Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: BỘ ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN THI TRẮC NGHIỆM TRỰC TUYẾN CHO CÔNG CHỨC ĐÃ HOÀN THÀNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC MỚI NGÀNH THUẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam-sau-4-n%C4%83m-%C4%91i-v%C3%A0o-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động

    BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    I. Chứng khoán và thị trường chứng khoán

    1. Khái quát về chứng khoán

    Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán được tìm hiểu theo những yêu

    cầu, mục đích khác nhau. Đây là khái niệm phức tạp vì bản thân nó đã hàm chứa một loại quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người cần vốn và người có vốn.

    Chứng khoán rất đa dạng về chủng loại và phong phú về cách thức biểu hiện do đó mà pháp luật nhiều quốc gia không đưa ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán.

    • Theo quan điểm truyền thống thì Chứng khoán là phương tiện xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.

     

    Hình thức tồn tại của chứng khoán rất đa dạng, phụ thuộc vào thực tế phát triển của nền kinh tế. Chứng khoán có thể có hình thức chứng chỉ, hình thức bút toán ghi sổ dần phát triển do yêu cầu của nhà phát hành và sở hữu chứng khoán. Khi công nghệ phát triển, hình thức điện tử cũng được nghi nhận như một dạng tồn tại của chứng khoán.

    • Theo quan điểm hiện đại:

    Chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được.

    Với cách hiểu này, đối tượng được coi là chứng khoán thực sự đa dạng: cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ tại thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng và các loại thương phiếu.

    Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét theo phương diện pháp lý. Nhưng cho dù chứng khoán có hình thức có hình thái biểu hiện cụ thể như thế nào thì đều có chung đặc trưng là xác nhận quyền chủ nợ hoặc quyền sở hữu đối với chủ thể phát hành ra nó.

    1

    Để nhận diện chứng khoán với các đối tượng khác, thường phải dựa trên đặc điểm của chúng:

    1. b) Đặc điểm của chứng khoán

    Đặc điểm quan trọng đầu tiên của chứng khoán là tính sinh lời

    • Tính sinh lời:

    Tính sinh lời thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán một khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở tính sinh lời thì cơ hội đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư chưa đạt được.

    + Tính thanh khoản

    Tính thanh khoản tức là khả năng chuyển đổi được thành tiền. Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua một giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp hẫn đối với người đầu tư, thoả mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản của mỗi chứng khoán là khác nhau, điều đó cũng có ý nghĩa trong việc xác định hiệu suất vốn đầu tư của nền kinh tế, đồng thời tạo ra sức cạnh tranh cho các chủ thể phát hành. Tính thanh khoản của một loại chứng khoán phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường

    + Tính rủi ro

    Cuối cùng, nói tới chứng khoán, cũng đồng thời phải nói tới tính rủi ro của chứng khoán, thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là “đầu tư một lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai”, do vậy cả quãng thời gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro. Mức độ rủi ro của

    2

    chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính thanh khoán của chứng khoán.

    1. Khái niệm Thị trường chứng khoán

    a) Khái niệm

    Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch, mua bán các

    loại chứng khoán được tiến hành bởi những đối tượng khác nhau theo quy định của pháp luật.

    Đây là nơi chắp nối quan hệ cung – cầu vốn đầu tư trung, dài hạn của nền kinh tế quốc dân và quốc tế; là nơi gặp gỡ, giao dịch giữa những người cần huy động vốn đầu tư (người phát hành chứng khoán) với những người có vốn nhàn rỗi muốn đầu tư (người mua chứng khoán) cũng như giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau.

    Thị trường chứng khoán là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Cũng như các thị trường khác, thị trường chứng khoán cũng qua những bước phát triển sơ khai ban đầu, sau đó ngày càng đa dạng, phức tạp dần theo sự phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội. Đây là thị trường đặc biệt, lưu hành các loại hàng hoá đặc biệt là chứng khoán. Sự khác biệt cơ bản đó làm cho nguyên tắc, tổ chức, quản lý thị trường chứng khoán cũng có sự khác biệt so với các thị trường thông thường.

    Thị trường chứng khoán có từ bao giờ?

    Thị trường chứng khoán được hình thành, phát triển trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Đó là nền kinh tế thị trường với những quy luật vốn có của nó. Tại đó cơ hội kinh doanh, khả năng chuyển đổi mới hình thành và tồn tại. Đối với nền kinh tế tập trung không thực hiện được những hoạt động này. Trên thế giới, thị trường chứng khoán ra đời cách đây hơn 400 năm. Hình thức và địa điểm ban đầu rất thô sơ, bột phát, tản mạn, khó xác minh. Mốc thời gian đánh dấu thị trường hoạt động đồng bộ, với đủ loại hình giao dịch như ngày nay được ghi vào đầu thế kỷ 17 tại Amsterdam (Hà Lan). Công ty cổ phần đầu tiên thành lập, phát hành cổ phiếu vào ngày 20 tháng 3 năm 1602. ít lâu sau người ra phát kiến ra trái phiếu quốc gia và các loại trái khoán, giấy ghi nợ rất phong phú. Thị trường chứng khoán Pari “non trẻ”

    3

    hơn, ra đời năm 1801. Sau London, nó là “chợ” lớn nhất châu Âu, một lục địa sang đầu thế kỷ 21 đã có hơn 30 thị trường quốc gia, 12 hệ thống buôn bán và 20 hệ thống thi hành lệnh, triển khai quy trình thanh toán bù trừ. Theo thời gian các thị trường biến hình liên tục.

    Nếu trong thời kỳ đầu, thị trường chứng khoán chỉ xuất hiện ở các nước có nền kinh tế tự do phát triển như Hà Lan, Anh, Đức, Hoa Kỳ … thì hiện nay mô hình thị trường này đã lan rộng và trở thành hiện tượng phổ biến của các quốc gia có nền kinh tế thị trường. Mặc dầu vậy, để phù hợp với trình độ phát triển nền kinh tế, thực lực nền kinh tế mà mức độ phức tạp, đa dạng cũng như mức độ sôi động của thị trường chứng khoán tại các quốc gia khác nhau. Sự khác biệt ấy không chỉ dừng lại giữa các quốc gia, ngay ở những khu vực phát triển kinh tế khác nhau trong một quốc gia, mức độ lưu hoạt vốn của các bộ phận thị trường (mang tính địa phương) cũng khác nhau rõ rệt. Cùng với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động của thị trường chứng khoán các quốc gia ngày càng trở nên gần nhau hơn, thông qua các liên kết giao dịch, nhu cầu kinh doanh, đầu tư của tất cả các đối tượng.

    • Việt Nam nếu không tính đến những năm chuẩn bị thì thời điểm khai trương chính thức trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hòo Chí Minh là vào tháng 6 năm 2000. Phiên giao dịch đàu tiền diễn ra ngày 20-7-2000.

    b. Phân loại thị trường chứng khoán

    • Xét theo tiêu chí lưu thông chứng khoán có thể phân ra thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

    Tại thị trường sơ cấp, các chứng khoán lần đầu tiên được bán cho các nhà đầu tư nên còn được gọi là thị trường phát hành. Điều đó cũng có nghĩa, thông qua thị trường sơ cấp, những nguồn đầu tư mới thực sự được chuyển cho nhà phát hành.

    Thị trường thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng khoán chưa được thanh toá. Bộ phận thị trường này không làm tăng nguồn vốn mới cho nền kinh tế, nhưng có thể hoạt động liên tục, tạo ra khẳ năng thanh khoản cho chứng khoán đã phát hành. “Thị trường thứ cấp phục vụ cho hai mục đích chính: thúc đẩy sự tạo vốn cho các doanh nghiệp, chính phủ và tạo ra các công cụ đầu tư có khả năng sinh lời cho các nhà đầu

    4

    tư”. Thông qua thị trường thứ cấp, các bên tham gia đều mong muốn đạt tới hiệu ích kinh tế của mình. Hai bộ phận thị trường sơ cấp cũng như thứ cấp có mối quan hệ nội tại, mật thiết: thị trường sơ cấp là sơ sở, tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để vận hành thị trường thứ cấp; ngược lại nếu không có thị trường thứ cấp sẽ khó khăn trong việc phát hành vì chứng khoán hầu như không có khả năng thanh khoản vì chưa đến hạn thanh toán.

    • Xét theo phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường tập trung và không tập trung.

    Thị trường chứng khoán tập trung diễn ra các hoạt động mua hoặc bán chứng khoán, hoặc tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán, được tồn tại dưới hình thức phổ biến là Sở Giao dịch chứng khoán hạc các sàn giao dịch chứng khoán.

    Thị trường không tập trung diễn ra hoạt động giao dịch chứng khoán không có đủ điều kiện giao dịch tại thị trường tập trung, có thể tiến hành thông qua những hình thức đa dạng khác nhau như hệ thống giao dịch nối mạng hoặc là giao dịch chứng khoán riêng lẻ.

     

    Thị trường chứng khoán tập trung có giá trị như “bộ mặt” thị trường chứng khoán quốc gia, các bộ phận thị trường khác thể hiện sự đa dạng của các giao dịch có thể lựa chọn. Hàng hoá của thị trường tập trung cũng là những hàng hoá có thể đánh giá có chất lượng hơn so với hàng hoá của thị trường khác, do tính có tổ chức của nó; điều đó cũng có nghĩa sự an toàn hay rủi ro, cơ hội kiếm lời là khác nhau trong các giao dịch trên thị trường.

     

    3. Những điều kiện – xã hội để hình thành thị trường chứng khoán và vai trò của nó

    a) Điều kiện xã hội

     

    Nếu chỉ xem xét thị trường chứng khoán với những biểu hiện đơn giản nhất là có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là cách nhìn không đầy đủ. Thực tế đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán bao giờ cũng có những biểu hiện bề nổi, mang tính “bộ mặt”, đó là các giao dịch tại thị trường chứng khoán tập trung, các giao dịch nội bộ chưa phản ánh đầy đủ tính chất của thị trường chứng khoán . Nhưng để thị trường

    5

    tập trung có thể vận hành ổn định và bình thường được, cần phải hội đủ những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.

    Thứ nhất, nền kinh tế của quốc gia có thị trường phải phát triển đến mức độ nhất định. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán, đó là nhu cầu về vốn giữa người cần vốn và người có vốn. Mặc dù vậy, nguồn vốn có thể cung và nguồn vốn cần thiết cho nền kinh tế phải đạt đến giới hạn nhất định. Nếu không đạt đến các giới hạn đó, các nhà kinh doanh (và kể cả các nhà đầu tư) sẽ không lựa chọn vốn qua thị trường chứng khoán mà sẽ lựa chọn vốn qua thị trường khác đơn giản và an toàn hơn (như thị trường tín dụng, thị trường ngoại hội, thị trường bất động sản). Trong thực tế, đánh giá về tốc độ phát triển nền kinh tế được xem xét ở những khía cạnh cụ thể khác nhau. Trước hết, thông qua các chỉ sổ phát triển kinh tế (GDP, GNP); cơ cấu ngành, miền. Chỉ số này phải phản ánh được đó là nền kinh tế phát triển thực (tức phải xem xét trong mối tương quan với chỉ số giá cả). Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để ra đời thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển, vấn đề hoạch định nền kinh tế và xem xét tình hình phát triển kinh tế là rất cần thiết cho sự ổn định thị trường. Thực tế đã cho thấy, đối với thị trường các nước đang phát triển, vấn đề hoạch định nền kinh tế và xem xét tình hình phát triển kinh tế là rất cần thiết cho sự ổn định thị trường. Thực tế đã cho thấy rằng, đối với thị trường các nước đang phát triển, sự biến động về phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng tức thì đến giao dịch tại thị trường và không loại trừ trường hợp làm vỡ thị trường.

    Liên quan đến yêu cầu kinh tế, sự tham gia của các tổ chức kinh tế vào thị trường là hết sức quan trọng. Các tổ chức kinh tế được xem là những nhà đầu tư có tổ chức và nhiều tiềm năng hơn là nhà đầu tư riêng lẻ, là đối tượng có nhu cầu vốn thường xuyên. Sự tham gia của họ vào thị trường sẽ làm cho nguồn vốn giao dịch tăng, đây chính là yếu tố kích ứng mức sôi động của thị trường mặt khác, tổ chức kinh tế cũng đồng thời là người có khả năng sử dụng vốn với hiệu suất cao nhất, là nhà kinh doanh lành nghề. Vì vậy, cần phải có những biện pháp phù hợp tạo điều kiện cho họ có cơ hội tham gia thị trường. Các tổ chức kinh tế được xem xét ở đây có thể là doanh nghiệp thông thường, các tổ chức tài chính… Quy mô vốn, năng lực

    6

    thực tế của các tổ chức kinh tế quyết định sức thanh khoản và lành mạnh của thị trường

    Thứ hai, phải có sự ổn định chính trị – xã hội. Thị trường chứng khoán có độ nhạy cảm cao đối với bất kỳ sự biến đổi hay bất ổn định nào về chính trị, xã hội. Sự ổn định chính trị- xã hội là tiền đề cho sự ổn định đầu tư; người đứng đầu bộ máy nhà nước có thể ảnh hưởng tới luồng chu chuyển vốn giữa các ngành và khu vực kinh tế . Thực tế đời sống chính trị của Hoa Kỳ, Nhật Bản, khu vực Trung Cận Động, trong những năm qua cho chúng ta rất nhiều bài học về ổn định chính trị và vai trò của người đứng đầu tổ chức bộ máy nhà nước đối với thị trường chứng khoán. Sự ổn định không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn là sự ổn định về chính trị của quốc gia đó trên trường quốc tế. Sự can thiệp của Tổng Thống Bush và ngành thép Hoa Kỳ không chỉ gây ra mối quan ngại trong giao dịch thương mại quốc tế với các quốc gia có xuất khẩu thép vào thị trường Mỹ mà còn ảnh hưởng rõ nét tời giá chứng khoán ngành thép Hoa Kỳ.

    Thị trường chứng khoán ở các quốc gia hình thành từ nhu cầu nội tại. Nếu dùng ngôn ngữ triết học, có thể nói, nó hình thành theo con đường tiến hoá dần và có nhu cầu hợp lại với nhau, dần hoàn thiện.

    Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán được hình thành phụ thuộc rất nhiều yếu tố từ bên ngoài. Mặc dù có một số yết tố nội tại trong đó, song nó không hoàn toàn mang yếu tố hình thành tự thân. Đây cũng là yếu tố chi phối tới pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam và cũng phán ánh vai trò của pháp luật đối với thị trường chứng khoán nước ta.

    b) Vai trò của TTCK

    Chứng khoán và thị trường chứng khoán tồn tại như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế.

    Thứ nhất, xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán và thị trường chứng khoán, có thể khẳng định, thị trường chứng khoán là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn trung và dài hạn.

     

    7

    Với chi phí thấp, khả năng chủ động trong việc lựa chọn đối tượng, lượng vốn cần thiết cũng như hình thức huy động vốn, thị trường chứng khoán có vai trò rất lớn trong việc trợ giúp cho các doanh nghiệp thu hút, huy động vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh một cách dễ dàng. Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán các quốc gia đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán tạo ra sự cạnh tranh với các bộ phận thị trường truyền thống mà đại diện là thị trường tín dụng. Nếu như trước đây các tổ chức tín dụng là chỗ dựa tiềm tàng về vốn cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ nhất trong thời gian dài nhất theo nhu cầu, thì đến nay khi nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán đã mở ra cơ hội huy động vốn mới cho các doanh nghiệp. Nội dung, hình thức huy động vốn của doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán rất đa dạng, không đơn thuần là nguồn vốn vay; bản thân các nguồn vốn kèm theo cam kết của doanh nghiệp phát hành cũng thể hiện nhu cầu và tính cạnh tranh to lớn.

    Không chỉ đóng vai trò là công cụ huy động vốn, thị trường chứng khoán còn là môi trường đầu tư thuận lợi của công chúng. Thị trường chứng khoán là môi trường đầu tư lành mạnh với cơ hội lựa chọn phong phú. Những nguồn tiền tiết kiệm của dân cư được sử dụng với hiệu suất cao nhất thông qua việc lựa chọn các loại chứng khoán với mức độ an toàn và lưu hoạt khác nhau khiến cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Cũng chính vì sự lựa chọn đó mà bản thân các nhà phát hành cũng được “tính đến” trong quyết định của nhà đầu tư. Có thể nói, thị trường chứng khoán là một trong những cơ sở đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế một cách tổng hợp (kể cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình) thông qua các chỉ số giá chứng khoán trên thị trường là kết quả của quá trình cạnh tranh, đảm bảo cho hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp nói riêng và của cá nhân nền kinh tế nói chung đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc đánh giá nền kinh tế thông qua thị trường chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối với những thị trường phát triển, hoạt động ổn định. Đối với những thị trường mới hình thành, mức độ giao dịch còn nhỏ, các giao dịch vốn truyền

    8

    thống vẫn còn phổ biến thì vai trò này của thị trường chứng khoán chưa thực sự phát huy, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

    Thứ hai, trường chứng khoán còn là công cụ thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia và các chính sách vĩ mô khác.

    Thị trường chứng khoán phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế. Mức độ giao động giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu tiệu cực. Chính vì vậy, có thể nói rằng thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều hành việc thực hienẹ các chính sách vĩ mô. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ thực hiện “cân đối lại” ngân sách nhà nước bằng việc phát hành các loại trái phiếu Chính phủ. Đây chính là nội dung quan trọng nhằm thực hiện chính sách tài chính quốc gia. Việc thực hiện tốt chính sách tài chính quốc gia tạo căn cứ chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính vì thế, thị trường chứng khoán tạo môi trường thuận lợi cho Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối với các quốc gia nền kinh tế thì thị trường chứng khoán còn là nhân tố thúc đẩy tiến trình đa hình thức sở hữu nền kinh tế. Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiêp nhà nước ở Trung Quốc trong giai đoạn 1993 đến nay đã chỉ ra rằng, thị trường chứng khoán giúp Chính phủ thực hiện tốt công cuộc cải tổ nền kinh tế.

    Thứ ba, thị trường chứng khoán đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản cho các chứng khoán.

    Nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán mà họ mong muốn khác tại thị trường. Chính tính thanh khoan của chứng khoán giúp cho thị trường sôi động, đồng thời cũng là một trong những yếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Vì vậy, bản thân tính thanh khoản và hoạt động của thị trường có mối quan hệ nội tại, bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả.

    Bất kỳ quốc gia nào có thị trường chứng khoán đều phải tính toán sự ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước. Có thể nói, thị trường

    9

    chứng khoán thu hút đầu tư nước ngoài với độ nhậy lớn. Đối với những hình thức đầu tư tài chính thông qua thị trường có vai trò quan trọng đối với quốc gia đang phát triển. Vì vậy, nếu thị trường có tính ổn định, môi trường đầu tư thuận lợi, cơ hội nhận vốn đầu tư nước ngoài sẽ lớn hơn. Điều này lại được phản ánh trong tính thanh khoản của chứng khoán và những giới hạn đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài (kể car nhà đầu tư có tổ chức và đầu tư cá thể). Đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp chứng khoán trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh nghiệm của nhà kinh doanh chứng khoán nước ngoài là những bài học không thể định giá cho các nhà kinh doanh chứng khoán non trẻ của quốc gia mới có thị trường. Tuy nhiên, đi đôi với việc xem xét những mặt tích cực của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, bản thân nó cũng có thể ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế trong nước nếu có sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn nước ngoài. Vì vậy, đối với những thị trường mới mở, Chính phủ thường có những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài (kể cả đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp).

    Thứ tư, thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước.

    Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thị trường thứ cấp ở Việt Nam. Việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp được cổ phần hoá làm sôi động hơn thị trường phát hành, chuyển hoá phần vốn tiết kiệm trong dân chúng thành vốn kinh doanh. Việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường tập trung làm tăng thêm và sôi động thêm lượng hàng hoá tại thị trường thứ cấp. Thực tế cho thấy, các cổ phiếu niêm yết tại thị trường tập trung hiện nay đều là cổ phiếu của các công ty cổ phần hình thành từ con đường cổ phần hoá. Ngược lại, thị trường chứng khoán cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn cổ phần hoá đến giai đoạn niêm yết chứng khoán và khi có nhu cầu phát hành chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.

    10

    Thứ năm (cuối cùng), ta sẽ phân tích các yếu tố tác động qua lại của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính.

    Hệ thống pháp luật phản ánh chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tiền của toàn xã hội. Chính sách lãi suất của Chính phủ làm thay đổi cơ cấu tiền trong lưu thông, làm ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền và mức độ giao dịch của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước đối với Việt Nam) có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất tái chiết khấu), đồng thời, kích ứng mức độ sôi động thị trường chứng khoán (thông qua biến động các chỉ số giá chứng khoán). Những biến động về lãi suất như vậy sẽ ảnh hưởng tới nguồn cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh trong mở rộng đầu tư và hình thành vốn, làm cho nguồn vốn được đưa vào đầu tư có chi phí thấp nhất, các bộ phận thị trường tài chính có mức độ tự cạnh tranh cao nhất. Ngoài ra, thị trường ngoại hối cũng như cán cân thương mại cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giao dịch trên thị trường chứng khoán. Đối với đồng nội tệ có sức mua ổn định, chỉ số giá chứng khoán có mức độ cân bằng tương đối so với thị trường nước ngoài sẽ không xảy ra tình trạng luồng tiền được chuyển ra đầu tư nước khác. Sức mua đối ngoại của đồng tiền ổn định cũng tạo cho nhà đầu tư chứng khoán an tâm, không có sự chuyển dịch đầu tư từ bộ phận thị trường này sang bộ phận thị trường khác, xa lánh thị trường chứng khoán (chẳng hạn từ thị trường chưng skhoán chuyển sang thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản…). Những yếu tố kinh tế như tốc độ tăng trưởn, chính sách đầu tư của Nhà nước, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc người đứng đầu bộ máy nhà nước, tác động của các tổ chức tiền tệ quốc tế đều có thể làm biến động thị trường chứng khoán. Từ những phân tích trên, điều dễ nhận thấy là thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; việc ổn định và phát triển các yếu tố đó chính là cơ sở quan trọng để thị trường chứng khoán ổn định và phát triển.

    Vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện nay chưa có hoặc còn sơ khai

    11

    như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ”; trong đó xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán – một hình thức chủ yếu trong việc huy động vốn trung, dài hạn nhằm phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Do đó, thị trường chứng khoán, nói cách khác, là thị trường vốn trung, dài hạn trực tiếp; nơi giao dịch, mua bán có tổ chức các chứng khoán trung, dài hạn, do các công ty, doanh nghiệp và chính phủ phát hành để huy động vốn của công chúng, phục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân.

    4.       Chủ thể của thị trường

    Trong thị trường chứng khoán, dù ở giai đoạn phát triển nào và ở bộ phận nào của thị trường thì cũng tồn tại hai loại chủ thể chủ yếu là nhà phát hành và nhà đầu tư chứng khoán.

    • Nhà phát hành là tất cả chủ thể huy động vốn bằng cách bán chứng khoán cho người đầu tư. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, pháp luật mỗi nước quy định rõ những đối tượng nào là “nhà phát hành”. ở thị trường, thường là các doanh nghiệp (bao hàm cả các tổ chức tín dụng) và Chính phủ (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương).

     

    • Nhà đầu tư chứng khoán những chủ thể có nhu cầu đầu tư bằng cách mua các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Loại chủ thể đầu tư này rất đa dạng và đông đảo, mục đích của các nhà đầu cũng không giống nhau. Thường thì, người ta chia nhà đầu tư thành hai nhóm cơ bản: nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá thể. Nhà đầu tư có tổ chức có thể chỉ chiếm số lượng nhỏ so với nhà đầu tư cá thể nhưng đối tượng này lại có tiềm năng lớn, khả năng phân tích đánh giá chứng khoán tốt. Nhà đầu tư các thể chiếm tỷ trọng đông đảo về số lượng nhưng lại là đối tượng thường được quan tâm của nhà quản lý với mục đích bảo về quyền lợi cho họ.

     

    Để tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán, hiệu suất sử dụng vốn của nền kinh tế, các giao dịch thứ cấp được rất nhiều nhà kinh doanh quan tâm và coi đây là nghiệp vụ kinh doanh chính của mình. Hành vi kinh doanh chứng khoán cũng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận như hành vi kinh doanh khác, nhưng do đặc điểm của

    12

    chứng khoán rất phức tạp và rủi ro lớn mang tính dây truyền, nên chủ thể thực hiện kinh doanh chứng khoán thường phải đạt những tiêu chuẩn nhất định, cho dù mỗi quốc gia có thể cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh hoặc chỉ cho phép tổ chức và cá nhân cùng kinh doanh hoặc chỉ cho phép tổ chức kinh doanh. Chủ thể kinh doanh chứng khoán thường tồn tại dưới hình thức công ty chứng khoán hoặc những hình thức cá biệt khác.

    Ngoài những chủ thể chủ yếu trên còn có thể có một số đối tượng khác như các ngân hàng thương mại (tham gia với tư cách là trung gian thanh toán), các đại lý phát hành chứng khoán….

    II. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt

    động

    1.     ý nghĩa của chỉ số giá trên thị trường chứng khoán Việt Nam (VN- Index)

    Khái niêm:

    Chỉ số giá thị trường hay còn gọi là số trung bình hay chỉ số được hình thành trên cơ sở dựa vào giá của các cổ phiếu riêng lẻ, có thể là của toàn bộ các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường hoặc có thể chỉ gồm giá của nhóm các cổ phiếu trên thị trường.

    • Việt Nam chỉ số giá dựa vào giá của toàn bộ các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, giá của nhóm các cổ phiếu trên thị trường (như chỉ số Nikkei – 250 trên TTCK Nhật Bản, chỉ số Dow Jones trên TTCK Mỹ..)

    Cổ phiếu được chọn thường là cổ phiếu của các công ty lớn, có sức mạnh trong các ngành kinh tế và được mua bán nhiều nhất. Với phạm vi và đối tượng tính như vậy, chỉ số giá phản ánh xu hướng vận động chung của toàn bộ thị trường.

    Chỉ số giá là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông báo nào về hoạt động giao dịch trên TTCK.

    Chỉ số giá thị trường rất quan trọng đối với những người tham gia TTCK, đặc biệt là thị trường cổ phiếu, dù với tư cách là nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn, môi giới hay các nhà làm chính sách. Nó được các sở giao dịch, các công ty, các tổ chức cung

    13

    cấp dịch vụ trên thị trường tính và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. ở Việt Nam, chỉ số VN – Index do Trung Tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) thành phố Hồ Chí Minh công bố

    Chỉ số giá cổ phiếu tăng cho thấy toàn bộ hoặc phần lớn các cổ phiếu tăng giá; ngược lại chỉ số giá giảm chứng tỏ các cổ phiếu đang giảm giá. Diễn biến của chỉ số giá cổ phiếu có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với tình hình kinh tế và các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong những thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thuận lợi, chỉ số giá cổ phiếu thường tăng, một phần do những người đầu tư tin tưởng vào triển vọng phát triển của các doanh nghiệp nên có nhu cầu mua cổ phiếu nhiều hơn khiến cho giá cổ phiếu tăng. Tuy nhiên, cũng có thời điểm chỉ số giá cổ phiếu giảm do sự giảm giá của một số cổ phiếu cá biệt, nhưng xu hướng chính vẫn không bị phá vỡ nếu đó chỉ là sự sụt giảm tạm thời và chỉ số giá có thể phục hồi tăng trở lại sau sự sụt giảm đó. Nhưng khi các nhà phân tích và giới đầu có nhận định bi quan về tình hình kinh tế, họ sẽ không mấy tin tưởng vào kết quả kinh doanh tốt đẹp của các doanh nghiệp trong tương lai, thì cổ phiếu sẽ không còn hấp dẫn, giá của chúng trên thị trường sẽ giảm khiến chỉ số giá giảm. Do đó, bên cạnh việc bám sát biến động giá của của các cổ phiếu cụ thể, việc theo dõi diễn biến của chỉ số giá cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ra quyết định đầu tư. Nó sẽ giúp bạn có được một cái nhìn tổng quát về thị trường, trên cơ sở đó đưa ra được những quyết định đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn chứ không phải chỉ nhằm mục đích kiếm lời từ những biến động giá tạm thời.

    Nhìn chung, xu thế chủ đạo của thị trường có hai dạng chính là xu thế giá lên và xu thế giá xuống.

    • xu thế giá lên, giá cổ phiếu có thể lên xuống hàng ngày, hàng tuần. Sau mỗi lần giảm, giá lại được khội phục lại và đạt đến một mức cao hơn, nên xét về dài hạn, giá vận động theo chiều đi lên. Khi thị trường là thị trường lên giá (thị trường con bò).

    Ngược lại, ở xu thế thứ hai (xu thế giá xuống) giá cổ phiếu không thể khôi phục lại được sau mỗi lần rớt giá, nếu có thì giá cũng chỉ nhích lên một chút, không thể khôi phục lại được sau mỗi lần rớt giá, nếu có thì giá cũng chỉ nhích lên một chút,

    14

    không thể đạt được mức ban đầu, rồi sau đó lại rơi xuống mức thấp hơn. Trong trường hợp này, người ta nói thị trường đang xuống giá (thị trường con gấu). Nếu đồng chí là người đầu tư dài hạn, điều quan trọng là phải xác định được điểm đầu và điểm kết thúc của xu thế. Chẳng hạn, trường hơp lý tưởng có thể mua được cổ phiếu

    • mức thấp nhất, và năm giữ cổ phiếu đó cho đến khi đạt mức cao nhất – tức là thừoi điểm trước khi xu thế bị đảo chiều – thì bán. Tuy nhiên, đây không phải là một việc dễ dàng và rất khó thực hiện được trong thực tế. Muốn làm được điều này phải có một sự trải nghiệm lâu năm trên thị trường. Thông thường, chỉ có thể mua bán cổ phiếu ở những thời điểm gần với thời điểm lý tưởng đó và khi khoảng chênh lệch giữa điểm thực hiện với lý thuyết càng nhỏ thì thành công của bạn càng lớn. Hiện nay, hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường chưa mấy quan tâm tới những xu thế này của chỉ số giá mà chỉ hướng tới mục tiêu kiếm lời từ chênh lệch giá phát sinh do những biến động giá ngắn hạn.

    2. Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Đối với Việt Nam, ngay từ giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, chúng ta đã nhận thức sâu sắc vai trò của nguồn tài chính trong nước và nhu cầu phát triển một thị trường chứng khoán hiệu quả. Trong khi đó, thị trường chứng khoán nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, tự thân nó cần phải có nhiều điều kiện kinh tế, xã hội và luật pháp đầy đủ mà Việt Nam chưa thể đáp ứng trong giai đoạn này. Vì vậy, để đạt được mục tiêu hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, Nhà nước tạo ra những tiền đề cần thiết, những đảm bảo pháp lý cho thị trường chứng khoán được hình thành và phát triển. Thực tế trong thời gian qua cho thấy, Nhà nước đã làm “bà đỡ” cho thị trường chứng khoán với rất nhiều góc độ và biện pháp khác nhau: tạo điều kiện hàng hoá cho thị trường, tạo điều kiện hình thành cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán, tạo cơ hội cho người đầu tư và nhà kinh doanh… Với những nội dung cơ bản như vậy, chỉ Nhà nước với khả năng tài chính dồi dào, quyền lực duy nhất cùng với hệ thống pháp luật đã cho ra đời sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chưa phải là nền kinh tế thị trường phát triển hoàn chỉnh.

    15

    Xuất phát từ vai trò Nhà nước xã hội chủ nghĩa, từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà nước có vị trí, vai trò rất quan trọng, mặc dù có những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau trong giai đoạn hiện nay. Đối với thị trường chứng khoán, nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của Nhà nước cũng được thể hiện rất rõ ràng tại các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp thị trường. Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996 đã cho ra đời một cơ quan quản lý chức năng riệng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Văn bản này xác định rõ mô hình, vị trí, chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về chức khoán. Có thể nhận xét rằng mô hình cơ quan quản lý chứng khoán mang tính chuyên nghiệp đã phản ánh sự tham gia trực tiếp của Nhà nước vào thị trường với tư cách là nhà quản lý vĩ mô. Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996, Nghị định sóo 90/2003/NĐ-CP ngày 12-8-2003 cũng ghi nhận nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là quản lý và điều hành thị trường chứng khoán Việt Nam, thực hiện các hành vi quản lý phù hợp với yêu cầu thị trường. Mô hình cơ quan quản lý về thị trường chứng khoán của Nhà nước ta cũng là mô hình được đánh giá có nhiều ưu điểm nhất hiện nay, đảm bảo cho hiệu quả quản lý thị trường.

