Category: Thương Mại – Marketing

  • ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%81P-D%E1%BB%A4NG-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-X%E1%BA%BEP-H%E1%BA%A0NG-CAMELS-%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-2008-2012.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

    ÁP DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2012

     

    Nguyễn Thị Diễm Hiền*

     

    Trần Thanh Vũ**, Nguyễn Thị Ngọc Chung***

     

    TÓM TẮT

     

    Sau khi Pháp lệnh ngân hàng (1990) ra đời, nhiều Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định, dần khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã buộc các Ngân hàng phải nhìn nhận lại hoạt động của mình trong vai trò là một trung gian tài chính. Nhiều ngân hàng Việt nam trong giai đoạn này đã bộc lộ những điểm yếu trong hoạt động của mình, dẫn đến việc buộc phải tái cấu trúc. Để gia tăng hiệu quả hoạt động cho các Ngân hàng thương mại Việt nam, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành rất nhiều văn bản quy định về những tiêu chí mà NHTM phải đáp ứng, kể cả việc hướng dẫn sử dụng Bộ chỉ số lành mạnh theo tiêu chuẩn IMF. Các chỉ tiêu này cho thấy được hoạt động tài chính của NHTM nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau. Cho đến thời điểm này, các NHTM Việt nam vẫn công bố thông tin liên quan đến các chỉ tiêu tài chính, tuy nhiên vẫn chưa có sự kết hợp các chỉ tiêu này trong việc đánh giá hoạt động của các NHTM. Từ thực tế đó, chúng tôi đã áp dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá hoạt động của các NHTM Việt nam giai đoạn 2008 – 2012 dựa trên các tỷ số đo lường hiệu quả. Khung phân tích CAMELS bao gồm các yếu tố an toàn vốn (C), chất lượng tài sản (A), trình độ quản lý (M), tỷ lệ sinh lời (E), thanh khoản (L) và độ nhạy thị trường (S).

     

    Từ khóa: CAMELS, ngân hàng thương mại

     

    APPLICATION OF CAMELS RATING SYSTEM TO EVALUE THE OPERATION OF VIETNAM COMMERCIAL BANKSIN 2008-2012

     

    ABSTRACT

     

    After the Bank Ordinance was adoptted in 1990, many commercial banks have been established and they put an important role in the socio-economic development of the country. However, the global inancial crisis in 2008 caused banks activities have been reconsidered. In Vietnam, to strengthen the operational eficiency of commercial banks, the State Bank of Vietnam has promulgated not only a lot of criteria for commercial banks but IMF’s healthy standard index. These indicators show many different aspects of banks’ inancial activities. However, the SBV announced the ranking of banks according to their competitiveness, but not according to the

     

    • Khoa TCNH, Trường ĐH Kinh tế – Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM

     

    • Khoa KTTCNH, Trường ĐH Kinh tế – Kỹ Thuật Bình Dương

     

    • Khoa TCNH, Trường ĐH Văn Lang, TP.HCM

     

     

    34

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    standard evaluation indicators for healthy banks. Vietnam’s banks have shown information relating to the inancial criteria, but there is no combination of indicators to assess the performance of commercial banks. This study uses CAMELS rating system as a basis for assessing the differences between banks. CAMELS factors are including capital adequacy (C), asset quality (A), management (M), earnings (E), liquidity (L) and market sensitivity (S) .

     

     

    Key words: CAMELS, banks

     

    1.   MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

     

    Trong những năm 1980, lần đầu tiên các cơ quan giám sát ở Mỹ đã sử dụng hệ thống đánh giá CAMEL để xếp hạng cho các tổ chức ngân hàng ở các cuộc kiểm tra trên web. Khái niệm CAMEL đã giới thiệu một hệ thống thống nhất cho việc đánh giá một ngân hàng tại Mỹ. Nó đánh giá theo những tiêu chí nhất định được viết tắt bởi chữ cái đầu tiên của các cụm từ:

     

    • Capital Adequacy: Mức độ an toàn vốn,

     

    • Asset Quality: Chất lượng tài sản,

     

    • Management competence: Trình độ Ban quản lý,

     

    • Earnings strength: Lợi nhuận,

     

    • Liquidity risk: Rủi ro thanh khoản

     

    Hệ thống này được sử dụng bởi ba cơ quan giám sát ở Mỹ là Hệ thống dự trữ liên bang, Văn phòng Kiểm soát tiền tệ (OCC) và Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC). Năm 1996, trong một nỗ lực để làm cho hệ thống đánh giá rủi ro tập trung hơn, một thành phần thứ sáu liên quan đến sự nhạy cảm với rủi ro thị trường “S” (Sensitivity to market risk) đã được thêm vào đánh giá CAMEL, thay thế CAMEL thành CAMELS.

     

    Ở nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu về CAMEL như R. Alton Gilbert, Andrew P. Meyer và Mark D. Vaughan (2002) cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L. Kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín

     

    dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản. Nghiên cứu của Christine Brown và Kevin Davis (2008) về quản lý vốn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Australia giai đoạn 1991-2004, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ an toàn vốn càng cao thì sự lành mạnh trong kinh doanh của ngân hàng càng lớn, tỷ suất sinh lời trên tài sản càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, quản lý vốn hiệu quả sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh cao hơn, dẫn đến khả năng tài chính phát triển tốt hơn. Mihir Dash và Annyesha Das (2013) lại sử dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong nghiên cứu về các ngân hàng Ấn Độ qua so sánh các chỉ tiêu giữa NH thuộc sở hữu nhà nước với NH thuộc sở hữu tư nhân và NH nước ngoài, kết quả cho thấy khối NH tư nhân và NH nước ngoài được xếp hạng cao hơn các NH thuộc sở hữu nhà nước.

     

    • Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu sử dụng hệ thống xếp hạng CAMELS trong đánh giá hoạt động của các tổ chức tín dụng như Nguyễn Văn Đông (2011) trong Luận văn Thạc sỹ Kinh tế “Đánh giá hoạt động các tổ chức tín dụng bằng phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp thành phần chính theo các chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS”, tác giả đã đưa ra được các tiêu chí từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại

     

     

    35

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    • phần đánh giá năng lực tài chính. Một số bài báo khác có đề cập đến CAMELS nhưng cũng chỉ dừng ở việc so sánh các NHTM Việt nam với nhau trong một năm nào đó mà không đánh giá cho hệ thống Ngân hàng.

     

    2.           NGUỒN DỮ LIỆU VÀ CÁC TIÊU CHÍ SỬ DỤNG CHO HỆ THỐNG XẾP HẠNG CAMELS

    Nghiên cứu được thực hiện dựa trên

     

    Bảng 1: Các tiêu chí CAMELS

    nguồn dữ liệu tập hợp từ Báo cáo thường niên của 40 NHTM Việt Nam trong 5 năm, từ năm 2008 đến 2012. Tuy nhiên một số ngân hàng chỉ có số liệu một vài năm nên chúng tôi chỉ sử dụng số liệu của 21 ngân hàng có số liệu đầy đủ nhất (Xem phụ lục 1)

     

    Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn các tiêu chí cho hệ thống xếp hạng CAMELS để đưa vào phân tích như sau:

     

     

    Tiêu chí

    Ý nghĩa

    Công thức

    Mức độ an toàn vốn

    Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ

    CAR = Vốn tự có / Tổng tài

    (C-CAPITAL)

    cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân

    sản có rủi ro quy đổi

     

    hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi

     
     

    phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của

     
     

    ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan

     
     

    đến mức độ rủi ro cao hơn

     
         

    Chất lượng tài sản

    Chất lượng tài sản là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất

    Dư nợ / Tổng tài sản

    (A-ASSETS)

    lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh

    Nợ xấu / Tổng dư nợ

     

    lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng.

     
     

    Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập

     
     

    trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm

     
     

    bảo an toàn vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng

     
     

    tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân

     
     

    hàng hoạt động an toàn

     
         

    Chất lượng quản

    Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt

    Chi phí hoạt động/Tổng tài

    lý . (M-

    động thống nhất, phối hợp và liên kết các quá

    sản

    -MANAGEMENT)

    trình lao động của các cán bộ nhân viên từ các

     
     

    phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng,

     
     

    nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh ở mỗi thời kỳ

     
     

    đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về

     
     

    nguồn lực

     
         

    Khả năng sinh lời

    Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động,

    Lợi nhuận / Tổng tài sản có

    (E-EARNINGS)

    đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát

    Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu

     

    triển của một NHTM

    Thu nhập lãi ròng/Tổng tài

       

    sản sinh lời

         

    Khả năng

    Những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh khoản

    Tiền mặt và tiền gửi tại

    thanh khoản

    là biểu hiện của tình trạng không lành mạnh, ngân

    TCTD khác / Tổng Tài sản

    (L-LIQUIDITY)

    hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy cơ

    Trạng thái tiền mặt và cấu

     

    bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn

    trúc tiền gửi

     

    có thể làm sụp đổ ngân hàng và tác động xấu đến

    Dư nợ cho vay / Tổng tiền

     

    cả hệ thống

    gửi

         

    Mức độ nhạy cảm

    Các tài sản của ngân hàng đều có liên quan đến

    Tài sản nhạy cảm lãi suất /

    với rủi ro thị trường

    rủi ro thị trường ở các mức độ khác nhau. Nếu

    Nợ nhạy cảm lãi suất

    (S-SENSITIVITY)

    trong cơ cấu tài sản của ngân hàng có một tỷ lệ

     
     

    lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố này thì

     
     

    có thể báo hiệu một khả năng dễ tổn thương của

     
     

    ngân hàng đó

     
         
       

    (Nguồn: Tác giả tổng hợp)

     

     

    36

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    3.           KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    • An toàn vốn (C)

     

    Để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vốn theo thông lệ Basel II, Ngân hàng nhà nước (NHNN)

     

    đã yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng bắt đầu thực hiện từ năm 2007 và hạn chót là hết năm 2011.

     

    Bảng 2: Vốn điều lệ bình quân của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

     

    Năm

     

    2008

    2009

       

    2010

         

    2011

     

    2012

    Trung bình

     

    3.679.253

    4.401.691

       

    5.872.425

       

    7.019.720

     

    8.576.654

    Số quan

     

    21

    21

       

    21

         

    21

     

    21

                                 

    sát

                                 

    MAX

     

    12.100.860

    12.100.860

       

    15.172.291

     

    20.229.722

     

    26.217..545

    MIN

     

    500.000

    1.000.000

       

    1.500.000

       

    1.500.000

     

    2.980.571

             

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

    Qua số liệu trên ta thấy trong giai đoạn

    20.000 tỷ đồng. Như vậy, quy mô vốn của các

    2008 – 2012 các NHTM Việt Nam đã có vốn

    NHTM chỉ gần bằng 50% so với mức khung

    điều lệ không ngừng tăng. Tuy nhiên, cho đến

    an toàn CAMELS đưa ra, ngoại trừ các ngân

    năm 2012, tổng quy mô vốn của các NHTM

    hàng Vietinbank (26.217.545 triệu đồng),

    Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với chuẩn quy

    Vietcombank  (23.174.171  triệu  đồng)  và

    định. Quy mô vốn trung bình năm 2012 của

    BIDVbank (23.174.171 triệu đồng) (Nguồn:

    các ngân hàng là 8.576.654 triệu đồng trong

    BCTC của các NHTM)

       

    khi khung an toàn CAMELS quy định là

                     

    Bảng 3: CAR của một số NHTM Việt Nam từ 2008-2012

             

    STT

       

    Ngân hàng

     

    2008

       

    2009

     

    2010

     

    2011

       

    2012

                               

    1

     

    Vietcombank

     

    8,90%

       

    8,11%

     

    9%

     

    11,14%

     

    14,83%

    2

       

    Vietinbank

     

    12,02%

       

    8,06%

     

    8,02%

     

    10,57%

     

    10,33%

    3

       

    Sacombank

     

    12,16%

       

    11,41%

     

    9,97%

     

    11,66%

     

    9,53%

    4

       

    Đông Á

     

    11,30%

       

    10,64%

     

    10,84%

     

    10,01%

     

    10,85%

    5

       

    Eximbank

     

    45,89%

       

    26,87%

     

    17,79%

     

    12,94%

     

    16,38%

    6

     

    Techcombank

     

    13,99%

       

    9,60%

     

    13,11%

     

    11,43%

     

    12,60%

    7

       

    MB

     

    12%

       

    12,00%

     

    12,90%

     

    9,59%

       

    11,15%

    8

       

    Oceanbank

     

    18,57%

       

    9,59%

     

    9,48%

     

    11,74%

     

    10,36%

    9

       

    PGbank

     

    26,90%

       

    12,90%

     

    20,60%

     

    16,70%

     

    22,60%

         

    Trung bình

     

    23,71%

       

    14,42%

     

    13,05%

     

    13,47%

     

    16,56%

         

    Số quan sát

     

    10

       

    14

     

    12

     

    13

       

    12

         

    MAX

     

    75%

       

    35%

     

    21%

     

    22,83%

     

    42%

         

    MIN

     

    8,9%

       

    8,06%

     

    8,02%

     

    9,59%

       

    9,53%

       

    Độ lệch chuẩn

     

    0,21151

       

    0,08243

     

    0,04480

     

    0,04360

     

    0,09298

         

    Phương sai

     

    0,04473

       

    0,00680

     

    0,00201

     

    0,00190

     

    0,00865

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

    37

     

     

    khi đó, tốc độ tăng vốn tự có của các NHTM lại không theo kịp tốc độ mở rộng tổng tài sản dẫn đến hiện tượng hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng có xu thế giảm, đặc biệt trong năm 2010 và 2011. Đây là dấu hiệu cảnh báo về mức độ rủi ro của tài sản mà các ngân hàng cần chú ý điều tiết phù hợp với lợi nhuận.

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Phần lớn các NHTM đã hoàn thành chỉ tiêu về tỷ lệ an toàn vốn theo qui định của NHNN là 9%. Tuy nhiên, CAR có dấu hiệu giảm nếu xét từ năm 2008 trở lại đây. Lý do chính là tổng tài sản ngân hàng đã gia tăng nhanh chóng so với tốc độ tăng của vốn tự có. Giai đoạn từ năm 2008 các NHTM có sự mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản, trong

     

    3.2. Chất lượng tài sản (A)

     

    Bảng 4: Tỷ lệ nợ xấu bình quân của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

       

    Năm

     

    2008

     

    2009

     

    2010

     

    2011

     

    2012

     
                                   
     

    Trung bình

     

    2,37%

     

    1,64%

     

    1,85%

     

    1,90%

     

    3,64%

     
                                     
     

    Số quan sát

     

    17

       

    21

     

    20

     

    18

     

    18

     
                                   
       

    MAX

     

    4,71%

     

    3,09%

     

    9,57%

     

    2,96%

     

    8,83%

     
                                   
       

    MIN

     

    0,60%

     

    0,01%

     

    0,34%

     

    0,58%

     

    1,09%

     
                                   
     

    Độ lệch chuẩn

     

    0,0126

     

    0,0091

     

    0,0195

     

    0,0069

     

    0,0234

     
                                   
     

    Phương sai

     

    0,0002

     

    0,0001

     

    0,0004

     

    0,0000

     

    0,0005

     
                                 
                 

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

    Tỷ lệ nợ xấu tương đối ổn định trong giai

     

    giải thích là hệ thống ngân hàng Việt Nam

    đoạn 2009-2011, nhưng lại tăng đột biến vào

     

    đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn khi

    năm 2012. Tỷ lệ nợ xấu theo quy định quốc tế

     

    doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản ngày

    ở mức 1,5%, còn theo quy định của NHNN thì

     

    càng tăng. Tuy nhiên, điều đáng nói là chất

    tỷ lệ nợ xấu ở mức 2%, như vậy tỷ lệ nợ xấu

     

    lượng những con số thống kê về tình hình nợ

    của các NHTM Việt nam đã vượt mức quy

     

    xấu do các NHTM công bố nếu như phân loại

    định, đặc biệt năm 2012 đã vượt so với quy

     

    theo chuẩn mực quốc tế thì sẽ ở mức cao hơn

    định quốc tế hơn 2 lần. Nguyên nhân được

     

    con số công bố hiện nay rất nhiều.

    Bảng 5: Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM năm 2012

               

    STT

     

    Ngân hàng

     

    Tỷ lệ nợ

     

    STT

    Ngân hàng

    Tỷ lệ nợ xấu

     
             

    xấu (%)

               

    (%)

     

    1

     

    Vietcombank

       

    2,4%

     

    10

     

    HD bank

    2,35%

     
                           

    2

     

    Vietinbank

       

    1,47%

     

    11

     

    Phương Nam

    3,02%

     
                             

    3

     

    BIDV

       

    2,92%

     

    12

       

    SHB

    8,83%

     
                           

    4

     

    Sacombank

       

    2,05%

     

    13

     

    Navibank

    5,64%

     
                           

    5

     

    Đông Á

       

    3,95%

     

    14

     

    Ocean bank

    3,52%

     
                           

    6

     

    Eximbank

       

    1,32%

     

    15

     

    PG bank

    8,44%

     
                           

    7

     

    ACB

       

    2,50%

     

    16

     

    Westernbank

    7,26%

     
                           

    8

     

    Techcombank

       

    2,7%

     

    17

     

    Liên Việt

    2,71%

     
                             

    9

     

    MB

       

    1,09%

     

    18

       

    MDB

    3,46%

     
                           
                 

    (Nguồn: tính toán từ BCTC của các NHTM Việt Nam)

     

     

    38

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Một số NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao như Phương Nam, SHB, Navibank, Ocean bank, PG bank, Westernbank, MDB. Phần lớn các NH này tập trung vào nhóm NH có tính cạnh tranh thấp, quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu nhỏ. Bên cạnh đó, chất lượng các khoản vay bị sụt giảm nên các ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên mức trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD Việt Nam còn quá thấp so với các

    quốc gia khác trên thế giới. Phần trăm tỷ lệ trích lập dự phòng của Việt Nam chỉ là 47,85% trong khi của Hàn Quốc là 111,2%, của Trung Quốc là 230,2% (Tô Ngọc Hưng, 2012).Tỷ lệ trích lập dự phòng quá thấp của các TCTD Việt Nam sẽ làm cho hệ thống ngân hàng nhạy cảm với những bất ổn kinh tế trên thế giới nói chung và bất ổn kinh tế của Việt Nam nói riêng, nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến mất thanh khoản của hệ thống ngân hàng sẽ xảy ra.

     

     

    3.3. Chất lượng quản lý (M)

     

    Bảng 6: Chỉ số hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    Trung bình

    1,51%

    1,32%

    1,25%

    1,66%

    2,03%

    Số quan sát

    20

    21

    21

    21

    21

    MAX

    2,56%

    1,86%

    1,96%

    2,66%

    4,98%

    MIN

    0,65%

    0,58%

    0,43%

    0,94%

    0,94%

    Độ lệch chuẩn

    0,00411

    0,00357

    0,00392

    0,00513

    0,00927

    Phương sai

    0,00002

    0,00001

    0,00002

    0,00003

    0,00009

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

    Ta thấy giai đoạn 2008-2010 chỉ số hoạt động có xu hướng giảm, thời kỳ này chất lượng quản lý tốt, nhưng lại tăng mạnh ở giai đoạn 2011-2012 từ 1,66% lên 2,03%. Như vậy các NHTM đã phải bỏ ra nhiều chi phí hơn trong năm 2012 nhưng hiệu quả lại thấp hơn so với những năm trước đó, cụ thể là ROA trung bình đã giảm từ 1,34% xuống 0,86%. Chất lượng quản lý đã giảm so với những năm trước.

     

    Chi phí hoạt động của các NHTM nhìn chung đều tăng trong năm 2012 mặc dù các ngân hàng đã có ý định cắt giảm chi phí. Theo BCTC của các NHTM chi phí lương và các chi phí liên quan đến nhân viên chiếm đến 50% tổng chi phí hoạt động. Điều này đi ngược lại với xu hướng toàn cầu. Chi phí hoạt động tăng do các khách hàng luôn yêu cầu ngân

    hàng cung cấp nhiều sản phẩm, chất lượng dịch vụ tốt hơn cùng nhiều khuyến mãi và ưu đãi. Hơn nữa, khi tình hình kinh tế đang phục hồi dần, các khách hàng kinh doanh đang bắt đầu tiếp tục vay để mở rộng hoạt động. Vì vậy, các ngân hàng trong nước đang chịu áp lực mở rộng phạm vi hoạt động và cải thiện dịch vụ khách hàng. Thêm vào đó, các ngân hàng nước ngoài cũng đang giành được nhiều thị phần tại thị trường tài chính ngân hàng vốn đã rất cạnh tranh. Các NHTM trong nước phải tìm con đường tăng thị phần một cách nhanh nhất bằng cách tăng số lượng chi nhánh và phòng giao dịch, do đó dẫn đến tăng số nhân viên và các chi phí quản lý.

     

    Để phát triển bền vững, đã đến lúc hệ thống các NHTM cần chú trọng nhìn lại việc

     

     

    39

     

     

    3.4. Khả năng sinh lời (E)

    • Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    giải bài toán giảm chí phí trong hệ thống quản lý của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như tăng năng lực cạnh tranh của mình trong xu hướng hội nhập hiện nay.

     

    Biểu đồ 1: Biến động ROA, ROE trung bình của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    (Nguồn: tính toán từ BCTC của các NHTM)

     

     

    Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) bình quân và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân của các NHTM Việt Nam có xu hướng tăng từ 2009-2011 và năm 2012 có xu hướng giảm. Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản tăng đều qua các năm nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm, đây là dấu hiệu cho

     

    • NIM

     

    thấy tính cạnh tranh ngày càng cao của ngành ngân hàng. Theo mức chuẩn đưa ra thì ROA trên 1% và ROE từ 15% trở lên là đạt yêu cầu, như vậy giai đoạn 2008-2011 các NHTM đều đảm bảo được yêu cầu, tuy nhiên năm 2012 có sự sụt giảm mạnh và một số ngân hàng không đảm bảo so với yêu cầu CAMELS.

     

     

    Bảng 7: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên các NHTM Việt Nam năm 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    Trung bình

    2,77%

    2,51%

    2,40%

    3,54%

    3,41%

    Số quan sát

    20

    21

    21

    21

    21

    MAX

    6,56%

    6,83%

    3,50%

    7,88%

    8,22%

    MIN

    0,46%

    1,15%

    0,52%

    0,24%

    -0,38%

    Độ lệch chuẩn

    0,01686

    0,01269

    0,00696

    0,01573

    0,01799

    Phương sai

    0,00028

    0,00016

    0,00005

    0,00025

    0,00032

     

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

     

     

     

    40

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Một số điểm nổi bật:

     

    • NIM ở các NHTM tăng nhẹ.

     

    • Chỉ có duy nhất một ngân hàng (Phương Nam) có thu nhập ròng từ lãi âm. (-0,38%)

     

    • Ngân hàng Phát triển Mê Kông (MDB) có NIM cao nhất trong cả hai năm 2011 và 2012 (lần lượt là 7,88% và 8,22%).

     

    • Các ngân hàng nhỏ có xu hướng có NIM cao hơn.

     

    Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là một thước đo quan trọng để đánh giá tình hình kinh doanh của một ngân hàng, đặc biệt là về khả năng sinh lời. NIM năm 2012 thấp hơn so

     

    3.5. Khả năng thanh khoản (L)

     

    • Trạng thái tiền mặt và cấu trúc tiền gửi

    với năm 2011 và NIM của những ngân hàng nhỏ hơn tuy cao hơn nhưng cũng kém ổn định hơn. Điều này có nguyên nhân sâu xa là các ngân hàng lớn thường khắt khe hơn khi phê duyệt tín dụng trong khi các ngân hàng nhỏ hơn hướng đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, bán lẻ và có thể chấp nhận rủi ro cao hơn. Đồng thời, lãi suất tiền gửi trong toàn ngành ngân hàng tương đối đồng đều vì NHNN gần đây đã quy định mức trần của lãi suất tiền gửi (14% trong năm 2012 và giảm xuống còn 7% trong năm 2013)

     

     

    Bảng 8: Trạng thái tiền mặt và cấu trúc tiền gửi của các NHTM Việt Nam năm 2008-2012

     

     

    Tiền và tiền gửi TCTD khác/ Tổng tài sản

     

    Năm

    2008

    2009

     

    2010

    2011

     

    2012

    Trung bình

    24,33%

    22,74%

     

    23,86%

    26,14%

     

    11,95%

    Số Ngân hàng

    20

    21

     

    21

    21

     

    21

    MAX

    39,78%

    59,58%

     

    49,76%

    69,47%

     

    33,04%

    MIN

    10,26%

    0,25%

     

    10,88%

    8,33%

     

    1,23%

    Độ lệch chuẩn

    0,08983

    0,14033

     

    0,09611

    0,14116

     

    0,08272

    Phương sai

    0,00807

    0,01969

     

    0,00924

    0,01993

     

    0,00684

     

    Tiền gửi không kỳ hạn / Tiền gửi có kỳ hạn

     

    Trung bình

    134,52%

    52,41%

     

    36,81%

    46,64%

     

    40,83%

    Số Ngân hàng

    17

    17

     

    18

    17

     

    16

    MAX

    1490,36%

    173,39%

     

    121,53%

    286,58%

     

    199,94%

    MIN

    2,32%

    6,31%

     

    0,92%

    3,06%

     

    2,00%

    Độ lệch chuẩn

    3,5382921

    0,4613626

     

    0,3646748

    0,7316020

     

    0,5183964

    Phương sai

    12,519517

    0,2128554

     

    0,1329877

    0,5352415

     

    0,2687348

       

    (Nguồn: tính toán của tác giả từ BCTC của các NHTM)

    Nhìn vào bảng ta thấy giai đoạn 2010-

    chạy đua lãi suất và đặt trần huy động áp dụng

    2011 tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tiền gửi có

    cho tất cả các NHTM, khuyến khích người

    kỳ hạn tăng nhanh rồi giảm nhẹ còn 40,83%

    dân tăng gửi tiền tiết kiệm dài hạn. Vì vậy

    vào năm 2012. Cùng lúc đó tỷ số về trạng thái

    tình hình thanh khoản năm 2012 được giãn ra,

    tiền mặt tăng cao vào năm 2011 tương ứng

    tiền và tương đương tiền của các NHTM giảm

    26,14% và giảm mạnh còn 11,95% năm 2012.

    dần, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn/tiền gửi có kỳ

    Năm 2012 với nỗ lực kiềm chế lạm phát và

    hạn nhìn chung cũng giảm theo.

    ổn định thị trường tiền tệ, NHNN ra lệnh cấm

             

    41

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    • Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi

    Bảng 9: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi của các NHTM Việt Nam 2008-2012

     

    Năm

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

               

    Trung bình (lần)

    1,0776

    1,0408

    0,8679

    0,8784

    1,2435

               

    Số Ngân Hàng

    17

    21

    20

    19

    18

               

    MAX

    2,92

    3,39

    2,28

    3,04

    3,44

               

    MIN

    0,42

    0,24

    0,21

    0,35

    0,50

               

    Độ lệch chuẩn

    0,64394

    0,78305

    0,47892

    0,58122

    0,98157

               

    Phương sai

    0,41466

    0,61317

    0,22936

    0,33782

    0,96348

               

    (Nguồn: tính toán của tác giả)

     

     

    Qua số liệu cho thấy tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi đã giảm dần trong giai đoạn 2008-2011, và tăng nhẹ trở lại vào năm 2012. Điều này cũng phù hợp với giai đoạn hiện nay khi mà chi phí bỏ ra lớn nhưng hiệu quả kinh doanh giảm, rủi ro tín dụng gia tăng đáng kể, nếu ngân hàng mạo hiểm cho vay tăng thì tính thanh khoản sẽ giảm thậm chí mất khả năng thanh toán dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng đều cho vay vượt khung an toàn CAMELS.

     

    3.6. Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường

     

    Năm 2008 là một năm đáng nhớ trong hoạt động NH với nhiều biến số kinh tế thay đổi trái chiều, trong đó có sự thay đổi của chính sách tiền tệ từ định hướng linh hoạt và thắt chặt đầu năm chuyển sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm, đi cùng với quá trình này là tần suất cao của sự điều chỉnh công cụ điều hành chính sách tiền tệ, tập trung

     

    • các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… lãi suất cơ bản thay đổi liên tục làm cho lãi suất huy động tăng lên 12,7%/năm, lãi suất cho vay là 15,8% rồi giảm xuống còn 7,95% đối với huy động và 10,10% đối với cho vay.

     

    Từ cuối năm 2011 và suốt năm 2012 nền

    kinh tế bắt đầu không thể hấp thụ nguồn vốn với lãi suất cao, yêu cầu đăt ra cho NHNN là phải giảm ngay lãi suất để cứu các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đứng bên bờ vực phá sản vì phải gồng mình gánh mức lãi suất cao trong những năm qua. Trước tuyên bố sẽ cắt giảm lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát trong thời gian tới của NHNN, cộng thêm tình hình vốn dồi dào của các NHTM, thanh khoản không còn căng thẳng như trong giai đoạn trước làm cơ sở vững chắc cho một nửa số NH duy trì mức chênh nhạy cảm lãi suất âm. Bên cạnh đó số NH còn lại đã kì vọng rằng những biện pháp của NHNN chỉ nhằm xoa dịu thị trường trong ngắn hạn và tin rằng cuối năm lãi suất sẽ quay đầu tăng trở lại, chính vì vậy mà các NH này đã duy trì mức chênh nhạy cảm lãi suất dương.

     

    1. KẾT LUẬN

    Các NHTM Việt nam đã và đang dần có những chuyển biến tích cực để quản lý hoạt động của mình hướng đến sự lành mạnh hơn về tài chính. Trong 5 năm từ 2008 đến 2012, các NHTM đã tăng lên về quy mô Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn tăng lên. Tuy nhiên, nợ xấu của hệ thống NHTM cũng tăng lên cho thấy việc quản lý chất lượng

     

     

    42

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    tài sản chưa tốt. Bên cạnh đó, thanh khoản của các NHTM cũng là vấn đề cần phải xem xét và xây dựng một chính sách quản lý thanh khoản hiệu quả hơn. Để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong xu thế hội nhập, các NHTM Việt nam cần chú trọng hơn

     

    vào công tác quản lý của mình: cơ cấu danh mục tài sản hợp lý, chú trọng tính an toàn về thanh khoản, kiểm soát tốt chi phí, từ đó mới có thể nâng cao hiệu quả trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTM năm 2008-2012

     

    • Christine Brown và Kevin Davis (2008), Capital management in mutual inancial institutions, Journal of Banking & Finance 33, pp 443–455.
    • Nguyễn Văn Đông (2011). Đánh giá hoạt động các tổ chức tín dụng bằng phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp thành phần chính theo các chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
    • Tô Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Trung (2012). Hoạt động ngân hàng Việt Nam -Nhìn lại năm 2011 và một số giải pháp cho năm 2012, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hảng số 118 quý I năm 2012, trang 6.

     

    • Mihir Dash và Annyesha Das (2013 ). Performance Appraisal of Indian

    Banks Using CAMELS Rating. The IUP Journal of Bank Management, Vol. XII, No. 2, 2013, p31-42

     

    • Nimalathasan B. (2008). A Comparative Study of Financial Performance of Banking Sector in Bangladesh – an Application of CAMELS Rating System. Annals of University of Bucharest, Economic and Administrative series, nr. 2 (2008), p141-152.

     

    • Alton Gilbert, Andrew P. Meyer, and Mark D. Vaughan (2002), The Federal Reserve Bank of St. Louis.

     

    • Seema Mishra, Kirti Agarwal (2013). Measuring performance of banks using camels model: a comparative study of CBI and IB. International journal of management research and review, May

    2013, Volume 3,Issue 5,Article No-11/2914-2922 ISSN: 2249-7196. www.sbv.gov.vn [9].http://vfpress.vn/threads/nhtm-nao-an-toan-nhat-viet-nam-theo-mo-hinh-camels.3935/ www.fedpatrnership.go

     

     

    43

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Phụ lục 1: DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG SỬ DỤNG CHO NGHIÊN CỨU

     

    Số TT

    Tên Ngân hàng

    Viết tắt

         

    1

    NH TMCP Ngoại thương Việt nam

    Vietcombank

         

    2

    NH TMCP Công thương Việt nam

    Vietinbank

         

    3

    NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam

    BIDV

         

    4

    NH TMCP Sài gòn Thương tín

    Sacombank

         

    5

    NH TMCP Đông Á

    Đông Á

         

    6

    NH TMCP Xuất nhập khẩu Việt nam

    Eximbank

         

    7

    NH TMCP Á Châu

    ACB

         

    8

    NH TMCP Sài Gòn công thương

    SG công thương

         

    9

    NH TMCP Kỹ thương Việt Nam

    Techcombank

         

    10

    NH TMCP Quân đội

    MB

         

    11

    NH TMCP Quốc tế Việt Nam

    VIB

         

    12

    NH TMCP Phát triển Tp.HCM

    HD bank

         

    13

    NH TMCP Phương Nam

    Phương Nam

         

    14

    NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội

    SHB

         

    15

    NH TMCP Nam Việt

    Navibank

         

    16

    NH TMCP Đại Dương

    Oceanbank

         

    17

    NH TMCP Xăng dầu Petrolimex

    PG bank

         

    18

    NH TMCP Phương Tây

    Western bank

         

    19

    NH TMCP Bưu điện Liên Việt

    Liên Việt

         

    20

    NH TMCP Phát triển Mê Kông

    MDB

         

    21

    NH TMCP Bảo Việt

    Bảo Việt

         

    44

     

    Áp dụng hệ thống . . .

