồng Nai, Binh̀ Dương, Bà Riạ Vũng Tàu) đi các tuyến biển xa đến châu Âu, châu My ̃phần lớn vẫn được trung chuyển qua Hồng Kông, Xin – ga – po. Theo số liệu nghiên cứu năm 2012, Nhóm cảng biển số5 thông qua lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khoảng 4,7 triệu TEU container, trong đókhoảng 1,88 triệu TEU hàng xuất nhập khẩu đi/đến châu Âu vàchâu My,̃ tuy nhiên lượng hàng vận tải trên tuyến biển xa xuất phát từ các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải chiếm tỷtrọng nhỏ, khoảng 42% đối với hàng xuất vàkhoảng 17% đối với hàng nhập khẩu (Hinh̀ 1).

     

    Từ tháng 5/2009, khi bến cảng container đầ u tiên (SP-PSA) được đưa vào khai thác, năm 2010 hàng hóa đãcósựdicḥ chuyển đáng kểtừ khu vực thành phốHồChíMinh ra Vũng Tàu. Tuy nhiên sựdicḥ chuyển này đãkhông duy trìnhư mong đợi, hàng hóa qua cảng thành phốHồChí Minh cósựchững lại trong năm 2010 nhưng tiếp tục tăng trưởng nhanh trở lại đểchiếm linh̃ hàng hóa trong nhóm cảng biển số5. Hàng hóa qua cảng biển Vũng Tàu tăng trưởng hơn 220% trong năm 2010 từ 150ngàn TEU lên 490 ngàn TEU nhưng tăng trưởng chậm dần từ năm 2011 thậm chí tăng trưởng âm trong năm 2013. Đến nay, tổng lượng hàng container thông qua cảng biển Vũng Tàu vẫn ở dưới mức 1 triệu TEU/năm (0).

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               94

     

     

    Hình 2. Khối lượng vàtăng trưởng hàng khô vàhàng container qua cảng Vũng Tàu [1]

     

    3.   Nguyên nhân tác động đến sức hấp dẫn hàng qua cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Lượng hàng hóa qua các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải tăng trưởng chậm có thể được đánh giá qua các nguyên nhân dưới đây:

     

    • Đến năm 2013, khu vực Đông Nam Bộđãthành lập và đưa vào khai thác 91 khu công nghiệp (KCN)[7], đây là các trung tâm sản xuất hàng chế tác xuất nhập khẩu theo đinḥ hướng container hóa. Khu vực Bà Riạ – Vũng Tàu có12 KCN với diện 1.857ha chiếm 13% vềsốlượng và17% vềdiện tich́. Hầu hết các KCN tập trung tại thành phốHồChíMinh vàvùng phụcận với 79 KCN, diện tich́ 9.179ha, chiếm 87% vềsốlượng và83% vềdiện tich́. Do kém lợi thếvềkhoảng cách vận tải vàchân hàng nhỏnên các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải cósức hấp dẫn thấp hơn so với các bến cảng khu vực thành phốHồChíMinh. (thay . bằng dấu 😉
    • Hiện nay các cảng biển lớn trên thếgiới đều được phát triển gắn liền với các trung tâm hậu cần, logistics sau cảng. Trong khi các trung tâm logistics vàcác cảng cạn (ICD) là yếu tốrất quan trọng trong việc phát triển nguồn hàng cho cảng thìBàRiạ – Vũng Tàu vẫn chưa hinh̀ thành trung tâm logistics hậu cảng hay các ICD đểhỗtrợcảng biển (0). (thay . bằng dấu 😉

     

    Hình 3. Phân bốcác KCN vàICD tại khu vực Đông Nam Bộ

     

    • Kết nối các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải đến chân hàng trong nội địa hiện tại chủ yếu thông qua mạng đường bộ và đường thủy nội địa, chưa có kết nối đường sắt. Do năng lực hạ tầng giao thông bộ hạn chế, chi phí vận tải cao, đồng thời việc đầu tư nâng cấp mạng giao thông thủy nội địa chưa kịp thời nên chưa tạo được sức hấp dẫn hàng hóa đến cảng. (thay . bằng dấu 😉
    • Lượng hàng hóa đến cảng Vũng Tàu nhỏ, đồng thời phải chia sẻcho nhiều bến cảng đã đầu tư trong khu vực Cái Mép- Thị Vải nên mỗi bến cảng không đủlượng hàng hóa đểhấp dẫn các hãng tàu lớn gắn kết vàmở tuyến vận tải biển xa. Thực tếsốlượng tuyến vận tải đi châu Âu, châu Mỹ đãgiảm từ 16 tuyến xuống còn 12 tuyến năm 2011 và còn 8 tuyến từ năm 2012.

    4.           Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội điạ đến Cái Mép – Thi ̣Vải

     

    Từ những phân tich́ như trên, tác giả cho rằng có thểtriển khai một số giải pháp thu hút hàng trung chuyển nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải như sau:

     

    4.1. Giải pháp ngắn hạn

     

    • Tăng cường đầu tư cơ sở hạtầng giao thông kết nối đến cảng đểgiảm chi phívàthời gian vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu từ các KCN, các ICD hiện cótrong nội điạ đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Trước mắt là cải thiện năng lực hạtầng giao thông đường bộtừ Vũng Tàu đi thành phố Hồ ChíMinh, Đồng Nai và các khu vực phụcận, đồng thời đẩy nhanh tiến độ nâng cấp tuyến vận tải thủy nội điạ kết nối khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải với thành phốHồChíMinh

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               95

     

    vàđồng bằng sông Cửu Long đểthu hút hàng hóa đang phải trung chuyển qua Hồ ng Kông,Xin – ga – po vềCái Mép – Thi ̣Vải;

     

    • Cần cósựliên kết, phối hợp kinh doanh giữa các chủcảng trong khu vực Cái Mép – Thi ̣ Vải đểtập trung hàng hóa cho 1 (hoặc 2) bến cảng giai đoạn trước mắt đặc biệt làhàng hóa vận tải trên tuyến biển xa đểđảm bảo cho 1 bến cảng trong sốcác bến cảng đãđầu tư nhanh chóng đạt được quy mô kinh tếlớn (xếp dỡđược 1 triệu TEU/năm) làm cơ sở thiết lập ổn đinḥ các tuyến vận tải biển xa từ Cái Mép – Thi ̣Vải đi châu Âu, châu My ̃vàtạo tiền đềhinh̀ thành các dicḥ vụhỗ trợnhư vận tải đa phương thức, logistics…
    • Ràsoát và cógiải pháp giãn tiến độtoàn bộcác dựán cảng đang triển khai hoặc đang có kếhoạch triển khai trong 5 năm tới đểtránh việc phân tán vềhàng hóa đồng thời đảm bảo hiệu quảđầu tư cho các dựán cảng.

    4.2. Giải pháp dài hạn

     

    • Thành lập khu vực tựdo thương mại gắn với các bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải và khu dicḥ vụhậu cần logistics (diện tich́ đủlớn thông thường gấp khoảng 2 lần diện tich́ các bến cảng cộng lại) đểthu hút hàng hoácũng như các hoạt động đầu tư thương mại, Đồng thời kết nối đường sắt từ khu hậu cảng Cái Mép – Thi ̣Vải tới các KCN các ICD lớn trong khu vực đểvận tải, tập kết hàng hóa;
    • Rà soát, điều chinh̉ quy hoạch phát triển các KCN trong giai đoạn đến năm 2030 và xa hơn, trong đóđinḥ hướng ưu tiên phát triển các KCN sản xuất hàng chếtác tại BàRiạ – Vũng Tàu đểđưa chân hàng tới gần cảng biển;
    • Điều phối phát triển các cảng biển khu vực Đông Nam Bộtheo chức năng cụthể, trong đó quy đinḥ các tuyến vận tải biển xa chi ̉xuất phát từ BàRiạ Vũng Tàu, hạn chếtiếp nhận các tàu trọng tải trên 50.000DWT vào khu vực thành phốHồChíMinh.

    5.           Kế t luận

     

    Từ những năm 2000, Việt Nam đãxây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hạtầng cảng biển nhằm tận dụng những lợi thế về biển phát triển kinh tếđất nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên đểhệthống cảng biển thực sựphát huy hiệu quả, tạo động lực cho phát triển các linh̃ vực kinh tếliên quan, đòi hỏi việc đầu tư cảng biển phải gắn liền với những giải pháp đồng bộ.

     

    Trên cơ sở những phân tich́ vềthực trạng đầu tư khai thác cảng biển khu vực Cái Mép – Thi ̣ Vải vàthực tếphát triển cảng quốc tế, tác giảđãđềxuất những giải pháp tạo cho cảng Vũng Tàu sức thu hút hàng hóa đặc biệt là hàng xuất nhập khẩu đang phải trung chuyển qua Hồng Kông, Xin

     

    • ga – po. Nếu các giải pháp nêu trên được triển khai triệt đểsẽgóp phần nâng cao hiệu quảđầu tư, khai thác hạtầng cảng trong khu vực, nâng vi ̣thếcủa cảng biển Việt Nam, giảm giáthành và tăng sức cạnh tranh hàng hóa xuất nhập khẩu.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đềán lập điều chinh̉ quy hoạch chi tiết Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Thống kê hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2013. Cục Hàng hải Việt Nam .
    • Đềán nâng cao hiệu quảquản lýkhai thác cảng biển nhóm 5 vàcác bến cảng khu vực Cái Mép – Thi ̣Vải. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Quy hoạchchi tiết Nhóm cảng biển số5 đến năm 2020, đinḥ hướng đến năm 2030. Cục Hàng hải Việt Nam.
    • Nghiên cứu thực trạng cảng và chiến lược tối ưu hóa hoạt động khai thác cảng container Miền Nam Việt Nam. Cơ quan Hợp tác quốc tếNhật Bản (Jica).
    • Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. BộKếhoạch vàĐầu tư.

    Người phản biện: TS. Vũ Trụ Phi, TS. Đỗ Mai Thơm

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               96


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan

    Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan

    Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%C6%B0%E1%BB%9Fng-ph%E1%BA%A1t-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%B3ng-t%C3%A0u-trong-thu%C3%AA-t%C3%A0u-chuy%E1%BA%BFn-v%C3%A0-c%C3%A1c-tranh-ch%E1%BA%A5p-ph%C3%A1t-sinh-li%C3%AAn-quan.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thưởng, phạt giải phóng tàu trong thuê tàu chuyến và các tranh chấp phát sinh liên quan

    THƯỞNG, PHẠT GIẢI PHÓNG TÀU TRONG THUÊ TÀU CHUYẾN VÀ CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH LIÊN QUAN

     

    THE DISPUTES USUALLY ARISE CONCERNING TO DEMURRAGE AND DESPATCH IN VOYAGE CHARTER PARTY

     

    1. ĐẶNG CÔNG XƯỞNG

    Phòng KHCN, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Một trong những điều khoản quan trọng của Hợp đồng thuê tàu chuyến là thưởng, phạt giải phóng tàu. Đây là điều khoản ràng buộc trách nhiệm của người thuê tàu trong việc xếp, dỡ hàng hóa và gắn với số tiền thưởng phạt tương ứng với thời gian làm hàng. Có nhiều cách tính thưởng phạt giải phóng tàu và tuỳ theo cách tính sẽ có lợi cho từng bên, vì vậy thường có các tranh chấp liên quan đến điều khoản này.

     

    Bài báo phân tích và giới thiệu các cách tính thưởng phạt giải phóng tàu trong Hợp đồng thuê tàu chuyến đồng thời chỉ rõ một số tranh chấp thường gặp và đề xuất hướng giải quyết.

     

    Abstract

     

    One of the most important terms and conditions of the Voyage charter party is demurrage and despatch (DEM/DES). This is condition to concern with the responsibility of the charterer to load and discharge cargoes. There are many methods of the calculation laytime and DEM/DES money, so the disputes often arise.

     

    The article analyzes and introduce the methods of calculation DEM/DES and proposes to deal.

     

    Những vấn đề chung về Hợp đồng thuê tàu chuyến và thưởng phạt giải phóng tàu 1. Hợp đồng thuê tàu chuyến (Voyage charter party).

     

    Theo điều 70 và điều 71 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005: “Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               83

     

    chuyển, theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng”.

     

    “Hợp đồng vận chuyển theo chuyến là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển dành cho người thuê vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể để vận chuyển hàng hóa theo chuyến”.

     

    Như vậy, theo Bộ luật hàng hải Việt Nam thì hợp đồng thuê tàu chuyến được coi là hợp đồng vận chuyển theo chuyến.

     

    Theo tập quán hàng hải, hợp đồng thuê tàu chuyến (Voyage charter party – C/P) là một loại hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển trong đó người chuyên chở cam kết chuyên chở hàng hóa từ một cảng này để giao cho người nhận ở một hay nhiều cảng khác, người thuê tàu cam kết trả cước phí chuyên chở theo mức hai bên đã thỏa thuận.

     

    Như vậy, hợp đồng thuê tàu điều chỉnh mối quan hệ pháp lý giữa người chuyên chở và người thuê tàu. Người chuyên chở có thể là chủ tàu hoặc chỉ là người thuê tàu của người khác để kinh doanh lấy cước. Người thuê tàu là các chủ hàng hoặc người được ủy thác thuê tàu để chuyên chở hàng hóa.

     

    2. Các loại hợp đồng thường dùng trong vận tải tàu chuyến

     

    Mặc dù hợp đồng thuê tàu chuyến là kết quả của một quá trình thương lượng thỏa thuận giữa hai bên rồi mới được ghi chép lại, nhưng để đơn giản hóa và rút ngắn thời gian đàm phán ký kết hợp đồng, các bên thường dựa vào các hợp đồng mẫu (Standard Charter Party). Hợp đồng mẫu thường do các luật gia, các tổ chức hàng hải Quốc gia và Quốc tế soạn thảo và có nhiều loại khác nhau.

     

    Trên thế giới hiện nay có tới trên 60 loại hợp đồng thuê tàu chuyến mẫu và chúng có thể phân thành hai loại chính:

     

    Loại thứ nhất:  Mẫu hợp đồng thuê tàu chuyến mang tính chất tổng hợp.

     

    Loại mẫu hợp đồng này thường dùng cho việc thuê tàu chuyến chuyên chở hàng bách hóa (General cargo). Các mẫu thường sử dụng phổ biến hiện nay là:

     

    + Mẫu hợp đồng GENCON (Uniform General Charter)

     

    Mẫu này do tổ chức BIMCO soạn thảo 1922 (The Baltic International Maritime conference) và đã được bổ sung, hoàn chỉnh nhiều lần vào những năm 1976, năm 1994. Mục đích của những lần sửa đổi này nhằm hoàn thiện và loại trừ tối đa những chỗ còn chưa rõ ràng, mập mờ dễ dẫn tới tranh chấp giữa người thuê tàu và chủ tàu.

     

    + Mẫu hợp đồng SCANCON:

     

    Mẫu này do Bimco phát hành năm 1956 dùng cho các nước trên bán đảo Scandiver Loại thứ hai: Mẫu hợp đồng thuê tàu chuyến có tính chất chuyên dụng.

     

    Mẫu hợp đồng này dùng để áp dụng khi chuyên chở một loại hàng nhất định và trên một tuyến đường nhất định.

     

    • Mẫu hợp đồng chở dầu: Exxonvoy 1969; Mobilvoy 96; Shelvoy 5,…
    • Mẫu hợp đồng chở than: “POLCOAL – VOY 1971” của BaLan
    • Mẫu hợp đồng chở quặng: “SOVORECON 1962, ORECON 1950”
    • Mẫu hợp đồng chở ngũ cốc:“CENTROCON” của Mỹ và “AUSTRAL 1928” của Úc.
    • Các mẫu khác.

    Việc tiêu chuẩn hóa và thống nhất mẫu hợp đồng thuê tàu chuyến vẫn đang tiếp tục theo hai hướng:

     

    • Thống nhất nội dung hợp đồng trong phạm vi thế giới.
    • Đơn giản hóa nội dung của hợp đồng.

    3.           Nội dung chủ yếu trong hợp đồng thuê tàu chuyến (Voyage Charter Party- C/P)

     

    Nội dung chủ yếu của Hợp đồng thuê tàu chuyến (Voyage C/P) có thể được chia ra thành các điều kiện và điều khoản chính như sau:

     

    • Chủ thể: Người vận chuyển và người thuê vận chuyển

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               84

     

    Bao gồm tên và địa chỉ của người chuyên chở, tên và địa chỉ của người đại lý (Ship’s Agent) hay môi giới (Broker). Ngay cả khi người đại lý hay môi giới thay mặt người chuyên chở ký kết hợp đồng thuê tàu thì cũng phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người chuyên chở/ của chủ tàu để khi hàng hoá bị tổn thất có thể khiếu nại được.

     

    • Điều khoản về tàu: Tên tàu, các đặc trưng khai thác kỹ thuật cần thiết; nếu thay thế tàu phải được sự đồng ý của người thuê tàu, phải ghi ”hoặc một tàu khác thay thế” (Substitute Sister

    Ship)

     

    • Điều khoản về thời gian tàu có mặt tại cảng xếp hàng (Laycan)
    • Điều khoản về hàng hóa: Tên hàng, quy cách, số lượng, dung sai về số lượng, quyền lựa chọn dung sai số lượng, khối lượng hàng do bên nào chọn….
    • Điều khoản về cảng xếp, dỡ hàng: tên cảng và số lượng cầu/cảng xếp hoặc dỡ
    • Điều khoản về cước phí vận chuyển: Mức cước, chi phí xếp dỡ kèm theo (Fios; Fiot,

    Li/Fo…)

     

    • Điều khoản về thanh toán:

     

    • Điều khoản về mức xếp.dỡ và thời gian làm hàng: Ngày làm hàng là loại ngày nào (WWDSHEXUU, WWDSH EX EU,CQD…)
    • Điều khoản về thưởng/ phạt làm hàng (DEM/DES):
    • Điều khoản về trách nhiệm và miễn trách của người chuyên chở:
    • Điều khoản về sang mạn, vật liệu chằng buộc, chèn lót (nếu có):

     

    • Hoa hồng môi giới:
    • Các điều khoản khác: Trọng tài, luật áp dụng, hai tàu đâm va cùng có lỗi, cầm giữ hàng, bắt giữ tàu, tổn thất chung, thông báo tàu đến (ETA)…

     

    • Phụ lục (đi kèm theo hợp đồng mẫu để bổ sung một số điều khoản)

    Các hợp đồng thuê tàu chuyến trên tuyến quốc tế đều được soạn thảo bằng tiếng Anh.

     

    4. Điều khoản thưởng, phạt giải phóng tàu (Demurrage/Despatch – DEM/DES)

     

    Để đảm bảo thực hiện đúng mức thời gian làm hàng quy định của hợp đồng, chủ tàu phải đưa ra điều kiện bắt buộc người thuê vận chuyển phải nỗ lực làm hàng theo đúng thời hạn đã thỏa thuận nhằm thực hiện đúng kế hoạch chuyến đi của tàu. Có hai trường hợp xảy ra thưởng phạt dôi nhật ở cảng xếp và dỡ hàng:

     

    • Nếu người thuê kéo dài thời gian làm hàng so với thỏa thuận trong hợp đồng thì họ sẽ bị phạt một khoản tiền (Demurrage money) – nhằm bù đắp các chi phí cho chủ tàu – gọi là tiền phạt làm hàng chậm;
    • Nếu người thuê thực hiện làm hàng với thời hạn ngắn hơn so với thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ được chủ tàu thưởng cho một khoản tiền gọi là thưởng tiết kiệm thời gian làm hàng (Despatch money). (thay . bằng dấu 😉
    • Mức thưởng phạt do 2 bên thoả thuận trên cơ sở tính toán của chủ tàu và ghi vào hợp đồng. Thông thường mức thưởng chỉ bằng 1/2 mức phạt (DHD) (thiếu dấu .)

    Chủ tàu thường xây dựng mức tiền phạt dôi nhật dựa trên cơ sở của tổng chi phí thực tế duy trì tàu và thuyền bộ trong thời gian dôi nhật tại cảng. Mức tiền phạt cho một ngày tàu có thể tính như sau:

     

    Tiền phạt = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi*  +  Lợi nhuận  (USD/day)

     

    Trong đó:

     

    Chi phí cố định (Running cost) bao gồm: Sửa chữa, bảo hiểm, lương và tiền ăn cho thuyền

    bộ…

     

    Chi phí biến đổi * bao gồm: Chi phí nhiên liệu khi tàu đỗ và Phí cầu tàu.

     

    Lợi nhuận: là số tiền mà chủ tàu có thể thu được nếu như cho thuê định hạn.

     

    • Mức tiền cho thuê định hạn tàu dựa vào thị trường cho thuê tàu định hạn tại thời điểm

    tính toán

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               85

     

    Hoặc có thể tính:    Tiền phạt = Mức tiền cho thuê tàu định hạn  + Chi phí biến đổi

     

    • Nếu quy định thời hạn bốc dỡ tính gộp (Reversible Laytime) thì cho phép người thuê vận chuyển cộng dồn thời hạn bốc hàng và thời hạn dỡ hàng để tính thưởng/ phạt làm hàng, khi đó trong điều khoản Laytime sẽ ghi: Laytime for loading and discharging are Reversible. Nếu thời gian thực tế sử dụng vào làm hàng ít hơn Laytime thì sẽ thưởng.
    • Nếu quy định thời hạn làm hàng riêng rẽ thì tiền thưởng/ phạt sẽ tính riêng cho từng cảng xếp và dỡ, khi đó trong điều khoản Layime sẽ ghi: Time or Laydays for loading and discharging are not Reversible; hoặc Laydays for loading and discharging are Normal .
    • Nếu quy định thời hạn bốc dỡ tính bình quân (Averaging Laytime) thì cho phép người thuê vận chuyển bù trừ thời hạn bốc hàng vào thời hạn dỡ hàng hoặc ngược lại khi bị phạt làm hàng chậm, khi đó trong điều khoản Laytime sẽ ghi: Laydays for loading and discharging are Averaging Laytime.
    • Nguyên tắc của phạt là: khi đã bị phạt thì luôn luôn bị phạt (once on demurrage, always on demurrage), nghĩa là khi thời gian xếp dỡ đã hết và đã bị phạt thì tất cả những ngày sau đó đều bị phạt, cho dù đó là ngày làm việc, chủ nhật hay ngày lễ, trừ khi có quy định rõ ràng là không phạt vào ngày lễ và chủ nhật (hiếm khi xảy ra).

    Tiền thưởng có thể tính theo 2 cách sau:

     

    • Thưởng cho toàn bộ thời gian tiết kiệm được (All Time saved –ATS): theo cách này sẽ không có lợi cho chủ tàu, vì phải trả tiền vào thời gian còn thừa của các ngày nghỉ cho phép ngoài

    Laytime.

     

    • Thưởng cho toàn bộ thời gian làm việc tiết kiệm được (All Working Time saved –WTS hay All Laytime saved – LTS): cách quy định này sẽ có lợi cho chủ tàu, vì loại trừ những ngày nghỉ khi chúng nằm trong thời gian tiết kiệm được của người thuê.

    Các tranh chấp thường phát sinh liên quan đến DEM/DES và hướng xử lý a/ Tranh chấp liên quan đến trao NOR.

     

    NOR (Notice of readiness – Thông báo sẵn sàng làm hàng). Đây là mốc thời gian để bắt đầu tính Laytime trên cơ sở thời gian trao và nhận NOR. Thường Người thuê tàu phải chờ cho tàu hoàn tất việc cập cầu hoặc phao neo thì mới ký nhận NOR (accepted) bất luận Thuyền trưởng hoặc Đại lý được ủy quyền có trao NOR (tendered).

     

    Thông thường, các hợp đồng thuê tàu chuyến quy định thời gian làm hàng sẽ bắt đầu tính sau 1 thời hạn nhất định (ngày, giờ) kể từ khi NOR đã được trao (tendered) hoặc đã được trao và chấp nhận (Tendered and Accepted)

     

    Theo hợp đồng mẫu GENCON 94, thời hạn làm hàng sẽ bắt đầu tính từ 13 giờ nếu NOR được trao và chấp nhận trước hoặc vào lúc 12 giờ trưa và sẽ tính từ 6 giờ sáng của ngày hôm sau nếu NOR được trao và chấp nhận vào giờ làm việc của chiều hôm trước hoặc trong giờ làm việc của ngày trước ngày lễ (hoặc ngày thứ 7).

     

    Ví dụ: Hợp đồng quy định về việc tính Laytime như sau: Laytime for loading and discharging shall commence at 13.00 hours, if Notice of Readiness is given up to and including 12.00 hours, and at 06.00 hours next working day if notice given during office hours after 12.00 hours.

     

    Tuy nhiên, có hợp đồng quy định thời hạn làm hàng sẽ bắt đầu tính sau 12 hoặc 24 tiếng kể từ khi NOR được trao và chấp nhận. Việc quy định chấp nhận NOR như là một điều kiện có lợi cho người thuê tàu, bởi vì thời điểm trao NOR có thể tàu chưa vào cảng, chưa hoàn thành các thủ tục y tế, hải quan,… thì người thuê chưa chấp nhận NOR, như vậy sẽ chưa tính thời gian làm hàng.

     

    Vì vậy, để tránh những tranh chấp dạng này, trong Hợp đồng thuê tàu chuyến, Chủ tàu có điều khoản trao và nhận NOR và luôn có kèm theo 4 điều kiện W.W.W.W.

     

    b/ Tranh chấp liên quan đến ngày làm hàng (Laytime).

     

    Ngày làm hàng có nhiều cách hiểu theo tập quán ở các quốc gia khác nhau như: ngày làm việc theo công lịch, ngày làm việc 24 tiếng, ngày làm việc thời tiết tốt….có trừ ngày lễ và chủ nhật

     

    hay không…. Vì vậy để tránh tranh chấp phát sinh theo cách tính này, trong hợp đồng phải ghi rõ

    thời gian làm hàng. Ví dụ:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               86

     

    • WWD SHEX UU (Weather Working Days, Sunday and Holidays Excepted, Unless Used, If used, Only Actual time Used to count): Những ngày làm việc thời tiết tốt, không kể ngày lễ và chủ nhật, trừ khi có làm, nếu có làm thì thời gian thực tế sử dụng sẽ được tính.
    • WWD SHEX IEU (Weather Working Days, Sunday and Holidays Excepted, Even Used):

    Những ngày làm việc thời tiết tốt, không kể ngày lễ và chủ nhật, có làm  hay không.

     

    • WWD SHINC (Weather Working Days, Sunday and Holidays Included): Những ngày làm việc thời tiết tốt, kể cả ngày lễ và chủ nhật)

    Hoặc cụ thể có 3 cách quy định về thời hạn  làm hàng như sau:

     

    • Quy định một số ngày xếp/ dỡ nhất định: ( Days) Ví dụ: Laytime for loading: 6 WWD SHEX

    UU

     

    • Quy định mức xếp dỡ hàng hoá: (MT/Days); L/D Rate: 2000/1000 MT per WWD SHEX EU

     

    • Xếp dỡ theo tập quán của cảng (CQD = Customary Quik Despatch)

    c/ Tranh chấp liên quan đến cách tính DEM/DES.

     

    Như trên đã phân tích, tùy theo từng cách tính mà đem lại lợi ích cho từng bên. Vì vậy phải ghi rõ cách tính nào được áp dụng trong hợp đồng thuê tàu. Ví dụ:

     

    Giả sử Công ty X của Việt Nam thuê tàu chở 24.000 MT sắt cuộn từ Trung Quốc về Sài Gòn. Trong hợp đồng ghi: Discharging Rate: 3.000 MT per WWDSHEX-EU; DHD 6.000USD Per day or Pro-rata of day. Tàu đã cập cảng Sài gòn và trao NOR lúc 14h ngày 30/8/2000. Việc dỡ hàng vào lúc 22h cùng ngày và thực hiện liên tục đến khi xong hàng. Kết thúc việc dỡ hàng, người thuê tàu tính tiền thưởng theo SOF đã lập, trong đó có 2 ngày nghỉ lễ và chủ nhật:

     

    • Thời gian dỡ hàng thực tế hết 143,33 giờ, tương đương 5,97 ngày

     

    • Thời hạn làm hàng cho phép: 8 ngày.

     

    • Tiền thưởng (Dispatch): 2,03 day x 3.000 USD/day = 6,090 USD.

    Vì Hợp đồng không quy định rõ cách tính thưởng phạt nào nên tranh chấp đã phát sinh:

     

    Kết luận của trọng tài: Người thuê tàu thắng, vì trong hợp đồng không quy định roc nên thưởng theo ATS.

     

    Theo Chartering and Shipping Terms: Nếu không quy định cụ thể thì sẽ thưởng theo ATS.

     

    d/ Tranh chấp liên quan đến mức xếp dỡ.

     

    Theo sự thỏa thuận, nếu hai bến đồng ý mức xếp dỡ là CQD và được ghi trong Hợp đồng thì sẽ không tính thưởng phát giải phóng tàu.

     

    Có những trường hợp ở các cảng, mức xếp dỡ quy định theo máng xếp hàng hoặc dỡ hàng. Nếu cứ để mức xếp/dỡ hàng như vậy thì rất dễ xảy ra tranh chấp vì số máng làm hàng từng ca, từng ngày khác nhau nên rất khó cho việc tính toán và quy định. Vì vậy cần phải thỏa thuận và quy định rõ là mức xếp hoặc dỡ hàng theo ngày làm hàng.

     

    4.           Kết luận

     

    Thưởng, phạt giải phóng tàu luôn xảy ra các tranh chấp giữa Chủ tàu và Người thuê tàu trong quá trình thực hiện Hợp đồng thuê tàu chuyến. Bài báo đã phân tích cụ thể những tranh chấp thường gặp và đề ra hướng khắc phục, xử lý những phát sinh này. Vì vậy rất cần thiết phải nghiên cứu kỹ về nguyên tắc và cách tính thưởng phạt làm hàng đồng thời phải ghi rõ vào điều khoản tương ứng trong Hợp đồng thuê tàu, tránh những hiểu lầm không đáng có dể dẫn đến tranh chấp.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Mẫu Hợp đồng thuê tàu chuyến GENCON 1922/1976/1994.
    • Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005.
    • Các bài giảng, tài liệu về khai thác tàu biển.

    Người phản biện: TS. Vũ Trụ Phi , TS. Đỗ Mai Thơm

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               87


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải 2019

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải 2019

    Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp kết nối các phương thức vận tải nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngu%E1%BB%93n-lu%E1%BA%ADt-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-gi%E1%BA%A3i-quy%E1%BA%BFt-tranh-ch%E1%BA%A5p-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải 2019

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • Abknowitz, M.A, Lectures on ship hydrodynamics steering and manoeuvrability, Hya report no. hy- 5, 1964.
    • Nomoto, K., Analysis of Kempf’s Standard Maneuver Test and Proposed Steering Quality

    Indices, Proceedings of 1st Symposium on ShipManoeuvrability, (1960), pp.275- 304.