    Xác định tính sở hữu nhà nước đối với Trung tâm Giao dịch chứng khoán. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 ghi nhận vấn đề này. Để chính thức cho ra đời thị trường chứng khoán tập trung của Việt Nam, Nhà nước đã thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán. Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng chính phủ đã thành lập Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà nội và Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chặng đường đầy khó khăn, cần có sự can thiệp, tiếp sức trực tiếp của Nhà nước. Về các chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán, Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 cũng xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước vào ngay quá trình tạo cung cầu chứng khoán cho thị trường. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng ghi nhận khả năng tạo cung chứng khoán của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá; Nghị định số 120/CP, Nghị định 01/2001/NĐ-CP ngày 03-01-2001 tạo điều kiện cho các loại trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước,

    16

    trái phiếu chính phủ được phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có khả năng tài chính dồi dào tham gia thị trường chứng khoán với tư cách là những người kinh doanh trực tiếp bằng con đường thành lập các công ty kinh doanh trực tiếp bằng con đường thành lập các công ty chứng khoán theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn do tổ chức thành lập.

    Quy định những trường hợp Nhà nước cần thiết can thiệp vào thị trường, vào các giao dịch tại thị trường. Những hoạt động liên quan tới việc cho phép phát hành, cho phép hoạt động của các tổ chức tại thị trường tập trung đều được Nhà nước giám sát chặt chẽ thông qua cơ quan chức năng. Những giao dịch tại thị trường được Nhà nước quy định cụ thể và can thiệp khi có những biến động xấu trên thị trường. Những can thiệp của Nhà nước có thể thông qua hoạt động hành chính nhà nước, hoặc thông qua những giải pháp kinh tế nhằm ổn định thị trường.

    Cho dù nhiều văn bản pháp luật đã ban hành xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan) song nguyên tắc thực hiện sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường chứng khoán còn chưa được hiểu đầy đủ, đúng mức độ cần thiết. Nhà nước còn thực hiện sự can thiệp khá sâu, mang tính hành chính kinh tế vào hoạt động thị trường, có thể gây ra những phán ứng trái chiều từ thị trường.

    Nhà nước bảo đảm cơ sở thị trường vận hành động bộ cũng từng bước được triển khai thực hiện. Các nguyên tắc thị trường đã được luật hoá và được quy định cụ thể trong nhiều quy phạm pháp luật khác nhau.

    • Nguyên tắc công khai: Nghị định 48 cũng các văn bản hướng dẫn thi hành đều quy định rõ, chi tiết những nội dung các chủ thể có liên quan phải công bố thông tin ra công chúng chính thức. Chẳng hạn, quy định trình tự báo cáo thông tin liên quan đến đợt phát hành chứng khoán ra công chúng, nhằm cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho đông đảo người đầu tư và các đối tượng liên quan. Đây cũng là nét đặc trưng của yêu cầu của nguyên tắc công khai, cơ quan có thẩm quyền ban hành những văn bản riêng điều chỉnh chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Do yêu cầu của nguyên tắc công khai, cơ quan có thẩm quyền ban hành những

    17

    văn bản điều chỉnh chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tập trung. Ngay đối với điều kiện để được niêm yết và giao dịch chứng khoán cũng tuân thủ những tiêu chuẩn có độ công khai hoá cao.

    • Nguyên tắc trung gian: Phần lớn các giao dịch trên thị trường chứng khoán đều phải thực hiện qua khâu trung gian, nhằm hạn chế tối đa những tổn thương có thể gây ra cho khách hàng do hành vi lừa đảo. Nghị định 48 cũng đã quy định về thành viên thị trường tập trung theo đó, tất cả các nhà đầu tư không phải là công ty chứng khoán tự doanh đều phải thực hiện giao dịch của mình thông qua môi giới.
    • Nguyên tắc công bằng: Nghị định 48 có mục đích xuyên suốt đó là bảo đảm công bằng cho tất cả các đối tượng tham gia. Hệ thống ghép giá, đấu lệnh tự động cùng với các quy định về nguyên tắc đấu giá, đấu lệnh phản ánh nội dung điều chỉnh pháp luật nhằm hướng tới sự công bằng của các giao dịch tại thị trường chứng khoán. Mặc dù chưa đủ điều kiện thực hiện đấu lệnh liên tục, nhưng những quy định về nguyên tắc ưu tiên, nguyên tắc công bố trong đấu lệnh định kỳ tại thị trường chứng khoán tập trung là một trong những quy định bảo đảm có hiệu quả lợi ích của tất cả các chủ thể, đặc biệt là người mua và bán chứng khoán.

    Các nguyên tắc pháp lý vận hành thị trường có mối liên hệ khăng khít với nhau và không mâu thuẫn giữa chúng. Chẳng hạn, nội dung và yêu cầu của nguyên tắc ưu tiên không mâu thuẫn với nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian lại là cơ sở để thực hiện nguyên tắc công bằng.

    Quy định những hành vi cấm thực hiện tại thị trường tập trung và sẵn sàng áp dụng chế tài khi có vi phạm để thực hiện răn đe. Với những hành vi có thể làm thương tổn tới thị trường, pháp luật cũng định liệu cụ thể những chế tài tương xứng. Nghị định số 22/2000/NĐ-CP ngày 10-7-200 đã quy định những chế tài cụ thể cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đối với những hành vi vi phạm nghiêm trọng, cần thiết phải xử lý ở mức độ nghiêm trọng, cần thiết phải xử lý ở mức độ nghiêm khắc hơn cũng được ghi nhận tại Bộ luật hình sự năm 1999 như tội cố ý làm trái, tội tham ô, tội đầu cơ, tội lừa đảo…

    18

    Tuy vậy, do chưa có kinh nghiệm thực tiễn, do ta duy trong công tác quản lý của nền kinh tế tập trung còn chưa được loại trừ hoàn toàn, do đặc tính ngăn chặn lên quá yêu cầu vốn có của nó, các nguyên tắc vận hành thị trường còn mang tính cứng nhắc, nhiều hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu vận động thị trường.

    Về sở hữu đối với Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch

    chứng khoán

    Trung tâm Giao dịch chứng khoán của Việt Nam thuộc sở hữu của Nhà nước. Điều này hoàn toàn phù hợp bới điều kiện thực tế; đồng thời, đây cũng không phải là quy định cá biệt đối với thị trường chứng khoán trên thế giới. Tuỳ thuộc lịch sử phát triển thị trường và đặc điểm cụ thể của từng quốc gia mà Sở Giao dịch hoặc Trung Tâm Giao dịch có thể thuộc về những hình thức sở hữu cổ phần và hình thức sở hữu nhà nước. Đối với Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, việc quy định Trung Tâm Giao dịch chứng khoán thuộc về sở hữu nhà nước vừa phản ánh nét chung cuả các nước cùng có thay đổi trong quản lý kinh tế, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Với hình thức sở hữu này Chính phủ có khả năng ngăn ngừa những lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa được bảo vệ bằng một hệ thống pháp luật, đầy đủ và rõ ràng. Mặt khác, bản thân thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời là kết quả hộ trợ tích cực từ Chính phủ và đặc điểm về sở hữu đã thể hiện điều đó.

    Về mô hình tổ chức thị trường chứng khoán tập trung

    Trung tâm Giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, có tư cách pháp nhân. Việc lựa chọn mô hình trung tâm trong giai đoạn đầu, với quy mô nhỏ và vừa được coi là biện pháp rút ngắn thời gian chuẩn bị thị trường, đòi hỏi đá ứng yêu cầu bức xúc về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; mặt khác nó cũng mang tính “thử nghiệm” trước khi hình thành mô hình Sở Giao dịch hoàn chỉnh. Mặc dù với quy mô khiêm tốn, nhưng quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện để phát triển thị trường đúng hướng, không được phép

    đổ vỡ.

    19

    Khi trung tâm giao dịch phát triển, mô hình này sẽ được chuyển sang Sở Giao dịch chứng khoán. Chứng khoán được giao dịch tại Sở Giao dịch thường là chứng khoán của các nhà phát hành có quy mô lớn, đã qua thử thách thị trường, vì vậy, thực tế giá của các chứng khoán tại đây cao hơn nhiều so với chứng khoán tại các bộ phận thị trường khác.

    Về nhiệm vụ và chức năng hoạt động, mặc dù có hình thức tồn tại trong từng giai đoạn là khác nhau, nhưng thị trường tập trung được tổ chức dưới mô hình Trung tâm Giao dịch của Việt Nam, về cơ bản không khác với Sở giao dịch chứng khoán các quốc gia: có Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các bộ phận chức năng, Sở Giao dịch thuộc sở hữu thành viên hoặc sở hữu cổ phần ở các nước còn có thêm Đại hội cổ đông hoặc Đại hội thành viên.

    Mặc dù đang tồn tại thực tế dưới hình thức Trung tâm Giao dịch chứng khoán, nhưng ngay tại thời điểm này, mô hình tổ chức cũng như Hội đồng quản trị Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam đã được Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-1998 quy định. Hội đồng quản trị Sở giao dịch gồm 9 thành viên đại diện cho Chính phủ, cho các công ty chứng khoán. Về số lượng thành viên có thể là khác nhau nhưng thành phần Hội đồng quản trị theo quy định cung tương đồng với Sở Giao dịch các nước như Sở Giao dịch Niu oóc, Sở giao dịch Tokyô, Hàn Quốc, Hồng Kông.. Nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của Hội đồng quản trị là giải quyết những vấn đề liên quan đến chứng khoán niêm yết, thành viên thị trường thông qua việc tuân thủ pháp luật, hoặc quy định giao dịch tại Sở, hoặc thông qua công tác kiểm tra, giám sát. Các bộ phận của Trung tâm Giao dịch chứng khoán cũng đầy đủ như Sở giao dịch nhưng ở mức độ đơn giản hơn.

    Về cơ chế điều chỉnh thành viên thị trường

    Nghị định 48 quy định thành viên thị trường tập trung là các công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động môi giới và tự doanh, được Trung tâm Giao dịch chứng khoán chấp nhận. Với quy định này trước hết có thể thấy rằng, thể chế thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ cho phép thành viên là các pháp nhân, đối tượng là cá nhân không được tham gia với tư cách thành viên thị

    20

    trường. Nếu xét về sự đa dạng của một số thị trường (mà điển hình là thị trường Hoa Kỳ – thị trường cho phép sự tham gia của các cá nhân) thì thành viên thị trường tập trung của chúng ta hạn hẹp hơn rất nhiều. Điều này có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ của các cá nhân, ý thức xã hội, yêu cầu an toàn cho thị trường, trách nhiệm của thành viên đối với thị trường và đối với khách hàng …

    • Việt Nam, thị trường còn mới, số loại chứng khoán được niêm yết còn khiêm tốn nên công ty chứng khoán chỉ cần đăng ký với Trung tâm giao dịch chứng khoán và được chấp nhận là thành viên. Các công ty chứng khoán cũng được quy định về quyền và nghĩa vụ tại thị trường như thực hiện hoạt động kinh doanh tại thị trường, sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ khác do thị trường cung cấp… trên cơ sở tuân thủ các quy định báo cáo tài chính và tình hình hoạt động, nộp các khoản phí cho thị trường…

    Về hoạt động thị trường

    Cũng như bất kỳ thị trường chứng khoán tập trung nào khác, Trung tâm giao dịch chứng khoán của Việt Nam thực hiện các hoạt động liên quan đến giao dịch chứng khoán. Nhiệm vụ mang tính đặc trưng của bất kỳ một thị trường chứng khoán tập trung nào là phải thực hiện hoạt động niêm yết, giao dịch và đăng ký chứng khoán. Chính nội dung này giúp cho bất kỳ người quan tâm nào cũng phân biệt thị trường tập trung với các loại thị trường khác. Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng không nằm ngoài đặc trưng đó và nó đã được pháp luật quy định cụ thể.

    Về niêm yết, chúng ta cho phép phát hành và niêm yết giao dịch chứng khoán. Trong giai đoạn đầu việc “gộp” hai nội dung trên thành một hoạt động nhiêm yết tại Việt Nam là cần thiết và phù hợp, bởi lẽ thị trường ban đầu còn ở quy mô nhỏ, sơ khai, số lượng chứng khoán được giao dịch còn khiêm tốn nên chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được diễn biến thị trường; mặt khác, quy định như vậy cũng tạo điều kiện cho nhà phát hành giảm bớt thủ tục, chi phí về thời gian và tiền bạc. Để niêm yết được chứng khoán, các doanh nghiệp cần phải có đủ điều kiện, trong đó điều kiện về bản sao giấy phép phát hành, kết quả chào chứng khoán, bản cáo bạch được coi là những điều kiện quan trọng. Để niêm yết chứng khoán cho tổ chức phát hành Trung

    21

    tâm (Sở) phải tiến hành các hoạt động cần thiết bảo đảm quyền cho nhà niêm yết cũng như quyền của nhà đầu tư: loại chứng khoán, giá niêm yết .. trong những trường hợp nhất định, chứng khoán cũng có thể bị huỷ bỏ niêm yết. Nếu như niêm yết chứng khoán là đặc trưng của thị trường tập trung, thì công bố thông tin là bộ mặt của thị trường đó, là yêu cầu bắt buộc. Công bố thông tin là việc Trung tâm giao dịch (Sở) công bố các thông tin về hoạt động giao dịch chứng khoán. Công bố thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ thể liên quan và mục đích quan trọng là nhằm đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư thiểu số.

    Về quản lý nhà nước đối với thị trường thị trường chứng khoán

    Do sự cần thiết phải có thị trường chứng khoán hoàn chỉnh ở Việt Nam, ngày

    20-6-1995, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 361/TTg thành lập Ban chuẩn bị tổ chức thị trường chứng khoán để triển khai việc xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây chính là tổ chức tiền thân của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28-11-1996. Cùng với các văn bản pháp luật khác, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước ra đời thực hiện nhiệm vụ quản lý trực tiếp thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều đó thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:

    • Tính chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Như vậy, mô hình cơ quan quản lý nhà nước thị trường chứng khoán Việt Nam là mô hình cơ quan quản lý độc lập mà không phải là cơ quan quản lý kiêm nhiệ Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia, đặc biệt các quốc gia có thị trường chứng khoán mới nổi (như Việt Nam) lựa chọn. Trong sự so sánh với mô hình cơ quan quản lý nhà nước kiêm nhiệm thì đây là mô hình có nhiều lợi thế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xét điều kiện cụ thể Việt Nam, việc hình thành cơ quan quản lý loại thị trường đặc biệt, chưa có trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, đây lại là mô hình kinh tế rất phức tạp, nếu thực hiện hoạt động quản lý mang tính kiêm nhiệm, sự rủi ro sẽ là tiềm tàng xuất phát từ tính hạn chế (có thời điểm) kiến thức chuyên môn về chứng khoán,

    22

    sự phân tán về quyền lực và trách nhiệm của những người quản lý trực tiếp khó có thể bảo đảm tính thời hiệu và chính xác của các nội dung quản lý.

    • Vị trí pháp lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Uỷ ban chứng khoán Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có đủ điều kiện pháp lý và điều kiện vật chất để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán.
    • Chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. Uỷ ban Chứng khoán có chức năng tổ chức và quản lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Như vậy, toàn bộ nội dung hoạt động, các đối tượng liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán nằm trong phạm vi quản lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Quy định này phù hợp với mục đích thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán độc lập, tránh tình trạng “một cổ phải đeo nhiều tròng” đối với chủ thể tham gia thị trường đồng thời cũng thể hiện việc phân định chức năng giữa các cơ quan của Chính phủ.
    • Về nhiệm vụ, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước có nhiệm vụ quản lý toàn bộ hoạt động soạn thảo văn bản pháp luật, quản lý, kiểm tra, giám sát tất cả các đối tượng trên thị trường chứng khoán, hoạt động phát triển thị trường và công tác đào tạo. Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ thực tế chưa có thị trường chứng khoán trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế, việc quy định cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nước những nhiệm vụ khác nhau như vậy, đã tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý ngay từ ban đầu loại thị trường này.

    Đánh giá các mặt

    + Những kết quả đạt được + Tồn tại

    + Nguyên nhân của tồn tại

    Nếu so sánh thị trường nước ta với thị trường thế giới thì giống như so sánh chợ cóc và chợ nhớn của thành phố.

    23

    Người phương Tây còn gọi chứng khoán là động sản để phân biệt với bất động sản như nhà cửa, đất đai. Trên thị trường người có chứng khoán dễ dàng bán đi, thu về khoản tiền mặt tương ứng thời giá.

    Chứng khoán và bất động sản là hai hình thức đầu tư có quyền tồn tại ngang nhau và có sự liên hệ với nhau. Theo tên gọi, từng lĩnh vực đã mang trong mình nó những mặt ưu và nhược điểm. Đầu tư vào chứng khoán không nhất thiết đòi hỏi lượng vốn lớn ban đầu. Khái niệm động sản motọ phần mang ý nghĩa về tính năng động trong giao dịch, chuyển nhượng. Dù lỗ hay lãi, khi cổ đông tung chứng khoán ra thị trường dễ dàng thu về tiền mặt. Mặt trái của nó là sau khi cầm cổ phiếu trong tay, dù muốn hay không, người đầu tư phải thường xuyên, liên tục bám sát diễn biến thị trường, giá cả. Đa số phải lập sổ sách, tính lỗ lãi từng ngày. Lám khi nó mang lại niềm hân hoán nhưng cũng không ít dịp tạo nỗi lo triền miên.

    Thị trường bất động sản trái lại không thông báo giá cả từng ngày từng phút, như vậy tiết kiệm cho chủ nhân những cơn đâu đầu. Người có bất động sản tuy vậy không dễ dàng bán xong một sớm một chiều. Lượng vốn đầu tư ban đầu thường không nhỏ, lệ phí mua bán cao. Thị trường bất động sản cũng bị các chính sách nhà nước, nền chính trị thế giới và tâm lý con người khi tạo ra những bong bóng đầu cơ gây ảnh hưởng mạnh và trải những cơn biến động dữ dội. Dù phản đối hay ủng hộ cách đầu tư nhào thị trước khi đặt bước chân đầu tiên vào thị trường chứng khoán bạn cần có mái nhà che đầu. Nên mua căn hộ hoặc xây nhà riêng tuỳ theo vốn cá nhân, tạo sự an cư để lạc nghiệp. Đừng dùng cả nhà cửa đất đai đang có đầu tư vào chứng khoán. Về lâu dài để ai ưu tiên thị trường bất động sản là hoàn toàn phụ thuộc vào thiên hướng, sở trường mỗi người. Những người giàu có ở Đức hay giữ thế chân vạc: Bất động sản, chứng khoán và tiền mặt, không kể vàng bạc và tài sản khác. Vì vậy đã xuất hiện một phương ngôn mới khá dung dị: “Một mình tiên thôi không làm ta hạnh phúc. Muốn hạnh phúc phải có thêm chứng khoán và bất động sản”

     

    24


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thị trường ngoại hối

    Lời mở đầu

     Thị trường ngoại hối :được hình thành và hoạt động từ rất lâu trên thế giới. Nó thực sự tối cần thiết cho sự phát triển kinh tế cũng như sự tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa với những đặc trưng tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ, đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của thị trường tài chính từng quốc gia trong đó có việt nam chúng ta.

    Qua những gì đã học được nhóm 7 lớp cao đẳng kế toán k08B đã hoàn thành bài tiểu luận về thị trường ngoại hối thế giới nói chung và việt nam nói riêng như sau.

     

    A : Cơ sở lí luận về thị trường ngoại hối

    I. khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối

    1. Khái niệm :

    Thị trường ngoại hối có tên tiếng Anh là : The Foreign Exchange Market, và được viết tắt là FOREX hay FX.

    Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: Thị Trường Ngoại Hối là nơi diễn ra sự mua bán các loại tiền tệ của nhiều quốc gia trên thế giới thông qua hệ thống chuyển đổi thả nổi tự do.

    Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng ( chiếm khoảng 85% tổng doing số giao dịch ), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp ( nghĩa thực tế ) thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hang, tức thị trường Interbank.

           
       
    Bất kì đâu diễn ra hoạt động mua bán ngoại tệ
     
    Nghĩa rộng
     
    FOREX
     
       

    2. Đặc điểm của thị trường ngoại hối :

    – Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí đia lý hữu hình nhất định, mà là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau. Do đó, nó còn được gọi là thị trường không gian (space market).

    – Là thị trường toàn cầu, hoạt động 24/24h. Do có sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm nên còn được gọi là thị trường không ngủ.

    – Trung tâm là thị trường liên ngân hàng – Interbank, với các thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới ngoại hối và các NHTW. Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh số giao dịch toàn cầu.

    –  Giao dịch thông qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng vi tính, telex, fax…

    –  Chi phí giao dịch thấp, hoạt động rất hiệu quả. Do thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo, hang hóa đồng chất…dẫn đến chi phí thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả.

    –  Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là đồng USD chiếm tới 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia.

    – Nhạy cảm đối với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội… nhất là chính sách tiền tệ của các nước đang phát triển.

    –  Là thị trường lớn nhất, có doanh số giao dịch lớn nhất. Đây là thị trường tài chính lớn nhất thế giới, với số lượng tiền giao dịch mỗi ngày đã lên dến 1.95 nghìn tỉ USD (2006). Nếu bạn so sánh với thị trường chứng khoán New York 25 tỉ USD giao dịch mỗi ngày.

    – Thị trường trao đổi ngoại tệ (Forex) là thị trường tiền tệ giữa các ngân hàng được thành lập vào năm 1971 khi tỷ lệ trao đổi trôi nổi được cụ thể hoá. Thị trường là một phạm vi hoạt động trong đó tiền tệ của mỗi quốc gia được trao đổi với nhau và là nơi để thực hiện việc kinh doanh quốc tế. Forex là một nhóm gồm khoảng 4500 tổ chức giao dịch tiền tệ, các ngân hàng quốc tế, các ngân hàng trung tâm của chính phủ và các công ty thương mại. Việc chi trả cho xuất nhập khẩu cũng như việc mua bán tài sản đều phải thông qua thị trường trao đổi ngoại tệ. Đây được gọi là thị trường trao đổi ngoại tệ “tiêu thụ”. Cũng có những đoạn đầu cơ trong những công ty Forex đó là sự phơi bày về tài chính rộng lớn để các nền kinh tế ở nước ngoài tham gia vào Forex để bù đắp nguy cơ rủi ro của việc đầu tư quốc tế.

    II Phân loại thị trường ngoại hối

    1.Theo nghiệp vụ kinh doanh

    -Thị trường giao ngay

    -Thị trường kỳ hạn

    -Thị trường hoán đổi

    -Thị trường tương lai

    -Thị trường quyền chọn

    2. Theo tính chất giao dịch

    -Thị trường giao ngay

    -Thị trường tiền gửi

    3. Theo tính chất pháp lý

    -Thị trường chính thức

    -Thị trường phi chính thức

    4. Theo phạm vi thị trường

    -Thị trường ngoại hối quốc tế

    -Thị trường ngoại hối nội địa

    5. Theo phương thức giao dịch

    -Thị trường giao dịch trực tiếp

    -Thị trường giao dịch qua môi giới

    III Chức năng và vai trò của thị trường ngoại hối

    1.chức năng

    Tại sao lại giao dịch ngoại hối? Dưới đây là những thuận lợi và giá trị của thị trường Forex, là những lý do tại sao mọi người chọn giao dịch trong thị trường này:

    Không phí dịch vụ : Không phí trao đổi, không phí thanh toán, không phí chính phủ, không phí môi giới. Người môi giới sẽ được trích từ phí giao dịch thông qua điểm “bid-ask” (trung bình 3-5 pips)

    Không qua trung gian đặt lệnh: Giao dịch tiền tệ không cần trung gian và cho phép khách hàng giao dịch trực tiếp với thị trường và được cập nhật thông tin trực tiếp về giá và tỉ giá các cặp tiền tệ.

    Không giới hạn giao dịch: trong các thị trường khác hợp đồng giao dịch được giới hạn bởi tỉ lệ nhất định ( ví dụ hợp đồng quyền chọn tương lai đối với vàng là 5000 ounces). Trong Forex, có thể giao dịch với chỉ một tài khoản nhỏ 300$.

    Phí giao dịch thấp: Phí giao dịch cho các tài khoản nhỏ ( bid/ask spread) chỉ khoảng 0.1% với những điều kiện thường. Tài khoản càng lớn phí giao dịch càng thấp.

    Thị trường giao dịch 24h: Không phải chờ đợi giờ thị trường mở cửa và đóng cửa. Giao dịch từ tối CN đến trưa thứ 6 giờ EST, có thể nói thị trường FOREX không bao giờ ngủ. Đây là thuận lợi lớn đối với những người muốn giao dịch trong thời gian rảnh hoặc thời gian thích hợp nhất trong ngày, bởi vì bạn có thể chọn giao dịch bất kì lúc nào (sáng, trưa, tối hoặc đêm)

    Không ai có khả năng định hướng thị trường: Thị trường Forex quá lớn và quá nhiều người tham gia nên không ai , cho dù cả 1 ngân hàng , có thể kiểm soát giá trị trường trong dài hạn. Sự can thiệp của ngân hàng trung ương chỉ có tác dụng trong ngắn hạn và không hiệu quả. Ngân hàng trung ương ngày càng có ít tác động hay can thiệp vào thị trường toàn cầu.

    Access (Truy cập): Forex được mở 24h/ngày từ khoảng 6g chiều Chủ Nhật tới khoảng 3g chiều Thứ Sáu. Những người giao dịch riêng lẻ có thể đối phó với tin tức khi nó được tung ra còn hơn là đợi tiếng chuông mở cửa của những thị trường khác lúc mọi người đều có những tin tức giống nhau. Điều này cho phép những người giao dịch tham gia trước khi tin tức chi tiết được phân tích trên tỷ lệ giao dịch. Liquidity cao và giao dịch 24 giờ cho phép những người tham gia thị trường vào và thoát ra bất cứ lúc nào. Có nhiều nhà Môi giới phân phối Forex ở từng vùng, từng trung tâm thị trường chính (Tokyo, Hong Kong, Sydney, Paris, London, Mỹ, v.v…) sẵn sàng tiếp tục đưa ra giá mua và bán.

    Độ thanh khoản cao: Bởi vì thị trường Forex quá lớn, nó cũng rất dễ thanh khoản. Điều này giúp bạn nhanh chóng thực hiẹn giao dịch chỉ với 1 cú nhấp chuột trong điều kiện bình thường. Bạn có thể mua bán ngay lập tức tùy ý. Bạn không bao giờ bị “kẹt” trong thị trường. Bạn cũng có thể thiết lập chế độ tự động cho sàn giao dịch kết thúc lệnh giao dịch khi bạn đã đạt được lợi nhuận mong muốn ( định mức lãi) hoặc đóng khi thị trường dịch chuyển ngược chiều mong muốn ( chống lỗ)

    Thị trường 2 mặt: tiền được giao dịch theo cặp, ví dụ: đô/yên, hoặc đô/đồng Thụy Sỹ. Mỗi vị trí liên quan đến việc bán đồng tiền này và mua đồng tiền kia. Nếu người giao dịch tin rằng đồng Thụy Sỹ sẽ cao giá hơn đô, họ có thể bán đô và mua đồng Thụy Sỹ (bán sớm). Nếu người khác tin ngược lại thì họ sẽ mua đô và bán đồng Thụy Sỹ (mua và trữ). Khả năng lợi nhuận tồn tại vì tỷ giá trao đổi (giá cả) luôn luôn dao động. .Giao dịch Forex cho phép thu lời từ 2 phía cả tăng và giảm giá trị tiền tệ liên quan tới đô. Trong mỗi giao dịch tiền tệ, mỗi bên đều có được và mất.

    Excution Quality: Bởi vì Forex rất hay thay đổi, hầu hết những giao dịch có thể được thực hiện với giá của thị trường hiện tại. Trong tất cả những thị trường di chuyển nhanh, không thể tránh được rủi ro trong tất cả các giao dịch (chứng khoán, bất động sản, v.v…) nhưng có thể được tránh bằng 1 vài chương trình phần mềm của nhà môi giới tiền tệ, các chương trình này sẽ thông báo cho bạn biết giá nhập vào chính xác trước khi thực hiện lệnh. Bạn được phép chọn tránh hoặc chấp nhận rủi ro. Khả năng thanh khoản của thị trường Forex rộng lớn đề ra những khả năng khớp lệnh có chất lượng cao.

    Giao dịch được xác nhận ngay lập tức và người giao dịch qua Internet chỉ việc in 1 bản sao của màn hình máy vi tính để ghi chép lại tất cả hoạt động giao dịch. Nhiều người cho rằng đặc điểm của việc giao dịch bằng Internet an toàn hơn so với việc sử dụng điện thoại để giao dịch. Những hãng nổi tiếng như Charles Schwab, Quick $ Reilly và T.D. Warehouse đề nghị giao dịch qua Internet. Họ sẽ không mạo hiểm danh tiếng của họ nếu dịch vụ Internet không đáng tin cậy và an toàn. Trong tình huống xuất hiện vấn đề về kỹ thuật, máy vi tính tạm thời ngừng hoạt động, nhưng với hệ thống đặt lệnh (ordering) của nhà môi giới (broker), người giao dịch có thể ngay lập tức gọi điện thoại cho broker để vào hoặc thoát ra khỏi giao dịch. Hệ thống vi tính của nhà môi giới (broker Internet) được bảo vệ bởi những bức tường lửa để giữ cho thông tin về tài khoản không bị dòm ngó. Mối quan tâm lớn nhất của broker là sự an toàn của tài khoản. Họ phải thực hiện nhiều bước để lọai trừ bất kỳ hiểm họa nào đi theo việc giao dịch trên Internet. Người giao dịch Forex trên Internet không phải gọi điện thoại cho broker. Sự loại trừ người trung gian (broker salesman) làm giảm chi phí, làm cho tiến trình đặt lệnh nhanh hơn và hạn chế khả năng hiểu lầm.

    Tính tập trung (Focus): Thay vì cố gắng chọn 1 chứng khoán, 1 khế ước, quỹ hỗ tương hoặc bất động sản từ hàng chục ngàn thứ có sẵn trên thị trường, những người giao dịch Forex chỉ tập trung vào 1 tới 4 đồng tiền. Những đồng dễ thay đổi và thông dụng là: Yên Nhật, bảng Anh, đồng Thụy Sỹ và Euro. Những người giao dịch thành công cao là những người tập trung vào số lượng đầu tư có giới hạn. Những người mới bắt đầu Forex thường tập trung vào 1 đồng tiền và sau đó kết hợp từ 1 đến 3 đồng trong hoạt động giao dịch.

    Tính xu hướng (Trendiness): Trong 1 khoảng thời gian lịch sử, tiền tệ đã khẳng định xu hướng là quan trọng. Mỗi đồng tiền có “tính cách” riêng của nó và đưa ra chỉ 1 xu hướng, bất kể những cơ hội giao dịch đa dạng trong thị trường đặc điểm Forex.