     

    Phụ lục 2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CÁC NGÂN HÀNG NĂM 2012

     

     

    VCSH

    Nợ xấu/Dư

    Chi phí hoạt

    NIM

    Dư nợ/Tiền gửi

     

    (triệu đồng)

    nợ

    động/TTS

     

    khách hàng

               

    Vietcombank

    41.553.063

    2,40%

    1,45%

    2,64%

    0,8087

               

    Vietinbank

    33.624.531

    1,47%

    1,87%

    3,66%

    1,0785

               

    BIDV

    26.494.446

    2,92%

    0,94%

    1,90%

    1,0098

               

    Sacombank

    13.698.739

    2,05%

    2,73%

    4,27%

    3,4380

               

    Đông Á

    6.104.191

    3,95%

    1,98%

    3,60%

    0,9587

               

    Eximbank

    15.801.463

    1,32%

    1,35%

    2,87%

    0,7269

               

    ACB

    12.624.452

    2,50%

    2,42%

    3,90%

    3,4343

               

    SG công thương

    3.539.465

    N/A

    2,58%

    6,51%

    N/A

               

    Techcombank

    13.289.576

    2,70%

    1,83%

    2,84%

    0,5401

               

    MB

    12.863.906

    1,09%

    1,54%

    3,76%

    0,5549

               

    VIB

    8.371.463

    N/A

    2,79%

    4,60%

    N/A

               

    HD bank

    5.393.746

    2,35%

    1,51%

    1,61%

    0,5595

               

    Phương Nam

    4.335.768

    3,02%

    0,94%

    0,38%

    0,7506

               

    SHB

    8.967.511

    8,83%

    1,44%

    1,61%

    1,2315

               

    Navibank

    2.980.571

    5,64%

    3,01%

    3,39%

    1,0498

               

    Oceanbank

    4.002.916

    3,52%

    1,08%

    2,51%

    0,4953

               

    PG bank

    3.000.000

    8,44%

    2,89%

    5,09%

    1,1179

               

    Western bank

    3.002.000

    7,26%

    1,88%

    2,33%

    3,0649

               

    Liên Việt

    6.523.331

    2,71%

    1,56%

    3,69%

    0,5494

               

    MDB

    3.750.000

    3,46%

    4,98%

    8,22%

    1,0139

               

    Bảo Việt

    3.000.000

    N/A

    1,88%

    2,99%

    N/A

               

    45


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-C%E1%BA%A6N-B%C3%80N-V%E1%BB%80-C%C4%82N-C%E1%BB%A8-T%C3%8DNH-THU%E1%BA%BE-THEO-QUY-%C4%90%E1%BB%8ANH-C%E1%BB%A6A-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-THU-NH%E1%BA%ACP-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

     

    Phạm Quốc Thuần*

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết đề cập đến phương pháp xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trên cơ sở tham chiếu các quy định của Chuẩn mực kế toán và các quy định về thuế, chủ yếu là quy định về Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Bài viết cho thấy có sự khác biệt về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành giữa thuế và kế toán, từ đó đề ra các kiến nghị nh̀m hoàn thiện việc xác định và ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tại các doanh nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Thu nhập tính thuế, thu nhập chịu thuế, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, kế toán thuế.

     

    DISCUSSING THE TAX BASES IN ACCORDANCE WITH THE ENTERPRISE INCOME TAX LAW AND THE ACCOUNTING STANDARDS

     

    ABSTRACT

     

    This article refers to the method of determining the corporate income tax payable on the basis of the provisions of accounting standards and tax regulations, primarily concentrates on the Corporate Income Tax Regulations. The paper indicates that there are the differences in calculating the income tax amount between Tax Regulations and Accounting Standards. Furthermore, the proposals are also set out to improve the identiication and recognition of income tax expense in the business today.

     

    Key words: The income tax, the taxable income, the tax cost for enterprises, the tax accountant.

     

     

    1.  Tổng quan về căn cứ pháp lý

     

    Tại Việt Nam, kể từ khi VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành ngày 15/2/2005, sự khác biệt giữa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (là chỉ tiêu được kế toán ghi nhận để xác định lợi nhuận kế toán) và

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (là chỉ tiêu trình bày trên báo cáo thuế xác định số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp Nhà Nước) đã được xác định rõ. Theo VAS 17, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp được khái niệm là tổng chi phí thuế thu nhập hiện hành

     

     

    • GV. Trường Đại học Kinh Tế – Luật ĐHQG TPHCM

     

     

    44

     

    Một số vấn đề ….

     

    và chi phí thuế thu nhập hoãn lại. Như vậy có thể thấy rằng liên quan đến việc ghi nhận thuế TNDN, giữa kế toán và thuế vẫn có điểm chung được cả hai bên cùng ghi nhận đó là thuế thu nhập hiện hành (kế toán ghi vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và thuế ghi nhận là một khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán cho Nhà Nước) và phần tạo ra sự khác biệt giữa thuế và kế toán chính là thuế thu nhập hoãn lại (kế toán ghi nhận nhưng không được thuế ghi nhận). VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham chiếu quy định của Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành năm 2003. Kể từ đó đến nay, quy định về thuế TNDN đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ

    sung và từ đó đã làm xuất hiện sự khác biệt về căn cứ để xác định chỉ tiêu thuế thu nhập hiện hành (điểm chung được cả thuế và kế toán ghi nhận) giữa thuế và kế toán. Điều này đã gây khó khăn cho công tác kế toán trong việc ghi nhận các nghiệp vụ liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp.

    2. Quy định hiện hành về căn cứ tính

    thuế

     

    Theo quy định của Luật thuế

     

    Theo Thông tư 123/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành năm 2012, căn cứ tính thuế TNDNlà thu nhập tính thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

     

     

    Thuế TNDN phải nộp   =  Thu nhập tính thuế

    x

    Thuế suất thuế TNDN

     

    Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:

       

    Thu nhập

    =

    Thu nhập

    ( TN được

    +

    Các khoản lỗ được kết)

     

    tính thuế

    chịu thuế

    miễn thuế

    chuyển theo quy định

     
         

    Công thức tính thu nhập chịu thuế:

             

    TN chịu thuế  =

    (Doanh thu  –

    Chi phí được trừ)

    +   Các khoản thu nhập khác

     

     

     

    Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của thuế có sự phân biệt rất rõ ràng khái niệm thu nhập tính thuế và thu nhập chịu thuế. Theo đó, thu nhập tính thuế chính là căn cứ để xác định thuế TNDN mà các tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải nộp cho Nhà Nước, là căn cứ để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của các doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thu nhập chịu thuế chính là chênh lệch giữa doanh thu tính thuế, thu nhập khác và chi phí được trừ. Cần lưu ý rằng thu nhập chịu thuế chưa phải là căn cứ cuối cùng để xác định nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp với Nhà Nước.

     

    Thí dụ 1: Doanh nghiệp Hoàng Giác trong năm 200X có các thông tin sau: (ĐVT: 1.000 đồng)

     

    • Doanh thu bán hàng: 3.000.000
    • Khoản thu từ nợ khó đòi đã xử lý: 100.000

     

     

    • Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: 2.000.000

     

    • Doanh thu tài chính (lãi được chia từ hoạt động liên doanh): 300.000

     

    • Khoản lỗ từ năm trước chuyển sang: 200.000.

     

     

    • Các khoản còn lại liên quan đến doanh thu, chi phí giả sử không phát sinh; doanh nghiệp không thực hiện trích lập quỹ khoa học và công nghệ; thuế suất thuế TNDN theo quy định là 25%.

     

    Dựa vào dữ liệu trên, thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế và thuế TNDN phải nộp trong năm 200X được xác định như sau:

     

    • Xác định thu nhập chịu thuế

     

     

    45

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Thu nhập chịu thuế = Doanh thu bán hàng

     

    • Doanh thu tài chính = 3.300.000 Chi phí được tính trừ = 2.000.000 Thu nhập khác = 100.000

    Thu nhập chịu thuế = (3.300.000 – 2.000.000) + 100.000 = 1.400.000

     

    • Xác định thu nhập tính thuế Thu nhập chịu thuế = 1.400.000

    Thu nhập được miễn thuế = 300.000

     

    (điều 8 chương II của TT 123/2012/TT-BTC quy định thu nhập được chia từ hoạt động góp vốnsau khi bên nhận góp vốn đã nộp thuế TNDNtheo quy định của Luật Thuế TNDNđược xem là thu nhập được miễn thuế)

     

    Khoản lỗ năm trước chuyển sang = 200.000

     

    Thu nhập tính thuế = 1.400.000 – (300.000 + 200.000) = 900.000

     

    Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x 25% = 900.000 x 25% = 225.000.

     

    Theo thí dụ này, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán khoản thuế TNDN năm 200X cho Nhà Nước là 225.000.

     

    Theo quy định của VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    Theo chuẩn mực kế toán Thuế TNDN (VAS 17): “thuế thu nhập hiện hành là số thuế TNDN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành”.

     

    Như vậy, theo chuẩn mực kế toán, chỉ tiêu để xác định nghĩa vụ thuế TNDN được gọi là Thuế TNDN hiện hành. Để xác định thuế thu nhập hiện hành cần phải xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó thu nhập chịu thuế được định nghĩa như sau:“Thu nhập chịu thuế: Là thu nhập chịu thuế TNDN của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế TNDN hiện hành và là cơ sở để tính thuế TNDN phải nộp (hoặc thu hồi được)”.

    Như vậy VAS 17 không đưa ra nguyên tắc để xác định thu nhập chịu thuế mà theo đó, chỉ tiêu này được tính toán dựa vào quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    Thông tư 20/2006/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2006, hướng dẫn kế toán ghi nhận thuế thu nhập hiện hành:” Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định và ghi nhận số thuế TNDN thực tế phải nộp trong năm trên cơ sở tổng thu nhập chịu thuế cả năm và thuế suất thuế TNDN hiện hành. Thuế TNDN thực phải nộp trong năm được ghi nhận là chi phí thuế TNDN hiện hành trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm đó”. Theo đó, chi phí thuế TNDN hiện hành được hạch toán như sau: N TK 8211- Chi phí thuế TNDN hiện hành/ Có TK 3334- Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    3.  Vấn đề tồn tại

     

    Các nội dung trình bày trên cho thấy căn cứ để xác định số thuế mà các doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước là thu nhập tính thuế (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), trong khi đó quy định kế toán lại là thu nhập chịu thuế. Điều này làm cho nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải nộp được trình bày trên báo cáo thuế (tờ khai thuế TNDNMS 03/TNDN ban hành theo Thông tư 28/2011 do Bộ Tài chính ban hành ngày 28 tháng 2 năm 2011) và phản ánh trên sổ sách kế toán (trên tài khoản 3334 Thuế thu nhập doanh nghiệp) có sự chênh lệch với nhau, hay nói khác đi là số liệu trên sổ sách kế toán không phản ánh đúng thực chất nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thí dụ sau đây minh chứng rõ điều này.

     

    Thí dụ 2- Lấy lại dữ liệu của thí dụ 1, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với Nhà Nước trình bày trên báo cáo thuế và ghi nhận trên sổ sách kế toán được ghi nhận như sau:

     

     

    46

     

    Một số vấn đề ….

     

    Trên báo cáo thuế (Bảng 1).

     

    Theo số liệu trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, năm 200X công ty Hoàng Giác phải nộp cho Nhà Nước một khoản thuế TNDN là 225.000 nghìn đồng.

     

    Trên sổ sách kế toán (bảng 2)

     

    • Thuế thu nhập hiện hành = Thu nhập chịu thuế x thuế suất thuế TNDN= 1.400.000

     

    • 25% = 350.000

     

    • Ghi nhận chi phí thuế TNDN hiện hành: N 8211/C 3334 350.000

     

    • Hoàn nhập tài sản thuế thu nhập hoãn lại (phát sinh từ khoản lỗ của năm trước chuyển sang): N 8212/ C 243: 200.000 x 25% = 50.000

     

    • Nộp thuế TNDN vào ngân sách Nhà Nước theo số thuế phải nộp trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp: N 3334/C 111, 112: 225.000
    • Thông tin về nghĩa vụ nộp và thanh toán thuế TNDN của công ty Hoàng Giác năm 200X với Nhà Nước được phản ánh trên tài khoản 3334- Thuế TNDN như bảng 2.

    Nhận xét: sau khi ghi nhận số thuế TNDN phải nộp và đã nộp, tài khoản 3334- Thuế TNDN vẫn còn kết dư bên nợ một khoản là 125.000 nghìn đồng (Nhà nước còn nợ công ty một khoản thuế TNDN là 125.000 nghìn đồng). Đây là số dư ảo bởi lẽ sau khi đã nộp thuế thì giữa công ty và Nhà nước không còn phát sinh nghĩa vụ về công nợ với nhau, lúc này số dư trên tài khoản 3334 phải bằng 0 (không). Nguyên nhân là do kế toán và thuế không đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định căn cứ dùng để tính nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với Nhà nước. Cần lưu ý là theo hướng dẫn thực hiện VAS 17, tài khoản 3334 không phải là tài khoản được dùng để ghi nhận chênh lệch thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

     

    TỜ KHAI QUYẾT TOÁN THUẾ TNDN(lược trích) (bảng 1)

     

     

    Kỳ tính thuế: từ ngày 1/1/200X đến ngày 31/12/200X

     

    ĐVT: 1.000 đồng

               

    STT

    Chỉ tiêu

     

    Mã số

     

    Số tiền

               

    (1)

    (2)

     

    (3)

     

    (4)

    A

    Kết quả kinh doanh ghi nhận theo báo cáo tài chính

           
               

    1

    Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    A1

     

    1.400.000

    B

    Xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

           
               

    1

    Điều chỉnh tăng tổng lợi nhuận trước thuế TNDN

     

    B1

       

    (B1= B2+B3+B4+B5+B6)

       

           

    2

    Điều chỉnh giảm tổng lợi nhuận trước thuế

     

    B7

     

    TNDN(B7=B8+B9+B10+B11)

       
             

    3

    Tổng thu nhập chịu thuế

     

    B12

       

    (B12=A1+B1-B7)

       

    1.400.000

           

    3.1

    Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh

     

    B13

       

    (B13=B12-B14)

       

    1.400.000

           

    C

    Xác định thuế TNDN phải nộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh

           
               

    1

    Thu nhập chịu thuế (C1 = B13)

     

    C1

     

    1.400.000

               

    2

    Thu nhập miễn thuế

     

    C2

     

    300.000

               

    3

    Lỗ từ các năm trước được chuyển sang

     

    C3

     

    200.000

               

    47

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    4

    Thu nhập tính thuế

         

    C4

     

    900.000

    (C4=C1-C2-C3)

             
                   

    6

    Thu nhập tính thuế sau khi đã trích lập quỹ khoa học công nghệ

     

    C6

       

    (C6=C4-C5)

             

    900.000

                 

    7

    Thuế TNDN từ hoạt động SXKD tính theo thuế suất phổ thông

     

    C7

       

    (C7=C6 x 25%)

             

    225.000

                 

    11

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    C11

       

    (C11=C7-C8-C9-C10)

           

    225.000

               

    D

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản còn phải

     

    D

       

    nộp sau khi trừ thuế TNDN đã nộp ở địa phương khác

           

               

    E

    Tổng số thuế TNDN phải nộp trong kỳ

         

    E

     

    225.000

                       

    1

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    E1

     

    225.000

                       

    2

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản

         

    E2

     

       

    SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 3334 – THUẾ TNDN (Bảng 2)

         
                     

    Ngày

    Chứng từ

    Diễn giải

    TKĐƯ

       

    ST

     
                     
     

    SH

    Ngày

           

    N

    C

                       
         

    SDĐK

         

     

                     

    xxx

    xxx

    xxx

    Ghi nhận thuế TNDN phải nộp năm 0X

    8211

       

    350.000

     

    xxx

    xxx

    xxx

    Nộp thuế TNDN vào NSNN

    111

           

    225.000

                     
         

    TPS

         

    350.000

    225.000

         

    SDCK

         

    125.000

     
                       

    4.  Kiến nghị

     

    VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham khảo Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành

     

    ngày 17 tháng 6 năm 2003. Theo quy định của Luật này, căn cứ để tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

     

     

    Thu nhập chịu thuế = chưa trừ chuyển lỗ

    Doanh thu để tính thu nhập – chịu thuế trong kỳ tính thuế

    Chi phí hợp lý trong     +        Thu nhập chịu thuế

    kỳ tính thuế                            khác trong kỳ tính thuế

     

     

    Thu  nhập  chịu  thuế  đã  trừ =       Thu nhập chịu thuế         chưa trừ –       Lỗ từ các năm trước chuyển sang

    chuyển lỗ                                              chuyển lỗ

     

     

    Như vậy có thể thấy rằng Luật thuế TNDN năm 2003 chỉ đưa ra khái niệm thu nhập chịu thuế và vì vậy giữa thuế và kế toán là đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ về thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước (cả kế toán và thuế đều căn cứ vào thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập

    hiện hành và thuế TNDN phải nộp). Đến năm 2008, khi Luật thuế TNDN mới ra đời thay thế cho Luật thuế TNDN năm 2003 thì đã có sự thay đổi về các khái niệm làm căn cứ tính thuế. Theo đó Luật thuế năm 2008 có sự phân biệt khá rạch ròi giữa khái niệm thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế, theo

     

     

    48

     

    Một số vấn đề ….

     

    đó, thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế điều chỉnh cho các khoản thu nhập miễn thuế và lỗ từ các năm trước chuyển qua và là căn cứ để xác định nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Trong khi đó, quy định của kế toán thì vẫn không có sự chỉnh sửa về thuật ngữ cho phù hợp với sự thay đổi của thuế và đây chính là nguyên nhân làm cho thuế và kế toán lệch nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ thuế TNDN của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Vì vậy chúng tôi kiến nghị như sau:

     

    • Quy định kế toán liên quan đến thuế TNDN cần phải có sự điều chỉnh về căn cứ

    tính thuế nhằm đảm bảo số thuế thu nhập danh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước được khớp đúng với số thuế TNDN phải nộp trên báo cáo thuế. Theo đó, quy định của kế toán cần thay đổi thuật ngữ “thu nhập chịu thuế” thành “thu nhập tính thuế”.

     

    • Các quy định của thuế, nhất là về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng thường xuyên được thay đổi và sự thay đổi này thường ảnh hưởng đến việc tính toán và ghi chép của kế toán, vì vậy những văn bản của kế toán có liên quan cũng cần phải có sự rà soát, chỉnh sửa kịp thời cho phù hợp.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2012), TT 123/2012/TT-BTC: hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • Bộ Tài chính (2005), QĐ 12/2005/QĐ-BTC: về việc ban hành và công bố 6 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 4.
    • Bộ Tài chính (2006), TT 20/2006/TT-BTC: hướng dẫn kế toán 6 chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
    • Phạm Quốc Thuần (2009), Kế toán thuế, NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM, 2009.

     

     

     

     

     

    49


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kết quả điều tra hiệu quả chương trình thực tập tốt nghiệp theo hướng tăng cường thực hành nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Kế toán trường Đại học Tây Bắc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%C3%9D-THUY%E1%BA%BET-V%C3%80-TH%E1%BB%B0C-H%C3%80NH-TH%C3%94NG-TIN-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-%C4%90%E1%BB%82-RA-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-NG%E1%BA%AEN-H%E1%BA%A0N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

     

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    Phạm Văn Dược*

     

    Huỳnh Thị Bích Ngọc **

     

    TÓM TẮT

     

    Ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án, nh̀m mục đích chọn một phương án có tính thỏa mãn cao nhất, cả về lượng và chất. Ra quyết định là một chức năng quan trọng của nhà quản trị. Vì nhà quản trị luôn đứng trước những vấn đề cần phải ra quyết định.

     

    Các thông tin để ra quyết định căn cứ chủ yếu vào các thông tin định lượng của kế toán; lượng giá dòng thu với dòng chi để tìm ra lợi nhuận cao nhất trong các phương án hoặc trong các tình huống kinh doanh là những vấn đề không đơn giản, đòi hỏi người ra quyết định và lập quyết định phải thấu hiểu rõ cơ sở lý thuyết và quá trình thực hành để ứng dụng chúng thích hợp nhất.

    Từ khoá: Lý thuyết, thực hành, thông tin kế toán, ra quyết định.

    THEORY AND PRACTICE OF ACCOUNTING INFORMATION FOR MAKING SHORT-TERM DECISIONS

    ABSTRACT

     

    Making decision is the choice of many alternatives, aimed at choosing a plan with the highest satisfaction, both in quantity and quality. Making decision is an important function of management. Because managers are faced with many problems that are needed to make decisions.

     

    The information for making decisions is primarily based on the quantitative information about the accounting value of revenue with more ields to ind the most proitable in the plan or in business situations that is not the simple problem, its requiring decision makers and decision-makers to clearly understand the theoretical basis and practical process for most applications which are suited.

     

    Keywords: Theory, practice, accounting information, decision-making

     

    1. Cơ sở lý thuyết ra quyết định

     

    1.1. Các quyết định ngắn hạn: Việc ra quyết định là việc lưa chọn từ nhiều phương án

     

    hoặc nhiều tình huống khác nhau. Khi chưa

    –  Có nên loại bỏ một sản phẩm cá biệt

    có phương án thì không thể có quyết định nào

    nào không?

    được thực hiện được, do không có sự lựa chọn

    –  Có nên thêm một sản mới hay không?

    nào để có thể ra quyết định. Các nhà quản trị

    –  Có nên thay đổi cách trả lương nhân

    thường xuyên quan tâm đến các quyết định

    viên bán hàng từ định phí chuyển

    ngắn hạn như:

    thành biến phí hay không?

    • TS. Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

     

    • Giảng viên Trường Cao đ̀ng Kinh tế Đối ngoại

     

     

    14

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    –  Có nên tiếp tục sản xuất chi tiết rời tại phân xưởng hay mua nó ở bên ngoài?

     

    – Có nên tiếp tục chế biến thành sản phẩm thành thành phẩm hoàn chỉnh hay bán ngay bán thành phẩm?

     

    –  Lựa chọn phương thức, cơ cấu sản

     

    xuất như thế nào để cho hiệu quả tối ưu nhất?…

    1.2. Đặc điểm của các quyết định: Đặc điểm chủ yếu của các quyết định là chúng gắn liền với các hoạt động trong tương lai, và chúng không thể làm thay đổi ngược lại được, đặc điểm này có 2 nhân tố tác động:

    • Nhân tố thứ nhất: vì các quyết định của nhà quản trị phải dựa trên các con số ước tính, một quyết định chưa chắc là không tốt vì một số thay đổi thực tế ngoài dự kiến trong một số các trường hợp gây sẽ ra các kết quả một cách chính xác với dự đoán.

     

    • Nhân tố thứ hai: các nhà quản trị sẽ không bao giờ có thể chắc chắn một quyết định cá biệt nào đó là không khôn ngoan, vì họ không thể dự đoán được chính xác những gì sẽ xảy ra trong tương lai nếu họ lựa chọn tiến trình hoạt động khác. Nhưng các nhà quản trị có thể có mức tin cậy hợp lý nếu quyết định được dựa vào các thông tin tốt nhất đáng tin cậy có sẵn, và nếu họ thấu hiểu những thông tin này để ứng xử một cách thích hợp nhất.

     

    Hầu hết các nhà quản trị khi ra các quyết định ngắn hạn, nếu nó chỉ liên quan đến một kỳ (một năm) hoặc ngắn hơn. Các quyết định ngắn hạn thường không đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Vì lý do này, các quyết định ngắn hạn dễ thay đổi nhiều hơn so với các quyết định dài hạn. (Bạn có thể thay đổi dễ dàng phương thức trả lương cho nhân viên bán hàng, nhưng bạn không thể thay đổi dễ dàng quyết định đầu tư vào tài sản cố định). Các nguyên tắc cơ bản áp dụng cho các quyết định ngắn hạn cũng áp

    dụng cho các quyết định dài hạn, nhưng các quyết định dài hạn đòi hỏi phải xem xét thêm một số kỹ thuật tính toán khác. Nói chung các quyết định dài hạn đòi hỏi sự cam kết về tiền tệ cho một chu kỳ khá dài.

     

    1.3. Tiêu chuẩn đối với các quyết định ngắn hạn:

     

    Tiêu chuẩn kinh tế của việc lập các quyết định ngắn hạn rất đơn giản, đó là chọn lựa một hoạt động mà khi bạn dự tính ra quyết định sẽ mang lại hiệu quả cao nhất (hoặc lỗ ít nhất) cho doanh nghiệp, sự vận dụng nguyên tắc này không phải là việc đơn giản, do vậy yêu cầu cần có thêm hai nguyên tắc phụ hỗ trợ là:

     

    1. Các nguồn thu và chi phí duy nhất thích hợp cho việc ra quyết định là các nguồn thu và chi ước tính trong tương lai sẽ khác trong số các phương án có sẵn, chúng được gọi là các nguồn thu chênh lệch và các nguồn chi phí chênh lệch (vì có rất nhiều quyết định dẫn đến các mức tăng về thu nhập và chi phí nên còn được gọi là các nguồn thu tăng thêm và chi phí tăng thêm).
    1. Các nguồn thu và chi hoặc đã phải gánh chịu (đã phát sinh) nó không thích hợp với các quyết định kinh doanh. Cách sử dụng duy nhất là, cần nghiên cứu chúng có thể giúp cho việc dự đoán các nguồn thu và các nguồn chi trong tương lai.
    • Các nguồn thu và chi chênh lệch (tăng thêm):

     

    Thuật ngữ chênh lệch có nhiều hàm ý hơn thuật ngữ tăng thêm. Thuật ngữ sau đề xuất các mức tăng, và một số quyết định dẫn đến các mức giảm cho cả thu nhập và chi phí. Nhưng các thuật ngữ được sử dụng không quan trọng bằng điều mà chúng phản ánh. Các chi phí chênh lệch là các chi phí có thể tránh được, do đó sẽ là thông tin thích hợp cần phải xem xét trong các quyết định kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có thể thay đổi một khoảng

     

     

    15

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    chi phí bằng cách chọn một hành động ngược lại với hành động trước đó, đo đó chi phí này là chi phí có thể tránh được và nó chính là chi phí chênh lệch.

     

    Ví dụ: doanh nghiệp dự kiến có thể tiếp kiệm được 100 triệu đồng tiền lương và các định phí khác nếu doanh nghiệp ngưng kinh doanh một loại sản phẩm ở một khu vực địa lý cá biệt nào đó, thì 100 triệu đồng này là chi phí tránh được (chênh lệch), vì nó sẽ có thể phát sinh nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục bán sản phẩm đó và sẽ không phát sinh nếu doanh nghiệp ngưng bán sản phấm trong khu vực đó. Dĩ nhiên, doanh nghiệp sẽ bị mất một khoản thu nếu ngưng bán sản phẩm đó. Như vậy, thu nhập bị mất có tính chênh lệch khi doanh nghiệp quyết định ngưng bán sản phẩm ở vùng địa lý cá biệt đó.

     

    1.4. Nhận diện chi phí chìm và chi phí cơ hội:

     

    Việc nhấn mạnh vào các khoản thu và chi phí chênh lệch, làm chúng ta quan tâm đến các khái niệm, chi phí chìm và chi phí cơ hội: a. Chi phí chìm: là một loại chi phí đã phải chịu và do đó sẽ phải chịu như vậy cho dù nhà quản trị chọn phương án hay hành động nào. Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra quyết định vì chúng không có tính chênh lệch (Chi phí chìm là chi phí đã phát sinh ở các quyết định quá khứ, do đó

     

    không thay đổi được trong tương lai).

     

    Thí dụ: Doanh nghiệp đã chi 200 triệu đồng để tiếp thị phát triển một sản phẩm mới. Nhiều vấn đề đã phát sinh và bây giờ nhà quản trị phải đứng trước quyết định có nên hay không nên tiếp thị sản phẩm đó. Như vậy 200 triệu đồng này là không thích hợp với quyết định vì nó không có tính chênh lệch; nghĩa là, chi phí này sẽ luôn luôn như vậy dù doanh nghiệp có tiếp thị sản phẩm hay không. Tương tự, khi doanh

    nghiêp đứng trước quyết định sự lựa chọn thay thế một chiếc máy mới bằng một chiếc máy cũ mà doanh nghiệp đang sử dụng, thì giá trị còn lại của chiếc máy cũ sẽ là chi phí chìm.

     

    1. Chi phí cơ hội: Cho dù chi phí lịch sử của một nguồn chi có tính chìm thì vẫn có thể có khoản chi phí để nhằm các mục đích ra kế hoạch. Nếu một nguồn chi có thể sử dụng theo nhiều cách, thì có chi phí cơ hội.

     

    Nói tổng quát, chi phí cơ hội là lợi ích bị mất vì chọn phương án này thay vì chọn phương án khác. Phương án (hành động) khác là phương án tốt nhất sẵn có so với phương án đang được nghiên cứu.

     

    Thí dụ 1: Doanh nghiêp Q sở hữu một nhà kho có thể sử dụng nó để chứa hàng hóa hoặc cho thuê với giá 100 triệu mỗi năm. Sử dụng diện tích đó để tồn trữ hàng hóa đòi hỏi doanh nghiệp Q bỏ qua cơ hội cho thuê, điều này có nghĩa là có một sự chênh lệch, nếu doanh nghiệp Q chọn hành động này thay vì hành động khác. Khi Q xem xét bất cứ một hành động nào mà đòi hỏi việc sử dụng mặt bằng để tồn trữ, chi phí thích hợp của mặt bằng là chi phí cơ hội của Q, số tiền 100 triệu mà Q không thu được. Điều gì sẽ xảy ra nếu Q sẽ chi 40 triệu mỗi năm cho một hợp đồng thuê nhà kho? Chi phí cơ hội của việc sử dụng mặt bằng để tồn trữ chỉ còn 60 triệu, mức thiệt hại thực mà Q phải chịu vỉ bỏ qua cơ hội cho thuê.

     

    Thí dụ 2: Giả sử doanh nghiệp Q sở hữu một chiếc máy mà có thể dùng để sản xuất một trong 2 sản phẩm X hoặc Y. Các sản phẩm đòi hỏi số thời gian máy như nhau, nhưng số dư đảm phí của X lớn hơn số dư đảm phí của Y. Khi Q xem xét một quyết định để sử dụng máy vào việc sản xuất sản phẩm X, chi phí của việc sử dụng máy là một chi phí cơ hội của Q. Nếu Q sử dụng máy để sản xuất sản phẩm Y. Chi phí là số dư đảm phí bị thiệt hại

     

     

    16

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    vì không sử dụng nó để sản xuất sản phẩm X. Như vậy, chi phí cơ hội phụ thuộc vào hành động hoăc phương án đang được xem xét.

     

    1. Thực hành ra quyết định ngắn hạn Ví dụ: Công ty M sản xuất hàng may sẵn.

    M đang có trong kho 5.000 áo không thể bán được thông qua kênh bình thường. Có một cửa hàng đã tiếp xúc với công ty M và đề nghị mua hết số áo với giá 120 triệu đồng. Chi phí để sản xuất số áo này là 170 triệu đồng. Giám đốc công ty cho rằng chẳng thà vứt bỏ số áo đó đi còn hơn bán sẽ chịu lỗ 50 triêu đồng (170 triệu đồng – 120 triệu đồng). Giám đốc công ty có đúng không? Nếu không có đề nghị nào khác tốt hơn thì ông ta sai, và lời đề nghị của mạng lưới cửa hàng trên phải được chấp thuận.

     

    2.1. Nghiên cứu 2 phương án: (1) Bỏ số áo đó hoặc (2) Bán chúng cho mạng lưới bán lẻ. Nếu bỏ áo đi sẽ không mang lại thu nhập và cũng không đòi hỏi tăng thêm chi phí. Như vậy thì chi phí cơ hội của việc bán áo cho mạng lưới bán lẻ đó là gì? Sẽ không có, vì công ty M không thu được khoản lợi nhuận nào từ phương án kia, là phương án vứt bỏ số áo đó đi. Như vậy, chi phí cơ hội phụ thuộc vào phương án nào sẽ được đem ra xem xét.

     

    Nhưng còn 170 triệu đồng chi phí để sản xuất số áo đó thì sao? Từ các khái niệm chi phí chênh lệch và chi phí chìm, cho ta thấy 170 triệu đồng có tính chất chìm. Khoản chi phí này đã phát sinh và sẽ không thay đổi cho dù chọn phương án nào. Thật vậy, công ty M sẽ bị lỗ 50 triệu đồng nếu công ty bán số áo đó cho mạng lưới bán lẻ. Nhưng số áo đó bỏ đi, công ty sẽ bị lỗ 170 triệu đồng (lưu ý là công ty M tốt nhất là nên bán số áo đó với giá 120 triệu đồng, cho dù chi phí để sản xuất chúng là 170 triệu đồng, hoặc thậm chí chi phí là 250 triệu đồng, nếu chỉ có phương án khác duy nhất là đem vứt bỏ chúng đi).

    2.2. Nghiên cứu thêm một phương án mới: Có một mạng lưới bán lẻ cửa hàng khác đề nghị trả 200 triệu đồng cho số áo đó. Nếu công ty M chịu thêm chi phí để làm thêm 2 túi áo và nhuộm màu khác. Bộ phận quản lý sản xuất ước tính chi phí tăng thêm để làm công việc này 50 triệu đồng. Giám đốc công ty M không thích thú với phương án này, vì tổng chi phí là 220 triệu đồng (170 triệu đồng + 50 triệu đồng) sẽ lớn hơn số đề nghị là 200 triệu đồng.

     

    Mặc dù, bây giời công ty M đã có sẵn 3 phương án, chúng ta đã biết là phương án bán được ưa chuộng hơn phương án vứt bỏ số áo đó đi. Do dó, chúng ta chỉ cần so sánh phương án làm thêm rồi bán với giá 200 triệu đồng, với phương án bán ngay với giá 120 triệu đồng như đã trình bày trên. Công ty M nên chọn phương án nào trong 2 phương án đó?

     

    Để làm rõ vấn đề này, hãy nghiên cứu các khoản thu và chi phí chênh lệch của 2 phương án này như sau:

     

    Phương án: Làm thêm để bán, thay vì bán ngay:

     

    Thu nhập chênh lệch: (200 triệu đồng – 120 triệu đồng) = 80 triệu đồng

     

    Chi phí chênh lệch: (50 triệu đồng – 0 triệu đồng) = 50 triệu đồng

     

    Lợi nhuận chênh lệch: = 30 triệu đồng Công ty M sẽ lãi thêm 30 triệu đồng bằng

     

    cách làm lại số áo đó so với bán ngay chúng. Đối với phương án bán ngay thì chi phí cơ hội là bao nhiêu? Phương án tốt nhất có sẵn hiện nay là phương án làm thêm có một khoảng lợi nhuận là 150 triệu đồng (200 triệu đồng – 50 triệu đồng) chi phí. Như vậy, chi phí cơ hội của phương án bán ngay là 150 triệu đồng bị thiệt hại nếu không chấp nhận phương án làm thêm. Chi phí cơ hội của việc chấp nhận lời đề nghị làm thêm là gì? Chi phí cơ hội là 120 triệu

     

    đồng, bị mất do từ chối phương án bán ngay.

     

     

    17

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Một số nhà quản trị ra quyết định muốn kết hợp các chi phí cơ hội trực tiếp vào quá trình phân tích các phương án của họ. Sử dụng cách này, phân tích phương án bán ngay sẽ cho thấy bị lỗ 30 triệu đồng (120 triệu đồng thu và 150 triệu đồng của chi phí cơ hội được lưu ý ở trên). Một quá trình phân tích tương tự đối với phương án làm thêm cho thấy một khoản lãi là 30 triệu đồng (các khoản thu là 200 triệu đồng và chi phí lá 170 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng của chi phí làm thêm cộng với 120 triệu đồng chi phí cơ hội của việc vào phương án này).

    Phân tích các phương án một cách tách biệt với nhau nhưng kết hợp chi phí cơ hội của từng phương án phân tích, cũng đã chỉ rõ sự lựa chọn tương tự như được chỉ ra trong phân tích so sánh nếu chấp nhận lời đề nghị làm thêm, vì khoản lãi 30 triệu đồng được ưa chuộn hơn khoản lỗ 30 triệu đồng từ phương án bán ngay.

     

    Như trên đã nói, 170 triệu đồng chi phí của quá trình sản xuất áo là chi phí không thích hợp. Để nhấn mạnh tính không thích hợp của chi phí này, hãy xem xét báo cáo thu nhập của công ty M đối với từng phương án.