     

    • Hamamoto, M. : MMG report II, Bulletin of the society of Naval Architects of Japan, No. 577, pp. 322-329, July 1997.

    Người phản biện: TS. Nguyễn Kim Phương; TS. Nguyễn Công Vịnh

     

    NGUỒN LUẬT ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI

    SOURCE OF LAW FOR MARITIME DISPUTE RESOLUTION

     

    1. NGUYỄN KIM PHƯƠNG CN.LS. PHẠM THANH TÂN Khoa Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

    Tóm tắt

     

    Bài báo giới thiệu một nghiên cứu về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải, một sự kiện pháp lý phức tạp nảy sinh trong hoạt động thương mại hàng hải. Qua đó, nghiên cứu cho thấy tổng quan những quy định áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hàng hải ở phạm

     

    • quốc tế và Việt Nam.

     

    Abstract

     

    This paper presents a study of the applicable sources of law for resolving maritime dispute that arises in commercial maritime operations.Thereby, an overview of the legal provisions which are applicable to the maritime dispute resolution in international scope and Vietnam is shown.

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005, Chương XVII, Điều 258 quy định rằng “Tranh chấp hàng hải là các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải”. Đặc điểm đặc trưng của tranh chấp hàng hải là tranh chấp đa dạng, phức tạp, thường xuyên nảy sinh trong thực tiễn hàng hải quốc tế. Trong hoạt động hàng hải có thể phát sinh hai loại tranh chấp: tranh chấp trong hợp đồng và tranh chấp ngoài hợp đồng. Ngoài ra, theo đối tượng liên quan đến tranh chấp, lĩnh vực hoạt động của tàu biển, tranh chấp hàng hải có thể phân loại thành các dạng như: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa; Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; Tranh chấp liên quan đến các dịch vụ hàng hải; Tranh chấp về tai nạn va chạm tàu; Tranh chấp liên quan đến thuyền viên;…

     

    Khi tranh chấp xảy ra, nếu bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu thì phải giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết các tranh chấp là khâu cuối cùng của cả một quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong hàng hải thương mại. Trên thực tế giải quyết các tranh chấp hàng hải có thể được thể hiện bằng các phương thức khác nhau: Thương lượng, hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc tòa án [1]. Trong tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp, vấn đề áp dụng luật nào để phán quyết là điểm mấu chốt mà thực tiễn hàng hải đang đặt ra.

     

    Vấn đề tranh chấp hàng hải đã được một số tác giả nước ngoài và trong nước đề cập đến trong các tài liệu như: Maritime Law, 2004 (Chistopher Hill); Resolving Maritime Disputes, 2010 (Marilyn Raia); International Commercial and Marine Arbitration, 2008 (Georgios I. Zekos); Các tài liệu [1], [2], [3] và [4]. Tuy nhiên, các công trình này mới chủ yếu tập trung vào việc làm rõ khái niệm tranh chấp hàng hải và phương thức giải quyết tranh chấp. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu để có cái nhìn đầy đủ và chi tiết về nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

     

    2.   Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Nguồn luật quốc tế

    Loại hình đầu tiên cần kể đến là các điều ước đa phương như Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển năm 1924 (Quy tắc Hague), Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển thường được gọi là Nghị định thư 1968 hay Qui tắc Visby (ký 23/2/1968, hiệu lực 23/6/1977), Công ước của Liên Hợp Quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế năm 1978 (Công ước Hamburg), Công ước của Liên hợp quốc về Bộ luật hành vi đối với các Công hội tàu chợ năm 1974, Công ước quốc tế về

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               48

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    giới hạn trách nhiệm của chủ tàu biển năm 1957, Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc liên quan đến việc bắt giữ tàu biển năm 1952,…

     

    Ví dụ, vụ tranh chấp về khả năng đi biển của tàu giữa công ty thuê chở hàng Australia (nguyên đơn) và công ty vận tải đường biển Trung Quốc (bị đơn) vào năm 1982 đã được giải quyết tại trọng tài với nguồn luật áp dụng để giải quyết là Điều 4, Qui tắc Hague [5].

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, còn tồn tại nhiều điều ước quốc tế song phương dưới dạng các Hiệp định hàng hải. Hiệp định hàng hải được chia làm hai loại là Hiệp định chung và Hiệp định đặc thù (chứa các điều khoản cụ thể như định nghĩa tàu, điều khoản tự do ra vào, điều khoản vận chuyển hàng hoá,…). Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về hàng hải như Công ước quốc tế về bắt giữ tàu biển (1952, 1999), Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường và thống nhất hành động khi có sự cố, các Hiệp định hàng hải song phương với Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Brunei,…

     

    Bên cạnh các Công ước và các Điều ước quốc tế chính thức khác, trong những năm qua Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thông qua nhiều Luật, Khuyến cáo, Hướng dẫn,… IMO đã soạn thảo, ban hành trên 30 Công ước và Nghị định thư, khoảng 600 các Luật và Khuyến cáo,… Các Khuyến cáo không ràng buộc các Chính phủ, nhưng có tác dụng hướng dẫn, tạo cơ sở cho các quy tắc, quy phạm pháp luật của các quốc gia [2].

     

    2.2. Nguồn luật quốc gia

     

    Bên cạnh các điều ước quốc tế, các nước đã ban hành các luật về hàng hải, trong đó nổi bật là các luật chuyên chở bằng đường biển hoặc luật hàng hải. Ở Hoa Kỳ tồn tại ba đạo luật liên bang là Luật Harter năm 1893, Luật Pomerene năm 1916 điều chỉnh về vận đơn đường biển và Luật chuyên chở hàng hoá năm 1936. Pháp luật hàng hải ở Anh về cơ bản dựa trên Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1924 (được thay bằng Luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển năm 1971). Tuy nhiên, Luật 1924 vẫn có hiệu lực đối với các vận đơn được ký phát trước ngày 23/6/1977 (ngày có hiệu lực của Luật 1977). Ở Trung Quốc, Bộ luật Hàng hải năm 1992 điều chỉnh các vấn đề liên quan tới tàu biển và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, bảo vệ quyền và lợi ích các bên liên quan đến hoạt động hàng hải. Nhiều nước Bắc Âu cũng áp dụng Bộ luật Hàng hải. Điểm đặc biệt của bốn nước Bắc Âu là họ chấp nhận một Bộ luật Hàng hải chung, có hiệu lực vào ngày 1/10/1994. Ở một số quốc gia khác như Nhật Bản, Philíppin,… các quy định về hàng hải lại nằm trong Bộ luật Thương mại [2].

     

    2.3. Tập quán hàng hải quốc tế

     

    Một nguồn luật quan trọng khác cũng cần nhắc tới là tập quán hàng hải quốc tế – là những phong tục, thói quen phổ biến về hàng hải được nhiều nước công nhận và áp dụng thường xuyên đến mức trở thành các quy tắc được các bên mặc nhiên tuân thủ. Tập quán hàng hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng vận tải khi không có quy định về luật áp dụng hoặc có luật nhưng chưa được quy định đầy đủ. Ví dụ, việc ném hàng xuống biển để cứu tàu, hàng hoá và sinh mạng thuyền viên và hành khách trên tàu để tránh một thảm họa thực sự là một tập quán hàng hải lâu đời được xã hội thừa nhận [2].

     

    3.   Nguồn luật Việt nam áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải

     

    • Bộ luật Hàng hải Việt Nam

    Năm 1990 Việt Nam đã ban hành Bộ luật Hàng hải và hiện nay là Bộ luật Hàng hải năm 2005 nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế. Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 đã xây dựng được một hệ thống quy phạm làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp hàng hải với việc làm rõ tranh chấp hàng hải, thẩm quyền giải quyết tranh chấp hàng hải, tranh chấp hàng hải có yếu tố nước ngoài, thời hiệu giải quyết các tranh chấp hàng hải,…[2].

     

    Theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2005, các bên tham gia trong hợp đồng liên quan đến hoạt động hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì có quyền thoả thuận áp dụng tập quán hàng hải quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải quyết tranh chấp [3]. Khi giải quyết các tranh chấp hàng hải tại các cơ quan tài phán Việt Nam thì vấn đề vận dụng pháp luật để điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp đó được dựa trên cơ sở các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn luật áp dụng cho mối quan hệ hợp đồng của mình (Khoản 2, Điều 4, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005). Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về hàng hải, về thương mại, tập quán hàng hải quốc tế thậm chí cả án lệ. Song, điều quan trọng là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               49

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    • chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để chọn nguồn luật thích hợp nhất để bảo vệ quyền lợi của mình, vấn đề này thật không đơn giản. Điều 1, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 quy định phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này như sau:

    “Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển,…

     

    Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này”.

     

    Trong trường hợp có xung đột pháp luật thì việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc sau đây (Điều 2 và Điều 3, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005):

     

    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến các quyền sở hữu tài sản trên tàu; Hợp đồng cho thuê tàu; Hợp đồng thuê thuyền viên; Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và và thuyền bộ của tàu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả; các vụ việc xảy ra trên tàu khi tàu đang ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà tàu mang cờ.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tàu ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển, xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì luật được chọn là luật của quốc gia đó.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở biển cả thì luật được chọn là luật của quốc gia mà trọng tài hoặc tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp. Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở biển cả hoặc trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.
    • Đối với các quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì luật được chọn là luật quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.
    • Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này thì áp dụng điều ước quốc tế.

    Ví dụ năm 2002 xảy ra vụ tranh chấp giữa 3 doanh nghiệp Việt Nam nhập hàng điện tử từ Mỹ về theo hợp đồng vận chuyển với hãng tàu OOC (đại diện OOC tại Thành phố Hồ Chí Minh). Tàu Matt V0175 bị chìm trên đường vận chuyển về Việt Nam mang theo toàn bộ số hàng. Chủ hàng đã khiếu nại và khởi kiện OOC tại tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Điều 5 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 (nay là Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005) [4].

     

    3.2. Bộ luật Dân sự Việt Nam

     

    Điều 759 Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có những quy định tương tự như Bộ luật Hàng hải Việt Nam. Tuy nhiên, khoản 4 của Điều 759 quy định:“Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự mà các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam dành cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sự bảo hộ pháp lý bình đẳng như cá nhân, tổ chức Việt Nam. Khoản 2 điều 761 và khoản 2 điều 765 Bộ luật Dân sự quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”; “Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài việc được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân, pháp nhân Việt Nam trong lĩnh vực tố tụng, pháp nhân, cá nhân nước ngoài còn được quyền tiến hành tố tụng ở tòa án thông qua người đại diện, trong đó có cơ quan lãnh sự ở nước ta. Vấn đề này đã được ghi nhận trong các hiệp định về lãnh sự và hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam với nước ngoài.

     

    Các tranh chấp hàng hải thông thường phát sinh từ hai cơ sở pháp lý khác nhau đó là những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và các tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng (bồi thường

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               50

     

    CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11/2014

     

    thiệt hại ngoài hợp đồng). Vì có sự phát sinh tranh chấp từ hai cơ sở pháp lý khác nhau như vậy nên quá trình giải quyết xung đột pháp luật của mỗi loại tranh chấp cũng khác nhau.

     

    Các tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng thường xảy ra trong các trường hợp:

     

    • Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau;
    • Hợp đồng được các bên tham gia ký kết ở nước này nhưng lại được thực hiện ở nước khác, nên cùng một lúc các quan hệ phát sinh từ hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Luật nơi ký kết hợp đồng và luật nơi thực hiện hợp đồng;
    • Đối tượng của hợp đồng ở một nước khác, mặc dù các bên tham gia ký kết có cùng quốc tịch và hợp đồng đó được thực hiện ngay trên lãnh thổ mà các bên mang quốc tịch. Như vậy, trường hợp này chịu sự điều chỉnh của luật quốc tịch của các bên chủ thể và luật nơi tồn tại đối tượng của hợp đồng.

    Khi xuất hiện một tranh chấp hàng hải phát sinh từ hợp đồng, người ta thường căn cứ vào hợp đồng làm cơ sở để giải quyết xung đột pháp luật, vì thực chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia ký kết đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nên nó phải là cơ sở pháp lý cơ bản và chủ yếu để giải quyết các tranh chấp đó. Về vấn đề này Khoản 1, Điều 770, Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định như sau: “Hình thức của hợp đồng dân sự phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật nước đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 769 quy định về hợp đồng dân sự như sau: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác. Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng cũng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    Trong thực tiễn giao lưu thương mại hàng hải quốc tế có không ít những tranh chấp phát sinh từ những sự kiện pháp lý ngoài hợp đồng. Ví dụ như việc gây ra thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, liên quan đến con tàu đang hoạt động, tai nạn đâm va, cứu hộ, tổn thất chung,… rõ ràng những sự kiện pháp lý này xảy ra hoàn toàn ngoài dự kiến của các bên nhưng nó lại làm nảy sinh mối quan hệ pháp lý mà ở đó các bên liên quan có trách nhiệm với nhau. Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có hai chủ thể là người bị thiệt hại và người gây thiệt hại. Nó hàm chứa hai yếu tố: Các bên tham gia quan hệ (người bị thiệt hại và người gây thiệt hại) có quốc tịch khác nhau và sẽ được điều chỉnh cùng một lúc bởi vì hệ thống pháp luật theo dấu hiệu quốc tịch của hai bên đương sự; Hành vi gây thiệt hại xảy ra ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật quốc tịch của đương sự và hệ thống pháp luật nơi xảy ra hành vi thiệt hại.

     

    Các trường hợp tranh chấp hàng hải phát sinh ngoài hợp đồng được Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định tại Điều 773 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” như sau:

     

    “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại do tàu bay, tàu biển gây ra ở không phận quốc tế hoặc nơi biển cả được xác định theo pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển mang quốc tịch, trừ trường hợp pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

     

    4.   Kết luận

     

    Từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, cho thấy việc áp dụng luật để điều chỉnh các tranh chấp hàng hải đã được pháp luật quốc tế quy định khá đầy đủ và toàn diện. Đối với Việt Nam, vấn đề này cũng đã được quy định tương đối cụ thể và hoàn chỉnh trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải, các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, pháp lệnh thi hành các bản án dân sự, pháp lệnh công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài… Dựa vào đó, các cơ quan tòa án của Việt Nam vận dụng các quy phạm pháp luật thích hợp cho từng quan hệ pháp luật cụ thể, nhằm thừa nhận hoặc bác bỏ quyền và nghĩa vụ dân sự, kinh tế, hàng hải, thương mại… và ra các quyết định chế tài trong các trường hợp cần thiết.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 40 – 11/2014                                                               51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp kết nối các phương thức vận tải nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long

    Giải pháp kết nối các phương thức vận tải nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long

    Giải pháp kết nối các phương thức vận tải nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-k%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91i-c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-v%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A3i-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-v%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A3i-th%E1%BB%A7y-n%E1%BB%99i-%C4%91%E1%BB%8Ba-khu-v%E1%BB%B1c-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-s%C3%B4ng-C%E1%BB%ADu-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp kết nối các phương thức vận tải nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    GIẢI PHÁP KẾT NỐI CÁC PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN TẢI THỦY NỘI ĐỊA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SOLUTIONS FOR CONNECTING TRANSPORTATION MODELS IN ORDER TO IMPROVE THE EFFICIENCY OF DOMESTIC TRANSPORTATION IN THE MEKONG DELTA

     

    1. ĐỖ THỊ MAI THƠM

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc nhưng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa tận dụng hết lợi thế giao thông thủy,trong khi hệ thống đường bộ ngày càng chịu áp lực giao thông lớn, việc phát triển hệ thống đường bộ kéo theo yêu cầu xây dựng rất nhiều cầu cống, chi phí tăng cao do địa chất yếu, địa hình tương đối thấp, phải xử lý, gia cố nền móng phức tạp, tốn kém; đường sắt hầu như không có; đường hàng không do chi phí cao không phù hợp cho xuất khẩu nông thủy sản,… Xét trong tổng thể, cả trước mắt và lâu dài, đầu tư phát triển mạng lưới vận tải thủy nội địa để vận chuyển container và kết nối các phương thức vận tải vừa tận dụng lợi thế tự nhiên của vùng, vừa mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu.

     

    Abstract

     

    Although the Mekong Delta has a dense system of canals and territories, it has not taken full advantages of waterways yet, while the road system is increasingly under pressure from transportation. Developing road system entails in a lot of requests of infrastructure construction, increasing costs due to weak geology, relatively low topographies, costly and complex reinforced foundation. There is almost no rail and because of high cost, air transport is not suitable for agricultural and fishery products export,… Taking everything into consideration, in both short term and long term, investment in developing domestic waterways network for container transportation and connecting other methods to transport not only takes advantage of the natural advantages but also brings economic optimal efficiency.

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Vận tải thủy nội địa hiện đáp ứng được khoảng 68% nhu cầu vận chuyển gạo, thủy sản, trái cây, hàng hóa xuất khẩu mỗi năm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 32% lượng hàng hóa trên vẫn phải chuyển tải về các cảng Tp. HCM và Cái Mép bằng đường bộ, khiến cho doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí vận tải cao hơn từ 10-60% tùy theo tuyến đường, đồng thời gây áp lực rất lớn cho hệ thống giao thông đường bộ. Có thể khẳng định, việc quy hoạch chưa đồng bộ, thiếu kết nối của các thành phần trong mạng lưới giao thông là sức cản chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh miền Tây.

     

    Để tạo đà cho ĐBSCL phát triển mạnh, đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường thủy nội địa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là đòi hỏi tất yếu.

     

    2.   Thực trạng hệ thống giao thông đường thủy nội địa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

     

    2.1. Hệ thống luồng lạch

     

    Luồng tàu biển: Do hạn chế độ sâu ở các cửa biển (cửa Định An, cửa Tiểu, cửa Trần Đề) nên ĐBSCL chỉ có thể tiếp nhận tàu trọng tải từ 5.000 tấn trở xuống. Việc mở luồng cho tàu lớn trên 1 vạn tấn đang gặp nhiều khó khăn, do các cửa sông liên tục bồi lắng nhiều nên chi phí nạo vét thường xuyên đặc biệt tốn kém.

     

    Luồng cho sà lan loại lớn (trọng tải trên 2.000 tấn):

     

    Các tuyến vận tải còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa hình sông rạch tự nhiên, đường đi quanh co dẫn đến cự ly hành trình dài. Nhiều tuyến vận tải chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, phương tiện lớn phải chờ đến nước lên mới hoạt động được, có những đoạn tốc độ bồi lắng cao luồng thường xuyên bị cạn. Ngược lại, ở những nơi nước chảy xiết hoặc tàu bè qua lại nhiều dễ bị sạt lở, gây trở ngại cho giao thông thủy, đồng thời làm hư hại các tuyến đường bộ cặp sát sông-kênh.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               78

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    Tuyến Sông Hậu phát sinh nhiều khu vực nước sông, khu vực bãi cạn dịch chuyển theo động lực sông về phía hạ lưu, làm thay đổi luồng chạy tàu, đặc biệt tại khu vực cửa sông (Cửa Định An), đây là một trở ngại lớn đối với giao thông thủy, hạn chế khả năng ra vào cảng Cần Thơ và cụm cảng Trà Nóc và các cảng khác phía thượng lưu sông.

     

    Tuyến đường thủy nội địa Quốc gia kênh Thị Đội – Ô môn dài 27,5 km kết nối vận tải giữa thành phố Cần Thơ và tỉnh Kiên Giang luồng hẹp, bề rộng trung bình chỉ đạt khoảng 18m, độ sâu khoảng 2m làm hạn chế vận tải đối với các phương tiện vận tải thủy lưu thông trên tuyến.

     

    Trên hệ thống sông Tiền, sông Hậu và các đoạn sông nằm trên tuyến luồng chính có nhiều đoạn sông sâu nhưng còn một số còn cạn, đặc biệt còn nhiều cầu thông thuyền dưới 9m trên các tuyến vận tải chính như cầu Măng Thít (Vĩnh Long, 7,5m), cầu Nàng Hai (Sa Đéc, 5,6m),…Trên 2 tuyến đường thủy TP. HCM – Hà Tiên và TP. HCM – Năm Căn, sà lan trên 2.000 tấn không thể lưu thông suốt tuyến do một số đoạn hẹp và thông thuyền một số cầu trên tuyến thấp (dưới 7m) [3].

     

    Do vướng cả về độ sâu luồng và tĩnh không các cầu nên việc vận chuyển nông sản, hàng hóa xuất khẩu bằng tuyến đường sông chủ yếu vẫn do các ghe, sà lan trọng tải nhỏ và thô sơ đảm nhận là chính. Trong khi đó về nguyên tắc, phương tiện càng lớn thì giáthành vận tải càng rẻ. Địa phương nào muốn thu hút đầu tư, phát triển kinh tế thì phải phát huy được lợi thế của phương thức vận chuyển container, đảm bảo cho phương tiện vận tải container trọng tải lớn kết nối thuận lợi đến địa phương mình.

     

    2.2. Hệ thống bến cảng

     

    Có chiều dài bờ biển trên 700 km nhưng hiện nay ở ĐBSCL không có cảng biển lớn để khai thác. Toàn vùng hiện có 2.167 cảng sông và bến xếp dỡ do Nhà nước quản lý, trong đó 1.404 cảng, bến có công suất xếp dỡ nhỏ hơn 10.000 tấn/năm; khoảng 171 cảng và bến có thể xếp dỡ từ 10.000 tấn đến 100.000 tấn/năm; chỉ có 151 bến có thể xếp dỡ trên 100.000 tấn/năm. Như vậy, trên 85% các cảng đều có quy mô rất nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu xếp dỡ hàng rời, thiếu cảng chuyên dùng cho container. Toàn vùng hiện chỉ có 5 cảng thuộc hệ thống của Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn và cảng Cái Cui (Cần Thơ) có khả năng tiếp nhận container [1].

     

    Trừ các cảng được hình thành với mục tiêu bốc xếp cho tàu biển và một số cảng chuyên dùng của các cơ sở sản xuất dịch vụ lớn nằm ven sông, hầu như chưa có một cảng thủy nội địa phục vụ cho tàu sông có quy mô phù hợp với vai trò của một cảng sông tổng hợp.

     

    3.   Thực trạng vận tải hàng hóa bằng đường bộ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

     

    Theo số liệu thống kê báo cáo của các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ trong khu vực chiếm tỷ trọng nhỏ so với cả nước, cụ thể năm 2011: khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng ô tô chỉ chiếm 4,4% về tấn và 4,6% về tấn.km so với cả nước về khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ và chiếm tỷ lệ 32% về tấn và 25% về tấn.km trong tổng số khối lượng vận chuyển đường bộ và đường thủy nội địa tại Đồng bằng sông Cửu Long.

     

    Thực trạng về vận tải bằng xe ô tô khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là do điều kiện tự nhiên của khu vực, vận tải hàng hóa bằng ô tô chủ yếu đảm nhận vận tải đường ngắn để thu gom và giải tỏa cho vận tải đường thủy nội địa, còn vận tải đường dài chủ yếu vận tải hàng nông sản, hải sản và một số vật liệu xây dựng. Với tỷ lệ 32% về tấn và 25% về tấn.km trong tổng số khối lượng vận chuyển đường bộ và đường thủy nội địa thì đây vẫn là tỷ lệ chưa hợp lý cần có cơ chế chính sách để giảm bớt tỷ lệ này, các loại hàng hóa không đòi hỏi về thời gian vận chuyển ngắn thì nên chuyển sang vận tải bằng đường thủy nội địa [2].

     

    Cơ sở hạ tầng phục vụ vận tải đường bộ như đường giao thông kết nối đến các bến cảng còn nhiều bất cập so với yêu cầu thực tế và theo hướng hiện đại.

     

    Lực lượng vận tải đường bộ còn manh mún, nhỏ lẻ. Hiện nay có khoảng 415 doanh nghiệp, hợp tác xã và khoảng 200 hộ kinh doanh cá thể tham gia kinh doanh vận tải, đa số có quy mô nhỏ,

     

    Như vậy, bên cạnh điểm hạn chế về tính liên kết vùng, hiện nay, tuyến đường kết nối từ các địa phương của ĐBSCL (đặc biệt là An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ) đến các cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu còn một số tuyến đường hẹp và các cầu tải trọng thấp, không cho phép xe chở container lưu thông an toàn. Đặc biệt, tuyến đường nối từ các khu công nghiệp, các cụm kho, trung tâm nông sản, hàng hóa đến các cảng trong vùng chưa đảm bảo cho việc lưu thông hàng hóa, container qua cảng [1].

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               79

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    4.   Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa và kết nối các phương tiện vận tải khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

     

    4.1. Đầu tư phát triển hệ thống luồng lạch

     

    • Về lâu dài, bên cạnh việc mở luồng cho tàu biển lớn vào sông Hậu thì cần quan tâm nghiên cứu mở luồng qua cửa Tiểu, sông Tiền cho tàu biển trọng tải đến 8.000 tấn nhằm thúc đẩy phát triển các tinh̉ Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vinh̃ Long và Đồng Tháp Mười.
    • Bên cạnh việc nâng cấp kênh Chợ Gạo, cần mở thêm luồng cho sà lan lớn, sà lan container trọng tải trên 2.000 tấn chạy xuyên qua Đồng Tháp Mười, nối giữa vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, và nối Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Campuchia với TP.HCM, cụm cảng nước sâu Cái Mép.
    • Nâng cấp luồng 2 tuyến đường thủy từ TP.HCM – Hà Tiên và TP.HCM – Năm Căn cho sà lan container trọng tải trên 2.000 tấn lưu thông tối thiểu tới TP. Cần Thơ (trung tâm của ĐBSCL) và sông Hậu.

    4.2. Đầu tư phát triển hệ thống cảng biển, cảng sông và điểm ICDs tại vị trí hợp lý

     

    • Ưu tiên đầu tư xây dựng cảng biển nước sâu, công suất lớn để tiếp nhận tàu có trọng tải lớn (trên 3 vạn tấn) để xuất khẩu trực tiếp nông thủy sản, nâng cao giá trị hàng hóa của vùng, trong trường hợp việc nạo vét luồng cho tàu biển vào sông Hậu vướng quá nhiều khó khăn.
    • Quy hoạch đồng bộ hệ thống cảng biển, cảng sông dọc theo các luồng chính, đầu tư một số cảng có quy mô lớn tại các vị trí trung tâm, trọng yếu thực hiện chức năng gom và trung chuyển hàng (đặc biệt là container) trên sông Tiền, sông Hậu (thuộc Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang).
    • Phát triển các cảng, các bến xếp dỡ đầu mối (qui mô không quá lớn, phù hợp nguồn hàng, có khả năng xếp dỡ container) ở các địa phương, dọc theo các tuyến sông chính, sông Tiền, sông Hậu, tăng cường kết nối giữa quốc lộ, khu công nghiệp, trung tâm nguồn hàng với cảng của điạ phương.

    4.3 .Phát triển phương tiện vận tải thủy nội địa

     

    Ưu tiên phát triển phương tiện thủy – vận tải container, hạn chế việc gia tăng các phương tiện nhỏ, cá nhân (ghe bầu, phương tiện thô sơ,…).Chỉ có phát triển phương tiện vận tải thủy vận chuyển container mới góp phần giảm áp lực cho vận tải đường bộ đang trong tình trạng quá tải trước mắt cũng như sau này có phát triển thêm hệ thống đường sắt. Thực tế hiện nay, các tàu tự hành vận chuyển container lớn nhất khu vực phía nam có sức chở 180TEUs. Chỉ cần 20 chiếc tàu như vậy có thể chuyên chở được 3000TEUs, hành trình trên đoạn đường sông dài 4÷5 km mà không gây ra ùn tắc. Trong khi đó, nếu vận chuyển bằng đường bộ thì phải sử dụng khoảng 1700 xe, có thể gây cản trở giao thông, thậm chí ùn tắc trong phạm vi 150km [1].

     

    Có chính sách hỗ trợ (giảm) phí luồng lạch, trọng tải cho phương tiện thủy,đặc biệt là phương tiện vận tải chuyên tuyến, phương tiện trọng tải lớn.

     

    4.4 . Kết nối các phương thức vận tải

     

    Quan tâm đầu tư đúng mức hệ thống đường bộ kết nối với các cảng, đặc biệt là các cảng container làm chức năng trung chuyển trong vùng.

     

    Đảm bảo tĩnh không thông thuyền của các cầu bắc qua các tuyến sông trên 3 luồng sà lan chính do Trung ương quản lý cho sà lan trọng tải lớn (thông thuyền cầu từ 9m trở lên hoặc làm cầu mở cho sàlan lớn đi qua như mô hinh̀ của HàLan,…).

     

    Kết nối hiệu quả hệ thống vận tải container bằng đường thủy nội địa sẽ tạo ra các trục vận tải, các đầu mối thu gom, xử lý hàng hóa trong nội địa. Việc hình thành các trục, các đầu mối này sẽ là tiền đề để phát triển các nhánh giao thông đường bộ, đường thủy nội địa kết nối đến các khu vực kinh tế khác trong vùng.

     

    Khuyến khích các doanh nghiệp lớn (nhất là doanh nghiệp trong nước) triển khai dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ logistics trọn khâu, kết nối các đầu mối vận tải (bộ, ven biển, song,…) nhằm giảm áp lực cho vận tải bộ (tuyến đường dài) [2].

     

    1. Kết luận

    Trong các giải pháp nhằm phát triển vận tải thủy nội địa khu vực khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì giải pháp kết nối các phương thức vận chuyển, phát triển mạnh mẽ trụ cột logistics trên cơ sở hệ thống cảng container hiện hữu và đội sà lan “taxi vận tải thủy” đang khai thác tại ĐBSCL là lựa chọn hàng đầu, cấp thiết để Bộ Giao thông vận tải, chính quyền các địa phương tại

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               80

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các doanh nghiệp lựa chọn, hợp tác nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế vùng.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 04/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
    • Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014, Đề án Tái cơ cấu Ngành Giao thông vận tải.