    Tất cả các lệnh phải được đặt thông qua sàn giao dịch. Để giao dịch tiền tệ bạn phải cần 1 sàn giao dịch tiền tệ Forex. Hầu hết những công ty giao dịch có những yêu cầu về tài khoản ký quỹ khác nhau. Bạn cần phải hỏi họ những yêu cầu về tài khoản ký quỹ nếu muốn tham gia giao dịch tiền tệ thông qua sàn giao dịch của họ. Tài khoản Giao dịch trên Forex cần 1 tài khoản ký quỹ. Khi là người giao dịch đầu cơ, bạn sẽ không chuyển nhượng sản phẩm mà bạn đang giao dịch. Khi là người giao dịch trong ngày, bạn chỉ giữ vị trí giao dịch từ vài phút đến vài giờ, sau đó bạn phải đóng lệnh và kết thúc giao dịch.Tài khoản ký quỹ không khác gì 1 khế ước về thành tích. Tất cả giao dịch đều cần tài khỏan ký quỹ. Khi có lãi, họ để lãi vào tài khoản ký quỹ của bạn ngay trong ngày. Khi thua, họ cần 1 tài khoản để lấy ra số tiền lỗ mà bạn phải chịu. Tài khoản được thiết lập hàng ngày.Khoản kí quĩ trong giao dịch ngoại hối, một khoản tiền kí quĩ nhỏ có thể giúp bạn giao dịch trên một khoản tiền lớn hơn nhiều. Sức bật cho phép người giao dịch có thể thu được lợi nhuận khổng lồ trên khoản tiền đầu tư nhưng rủi ro có giới hạn. Một ví dụ, người môi giới đề nghị bạn 1 sức bật 200:1, có nghĩa là với 500$ tiền kí quĩ bạn có thể giao dịch trên số tiền 100.000$. Nhưng sức bật là con dao 2 lưỡi, vì nếu không quản lý rủi ro tốt, sức bật càng cao thì rủi ro càng lớn và bạn có thể mất khoản tiền kĩ quí trước khi bắt đầu thu được lợi nhuận. Một phần rất quan trọng của việc giao dịch là lấy ra phần thắng hay tiền lãi của bạn. Khi đến lúc lấy ra phần của bạn trong tài khoản ký quỹ, tất cả những điều bạn cần phải làm là liên lạc với broker của bạn và yêu cầu họ gửi cho bạn số tiền bạn yêu cầu, họ sẽ gửi chi phiếu cho bạn. Họ cũng có thể chuyển tiền cho bạn. * Tài khoản “ảo”, tin tức, biểu đồ và phân tích: hầu hết các sàn giao dịch và môi giới đều hỗ trợ bạn giao dịch bằng tài khoản ảo để thực tập trước khi chơi thật, và cung cấp cho bạn những tin nóng cũng như những công cụ hỗ trợ. Đó là những nguồn tài nguyên hữu ích giúp bạn tích lũy kinh nghiệm với tiền “ảo” trước khi bắt đầu chơi thật sự. * Tài khoản “mini”: Bạn có thể nghĩ rằng mới bắt đầu chơi mà đầu tư nhiêu tiền sẽ dẫn đến thua lỗ. Thật sự là không như vậy. Các nhà môi giới sẽ hỗ trợ bạn chơi với các tài khoản “mini” với số vốn ban đầu chỉ 300-500$. Điều này giúp cho FOREX ngày càng khả thi hơn với những cá nhân không muốn đầu tư chi phí khởi sự ban đầu quá cao.

    Tài khoản mini ban đầu có thể là một lựa chọn tốt cho bạn. Đừng cười, việc này cũng giống như việc giúp bạn “bớt lạnh” trước khi xuống hồ bơi ! Trong Forex, bạn sẽ tự quyết định bao nhiêu tiền trong một lần giao dịch. Tuy nhiên, chúng tôi khuyên bạn nên chơi với một tỉ lệ nhỏ trong khoản tiền đầu tư mà bạn có.

    Từ đó ta có thể rút ra chức năng của ngoại hối :

    Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên của một trong các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại, đó là:nhằm dịch vụ cho các khách hang thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.

    2. vai trò của Forex là:

    Phục vụ thương mại quốc tế (Primary Role)

    Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế

    Nơi hình thành tỷ giá

    Nơi NHTW can thiệp lên tỷ giá

    Nơi KD và phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    IV; Những yếu tố và Thành viên tham gia FOREX

    1.Điều kiện tham gia thị trường ngoại hối

    – Điều kiện tối thiểu nếu bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn phải có từ 10 đến 50 triệu USD để bắt đầu. FOREX ra đời lúc đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng và các công ty khổng lồ trong ngành, không phải là những “chàng tí hon”. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ kì diệu của Internet, hệ thống giao dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra đời cho phép mở những tài khoản “lẻ” cho chúng ta. Ngày nay, những nhà môi giới trên thị trường được phép phá vỡ những đơn vị giao dịch rộng lớn và cho phép những giao dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán bất cứ số nào trong những giá trị nhỏ hơn này (lots).

    2.Thành viên tham gia

    Ngân hàng thương mại:có 2 vai trò trong thị trường Forex

    1. Làm cho việc giao dịch giữa hai bên trở nên dễ dàng, ví dụ như những công ty muốn trao đổi tiền tệ (người tiêu thụ).
    2. Đầu cơ bằng cách mua và bán tiền tệ. Ngân hàng có vai trò trong những đơn vị tiền tệ nhất định bởi vì người ta tin rằng trong tương lai chúng sẽ có giá cao hơn (nếu mua trữ) và thấp hơn (nếu bán sớm). Người ta thống kê rằng 70% lợi tức thường niên của những ngân hàng quốc tế được sinh ra từ việc đầu cơ tiền tệ. Những đầu cơ khác bao gồm những nhà giao dịch thành công nhất trên thế giới ví dụ George Soros.

    –  Ngân hàng trung ương của các quốc gia khác.Khi ngân hàng trung tâm mua và bán tiền tệ hoặc ngoại tệ thì mục đích là để giữ vững giá trị đồng tiền của đất nước họ. Forex rất rộng và có rất nhiều người tham gia chứ không phải một người, chỉ có những ngân hàng trung tâm của chính phủ mới có thể kiểm soát thị trường

    –  Các nhà môi giới

    –  Các doanh nghiệp

    –  Các cá nhân ,các nhà kinh doanh

    3. Thị trường ngoại hối có thể có các chủ thể sau tham gia

    – Phân loại theo mục đích tham gia thị trường

    Các nhà phòng ngừa rủi ro ngoại hối

    Các nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá

    Các nhà đầu cơ

    – Phân loại theo hình thức tổ chức

    Khách hàng mua bán lẻ

    Ngân hàng thương mại

    Các định chế tài chính khác

    Các nhà môi giới

    Ngân hàng trung ương

    – Phân loại theo chức năng

    Primary price maker( nhà tạo giá sơ cấp)

    Secondary price maker (nhà tạo giá thứ cấp)

    Price Taker (nhà cấp nhận giá)

    Nhà cung cấp dịch vụ và tư vấn thông tin

    Broker( nhà môi giới)

    Speculator(nhà đầu cơ)

    Người can thiệp trên thị trường.

    4. Nhưng việt nam chúng ta thường áp dụng cách phân loại theo tổ chức.

    Các khác hàng mua bán lẻ ( Retail Clients)

    Nhóm khách hang mua bán lẻ bao gồm những công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích :

    Chuyển đổi ngoại tệ

    Phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    Nhòm khách hang này mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ chỉ có mục đích là phục vụ bản thân chứ không có mục đích kinh doanh.

    Các ngân hang thương mại ( Commercial Bank)

    Các NHTM tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm hai mục đích :

    Cung cấp dịch vụ cho khách hang, bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán lẻ.

    Thứ hai, kinh doanh cho chính mình, tức là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay dổi.

    Trên Interbank, các ngan hang giao dịch vời nhau theo hai phương pháp :

    Giao dịch trực tiếp giữa ngân hang với nhau (Direct Interbank )

    Giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ( Indirect Interbank )

    Những nhà môi giới ngoại hối ( Foreign exchange brokers )

    Ngày nay hình thức này cũng đang phát triển.

    Các Ngân hang trung ương (Central bank )

    Can thiệp tỷ giá

    Mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia

    NHTW là đạilý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ.

    V: Hàng hóa và các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

    1.Hàng hóa

    Vậy “hàng hóa” của thị trường FOREX là gì? Câu trả lời là TIỀN. Giao dịch ngoại hối là hoạt động giao dịch mua một số lượng tiền này và bán một số lượng tiền khác diễn ra cùng thời điểm. Tiền được giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp theo từng cặp; ví dụ cặp EUR/USD hay GBP/JPY. Hoạt động giao dịch FOREX có thể sẽ phức tạp đối với nhiều người vì họ không thể mua bán tận tay bất kì thứ gì trong thị trường. Đơn giản bạn hãy nghĩ việc mua 1 đồng tiền nào đó như là mua cổ phần của 1 đất nước. Khi bạn mua đồng Yên Nhật, bạn đang tác dộng đến tỉ giá ngoại hối của Nhật và gián tiếp lên Kinh tế Nhật, do giá trị của động tiền là sự phản chiếu đánh giá của thị trường về “sức khỏe” trong hiện tại và trong tương lai của một quốc gia. Tổng quan, tỉ giá của một loại tiền tệ so với một loại tiền tệ khác là sự phản chiếu các yếu tố của một nên kinh tế khi so sánh với một nền kinh tế khác. Không như các thị trường tài chính khác, FOREX cũng không có một trung tâm tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường ngoại hối là thị trường “liên ngân hàng”, và dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.

     

     

    Đồng tiền nào được giao dịch? 7 loại tiền được giao dịch thường xuyên nhất trên thị trường là : Dollar, Euro, Yen, Bảng Anh, Franc. Kí hiệu các loại tiền gồm 3 chữ cái, trong đó 2 chữ cái đầu tiên là viết tắt của tên quốc gia và chữ cái cuối cùng là tên của loại đồng tiền giao dịch

    2.Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối

    Ta có thể xem sơ đồ sau:

    2.1.   SPOT Nghiệp vụ giao ngay

    Khái niệm: Là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán các loại ngoại tệ tận dụng mức chênh lệch tỷ giá trên các thị trường.

    Mục đích: Tìm cơ hội Acbit để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn ngoại tệ đang nắm giữ (nhằm phòng ngừa rủi ro hối đoái, hiệu quả trong thanh toán, và lợi nhuận trong kinh doanh).

    Phân loại: có 2 loại Acbit:

    Acbit giản đơn: mua bán diễn ra trên hai thị trường.

    Acbit phức tạp: việc mua bán diễn ra ở nhiều hơn 2 thị trường

    2.2   FORWARD Nghiệp vụ kỳ hạn

    Khái niệm: Giao dịch mua bán kỳ hạn các ngoại tệ được ký tại thời điểm hiện tại, và được kết thúc vào kỳ hạn cụ thể xác định trong hợp đồng.

    Tỷ giá xác định bởi 2 yếu tố: tỷ giá trao ngay và lãi suất thị trường của 2 đồng tiền liên quan.

    Mục đích:

    Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng tại thời điểm nào đó xác định.

    Giúp khách hàng hạn chế được rủi ro khi dự báo được sự biến động tỷ giá bất lợi cho kinh doanh của mình.

    2.3   SWAP Nghiệp vụ hoán đổi

    Khái niệm: Là nghiệp vụ tiến hành thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực, việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai.

    Đặc điểm:

    Hợp đồng có thể chuyển nhượng tại bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực.

    Hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của sở giao dịch tiền tệ tương lai.

    Mục đích: Bảo hiểm phòng ngừa rủi ro, mục đích đầu cơ.

    2.4   OPTION Nghiệp vụ quyền chọn

    Khái niệm: Cho phép người mua hợp đồng có quyền mua, bán tiền tệ tại một mức tỷ giá đã thỏa thuận trước gọi là tỷ giá quyền chọn.

    Phân loại:

    Quyền chọn mua : cho phép người mua có quyền nhưng không bắt buộc mua một số lượng ngoại tệ nhất định.

    Quyền chọn bán : cho phép người bán có quyền nhưng không bắt buộc bán một số lượng ngoại tệ nhất định.

    2.5   FUTURE Nghiệp vụ tương lai

    Khái niệm: Swap là một trong những công cụ thông dụng có hiệu quả cho các nhà đầu tư, người đi vay ngoại tệ và các ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi ro hối đoái, hoặc để kinh doanh thu lợi nhuận .

    Mục đích:

    Giải pháp hỗ trợ tỷ giá cho đồng nội tệ.

    Liên kết các thị trường tài chính trong nước và thị trường tài chính quốc tế với nhau

    Phân loại:

    Swap lãi suất

    Swap tiền tệ

    Trong đó :

    –  Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi được thực hiện phi tập trung over the counter market – OTC

    –  Nghiệp vụ quyền chọn có thể được thực hiện phi tập trung hoạc là Thực hiện tập trung trên cơ sở giao dịch – the exchange.

    –  Nghiệp vụ tương lai chỉ được thực hiện trên sở giao dịch.

    B:Thực trạng thị trường ngoại hối ở Việt Nam

    I: Thực trạng và Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam

    1.1Thực trạng

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối đóng vai trò rất quan trọng, làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, kiều hối, nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong thời gian qua, chính sách ngoại hối đã có những thay đổi quan trọng, một số quy định đã thông thoáng hơn, mở ra nhiều nghiệp vụ mới, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.

    Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam các nghiệp vụ phái sinh vẫn còn sơ khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số NHTM mặc dù đã triển khai nghiệp vụ option nhưng không có giao dịch. Mặc dù trên thế giới các nghiệp vụ phái sinh để bảo hiểm rủi ro tỷ giá như forward, swap, futures, option đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu với doanh số hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD. Chính vì vậy, việc ứng dụng các công cụ phái sinh nhằm bảo hiểm rủi ro tỷ giá tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do:

        Một là: thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng.

    Đây là vấn đề cốt lõi, vì trước đây tỷ giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố, khách hàng không quan tâm tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, sang năm 2007 và đầu năm 2008, thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của VND so với đồng Đôla Mỹ, tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Nguyên nhân là do lượng lớn ngoại tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, kiều hối đổ vào các NHTM làm xuất hiện dư thừa ngoại tệ do mất cân đối cung cầu. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề rủi ro tỷ giá, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành thuỷ sản, dệt may, cà phê… và các ngành sản xuất, xuất khẩu khác. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới phòng chống rủi ro đối với các hoạt động ngoại tệ của mình.

    Hàng năm các doanh nghiệp Việt Nam đều phải vay ngoại tệ hàng trăm triệu USD hoặc EUR để đầu tư vào các dự án lớn, các doanh nghiệp này sau khi vay ngoại tệ thường bán số ngoại tệ này chuyển sang VND để tiến hành hoạt động đầu tư dự án, đến kỳ trả nợ họ phải mua lại số ngoại tệ đó bằng VND. Trong thời gian tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, rõ ràng sẽ có sự biến động về cả lãi suất cho vay và cả tỷ giá hối đoái. Nếu sử dụng công cụ phái sinh như hoán đổi lãi suất hoặc công cụ kỳ hạn hay quyền chọn về ngoại tệ thì các doanh nghiệp sẽ bảo hiểm được rủi ro lãi suất trong trường hợp nếu lãi suất vay là thả nổi và khi lãi suất thị trường đã tăng lên như hiện nay hoặc bảo hiểm được rủi ro tỷ giá khi ngoại tệ có xu hướng giảm xuống vào thời điểm doanh nghiệp bán ngoại tệ.

        Hai là:thiếu cơ sở pháp lý.

    Trong vài năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép các NHTM được thực hiện nhiều nghiệp vụ mới như quyền chọn ngoại hối, quyền chọn vàng, hoán đổi lãi suất. Tuy nhiên cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ phái sinh còn chưa đầy đủ, ngoại trừ chỉ có giao dịch hoán đổi lãi suất đã có quy chế của NHNN là Quyết định số 1133/2003/QĐ-NHNN, ngày 30/09/2003. Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, tuy nhiên chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại tệ, còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND thì phải được sự cho phép từ phía NHNN. Trên thực tế, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường chuyển đổi ngoại tệ ra VND để phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất trong nước mà hầu như không chuyển đổi từ ngoại tệ ra ngoại tệ. Đây cũng là trở ngại lớn đối với các NHTM làm cho doanh số giao dịch quyền chọn rất thấp.

        Ba là, thiếu kiến thức, hiểu biết về công cụ phái sinh.

    Sản phẩm phái sinh trong phòng chống rủi ro là một sản phẩm khá mới và phức tạp đối với thị trường Việt Nam. Đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải có hệ thống thông tin dự báo tỷ giá quốc tế nhanh, chính xác, cập nhật liên tục; phải có công cụ đo lường và cảnh báo rủi ro tỷ giá, lãi suất; đội ngũ các nhà quản lý, các giao dịch viên chuyên nghiệp, Thực tế có nhiều NHTM được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại hối từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa triển khai được. Đối với các doanh nghiệp thì việc hiểu biết các công cụ phái sinh để phòng chống rủi ro còn nhiều hạn chế.

    1.2 Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam

    Từ thực tế trên, để ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại Việt Nam cần phải có các điều kiện sau

       Thứ nhất, về khách quan.

    Tỷ giá thị trường phải biến động tới mức đủ để các doanh nghiệp phải quan tâm chú ý tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Các NHTM cũng rất muốn triển khai các sản phẩm dịch vụ mới nhưng không thể “cố ép” khách hàng sử dụng khi thực sự họ không có nhu cầu.

    NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt hơn, tạo ra một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ. NHNN cần tiếp tục nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân và thường xuyên điều chỉnh linh hoạt biên độ này cho phù hợp với thị trường hơn. Đây là cơ sở để NHTM cũng như doanh nghiệp quen dần với các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá. Bên cạnh đó, NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay, để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. Cho phép các NHTM chủ động thực hiện quyền chọn ngoại hối giữa ngoại tệ và VND khi có nhu cầu phái sinh. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ theo sự hiểu biết của ngân hàng, dẫn đến tình trạng không thống nhất, dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra.

    NHNN cần tăng cường hơn nữa vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường. Ngân hàng Nhà nước tham gia thị trường với tư cách là người mua, người bán cuối cùng, thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

       Hai là, về phía các NHTM

    Cần tiếp cận khách hàng, tổ chức hội thảo để giới thiệu và tư vấn nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của khách hàng về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho khách hàng hiểu biết về các công cụ phái sinh ngoại hối. Phát triển các công cụ phái sinh và thị trường phái sinh là giúp cho các doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch hối đoái phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Khi sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn. Mặt khác, cần tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng. Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất. Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho khách hàng của mình hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối.

        Ba là, về phương tiện, thiết bị.

    Ngoài những phương tiện, thiết bị hiện có của Reuters, Thomson, SowJones News hay Metastock, cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro và tính phí đối với các nghiệp vụ phái sinh. Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế, để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.

    II:Những con số và sự kiện đã sảy ra ở việt nam

    Năm 2008, thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng; tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19.000 VND. Những diễn biến này được đặt trong những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh.
    Những tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối cũng căng thẳng, nhưng những áp lực trên đã không còn quá lớn.
    7 tháng đầu năm, nhập siêu chỉ mới ở mức 3,38 tỷ USD; và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt ra, năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, cả năm sẽ khoảng 8 – 10 tỷ USD, rất thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.
    Cũng trong 7 tháng đầu năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 3,22% so với cuối năm 2008; trong khi đó tỷ giá USD/VND tăng 6,22%. Mức tăng của hai chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. Áp lực lạm phát đối với tỷ giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%, thậm chí chỉ khoảng 7% – 8% trong năm nay.
    Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. Tuy nhiên, nhà điều hành không thể dùng biện pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu, bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá còn phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, yêu cầu khác của nền kinh tế, và việc tung một nguồn ngoại tệ lớn ra thị trường còn có những hệ lụy…
    Theo phản ánh của các ngân hàng, có một thực trạng chung là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu khi thu ngoại tệ về không chịu bán lại. Đây là một lựa chọn có mục đích chính là để dự phòng rủi ro tỷ giá trong tương lai (vốn đã có nhiều trường hợp phải trả giá đắt trong năm 2008), bởi chính các doanh nghiệp cũng cần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu; một mục đích khác là sự găm giữ có kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, hay nói cách khác mức giá các ngân hàng trả theo quy định hiện nay tỏ ra chưa hấp dẫn doanh nghiệp.
    Một nguyên nhân khác của việc doanh nghiệp không chịu bán lại ngoại tệ là do “tác dụng phụ” của chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn VND. Lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ khoảng 5% – 6%/năm, trong khi vay USD cũng có lãi suất gần tương ứng và còn phải chịu rủi ro tỷ giá khi mua ngoại tệ trả nợ trong tương lai. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tìm mua USD thay vì vay USD.
    Vừa qua, với “gợi ý” của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm mạnh lãi suất cho vay USD xuống phổ biến dưới 3%/năm để có thể tạo hấp dẫn đối với doanh nghiệp vay vốn. Ở một giải pháp khác, theo thông tin tại cuộc đối thoại với doanh nghiệp hồi trung tuần tháng 5/2009, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức đàm phán với một số doanh nghiệp lớn với mục đích thúc đẩy việc bán lại USD, vay USD cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp tình thế và cục bộ.
    Thời gian gần đây, trước tình hình ngoại tệ của những thành viên trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò bán ra hỗ trợ. Nhưng dường như đây vẫn chưa phải là một cách giải quyết có tính căn bản, khi sự ách tắc nguồn ngoại tệ găm giữ tại các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa thực sự được tháo gỡ.
    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.
    Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận, có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định; trước khi siết chặt quản lý, doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ – những đại diện của thị trường Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba, ngoại tệ thứ ba. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ.
    Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập, mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi, thị trường cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh, quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này, góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. Tất nhiên, theo ý kiến chuyên gia, để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn, năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định.“Và ngày 10-09-2009: Tỷ giá USD/VND cao nhất trong lịch sử“

    Tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục tăng cao, giá USD niêm yết của các ngân hàng thương mại đã lên mức cao nhất trong lịch sử. Từ cuối tháng 8 đến nay, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. Ngày 9/9, sau hơn tám tháng, tỷ giá này chính thức vượt mốc 16.980 VND và ở mức 16.981 VND. Sáng nay (10/9), tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.983 VND.

    Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết sáng nay cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay, kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cùng áp ở mức 17.832 VND.

    Trong lịch sử, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%, từ mức 16.494 VND. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở dưới 17.500 VND.

    Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân đối” với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại; hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.

    Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép; việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây.

    Trong báo cáo tổng kết thị trường tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì thông điệp “đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá ổn định, áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn”.

    Trong tháng 8 vừa qua, theo thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, tình hình cung – cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng; doanh nghiệp và người dân cũng đã bắt đầu bán ra USD thay vì chủ yếu găm giữ trước đó.

    Nhu cầu vay ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đã tăng lên. Trong tháng 7 và 8 vừa qua, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh; lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng đã tăng khá mạnh; một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên đến 4% – 4,15%/năm.

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008.

     

    C : giải pháp

    – Cho phép doanh nghiệp được phát hành trái phiếu ngoại tệ để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa của ngân hàng thương mại.

    – Tạo cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho tín dụng ngoại tệ nhằm nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp, ngân hàng và tính thị trường trong quan hệ ngoại hối.

    – Làm thế nào để khơi thông cho được nguồn ngoại tệ ứ đọng tại các doanh nghiệp xuất khẩu.

    – Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán, không “neo” chủ yếu vào đồng USD như hiện nay. Nhưng, theo lãnh đạo của một ngân hàng có thị phần thanh toán quốc tế lớn nhất hiện nay, điều đó cũng khó thực hiện theo ý muốn chủ quan, bởi phần lớn các đối tác bán hàng bên ngoài đều yêu cầu thanh toán bằng USD, nhà nhập khẩu trong nước phải đáp ứng.

    – Để bên mua – bên bán thực sự gặp nhau
    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.
    Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận, có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định; trước khi siết chặt quản lý, doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ – những đại diện của thị trường.
    Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba, ngoại tệ thứ ba. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ.
    Thị trường đang cần một môi trường để bên mua – bên bán thực sự gặp nhau, ở một mức giá có được sự đồng thuận, đáp ứng nhu cầu của cả hai bên. Và ở đây, quan hệ cung – cầu sẽ hình thành mức giá hợp lý. Tất nhiên, điều này không đồng nghĩa với sự thả nổi, mà nhà điều hành chính sách là người mua và bán cuối cùng, điều tiết, định hướng cung – cầu thông qua những lực lượng sẵn có.
    Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập, mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi, thị trường cho vay. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh, quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này, góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. Tất nhiên, theo ý kiến chuyên gia, để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn, năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định.

     

     

     

     

     

                                                       Hết


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô: Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp

    Chương 1 –         CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    1.1       Khái niệm

    Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quy ền lợi lao động được quy định trong hiến pháp.

    Những người ngoài lực lượng lao động bao gồm những người đang đi học, người nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật và cả một bộ phận không muốn tìm việc làm với những lý do khác nhau.

    Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm.

    Người có việc làm là những người làm một việc gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.

    Lao động thiếu việc làm là những người mà trong tuần nghiên cứu được xác định là có việc làm nhưng có thời gian làm việc thực tế dưới 35 giờ, có nhu cầu và sẵn sàng làm thêm giờ.

    Tỷ lệ thiếu việc làm là tỷ lệ phần trăm lao động thiếu việc làm trong tổng số lao động có việc làm.

    Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm .

    Thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.

    Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa.

    Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.

    Số người không có việc làm

    Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x

    Tổng số lao động xã hội

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng, ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều việc không có người làm) trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp). Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng.

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0. Vì trong một nước rộng lớn, mức độ cơ động cao, thị hiếu và tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hoá dịch vụ thường xuyên thay đổi, tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có liên quan chặt chễ với lạm phát và ngày càng có xu hướng tăng. Để giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trường lao động, mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại về chính sách của chính phủ; tạo việc làm công cộng.

    1.2      Phân loại

    1.2.1  Phân theo hình thức thất nghiệp:

     

    Căn cứ vào tình trạng trạng phân bố thất nghiệp trong dân cư có các dạng sau :

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 2

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    • T hất nghiệp chia theo giới tính(nam, nữ)
    • Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi-nghề)
    • Thất nghiệp chia theo vụng lãnh thổ (thành thị -nông thôn)
    • Thất nghiệp chia theo nghành nghề(nghành sản xuất,dịch vụ)
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

    Thông thường trong xã hội, tỷ lệ thất nghiệp đối với nữ giới cao hơn nam giới, tỷ lệ thất nghiệp ở những người trẻ tuổi cao hơn so với người có tuổi với tay nghề và kinh nghiệm lâu năm…Việc nắm được con số này sẽ giúp cho nhà lãnh đạo vạch ra những chính sách thích hợp để có thể sử dụng tốt hơn lực lượng lao động dư thừa trong từng loại hình thất nghiệp cụ thể.

    1.2.2  Phân loại lý do thất nghiệp:

    Có thể chia làm bốn loại như sau:

    • Bỏ việc : một số người tự nguy ện bỏ việc hiện tại của mình về những lý do khác nhau, như cho rằng lương thấp, điều kiện làm việc không thích hợp …
    • M ất việc: M ột số người bị sa thải hoặc trở nên dư thừa do những khó khăn cửa hàng trong kinh doanh.
    • M ới vào :Là những người lần đầu bổ xung vào lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác …)
    • Quay lại: Những người đã từng có việc làm, sau đấy thôi việc và thậm chí không đăng ký thất nghiệp, nay muốn quay lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.

    Kết cục những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn. Người ta ra khỏi đội quân thất nghiệp theo các hướng ngược lại. Một số tìm được việc làm, một số khác từ bỏ việc tìm kiếm công việc và hoàn toàn rút ra khỏi con số lực lượng lao động. Mặc dù trong nhóm rút lui hoàn toàn này có một số người do điều kiện bản thân hoàn toàn không p hù hợp so với yêu cầu của thị trường lao động, nhưng đa phần trong số họ không hứng thú làm việc, những người chán nản về triển vọng có thể tìm được việc làm và quyết định không làm việc nữa.

    Như vậy số người thất nghiệp không phải là con số cố định mà là con số mang tính thời điểm. Nó luôn biến đổi không ngừng theo thời gian. Thất nghiệp là một quá trình vận động từ có việc, mới trưởng thành trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi thạng thái đó.

    1.2.3  Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp

    Việc tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quy ết.

    1. Thất nghiệp cọ xát (thất nghiệp tạm thời):

     

    Thất nghiệp cọ xát đề cập đến việc người lao động có kĩ năng lao động đáp ứng được nhu cầu của thị trường nhưng lại bị thất nghiệp trong một thời gian ngắn nào đó do họ thay đổi việc làm một cách tự nguy ện vì muốn tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng (lương cao hơn, gần nhà hơn…) hoặc do sự thay đổi cung cầu trong hàng hoá dẫn đến việc p hải thay đổi công việc từ một doanh nghiệp, một ngành sản xuất hay một vùng lãnh thổ sang nơi khác.

     

    Trong mối quan hệ với dạng thất nghiệp tạm thời còn có dạng thất nghiệp tìm kiếm xảy ra cả trong trường hợp chuyển đổi chỗ làm việc mang tính tự nguyện hoặc do bị đuổi

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 3

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    việc. Khi đó người lao động luôn cần có thời gian chờ đợi để tìm kiếm chỗ làm việc mới. Thời gian của quá trình tìm kiếm sẽ làm tăng chi phí (phải tìm nhiều nguồn thông tin, người thất nghiệp sẽ mất đi thu nhập, mất dần kinh nghiệm, sự thành thạo nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội…).

    Mọi xã hội trong bất kỳ thời điểm nào cũng tồn tại loại thất nghiệp này .

    1. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường:

     

    Loại thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân bố thu nhập gắn liền với kết quả đến lao động mà còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia (chính phủ hoặc công đoàn) do có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, hạn chế sự linh hoạt của tiền lương (ngược lại với sự năng động của thị trường lao động) dẫn đến một bộ phận lao động mất việc làm.

     

    1. Thất nghiệp cơ cấu:

     

    Thất nghiệp cơ cấu là tỷ lệ những người không làm việc do cơ cấu của nền kinh tế có một số ngành không tạo đủ việc làm cho tất cả những người muốn có việc. Thất nghiệp do cơ cấu tồn tại khi số người tìm việc trong một ngành vượt quá số lượng việc làm có sẵn trong ngành đó. Thất nghiệp do cơ cấu diễn ra khi mức lương của ngành vượt cao hơn mức lương cân bằng thị trường. Nói cách khác, vì lương cao hơn mức cân bằng, nhiều người muốn có việc làm hơn so với mức sẵn sàng tuyển dụng của doanh nghiệp . Ngoài ra, do lương là một yếu tố chậm điều chỉnh, nên thị trường lao động không thể cân bằng một cách linh hoạt. Chính vì vậy người ta thường nói thất nghiệp do cơ cấu là hệ quả của tính kém linh hoạt của lương.

     

    1. Thất nghiệp chu kỳ:

    Thất nghiệp chu kì còn được gọi là thất nghiệp do nhu cầu thấp . Loại thất nghiệp này xảy ra do sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản phẩm của nền kinh tế so với sản lượng (hay năng lực sản xuất). Sự sút giảm trong nhu cầu dẫn đến sự sa thải lao động có thể bắt đầu

    • một vài thành phố lớn của nền kinh tế và sau đó gây ra sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản lượng của toàn bộ nền kinh tế. Đây là thất nghiệp theo lý thuyết của Keynes khi tổng cầu giảm mà tiền lương và giá cả chưa kịp điều chỉnh để phục hồi mức hữu nghiệp toàn phần. Khi tiền lương và giá cả được điều chỉnh theo mức cân bằng dài hạn mới, nhu cầu thấp hơn sản lượng thì tồn kho sẽ tăng lên nên các nhà sản xuất buộc phải cắt giảm sản lượng và sa thải lao động. M ột số công nhân muốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành nhưng không thể tìm được việc làm. Chỉ có trong dài hạn, tiền lương và giá cả sẽ giảm đến mức đủ để tăng nhanh mức lương và giá cả sẽ giảm lãi xuất đến mức cần thiết để phục hồi tổng cầu ở mức hữu nghiệp toàn phần và chỉ có lúc đó thì thất nghiệp do thiếu cầu mới bị triệt tiêu. Thất nghiệp chu kì thường gắn liền với năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là trong thời kì hội nhập .

    Thất nghiệp do nhu cầu thấp có quan hệ mật thiết với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp. Có thể dễ dàng thấy rằng nếu sản lượng tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng của năng lực sản xuất của nền kinh tế, kể cả số lượng lao động, thì thất nghiệp sẽ tăng. Suy thoái sẽ làm tăng thất nghiệp và p hục hồi hay tăng trưởng sẽ làm giảm thất nghiệp . Sự tăng giảm của thất nghiệp do nhu cầu thấp sẽ làm tăng giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các chu kì kinh tế.