     

    Đơn vị tính: Triệu đồng

     

     

    Chỉ tiêu

    Vứt bỏ

    Bán ngay

    Làm thêm

    Thu nhập

    0

    120

    200

    Chi phí sản xuất

    (170)

    (170)

    (170)

    Làm thêm

    (50)

    Lãi ( lỗ)

    (170)

    (50)

    (20)

     

     

    Như vậy, việc làm thêm sẽ làm cho lỗ ít hơn, được chứng minh qua kết quả phân tích chênh lệch, đã cho thấy phương án này là phương án tốt nhất trong cả 3 phương án nghiên cứu. Khoản lỗ phải chịu khi bán ngay là 120 triệu đồng, ít hơn so với khi vứt bỏ số áo đó, khoản này phản ánh qua khoản 120 triệu đồng lợi nhuận chênh lệch được trình bày trong bảng phân tích đầu tiên là khoản lỗ 20 triệu đồng được báo cáo đối với việc làm thêm số áo thì thấp hơn 30 triệu đồng với khoản lỗ từ phương án bán ngay, khoản này chính là khoản 30 triệu đồng lợi nhuận chênh lệch mà chúng ta tìm được khi so sánh chúng với nhau.

     

    2.3. Nghiên cứu trong tình huống giả định Sự kiện không đổi là Công ty M có trong tay 5.000 áo đã được sản xuất với chi phí 170 triệu đồng. Bây giờ hãy giả sử số áo đó có thể bán với giá bình thường. Công ty M dự kiến sản xuất một số lượng áo tương tự để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ tương lai, nếu Công ty

    đã bán số áo có trong tay. Nhà quản lý sản xuất cho rằng chi phí sản xuất 5.000 áo đã tăng lên đến 200 triệu đồng.

     

    Một cửa hàng bán lẻ đề nghị mua 180 triệu đồng cho số áo của công ty hiện có trong tay. Công ty phải làm gì trong điều kiện này

     

    • Mấu chốt của quá trình phân tích là phải hiểu rằng, dù công ty quyết định làm cái gì thì công ty cũng phải có sẵn 5.000 áo để đáp ứng nhu cầu dự kiến trong tương lai ở mức giá chuẩn. (Mọi điều xảy ra sau thời điểm này kể cả doanh thu bình thường theo dự kiến, sẽ giống nhau dù công ty quyết định phải làm gì đối với 5.000 áo có trong tay).

     

    Công ty có 2 phương án:

     

    Một là, Công ty có thể cứ giữ số áo đó cho đến khi chúng có thể được bán với giá chuẩn, điều này có nghĩa là công ty chọn cách “không làm gì cả”. Nếu chọn cách này, công ty sẽ không có doanh thu và cũng không phải chịu bất cứ chi phí nào cả từ bây giờ cho đến

     

     

    18

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    khi số áo được xuất bán hoàn toàn cho tiêu thụ bình thường.

     

    Hai là, Công ty có thể bán số áo lúc này và làm một số áo khác để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ bình thường. Nếu phương án này được chọn, công ty nhận được 180 triệu đồng doanh thu và chịu một khoảng chi phí 200 triệu đồng (để sản xuất số áo cần thiết cho nhu cầu tiêu thụ bình thường), chịu lỗ 20 triệu đồng. sự lựa chọn tốt nhất là “ không làm gì cả”, công ty sẽ không phải lỗ 20 triệu đồng khi chọn phương án này. Chi phí cơ hội của việc chọn để bán ngay số áo bây giờ là 200 triệu đồng, sẽ là chi phí của việc thay thế chúng sau này. Đây là giá trị của chúng vì bán chúng bây giờ cần phải sản xuất lại với chi phí sản xuất là 200 triệu đồng. Chi phí cơ hội là chi phí thay thế trong một số trường hợp. Trong các trường hợp trên, chi phí cơ hội luôn luôn là giá bán (từ chi phí tăng thêm để hoàn thành chúng).

     

    3. Triển khai thông tin thích hợp và phân bổ chi phí

    3.1. Khai triển các thông tin thích hợp

     

    Các nhà quản trị phải ra nhiều quyết định có ảnh hưởng đến những phần nhỏ của công ty: như một sản phẩm, một dây chuyền sản phẩm, một phân xưởng, thậm chí một chi tiết rời của sản phẩm. Thông thường, bộ phận (hoạt động cá thể) mà các nhà quản trị đang xem xét những thay đổi khả dĩ không đủ lớn để được báo cáo chi tiết.

    Ví dụ: Hãy xem xét một công ty sản xuất trang thiết bị văn phòng. Công ty có thể làm một số mẫu đối với máy đánh máy chữ, máy tính và máy copy, bán chúng trong một số vùng cho nhiều tầng lớp khách hàng khác nhau (doanh nghiệp, bệnh viện, cơ quan, nhà nước vv…), và điều hành một số phân xưởng, mà trong các phân xưởng đó chỉ sản xuất một sản phẩm hoặc một dây truyền sản phẩm và các phân xưởng khác sản xuất một số sản phẩm khác. Các báo cáo kế toán

    bình thường không thể trình bày thông tin theo mẫu sản phẩm, theo vùng, theo từng khách hàng và theo từng phân xưởng.

     

    Một báo cáo kế toán hiện hành, như báo cáo thu nhập theo bộ phận kinh doanh (các nhóm hàng, các mặt hàng, các dây truyên sản xuất…), là căn cứ tốt để từ đó phân tích theo các bộ phận sản xuất kinh doanh, vì nó làm rõ các chi phí có thể tránh được. Những thông tin trong các báo cáo kế toán đã qua chỉ được quan tâm khi nó dự toán được trong tương lai. Các nguồn thông tin khác thường quan trọng hơn; các chuyên viên cung cấp thông tin về nhu cầu nguyên liệu và yêu cầu đối với lao động của một sản phẩm mới, phòng tiếp thị đưa ra các ước tính về doanh thu tương lai của một sản phẩm. Như vậy, dù có sẵn một báo cáo kế toán chuẩn về một bộ phận mà từ đó ta có thể xem xét một số thay đổi, thì điều này không có nghĩa là báo cáo gồm những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định về các thay đổi đó.

     

    Với sự kết hợp của internet và máy tính giúp các nhà quản trị nắm bắt và khai triển dễ dàng hơn một số loại thông tin, giống như khối lượng của một loại sản phẩm cá biệt tiêu thụ trong mỗi vùng cho từng nhóm khách hàng. Nhưng máy tính không thể xác định được liệu một số các chi phí phát sinh có tránh được hay không thể. Việc thực hiện công việc này đòi hỏi một số lượng lớn công tác nghiệp vụ kế toán và mối quan hệ chặc chẽ giữa kế toán viên, kế toán viên kế quản trị với các nhà quản trị khác.

     

    Điểm quan trọng nhất về các quyết định liên quan với các bộ phận là ở chỗ, các phân tích sẽ khác với các quyết định. Không có bất cứ công thức kỳ diệu duy nhất nào để nhận diện chi phí và thu nhập thích hợp đối với từng quyết định cá biệt. Chi phí mà có thể tránh được và do đó có tính chênh lệch, khi xem xét theo góc độ này có thể có tính không thể tránh

     

     

    19

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    được, khi xem xét theo góc độ khác. Nói chung

     

    • góc độ càng nhỏ thì chi phí có thể tránh được càng ít. Chi phí có thể tránh được của một mẫu máy đánh máy chữ được bán trong một vùng cá biệt chắc chắn bị giới hạn theo biến phí sản xuất của kiểu mẫu đó. Những chi phí có thể tránh được gắn liền với toàn bộ dây truyền của máy đánh máy đánh máy chữ trong cùng vùng đó gồm các biến phí sản xuất và có thể gồm cả một số chi phí bán hàng. Môt số định phí sản xuất cũng có thể được tiết kiệm, nhất là nếu các máy đánh máy chữ được bán trong vùng đó và được sản xuất trong một nhà máy mà không sản xuất các dây truyền sản phẩm khác. Nhưng dù vậy, quyết định này phụ thuộc vào các tình huống cụ thể của nhà máy đó. Khi góc độ nghiên cứu toàn bộ dây truyền sản xuất thì càng có nhiều chi phí có thể tránh được.

     

    3.2. Phân bổ chi phí chung

     

    Nhiệm vụ nhận diện chi phí thích hợp, cho một quyết định cá biệt thường rất phức tạp, mà kế toán thực hiện về việc phân bổ chi phí phí sản xuất chung vào các bộ phận. Thí dụ, các doanh nghiệp đều đặn phân bổ định phí sản xuất cho khối lượng sản phẩm, vì chúng thường được quy định như vậy nhằm cho mục đích kế toán tài chính và mục đích thuế. Vì sự phân bổ chi phí thường được kết hợp với các báo cáo nội bộ nó có vai trò như một điểm bắt đầu để ra quyết định.

     

    Trong phần trên chúng ta đã nghiên cứu và đã nhấn mạnh đến các căn cứ để ra quyết định là những thông tin hướng đến tương lai. Chúng ta đã biết rằng định phí của một đơn vị là kết quả của quá trình phân bổ chi phí, không có tín hiệu hữu ích trong quá trình dự đoán các chi phí trong tương lai. Như vậy định phí tính cho một đơn vị không thích hợp với quá trình ra quyết định. Theo định nghĩa chung nhất, các chi phí chung có tính không thể tránh được đối với các bộ phận cá thể mà chúng có đặc tính chung. Sự

    phân bổ các chi phí này cho các bộ phận cá thể không làm thay đổi tổng số tiền phân bổ có tính có thể tránh được trong tương lai. Như vậy, đối với quá trình ra quyết định một bộ phận, các chi phí chung được phân bổ cho bộ phận đó không có tính thích hợp, các chi phí thích hợp duy nhất là các chi phí mà sẽ làm thay đổi (có tính chênh lệch) nếu một doanh nghiệp chọn một tiến trình hành động này thay vì một tiến trình khác.

     

    Mặc dù có một số khẳng định mạnh mẽ rằng, chi phí được phân bổ có tính không thể tránh được, đôi khi có thể làm giảm chi phí chung nếu một bộ phận đủ lớn bị loại trừ. Thí dụ, giả sử có 20 nhân viên của phòng tiền lương tính lương cho sổ lương công nhân của tất cả 6 phân xưởng của công ty. Nhưng nếu một phân xưởng lớn đóng cửa, phòng tiền lương có thể phân bổ lại công việc và nhân viên bị giảm bớt còn 17 hoặc 18 người, do đó làm giảm một phần chi phí chung. Xác định những loại thay đổi này của chi phí là một phần của việc phân tích chi phí trong quá trình xác định chi phí căn cứ theo hoạt động. Như vậy, phân tích chi phí cho các quyết định đòi hỏi rất nhiều sự cẩn trọng đến từng tình huống cụ thể.

     

    Sự xuất hiện của các chi phí được phân bổ trên các báo cáo bộ phận làm phát sinh một vấn đề quan trọng về cung cấp thông tin trong phạm vi một doanh nghiệp. Hệ thống thông tin phải cung cấp số liệu để lập các báo cáo tài chính, lập các báo thuế và các mẫu báo cáo khác theo yêu cầu của nhà nước và nhà quản trị để ra các quyết định kinh doanh cần thiết. Hệ thống thường được thiết kế chung quanh các nhu cầu của kế toán tài chính và thuế, vì các thông tin cụ thể được yêu cầu cho các mục đích này được biết rõ và được cần đến thường xuyên. Vì hệ thống thông tin và các báo cáo kết quả bộ phận phục vụ một số mục đích nên nhà quản trị sử dụng những báo cáo này phải

     

     

    20


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thị trường tiền tệ

    Thị trường tiền tệ

    Thị trường tiền tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài giảng Phân tích Tài chính – Chương 3


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thị trường tiền tệ

     

    Tuần từ 1/7 –17/7/2012

     

    THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

     

    LÃI SUẤT

     

    Lãi suất liên ngân hàng giảm nhẹ so với cuối tháng 6 và khá ổn định trong nửa đầu tháng 7 do các ngân hàng lớn đã tăng lượng cung ra thị trường. Cụ thể, lãi suất ở mức 4,5%-5% đối với kỳ hạn qua đêm, 4,7%-5,2% đối với kỳ hạn một tuần và 6%-6,5% đối với kỳ hạn một tháng. Đáng chú ý, NHNN yêu cầu các NHTM hạ lãi suất các khoản vay cũ xuống còn 15% kể từ 15/7 để giảm bớt áp lực trả lãi cho doanh nghiệp. Do trần lãi suất huy động 12% đã áp dụng từ 3 tháng trước nên lãi suất cho vay

     

    • mức 15% là có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ sẽ khó đáp ứng yêu cầu này do họ đã huy động vượt trần trong một thời gian dài để giữ khách. Trên thị trường 1, lãi suất huy động VND được duy trì ở mức dưới 9% cho kỳ hạn ngắn và 11% cho các kỳ hạn dài. Hiện tượng vượt trần huy động cho các kỳ hạn dài (12%) không còn diễn ra do áp lực hạ lãi suất cho vay từ

    NHNN.

     

    Do lạm phát theo năm vẫn tiếp tục giảm cùng với định hướng nới lỏng tiền tệ của NHNN, lãi suất cho vay được kỳ vọng sẽ giảm về 10-12% trong vòng 3 tháng tới. Lãi suất trên thị trường dân cư giảm xuống sẽ khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Theo đó, rất có thể lãi suất liên ngân hàng sẽ có nhiều biến động trong những tháng cuối năm.

     

    Hình 1: Lãi suất liên ngân hàng VND (%)

     

     

    Thuật ngữ viết tắt

     

    CDS: Hợp đồng bảo hiểm rủi ro tín dụng

     

    CP: Chính Phủ

     

    HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

     

    GT: giá trị

     

    KBNN: Kho Bạc Nhà Nước

     

    KL: Khối lượng

     

    LS: Lãi suất

     

    NDF: Hợp đồng kì hạn không chuyển giao

     

    NHCSXH: Ngân hàng chính sách xã hội

     

    NHNN: Ngân hàng Nhà Nước

     

    TCPH: Tổ chức phát hành

     

    MBS: Công ty chứng khoán Thăng Long

     

    USD: Đô la Mỹ

     

    VCB: Ngân hàng Ngoại Thương

     

    VDB: Ngân hàng phát triển Việt Nam

     

    VEC: Tổng công ty Đầu Tư Phát Triển đường cao tốc Việt Nam

     

     

     

     

    Nguồn: MB

     

    TỶ GIÁ VND/USD

     

    Thị trường ngoại hối không có nhiều biến động trong hai tuần gần đây. Tỷ giá VND/USD được duy trì ổn định do cầu về nhập khẩu không lớn, lãi suất VND giảm nhưng vẫn cao hơn khá nhiều so với lãi suất USD, giá vàng trong nước không biến động quá nhiều. Hiện tại, tỷ giá VND/USD tự do và chính thức dao động quanh mức 20.890 và 20.867, giảm khoảng 30 điểm cơ bản so với đầu tháng 7. Tỷ giá được kỳ vọng sẽ không biến động mạnh vượt quá giới hạn cam kết 3% của NHNN.

     

    1

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             

    Hình 2: Tỷ giá VND/USD

     

     

     

     

    Nguồn: MB, MBS

     

    HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG MỞ

     

    Giao dịch trên thị trường mở trong nửa đầu tháng 7 diễn ra trầm lắng với tỷ lệ đăng ký/chào thầu ở mức thấp khoảng 15%. Lãi suất OMO cao trong khi thanh khoản hệ thống vẫn khá dồi dào khiến nhu cầu vay của ngân hàng giảm mạnh. Tổng giá trị các ngân hàng đang vay trên thị trường mở xấp xỉ 1 ngàn tỷ đồng và nhiều phiên đấu thầu OMO gần đây không thành công. Không có tín phiếu nào phát hành trong hai tuần gần đây trong khi có hơn 9,3 ngàn tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Theo đó, NHNN đã bơm ròng tổng cộng khoảng 8,4 ngàn tỷ đồng qua OMO và tín phiếu từ ngày 1 đến 16 tháng 7.

     

    Hình 3: Lượng tiền bơm ròng trên OMO (nghìn tỷ đồng)

     

     

     

     

    Nguồn: MB & Bloomberg

     

    THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

     

    Thị trường trái phiếu sơ cấp giao dịch trầm lắng trong hai tuần đầu tháng 7. Số lượng thành viên tham gia các phiên đầu thầu ít và lãi suất kỳ vọng cao khiến cho tỷ lệ trúng thầu rất thấp dưới 30%. Phiên đấu thầu của NHCSXH cũng không thành công với tỷ lệ trúng thầu 0%. Như vậy, có khoảng 1,65 ngàn tỷ đồng TPCP được phát hành thành công trong nửa đầu tháng 7. Lãi suất trúng thầu trái phiếu KBNN tăng nhẹ so với tháng trước, dao động quanh mức 9,5-9,9%. Chúng tôi cho rằng thị trường trái phiếu sơ cấp sẽ tiếp tục ảm đạm cho đến hết quý 3. Dự báo lợi suất trái phiếu sẽ duy trì

     

    2

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             
    • mức thấp như hiện nay và có thể tăng nhẹ do áp lực phát hành trái phiếu chính phủ trong những tháng cuối năm còn lớn.

    Hình 4: Lợi suất trái phiếu CP (%)

     

     

     

     

    Nguồn: Bloomberg

     

    Hình 5: Giá trị TPCP hàng tháng năm 2012 (tỷ đồng)

     

     

     

     

    Nguồn: MBS, Bloomberg

     

    Thị trường trái phiếu trong nước

     

    Bảng 1: Kết quả đấu thầu TPCP gần đây trên HNX

     

    Ngày

    TCPH

    Kỳ hạn

    KL trúng

    KL đăng kí

    KL chào

    LSTT

    LS trần

     

    thầu

    thầu

                 
                     

    12/7

    KBNN

    2

    300

    950

    1000

    9.5

       

    12/7

    KBNN

    3

    350

    1750

    2000

    9.75

       

    12/7

    KBNN

    5

    500

    1600

    2000

    9.9

       

    6/7

    NHCSXH

    3

    0

    500

    1000

    0

       

    6/7

    NHCSXH

    5

    0

    300

    1000

    0

       

    5/7

    KBNN

    3

    300

    1650

    2000

    9.45

       

    5/7

    KBNN

    5

    200,15

    1800,15

    2000

    9.6

       

    5/7

    KBNN

    2

    0

    950

    1000

    0

       

    Nguồn: HNX

     

     

    3

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             

    Bảng 2: Giao dịch thông thường trên HNX

     

                 

    GT giao

       

    Kì hạn

           

    dịch

    Ngày

    còn lại

    Coupon

    KL

    Giá

    Lợi suất

    (tỷ đồng)

         

    (%)

           

    16/7

    TD1114049

    1

    12,34

    2.000.000

    97.386

    13,90

    218.9

    16/7

    TD1013045

    2

    10,95

    6.000.000

    98.31

    13,00

    597

    16/7

    QHB1013022

    1

    11,90

    2.000.000

    101.835

    9,10

    209.7

    13/7

    TD1215032

    3

    10,80

    1.000.000

    102.691

    9,60

    105.4

    13/7

    TB1013051

    1

    10,08

    1.000.000

    100.888

    9,02

    101.4

    13/7

    CPB0813005

    1

    8,50

    1.800.000

    99.675

    8,99

    186.9

    13/7

    TD1214029

    2

    11,00

    2.000.000

    102.222

    9,50

    209.9

    13/7

    TD1013062

    1

    9,68

    545.44

    100.234

    9,40

    58.6

    12/7

    TD1113038

    1

    12,42

    800

    102.916

    9,00

    82.9

    12/7

    CPD0813001

    1

    8,50

    200

    99.625

    9,09

    20.7

    12/7

    CPB071245

    0

    8,65

    300

    99.714

    9,12

    31.3

    12/7

    TD1114039

    2

    12,30

    1.000.000

    104.895

    9,40

    105.6

    12/7

    TD1015044

    3

    11,33

    2.000.000

    104.26

    9,55

    211.1

    11/7

    CPB0813005

    1

    8,50

    1.800.000

    99.57

    9,20

    186.6

    11/7

    TB1015036

    3

    11,50

    2.000.000

    104.866

    9,40

    214.5

    11/7

    TD1217036

    5

    10,80

    80

    99.899

    10,80

    8.2

    11/7

    TD1215032

    3

    10,80

    1.000.000

    103.062

    9,45

    105.6

    11/7

    TD1114049

    2

    12,34

    200

    105.115

    9,45

    23.4

    10/7

    CPB071237

    0

    8,00

    1.000.000

    99.63

    8,96

    105

    10/7

    TD1113004

    1

    11,00

    1.000.000

    100.979

    8,87

    105.9

    10/7

    TD1214029

    2

    11,00

    1.000.000

    102.402

    9,40

    105

    10/7

    TD1215034

    3

    9,00

    2.000.000

    99.112

    9,35

    199.5

    10/7

    TD1217016

    5

    11,35

    1.000.000

    106.563

    9,50

    110.7

    9/7

    TD1116026

    4

    13,20

    2.000.000

    113.03

    9,05

    229

    9/7

    VDB111009

    9

    11,50

    1.000.000

    107.377

    10,15

    111

    9/7

    TD1113038

    1

    12,42

    200

    103.305

    8,80

    20

    9/7

    TD1113004

    1

    11,00

    6.000.000

    100.437

    9,99

    628

    9/7

    TB1015055

    3

    10,30

    600

    103.051

    9,10

    67

    6/7

    TD1113004

    1

    11,00

    1.000.000

    100.696

    9,42

    105

    6/7

    CPB071237

    0

    8,00

    1.000.000

    99.42

    9,60

    104

    6/7

    TD1113038

    1

    12,42

    800

    102.64

    9,35

    82.6

    6/7

    TD1114059

    2

    12,10

    1.000.000

    105.095

    9,50

    113.1

    6/7

    TD1217036

    5

    10,80

    1.000.000

    104.338

    9,60

    106.8

    Nguồn: HNX

     

     

     

     

    4

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             

    Thị trường trái phiếu khu vực

     

    Bảng 3: Lợi suất trái phiếu chính phủ (%) tháng 6 năm 2012

     

       

    1N

    2N

    3N

    5N

    7N

    10N

                   

    USA

       

    0.3011

    0.3962

    0.6878

    1.0405

    1.5768

    Singapore

       

    1.58

     

    0.42

     

    1.58

    Vietnam

     

    9.614

    10.05

    9.7

    9.775

    9.883

    10.05

    Indonesia

     

    4.823

    6.233

    5.222

    5.469

    5.909

    6.233

    Malaysia

     

    2.963

    3.516

    3.076

    3.208

    3.39

    3.516

    Philippines

     

    2.6558

    5.8942

    4

    5.1019

    5.159

    5.8942

    Japan

     

    0.102

    0.815

    0.107

    0.215

    0.415

    0.815

    China

     

    2.27

    3.34

    2.52

    2.84

    3.12

    3.34

    Thailand

     

    3.14

    3.489

    3.228

    3.337

    3.413

    3.489

    Hong Kong

     

    0.175

    0.998

    0.262

    0.419

    0.707

    0.998

                   

    Nguồn: Bloomberg

               

    Hình 6: VN CDS 5 năm

     

     

     

     

    Nguồn: Bloomberg

     

    Hình 7: Lợi suất trái phiếu phát hành quốc tế năm 2005 (%)

     

     

     

     

    Nguồn: Bloomberg

     

     

    5

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             

    SẢN PHẨM

     

    Sản phẩm này được phát hành hàng tuần, tập trung vào các vấn đề của thị trường trái phiếu Việt Nam. Trong báo cáo này, chúng tôi gắn kết các thông tin kinh tế vĩ mô và sự thay đổi của thị trường tiền tệ với thị trường trái phiếu. Bình luận được viết bởi Trần Thị Thanh Thảo (Thạc sỹ, Deakin University, Úc). MBS phát hành báo cáo này, nhưng những sai sót nếu có thuộc về tác giả. Chúng tôi cám ơn khách hàng đã đọc và gửi phản hồi về các sản phẩm của chúng tôi.

     

    KHỐI NGHIÊN CỨU

     

    Chúng tôi cung cấp các nghiên cứu kinh tế và cổ phiếu. Bộ phận nghiên cứu kinh tế đưa ra các báo cáo định kỳ về các vấn đề kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ và thị trường trái phiếu. Bộ phận ngiên cứu cổ phiếu chịu trách nhiệm các báo cáo về công ty niêm yết, báo cáo công ty tiềm năng và báo cáo ngành. Khối Nghiên Cứu cũng đưa ra các bình luận và nhận định về thị trường thông qua bản tin là The Investor Daily

     

    CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MB (MBS)

     

    Được thành lập vào năm 2000. MBS là một trong những công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam. MBS cung cấp các dịch vụ bao gồm: môi giới, nghiên cứu và tư vấn đầu tư, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, và các nghiệp vụ thị trường vốn. Với trên 400 nhân viên làm việc tại các văn phòng Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng và các vùng chiến lược khác. MBS hiện là một trong những công ty chứng khoán được biết tới nhiều nhất tại Việt nam. Khách hàng của chúng tôi bao gồm các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp. Là thành viên của tập đoàn MB bao gồm Ngân hàng MB, Công ty địa ốc MB, Công ty quản lý tài sản MB và Công ty quản lý quỹ MB Capital. MBS có nguồn lực lớn về con người, tài chính và công nghệ để có thể cung cấp cho các khách hàng các sản phẩm và dịch vụ phù hợp mà rất ít các công ty chứng khoán khác có thể cung cấp. Từ khi được thành lập, MBS đã được nhìn nhận là:

     

    Công ty môi giới hàng đầu, đứng thứ nhất về thị phần môi giới  từ năm 2009;

     

    Công ty nghiên cứu có tiếng nói trên thị trường với đội ngũ chuyên gia phân tích có kinh nghiệm, cung cấp các sản phẩm nghiên cứu về kinh tế và thị trường chứng khoán; và

    Nhà cung cấp đáng tin cậy các dịch vụ về nghiệp vụ ngân hàng đầu tư cho các công ty quy mô vừa.

     

    VĂN PHÒNG

     

    Trụ sở Công ty: Tầng 5,6,7 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội. Điện thoại:

    +84(4) 3726 2600. Website: www.MBS.com.vn

     

    Chi nhánh Hồ Chí Minh: Tầng 2, Tòa nhà Petro Việt Nam, 1-5 Lê Duẩn, Quận 1, Hồ Chí Minh. Điện thoại: +84(8) 3910 6411.

     

    QUYỀN TỪ CHỐI

     

    Quan điểm thể hiện trong báo cáo này là của (các) tác giả và không nhất thiết liên hệ với quan điểm chính thức của MBS. Những lập luận thể hiện quan điểm trong báo cáo này cũng có thể thay đổi bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước. Các tác giả đã dựa vào những thông tin từ những nguồn được coi là đáng tin cậy, dù vậy họ cũng không kiểm chứng một cách độc lập các nguồn tin này. Những khuyến nghị trong báo cáo này được hiểu là dành cho những khách hàng hiện tại của MBS. Báo cáo này cũng không nên được coi là cơ sở để đưa ra những khuyến nghị mua, bán hoặc đăng ký đấu giá nào. Báo cáo này cũng không nên được phân phát thêm toàn bộ hoặc từng phần dù với mục đích nào. Không có bất cứ những cân nhắc nào được đưa ra liên quan tới mục tiêu đầu tư, tình hình tài chính hay nhu cầu cụ thể nào đó của người nhận.

     

     

     

    6

    MBS Vietnam: 98 Nguy Nhu Kon Tum,

     

    Sales & Client Trading

     

    Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Tran Thi Hue Phuong

     

    Website: www.mbs.com.vn

    E: [email protected]

             
     

    Bloomberg: MBSV<GO>

       
             

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-%C4%90%C3%92N-B%E1%BA%A8Y-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-L%C3%8AN-D%C3%92NG-TI%E1%BB%80N-T%E1%BB%B0-DO-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-C%C3%94NG-TY-NI%C3%8AM-Y%E1%BA%BET-TR%C3%8AN-S%E1%BB%9E-GIAO-D%E1%BB%8ACH-CH%E1%BB%A8NG-KHO%C3%81N-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    IMPACT OF FINANCIAL LEVERAGE ON FREE CASH FLOW IN FIRMS LISTED ON HO CHI MINH STOCK EXCHANGE

     

    Bùi Ngọc Toản(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Bài nghiên cứu xác định sự tác động c̉a đòn bẩy tài ch́nh lên dòng tiền tự do tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố H̀ Ch́ Minh. Đòn bẩy tài ch́nh c̉a công ty được đo lừng thông qua hai chỉ tiêu là tỷ lệ nợ trên vốn ch̉ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn. Tác giả đã sử dụng dữ liệu c̉a 78 công ty phi tài ch́nh trong giai đoạn 2011-2015. Nghiên cứu áp dụng phương pháp b̀nh phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) đ̉ đảm bảo t́nh vững và hiệu quả c̉a mô h̀nh. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài ch́nh có tác động đến dòng tiền tự do. Ngoài ra, nghiên cứu cũng t̀m thấy sự tác động c̉a năng sinh lợi, cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai c̉a công ty (Tobin’s Q) và tốc độ tăng trưởng c̉a công ty đến dòng tiền tự do.

     

    Từ khóa: Đòn bẩy tài chính, dòng tiền tự do, cấu trúc vốn, công ty niêm yết.

     

    1.  ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Lý thuyết về dòng tiền tự do của Jensen (1986) cho rằng các công ty có dòng tiền tự do lớn thường phải đối mặt với những xung đột về mặt lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần và hạn chế rủi ro. Các nhà quản lý lại hướng đến những mục tiêu trong ngắn hạn như tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận,… nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với công ty. Không chỉ vậy,

     

    ABSTRACT

     

    This paper examines the effect of inancial leverage on free cash low in irms listed on Ho Chi Minh stock exchange. Leverage of the irm is measured by using two ratios including debt to equity ratio and long term debt. The author used panel data of 78 non-inancial irms during 2011-2015. The research employs the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) technique to ensure the viability and effectiveness of the research model. The results reveal that inancial leverage are correlated with free cash low. In addition, the author also found out the effect of proit, growth and investment opportunities (Tobin’s Q) and growth on free cash low.

     

    Keywords: Financial Leverage, free cash low, capital structure, irms listed.

     

    việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng tạo nhiều xung đột giữa chủ sở hữu và nhà quản lý vì việc này ảnh hưởng khá nhiều đến dòng tiền tự do của công ty. Qua quá trình lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng có khá nhiều nghiên cứu đã tiến hành đánh giá thực trạng về đòn bẩy tài chính cũng như về dòng tiền tự do, nhưng lại có rất ít nghiên cứu thực nghiệm tiến hành xác định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Do đó, tác giả đã tiến hành nhận dạng và xác định mức độ tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do của các công ty phi tài

     

     

    • Giảng viên Khoa Tài ch́nh – Ngân hàng, Trừng Đại ḥc Công nghiệp Tp.HCM. ĐT: 0986.785.984. Email: [email protected].

     

     

    50

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhằm đưa thêm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này.

     

    2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Mô hình nghiên cứu

    Dòng tiền tự do là thước đo hoạt động của doanh nghiệp được tính toán bằng hiệu số giữa dòng tiền hoạt động và chi tiêu vốn. Nói cách khác, dòng tiền tự do đại diện cho lượng tiền mặt mà doanh nghiệp có thể tạo ra sau khi để lại một phần để duy trì hoặc mở rộng các tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Sở dĩ dòng tiền tự do quan trọng là bởi vì chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp có thể theo đuổi các cơ hội đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Nếu không có tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới, thực hiện các vụ mua lại, chi trả cổ tức và trả nợ.

     

    Sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do đã được khá nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu tại các nền kinh tế và khu vực khác nhau, dưới đây là phần tóm lược nội dung của một số nghiên cứu:

     

    Lingling (2004) đã nghiên cứu sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Nhật Bản. Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến dòng tiền tự do. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy tốc độ tăng trưởng của công ty có ảnh hưởng đến dòng tiền tự do.

    Trong một nghiên cứu khác, McKnight (2008) đã dựa vào lý thuyết của Jensen (1986) để kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Kết quả nghiên cứu cho

     

    thấy có sự tác động ngược chiều của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do và phù hợp với lý thuyết của Jensen (1986).

     

    Zhang (2009) cũng tìm thấy tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do của công ty. Tác giả cho rằng, khi đòn bẩy tài chính gia tăng có thể khiến cho dòng tiền tự do giảm xuống.

     

    Gần đây, Fatma (2011) đã nghiên cứu sự tác động của cơ cấu sở hữu và dòng tiền tự do của công ty. Kết quả cho thấy chính sách vay nợ kiểm soát chủ yếu sự biến động của dòng tiền tự do.

     

    Không chỉ vậy, Khan và các cộng sự (2012) đã kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do tại 54 công ty sản xuất ở Pakistan trong giai đoạn 2006-2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động ngược chiều của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Đòn bẩy tài chính được đo lường thông qua hai chỉ tiêu là tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động của hai biến kiểm soát là khả năng sinh lợi (được đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (thông qua chỉ tiêu Tobin’s Q).

     

    Căn cứ vào các nghiên cứu trước ta thấy, đòn bẩy tài chính được đo lường thông qua hai chỉ tiêu và có sự tác động ngược chiều của chỉ tiêu này đến dòng tiền tự do. Hai chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài chính được nêu trong các nghiên cứu trước bao gồm tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn.

     

     

    Vậy, mô h̀nh nghiên cứu dự kiến có phương tr̀nh như sau:

     

    FCFit = β0 + β1 DEit + β2 LTDRit + β3 PRFTit + β4 TOBNQit + β5 GROWTHit + εit

     

    Trong đó:

     

    Biến phụ thuộc FCFit: tỷ lệ dòng tiền tự do của công ty.

     

    Các biến độc lập: tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit), tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit).

     

    Các biến kỉm soát: khả năng sinh lợi (PRFTit), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQit), tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTHit)

     

     

    51

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô h̀nh nghiên cứu

     

    Tên biến

    Cách đo lường biến

     
         
     

    Biến phụ thuộc

     

    Tỷ lệ dòng tiền tự do của công ty

    Dòng tiền tự do / Tổng tài sản

     

    (FCFit)

       
     

    Các biến độc lập

     
         

    Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit)

    Tổng nợ / Tổng vốn chủ sở hữu

     
         

    Tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit)

    Tổng nợ dài hạn / Tổng nợ

     
     

    Các biến kiểm soát

     
         

    Khả năng sinh lợi (PRFTit)

    Lợi nhuận sau thuế / Tổng số cổ phiếu thường đang lưu

     

    hành

     
     
         

    Cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong

    (Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu + giá trị sổ sách

     

    của nợ dài hạn + Giá trị sổ sách của nợ ngắn hạn) / Tổng

     

    tương lai của công ty (TOBNQit)

    tài sản

     
     
         

    Tốc độ tăng trưởng của công ty

    (Doanh thu năm t – Doanh thu năm t-1) / Doanh thu năm

     

    (GROWTHit)

    t-1

     
         

    2.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán được công bố trên website của 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi dữ liệu được thu thập, tác giả thực hiện bước tiếp theo là tính toán các biến dựa trên số liệu thu thập được từ báo cáo tài chính.