    Người phản biện: TS. Mai Khắc Thành; TS. Nguyễn Hữu Hùng

     

    NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH PHÂN HỦY PHẨM NHUỘM VÀNG AXIT 2R SỬ DỤNG XÚC TÁC QUANG HÓA FENTƠN DỊ THỂ ILMENIT BIẾN TÍNH DEGRADATION OF ACID YELLOW DYE 2R USING MODIFIED ILMENITE AS A HETEROGENEOUS PHOTO-FENTON CATALYST

     

    ThS.NCS. PHẠM THỊ DƯƠNG1, PGS.TS. NGUYỄN VĂN NỘI2 1- Bộ môn Kỹ thuật Môi trường -Trường Đại học Hàng hải Việt Nam 2- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

     

    Tóm tắt

     

    Trong nghiên cứu này, xúc tác quang hóa Fentơn dị thể Ilmenit biến tính (bằng H2SO4) được nghiên cứu để phân hủy phẩm nhuộm vàng axit 2R. Kết quả chỉ ra rằng vật liệu thể hiện tính chất quang xúc tác rất tốt để phân hủy phẩm nhuộm vàngaxit 2R, hiệu suất phân hủy đạt 99,12% ở vùng UV và trên 87,54% ở vùng ánh sáng khả kiến.

    Abstract

     

    In this work, the degradation of acid yellow 2R using modified Ilmenite (by H2SO4 solution) as a heterogeneous photo-Fenton catalyst was investigated. The obtained results indicate that modified Ilmenite has high catalytic activity to degradate acid yellow 2R dye, degradation efficiency reached 99.12% under UV and 87.54% under visible light.

     

    1. Giới thiệu

     

    Hiện nay, nghiên cứu phát triển các chất xúc tác mới ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm đã nhận được nhiều sự quan tâmcủa các nhà khoa học môi trường. Giống như các chất bán dẫn khác, TiO2 dạng anatas có hoạt tính xúc tác quang do nó có khe năng lượng vùng cấm 3,2 eV tương ứng với bước sóng hấp thụ 388 nm, trong vùng UV [4, 5]. Tuy nhiên, bức xạ UV chỉ chiếm khoảng 4% ánh sáng mặt trời, hơn nữa việc tạo ra bức xạ UV khá tốn kém mà cần nhiều thiết bị chuyên dụng. Vì vậy tăng khả năng hấp phụ ánh sáng của vật liệu TiO2 ở vùng có bước sóng dài hơn có thể mang lại một tương lai mới, ứng dụng xúc tác quang hóa tại vùng khả kiến để xử lý ô nhiễm môi trường.

     

    Trong nghiên cứu trước đây, tác giả đãtiến hành nghiên cứu tổng hợp thành công xúc tác Fe-TiO2/Diatomit bằng phương pháp sol-gel, ứng dụng phân hủy phẩm nhuộm vàng axit 2R cho hiệu suất phân hủy đạt tới 94% ngay trong vùng ánh sáng khảkiến [1, 3].

     

    Một nghiên cứu khác của tác giảđãchếtạo thành công xúc tác quang Fentơn di ̣thểIlmenit biến tinh́. Đặc trưng cấu trúc vật liệu đãđược xác đinḥ bằng phổnhiễu xạtia X (XRD) vàhình ảnh bềmặt của vật liệu được xác đinḥ bằng kinh́ hiển vi điện tử quét (SEM). Nghiên cứu đãtiến hành đểphân hủy phẩm vàng phân tán E-3G cho hiệu suất tới 97,5% [2].

     

    Trong nghiên cứu này, tác giảtiếp tục nghiên cứu quá trinh̀ phân hủy phẩm nhuộmvàng axit 2R sử dụng xúc tác quang Fentơn di ̣thểIlmenit biến tinh́ đểmở rộng phạm vi ứng dụng cho xúc tác đãnghiên cứu trên, bởi đây là vật liệu xúc tác đi từ nguyên liệu sẵn cólà quặng Ilmenit phổ biến ở Việt Nam.

     

    2. Thực nghiệm

     

    2.1. Hóa chất và thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

     

    • Nguyên liệu sử dụng để chếtạo Ilmenit biến tính: Quặng Ilmenit cónguồn gốc Ninh Thuận, dung di ̣chH2SO4.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               81

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    • Nguyên liệu để tạo dung dịch phẩm nhuộmvàng axit 2R trong môi trường nước là thuốc nhuộm vàng axit 2R thương phẩm.

     

    Công thức phân tử của phẩm acid yellow 2R – 11 (AY2R-11)

     

    • Tủ sấy vật liệu ở 105oC: Tủ sấy Binder – Đức.
    • Vật liệu được nung trong lò nung (dung tích 7,2 lít, nhiệt độ 200 oC ÷ 1200oC) – Trung

    Quốc.

     

    • Máy đo pH 24, Aqualytic – Đức.
    • Nồng độphẩm nhuộm vàng axit 2R được xác định bằng phương pháp trắc quang ở bước sóng 410 nm trên thiết bị UV-VIS Labomed – Mỹ.

    2.2. Khảo sát khả năng xử lý của các mẫu vật liệu Ilmenit biến tính

     

    Lấy 10mg vật liệu Ilmenit biến tính bằ ng H2SO4, nung ở các nhiệt độ khác nhau (400oC, 500oC, 600 oC, 700 oC) cho vào cốc thủy tinh 50ml. Sau đó cho vào mỗi cốc 20ml nước pha phẩm nhuộm vàng axit 2R có nồng độ phẩm đạt 200 mg/l, khuấy đều. Điều chỉnh pH về pH=4,5. Sau đó cho 0,02 ml H2O2 30%, khuấy đều trong 15 phút. Sau khi khuấy xong, hỗn hợp trong cốc được lọc qua giấy lọc và đem xác định nồ ng độ phẩm màu trong nước ảith sau xử lý. Lựa chọn vật liệu thích hợp cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng xúc tác đến hiệu suất xử lý

     

    Mỗi mẫu lấy 20ml nước pha phẩm nhuộm vàng axit 2R có nồng độ phẩm đạt 200 mg/l cho vào cốc thủy tinh 50ml. Sau đó cho vật liệu biến tính (đã lựa chọn ở thí nghiệm trên) với khối lượng tương ứng cần khảo sát, khuấy đều. Điều chỉnh pH về pH=4,5. Sau đó cho 0,02ml H2O2 30%, khuấy đều trong 15 phút. Sau thời gian phản ứng trên, hỗn hợp trong cốc được lọc qua giấy lọc và đem xác định nồ ng độ phẩm màu trong nước thải sau xử lý. Lựa chọn khối lượng vật liệu thích hợp cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu UV

     

    Mỗi mẫu lấy 20 ml nước pha phẩm nhuộm vàng axit 2R có nồng độ phẩm đạt 200 mg/l cho vào cốc thủy tinh 50 ml. Sau đó cho vật liệu biến tính với khối lượng thích hợp, khuấy đều. Điều chỉnh pH về pH=4,5. Sau đó cho 0,02ml H2O2 30%, khuấy đều trong 15 phút. Đem mẫu đi chiếu UV theo thời gian cần khảo sát. Sau thời gian chiếu UV, hỗn hợp trong cốc được lọc qua giấy lọc và đem xác định nồ ng độ phẩm màu trong nước thải sauxử lý. Lựa chọn thời gian chiếu UV thích hợp cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH

     

    Mỗi mẫu lấy 20ml nước pha phẩm nhuộm vàng axit 2R có nồng độ phẩm đạt 200 mg/l cho vào cốc thủy tinh 50ml. Sau đó cho vật liệu biến tính với khối lượng thích hợp, khuấy đều. Điều chỉnh pH của các mẫu nghiên cứu về các giá trị khác nhau. Sau đó cho 0,02ml H2O2 30%, khuấy đều trong 15 phút. Đem mẫu đi chiếu UV theo thời gian thích hợp. Sau thời gian chiếu UV, hỗn hợp trong cốc được lọc qua giấy lọc và đem xác định nồ ng độ phẩm màu trong nước thải sau xử lý. Lựa chọn pH thích hợp cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    2.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng H2O2

     

    Mỗi mẫu lấy 20ml nước pha phẩm nhuộm vàng axit 2R có nồng độ phẩm đạt 200 mg/l cho vào cốc thủy tinh 50ml. Sau đó cho vật liệu biến tính với khối lượng thích hợp, khuấy đều. Điều chỉnh pH của các mẫu nghiên cứu về pH đã lựa chọn ở nghiên cứu trên. Sau đó cho lần lượt mỗi cốc thể tích H2O2 30% cần khảo sát, khuấy đều trong 15 phút. Đem mẫu đi chiếu UV theo thời gian

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               82

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    thích hợp. Sau thời gian chiếu UV, hỗn hợp trong cốc được lọc qua giấy lọc và đem xác định nồ ng độphẩm màu trong nước thải sau xử lý. Lựa chọn lượng H2O2 thích hợp.

     

    3. Kết quả và thảo luận

     

    3.1. Kết quả khảo sát khả năng xử lý của các mẫu vật liệu Ilmenit biến tính

     

    Bảng 1. Ảnh hưởng của thời gian nung vật liệu đến hiệu suất xử lý

     

       

    Nồ ng độ phẩm nhuộm vang axit

     

    Mẫu vật liệu

    Abs

    ̀

    Hiệu suất (%)

    2R sau xư ly (mg/l)

       

    ̉  ́

     

    Ban đầu

    0,849

    176,82

    11,59

           

    400oC

    0,719

    146,72

    26,64

    500oC

    0,700

    142,32

    28,84

    600oC

    0,780

    160,85

    19,58

    700oC

    0,816

    168,18

    15,91

    Kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy mẫu vật liệu ban đầ(khôngu biến tính) cho hiệu suất xử lý thấp nhất. Kết quảcũng chi ̉ra rằng trong số 04 mẫu vật liệu biến tính được nung ở các nhiệt độ khác nhau từ 400oC đến 700oC thì mẫu vật liệu nung ở 500oC có hoạt tinhxúc tác tốt hơn cả. Điề u này phùhợp với nghiên cứu trước đây [2]. Do vậy, chúng tôi lựa chọn vật liệu nung ở 500oC cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng xúc tác đến hiệu suất xử lý

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của khối lượng xúc tác đến hiệu suất

     

    Khối lượng vật liệu

     

    Nồ ng độ phẩm nhuộm vang

    Hiệu suất

     
     

    Abs

     

    ̀

     

    COD đầu ra

    (mg)

    axit 2R sau xư ly (mg/l)

    (%)

       

    ̉

    ́

     

    5

    0,724

    147,88

     

    26,06

     
               

    10

    0,663

    133,75

     

    33,13

     
               

    15

    0,646

    129,82

     

    35,09

     
               

    20

    0,389

    70,30

     

    64,85

     
               

    25

    0,193

    24,92

     

    87,54

    42

               

    30

    0,191

    24,53

     

    87,74

     
               

    Hieu suat xu ly (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    0                     10                    20                    30                    40

     

    Luong vat lieu (mg)

     

     

    Hình 1. Ảnh hưởng của lượng vật liệu xúc tác đến hiệu suất xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy khi tăng vật liệu xúc tác thì hiệu suất xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R tăng. Chọn lượng vật liệu thích hợp: 25mg cho nghiên cứu.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               83

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu UV

     

    Bảng 3. Ảnh hưởng của thời gian chiếu UV

     

    Thời gian chiếu

     

    Nồ ng độ phẩm nhuộm vang axit

    Hiệu suất

     

    Abs

     

    ̀

     

    (phút)

    2R sau xư ly (mg/l)

    (%)

     

    ̉

    ́

    0

    0,193

    24,92

     

    87,54

    10

    0,142

    13,11

     

    93,45

    30

    0,145

    13,80

     

    93,10

    60

    0,138

    12,18

     

    93,91

    120

    0,151

    15,19

     

    92,41

    Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian chiếu UV tốt nhất là 60 phút, cho hiệu suất xử lý cao nhất. Tuy nhiên, kết quảcũng chỉra rằng, ngay trong điều kiện ánh sáng thường ứng với mẫu có thời gian chiếu UV là0 thìhiệu suất xử lýphẩm nhuộmvàng axit 2R cũng rất cao, đạt 87,54%.

     

    3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của pH

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất

     

                   

    Nồ ng độ phẩm nhuộm vang axit 2R sau

                 

    pH

       

    Abs

                         

    ̀

               

    Hiệu suất (%)

                       

    xư ly (mg/l)

               
                             

    ̉  ́

                             

    2

       

    0,182

               

    21,91

                     

    89,05

    3

       

    0,151

               

    15,19

                     

    92,41

    4

       

    0,137

               

    11,95

                     

    94,03

    4,5

       

    0,138

               

    12,18

                     

    93,91

    5

       

    0,920

               

    193,27

                     

    3,37

                                                           
     

    96

                                                       
     

    Hiệu suất xử lý

                                       
                                               
     

    94

     

    (%)

                                                   
     

    92

                                                       
                                                       
     

    90

                                                       
                                                       
     

    88

                                                       
                                                       
     

    86

                                                       
         

    1

    1.5

    2

    2.5  pH 3

    3.5

    4

    4.5

    5

     

    Hình 2. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy pH tối ưu cho quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R là pH=4. Do vậy chúng tôi chọn pH dung dịch là 4 cho các nghiên cứu tiếp theo.

     

    3.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng H2O2

     

    Bảng 5. Ảnh hưởng lượng H2O2 đến hiệu suất xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R

     

    Lượng H2O2

    Nồ ng độ phẩm nhuộm vang axit 2R sau

     
       

    ̀

    Hiệu suất (%)

    (ml)

    xư ly (mg/l)

     

    ̉

    ́

     

    0,01

    1,76

    99,12

    0,02

    11,95

    94,03

    0,03

    10,33

    94,84

    0,04

    3,84

    98,08

    0,05

    2,45

    98,78

           

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 41 – 01/2015

    84

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    Chọn lượng H2O2 phù hợp: 0,01 ml/ 20ml nước.

     

    Qua các nghiên cứu trên cho thấy, điều kiện tố i ưucho xử lý phẩm nhuộm vàng axit 2R là: 25mg vật liệu + 20ml nước pha phẩm + 0,01ml H2O2 30%, với pH = 4 và thời gian chiếu UV 60 phút thì hiệu suất xử lý 2R rất cao, đạt 99,12%.

     

    4. Kết luận

     

    Ilmenit biến tinh́ cókhảnăng xử lýrất tốt phẩm nhuộm vàng axit 2R. Điề u kiện tố i ưu cho quá trinh̀ phân hủy vàng axit 2R là 0,025g vật liệu/20ml nước pha phẩm ở pH = 4, lượng H2O2 30% là0,01ml vàthời gian chiếu UV 60 phút, hiệu suất xử lýđạt 99,12%. Kết quảcũng chi ̉ra rắng với vật liệu này có thể phân hủy phẩm nhuộm vàng axit 2R ngay trong điều kiện ánh sáng khả kiế n, cho hiệu suấ t đạt 87,54%.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Pham Thi Duong, Dao Ha Anh, Nguyen Van Noi, “Preparation and characterization of Iron-doped Titania on Diatomite for photocatalytic degradation of disperse yellow dye in aqueous of solution”, Trang 241-245, Tạp chí Hoá học, T.49, Số 5AB-2011.
    • Phạm Thị Dương, Đặng Thị Huyền, Nguyễn Văn Nội, “Nghiên cứu quá trình phân hủy phẩm nhuộm vàng phân tán E-3G sử dụng xúc tác quang hóa Fenton dị thể Ilmenite biến tính”, Trang 885-889, Tạp chí Hoá học, T.49, Số 2ABC-2011.
    • ThS-NCS Phạm Thị Dương, PGS.TS. Nguyễn Văn Nội, “Điều chế và nghiên cứu ứng dụng vật liệu titan biến tính với sắt gắn trên nền điatomit để phân hủy quang xúc tác phẩm vàng axit trong môi trường nước”, Trang 82-86, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Hàng hải, Số 38-04/2014, Mã xuất bản ISSN 1859-316X.
    • Jayant Dharma, Aniruddha Pisal, “Simple Method of Measuring the Band Gap Energy Value of TiO2 in the Powder Form using a UV/Vis/NIR Spectrometer”, PerkinElmer, Inc., (2009).
    • R. Hoffman, S. T. Martin, W. Choi, D. W. Bahnemann, “Environment application of semiconductor photocatalysis”, Chem. Rev. 95 (1995), pp 69-96.

    Người phản biện: TS. Ngô Kim Định; TS. Phạm Tiến Dũng

     

    NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH OXY HÓ A QUANG XÚC TÁC PHẨM NHUỘM VÀNG HOẠT TÍNHRY145 BẰNG H2O2 SỬ DỤNG VẬT LIỆU XÚ C TÁ C TITAN

     

    BIẾN TÍNH VỚI SẮT GẮN TRÊN NỀN DIATOMIT (Fe-Ti/ĐIATOMIT)

     

    STUDY OXIDIZED-PHOTOCATALYST PROCESS OF REACTIVE YELLOW RY145 DYE BY H2O2 USING CATALYTIC MATERIAL IRON-DOPED TITANIA ON

    DIATOMITE (Fe-Ti/DIATOMITE)

     

    ThS.NCS. PHẠM THỊ DƯƠNG1, PGS.TS. NGUYỄN VĂN NỘI2, HÀ MINH NGUYỆT2 1- Bộ môn Kỹ thuật Môi trường, Trường ĐHHH Việt Nam 2- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

     

    Tóm tắt

     

    Trong công trình này, xúc tác quang hóa titan được biến tính với sắt gắn trên nền diatomit được điều chế bằng phương pháp sol-gel, sau đó làm khô và nung vật liệu ở 500 oC. Vật liệu tổng hợp được nghiên cứu để phân hủy phẩm nhuộmvàng hoạt tính RY145 dưới điều kiện ánh sáng khả kiến. Kết quả chỉ ra rằng vật liệu thể hiện tính chất quang xúc tác rất tốt để phân hủy phẩm nhuộmvàng hoạt tính RY145, hiệu suất phân hủy đạt 98,2 % ở vùng ánh sáng khả kiến.

    Abstract

     

    In this work, the photocatalysts iron-doped titania on diatomite (Fe-TiO2/diatomite) was prepared by sol-gel method then dried and calcinated at 500oC. The synthesized material was tested for the degradation of reactive yellow RY145 dye under visible light. The obtained results indicate that material has high catalytic activity. The degradation efficiency of 98.2% for reactive yellow RY145 dye can be attained under visible light.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               85

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    1. Giới thiệu

    TiO2 dạng anatas có hoạt tính xúc tác quang do nó có khe năng lượng vùng cấm 3,2 eV tương ứng với bước sóng hấp thụ 388 nm, trong vùng UV [3, 4]. Tuy nhiên, bức xạ UV chỉ chiếm khoảng 4% ánh sáng mặt trời, hơn nữa việc tạo ra bức xạ UV khá tốn kém mà cần nhiều thiết bị chuyên dụng. Vì vậy nghiên cứu tăng khả năng hấp thụ ánh sáng của vật liệu TiO2 ở vùng có bước sóng dài hơn có thể mang lại một tương lai mới, ứng dụng xúc tác quang hóa tại vùng khả kiến để xử lý ô nhiễm môi trường.

     

    Trong các nghiên cứu trước đây, tác giả đãtiến hành nghiên cứu tổng hợp thành công xúc tác Fe-TiO2/Diatomit bằng phương pháp sol-gel. Đặc trưng cấu trúc vật liệu đãđược xác đinḥ bằng phổnhiễu xạtia X (XRD) vàhinh̀ ảnh bềmặt của vật liệu được xác đinḥ bằng kinh́ hiển vi điện tử quét (SEM). Nghiên cứu đãtiến hành phân hủy phẩm nhuộmvàng phân tán E-3G vàphẩm nhuộm vàng axit 2R cho hiệu suất đạt 94% trong điều kiện ánh sáng khảkiến [1, 2].

     

    Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp tục nghiên cứu quá trinh̀ phân hủy phẩm nhuộmvàng hoạt tinh́ RY145 sử dụng xúc tác quang Fentơn di ̣thểFe-TiO2/Diatomit đểmở rộng phạm vi ứng dụng cho xúc tác đãnghiên cứu trên.

     

    1. Kết quảthực nghiệm

    2.1. Hóa chất và thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

     

    • Nguyên liệu sử dụng để điều chế Fe-TiO2/Diatomit: Tetraisopropylorthotitanat (TIOT): Ti(OC3H7)4 của Merck cùng với sắt (III) nitrat, axit nitric, etanol và diatomit có nguồn gốc từ Hoà Lộc – Phú Yên.
    • Nguyên liệu để tạo dung dịch phẩm nhuộmvàng hoạt tính RY145 trong môi trường nước là thuốc nhuộm vàng hoạt tinh́ RY145 thương phẩm.

     

    Công thức phân tử của phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

     

    • Thiết bị tạo huyền phù sét: Máy khuấy từ – Trung Quốc.
    • Tủ sấy vật liệu ở 105 oC: Tủ sấy Binder – Đức.
    • Vật liệu được nung trong lò nung (dung tích 7,2 lít, nhiệt độ 200 oC ÷ 1200oC) – Trung

    Quốc.

     

    • Máy đo pH 24, Aqualytic – Đức.
    • Nồng độphẩm nhuộm vàng hoạt tinh́ RY145 được xác định bằng phương pháp trắc quang
    • bước sóng 410 nm trên thiết bị UV-VIS Labomed – Mỹ.
    • Giátri ̣COD của các mẫu nghiên cứu được xác đinḥ trên thiế t bi ̣đo COD Hach DR 2800

    2.2. Nghiên cứu ứng dụng xúc tác Fe-TiO2/Điatomit trong phản ứng oxi hóa phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145 bằng H2O2

     

    Lấy 4 bình thủy tinh dung tích 250ml, bổ sung 25 ml dung dịch thuốc nhuộm 500 ppm, điều chỉnh pH đến 4 bằng HCl 1M hoặc NH4OH 1M.

     

    Cân 0,25 g vật liệu diatomit thô, TiO2/Diatomit, và TiO2-Fe3+/Diatomit cho vào dung dịch phẩm màu, nhỏ dung dịch 0,1M H2O2 khuấy 100 vòng/phút trong 30 phút dưới ánh sáng khảkiến. Sau thời gian xử lý, lọc, lấy mẫu phân tích COD, kết quả chỉ ra trên hình 1.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               86

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

     

    %COD Removal

    100

       

    92.0

     
         

    90

                       
                       

    80

                       
                       

    70

                       
                       

    60

                       
                       

    50

                       
                       

    40

       

    32.0

             

    30

                       
                       

    20

                       
     

    8.0

    11.0

         
             

    10

                     
                       
                       

    0

                       
       

    Raw diatomite

    Ferric enriched diatomite TiO2/Diatomite   TiO2-Fe3+/Diatomite

     

    Hình 1. Hiệu suất quá trình oxi hóa phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145 đối với mỗi vật liệu xúc tác (qua độ giảm COD: %COD)

     

    Từ kết quả thu được cho thấy vật liệu diatomit thô có khả năng hấp phụ thấp (8% COD loại bỏ), điều này có khả năng là do xúc tác quang hoặc tác nhân Fentơn. Bổ sung thêm lượng sắt cung cấp cho phản ứng Fentơn thì hiệu suất có tăng nhưng không cao, (32% COD loại bỏ). Hiệu suất xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tinh́ RY 145 của TiO2/Diatomit thậm chí còn thấp hơn đối với việc bổ sung sắt vào diatomit (chỉ 11% COD được loại bỏ) do khoảng trống năng lượng cao của titan. Kết hợp giữa Titan, sắt và diatomit được vật liệu TiO2-Fe3+/Diatomit cho kết quả xử lý phẩm nhuộm tốt nhất, đạt 92% COD loại bỏ.

     

    2.2.1. Khảo sát lượng H2O2 thích hợp

     

    Bảng 1. Ảnh hưởng của H2O2 đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

    Nồng độ H2O2

    COD sau xử lý (mg/l)

    % COD loại bỏ (%)

    0,2 × 10-3M

    30,3

    85,6

    0,6 × 10-3M

    29,2

    86,1

    1,0 × 10-3M

    15,2

    92,7

    2,0 × 10-3M

    43,7

    79,3

    3,0 × 10-3M

    50,7

    75,9

    %COD Removal

    100

     

    85.6

    86.1

    92.7

    79.3

       
         

    75.9

                 

    50

                         
                         

    0

                         
       

    0.2E-3 M0.6E-3 M 1E-3 M

     

    2E-3 M

     

    3E-3 M

             

    Hình 2. Ảnh hưởng của H2O2 đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

     

    Tăng lượng H2O2 dẫn tới việc tăng gốc OH·, do đó hiệu suất xử lý phẩm nhuộm tăng. Tuy nhiên, lượng H2O2 quá lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng phản ứng của gốc tự do hydroxyl, và làm giảm hiệu suất xử lý. Do đó, nồng độ H2O2 thích hợp là 1×10-3M.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               87

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    2.2.2. Khảo sát pH thích hợp

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của pH đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vang hoạt tinh RY145

       

    ̀

    ́

    pH

    COD sau xử lý (mg/l)

     

    % COD loại bỏ (%)

           

    2

    30,5

     

    85,5

           

    3

    3,7

     

    98,2

           

    4

    15,2

     

    92,7

    5

    47,5

     

    77,4

           

    6

    62,3

     

    70,4

           

    7

    85,0

     

    59,7

           

    8

    174,7

     

    17.2

    %COD Removal

     

    98.2

    92.7

                   

    100

                             

    85.5

       

    77.0

               
                     
                           

    80

             

    70.4

           
             
             

    59.7

       
                   

    60

                                 
                                 

    40

             

    17.2

             
               

    20

                                 
                                 

    0

                                 
       

    pH=2  pH=3  pH=4  pH=5  pH=6  pH=7  pH=8

         

    Hình 3. Ảnh hưởng của pH đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

     

    Tại pH=3, hiệu suất xử lý phẩmnhuộmvàng hoạt tinh́ RY145 đạt cao nhất (98% COD loại bỏ). Cả hai hiệu suất loại bỏ COD ở pH=3 và pH=4 đều lớn hơn 90%. Mặc dù hiệu suất xử lý ở pH=4 thấp hơn ở pH=3, nhưng sự khác nhau này là tương đối nhỏ (chỉ 7%). Do đó, sau xử lý dung dịch phải được trung hoà về pH thích hợp với QCVN 40:2011/BTNMT là 5,5-9. Để giảm lượng bazơ cũng như giá thành xử lý mà vẫn đảm bảo chất lượng xử lý, pH thích hợp cho lựa chọn là pH= 4.

     

    Phổ hấp thụ UV/Vis của dung dịch thuốc nhuộm trước và sau xử lý cũng được nghiên cứu và thể hiện trên hình 4.

     

    ABSORBANCE

    5

     

    4.5

     

    4

     

    3.5

     

    3

     

    2.5

     

    2

     

    1.5

     

    1

     

    0.5

     

    0

     

    200  300  400  500  600  700  800  900

     

    WAVELENGTH

     

    pH=2

     

    pH=3

     

    pH=4

     

    pH=5

     

    pH=6

     

    Hình 4. Phổ hấp thụ UV/VIS của dung dịch thuốc nhuộm trước và sau xử lý tại các pH khác nhau

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               88

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    Tại pH = 3 và4 cósựbiến mất của hầu hết các pic của RY 145 ban đầu đối với dung dịch sau xử lý, đồng thời có %COD loại bỏ tương ứng là 98,2% và 92,7% cho thấy RY145 đã bị phân huỷ gần như hoàn toàn thành CO2 và H2O. Một pic nhỏ tại bước sóng < 220 nm là sự có mặt của một vài hydrocacbon với liên kết đôi hoặc 3 mà không phân huỷ hoà toàn.

     

    2.2.3. Khảo sát thời gian thích hợp

     

    Bảng 3. Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

    Thời gian (phút)

    COD sau xử lý (mg/l)

    % COD loại bỏ (%)

         

    10

    41,8

    80,1

    20

    28,6

    86,4

    30

    15,2

    92,7

    %COD Removal

    100            80.1               86.4                 92.7

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10mins           20mins           30mins

     

    Hình 5. Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình xử lý phẩm nhuộm vàng hoạt tính RY145

     

    Kết quả cho thấy sau 10 phút hiệu suất xử lý đạt 80% COD loại bỏ, sau 30 phút hiệu suất loại bỏ COD đạt 92 %. Phổ hấp thụ UV/Vis cũng được đo và chỉ ra trên hình 6.

     

    ABSORBANCE

    5

    4.5

     

    4

     

    3.5

     

    3

     

    2.5

     

    2

     

    1.5

     

    1

     

    0.5

     

    0

     

    200          300         400         500         600         700         800         900

     

    WAVELENGTH

     

    RY-145 500ppm

     

    after 10mins of

    treatment

     

    Hình 6. Phổ hấp thụ UV/Vis của dung dịch thuốc nhuộm trước và

    sau xử lý tại các thời gian xử lý khác nhau

     

    Kết quả cho thấy, chỉ sau 10 phút hiệu quả xử lý đạt tương đối cao. Tuy nhiên để đảm bảo hiệu quả xử lý tốt thì thời gian lựa chọn là trên 20 phút.

     

    1. Kết luận

    Xúc tác quang (TiO2-Fe3 +) gắn trên chất nền diatomit được tổng hợp thành công trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp sol-gel, ở nhiệt độ nung 500 oC. Vật liệu tổng hợp có hoạt tính xúc tác cao ở vùng ánh sáng khả kiến. Vật liệu có khả năng xúc tác quang rất tốt để phân hủy phẩm nhuộmvàng hoạt tinh́ RY145, cho hiệu suất phân hủy vàng hoạt tính RY145 đạt tới 98,2% ở pH =3 và đạt 92,7% ở pH = 4. Khả năng phân hủy màu rất tốt và khả năng khoáng hoá phẩm nhuộmvàng hoạt tinh́ RY145 cao.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               89

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Pham Thi Duong, Dao Ha Anh, Nguyen Van Noi, “Preparation and characterization of Iron-doped Titania on Diatomite for photocatalytic degradation of disperse yellow dye in aqueous of solution”, Trang 241-245, Tạp chí Hoá học, T.49, Số 5AB-2011.
    • ThS-NCS Phạm Thị Dương, PGS.TS. Nguyễn Văn Nội, “Điều chế và nghiên cứu ứng dụng vật liệu titan biến tính với sắt gắn trên nền điatomit để phân hủy quang xúc tác phẩm vàng axit trong môi trường nước”, Trang 82-86, Tạp chí Khoa học – Công nghệ Hàng hải, Số 38-04/2014, Mã xuất bản ISSN 1859-316X.
    • Jayant Dharma, Aniruddha Pisal, “Simple Method of Measuring the Band Gap Energy Value of TiO2 in the Powder Form using a UV/Vis/NIR Spectrometer”, PerkinElmer, Inc., (2009).
    • R. Hoffman, S. T. Martin, W. Choi, D. W. Bahnemann, “Environment application of semiconductor photocatalysis”, Chem. Rev. 95 (1995), pp 69-96.
    • Hiromi Yamashita et al., “Photocatalytic degradation of organic compounds diluted in water using visible light-responsive metal ion-implanted TiO2 catalyst: Fe ion-implanted TiO2, Catalysis Today 84 (2003), 191-196.