    Ngoài ra, thất nghiệp còn được chia ra thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. Thất nghiệp dài hạn là những người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 4

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước, còn những người thất nghiệp ngắn hạn là những người thất nghiệp dưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ tham khảo trở về trước. Thất nghiệp trá hình là dạng thất nghiệp của những người lao động không được sử dụng đúng hoặc không được sử dụng hết kỹ năng. Thuộc loại này bao gồm cả những người làm nghề nông trong thời điểm nông nhàn (đôi khi những người này được tách riêng thành những người thất nghiệp theo thời vụ). Thất nghiệp ẩn: là dạng thất nghiệp không được báo cáo. Theo tính chất, thất nghiệp chia thành thất nghiệp tự nguyện (thất nghiệp nảy sinh do người lao động không chấp nhận những công việc hiện thời với mức lương tương ứng) và thất nghiệp không tự nguyện.

    1.2.4 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên: thất nghiệp tự nhiên bao gồm thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu.

                          AJ        
                                 
        Mức           LF  
            W2      
                           
                     
                         
        lương                        
        thực                        
      W*                  
                         
                  E            
                               
                                 
                                 
                                   

    A           B                C

    N2           N*            N1                Số lượng nhân công

    Hình trên đây trình bày về thị trường lao động. Đường cầu về lao động LĐ dốc xuống cho thấy rằng các hãng sẽ thuê nhiều nhân công hơn khi tiền lương thực tế thấp hơn. Đồ thị LF cho biết có bao nhiêu người muốn tham gia lực lượng lao động tại mỗi mức lương thực tế. Chúng ta giả thiết rằng một mức gia tăng tiền lương thực tế sẽ làm tăng số người muốn làm việc. Đồ thị AJ cho biết có bao nhiêu người chấp nhận công việc sẵn có tại mỗi mức lương thực tế. Đồ thị này nằm bên trái đường LF vì luôn có một số người nằm trong giai đoạn chuyển công việc taị kỳ thời điểm nào, vừa vì một mức lương lao động mặc dù họ chỉ chấp nhận làm việc nếu họ tìm ra được việc mang lại mức lương cao hơn một ít so với mức trung bình. Cân bằng thị trường lao động xảy ra tại điểm E.

    Mức hữu nghiệp N* là mức cân bằng hay là mức hữu nghiệp toàn phần. Khoảng cách EF gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

    Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng.

    Con số thất nghiệp này là hoàn toàn tự nguy ện. Tại mức tiền lương cân bằng thực tế W* có N1 người muốn ở trong lực lượng lao động nhưng chỉ có N* người chấp nhận công việc tại mức lương cân bằng thực tế.

    Có thể nói thất nghiệp tự nguy ện bao gồm số người thất nghiệp tạm thời và số người thất nghiệp cơ cấu vì đó là những người chưa sẵn sàng làm việc với mức lương tương ứng, còn đang tìm kiếm những cơ hội tốt hơn. Nếu xã hội có chế độ quy định mức lương tối thiểu, giả sử ở W2 cao hơn mức lương cân bằng của thị trường lao động (W*). ở mức lương W2 cung lao động sẵn sàng chấp nhận việc làm (AJ) sẽ lớn hơn cầu lao động. Đoạn AB trên hình vẽ biểu thị sự chênh lệch này . Tổng con số thất nghiệp bây giờ được xác định bằng đoạn AC. Với tư cách cá nhân, một số AB công nhân vẫn muốn làm việc tại mức lương W2 nhưng không thể tìm được việc làm vì các hãng chỉ cần số công nhân

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 5

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tại mức của điểm A. Cá nhân này bị thất nghiệp một cách không tự nguy ện. Một công nhân gọi là thất nghiệp không tự nguyện nếu họ vẫn muốn làm việc ở mức lương hiện hành. Tuy nhiên thông qua công đoàn các công nhân đã quyết định theo tập thể cho mức tiền lương W2 lớn hơn so với mức cân bằng, do vậy làm giảm mức hữu nghiệp. Vì vậy đối với công nhân nói chung, chúng ta phải coi con số thất nghiệp thêm như là tự nguyện.

    Do đó chúng ta cũng tính thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển vào con số của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Nếu như trong dài hạn công đoàn duy trì mức tiền lương W2 thì nền kinh tế sẽ vẫn tồn tại ở điểm A và AC là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Thất nghiệp do thiếu cầu hay thất nghiệp theo lý thuyết Keynes xảy ra khi tổng cầu suy giảm, sản xuất đình trệ, công nhân mất việc … nên loại thất nghiệp này gọi là không tự nguyện. Thất nghiệp dạng này được gây ra bởi sự điều chỉnh chậm hơn của thị trường lao động so với sự điều khiển của các cá nhân hoặc của công đoàn.

    1.3       Tác động của thất nghiệp

    Lợi ích của thất nghiệp

    • Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý và phù hợp với nguy ện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội.
    • Lợi ích xã hội: Làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn và góp phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn.

    –    Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe.

    –    Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.

    • Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả.

    Chi phí thất nghiệp

    • Hao phí nguồn lực xã hội: con người và máy móc. Quy luật Okun áp dụng cho nền kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sản lượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên).
    • Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài.
    • Khủng hoảng gia đình do không có thu nhập.
    • Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp .
    • Chính p hủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp .
    • Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.
    • Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.
    • Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.

    1.4       Định luật Okun: về mối quan hệ giữa sản lượng và thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 6

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Định luật Okun ra đời nhằm khảo sát sự biến động của chu kỳ kinh tế, sự giao động của mức sản lượng thực tế quanh sản lượng tiềm năng, và mối quan hệ giữa chúng, trên cơ sở đó, dự báo mức tỷ lệ thất nghiệp kỳ vọng trong sự ràng buộc với hai biến số nêu trên.

    • Định luật Okun 1: Khi sản lượng thực tế (Yt) thấp hơn sản lượng tiềm năng (Yp) 2% thì thất nghiệp thực tế (Ut) tăng thêm 1% so với thất nghiệp tự nhiên (UN).

    Ut = Un  + 50/frac (YP  – Y) (Yp)

    • Định luật Okun 2: Khi tốc độ của sản lượng tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản lượng tiềm năng 2,5% thì thất nghiệp thực tế giảm bớt 1% so với thời kỳ trước đó.

    Ut = U0 – 0,4(g-p)

    Trong đó:

    • Ut là tỷ lệ thất nghiệp thực tế năm đang tính
    • U0 là tỷ lệ thất nghiêp thực tế của thời kỳ trước
    • g: tốc độ tăng trưởng của sản lượng Y
    • p: tốc độ tăng trưởng của sản lượng tiềm năm Yp

    1.5       Đường cong Phillips

    Đường cong Phillips biểu thị quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát (đường cong Phillips phiên bản lạm phát) hoặc giữa tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP (đường cong Phillips phiên bản GDP). Đường này được đặt theo tên Alban William Phillips, người mà vào năm 1958 đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu của nước Anh từ năm 1861 đến năm 1957 và p hát hiện ra tương quan âm giữa tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ tăng tiền lương danh nghĩa .

    Lý luận của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp

    Đường cong Phillips dốc xuống phía p hải

    Kinh tế Mỹ thập niên 1960 có hiện tượng tỷ lệ lạm phát khá cao mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP cũng cao. Để giải thích hiện tượng đó, các nhà kinh tế của trường phái kinh

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 7

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tế học vĩ mô tổng hợp đã sử dụng kết quả nghiên cứu của Phillips và dựng nên đường cong Phillips dốc xuống phía phải trên một đồ thị hai chiều với trục hoành là các mức tỷ lệ thất nghiệp và trục tung là các mức tỷ lệ lạm p hát. Trên đường này là các kết hợp giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Dọc theo đường cong Phillips, hễ tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng lên; và ngược lại.

    Từ đó, trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp lý luận rằng để giảm tỷ lệ thất nghiệp chính p hủ đã sử dụng chính sách quản lý tổng cầu, song do tỷ lệ thất nghiệp có quan hệ ngược chiều bền vững với tỷ lệ lạm phát, nên tăng trưởng kinh tế cao đương nhiên gây ra lạm phát. Lạm p hát là cái giá phải trả để giảm tỷ lệ thất nghiệp.

    Lý luận của chủ nghĩa tiền tệ

    Đường cong Philips ngắn hạn và Đường cong Phillips dài hạn

    Chủ nghĩa tiền tệ đã bác bỏ lý luận nói trên của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp. Họ cho rằng đường cong Phillips như trên chỉ là đường cong Phillips ngắn hạn. Friedman đã đưa ra khái niệm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, theo đó khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng vẫn có thất nghiệp. Đây là dạng thất nghiệp tự nguyện. Vì thế, ở trạng thái cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn là một số dương. Và khi nền kinh tế cân bằng, thì lạm p hát không xảy ra. Đường cong Phillips ngắn hạn dốc xuống phía phải và cắt trục hoành ở giá trị của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hễ chính phủ áp dụng các biện pháp nhằm đưa tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức này, thì giá cả sẽ tăng lên (lạm phát), và có sự dịch chuy ển lên phía trái dọc theo đường cong Phillips ngắn hạn.

    Sau khi lạm phát tăng tốc, cá nhân với hành vi kinh tế điển hình (hành vi duy lý) sẽ dự tính lạm phát tiếp tục tăng tốc. Trong khi tiền công danh nghĩa không đổi, lạm phát tăng nghĩa là tiền công thực tế trả cho họ giảm đi. Họ sẽ giảm cung cấp lao động, thậm chí tự nguy ện thất nghiệp . Tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên đến mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, trong khi tỷ lệ lạm p hát vẫn giữ ở mức cao.

    Nếu nhà nước vẫn cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tự nhiên, cơ chế như trên lại xảy ra. Hậu quả là, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức tự nhiên mà tỷ lệ lạm phát lại bị nâng lên liên tục. Chính sách của nhà nước như vậy là chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, còn về dài hạn là thất bại.

    Tập hợp các điểm tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và các mức tỷ lệ lạm phát liên tục bị đẩy lên cao tạo thành một đường thẳng đứng. Đường này được gọi là đường Phillips dài hạn.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 8

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Tăng trưởng kinh tế thường có xu hướng giảm tỷ lệ thất nghiệp. Trên thực tế, mọi nền kinh tế luôn có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, hay tỷ lệ thất nghiệp dài hạn, chẳng hạn 3%, kể cả khi vẫn có rất nhiều công ty cần tìm người và doanh nghiệp chưa tuyển đủ lao động. Để giải thích điều này, chúng ta cần tìm hiểu rõ bản chất của thị trường lao động và tại sao luôn tồn tại một số người không có việc làm, kể cả khi có rất nhiều cơ hội việc làm trong nền kinh tế.

    Thứ nhất, luôn tồn tại một số người không có việc làm do quá trình tìm việc thường mất thời gian. Nếu tất cả những người tìm việc và các nhà tuy ển dụng đều giống nhau, và thông tin là hoàn toàn cân xứng, mọi người sẽ có thể tìm việc nhanh chóng. Nhưng bản chất của thị trường lao động là có rất nhiều người bán và rất nhiều người mua, họ đều rất khác nhau về nhu cầu, kỹ năng, và thong tin trên thị trường lao động là không hoàn hảo. Việc ghép một người có nhu cầu tìm việc với một doanh nghiệp cần tuyển dụng chính vì vậy mất một thời gian, và tại bất kỳ thời điểm quan sát nào thì một nền kinh tế cũng luôn có những người thất nghiệp như vậy.

    Thông thường, trong các chỉ số kinh tế vĩ mô, tỷ lệ thất nghiệp thường được theo dõi chặt chẽ cùng với tỷ lệ lạm phát. Hai chỉ số này quan hệ với nhau như thế nào? Như vừa phân tích, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều y ếu tố của thị trường lao động, ví dụ như tính linh hoạt của lương, mức lương tối thiểu, ma sát của thị trường, hay hiệu quả của quá trình tìm việc. Còn tỷ lệ lạm phát trong dài hạn phụ thuộc vào mức gia tăng cung tiền. Trong dài hạn, thất nghiệp và lạm p hát không có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong ngắn hạn thì ngược lại. Trong ngắn hạn, khi chính sách mở rộng tài khóa và tiền tệ được tiến hành, tổng cầu gia tăng, nhiều sản lượng được sản xuất hơn, có nhiều người có việc làm hơn, tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn giảm xuống, nhưng đồng thời mức giá chung của nền kinh tế tăng lên. Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát là tỷ lệ nghịch: khi lạm phát cao, thất nghiệp là thấp, và ngược lại. Mối quan hệ này trong ngắn hạn được thể hiện trên đường cong Phillips ngắn hạn.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                     Page 9

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Chương 2 –         THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

    2.1       Thất nghiệp tại Việt Nam, thực trạng và nguyên nhân

    Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi đều tương ứng giảm nhẹ lần lượt 1,99 và 2,8% so với các mức 2,22% và 2,96% trong năm 2011.

    Riêng đối với khu vực thành thị, tỷ lệ này, dù vẫn cao hơn mức thất nghiệp bình quân chung, nhưng lại thể hiện sự giảm nhẹ từ 3,6% năm 2011 xuống còn 3,25% trong năm 2012.

    Và, năm 2013, chỉ tiêu được đặt ra là tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, vẫn là những con số khá quen thuộc, cho dù nền kinh tế đang được nhận định với mức độ khó khăn ngày thêm trầm trọng.

    Năm 2010:

    Tổng cục Thống kê vừa cho biết, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%. So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02%.

    Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%.Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12%.Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010. Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.Tỷ lệ thất nghiệp tại thành thị gấp đôi nông thôn.Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,88%, khu vực thành thị có tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi cao gấp hai lần so với khu vực nông thôn (thành thị là 4,43%, khu vực nông thôn là 2,27%). Đó là một thông tin trích từ kết quả tổng hợp về tình hình lao động việc làm 9 tháng năm 2010 của Tổng cục Thống kê. Theo đó, hiện cả nước có nước có 77,3% người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, trong đó khu vực thành thị là 69,4%; khu vực nông thôn 80,8%.Tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật là 14,6%, chủ yếu là ở khu vực thành thị, chiếm khoảng 30%; khu vực nông thôn chỉ 8,6%.Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội trong 9 tháng năm 2010 của cơ quan này cũng cho thấy, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi hiện là 4,31%, trong đó khu vực thành thị là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24%. Tỷ lệ lao động nữ thiếu việc làm cao hơn lao động nam.Trong khi đó, theo một báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã giải quy ết được gần 1,2 triệu việc làm trong 9 tháng đầu năm, song tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi vẫn ở mức khá cao.Cụ thể, trong tháng 9, cả nước ước giải quy ết việc làm cho khoảng 141.500 người, trong đó xuất khẩu lao động ước đạt trên 6.500 người.Tính chung 9 tháng đầu năm 2010, tổng số lượt lao động được giải quyết việc làm ước đạt 1.186,1 nghìn lượt người, đạt 74,13% kế hoạch năm; xuất khẩu lao động ước đạt 58.075 người, đạt trên 68,3% kế hoạch năm.

    Năm 2011:

    Đến thời điểm 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 50,35 triệu người có việc làm và 1,05 triệu người thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 10

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Năm 2011, cả nước có 1,05 triệu người thất nghiệp, trong đó khu vực thành thị chiếm 49,8% và số nữ chiếm 57,7% tổng số thất nghiệp . Số lao động thất nghiệp ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên dưới 30 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị là 3,6% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn ở mức 3,56%. Lao động chưa được đào tạo chuy ên môn kỹ thuật có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với mức chung của khu vực thành thị cả nước (3,82% so với 3,6%). Đối với lao động đã qua đào tạo, tỷ lệ thất nghiệp của những người có trình độ đại học trở lên là thấp nhất (2,28%).

    Năm 2011, cả nước có khoảng 15,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế, chiếm 17,9% tổng dân số. Phần lớn (91,6%) dân số chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật.

    Thất nghiệp là vấn đề kinh tế – xã hội phổ biến đối với hầu hết các quốc gia và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nghiên cứu mức độ thất nghiệp giúp đánh giá chính xác mức sống và tình hình ổn định kinh tế, xã hội…của một quốc gia. Cuộc điều tra về lao động và việc làm cung cấp thông tin thích hợp p hục vụ công tác nghiên cứu và đánh giá vấn đề thất nghiệp . Để có được bức tranh thực về tình trạng việc làm, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, nơi có mức an sinh xã hội thấp, thì việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm là cần thiết. Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì hai chỉ tiêu này có ý nghĩa bổ sung và giải thích cho nhau. Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp nghiên cứu dưới đây được tính cho dân số trong độ tuổi lao động, tức gồm những người từ 15-59 tuổi đối với nam và 15-54 tuổi đối với nữ.

    Kết quả điều tra Lao động Việc làm năm 2011 cho thấy, cả nước có hơn 1 triệu người thất nghiệp, trong đó khu vực thành thị chiếm 49,8% và số nữ chiếm 57,7% tổng số thất nghiệp. Số người thất nghiệp trẻ tuổi từ 15-29 tuổi chiếm tới 59,2%, trong khi đó nhóm dân số từ 15-29 tuổi chỉ chiếm 32,8% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên của cả nước.

    Số liệu cho thấy số lao động thất nghiệp ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên dưới 30 tuổi. Như vậy, vấn đề thất nghiệp được đặt ra với lao động trẻ tuổi, một trong những nhóm lao động dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động.

    Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị luôn cao hơn khu vực nông thôn và ngược lại tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị. Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị là 3,6% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn là 3,56%. Đây là một trong những nét đặc thù của thị trường lao động nước ta trong nhiều năm gần đây .

    Thất nghiệp trong thanh niên đang trở thành một vấn đề quan tâm của xã hội. Nguy ên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong thanh niên tăng cao một phần xuất phát từ việc thị trường lao động được bổ sung thêm nhiều nhân lực trong khi nền kinh tế chưa đạt tới tốc độ tăng trưởng p hù hợp để đáp ứng nhu cầu việc làm đó.

    Hiện tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam và một số nước trên thế giới. Số liệu cho thấy, ở hầu hết các quốc gia tỷ lệ thất nghiệp của Quý 1 là cao nhất trong năm. Quan sát sự biến động tỷ lệ thất nghiệp, nhận thấy xu hướng tỷ lệ thất nghiệp giảm dần trong năm và thấp nhất vào Quý 4 của năm đã diễn ra ở hầu hết các quốc gia. Diễn biến tình hình thất nghiệp của nước ta gần giống với tình hình của Hàn Quốc, Philipine, Nhật Bản, Macao, Đài Loan. Biểu 3.6 cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam ở mức trung bình so với các nước trong khu vực.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 11

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Năm 2011, cả nước có khoảng 15,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế. Số lượng này chiếm khoảng 17,9% tổng dân số. Trong số người từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế, nữ nhiều hơn nam (61,3% so với 38,7%).Phần lớn (91,6%) dân số 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Điều này cho thấy đào tạo nghề sẽ là một biện pháp tăng cơ hội việc làm cho người lao động. Trong số những người chưa được đào tạo, nữ giới nhiều hơn nam giới.

    9 tháng đầu năm 2012

    Tính đến thời điểm 1/10/2012, dân số cả nước có 68,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động (bao gồm 52,1 triệu người có việc làm và gần 1 triệu người thất nghiệp). Lực lượng lao động của khu vực nông thôn là chủ yếu và chiếm 69,4%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nông thôn cao hơn thành thị. Đến thời điểm 1/10/2012, cả nước có 984 nghìn người thất nghiệp và 1369 nghìn người thiếu việc làm. Trong 9 tháng đầu năm 2012, số người thất nghiệp từ 15-24 tuổi chiếm gần một nửa (46,8%) trong tổng số người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị là 38,1% và ở khu vực nông thôn là 56,2%. Trong khi đó, số 1 người thiếu việc làm từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 24,2% trong tổng số người thiếu việc làm và không có sự khác biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn. Trong 9 tháng đầu năm 2012, số người thất nghiệp từ 15-24 tuổi chiếm 46,8% trong tổng số người thất nghiệp, tỷ trọng này ở khu vực thành thị là 38,1% và ở khu vực nông thôn là 56,2%. Trong khi đó, số người thiếu việc làm từ 15-24 tuổi chỉ chiếm 24,2% trong tổng số người thiếu việc làm và không có sự khác biệt nhiều giữa thành thị và nông thôn. hất nghiệp trong thanh niên và phụ nữ đang trở thành vấn đề đáng quan tâm với xã hội, thanh niên và phụ nữ là những nhóm lao động được xem là dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động. Những tháng đầu năm 2012, mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm nhưng tỷ lệ thất nghiệp của nước ta không cao, cụ thể tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị của quý 1 năm 2012 cao hơn chút ít so với quý 3 và quý 4 năm 2011 (3,46% so với 3,43% và 2,99%). Điều này có thể giải thích là do trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, đời sống của người dân chưa cao, hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệp lâu dài, họ chấp nhận làm một số công việc nào đó, thường là trong khu vực phi chính thức với mức thu nhập thấp, bấp bênh để nuôi sống bản thân và gia đình.

    Để có được bức tranh về tình trạng việc làm, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, nơi có mức an sinh xã hội thấp, thì việc xem xét đồng thời hai chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm là cần thiết. Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Thế giới hai chỉ tiêu này có ý nghĩa bổ sung và giải thích cho nhau.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 12

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    2.2       Nguyên nhân thất nghiệp ở Việt nam.

    Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta những nguy ên nhân cơ bản sau đây:

    Nguy ên nhân bao trùm là trong hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội cũ, chúng ta có những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, như đại hội VI đã chỉ rõ: Đã duy trì quá lâu nền kinh tế chỉ có hai thành phần, không coi trọng cơ cấu kinh tế nhiều thành p hần, kinh tế mở cửa dẫn đến sai lầm trong bố trí kinh tế, chưa quan tâm đúng mức đến chiến lược xây dựng kinh tế xã hội, hướng vào phát triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút được nhiều lao động dẫn đến hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng hiện có để phát triển việc làm và tạo nhiều điều kiện để người lao động tự tạo việc làm cho mình và do người khác. Chức năng của Nhà nước trong việc tổ chức lao động giải quyết việc làm cho xã hội chưa được phát huy đầy đủ.

    Hai nguy ên nhân nữa cũng không kém p hần quan trọng gây ra hiện tượng thất nghiệp đó là:

    2.2.1   Khoảng thời gian thất nghiệp:

    Giả sử rằng thường xuy ên có một lượng người thất nghiệp nhất định bổ xung vào đội ngũ tìm kiếm việc làm và nếu mọi người phải chờ đợi quá nhiều thời gian mới tìm được việc làm thì trong một thời gian nào đó số lượng người thất nghiệp tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp sẽ bị nâng cao. Thời gian chờ đợi trên được gọi là khoảng thời gian thất nghiệp và nó p hụ thuộc vào:

    • Cách thức tổ chức thị trường lao động

    –    Cấu tạo nhân khẩu của những người thất nghiệp (tuổi đời, tuổi nghề, ngành nghề)

    • Cơ cấu các loại việc làm và khả năng sẵn có việc làm.
    • Mọi chính sách cải thiện các yếu tố trên sẽ dẫn đến rút ngằn khoảng thời gian thất nghiệp.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 13

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    2.2.2 Do cạnh tranh mạnh mẽ của cơ chế thị trường, việc mở rộng sản xuất tạo nhiều việc làm tốt, thu nhập khá và ổn định luôn gắn liền với năng suất ngày càng cao. Ở mỗi mức tiền công sẽ thu hút nhiều lao động sẽ tăng lên và khoảng thời gian thất nghiệp cũng sẽ

     

    giảm xuống.

    Phân tích một cách sâu sắc các nguy ên nhân sâu xa dẫn đến tình trạnh thất nghiệp bao gồm cả những chuy ển biến tích cực sau Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là điều hết sức cần thiết cho việc đề ra những chỉ đạo thực hiện giải quyết việc làm đầy đủ có hiệu quả.

    Thứ nhât: ngay từ đầu, trong cả nước, một thời kỳ khá dài sau đó chúng ta chưa thấy được (đúng hơn là không muốn thấy) vai trò ý nghĩa của các thành phần kinh tế đối với phát triển lực lượng sản xuất, mở mang việc làm cho nhân dân, nên đã hạn chế hết mức gần như xoá bỏ các thành phần kinh tế cũ, phát triển quá nhanh và có p hần ồ ạt thành phần quốc doanh và tập thể. Đến năm 1975, sau khi giải phóng niềm nam thống nhất đất nước với hai bài học kinh nghiệm ở miền Bắc, chúng ta mong muốn trong tương lai p hát triển mạnh mẽ nền kinh tế quốc dân.

    Thứ hai: Chậm “mở cửa” trong phát triển kinh tế đối ngoại cũng như trong mở rộng giao lưu, thông tin quốc tế nói chung, là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng rõ rệt đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và phát triển việc làm.

    Nước ta là nước nông nghiệp, chậm phát triển, thuộc vào những nước nghèo nhất thế giới khi đặt ra chương trình mở mang, phát triển việc làm là thiếu vốn, thiếu kỹ thuật và máy móc trang thiết bị, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Trong khi đó một số nước p hát triển lại thiếu sức lao động, thiếu thị trường đầu tư. Vì vậy, “mở cửa” p hát triển kinh tế đối ngoại là có lợi cho cả hai bên.

    Thứ ba: nguyên nhân ảnh hưởng lớn đã là những sai lầm, thiếu sót trong việc xác định cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế bao gồm ba bộ nhận lớn:

    • Cơ cấu thành phần kinh tế

     

    • Cơ cấu ngành kinh tế

     

    • Cơ cấu ………. kinh tế

    Ngoài ảnh hưởng của cơ cấu thành phần kinh tế đến giải quyết việc làm như đã nói ở trên, ảnh hưởng của cơ cấu ngành kinh tế cũng rất lớn.

    Trong Đại hội Đảng lần thứ VI xác định rõ trong những năm 1986 – 1991, những nạn còn lại trong thời kỳ quá độ, phải tập trung vốn và việc thực hiện mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hành xuất khẩu. Sự điều chỉnh, sắp xếp lại cơ cấu các ngành kinh tế đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sử dụng lao động và giải quy ết việc làm. Bắt đầu từ năm 1986 trở đi, các quan hệ tỷ lệ phân bổ lao động giữa các ngành có chuyển biến theo xu hướng tiến bộ, tình trạng công ăn việc làm được cải thiện, thất nghiệp giảm đi một bước đáng kể.

    Thứ tư: duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cũng là nguy ên nhân lớn ảnh hưởng nặng nề, đến hiệu quả sử dụng nguồn lao động và kết quả giải quyết công ăn việc làm. Trên tầm vĩ mô chúng ta còn thiếu một hệ thống tương đối các luật lệ chính sách nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và mở mang phát triển việc làm. Ở tầm vĩ mô cơ chế cũ có p hần nặng nề hơn. Hàng loạt các quy chế, chính sách, các hình thức tổ chức, các chức danh tiêu chuẩn, các biện p háp khuyến khích vật chất và tinh thần, các chế độ, các nề nếp lao động, sản xuất, học tập nghiên cứu khoa học nhằm đề cao tinh thần tận tụy, trách nhiệm với công việc, khuy ến khích mạnh mẽ tính chủ động

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 14

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    tích cực, sáng tạo của con người đang còn thiếu. Tình trạng tổ chức còn chồng chéo kém hiệu quả, tình trạng trả công, phân p hối bình quân bất hợp lý còn phổ biến làm cho hiệu suất làm việc kém.

    Trên đây là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến vấn đề tăng giảm thất nghiệp . Trên cơ sở đại hội Đảng làm thứ VI và những chỉ thị nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ gian gần đây, chung ta hãy đi vào nghiên cứu con đường và phương hướng sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động tăng thêm hàng năm.

    2.3       Tác hại của thất nghiệp:

    Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn tác động và gây nhiều vấn đề bất cập như: Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tỷ lệ lam p hát ngày càng cao, tỷ lệ phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, … Thất nghiệp ở mức cao dẫn đến sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm xuống kéo theo tổng giá trị sản phẩm quốc dân cũng giảm. Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp gây ra ở nước ta là rất lớn nó hơn hẳn các nhân tố vĩ mô khác. Chính vì những điều này đặt đất nước ta trước thực trạng: Thất nghiệp luôn là nổi lo cho toàn xã hội, quan trọng hơn là làm cho kinh tế nước ta giảm đi. Bên cạnh đó thất nghiệp còn ảnh hưởng tới tâm lý người lao động và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    Bàn về đường cong Phillips và Định luật O’Kull

    Các đồ thị theo các hình sau, số liệu mới nhất là 9 tháng đầu năm 2012

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 15

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 16

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 17

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Chương 3 –       GIẢI PHÁP

    3.1       Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết:

    Đối với loại thất nghiệp tự nguyện:

    Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức lương thu hút được nhiều lao động hơn.

    Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động.

    Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:

    Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.

    Thất nghiệp chu kỳ thường là một thảm hoạ đối với nền kinh tế vì nó xảy ra trên quy mô lớn. Tổng cầu và sản lượng suy giảm, đời sống người lao động bị thất nghiệp gắp nhiều khó khăn. Gánh nặng này thường dồn vào những người nghèo, bất công xã trong hội cũng tăng lên. Các chính sách tài chính, tiền tệ mở rộng nhằm tăng tổng cầu và sản lượng sẽ dẫn đến phục hội nền kinh tế tăng số việc làm thì mới có thể giảm bớt được tỷ lệ thất nghiệp chu kỳ.

    3.2       Việc đầu tư hay nói đúng hơn là kích cầu

    Việc “bơm vốn” và áp dụng các chính sách ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản xuất, từ đó tạo ra việc làm. Bên cạnh đó, kích cầu bằng việc đầu tư vào phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đang được đánh giá là giải p háp tối ưu hơn cả.

    • Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện kích cầu các ngành thép, vật liệu xây dựng, giấy, hóa chất; …; sản xuất hàng tiêu dùng nội địa; ưu tiên hỗ trợ các ngành

    hàng sản xuất có lợi thế thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng nhiều lao động;

    • Tăng đầu tư, hỗ trợ phát triển khu vực nông nghiệp – nông thôn: nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp; hỗ trợ đầu vào, p hân phối và chế biến cho các mặt hàng nông sản, thủy sản; tìm kiếm thị trường tiêu thụ, hỗ trợ vốn vay cho các làng nghề, xã nghề tiểu thủ công nghiệp,Đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp phù hợp với từng vùng, tạo lực kéo cho các ngành khác phát triển cũng là giảm tình trạng thất nghiệp .
    • Ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn, tạo nhiều việc làm; hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế, hoãn thuế, khoanh nợ song song với cam kết phải duy trì việc làm cho số lao động hiện tại và thu hút thêm lao động nếu có thể; hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp gặp khó khăn để duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm cho người lao động.
    • Phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp các dự án kinh tế. giúp tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho công nhân.
    Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế nông thôn.
    Mở  rộng và  tích  cực  tham  gia  vào  thị  trường  xuất  khẩu  lao  động.
    Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường lao động trên thế giới để từ đó đưa ra các
    chính sách p hù hợp cho xuất khẩu lao động sang các nước.
       
       
    Nhóm 7 Page 18

     

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    3.3       Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc

    Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội

    Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động sớm tìm được việc làm mới thong qua trung tâm tư vấn việc làm.

    Trung tâm dịch vụ việc làm là một đơn vị sự nghiệp hoạt động vì mục tiêu xã hội. Nó là chiếc cầu rất quan trọng và không thể thiếu giữa cung và cầu lao động. Chức năng cơ bản của nó là tư vấn cung cấp thong tin cho người lao động và sử dụng lao động, học nghề việc làm về những vấn để có lien quan đến tuyển dụng và sử dụng lao động, giới thiệu việc làm cung ứng lao động dạy nghề gắn vs việc làm tổ chức sảng xuất ở quy mô thích hợp để tận dụng năng lực thiết bị thực hành. Nó còn là cách nhà nước thong qua cung và cầu việc làm lao động. chình vì lẽ đó, cần phát triển năng cao chất lượng hoạt đông j của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm.

    Các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm vụ nâng cao tay nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề, tranh thủ lúc không có việc. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác dạy nghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng. Trong bối cảnh lực lượng lao động mất việc làm tăng nhanh như hiện nay, hằng năm chúng ta phải giải quyết tối thiểu cho khoảng 1,2 triệu việc làm mới, khoảng trên 1 triệu lao động chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị thì sức ép giải quyết việc làm càng trở nên nặng nề hơn.