     

    2.3. Phương pháp phân tích

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thông qua hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong mô hình. Trước tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF), nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là nghiêm trọng (Gujrati, 2003). Tiếp theo đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    sai của sai số thay đổi. Nếu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nếu có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ chuyển sang phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS). Wooldridge (2002) cho rằng, phương pháp này rất hữu dụng khi kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi.

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • Thống kê mô tả

    Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2015 với các biến số được mô tả trong bảng 2 sau đây:

     

     

    52

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    Bảng 2: Thống kê mô tả các biến

     

    Biến

    Số quan sát

    Trung bình

    Giá trị nhỏ nhất

    Giá trị lớn nhất

             

    FCFit

    390

    1,0349

    0,0159

    6,1603

    DEit

    390

    1,6585

    0,1479

    6,3208

    LTDRit

    390

    1,6585

    0,0002

    0,9139

    PRFTit

    390

    0,0022

    -0,0206

    0,0214

    TOBNQit

    390

    1,1125

    0,3049

    9,5349

    GROWTHit

    390

    1,1925

    0,1016

    14,0715

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    Từ kết quả thống kê mô tả cho thấy, các biến trong mô hình ước lượng đều thu đủ dữ liệu với 309 quan sát.

     

    3.2. Phân tích tương quan

     

    Hệ số tương quan giữa các biến được mô tả ở bảng 3 sau đây:

     

    Bảng 3: Hệ số tương quan giữa các biến

     

     

    FCFit

    DEit

    LTDRit

    PRFTit

    TOBNQit

    GROWTHit

    INFt

    FCFit

    1,0000

               

    DEit

    -0,0012

    1,0000

             

    LTDRit

    -0,3631

    0,0084

    1,0000

           

    PRFTit

    0,1180

    -0,2066

    -0,0346

    1,0000

         

    TOBNQit

    0,1787

    0,0820

    -0,0702

    -0,1174

    1,0000

       

    GROWTHit

    0,0365

    -0,1436

    -0,0258

    0,0550

    0,0049

    1,0000

     

    Dựa vào bảng 3, ta thấy: biến độc lập DEit và LTDRit tác động ngược chiều với FCFit. Trong khi đó, các biến kiểm soát tác động cùng chiều lên FCFit. Không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình) do các hệ số tương quan

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    có giá trị khá thấp (giá trị cao nhất là 0.2066, chuẩn so sánh theo Farrar & Glauber (1967) là 0,8). Kết quả phân tích tương quan trên phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước trên thế giới và phù hợp với kỳ vọng của tác giả trong giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam.

     

     

    3.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

     

    Bảng 4: Kết quả kỉm định VIF, phương sai c̉a sai số thay đổi và tự tương quan

     

    Kiểm định VIF

     

    Kiểm định phương sai của sai

    Kiểm định tự tương

     

    số thay đổi

    quan

           
               

    Biến

    VIF

     

    1/VIF

    White’s test

    Wooldridge test

    DEit

    1,07

     

    0,9362

       

    PRFTit

    1,06

     

    0,9449

    Chi2 (20) = 33,03

    F (1, 77) = 37,217

    TOBNQit

    1,02

     

    0,9769

    GROWTHit

    1,02

     

    0,9778

       

    LTDRit

    1,01

     

    0,9927

       

    Giá trị trung bình = 1,04

    Prob > chi2 = 0,0335**

    Prob > F = 0,000*

     

     

    53

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số nhân tử phóng đại phương sai cho kết quả VIF

     

    • Vậy, hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là không nghiêm trọng. Kiểm định White cho thấy mô hình có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi với mức ý nghĩa 5%. Trong khi đó, kiểm định Wooldridge cho rằng mô hình có hiện tượng tự tương quan ở mức ý nghĩa 1%.

    3.4. Kết quả hồi quy

     

    Kết quả kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan, các hiện tượng này có thể được kiểm soát bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (Wooldridge, 2002). Do đó, kết quả mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Bảng 5: Kết quả mô h̀nh nghiên cứu

     

    FCFit

    Hệ số hồi quy

     

    Hằng số

    0,9171*

     
         

    DEit

    -0,0831*

     

    LTDRit

    -0,4439*

     

    PRFT

    7,6406***

     

    it

       

    TOBNQit

    0,1453*

     

    GROWTHit

    0,0630*

     

    Số quan sát

    390

     

    F-test

    Wald chi2(5) = 169,42

     

    Prob > chi2 = 0,0000*

     
     
         

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Với biến phụ thuộc là dòng tiền tự do (FCFit), sau khi dùng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan, ta có kết quả nghiên cứu như sau: đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều

     

    lên dòng tiền tự do (FCFit). Trong đó, đòn bẩy của công ty được đo lường thông qua hai chỉ tiêu

     

    là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit) và tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit). Điều này cho thấy rằng, những

    công ty sử dụng đòn bẩy tài chính cao thường có tỷ lệ dòng tiền tự do thấp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động cùng chiều của ba biến kiểm soát: năng sinh lợi (PRFTit), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQit) và tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTHit) đến dòng tiền tự do (FCFit).

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do (FCF) tại 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã áp dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy hai biến độc lập đại diện cho đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DE) và tỷ lệ nợ dài hạn (LTDR)) và ba biến kiểm soát (khả năng sinh lợi (PRFT), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQ) và tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTH)) đều tác động đến dòng tiền tự do (FCF). Kết quả nghiên cứu là cơ sở để góp phần giúp các công ty, nhà đầu tư nhận định một cách rõ hơn về sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Kết quả này là bằng chứng thực nghiệm của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, do đó mang lại giá trị thiết thực đối với các doanh nghiệp ở nước ta. Với kết quả này, bài nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, bài nghiên cứu còn gặp hạn chế như số lượng công ty đưa vào nghiên cứu còn ít (chỉ nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh), chưa xét đến sự tác động của các biến kiểm kiểm soát đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô hoặc đặc điểm ngành,… đây cũng là hướng nghiên cứu cho các bài nghiên cứu tiếp theo.

     

     

    54

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Farrar, D. and Glauber, R. (1967). Multicollinearity in Regression Analysis: The Problem Revisited, Review of Economics and Statistics, 49, pp.92-107.
    • Gujarati, D. (2003). Basic Econometrics (4th edn), New York: McGraw-Hill.
    • Khan, A., Kaleem, A., Nazir, M. (2012). Impact of Financial Leverage on Agency cost of Free Cash Flow: Evidence from the Manufacturing sector of Pakistan. Journal of Basic and Applied Scientiic Research. ISSN 2090-4304.

     

    • Jensen, M. C. (1986). Agency Costs of Free Cash Flow, Corporate Finance, and Takeovers. American Economic Review, 76, 323-329.

     

    • Lingling, W. (2004). The Impact of Ownership Structure on Debt Financing of

    Japanese Firms With the Agency Cost of Free Cash Flow (January 12, 2004). EFMA 2004 Basel Meetings Paper. Available at SSRN: http://ssrn.com/abstract=488042 or http:// dx.doi.org/10.2139/ssrn.488042

     

    • McKnight, J. (2008). Agency costs, corporate governance mechanisms and ownership structure in large UK publicly quoted companies: A panel data analysis. The Quarterly Review of Economics and Finance, 49, 139-158.

     

    • Zhang, Y. (2009). Are Debt and Incentive Compensation Substitutes in Controlling the Free Cash Flow Agency Problem? Financial Management, 38(3), 507-541.
    • Wooldridge, J. (2002). Introductory Econometrics: A Mordern Approach, 2nd Ed., South-Western College.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%E1%BA%A4U-TR%C3%9AC-V%E1%BB%90N-%C4%90%E1%BA%BEN-T%E1%BB%B6-SU%E1%BA%A4T-L%E1%BB%A2I-NHU%E1%BA%ACN-R%C3%92NG-BI%C3%8AN-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    IMPACT OF CAPITAL STRUCTURE ON THE NET INTEREST MARGIN OF THE COMMERCIAL BANK IN VIETNAM

     

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết này xem xét tác động c̉a cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài ch́nh c̉a 19 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014. Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được thống kê c̉a World Bank. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp h̀i quy trên dữ liệu bảng. Bao g̀m: phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Sau đó, nghiên cứu áp dụng phương pháp b̀nh phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để đảm bảo tính vững và hiệu quả của mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu trên

     

    tổng tài sản (CAPi,t ), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOANi,t ), tỷ lệ lạm phát hàng năm (CPIt ) và tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (GDPt ) tác

     

    động có ý nghĩa đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên c̉a NHTM Việt Nam.

     

    Từ khóa: cấu trúc vốn, tỷ suất lợi nhuận ròng biên, ngân hàng thương mại, Việt Nam

     

    Đoàn Thị Thu Trang(*)

     

    ABSTRACT

     

    This paper examines the impact of capital structure on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam. The data used for the research were collected from the inancial reports of 19 Commercial bank in Vietnam during the period 2007-2014. In addition the research also use the economic growth rate (GDP) and the inlation rate (CPIt ) were the World Bank’s statistics. The research applies the panel data regression models, including the OLS Model, the Fixed Effect Model (FEM) and the Random Effect Model (REM). Next, the research employs the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) technique to ensure the viability and effectiveness of the research model. The research result shows that the capital to assets ratio (CAPi,t ). The loans to assets ratio (LOANi,t ), the inlation rate (CPIt ) and the economic growth rate (GDPt ) have an impact on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam.

     

    Keywords: capital structure, the net interest margin, commercial bank, Vietnam

     

     

    • GV. Khoa Tài ch́nh – Ngân hàng, trừng Đại ḥc Công nghiệp thành phố H̀ Ch́ Minh. ĐT: 0935 98 98 97. Email: [email protected]

     

     

    27

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007, Việt Nam đã đón nhận nhiều cơ hội cũng như thách thức cho mọi lĩnh vực ngân hàng – một lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Việc mở cửa thị trường tài chính, làm các NHTM Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn từ các ngân hàng nước ngoài. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố tỷ suất lợi nhuận ròng biên (NIM) của hầu hết các NHTM Việt Nam trong những năm gần đầy đều có xu hướng giảm, đặc biệt là trong hai năm 2013 và 2014.

     

    Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi biên (Net Interest Margin – NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất.

     

    Ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng đã là một đề tài tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và học giả. Các nghiên cứu khác nhau đã được tiến hành để tìm hiểu tác động của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Các nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau và các phương pháp và đã có những ý kiến khác nhau về kết quả. Một số nghiên cứu cho thấy rằng có tác động tích cực của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Mặc dù có một số nghiên cứu định lượng đã được tiến hành nhằm xác định tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới nhưng theo hiểu biết của các tác giả, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này

     

    được thực hiện tại Việt Nam.

     

    Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra câu trả lời về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Dựa vào kết quả này giúp các NHTM có thể xác định cấu trúc vốn hợp lý để góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung.

     

    2. CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

     

    Tỷ suất lợi nhuận ròng biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi (chủ yếu là thu từ cho vay, đầu tư) so với mức tăng trưởng của chi phí lãi (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ). Tỷ suất lợi nhuận ròng biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Do vậy nếu có cấu tài sản nợ, tài sản có hợp lý, tối ưu thì sẽ làm cho tỷ lệ này gia tăng qua các năm. (Trịnh Hồng Hạnh, 2015).

     

    Tổng hợp một số nghiên cứu gần đây có liên quan được tóm tắt ở bảng 1 sau đây:

     

    28

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 1: Tổng hợp các nghiên cứu trức

     

       

    Biến phụ

     

    Các biến độc lập tác động có ý nghĩa

    Tác giả

    Dữ liệu nghiên cứu

         
       

    Chiều

    thuộc

     

    Tên biến

         
             

    tác động

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ vốn

    (+)

             

    Sehrish Gul

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài

    (+)

    2005-2009

     
     

    sản

    & các cộng

    Dữ liệu 15 NHTM ở

    lợi biên

       

    sự (2011)

    (NIM)

         
     

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP

    (-)

    Pakistan

     
             
           

    Tỷ lệ lạm phát

    (+)

               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu

    (+)

    Bashir

    1993 – 1998

         

    lợi biên

         
         

    (2000)

    Dữ liệu tám quốc gia ở

     

    Tỷ lệ dư nợ cho vay trên

     

    (NIM)

     

    (+)

     

    khu vực Trung Đông

     
         

    tổng tài sản

           
               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản

    (-)

    Khalaf Taani

    2007-2011

    Tỷ suất sinh

         
         

    & các cộng

    Dữ liệu 12 NHTM niêm

    lợi biên

         

    sự (2011)

    yết trên sàn chứng khoán

    (NIM)

     

    Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

    (-)

     

    Amman

           
               
           

    Tỷ lệ nợ dài hạn trên Vốn

    (-)

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    chủ sở hữu

    Mubeen

         

    Tỷ suất sinh

         
         

    2008-2012

     

    Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên Vốn

     

    mụahid &

    lợi biên

     

    (-)

    các cộng sự

    Dữ liệu các ngân hàng ở

     

    chủ sở hữu

    (NIM)

       

    (2014)

    Pakistan

         
     

    Tỷ lệ tổng nợ trên Vốn chủ

    (-)

         
           
           

    sở hữu

             
               
         

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng để tìm ra sự tác động của một số yếu tố đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Căn cứ vào kết quả của các bài nghiên cứu trước có liên quan, mô hình nghiên cứu dự kiến có phương trình như sau:

     

    NIMit = β0 + β1CAPit + β2 LOANit + β3 INFt + β4GDPt + εit

     

    Trong đó:

     

    Biến phụ thuộc NIMit: Tỷ suất lợi nhuận ròng biên

     

    Các biến độc lập: Tỷ lệ vốn (CAPit), tỷ lệ cho vay (LOANit), tỷ lệ lạm phát (INFt), tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

     

    29

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2: Các biến sử dụng trong mô h̀nh nghiên cứu

     

     

    Biến

    Ký hiệu

    Đo lường

    Giả thuyết

               

    Biến phụ thuộc

    Tỷ  suất  lợi  nhuận

    NIM

    i,t

    Thu nhập lãi ròng / Tài sản có sinh lãi

     
     

    ròng biên

         

    Biến độc lập

    Tỷ lệ vốn

    CAPi,t

    Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản

    +

             

    Các biến kiểm

    Tỷ lệ cho vay

    LOANi,t

    Tỷ lệ cho vay / Tổng tài sản

    +

    Lạm phát

    CPI

     

    Tỷ lệ lạm phát hàng năm

    +

    soát

     

    t

         
             
     

    Tăng trưởng kinh tế

    GDPt

    Tỷ lệ tăng GDP hàng năm

    4. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thông qua hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong các mô hình. Trước tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF), nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là nghiêm trọng (Gujrati, 2003). Tiếp theo đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi. Nếu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nếu có hiện tượng tự tương quan và

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ chuyển sang phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS). Wooldridge (2002) cho rằng, phương pháp này rất hữu dụng khi kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi.

     

    4.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được c̉a 19 NHTM Việt Nam trong giai đoạn

     

    2007-2014. Riêng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được lấy từ số liệu thống kê của World Bank.

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    • Thống kê mô tả

    Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 19 NHTM trong giai đoạn 2008 – 2014 với các biến số được thống kê mô tả trong bảng 3 sau đây:

     

     

    Bảng 3: Thống kê mô tả các biến

     

    Biến

    Số quan sát

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Giá trị nhỏ nhất

    Giá trị lớn nhất

               

    NIMi,t

    152

    0.0346482

    0.0152211

    0.008193

    0.104947

    CAPi,t

    152

    0.1267721

    0.0900562

    0.042556

    0.614083

    LOANi,t

    152

    0.5298685

    0.1369904

    0.156097

    0.944218

    CPIt

    152

    0.107225

    0.0618049

    0.0409

    0.2312

    GDPt

    152

    0.059375

    0.0059932

    0.0525

    0.0713

               
         

    Nguồn:

    Kết quả phân t́ch

    c̉a tác giả

     

     

    30

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    5.2. Phân tích tương quan

     

    Hệ số tương quan giữa các biến được mô tả ở bảng 4 sau đây:

     

    Bảng 4: Hệ số tương quan giữa các biến

     

     

    NIMi,t

    CAPi,t

    LOANi,t

    CPIt

    GDPt

               

    NIMi,t

    1.0000

           
               

    CAPi,t

    0.7284

    1.0000

         
               

    LOANi,t

    0.3494

    0.1885

    1.0000

       
               

    CPIt

    0.0887

    0.0423

    -0.0320

    1.0000

     
               

    GDPt

    -0.1943

    -0.0380

    -0.0910

    0.0045

    1.0000

               

    Dựa vào bảng phân tích tương quan trên, ta thấy:

     

    • Biến độc lập CAPi,t tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Các biến kiểm soát LOANi,t, INFt tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Biến kiểm soát GDPt tác động ngược chiều đến NIMi,t.
    • Không có  hiện  tượng  đa  cộng  tuyến

    5.3. Kiểm định các giả thuyết hồi quy

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    nghiêm trọng (tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình) do các hệ số tương quan có giá trị khá thấp (cao nhất là 0.1885, chuẩn so sánh theo Farrar & Glauber (1967) là 0.8).

     

    Kết quả tương quan trên phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước trên thế giới và phù hợp với kỳ vọng của tác giả trong giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam.

     

     

    Bảng 5: Kết quả kỉm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập

     

    Kiểm định VIF

     

    Biến

    VIF

    1/VIF

         

    LOANi,t

    1.05

    0.955888

    CAPi,t

    1.04

    0.961693

    GDPt

    1.01

    0.991268

    CPIt

    1.00

    0.996543

     

    Giá trị trung bình = 1.02

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

     

    Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình tương quan tuyến tính với nhau. Nghiên cứu tiến hành kiểm định giả thuyết không bị hiện tượng đa cộng tuyến bằng cách

    dùng chỉ tiêu VIF. Kết quả cho thấy VIF của tất cả các biến độc lập đều nhỏ hơn 10 nên hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình được đánh giá là không nghiệm trọng (Gujrati, 2003).

     

     

    31

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 6: Kỉm định phương sai c̉a sai số thay đổi và kỉm định tự tương quan

     

    Kiểm định phương sai của sai số thay đổi

    Kiểm định tự tương quan

       

    White’s test

    Wooldridge test

       

    Chi2 (14) = 70.80

    F (1, 18) = 52.478

       

    Prob > chi2 = 0.0000*

    Prob > F = 0.0000*

       

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

     

    • Phương sai của sai số thay đổi sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng ngộ nhận các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa, lúc đó kiểm định hệ số hồi quy và R bình phương không dùng được. Bởi vì phương sai của sai số thay đổi làm mất tính hiệu quả của ước lượng, nên cần thiết phải tiến hành kiểm định giả thuyết phương sai của

     

    sai số không đổi bằng kiểm định White, với giả thuyết H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi. Với mức ý nghĩa alpha= 1%, kiểm định White cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob

     

    • 01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có hiện tượng phương sai thay đổi.
      • Giữa các sai số có mối quan hệ tương quan với nhau sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành

     

    kiểm định giả thuyết không bị tự tương quan trên dữ liệu bảng, với giả thuyết H0: không có sự tự tương quan. Với mức ý nghĩa alpha = 1%,

     

    kiểm định cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob < 0.01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có sự tự tương quan.

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Tổng hợp kết quả kiểm định

     

    Qua kết quả kiểm định từng phần ở trên, ta thấy: mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là không nghiêm trọng. Tuy vậy, mô hình có sự tự tương quan giữa các sai số và có hiện tượng phương sai thay đổi. Hiện tượng này sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng các phương pháp hồi quy thông trường trên dữ liệu bảng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Do vậy, tác giả dùng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (theo Wooldridge (2002)).

     

    5.4. Kết quả hồi quy

     

    Tiếp theo, nghiên cứu áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Mô hình nghiên cứu có hiện tượng tự tương quan giữa các sai số, hiện tượng này có thể được kiểm soát bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (Wooldridge, 2002). Kết quả các mô hình nghiên cứu như sau:

     

     

    32

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 7: Kết quả mô h̀nh nghiên cứu

     

    NPLit

     

    Hệ số hồi quy

           
                   

    OLS

    FEM

     

    REM

     

    FGLS

       
             
                     

    Hằng số

    0.0285146

    0.0378517

     

    0.0312934

     

    0.0166779

       
                     

    CAPi,t

    0.1149903*

    0.0840991*

     

    0.1084794*

     

    0.0973284*

       
                     

    LOANi,t

    0.0233054*

    0.0163841**

     

    0.0206192*

     

    0.0216005*

       
                     

    CPIt

    0.0165636

    0.0179918

     

    0.0167786

     

    0.0293592*

       
                     

    GDPt

    -0.3801066*

    -0.4122199*

     

    -0.3894229*

     

    -0.1717714**

       
                     

    R2

    60.39%

    59.83%

     

    60.36%

           
                     
     

    F( 4,  147) =

    F(4,129)

    =

    Wald chi2(4)

     

    Wald chi2(4)

       
     

    13.14

     

    = 142.28

     

    = 99.04

       

    F-test

    56.03

           

    Prob > F

    =

    Prob > chi2

    =

    Prob > chi2

    =

     
     

    Prob > F = 0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

       
               
                 
     

    Ghi chú: *, *****

    có ý nghĩa tương ứng

    ở mức 1%, 5% và 10%

       
           

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Với biến phụ thuộc là NIMi,t, sau khi dùng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả, ta có kết quả như sau:

     

    NIMit = 0.0167 + 0.0973 CAPit + 0.0216 LOANit + 0.0294 INFt – 0.1718 GDPt + εit

     

     

    Biến độc lập, tỷ lệ vốn (CAPi,t) có mối tương quan dương và mạnh nhất (0.0973) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011), Bashir (2000), Khalaf Taani & các cộng sự (2011) và Mubeen mụahid & các cộng sự (2014), và có thể được giải thích rằng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên của NHTM càng cao và ngược lại. Điều này chứng tỏ quy mô vốn chủ sở hữu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam.

     

    Biến kiểm soát, tỷ lệ cho vay (LOANi,t) có mối tương quan dương (0.0216) với tỷ suất lợi

    nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có

     

    • nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011) và Bashir (2000), và có thể được giải thích rằng, các NHTM Việt Nam càng mở rộng quy mô cho vay thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Tại Việt Nam hoạt động truyền thống và chủ yếu của các ngân hàng vẫn là cho vay (chiếm khoản 70 – 80% hoạt động của ngân hàng). Chính vì vậy, đa số các ngân hàng thường có xu hướng tập trung vào hoạt động cho vay, kênh chính để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    Biến kiểm soát, lạm phát (INFt) có mối tương quan dương (0.0294) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa

     

     

    33

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    thống kê với mức ý nghĩa 1%. Thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014 cho thấy, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao tăng đến 19.89% trong năm 2008 và 18.58% trong năm 2011 và kéo theo sự gia tăng lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi mặc dù với những tỷ lệ khác nhau, với quy định về trần lãi suất huy động đã làm hạn chế gia tăng lãi suất huy động và kết quả là làm hệ số NIM tăng lên.

     

    Biến tăng trưởng kinh tế (GDPt) có mối tương quan ngược chiều (– 0.1718) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%. Thực tế từ năm 2007 – 2014 cho thấy, khi các hoạt động kinh tế tăng sẽ làm tăng giá trị vay của khách hàng (lãi suất huy động được điều chỉnh giảm liên tục từ đó kéo theo lãi suất cho vay cũng giảm đáng kể, do đó làm giảm chênh lệch lãi suất và giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    Bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại 19 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014. Tác giả đã áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM), Random effects model (REM), tiếp đó là phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất lợi nhuận ròng biên bị tác động bởi

     

    lập tỷ lệ vốn (CAPi,t), tỷ lệ cho vay (LOANi,t), Lạm phát (INFt)và tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

    Kết quả nghiên cứu đã góp phần giúp cơ quan quản lý, các ngân hàng thương mại, nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện hơn về tỷ suất lợi nhuận ròng biên và những yếu tố nào tác động đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số gợi ý nhằm giúp các cơ quan quản

     

    lý, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư có kế hoạch cụ thể góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, phát triển ổn định và bền vững. Cụ thể:

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều mạnh nhất đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng tăng thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Vì vậy NHTM cần nâng cao hơn nữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Tại NHTM có rất nhiều cách để tăng vốn chủ sở hữu của mình như: phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường, bán cổ phần cho đối tác chiến lược là các ngân hàng trong nước và nước ngoài, các tổng công ty trong nước và nước ngoài, thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hay sử dụng thặng dư vốn cổ phần của những năm trước để lại để tăng vốn cho năm nay hoặc trích lập các quỹ từ nguồn lợi nhuận năm trước. Tùy theo thế mạnh của từng ngân hàng và tình hình cụ thể trong từng thời kỳ, ngân hàng sẽ có những lựa chọn phương thức tăng vốn chủ sở hữu đảm bảo nguồn vốn bền vững và đảm bảo lợi ích của các cổ đông trong ngân hàng.

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ cho vay : Tỷ lệ cho vay có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tăng tỷ lệ cho vay sẽ giúp tỷ suất lợi nhuận ròng biên gia tăng. Nhưng khi tăng tỷ lệ cho vay mà không kiểm soát được chặt chẽ thì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngoài ra còn thúc đẩy lạm phát quốc gia tăng cao. Vì vậy các ngân hàng muốn tăng tỷ lệ cho vay sẽ phải chấp nhận đánh đổi rủi ro, nhưng phải đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

     

    Về vấn đề lạm phát : Lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, khi tỷ lệ lạm phát gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất

     

     

    34

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    cho vay và lãi suất tiền gửi với những tỷ lệ khác nhau, điều này có thể làm cho tỷ suất lợi nhuận ròng biên có thể gia tăng hoặc giảm sút. Khi mức lạm phát được kiềm chế, các ngân hàng có thể duy trì mức lãi suất thực dương mà không cần dựa vào các chi phí lãi suất ngầm để thu hút khách hàng, sẽ giúp gia tăng tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    Về vấn đề tăng trưởng GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Bởi vì khi các chủ trương, cơ chế chính sách hỗ

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bashir, A. (2000), Determinants of proitability and rates of return margins in Islamic banks: some evidence from the Middle East, Grambling State University Mimeo.
    • Sehrish Gul (2011), Factors affecting bank proitability in Pakistan, The Romanian Economic Journal
    • Gujarati (2003), Basic Econometrics (4th edn), New York: McGraw-Hill.

    trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh được ban hành như lãi suất cho vay, hỗ trợ các doanh nghiệp tăng trưởng sản xuất sẽ làm giảm chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động, làm giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên. Vì vậy, khi kích thích tăng trưởng GDP, nhà nước nên lưu ý điều hành linh hoạt, chủ động các công cụ chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa để điều chỉnh lãi suất ở mức hợp lý và cần đẩy mạnh cải cách hạnh chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí.

     

    • Khalaf Taani (2013), Capital Structure Effects on Banking Performance: A Case Study of Jordan. International Journal of Economics, Finance and Management Sciences. Vol. 1, No. 5, 2013, pp. 227-233.

     

    • Mubeen Muajahid (2014), Impact of Capital Structure on Banking Performance, Vol.5, No.19, 2014, pp. 2222-2847

     

    • Wooldridge (2002), Introductory Econometrics: A Mordern Approach, 2nd, South-Western College.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Truy%E1%BB%81n-d%E1%BA%ABn-c%E1%BB%A7a-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-%C4%91%E1%BA%BFn-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN

     

    TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

     

    MONETARY POLICY TRANSMISSION TO

     

    ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM

     

    Hồ Thủy Tiên, Chu Thị Thanh Trang, Hồ Thu Hoài1

     

    Ngày nhận: 11/12/2018            Ngày nhận bản sửa: 30/12/2018            Ngày đăng: 15/02/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu truyền dẫn chính sách tiền tệ (CSTT) đến tăng trưởng kinh tế thông qua sử dụng mô hình SVAR, số liệu phân tích được lấy theo quý từ Quý 1/2000 đến Quý 4/2016. Tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích để đánh giá cơ chế truyền dẫn từ các biến công cụ và biến trung gian trong cơ chế điều hành CSTT. Kết quả nghiên cứu cho thấy kênh lãi suất là kênh chủ đạo, tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn phản ứng nhanh trước thay đổi của tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối và chỉ số giá chứng khoán. Phân tích phân rã phương sai thông qua các kênh cho thấy tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt theo thời gian giữa các kênh.

     

    Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, truyền dẫn chính sách tiền tệ, SVAR.

     

    Abstract

     

    Studying the transmission of monetary policy to economic growth by using the SVAR model, the data is conducted quarterly from Q1/2000 to Q4/2016. The authors uses a combination of analytical methods to evaluate the transmission mechanism from instrument variables and intermediate variables in the monetary policy. The result shows that interest rate channel is the main channel, strongly impact on economic growth. In addition, economic growth has responded quickly to changes in exchange rates, foreign exchange reserves and stock price indices. Analysis of variance decomposition across channels shows that economic growth varies over time between channels.

     

    Key words: Economic Growth, Monetary Policy Transmission, SVAR.

     

    1. Giới thiệu

     

    CSTT là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, đồng thời kiểm soát lạm phát thông qua các kênh truyền dẫn của CSTT như kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tín dụng,… Vì vậy, để có thể

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    vận dụng thành công CSTT qua đó kiểm soát tốt lạm phát thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì các nhà hoạch định chính sách cần hiểu rõ cơ chế truyền dẫn và xem xét các cú sốc của CSTT đến nền kinh tế. Hiểu rõ được tầm quan trọng của CSTT đối với nền kinh tế, trong thời gian

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    qua, nhiều các nghiên cứu từ hàn lâm đến thực nghiệm đều xem xét và đo lường riêng lẻ hiệu quả của một số kênh truyền dẫn hoặc là tổng hợp các kênh truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế. Hầu hết kết quả của các nghiên cứu này chỉ ra rằng cú sốc của CSTT tác động rõ rệt đến sản lượng và lạm phát với mức độ và thời gian tác động của từng kênh truyền dẫn trong CSTT là khác nhau. Ở Việt Nam đã có một số các nghiên cứu về truyền dẫn CSTT nhưng tập trung nghiên cứu ở kênh lãi suất và tỷ giá, còn các nghiên cứu tổng hợp các kênh truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế còn khá khiêm tốn và hầu như chỉ nghiên cứu cho giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam những năm gần đây đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính 2008 đã điều hành khá hiệu quả CSTT thông qua tổng hòa các kênh truyền dẫn đã kiểm soát tốt lạm phát và duy trì tăng trưởng. Trong đó kênh truyền dẫn nào có vai trò lớn nhất? Và sự thay đổi trong cấu trúc kênh truyền dẫn hiệu quả của CSTT như thế nào? Nhóm nghiên cứu tiếp tục chọn đề tài Truyền dẫn chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000

     

    – 2016 để giải quyết các vấn đề đặt ra trên đây.

     

    2. Các nghiên cứu trước đây có liên quan

     

    Chủ đề về các kênh truyền dẫn CSTT tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đã thu hút khá đông các nhà nghiên cứu quốc tế thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm. Có thể kể đến các nghiên cứu như sau:

     

    Borys và Horváth (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của CSTT ở Séc. Sử dụng kỹ thuật mô hình VAR, bài nghiên cứu tìm thấy giá cả và sản lượng suy giảm trong khoảng một năm sau

    cú sốc thắt chặt CSTT, điều này phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Trung ương nước này. Nghiên cứu cũng chỉ ra phản ứng của giá hàng hóa thương mại đối với cú sốc thắt chặt tiền.

     

    Deepak Mohanty (2012) nghiên cứu về kênh truyền dẫn lãi suất ở Ấn Độ. Bằng cách sử dụng mô hình SVAR, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng chính sách tăng lãi suất có ảnh hưởng trái chiều đến tăng trưởng sản lượng với độ trễ 2 quý và tác động giảm nhẹ lạm phát với độ trễ 3 quý. Thời gian đạt trạng thái cân bằng kéo dài khoảng 8 – 10 quý.

     

    Theo John H. Cochrane (2014), phân tích về CSTT với việc cho thấy CSTT có thể tác động đến lãi suất danh nghĩa, và điều chỉnh về lạm phát dự tính. Khi giá cả chậm thay đổi thì CSTT cũng có thể tác động lên lãi suất thực và sản lượng, mặc dù khi lãi suất cao hơn thì kéo theo sản lượng tăng cùng với lạm phát. Vì vậy cần sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và CSTT. Và từ đó đưa ra những gợi ý kết hợp chính sách tài khóa và tiền tệ một cách tối ưu trong một khung chính sách mới dựa trên những lý thuyết mới của mô hình Keynesian.

     

    Kitamura và các tác giả (2015), nghiên cứu truyền dẫn lãi suất thị trường sang lãi suất cho vay ở các ngân hàng Nhật bản. Các tác giả phân tích các yếu tố trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng truyền dẫn đến lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Kết quả trên mẫu toàn bộ các ngân hàng cho thấy hệ số truyền dẫn nhỏ đối với các ngân hàng có tỷ lệ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn hơn; hệ số truyền dẫn cũng thấp với các ngân hàng cho mức độ tập trung thị trường lớn hơn. Nghiên cứu này chưa tìm thấy bằng chứng thống kê ảnh hưởng của

     

    26

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    quy mô ngân hàng và hệ số an toàn vốn đến lãi suất cho vay, trong khi tỷ lệ thanh khoản có tác động cùng chiều với lãi suất cho vay của các ngân hàng. Các đặc điểm nợ của ngân hàng như tỷ lệ vay bằng chứng từ thương mại và trái phiếu công ty trên tổng các khoản vay; tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và hệ số khả năng thanh toán lãi vay có tương quan cùng chiều với lãi suất cho vay của ngân hàng. Trong các nghiên cứu các yếu tố quyết định lãi suất cho vay dựa trên dữ liệu bảng của 122 quốc gia, Perera và Wickramanayake (2016) tìm thấy điều chỉnh lãi suất cho vay liên quan đến các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính ngân hàng cũng như các yếu tố liên quan đến đặc điểm ngân hàng và chất lượng quản trị. Trong các yếu tố, mức độ phát triển của thị trường tài chính, sức mạnh thị trường và minh bạch chính sách của ngân hàng trung ương vẫn là yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng quyết định lãi suất cho vay.