    Người phản biện: TS. Ngô Kim Định; TS. Phạm Tiến Dũng

     

    NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH BẾN TƯỜNG CỌC VÀ TRỌNG LỰC TẠI VIỆT NAM

     

    RESEARCHING ANG PROPOSING SOME SOLUTIONS TO OVERCOME CONSEQUENCES OF CLIMATE CHANGE AND SEA LEVEL RISE FOR QUAY IN FORM OF SHEET PILE AND GRAVITY STRUCTURES IN VIETNAM

     

    PGS.TS NGUYỄN VĂN NGỌC

    Khoa Công trình, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    • Tính toán kiểm tra cao độ mặt bến các công trình bến cảng biển đã xây dựng tại Việt Nam theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường [1], có rất nhiều công trình bị ngập do nước biển dâng. Khắc phục vấn đề này, bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với các công trình bến tường cọc và trọng lực đã xây dựng tại Việt Nam.

    Abstract

     

    • According to the climate change scenario of Ministry of natural resources and environment [1], many quays that have been built in Viet Nam will be flooded because of the sea level rise. To overcome this problem, the paper would like to present the result of research of some adapations to climate change and sea level rise for quays in form of sheet pile gravity structure which have been built in Viet Nam.
    1. Đặt vấn đề

    Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính toán cho thấy cả 6 nhóm cảng đều có công trình bị ngập [5], trong đó có công trình có thể bị ngập tới 2,6m. Vì vậy việc nghiên cứu đưa ra giải pháp khắc phục cho các công trình bến tường cọc và trọng lực đã được xây dựng có hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao là hết sức cần thiết.

     

    1. Các loại công trình bến cảng đã được xây dựng tại Việt Nam.

    Cho đến nay, có ba loại công trình bến cảng đã được xây dựng tại Việt Nam, đó là:

     

    • Công trình bến bệ cọc cao: Đây là loại công trình được xây dựng phổ biến tại Việt Nam do kết cấu thích nghi với mọi sơ đồ cơ giới xếp dỡ, mọi điều kiện địa hình và hầu hết các điều kiện địa chất.
    • Công trình bến trọng lực: Là công trình xây dựng yêu cầu địa chất nền phải có khả năng chịu lực tốt, hoặc đối với nền địa chất yếu phải gia cố nền. Vì vậy loại công trình này xây dựng tại Việt Nam còn ít, số lượng công trình bến trọng lực được xây dựng nhiều nhất tại Quảng Ninh với công trình bến trọng lực có qui mô lớn nhất tại Việt Nam là công trình tại cảng Cái Lân.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               90

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    • Công trình bến tường cọc: Là công trình cho phép bố trí mặt bằng cảng thuận lợi cho công tác giao thông thủy, bộ, kho bãi cảng như công tác xếp dỡ hàng hóa. Tuy nhiên với điều kiện địa chất yếu, việc xây dựng công trình này thường không kinh tế bằng công trình bến bệ cọc cao, vì vậy công trình này ít được xây dựng tại Việt Nam. Công trình bến tường cọc điển hình có qui mô lớn nhất Vệt Nam này là công trình tại cảng Hải Phòng.
    1. Một số giải pháp ứng phó đối với công trình bến tường cọc và trọng lực đã xây dựng

    Mặc dù số loại công trình bến cơ bản có 3 loại, song với khuôn khổ bài báo, trong bài này chỉ trình bày giải pháp khắc phục đối với hai loại kết cấu công trình cảng, đó là công trình bến tường cọc và trọng lực với mức độ ngập trung bình 1m.

     

    3.1. Giải pháp khắc phục với công trình bến tường cọc

     

    2.1.1 Các phương án kết cấu khắc phục.

     

    1) Phương án 1 (hình 01)

     

    1

     

    2

     

     1:3

     

    -8.0

     

    -13.0

     

    -15.0

     

    3

     

    -21

     

    Hình 01. Mặt cắt ngang kết cấu bến tường cọc theo phương án 1

     

    Kết cấu bến tường cọc theo phương án này được bổ sung thêm hệ thống dầm mũ và bản neo giảm tải:

     

    • Dầm mũ hiện tại được đục phá xuống 50cm để lấy cốt thép liên kết với dầm mũ bổ sung và bản neo; dầm mũ cao 100cm, đỉnh dầm rộng 20cm, đáy dầm rộng 50cm.
    • Bản neo giảm tải gồm có 3 tấm bê tông cốt thép liên kết với nhau có kích thước: bxhxl= 200x30x400cm. Các tấm bản neo được xếp liên tiếp dọc theo chiều dài bến.

    2) Phương án 2 (hình 02)

     

     1

     

    2

     

     1:3

     

    -8.0

     

    -13.0

     

    -15.0

     

    3

     

    -21

     

    Hình 02. Mặt cắt ngang kết cấu bến tường cọc theo phương án 2

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               91

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    Kết cấu bến tường cọc theo phương án này được bổ sung thêm hệ thống dầm mũ và hệ thanh neo, bản neo:

     

    • Dầm mũ hiện tại được đục phá xuống 50cm để lấy cốt thép liên kết với dầm mũ bổ sung và thanh neo; dầm mũ cao 100cm, đỉnh dầm rộng 20cm, đáy dầm rộng 50cm.
    • Thanh neo bằng thép có đường kính D= 36mm, dài 600cm;
    • Bản neo bằng bê tông cốt thép có chiều cao 100cm.

    3.1.2. Tính toán nội lực kết cấu chính của bến

     

    Kết quả tính toán nội lực [2],[3],[4],[6]:

     

    • Phương án 1: Chiều sâu chôn cọc, lực neo, mômen đều giảm -30,43% 6,99% ; 30,24%.
    • Phương án 2: Chiều sâu chôn cọc và mômen uốn giảm, lực neo tăng tới 45,92%

    Nhận xét:

     

    • Phương án 1: Cho phép giảm chiều sâu chôn cừ, lực neo và mô men; điều đó cho thấy tác dụng rất hiệu quả khi sử dụng bến tường cọc 2 tầng neo do giảm áp lực đất của hệ giảm tải.

     

    • Phương án 2: Do hệ thống neo không có tác dụng giảm tải, vì vậy giá trị lực neo tăng.

    3.1.3. Tính toán so sánh kinh tế [4]

     

    Phương án 1: Có chi phí xây dựng là: 13.288.000 VNĐ/mdài.

     

    Phương án 2: Có chi phí xây dựng là: 17.677.000 VNĐ/mdài.

     

    (Ghi chú: Chi phí xây dựng trên chỉ tính phần kết cấu bổ sung của tường cọc để so sánh giá thành xây dựng hai phương án, chưa tính chi phí bổ sung kết cấu mặt bằng bến bãi).

     

    3.2. Giải pháp khắc phục với công trình bến trọng lực

     

    3.2.1. Giải pháp kết cấu khắc phục (hình 04)

     

    BÝch neo 100T

     

    +5.75

    MHWL +4.15

    +4.5

     

    MWL +2.61

     

    MLWL +1.15

    +1.5

     
     

    +2.15

     

    +3.25

     

    +2.5

    N¾p bª t«ng

     

    t= 20 cm

     

    C¸t lÊp

    C¸t lÊp

    -6.77

     

    V¶i ®Þa kü thuËt

     

     +0.5

     

    +3.585

     

    Cäc èng BTCT ¦ST

     

    f700

     

    TÇng läc ng-îc

           

    vÐt

    thiÕt

       

    n¹o

     

    êng

         
             
                 

    §-

                   
         

    vÐt

    thùc

     

    n¹o

       

    êng

           
               

    §-

                   
    • ¸ phñ b¶o vÖ

    -13.0

     

     

    -13.5

    Líp ®Öm ®¸

    -14.5

    TÇng läc ng-îc

     

    -13.2

     

    Hình 04. Mặt cắt ngang kết cấu bến trọng lực nâng cao độ

     

    Bến trọng lực hiện tại được nâng cao trình đỉnh bến từ +5,20m lên cao trình +5,75m. Kết cấu bổ sung sau khi nâng cao trình bao gồm:

     

    • Kết cấu bên trên được bổ sung thêm bê tông cốt thép dày 0,55m, rộng 3,75m.
    • Phía sau kết cấu bên trên được bổ sung kết cấu mặt bãi gồm các lớp: đá loại 1 dày 30cm, đá loại 2 dày 20cm và bê tông nhựa mặt bến dày 5cm.

    3.2.2. Tính toán kết cấu chính của bến

     

    Kết quả tính toán nội lực cho thấy [4]: ứng suất tại vị trí tiếp giáp công trình và tầng đệm, giữa tầng đệm với đất nền tăng trong phạm vi cho phép (7,5% ÷ 8%). Độ ổn định của công trình

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               92

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2015

     

    theo trượt phẳng tăng 1,95 ÷ 5,26%; độ ổn định lật giảm 7,53%. Như vậy giải pháp khắc phục khả thi.

     

    3.2.3. Tính toán kinh tế

     

    Công trình bến thùng chìm cảng Cái Lân nâng cao độ có chi phí xây dựng là:

     

    9.385.000VNĐ/mdài.

     

    (Ghi chú: Chi phí xây dựng trên chỉ tạm tính trong phạm vi 40m chiều rộng bến).

     

    1. Kết luận

    Qua các giải pháp khắc phục ngập các công trình bến tường cọc và trọng lực tại Việt Nam do biến đổi khí hậu cho thấy tổn thất về kinh tế là khá lớn. Mặt khác các giải pháp trên chỉ là cục bộ; cần có giải pháp chung như đã đề xuất trong [5].

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ tài nguyên môi trường, “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”, Hà Nội

    2011.

    • Công trình bến cảng biển, Tiêu chuẩn thiết kế 22 TCN 207-92.
    • Móng cọc, Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 205-1998.
    • Nguyễn Văn Ngọc, ‘’Đánh giá và xây dựng giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho ngành Hàng Hải Việt Nam’’, Đề tài cấp Bộ, mã số CC101001, 2010-2013.
    • Nguyễn Văn Ngọc. ‘’Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới công trình thủy và đề xuất biện pháp giảm thiểu’’, Tạp chí KHCNHH số 30-04/2012.
    • Tải trọng và tác động (do sóng và do tàu) lên công trình thủy, Tiêu chuẩn thiết kế 22 TCN 222-95.

    Người phản biện: PGS.TS. Hà Xuân Chuẩn; TS. Phạm Văn Trung

     

     

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 41 – 01/2015                                                               93


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-nhu-c%E1%BA%A7u-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-%C3%81p-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-doanh-nghi%E1%BB%87p-cung-%E1%BB%A9ng-v%E1%BA%ADt-t%C6%B0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa Áp dụng tại doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT BẤT ĐỊNH TRONG DỰ BÁO NHU CẦU HÀNG HÓA:

     

    ÁP DỤNG TẠI DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ THIẾT BỊ HÀNG HẢI

     

    APPLICATION OF UNCERTAINTY THEORY IN FORECASTING CUSTOMER DEMAND: THE CASE OF MARITIME SPARE PARTS SUPPLYING

    COMPANY

     

    NGUYỄN MINH ĐỨC, VŨ LÊ HUY

    Khoa Kinh tế, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Đối với các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu, đây thực sự là thách thức không nhỏ do giới hạn về số liệu lịch sử cũng như số lượng các khách hàng thân thiết với nguồn cầu ổn định. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Bài báo đề xuất ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu hàng hóa và áp dụng kết quả vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một doanh nghiệp cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    Từ khóa: Lý thuyết bất định, dự báo nhu cầu khách hàng, quản trị tồn kho.

     

    Abstract

     

    Forecasting customer demand is always a critical activity in supply chain management, especially at companies that directly distribute products to customers because those companies are at the end of the supply chain line to provide information to other distributors and manufacturers. This activity is even a higher challenge to new companies due to the shortage of historical data as well as certain demand from loyal customers. Forecasting customer demand directly impacts companies’ business planning, such as inventory management. The paper suggests the application of uncertainty theory in forecasting customer demand and its application to economical order model at a maritime spare parts supplying company.

     

    Keywords: Uncertainty theory, forecasting customer demand, inventory management.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Dự báo nhu cầu hàng hóa luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng đối với chuỗi cung ứng, đặc biệt là tại các doanh nghiệp trực tiếp phân phối sản phẩm đến tay khách hàng do họ là đầu mối thông tin phản hồi lại cho người phân phối cấp cao hơn cũng như người sản xuất. Việc dự báo nhu cầu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập kế hoạch kinh doanh, trong đó có quản trị hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho chiếm một vị trí quan trọng trong thành công của các doanh nghiệp cũng như cho cả chuỗi cung ứng. Thực hiện tốt quản trị hàng tồn kho sẽ giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí cũng như tăng mức dịch vụ khách hàng, giảm thiệt hại kinh tế do hết hàng tồn kho hay lãng phí do lượng hàng tồn kho quá lớn. Trên thực tế, việc quản trị hàng tồn kho càng trở nên thách thức do tính bất ổn của dòng thông tin đầu vào như nhu cầu hàng hóa của khách hàng, thời gian vận chuyển trong chuỗi, các loại chi phí liên quan,… (Sethi et al, 2005) Việc xác định chính xác các thông tin đầu vào này sẽ quyết định sự hiệu quả của công tác quản trị hàng tồn kho. Lý thuyết bất định cung cấp một công cụ để xác định và nâng cao mức độ tin cậy của giá trị kỳ vọng của các thông tin đầu vào này. Bài báo, trước hết, sẽ giới thiệu một cách khái quát về lý thuyết bất định và sau đó, đề xuất ứng dụng của lý thuyết này trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng nó vào mô hình đặt hàng kinh tế tại một công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải.

     

    2. Ứng dụng lý thuyết bất định trong xác định giá trị kỳ vọng

     

    Nhằm mục đích mô hình hóa những vấn đề không thể xác định được một cách chắc chắn, đã có rất nhiều lý thuyết được phát triển nhưng nổi lên là hai phương pháp toán học: lý thuyết xác suất và lý thuyết bất định. Lý thuyết xác suất đòi hỏi một lượng đủ lớn của mẫu để có thể xác định phân phối xác suất. Tuy nhiên, không phải lúc nào mẫu cũng sẵn có để xác định được hàm mật độ của một biến ngẫu nhiên. Nếu không có đủ số liệu, có thể phải mời chuyên gia để đánh giá mức độ tin cậy của một sự kiện có thể xảy ra. Lý thuyết bất định được giới thiệu bởi giáo sư Liu Baoding lần đầu năm 2007 và được định nghĩa lại vào năm 2010. Theo lý thuyết bất định, một biến bất định là một hàm đo lường ξ từ một không gian bất định (Γ, ℒ, ℳ) đối với một tập các số thực, với {ξ ∈ Β} là

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     91

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    một sự kiện đối với bất kỳ một tập hợp B nào. Phân phối bất định của một biến bất định ξ được xác định bởi Φ(x) = ℳ{ξ ≤ x} với bất kỳ số thực nào (Liu, 2015). Một biến bất định tuyến tính có phân phối bất định như sau:

    0,

      ớ    <

     

    Φ(x) = {(x − a)⁄(b − a) , với  ≤  <

    (1)

    1,

      ớ    ≥

     

    Với a và b là số thực, (a < b).

     

    Một hàm Φ: ℛ ⟶ [0,1] là một phân phối bất định khi và chỉ khi nó là một hàm tăng dần ngoại trừ khi Φ(x) ≡ 0 và Φ(x) ≡ 1.

     

    Do không thể xác định chính xác biến bất định ξ, nên thay vào đó, ta sẽ xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ. Đối với một phân phối bất định thực nghiệm được Liu (2015) đề xuất như sau:

     

       

    0

       

    với x <   1

     
     

    i+1

    − αi)(x − xi)

     

    Φ(x) = {αi +

    với xi  ≤ x ≤ xi+1, 1 ≤ i ≤ n

     
     

    xi+1

    − xi

       

    với x > xn

     
       

    1

       
               

    Giá trị kỳ vọng của biến ξ sẽ được xác định theo công thức:

    E[ξ] =

    α12

    x

    + ∑n−1

    αi+1−αi−1

    x

    i

    + (1 −

    αn−1n

    )x

    n

         
     

    2

    1

    i=2

    2

       

    2

     
                   

    (2)

     

    (3)

     

    Trong đó, α1, α2 , .. αn lần lượt là mức độ tin cậy của sự kiện giá trị khảo sát nhỏ hơn x1, x2, … xn và x được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn.

     

    Trên cơ sở lý thuyết bất định, ta có thể xác định giá trị kỳ vọng của biến ξ thông qua bộ câu hỏi cho chuyên gia để xác định bộ giá trị (x1, α1), (x2, α2)… (xn, αn) như sau:

    • Giá trị lớn nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị nhỏ nhất có thể của biến ξ là bao nhiêu?
    • Giá trị của biến ξ có thể là bao nhiêu? Và mức độ tin cậy của việc giá trị thức tế sẽ nhỏ hơn giá trị kỳ vọng này?

    Câu hỏi thứ (i) có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi chuyên gia ngừng đưa ra đáp án. Giá trị kỳ vọng E[ξ] của tất cả chuyên gia tham gia khảo sát sẽ được lấy trung bình để rút ra kết quả kỳ vọng cuối cùng.

     

    3. Ứng dụng lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng để tính toán lượng đặt hàng kinh tế tại công ty cung ứng vật tư thiết bị hàng hải

     

    Trong mô hình đặt hàng kinh tế EOQ (Economic Order Quantity) (Bowersox, Closs & Cooper 2002), lượng đặt hàng tối ưu được xác định theo công thức:

    = √

    2   

    (4)

     

         

    Trong đó: D là nhu cầu về hàng hóa, K là chi phí đặt hàng, h là chi phí tồn trữ một đơn vị hàng hóa

     

    Tuy nhiên, trong thực tế, việc dự báo nhu cầu về hàng hóa luôn là thách thức đối với tất cả những nhà quản lý, đặc biệt là tại các doanh nghiệp hoạt động chưa lâu do hạn chế về lượng thông tin để có thể áp dụng các phương pháp dự báo truyền thống. Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh là một công ty thành lập năm 2016 chuyên cung ứng các vật tư thiết bị hàng hải cho các đội tàu biển trên khu vực Hải Phòng. Một trong những sản phẩm được cung ứng với số lượng lớn và liên tục là bóng đèn chiếu sáng lặp đặt trên tàu. Một nhiệm vụ quan trọng của công ty là dự báo nhu cầu lượng bóng đèn và từ đó lập kế hoạch mua hàng để tiết kiệm chi phí tồn trữ. Tuy nhiên, do thời gian hoạt động chưa lâu, nên công ty luôn gặp khó khăn trong việc xác định lượng cầu một cách tin cậy. Lý thuyết bất định, do đó, phù hợp để áp dụng trong trường hợp này.

     

    Do giá trị của D là không xác định được trực tiếp một cách chính xác, nên ta sẽ phải xác đing lượng đặt hàng tối ưu thông qua giá trị kỳ vọng E[D]. Lúc này, công thức xác định lượng đặt hàng tối ưu sẽ là:

    = √

    2E[D] 

    (5)

     

         

    Nhu cầu về sản phẩm bóng đèn chiếu sáng lắp đặt trên tàu biển tại công ty theo từng tháng từ ngày thành lập được thể hiện trong Hình 1. Bằng cách áp dụng hồi quy tuyến tính, ta có thể xác định hàm xu thế tuyến tính và dự báo tuyến tính nhu cầu hàng hóa trong năm 2018.

     

    92                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Lượng hàng (chiếc)

    900

       
       

    800

       
       

    700

       
       

    600

       

    y = 0.321x – 13084

     

    500

       

    R² = 0.7455

     
     

    400

       
       

    300

       
       

    200

       
       

    100

       
       

    0

       

    Mar-16Apr-16May-16Jun-16Jul-16Aug-16Sep-16Oct-16Nov-16Dec-16Jan-17Feb-17Mar-17Apr-17May-17Jun-17Jul-17Aug-17Sep-17Oct-17Nov-17Dec-17

     
     

    (Nguồn: thống kê từ doanh nghiệp)

     

    Hình 1. Nhu cầu sản phẩm và hàm xu thế tuyến tính

     

    Nhu cầu khách hàng trong năm 2018 dựa trên dự báo tuyến tính là 9.680 sản phẩm. Mặc dù kết quả dự báo này có độ tin cậy thấp, nhưng nó vẫn là một thông số tham khảo để tiếp tục áp dụng lý thuyết bất định trong khảo sát ý kiến chuyên gia. Các chuyên gia, trong trường hợp này là giám đốc và nhân viên mua hàng, nhân viên phân phối. Họ sẽ độc lập trả lời các câu hỏi về giá trị kỳ vọng của nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đã biết nhu cầu thực tế của khách hàng trong lịch sử và kết quả dự báo tuyến tính:

     

    Kết quả khảo sát được tổng hợp như sau:

     

    Chuyên gia 1: (8000, 0), (9000, 0,5), (9680, 0,7), (12000, 1);

     

    Chuyên gia 2: (7000, 0), (8000, 0,5), (9680, 0,9), (10000, 1);

     

    Chuyên gia 3: (8000, 0), (9680, 0,5), (11000, 0,8), (12000, 1).

     

    Áp dụng công thức (3) ta có kết quả nhu cầu khách kỳ vọng của các chuyên gia lần lượt là: 10570, 10270 và 11622. Lấy trung bình các kết quả kỳ vọng của các chuyên gia, ta có nhu cầu khách hàng kỳ vọng trong năm 2018 là E[D] = 10820.

     

    Với thống kê từ bộ phận tài chính, chi phí đặt hàng là 2 triệu đồng cho một đơn đặt hàng và chi phí tồn trữ bình quân một đơn vị sản phẩm là 5000 đồng. Áp dụng công thức (5), lượng đặt hàng tối ưu đối với công ty sẽ là:

     

    EOQ = 2942 (sản phẩm/đơn hàng)

     

    4. Kết luận

     

    Có thể thấy đối với trường hợp Công ty TNHH Dịch vụ Hàng hải Hoàng Minh, là Công ty Cung ứng vật tư thiết bị hàng hải, nhu cầu khách hàng về sản phẩm bóng đèn trên tàu biển được nâng cao độ tin cậy của dự báo thông qua ứng dụng của lý thuyết bất định khi cơ sở dữ liệu không đủ để thực hiện các dự báo truyền thống. Việc sử dụng ý kiến nhiều chuyên gia cũng giúp hạn chế tính chủ quan của một chuyên gia đơn lẻ. Kế hoạch về lượng đặt hàng kinh tế, do đó, sẽ có mức độ tin cậy cao hơn. Rõ ràng, nếu chỉ sử dụng kết quả dự báo tuyến tính, sẽ có nhiều khả năng lượng hàng nhập về không đáp ứng đủ nhu cầu khách hàng và doanh nghiệp sẽ có thể mất thêm chi phí để đặt hàng bổ sung.

     

    Quản trị hàng tồn kho là một nhiệm vụ quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tránh tình trạng hết hàng và giảm chi phí tồn trữ cho doanh nghiệp cũng như toàn chuôi cung ứng. Việc lập kế hoạch tồn kho, do đó, chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiên, lại là một thách thức không nhỏ cho các nhà quản lý, đặc biệt khi các giá trị đầu vào của các mô hình quản lý tồn kho như nhu cầu hàng hóa biến động và khó xác định một cách chắc chắn. Lý thuyết bất định được xây dựng để xác định giá trị kỳ vọng của một biến số dựa trên mức độ tin cậy của các sự kiện có thể xảy đến với biến số đó. Lý thuyết bất định do đó, có thể đóng vai trò cầu nối giữa các phương pháp toán học dự báo đơn thuần và phương pháp chuyên gia để nâng cao độ tin cậy cho giá trị kỳ vọng của biến số. Trên thực tế, thông tin về các thông số kinh tế thường mang tính bất định, và do đó, ứng dụng của lý thuyết bất định trong dự báo nhu cầu khách hàng và áp dụng trong quản trị hàng tồn kho chỉ là một trong phạm vị rất rộng các ứng dụng của lý thuyết này.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     93

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Sethi, Suresh P; Yan, Houmin; Zhang, Hanqin; Inventory and supply chain management with forecast updates, Springer, 2005.
    • Liu, Baoding, Uncertainty Theory 5th edition, Springer-Verlag Berlin, 2015.
    • Donald J. Bowersox, David J. Closs, M. Bixby Cooper, Supply Chain Logistics Management International edition, McGraw-Hill Higher Education, 2002.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

     

     

     

    94                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017

    Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017

    Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/D%E1%BB%B1-b%C3%A1o-ng%E1%BA%AFn-h%E1%BA%A1n-s%E1%BA%A3n-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-th%C3%B4ng-qua-c%C3%A1c-b%E1%BA%BFn-c%E1%BA%A3ng-thu%E1%BB%99c-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-C%E1%BA%A3ng-H%E1%BA%A3i-Ph%C3%B2ng-n%C4%83m-2017.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2017

     

    KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    DỰ BÁO NGẮN HẠN SẢN LƯỢNG HÀNG HÓA THÔNG QUA CÁC BẾN CẢNG THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG HẢI PHÒNG NĂM 2017 SHORT-TERM FORECASTING OF CARGO THROUGHPUT AT THE HARBORS OF HAI PHONG PORT JOINT STOCK COMPANY FOR YEAR 2017

     

    NGUYỄN HỒNG VÂN, BÙI HẢI ĐĂNG

    Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Trong giai đoạn hiện nay, việc dự báo của cảng đóng vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế công tác dự báo ở cảng hiện nay mới chỉ chú trọng nhiều vào dự báo trong trung hạn và dài hạn mà không tập trung vào dự báo trong ngắn hạn về sản lượng hàng hóa thông qua. Bài báo này trình bày khái quát cơ sở lý luận về dự báo và các mô hình dự báo trong ngắn hạn, từ đó vận dụng các mô hình này để dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017.

     

    Từ khóa: Hàng hóa thông qua, Dự báo ngắn hạn.

     

    Abtract

     

    In the current period, making forecasts plays a very important role in the activities of ports. However, people only focus on the medium and long term forecasts without focusing on short term forecasts of cargo throughput in ports. This article presents an overview of forecasting and forecasting models in the short term, thereby applying these models to forecast cargo throughput at the harbors of Haiphong Port Joint Stock Company for year 2017.

     

    Keywords: Cargo throughput in ports, Short term forecasts.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Cảng Hải Phòng nằm trong hệ thống vận tải hàng hóa bằng đường biển và là cảng tổng hợp cấp quốc gia. Theo con số thống kê qua các năm, hơn 90% lượng hàng hóa xuất – nhập khẩu khu vực phía Bắc là qua các cảng ở Hải Phòng, trong đó tỷ trọng sản lượng hàng thông qua cảng chính chiếm tới gần 80%. Để đáp ứng được lượng hàng hóa lớn và có xu hướng ngày càng tăng như vậy, công tác dự báo được đánh giá là có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của toàn bộ công ty. Chỉ khi các dự báo là chính xác và kịp thời thì mới giúp các nhà quản lý triển khai được các kế hoạch bốc xếp hàng hóa hiệu quả và xa hơn là hoạch định các chiến lược hiện đại hóa hệ thống cảng như đẩy nhanh tiến độ xây dựng, cải tạo luồng vào cảng, cải tiến công nghệ xếp dỡ, phát triển cảng mới để giảm chi phí, giảm thời gian làm hàng và giải phóng nhanh tàu ra vào cảng.

     

    Tuy nhiên, trên thực tế, công tác dự báo của cảng hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn tới kết quả không mong muốn. Trước đây, trong quy hoạch cảng biển Hải Phòng xác định đến năm 2010, sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Hải Phòng chỉ đạt từ 8,5 đến 10 triệu tấn. Song thực tế vào năm 2010, cảng Hải Phòng đã đón tới 16,4 triệu tấn, vượt xa tới 6,4 triệu tấn với dự báo. Sự tính toán sai lệch này đã dẫn đến tình trạng ùn tắc thường xuyên bên trong cảng cũng như trên tuyến QL5.

     

    Ngoài ra, công tác dự báo ở cảng hiện nay mới chỉ chú trọng nhiều vào dự báo trong trung hạn và dự báo trong dài hạn mà không tập trung vào dự báo trong ngắn hạn về sản lượng hàng hóa thông qua. Nói cách khác, công ty thường dự báo sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng theo năm mà bỏ qua bước dự báo sản lượng hàng hóa thông qua theo tháng. Điều này dẫn đến việc lập và thực thi các kế hoạch tác nghiệp không được sát với thực tế. Vì vậy, mục đích của bài báo này là thống kê một vài mô hình dự báo trong ngắn hạn và từ đó vận dụng để dự báo theo các tháng về sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng đến năm 2017.

     

    Về phương pháp nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê và các phương pháp định lượng với sự hỗ trợ của các phần mềm thống kê như Eviews 8 và Microsoft Excel 2016.

     

    2. Dự báo và các mô hình dự báo trong ngắn hạn

     

    Dự báo là “các tiên đoán tổng hợp có căn cứ khoa học, mang tính xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu đã đề ra trong tương lai” [1].

     

    Nói cách khác, người làm công tác dự báo sẽ căn cứ vào những số liệu thu thập được trong quá khứ để từ đó tiến hành xử lý, đánh giá thông qua các mô hình toán về xu thế vận động của

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 50 – 4/2017                                                                  90

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2017

     

    chuỗi số liệu. Một dự báo tốt sẽ giúp ích rất nhiều cho tổ chức trong việc hình dung trước được tương lai và từ đó sẽ có những định hướng phù hợp [2].

     

    Căn cứ vào độ dài thời gian của dự báo, người ta phân chia dự báo thành dự báo dài hạn, dự báo trung hạn và dự báo ngắn hạn. Dự báo ngắn hạn “là dự báo có tầm xa dự báo rất ngắn, có thể tuần, tháng… đến dưới một năm, thường được dùng cho các quyết định mua sắm, điều độ công việc, phân giao nhiệm vụ, cân đối các mặt trong quản trị tác nghiệp” [1].