    Bổ sung nguồn vốn vay cho Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm (dự kiến 500 tỷ đồng) để hỗ trợ tạo việc làm cho lao động bị mất việc làm và đẩy mạnh tạo việc làm trong khu vực phi chính thức; Những người lao động mất việc do suy thoái kinh tế sẽ được vay vốn để họ có thu nhập giải quy ết khó khăn trước mắt. Ngoài ra, ở một số tình, thành phố con có thêm quỹ trợ vốn cho lao động nghèo. Quỹ này cũng cho người lao động mất việc làm vay vốn để tạo công việc. Điều này đã mang lại hiệu quả tương đối tốt, giúp người lao động ổn định cuộc sống.

    Tăng cường thu thập thông tin liên quan đến lao động bị mất việc làm, thiếu việc làm, thu thập thông tin thị trường lao động, kết nối cung cầu lao động thông qua hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm, các phương tiện thông tin đại chúng. Thông tin tuy ên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và người dân về các chính sách nhằm hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng đối với việc làm.

    Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội:

    Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. M ục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một p hần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất. Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta có hiệu lực từ 01/01/2009 nhưng theo thống kê của ILO, Việt Nam là nước thứ 2 ở Đông Nam Á thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Các nội dung của chính sách bảo hiểm tht nghiệp ở nước ta được quy định trong Luật BHXH được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khoá XI, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ và được Bộ Lao động – Thương binh và Xă hội hướng dẫn tại Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22/01/2009. Từ 1-1- 2009, lao động sẽ được hỗ trợ 60%

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 19

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    m ức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trướ c khi bị m ất việc làm .

    Hệ thống các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm, ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hoá, y tế và giáo dục.

    Hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia Đặc biệt, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo,… Các chính sách trợ giúp xã hội, cả thường xuy ên và đột xuất được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng.

    Thông qua các chương trình kế hoạch xã hội, thông qua quỹ quốc gia về giải quyết việc làm cho người dân.

    Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực trong tổ chức thực hiện, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    3.4       Hướng nghiệp

    Tình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học đang diễn ra. Để khắc p hục tình trạng này thì việc làm tốt công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức cần thiết.

    Một là, gia đình nên sớm có định hướng nghề nghiệp cho các em và quan tâm đến việc chọn nghề của các em sau khi đã tốt nghiệp PTTH.

    Hai là, nhà trường nên có chương trình, kế hoạch và phân công giáo viên phụ trách công tác hướng nghiệp.

    Từ đó mở rộng các trường cao đẳng nghề trung cấp nghề nhưng cần tập trung định hướng. Cần tăng cường hơn nữa các hoạt động tuyển truyền các thong tin việc làm nhu cầu lao động của doanh nghiệp, như các hội chợ việc làm, các diễn đàn về lao động… vì hiện nai mặc dù đã có những chương trik này nhưng hiện còn quá ít và mỏng chưa đáp ứng được yêu cầu.

    Nhà nước cần đưa ra các chính sách nhằm khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm, tự lập nghiệp.

    Cần xây dựng các chương trình dạy nghề, các chương trình giảm nghèo và các chương trình khác.

    Cần tập trung phát triển nghề ngắn hạn và phổ cập nghề cho lao động nông thôn, đống bào dân tộc thiểu số, lao động vùng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

    3.5       Những biện pháp khác

    Đẩy mạnh thực hiện các nhóm giải pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có tạo việc làm;

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 20

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

    Trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp. Họ cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội, quỹ lương hưu v.v… mà mục đích không gì khác ngoài việc giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí nhân lực liên quan mà không cần phải sa thải nhân công.

    Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn.

    Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp chấp nhận m ột m ức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.

    Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình trạng thất nghiệp ở trong nước mà còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia.

    Nhà nước cần tạo điêu kiện gìn giữ những ngành nghề truyền thống, cải tiến công nghệ sản xuất, khuyến khích thanh niên ở lại làm giàu ngay trên quê hương mình nơi có tiềm năng nhưng chưa được sử dụng

    Hạn chế tăng dân số.

    Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến p hát triển kinh tế xã hội. đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp . Do đó, cần phải có những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp tục lan rộng.

    3.6       Những công cụ và giải pháp lựa chọn

    Bảng 2. giới thiệu những công cụ, giải pháp được lựa chọn để hạn chế thất nghiệp . Đó là những công cụ cụ thể cho từng loại hình thất nghiệp, chúng góp p hần làm giảm và thậm chí ngăn ngừa từng loại hình thất nghiệp xẩy ra.

    Bảng 2. Những công cụ, giải pháp được sử dụng để hạn chế thất nghiệp

      Thất Thất Thất
    Nguyên nhân thất nghiệp nghiệp nghiệp nghiệp
      tạm thời cấu   nhu cầu
    1. Những công cụ thuộc chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động
    * Định hướng nghề nghiệp ++ ++  
    * Tư vấn nghề nghiệp ++ ++  
    * Giới thiệu việc làm, tổ chức sàn giao dịch việc làm +++    
    * Phát triển thông tin thị trường lao động ++ +++  
    *  Kéo dài thời gian học nghề và nâng cao trình độ + +++  
    đào tạo trung bình      
    * Đào tạo và đào tạo lại     +++
    * Đào tạo và nâng cao năng lực hệ thống quản lý lao ++ +++ ++
               
               
    Nhóm 7         Page 21

    Tiểu luận kinh tế Vĩ Mô

            Thất Thất Thất  
        Nguyên nhân thất nghiệp nghiệp nghiệp cơ nghiệp  
            tạm thời cấu nhu cầu  
    động – việc làm        
    * Hỗ trợ DN trong việc tạo điều kiện cho người lao + +++ +  
    động học tập suốt đời        
    *  Sử dụng Quỹ Giải quyết việc làm hỗ trợ các DN   +++    
    tuyển dụng lao động là người yếu thế.        
    * Cho vay đối với những lao động phải nghỉ việc do + ++ ++  
    những nguyên nhân từ phía DN        
    * Cho những người thất nghiệp, người thiếu việc làm   +++ ++  
    vay vốn để tự tạo việc làm        
    * Cho DN vay ưu đãi để mở rộng sản xuất     ++ +
                  +
    * Đẩy mạnh xuất khẩu lao động + +++    
    *  Lồng ghép các chương trình mục tiêu về việc làm + +++ +++  
    với các chương trình, dự án khác.        
    * Tổ chức việc làm can thiệp   + +++  
    * Tổ chức việc làm công cộng   + +++  
    *  Hoàn thiện luật pháp,  cơ  chế,  chính  sách  về lao + +++ +++  
    động – việc làm        
    2. Những công cụ và giải pháp khác        
    * Quy hoạch phát triển vùng kinh tế, ngành kinh tế   +++ +++  
    * Cải cách DNNN   ++ +++  
    * Ưu tiên khu vực DN vừa và nhỏ     +++  
    * Chính   sách đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng + ++ +++  
    miền núi, biên giới, hải đảo, vùng nông thôn nghèo.        
    * Chế độ nghỉ hưu linh hoạt     ++  
    * Nghĩa vụ phục vụ quân đội, công an   +++    
    * Chính sách tài chính và tiền tệ     +++  
    * Chính sách tiền lương tối thiểu   +++ +++  
    * Hội nhập kinh tế quốc tế   +++ +++  

    Những công cụ và giải pháp đã nêu được tập hợp trong chương trình việc làm quốc gia gồm những chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động cùng những chính sách khác nhằm nâng cao chất lượng cung, điều chỉnh cung lao động phù hợp với cầu lao động, đẩy mạnh kết nối cung – cầu và trực tiếp làm tăng quy mô việc làm hay gián tiếp tạo ra việc làm mới.

    Tuy nhiên, việc đánh giá những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và lựa chọn công cụ đã nêu mới mang tính nghiên cứu, chúng cần được kiểm chứng và đánh giá trong thực tế kinh tế – xã hội. /.

    Nhóm 7                                                                                                                                                                   Page 22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-MARKETING-S%E1%BA%A2N-PH%E1%BA%A8M-TR%C3%80-TH%E1%BA%A2O-M%E1%BB%98C-DR.THANH_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

    Trường Đại Học Thuỷ Lợi

    Bộ môn: Marketing

               

    BÀI TIỂU LUẬN: MARKETING SẢN PHẨM TRÀ THẢO MỘC DR.THANH

     

                                                    

     

    Lời mở đầu

    Lĩnh vực Công nghệ cao, Việt Nam vẫn còn quá nhỏ bé. Nếu muốn xây dựng được những thương hiệu về lĩnh vực này Việt Nam phải cần một thời gian rất dài. Tuy nhiên, việc xây dựng Thương hiệu mang tầm Quốc tế các doanh nghiệp không phải cứ tạo ra những sản phẩm cỡ như Sony, Samsung, Nokia, Google…thì mới chứng tỏ được thương hiệu Việt. Thay vào đó, các doanh nghiệp có thể tập trung khai thác những ngành hàng mình có thế mạnh. Chẳng hạn như nông sản, thực phẩm, đồ uống…cũng có thể tạo ra những thương hiệu toàn cầu. Và hành trình xây dựng thương hiệu toàn cầu vẫn đang được các doanh nghiệp nỗ lực từng ngày, trong đó Tân Hiệp Phát với sản phẩm chủ lực trà thảo mộc Dr. Thanh là một ví dụ. Nếu hỏi bất kỳ một người dân nào tại TP.HCM và khu vực lân cận xem họ đã từng uống, nghe đến, từng biết trà thảo mộc Dr.Thanh chưa thì chắc chắn câu trả lời hầu như là “Có”. Vậy điều gì đã khiến Tân Hiệp Phát đầu tư mọi nguồn lực, dồn toàn bộ sức lực trí tuệ vào chiến dịch quảng bá loại thức uống này? Câu trả lời là “khát vọng  đưa Dr.Thanh trở thành một thương hiệu Quốc gia”. Khởi đầu từ một cở sở sản xuất bia với thương hiệu Bia Bến Thành chuyên phục vụ người có thu nhập trung bình thấp, ngày nay Tân Hiệp Phát đang sở hữu hàng loạt sản phẩm đa dạng từ nước tăng lực Number One, trà xanh Không độ, nước giải nhiệt, nước hoa quả ép… Sản phẩm đánh dấu sự thành công vượt trội nhất của Tân Hiệp Phát trên thị trường là khi họ tung ra trà Dr.thanh với câu slogan không thể hay hơn “Thanh nhiệt cơ thể”. Lý do về việc đặt tên gọi Dr.Thanh cũng khá lý thú, vì lý giải thứ nhất “Thanh” ở đây nghĩa là thanh nhiệt, thanh khiết đúng như câu slogan “thanh lọc cơ thể”; thứ 2 là tên gọi trùng với ông chủ đó là Tổng giám đốc Trần Quý Thanh. Dù lời giải thích thế nào đi nữa thì vẫn là một tên gọi khá hay và gây ra sự tò mò cho người tiêu dùng. Có thể ông chủ trà Dr.Thanh muốn tạo ra một sản phẩm mang tên mình để đi chinh chiến khắp năm châu, như vậy con cháu đời sau sẽ luôn nhớ mãi về một nhà sáng lập giàu khát vọng với sản phẩm đáng kính Dr.Thanh. Vào Thời điểm cuối năm 2008 mà cụ thể là ngày 22/12/2008 đẹp trời, vào lúc mà sức mua sắm của người dân được đẩy lên cao nhất thì Dr.Thanh chính thức tung ra thị trường Việt Nam. Tầm bao phủ của Dr.Thanh đã bào trùm lên toàn bộ các kênh truyền thông như Truyền hình TVC, Radio, Báo chí, Internet…những chiến dịch quảng cáo sáng tạo này đã gây ra sự tò mò về một sản phẩm có thể chữa được bệnh “nóng trong người”. Ngay đến bây giờ tần suất quảng cáo của Tân Hiệp Phát vẫn khiến cho nhiều người tiêu dùng, các doanh nghiệp nội ngoại vẫn phải choáng ngợp vì doanh nghiệp này “rất chịu chơi”. Bằng chứng là năm 2008 họ là một trong 5 công ty có chi phí quảng cáo lớn nhất Việt Nam; không đâu là không có quảng cáo của Dr.Thanh hiện diện. Do vậy nhóm chúng tôi đã chọn sản phẩm Dr.thanh  làm chuyên đề thảo luận. Trong chuyên đề có gì thiếu sót mong các bạn đóng góp thêm vào chuyên đề chúng tôi thành công hơn.

    Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

     

     

     

     

    I.Môi trường kinh doanh.

     

    Là những nhân tố và lực lượng bên ngoài tác động đến khả năng quản lý và tính hiệu quả, hợp lý của các hoạt động marketing trong việc nhận dạng, xây dựng và duy trì các mối quan hệ với khách hàng mục tiêu

    1.Môi trường vĩ mô.

    Bao gồm các tác nhân xã hội lớn có những tác động ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp

    1.1: Nhân khẩu.

    Nhân  khẩu là yếu tố đầu tiên quan trọng mà bất kỳ nhà quản trị marketing cũng phải quan tâm vì nhân khẩu tạo ra khách hàng ,  cho doanh nghiệp. Tiếp cận nhân khẩu- dân số theo những góc độ khác nhau đều có thể trở thành những tham số ảnh hưởng đến quyết định marketing của doanh nghiệp.Bởi vì , các tham số khác nhau của nhân khẩu đều có thể tạo ra sự khác biệt không chỉ về quy mô mà cả về nhu cầu.

    Quy mô và tốc độ dân số: Là một  khía cạnh quan trọng tới quy mô và nhu cầu và là một lợi thế về tiêu dùng sản phẩm. Mặc dù tốc độ tăng dân số đã giảm xuống trong những năm gần đây, nhưng về quy mô tuyệt đối hàng năm vẫn còn tăng trên dưới 1 triệu người, bằng với quy mô dân số trung bình của một tỉnh.
    Với quy mô gần 86,2 triệu người, Việt Nam là nước đông dân thứ 12 trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Nhật Bản, Mexico, Philippines.
    Mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp trên 5 lần và đứng thứ 41 trong 208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp hơn 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á, cao gấp đôi và đứng thứ 16/50 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á.

    Việt Nam có tỷ lệ tăng tự nhiên hiện ở mức 1,2%, cao thứ 8 ở Đông Nam Á, cao thứ 32 ở châu Á và đứng thứ 114 trên thế giới. Đó là kết quả tích cực của công tác kế hoạch hóa dân số từ khá sớm. Dân số đông, lại tăng lớn, nên nguồn lao động vốn đã dồi dào, tạo áp lực cho việc giải quyết công ăn việc làm hàng năm; trong điều kiện quy mô kinh tế còn thấp thì năng suất lao động thấp (bình quân 1 năm lao động chỉ đạt khoảng 1.959 USD, trong đó của nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản chỉ có 821 USD, riêng nông nghiệp còn thấp hơn nữa).
    Lợi thế giá lao động rẻ đang giảm dần, mặt khác xét về thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán lại thấp, dễ phát sinh đình công, cũng như bị kiện bán phá giá.

    Cơ cấu dân số có tác động rất lớn đến cơ cấu nhu cầu của các hang hóa dịch vụ cụ thế và đến đặc tính nhu cầu. những tham số điển hình của cơ cấu dân số thường được các nhà marketing, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, quan tâm là: giới tính và tuổi tác. Tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam nếu năm 1930 là 7,4%, đến năm 1951 là 10,0%, từ năm 1976 đã vượt qua mốc 20% và đến năm 2008 mới đạt 27,9%, đứng thứ 8 và thấp hơn tỷ lệ 39% ở khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 41 và thấp hơn tỷ lệ 41% ở châu Á và đứng thứ 177 và thấp hơn tỷ lệ 49% trên thế giới. Tỷ lệ nữ trong dân số tuy vẫn cao hơn tỷ lệ nam nhưng đã giảm dần, từ 52% so với 48% (năm 1976) xuống còn 50,9% so với 49,1% (năm 2008) và chủ yếu ở lứa tuổi cao, còn ở lứa tuổi trẻ (nhất là từ 20 trở xuống) tỷ lệ nữ ít hơn tỷ lệ nam, tín hiệu mất cân bằng giới tính giống như hiện nay ở Trung Quốc.

    Tốc độ đô thị hóa:  Tốc độ và trào lưu muốn trở thành dân cư đô thị và miễn cưỡng trở thành dân cư đô thị của Việt Nam trong những năm gần đây đang trở thành tốc độ kinh doanh phát đạt cho nhiều ngành.

    1.2: Kinh tế.

    Nhu cầu của khách hàng phụ thuộc rất lớn vào khả năng mua sắm của họ trên thị trường hàng hàng hóa tiêu dùng, khả năng mua sắm phụ thuộc rất lớn vào thu nhập của dân cư, mức giá…Trên thị trường hàng tư liệu sản xuất, khả năng mua sắm phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư và khả năng vay nợ. Mà thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay do các nguồn sau đem lại: tiền lương, thu nhập ngoài lương, thu nhập từ lãi suất tiết kiệm,thu nhập từ bán sản phẩm.

    Sự chênh lệch về sức mua giữa các tầng lớp dân cư là rất lớn, sự chênh lệch này còn diễn ra giữa thành thị và nông thôn , đồng bằng và miền núi, vùng sâu vùng xa. Mức thu nhập của thành phố hiện nay chênh lệch so với nông thôn từ 5 -7 lần, trong khi 80% dân số Việt Nam là nông thôn. Trình độ tiêu dùng của bộ phận dân cư này vẫn chủ yếu là các hàng hóa đơn giản, phổ thông, rẻ tiền. Đó cũng là khía cạnh mà các nhà quản trị marketing phải quan tâm khi muốn tham gia vào đoạn thị trường này.

    1.3: Tự nhiên.

    Dòng 1: Nguyên liệu chính dùng để sản xuất trà Dr.Thanh gồm các loại          thảo mộc như: kim ngân hoa, hoa cúc, la hán quả, hạ khô thảo, cam thảo, đản hoa, hoa mộc miên, bung lai, tiên thảo. (hiện dòng thứ 2 trên slide)6/9 loại thảo mộc trên có ở Việt Nam.

    Ví dụ như: Kim ngân hoa co nhiều ở nước ta, một số công ty dược ở nước ta cũng đã trồng với số lượng lớn để làm nguyên liệu thuốc(như: công ty Đông dược Bảo Long, công ty xuất nhập khẩu y tế II – Vimedimex II). Hạ khô thảo có ở Sapa, Tam Đảo, Hà Giang. Cam thảo, Hoa mộc miên – chính là hoa Gạo – có nhiều ở các tỉnh phía bắc nước ta. Hoa Cúc và Tiên thảo có tại nhiều nơi trên nước ta. Chỉ còn lại 3 loại là: Đản hoa, Bung lai và La hán quả là phải nhập. Việc phải tạm thời nhập một số thảo dược có thể là do trong nước trước nay việc sử dụng chỉ dừng lại ở mức nhỏ lẻ, chưa có nhu cầu tiêu dùng tập trung với số lượng lớn(hiện dòng thứ 3 trên slide).Việc du nhập các loại thảo mộc đang nhập vào trồng tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi vì nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền bắc có 4 mùa rõ rệt, miền nam có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, ngoài ra nước ta còn có một số tiểu vùng khí hậu ôn đới như Đà Lạt, Sapa… Điệu kiện khí hậu trên phù hợp với rất nhiều loại thảo mộc. Ngoài ra, khí hậu nóng ẩm đặc trưng của nước ta cũng có ảnh hưởng tích cực đến việt tiêu thụ sản phẩm.

    Với thành phần chứa 9 loại thảo mộc cung đình, trong đó các loại thảo mộc vừa bổ sung, vừa tương hỗ cho nhau, tính hàn của từng loại thảo mộc càng được tôn lên,  khiến trà thảo mộc giúp loại bỏ các tác nhân gây nhiệt nóng trong người. Có thể kể tới sương sáo giúp thanh nhiệt nhanh chóng; Hải tảo có tính hàn, lợi thủy, giúp tiết nhiệt; Cúc Hoa Vàng có khả năng thanh nhiệt giải độc cao; Kim Ngân Hoa có vị ngọt đắng, tính mát, cũng rất hiệu quả trong việc thanh nhiệt, giải độc. Thực tế, hiện nay chúng ta đã có nhiều loại nước uống được gọi là nước mát, tính hàn, giải nhiệt. Nhiều phần trong số đó là các loại nước vẫn được lưu truyền trong dân gian như nước ngô, nước sâm, các loại lá trà mát… Tuy nhiên, điều khiến các loại nước này được ưa chuộng không chỉ vì tính năng giải nhiệt của nó, mà còn bởi nguyên liệu dễ tìm, đơn giản và không quá đắt tiền.

    Để chăm sóc sức khỏe ngày một tốt hơn, việc tìm một sản phẩm phù hợp, đủ tin cậy để sử dụng vẫn là vấn đề khó. Hơn nữa, nếu có một loại nước giải khát thanh lọc cuộc sống được phối chế từ nhiều loại thảo mộc khác nhau, thì cũng không thể là loại nước mà người người, nhà nhà tự mình nấu được.

    Khi mà nhiều người yêu thích, nhiều người muốn giải nhiệt cơ thể thì việc đáp ứng ngay loại không đường đã mở rộng cơ hội sản phẩm đến với nhiều đói tượng người tiêu dùng hơn.

    1.4: Công nghệ.

    Tập đoàn THP là đơn vị đầu tiên trong ngành bia- nước giải khát đạt chứng chỉ hệ thông quản lý chất lượng ISO 9001-2000.

    Tháng 10 năm 2006 tập đoàn THP vinh dự đòn nhận hai chứng nhận thích hợp ISO và HACCP đầy đủ  trong lĩnh vực thực phẩm bao gồm:

    • Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000
    • Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2004 và hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP

    Hai chứng nhận trên do tổ chức chuyên ngành uy tín quốc tế Det Norske Veritas giá sát và chứng nhận.

    Năm nay, giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp duy nhất là tập đoàn Tân Hiệp Phát – đơn vị có những sang tạo, ứng dụng hệ thống sở hữu trí tuệ trong chiến lược sản xuất và phát triển thương hiệu.Tân Hiệp Phát sở hữu nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như “Number Oen”, “Trà xanh không độ”, “ Trà thảo mộc Dr.thanh”.

    Trà Dr.thanh có sự kế thừa trong khâu thiết kế bao bì, chai nhựa PET, dây chuyền sản xuất và kênh phân phối từ các sản phẩm khác của THP mà điển hình là trà xanh 0 Độ .Trà dr Thanh được đóng chai trong những điều kiện sản xuất đặc biệt để giữ lại các chất bổ dưỡng, có lợi cho cơ thể. Chai PET để đựng trà xanh chịu được nhiệt độ cao vì phải chiết rót khi còn nóng. Ngay thời điểm ban đầu, Tân Hiệp Phát đã đầu tư riêng cho mình dây chuyền sản xuất chai PET này.

    1.5: Môi trường.

                Nhánh văn hóa căn cứ vào các yếu tố cơ bản như dân tộc, vùng địa lí, tuổi tác, tôn giáo…Văn hóa có ảnh hưởng đến người tiêu dùng nhưng  nhánh văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến sở thích, cách lựa chọn, mua sắm, đánh giá sản phẩm của người tiêu dùng

    Ví dụ: văn hóa  ba miền ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng, người miền Bắc có thói quen uống trà, hút thuốc lào như tiêu khiển trong ngày tại các cơ quan với bạn bè.Người miền Trung kín đáo hơn, họ không thích ăn uống ngoài quán vì: văn hóa tiết kiệm thắm sâu vào hành vi tiêu dùng mang nậng tư tưởng phong kiến.Người miền Nam: lại rất thoải mái, chịu ảnh hưởng sâu sắc của người phương tây.

    Giai cấp xã hội, một xã hội thường có nhiều giai tầng, các giai tầng có thứ bậc khác nhau điều đó làm ảnh hưởng đến quan điểm, niềm tin giá trị và hành vi của thanh niên trong các giai tầng kể cả hành vi người tiêu dùng.

    2.Môi trường vi mô.

       2.1:Môi trường công ty.

    Tiền than của  công ty là nhà máy bia nước giải khát Bến Thành, thành lập những năm 90

    Sản phẩm nước tăng lực Number One, bia Laser, Bến Thành, bia Gold, coca nuber one trà xanh không độ và một số sản phẩm khác như Crem Sooda, Number One, nước tinh khiết Number One, sữa Đậu nành Number One, Trà thảo mộc Dr Thanh.

    Lễ hội Bến Thành là một hoạt động truyền thống của công ty Tân Hiệp Phát đước tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 10. Tân Hiệp Phát đạt doanh số gần 1200 tỷ đồng / năm.

      2.2:Trung gian marketing.

    Ảnh hưởng đến năng lực truyền thông nghiên cứu và phân phối. Tân Hiệp Phát có hệ thống nhà phân phối(NPP) rộng khắp cả nước với 268 NPP cấp 1.

    Một sự lựa chọn đối tác kỹ càng và có chọn lọc Tân Hiệp Phát đã đầu tư ngay từ đầu với 2 tên tuổi lớn là:LBC( phụ trách Strategy design) và O&M(Ogylvi & math – phụ trách communication)

      2.3: Khách hàng.

    Phù hợp với mọi lứa tuổi thanh lọc cơ thể không lo bị nóng “với 9 loại thảo mộc cung đình”. Đây khẩu hiệu điểm đánh vào tâm lý người dân Việt vốn sống ở khí hậu nhiệt đới nóng nực muốn chăm lo tới sức khỏe với phương pháp tự nhiên và dễ dàng. THP đã đưa vào thị trường một loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu làm mát cơ thể phù hợp mọi lứa tuổi:

    Người lớn tuổi: Uống trà chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, nhất là những người lớn tuổi thích uống một cốc chè xanh cho mát người, sau khi THP nhận thấy sự thay đổi trong phong cách sống ngày càng mang tính di động và nhu cầu ngày càng lớn hơn đối với các sản phẩm thức uống có lợi cho sức khỏe, THP đã tung ra thị trường thức uống nhanh có lợi cho sức khoẻ là trà dr thanh, đã đánh trúng đựơc nhu cầu của những ngừơi lớn tuổi, hợp với văn hoá của ngừơi việt.

    Thanh niên: Thanh niên ngày nay thường bận rộn với công việc và thường tham gia những tiệc tùng, thường xuyên ăn những thức ăn nóng và uống nhiều rượu bia. Do đó bệnh về nhiệt tăng ngày càng nhiều, tuy nhiên lại không có nhiều thời gian để chăm sóc sức khoẻ bằng cách nấuu những món ăn thức uống hạ quả, thì việc lựa chọn một chai nước uống nhanh như dr thanh la một sự lựa chọn hoàn hảo. Đây là đối tựong

    Trẻ em: Trẻ em chưa biết cách chăm lo cho sức khỏe, chưa biết cách chọn thức ăn đồ ưống có lợi cho sức khoẻ. Bằng phương tiện quảng cáo mạnh mẽ, THP đã không bỏ qua cả đối tượng chưa biết sức khoẻ cần gì này, với quảng cáo hoạt hình có hình tượng con trâu, con lân đã đánh vào tâm lý thích xem phim hoạt hình của trẻ em, do đó đã làm in sâu hình ảnh doctor thanh trong đầu nên khi ra ngoài cùng bạn bè hay bố mẹ thì cũng sẽ chọn nước giải khát là Dr Thanh.

    Hơn nữa, dưới sự chăm sóc của các bậc phụ huynh thì để đảm bảo được sức khoẻ cho con em mình thì cân nhắc các loại nước uống có lợi cho sức khoẻ thì các bậc phụ huynh cũng sẽ chọn trà Dr Thanh để giúp các cháu hạ nhiệt sau khi ăn những thức ăn bổ dưỡng. THP đã thu được lợi nhuận rất lớn khi nhắm vào khách hàng thuộc mọi lứa tuổi.

      2.4: Đối thủ cạnh tranh.

         2.4.1: Cạnh tranh về giá cả.

    Trà thảo mộc Dr Thanh có giá cao hơn xa so với các loại nước giải khát đóng chai khác. Tuy  nhiên, khách hàng chấp nhận sản phẩm này vì nó có lợi cho sức khỏe.

    Dr.Thanh giúp chúng ta nhận biết được chiến lược sản phẩm của THP đối với nhãn hiệu này chính là hớt váng chớp nhoáng, tức tung sản phẩm mới ra thị trường với giá cao và mức khuyến mại cao:

    * Tính giá cao để đảm bảo lãi gộp trên đơn vị sản phẩm ở mức cao nhất,  chi  nhiều cho việc khuyến mại nhằm thuyết phục thị trường về ích lợi sản phẩm ngay cả với giá cao.
    * Hoạt động khuyến mãi ở mức độ cao là nhằm tăng nhanh nhịp độ xâm nhập thị trường.

         2.4.2:Cạnh tranh về sản phẩm thay thế.

    Trà là chất liệu dùng đẻ chế biến thức uống phổ biến trên thế giới từ hàng nghìn năm nay, đặc biệt ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc…

    Uống trà được nâng lên thành nghệ thuật với những nghi thức đặc biệt và trang trọng. Nhịp sống hối hả hiện đại thúc đẩy ngành công nghiệp nước uống  phát triển mạnh mẽ. Trà xanh đóng chai cũng nằm trong dòng chảy này.

    Thị trường Việt Nam ở trên thế giới và trong khu vực, trà đóng chai phát triển mạnh mẽ từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Tất cả các thương hiệu lớn có mặt tại Việt Nam đều đã có sẵn sản phẩm trà xanh tại các thị trường Âu, Mỹ, Nhật, Hàn như: lipton, pepsi, coca co la, URC…Ở Việt Nam hiện nay khi nói đến trà đóng chai chúng ta phải kể đến các thương hiệu như trà thảo mộc Dr Thanh của Tân Hiệp Phát, C2 của URC, number one, Queen tea…

        2.4.3: Cạnh tranh về chủng loại.

    Với sản phẩm trà thảo mộc Dr thanh tập đoàn THP, đã tạo ra sự khác biệt so với các đối thu cạnh tranh bằng cách làm người dẫn đầu trong việc khai phá thị trường nước giải khát không ga có nguồn gốc tự nhiên Dr thanh đang là sản phẩm tiên phong trên thị trường.

        2.4.4: Cạnh tranh về thương hiệu.

    Dùng ngay tên, hình ảnh của mình làm biểu tượng cho nhãn hiệu nước giải khát đã là cách độc đáo và  táo bạo. Bí quyết độc đáo của trà Dr thanh  là sản phẩm thức uống giải khát nhưng có lợi cho sức khỏe. Lợi ích của việc giải nhiệt và thanh lọc cơ thể từ 9 loại cá một ý nghĩa cực kỳ mạnh mẽ và độc đáo tác động đến tâm lý khiến người tiêu dùng chấp nhận. Sự xuất hiện của sản phẩm trà thảo mộc Dr.Thanh làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận. Vì thế, thành công của trà thảo mộc Dr.Thanh chính là sự kết hợp của nhiều giải pháp.

    Với chiến lược phát triển thương hiệu các sản phẩm của mình, sau 15 năm thành lập, Tập đoàn Tân Hiệp Phát từ một cơ sở sản xuất nhỏ đến nay đã lớn mạnh trên thị trường, có nhiều sản phẩm được người tiêu dùng biết tới, đó là bia Bến Thành, nước tăng lực Number One, Trà xanh không độ, trà Barley không độ và nay là trà thảo mộc Dr.Thanh

      2.5: Công chúng.

    Nhóm người đang và có khả năng quan tâm đến ảnh hưởng của một doanh nghiệp.Các nhóm công chúng bao gồm:

    – Giới tài chính: Có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nguồn vốn của công ty. Công chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu tư, các công ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông.

    – Truyền thông

    Với trà thảo mộc Dr. Thanh, truyền thông đã đóng một vai trò đặc biệt trong việc kích thích quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Nhờ mạnh dạn đầu tư vào kênh này, trà thảo mộc Dr. Thanh đã làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận, góp phần làm nên thành công của một thương hiệu ngay từ ngày đầu ra mắt.