     

    Tại Việt Nam, chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) sử dụng mô hình SVAR để xác định độ lớn và thời gian CSTT truyền dẫn đến các biến mục tiêu. Kết quả là có một số puzzle (mô tả hiện tượng trái ngược lý thuyết) tồn tại trong đó có price puzzle. Kênh lãi suất phản ứng trễ với biến lạm phát trong khi lạm phát lại có phản ứng tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

     

    • Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013) tìm thấy hiện tượng bất cân xứng trong truyền dẫn lãi suất ở Việt Nam. Các ngân hàng bị giới hạn về nguồn vốn thì lãi suất cho vay cao đối với nhóm còn lại và truyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất cho vay không rõ ràng. Cao Thị Ý Nhi & Lê

    Thu Giang (2015) sử dụng mô hình SVAR để phân tích kênh truyền dẫn CSTT Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có price puzzle nhưng lại tồn tại puzzle khác. Cú sốc tăng cung tiền M2 dẫn đến suy giảm sản lượng trong kỳ tiếp theo, tăng nhẹ trong kỳ thứ 2 và sau đó giữ xu hướng giảm các kỳ kế tiếp. Đối với cú sốc tỷ giá, sản lượng tăng trong kỳ đầu và giảm ngay trong kỳ tiếp theo. Nguyễn Duy Sữu & Nghiêm Quý Hào (2016) nghiên cứu kênh tín dụng trong truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam cho kết quả mặc dù có sự liên kết mạnh giữa lãi suất cho vay và lãi suất chiết khấu, nhưng sự truyền tải từ lãi suất cho vay đến tín dụng, từ tín dụng đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát còn yếu. Nguyễn Phúc Cảnh và cộng sự (2016), nhóm tác giả thu thập dữ liệu về CSTT và thị trường cổ phiếu Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 để nghiên cứu quá trình truyền dẫn của CSTT qua kênh giá tài sản tài chính bằng mô hình tự hồi quy cấu trúc (SVAR). Kết quả tại Việt Nam, CSTT có truyền dẫn mạnh qua thị trường chứng khoán thông qua cung tiền, trong khi đó lãi suất không có tác động lớn đến thị trường chứng khoán ở cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index và làm cho giá cả thay đổi.

     

    Nhìn chung các nghiên cứu trong nước và nước ngoài đều đưa ra các kết quả khác nhau về hiệu lực của các kênh truyền dẫn CSTT đến nền kinh tế của từng quốc gia do đặc thù khác nhau và các giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Với đặc thù Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi với qui mô nền kinh tế nhỏ nhưng độ mở lại lớn vì vậy các cú sốc từ bên ngoài chắc chắn có sự tác động rất lớn đến CSTT trong nước vì vậy sẽ không tránh khỏi

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    hiệu lực truyền dẫn của CSTT đến nền kinh tế, đặc biệt là giai đoạn những năm gần đây. Cho nên việc thực hiện đề tài trong giai đoạn hiện nay là vẫn cần thiết.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian đại diện cho các kênh truyền dẫn của CSTT và chuỗi dữ liệu thời gian đại diện cho tăng trưởng kinh tế như sản lượng, chỉ số giá cả,… giai đoạn Quý 1 năm 2000 – Quý 4 năm 2016. Sau khi kiểm tra tính dừng, kiểm tra tính đồng liên kết để xác định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến, nhóm nghiên cứu sẽ dùng phương pháp SVAR để đo lường phản ứng của nền kinh tế trước những cú sốc của chính sách tiền tệ trong nước cũng như một số các cú sốc ngoại sinh lan truyền đến các công cụ của CSTT ở Việt Nam như thế nào. Phương pháp SVAR được xem là

    linh hoạt vì có thể chứa nhiều mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô dựa trên lý thuyết kinh tế và lần lượt cho phép chúng ta xác định được những cú sốc (shock) tiền tệ trực giao.

     

    Mô hình bao gồm các biến ngoại sinh đại diện cho yếu tố mở của nền kinh tế Việt Nam bao gồm: Biến tăng trưởng kinh tế Mỹ (GDPUt) là biến đại diện tăng trưởng kinh tế bên ngoài; Biến lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ (RDUt) đại diện cho thay đổi CSTT bên ngoài ảnh hưởng đến mục tiêu bên trong của nền kinh tế Việt Nam.

     

    Ba nhóm biến nội sinh bao gồm (i) nhóm biến mục tiêu của chính sách bao gồm GDPt, CPIt; (ii) nhóm biến trung gian bao gồm: M2Gt, VNIt, MIGt, EXGt, RLBt; (iii) nhóm biến đại diện các kênh truyền dẫn bao gồm: RDSt, EXUt, RGUt.

     

     

     

     

     

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Mô hình SVAR lý

     

    thuyết

     

    Các kênh truyền

     

    dẫn CSTT

     

    Biến ngoại sinh

    Mô hình SVAR

    Xt= f(GDPUt,

    Yt= f (GDPt, CPIt,

    RDUt)

    M2Gt, RDSt)

    Thêm

     

    biến lãi

     

    suất cho

     

    vay

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, RDSt)

     

    Thêm

     

    biến tỷ

     

    giá

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RDSt)

     

    Thêm

     

    biến tăng

     

    trưởng dự

     

    trữ ngoại

     

    hối

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RGUt,

     

    RDSt)

     

    Thêm

     

    biến chỉ

     

    số giá

     

    chứng

     

    khoán

     

    Mô hình SVAR

     

    Y= f(GDPt, CPIt, VNIt, M2Gt, RLBt, EXUt, RGUt, RDSt)

     

    Truyền dẫn CSTT bao gồm các biến công cụ và biến mục tiêu

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh lãi suất

     

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh tỷ giá

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh tín dụng

     

     

    Truyền dẫn CSTT

     

    qua kênh giá cả tài

     

    sản tài chính

     

    Nguồn: Thiết kế của tác giả

     

    Hình 1. Thiết kế mô hình SVAR đo lường truyền dẫn CSTT tại Việt Nam

     

     

    29

     

       

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

       

    Bảng 1. Tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình

           

    STT

    Biến

    Diễn giải

    Nguồn

           

    1

    GDPt

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

           

    2

    CPIt

    Lạm phát giá tiêu dùng, đại diện lạm phát

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF, Tổng cục

       

    tại Việt Nam

    Thống kê Việt Nam

    3

    GDPUt

    Tăng trưởng kinh tế Mỹ

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    4

    RDSt

    Lãi suất tái cấp vốn, đại diện lãi suất chính

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

       

    sách tại Việt Nam

     

    5

    RLBt

    Lãi suất cho vay bình quân (Bình quân của

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

       

    NHTM lớn tại Việt Nam: (ACB, VCB,

     
       

    STB, CTG, ABI) đại diện lãi suất cho vay

     
       

    trên thị trường tài chính Việt Nam

     

    6

    M2Gt

    Tăng trưởng cung tiền M2

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF, Ngân hàng

         

    Châu Á Thái Bình Dương (ADB)

    7

    EXUt

    Tỷ giá hối đoái USD/VND

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

           

    8

    RGUt

    Tăng trưởng dự trữ ngoại hối

    Quỹ Tiền tệ thế giới IMF

           

    9

    VNIt

    Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam

    Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM

         

    (HOSE)

    10

    MIGt

    Tăng trưởng nhập khẩu

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    11

    EXGt

    Tăng trưởng xuất khẩu

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

           

    12

    RDUt

    Lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ, đại diện

    Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF)

       

    lãi suất chính sách bên ngoài nền kinh tế

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    Đầu tiên, nhóm tác giả thực hiện các bước kiểm định chuỗi dữ liệu thời gian lần lượt như sau:

     

    Kiểm định tính dừng: Tác giả sử dụng kiểm định Dickey – Fuller để kiểm định nghiệm đơn vị cho thấy 6 chuỗi dữ liệu dừng ở chuỗi gốc và 7 chuỗi dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1. Hầu hết các chuỗi dữ liệu đều có mức thống kê 1%. Với kết quả này, các chuỗi dữ liệu hoàn toàn phù hợp với ràng buộc khi ứng dụng mô hình SVAR.

     

    Xác định độ trễ tối ưu: Việc xác định độ trễ tối ưu rất quan trọng trong việc nghiên cứu về sự

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    tác động CSTT truyền dẫn. Tác giả xác định độ trễ tối ưu được đánh giá nhiều nhất dựa trên các tiêu chuẩn LR, FPE, AIC, SC và HQ. Kết quả cho thấy độ trễ tối ứu được lựa chọn là 4 quý.

     

    Kiểm định đồng liên kết: nhóm kiểm định đồng liên kết bằng kiểm định Johansen (Johansen Cointergation Test) nhằm xác định có hay không mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại 8 đồng liên kết với mức ý nghĩa 5%. Dựa vào kết quả trên, các biến có mối quan hệ dài hạn và tác động mạnh với nhau.

     

    30

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

       

    Kiểm định sự phù hợp của mô hình: Kết quả

    kiện ổn định của mô hình. Vì thế, kết quả phân

    cho thấy các nghiệm đều nằm trong vòng tròn

    tích đưa ra đảm bảo độ tin cậy của mô hình

    đơn vị. Nghĩa là, kết quả đáp ứng được điều

    nghiên cứu.

       
       

    Bảng 2. Kết quả hồi quy

       
                 
     

    Variables independent

    Variable dependent (GDP)

       
               
     

    Coefficient

    t-statistics

     

    Probability

     
           
                 
     

    GDPU (-1)

    0.427751

    2.54586

     

    5%

     
                 
     

    RDS (-3)

    -0.57102

    -2.86346

     

    5%

     
                 
     

    EXU (-1)

    -0.00418

    -5.31286

     

    10%

     
                 
     

    RGU (-2)

    -0.018651

    2.53697

     

    5%

     
                 
     

    VNI (-3)

    0.039182

    2.30407

     

    5%

     
                 
     

    C

    12.36211

    3.29503

     

    5%

     
                 
     

    R-squared

    0.856585

    Log likelihood

     

    -56.5653

     
                 
     

    Adj. R-squared

    0.741854

    Akaike AIC

     

    2.673915

     
                 
     

    Sum sq. resids

    21.94789

    Schwarz SC

     

    3.652159

     
                 
     

    S.E. equation

    0.791885

    Mean dependent

     

    6.684747

     
                 
     

    F-statistic

    7.465988

    S.D. dependent

     

    1.558581

     
                 

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

     

    Với kết quả hồi quy có được ta thấy GDP chịu tác động thuận từ tăng trưởng kinh tế Mỹ với độ trễ 1 quý, có nghĩa khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng sẽ mang đến thông tin tốt cho nền kinh tế Việt Nam. Tác động từ các chính sách hỗ trợ từ Mỹ sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng.

     

    Ngoài ra, lãi suất tái cấp vốn (RDS) tăng tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm cho tăng trưởng kinh tế giảm với độ trễ của chính sách là 3 quý. Khi lãi suất tăng, phản ứng ngay lập tức là cầu vốn sẽ giảm. Nhưng một thời gian sau, lãi suất tăng tác động tiêu cực đến nền kinh tế thông qua áp lực lên chi phí vốn các doanh nghiệp, làm cho chi phí đầu vào tăng dẫn đến hiệu quả kinh doanh giảm. Hơn nữa, khi lãi suất tái cấp vốn tăng kéo theo lãi vay các công cụ tài chính khác tăng, do đó làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp, doanh nghiệp hạn chế vay

    vốn để sản xuất kinh doanh và cuối cùng là làm cho sản lượng giảm trong ngắn lẫn dài hạn.

     

    Tỷ giá hối đoái (EXU), dự trữ ngoại hối (RGU) tăng tác động nghịch với tăng trưởng kinh tế và tác động trễ lần lượt 1 quý, 2 quý. Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua luôn trong tình trạng nhập siêu, chính vì vậy mà khi tỷ giá tăng tác động mạnh đến chi phí nhập khẩu. Chi phí nhập khẩu tăng làm cho chi phí đầu vào của hoạt động sản xuất tăng và cuối cùng tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Đồng thời, mặc dù dự trữ ngoại hối cao sẽ gia tăng mức an toàn vốn quốc gia cao, tuy nhiên trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, nền kinh tế rất cần một lượng vốn dồi dào để phát triển. Chính vì vậy việc gia tăng dự trữ cao trong giai đoạn này sẽ tác động không tốt đến nền kinh tế, nhất là khi mà đất nước còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay bên ngoài.

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Chỉ số giá chứng khoán (VNI) tăng góp phần làm cho tăng trưởng kinh tế tăng. Có thể nói thị trường chứng khoán Việt Nam những năm gần đây đóng góp rất lớn cho nền kinh tế. Bên cạnh là kênh huy động vốn hiệu quả thì thị trường chứng khoán còn là kênh cung cấp thông tin hữu ích cho nền kinh tế. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là nơi tựu trung những công ty có

    quy mô vốn lớn, do vậy thị trường tăng trưởng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp ngày càng gia tăng về quy mô lẫn chất lượng.

     

    Tiếp theo, nhóm tác giả sẽ xem xét phản ứng của tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn khác nhau bằng phân tích phản ứng sốc và phân rã phương sai.

     

    Kênh lãi suất

     

     

    Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.

     

       

    Response of GDP_SA to RLB_SA

           

    Response of GDP_SA to GDP_SA

       

    1.6

                     

    1.6

                     

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

               

    8

    9

    10

    -0.4

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

       

    Response of RLB_SA to RLB_SA

           

    Response of RLB_SA to GDP_SA

       

    1.6

                     

    1.6

                     

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

                     

    -0.4

                     

    -0.8

                     

    -0.8

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    Response to Cholesky One S.D. Innovations ± 2 S.E.

     

       

    Response of GDP_SA to RDS_SA

           

    Response of GDP_SA to GDP_SA

       

    1.5

                     

    1.5

                     

    1.0

                     

    1.0

                     

    0.5

                     

    0.5

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.5

               

    8

    9

    10

    -0.5

                 

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

       

    Response of RDS_SA to RDS_SA

           

    Response of RDS_SA to GDP_SA

       

    1.2

                     

    1.2

                     

    0.8

                     

    0.8

                     

    0.4

                     

    0.4

                     

    0.0

                     

    0.0

                     

    -0.4

                     

    -0.4

                     

    -0.8

                     

    -0.8

                     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    Hình 2. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của lãi suất

     

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước cú sốc lãi suất tiền gửi bắt đầu tăng nhẹ từ Quý 1 đến Quý 2. Sau đó tăng trưởng đột ngột giảm mạnh hơn 4% và dần ổn định ở các quý sau đó. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết CSTT. Nghĩa là, khi ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất tiền gửi, nhà đầu tư có xu hướng chọn việc gửi tiền vào ngân hàng thay vì đầu tư vào những khoản rủi ro khác. Thế nhưng, CSTT thắt chặt bằng lãi suất tiền gửi chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Mặt khác, khi tăng lãi suất tái cấp vốn ngân hàng Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam phản ứng giảm nhẹ ở những quý đầu và đảo chiều với ghi nhận tại đỉnh hơn 3% ở Quý

     

    1. Từ sau Quý 3, tăng trưởng kinh tế phản ứng chậm lại và không còn bị tác động bởi lãi suất cho vay bình quân từ Quý 4 trở đi. Tóm lại, tăng trưởng kinh tế chỉ phản ứng trong ngắn hạn trong truyền dẫn kênh giá lãi suất.

    Tuy nhiên, cơ chế truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường và cuối cùng là đến tăng trưởng kinh tế cần xem xét nhiều hơn. Phân rã phương sai của lãi suất tái cấp vốn, tăng trưởng kinh tế bắt đầu chịu tác động của cú sốc lãi suất tái cấp vốn và Quý thứ 2 và mạnh nhất là 9.6% tại Quý 8. Đối với lãi suất cho vay bình quân, tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh hơn, nhưng không mạnh bằng lãi suất tái cấp vốn. Phản ứng bắt đầu vào Quý thứ 2 và đạt mức độ cao nhất vào Quý 3 là 4.7%. Kết quả này cho thấy giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay, thì tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào việc điều hành lãi suất chính sách, trong đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết lãi suất của nền kinh tế.

     

    Kênh tỷ giá

     

     

     

     

     

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả. Hình 3. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của tỷ giá

     

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam có biến động mạnh trước cú sốc của tỷ giá. Cụ thể, tăng trưởng kinh tế giảm khoảng 3% ở 2 quý đầu và đột ngột tăng mạnh từ Quý 2 đến hơn 7% và bắt đầu điều chỉnh phản ứng trước cú sốc tỷ giá đến hết cuối kỳ 8.

     

    Kết quả của phân rã phương sai cho thấy, tỷ giá ảnh hưởng mạnh nhất đến tăng trưởng kinh tế so với các cú sốc vĩ mô khác, với 7.596% ở Quý 3. Mặt khác cú sốc tăng trưởng nhập khẩu tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

     

    mạnh hơn cú sốc tăng trưởng xuất khẩu với (7.08% ở quý 20 của nhập khẩu so với 3.105%

     

    • Quý 2 của xuất khẩu). Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu vào xuất khẩu, tuy nhiên tác giả tìm thấy được sự tác động của cú sốc tăng trưởng nhập khẩu ảnh hưởng đến tăng trưởng mạnh hơn cú sốc tăng trưởng xuất khẩu. Vì vậy, kết quả dẫn tới tỷ giá có xu hướng thay đổi theo chu kỳ kinh doanh khiến cho khó có thể tìm được thông tin.

    Kênh tín dụng

     

     

     

     

    Hình 4. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi dự trữ ngoại hối

     

     

    Tăng trưởng kinh tế Việt Nam phản ứng mạnh nhất trước cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ trong kênh tín dụng so với các kênh truyền dẫn khác. Sự tăng trưởng kinh tế phản ứng ngay từ những quý đầu tiên và đạt 4% ở Quý 3, sau đó trở về mức cân bằng ở Quý 5. Từ những quý sau, cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ tác động vừa phải đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Dự trữ ngoại tệ đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn ngoại tệ. Nhưng nếu dự trữ quá mức sẽ tác động đến tiêu cực đến nền kinh tế.

     

    Kết quả phân rã phương sai cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam phản ứng mạnh nhất

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    dưới cú sốc tăng trưởng tổng dự trữ ngoại tệ với 5.9% ở Quý 4. Mặc dù mức độ phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của dự trữ ngoại hối còn thấp so với lãi suất và tỷ giá. Nhưng xét về thời gian phản ứng thì tăng trưởng kinh tế phản ứng trước thay đổi của dự trữ ngoại hối nhanh hơn so với lãi suất (4.7% so với 3.2% tại quí thứ 3). Kết quả này có thể giải thích rằng, dự trữ ngoại hối tác động trực tiếp đến nguồn cung ứng vốn trong nền kinh tế, nhưng vì quy mô dự trữ không cao do vậy mà tác động đến tăng trưởng kinh tế thấp. Trong khi lãi suất tác động hầu hết các thành phần của nền kinh tế.

     

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    Kênh giá cả tài sản

     

     

     

    Hình 5. Phản ứng của tăng trưởng trước thay đổi của chỉ số chứng khoán

     

     

    Chỉ số chứng khoán VN-Index được xem biến đại diện chính cho kênh giá tài sản. Tăng trưởng kinh tế phản ứng sốc trước thay đổi của chỉ số giá chứng khoán, tăng nhẹ đến gần 2% ở Quý 2 và chạm đỉnh ở Quý 5 ở khoảng 6%. Sau đó cú sốc VNI khiến tăng trưởng kinh tế giảm mạnh hơn 3.5%. Kết quả đưa ra trái ngược với lý thuyết Tobin và mô hình chu kỳ sống của Modigliani. Thông thường, thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc dự báo khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, kết quả đưa ra có sự biến động trong 1 khoảng thời gian dài. Điều đó có nghĩa, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn là thị trường dạng yếu và chưa có thể đánh giá tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả nhất. Thị trường chứng khoán đóng vai trò là kênh huy động vốn dài hạn, tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát huy tốt về điều này. Hay nói cách khác TTCK Việt Nam thời gian qua chỉ đáp ứng nhu cầu đầu cơ ngắn hạn, điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hiệu quả. Mặc dù

    Nguồn: Số liệu được thống kê từ tác giả.

     

    thị trường vẫn cung cấp thông tin cho nền kinh tế, tuy nhiên thông tin đa chiều, chưa đáng tin cậy, hiện tượng thao túng thị trường vẫn diễn ra. Chính những điều trên làm cho chỉ số giá chứng khoán thay đổi thất thường, gây thiệt hại cho nhà đầu tư nhỏ lẻ và và làm cho nền kinh tế khó dự đoán.

     

    1. Kết luận

    Kết quả nghiên cứu là bằng chứng giúp cho việc định hướng chính sách, dự báo tăng trưởng nền kinh tế trong thời gian tới. Từ đó, giúp cho nhà làm chính sách cảnh giác với những biến động bên ngoài trong việc đưa ra cơ chế điều hành phù hợp.

     

    Đối với các kênh truyền dẫn, kênh lãi suất vẫn là kênh chủ đạo, tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế. Không giống như những kênh khác, kênh lãi suất tác động trực tiếp và rõ ràng nhất, trong đó lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước là biến tác động rõ ràng đến tăng trưởng. Cơ chế truyền dẫn thông qua lãi suất truyền dẫn nhanh đến các biến vĩ mô như cung

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 49, 02/2019

     

    tiền, tỷ giá, chỉ số giá chứng khoán, từ đó tác động trở lại đến tăng trưởng kinh tế, kết quả trên đồng thuận với Deepak Mohanty (2012), Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013).

     

    Phân tích phản ứng sốc của tăng trưởng kinh tế trước thay đổi của các biến đại diện các kênh trong cơ chế truyền dẫn cho thấy thông qua kênh lãi suất, tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước lãi suất tái cấp vốn, nhưng lại phản ứng chậm trước lãi suất cho vay bình quân. Thông qua kênh tỷ giá cho thấy tăng trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước tỷ giá, nhưng lại phản ứng chậm trước xuất khẩu và nhập khẩu. Thông qua kênh tín dụng cho thấy tăng trưởng phản ứng nhanh, mạnh trước thay đổi dự trữ ngoại hối. Thông qua kênh giá cả tài sản, tăng

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    trưởng kinh tế phản ứng nhanh trước thay đổi của chỉ số giá chứng khoán theo hướng tích cực.

     

    Phân tích phân rã phương sai thông qua các kênh cho thấy tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt theo thời gian giữa các kênh. Thông qua kênh lãi suất, lãi suất tái cấp vốn vẫn là biến tác động mạnh đến tăng trưởng trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Bên cạnh đó, lãi suất cho vay bình quân vẫn đóng góp đáng kể đến tăng trưởng trong ngắn hạn. Thông qua kênh tỷ giá, tỷ giá vẫn là biến giải thích tăng trưởng kinh tế mạnh nhất và đạt mức độ lớn nhất vào quý thứ 3. Kênh tín dụng qua việc phát hiện mới biến dự trữ ngoại hối tác động đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

     

    Cao Thị Ý Nhi, Lê Thu Giang (2015), Ứng dụng mô hình SVAR nghiên cứu kênh truyền dẫn tiền tệ và gợi ý chính sách tiền tệ ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế & phát triển, Đại học kinh tế Quốc dân, 2015.

     

    Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013). Truyền dẫn chính sách tiền tệ Tại VN. Tạp chí Phát triển & hội nhập, 13(23),15-22.

     

    Trần Ngọc Thơ & cộng sự (2013). Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở VN. Tạp chí Phát triển

     

    • hội nhập, 10(20), 8-16.

     

    Tiếng Anh

     

    Borys, M. M., & Horvath, R. (2008). The Effects of Monetary Policy in the Czech Republic: An Empirical Studyµ, William Davidson Institute, Working Paper No. 922.

    Cochrane, J. H. (2014). Monetary policy with interest on reserves. Journal of Economic Dynamics and Control, 49, 74-108.

     

    Deepak Mohanty. (2012). Evidence of Interest Rate Channel of Monetary Policy Transmission in India. RBI working paper

    Kitamura, T., Muto, I., & Takei, I. (2015). How do Japanese banks set loan interest rates?:

     

    Estimating pass-through using bank-level data (No. 15-E-6). Bank of Japan.

     

    Perera, A., & Wickramanayake, J. (2016). Determinants of commercial bank retail interest rate adjustments: Evidence from a panel data model. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 45, 1-20.

     

    36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà

    Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà

    Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-t%C3%ACm-ki%E1%BA%BFm-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-mua-nh%C3%A0-%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-c%C4%83n-nh%C3%A0-%C4%91ang-%E1%BB%9F-l%C3%AAn-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-mua-nh%C3%A0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lý thuyết tìm kiếm của người mua nhà Ảnh hưởng của căn nhà đang ở lên quyết định của người mua nhà

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    LÝ THUYẾT TÌM KIẾM CỦA NGƯỜI MUA NHÀ:

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CĂN NHÀ ĐANG Ở LÊN QUYẾT ĐỊNH CỦA NGƯỜI MUA NHÀ

     

    SEARCH THEORY IN HOUSING MARKET:

     

    THE IMPACT OF THEIR EXISTING ACCOMODATION ON BUYERS’ DECISIONS Nguyễn Thị Bích Hồng1, Trương Thành Hiệp1

    Ngày nhận: 19/3/2018                Ngày nhận bản sửa: 28/4/2018               Ngày đăng: 5/8/2018

     

    Tóm tắt:

     

    Một người mua nhà đang đạt được nhiều lợi ích từ căn nhà hiện tại thì thường có tâm lý khó tính hơn trong quyết định mua nhà, họ sẽ dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm một căn nhà mới. Ngược lại, một người đang sống trong căn nhà có nhiều đặc điểm gây bất mãn, nghĩa là lợi ích của căn nhà là thấp, thì sẽ động cơ muốn rút ngắn quá trình tìm kiếm nên sẽ dễ dãi hơn trong quyết định mua nhà. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng mô hình lý thuyết chứng minh sự ảnh hưởng của khoảng lợi ích của căn nhà đang ở đối với quyết định mua nhà của người mua. Thông qua đó góp phần giải thích hiện tượng là có một số đặc điểm của căn nhà chỉ có tác động lên giá bán nhà, trong khi một số đặc điểm khác lại có tác động lên cả khả năng bán nhà và thời gian bán của căn nhà (Zuehlke, 1987).

     

    Từ khóa: Thị trường nhà ở; Lý thuyết hành vi của người mua; Lý thuyết tìm kiếm; Lợi ích căn nhà hiện tại; Quyết định mua nhà.

     

    Abstract

     

    • person who has a lot of benefits from the existing house is often consider carefully before deciding to buy a new house, so he will spend more time looking for a new house. In contrast, a person who is living in a house with a lot of disadvantages, ie the utility from staying in the house is low; he is impulsed to shorten the process of searching a house, so it is easier for him to decide on the purchase. In this research, the author suggests a theory model to explain how the benefits of the existing house affect the decision of a house-buyer. From the results, the author explains why some features of the house only affect on selling- price while the others affect on both price and the possibility to buy a house and the time to sell the house. (Zuehlke, 1987).

    Key words: Housing market; Consumer theory; Search theory; Existing house benefit; Decision of a house-buyer.

     

    • Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

    1

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    1. Đặt vấn đề

     

     

    Theo lý thuyết vị thế – chất lượng của Hoàng Hữu Phê và Patrick Wakely (2000), khi một người sống trong một căn nhà, bên cạnh việc hưởng thụ các đặc điểm của căn nhà, các tiện ích của khu vực xung quanh, người sử dụng cũng đồng thời hưởng thụ những yếu tố thuộc về vị thế của căn nhà đó và thông thường những hưởng thụ này sẽ đem lại lợi ích cho anh ta. Tuy nhiên, đôi khi một số đặc tính nào đó của căn nhà có thể trở nên không còn phù hợp với yêu cầu của người sử dụng. Ví dụ như do sự xuống cấp theo thời gian, sự thay đổi yêu cầu của người sử dụng (có thêm thành viên hoặc thay đổi chỗ làm) hay sự xuất hiện đặc điểm mới từ bên ngoài làm cho đặc điểm cũ trở nên lỗi thời và người sử dụng cảm thấy bị giảm vị thế so với người xung quanh,… việc này làm giảm lợi ích ròng nhận được từ việc sử dụng căn nhà, và khi đó, nhu cầu về một căn nhà khác với lợi ích ròng cao hơn sẽ xuất hiện.

     

    Theo các lý thuyết về tìm kiếm của người mua trên thị trường nhà ở đã được phát triển bởi Courant (1978), Turnbull và Sirmans (1993), Qiu và Tu (2014) và Tu và các đồng sự (2016) thì người mua nhà sẽ đưa ra quyết định mua/không mua phụ thuộc vào kết quả so sánh lợi ích đạt được khi mua và lợi ích khi từ chối. Theo đó, lợi ích người mua đạt được khi mua căn nhà là giá trị lợi ích mà người mua có được từ căn nhà đó thông qua việc hưởng thụ

    những đặc tính và vị thế của căn nhà; còn lợi ích mà người mua đạt được khi từ chối mua căn nhà là phần lợi ích kỳ vọng đạt được từ căn nhà sẽ mua sau đó sau khi trừ đi chi phí tìm kiếm.

     

    Tuy nhiên, theo tác giả, khi người mua nhà từ chối mua căn nhà đang xem xét và tiếp tục quá trình tìm kiếm căn nhà tiếp theo thì anh ta vẫn sẽ tiếp tục sinh sống trong căn nhà cũ của mình và hưởng lợi ích mà nó mang lại. Như vậy, lợi ích mà người mua đạt được từ căn nhà đang ở là một cấu thành của lợi ích mà người mua sẽ đạt được khi từ chối mua căn nhà đang xem xét và do đó sẽ có ảnh hưởng lên quyết định mua nhà của người mua. Cụ thể, khi lợi ích này lớn (hàm ý người mua đang hưởng thụ nhiều từ căn nhà này) thì anh ta sẽ có xu hướng khó tính hơn trong việc mua nhà và do đó thời gian mua nhà thường kéo dài. Ngược lại, nếu lợi ích này là nhỏ (hàm ý người mua đang không hài lòng về căn nhà đang ở) thì anh ta thường dễ dãi hơn trong việc mua nhà và do đó thời gian mua nhà thường được rút ngắn.

     

    Hiện tượng này đã được đề cập bởi Zuehlke (1987) khi nghiên cứu về khả năng bán nhà tại Tallahassee, Florida. Ông đã phát hiện ra rằng có một số yếu tố như diện tích khuôn viên nhà, diện tích sàn, số lượng phòng ngủ… có ảnh hưởng mạnh lên giá nhà trong mô hình đánh giá sự hưởng thụ (hedonic model) nhưng lại không có ý nghĩa gì trong khả năng bán

     

    2

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    nhà. Ngược lại, yếu tố nhà để xe và tuổi của căn nhà lại có tác động lên khả năng mua nhà của người mua. Tương tự, Li (2004) cũng phát hiện rằng lượng phòng, lượng toilet, hồ bơi chỉ có tác động làm tăng giá nhà, còn yếu tố giao thông thuận lợi, có hướng Bắc/Nam (không bị ánh nắng trực tiếp) lại tác động rút ngắn thời gian mua nhà của người mua.

     

    Bài nghiên cứu này sẽ phát triển một mô hình lý thuyết về hành vi của người mua dựa trên khung lý thuyết tìm kiếm để trả lời câu hỏi về sự tác động của khoảng lợi ích người mua đạt được từ căn nhà đang ở lên quyết định mua nhà của họ.

     

    2. Một số giả định

     

    Ta bắt đầu mô hình với việc giả sử rằng đang có một lượng đáng kể căn nhà được rao bán một cách ngẫu nhiên trên thị trường. Trong đó, mỗi căn nhà sẽ bao gồm một vector các đặc điểm, Xs, và có mức giá bán là P. Nếu một người (với các đặc điểm cá nhân α, mức thu nhập Y) mua căn nhà thì anh ta sẽ đạt được mức lợi ích ròng từ căn nhà, gọi là v. Đây chính là khoảng hữu dụng mà anh ta đạt được từ việc hưởng thụ các đặc điểm và tiện nghi của căn nhà với hàm hữu dụng u(Xs; α, Y) trừ đi khoản chi phí phải bỏ ra để mua căn nhà

     

    1. Như vậy, khoảng lợi ích ròng của người mua đạt được từ căn nhà đang xem xét được xác định như sau:
    • = u(Xs; α, Y) – P

    3

     

    Và với giới hạn về ngân sách nên người mua luôn thích căn nhà có lợi ích ròng cao hơn là những căn nhà có lợi ích ròng thấp vì nó mang lại hiệu quả cao hơn cho người mua.

     

    Giả định mỗi căn nhà được rao bán một cách ngẫu nhiên trên thị trường với khả năng xuất hiện tại mỗi vị trí là như nhau, với hàm mật độ phân phối xác suất luôn dương g(v) và hàm phân phối tích lũy là G(v). Như vậy, khả năng một người mua nhà tìm thấy một căn nhà đang rao bán trên thị trường với lợi ích ròng v, là g(v)2 với giá trị v ϵ [-∞, +∞].

     

    Cuối cùng, tác giả giả định rằng mỗi lần tìm kiếm một căn nhà khác thì người mua phải tốn thêm một khoảng chi phí tìm kiếm cố định, gọi là c, đại diện cho những tổn thất về thời gian và tiền bạc mà người mua phải bỏ ra để thực hiện quá trình tìm kiếm một căn nhà rao bán, và đây là một yếu tố ngoại sinh đối với người mua, nghĩa là chi phí tìm kiếm, c ,sẽ không chịu tác động của các yếu tố khác, ví dụ như là phí hoa hồng hay kinh nghiệm trên thị trường nhà ở,…(Tu và các đồng sự, 2016).

     

    Bên cạnh đó, để đơn giản cho việc phân tích, tác giả giả định người mua nhà sẽ không từ bỏ quá trình tìm kiếm cho đến

     

    • Theo Turnbull và Sirmans’ (1993) và Qiu và Tu (2014) thì những người mua nhà có nhiều thông tin hơn thì khả năng tìm căn nhà rao bán sẽ tốt hơn so

    với g(v) và Qiu và Tu (2014) đặt là  (  ) = ∫0 1  (   −   (  ))   . Trong khuôn khổ mô hình

    này của tác giả không xem xét tác động của vấn đề thông tin nên giả định rằng m ọi người mua nhà có mức độ thông tin là như nhau.

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    khi mua được căn nhà mới và cuối cùng là giả định rằng không có sự thương lượng lại giữa người mua và người bán nhà. Người mua phải đưa ra quyết định mua hay không mua căn nhà đối với từng căn nhà xem xét và không thể tái thương lượng đối với những căn nhà đã bỏ qua.

     

    3. Mô hình tác động của khoản lợi ích người mua đạt được từ căn nhà đang ở lên quyết định mua nhà

     

    Với một căn nhà i đang được xem xét, người mua luôn có 2 quyết định phải lựa chọn: (1) chấp nhận mua căn nhà và đạt được lợi ích là vi; (2) từ chối mua căn nhà đó, khi đó người mua phải tiếp tục ở lại căn nhà cũ với lợi ích v0, tiếp tục quá trình tìm kiếm căn nhà khác với lợi ích kỳ vọng E(v) với khả năng tìm thấy căn nhà có giá trị v ϵ [-∞, +∞] là g(v), nên E(v) = ∫+    (  ) , và tốn một khoảng phí tìm

     

    kiếm cố định c.

     

    Như vậy, vấn đề của người mua là sẽ đưa ra quyết định mua/không mua dựa trên so sánh lợi ích của hai trường hợp này:

    +

    max {   ,  0 + ∫            (  )              −  }

     

    Theo đó, nến căn nhà i đang xem xét có vi > v0 + ∫+ vg(v)dv − c thì người

     

    mua  sẽ  chấp  nhận  mua  căn  nhà  và  đạt được lợi ích là vi. Ngược lại, nếu vi < v0 + ∫+ vg(v)dv − c thì người mua sẽ từ chối mua căn nhà và đạt được lợi ích

    v0 + ∫+ vg(v)dv − c.