     

    Các mô hình thường được sử dụng trong dự báo ngắn hạn có thể kể đến như:

     

    • Các mô hình dự báo thô: dự báo thô giản đơn, dự báo thô điều chỉnh;
    • Các mô hình dự báo trung bình: dự báo trung bình giản đơn, dự báo trung bình di động;
    • Các mô hình san mũ: dự báo san mũ giản đơn, dự báo san mũ Holt, dự báo san mũ

    Winters;

    • Các mô hình xu thế: tuyến tính, bậc hai, bậc ba, tuyến tính – log, log – tuyến tính,…
    • Phương pháp phân tích: mô hình nhân tính, mô hình cộng tính.

    Tùy vào từng chuỗi số liệu cụ thể và các điều kiện áp dụng mà chúng ta sẽ quyết định lựa chọn các mô hình nào để tiến hành dự báo.

     

    3. Dự báo ngắn hạn sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng năm 2017 [3]

     

    Sau khi tiến hành thu thập số liệu về sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty Cổ phần Cảng Hải Phòng từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 12 năm 2016, ta thu được đồ thị ở hình

    1 sau:

     

    2.800

     

    2.400

     

    2.000

     

    1.600

     

    1.200

     

    800

     

    400

     

    0

     

    Jan 2003

    Dec 2016

    Hình 1. Đồ thị sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần cảng Hải Phòng theo tháng từ năm 2003 đến năm 2016 (đvt: nghìn tấn)

     

    (Nguồn: Phòng Kế hoạch thống kê – Công ty cổ phần cảng Hải Phòng)

     

    Qua hình 1, ta thấy chuỗi số liệu về tổng sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng là chuỗi số liệu có yếu tố xu thế kết hợp với mùa vụ. Đầu tiên là yếu tố xu thế, từ tháng 1 năm 2003 đến tháng 12 năm 2016, tổng sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng biến động liên tục. Mặc dù số lượng hàng hóa thông qua không gia tăng đều mỗi năm, tuy nhiên, xu hướng chung xét trong cả giai đoạn nghiên cứu là xu hướng tăng. Ngoài ra, chuỗi số liệu trên còn tồn tại yếu tố mùa vụ. Cụ thể, tổng sản lượng hàng hóa thông qua thường giảm mạnh vào những tháng đầu năm (tháng 1, tháng 2, tháng 3) và thường có sự gia tăng đáng kể vào những tháng cuối năm (tháng 11, tháng 12).

     

    Các mô hình dự báo ngắn hạn áp dụng với chuỗi số liệu xu thế kết hợp mùa vụ là:

     

    • Dự báo thô điều chỉnh xu thế và mùa vụ;
    • Dự báo san mũ Winters;
    • Dự báo thô điều chỉnh xu thế;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 50 – 4/2017                                                                  91

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/04/2017

     

    • Dự báo san mũ Holt;
    • Dự báo bằng hàm xu thế (xu thế tuyến tính).

    Với sự hỗ trợ của phần mềm Eviews 8, ta tiến hành đánh giá các mô hình trên để kết luận xem mô hình nào cho sai số là nhỏ nhất (chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị dự báo từ mô hình là nhỏ nhất). Kết quả được trình bày ở bảng 1:

     

    Bảng 1. Sai số của các mô hình dự báo sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc công ty cổ phần cảng Hải Phòng trong ngắn hạn

     

    STT

    Mô hình dự báo

    Sai số dự báo

         

    1

    Dự báo thô điều chỉnh xu thế và mùa vụ

    RMSE = 173.070,321

         

    2

    Dự báo san mũ Winters

    RMSE = 95.523,59

         

    3

    Dự báo thô điều chỉnh xu thế

    RMSE = 158.816,044

         

    4

    Dự báo san mũ Holt

    RMSE = 95.655,53

         

    5

    Dự báo bằng hàm xu thế

    RMSE = 120.160,5

         

    So sánh các mô hình dự báo ở bảng 1 thì ta có RMSE (Root Mean Square Error – Căn bậc hai của sai số bình phương trung bình) của mô hình san mũ Winters là nhỏ nhất nên ta lựa chọn mô hình dự báo cho sản lượng hàng hóa thông qua là mô hình san mũ Winters.

     

    Với sự trợ giúp của phần mềm Eviews 8, chúng ta tính toán được các kết quả dự báo bằng phương pháp san mũ Winters cho sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần cảng Hải Phòng ở bảng 2 như sau:

     

    Bảng 2. Kết quả dự báo theo tháng sản lượng hàng hóa thông qua (đvt: tấn)

     

    STT

    Tháng

    Kết quả dự

    STT

    Tháng

    Kết quả dự

     

    báo

    báo

     
           
                 

    1

    01/2017

    2.209.116

    7

    07/2017

    2.346.033

     
                 

    2

    02/2017

    1.775.513

    8

    08/2017

    2.293.650

     
                 

    3

    03/2017

    2.281.511

    9

    09/2017

    2.230.434

     
                 

    4

    04/2017

    2.307.002

    10

    10/2017

    2.356.570

     
                 

    5

    05/2017

    2.349.407

    11

    11/2017

    2.377.439

     
                 

    6

    06/2017

    2.326.599

    12

    12/2017

    2.550.807

     
                 

    Từ kết quả dự báo theo tháng sản lượng hàng hóa thông qua ở bảng 2, ta thấy nhìn chung sản lượng hàng hóa thông qua các bến cảng thuộc Công ty cổ phần cảng Hải Phòng được dự báo là tiếp tục tuân theo xu thế tăng kết hợp xu thế mùa vụ như trong quá khứ. Cụ thể, so sánh kết quả dự báo về sản lượng hàng hóa thông qua của các tháng trong năm 2017 tới đây với các tháng trong giai đoạn trước, một xu hướng chung có thể thấy là xu hướng tăng.

     

    NGHÌN TẤN

    2,700

                 

    2,500

               

    2,551

       

    2,282

           

    2,300

    2,209

             

    2,307

    2,349

    2,327

    2,346

    2,357

    2,377

         

    2,100

           

    2,294

     
             

    2,230

     

    1,900

    1,700             1,776

     

    1,500

     

    Hình 2. Đồ thị kết quả dự báo theo tháng sản lượng hàng hóa thông qua

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 50 – 4/2017                                                                  92


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-t%E1%BA%A7m-quan-tr%E1%BB%8Dng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-d%C3%B2ng-ch%E1%BA%A3y-FDI-v%C3%A0o-v%C3%B9ng-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%B4ng-Nam-B%E1%BB%99.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Ths. Cao Tấn Huy*

    Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Bài báo này được thực hiện với mục tiêu chính là nghiên cứu tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Nghiên cứu đã sử dụng 5 nhân tố gồm: cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ công, thương hiệu địa phương, nguồn nhân lực, chính sách đầu tư nhằm xem xét tầm quan trọng của các nhân tố này đến dòng chảy

     

    FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Bằng phương pháp phân tích tần số, phân tích tương quan và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kết quả cho thấy có bảy nhóm nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và có mức độ quan trọng khác nhau bao gồm: nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, liên kết vùng, chính sách đầu tư, thương hiệu địa phương, chất lượng dịch vụ công, môi trường sống và làm việc. Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, các khuyến nghị đã được đưa ra và để xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp nhằm thu hút nhiều cơ hội đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong tương lai phù hợp với nhận thức của các doanh nghiệp FDI.

     

    Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, vùng kinh tế Đông Nam Bộ

     

    Assessing the importance of factors affecting FDI flows into the Southeastern economic region

     

    This paper is carried out with the main objective of studying the importance of factors affecting FDI inflows into the Southeastern economic region. The study used 5 factors including: infrastructure, quality of public services, local brands, human resources and investment policies to consider the importance of these factors to FDI inflows. By the method of frequency analysis, correlation analysis and exploratory factor analysis (EFA), the results show that there are seven groups of factors affecting FDI inflows into the Southeastern economic region and of relative importance, including: human resources, infrastructure, regional links, investment policies, local brands, quality of public services, and living and working environments. Based on the results of this study, recommendations were made and to develop appropriate investment incentive policies to attract more foreign direct investment opportunities into the Southeastern economic region in the future. consistent with the perception of FDI enterprises.

     

    Key words: FDI, Southeastern economic region.

     

    1. Đặt vấn đề

    nước phát triển trên thế giới cũng vẫn rất quan tâm

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để nền

    thu hút nguồn vốn này.

     

    kinh tế của đất nước phát triển thì vốn đầu tư là

    Tại Việt Nam, vùng kinh tế Đông Nam Bộ là

    một nhân tố không thể thiếu. Bên cạnh nguồn vốn

    một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả

    từ trong nước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    nước. Với những điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi,

    là một nguồn vốn có vai trò vô cùng quan trọng.

    nhiều tài nguyên quý giá, hệ thống kết cấu hạ tầng

    Nguồn vốn này không những quan trọng đối với

    phát triển, đồng bộ, có nguồn nhân lực chất lượng

    các nước đang phát triển mà ngay cả đối với những

    cao đồng thời là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước

       

    * Trường Đại học Tài chính – Marketing

     
    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    cũng như cửa ngõ giao thương quốc tế, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu là địa điểm lựa chọn ưa thích, hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều dự án có số lên đến hàng tỷ USD đã được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại vùng. Có rất nhiều các nhân tố tác động tới việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế, nó có cả các nhân tố thuộc về trong và bên ngoài do vậy để tiếp tục thu hút được nguồn vốn này thì chúng ta cần phải có những chính sách tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và cần phải xét tới những nhân tố đã tác động tới nguồn vốn này. Bằng việc phân tích tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và xem xét mối quan hệ giữa các biến số, nắm được xem nhân tố nào là quan trọng nhất trong các nhân tố có ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Như vậy, để phát huy hết tất cả lợi thế về thiên nhiên, địa lý và nguồn lực của vùng kinh tế Đông Nam Bộ trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội. Cần phải tìm hiểu tầm quan trọng của những

     

     

     

     

    nhân tố tác động đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng để từ đó gợi mở những giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ cả về lượng và chất.

     

    2. Tổng quan lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu

     

    Theo Dunning, một công ty tiến hành đầu tư nước ngoài khi có các lợi thế OLI – bao gồm Ownership Advantage (O – lợi thế sở hữu), Location Advantage (L – lợi thế về vị trí), và Internalization Incentives (I – lợi thế nội bộ hóa). Cụ thể, Dunning cho rằng các công ty có lợi thế sở hữu (bằng sáng chế, công nghệ mới, thương hiệu hoặc khả năng quản lý) nên duy trì lợi thế cho lợi ích riêng của họ thay vì bán hoặc cấp giấy phép sử dụng lợi thế đó cho các công ty khác. Những công ty có lợi thế nội bộ hóa nếu ký kết hợp đồng với các công ty ở thị trường nước ngoài là một lựa chọn nguy hiểm, nó có thể dẫn đến tiết lộ lợi thế sở hữu cụ thể cho các công ty ở thị trường nước ngoài, và do đó các công ty liên doanh hiện tại có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong tương lai. Lợi thế về vị trí hàm ý rằng các công ty cần phải thu được lợi ích từ việc đầu tư tại một vị trí ở nước ngoài, nếu không họ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 55

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    sẽ không cần phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài.

     

    Mô hình lý thuyết OLI của Dunning cho thấy ảnh hưởng của lợi thế sở hữu, lợi thế vị trí và lợi thế nội bộ hóa đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Trong đó, lợi thế sở hữu và lợi thế nội bộ hóa phản ánh lợi thế thuộc về các công ty đa quốc gia, nó nằm ngoài sự kiểm soát của nước thu hút đầu tư, ngược lại lợi thế vị trí lại là nền tảng cho sự can thiệp của Chính phủ trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư tại một quốc gia bao gồm nhóm nhân tố về chính sách, nhóm nhân tố về kinh tế và nhóm nhân tố về tài nguyên. Dunning (1993) cho rằng các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vị trí của các doanh nghiệp FDI liên quan đến các nhân tố lợi thế kinh tế truyền thống như quy mô thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng… có thể ảnh hưởng đến động cơ và hiệu quả đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia (Coughlin và cộng sự, 1991; Head và cộng sự, 1995; Chenga và Kwan, 2000; Sun và cộng sự, 2002; Chen, 2009).

     

    Krugman (1991) phát triển lý thuyết Hiệu ứng tích tụ liên quan đến các nhân tố phân bổ không gian của FDI giữa các vùng trong một quốc gia. Sự tích tụ đề cập đến sự tập trung về vị trí của các hoạt động kinh tế làm phát sinh nền kinh tế quy mô và ngoại tác tích cực. Krugman lập luận rằng các công ty sẽ được hưởng lợi từ các doanh nghiệp khác trong cùng ngành nằm ở những vị trí vùng, khu vực lân cận bởi sự kết hợp quy mô sản xuất và chi phí vận chuyển, nó sẽ khuyến khích người tiêu dùng và nhà cung cấp đầu vào trung gian co cụm gần nhau hơn. Tích tụ sẽ giúp làm giảm tổng chi phí vận chuyển và hình thành các trung tâm sản xuất lớn cũng như các nhà cung cấp đa dạng hơn. Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp tập trung tại một khu vực địa điểm. Tác động tích tụ theo đó sẽ ảnh hưởng đến FDI thông qua một số cách: (1) Đầu tư FDI tại nơi các công ty khác trong cùng ngành tồn tại;

     

    • đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI hiện có; (3) đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI có cùng quốc gia xuất xứ.

    Sự phân bổ không gian dòng vốn FDI tại từng khu vực cụ thể trong phạm vi quốc gia còn có thể bị ảnh hưởng bởi nhân tố thể chế. Vai trò của nhân tố thể chế có thể tác động làm giảm chi phí giao dịch và chi phí thông tin thông qua việc giảm sự bất ổn và thiết lập sự ổn định, tạo điều kiện hợp tác (Hoskisson và cộng sự, 2000). Các quy định pháp lý của Chính phủ cũng như chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương được xem là một nền tảng kinh tế ảnh hưởng đến chiến lược của công ty và do đó ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu suất kinh doanh của họ. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, các hạn chế và ưu đãi được tạo ra bởi các quy định của chính phủ hay chất lượng điều hành kinh tế của Chính quyền địa phương có thể có lợi cho một số giao dịch nhưng cũng có thể đem lại bất lợi cho họ. Điều này buộc các công ty khi đầu tư cần xác định chiến lược và làm thế nào để tránh những bất lợi cũng như hưởng các lợi ích từ quy định của pháp luật. Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến việc quyết định vị trí vốn đầu tư nước ngoài ở cấp quốc gia, các nhà nghiên cứu cho rằng việc thực thi pháp luật hay điều hành kinh tế của chính quyền địa phương cũng có thể ảnh hưởng đến phân bố không gian của FDI giữa các vùng trong một quốc gia. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, cải cách ban đầu liên quan chủ yếu ở cấp trung ương, sau đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các cải cách ở cấp độ địa phương. Tuy nhiên, việc thực thi hệ thống pháp luật ở cấp địa phương có thể thay đổi tùy theo các khía cạnh nhận thức của chính quyền địa phương.

     

    Trên cơ sở các lý thuyết trên cho thấy có 3 nhóm nhân tố có thể ảnh hưởng đến phân bố không gian vốn FDI vào vùng kinh tế trong một quốc gia, bao gồm nhóm nhân tố phản ánh hiệu ứng tích tụ, nhóm nhân tố lợi thế kinh tế truyền thống và nhóm nhân tố điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.

     

    3. Mô hình nghiên cứu

     

    Phương pháp nghiên cứu: Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), kích thước mẫu cần cho nghiên cứu phụ thuộc vào nhiều nhân tố như phương pháp phân tích dữ liệu và độ tin cậy cần thiết. Hiện nay,

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    các nhà nghiên cứu xác định cỡ mẫu cần thiết thông qua công thức kinh nghiệm cho từng phương pháp xử lý. Trong EFA, cỡ mẫu thường được xác định dựa vào 2 nhân tố là kích thước tối thiểu và số lượng biến đo lường đưa vào phân tích. Hair & ctg (2006) (trích trong Nguyễn Đình Thọ, 2011) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát (observations)/ biến đo lường (items) là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát, tốt nhất là tỉ lệ 10:1 trở lên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp EFA nên cỡ mẫu được chọn trên nguyên tắc mẫu càng lớn càng tốt. Với 35 biến quan sát, số lượng mẫu tối thiểu cần thiết là: 35 * 5 = 175 mẫu. Vì vậy, tác giả chọn điều tra trên số mẫu 250 là phù hợp.

     

    Tác giả thực hiện điều tra khảo sát 02 lần: (i) Lần 1: thực hiện phỏng vấn trực tiếp 50 ứng viên là các đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi chi tiết theo phương pháp lấy mẫu phân tầng thuận tiện để điều chỉnh và xác định lại cấu trúc thang đo; (ii) lần 2: thực hiện phỏng vấn trực tiếp 250 ứng viên là các đối tượng khảo sát để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Số phiếu thu về 215 phiếu, số phiếu hợp lệ 190 phiếu (76%).

     

    Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để phân tích tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Dữ liệu được thu thập thông qua các bảng câu hỏi và được phân tích bằng các bảng tần số, độ lệch chuẩn, trung bình và phân tích tương quan, thống kê mô tả được sử dụng để diễn giải và sắp xếp lại nếu cần thiết. Phân tích tương quan của Pearson được sử dụng để nghiên cứu mối tương quan tuyến tính giữa các nhân tố ảnh hưởng đến FDI và mức độ quan trọng. Ngoài ra, tác giả nhóm các nhân tố bằng phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratary Factor Analysis).

     

    Mô hình nghiên cứu: Cơ sở hạ tầng, Chất lượng dịch vụ công, Thương hiệu địa phương, Nguồn nhân lực, Chính sách đầu tư là những nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và tìm hiểu tầm quan trọng của các nhân tố này đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam

    Bộ (Dunning,1993; Krugman, 1991; Hoskisson và cộng sự, 2000).

     

    4. Kết quả nghiên cứu và kết luận

     

    Bảng: 1.1. Vị trí của người trả lời phỏng vấn tại công ty

     

    STT

    Chức vụ

    Tần số

    Tỷ lệ (%)

     

    1

    Chief Executive

    36

    19%

     

    Officer

           

    2

    Managing Director

    54

    28%

     

    3

    General Manager

    63

    33%

     

    4

    Director

    37

    19%

     
     

    Tổng cộng

    190

    99%

     

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

     

    Thang đo Likert (Likert, 1932) là loại thang đo trong đó có một chuỗi các phát biểu liên quan đến thái độ trong các câu hỏi được nêu ra và người trả lời sẽ chọn một trong các trả lời đó. Tác giả sử dụng thang đo Likert nhằm đo lường tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ. Điểm số càng cao thì các biến càng trở thành tiêu chí đánh giá càng quan trọng. Năm thang điểm được sử dụng để đo tầm quan trọng của các nhân tố theo cách mà điểm số trung bình có thể được tính toán để xác định tầm quan trọng của các nhân tố đối với dòng chảy FDI. Với thang điểm năm, khoảng cách đo mỗi biến được tính như sau:

     

    5 – 1/5 = 0.8

     

    Bảng: 1.2. Mức ý nghĩa của thang đo khoảng cách

     

    STT

    Khoảng cách

    Mức ý nghĩa

    1

    4.20 – 5.00

    Rất quan trọng

    2

    3,40 – 4,19

    Khá quan trọng

    3

    2,60 – 3,39

    Quan trọng

    4

    1,80 – 2,59

    Ít quan trọng

    5

    1,00 – 1,79

    Rất ít quan trọng

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 57

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Dữ liệu thu thập được qua các bảng câu hỏi được xử lý bởi SPSS về tần số, trung bình, độ lệch chuẩn. Tất cả các biến được nhóm lại và được sử dụng để xác định tầm quan trọng của các nhân

    tố này để thu hút FDI vào vùng Đông Nam Bộ. Trong các bảng dưới đây, trung bình, độ lệch chuẩn và mức độ quan trọng của từng nhân tố được xác định.

     

    Bảng: 1.3. Tầm quan trọng của các nhân tố (5 nhân tố)

     

    Nhóm nhân tố

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Số quan sát

    Mức độ quan trọng

    Cơ sở hạ tầng

    3.4862

    .37474

    190

    Khá quan trọng

    Chính sách đầu tư

    3.5599

    .38826

    190

    Khá quan trọng

    Chất lượng dịch vụ công

    3.1516

    .39114

    190

    Quan trọng

    Thương hiệu địa phương

    3.2967

    .39700

    190

    Quan trọng

    Chất lượng nguồn nhân lực

    3.6325

    .46307

    190

    Khá quan trọng

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Bảng 1.3 cho thấy, ý kiến của người trả lời về tầm quan trọng của các nhân tố khác nhau. Trong số 5 nhân tố, chất lượng nguồn nhân lực được xếp hạng cao nhất (khá quan trọng) với số điểm trung bình là 3,63 và độ lệch chuẩn là 0,46, xếp thứ 2 là chính sách đầu tư với số điểm trung bình là 3.59 và độ lệch chuẩn là 0.388, xếp thứ 3 là cơ sở hạ tầng với số điểm trung bình là 3.48 và độ lệch chuẩn là 0.37, xếp thứ 4 là nhân tố thương hiệu địa phương

    với số điểm trung bình là 3.229 và độ lệch chuẩn là 0.297 và đứng cuối trong nhóm nhân tố là chất lượng dịch vụ công với số điểm trung bình là 3.15 và độ lệch chuẩn là 0.39.

     

    Dữ liệu thu thập được phân tích theo phương pháp tương quan Pearson nhằm giải thích tại sao dòng FDI vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ và làm thế nào để có thể tăng hiệu quả trong tương lai.

     

    Bảng: 1.3. Tầm quan trọng của các nhân tố (5 nhân tố)

     

     

    Cơ sở hạ

    Chính sách

    Chất lượng

    Thương hiệu

    Chất lượng

     

    tầng

    đầu tư

    dịch vụ công

    địa phương

    nguồn nhân lực

    Cơ sở hạ tầng

    1

    -0.124

    0.108

    0.211

    -0.029

    Chính sách đầu tư

    -0.124

    1

    0.097

    -0.031

    -0.134

    Chất lượng dịch vụ công

    0.108

    0.097

    1

    0.089

    -0.022

    Thương hiệu địa phương

    0.211

    -0.031

    0.089

    1

    0.079

    Chất lượng nguồn nhân lực

    -0.029

    -0.134

    -0.022

    0.079

    1

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Tương quan Pearson (Pearson correlation coefficient, kí hiệu r) đo lường mức độ tương quan tuyến tính giữa hai biến vì đây là phương pháp phổ biến được sử dụng thường xuyên. Nguyên tắc cơ bản, tương quan Pearson sẽ tìm ra một đường thẳng phù hợp nhất với mối quan hệ tuyến tính của 2 biến. Hệ số tương quan Pearson (r) sẽ nhận giá trị từ +1 đến -1. r > 0 cho biết một sự tương quan dương giữa hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này tăng thì sẽ làm tăng giá trị của biến kia và ngược lại. r < 0 cho biết một sự tương quan âm giữa

    hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này tăng thì sẽ làm giảm giá trị của biến kia và ngược lại. Giá trị tuyệt đối của r càng cao thì mức độ tương quan giữa 2 biến càng lớn hoặc dữ liệu càng phù hợp với quan hệ tuyến tính giữa hai biến. Giá trị r bằng +1 hoặc bằng -1 cho thấy dữ liệu hoàn toàn phù hợp với mô hình tuyến tính. Mối quan hệ có thể không hoàn hảo, bởi vì, các nhà đầu tư trong lĩnh vực khác nhau sẽ có thái độ và nhận thức khác nhau. Do đó, chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng các nhà đầu tư sẽ có thái độ tích cực hoặc tiêu cực nhằm giải thích

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    cho chúng ta sự biến đổi của thái độ của nhà đầu tư trong các nhân tố liên quan đến việc họ đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ.

     

    Phân tích nhân tố khám phá, gọi tắt là EFA, dùng để rút gọn một tập hợp k biến quan sát thành một tập F (với F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn. Trong nghiên cứu, chúng ta thường thu thập được một số lượng biến khá lớn và rất nhiều các biến quan sát trong đó có liên hệ tương quan với nhau. Thay vì đi nghiên cứu 20 đặc điểm nhỏ của một đối tượng, chúng ta có thể chỉ nghiên cứu 4 đặc điểm lớn, trong mỗi đặc điểm lớn này gồm 5 đặc điểm nhỏ có sự tương quan với nhau. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và kinh phí nhiều hơn cho người nghiên cứu.

     

    Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số của KMO phải đạt giá trị 0.5 trở lên (0.5

    • KMO ≤ 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là phù hợp. Kết quả cho thấy hệ số KMO là 0.743 > 0.5, thì phân tích nhân tố phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu.

    Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) dùng để xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương quan với nhau hay không. Chúng ta cần lưu ý, điều kiện cần để áp dụng phân tích nhân tố là

    các biến quan sát phản ánh những khía cạnh khác nhau của cùng một nhân tố phải có mối tương quan với nhau. Điểm này liên quan đến giá trị hội tụ trong phân tích EFA được nhắc ở trên. Do đó, nếu kiểm định cho thấy không có ý nghĩa thống kê thì không nên áp dụng phân tích nhân tố cho các biến đang xem xét. Kết quả kiểm định Bartlett có

     

    • nghĩa thống kê (sig Bartlett’s Test là 0.00 < 0.05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân tố.

    Trị số Eigenvalue là một tiêu chí sử dụng phổ biến để xác định số lượng nhân tố trong phân tích EFA. Kết quả nghiên cứu cho thấy trị giá Eigenvalue là 1.984 ≥ 1 nên 7 nhân tố được giữ lại trong mô hình phân tích.

     

    Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) là 58.555 % ≥ 50% cho thấy mô hình EFA là phù hợp. Coi biến thiên là 100% thì trị số này thể hiện các nhân tố được trích cô đọng được bao nhiêu % và bị thất thoát bao nhiêu % của các biến quan sát.

     

    Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) hay còn gọi là trọng số nhân tố, giá trị này biểu thị mối quan hệ tương quan giữa biến quan sát với nhân tố. Hệ số tải nhân tố càng cao, nghĩa là tương quan giữa biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và ngược lại.

     

    Bảng: 1.5. Kết quả phân tích EFA

     

    Component

     

     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    Điểm vui chơi giải trí hấp dẫn

    .759

               

    Hệ thống y tế đáp ứng được nhu cầu

    .741

               

    Môi trường không bị ô nhiễm

    .733

               

    Các bất đồng giữa công nhân và DN được giải quyết

    .706

               

    thỏa đáng

                 

    Người dân thân thiện

    .693

               

    Hệ thống trường học đáp ứng được nhu cầu

    .670

               

    Thông tin liên lạc thuận tiện (điện thoại, internet)

     

    .760

             

    Giao thông thuận lợi (thời gian và chi phí)

     

    .712

             

    Hệ thống ngân hàng đáp ứng được yêu cầu

     

    .706

             

    Hệ thống cấp nước, thoát nước đầy đủ

     

    .693

             

    Mặt bằng đáp ứng được yêu cầu

     

    .670

             

    Hệ thống cấp điện đáp ứng được yêu cầu

     

    .651

             

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 59

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Hệ thống thuế rõ ràng (cán bộ thuế không lợi dụng

    .835

    để trục lợi)

     

    DN sẽ vẫn đầu tư nếu địa phương không có những

    .750

    chính sách hấp dẫn

     

    Văn bản về luật pháp được triển khai nhanh đến công

    .749

    ty

     

    Chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn

    .735

    Lãnh đạo địa phương năng động trong hỗ trợ DN

    .729

    Dễ dàng tuyển dụng cán bộ quản lý giỏi tại địa phương

    .751

    Nguồn lao động phổ thông dồi dào (lao động không

    .750

    có kỹ năng)

     

    Công ty không gặp trở ngại về ngôn ngữ

    .708

    Khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ của lao

    .690

    động tốt

     

    Trường đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu của DN

    .663

    Lao động có kỷ luật cao

    .625

    Tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ là một thương hiệu ấn

    .825

    tượng

     

    Tôi nghĩ nhiều người đầu tư thành công tại tỉnh X ở

    .820

    vùng Đồng Nam Bộ và tôi muốn như họ

     

    Tôi đầu tư ở đây chỉ đơn giản là vì muốn đầu tư vào

    .813

    tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ

     

    Tôi nghĩ tỉnh X ở vùng Đồng Nam Bộ đang là điểm

    .806

    đến của các nhà đầu tư

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây

    .816

    có hoạt động phối hợp tổ chức sản xuất giữa các tỉnh

     

    trong vùng

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .803

    các ngành công nghiệp phụ trợ đặt tại các tỉnh/thành

     

    phố trong vùng

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .770

    sự phối hợp giữa các tỉnh trong xúc tiến thương mại

     

    Tôi đầu tư vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ vì tại đây có

    .756

    chuỗi ngành hàng phù hợp với hoạt động của doanh

     

    nghiệp

     

    Các trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại có hỗ trợ

    .838

    tốt cho DN

     

    Thủ tục hành chính đơn giản, nhanh chóng

    .831

    Chính quyền địa phương hỗ trợ chu đáo khi DN cần

    .799

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

       

    Từ kết quả phân tích nhân tố được thực hiện

    thành 7 nhóm nhân tố bao gồm 5 nhóm nhân tố

     

    trên cơ sở 34 biến sử dụng phân tích thành phần

    cũ (cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ công, thương

     

    sau khi loại bỏ 2 biến không có mối tương quan

    hiệu địa phương, nguồn nhân lực, chính sách đầu

     

    đáng kể với các biến số khác. Bảng 1.5 cho thấy từ

    tư) và 2 nhóm nhân tố mới (môi trường sống và

     

    5 nhóm nhân tố ban đầu sau khi phân tích nhân

       

    tố khám phá EFA, các biến quan sát đều hội tụ tạo

    làm việc, liên kết vùng).