    Mức độ gia tăng chi phí quảng cáo của THP Group từ một vài năm trước đã rất đáng kể. Năm rồi, THP Group nằm trong số 5 công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam. Năm 2009 THP sẽ còn tiếp tục tăng thêm nữa chi phí cho quảng cáo.

    THP đã có một kế hoạch quảng cáo tuyệt vời và một chiến dịch truyền thông 360°. Đến nay, thậm chí trẻ con cũng biết đến concept của Trà Thảo Mộc Dr.Thanh: “THANH LỌC CƠ THỂ, không lo bị nóng”. THP đã đầu tư kỹ càng và có chọn lọc ngay từ đầu với 2 tên tuổi lớn là: LBC ( phụ trách strategy design) và O&M (phụ trách communications).

    Tập trung vào chương trình xây dựng thương hiệu tại Khu Du Lịch Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương nhằm tối đa hóa sự hiện diện và dùng thử sản phẩm của Trà Thảo Mộc Dr. Thanh.

    Cộng đồng – tổ chức xã hội: Một trong những chương trình hành động truyền thống của Tân Hiệp Phát trong hơn 13 năm qua là gắn bó với các hoạt động thể thao, Tân Hiệp Phát là đơn vị đồng hành với nhiều chương trình, hoạt động thể dục thể thao trên cả nước như Cúp bóng đá vô địch quốc gia V-League, Cúp xe đạp truyền hình HTV, Cúp bóng đá quốc tế Number 1, dự án đưa người Việt Nam đầu tiên chinh phục đỉnh Everest hay gần đây nhất là việc tặng thưởng cho vận động viên đoạt Huy chương vàng tại SEA Games 24.Giải việt dã chào mừnng BTV-number. (31-12-2008 đến 1-1-2009)

    1. 1. http://www.vietnambranding.com/thong-tin/phong-su-thuong-hieu/7791/Tap-doan-Tan-Hiep-Phat-Chien-luoc-tao-su-khac-biet-

    2.http://www.vinasme.com.vn/nd5/detail/chan-dung/guong-mat-doanh-nhan/dr-thanh-2.3.http://kinhte.top1.vn/chien-luoc-marketing/2197-cac-chien-luoc-cua-dr-thanh.html. 4. http://saigontre.wordpress.com/2009/11/08/

    II. Mục Tiêu.

    • Lợi nhuận doanh nghiệp

    + Trong ngắn hạn đạt 20%-30% doanh thu.

    + Trong dài hạn đạt 40%-50% doanh thu.

    • Trong thời gian đầu doanh nghiệp tập trung vào việc thu hút khách hàng . Khai thác nguồn lực và và thu hút thêm nhiều khách hàng mới

    + Chọn đúng thời điểm : Trong khi nhiều doanh ngiệp cắt giảm quảng bá sản phẩm để hạ giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp THP lại làm ngược lại.

    + Về người tiêu dùng:  Cố gắng phát hiện ra các nhu cầu tiêu chuẩn của người tiêu dùng để có thể thương mại hoá nhu cầu này .

    + Khách hàng : Là đối tác cực kỳ quan trọng sẽ không có hoạt động marketing thành công nếu không xem xét đến tác động của các hoạt động đó trên khách hàng .

    + Mở rộng thị trường hoạt động  trong thời gian tới .

    + Xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp bằng uy tín và chất lượng .

    III . Chiến lược kinh doanh.

      3. 1. Trước hết khi nghiên cứu chiến lược tập trung, chúng ta nên tìm hiểu tập trung là gì ?

    Tập Trung là khi chúng ta làm việc với tất cả sự chú ý, quan tâm vào các vấn đề mang tính chất quan trọng có thể mang đến tác động lớn nhất hoặc lợi ích lớn nhất . Nghĩa là các nhà lãnh đạo marketing phải biết cái gì là ưu tiên quan trọng để có thể đạt mục tiêu. Nhà lãnh đạo marketing sẽ nhận ra rằng họ không thể làm được tất cả mọi thứ cho khách hàng và người tiêu dùng. Vì thế cần phải chọn ra cái gì  là quan trọng nhất để Tập Trung.

    3.1.1. Tại sao chúng ta cần Tập Trung ?

    Có 3 lý do chính :

    1. Nguồn lực thì có hạn trong khi có quá nhiều điều bạn muốn làm như tung thêm SKU và sản phẩm mới cùng một thời điểm.

    Lãnh đạo THP nhận ra rằng hoặc là phải chạy hết công suất giống như sản phẩm Trà Xanh Không Độ vào giữa năm ngoái hoặc là toàn thể tổ chức không đủ nguồn nhân lực để có thể đảm đương tất cả mọi việc. Trong thời kỳ bất ổn như hiện nay, chúng ta sẽ phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về nguồn lực. Chúng ta phải chọn lựa cái nào chúng ta có thể làm tốt.

    1. Trong lĩnh vực marketing, truyền thông và định vị nhãn hiệu sẽ bị yếu đi do sự thiếu tập trung. Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ không xây dựng được nhận dạng thương hiệu thật sự.

    Lãnh đạo THP có rất nhiều cuộc thảo luận để quyết định việc sẽ thu hẹp thị trường mục tiêu và khách hàng mục tiêu của các nhãn hiệu cụ thể để gia tăng tính hiệu quả.

    1. Việc triển khai sẽ tốt hơn khi chúng ta biết Tập Trung.

    Khi THP tung sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr.Thanh, đã có rất nhiều đề xuất và ý tưởng về việc thực hiện các hoạt động kích hoạt và nhận biết nhãn hiệu. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng là chỉ chọn những chương trình thiết yếu có thể gây hiệu ứng mạnh. THP đã tập trung vào các chương trình lớn để xây dựng được sự hiện diện hình ảnh sản phẩm và thương hiệu cũng như tạo sự thử nghiệm cho khách hàng nhiều hơn. Ví dụ như tập trung vào chương trình xây dựng thương hiệu tại Khu Du Lịch Đại Nam Văn Hiến tỉnh Bình Dương nhằm tối đa hóa sự hiện diện và dùng thử sản phẩm của Trà Thảo Mộc Dr. Thanh.

    Các  lĩnh vực chính mà THP tập trung vào để đạt được thành công:

    3.1.2. Về người tiêu dùng.

    Chúng ta cố gắng phát hiện ra các nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng để có thể thương mại hóa nhu cầu này.

    Sản phẩm Trà Xanh Không Độ chai PET uống liền là một ví dụ tuyệt vời về nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng đã được THP biến thành một cơ hội kinh doanh. Uống trà chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam. Bước kế tiếp, THP đã sản xuất sản phẩm Trà uống liền trong một chai PET tiện dụng sau khi THP nhận thấy sự thay đổi trong phong cách sống ngày càng mang tính di động và nhu cầu ngày càng lớn hơn đối với các sản phẩm thức uống có lợi cho sức khỏe.

    3.1.3. Về khách hàng.

    Khách hàng là đối tác cực kỳ quan trọng bởi vì họ trữ hàng hóa của chúng ta để bán. Sẽ không có các hoạt động marketing thành công nếu như chúng ta không xem xét đến tác động của các hoạt động đó trên khách hàng. Tại THP, công ty có một bộ phận tập trung toàn diện vào việc chăm sóc khách hàng. THP đối xử với tất cả các khách hàng của mình như các đối tác kinh doanh thật sự.

    3.1.4. Về truyền thông.

    THP đã đầu tư không ít vào truyền thông để quảng bá cho mọi người biết về hình ảnh và các lợi ích của nhãn hiệu. Điều này cực kỳ quan trọng. Năm ngoái, THP nằm trong số 5 công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam và THP sẽ còn tiếp tục tăng chi phí quảng cáo của mình trong năm 2009. Lãnh đạo THP rất quan tâm và trực tiếp tham dự vào việc xây dựng Chiến Lược và Kế Hoạch Truyền Thông của các nhãn hàng, làm việc rất sâu sát với các cộng sự trong bộ phận Marketing để phát triển ý tưởng sản phẩm và thiết lập mục tiêu nhận biết về nhãn hàng, dùng thử và thói quen sử dụng nhãn hàng.

    3.1.5. Chất lượng sản phẩm và tính sẵn có của sản phẩm.

    THP đã đối mặt với nhiều trường hợp hết hàng. Nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp của THP. Do đó, đây cũng là một vấn đề cần lưu tâm trong lĩnh vực tiếp thị của chúng ta. Chúng ta cần đảm bảo tiếp tục duy trì sự hiện diện của sản phẩm với cùng một tiêu chuẩn chất lượng tuyệt hảo mọi lúc mọi nơi.

    3.1.6. Về việc triển khai thực hiện.

    Có nhiều ý tưởng rất hay, có những kế hoạch rất tuyệt vời nhưng lại thất bại chỉ vì triển khai quá tệ. Thật may mắn là đối với sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr. Thanh, THP đã có một đội ngũ được tổ chức bài bản, nhanh chóng đưa hàng ra thị trường trong một thời gian ngắn. Lãnh đạo THP biết rằng việc tung sản phẩm phải diễn ra trước Mùa Tết Nguyên Đán để có thể tối đa hóa mức độ ảnh hưởng đến người tiêu dùng và thị trường cả nước. Mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ và chức năng đã được thiết lập cụ thể để đảm bảo mọi người làm việc đồng bộ. Nếu THP chậm trễ dù chỉ một ngày tung sản phẩm Trà Thảo Mộc Dr.Thanh, THP sẽ không thể nào gặt hái được kết quả tốt như ngày hôm nay.

    3.2. Khác biệt hoá.

    Khác biệt nghĩa là chúng ta nổi trổi như thế nào so với đối thủ cạnh tranh trong cách tiếp cận phù hợp nhất và ý nghĩa nhất với người tiêu dùng. Ngày nay, chúng ta có quá nhiều đối thủ cạnh tranh đang cùng nói về một chủ đề với chúng ta hoặc đang sao chép cách chúng ta làm. Do đó, rất cần thiết phải làm cho mình thật sự khác biệt và nổi bật.

    3.2.1. Vì sao phải khác biệt?

    • Thứ nhất, có rất nhiều đối thủ cạnh tranh đang cố gắng thu hút cùng một đối tượng người tiêu dùng. Vì vậy bắt buộc chúng ta phải nổi bật .
    • Thứ hai, khác biệt hóa sẽ đem đến cho bạn một cá tính, một đặc điểm nhận dạng riêng biệt đối với người tiêu dùng về lâu dài. Điều này sẽ đảm bảo sức sống lâu dài của nhãn hiệu.

    Chúng ta không nên chỉ làm việc dựa trên sự khác biệt hóa thông thường. Khác biệt hóa phải thật ý nghĩa và xác đáng. Mặt khác, khác biệt thôi chưa đủ mà sự khác biệt của bạn phải thật sự cuốn hút một số lượng lớn khách hàng mục tiêu.

    THP đã tạo được sự khác biệt đối với nhãn hàng Trà Thảo Mộc Dr.Thanh một cách thật ý nghĩa đối với người tiêu dùng. Lợi ích của việc thanh lọc và giải nhiệt kết hợp với việc khác biệt hóa sản phẩm từ 9 loại thảo mộc cung đình đã chứng tỏ rằng đây là một ý tưởng cực kỳ mạnh mẽ và khác biệt để tác động vào người tiêu dùng.

    3.3. Những yếu tố khác biệt cần lưu ý:

    3.3.1. Về sản phẩm:

    Rất nhiều sản phẩm của THP đang là sản phẩm tiên phong trên thị trường Việt Nam. Trà xanh uống liền, Trà Barley, Trà thảo mộc Dr.Thanh, Nước tăng lực Number One là một trong những sáng kiến sản phẩm mới mà THP đã đưa ra thị trường. THP đã đầu tư không nhỏ vào việc phát triển nhiều hơn nữa các sản phẩm mới và thật sự khác biệt.

    3.3.2.Về bao bì:

    Chúng ta có thể cho ra đời những bao bì sản phẩm thích hợp cho thị trường và người tiêu dùng. THP đã tạo ra các loại chai PET, chai thủy tinh tái sử dụng, hộp giấy Tetra Pak và lon. Một ví dụ là gần đây, THP vừa giới thiệu sản phẩm nước tăng lực Number One trong chai nhựa PET, đem thêm nhiều thuận tiện và thêm nhiều lợi ích cho người tiêu dùng hơn.

    3.3.3. Về truyền thông:

    THP nhìn vào sự khác biệt trong “ý tưởng sản phẩm” của mình. THP phải xây dựng được ” lý do để mua” và ” lý do để tin” thật mạnh  mẽ. Đối với điều này, THP đi rất sát với người tiêu dùng. Quan trọng hơn, THP đã biến khái niệm sản phẩm thành một kế hoạch quảng cáo tuyệt vời và chiến dịch truyền thông 360o. Đến nay, thậm chí trẻ con cũng biết đến concept của Trà thảo mộc Dr.Thanh và tìm kiếm sản phẩm tại các cửa hàng để mua.

    Tóm lại, Tập Trung và Khác Biệt là nguyên tắc cần thiết để dành được chiến thắng trên thị trường.

    3.3.4. Về quảng cáo:

    Trong lúc kinh tế suy giảm, nhiều doanh nghiệp đã chọn giải pháp tiết kiệm chi phí, nhưng tập đoàn Tân Hiệp Phát thì làm ngược lại, đầu tư khá lớn cho sản xuất và quảng bá sản phẩm mới là trà thảo mộc Dr Thanh. Dường như tất cả công sức bỏ ra đều không uổng phí khi đem lại thành công vang dội cho trà Dr thanh

    3.3.5.Về tên thương hiệụ :

    Chắc chắn ngay từ  đầu mọi người ai cũng thắc mắc về cái tên Dr Thanh. Nó là một trong những đề tài hot nhất trong diễn đàn Marketing lớn nhất Việt Nam. Mọi người tò mò không biết Thanh trong Dr Thanh có nghĩa là thanh lọc, thanh khiết của sản phẩm hay là lấy tên của ông tiến sĩ- Trần Quý Thanh, người có hình ảnh trên mỗi chai sản phẩm. Ngay về tên sản phẩm các nhà chiến lược của công ty THPđã gây sự chú ý cho người tiêu dung rồi.

    3.3.6. Chọn đúng thời điểm:

    Thời điểm mà THP cho ra đời sản phẩm  Dr. Thanh vô cùng  thuận lợi và được coi là thời điểm vàng. Khi mà người tiêu dung trong cái khí trời đầu xuân, tết với những món ăn đa dạng, cái cảm giác không còn ngon miệng  nữa, cái cảm giác khó chịu nóng trong người không khỏi tránh nổi thì Dr Thanh được định vị thương hiệu với những chức năng giải quyết những nhu cầu đó. Sản phẩm tốt cho sức khỏe lên ngôi, bằng chứng là sự thành công của trà không độ. Chính vì vậy Dr. Thanh là sự lựa chọn hàng đầu cho mùa tết.

    3.3.7. Đánh mạnh vào truyền thông:

    Năm 2008 vừa qua, THP  là một trong năm công ty quảng cáo mạnh nhất tại Việt Nam và đã tiếp tục tăng chi phí quảng cáo của mình lên trong những năm tiếp theo. Đây là một việc làm rất mạo hiểm . Đầu tư cao vào việc quảng bá thương hiệu sản phẩm cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với thất bại nặng nề. Nhưng đứng trước thách thức đó thì THP Group đã nghiên cứu kĩ lưỡng và cho ra các hình thức quảng cáo ấn tượng. Quảng cáo lien tục trong suốt mấy tháng trời, lien tục trên truyền hình. Chỉ tính riêng chi phí quảng cáo thì THP cũng phải trả một khoản tiền khủng khiếp rồi , chưa tính đến các kênh truyền thông khác cũng như các chương trình. Chính vì vậy mà giám đốc của THP đã thừa nhận rằng truyền thông đóng một vai trò đặc biệt trong việc kích thích quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Sự xuất hiện với mật độ dày trên các phương tiện truyền thông  của sản phẩm trà thảo mộc Dr Thanh làm dấy lên sự tò mò, sự quan tâm, thú vị của dư luận.

    IV . Chiến thuật kinh doanh

    Phân phối là một biến số quan trọng của marketing hỗn hợp . Hoạt động  phân phối giải quết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa như thế nào đến tay người tiêu dùng . Các quyết định về phân phối rất phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực khác trong  marketing. Hiện nay ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối như biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Doang nghiệp tổ chức và hoạt động  phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối.Các kênh  phân phối .Các kênh phân phối cung cấp cho người tiêu dùng cuối cùng hoặc khách hàng công nghiệp các lợi ích về thời gian,địa điểm,sở hữu. Hiểu được tầm quan trọng của việc phân phối chúng tôi đặc biệt chú ý đến các kênh phân phối nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Đối tượng mà chúng tôi muốn hướng tới là tất cả mọi người không phân biệt tuổi tác,giới tính,mức thu nhập .do vậy khu vực mà chúng tôi phân phối là rất lớn trên toàn lãnh thổ Việt Nam với dân số trên 80 triệu người . Điều này đòi hỏi chúng tôi phải tổ chức những kênh phân phối để đưa hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất  đến người tiêu  dùng một cách tốt nhất. Do địa bàn phân phối rộng chúng tôi quyết định lựa chọn các trung gian thương mại trong các kênh phân phối vì họ bán hàng hoá và dịch vụ có hiệu quả hơn nhờ tối thiểu hoá số lần tiếp xúc bán cần thiết để thoả mãn thị trường . Chúng tôi quyết định tổ chức kênh phân phối từ nhà sản xuất sản phẩm đến các nhà buôn bán, bán lẻ và đến trực tiếp người tiêu dùng chúng tôi ước tính có khoảng hơn 300 nhà phân phối với hơn 2000 nhân viên bán hàng , 1000 xe tải tham gia vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ . Hệ thống bán hàng có thể bao gồm các cửa hàng vừa và  nhỏ ,các đại lý lớn và hệ thống các siêu thị . Chúng tôi lựa chọn phương thức phân  phối rộng rãi nhằm cố gắng đưa sản phẩm đến người bán lẻ càng tốt. Đặc biệt ở các cửa hàng , các chung tâm thành  phố ,nơi có cụm dân cư đônh đúc như các khu đô thị ,khu  công nghiệp vậy chúng tôi sẽ cố gắng xây dựng hệ thống phân phối dày đặc hơn . ngoài ra còn xây dựng những vùng bán hàng tự động như ở các cơ quan, công sở những khu vui chơi giải trí nhằm đưa sản phẩm đến người tiêu dung nhanh nhất thuận tiện nhất ,mọi lúc mọi nơi mọi thời điểm căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm là nước giải khát đóng trai nhựa nên khó hư hỏng và thời gian sản xuất đến tiêu dùng là rất dài do vậy có thể  vận chuyển sản phẩm bằng các phương tiện chuyên dụng như  ô tô , xe máy và có thể vận chuyển đi xa. Do đối thủ cạnh tranh của trà thải mộc Dr.Thanh là rất nhiều chúng tôi quyết định lựa chọn các kênh phân phối với có cùng đầu ra với các loại nước giải khát như cocacola.pepsi,trà không độ…nhưng qua đó cũng đòi hỏi có sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa nhà sản xuất , các đại lý, các nhà bán lẻ.

    Để lựa chọn kênh phân phối một cách hiệu quả chúng tôi sẽ cố gắng lựa chọn và thu hút những trung gian thương mại cụ thể tham gia vào quá trình phân phối . Các trung gian thương mại sẽ phải trải qua một thời gian hoạt động thử nếu đạt được tiêu chuẩn mà chúng tôi đề ra chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp sản phẩm và vốn để hoạt động . Và chúng tôi căn cứ vào từng địa bàn cụ thể mà đề ra các tiêu chuẩn tuyển phù hợp. Ví dụ như các trung gian thương mại ở những địa bàn dân cư đông đúc , kinh tế phát triển mạnh thì bình quân mỗi quý phải bán được khoảng 10.000 chai trở lên , còn những vùng nông thôn  những khu dân cư thưa thớt thì số lượng sản phẩm tiêu thụ hàng quý khoảng 1000  chai. Ngoài ra đối với các đại lý bán hàng chúng tôi sẽ căn cứ cả vào số lượng mặt hàng khác mà họ bán nếu số lượng các hàng hoá khác đa dạng tức là họ đã thu hút được nhiều các đối tượng khách hàng , điều này sẽ tạo thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm trà thảo mộc Dr.Thanh.

    Sau khi đã lựa chọn các kênh phân phối chúng tôi sẽ có những chính sách nhằm quản lý đưa việc phân phối vào nề nếp.Đầu tiên là việc tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng . Khi nhận được đơn đặt hàng chúng tôi sẽ cố gắng thượng lượng với khách hàng một cách nhanh nhất về số lượng. giá cả và dịch vụ rồi chuyển hàng một cách nhanh nhất tân tay khách hàng . Ngoài ra thường xuyên khuyến khích các thành viên kênh hoạt động để họ làm việc được tốt nhất. Chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của các thành viên, cố gắng thiết lập mối quan hệ gần gũi với họ đáp ứng những nhu cầu của họ trong khả năng mình có thể  . Cuối mỗi kỳ hoạt động có những sự đánh giá một cách chính xác kết quả kinh doanh của từng thành viên trong kênh. Qua đó có sự khen thưởng về vật chất một cách thích đáng nếu họ hoàn thành tốt công việc ,ngược lại những thành viên không hoàn thành tốt nhiệm vụ mắc nhiều lỗi trong quá trình hoạt động ,chúng ta sẽ tìm hiểu nguyên nhân để có những biện pháp giải quyết. Như nhắc nhở ,cảnh cáo ,xa thải hoặc cũng có thể giúp đỡ thêm . Bên cạnh đó chúng tôi sẽ sử dụng công cụ marketing hỗn hợp khác trong quản lý hoạt động của kênh phân phối . Chúng tôi sẽ quản lý chặt chẽ về giá nhằm tránh các đại lý tăng giá sản phẩm quá cao. Chúng tôi sẽ quy định giá bán của mõi chai trà thảo mộc Dr.Thanh vào khoảng 6500-7500 đồng/chai ,đồng thời cũng kết hợp với việc khuyến mại khi khách hàng mua với số lượng lớn sản phẩm.

    Để có thể thực hiên tốt qá trình phân phối cũng phải đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng nhằm thu được mức lợi nhuận ca nhất. Chúng tôi quyết định đầu tư tú 10% doanh thu cho các hoạt động phân phối như :chi phí vận chuyển ,lưu kho, bảo quản hàng ,đóng gói hàng hóa ,chi phí hành chính ,sử lý đơn hàng . Ngoài ra chúng tôi sẽ cố gắng khai thác hết tiềm lực về bảo quản ,kho bãi ,cửa hàng để giảm chi phí phân phối.

    Do đặc thù về đối tượng cung ứng là mọi đối tượng và địa bàn phục vụ rộng khắp cả nước lên số lượng cửa hàng bán lẻ sẽ cũng rất lớn nên chúng tôi phải quan tâm đặc biệt đến các cửa hàng này . Tuỳ từng địa điểm mà nhà bán lẻ phuc vụ chúng tôi có những sự điều chỉnh phù hợp . Chúng r tôi sẽ chú ý đến sự phuc vụ và làm hài lòng khách hàng , tuỳ điều kiện sẽ quyết định chọn những dịch vụ dành cho khách hàng như đối với các cán bộ công chức hạn chế về thời gian có thể áp dụng dịch vụ giao hàng tận nhà , hay mua với số lượng lớn từ 30 chai trở lên có thể khuyến mại thêm một chai . Một điều khuyến quan trọng nữa là bầu không khí trong cửa hàng .cửa hàng sẽ trưng bày sản phẩm ở nơi dễ tìm thấy nhất và thu hút được nhiều khách hàng nhất ví dụ như gần nơi ra vào ,bên cạnh đó chúng tôi sẽ đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng có thái độ phục vụ khách hàng tận tình, luôn  niềm nở với khách ,giới thiệu cho khách hàng những đặc tính tốt của sản phẩm như giúp đỡ thanh nhiệt ,giải độc phù hợ với mọi đối tượng và tạo cho khách hàng cảm giác họ được quan tâm , được tôn trọng  “khách hàng là thượng đế ” và đặc biệt là cảm giác an toàn về sức khoẻ.

    Tóm lại chúng tôi sẽ cố gắng để có thể cung cấp sản phẩm đến với người tiêu dùng một cách tốt nhất cả về số lượng của sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng với sự hài lòng cao.

    +> Xúc tiến hỗn hợp

    Xúc tiến chiêu thị là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của marketing hỗn hợp để tác động vào thị trường mục tiêu.

    Hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong  marketing là sự kết hợp tổng hợp của các hoạt động quảng cáo, khuyến mại chào hay bán hảng cá nhân, tuyên truyền , toàn bộ các hoạt động xúc tiến này phải được phối hợp với nhau một cách chặt chẽ   để đạt tác dụng truyền thông tối đa tới người tiêu dùng . Chúng tôi sẽ sử dụng chiến lược kéo để thực hiên các hoạt động xúc tiến tức là chúng tôi sẽ đầu tư chi phi chiêu thị nhiều và hoạt động năng động đối với người tiêu dùng để tạo nên nhu cầu tiêu thụ . Nếu có hiệu quả  ,người tiêu dùng sẽ hỏi mua sản phẩm ở các nhà bán lẻ ,các nhà bán lẻ sẽ hỏi mua các nhà bán sỉ , các nhà bán sỉ sẽ hỏi mua các nhà sản xuất.

    Để quá trình xúc tiến được thành công ,việc đầu tiên chúng tôi sẽ làm là xác định khàch hàng mục tiêu . Nhãn hàng trà thảo mộc Dr.Thanh của chúng tôi hướng đến phục vụ mọi khách hàng không  phân biệt giới tính hay lứa tuổi nhưng chúng tôi vẫn đặc biệt quan tâm đến đối tượng khách hàng thường xuyên tiếp xúc đến đồ nóng như rượu bia và giới trẻ thanh thiếu niên hay hoạt động .Để có thể thuyết phục khách hàng mua sản phẩm chúng tôi sữ giới thiệu cho họ biết đến sản phẩm trà thảo mộc của chúng tôi , nếu khán giả chưa biết đến sản phẩm trà thảo mộc của chúng tôi chúng tôi sẽ sử dụng nhưng thông điệp đơn giản như “Trà thảo mộc Dr.Thanh ,thanh lọc cơ thể không lo bị nóng ’’ lặp đi lặp lại nhiều lần để có thế găm sâu vào trí nhớ người tiêu dùng . Và công việc này sẽ được chúng tôi tiến hành liên tuc trong một thời gian dài. Một vấn đề nữa đăt ra khi khách hàng đã biết đến trà thảo mộc Dr.Thanh của chúng tôi họ có thể hiểu được ý nghĩa của sản phẩm . Ngay trong tên sản phẩm đã khiến nhiều người tò mò ,quan tâm,thậm chí có những lý giải khác nhau kể cả hiểu lầm , Dr.Thanh hàn ý được đặt ngay trong chữ “Thanh’’(thanh nhiệt ,  thanh lọc cơ thể) là bản chất đặc trưng cho loại trà thảo mộc mà chúng tôi đưa ra thị trường.Bên cạnh đó phải cho khách hàng hiểu được trà thảo mộc Dr.Thanh không như các loại nước giải khát thông thường khác hiện đang có mặt trên thị trường , trà thảo mộc Dr.Thanh  đặt mục tiêu chính phục vụ người tiêu dùng ở vị trí một loại nước giải khát duy nhất có khả năng giải nhiệt và thanh lọc cơ thể, Trà thảo mộc Dr.Thanh hiện đang có một thị trường đầy tiềm năng nên chúng tôi tìm cách “phủ sóng’’  trà thoả mộc Dr.Thanh nhằm kích hoạt và nhận biết sản phẩm một cách rộng rãi trong cộng đồng . Một khi khách hàng đã biết và hiểu về sản phẩm chúng tôi sẽ xem cảm nghĩ của họ về sản phẩm như yêu hay ghét. Nếu họ chưa hài lòng về sản phẩm của chúng tôi , chúng tôi sẽ tiến hành cải tiến ví dụ như về chất lượng mẫu mã để hoàn thiện sản phẩm sau đó mới truyền thông về chất lượng sản phẩm . Cần phải có “Sản phẩm tôt đi trước lời nói tốt ’’ . Khách hàng nục tiêu có thể thích sản phẩm nhưng lại không ưa chuộng nó so với sản phẩm khác . Cần cố gắng xây dựng sự ưa chuộng sản phẩm nơi khách hàng . Chúng tôi sẽ tập trung nói nhiều hơn về chức năng của sản phẩm khác không có mà giá cả chỉ ngang bằng với các nhãn hàng khác hiện đang có trên thị trường.

    Người Việt Nam ta thường có thói quen ngại thay đổi , khi họ đã dùng một sản phẩm nào trước đó thì dù sản phẩm khác có hoàn thiện hơn đi chăng nữa họ cũng ngại tthay đổi mà sử dụng nhãn hàng  đó  do vậy  chúng tôi cần cố gắng xây dựng được niềm tin đối với khách hàng . Phải đem đến cho khách hàng “lý do để tin và lý do để mua sản phẩm’’  khi nói về trà thảo mộc Dr.Thanh . Chính những lợi ích ma trà thảo mộc Dr .Thanh sẽ đem lại cho khách hàng những điều đó . Con người chúng ta cũng như móịư vật sống khác ,chúng ta có tây y , mọi vật khác không có tây y chỉ có đông y ma vẫn tồn tại từ đời này qua đời khác . Trà thảo mộc của chúng tôi với triết xuất từ chín loại thảo mộc quý , đa số có thể trồng được ở Viêt Nam ,có thể đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của con người

    Để hoạt động chiêu thị có thể thành công thì quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng nhất . Quảng cáo chuyển các thông tin có sức thuyết  phục đến các khách hàng mục tiêu .Quảng cáo sao không gây phản cảm cho khách hàng là một nghê thuật . Mục đích của quảng cáo là làm cho khách hàng thích thú ,gây sự ham muốn cho khách hàng dẫn cho họ đến hành động mua hàng . Đầu tiên chúng tôi sẽ quảng cáo cho khách hàng biết sản phẩm của chúng tôi  ,tác dụng của sản phẩm  “thanh lọc cơ thể,  giải nhiệt’’và với giá cả hợp lý và có khuyến mại trong những thời gian bắt đầu bán sản phẩm .

    Hiện nay trên thị trường có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với nhãn hàng của chúng tôi như pepsi ,cocacola , jup…hay các loại nước khoáng thiên nhiên do vậy chúng tôi sẽ tập chung quảng cáo mạnh mẽ vào điểm khác biệt giữa nhãn hàng trà thảo mộc Dr.Thanh với các sản phẩm khác . Ngoài tác dụng là giải khát thì trà thảo mộc Dr.Thanh còn là loại thức uống rất tốt cho sức khoẻ mà giúp giải nhiệt mà hiện nay chưa có một loại nước giải khát nào có thể thực hiện được điều này . Khi sản phẩm đã được bán rộng rãi trên thị trường chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục quảng cáo nhằm nhắc nhở khách hàng luôn nhớ đến tên sản phẩm ,công dụng và tính năng của nó.

    Khi mục tiêu quảng cáo đã được chúng tôi xác định cụ thể ,chúng tôi sẽ quyết định ngân sách dành cho quảng cáo . Chúng tôi quyết định truyền thông như lá bài quan trọng bậc nhất  “một bà đỡ’’ mát tay của trà thảo mộc Dr.Thanh khi nó được tung ra thị trường , do vậy chúng tôi sẽ đầu tư chi phí lớn vào hoạt động quảng cáo khoảng 40%  doanh thu và sẽ tiếp tục tăng chi phí quảng cáo . Việc quyết định nội dung quảng cáo ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của lần quảng cáo đó . Nội dung phải làm toát lên được công dụng của trà thảo mộc Dr.Thanh “ thanh lọc cơ thể không lo bị nóng  hay nóng trong người hãy uôèng trà thảo mộc Dr.Thanh và lời rao sẽ phải có cấu trúc rõ ràng đưa ngay kết luận trong lời rao mở ngay ra cho khách hàng thấy đặc tính của sản phẩm . Hình thức của lời rao cũng cần được quan tâm  , chúng tôi sẽ kết hợp những hoạt động như ăn uống các đồ nóng các hoạt động thanh nhiệt như vui chơi ,tập thể dục thể thao với những lời lẽ , hành ảnh và màu sắc nóng để có thể làm toát lên công dụng của sản phẩm . Ngoài ra lời lẽ cần đơn giản ,dễ thuộc không cần quá nhiều lời lẽ gây nhiễu cho khách hàng .