     

    Trong

    trường

    hợp

    vi =

    v + ∫+ vg(v)dv − c,

    ta  gọi

    đây  là

    0

    −∞

         
           

    trường hợp người mua bàng quang giữa việc chấp nhận hay từ chối mua căn nhà. Gọi đây là giá trị đặt trước (the reservation value)3, v* và được xác định như sau:

    +∞

    v = v0 + ∫     vg(v)dv − c               (1)

    −∞

     

    Chú ý rằng, quá trình tìm kiếm căn nhà khác tiếp theo với khả năng tìm được là g(v), người mua có thể gặp được căn nhà với lợi ích (v) tốt hơn hoặc lợi ích (v) tệ hơn so với giá trị đặt trước v*. Do đó, phương trình (1) có thể được viết lại như sau:

    +∞

    v = v0 + ∫                            vg(v)dv

    v

    v

    + ∫ vg(v)dv − c (2)

    −∞

     

    Với trường hợp căn nhà khác tìm được sau đó có lợi ích v nằm trong đoạn [-∞, v*] thì người mua sẽ không chấp nhận khoảng lợi ích v đó mà lại tiếp tục quá trình tìm kiếm căn nhà khác nữa. Do đó, lợi ích mà người mua nhận được trong

     

    trường        hợp         này         vẫn         sẽ         là

    v + ∫+ vg(v)dv − c,  và  theo  phương

    0

    −∞

     

    trình (1) thì đó chính là v*. Như vậy, phương trình (2) được viết lại như sau:

     

    • Giá trị đặt trước: trong lý thuyết Job search của McCall, người lao động sẽ có một mức lương đặt trước w*, khi mức lương được đề nghị wt > w* thì người lao động sẽ từ bỏ cuộc đời thất nghiệp của mình để đi làm, Ngược lại nếu wt < w* thì người lao động sẽ từ chối cơ hội việc làm đó.

     

     

    4

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    +∞

    1. v = v0 + ∫ vg(v)dv

    v

    v

    + ∫ vg(v)dv − c

    −∞

     

    Với 1= ∫+ g(v)dv với v thuộc đoạn [-∞, +∞].

     

    óv[∫v+ g(v)dv + ∫v g(v)dv ] = v0 + ∫v+ vg(v)dv + ∫v vg(v)dv − c

     

    óv+ g(v)dv + vv g(v)dv = v0 + v ∫v+ g(v)dv +

    vv g(v)dv − c

    +∞

    → c − v0 = (v − v) ∫              f(v)dv            (3)

    v

     

    Kết luận 1: Mối quan hệ giữa chi phí tìm kiếm của người mua và khoảng giá trị đặt trước.

     

    Từ phương trình (3), lấy đạo hàm 2 vế theo c, ta có:

    1 = − ∂v∂cv+ g(v)dv

    Với 0 < ∫v+ g(v)dv , nên ta có ∂v∂c <

    04

     

    Như vậy, mối quan hệ nghịch biến giữa chi phí tìm kiếm (c) và giá trị đặt

     

    4 Tu, Li and Qiu (2016) đã xây dựng mô hình lý thuyết về tác động của vốn xã hội địa phương của người mua tác động làm thay đổi chi phí tìm kiếm của họ và do đó ảnh hưởng đến hành vi mua nhà của người mua. Theo đó, người mua có vốn xã hội địa phương (b) cao hơn thì sẽ có chi phí tìm kiếm thấp hơn, c = c(-b), và do đó sẽ có mức giá đặt

     

    trước v* cao hơn, > 0, nên sẽ khó tính hơn trong các quyết định mua nhà và thời gian gian tìm

    kiếm bình quân (T)  sẽ kéo dài hơn,    > 0.

     

    trước (v*) vẫn giữ nguyên kết quả so với Fallick (1992) và Qiu và Tu (2014), Tu và các đồng sự (2016).

     

    Kết luận 2: Tác động của khoản lợi ích người mua đạt được từ căn nhà đang ở lên quyết định mua nhà.

     

    Từ phương trình (3), lấy đạo hàm 2 vế theo v0, ta có:

    −1 = −

    ∂v

    +∞

    g(v)dv

         
     

         
           
     

    ∂v0

    v

           

    Với 0 <

    +∞

    g(v)dv , nên ta có

    ∂v

     

    ∫ ∗

     

    ∂v0

     

    v

           
                   

    0

     

    Như vậy, với mối quan hệ đồng biến giữa khoản lợi ích từ căn nhà cũ và giá trị

    đặt trước khi tìm mua căn nhà mới (∂v >

    ∂v0

     

    0) đã chứng minh rằng khi một người mua nhà đang ở trong một căn nhà mang lại lợi ích lớn cho anh ta (v0 lớn, nghĩa là những đặc điểm và tiện nghi của căn nhà hiện tại là tốt và đang mang lại mức hữu dụng cao), thì người mua lúc này sẽ khó tính hơn trong các quyết định mua nhà, anh ta sẽ đặt ra mức giá trị đặt trước cao để tìm kiếm căn nhà mang lại cho mình một mức lợi ích cao, và với ∂v∂T > 0 (Tu và các đồng sự, 2016) thì điều này sẽ kéo dài thời gian tìm kiếm của người mua cũng như kéo dài thời gian rao bán của người bán. Nói cách khác, với mức giá bán Pi cho trước thì khả năng căn nhà giao dịch thành công của căn nhà sẽ giảm.

     

    Ngược lại, với một người mua đang sống trong căn nhà có nhiều đặc điểm hay

     

    5

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018

     

    tiện nghi không phù hợp với yêu cầu như là giao thông không thuận lợi, bị ánh nắng trực tiếp, nghĩa là giá trị v0 thấp, thì người mua sẽ luôn có nhu cầu nhanh chóng chuyển sang căn nhà mới với các điều kiện phù hợp hơn, nên anh ta sẽ dễ dãi hơn trong việc ra quyết định mua nhà thông qua việc giảm thấp giá trị đặt trước v*, khi đó một căn nhà có mức lợi ích vi tương

     

    Tài liệu tham khảo

     

    đối cũng có thể thu hút người mua, và tất nhiên điều này sẽ rút ngắn thời gian tìm kiếm của người mua cũng như thời gian rao bán của người bán (Tu và các đồng sự

     

    (2016) đã chứng minh ∂v∂T > 0). Nói cách khác, với mức gia bán Pi cho trước thì khả năng căn nhà giao dịch thành công của căn nhà sẽ tăng lên.

     

    Fallick, BK (1992), “Job search in more than one labor market”. Economic Inquiry, 30(4): 742–745;

     

    Hoang H. Phe và P. Wakely, (2000), “Status, Quality and the Other Trade-off: Towards a New Theory of Urban Residential Location”, Urban Studies, Vol. 37, No. 1, 7- 35, 2000;

     

    Li, W.F. (2004), “The Impact of Pricing on Time-on-market in High-rise Multiple-unit Residential Developments”. Pacific Rim Property Research Journal, 10(3), 305–27;

     

    McCall. JJ (1970), “Economics of information and job search”. Quarterly Journal of Economics, 84(1): 113–126;

     

    Qiu, Leiju và Yong Tu, (2014), “Information and Housing Search: Theory and Evidence from China Market”. IRES Working Paper Series, IRES 2014-018;

     

    Tu, Y., Pei Li và Leiju Qiu, (2016), “Housing search and housing choice in urban China”, Urban Studies Journal, Volume: 54 issue: 8, page(s): 1851-1866;

     

    Zuehlke, T.W., (1987), “Duration Dependence in the Housing Market”. Review of Economics and Statistics, 69(4), 701–704.

     

     

     

    6


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-FDI-kh%C3%B4ng-th%E1%BB%83-h%E1%BB%A7y-ngang-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CÁC NHÂN TỐ BẤT ĐỊNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ TRONG DỰ ÁN FDI KHÔNG THỂ HỦY NGANG TẠI VIỆT NAM

     

    UNCERTAINTIES AFFECTING INVESTMENT DECISION IN FDI-IRREVERSIBLE PROJECTS IN VIETNAM

     

    Lê Quốc Thành1

     

    Ngày nhận: 16/10/2018           Ngày nhận bản sửa: 29/10/2018           Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được ưu tiên bởi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt với các nước đang phát triển do nhiều lợi ích của FDI mang lại. Quyết định đầu tư của công ty nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định tại Việt Nam luôn đối mặt với nhiều nhân tố bất định. Nghiên cứu này hướng đến việc khám phá các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của công ty nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số nhân tố bất định mới hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản trị và các chuyên gia tư vấn trong công tác thu hút đầu tư FDI tại Việt Nam.

     

    Từ khóa: quyết định đầu tư, dự án đầu tư, nhân tố bất định, FDI.

     

    Abstract

     

    Attracting foreign direct investment (FDI) is always given priority of Goverments and policy makers, especially developing countries due to benefits of FDI. Investment decision of foreign companies into fixed asset project is always facing many uncertainties. This study is aming at discovering uncertainties affecting investment decision of foreign companies into fixed asset projects in Vietnam. Research results show that there are several new uncertainies which are useful to policy makers, managers and investment consultant in attracting FDI into Vietnam. Key words: investment decision, investment project, uncertainties, FDI.

     

    1. Giới thiệu

     

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khái niệm chỉ dòng vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài, đa phần là các công ty đa quốc gia (MNE/MNC) vào thị trường nội địa của một quốc gia, chủ yếu là vào các dự án đầu tư tài sản cố định như nhà xưởng máy móc nhằm sản xuất hàng hóa cung cấp dịch vụ. Loại hình đầu tư này đã trở thành một phần quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới (UNCTAD, 2004). Nghiên cứu về

     

    __________________________________________

    FDI phát triển mạnh từ những năm 1960-1970, Hymer (1960) và Caves (1971) cho rằng FDI là công cụ để khai thác các lợi thế về tài sản cố định của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài, tiếp cận nguồn nguyên liệu dễ dàng, phân công chuyên môn hóa trong chu trình sản xuất trên toàn hệ thống của công ty đa quốc gia. Dunning (1971) phát hiện FDI có vai trò như một bước đi chiến lược có tính chất phòng thủ của doanh nghiệp tránh đầu tư quá tập trung vào quốc gia chính quốc, đa dạng hóa nhằm giảm

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    43

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    rủi ro toàn hệ thống; Watters (1995) chứng minh rằng đầu tư FDI nhằm hạn chế các khó khăn của thị trường nội địa chính quốc nhất là khi thị trường đó ngày càng tiến đến bão hòa. Các nghiên cứu đánh giá lợi ích do FDI mang lại có thể kể đến như sau: (1) gia tăng thu nhập cho người lao động thông qua tiền lương, tăng việc làm (UNCTAD, 2004); (2) sử dụng nguyên vật liệu và nhiều yếu tố đầu vào cho sản xuất từ địa phương, thúc đẩy đầu tư nội địa, (3) tạo hiệu ứng lan tỏa từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp nội địa (Javorcik &ctg, 2007; Kneller

     

    • Pisu, 2007); (4) chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước và góp phần tăng năng suất (Kokko & ctg, 1996; Gorg & Strobl, 2001; UNCTAD, 2004; Potterie & Lichtenberg, 2001); (5) góp phần gia tăng xuất khẩu và ngoại tệ cho quốc gia nhận đầu tư (Nigel Pain & Katharine, 2002); (6) giúp chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa ( Dunning
    • Narula, 2003).

    FDI từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển tăng mạnh trong thời gian gần đây. Theo Peters (2009) thống kê từ năm 1992-2008, thế giới phương Tây đầu tư ngày càng nhiều ra các nước đang phát triển và nhập khẩu trở lại chính quốc với giá trị tăng gần gấp đôi trong vòng gần 20 năm. Việt Nam hiện là một nước đang phát triển có nhu cầu lớn về thu hút đầu tư FDI, đặc biệt là FDI vào các dự án có giá trị tài sản cố định lớn (hay giá trị đầu tư ban đầu lớn lên đến hàng tỷ USD). Theo dự báo viễn cảnh đầu tư vào hạ tầng thế giới do Trung tâm Hạ tầng toàn cầu (GI Hub – Global Infrastructure Hub) và Oxford Economics dự báo từ 2016 đến 2040 Việt Nam cần đầu tư vào hạ tầng cơ sở khoảng 608 tỷ USD (Global Infrastructure Outlook, 2007 & Oxford Economics).

     

    Các dự án đầu tư tài sản cố định lớn này còn được giới học thuật gọi là dự án đầu tư không

    thể hủy ngang/không thể đảo ngược được1, có vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian chuẩn bị đầu tư dài và đến thời điểm ra quyết định đầu tư dự án, doanh nghiệp phải chi một lượng chi phí khá lớn có thể đến 10% tổng vốn đầu tư dự án cho công tác nghiên cứu thị trường, khảo sát thiết kế kỹ thuật, lập báo cáo tiền khả thi và khả thi dự án (Burke, 2003). Các dự án này có thể chia làm 3 loại theo Archibald & Voropaev (2004) bao gồm: (1) Dự án hạ tầng giao thông vận tải, hạ tầng viễn thông; (2) Dự án hạ tầng năng lượng (nhà máy lọc dầu, nhà máy điện các loại); (3) Dự án sản xuất hàng hóa cơ bản của nền kinh tế (sắt thép, nguyên vật liệu, hóa chất…). Có thể thấy ngay các dự án này có tầm quan trọng thiết yếu cho bất kỳ một nền kinh tế mạnh nào trên thế giới. Do vậy, khuyến khích đầu tư vào loại hình dự án luôn là chính sách ưu tiên của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, FDI vào các dự án không thể hủy ngang tại các nước đang phát triển luôn đi kèm nhiều nhân tố bất định.

     

    Chính vì vậy nghiên cứu về các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam sẽ̃ đem lại nhiều lợi ích, có thể kể đến bao gồm: (1) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các nhà hoạch định chính sách am hiểu hành vi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam, nhờ đó công tác thiết kế chính sách và hoạch định các cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài tốt hơn; (2) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà quản trị dự án, các chuyên gia tư vấn am hiểu về các nhân tố bất định, cơ chế ảnh hưởng của các bất định đến quyết định đầu tư mà nhờ

     

    • “Dự án đầu tư không thể hủy ngang hay không thể đảo ngược được” là các dự án đầu tư vào tài sản cố định lớn/có vốn đầu tư ban đầu lớn (Irreversible project) theo McDonald & Siegel (1986)

    44

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    vậy giúp chủ động nghiên cứu, làm rõ giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các bất định này, nâng cao khả năng thành công dự án tại Việt Nam. (3) Nghiên cứu này sẽ̃ góp phần làm giàu kiến thức liên quan đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài trong trường hợp bất định nói riêng, góp phần vào công tác đào tạo chuyên ngành cho sinh viên các cấp học khác sau.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Doanh nghiệp được định nghĩa đơn giản nhất là một pháp nhân thành lập theo luật định có mục đích vì lợi nhuận và luôn tối đa hóa lợi nhuận (Chandler, 1992). Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều trực tiếp hay gián tiếp hướng đến lợi nhuận trong cả ngắn, trung và dài hạn. Hình thái hiện đại của doanh nghiệp hiện nay là mô hình doanh nghiệp công nghiệp (industrial organization), bắt đầu xuất hiện từ những năm 1880s và ngày càng phát triển (Chandler & Hikino, 2009). Hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới trong danh mục S&P 500 đều là các doanh nghiệp công nghiệp lớn. Bên cạnh việc đóng vai trò nhà sản xuất cung cấp hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao ra thị trường, doanh nghiệp công nghiệp còn đóng vai trò nhà đầu tư2 nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong trung và dài hạn, duy trì vị thế trên thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường tiềm năng (Carlton & Perloff, 2015). Do vậy, các doanh nghiệp công nghiệp này có xu hướng tập trung tìm kiếm, đánh giá và ra quyết định đầu tư trong các dự án công nghiệp lớn hay còn gọi là dự án đầu tư không thể hủy ngang. Các doanh nghiệp công nghiệp lớn, nhất là các công ty đa quốc gia (MNC/MNE), kể cả doanh nghiệp quản trị bởi gia đình, thông thường được lãnh đạo và quản trị bởi một nhóm các nhà quản

     

    • Trong toàn bộ nghiên cứu này, Nhà đầu tư luôn được hiểu là doanh nghiệp công nghiệp đầu tư vào dự án thâm dụng vốn lớn hay còn gọi là “Dự án không thể đảo ngược được” (Irreversible project).

    trị có quan hệ chặt chẽ̃ dựa trên các quy định quản trị nội bộ (corporate governance) nhằm đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp được quản trị hướng đến tối đa hóa lợi nhuận, hay tối đa hóa cổ tức cho các cổ đông, được thống nhất và tuân thủ triệt để bởi các thành viên hội đồng quản trị (Bernard S. Black, Hasung Jang

     

    • Woochan Kim, 2006). Do vậy các quyết định của doanh nghiệp với tư cách nhà đầu tư luôn có xu hướng ra quyết định duy lý (Carlton & Perloff, 2015). Nhà đầu tư duy lý luôn ra quyết định trên cơ sở các thông tin tốt nhất, các bằng chứng đáng tin cậy và lý lẽ̃ phù hợp, hạn chế các quan điểm cảm tính. Do vậy, các nhà đầu tư duy lý luôn có xu hướng nghiên cứu, tìm hiểu làm rõ nhằm làm giảm các nhân tố bất định ảnh hưởng đến dự án mà họ đang cân nhắc ra quyết định đầu tư.

    Một đặc tính quan trọng liên quan đến khía cạnh ra quyết định đầu tư của dự án lớn là tính chất không thể đảo ngược/hủy ngang (irreversibility) được McDonald & Siegel (1986) đề cập lần đầu tiên vào năm 1986 và mở ra một nhánh nghiên cứu về việc ra quyết định đầu tư vào loại hình dự án này (Bertola, 1998). Pindyck (1990) cho rằng hầu hết các dự án đầu tư hữu hình lớn đều có 2 đặc tính quan trọng là: (1) Không thể đảo ngược hay hủy ngang là: trong quá trình chuẩn bị đầu tư hay thực hiện đầu tư, nếu nhà đầu tư dừng hay hủy ngang, toàn bộ chi phí tính đến thời điểm dừng sẽ̃ bị mất do kết quả của dự án đến thời điểm hủy ngang không thể sử dụng cho mục đích kinh tế nào khác dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư luôn trì hoàn chờ thông tin tốt hơn nhằm giảm các nhân tố bất định về số lượng và cả mức độ bất định; (2) Dự án không thể đảo ngược/hủy ngang có thể được tạm dừng (Wait & See status) theo Bjerksund & Ekern (1990); Stokey (2016) nhằm chờ đợi những thông tin tích cực hơn cho

     

    45

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    việc ra quyết định đầu tư, như giá cả của sản phẩm dịch vụ dự án sẽ̃ cung cấp tăng, chi phí đầu tư ban đầu giảm, thay đổi chính sách theo hướng tích cực cho dự án.

    Đối với doanh nghiệp, ra quyết định đầu tư vào trong các dự án đầu tư không hủy ngang (Dixit & Pindyck, 1994), là một trong các quyết định tài chính chiến lược bên cạnh các quyết định tài chinh quan trọng khác như quyết định phân chia cổ tức (dividend policy), quyết định tài trợ (financing decision). Ngay trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư khi doanh nghiệp còn đầu tư rất ít chi phí, nếu phát triển dự án tốt và thực tốt công tác quan hệ công chúng quảng bá, giá trị thị trường của dự án có thể tăng, giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp nói chung (Fuss & Vermeulen, 2008).

     

    Nghiên cứu về “Quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong trường hợp có nhiều yếu tố bất định3 – Investment decision under uncertainties” là những hướng nghiên cứu hàn lâm điển hình trong giới học thuật trên thế giới, phát khởi từ những năm 1960 (Hirshleifer, 1965), được phát triển bởi một số học giả điển hình như Lucas Jr & Prescott (1971); Abel (1983); Dixit & Pindyck (1994); và Abel & Eberly (1994, 1997); hiện rất phổ biến trên thế giới. Các nghiên cứu này chia làm 2 hướng chính: (1) Phát hiện và khẳng định các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp hay đến dòng vốn FDI;

     

    • Đo lường tác động của một vài nhân tố lên quyết định đầu tư hay tác động lên các nhân tố khác như vốn, công nghệ hay lao động trong dự án đầu tư. Nghiên cứu này được phát triển theo hướng thứ nhất là phát hiện và khẳng định các nhân tố bất định mới.
    • Uncertainty được hiểu là tình huống không chắc chắn hay “nhân tố bất định” là nhân tố mà doanh nghiệp chưa có thông tin đầy đủ đáng tin cậy để lượng hóa thành rủi ro hoặc có thể lượng hóa nhưng có sai số rất lớn.

    Từ những năm 1970, nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến FDI tại các nước phát triển ở cấp độ vĩ mô – quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ doanh nghiệp. Các nhân tố có thể được tổng kết như: mức độ phát triển hạ tầng, lãi suất/chi phí vốn tại thị trường nội địa, tỷ giá hối đoái, thuế, thể chế, vị trí của quốc gia nhận đầu tư, mức độ bảo hộ thương mại, tác động của các cam kết thương mại.

     

    Một ví dụ điển hình là nhân tố bất định thuế mà doanh nghiệp FDI phải chi trả. Theo Niemann (2004), sự bất định của thuế suất sẽ̃ ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền sau thuế và lãi suất của vốn đầu tư. Đối với thuế suất dự kiến trong tương lai không xác định, các nhà đầu tư duy lý thường phải giả định một mức thuế nhất định như họ mong đợi. Một số nghiên cứu về thuế ảnh hưởng đến đầu tư như Alvarez

     

    • ctg (1998) phát hiện ra rằng nếu các nhà đầu tư cho rằng thuế suất sẽ̃ giảm, họ có xu hướng đẩy nhanh đầu tư và ngược lại; Hassett & Metcalf (1999) và Agliardi (2001) kết luận rằng những bất định trong chính sách thuế chắc chắn sẽ̃ trì hoãn các dự án đầu tư.

    Tại Việt Nam một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư FDI nói chung đã được phát triển, điển hình là nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa & Bùi Bích Phương (2014) và Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017). Cả hai nghiên cứu đều áp dụng phương pháp định lượng nhằm khẳng định các nhân tố định lượng có quan hệ với đầu tư FDI vào Việt Nam như GDP, tổng dự trữ ngoại hối, mức độ phát triển hạ tầng, chi phí nhân công lao động, độ mở thương mại quốc gia, chất lượng lao động, mức độ đô thị hóa, mức độ tập trung của các doanh nghiệp trong nước. Các nghiên cứu này có ý nghĩa lớn trong xây dựng chính sách vĩ mô thu hút đầu tư.

     

    46

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Qua phần tổng quan lý thuyết, có thể kết luận rằng có nhiều nhân tố bất định, bao gồm cả định lượng và định tính tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn. Theo kết quả khảo cứu tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn không thể hủy ngang. Một số nghiên cứu gần liên quan đến thu hút FDI của Việt Nam chưa hướng đến phát hiện các nhân tố bất định mới. Thế nên, chúng ta có thể kết luận là hiểu biết của chúng ta về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào dự án đầu tư không thể hủy ngang là hết sức hạn chế. Do vậy nghiên cứu này được thiết kế theo hướng nghiên cứu khám phá (exploratory research) theo Strauss & Corbin (1990), sử dụng cách tiếp cận nghiên cưu đinh tinh sư dung công cu phong vân sâu cho phép phat hiên va xac đinh cac nhân tô bất định mới chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập. Nhăm đam bao chât lương nghiên cưu đinh tinh, tác giả tuận thủ quy trinh nghiên cưu đinh tinh, sô tay phong vân bao gồm nhưng khuyên cao nhăm đao bao chât lương nghiên cưu đinh tinh theo Lincoln

     

    • Guba (1985) va Kvale (1995) sẽ đươc tuân thu triêt đê. Trinh tư thưc hiên nghiên cưu đinh tinh băng phong vân sâu nhiêu vong thiêt kê theo Seidman (2013); Okoli va Pawlowski (2004). Cũng theo (Okoli & Pawlowski, 2004), chất lượng chuyên gia ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu, nên các chuyên gia đang làm việc cho các công ty tư vấn kiểm toán lớn như KPMG, PWC, Ersnt & Young và Deloitte (Big Four)4, hoặc các công ty tư vấn luật quốc tế tại Việt Nam là phù hợp. Sô lương chuyên gia
    • Xếp hạng theo doanh thu của tổ chức Statista năm 2017: Revenue of the Big Four accounting / audit firms worldwide in 2017 (in billion U.S. dollars). (https://www.statista.com/statistics/250479/big-four-accounting-firms-global-revenue/)

    phong vân dư kiên dưới 10 chuyên gia (Crouch

     

    • McKenzie, 2006). Phong vân sẽ kêt thuc khi không phat hiên cac nhân tô mơi (có xu hướng bao hoa) trong 2-3 lân phong vân sau cung (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Trình tự phỏng vấn các chuyên gia được yêu cầu:
    • Nghiên cưu cac nhân tố bất định băng ca tiêng Viêt lẫn tiêng Anh, binh luân vê ngư nghia tiêng Viêt cua cac nhân tố bất định trong bôi canh Viêt Nam. Thông qua bươc nay, tên cac nhân tố bất định băng tiêng Viêt sẽ đươc chuân hoa.
    • Loai bo cac nhân tố bất định ma chuyên gia cho răng không xuât hiên trong bôi canh FDI tai Viêt Nam hoăc co tac đông qua nho đên quyết định đầu tư vào dự án

    không hủy ngang.

     

    • Bô sung cac nhân tố bất định mơi ma trong danh sach chưa co, giai thich vê nôi dung cua cac nhân tố bất định mơi nay va cơ chế tac đông giưa cac nhân tố bất định nay vơi quyết định đầ tư vào dự án FDI không hủy ngang.
    • Xêp hang cac nhân tố bất định theo mưc đô tac đông (đươc xac đinh bơi cac chuyên gia) lên quyết định đầu tư vào dự án FDi không hủy ngang.

    Sau môi lân phong vân, kêt qua phong vân sẽ đươc tông kêt va gưi đên chuyên gia nhăm khăng đinh lai xem co sư khac biêt trong ghi nhân vê nôi dung phong vân hay không trươc khi sư dung cho phân tich va đơt phong vân kê tiêp. Kết quả phỏng vấn đợt này được cập nhật vào Bảng câu hỏi cũng như Sổ tay phỏng vấn nhằm phục vụ cho lần phỏng vấn kế tiếp.

     

    4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    • Kết quả nghiên cứu

     

    Sau bảy vòng phỏng vấn, thông tin có xu

     

    hướng lặp lại rõ rệt trong hai lần cuối, do vậy, quá trình phỏng vấn kết thúc (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Các nhân tố bất định quan trọng được các chuyên gia đề xuất, khẳng định và xếp hạng được tổng hợp và trình bày trong Bảng 4.1 như sau.

     

    47

     

       

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     
     

    Bảng 4.1 Các nhân tố bất định được phát hiện và khẳng định

     

    STT

    Tên nhân tố

    Giải thích

    Xếp hạng

    Nhân

    tố bất định cấp độ vĩ mô

     

    1

    Tỷ giá hối đoái

    Doanh nghiệp đầu tư bằng đồng ngoại tệ, chuyển vào và

    3

       

    chuyển đổi sang đồng Việt Nam. Trong trung và dài hạn,

     
       

    khi doanh nghiệp bắt đầu chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt

     
       

    Nam, chênh lệch tỷ giá hối đoái thời điểm đầu tư và thời

     
       

    điểm chuyển lãi có ảnh hưởng đến lợi nhuận chuyển ra của

     
       

    doanh nghiệp FDI

     

    2

    Ổn định chính

    Đây là rủi ro có khả năng/xác xuất xảy ra nhỏ nhưng nếu

    6

     

    trị và quan hệ

    xảy ra tổn thất có thể rất lớn và có thể là tổn thất toàn bộ

     
     

    ngoại giao

    (nếu xảy ra chiến tranh), ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình

     
       

    hình “sức khỏe tài chính” của cả công ty mẹ. (Trường hợp

     
       

    Dự án nhà máy lọc dầu của Mitsui tại Iran khi chiến tranh

     
       

    Iran-Iraq xảy ra 1980-1988)

     

    3

    Bất định về

    Chính sách đầu tư không nhất quán, không rõ ràng, hay

    4

     

    chính sách

    thay đổi làm gia tăng chi phí đầu tư ban đầu cũng như gián

     
     

    đầu tư

    tiếp tăng chi phí hoạt động kinh doanh

     

    4

    Bất định về

    Một số ngành nhà đầu tư nước ngoài chưa được đầu tư đa

    3

     

    chính sách tiếp

    phần vốn để có thể quyết định ứng dụng các quy trình quản

     
     

    cận và mở rộng

    trị hiện đại, kiểm soát hiệu quả hoạt động kinh doanh, như

     
     

    thị trường

    cảng biển, viễn thông,… hay ngành điện vẫn phải bán buôn

     
       

    điện cho Điện lực Việt Nam. Đây là một số hạn chế tạo nên

     
       

    khiến nhà đầu tư nước ngoại thận trọng.

     

    Nhân

    tố bất định cấp độ doanh nghiệp – nhà đầu tư

     

    5

    Bất định về

    Bất định về thuế có ảnh hưởng trực trực tiếp làm giảm lợi

    1

     

    Thuế

    nhuận dự án. Các nhà đầu tư luôn cố gắng làm rõ các khoản

     
       

    thuế phí phải trả theo luật định cũng như đánh giá khả năng

     
       

    chính phủ tăng thuế suất và các sắc thuế mới trong tương

     
       

    lai như thuế môi trường, thuế phát thải…

     

    6

    Không rõ ràng

    Đây là nhân tố được các chuyên gia rất quan tâm do tiến

    2

     

    về các thủ tục

    trình này tốn nhiều thời gian, làm nản long nhà đầu tư cũng

     
     

    và diễn giải các

    như như mất cơ hội đầu tư. Cải cách thủ tục hành chính

     
     

    nội dung trong

    trong đầu tư cũng như công tác làm rõ các quy trình thủ tục,

     
     

    quá trình đầu

    mẫu biểu và tài liệu giải trình về cả thể thức nội dung là rất

     
     

    tư bao gồm các

    cần thiết nhằm giúp các nhà đầu tư làm rõ các thủ tục này.

     
     

    giấy phép con

       

    7

    Bất định về giá

    Dao động về giá bán sản phẩm tại nội địa và xuất khẩu ảnh

    3

     

    bán sản phẩm/

    hưởng trực tiếp đến doanh thu dự án. Tuy nhiên, dao động

     
     

    dịch vụ

    này cũng ảnh hưởng chung lên các đối thủ của dự án FDI.

     

    48

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    4.2. Thảo luận các kết quả nghiên cứu Tât ca cac chuyên gia tham gia phong vân

     

    đêu nhân định răng “quyết định đầu tư” vào dự án nói chung tại nước ngoài là một hoạt động đầy thách thức cho các doanh nghiệp, bởi một số nguyên nhân :

    • Xét theo góc độ doanh nghiệp: (1) Quyết định đầu tư là một trong vài loại quyết định chiến lược của doanh nghiệp và dường như các nhà quản trị doanh nghiệp coi là quan trọng nhất vì dự án đầu tư tiêu tốn một lượng vốn lớn và có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong trung và dài hạn; (2) Ngay trong thời kỳ nghiên cứu chuẩn bị đầu tư, doanh nghiệp đã phải tiêu tốn một chi phí đang kể và thông tin về tiến độ thực hiện dự án có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp; (3) Quyết định đầu tư ra nước ngoài nơi khác biệt hoàn toàn về văn hóa, chính trị, thị trường, môi trường luật pháp,… tạo ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp.

     

    • Xét theo góc độ nhà quản trị doanh nghiệp: Cá nhân các nhà quản trị được giao nhiệm vụ thay mặt doanh nghiệp thực hiện các công tác chuẩn bị phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư có trách nhiệm rất lớn trước hội đồng quản trị doanh nghiệp. Sự nghiệp và con đường phát triển nghề nghiệp của các cá nhân được giao chịu trách nhiệm công việc này phụ thuộc nhiều vào kết quả thành công của dự án đầu tư.
    • Xét theo tính chất phức tạp và tầm quan trọng của việc ra quyết định đầu tư: Ra quyết định đầu tư liên quan đến rất nhiều nhóm công việc phải thực thi để có cơ sở ra quyết định, bao gồm: (1) Tìm hiểu và phân tích thị trường xác định thị phần làm cơ sở cho một dự án đầu tư; (2) Thực hiện công tác lập dự án đầu tư bao gồm công tác nghiên cứu chi tiết, thiết kế xây dựng tổng mức đầu tư dự án; (3) Đánh

    giá các nhân tố bất định và rủi ro. Tất cả các hoạt động trên đều liên quan đến rất nhiều yếu tố ngoài doanh nghiệp, do vậy tính phức tạp và bất định rất cao.

    Do vậy, ngoài công tác chuẩn bị dự án, các doanh nghiệp luôn cập nhật thông tin, làm rõ các nhân tố bất định nhằm đủ thông tin và đưa các nhân tố bất định này về thành các rủi ro và nhờ vậy doanh nghiệp có thể áp chi phí để quản trị các rủi ro này và đưa chi phí quản trị rủi ro này vào tính toán các chỉ số tài chính của dự án. Trong trường hợp không đầy đủ thông tin, doanh nghiệp bắt buộc phải áp chi phí quản trị rủi ro với sai số lớn hơn và do vậy ảnh hưởng đến kết quả tính toán các chỉ số tài chính dự án. Các nghiên cứu thực nghiệm về nhân bất định ảnh hưởng đến lợi nhuận dự án đã cho thấy, với dự án điện chạy than, để đảm bảo dự án khả thi, giá điện đã phải tính tăng từ 5 – 10% do bất định về thuế phát thải carbon (William, & ctg, 2007).

     

    1. Khuyến nghị về chính sách và quản trị Qua kết quả nghiên cứu có thể thấy có nhiều

    nhân tố bất định, bao gồm cả cấp độ vĩ mô và cấp độ doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lợi nhuận mong đợi của dự án mà doanh nghiệp dự kiến đầu tư và do đó có ảnh hưởng lớn đến hành vi ra quyết định đầu tư vào dự án của doanh nghiệp. Trên cơ sở các nhân tố bất định phát hiện và khẳng định thông qua phỏng vấn chuyên gia, một số đề xuất hoàn thiện chính sách và gợi ý cho nhà quản trị, chuyên gia tư vấn dự án đầu tư FDI vào Việt Nam như sau.