     
    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    Bảng: 1.6. Tầm quan trọng của các nhân tố (7 nhân tố)

     

    Nhóm nhân tố

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Số quan sát

    Mức độ quan trọng

    Nguồn nhân lực

    3.6325

    .46307

    190

    Khá quan trọng

    Cơ sở hạ tầng

    3.6237

    .46865

    190

    Khá quan trọng

    Liên kết vùng

    3.6158

    .55314

    190

    Khá quan trọng

    Chính sách đầu tư

    3.5274

    .53054

    190

    Khá quan trọng

    Thương hiệu địa phương

    3.3329

    .59097

    190

    Quan trọng

    Chất lượng dịch vụ công

    3.1197

    .46626

    190

    Quan trọng

    Môi trường sống và làm việc

    3.1137

    .52344

    190

    Quan trọng

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

     

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, liên kết vùng, chính sách đầu tư có mức độ ưu tiên cao hơn so với các nhân tố thương hiệu địa phương, chất lượng dịch vụ công, môi trường sống và làm việc. Cụ thể:

     

    • Nhân tố nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ là nhân tố hấp dẫn để thu hút các doanh nghiệp có trình độ công nghệ không cao và thâm dụng lao động; lao động có kỹ năng và có kỷ luật thích hợp cho những dây chuyền sản xuất công nghiệp; và đặc biệt là lao động quản lý, lao động kỹ

    thuật có trình độ ngoại ngữ làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

     

    • Cơ sở hạ tầng đầu tư: Đây là nhân tố quan trọng thứ 2 là nhân tố cơ bản và cần thiết cho việc SXKD của bất kỳ công ty nào. Các nhân tố này bao gồm các nhân tố về hạ tầng cơ bản như điện, nước, giao thông, mặt bằng và các nhân tố hạ tầng kỹ thuật như thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng.
    • Liên kết vùng: Liên kết vùng để thu hút đầu tư theo tư tưởng của tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một nhiệm vụ mới, đòi hỏi

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 134 – tháng 12/2018 61

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    phải có định hướng mới trong phân công và hợp tác giữa các địa phương cũng như sự quan tâm nhiều hơn đến nhân tố khoa học – công nghệ của sản xuất và sự lựa chọn các đối tác cũng như dự án đầu tư.

     

    • Chế độ chính sách đầu tư: Chính sách của chính quyền địa phương về ưu đãi đối với đầu tư; tính năng động của chính quyền trong hỗ trợ DN đầu tư về thủ tục hành chính, pháp lý, thuế; các văn bản, chính sách rõ ràng, minh bạch và được triển khai nhanh đến DN để cán bộ công quyền không thể trục lợi hay nhũng nhiễu DN.
    • Thương hiệu địa phương: Một doanh nghiệp có thể coi là hoạt động hiệu quả khi các mục tiêu mà nó đề ra đạt được như ý muốn. Các nhà đầu tư thường tìm đến những địa phương có thương hiệu để đầu tư vì họ có thể tiết kiệm được chi phí tìm hiểu môi trường đầu tư và tránh được rủi ro.
    • Chất lượng dịch vụ công: Chất lượng dịch vụ công thể hiện trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cần thiết trong hoạt động đầu tư và SXKD cũng như hưởng lợi từ những hỗ trợ của Nhà nước
    • những khu vực mà nhà nước có lợi thế và DN khó có khả năng tự tiếp cận.
    • Môi trường sống và làm việc: Môi trường sống và làm việc thể hiện qua các nhân tố về văn hoá, giáo dục, y tế, chất lượng môi trường sống, vui chơi, sinh hoạt, sự hoà hợp và chi phí hợp lý thể hiện một môi trường sống chất lượng và phù hợp với nhà đầu tư và người lao động để có thể hoạt động hiệu quả và gắn bó lâu dài với địa phương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chen, Y. (2009). Agglomeration and location of foreign direct investment: The case of China. China economic review, 20(3), 549-557;

     

    1. Cheng, L. K., & Kwan, Y. K. (2000). What are the determinants of the location of foreign direct investment? The Chinese experience. Journal of international economics, 51(2), 379-400;
    1. Coughlin, C. C., Terza, J. V., & Arromdee, V. (1991). State characteristics and the location of foreign direct investment within the United States. The Review of economics and Statistics, 675-683;

     

    1. Dunning, J. H. (1977), ‘Trade, location and economic activity and the multinational enterprise: A search for a eclectic approach’, in Ohlin, B., Hesselborn, P.O., and Wijkman, P.M. (Ed): The international allocation of economic activity, London: Macmillan;

     

    1. Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of international business studies, 19(1), 1-31;

     

    1. Dunning, J. H., & Rojec, M. (1993). Foreign Privatization in Central & Eastern Europe (No. 2). Central and Eastern European Privatization Network;
    2. Dunning, J. H. (2001). The eclectic (OLI) paradigm of international production: past, present and future. International journal of the economics of business, 8(2), 173-190;

     

    1. Head, K., Ries, J., & Swenson, D. (1995). Agglomeration benefits and location choice: Evidence from Japanese manufacturing investments in the United States. Journal of international economics, 38(3-4), 223-247;

     

    1. Hoskisson, R. E., Eden, L., Lau, C. M., & Wright, M. (2000). Strategy in emerging economies. Academy of management journal, 43(3), 249-267;
    • Krugman, P. (1991). Increasing returns and economic geography. Journal of political economy, 99(3), 483-499;

     

    1. Sun, Q., Tong, W., & Yu, Q. (2002). Determinants of foreign direct investment across China. Journal of international money and finance, 21(1), 79-113;
    • Thọ, N. Đ. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nhà Xuất bản Lao động-Xã hội, 593.

     

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam

    Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam

    Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vững bước năm 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BB%B1-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%99ng-gi%C3%A1-d%E1%BA%A7u-t%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam

     

    Dieãn bieán giaù daàu theá giôùi naêm 2018, döï baùo 2019:

     

    Tác động sự biến động giá dầu tới nền kinh tế Việt Nam

    Ths. Ngô Trí Trung*

     

    Dầu là một tài sản chiến lược và trong một số trường hợp còn là một vũ khí chiến tranh kinh tế, chính trị. Giá dầu luôn là ẩn số, thăng trầm bởi nhiều nhân tố. Thị trường dầu mỏ không giống bất cứ thị trường hàng hóa nào khác, nó có những đặc điểm chung, song cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thị trường khác, hết sức nhạy cảm với những

     

    biến động về kinh tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động về giá trên thị trường dầu mỏ.

     

    Từ khóa: Giá dầu, tác động, dự báo.

     

    World oil price movement 2018 and forecast 2019: Impact of oil price fluctuation on Vietnam’s economy

     

    Oil is a strategic asset and in some cases is also a political, economic war weapon. Oil prices are always unknown, ups and downs by many factors. The oil market is unlike any other commodity market, it has common characteristics, but there are also very different points from other markets, very sensitive to economic, political fluctuations which have since led to price fluctuations in the oil market.

     

    Key words: Oil price, impact, forecast.

     

     

    Nhìn lại diễn biến giá dầu năm 2018

     

    Diễn biến của giá dầu năm 2018 và trong thời gian tới vẫn đang là ẩn số, khó lường và rất khó dự báo. Các vấn đề địa chính trị là nhân tố khó lường dự báo về sự biến động giá trên thị trường dầu thế giới. Trước đó, phần lớn các chuyên gia đều cho rằng giá dầu trong năm 2018 sẽ ngang bằng với mức của năm 2017, trung bình khoảng 55 đô la Mỹ/ thùng. Nguyên nhân là do triển vọng kinh tế toàn cầu không có nhiều khả quan sau khi đã đạt mức tăng trưởng cao trong năm 2017. Nhưng sau khi có lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran, nhiều chuyên gia nhận định có thể đẩy giá dầu đạt mức

     

    90 USD/thùng vào cuối năm nay 2018, hoặc muộn nhất là đầu năm sau. Có ý kiến còn cho rằng giá dầu thậm chí sẽ còn lên tới 100 USD/thùng, đồng thời cảnh báo không nên đặt nhiều kỳ vọng vào Saudi Arabia, nước được cho là sẽ giúp bình ổn giá dầu thế giới. Đầu tháng 10, nỗi lo thiếu hụt nguồn cung dầu đã đẩy giá dầu Brent lên mức 86,74 USD/ thùng, cao nhất kể từ năm 2014. Đây là mức tăng vượt qua nhiều dự báo của các chuyên gia đến từ Bloomberg hay Reuters khi dự báo từ đầu năm.

     

    Nhìn lại, diễn biến giá dầu của năm 2018 có 6 nguyên nhân chính tác động lên sự tăng, giảm giá dầu thô.

     

    * Khoa Quốc tế – ĐHQG Hà Nội

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  19

     

    KINH TEÁ VIEÄT NAM 2018 – NHIEÀU THAØNH COÂNG VAØ THAÙCH THÖÙC

     

     

     

     

     

    Thứ nhất, là sự mất cân đối giữa cung – cầu dầu, nguồn cung của thị trường đã bị thắt chặt trong 18 tháng trở lại đây. Lượng dầu lưu kho trong suốt giai đoạn dư thừa dầu mỏ từ năm 2014 – 2016 đã được đem ra sử dụng phần lớn, do nhu cầu dầu tăng mạnh trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng mạnh mẽ.

     

    Thứ hai, tác động đến giá dầu thô chính là kế hoạch cắt giảm nguồn cung dầu của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và Nga. Nỗ lực chung tay hạn chế sản lượng của OPEC và Nga nhằm giải quyết tình trạng dư thừa dầu mỏ trên thế giới kéo dài 4 năm qua đã làm mất đi yếu tố giảm nguồn cung an toàn để đối phó với những cú sốc về nguồn cung ứng.

     

    Thứ ba, có thời gian trong năm 2018 giá dầu tăng mạnh một phần do quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 của Iran và áp đặt gia hạn các biện pháp trừng phạt nhằm mục đích cắt giảm mạnh xuất khẩu dầu thô của Iran. Trong đó, Iran xuất khẩu khoảng 2,5 triệu thùng dầu/ngày. Xuất khẩu dầu của Iran đã giảm khoảng 500.000 thùng/ngày trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 10/2018, theo dữ liệu từ Cơ quan Năng lượng quốc tế. Các tàu

     

     

     

     

    chở dầu của Iran đang bắt đầu biến mất khỏi các hệ thống theo dõi vệ tinh toàn cầu cho thấy các ảnh hưởng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ.

     

    Thứ tư, là nguy cơ từ cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế của Venezuela khiến sản lượng dầu của nước này giảm ít nhất 500.000 thùng/ngày. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký một sắc lệnh áp đặt các biện pháp trừng phạt mới với Venezuela nhằm ngăn chặn nguồn tài chính của Chính phủ nước này. Việc Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt mới với Venezuela được xem là một trong những nguyên nhân khiến giá dầu Brent đã vượt ngưỡng 80 USD/thùng lần đầu tiên kể từ năm 2014, nếu nguồn cung không đáp ứng có khả năng thị trường sẽ tiếp tục phá vỡ mốc này trong thời gian tới.

     

    Bên cạnh đó, vẫn đang tiếp diễn sự căng thẳng trong khu vực giữa Saudi Arabia với hai nước thành viên khác của OPEC là Qatar và Iran.

     

    Thứ năm, tác động của việc đầu cơ, điều này góp phần đẩy giá dầu có thời điểm lên mức cao kỷ lục từ đầu năm nay.

     

    Cuối cùng, nguồn cung dầu đá phiến Mỹ là nguyên nhân ảnh hưởng đến biến động của giá dầu… Mặc dù, mức tăng sản lượng dầu đá phiến

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    của Mỹ đang tăng mạnh hơn dự đoán, với mức tăng ước gần 10% (1,4 triệu thùng/ngày) trong năm 2018, vẫn chưa bù đắp nguồn cung thiếu hụt so với đà tăng của nhu cầu dầu, điều đó làm cho giá dầu tăng mạnh. Cùng với đó, những hạn chế về hạ tầng cung ứng dầu mỏ như việc thiếu hệ thống ống dẫn dầu cũng đã gây cản trở cho việc dẫn dầu từ các nơi khai thác dầu đá phiến ở khu vực Bắc Mỹ khiến sản lượng dầu đá phiến không kịp tăng để bù đắp.

     

    Tất cả những nguyên nhân trên là những tác nhân dẫn tới sự tăng giá dầu mỏ trong những tháng vừa qua của năm 2018. Điểm mới nổi bật của năm 2018 là giá xuất khẩu dầu mỏ có thời điểm tăng 46,2% so cùng kỳ năm ngoái và duy trì ở mức cao hơn 73 USD (đỉnh điểm có lúc hơn 86 USD/thùng) và ổn định nhất trong bốn năm qua, so với thời điểm thấp nhất có lúc dưới 30 USD và cao nhất có lúc lên mức 60 USD/ thùng năm 2016, mức cao nhất 110 USD/thùng của năm 2014 và mức 140 USD/thùng kỷ lục lịch sử của năm 2008.

     

    Từ đầu tháng 11 cho tới nay, giá dầu các phiên liên tục giảm, giá dầu thô thay đổi và sụt giảm trầm trọng trong những phiên trong tháng 11, hiện tại giá dầu thô chỉ còn hơn 54 USD/thùng, mới không lâu trước đó là 82 USD. So với mức đỉnh 4 năm thiết lập vào tháng trước, giá dầu WTI hiện đã giảm 31%, còn giá dầu Brent đã mất 29%. Giá xăng dầu tháng 12 bước vào với rất nhiều khó khăn, thách thức và có thể sẽ còn sụt giảm trong những phiên tiếp theo. Việc Mỹ áp dụng biện pháp miễn trừ trong trừng phạt ngành dầu lửa Iran về nguồn cung dầu của OPEC, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đe dọa nhu cầu tiêu thụ dầu, và sản lượng dầu đá phiến Mỹ tăng bùng nổ đều là những nhân tố chủ chốt khiến giá dầu thế giới “rớt thảm” trong thời gian từ đầu tháng 10 đến nay.

     

    Dự báo giá dầu 2019

     

    Ngày 14/11/2018, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) công bố báo cáo cho biết thị trường dầu mỏ thế giới trong năm 2019 sẽ chứng kiến tình trạng cung vượt cầu do sản lượng khai thác dầu không ngừng tăng, trong khi nhu cầu tiêu thụ lại có xu hướng giảm, liên quan trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế tại một số nước giảm. IEA dự báo nhu cầu

    dầu mỏ toàn cầu trong 2019 sẽ được duy trì ở mức 1,3 – 1,4 triệu thùng/ngày. Việc thị trường dầu mỏ toàn cầu đạt thặng dư khi sản lượng dầu mỏ toàn cầu trong quý I/2019 được dự báo đạt mức trung bình 2 triệu thùng/ngày. Nên tại thị trường giao dịch New York, giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao trong tháng 1/2019 giảm 5,3%, còn 51,74 USD/thùng – mức thấp nhất trong một năm qua. Trong khi đó, giá dầu Brent Biển Bắc giảm 3,3%, còn 60,53 USD/thùng.

     

    Hồi giữa tháng 10, nhiều chuyên gia kỳ vọng giá dầu thô có thể kết thúc nằm ở ngưỡng 100 USD/ thùng. Tuy nhiên, trong thời gian tới giá dầu thô khó giữ vững đà tăng. Nguồn cung đang đi lên quá nhanh khiến giá dầu không còn được ổn định. Theo dữ liệu mới nhất, sản lượng dầu thô của Mỹ đã vươn lên ngưỡng kỉ lục gần 12 triệu thùng/ngày. Ngân hàng JP Morgan vừa đưa ra mức dự báo đối với giá dầu thô Brent trong năm 2019. Theo đó, mặt hàng này sẽ có giá khoảng trung bình ở mức 68USD/thùng và mức cao nhất có thể là 80 USD/ thùng. JP Morgan dự kiến giá dầu Brent thậm chí còn tụt giảm sâu hơn và chỉ còn 64 USD/thùng trong năm 2020.

     

    Tác động của biến động giá dầu tới nền kinh tế nước ta

     

    Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô và doanh thu dầu thô hiện chiếm từ 7- 8% tổng thu ngân sách nhà nước, với việc giá dầu tăng sẽ làm tăng nguồn thu cho ngân sách. Vì vậy, dự báo về giá dầu là căn cứ để lập kế hoạch thu ngân sách 2019. Giá dầu năm 2019 được tính để lập kế hoạch thu ngân sách năm 2019 là 65 USD/thùng. Nhìn từ góc độ này, biến động của giá dầu sẽ tác động trực tiếp về quy mô và cơ cấu thu NSNN năm 2019. Nếu giá dầu thô giảm sâu hơn dự kiến sẽ gây hậu quả xấu trong bối cảnh các nhiệm vụ chi theo dự toán đều không thể trì hoãn đó là chưa kể nhu cầu chi vẫn tăng lên: cả chi đầu tư phát triển lẫn chi thường xuyên và chi trả nợ. Và khi đó muốn đảm bảo các nhiệm vụ chi NSNN theo dự toán năm 2019, đồng thời không làm tăng quy mô thâm hụt NSNN đã được Quốc hội phê duyệt thì gánh nặng khai thác nguồn thu khác đủ bù đắp khoản hụt thu do giảm giá dầu

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  21

     

    KINH TEÁ VIEÄT NAM 2018 – NHIEÀU THAØNH COÂNG VAØ THAÙCH THÖÙC

     

    được đặt lên vai Chính phủ và Bộ Tài chính, đó thực sự là một bài toán hết sức nặng nề về cơ cấu lại nguồn thu NSNN cũng như các giải pháp ứng phó.

     

    Giá dầu tăng cao sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, nhưng mức độ ảnh hưởng ở từng quốc gia sẽ khác nhau. Đối với Việt Nam, trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người/GDP còn thấp, sự tác động của giá dầu khi tăng cao sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của người dân.

     

    Giá năng lượng thường ảnh hưởng nhiều đến chỉ số giá tiêu dùng. Bởi vậy, khi giá dầu tăng, các ngân hàng trung ương sẽ phải tập trung nhiều hơn vào các chỉ số lạm phát lõi không bao gồm giá năng lượng vốn có mức độ biến động cao. Tuy nhiên, giá dầu tăng mạnh và duy trì có thể gây áp lực lạm phát lớn, bởi sự tăng giá này thẩm thấu sang các lĩnh vực khác như giao thông và các dịch vụ tiện ích. Áp lực giá cả tăng cũng có thể đẩy nhanh việc thắt chặt chính sách tiền tệ ở những nền kinh tế như Việt Nam.

     

    Giá dầu tăng sẽ ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

     

    Một là, giá dầu tăng đã đẩy chỉ số lạm phát (CPI) của Việt Nam tăng cao trong thời gian vừa qua. Xăng dầu đang là mặt hàng chiếm tỷ trọng gần 3% trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam. Ngoài ra, xăng dầu còn là nguyên liệu đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp để sản xuất ra nhiều loại hàng hóa khác nhau. Do đó, giá dầu tăng còn đẩy giá của nhiều mặt hàng khác cũng tăng lên. Như vậy, tổng mức ảnh hưởng của giá xăng dầu có thể lên tới con số 1%. Chỉ số CPI tăng khiến cho lãi suất thực dương của người gửi tiền giảm xuống. Đây là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho một số ngân hàng đã phải tăng lãi suất huy động trong thời gian gần đây để tránh nguy cơ mất thị phần về huy động vốn. Lãi suất huy động tăng sẽ như một phản ứng dây chuyền, làm tăng lãi suất cho vay ra nền kinh tế, đồng thời đẩy lợi suất kỳ vọng của trái phiếu Chính phủ cũng tăng lên. Hệ quả là chi phí sử dụng vốn của toàn nền kinh tế sẽ tăng lên. Chi phí sử dụng vốn tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó có thể làm giảm động lực mở rộng sản xuất

    kinh doanh của cả nền kinh tế và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP.

     

    Hai là, Việt Nam là một nước nhập khẩu ròng đối với mặt hàng xăng dầu. Hàng năm, Việt Nam đã nhập khẩu ròng xăng dầu các loại khoảng 4,5-5 tỉ đô la Mỹ, kết quả này có nghĩa là giá dầu càng cao thì thâm hụt thương mại đối với mặt hàng này sẽ càng lớn. Dù sắp tới Việt Nam về cơ bản có khả năng đáp ứng về xăng dầu trong nước, tuy nhiên vẫn cần phải nhập dầu thô để chế biến. Điều này sẽ gây áp lực trực tiếp lên tỷ giá giữa tiền đồng và đô la Mỹ. Đây là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho tỷ giá luôn chịu áp lực tăng kể từ khi giá dầu tăng đến nay. Như vậy, chính sách tiền tệ của Việt Nam đang phải chịu sức ép rất lớn từ những biến động bên ngoài. Đây cũng chính là hệ quả khi mà độ mở của nền kinh tế Việt Nam đang ở mức rất cao, hiện lên tới trên 200% GDP. Điều này đồng nghĩa với việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

     

    Chúng ta cần có giải pháp phòng ngừa để tránh những cú sốc về giá dầu tăng tác động tới nền kinh tế. Nhiều dự báo hiện nay cho rằng giá dầu sẽ khó có khả năng tăng cao hoặc tiếp tục leo thang như diễn biến của năm 2014. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là dự báo và trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị như hiện nay thì không thể khẳng định được rằng sẽ không có yếu tố bất ngờ diễn ra. Chúng ta cần có các kịch bản ứng phó và ngay từ bây giờ cần xây dựng các biện pháp dự phòng nhằm giảm thiểu tối đa sự tác động của nó đến chính sách tiền tệ của Việt Nam. Có giải pháp dự phòng nếu giá xăng dầu tiếp tục tăng thì tạm ngừng tăng hoặc giãn tiến độ tăng giá của một số mặt hàng do Nhà nước quản lý để dành dư địa cho khả năng giá xăng dầu tiếp tục tăng lên trong thời gian tới. Giải pháp này nhằm tránh cho CPI có thể tăng cao ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ. Cần có giải pháp để đẩy nhanh quá trình đạt chuẩn quốc tế về dự trữ xăng dầu. Hiện nay, dự trữ của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 30 ngày nhập khẩu ròng, trong khi con số này theo chuẩn của Cơ quan Năng lượng quốc tế là 90 ngày.

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
     

    TS. Trần Tú Uyên1 Lê Như Hiểu2 Bùi Thị Tươi3

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    Vieät Nam aùp duïng chuaån möïc keá toaùn thueâ taøi saûn IFRS 16 töø 1/1/2019

     

    – nghieân cöùu taùc ñoäng tôùi baùo caùo taøi chính cuûa caùc doanh nghieäp

     

    Thuê tài sản là một trong những công cụ huy động vốn vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hay các doanh nghiệp có máy móc thiết bị có giá trị lớn. Hiện nay, các doanh nghiệp đều đang áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế – IAS 17 để hạch toán tài sản thuê của doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua thời gian đã phát hiện thấy

     

    có rất nhiều điểm trong IAS 17 không còn hợp lý nữa. Vì thế Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IASB đã ban hành Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế thuê tài sản IFRS 16. Theo dự kiến IFRS sẽ được áp dụng tại Việt Nam từ ngày 1/1/2019. Bài viết trình bày về Chuẩn mực Kế toán thuê tài sản IFRS 16 và đưa ra các phương pháp kế toán thuê tài sản trên phương diện là người cho thuê và người đi thuê mà trọng tâm là người đi thuê. Từ đó sẽ rút ra nhận xét chung về những ảnh hưởng của việc áp dụng Chuẩn mực Kế toán thuê tài sản IFRS tới Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Ngoài ra bài báo còn đưa đến cho người đọc một số thông tin cơ bản về giao dịch bán đi thuê lại.

     

    Từ khóa: Chuẩn mực kế toán quốc tế, IFRS 16, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Chuẩn mực kế toán thuê tài sản.

     

    Vietnam to apply IFRS 16 Leases from January 1, 2019 – a study of impacting factors to the financial statements of businesses

     

    Leasing is one of the mobilization tools that is extremely important for every business, especially the manufacturing enterprises or businesses with high value machinery and equipment. Currently, businesses are applying International Accounting Standards – IAS 17 to account their leased assets. However, over time, many points in IAS 17 are no longer reasonable. Therefore, the International Accounting Standards Board IASB has issued the IFRS International Financial Reporting Standards 16 Leases. It is expected that IFRS will be applied in Vietnam from January 1, 2019. The paper presents IFRS Standards 16 and provides asset leasing methods in terms of lessor and lessee with a focus on lessee. Consequently, the article draws a general comment on the effects of applying IFRS’s New Lease Standards on business’s financial statements. In addition, the article also gives readers some basic information about the sale of sublease.

     

    Key words: International Accounting Standards, IFRS 16, International Financial Reporting Standards, Lease Standards.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Trong thời đại công nghệ 4.0, máy móc thiết bị ở các doanh nghiệp sản xuất là một đòi hỏi bức thiết trong bối cảnh hội nhập để nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như năng suất lao động, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường.

     

    Thực tế phần lớn các trang thiết bị, máy móc sản xuất của nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã quá lạc hậu so với các nước tiên tiến phát triển trên thế giới. Vì thế việc đầu tư các máy móc trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu sản xuất là vô cùng cần thiết. Hiện nay, lượng vốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp Việt Nam là hết sức

     

    1Giảng viên Khoa Kế toán – Kiểm toán trường ĐH Ngoại Thương; 2,3 Sinh viên Khoa Kế toán – Kiểm toán trường ĐH Ngoại Thương

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  23

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

     

     

     

     

    khiêm tốn. Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới ra đời, việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng là khá khó khăn. Ngoài ra, một số doanh nghiệp lớn như VietnamAirline hay VietjetAir… những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực sử dụng những phương tiện, máy móc, trang thiết bị có giá trị vô cùng lớn đi thuê tài sản sẽ là một giải pháp tối ưu.

     

    Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 – Các hướng dẫn thuê tài sản có hiệu lực ngày 1/1/1984 với mục đích hướng dẫn cách hạch toán các hoạt động liên quan đến thuê tài sản của doanh nghiệp đi thuê và doanh nghiệp cho thuê. Ngày 1 tháng 1 năm 2016, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế số 16 – Chuẩn mực kế toán Thuê tài sản (IFRS 16) mới sẽ thay thế chuẩn mực kế toán IAS 17 hiện hành. IFRS 16 giúp loại bỏ sự phân loại thuê tài sản (thuê hoạt động hoặc thuê tài chính) đối với bên thuê. Theo đó, những yêu cầu của IFRS 16 mới loại bỏ

     

     

     

     

     

    gần như tất cả việc “kế toán ngoài bảng cân đối kế

     

    toán”1 của bên đi thuê và điều này sẽ là một trong những tiến bộ lớn nhất đối với các chuẩn mực kế toán trong thập kỷ qua.

     

    2. Một số khái niệm liên quan đến hợp đồng cho thuê tài sản

     

    Hợp đồng cho thuê tài sản là hợp đồng mà một bên sẽ chuyển giao quyền kiểm soát sử dụng tài sản cho bên còn lại trong một khoảng thời gian nhất định để đổi lấy một khoản tiền thuê phù hợp. Trong hợp đồng cho thuê tài sản có thể bao gồm một số phần khác mà không phải là thuê tài sản ví dụ như cung cấp dịch vụ kèm theo. Những phần này phải được tách rời với thuê tài sản và được kế toán riêng, phân bổ phần giá trị tiền thuê trên cơ sở giá độc lập của các phần thuê tài sản và cung cấp dịch vụ.

     

    Quyền kiểm soát sử dụng tài sản của người đi thuê phụ thuộc vào:

     

    • Người đi thuê có quyền giành được một cách đáng kể tất cả những lợi ích kinh tế thu được từ việc sử dụng tài sản.

    1IAS 17 không yêu cầu doanh nghiệp khi đi thuê tài sản hoạt động dài hạn có giá trị lớn phải hạch toán tài sản đó trên Bảng cân đối kế toán.

     

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Người đi thuê có toàn quyền trực tiếp sử dụng tài sản. Điều này phát sinh nếu như có một trong hai trường hợp dưới đây:
    • Người đi thuê có quyền sử dụng tài sản thuê với mục đích của họ trong toàn bộ khoảng thời gian sử dụng.
    • Tất cả những hướng dẫn về việc sử dụng tài sản thuê phải được xác định trước. Người đi thuê có thể sử dụng tài sản mà người cho thuê không có quyền thay đổi bất kỳ những hướng dẫn sử dụng nào trước đó.

    Trong mỗi hợp đồng thuê tài sản phải lưu ý:

     

    • Quyền sử dụng tài sản (Right of use): Là quyền mà người đi thuê có thể sử dụng tài sản đi thuê trong suốt thời gian thuê.

     

    • Tiền thuê (Lease payment): Là khoản tiền người đi thuê phải thanh toán cho người cho thuê liên quan tới quyền sử dụng tài sản thuê trong suốt thời gian thuê bao gồm:
    • Khoản tiền cố định trừ đi phần ưu đãi cho

    thuê.

     

    • Các khoản tiền thuê thay đổi phụ thuộc vào tỷ giá.
    • Giá thực hiện quyền mua nếu người đi thuê chắc chắn sẽ thực hiện quyền mua này.
    • Khoản phạt chấm dứt hợp đồng thuê nếu áp dụng.
    • Lãi suất ngầm trong hợp đồng thuê tài sản (Interest rate implicit in the lease): Là tỷ lệ lãi suất mà tại đó giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê và giá trị còn lại không được bảo đảm bằng với tổng giá trị hợp lý của tài sản thuê và bất kỳ chi phí trực tiếp ban đầu nào của bên cho thuê.

     

    • Thời hạn thuê (Lease term):
    • Là thời gian không thể hủy bỏ trong đó bên thuê có quyền sử dụng tài sản thuê, cộng với:
    • Thời gian theo lựa chọn mở rộng nếu việc lựa chọn quyền chọn đó của bên thuê là tương đối chắc chắn;
    • Thời gian theo lựa chọn kết thúc nếu bên thuê không thực hiện quyền chọn đó một cách tương đối chắc chắn.
    • Nếu thời hạn thuê là dài hơn 12 tháng là thời hạn thuê dài và ngược lại nếu thời hạn cho thuê tài sản là ngắn hơn 12 tháng là thời hạn thuê ngắn.
    • Lãi suất biên đi vay (Lessee’s incremental borrowing rate of interest): Là lãi suất mà bên đi thuê sẽ phải trả cho một hợp đồng thuê tài chính tương tự hoặc là lãi suất tại thời điểm đầu thuê tài sản mà bên thuê sẽ phải trả để vay một khoản cần thiết cho việc mua sắm tài sản với một thời hạn và với một đảm bảo tương tự.
    1. Phương pháp kế toán tài sản thuê

    3.1. Đối với người đi thuê

     

    Theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 17 – Thuê tài sản, bên đi thuê phải phân biệt giữa thuê tài chính (trên bảng cân đối kế toán) và thuê hoạt động (ngoài bảng cân đối kế toán) nhưng theo IFRS 16 yêu cầu bên đi thuê phải ghi nhận hầu hết các hợp đồng thuê trên bảng cân đối kế toán không phân biệt giữa thuê tài chính và thuê hoạt động ngoại trừ những tài sản đi thuê có giá trị thấp hoặc có thời gian thuê ngắn hơn 12 tháng. Người đi thuê sẽ phải ghi nhận tài sản tức là quyền sử dụng tài sản đi thuê (ROU) và nợ phải trả (nợ thuê) phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản. Đây là một điểm mới khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17.