     

    + Khuyến nghị về mặt chính sách:

     

    Cam kết ổn định luật liên quan đến đầu tư: Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng luật với tầm nhìn trung và dài hạn cũng như việc sửa đổi luật cần thực hiện với sự tham vấn thích đáng của các nhà doanh nghiệp/ nhà đầu tư trong ngành nhằm tránh các sửa đổi

     

    49

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    ngoài mong đợi. Đồng thời Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành cần có cơ chế phát tín hiệu tích cực với thị trường về sự ổn định hệ thống luật và chính sách dưới luật liên quan đến đầu tư nói chung, các luật chuên ngành và cơ chế dưới luật. Điều này đã được nhiều nghiên cứu khẳng định mà điển hình là nghiên cứu của White & ctg (2013) về bất định trong chính sách năng lượng sạch tại Na Uy đã làm mất niềm tin của nhà đầu tư. Nghiên cứu cũng khẳng định bất định trong chính sách đầu tư rõ ràng tác động tiêu cực đến mức độ đầu tư.

     

    Ổn định vĩ mô: Với các nhà hoạch định chính sách, rõ ràng để thu hút đầu tư cần xây dựng chính sách hướng đến bình ổn kinh tế vĩ mô thông qua ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô như lãi suất cơ bản, tỷ giá hối đoái, lạm phát bình ổn sẽ̃ góp phần thu hút FDI nói chung. Ngoài ra việc cam kết xây dựng và duy trì các luật lệ có ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh cần được xây dựng theo quan điểm dài hơi, tạo ổn định lâu dài.

     

    • Khuyến nghị về mặt quản trị: Với các nhà quản trị của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các tư vấn đầu tư cần tập trung vào các nhân tố bất định cấp độ doanh nghiệp như bất định thuế, bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường, bất định về giá bán, cụ thể như sau.

     

    Bất định về thuế: Đây là nhân tố bất định tác động trực tiếp vào lợi nhuận dự án và có

     

    Tai liêu tham khao

    tác động lâu dài nếu xảy ra, do vậy, cần tham vấn, phân tích và dự báo trước các loại thuế trong tương lai có thể được áp dụng theo thong lệ quốc tế mà các loại thuế liên quan đến môi trường như thuế phát thải carbon là một ví dụ điển hình. Đây là sắc thuế đã được nhiều quốc gia áp dụng và rất có thể trong tương lai xuất hiện tại Việt Nam theo nhu cầu thực tiễn nâng cao nguồn lực bảo vệ môi trường cũng như thực hiện các cám kết quốc tế như Nghị định thư Kyoto (1997) về chống biến đổi khí hậu.

     

    Bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường cũng như bất định về giá bán: Với một số ngành, nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào dự án tại Việt Nam có thể chưa được trực tiếp tiếp cận thị trường trực tiếp và/hoặc bị giới hạn ( như điện, cảng biển, viễn thông,…), và chi phí đầu tư phụ thuộc một phần vào các giấy phép chuyên ngành như xây dựng, môi trường,…, nhà đầu tư cần sử dụng các chuyên gia tư vấn nhiều kinh nghiệm nhằm làm rõ các thủ tục và chi phí này, giảm thiểu nguy cơ chậm trể tiến độ dự án ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Ngoài ra cần chú trọng công tác nghiên cứu thị trường, nâng cao mức độ chính xác của dự báo về khách hàng/doanh thu nhằm nâng cao độ tin cậy của các chỉ số tài chính trong thẩm định và ra quyết định đầu tư vào dự án.

     

    Abel, A. B. (1983). “Optimal investment under uncertainty”, American Economic Review, 73, 228-233.

     

    Abel, A. B. and J. C. Eberly (1994). “A unified model of investment under uncertainty”, American Economic Review, 84(5), 1369-1384.

     

    Abel, A.B. & J. C. Eberly (1997). “An exact solution for the investment and value of a firm facing uncertainty, adjustment costs, and irreversibility”, Journal of Economic Dynamics and Control, 21, 831-852.

     

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Agliardi,E. (2001).Taxation and investment decisions: a real options approach. Australian Economic Papers 40(1), 44-55.

     

    Alvarez, L. H., Kanniainen, V., & Sodersten, J. (1998). Tax policy uncertainty and corporate investment: A theory of tax-induced investment spurts. Journal of Public Economics 69(1), 17-48.

    Andrew B. Abel (1983). Optimal Investment Under Uncertainty (effects of uncertainty on investment). The American Economic Review, Vol. 73, No. 1 (Mar., 1983), pp. 228-233.

     

    Archibald Russell D & Vladimiri Voropaev. (2004). Project catergories and life cycle models: Report on the 2003 IPMA Global Survey, 18th IAPM Project Management World Congress, Budapest, June 18-21, 2004.

    Bernard S Black, Hasung Jang & Woochan Kim (2006). Does Corporate Governance Predict Firms’ Market Values? Evidence from Korea, The Journal of Law, Economics, and Organization.

     

    Bertola Giuseppe. (1998). Irreversible investment, Research in Economics (1998) 52, 3–37.

     

    Bjerksund P & S Ekern (1990). Managing Investment Opportunities under Price Uncertainty: From “Last Chance” to “Wait and See”, Strategies- Financial Management, JSTOR.

     

    Carlton DW & Perloff JM. (2015). Modern industrial organization. Pearson Higher Education.

     

    Crouch, M., & McKenzie, H. (2006). The logic of small samples in interview-based qualitative research. Social science information, 45(4), 483-499.

     

    Caves RE (1971). International corporations: The industrial economics of foreign investment, Economica, JSTOR.

     

    Chandler AD Jr. (1992). What is firm? A historical perspective. European Economic Review 36(1992) 483-994 North-Holland.

     

    Chandler AD & Hikino T. (2009). Scale and scope: The dynamics of industrial capitalism, Havard University Press.

     

    Dixit AK. (1992). Investment and hysteresis, Journal of economic perspectives, VOL. 6, NO. 1, WINTER 1992, (pp. 107-132).

     

    Dixit, A. K., & Pindyck, R. S. (1994). Investment under uncertainty. Princeton university press.

     

    Dunning, J. (1971). The Multinational, George Allen & Unwin Ltd, London.

     

    Dunning J.& Narula R. (2003). Foreign direct investment and governments: catalysts for economic restructuring, Routledge Taylor Francis Group.

     

    Fuss, C., & Vermeulen, P. (2008). Firms’ investment decisions in response to demand and price uncertainty. Applied Economics, 40(18), 2337-2351.

     

    Hassett, K. A., & Metcalf, G. E. (1999). Investment with uncertain tax policy: Does random tax policy discourage investment. The Economic Journal, 109(457),372-393.

     

    Harrison, A. (1994). The role of multinationals in economic development: the benefits of FDI. The Columbia Journal of World Business, 29(4), 6-11.

     

    Hirshleifer J. (1965). Investment Decision under Uncertainty: Choice—Theoretic Approaches, The Quarterly Journal of Economics, Volume 79, Issue 4, 1 November 1965, Pages 509–536.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Javorcik, Beata Smarzynska & Mariana Spatareanu (2007): “To Share or Not To Share: Does Local Participation Matter for Spillovers from Foreign Direct Investment?”, Journal of Development Economics, forthcoming.

    Kokko, A., Tansini, R., & Zejan, M. C. (1996). Local technological capability and productivity spillovers from FDI in the Uruguayan manufacturing sector. The Journal of Development Studies, 32(4), 602-611.

     

    Kneller, I.R., & Pisu, M., (2007). Industrial linkages and export spillovers from FDI. The World Economy, 30(1), 105-134.

     

    Lucas RE Jr & Prescott EC. (1971). Investment under uncertainty, Econometrica: Journal of the Econometric Society, – JSTOR.

     

    Myers, S.C., (1977). The determinants of corporate borrowing. Journal of Financial Economics 5, 147–175.

     

    McDonald R & Siegel D. (1986). The value of waiting to invest. The quarterly journal of economics, Volume 101, Issue 4 (Nov.,1986), 707-728.

     

    Nigel Pain & Katharine Wakelin (2002). Export Performance and the Role of Foreign Direct Investment, The Manschester School, Wiley Online Library.

     

    Niemann, R. (2004). Tax rate uncertainty, investment decisions, and tax neutrality. International Tax and Public Finance, 11(3), 265-281.

     

    Okoli, C., & Pawlowski, S. D. (2004). The Delphi method as a research tool: an example, design considerations and applications. Information & management, 42(1), 15-29.

     

    Peters, G. P., Minx, J. C., Weber, C. L., & Edenhofer, O. (2011). Growth in emission transfers via international trade from 1990 to 2008. Proceedings of the National Academy of Sciences, 108(21), 8903-8908.

     

    Potterie BP & Lichtenberg F, (2001). Does foreign direct investment transfer technology across borders? Review of Economics and Statistics, MIT Press.

     

    Pindyck, R. S. (1990). Irreversibility, uncertainty, and investment (No. w3307). National Bureau of Economic Research.

     

    Reilly FK & Brown KC. (2002). Investment analysis and portfolio management, South-Western Cengage Learning.

     

    Stokey, N. L. (2016). Wait-and-see: Investment options under policy uncertainty. Review of Economic Dynamics, 21, 246-265.

     

    William Blyth, & Richard Bradley & Derek Bunnc, & Charlie Clarked & Tom Wilsond & Ming Yang (2007). Investment risks under uncertain climate change policy. Energy Policy, 35(11), 5766-5773.

    White W, Lunnan A, Nybakk E & Kulisic B. (2013). The role of governments in renewable energy: The importance of policy consistency, Biomass and bioenergy, Volume 57, October 2013, Pages 97-105.

     

    52


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%B1-do-h%C3%B3a-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%91i-quan-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-gi%E1%BB%9Bi-h%E1%BA%A1n-t%C3%A0i-tr%E1%BB%A3-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH

     

    ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA GIỚI HẠN TÀI TRỢ VÀ ĐẦU TƯ

     

    THE IMPACTS OF FINANCIAL LIBERALIZATION ON THE RELATIONSHIP BETWEEN THE FUNDING CONSTRAINTS AND INVESTMENT

     

    Nguyễn Thị Liên Hoa1, Nguyễn Ngọc Thụy Vy2

     

    Ngày nhận: 20/8/2018            Ngày nhận bản sửa: 30/8/2018            Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tại các doanh nghiệp phi tài chính ở 5 quốc gia Asean bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua việc xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980), hàm đầu tư được ước lượng bằng mô hình chuyển đổi trong đó trạng thái tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp được xác định đồng thời. Kết quả chính yếu cho thấy tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ, cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ). Từ khóa: giới hạn tài trợ, mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, tự do hóa tài chính.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impacts of financial liberalization on the relationship between funding constraints and investment in non-financial enterprises in five ASEAN countries, including Indonesia, Malaysia and the Philippines, Thailand and Vietnam for the period 2006-2016. The research method was conducted through constructing the investment function by the Euler equation, which was proposed by Abel (1980); the investment function was estimated by the transformation model in which the financial states and investment behaviors of the corporation were defined concurrently. The main outcomes showed that financial liberalization had negative impacts on firms, which were under funding constraints; particularly, financial liberalization would increased the sensitivity of investments followed by the cash flows (representing the funding constraints).

     

    Keywords: funding constraints, endogenous switching regression models, financial liberalization.

     

    1. Giới thiệu

     

    Giới hạn tài trợ là những cản trở về mặt tài chính khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài (Ismail và cộng sự, 2010). Giới

    hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003), lúc này chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
    • Trường Đại học Ngoại thương

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Như vậy, trong thị trường tài chính bất hoàn hảo, khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài của doanh nghiệp là hữu hạn. Do đó doanh nghiệp buộc phải giữ lại phần lớn lợi nhuận và hạn chế chi trả cổ tức để đảm bảo có đủ nguồn tài chính cho các khoản đầu tư trong tương lai. Kết quả đầu tư của doanh nghiệp trở nên nhạy cảm trước các nguồn tài trợ khả dụng nội bộ (chẳng hạn như lợi nhuận giữ lại) hay nói cách khác doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ. Tuy nhiên, giới hạn tài trợ không tương đồng giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Fazzazi, Hubbard và Petersen (1988) là các nhà nghiên cứu tiên phong tìm hiểu mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp trong điều kiện có hạn chế tài chính. Bằng cách sử dụng độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền dại diện cho giới hạn tài trợ và tỷ lệ chi trả cổ tức làm đại diện cho hạn chế tài chính, Fazzazi và cộng sự (1988) kết luận về sự khác biệt trong mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tùy thuộc vào “loại hình” doanh nghiệp, cụ thể mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền cao ở những doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính lớn (tỷ lệ chi trả cổ tức thấp). Các nghiên cứu tiếp theo của các nhà kinh tế trên thế giới cũng tiếp tục phát triển chủ đề này theo các hướng khác nhau. Tuy nhiên cách tiếp cận của Fazzazi và cộng sự (1988) có một số hạn chế: (i) Hạn chế đầu tiên là tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính là ngoại sinh và được giả định không đổi trong suốt thời kỳ nghiên cứu (Farre-Mensa và Ljungqvist, 2016). Nếu những đặc trưng của doanh nghiệp thay đổi theo thời gian thì các chỉ tiêu sử dụng ban đầu sẽ̃ không còn phản ánh chính xác tình trạng tài

    chính của doanh nghiệp và kết quả ước lượng hàm đầu tư trong trường hợp này sẽ̃ không còn chính xác. (ii) Về cách đo lường cơ hội đầu tư theo Q, Q không thể đo lường hết cơ hội đầu tư, đặc biệt trong trường hợp thị trường kém hiệu quả, thông tin không được phản ánh đầy đủ vào giá.

     

    Vai trò của tự do hóa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là một lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu. Các nghiên cứu tiên phong ủng hộ tự do hóa tài chính, cho rằng tự do hóa tài chính làm tăng tính hiệu quả của đầu tư (về mặt chất cũng như mặt lượng) qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế thường được phân tích thông qua “kênh” đầu tư của doanh nghiệp (O’Toole và Newman, 2015), tự do hóa tài chính giúp làm giảm giới hạn tài trợ, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bumann và cộng sự, 2013), O’Toole và Newman (2015). Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây (2007–2008) đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại vai trò của tự do hóa tài chính (Adler, 2014). Stiglitz (2002) lập luận tự do hóa tài chính không giúp giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin và do đó không làm tăng hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính. Về mặt thực nghiệm, Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng giới hạn tài trợ của doanh nghiệp, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ. Lúc này việc huy động vốn đầu tư sẽ̃ trở nên khó khăn hơn và do đó làm giảm mức đầu tư của doanh nghiệp cũng như sản lượng của nền kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới cho đến nay cũng chỉ tập trung vào việc nghiên cứu về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp và kết quả nghiên cứu tồn tại khá nhiều

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Riêng tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư hầu như chưa được các nhà nghiên cứu khai thác.

    Trong bối cảnh trên, bài viết này được thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp. Phạm

    • nghiên cứu của bài viết giới hạn ở các doanh nghiệp phi tài chính của 5 quốc gia đang phát triển ASEAN bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh và sử dụng dạng rút gọn của phương trình Euler để nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa đầu tư và giới hạn tài trợ.

    2.           Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

     

    • Lý thuyết về tự do hóa tài chính

     

    Tự do hóa tài chính đề cập đến chính sách của Chính phủ nhằm bãi bỏ kiểm soát lãi suất cũng như kiểm soát tín dụng, dỡ bỏ hàng rào gia nhập ngành cho các định chế tài chính nước ngoài, tư nhân hóa các định chế tài chính trong nước và chấm dứt các biện pháp kiểm soát giao dịch tài chính có yếu tố nước ngoài (Bumann và cộng sự, 2013). Như vậy tự do hóa tài chính bao gồm khía cạnh trong nước và khía cạnh quốc tế. Khi xem xét tác động của tự do hóa tài chính dưới góc độ doanh nghiệp, Laeven (2003) với dữ liệu của các doanh nghiệp tại 13 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1988-1998 kết luận tự do hóa tài chính góp phần làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Với giới hạn tài trợ giảm, các doanh nghiệp ít phụ thuộc vào các nguồn tài trợ nội bộ và ít gặp khó khăn trong việc

    huy động vốn đầu tư bên ngoài. Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Guermazi (2014), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và O’Toole và Newman (2015) cũng đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu vai trò của tự do hóa tài chính với dữ liệu vi mô của từng quốc gia riêng lẻ. Bên cạnh các bằng chứng ủng hộ, tự do hóa tài chính cũng gặp không ít bằng chứng phản đối khi xem xét dưới góc độ doanh nghiệp. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cơ sở lý thuyết hiện nay tồn tại khá nhiều bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Thị trường tài chính tại các quốc gia ASEAN thường có quy định giám sát và thực thi ít hiệu quả đồng thời mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thấp dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao (Gochoco-Baustia và cộng sự, 2014), do đó doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN thường gặp khó khăn trong huy động nguồn tài trợ bên ngoài (vốn cổ phần hoặc nợ). Vì lý do này đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN có nhiều khả năng chịu tác động của giới hạn tài trợ và nhạy cảm hơn trước mức độ tự do hóa tài chính. Chỉ số tự do hóa tài chính có thể đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) sẽ̃ được trình bày cụ thể trong phần 3.

     

    2.2. Lý thuyết Q về đầu tư

     

    Lý thuyết Q bắt đầu bằng việc kết hợp cho phí điều chỉnh vốn trong mô hình đầu tư. Chi phí điều chỉnh vốn, theo Abel (1983), là phần sản lượng mất đi khi doanh nghiệp phát sinh các khoản đầu tư mới. Theo lý thuyết Q, các khoản đầu tư mới làm phát sinh chi phí điều chỉnh, lúc này doanh nghiệp chỉ có thể tối đa hóa giá trị khi lợi ích biên bằng với chi phí biên. Với cách thiết lập này, tỷ lệ đầu tư sẽ̃ được quyết định bởi q biên (marginal q), giá ẩn của vốn, dòng chiết

     

    24

     

     

    Hàm đầu tư có thể dễ dàng sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm do có thể đo lường một cách đơn giản dựa trên dữ liệu về giá trị thị trường của doanh nghiệp (giá chứng khoán trong trường hợp các doanh nghiệp niêm yết) và giá trị thay thế của vốn (thường dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp). Yếu tố kỳ vọng trong mô hình được giải quyết thông qua việc chứng minh biến kỳ vọng tương lai không thể quan sát (q biên) bằng biến có thể quan sát (q trung bình). Trong mô hình đầu tư này, q trung bình đại diện cho tất cả lợi nhuận kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp. So với các mô hình đầu tư

     

    khấu của các khoản thu nhập biên trong tương lai của một khoản đầu tư. Dưới một số giả định (Hayashi, 1982), q biên có thể được đại diện bởi q trung bình hay còn gọi là Tobin’s Q được đo lường bằng tỷ số giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và giá trị sổ sách của vốn.

    Các mô hình thực nghiệm: v Mô hình Q

    Hàm đầu tư có thể viết dưới dạng:

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

     

     

    • t

     

    K t

     

     

       

    1

     

    Vt

         

    1

    (qtA − 1) ptI

     

    =

     

    ptI

    + τ t  =

    α

    Kt

    α

               

     

    Với Qt  = (qtA − 1) ptI

     

           

    dạng rút gọn, mô hình Q có các ưu điểm nổi bật:

     
           

    (i) Có cơ sở lý thuyết vững chắc do được suy

     
           

    ra trực tiếp từ bài toán tối đa hóa giá trị doanh

     
           

    nghiệp; (ii) Có xét đến yếu tố kỳ vọng hợp lý

     
           

    và (iii) Sai số của mô hình đại diện cho cú sốc

     
           

    năng suất. Với ưu điểm này mô hình Q được sử

     
           

    dụng phổ biến trong dòng lý thuyết kiểm định

     
           

    sự tồn tại của giới hạn tài trợ mà chúng ta sẽ̃

     
       

    1

     

    thảo luận trong phần 2.2.

     

    + τ t  =

    Qt + τt

    v Mô hình Abel – Blanchard

     

    α

       

    Abel và Blanchard (1986) gợi ý ước lượng

     
           

     

    • giá trị ẩn của vốn bằng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng phụ trợ cụ thể thông qua kết quả dự báo lợi nhuận biên kỳ vọng của vốn từ mô hình VAR. Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta

    phải xác định cụ thể dạng hàm cho năng suất biên của vốn, chi phí điều chỉnh biên cũng như hệ số chiết khấu ngẫu nhiên. Mô hình đầu tư trong Abel và Blanchard (1986) vẫn có dạng tuyến tính và do đó phụ thuộc chặt chẽ̃ vào dạng hàm bình phương của chi phí điều chỉnh vốn.

     

    • Mô hình Euler equation

     

    Cách tiếp cận Euler Equation đề xuất bởi Abel (1980) có thể nới lỏng giả định về dạng tuyến tính đơn điệu của hàm lợi nhuận và tránh sử dụng dữ liệu giá chứng khoán.

     

     

    I t

     

    + ptI  = FK ( K t , Lt ;τ t ) − GK ( K t , Lt ;τ t ) + β (1

     

    It +1

       

    + β (1 − δ )Et ptI+1

       

    α

    ut

    δ )α Et

    ut +1

     

    (2)

     

    K t

    Kt +1

                     

     

    Để kiểm định thực nghiệm mô hình đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cần thay thế giá trị kỳ vọng bằng giá trị quan sát cộng với

    sai số dự báo. Đặt Xt+1 = Et(Xt+1)) + t+1 với t+1 là sai số dự báo và khai triển hàm chi phí điều

     

    chỉnh vốn, chúng ta có:

     

    I t

    = cons + β (1 − δ )

    I t +1

    +

     

    1

    FK ( K t , Lt ;τ t ) +

    1

     

    It +1

    2

    +

    β (1 − δ )

    ptI+1

     

    1

    ptI +  t +1

    (3)

     
       

    K t

    K t +1

    α

    2

     

    α

    α

           

    Kt +1

             

    Với ∈t +1 là hằng số và là tổng các sai số dự báo cho đầu tư và chi phí vốn.

     

     

    Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương trình Euler tiêu biểu gồm Whited (1992), Bond và Meghir (1994), Hubbard, Kashyap và Whited (1995) và Laeven (2003).

    2.3. Giới hạn tài trợ

     

    Giới hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003). Với sự hiện diện của hạn chế tài chính,

     

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Hạn chế tài chính chủ yếu bắt nguồn từ do tình trạng bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể tham gia thị trường (Tirole, 2006). Bất cân xứng thông tin dẫn đến việc bên cung cấp vốn đòi hỏi một phần bù (phần bù tài trợ bên ngoài) để bù đắp chi phí xác minh thông tin về bên huy động vốn khiến chi phí tài trợ bên ngoài cao hơn chi phí của nguồn tài trợ nội bộ (Myers và Majluf, 1984). Nguyên nhân thứ hai đến từ vấn đề đại diện giữa chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp (Oliner và Rudebusch, 1992). Nguyên nhân thứ ba là chi phí giao dịch

     

    liên quan đến việc phát hành cổ phần cũng như phát hành nợ.

    Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Trong mô hình đầu tư tân cổ điển với hạn chế tài chính, một sự suy giảm trong giá trị tài sản ròng (độc lập với cơ hội đầu tư) sẽ̃ làm tăng phần bù tài trợ bên ngoài và qua đó giảm khả năng huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên giới hạn tài trợ này không giống nhau giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Bất cân xứng thông tin

     

    Vấn đề đại diện

     

    Chi phí giao dịch

     

    HẠN CHẾ

    GIỚI HẠN

    ĐẦU TƯ

     

    TÀI

    TÀI TRỢ

       

    CHÍNH

         

    Hình 1. Mối quan hệ giữa hạn chế tài chính, giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp

     

     

    Nghiên cứu về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và mức độ ảnh hưởng của giới hạn này đến đầu tư là một trong những chủ đề chính trong lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Đầu tư của doanh nghiệp bị giới hạn hay nói cách khác doanh nghiệp gặp giới hạn tài trợ nếu một sự gia tăng bất ngờ trong nguồn cung vốn nội bộ dẫn đến một sự gia tăng trong chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Trong mô hình Q, doanh nghiệp không bị giới hạn tài trợ do đầu tư của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào thu nhập biên hiện tại và tương lai của vốn được phản ánh trong q biên với mức giá và lãi suất cho trước.

     

    Để kiểm định sự hiện diện của giới hạn tài trợ, cơ sở lý thuyết hiện tại đề xuất hai hướng tiếp cận: (i) Kiểm định độ nhạy cảm quá mức của đầu tư theo các biến tài chính – phù hợp với mô hình đầu tư dạng cấu trúc như mô hình Q và

    Nguồn: Tác giả tự xây dựng mô hình Euler Equation hơn là mô hình đầu tư dạng rút gọn; (ii) Kiểm định sự khác biệt trong hệ số co dãn của đầu tư theo các biến tài chính giữa các nhóm doanh nghiệp.

     

    Nghiên cứu của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) cho thấy mô hình đầu tư theo q trung bình thường gặp hiện tượng tương quan chuỗi trong phần dư – một dấu hiệu cho thấy mô hình chưa được định dạng phù hợp. Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) bổ sung mô hình Q với biến dòng tiền – một biến tài chính và phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính dựa trên tỷ lệ chi trả cổ tức. Kết quả cho thấy đầu tư có tương quan dương với dòng tiền ngay cả khi đã kiểm soát q trung bình và hệ số này cao hơn ở nhóm chi trả cổ tức thấp. Các tác giả diễn dịch độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền là bằng chứng về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có mức độ giới hạn tài trợ cao hơn các

     

    26

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    doanh nghiệp khác. Cách tiếp cận của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) được các nghiên cứu về sau áp dụng rộng rãi với một vài điều chỉnh. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có thể là tỷ lệ chi trả cổ tức; quy mô, thời gian hoạt động và tỷ lệ tăng trưởng (Devereux và Schiantarelli, 1990); xếp hạng tín dụng (Whited, 1992); sự phân tán trong tỷ lệ sở hữu cổ phần (Schaller, 1993); liên kết với tập đoàn lớn (Hoshi, Kashyap và Scharfstein, 1991); liên kết với ngân hàng (Elston, 1993).

     

    Nhược điểm quan trọng của dòng lý thuyết này là chúng ta vẫn chưa xây dựng được một mô hình đầu tư dạng cấu trúc bao gồm giới hạn tài trợ có tính thuyết phục.

     

    2.4. Hạn chế tài chính

     

    Có hai cách tiếp cận về hạn chế tài chính thường được sử dụng trong cơ sở lý thuyết liên quan. Cách tiếp cận đầu tiên dựa trên nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981), Almeida và Campello (2007) và Whited và Wu (2006) trong đó hạn chế tài chính được định nghĩa là độ cong của đường cung vốn. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính nếu doanh nghiệp phải đối mặt với đường cung vốn có mức độ kém co dãn cao. Khi này doanh nghiệp khó có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài dù doanh nghiệp sẵn sàng chịu mức lãi suất cao. Cách tiếp cận thứ hai, đến từ Fazari, Hubbard và Petersen (1988), xem hạn chế tài chính là chênh lệch giữa chi phí cơ hội của nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp và chi phí huy động nguồn tài trợ bên ngoài. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính chỉ có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài tại mức lãi suất cao hơn mức lãi suất phản ánh mức độ rủi ro thực tế của doanh nghiệp. Một số phương pháp đo lường mức độ giới hạn tài trợ phổ biến như chỉ số như KZ (Kaplan and Zingales, 1997), chỉ số SA (Hadlock và Pierre, 2010) và chỉ số WW (Whited và Wu, 2006). Một cách tiếp

    cận phổ biến khác dựa trên xếp hạng tín dụng. Doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng được xem là doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và ngược lại. Cách tiếp cận trên bắt nguồn từ lập luận doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng không có khả năng tiếp cận thị trường nợ thông qua việc phát hành trái phiếu mà phải huy động từ các trung gian tài chính với các điều khoản kém thuận lợi như lãi suất cao (Faulkender and Petersen 2006).

     

    Cách phân loại mức độ hạn chế tài chính của doanh nghiệp theo các chỉ tiêu KZ, SA và WW trên mang tính ngoại sinh, đòi hỏi chúng ta phải biết trước về tình hình giới hạn tài trợ của doanh nghiệp (Hovakimian và Titman, 2006). Bên cạnh đó Farre – Mensa và Ljungqvist (2016) chứng minh các chỉ số KZ, SA và WW không thực sự đo lường mức độ hạn chế tài chính. Nhằm khắc phục hạn chế về việc phân loại tình hình tài chính doanh nghiệp, Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) đề xuất sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (endogenous switching regression model) trong đó việc phân loại doanh nghiệp không dựa trên các tiêu chí ngoại sinh mà được quyết định nội sinh bởi những đặc trưng của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho phép chúng ta ước lượng riêng biệt hàm đầu tư khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và khi không bị hạn chế tài chính mà không cần phân loại trước các doanh nghiệp này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nhằm xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa đầu tư của doanh nghiệp và giới hạn tài trợ, đầu tiên chúng ta xây dựng mô hình hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong đó bao gồm giới hạn tài trợ. Do mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia đang phát triển trong khu vực ASEAN với điều kiện

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    thị trường tài chính kém hiệu quả, chúng ta xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980) thay vì mô hình Q vốn dựa trên giả định thị trường hiệu quả. Sau khi thiết lập hàm đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cho phép tự do hóa tài chính (đại diện bởi chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự, 2010) tương tác với giới hạn tài trợ trong hàm đầu tư trên. Tiếp đến chúng ta sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh theo đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) để ước lượng và kiểm định hàm đầu tư. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh cho phép xác định đồng thời tình trạng tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong từng trạng thái tài chính, đồng thời cho phép khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy. Các chỉ tiêu nhằm xác định nội sinh tình trạng hạn

    chế tài chính của doanh nghiệp dựa trên đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Nhằm đảm bảo tính vững của kết quả hồi quy, chúng ta lần lượt thay thế chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự bằng chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Cũng với mục đích đảm bảo tính vững, bên cạnh mô hình hồi quy chuyển đội nội sinh, hàm đầu tư cũng được ước lượng theo phương pháp System GMM. Lúc này trạng thái tài chính của doanh nghiệp được xác định một cách ngoại sinh dựa trên các chỉ tiêu phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại bao gồm quy mô doanh nghiệp và chỉ số KZ.

     

    3.1. Mô hình nghiên cứu

     

    3.1.1. Giới hạn tài trợ

     

    Hàm đầu tư theo phương trình Euler có dạng:

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

     

    2

     
         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

     

    + f i + dt + εit

    (4)

           

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    it

     

    it

     

    it

     

    Trong đó, Iit, Kit, Yit, CFit, Dt lần lượt là chi tiêu cho đầu tư, tổng vốn, doanh thu thuần,

     

    dòng tiền hoạt động và nợ của doanh nghiệp i tại thời điểm t; fi là hiệu ứng cố định theo doanh nghiệp; dt là hiệu ứng cố định theo thời gian; εit là phần dư nhiễu trắng. Biến CFK đại diện cho giới hạn tài trợ của doanh nghiệp là biến giải thích chính chúng ta quan tâm. Biến YK dùng để

    kiểm soát điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo.

    Biến          2  thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa

    K

     

    quyết định đầu tư và quyết định vay mượn. Để xem xét tác động của tự do hóa tài chính

    đến giới hạn tài trợ, chúng ta sẽ̃ điều chỉnh phương trình (22) bằng cách cho biến tự do hóa tài chính FLI tương tác với biến giới hạn tài trợ.

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

    CF

     

    2

    (5)

         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

       

    FLIt + α 6

     

    + f i + dt + εit

           

    K

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    K  it

     

    it

     

    it

     

    it

     

    3.1.2. Đo lường tự do hóa tài chính

     

    Cơ sở lý thuyết hiện tại sử dụng 03 nhóm thang đo đo lường tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • tự do hóa tài khoản vốn, (ii) tự do hóa thị trường vốn và (iii) tự do hóa khu vực ngân hàng. Ngoài các thang đo riêng biệt, chúng ta còn có các thang đo đa chiều bao gồm tất cả các khía cạnh nêu trên. Thang đo tự do hóa tài chính đa chiều xem xét đồng thời các khía cạnh của

    tự do hóa tài chính. Một thang đo đa chiều tiêu biểu đến từ Abiad và cộng sự (2010) với 07 chỉ tiêu liên quan đến tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • kiểm soát tín dụng và yêu cầu dự trữ, (ii) kiểm soát lãi suất, (iii) rào cản gia nhập lĩnh vực ngân hàng, (iv) sở hữu nhà nước trong khu vực ngân hàng, (v) kiểm soát tài khoản vốn, (vi) quy định an toàn và giám sát khu vực ngân hàng và
    • chính sách đối với thị trường chứng khoán.

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Với mục tiêu đánh giá tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp, nghiên cứu áp dụng phương pháp đo lường tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự (2010).

     

    3.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Để phân tích tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ cũng như giới hạn tài sản thế chấp và mức đầu tư của doanh nghiệp tại các nước đang phát triển trong khu vực Asean, chúng ta sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Các doanh nghiệp niêm yết được lựa chọn nghiên

    cứu do thông tin kế toán đến từ các doanh nghiệp này có chất lượng tốt hơn các doanh nghiệp không niêm yết. Giai đoạn nghiên cứu được lựa chọn từ năm 2006 nhằm đảm bảo độ cân xứng của dữ liệu. Nếu như thị trường chứng khoán các quốc gia như Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan đã hình thành từ những năm 1970 thì thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ được thành lập năm 2000. Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, số lượng doanh nghiệp niêm yết và giá trị vốn hóa thị trường rất hạn chế và chỉ thực sự tăng trưởng mạnh mẽ̃ từ năm 2006 và do đó việc lựa chọn thời gian nghiên cứu từ thời điểm này sẽ̃ giúp đảm bảo tính cân xứng của dữ liệu.

     

     

    Bảng 1. Danh sách biến và nguồn dữ liệu

     

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

    Nguồn

    Phương trình đầu tư

       
     

    Chi phí đầu tư kỳ t

     

    Báo cáo tài chính của

       

    DEP: khấu hao

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tổng lượng vốn kỳ t

    Giá trị tài sản cố định thuần

         

    Thompson Reuters

     

    Giá trị khấu hao kỳ t

     
       

    Datastream

     

    Sản lượng của doanh

    Doanh thu thuần

       
     

    nghiệp kỳ t

       
     

    Dòng tiền hoạt động

    Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao

     
     

    kỳ t

       
     

    Tổng dư nợ kỳ t

    Tổng nợ phải trả

     
     

    Giới hạn tài sản thế

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
     

    chấp kỳ t

    tài sản

     

    Phương trình chuyển đổi

       
     

    Quy mô doanh

    Log (Tổng tài sản)

    Báo cáo tài chính của

     

    nghiệp

     

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tuổi doanh nghiệp

    Log(Số năm hoạt động)

         

    Thompson Reuters

     

    Biến giả chi trả cổ

    Nếu doanh nghiệp có chi trả cổ tức

     

    tức

    bằng tiền mặt trong kỳ t. Ngược lại,

    Datastream

       

    DIVt = 0.

     
     

    Nợ ngắn hạn

    Tỷ lệ Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản

     
     

    Nợ dài hạn

    Tỷ lệ Nợ dài hạn/Tổng tài sản

     
     

    Cơ hội tăng trưởng

    MTB – chỉ số giá thị trường trên giá

     
       

    sổ sách.