     

    Ghi nhận ban đầu:

     

    • Tại thời điểm ban đầu thuê tài sản, phần nợ thuê sẽ được xác định bằng cách quy đổi tất cả các giá trị dự tính phải trả trong tương lai về hiện tại bằng lãi suất ngầm định. Nếu không thể xác định được lãi suất ngầm định thì người đi thuê có thể sử dụng lãi suất biên đi vay.
    • Đối với quyền sử dụng tài sản (ROU): ROU sẽ

    được xác định bằng tổng giá trị hiện tại của nợ thuê và những chi phí trực tiếp ban đầu hình thành và đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng trừ đi ưu đãi cho thuê.

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  25

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    Ghi nhận ban đầu đối với người đi thuê:

     

     

    Debit

    Credit

    ROU

               

    Initial payment

    X

         

    Initial direct cost

    X

         

    Incentives received

    X

         

    Payment for lease liability

    X

         
                 
       

    X

         

    Lease liability

           

    X

    Cash

           

    X

                 
       

    X

    X

    Ghi nhận sau thời điểm ban đầu:

     

    • Đối với quyền sử dụng tài sản (ROU): Sau thời

    điểm ban đầu ghi nhận, ROU sẽ được xác định theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 16, ngoại trừ tài sản đi thuê là bất động sản đầu tư hoặc thuộc về một trong những loại tài sản phải áp dụng mô hình đánh giá lại tài sản. Khi áp dụng IAS 16 doanh nghiệp cần chú ý đến thời gian sử dụng hữu ích khi tính khấu hao:

     

    o Nếu quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển cho người đi thuê khi kết thúc thời gian thuê tài sản hoặc nếu người đi thuê dự định thực hiện quyền mua tại thời điểm kết thúc kỳ thuê tài sản thì ROU sẽ phải được khẩu hao trên số năm sử dụng hữu ích của tài sản.

     

    o Ngược lại, nếu không có chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc không có quyền mua trong hợp đồng thuê thì thời gian dùng để tính khấu hao sẽ lấy thời gian ngắn hơn giữa thời gian thuê và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản.

     

    • Đối với nợ thuê (Lease liability): Sau thời điểm ban đầu ghi nhận, số nợ thuê hàng kì sẽ được cộng thêm tiền lãi phần tiền nợ chưa trả và trừ đi phần tiền đã thanh toán.

    Ghi nhận cuối kì:

     

    • Trên bảng cân đối kế toán cuối kì, ROU và nợ thuê sẽ được trình bày một dòng riêng bên dưới tài sản dài hạn và nợ tài chính hoặc có thể trình bày gộp nhưng phải thuyết minh rõ ràng.
    • IFRS 16 không nêu rõ nợ thuê phải được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, tuy nhiên doanh

    nghiệp nên chia ra thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn để có cái nhìn chính xác hơn.

     

    Sau đây là ví dụ cụ thể để hiểu rõ được kế toán tài sản đi thuê:

     

    Doanh nghiệp A thuê tài sản của doanh nghiệp B trong vòng 5 năm. Mỗi năm doanh nghiệp A phải trả đều cho B một khoản tiền cố định $50,000 vào cuối mỗi năm. Chi phí trực tiếp để hoàn thiện tài sản trước khi tài sản sẵn sàng đưa vào sử dụng là $20,000. Doanh nghiệp A được hưởng ưu đãi cho thuê ban đầu là $5,000. Lãi suất ngầm mà doanh nghiệp A sử dụng để hạch toán là 5%.

     

    Bảng 2: Giá trị hiện tại của $50,000 qua 5 năm

     

         

    Đơn vị: $

    Year

    Payment

    Discount factor

    PV

    0

    50,000

    0.95

    47,619.0

    1

    50,000

    0.91

    45,351.5

    2

    50,000

    0.86

    43,191.9

    3

    50,000

    0.82

    41,135.1

    4

    50,000

    0.78

    39,176.3

     

    Total

    216,473.8

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

    • Giá trị hiện tại của khoản tiền thuê tài sản:

    216,473.8

     

    • Chi phí ban đầu được ghi nhận vào quyền sử dụng tài sản – ROU: 20,000
    • Ưu đãi cho thuê: (5,000)
    • ROU = 216,473.8 + 20,000 – 5,000 = 231,473.8
    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Doanh nghiệp hạch toán:

     

     

    Debit

    Credit

    ROU

    231,473.8

     

    Initial direct cost (cash)

     

    20,000

    Incentives received (cash/AP)

    5,000

     

    Payment for lease liability

     

    216,473.8

    Hàng năm doanh nghiệp cần tính chi phí tài chính và phân biệt nợ ngắn hạn và nợ dài hạn:

     

    Bảng 3: Xác định giá trị của nợ thuê qua 5 năm

     

    Year

    Opening balance

    Interest expense2

    Lease pmt

    Closing balance

    1

    216,473.8

    10,823.7

    -50,000

    177,297.5

    2

    177,297.5

    8,864.9

    -50,000

    136,162.4

    3

    136,162.4

    6,808.1

    -50,000

    92,970.5

    4

    92,970.5

    4,648.5

    -50,000

    47,619.0

    5

    47,619.0

    2,381.0

    -50,000

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

    Cuối năm 1:

     

    • Trả tiền thuê: Dr lease liability / Cr cash: $50,000
    • Ghi nhận chi phí tài chính: Dr interest expense
    • Cr lease liability: $ 10,823.7
    • Khấu hao ROU: Dr depreciation expense / Cr ROU: 231,473.8/5 = $ 46,294.8
    • Khi đưa lên bảng cân đối kế toán nợ dài hạn là $136,162.4 (là số dư cuối kì vào năm sau của nợ thuê), nợ ngắn hạn là 177,297.5 – 136,162.4 =

    41,135.1

     

    • Những yêu cầu khi công bố báo cáo tài chính đối với người đi thuê
    • Chi phí khấu hao của ROU
    • Chi phí tài chính của nợ thuê
    • Chi phí thuê liên quan đến tài sản đi thuê ngắn hạn hoặc tài sản đi thuê có giá trị thấp
    • Chi tiết các giao dịch bán đi thuê lại
    • Giá trị còn lại của ROU tại thời điểm cuối kì kế toán

    3.2. Đối với người cho thuê

     

    Chuẩn mực kế toán thuê tài sản mới IFRS 16 không thay đổi nhiều về những yêu cầu kế toán của người cho thuê so với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17. Theo đó, người cho thuê vẫn tiếp tục phân loại tài sản cho thuê thành 2 loại là tài sản cho thuê hoạt động và tài sản cho thuê tài chính và kế toán 2 loại tài sản này khác nhau.

     

    Bảng 4: Kế toán tài sản cho thuê của người cho thuê tài sản

     

    (i) Tài sản cho thuê tài chính

     

    Bảng cân đối kế toán

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

    Tài sản dài

    Loại bỏ tài sản thuê ra khỏi

    Doanh thu từ cho thuê

    – Doanh thu cho thuê tài sản

    hạn

    BCĐKT

    tài sản

    – Doanh thu hoạt động tài chính

    Phải thu

    Ghi nhận khoản phải thu

    Khấu hao

    Không ghi nhận

    2Interest expense = Opening balance * 5%

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  27

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    (ii) Tài sản cho thuê hoạt động

     

    Bảng cân đối kế toán

    Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

    Tài sản dài

    Không loại tài sản thuê ra

    Doanh thu từ cho thuê

    Ghi nhận doanh thu cho thuê tài

    hạn

    khỏi BCĐKT

    tài sản

    sản hàng kì

    Phải thu

    Ghi nhận khoản phải thu từ

    Khấu hao

    Ghi nhận chi phí khấu hao hàng

     

    khách hàng thuê tài sản

     

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

     

    1. Giao dịch bán đi và thuê lại

    Hoạt động bán đi và thuê lại (Sale and Leaseback) hình thành khi bên sở hữu tài sản (Seller) bán lại tài sản cho một đối tác khác (Buyer) và chủ động thuê lại tài sản đó. Lúc này, bên bán tài sản sẽ đóng vai trò bên thuê lại tài sản (Lessee) và bên mua tài sản sẽ trở thành bên cho thuê tài sản (Lessor). Hình thức thuê lại có thể là “thuê tài chính” hay là “thuê hoạt động” tùy vào thỏa thuận của hai bên.

     

    Nếu xác định nghĩa vụ bán hàng thỏa mãn theo IFRS 15, tức là việc chuyển tài sản được xem như bán hàng hóa thỏa mãn yêu cầu của IFRS:

     

    • Người bán/người đi thuê xác định ROU phát sinh từ việc thuê lại tương ứng với phần giá trị còn lại của tài sản trước đó. Chỉ ghi nhận ROU giữ lại của tài sản.
    • Người bán/người đi thuê chỉ được phép ghi nhận một khoản lãi hoặc lỗ liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản cho người mua.
    • Người mua/người cho thuê sẽ hạch toán mua tài sản và hạch toán tài sản cho thuê tuân thủ theo yêu cầu của IFRS 16.

    Nếu giá bán tài sản và giá trị hợp lý của tài sản không bằng nhau, hoặc nếu khoản thanh toán tiền thuê không ở mức giá thị trường, thì doanh nghiệp sẽ phải thực hiện một số điều chỉnh để xác định giá bán tài sản:

     

    • Nếu là thấp hơn giá trị hợp lý trên thị trường thì giá trị thấp hơn đó sẽ được hạch toán là khoản trả trước tiền thuê.
    • Ngược lại, thì giá trị cao hơn giá trị hợp lý trên

    thị trường thì sẽ được hạch toán như là một khoản trợ giá được người mua/người cho thuê trả cho người bán/người đi thuê.

     

    Ngược lại, nếu việc chuyển giao bán tài sản không thỏa mãn yêu cầu của IFRS 15 thì người bán sẽ vẫn tiếp tục ghi nhận tài sản bán và khoản tiền bán tài sản được hạch toán như là một khoản nợ tài chính và được hạch toán tuân theo IFRS 9 – Công cụ tài chính. Giao dịch này về bản chất được xem như là một khoản vay có bảo đảm.

     

    Sau đây là một ví dụ để hiểu rõ hơn về giao dịch bán đi thuê lại.

     

    Công ty X bán một toà nhà cho công ty Y với số tiền là 5 triệu đô la. Giá trị hợp lý của tòa nhà này là 4,5 triệu đô. Trước khi bán tài sản, giá trị còn lại trên Báo cáo tài chính của công ty X là 3,5 triệu đô. Tại cùng thời điểm bán tài sản, công ty X ký kết một hợp đồng thuê quyền sử dụng tòa nhà trong vòng 20 năm, với số tiền trả hàng năm là $200,000 được trả vào cuối mỗi năm. Tất cả những điều khoản và điều kiện của hợp đồng đều xác định nghĩa vụ thực hiện hợp đồng thỏa mãn IFRS 15 – Doanh thu từ các hợp đồng với khách hàng. Lãi suất ngầm định được công ty sử dụng là 5% một năm.

     

    Tóm tắt:

     

    Sale proceed

    5,000

    Carrying amount (CA)

    3,500

    Fair value (FV)

    4,500

    Minimum lease payment (MLP)

    200

    Number of year

    20

    Rate

    5%

    Present value of MLP

    2,492

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Bước 1: Tính lãi/lỗ khi bán tài sản

    Gain = FV – CA = 4,500 – 3,500 = 1,000

     

    Bước 2: Tính giá trị hiện tại của MLP

    PV = LP/(1+r)^n = 2,492

       

    Bước 3: Phân chia giá trị PV của MLP

    Additional financing (trợ giá) = 5,000 – 4,500 = 500

     

    PV relate to the lease = 2,492 – 500 = 1,992

     
     

    Bước 4: Tính %

    % = PV relate to the lease/FV = 0.44

     

    Bước 5: Tính quyền sử dụng tài sản ROU

    ROU = CA*% = 3,500 * 0.44 = 1,550

     

    Bước 6: Tính phần lãi được ghi nhận

         

    1. Lãi do quyền sử dụng được giữ lại

    Lãi do quyền sử dụng được giữ lại

       

    2. Lãi từ hoạt động bán tài sản

    Lãi từ hoạt động bán tài sản

       

    Hạch toán:

         
     

    Dr

    Cr

     

    Cash

    5,000

       

    ROU

    1,550

       

    CA Asset

     

    3,500

     

    Liability

     

    1,992

     

    Additional financing

     

    500

     

    Gain

     

    558

     
     

    6,650

    6,650

     

    5. Những ảnh hưởng khi áp dụng chuẩn mực

    doanh nghiệp đi thuê

       

    kế toán thuê tài sản IFRS 16 tới Báo cáo tài chính

    5.1. Ảnh hưởng tới Bảng cân đối kế toán

     

    Hinh 1: Sự thay đổi của Bảng cân đối kế toán khi áp dụng IFRS 16

       

     

     

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

    Doanh nghiệp khi áp dụng chuẩn mực kế toán Thuê tài sản IFRS sẽ phải chịu một số ảnh hưởng lên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp:

     

    • Tài sản thuê tăng
    • Nợ tài chính tăng
    • Vốn chủ sở hữu giảm

    IFRS 16 yêu cầu doanh nghiệp phải ghi nhận tài sản thuê và nợ thuê lên bảng cân đối kế toán cho

     

     

     

    tất cả các tài sản đi thuê trừ tài sản thuê có thời gian dưới 12 tháng và tài sản thuê có giá trị thấp. Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) hy vọng ảnh hưởng đáng kể nhất của IFRS 16 đó chính là việc làm tăng tài sản thuê và tăng nợ thuê của những công ty đang hạch toán tài sản thuê ngoài bảng cân đối kế toán. Bên cạnh đó, một cách ghi nhận tài sản thuê mới đó là ghi nhận ROU – Quyền sử dụng tài sản xem tài sản thuê là tài sản phi tài chính dài hạn. Doanh nghiệp cũng hạch toán nợ

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  29

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    thuê thành hai phần là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn tùy thuộc vào thời gian của khoản nợ thuê phải trả. Điều này cũng sẽ làm ảnh hưởng tới chi phí lãi vay, các chỉ số tài chính của doanh nghiệp…

     

    Khi các doanh nghiệp kế toán tài sản ngoài bảng cân đối kế toán theo IAS 17, vốn chủ sở hữu thường sẽ bị giảm đi vì khoản trả tiền thuê phải trả hàng kì. Với việc áp dụng IFRS 16 cho từng tài sản thuê khác nhau, giá trị còn lại của tài sản thuê thường sẽ giảm nhanh hơn giá trị còn lại của nợ phải trả. Bởi vì trong mỗi kì thuê tài sản, tài sản thuê thường

    sẽ được khấu hao theo phương pháp đường thẳng và nợ thuê sẽ bị giảm giá trị do thanh toán khoản tiền thuê thay vào đó nợ thuê sẽ được tăng lên một khoản do chi phí lãi vay giảm dần được cộng vào trong suốt thời kì thuê. Kết quả là mặc dù tài sản thuê và nợ thuê là bằng nhau tại thời điểm đầu kì thuê tài sản và thời điểm kết thúc kì thuê tài sản nhưng nợ thuê trong suốt kì thuê tài sản thường sẽ cao hơn tài sản thuê.

     

    5.2. Ảnh hưởng tới Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

     

     

    Hinh 2: Sự thay đổi của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi áp dụng IFRS 16

     

     

     

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

     

    Mặc dù IFRS 16 sẽ có một ảnh hưởng khá lớn tới Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tuy nhiên sẽ không ảnh hưởng quá nhiều tới Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Những ảnh hưởng khi doanh nghiệp áp dụng IFRS 16 tới Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

     

    • Ghi nhận chi phí liên quan đến tài sản đi thuê;
    • Cơ cấu chi phí liên quan đến tài sản đi thuê;
    • Một số ảnh hưởng khác.

    So với các doanh nghiệp áp dụng IAS 17 thì IFRS 16 được mong đợi làm cho lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) và lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp cao hơn. Bởi vì, khi áp dụng IAS 17 các doanh nghiệp sẽ ghi nhận toàn bộ chi phí thuê vào chi phí sản xuất kinh doanh nhưng khi áp dụng IFRS 16 doanh nghiệp sẽ phải trình bày một phần chi phí là chi phí lãi vay.

    Giá trị cao hơn của lợi nhuận kinh doanh, chi phí lãi vay phụ thuộc nhiều vào việc thuê tài sản của doanh nghiệp: Số lượng tài sản thuê, độ dài thời gian và tỷ lệ lãi suất ngầm…

     

    Khi áp dụng IFRS 16, tổng chi phí lãi vay và chi phí khấu hao trong suốt nửa đầu của thời kì thuê thường sẽ cao hơn chi phí thuê sử dụng theo phương pháp đường thẳng khi áp dụng IAS 17. Và ngược lại, trong nửa thời gian còn lại của thời gian thuê thì tổng chi phí lãi vay và chi phí khấu hao khi áp dụng IFRS 16 sẽ thấp hơn tổng chi phí thuê khi áp dụng IAS 17. Điều này được lí giải là do khấu hao của tài sản thuê thường được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong khi chi phí lãi vay thường giảm theo kì trong suốt khoảng thời gian thuê tài sản (vì nợ thuê giảm dần).

     

    Khác với IAS 17, IFRS 16 yêu cầu doanh nghiệp ghi nhận chi phí lãi vay trên khoản nợ thuê riêng

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    biệt đối với chi phí khấu hao của tài sản thuê. Doanh nghiệp trình bày chi phí lãi vay là một phần của chi phí tài chính và chi phí khấu hao được trình bày cùng với chi phí khấu hao của những tài sản tương tự tài sản đi thuê. Khi áp dụng IAS 17, chi phí đi thuê tài sản hàng kì chỉ được trình bày là chi phí dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này dẫn đến EBITDA3 khi áp dụng IFRS 16 sẽ cao hơn đáng kể so với EBITDA khi áp dụng IAS 17.

     

    Tương tự như EBITDA, EBIT4 cũng sẽ cao hơn khi doanh nghiệp áp dụng IFRS 17. Bởi vì khi áp dụng IFRS 16 thì EBIT sẽ một phần chi phí lãi vay sẽ không bị trừ nhưng khi áp dụng IAS 17 thì EBIT đã được trừ đi tổng chi phí thuê tài sản của kì kế toán đó (chi phí thuê tài sản là chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh).

     

    5.3. Ảnh hưởng tới Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

     

    Sự thay đổi những yêu cầu kế toán khi áp dụng IFRS 16 sẽ không làm ảnh hưởng tới sự thay đổi giá trị dòng tiền lưu chuyển trong kì giữa bên cho thuê và bên đi thuê. Tuy nhiên, IFRS 16 sẽ làm ảnh hưởng tới việc trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ liên quan đến tài sản đi thuê.

     

    Để Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thống nhất với nhau về việc kế toán tài sản thuê thì IFRS 16 yêu cầu một doanh nghiệp phải phân loại số tiền thanh toán cho:

    • Khoản tiền thanh toán nợ thuê ban đầu sẽ thuộc dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động tài chính.
    • Khoản chi phí lãi vay sẽ phải được trình bày phù hợp với yêu cầu liên quan tới “Tiền lãi vay đã trả trong kì” tuân theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    Một số sự thay đổi trong dòng tiền khi áp dụng

     

    IFRS 16 thay cho IAS 17:

     

    • Tăng dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh;
    • Giảm dòng tiền từ hoạt động tài chính.

    Tuy nhiên, điều này sẽ không làm ảnh hưởng tới tổng giá trị tiền tệ lưu chuyển trong kì. Điều này là do khi áp dụng IAS 17, tổng số tiền thanh toán cho thuê trong kì sẽ làm giảm dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại khi áp dụng IFRS 16, phần nợ gốc được trả sẽ xuất hiện ở dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động tài chính và lãi vay trả trong kì sẽ nằm trong dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

    5.4. Ảnh hưởng tới một số chỉ số tài chính

     

    Khi áp dụng IFRS 16 thay cho IAS 17 một số chỉ tiêu tài chính sẽ có sự thay đổi. Bảng dưới đây chỉ ra sự thay đổi của một số chỉ số tài chính quan trọng mà các nhà đầu tư, các nhà phân tích hay sử dụng để đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp:

     

    Bảng 6: Sự thay đổi của một số chỉ số tài chính khi áp dụng IFRS 16

     

       

    Cách tính chỉ số

    Sự thay đổi khi

       

    Nhóm chỉ số  Chỉ số tài chính

    áp dụng IFRS

    Giải thích sự thay đổi

     
     

    tài chính

     
           

    16

       
                     
       

    Lợi

    nhuận

    trước

     

    EBIT là lợi nhuận khi chưa trừ

     
         

    lãi vay. Khi áp dụng IFRS 16,

     

    Biên EBIT

    thuế

    lãi

    vay/

    Tăng

    thuê tài sản thì phát sinh lãi

     
       

    Doanh thu thuần

     
         

    vay hàng kì

     
                   

    Biên

    EBITDA

    Lợi

    nhuận

    trước

     

    Vì khi áp dụng IFRS 16 thì

     

    (Earnings before

    thuế,

    lãi

    vay

     

    EBITDA chưa trừ khấu hao và

     

    interest,

    taxes,

    Tăng

    lãi vay. Nếu áp dụng IAS 17 thì

     

    depreciation, and

    khấu

    hao/

    Doanh

     

    EBITDA đã trừ chi phí thuê tài

     

    amortization)

    thu thuần

           

    sản

     
               

    3EBITDA: Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao. Chỉ số lợi nhuận này thường được sử dụng bởi các nhà đầu tư và nhà phân tích để đánh giá đòn bẩy tài chính

     

    4EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  31

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

     

    Biên

    EBITDAR

                       
     

    (Earnings before

    Lợi

    nhuận

    trước

         

    Vì cho dù áp dụng IFRS 16 hay

     
     

    interest,

    taxes,

    thuế,

    lãi

    vay

    khấu

    Không thay đổi

    IAS 17 thì đều đã trừ đi tất cả

     
     

    depreciation/

    hao

    tiền

    thuê/

    mọi chi phí liên quan đến việc

     
     

    a m o r t i z a t i o n

    Doanh thu thuần

         

    thuê tài sản

     
     

    and rent)

                         

    Nhóm chỉ

    Biên

     

    EBT

    Thu

    nhập

    trước

    Chưa

    thể

    kết

    Phụ thuộc vào các loại tài sản

     

    số khả năng

    (Earnings before

    thuế/ Doanh thu

    luận

       

    thuê khác nhau của doanh

     

    sinh lời

    taxes)

                       

    nghiệp và thuế suất

     

    Tỷ suất sinh lợi

                       

    (Profitability

    EBIT/(Vốn chủ sở

    Chưa

    thể

    kết

    Phụ thuộc vào danh mục tài

     

    ratio)

    trên vốn cổ phần

    hữu + Nợ tài chính)

    luận

       

    sản thuê

     
     

    thường (ROCE)

                       
     

    Tỷ suất sinh lợi

    Thu

    nhập

    ròng/

    Chưa

    thể

    kết

    Phụ thuộc vào của thu nhập

     
     

    trên tổng vốn cổ

    Tổng vốn cổ phần

    ròng. Thu nhập ròng phụ thuộc

     
     

    phần (ROE)

    bình quân

     

    luận

       

    vào danh mục tài sản thuê.

     
             

    Nhóm chỉ

    Chỉ

    số

    vòng

    Doanh

     

    thu/Tổng

         

    Bởi vì tài sản thuê sẽ được ghi

     

    số đánh giá

    quay tổng tài sản

    tài sản bình quân

    Giảm

       

    nhận là một phần của tài sản

     

    hiệu quả

    (Asset turnover)

                       
                         

    Bởi vì nợ ngắn hạn sẽ tăng do

     

    hoạt động

    Chỉ

    số

    thanh

                   

    Tài sản ngắn hạn/

         

    nợ thuê ngắn hạn tăng trong

     

    (Efficiency

    toán

    hiện

    hành

    Giảm

       

    ratio)

    (Current ratio)

    Nợ ngắn hạn

           

    khi tài sản ngắn hạn thì không

     
                   

    đổi

     
                           
     

    Chỉ số đòn bẩy tài

    Nợ

    phải

    trả/Vốn

         

    Bởi vì nợ phải trả tăng do phát

     

    Nhóm chỉ

    chính

    Leverage

    Tăng

       

    sinh nợ thuê trong khi vốn chủ

     

    số đánh giá

    (Gearing)

     

    chủ sở hữu

           

    sở hữu giảm

     
                     

    tính thanh

    Chỉ số khả năng

                   

    EBITDA sẽ tăng khi áp dụng

     

    khoản

                   

    IFRS 16 cùng với đó chi phí lãi

     

    thanh

    toán  lãi

    EBITDA/Chi

    phí

    Chưa

    thể

    kết

    (Liquidity

    vay cũng tăng. Vì thế còn phụ

     

    ratio)

    vay

    (Interest

    lãi vay

         

    luận

       

    thuộc nhiều vào danh mục tài

     

    coverage)

                     
                       

    sản đi thuê

     
                           
     

    Lãi cơ bản trên

    (Thu

    nhập

    ròng

         

    Phụ thuộc vào thu nhập ròng.

     

    Nhóm chỉ

    mỗi

    cổ

    phiếu

    – cổ tức cổ phiếu

    Chưa

    thể

    kết

    Thu nhập ròng phụ thuộc vào

     

    số đánh giá

    (EPS

    – Earning

    ưu đãi) / lượng cổ

    luận

       

    danh mục tài sản thuê. EPS

     

    hiệu quả đầu

    per share)

     

    phiếu

    bình

    quân

         

    còn phụ thuộc vào thuế suất

     
     

    đang lưu hành

         

                   
         

    Giá cổ phiếu trên

    Chưa

    thể

    kết

       
     

    P/E

       

    Phụ thuộc vào EPS

     
           

    thị trường/EPS

    luận

           

    Nguồn: Các tác giả tổng hợp

     

     

    1. Những lợi ích mang lại và khó khăn khi áp dụng IFRS 16

    6.1. Những lợi ích mang lại khi áp dụng IFRS 16

     

    Khi áp dụng IFRS 16 doanh nghiệp sẽ phải ghi nhận tài sản và nợ tài chính của tài sản thuê điều này sẽ giúp doanh nghiệp trình bày trung thực hơn

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    về tình hình tài chính của họ cũng như tạo nên một bức tranh toàn cảnh và chi tiết hơn về đòn bẩy tài chính cũng như tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp đó. Điều này sẽ làm cho các nhà đầu tư, nhà phân tích đánh giá một cách tốt hơn về tình hình tài chính cũng như những hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư luôn có sẵn

     

    nguồn thông tin chi tiết để giúp họ có thể linh động hơn khi đưa ra các quyết định đầu tư.

     

    IAS 17 chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp một số thông tin về tài sản thuê nằm ngoài Bảng cân đối kế toán trên Thuyết minh báo cáo tài chính. Điều này là chưa thích hợp và không rõ ràng đối với các nhà đầu tư và nhà phân tích. Hầu hết họ sẽ ước tính tài sản và nợ phải trả của những tài sản thuê nằm ngoài bảng cân đối kế toán. Một số người thì ước tính giá trị hiện tại của khoản thanh toán thuê bằng cách nhân số kì thuê với số tiền thuê từng kì rồi chiết khấu giá trị đó về hiện tại. Mục đích của những ước tính, điều chỉnh này là sẽ giúp họ đánh giá một cách chính xác và rõ ràng hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong đó có một số nhà đầu tư, nhà phân tích chỉ dựa trên Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp để đánh giá tình kết quả kinh doanh, tình hình tài chính của công ty mà không chú trọng xem xét Thuyết minh báo cáo tài chính. IFRS 16 được áp dụng sẽ giúp cho các nhà đầu tư, các nhà phân tích không phải điều chỉnh Bảng cân đối kế toán dựa trên Thuyết minh báo cáo tài chính nữa mà họ vẫn sẽ có một cơ sở tin cậy và rõ ràng hơn cho việc ra quyết định.

     

    6.2. Những khó khăn khi áp dụng IFRS 16

     

    Khi một doanh nghiệp chuyển đổi việc áp dụng IAS 17 sang áp dụng IFRS 16 sẽ có rất nhiều khó

     

     

     

    khăn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chuyển tất cả những tài sản đi thuê hoạt động đang được kế toán ngoài bảng cân đối kế toán cho phù hợp với yêu cầu của IFRS 16.

     

    Mỗi một chuẩn mực mới khi đưa ra đều đòi hỏi sự nghiên cứu thật kỹ trước khi đưa vào áp dụng. Tuy nhiên, một số kế toán trưởng hoặc nhà quản lý doanh nghiệp chưa thực sự tìm hiểu sâu về chuẩn mực dẫn tới việc áp dụng sai và làm Báo cáo tài chính không còn chính xác và đáng tin cậy nữa.

     

    Sự tăng vọt của tổng tài sản của một số doanh nghiệp đang áp dụng IAS 17 sau khi chuyển sang áp dụng IFRS 16 làm cho một số nhà đầu tư hoang mang và không tin tưởng vào Báo cáo tài chính nữa. Nếu doanh nghiệp không thuyết minh rõ ràng thì cũng sẽ là một khó khăn lớn đối với người sử dụng báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

     

    6.3. Tác động của IFRS 16 đến một số ngành sản xuất và kinh doanh

     

    Sự thay đổi trong yêu cầu kế toán của IFRS 16 tạo nên những sự ảnh hưởng lớn đến một số ngành sản xuất và kinh doanh.

     

    • Ngành sản xuất và bán lẻ hàng tiêu dùng: Ngành này được xem là sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể khi áp dụng IFRS 16. Ngành sản xuất hàng tiêu dùng là một ngành cần đến rất nhiều máy móc, thiết bị sản xuất. Với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ càng yêu cầu các doanh nghiệp luôn phải chuyển mình thay đổi để phù hợp với yêu cầu của thị trường. Hơn nữa, trong việc kinh doanh đòi

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 134 – tháng 12/2018  33

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    hỏi một số lượng lớn phương tiện vận tải, thiết bị phân phối… Do đó, những doanh nghiệp luôn phải sử dụng phương thức đi thuê để đáp ứng những yêu cầu đó vì thực tế đa số các doanh nghiệp đều không thể bỏ ra 100% vốn để đầu tư máy móc trang thiết bị. Sự thay đổi trong những yêu cầu kế toán IFRS 16 được cho rằng sẽ có những sự ảnh hưởng lớn đến Báo cáo tài chính của những doanh nghiệp này.

     

    • Ngành kinh doanh dịch vụ hàng không: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đầu tư một số vốn vô cùng lớn để mua sắm máy bay mới hay các trang thiết bị của máy bay. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành này đều sử dụng hình thức đi thuê tài chính hoặc sử dụng các giao dịch bán đi thuê lại để có thể tiết kiệm được chi phí vốn… Sự thay đổi khi áp dụng IFRS 16 yêu cầu những điều chỉnh lớn trong việc hạch toán các giao dịch sẽ tạo ra những biến động lớn trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
    • Ngành khai thác và chế biến dầu mỏ, kim loại: Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này cũng yêu cầu một lượng lớn máy móc, thiết bị có giá trị lớn. Khi mà hầu hết trang thiết bị đều phải mua từ nước ngoài. Do đó, việc đi thuê tài sản là một phương thức mà các doanh nghiệp này hay sử dụng. Sự thay đổi khi áp dụng IFRS 16 cũng có những thay đổi lớn trong Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
    1. Kết luận

    Thuê tài sản là một trong những công cụ tài chính quan trọng và khá phổ biến trên thị trường hiện nay đặc biệt có ý nghĩa với những doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng tài sản có giá trị lớn (Việt Nam Airline, Vietjet Airline…). Sự ra đời của chuẩn mực mới về thuê tài sản IFRS 16 sẽ tác động rất nhiều đến thị trường thuê, bên thuê cũng như bên cho thuê. Nó có thể là nhân tố làm thay đổi hành vi của khách hàng, làm dịch chuyển mô hình kinh doanh sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp.

     

    IFRS 16 đã hoàn thiện rất nhiều so với Chuẩn mực Kế toán Quốc tế thuê tài sản cũ IAS 17. IFRS 16 được kì vọng sẽ làm cho Báo cáo tài chính doanh nghiệp trở nên đáng tin cậy hơn. Điều này sẽ giúp

    các nhà đầu tư, các cổ đông, các nhà phân tích hay các cơ quan thẩm quyền có những cơ sở rõ ràng và chắc chắn khi đánh giá tình hình tài chính hay kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trước khi đưa ra đưa ra quyết định.

     

    Các tác giả hy vọng qua bài viết sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát cho độc giả về Chuẩn mực Kế toán thuê tài sản IFRS 16, từ đó làm tiền đề cho những đề tài nghiên cứu tiếp theo liên quan đến thuê tài sản.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. , 2001. IFRS. [Online]; Available at: https://www.ifrs.org/;
    2. , 2017. Trang tin điện tử Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. [Trưc tuyên]; Available at: http://www.vacpa. org.vn;

     

    1. BPP, 2018. ACCA Paper F7 Financial Reporting. London: BPP;
    2. Deloitte, 2016. A guide to IFRS 16, London: Deloitte;
    3. EY, 2016. A summary of IFRS 16, không biêt chu biên: EY;
    4. IFRS Foundation, 2016. Effects Analysis International Financial Reporting Standard IFRS 16, London: IFRS Foundation;

     

    1. IFRS Foundation, 2016. Project Summary and Feedback Statement, London: IFRS Foundation;

     

    1. Kathryn Donkersley, Patrina Buchanan, 2016. Transition to IFRS 16, London: IFRS Foundation;

     

    1. Kathryn Donkersley, R. R. i. B., 2016. IFRS 16 Leases, London: IFRS Foundation;
    2. PWC Việt Nam, 2018. Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế số 16- một kỷ nguyên mới về kế toán cho thuê, Việt Nam: PWC;

     

    • Vietstock, 2017. VIETSTOCK. [Trưc tuyên] Available at: https://vietstock.vn.

     

     

    • Số 134 – tháng 12/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%C6%B0-nh%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TƯ NHÂN ĐỐI VỚI

     

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

    Hà Huy Huyền1

     

    TÓM TẮT

     

    Những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội to lớn trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước ta có một phần đóng góp không nhỏ của khu vực kinh tế tư nhân. Từ những thực tiễn sinh động đó, Đại hội XII của Đảng năm 2016 đã khẳng định:“kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

     

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng 6-2017) đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Nghị quyết được đánh giá là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế. Đây là nguồn cổ vũ cho tinh thần khởi nghiệp, đổi mới và sáng tạo, tạo sức sống và đột phá phát triển mạnh mẽ đất nước ta trong giai đoạn tới.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân, tăng trưởng kinh tế, Đồng Nai

     

    1. Giới thiệu

    thế  mạnh  của  KTTT,  không  thể  khai

    Kinh tế tư nhân (KTTN) là chủ thể

    thác hết nguồn lực phát triển to lớn của

    quan trọng nhất trong nền kinh tế thị

    xã hội [1].

    trường (KTTT) hiện đại. Mặc dù quy

    Từ tinh thần của Đại hội XII cũng

    mô của khu vực tư nhân có thể khác

    cần nhấn mạnh và làm rõ, việc xác định

    nhau trong các mô hình KTTT đa dạng,

    kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và

    song có một điều chắc chắn rằng, nếu

    KTTN là một động lực quan trọng trong

    không có khu vực KTTN thì sẽ không

    nền kinh tế không hàm ý phân biệt đối

    có nền KTTT theo đúng nghĩa của nó.

    xử, mà với  ý nghĩa là  tùy thuộc vào

    Dù không hoàn hảo, song KTTT vẫn

    chức năng của mỗi thành phần kinh tế

    chứng tỏ là một cơ chế huy động, phân

    để  xác  định  vai  trò  của  chúng.  Nhà

    bổ nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo và phát

    nước với các nguồn lực, công cụ, chính

    triển  được  coi  là  tốt  nhất  hiện  nay.

    sách sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc

    Chính hoạt động của khu  vực KTTN

    định hướng và điều tiết nền kinh tế, bảo

    giúp vận hành cơ chế đó. Một khu vực

    đảm các cân đối lớn cho nền kinh tế,

    KTTN phát triển chưa  chắc mang lại

    kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến

    một nền KTTT hoàn hảo. Tự thân khu

    lược, phát triển kết cấu hạ tầng và dịch

    vực  KTTN  không  giúp  khắc  phục

    vụ công có vốn đầu tư lớn, luân chuyển

    những khiếm khuyết và “thất bại” của

    chậm, lợi nhuận không cao, rất cần thiết

    thị trường. Tuy nhiên, nếu không phát

    cho nền kinh tế – xã hội mà khu vực tư

    triển KTTN sẽ không thể phát huy hết

    nhân  không  sẵn  sàng  đảm  nhận;  các

         

    1Trường Đại học Đồng Nai

    28

    Email: [email protected]

         

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    lĩnh vực quốc phòng – an ninh, một số hoạt động đầu tư mạo hiểm… Như vậy, để thấy rằng, Đảng ta tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo với nội hàm mới, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013).

     

    Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể, tất cả các tầng lớp nhân dân đã chuyển sang ý thức chủ động và tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội.

     

    Những thay đổi về tư duy và nhận thức quan trọng đó đã tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở nước ta từng bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, nước ta đã có những tập đoàn kinh tế lớn. Từ chỗ chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, trong những năm qua một làn sóng khởi nghiệp đã và đang diễn ra, đem lại một sức sống mới cho nền kinh tế. Có thể thấy, khu vực KTTN đang đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Thậm chí, tỷ trọng của các doanh nghiệp siêu nhỏ đã tăng

    mạnh trong những năm gần đây. Do quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính yếu kém nên năng lực cạnh tranh của các DNTN thường thấp hơn các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhiều DNTN còn kinh doanh theo hình thức ngắn hạn, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn; ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Đội ngũ doanh nhân của khu vực tư nhân chưa thực sự lớn mạnh, còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường quốc tế và chưa được đào tạo sâu về quản lý sản xuất, kinh doanh. Một bộ phận doanh nhân còn hạn chế về kiến thức, sự am hiểu pháp luật và năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, khả năng cạnh tranh và hội nhập. Một số doanh nhân còn thiếu trách nhiệm với xã hội, vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, làm tăng thêm các tiêu cực xã hội, môi trường [2].

     

    Năng lực công nghiệp của khu vực KTTN trên thực tế là rất nhỏ và yếu, mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. Phần lớn sản xuất công nghiệp của các DNTN là gia công lắp ráp, chủ yếu sử dụng máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu. Các công đoạn sản xuất đưa lại giá trị gia tăng cao, như thiết kế, tạo kiểu dáng, marketing… đều được thực hiện bởi đối tác nước ngoài. Sự phân tầng trình độ công nghệ đang diễn ra trong từng ngành và trong nhiều doanh nghiệp; công nghệ lạc hậu, trung bình và tiên tiến cùng đan xen tồn tại; công nghệ

     

    29

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    tiên tiến, hiện đại chỉ tập trung vào một số ít DNTN, ở một số ít lĩnh vực. Chênh lệch về trình độ công nghệ bộc lộ rõ: các DNTN thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước và thua xa doanh nghiệp FDI. Do trình độ công nghệ thấp, các DNTN không có khả năng kết nối cũng như tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, nhất là không thể tận dụng được hiệu ứng lan tỏa từ các doanh nghiệp FDI đang tăng trưởng nhanh.

     

    Các DNTN phần lớn vẫn hoạt động

     

    • thị trường trong nước, chỉ rất ít DNTN lớn vươn được ra thị trường nước ngoài ở một mức độ khiêm tốn. Ngay cả ở thị trường trong nước, dưới sức ép cạnh tranh gay gắt các DNTN lớn cũng bắt đầu có xu hướng rút khỏi các ngành sản xuất công nghiệp, nhường lại sân chơi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sự rút lui này cũng diễn ra trong một số lĩnh vực dịch vụ như phân phối và bán lẻ được ưu tiên và có nhiều tiềm năng của nền kinh tế [3].

    Số lượng DNTN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít. Trong khi đó, nhiều chính sách “cởi trói” giúp nông nghiệp, nông thôn phát triển trong thời kỳ sau đổi mới đã tới giới hạn. Mô hình kinh tế hộ truyền thống tồn tại lâu nay ở nông thôn không còn phù hợp với điều kiện mới; yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất đang được đặt ra cho việc triển khai những mô hình hiện đại như kinh tế trang trại quy mô lớn. Việc giải quyết lao động trong ngành nông nghiệp chưa đạt hiệu quả mong muốn

    có nguyên nhân chủ yếu là sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp ở nông thôn không đủ mạnh nên chưa thúc đẩy chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Với những vấn đề phân tích ở trên, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam [4].

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong quá trình thực hiện chuyên đề này gồm: phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.

     

    Phương pháp nghiên cứu tại bàn được sử dụng để hệ thống hóa lý luận, kinh nghiệm trong nước, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyên đề. Từ đó giới thiệu được tổng quan phát triển của kinh tế tư nhân nói riêng và các thành phần kinh tế khác nói chung.

     

    Thu thập và phân tích các số liệu về tình hình của kinh tế tư nhân trong những năm qua. Trên cơ sở đó xây dựng được các kiến nghị phù hợp với thực tiễn. Xử lý, phân tích hệ thống các thông tin, số liệu thu được từ các báo cáo thống kê.

     

    Các phương pháp thống kê: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp tài liệu.

     

    Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn trước để phỏng vấn các chuyên gia, những nhà quản lý của doanh nghiệp tư nhân và một số nhà quản lý, đại lý có kinh nghiệm làm việc kinh doanh và

     

    30

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    nghiên cứu trong cùng lĩnh vực tư nhân để tham khảo ý kiến của họ.

     

    3. Kết quả nghiên cứu

     

    • Tăng trưởng kinh tế

     

    Tăng trưởng kinh tế là một trong

     

    những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia.

     

    Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên để khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.

     

    Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa… phát triển.

     

    Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hóa dưới tên gọi quy luật Okun1. Quy luật này

    xác định, nếu GDP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm so với GDP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%.

     

    Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển và phát triển. Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Thực tế cho thấy không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

     

    Mặc dù Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong giai đoạn trước khủng hoảng (2008), nhưng sự tăng trưởng này chỉ tập trung nhiều vào quy mô tăng trưởng, do đó Việt Nam đã không đủ nguồn lực cần thiết để giúp phục hồi kinh tế trong giai đoạn sau

     

    31

     

       

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019

    ISSN 2354-1482

     
             
       

    khủng hoảng. Sự tăng trưởng thiên về

    yếu còn lại là lao động và năng suất

     
       

    số lượng chứ không chú trọng về chất

    các nhân tố tổng hợp (TFP) thì rất thấp.

     
       

    lượng của nền kinh tế Việt Nam được

    Theo tính toán của nhiều nhà nghiên

     
       

    biểu hiện ở tình trạng tăng trưởng dựa

    cứu,  đóng  góp  của  TFP  vào  tăng

     
       

    quá nhiều vào nguồn vốn, dẫn đến việc

    trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những

     
       

    đầu tư tràn lan và sử dụng vốn không

    năm gần đây dao động trong khoảng

     
       

    hiệu quả.

         

    6%  –  10%  (bảng  1),  nhưng  tỷ  trọng

     
         

    Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    đóng  góp  của  TFP  thì  dường  như

     
       

    trong những năm gần đây chủ yếu dựa

    không thay đổi, chỉ tăng khoảng 2,14%

     
       

    vào vốn, trong khi đóng góp của hai

    trong giai đoạn 2006-2012.

     
         

    Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015

     
                       

    Đơn vị tính %

     
       

    TT

    Khu vực kinh tế

     

    2011-2015

    2016

     

    2017

     
                         
         

    Tổng số

       

    111,9

    108,9

     

    112,1

     
                     
       

    1Kinh tế Nhà nước

     

    106,8

    107,3

     

    106,7

     
                     
       

    2Kinh tế tư nhân

     

    112,8

    109,5

     

    116,8

     
                       
       

    3

    Kinh  tế  có  vốn  đầu

    119,9

    110,4

     

    112,8

     
         

    nước ngoài

                 
         

    (Nguồn: [5])

                 
         

    Bảng 1 cho thấy: thực hiện vốn đầu

    bao gồm: vốn khu vực Nhà nước đạt

     
       

    tư phát triển toàn xã hội năm 2017 đạt

    594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng

     
       

    khá, đặc biệt là vốn tư nhân và khu vực

    vốn và tăng 6,7% so với năm trước; khu

     
       

    có  vốn  đầu  tư  trực  tiếp  nước  ngoài.

    vực kinh tế tư nhân đạt 676,3 nghìn tỷ

     
       

    Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

    đồng, chiếm 40,5% và tăng 16,8%; khu

     
       

    năm 2017 theo giá hiện hành ước tính

    vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

     
       

    đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%

    đạt 396,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,8%

     
       

    so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP,

    và tăng 12,8%.

         
           

    Bảng 2: Hệ số ICOR tính theo vốn của các khu vực kinh tế

     
                           
           

    Bình

             

    Bình

     
                     

    quân

     
         

    Năm

    quân

    2015

     

    2016

    2017

    2018

     
           

    2015-

     
           

    2011-2015

               
                     

    2018

     
                         
                         
       

    Tốc độ tăng

    5,92

    6,68

     

    6,21

    6,81

    7,08

    6,695

     
       

    trưởng (%)

       
                       

    (Nguồn: [5])

     

    Bảng 2 cho thấy: với một nền kinh tế tăng trưởng dựa chủ yếu vào nguốn vốn, vốn luôn đóng góp trên 50% vào

     

    tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí lên đến khoảng 80% kể từ sau khủng hoảng thì Việt Nam lại chưa chú trọng vào

     

    32

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Tỷ số vốn/sản lượng tăng thêm của Việt Nam (ICOR – Incremental Capital Output Ratio) hiện vẫn cao so với trong khu vực và có xu hướng tăng lên trong các năm gần đây.

     

    Chỉ số ICOR của Việt Nam cao nguyên nhân chủ yếu là do đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng các nguốn vốn, nhất là nguồn vốn nhà nước. Ngoài ra, đối với nguồn lực tăng trưởng thứ ba là lao động thì nguồn lực này ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm. Lực lượng lao động ở Việt Nam tuy đông về số lượng nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, ít qua đào tạo. Hiện tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới chỉ chiếm khoảng 35%. Chính vì thực trạng này mà các doanh nghiệp có vốn FDI đầu tư vào Việt Nam chỉ hướng tới việc tận dụng nguồn lao động phổ thông chi phí rẻ, chứ không hướng tới các lao động có trình độ cao hơn.

     

    3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

    Sau hơn 30 năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý, KTTN nước ta đã hồi phục và phát triển nhanh chóng, đầy sinh lực với một sức bật mạnh mẽ. Vai trò của khu vực KTTN được thể hiện ở những điểm sau:

     

    Thứ nhất, khu vực KTTN góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân. Vai trò này của khu vực KTTN được thể hiện thông qua một số điểm:

    Khu vực KTTN đã góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất (LLSX) phát triển. Khu vực KTTN phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế nước ta trở nên đa dạng hơn. Sự biến đổi của quan hệ sản xuất đã kéo theo sự biến đổi của quan hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX vốn còn thấp và phát triển không đều giữa các vùng, các ngành trong cả nước. Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thông qua việc phát triển KTTN mà quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy, đó là cơ sở để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân về chính trị, văn hóa, xã hội.

     

    Khu vực KTTN góp phần quan trọng thu hút vốn nhàn rỗi của xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương. Việc thành lập các doanh nghiệp thuộc KTTN không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với doanh nghiệp quy mô nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động các loại hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè… Chính vì vậy, việc đẩy mạnh các loại hình DNTN được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong

     

    33

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng. Các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN thường có quy mô vừa và nhỏ, lại được phân tán ở hầu hết các địa phương, các vùng lãnh thổ nên chúng có khả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất các ngành nghề truyền thống của địa phương.

     

    Khu vực KTTN đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Thống kê cho thấy hiện nay đóng góp vào ngân sách của khu vực KTTN tuy còn nhỏ (chưa tới 10%) nhưng đang có xu hướng tăng lên. So với đóng góp vào ngân sách trung ương thì đóng góp của khu vực KTTN vào nguồn thu ngân sách địa phương còn lớn hơn nhiều. Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, đường sá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác.

     

    Thứ hai, khu vực KTTN đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực KTTN đều đặn và xấp xỉ với tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển nhanh của KTTN đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của cả nước.

     

    Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch vụ tổng hợp và

    các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia. Chính sự phát triển của KTTN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng. Nó sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền.

     

    Thứ ba, KTTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động. Hiện nay, ở nước ta, khu vực KTNN chỉ giải quyết việc làm được cho khoảng trên 3 triệu lao động, trong khi đó chỉ tính riêng các loại hình doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 6 triệu lao động. Khu vực KTTN có ưu thế hơn hẳn về khả năng tạo việc làm. Nhìn chung lợi thế nổi bật của KTTN là có thể thu hút một lực lượng lao động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng, miền của đất nước, ở tất cả mọi tầng lớp dân cư… Như vậy, KTTN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động.

     

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Ngoài việc tạo công ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong cạnh tranh, các DNTN phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản lý có hiệu quả nhất, vì vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt. Chính điều này đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công nghiệp. Đồng thời thông qua quá trình này, khu vực KTTN cũng được xem là nơi đào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn.

     

    Thứ tư, khu vực KTTN góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam muốn phát triển nhanh cần phải hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thu hút vốn và công nghệ vào nền kinh tế của mình. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     

    Quá trình hội nhập có thể thực hiện bằng nhiều con đường như: nhà nước liên doanh với nước ngoài, nhà nước cho nhóm đầu tư nước ngoài thuê đất hay các tổ chức kinh tế và KTTN liên doanh, liên kết với nước ngoài. Trong những hình thức này, hiện nay nổi bật nhất vẫn là con đường thứ ba, sự liên kết thông qua khu vực KTTN. Cũng thông qua quá trình đó, KTTN với những đặc tính của mình là chủ động đổi mới và lựa chọn công nghệ thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… Từ đó, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển giao

    công nghệ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và kinh nghiệm quản lý. Đồng thời nó góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới.

     

    Thông qua những vấn đề phân tích trên, có thể thấy tính chất nhiều thành phần là đặc trưng của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành phần kinh tế luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ, tác động qua lại và đan xen với nhau.

     

    Thời cơ: Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Hầu hết các loại giá hàng hóa, dịch vụ được xác lập theo cơ chế thị trường. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Các cơ chế, chính sách đã chú trọng kết hợp giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người dân tham gia và nhận được thành quả từ quá trình phát triển kinh tế. Phương thức lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Nhà nước từng bước được đổi mới phù hợp hơn với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Thách thức: Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế. Cải cách hành chính còn chậm. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ. Quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm minh. Một số loại thị trường chậm hình thành và phát triển, vận hành còn nhiều vướng mắc, kém hiệu quả. Giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chưa được xác lập thật sự theo cơ chế thị trường. Thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều bất cập. Bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng. Xóa đói, giảm nghèo còn chưa bền vững.

     

    3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém

     

    Thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Công tác phổ biến, quán triệt và tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN chưa được thực hiện

    thường xuyên, đầy đủ, sâu rộng. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân hiệu quả chưa cao, chưa nghiêm.

     

    Vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với sự phát triển của khu vực KTTN còn bất cập; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả, chậm đổi mới theo yêu cầu thực tiễn; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

     

    Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân còn thấp. Đội ngũ doanh nhân mới hình thành và đang trong quá trình phát triển, hạn chế về năng lực quản trị kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

     

    4. Kết luận

     

    Khu vực tư nhân đang ngày càng lớn mạnh về quy mô và tiềm lực, song vẫn cần không gian chính sách lớn hơn để thúc đẩy phát triển. Điều này càng quan trọng trong bối cảnh Nhà nước ngày càng giảm vai trò trong các hoạt động kinh tế. Tổng vốn đầu tư phát triển của khu vực nhà nước đã được kế hoạch hóa, ổn định trong chu kỳ 5 năm, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp ngày càng giảm và chủ trương sẽ tiếp tục giảm. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chủ động thoái vốn khỏi các doanh nghiệp.

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    Hội nghị Trung ương 5 Khóa 12 đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân với mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng lẫn tỷ trọng trong tổng sản phẩm nội địa. Đây sẽ là nền tảng quan trọng hiện thực hóa mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020.

     

    Tuy nhiên, với thực trạng của doanh nghiệp tư nhân hiện nay vẫn rất khó để khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững, trở thành động lực chính của nền kinh tế. Do đó, Nhà nước cần đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong mọi ứng xử đối với thị trường.

     

    Tập trung vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để tuyên truyền về chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân hoạt động một cách thực chất; thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Thông qua việc xây dựng cơ chế “một cửa điện tử”, thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý hồ sơ; hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính; giảm thời gian, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính.

     

    Vấn đề hiện nay không còn dừng lại

     

    • khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế nào mà cần nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế riêng, dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư

    liệu sản xuất. Vì vậy, điều quan trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần kinh tế và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh tế quốc tế giúp cho nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh.

     

    1. Kiến nghị chính sách

    5.1. Củng cố nền tảng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Điều này đã được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XII như là vấn đề căn cốt của quá trình cải cách thể chế kinh tế, giúp đem lại động lực phát triển mới của nước ta trong giai đoạn tới. Việt Nam đã cam kết thực hiện và đáp ứng các tiêu chí để được công nhận là nền KTTT đầy đủ; trong số đó có những tiêu chí phổ biến của một nền KTTT hiện đại, như không phân biệt đối xử; bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; thực hiện minh bạch trong chính sách… là những điều kiện nền tảng để khu vực KTTN phát triển. Tiến trình cải cách kinh tế trong nước phải nhằm bảo đảm những tiêu chí này để đồng bộ với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong hơn 30 năm đổi mới, việc hình thành và đa dạng hóa các hình thức sở hữu đã quy định các thành phần kinh tế tương ứng. Tuy nhiên, cần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại. Phải thực sự xác lập, thực thi phổ biến và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tư nhân về tài sản. Chỉ khi quyền sở hữu tư nhân

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    được tôn trọng và bảo vệ, các cá nhân mới có thể phát huy được các tiềm năng của mình, mới có thể tự do và độc lập trong việc tiến hành các hoạt động sản xuất, trao đổi nhằm tối đa hóa các lợi ích cá nhân.

     

    5.2. Thực hiện Nhà nước liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân

     

    Nhà nước liêm chính là nhà nước nói không với tham nhũng; có các quy định thưởng phạt nghiêm minh và đề cao ý thức thượng tôn pháp luật cho tất cả mọi người; từ đó thực sự tạo được niềm tin của người dân, của doanh nghiệp vào vai trò của Chính phủ trong điều hành đất nước. Cần ngăn chặn lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ chính sách ngay từ khi khởi xướng; cần xử lý một cách quyết liệt nạn tham nhũng, quan liêu – rào cản và gánh nặng chi phí đối với phát triển của khu vực KTTN; củng cố, xây dựng bộ máy, tuyển dụng người tài, rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để tránh chồng chéo, mâu thuẫn và gắn với cải cách hành chính.

     

    Cần áp dụng mạnh mẽ chính phủ điện tử và chính phủ số ở mọi lĩnh vực để giảm thiểu và hiện đại hóa thủ tục hành chính, hạn chế tham nhũng, tăng cường tính minh bạch trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách. Đây cũng là những biện pháp góp phần đẩy nhanh quá trình chính thức hóa nền kinh tế và thị trường lao động. Cần duy trì và nhân rộng các nỗ lực đó trên toàn quốc, đặc biệt ở những tỉnh nằm ngoài “cực tăng trưởng” và giúp trung hòa xu

    hướng doanh nghiệp thường tập trung ở những vùng trọng điểm [6].

     

    Định hướng cải cách thời gian tới là Chính phủ phải chuyển mạnh từ vai trò can thiệp trực tiếp sang quản lý và phục vụ phát triển [4], trong đó chú trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập các cơ hội kinh doanh và khởi nghiệp; thiết lập khuôn khổ pháp luật, chính sách và bộ máy thực thi nhằm bảo đảm các loại thị trường liên tục được hoàn thiện; bảo đảm sự minh bạch và có hiệu quả; đoạn tuyệt dứt khoát với cơ chế “xin – cho”.

     

    5.3. Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế tư nhân

     

    Các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đáp ứng được các điều kiện khắt khe để tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Do thiếu mối liên kết chặt chẽ nên hiệu ứng lan tỏa, nhất là lan tỏa về công nghệ, từ khu vực FDI sang khu vực trong nước rất hạn chế. Vì vậy, cần có các chính sách giúp tăng cường liên kết giữa các DNTN trong nước và khu vực nước ngoài sử dụng nhiều công nghệ. Để kết nối được với các tập đoàn đa quốc gia (TNC), trước mắt Việt Nam cần thúc đẩy các hoạt động phát triển công nghệ tầm trung phù hợp với trình độ phát triển hiện tại, như thiết lập các cụm liên kết ngành sản xuất linh kiện đòi hỏi quy mô đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công nghệ ở mức trung bình. Việt Nam cũng cần nắm bắt được làn sóng khởi nghiệp của các doanh nghiệp

     

    38

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    công nghệ và thúc đẩy các hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về vốn, rủi ro, nguồn nhân lực… để hiện thực hóa các ý tưởng của mình liên quan đến công nghệ và đổi mới sáng tạo [7].

     

    5.4. Phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp trong nông nghiệp và ở nông thôn

     

    Tầm quan trọng và tính nhạy cảm của khu vực nông nghiệp, nông thôn khiến vấn đề này tiếp tục chiếm vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn tới. Muốn tạo đột phá phát triển phải thoát ra khỏi tư duy của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, chuyển mạnh từ chỗ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang chú trọng chất lượng, giá trị và hiệu quả [4], chuyển từ mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chủ yếu ở quy mô hộ gia đình sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, dựa vào doanh nghiệp và trang trại, hoạt động theo cơ chế thị trường và đủ sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần chú trọng vai trò của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ xanh và công nghệ sạch trong việc nâng cao chất lượng và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp. Cần giải quyết một số “điểm nghẽn”, như các vấn đề về kết cấu hạ tầng, tích tụ, tập trung đất đai, phát triển nguồn nhân lực, hợp đồng sản xuất… thông qua những thay đổi chính sách để thu hút được nhiều

    đầu tư hơn từ khu vực KTTN vào khu vực nông nghiệp và nông thôn. Để làm được điều này, cần có sự tham gia tích cực của Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương, với vai trò điều phối, bảo lãnh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người nông dân để giúp tháo gỡ, xử lý những khó khăn mà cả hai bên khó vượt qua được.

     

    5.5. Phát triển nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp

     

    Trong thời gian qua, giáo dục đại học ở Việt Nam quá chú trọng đến các ngành, như kinh tế, tài chính, ngân hàng… khiến nhu cầu học các ngành này rất cao và học sinh rời xa các ngành khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng lao động đối với một số ngành thuộc nhóm công nghệ, kỹ thuật, cơ khí và các ngành liên quan đến toán học (STEM) ngày càng lớn, đặc biệt trong làn sóng khởi nghiệp ở lĩnh vực công nghệ hiện nay. Bởi vậy, cần đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó gắn giáo dục – đào tạo với hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp, có định hướng rõ rệt ưu tiên về chính sách và các nguồn lực cho các ngành STEM. Kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cho thấy, cần tạo dựng văn hóa sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hình thành ý chí tự thân lập nghiệp để sẵn sàng cho tương lai.

     

    39

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Văn phòng Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
    1. Nguyễn Xuân Thắng (2016), “Một số luận điểm mới về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị
    1. Phòng Thương mại và công nghiệp (2015), Điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Bộ Công thương, Hà Nội
    1. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2018), Báo cáo Kinh tế thế giới và Việt Nam 2016 – 2017
    1. Tổng cục Thống kê (2018), Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội năm 2017
    1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
    1. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (2018), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân

    ROLE OF PRIVATE INVESTMENT

     

    IN THE ECONOMIC GROWTH OF VIETNAM

     

    ABSTRACT

     

    The great achievements of socio-economic development of our country over the past 30 years have been results of a significant contribution from the private sectors. From these lively practices, the Party Congress XII in 2016 affirmed: “The private sector of economy is playing an important driving force” of the socialism-oriented market economy.

     

    The 5th Conference’s resolution of the 12th Party Central Committee (June 2017) has been put forward for the goals of developing the private economy to become an important driving force in the socialism-oriented market economy; getting private economy to grow fast and sustainably along high growth rates in terms of quantity, size, quality and proportion in the gross domestic product (GDP). The resolution is considered a new step creating a driving force for the development of the private sector and the entire economy. This is a source of encouragement for entrepreneurship, innovation and creativity; and it also creates vitality and breakthrough for a thriving development of our country in the coming period.

     

    Keywords: Private economy (PE), economic growth, Dong Nai

     

    (Received: 1/12/2018, Revised: 15/2/2019, Accepted for publication: 7/5/2019)

     

    40


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]