     
     

    Thặng dư tài chính

    Tỷ lệ Tiền và chứng khoán có tính

     
       

    thanh khoản cao/Biến trễ của tổng tài

     
       

    sản

     
     

    Tài sản cố định

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
       

    tài sản

     

    29

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

         
             

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

     

    Nguồn

    Chỉ số tự

    do hóa tài chính

             

    FLI

    Chỉ số tự do hóa tài

    Tác giả tính toán theo cách tiếp cận

    Báo

    cáo

    thường  niên

     

    chính

    của Abiad và cộng sự (2010)

    của

    Ngân Hàng Trung

         

    Ương, báo cáo quốc gia

         

    của World Bank và IMF.

    KACON

    Chỉ  số  kiểm  soát

    Fernandez và cộng sự (2016)

    Website

    của

    Columbia

     

    vốn

     

    University:

     
         

    http://www.columbia.

         

    edu/~mu2166/fkrsu/

    KAOPEN

    Chỉ số KAOPEN

    Chinn – Ito (2006)

    Website

    của

    Portland

         

    State University:

         

    http://web.pdx.edu/~ito/

         

    Chinn-Ito_website.htm

    Dữ liệu trước khi sử dụng để ước lượng và kiểm định mô hình sẽ̃ được lọc bỏ các giá trị dị biệt. Đầu tiên chúng ta lọc bỏ dữ liệu tại phân vị thứ nhất và thứ 99 nhằm kiểm soát tác động của các giá trị dị biệt đến kết quả hồi quy. Tiếp theo, theo Laeven và cộng sự (2003), chúng ta loại trừ các quan sát có giá trị đầu tư và doanh thu nhỏ hơn 0. Cuối cùng chúng ta tiếp tục loại trừ các quan sát có tỷ lệ I/K, Y/K và D/K cao bất thường. Sau khi làm sạch dữ liệu của chúng ta gồm 1,394 quan sát đến từ 493 doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia Asean.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Chỉ số tự do hóa tài chính

     

    Chỉ số tự do hóa tài chính đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) cho các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2006 -2016 được trình bày trong Hình 4.1. Bên cạnh chỉ số tự do hóa tài chính FLI, Hình 4.1 đồng thời thể hiện chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Frenandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Trong 5 quốc gia nghiên cứu, Malaysia và Phillipines là hai quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính cao và ổn định nhất do 2 quốc gia này đã sớm thực thi các chính sách tự do hóa tài chính từ cuối những năm 1970 và 1980. Thái Lan tuy tiến

    hành tự do hóa tài chính muộn hơn Malaysia và Philippines (cụ thể vào cuối những năm 1990) nhưng quốc gia này có mức độ tự do hóa nhanh và cho đến năm 2016, chỉ số tự do hóa tài chính của Thái Lan tương đương Malaysia (ở mức 0.8). Chỉ số tự do hóa tài chính của Indonesia hiện duy trì ở mức trung bình trên 0.5 sau một thời gian sụt giảm đáng kể do các chính sách kiểm soát vốn ban hành sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008. Việt Nam là quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính thấp nhất trong mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ số tự do hóa tài chính của Việt Nam đang có xu hướng tăng từ sau năm 2008 và tính đến năm 2016 chỉ số này của Việt Nam xấp xỉ mức 0.5. Khi xem xét đồng thời chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016), chúng ta nhận thấy hai chỉ số này có biến động ngược chiều trong hầu hết các trường hợp (trừ Philippines). Khi so sánh chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN, chúng ta thấy mức độ dao động trong chỉ số KAOPEN có phần khiêm tốn hơn. Tất cả các quốc gia trừ Việt Nam đều có sự sụt giảm mạnh trong chỉ số KAOPEN giai đoạn sau cuộc khủng hoảng 2008.

     

    30

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Hình 2. Chỉ số tự do hóa tài chính cho 5 quốc gia trong khu vực Asean

     

           

    Indonesia

                   

    Malaysia

           

    .75

                       

    .9

                       

    .70

                       

    .8

                       

    .65

                       

    .7

                       
                                             

    .60

                       

    .6

                       
                                             

    .55

                       

    .5

                       
                                             
                         

    .4

                       

    .50

                       

    .3

                       
                                             

    .45

                       

    .2

                       
                                             

    .40

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         
                                       
           

    Philippines

                   

    Thailand

           

    .9

                       

    .9

                       

    .8

                       

    .8

                       

    .7

                       

    .7

                       

    .6

                       

    .6

                       

    .5

                       

    .5

                       

    .4

                       

    .4

                       

    .3

                       

    .3

                       

    .2

                       

    .2

                       

    .1

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         

    Vietnam

     

    1.0

     

    0.9

     

    0.8

     

    0.7

     

    0.6

     

    0.5

     

    0.4

     

    0.3

     

    0.2

     

    0.1

     

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    FLI         KAOPEN          KCON

     

    Ghi chú: Chỉ số tự do hóa tài chính FLI được nhóm tác giả tính toán theo cách tiếp cận của Abiad và cộng sự (2010). Chỉ số kiểm soát vốn KACON đến từ Fernandez và cộng sự (2016). Chỉ số độ mở tài chính KAOPEN đến từ Chinn và Ito (2006).

     

    4.2. Mô tả dữ liệu doanh nghiệp                                      Các dữ liệu trong bài nghiên cứu được trình

     

    bày trong Bảng 2.

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 2. Kết quả thống kê mô tả

     

    Chỉ tiêu

    I/K

    Y/K

    CF/K

    D/K

    MTB

    CC

    FLI

    Số

     

    quan sát

     
                   

    Phần A. Thống kê toàn bộ mẫu

                 
                       

    Trung bình

    0.40

    7.43

    0.81

    3.68

    1.93

    0.56

     

    1,394

     
                       

    Trung vị

    0.21

    3.53

    0.41

    1.61

    1.25

    0.49

     

    1,394

     
                       

    Độ lệch chuẩn

    0.69

    11.58

    1.41

    6.52

    2.14

    0.38

     

    1,394

     
                       

    Phần B. Thống kê theo quốc gia

                 
                       

    Indonesia

    0.27

    5.52

    0.60

    3.03

    3.09

    0.60

    0.59

    271

     
                     

    0.18

    3.71

    0.35

    1.53

    2.23

    0.52

    0.58

    271

     
     
                       

    Malaysia

    0.20

    1.63

    0.32

    1.48

    2.96

    0.58

    0.83

    76

     
                     

    0.17

    1.74

    0.24

    1.45

    1.65

    0.53

    0.84

    76

     
     
                       

    Philippines

    0.52

    4.43

    0.77

    4.24

    1.95

    0.59

    0.69

    311

     
                     

    0.26

    2.32

    0.37

    1.73

    1.55

    0.54

    0.70

    311

     
     
                       

    Thailand

    0.31

    5.04

    0.57

    2.01

    2.60

    0.83

    0.67

    161

     
                     

    0.15

    2.40

    0.30

    1.07

    1.67

    0.88

    0.66

    161

     
     
                       

    Vietnam

    0.46

    11.40

    1.07

    4.45

    1.05

    0.45

    0.40

    575

     
                     

    0.23

    6.18

    0.58

    2.21

    0.86

    0.35

    0.44

    575

     
     
                       

    Phần C. Thống kê theo quy mô

                 
                       

    Lớn

    0.41

    8.42

    0.76

    4.46

    1.85

    0.51

     

    703

     
                     

    0.21

    4.50

    0.46

    1.98

    1.14

    0.42

     

    703

     
       
                       

    Nhỏ

    0.40

    6.44

    0.86

    2.90

    2.02

    0.61

     

    691

     
                     

    0.20

    2.71

    0.37

    1.46

    1.33

    0.54

     

    691

     
       
                       

    Phần D. Thống kê theo thời gian niêm yết

               
                       

    Dài

    0.36

    5.33

    0.61

    2.75

    2.16

    0.62

     

    785

     
                     

    0.19

    2.60

    0.35

    1.48

    1.45

    0.55

     

    785

     
       
                       

    Ngắn

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
                     

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
       
                       

    Phần E. Thống kê theo chỉ số KZ

                 
                       

    KZ thấp

    0.53

    11.26

    1.34

    5.39

    2.10

    0.44

     

    692

     
                     

    0.26

    6.19

    0.78

    2.01

    1.34

    0.35

     

    692

     
       
                       

    KZ cao

    0.28

    3.67

    0.30

    2.00

    1.76

    0.68

     

    702

     
                     

    0.17

    1.98

    0.24

    1.48

    1.15

    0.61

     

    702

     
       
                       

    Phần F. Thống kê theo chỉ số SA

                 
                       

    SA thấp

    0.37

    5.14

    0.67

    2.73

    2.29

    0.64

     

    703

     
                     

    0.20

    2.43

    0.34

    1.45

    1.56

    0.58

     

    703

     
       
                       

    SA cao

    0.44

    9.77

    0.96

    4.65

    1.56

    0.48

     

    691

     
                     

    0.23

    5.30

    0.52

    2.11

    1.03

    0.38

     

    691

     
       
                       

    Ghi chú: phần B, C, D, E, F thể hiện giá trị trung bình và trung vị (số in nghiêng) của các biến.

     

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Trong phần phân tích về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp, bên cạnh việc sử dụng mô hình chuyển đổi nội sinh nhằm xác định trạng thái tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cũng phân loại tình trạng tài chính của doanh nghiệp theo các thang đo phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại như quy mô doanh nghiệp (đại diện bởi giá trị tổng tài sản) và chỉ số KZ. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường có mức độ hạn chế tài chính cao hơn các doanh nghiệp quy mô lớn (Laeven, 2003 và Nam Hoai Tran và Chi Dat Le, 2017). Trong phân tích của chúng ta, các doanh nghiệp được xem có quy mô nhỏ khi giá trị tổng tài sản nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu. Chỉ số KZ là thang đo mức độ hạn chế tài chính phổ biến nhất hiện tại theo số lượng trích dẫn trên Google Scholar. Các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao đồng nghĩa với doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính cao (Lamont, Polk và Saa-Requejo, 2001). Chúng ta quy ước doanh nghiệp có chỉ số KZ cao khi chỉ số này lớn hơn giá trị trung vị mẫu. Khi so sánh giữa nhóm doanh nghiệp bị hạn chế tài chính (quy mô nhỏ hoặc chỉ số KZ cao) và nhóm không bị hạn chế tài chính (quy mô lớn hoặc chỉ số KZ thấp), chúng ta thấy các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính có tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ doanh thu và tỷ lệ dòng tiền trên tổng lượng vốn cao hơn các doanh nghiệp vị hạn chế.

     

    4.3. Tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ Kết quả ước lượng hàm đầu tư với giới hạn tài trợ (4) và (5) theo mô hình hồi quy chuyển đổi được trình bày lần lượt trong Bảng 3 – Phần A. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh giúp chúng ta xác định đồng thời hàm đầu tư cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Bên cạnh đó mô hình còn giúp xác định các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng hạn chế

    tài chính của doanh nghiệp. Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi được trình bày trong Bảng 3 – Phần B.

    Một cách tổng quát hành vi đầu tư của các doanh nghiệp thuộc hai trạng thái tài chính có sự tương đồng trong cách thức phản ứng với mức đầu tư trong quá khứ. Hệ số co dãn của tỷ lệ đầu tư theo biến trễ của tỷ lệ đầu tư được ước lượng khoảng 0.43 cho các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và 0.25 cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Hệ số này cho thấy hành vi đầu tư của doanh nghiệp có quán tính đáng kể. Một mức đầu tư cao trong quá khứ hàm ý mức đầu tư cao trong tương lai. Kết quả về quán tính của đầu tư phù hợp với giả định xem vốn hữu hình là một yếu tố sản xuất bán cố định. Tỷ lệ doanh thu trên tổng lượng vốn đại diện cho cơ hội tăng trưởng chỉ tương quan với tỷ lệ đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số của dương và có ý nghĩa thống kê. Đối với các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, doanh thu không giúp giải thích hành vi đầu tư. Mối quan tâm chính yếu của chúng ta trong kết quả hồi quy phương trình (4) và (5) là hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền đại diện cho giới hạn tài trợ. Chúng ta không tìm thấy bằng chứng ủng hộ sự hiện diện của giới hạn tài trợ trong cả hai trường hợp doanh nghiệp niêm yết và không niêm yết. Cụ thể hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền của các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính không có ý nghĩa thống kê trong khi hệ số này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, hệ số này có ý nghĩa thống kê nhưng mang dấu âm. Mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư và dòng tiền cũng đã được Bushman và cộng sự (2011) lưu ý khi các tác giả phân tích độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền với các biến đại diện dòng tiền khác nhau.

     

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với FLI

     

    Phần A: Hàm đầu tư

    (I)

     

    (II)

     

    Biến phụ thuộc

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

     

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

     

    0.429

     

    0.284

    0.431

     

    0.231

                 
     

    (3.88)***

     

    (3.62)***

    (3.90)***

     

    (2.66)***

                 
     

    -0.024

     

    -0.041

    -0.024

     

    -0.027

                 
     

    (0.99)

     

    (1.84)*

    (1.00)

     

    (1.11)

                 
     

    0.012

     

    -0.002

    0.013

     

    0.000

                 
     

    (3.79)***

     

    (0.57)

    (3.87)***

     

    (0.01)

                 
     

    -0.009

     

    -0.110

    -0.072

     

    -0.409

                 
     

    (0.43)

     

    (2.12)**

    (0.85)

     

    (2.01)**

                 
     

    0.000

     

    0.002

    0.000

     

    0.001

                 
     

    (0.66)

     

    (4.78)***

    (0.33)

     

    (1.81)*

                 
           

    0.125

     

    0.888

                 
           

    (0.77)

     

    (2.62)***

                 

    Constant

    0.253

     

    0.093

    0.251

     

    0.051

     

    (1.25)

     

    (0.77)

    (1.24)

     

    (0.47)

                 
                 

    Industry fixed effects

     

     

    Year fixed effects

     

     

    Số quan sát

    764

     

    764

    764

     

    764

    Ghi chú: Phần A Bảng 4.2 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    I1it = Xit α1 + ε1it

    I2it = Xitα2 + ε2it     lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    it

       
     

    I

           

    I

           

    2

       

    Y

       

    CF

       

    2

    (I)

               

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

         

    + α 4

         

    + α 5

       

    + f i + dt + εit

           

    K

         

    K

    K

     

    K

    it

       

    it −1

         

    K  it −1

     

    it

       

    it

     

    it

    (II)

    I

         

    I

         

    2

       

    Y

     

    CF

     

    CF

         

    2

           

    = c + α1

         

    + α 2

         

    + α 3

       

    + α 4

         

    + α 5

         

    FLIt + α 6

       

    + f i + dt + εit

               

    K

           
     

    K

    it

     

    K  it −1

       

    K  it −1

       

    it

       

    it

     

    K

     

    it

         

    it

                                                                           

    Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016. Giá trị thống kê t được thể hiện trong ngoặc đơn dưới hệ số ước lượng. ***, ** và * lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm

    hạn tài trợ thể hiện qua biến , tự do hóa tài chính

    trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp

    không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các

    này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm

    hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống kê. Hệ số của trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar

    (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng

     

    (2005). Điều này có thể được giải thích theo Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

               

    Bảng 3. Phần B – Giới hạn tài trợ

     
       

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinhvới FLI (tiếp theo)

           
     

    Phần B – Phương trình chuyển đổi

    Hàm đầu tư (I)

    Hàm đầu tư (II)

               

    SIZE

    0.060

    0.039

                 

    (2.47)**

    (1.57)

               

    AGE

    0.057

    0.122

                 

    (0.80)

    (1.73)*

               

    DIV

    -0.883

    -0.628

                 

    (3.54)***

    (2.38)**

               

    STD

    0.623

    0.543

                 

    (3.08)***

    (2.86)***

               

    LTD

    1.057

    0.873

                 

    (3.57)***

    (2.63)***

               

    GRO

    -0.054

    -0.036

                 

    (3.59)***

    (2.01)**

               

    FSK

    -0.525

    -0.467

                 

    (5.01)***

    (4.37)***

               

    TAN

    0.314

    0.227

                 

    (3.01)***

    (2.18)**

               

    Constant

    -0.214

    -0.259

                 

    (0.61)

    (0.74)

                     
               

    Số quan sát

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần B Bảng 4.2 thể hiện kết

    quả ước lượng hàm chuyển

    đổi trong mô hình chuyển đổi

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư (I) và (II).

     
     

    it

             

    y*it

    được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị

    hạn chế tài chính, bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi thể hiện trong Bảng 3 Phần B cho thấy hầu hết các biến trong phương trình lựa chọn có vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng tài chính và do đó tác động đến hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó các doanh nghiệp có quy mô lớn, được niêm yết lâu năm, có mức độ thặng dư tài chính thấp và có ít cơ hội đầu tư và có giá trị tài sản hữu hình cao thường được xem là những doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Kết quả trên phù hợp với suy luận thông thường đồng thời phù hợp với các nghiên cứu với cách tiếp cận tương tự như Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Trái với các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính, các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thường là các doanh nghiệp nhỏ, thời gian niêm

    yết ngắn, có mức độ thặng dư. Bên cạnh việc xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thông qua mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, chúng ta cũng ước lượng hệ số này theo cách tiếp cận phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại. Đầu tiên các doanh nghiệp sẽ̃ được phân loại thành doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính dựa trên tiêu chí về quy mô hoặc chỉ số KZ. Sau đó phương pháp System GMM được sử dụng để ước lượng mô hình đầu tư cho từng nhóm doanh nghiệp hoặc với biến giả xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kết quả hàm đầu tư ước lượng theo System GMM thể hiện trong Bảng 4. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc có chỉ số KZ cao được xem là các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính.

     

    Bảng 4 – Giới hạn tài trợ – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình System GMM

     

    Biến phụ thuộc

     

    (I)

       

    (II)

       

    (I.1)

    (I.2)

    (I.3)

    (II.1)

    (II.2)

    (II.3)

     
     
     

    0.340

    0.296

    0.326

    0.406

    0.409

    0.387

     
     

    (2.45)**

    (2.28)**

    (2.45)**

    (3.10)***

    (3.40)***

    (3.08)***

     
     

    -0.024

    -0.019

    -0.018

    -0.032

    -0.036

    -0.024

     
     

    -0.90

    -0.76

    -0.67

    -1.24

    -1.48

    -0.96

     
     

    0.034

    0.027

    0.028

    0.034

    0.017

    0.027

     
     

    (3.00)***

    (2.35)**

    (2.73)***

    (3.25)***

    (1.74)*

    (2.77)***

     
     

    0.004

    0.198

    0.005

    -0.240

    -0.976

    -0.240

     
     

    -0.15

    0.98

    -0.20

    0.40

    (3.24)***

    (2.44)**

     
     

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

     
     

    -0.60

    -0.42

    -0.89

    -0.93

    -0.19

    -0.87

     
       

    -0.188

       

    -1.295

       
       

    (2.15)**

       

    (4.30)***

       
         

    -0.595

       

    -0.840

     
         

    (2.30)**

       

    -0.73

     
           

    0.471

    1.700

    0.499

     
           

    (2.49)**

    (2.92)***

    (2.70)***

     
             

    2.361

       
             

    (4.08)***

       
               

    0.467

     
               

    -0.25

     
                   

    Industry fixed effects

     

    Year fixed effects

     

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Bảng 4 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình System GMM lần lượt cho hai hàm đầu tư. Biến giả Small và HighKZ được sử dụng để xác định ngoại sinh tình trạng hạn chế tài chính của doanh nghiệp. Small bằng 1 cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu và HighKZ bằng 1 cho các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao hơn trung vị mẫu. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016.

     

     

    36

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả mô hình System GMM căn bản khẳng định kết quả mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh: Tự do hóa tài chính làm gia tăng giới hạn tài trợ của tất cả các doanh nghiệp và đặc biệt trầm trọng hóa tình trạng này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số dương và có ý nghĩa thống kê của các

     

    biến (CF/K)it × FLIt, (CF/K)it × FLIt × Smallit và (CF/K)it × FLIt × HighKZit.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng mô hình hồi sinh chuyển đổi cho hàm đầu tư (23) khi thay thế chỉ số tự do hóa tài chính xây dựng theo Abiad và cộng sự (2011) bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Do chỉ số kiểm soát vốn có hàm ý ngược với tự do hóa tài chính, chúng

    ta kỳ vọng hệ số của chỉ số kiểm soát vốn sẽ̃ mang dấu âm. Hệ số âm hàm ý việc gia tăng các hình thức kiểm soát vốn sẽ̃ làm giảm giới hạn tài trợ trong khi việc nới lỏng các biện pháp kiểm soát vốn sẽ̃ làm tăng giới hạn tài trợ. Như thể hiện trong Bảng 5 – Phần A, hệ số của biến (CF/K)it × KACONt đều nhỏ hơn không trong cả hai trường hợp doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính. Kết quả này một lần nữa khẳng định kết quả thu được từ mô hình hồi quy chuyển đổi.Các yếu tố xác định tình trạng tài chính của doanh nghiệp thể hiện trong mô hình chuyển đổi cũng có dấu và độ lớn tương tự khi chúng ta hồi quy với FLI. Điều này có nghĩa các doanh nghiệp trẻ, có quy mô nhỏ và có nhiều cơ hội đầu tư thường là những doanh nghiệp chịu ràng buộc về mặt tài chính.

     

    Bảng 5. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN

     

               

    Phần A –

    KACON

    KAOPEN

     

    Hàm đầu tư

             

    Biến phụ

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

     

    thuộc

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     
     

    0.422

    0.283

    0.430

    0.289

     
     

    (3.80)***

    (3.62)***

    (3.90)***

    (3.62)***

     
     

    -0.023

    -0.040

    -0.024

    -0.051

     
     

    -0.950

    (1.84)*

    -1.000

    (2.17)**

     
     

    0.012

    -0.002

    0.013

    -0.003

     
     

    (3.75)***

    -0.590

    (4.04)***

    -0.670

     
     

    -0.110

    0.164

    0.088

    0.327

     
     

    -0.630

    -0.420

    -1.450

    1.13

     
     

    0.000

    0.002

    0.000

    0.002

     
     

    -0.730

    (4.77)***

    -0.100

    (5.65)***

     
     

    -0.115

    -0.063

         
     

    -0.590

    -0.140

         
         

    -0.265

    -0.524

     
         

    (1.70)*

    -1.490

     

    Constant

    0.259

    0.091

    0.262

    0.076

     
     

    -1.280

    -0.750

    -1.300

    -0.630

     
               

    Industry fixed

     

    effects

             

    Year fixed

     

    effects

             

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần A Bảng 5 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007–2016.

     

    37

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 5. Phần B – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN (tiếp theo)

    Phần B – Hàm chuyển đổi

    Hàm đầu tư với KACON

    Hàm đầu tư với KAOPEN

    SIZE

    0.061

    0.051

     

    (2.47)**

    (1.98)**

    AGE

    0.059

    0.070

     

    -0.810

    -0.950

    DIV

    -0.877

    -0.860

     

    (3.49)***

    (3.47)***

    STD

    0.620

    0.664

     

    (3.06)***

    (3.24)***

    LTD

    1.049

    1.067

     

    (3.49)***

    (3.50)***

    MTB

    -0.053

    -0.049

     

    (3.35)***

    (3.18)***

    FSK

    -0.523

    -0.520

     

    (4.99)***

    (4.96)***

    TAN

    0.313

    0.323

     

    (3.01)***

    (3.12)***

    Constant

    -0.226

    -0.174

     

    -0.630

    -0.490

         

    Số quan sát

    764

    764

    Ghi chú: Phần B Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng hàm chuyển đổi y*it= Zitφ + uit trong mô hình hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được

     

    thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). y*it được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Zit bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thể hiện qua biến (CF/K)it × FLIt, tự do hóa tài chính không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống

    kê. Hệ số của (CF/K)it × FLIt trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven

     

    38

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng (2005).

    Một giải thích khả dĩ cho tác động gia tăng giới hạn tài trợ của tự do hóa tài chính đến từ Chan và cộng sự (2012). Chan và cộng sự (2012) trong khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cải cách tài chính và giới hạn tài trợ cũng tìm thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ. Các tác giả cho rằng quá trình tự do hóa tài chính làm giảm vai trò của hoạt động cho vay dựa trên quan hệ (relationship-based lending) giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Do vậy các doanh nghiệp lớn thường mất dần ưu đãi từ các ngân hàng trong hoạt động cho vay dẫn đến khó khăn trong quá trình huy động vốn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

    1. Kết luận

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính tại 05 quốc gia Asean bao

     

    Tài liệu tham khảo

    gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Kết quả chính yếu cho thấy tại 05 quốc gia Asean thuộc mẫu nghiên cứu tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ) tại các doanh nghiệp này. Một nguyên nhân có thể giải thích cho sự tác động không mong muốn của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển trong khu vực Asean là trình độ phát triển của thị trường tài chính tại các quốc gia này. Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển ở trình độ thấp với chất lượng thể chế chưa cao và cơ chế quản trị kém hiệu quả, tự do hóa tài chính làm gia tăng tình trạng bất cân xứng thông tin trong khi làm giảm chất lượng mối quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và bên cung cấp tài chính. Khi này doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn tài trợ đầu tư. Kết quả về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp trong nghiên cứu này gợi ý các chính sách tự do hóa tài chính nên được đánh giá cẩn trọng trước khi áp dụng nhằm tránh gây bất lợi cho đầu tư của doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp hiện đang trong tình trạng hạn chế tài chính. Tự do hóa tài chính chỉ có thể phát huy tác dụng trong trường hợp thị trường tài chính trong nước có sự vững mạnh nhất định.

     

    Abel A. B. (1983). Optimal Investment under Uncertainty.American Economic Review, 73, 228– 233.

     

    Abel, A. B. (1980). Empirical investment equations: An integrative framework. In: Brunner, K., Meltzer, A.(Eds.), On the State of Macroeconomics. In: Carnegie–Rochester Conference Series, vol. 12, pp. 39–93.

    Abel, A. B. and Blanchard, O.J. (1986). The Present Value of Profiits and Cyclical Movements in Investment.Econometrica 54, 249–273.

     

    39

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Abiad A., Detragiache E. and Tressel T. (2010). A New Database of Financial Reforms. IMF Staff Papers, Palgrave Macmillan, vol. 57(2), pages 281-302, June.

     

    Adler D. (2014). The New Economics of Liquidity and Financial Frictions. The CFA Institute Research Foundation: www.cfapubs.org.

     

    Almeida, H. and M. Campello (2007). Financial Constraints, Asset Tangibility and Corporate Investment.The Review of Financial Studies, 20 (5): 1429-1460.

     

    Bhaduri, N. S. (2005). Investment, Financial Constraints and Financial Liberalization: Some Stylized Facts from a Developing Economy, India. Journal of Asian Economics, 16 (2005) 704–718.

    Bond, S. and C. Meghir (1994). Dynamic Investment Models and the Firm’s Financial Policy.

     

    Review of Economic Studies, 61, 197-222.

     

    Bond, S., and van Reenen, J. (2007). Microeconometric Models of Investment and Employment.In James Heckman and Edward Leamer (Eds.), Handbook of Econometrics, vol. 6A. Amsterdam: Elservier.

    Bumann S., Hermes, N. and Lensink R. (2013). Financial Liberalisation and Economic Growth: A Meta-Analysis. Technical report. Journal of International Money and Finance, 33 (2013) 255–281 Financial liberalization Campbell, J.Y., Kyle, A.S. (1993).Smart money, noise trading and stock-price behaviour.Review of Economic Studies, 60, 1–34.

     

    Bushman, Robert M. and Smith, Abbie J. and Zhang, Frank (2011). Investment Cash Flow Sensitivities Really Reflect Related Investment Decisions. Available at http://dx.doi.org/10.2139/ ssrn.842085.

     

    Chan, Kenneth S.; Dang, Vinh Q. T. and Yan, Isabel K.M. (2012). Financial reform and financing constraints: Some evidence from listed Chinese firms. China Economic Review, Vol. 23, No. 2, 06.2012, p. 482-497.

    Chinn, Menzie D. and Hiro Ito (2006). What Matters for Financial Development? Capital Controls, Institutions, and Interactions. Journal of Development Economics, Volume 81, Issue 1, Pages 163-192 (October).

    Devereux, M. and F. Schiantarelli (1990). Investment, Financial Factors, and Cash Flow: Evidence from U.K. Panel Data. In R. G. Hubbard (Ed.), Asymmetric information, corporate finance, and investment. Chicago: University of Chicago Press.

     

    Elston, J. (1993). Firm ownership structure and investment: Theory and evidence from German manufacturing. WZB Discussion Paper no. FS IV 93-28. Berlin.

     

    Farre-Mensa J. and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, Volume 29, Issue 2, 1 February 2016, Pages 271–308, https://doi.org/10.1093/rfs/hhv052.

    Faulkender, M., Petersen, M. (2006). Does The Source of Capital Affect Capital Structure.Volume 19, Issue 1, 1 March 2006, Pages 45–79.

     

    Fazzari, S. M., Hubbard, R. G. and Petersen, B. C. (1988). Financing Constraints and Corporate Investment.Brookings Papers on Economic Activity, 1, 141–195.

     

    40

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Fernandez, A., Klein M., Rebucci A., Schindler M., and Uribe M. (2016). Capital Control Measures:

     

    A New Dataset.IMF Economic Review, 64, 2016, 548-574.

     

    Forbes, K. J. (2003). One cost of the Chilean capital controls: Increased financial constraints for smaller trade firms. NBER Working Paper 977.

     

    Gelos, R. G., and A. M. Werner (2002). Financial Liberalization, Credit Constraints, and Collateral: Investment in the Mexican Manufacturing Sector. Journal of Development Economics, 67, 1–27.

    Gochoco-Bautista, M.S., Sotocinal, N.R. and Wang, J. (2014). Corporate investments in Asian markets: financial conditions, financial development, and financial constraints. World Development, Vol.57(C), pp. 63–78.

    Guermazi A. (2014). Financial Liberalization, Credit Constraints and Collateral: The case of Manufacturing Industry in Tunisia. Procedia Economics and Finance, 13 (2014), 82 – 100.

     

    Hadlock, C. J., and Pierce Joshua R. (2010). New Evidence on Measuring Financial Constraints:

     

    Moving Beyond the KZ Index. The Review of Financial Studies, 23 (5): 1909-1940.

     

    Harris, J., F. Schiantarelli and M. Siregar (1994). The Effect of Financial Liberalization on Firms’ Capital Structure and Investment Decisions: Evidence from aPanel of Indonesian Manufacturing Establishments, 1981–1988. World Bank Economic Review, 8, 17–47.

     

    Hayashi F. (1982). Tobin’s Marginal q and Average q: A Neoclassical Interpretation. Econometrica, Vol. 50, No. 1. (Jan., 1982), pp. 213-224.

     

    Hermes, N. and R. Lensink (1998). Financial Reform and Informational Problems in Capital Markets: An Empirical Analysis Of The Chilean Experience, 1983–1992. Journal of Development Studies, 34, 27–43.

    Hoshi, T., Kashyap, A.K., Scharfstein, D. (1991). Corporate structure, liquidity and investment:

     

    Evidencem from Japanese industrial groups. Quarterly Journal of Economics, CVI, 33–60.

     

    Hovakimian, G. and S.Titman (2006). Corporate Investment with Financial Constraints: Sensitivity of Investment to Funds from Voluntary Asset Sales. Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 38, No. 2 (Mar., 2006), pp. 357-374.

    Hubbard R. G, Kashyap A. K. and Toni M. Whited (1995). Internal Finance and Firm Investment.

     

    Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 27, No. 3 (Aug., 1995), pp. 683-701.

     

    Ismail M. A, Ibrahim H. M., Yusoff M. and Zainald M-P (2010). Financial Constraints and Firm Investment in Malaysia: An Investigation of Investment-Cash Flow Relationship. International Journal of Economics and Management, 4(1): 29 – 44 (2010).

    Jaramillo, F., F. Schiantarelli and A. Weiss (1996). Capital market imperfections before and after financial liberalization: An Euler Equation Approach to Panel data for Ecuadorian Firms. Journal of Development Economics, 51, 367–386.

    Kaplan N. S. and Zingales L. (1997). Do Investment-Cash Flow Sensitivities Provide Useful Measures of Financing Constraints? The Quarterly Journal of Economics, Vol. 112, No. 1 (Feb., 1997), pp. 169-215.

    Koo, J. and K. Maeng (2005). The effect of financial liberalization on firm’s investments in Korea.

     

    Journal of Asian Economics, 16, 281–297.

     

    41

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Koo, J. and S. Shin (2004). Financial Liberalization and Corporate Investments: Evidence from Korean Firm Data. Asian Economic Journal, 18, 277–292.

     

    Laeven, L. (2003). Does Financial Liberalization Reduce Financial Constraints? Financial Management, 32, 5-34.

     

    Lamont O., Polk C. and Saa-Requejo J. (2001). Financial Constraint and Stock Returns. The Review of Financial Stuties, Vol. 14, No.2, pp. 529-554.

     

    Mensa J. F., and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, 29 (2): 271-308. DOI: https://doi.org/10.1093/ rfs/hhv052.

    Myers, S. C. and N. S. Majluf (1984). Corporate Financing and Investment Decisions When Firms Have Information That Investors Do Not Have. Journal of Financial Economics, 13, 187–221.

     

    Nair V. R. P. (2009). Does Financial Liberalisation Reduce Credit Constraints: A Study of Firms in The Indian Private Corporate Sector.Proceedings of FIKUSZ ’09 Symposium for Young Researchers, 2009, 147-160. Hungary: Budapest.

    Nam Hoai Tran and Chi Dat Le (2017). Financial conditions and corporate investment: evidence from Vietnam. Pacific Accounting Review, Vol. 29 Iss 2.

     

    O’Toole C. and Newman C. (2015). Investment Financing and Financial Development: Evidence from Viet Nam. Review of Finance, 2015, 1–36.

     

    Oliner, S. D. and G. D. Rudebusch (1992). Sources of the Financing Hierarchy for Business Investment.Review of Economics and Statistics, 74, 643–654.

     

    Schaller, H. (1993). Asymmetric Information, Liquidity Constraints, and Canadian Investment.

     

    Canadian Journal of Economics, 26, 552–574.

     

    Stiglitz, J. and A. Weiss (1981). Credit Rationing in Markets with Imperfect Information.American Economic Review, 71, 393–410.

     

    Stiglitz, J. E. (2002). Globalization and Its Discontents. New York: W.W. Norton.

     

    Tirole, J. (2006). The Theory of Coprorate Finance. New Jersey: Princeton University Press.

     

    Whited, T. M, and Wu G. (2006). Financial Constraints Risk.Review of Financial Studies, 19, 531–559.

     

    Whited, T. M. (1992). Debt, Liquidity Constraints, and Corporate Investment: Evidence from Panel Data. Journal of Finance, 47, 1425–1460.

     

     

     

    42


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]