    Phương tiện quảng caod giúp truyền thông tin tới những khách hàng một cách hiệu quả . Chúng tôi sẽ lựa chọn các phương tiện như :báo chí , radio , tivi …Đặc biệt chú trọng đến phương tiện truyền hình , đặc biệt là những kênh thu hút được khán giả lớn như kênh vtv3 , vtv1..của đài truyền hình Việt Nam vào những lúc được đa số khán giả như chiếu phim ,các chương trình giải trí ,truyền hình trực tiếp . Ngoài ra , chúng tôi cũng cho đăng những bài quảng cáo cho sản phẩm trên những trang web ,bài báo uy tín . Tận dụng các áp phích như hình ảnh sản phẩm trên những tấm áp phích trên  đường hay xe bus . Và mỗi kỳ kinh doanh chúng tôi sẽ đánh giá hiệu quả của hoạt động quảng cáo bằng cách đánh giá sự tăng doanh thu cũng như số lượng sản phẩm bán ra trong kỳ và việc thương hiệu của sản phẩm có được đa số khách hàng biết đến hay không .

    Bên cạnh xúc tiến các chương trình quảng cáo trên các phương tiện ,chúng tôi còn thực hiện các chương trình như khuyến mại,giảm giá kích thích thị trường đáp ứng nhanh và mạnh hơn đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty . Chì phí khuyến mại được chúng tôi đầu tư khoảng 20 % lợi nhuận  . Hiện tại kinh tế của chúng ta đang xảy ta lạm phát do vậy việc bán hàng trở lên khó khăn hơn cộng thêm ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh làm cho chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hoạt động khuyến mại ,giảm giá . Chúng tôi sẽ kết hợp song song giữa hoạt động khuyến mại ,quảng cáo và chào hàng . Để thực hiên chương trình khuyến mại chúng tôi sẽ sử dụng các công cụ như hàng dùng thử ,quà hàng như tặng miễn phí mũ  , áo thun , túi xách , Hãy sử dụng những gói hàng chung :khi mua trà thảo mộc Dr.Thanh sẽ được tặng kèm  sách hướng dẫn về chế độ ăn uống những thức ăn có lợi cho sức khoẻ ,hãy mua hàng với số lượng lớn sẽ được tặng thêm sản phẩm . Và việc thực hiện khuyến mại sẽ được chúng tôi thực hiện trên địa bàn trung điểm như  các trung tâm thành phố khu đô thị nếu dạt hiệu quả sec thực hiện rộng rãi trên các khu khác .

    Ngoài việc quảng cáo ,khuyến mại , chúng tôi đồng thời cũng thực hiện hoạt động tuyên truyền quảng bá cho sản phẩm. Chúng tôi sẽ tổ chức các hoạt động buổi họp báo mời các các phóng viên của các báo đài có uy tín đến tham dự hoặc viết bài hay nhà lãnh đạo của chúng tôi sẽ tuyên truyền sản phẩm qua các cuộc hội thảo ví dụ như hội thảo về chiến lược marketing giới thiệu sản phẩm của công ty uy tín .

    Cuối cùng chúng tôi sẽ quan tâm đến hoạt động bán hàng cá nhân . Chúng tôi sẽ duy trì một lực lượng bán hàng đông đảo , thường xuyên tổ chức tuyển chọn  ,đào tạo đội ngũ bán hàng có kinh nghiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ thăm dò tìm kiếm những khách hàng mới ,truyền đạt khéo léo những thông tin sản phẩm cho khách hàng và cố vấn về các vấn đề của họ , đánh giá tính chất khách hàng . Đội ngũ nhân vên bán hàng sẽ được đào tạo qua những chương trình đào tạo cụ thể để có thể thực hiên tốt nhiệm vụ của mình . Bên cạnh đó chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp nhằm khuyến khích họ tích cực hoạt động bằng các chế độ trả thù lao và tiền lương . Chúng tôi sẽ thường xuyên đánh giá hoạt động của những nhân viêc bán hàng để có những điều chỉnh phù hợp .

    Đó là tất cả các hoạt động chiêu thị ,xúc tiến nhằm mục tiêu bán được nhiều sản phẩm tăng lợi nhuận và thương hiệu một chỗ đứng vững chắc trong tâm trí khách hàng .

    V. Bảng phân công công việc .

     

    STT Họ và tên Công việc
    1 Vũ Thị Minh Huyền  

     

    Phân tích môi trường

    2 Nguyễn Thị Hiển
    3 Nguyễn Thành Ngọc Mục tiêu
    4 Trần Minh Ngọc
        Chiến lược
    5 Lê Thị Hồng Chuyên
    6 Nguyễn Thị Diệp Chiến thuật
    7 Hà Đức Trung
    8 Hoàng Huy Toản Tổng hợp và Báo cáo

    MỤC LỤC

    Lời mở đầu. 1

    I.Môi trường kinh doanh. 3

    1.Môi trường vĩ mô. 3

    1.1: Nhân khẩu. 3

    1.2: Kinh tế. 4

    1.3: Tự nhiên. 5

    1.4: Công nghệ. 6

    1.5: Môi trường. 7

    2.Môi trường vi mô. 7

    2.1:Môi trường công ty. 7

    2.2:Trung gian marketing. 8

    2.3: Khách hàng. 8

    2.4: Đối thủ cạnh tranh. 9

    2.4.1: Cạnh tranh về giá cả. 9

    2.4.2:Cạnh tranh về sản phẩm thay thế. 10

    2.4.3: Cạnh tranh về chủng loại. 10

    2.4.4: Cạnh tranh về thương hiệu. 10

    2.5: Công chúng. 11

    1. Mục Tiêu. 12

    III . Chiến lược kinh doanh. 13

    1. 1. Trước hết khi nghiên cứu chiến lược tập trung, chúng ta nên tìm hiểu tập trung là gì ? 13

    3.1.1. Tại sao chúng ta cần Tập Trung ?. 13

    3.1.2. Về người tiêu dùng. 14

    3.1.3. Về khách hàng. 15

    3.1.4. Về truyền thông. 15

    3.1.5. Chất lượng sản phẩm và tính sẵn có của sản phẩm. 15

    3.1.6. Về việc triển khai thực hiện. 16

    3.2. Khác biệt hoá. 16

    3.2.1. Vì sao phải khác biệt?. 16

    3.3. Những yếu tố khác biệt cần lưu ý:. 17

    3.3.1. Về sản phẩm: 17

    3.3.2.Về bao bì: 17

    3.3.3. Về truyền thông: 17

    3.3.4. Về quảng cáo: 18

    3.3.5.Về tên thương hiệụ : 18

    3.3.6. Chọn đúng thời điểm: 18

    3.3.7. Đánh mạnh vào truyền thông: 19

    IV . Chiến thuật kinh doanh. 19

    1. Bảng phân công công việc . 26

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận: Hướng dẫn lập báo cáo tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-L%E1%BA%ACP-D%E1%BB%B0-%C3%81N-KINH-DOANH-QU%C3%81N-KEM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Tiểu luận

    LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM
    LỜI MỞ ĐẦU

    Thế giới xung quanh chúng ta có biết bao điều làm bạn phải bận tâm? Tôi cam đoan sẽ là vô số, nếu có ai trả lời ngược lại thì đó là con người có cuộc sống rất lý tưởng. Nhưng những người như thế chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Cuộc sống giống một cuộn len, chúng ta ai cũng có những cuộn len riêng của mình, nó mang màu sắc riêng của bạn, của chính chúng ta. Với những vướng mắc mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống thường ngày như: học tập, tình yêu, công việc… những thứ làm cái đầu của chúng ta  muốn nổ tung. Chính vì thế mà nhu cầu giải trí nhằm xả stress đã, đang và sẽ là nhu cầu cấp thiết của con người trong cuộc sống thời kinh tế thị trường ngày nay. Bạn sẽ đi đâu đây để xả hơi sau những giây phút mệt mỏi? Tôi là một người rất thích và có thể nói là một tín đồ trung thành của những que kem. Nếu ai đó bật cười khi biết được điều đó thì tôi sẽ cho bạn thấy sức mạnh của những que kem nhỏ bé ấy. Những que kem mát lạnh không chỉ làm bạn được giải thoát khỏi sự nóng nực của cái nắng oi ả của mùa hè,mà còn cho bạn những giây phút vui vẻ bên bạn bè, nhưng người thân yêu và mang đi bao nỗi buồn của bạn. Còn mùa đông thì sao nhỉ: Tiết trời se lạnh đầu năm không làm mất đi cảm giác thèm vô cùng vị kem mát lạnh tê đầu lưỡi và sự khoan khoái khi được nhâm nhi những chiếc bánh ốc quế giòn tan, thơm lừng…Được cùng bạn bè ngồi thưởng thức những ly kem tươi hay hàn huyên bên chiếc lẩu kem được trang trí đẹp mắt với màu sắc và hương vị vô cùng hấp dẫn khiến xua tan đi cái ngột ngạt của cuộc sống thường nhật. Điều bạn có được từ nó giá trị hơn nhiều những gì bạn nghĩ đấy. Những que kem bé nhỏ nhưng lại không hề “ nhỏ bé” phải không bạn.

    Tôi rất thích kinh doanh và cũng thích ăn kêm nữa nên tôi muốn mở một cửa hàng bán kem để có thể được chia sẻ sở thích của mình với bạn. Hãy cùng tôi lập dự án kinh doanh này nhé?

    Tuy hiện nay có rất nhiều quán kem nhưng vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu của mọi người đặc biệt trong dịp hè sắp tới. Với một cửa hàng kem tươi ngon, giá phải chăng, phục vụ tốt, luôn quan tâm đến nhu cầu thư giãn của khách hàng tôi tin rằng chắc chắn sẽ được nhiều người chấp nhận.

    NỘI DUNG

    I. Mô tả dự án

    Tên dự án: cửa hàng kem tươi “ice-cream”

    Chủ đầu tư: Vũ Thị Tuyết

    Ngày sinh: 05/06/1989

    Địa chỉ: Trường đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội

    Lĩnh vực tham gia kinh doanh: : cung cấp dịch vụ giải khát

    Địa điểm thực hiện: trên mặt phố, nơi tập trung đông dân cư, gần các trường đại học, THPT…

    Thời gian hoạt động: không giới hạn

    Nguồn thông tin: tìm hiểu số liệu thực tế từ một số cửa hàng kem lớn, cửa hàng cung cấp đồ nội thất, siêu thị, và một số trang  web khác…

    II. Một số tìm hiểu cơ bản

    1. Nghiên cứu thị trường

    Kem tươi với nhiều hương vị khác nhau là nhu cầu không thể thiếu của tất cả giới trẻ hiện nay, vì vậy có thể nói là một sản phẩm tiềm năng trong ngành giải khát. Cửa hàng kem không những đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng_ đặc biệt là giới trẻ, bắt nhịp cùng cuộc sống, mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, con người tham gia rất nhiều hoạt động, nhiều công việc để có thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân song con người lại càng có ít thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi, vì vậy một cửa hàng kem sẽ đáp ứng được nhu cầu thư giãn hàng ngày trong những bộn bề của cuộc sống. Do dó, nhu cầu cần có cửa hàng kem ngon, độc đáo, giá cả thích hợp và cách trang trí đẹp là rất cần thiết.

    Các quán kem hiện nay rất nhiều nhưng mới chỉ có số ít là đáp ứng được đa số nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, mặt khác cửa hàng nhỏ, trang trí cửa hàng đơn giản. Tất cả những điều trên cho thấy nhu cầu để có quán kem để thư giãn sẽ tăng, và có tương lai phát triển mạnh mẽ.

    2. Thị trường trọng tâm

    Trẻ em, học sinh, sinh viên là khách hàng chủ yếu của chúng tôi vì đây là tầng lớp có nhu cầu lớn. Đặc biệt, nhóm khách hàng mà quán hướng tới đó là giới trẻ, lứa tuổi từ 15-24. Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu về giải trí, thư giãn của họ là những quán kem, quán cafe… họ chiếm phần đông, có thu nhập ổn định đang tăng.

    Phân loại nhóm khách hàng:

    • Là các đôi yêu nhau
    • Là học sinh tuổi teen 16-18t
    • Là người có thu nhập ổn định 24-30 tuổi
    • Nhận đặt bánh theo yêu cầu…

     3. Mục tiêu của quán

    Môi trường kinh tế ngày càng nhiều biến động, hội nhập mang lại nhiều cơ hội kinh doanh mới, những luồng văn hóa mới, nhu cầu giải trí-thư giãn của con người ngay càng tăng cao, song song với nó là nhiều dịch vụ giải trí khác nhau cũng phát triển mạnh mẽ. Đó như một miếng bánh ngon được chia cho rất nhiều của hàng, hãng kinh doanh khác nhau. Quán kem không chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu giải khát của con người mà còn đi kèm đó là những dịch vụ giải trí, thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc căng thẳng hoặc sau những giờ học mệt mỏi, những lúc chia sẻ cảm xúc vui, buồn cùng bạn bè…  Cửa hàng kem tươi “ice-cream” sẽ đáp ứng tất cả nhu cầu đó của các bạn trẻ. Vì vậy, mục tiêu quán hướng đến đó là:

    Sản phẩm phong phú, đa dạng, đội ngũ nhân viên phục vụ trẻ trung, chuyên nghiệp, luôn luôn nở nụ cười với thực khách, cùng phong cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ mang lại cho bạn một cảm giác thật gần gũi và ấm cúng…

    Cửa hàng sẽ là nơi thư giãn của mọi khách hàng, là nơi gặp gõ giao lưu bạn bè thú vị sau những những khoảng thời gian mệt mỏi.

    – Tối đa hoá sự hài lòng của khách hàng

    Về mục tiêu lợi nhuận, cửa hàng phấn đấu: Đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động

    4. Đặc điểm khách hàng

    Do khách hàng chính của chúng tôi chủ yếu là học sinh, sinh viên nên họ có cách sống của họ đơn giản,dễ gần gũi. Khi đến quán, điều mà họ quan tâm nhất là hình thức phục vụ và không gian có thoải moái hay không… Ngoài ra, theo tìm hiểu qua các cuộc nói chuyện với khách hàng chúng tôi được biết khi đến đây họ  còn cân nhắc những điều sau :

    – Có nhiếu lại kem ngon không?

    – Mức giá có phù hợp không?

    – Có phục vụ nhanh không?

    – Người phục vụ có nhiệt tình vui vẻ không?

    Đây là nhóm khách hàng có rất nhiều nhu cầu khác nhau, vì vậy đáp ứng được tất cả nhu cầu của họ sẽ mang lại cho quán một lợi thế cạnh tranh lớn trong trong môi trường kinh doanh “ giải trí- giải khát” ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay.

    5.  Đối thủ cạnh tranh

    Mặc dù mở ra cửa hàng kem có nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan thuận lợi. Nhưng để thành công không phải là chuyện dễ vì không chỉ có của hàng của mình ,mà còn nhiều cửa hàng hiện nay cũng đang tham gia lĩnh vực này nên các đối thủ cạnh tranh là rất lớn, họ cũng muốn đạt những gì họ muốn, do đó chúng tôi phải làm tốt hơn đối thủ thì mới thu hút được khách hàng.

    6. Nhà cung ứng

    Hiện nay có rất nhiều công ty kinh doanh kem lớn có thương hiệu: kem Tràng Tiền, kem Merino, … có thể thực hiện chiến lược liên kết với các nhà cung cấp để có thị trường đầu vào ổn định.

    7.  Các yếu tố vĩ mô

    – Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn khó khăn và luôn được nhà nước  khuyến khích Cho nên với loại hình kinh doanh kem thì việc đăng ký sẽ dễ dàng

    – Thị trường kinh doanh kem trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    8. Các loại sản phẩm

    Đặc điểm về sản phẩm:

    • Ít đường, ít béo do làm từ hương liệu hoa quả, socola, vani,bơ sữa…
    • Trình bày theo khuôn mẫu đa dạng, dễ thương, sáng tạo
    • KH được tự design và gửi thông điệp cho từng sản phẩm kem theo yêu cầu của khách hàng
    • Đề cao bản ngã, cái tôi của người mua
    • Hương vị tự nhiên và hấp dẫn từ khứu giác
    • Đóng gói lịch sự, tiện dụng, phục vụ nhanh chóng

    Bảng 1: các sản phẩm kem của cửa hàng

     

    Kem dâu Kem xôi
    Kem tươi Kem rán
    Kem xoài Kem sầu riêng
    Kem dứa Bánh su kem
    Kem dừa Kem viên khoai môn
    Kem socola Kem chua mứt dâu
    Kem hạnh nhân Kem chua mứt xoài
    Kem dâu rừng Kem tươi chua vani
    Kem cookie & cream Kem socola núi lửa
    Kem vani Kem ốc quế
    Kem vani socola Kem rum nho
    Kem bạc hà Kem cam
    Kem cafe Kem trái cây
    Kem socola bạc hà Kem bạc hà

     

    III. Kế hoạch kinh doanh

    Trên cơ sỏ phân tích mục tiêu và thông tin thu thập từ thị trường của hàng đưa ra một số chiến lược kinh doanh như sau:

    – liên kết với các nhà cung cấp lớn đẻ tạo ưu thế về nguồn nguyên liệu

    – Đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng

    – Đào tạo nhân viên chuyên nghiệp

    – Luôn đưa vào những sản phẩm mới với hương vị hấp dẫn, nhiều hình dạng ngộ nghính nhằm thu hút khách hàng

     

    1. Chiến lược giá

    Cửa hàng chúng tôi sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá khác nhau dành cho mọi đối tượng khách hàng từ người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao, từ công nhân, học sinh, sinh viên đến các doanh nhân, công nhân viên… phù hợp với mọi lứa tuổi.

    Bảng 2: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm quán bắt đầu hoạt động

     

    Các lạo kem Đơn vị tính Giá bán
    Kem dâu ly 7000
    Kem tươi Ly 8000
    Kem xoài Chiếc 8000
    Kem dứa Chiếc 8000
    Kem dừa Chiếc 8000
    Kem socola Chiếc 10000
    Kem hạnh nhân Chiếc 12000
    Kem dâu rừng Ly 12000
    Kem cookie & cream Ly 12000
    Kem vani Ly 15000
    Kem vani socola Ly 15000
    Kem bạc hà Chiếc 15000
    Kem cafe ly 15000
    Kem socola bạc hà Ly 15000
    Kem xôi ly 10000
    Kem rán ly 10000
    Kem sầu riêng Chiếc 10000
    Bánh su kem Ly 15000
    Kem viên khoai môn Chiếc 12000
    Kem chua mứt dâu Ly 12000
    Kem chua mứt xoài Ly 12000
    Kem tươi chua vani Ly 12000
    Kem socola núi lửa Ly 15000
    Kem ốc quế Ly 8000
    Kem rum nho Ly 10000
    Kem cam Chiếc 8000
    Kem chanh Chiếc 8000
    Kem me Chiếc 8000
    Kem hoa quả Chiếc 8000

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.Chiến lược marketing:

    Đối với bất kì một doanh nghiệp nào nói chung và một dự án nói riêng thì marketing đóng vai trò vô cùng quan trọng để doanh nghiệp cũng như một dự án  có thể thành công. Hoạt động Marketing là việc chúng ta bỏ ra chi phí về tài chính cũng như nguồn lực để mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc kinh doanh, hiệu quả đó được thể hiện như là sức cầu của người tiêu dùng sẽ tăng lên, khách hàng sẽ biết đến sản phẩm dịch vụ của ta nhiều hơn, để từ đó tạo ra một hình ảnh về doanh nghiệp trong bộ nhớ của khách hàng. Khách hàng sẽ nghĩ đến sản  phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình khi có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của ta. Như vậy chiến lược chung Marketing là một hệ thống những chính sách và các biện pháp nhằm triển khai và phối hợp những mũi nhọn marketing để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Để có một chiến lược marketing đạt hiệu quả cao thì việc đầu tiên ta phải hoạch định chiến lược marketing một cách cụ thể rõ ràng và khoa học phù hợp với mục tiêu của dự án cũng như mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Chiến lược marketing của dự án bao gồm những nội dung sau:

    – Mục tiêu chiến lược

    + Trước tiên là mục tiêu lợi nhuận: đây là mục tiêu  không thể thiếu đối với mỗi một dự án kinh doanh. Với dự án trông giữ xe ngày và đêm Tân Khánh dự đinh sẽ mang lại lợi nhuận cao.

    +  Thế lực trong kinh doanh: Khi dự án đưa vào hoạt động và ngày một phát triển thì điểm giữ xe có thể chiếm lĩnh được thị trường, khả năng cạnh tranh cao, mức độ sinh lời ngày càng tăng trong kinh doanh.

    + An toàn trong kinh doanh: Mọi hoạt động của dự án đều được thể  hiện mức độ an toàn là rất lớn, mức độ xảy ra rủi ro là không cao và có thể đề phòng và ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra.

    +  Mục tiêu nhân văn: Tạo công ăn việc làm cho xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, không gây ùn tắc giao thông

    Hình thức quảng cáo:

    Phát tờ rơi quảng cáo tại các trường ĐH, trung học, các công ty và người trung niên ở khu vực xung quanh đó. (1000 tờ rơi phát trong tháng đầu, sau đó có thể cân nhắc phát thêm hay không). Mỗi tờ rơi giảm 10% cho 1 ly, nhưng không cộng gộp với nhau

    Quảng cáo thông qua các hình thức chủ yếu  treo băng rôn ở các tuyến đường chính.Trong tuần đầu khai trương  khách hàng sẽ được giảm giá 50% trong ngày đầu và 30% trong các ngày tiếp t heo cho tất cả các sản phẩm.

    3. Phương án kĩ thuật và tổ chức quản lí nhân viên

    Sơ đồ hoạt động của tổ chức

             
         
     
         
     
       

    Nhân viên trong cửa hàng bao gồm:

    1 quản lý

    1 nhân viên thu ngân

    3 nhân viên phục vụ

    1 bảo vệ

    Yêu cầu nhân viên: Nhân viên năng động, phục vụ nhiệt tinh, khả năng xử lí tình huống nhanh, tuổi từ 18- 35 tuổi, ngoại hình ưa nhìn.

    Lương nhân viên

    Bảng 3: Lương hàng tháng

    Chỉ tiêu Số lượng Tiền lương

     

    (triệu đồng)

    Thành tiền

     

    (1000đ)

    Quản lý 1 6 6
    Phục vụ 4 2.5 10
    Bảo vệ 1 1.1 1.1
    Thu ngân 1 2.2 2.2
    Tổng 7   19.3

     

    IV. Hiệu quả hoạt động tài chính dự kiến

    1 Nguồn vốn và tài sản

    – nguồn vốn chủ sỏ hữu: 450

    – vốn vay ngân hàng: 150

    Lãi suất vay ngân hàng 12%/năm

    2.Chi phí hoạt động

    – Trang thiết bị, mô hình xây dựng, địa điểm

    BẢNG TÍNH CHI PHÍ ĐẦU TƯ BAN ĐẦU

     

    Đvt: ngàn đồng.

     
                     
    TT HẠNG MỤC ĐẦU TƯ SL ĐVT   GIÁ   THÀNH TIỀN  
    1 Bàn mây tròn: 15 cái x 450 = 6.750  
    2 Ghế 80 cái x 300 = 24.000  
    3 Bàn gỗ_kiếng vuông, thấp: 15 cái x 420 == 6.300  
    4 nệm ngồi 80 cái x 35 = 2.800  
    5 Đế lót ly bằng gỗ 300 cái x 3,65 = 1.095  
    6 Gạt tàn thuốc bằng gốm (TA58): 20 cái x 19 = 300  
    7 Mâm Inox bưng nước cho nhân viên

     

    (304-36cm):

    15 cái x 101 = 1.515  
    8 Ly đựng kem 200 ly x 75 = 1.500  
    9 Thìa 200 cái x 5.5 = 1.100  
    10 Ti vi 1 Chiếc x 6.560 = 6.560  
    11 Máy điều hòa 1 Chiếc x 7.300 = 7.300  
    12 Điện thoại 2 Bộ   1.500 = 1.500  
    13 Đầu đĩa đa năng 1 Bộ x 2.100 = 2.100  
    114 Dàn loa 1 Bộ x 3.500 = 3.500  
    15 Tủ lạnh 2 cái x 10.500 = 21.000  
    16 Điện, đèn, nước, tiền công 1 Lần x 20.000 = 20.000  
    17 Đồng phục nhân viên: 16 cái x 300 = 4.800  
    18 Trang trí nội thất, sửa chữa quán, trang trí cây cảnh: 1 Lần x 150.000 = 140.000  
    19 1 tủ quầy bar tính tiền và để dàn nhạc 2 cái x 5.500 = 11.000  
    20 Chi phí PANO vải quảng cáo: 3 Tấm x 1.500 = 4.500  
    21 Giấy phép kinh doanh 1   x 5000 = 5.000  
    22 Chi phí bảng hiệu, hộp đèn: 1 Bộ x 20000 = 20.000  
    23 Đồ dùng khác 1 Lần x 120.000 = 12.000  
      Tổng vốn đầu tư           304.62  
                       

    Bảng 5:Chi phí cho hàng tháng

    Stt Loại chi phí Thành tiền

     

    (nghìn đồng)

    1 Sản lượng kem tiêu thụ hàng tháng 69.800
    2 Đồ uống 15.600
    3 Chi phí công nhân viên 19.800
    4 Khấu hao TSCĐ (24 tháng) 5.620
    5 Chi phí thuê mặt bằng 20.200
    6 Tiền điện nước hàng tháng 40.000
    7 Chi phí khác 12.300
      Tổng 183.02

    3. Doanh thu dự kiến và chi phí dự kiến

    Vốn cố định: 304.620.000 đ

    Chi tiêu hàng tháng:183.020.000 đ/tháng

    Doanh thu hàng ngày dự kiến: 6.80.000

    Doanh thu bình quân hàng tháng: 204.000.000 đ/tháng

    Lợi nhuận hàng tháng: 67.530.000 đ/tháng

    4. Đánh Giá Tài Chính

    1. Đánh giá tài chính

    P: vốn đầu tư ban đầu

    r: lãi suất chiết khấu

    CF: dòng thu nhập ròng qua các năm

    a, Hiện giá thu hồi thuần ( NPV )

    Thể hiện tổng số tiền lời sau khi hoàn đủ vốn ( dự tính sau 2 năm)

    Vậy ta có NPV >0, dự án khả thi.

    b, Suất thu hồi nội bộ(IRR)

    Biểu hiện suất sinh lợi thực tế của dự án

    Ta thấy, suất sinh lời thực tế của dự án IRR >10%, dự án khả thi.

    c, Chỉ số lợi nhuận(PI)

    Thể hiện tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án trên khoản đầu tư ban đầu

    Tỷ lệ này đạt 1,46 tức tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án là 19% trên khoản đầu tư ban đầu. So với các ngành nghề có số vốn đầu bằng dự án này thì có chỉ số PI như thế này tương đối tốt.

    d, Chỉ tiêu BCR ( thu nhập/ chi phí )

    B/C = = = 1.03

    Ta thấy B/C = 1.03> 0 nên dự án có hiệu quả về mặt kinh tế.

    Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu trên ta nhận xét dự án trên có hiệu quả về mặt kinh tế, nên đầu tư thực hennj dự án.

    V. Hiệu quả về mặt kinh tế xã hội

    Đây là một của hàng kinh doanh với quy mô nhỏ vì vậy ảnh hưởng của nó tơi mặt kinh tế xã hội là rất nhỏ, tuy nhiên cũng có thể kể ra một số hiệu quả mà nó mang lại như sau:

    • Tăng thu nhập cho quốc dân
    • Đóng góp vào việc gia tăng ngân sách
    • Một cửa hàng đẹp sẽ góp phần tôn lên vẻ đẹp chung của phố phường
    • Giúp con người có nơi thư giãn nghỉ ngơi, có giá trị cao về mặt tinh thần.

    VI.Những rủi ro có thể gặp

    Rủi ro là yếu tố luôn tồn tại trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh , và trong quá trình thực hiên dự án xây dựng của hàng kem”ice-cream” cũng không ngoại lệ.Những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xây dựng và triển khai dự án:

    • Cạnh tranh trong lĩnh vực này là rất cao, đòi hỏi chủ quán phải năng động, thích nghi kịp thời với mọi nhu cầu thay đổi của khách hàng, đua ra chiến lược canh trạnh thích hợp.
    • Do đặt của hàng ở nơi trung tâm nên chi phí kinh doanh cao, cần tìm mọi cách để tiết kiệm chi phí.
    • Giá cả thị trường luôn biến động, cần đề xuát các biện pháp đối phó kịp thời.

    KẾT LUẬN

    Đây là một dự án kinh doanh với mô hình nhỏ. Dự án trên đã khái quát được cơ bản các bước lập 1 kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên trên cơ sở tìm hiểu còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài viết của em đạt hiệu quả cao hơn.

    Em xin trân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Báo cáo thực tập: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của Tổng công ty chè Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-M%E1%BB%90I-QUAN-H%E1%BB%86-GI%E1%BB%AEA-V%E1%BA%ACT-CH%E1%BA%A4T-V%C3%80-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-TRONG-VI%E1%BB%86C-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-N%E1%BB%80N-KINH-T%E1%BA%BE-M%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Tiểu luận triết học

    ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA ————————

    LỜI NÓI ĐẦU

    Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới

    .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội .

    Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt .

    Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt ,giữ vai trò chủ đạo

    .Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách ,bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ,giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh .

    Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay”.

    2

    Tiểu luận triết học

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

    2.1.Vật chất

    1. Định nghĩa vật chất

    Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :”vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “.

    Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức ,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác ,ý thức, còn cảm giác ,ý thức phụ thuộc vào vật chất ,phản ánh khách quan.

    Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học ,Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học ,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể ,với những” hạt nhân cảm tính”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được .Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,”thượng đế”của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng

    3

    Tiểu luận triết học

    siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .

    Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.

    Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới

    • mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
    1. Các đặc tính của vật chất

    *Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian

    .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình

    4

    Tiểu luận triết học

    thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.

    Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.

    Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.

    Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.

    Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng ,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là

    5

    Tiểu luận triết học

    tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .

    *Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

    Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

    Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .

    Tính thống nhất vật chất của thế giới

    CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên nhân và kết quả của nhau.

    6

    Tiểu luận triết học

    2. ý thức

    1. kết cấu của ý thức

    Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần

    • thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng

    .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.

    Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là

    • thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

    7

    Tiểu luận triết học

    .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .

    Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động

    .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .

    1. Nguồn gốc của ý thức

    Nguồn gốc tự nhiên

    • thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hộ

    Nguồn gốc xã hội

     

    8

    Tiểu luận triết học

    Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.

    Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người .Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển

    .Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan ,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu”cần phải nói với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

    1. Bản chất của ý thức

    Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .

    Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

    • thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể

    9

    Tiểu luận triết học

    thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của

    • thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.

    Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời ,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.

    • thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
    • tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.

    3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

    Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa

    10

    Tiểu luận triết học

    vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.

    Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng

    11

    Tiểu luận triết học

    hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .

    II.               Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .

    1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị :

    Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp

    • thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn

    12

    Tiểu luận triết học

    lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.

    Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .

    Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người ,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của LLSX

    .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.

    13

    Tiểu luận triết học

    Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.

    Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách

    quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ người .

    chí,đồng thời phát huy vai trò năng lực chủ quan và hoạt động của con

    2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.

    Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…

    Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang , 1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn

    14

    Tiểu luận triết học

    hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân…đến hết 1980 ,nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được 50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm ,tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông nghiêp giảm 0,15% .

    Đại hội Đảng lần V vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,đồng thời cũng chưa đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985 . Chúng ta chưa khắc phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra .

    Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .

    Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới

    .Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải .

    Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta .

    Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện

    15

    Tiểu luận triết học

    nghị quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới đã đạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trị ổn định nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nước ,LLSX huy động tốt hơn ,tránh được lạm phát ,đời sống của người dân được cải thiện ,cuộc khủng hoảng đã giảm bớt ,sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy .

    Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức ,giữa kinh tế và chính trị ,nhờ có đường lối đổi mới ,nền kinh tế ngày càng phát triển ,cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc phát huy dân chủ trong xã hội . Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực như : lạm phát vẫn còn cao ,nhiều cơ sở đình đốn kéo dài ,lao động thiếu việc làm tăng lên ,và rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở… đặc biệt đại hội cũng xác định “về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng được nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm ,và các nhu cầu xã hội khác ,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ,coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.”

    Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước cả về kinh tế lẫn chính trị .Đại hội VIII đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt được ,cụ thể là phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995 ,trong đó nổi cộm nhất là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị ,phương châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bước đi vững chắc ,lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.

    16

    Tiểu luận triết học

    Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét :”nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII ,bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm ,nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta “.

    Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề đối nội đối ngoại . Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế … khắc phục được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều ngành nghề .Vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt

    .Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-

    • tỉ USD. Khoa học công nghệ có bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng ,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện ,quốc phòng an ninh được giữ vững.

    Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị ,mở rộng quan hệ đối ngoại ,tạo đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .

    Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế .Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghị đại biểu toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế

    17

    Tiểu luận triết học

    như “nền kinh tế vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu quả còn kém …” và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có những thay đổi tốt hơn ,Đảng đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

    Sau đại hội TƯ Đảng (khoá VII) ra nghị quyết phát triển công nghiệp mới đến 2000 theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước.Cải cách nền hành chính nhà nước với nội dung của hội nghị TƯ lần thứ VIII ,có thể coi đã cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển khoa học xã hội mà đại hộiVIII đã thông qua.

    Với thành công trong những năm qua ta thấy đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trước đây ta đã phủ nhận đẻ hướng tới CNXH bỏ qua CNTB . Đảng đã phạm sai lầm đó là vội cải tạo CNXH xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần duy trì lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.Có nhiều sai sót việc quản lý tiền tệ cũng như quản lý về giai cấp lãnh đạo. Nước ta đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của CNTB để tận dụng một cách tổng hợp vào tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay để đưa Việt Nam theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các bước phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

    Trên tinh thần đó cùng với các kinh nghiệm đại hội VIII lần này đã đánh giá được khó khăn chung để chủ động nắm lấy thời cơ để vươn lên đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ xuất phát từ tình hình trên . Đảng đã đề ra cương lĩnh cần tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Từ nay đến 2000 ra sức để trở thành nước công nghiệp.

    18

    Tiểu luận triết học

    Với những chính sách phát triển thích hợp chúng ta đã được một số bước tiến quan trọng ,bình thường hoá quan hệ Việt -Mĩ ,là thành viên của khối Asean ,đặc biệt 1998 nước ta đã trở thành thành viên của khối APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương)… Từ chỗ bị bao vây cấm vận đến nay nước ta đã quan hệ ngoại giao với 167 nước ,quan hệ thương mại với 120 nước ,phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng .Đó là ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môI trường hoà bình ổn định ,là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là 5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .

    Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao .Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …

    Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách và đường lối đúng đắn và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.

    Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất và áp dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế nước ta vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp

    19

    Tiểu luận triết học

    nghĩa là đòi hỏi người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tế để vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết hợp giữa tình cảm và trí tuệ phải thật nhuần nhuyễn ,các bộ quản lý phải có phẩm chất tốt đẹp,phải trung thực ,chính xác kịp thời ,phải biết nắm bắt và đề ra giải pháp dúng đắn cho mọi tình huống .Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí ,tư tưởng nóng vội phưu lưu ,bất chấp mọi quy luật .Ngoài ra cần rèn luyện tính kiên nhẫn chăm chỉ ,dám nghĩ dám làm ,chủ động sáng tạo ,giành lấy thời cơ .Rèn luyện được các phẩm chất ấy người quản lý sẽ đứng vững trên vị trí lãnh đạo của mình , ngoài ra còn có thể vươn lên cao hơn để trở thành nhà kinh doanh giỏi.

    20

    Tiểu luận triết học

    Kết luận

    Xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp ,nó như cuộc chiến đấu kháng chiến trường kì của Đảng và nhà nước.

    Với những bién động trước tình hình kinh tế của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phảI kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo ,nhạy bén thích ứng kịp thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.

    Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ,vận dụng thành thạo phép BCDV vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế ,phát huy mạnh mẽ quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân ,nhất định chúng ta sẽ trở thành những nhà quản lý giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước,tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam phát triển cao ,từ đó nâng cao vị trí Việt Nam trên chính trường quốc tế ,góp phần củng cố sự ổn định về chính trị của đất nước .Đó là lương tâm của những người làm công tác quản lý kinh tế chính trị.

    21

    Tiểu luận triết học


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Hướng dẫn Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-B%C3%A1nh-K%E1%BA%B9o-Bi%C3%AAn-H%C3%B2a-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập: Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica)

    Li m đầu

    Phân tích hoạt động kinh doanh nói chung hiện nay càng trở thành nhu cầu của doanh nghiệp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói hầu hết nhưng quyết định trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính có hiệu quả đều xuất phát từ các phân tích khoa học và khách quan vì vậy hoạt động phân tích kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng.

    Nhiệm vụ chính của phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh thông qua hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng, đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình và kết quả kinh hoạt động kinh doanh. Từ đó các số liệu phân tích trên sẽ đưa ra các đề xuất, giải pháp cụ thể, chi tiết phù hợp với thực tế của doanh nghiệp để có thể khai thác các tiềm năng và khắc phục yếu kém. Bên cạnh đó dựa vào kết quả phân tích còn có thể hoạch định phương án kinh doanh và dự báo kinh doanh.

    Nhóm chúng tôi chọn Công ty Cổ phần Bánh kẹo Biên Hòa để phân tích là vì:

     

    Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica) được người tiêu dùng bình chọn là doanh nghiệp nằm trong danh sách năm Công ty hàng đầu của ngành bánh kẹo Việt Nam. Bibica đã 10 năm liên tiếp đạt được danh hiệu ” Hàng Việt Nam chất lượng cao ” (từ 1997-2006). Công ty có một hệ thống sản phẩm rất đa dạng và phong phú gồm các chủng loại chính : Bánh quy, bánh cookies, bánh layer cake, chocolate, kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo, snack, bột ngũ cốc dinh dưỡng, bánh trung thu, mạch nha… Ngày 17/12/2001 Bibica chính thức niêm yết cổ phiếu tại trung tâm chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với mã chứng khoán là BBC.

    Chúng tôi hy vọng rằng phân tích hoạt động kinh doanh của  Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa trong 3 năm 2005, 2006, 2007 sẽ phần nào giúp chúng ta  thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, sự phát triển của Bibica trong những năm qua cũng như tiềm năng của công ty.

     

    I. Giới thiệu khái quát:

    1.Giới thiệu chung về công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa Bibica:

    1.1. Quá trình hình thành:

    Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa có tiền thân là phân xưởng kẹo của nhà máy Đường Biên Hòa( nay là công ty Cổ Phần Đường Biên Hòa) được thành lập từ năm 1990, Tháng 12/1998,theo quyếnt định số 234/1998/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, phân xưởng Bánh- Kẹo-Nha được chuyển thành Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa. Với năng lực sản xuất lúc mới thành lập là 5 tấn kẹo/ ngày Công ty đã dần dần mở rộng hoạt động, nâng công suất và đa dạng hóa sản phẩm. Hiện nay, Công ty là một trong những đơn vị sản xuất bánh kẹo lớn nhât Việt Nam với công suất thiết kế là 18 tấn bánh/ ngày, 18 tấn nha/ ngày và 29.5 tấn kẹo/ ngày.

    1.2. Chức năng hoạt động:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trong các lĩnh vực về công nghệ chế biến bánh-kẹo-nha.

    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh -kẹo-nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của công ty.

    1.3. Quá trình phát triển của Công ty có những nét chính như sau:

    – Giai đoạn 1990-1993,phân xưởng bánh được thành lập và mở rộng dần đến năng suất 5 tấn/ ngày.

    – Năm 1994 phân xưởng bánh được thành lập với dây chuyền sản xuất bánh bích quy hiện đại đồng bộ nhập từ Anh quốc có năng suất 8 tấn/ ngày.

    – Năm 1995 đầu tư mới cho phân xưởng sản xuất mạch nha năng suất 18 tấn/ ngày, với công nghệ tiên tiến thủy phân tinh bột bằng enzym, nhắm chủ động nguồn nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất bánh kẹo, ngoài ra còn cung cấp cho thị trường loại mạch nha chất lượng cao.

    – Năm 1996: Phân xưởng bánh kẹo được đầu tư mở rộng nâng năng suất lên đến 21 tấn/ ngày. Để phù hợp với yêu cầu về quản lý, phân xưởng kẹo được tách thành 2 phân xưởng: phân xưởng kẹo cứng 12 tấn/ ngày, phân xưởng kẹo mềm 9 tấn/ ngày.

    – Năm 1997:

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất kẹo dẻo theo công nghệ hiện đại của Úc với năng suất 2 tấn/ ngày.

    + Đầu tư mở rộng nâng năng lực sản xuất phân xưởng kẹo cứng đến 16 tấn/ ngày.

    – Ngày 01/12/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 234/1998 QĐ-TTg, phê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển phân xưởng bánh kẹo và nha của Công ty Đường Biên Hòa tử một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    – Năm 1999:

    + Ngày 09/01/1999, đại hội cổ đông của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa đã tiến hành, thông qua “ Điệu lệ tổ chức và hoạt động” của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa.

    + Đầu tư mở rộng phân xưởng bánh kẹo mềm nâng  cao công suất lên đến 11 tấn/ ngày

    + Đầu tư mới dây chuyền sản xuất thùng carton và dây chuyến sản xuất khay nhựa, nhằm chủ động cung cấp một phần bao bì cho sản xuất bánh kẹo

    – Năm 2000:

    + Tháng 02/2000 Công ty Bibica đã vinh dự là công ty bánh kẹo đầu tiên của Việt Nam chính thức nhận giáy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO9002 của tổ chức BVQI_Anh quốc.

    +Đầu tư mới dây chuyền sản xuất snack với công suất 2 tấn/ ngày

    – Năm 2001

    + Tháng 3/2001, đại hội cổ đông nhất trí tăng vốn điều lệ từ 25 tỷ đồng lên 35 tỷ dồng từ vốn tích lũy có được sau hơn 2 năm hoạt động  dưới pháp nhân công ty cổ phần.

    +Tháng 7/2001, Công ty gọi thêm vốn cổ dông , nâng vốn điều lệ của Công ty lên con số 56 tỷ đồng để chủ dộng nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh, tạo thêm sức mạnh về tài chính, dông thời dáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho việc đổi mới công nghệ nhà máy hiện có như đầu tư thiết bị dây chuyền bánh cake, dây chuyền socola, thiết bị sản xuất bánh Trung thi và bánh cooloes nhân, thiết bị đóng gói bánh… với tổng đầu tư 40,8 tỷ đồng và đầu tư  xây dựng thêm một nhà máy mới ở Hà Nội với tổng đầu tư trị giá 13,3 tỷ đồng. Những thành tích đạt được trong các năm qua:

    -Bằng khen của Bộ Tài Chính, UBND tỉnh Đồng Nai về việc nộp ngân sách cho nhà nước.

    -Năm năm liền được người tiêu dùng bình chọn “ Hàng Việt Nam chất lượng cao”

    -Giấy chứng nhận ISO9002 do tổ chức BVQI-Vương Quôc Anh cấp

    -Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho giám đốc Công ty.

    1.4. Thị phần của Bibica:

    Sản phẩm của công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96-97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3%-4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha. Trong thời gian sắp đến Công ty tiếp tục đinh hướng phát triển theo hướng khai thác , mở rộng thị trường nội địa.

    Với doanh thu tiêu thụ năm 2000 đạt 187,26 tỷ đồng, công ty hiện chiếm khoảng 7% thị trường bánh kẹo được sản xuất trong nước.

    Với hệ thống phân phối được xáy dựng từ năm 1994 và được mở rộng dần, Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối tại khu vực đồng bắng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung, 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản phẩm của Công ty đã đựợc tiêu thụ trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty . Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty. Bên cạnh đó thị trường tại các tỉnh thành phố, công ty đã đưa được sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng ở các vùng nông thôn. Doanh thu từ khu vực nông thôn đã vượt xa khu vực thành thị.

    Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu của Công ty là thành phố Hô Chí Minh, chiếm 27,36% tổng doanh thu. Kế tiếp là Đồng Nai, 8,77% và Hà Nội 5,28% tổng doanh thu. Một số khu vực thị trường lớn của Công ty được trình bày trong bảng dưới đây:

      Số NPP-ĐL Doanh thu Tỷ trọng
    TPHCM * 25 51.237 27,36%
    Đồng Nai * 14 16.426 8,77%
    Hà Nội 9 9.896 5,28%
    Đà Nẵng 2 6.146 3,28%
    Cần Thơ 2 5.048 2,70%
    Đắc Lắc 1 4.823 2,58%

    (*) Bao gồm cả cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Công ty

    Theo kế hoạch tài chính, doanh thu năm2001 của Công ty là 181 tỷ đồng, giảm 3,4% so với năm 2000. Tuy nhiên, theo dự kiến sang năm 2002 doanh thu của  Công ty sẽ  phục hồi và tăng lên 327 tỷ đồng nhờ vào các dây chuyền đầu tư mới đưa vào sản xuât. Song song với việc phát triển sản phẩm mới thì  Công ty còn đẩy mạnh công tác tiếp thị và mở rộng phân phối để đạt mục tiêu tăng trưởng như trên.

    2. Tổng quan về thị trường và một số đối thủ cạnh tranh:

    2.1. Tổng quan thị trường:

    Hiện nay Việt Nam tiêu thụ khoảng 100.000 tấn bánh kẹo một năm bình quân khoảng 1,25kg/người/năm. Với khối lượng tiêu thụ như trên tồng giá trị của thị trường bánh kẹo Việt Nam vào khoảng 3.800 tỷ đồng…

    Trước giai đọan đổi mới, các cơ sở sản xuất bánh kẹo lớn trong cả nước chủ yếu là các đơn vị kinh tế quốc doanh, với hai loại sản phẩm chính là kẹo cứng không nhân và bánh bích quy.Giai đoạn đổi mới bắt đầu kéo theo việc nhập khẩu nhiều loại bánh kẹo từ bên ngoài do năng lực sản xuất trong nước không đáp ứng được  nhu cầu tăng lên nhanh chóng từ việc cải thiện thu nhập người dân. Sản phẩm bánh kẹo đa dạng dần. Tuy nhiên, đến những năm cuối của thập kỷ 90, sản phẩm trong nước đã giành lại đa số thị phần đã mất và hiện chiếm khoảng trên 70% giá thị trường.

    Tham gia  thị trường hiện nay có khoảng trên 30 DN sản xuất bánh kẹo có tên tuổi trên thị trường, Số lượng các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ không có thống kê chính xác, với sản phẩm là bánh kẹo có phẩm chất thấp, được tiêu thụ tại các địa phương riêng lẻ. Các cơ sở này ước tính chiếm khoảng 35%-40% thị phần bánh kẹo cả nước.

    2.2. Một số đối thủ cạnh tranh:

    2.2.1. Đối thủ cạnh tranh trong nước:

    – Công ty Xây Dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô(Kinh Đô): cạnh tranh với Công ty về các sản phẩm bánh cracker tại các tỉnh phía Nam. Với hệ thống phân phối gồm 130 đại lý, sản phẩm của Kinh Đô được phân phối trên khắp thị trường Việt Nam, đặc biệt tại thành phố HCM. Kinh Đô rất chú trọng đến các hoạt động tiếp thị với nhiều  biện pháp như quảng cáo, khuyến mãi, tỷ lệ  chiết khấu cho các đại lý cao và đặc biệt là thiết lập hệ thống các bakery tại thành phố HCM, thị trường chính của Công ty. Kinh Đô cũng đang tiến hành xây dựng hệ thống các Bakery tại Hà Nội. Tháng 9 năm 2001, nhà máy sản xuất tại Hưng Yên của Kinh Đô bắt đầu đi vào sản xuất,. phục vụ cho thị trường miền Bắc và Bắc Trung Bộ, Tuy nhiên, giá bán sản phẩm của công ty Kinh Đô ở mức trung bình đến khá cao so với các sản phẩm của các công ty khác trên thị trường, Hiện nay, Kinh Đô chiếm khoảng 10% thị trường bánh kẹo trong nước.

    -Công ty Bánh Kẹo Hải Hà sản xuất các sản phẩm ở cả năm nhóm cookies, bánh quy, kẹo cứng, kẹo mềm và kẹo dẻo nhưng có thế mạnh chủ yếu ở các sản phẩm kẹo. Sản phẩm của Hải Hà phục vụ cho thị trường bình dân với mức giá trung bình thấp. Với hơn 100 đại lý, Hải Hà đã thiết lập được một hệ thống phân phối ở 34 tỉnh thành trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các khu vực miền Bắc và miền Trung. Chủ trương của Hải Hà là đa dạng hóa sản phẩm đặc biệt là những sản phẩm mang hương vị đặc trưng của hoa quả miền Bắc như kẹo chanh, mận…đồng thời bảo đảm ổn định chất lượng sản phẩm hiện hành, Về chiến lược tiếp thị của Công ty chiếm khoảng 6,5% thị trường bánh kẹo trong nước.

    – Công ty Bánh Kẹo Hải Châu: cũng tương tự như Hải Hà, thị trường chính của Hải Châu là các tỉnh phía Bắc, sản phẩm phục vụ cho thị trường bình dân với giá bán trung bình và thấp, Hải Châu đang chiếm khoảng 3% thị trường bánh kẹo,

    – Công ty Đường Quảng Ngãi: bắt đầu tham gia vào thị trường bánh kẹo từ năm 1994, đến nay Công ty đã có hơn 60 sản phẩm bánh kẹo các loại. Thị trường chính của các sản phẩm bánh kẹo của công ty là khu vực miền Trung, Tuy nhiên, do bánh kẹo chỉ là một trong nhiều ngành hàng của Công ty Đường Quảng Ngãi, mức độ tập trung đầu tư cho bánh kẹo không lớn. Thị phần của Công ty Đường Quảng Ngãi vào khoảng 2,5 %

    – Ngoài ra còn có Công ty Đường Lam Sơn, Xí nghiệp bánh Lubico, Công ty Bánh kẹo Tràng An…

    2.2.2 Đối thủ cạnh tranh nước ngoài :

    Là các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài như Công ty Liên doanh Vinabico-Kotobuki, Công ty Liên doanh sản xuất Kẹo perfetti… các doanh nghiệp này đều có lợi thế về công nghệ do mới được thành lập khoảng bốn năm trở lại đây,

    Trong đó Công ty Liên doanh Vinaco-Kotobuki được thành lập ngày 12/11/1992 với vốn đăng kí kinh doanh là 3.740.000 USD, tập trung vào sản xuất các loại bánh cookies và bánh bích quy. Tuy nhiên, do thị trường chính của Vinabico-Kotobuki là thị trường xuất nhập khẩu nên công ty ít đầu tư, không quảng cáo để mở rộng thị phần trong nước. Vinabico-Kotobuki chỉ chiếm khoảng 1% thị trường bánh kẹo trong nước.

    Công ty Liên doanh Sản xuất Kẹo Perfetti- Việt Nam được hình thành vào ngày 22/8/1995 với vốn đăng ký kinh doanh là 5.600.000 USD, tập trung sản xuất các lọai kẹo cứng cao cấp Perfetti tập trung vào công tác tiếp thị và phân phố . Sản phẩm của Perfetti được ổn định chất lượng ở mức cao, Perfetti đang chiếm khoảng 60% thị trường bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Bên cạnh các công ty sản xuất lớn, các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhở chiếm một thì phần lớn, khoảng 35%-40% tổng sản lượng bánh kẹo sản xuất trong nước.

    Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần ( bao gồm chính thức và chưa chính thức) chủ yế từ Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được

     

    Bảng cân đối kế toán

    Đơn vị tính: VNĐ

      31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007
    Tài sản      
    A. Tài sản ngắn hạn 100.830.486.720 156.306.589.247 179.079.163.900
    I. Tiền và các khoản tương đương tiền 11.158.972.479 22.569.254.239 44.423.027.953
    II. Các khoản ĐT tài chính ngắn hạn 35.000.000.000 14.055.000.000
    III. Các khoản phải thu 27.896.506.491 33.166.654.300 30.318.114.546
    IV. Hàng tồn kho 61.414.409.410 63.822.664.865 86.850.781.794
    1. Hàng tồn kho 61.749.553.063 64.157.808.518 86.850.781.794
    2. Dự phòng giảm giá HTK (335.143.653) (335.143.653) 0
    V. Tài sản ngắn hạn khác 360.598.340 1.748.015.843 3.432.239.607
    B. Tài sản dài hạn 77.821.142.178 86.670.014.998 200.623.326.337
    I. Tài sản cố định 65.831.998.937 64.626.860.632 149.255.710.813
    1. Tài sản cố định hữu hình 63.905.528.141 58.548.317.000 81.826.656.838
    2. Tài sản cố định vô hình 538.934.796 1.098.989.728 921.324760
    3. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 1.387.536.000 4.979.553.904 66.507.729.215
    II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 3.719.805.000 9.753.219.388 39.208.289.669
    1. Đầu tư vào công ty con
    2. Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh
    3. Đầu tư dài hạn khác 3.719.805.000 10.319.224.388 39.208.289.669
    4. Dự phòng giảm giá ĐT dài hạn (566.005.000)
    IV. Tài sản dài hạn khác 8.269.338.241 12.289.934.978 12.159.325.855
    Tổng cộng tài sản 178.651.626.898 242.976.604.245 379.702.490.237
    Nguồn vốn      
    A. Nợ phải trả 86.886.793.280 59.617.754.851 172.154.628.620
    I. Nợ ngắn hạn 83.286.318.749 56.438.880.320 141.006.261.516
    II. Nợ dài hạn 3.600.474.531 3.178.874.531 31.570.329.740
    B. Nguồn vốn chủ sở hữu 91.764.835.618 183.358.849.394 207.547.861.617
    I. Vốn chủ sở hữu 90.184.590.235 182.493.104.011 205.924.166.234
    1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 56.000.000.000 89.900.000.000 107.707.820.000
    2. Thặng dư vốn cổ phần 27.382.833.351 70.258.833.351 70.226.583.351
    3. Quỹ đầu tư phát triển 5.539.809.276 5.539.809.276 7.458.322.848
    4. Quỹ dự phòng tài chính 1.110.231.382 1.110.231.382 2.069.231.382
    5. Quỹ khác thuộc VCSH
    6. Lợi nhuận chưa phân phối 151.716.226 15.684.230.002 18.040.246.016
    II. Nguồn kinh phí và quỹ khác 1.580.245.383 865.745.383 1.623.695.383
    Tổng cộng nguồn vốn 178.651.628.898 242.976.604.245 379.702.490.237

     

     

    Báo cáo kết quả kinh doanh

    Đơn vị tính: VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. DT bán hàng và cung cấp DV 287.091.873.695 343.061.150.267 456.850.115.543
    2. Các khoản giảm trừ 1.729.630.268 1.730.500.189 2.874.617.047
    3. DTT bán hàng và cung cấp DV 285.362.243.427 341.330.650.078 453.975.498.496
    4. GVHB 216.296.053.953 254.908.885.176 335.662.124.255
    5. Lợi nhuận gộp 69.066.189.474 86.421.764.902 118.313.374.241
    6. DT từ hoạt động tài chính 219.830.271 9.011.374.278 14.189.899.449
    7. Chi phí tài chính 3.152.731.691 3.323.504.266 3.717.954.055
    Trong đó: chi phí lãi vay 3.094.576.229 2.478.137.604 3.297.174.121
    8. Chi phí bán hàng 35.855.608.472 51.307.969.400 74.254.015.306
    9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.356.957.577 16.092.048.926 21.060.872.607
    10. LNT từ hoạt động KD 15.920.722.005 24.709.616.588 33.470.431.722
    11. Thu nhập khác 560.727.081 1.160.267.499 1.222.964.533
    12. Chi phí khác 390.346.920 538.102.347 659.430.628
    13. Lợi nhuận khác 170.380.161 622.165.152 563.533.905
    14. Tổng lợi nhuận trước thuế 16.091.102.166 25.331.781.740 34.033.965.627
    15. Thuế thu nhập DN 3.772.985.317 6.149.268.168 9.038.734.795
    16. Lợi nhuận sau thuế 12.318.116.849 19.182.513.572 24.995.221.832
    17. Lãi cơ bản trên cổ phiếu 1.989 2.593 2.541

     

    II. Phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Kẹo Biên Hòa (Bibica):

    1. Phân tích doanh thu của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

    (trích bảng phân tích biến động doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Năm 2005, doanh thu của công ty đạt 287 tỷ đồng, năm 2006 đạt hơn 343 tỷ đồng, tăng 19,5%, tương ứng với khoảng 56 tỷ đồng. Năm 2007, doanh thu đột nhiên tăng cao hơn gần gấp rưỡi, khoảng 456 tỷ đồng, tăng 33,17% so với năm 2006, tương ứng với 113 tỷ đồng.

    Có thể nói, doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh. Điều đó chứng tỏ công ty đã không ngừng nỗ lực đàm phán, tìm kiếm mở rộng các mối quan hệ kinh tế nhằm làm tăng doanh thu, đồng thời cũng thể hiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo dựng được uy tín trên thị trường. Năm 2005, doanh thu của công ty là 287,091,873,695 triệu đồng. Đây là năm Bibica hoàn tất các công việc chuẩn bị và chính thức xuất khẩu lô hàng bánh trung thu đầu tiên sang thị trường Mỹ. Việc xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Mỹ, một thị trường nổi tiếng khắt khe về yêu cầu chất lượng cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm một lần nữa khẳng định uy tín về chất lượng sản phẩm của Bibica. Nhờ bước tiến về mặt xuất khẩu này, doanh thu của Bibica sang năm 2006 đã tăng 19,5%. Thêm một lý do nữa khiến doanh thu không ngừng tăng trường là do Bibica rất chịu khó nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt. Không những thế, các sản phẩm của Bibica cũng không ngừng đổi mới về mẫu mã nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Valentine năm 2006, công ty Bibica lần đầu tiên đưa ra thị trường Việt Nam sản phẩm Choco Bella Light sử dụng đường Isomalt thay thế hoàn toàn cho đường Sacharose bình thường, nhờ đó nhắm tới được đối tượng khách hàng là những người ăn kiêng, người e ngại thừa cân béo phì – những người tưởng chừng không bao giờ chạm tới thỏi socola.  Thị trường Socola phục vụ cho nhu cầu dịp Valentine day’s những năm qua cho thấy thương hiệu Choco Bella của Bibica luôn là sự lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng do đảm bảo được chất lượng, mẫu mã đẹp, sang trọng, phù hợp thị hiếu thẩm mĩ. Ngày Tết thiếu nhi 01/06, Bibica cũng tung ra thị trường sản phẩm mới, đón nhu cầu mua sắm của các hộ gia đình, các cơ quan tổ chức chăm lo cho trẻ em. Có thể nói, Bibica đã chịu khó cung cấp nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi, giúp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, đem lại doanh thu ngày càng lớn.

    Nhắc đến những nguyên nhân khiến doanh thu của công ty không ngừng tăng, còn phải kể đến nỗ lực vươn ra ngoài biên giới Việt Nam của Bibica. Đã 2 lần được tín nhiệm chọn làm nhãn hàng bánh kẹo phục vụ các hội nghị quốc tế : ASEM 5 ( năm 2004) và gần đây nhất là hội nghị APEC 2006. Sản phẩm bánh kẹo Bibica phục vụ cho hội nghị APEC là những sản phẩm có chất lượng cao đã được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền. Đồng thời với việc quảng bá hình ảnh cho bạn bè quốc tế, Bibica cũng rất chịu khó tạo dựng uy tín và củng cố hình ảnh một doanh nghiệp thành đạt vì cộng đồng ở trong nước. Điều này được thể hiện bằng một loạt các hoạt động xã hội có sự tham gia của Bibica như: Tài trợ sản phẩm dinh dưỡng cho bệnh nhân nghèo bị bão số 6 ; Bibica với chương trình “ Trái tim nhân ái”; các hoạt động tài trợ cho dịp tết Trung Thu; hay tài trợ 70 triệu đồng cho trẻ em bị teo hóa cơ Delta…Tất cả những hoạt động xã hội nay giúp Bibica không ngừng củng cố thương hiệu và uy tín của mình, trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu tại Việt Nam, tạo dựng được sự tín nhiệm đối với khách hàng, giúp tăng doanh thu.

    Năm 2007, doanh thu của công ty là 456,850,115,543 VNĐ, tăng hơn 113 tỷtương ứng với 33,17%. Lý giải điều này, bên cạnh những lý do đã nêu trên, còn phải kể đến việc Bibica chính thức khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương vào ngày 22/01/07. Dự án Nhà máy Bibica Bình Dương trên diện tích 40.000 m2, trong đó gồm 79 tỷ đồng là tổng vốn đầu tư giai đoạn 1, gồm xây dựng nhà xưởng và đầu tư dây chuyền sản xuất bánh bông lan kem cao cấp từ Ý, Châu Âu có năng suất 2.500 tấn sản phẩm/năm. Việc đầu tư giai đoạn 1 Nhà máy Bibica Bình Dương dự kiến sẽ góp phần tăng thêm doanh thu bình quân hàng năm của Bibica hơn 90 tỷ đồng/năm và thực tế là doanh thu năm 2007 đã tăng thêm tới hơn 113 tỷ so với năm 2006.

    2. Phân tích chi phí của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lý 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

    (trích bảng phân tích chi phí doanh thu năm 2006-2005 và 2007-2006)

    Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy, tổng chi phí kinh doanh của công ty tăng tương đối nhanh, năm 2005 chỉ là 50 tỷ, chiếm 17,6 % tổng doanh thu nhưng năm 2006 đã là 67,4 tỷ, chiếm 19,75% tổng doanh thu, biến động 2005-2006 là 34,23% tương ứng với gần 17, 2 tỷ đồng. Năm 2007, tổng chi phí kinh doanh của công ty là 95,3 tỷ đồng, chiếm tới 21 % tổng doanh thu, biến động 2006 – 2007 là 41,42 %,tương ứng với gần 28 tỷ. Cụ thể biến động về chi phí bán hàng và chi phí quản lí như sau:

    – Chi phí bán hàng:

    Trong giai đoạn 2005 – 2007: tỉ trọng chi phí bán hàng trong tổng doanh thu tăng liên tục. Năm 2005 chi phí bán hàng là 35,8 tỷ đồng, chiếm 12,56 % doanh thu, năm 2006 chiếm 76,12% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2007, chi phí bán hàng xấp xỉ 74, 2 tỷ, chiếm 77,9% tổng chi phí kinh doanh. Biến động chi phí bán hàng 2005 – 2006 là 43,10%, tương ứng với 15, 45 tỷ đồng. Biến động chi phí bán hàng năm 2006 – 2007 là 44,72 %, tương ứng với xấp xỉ 23 tỷ đồng. Tuy chi phí bán hàng tăng, nhưng tỉ suất phí lại giảm.

    – Chi phí quản lí:

    Năm 2005, chi phí quản lí đạt 14, 35 tỷ đồng, chiếm 28,59% tổng chi phí kinh doanh. Năm 2006, chi phí quản lí chiếm 23,88 % tổng chi phí kinh doanh và năm 2007 chiếm 22,1% tổng chi phí kinh doanh. Biến động 2005 – 2006 là 12,09%, tương ứng với 1, 73 tỷ. Biến động 2006 – 2007 là 30,88%, tương ứng với xấp xỉ 5 tỷ. Tương tự như chi phí bán hàng, dù chi phí quản lí qua các năm là tăng, nhưng tỉ suất phí vẫn giảm.

    Để lý giải điều này, phải nhìn vào thực tế là công ty đã không ngừng cải thiện để nâng cao doanh thu, do đó lượng hàng bán ra ngày càng nhiều, nên chi phí bán hàng tăng. Kể từ năm 2005, Bibica đã trở thành doanh nghiệp sản xuất Socola đi đầu của Việt Nam, doanh số bán hàng bán ra tăng không ngừng với đủ các loại mẫu mã, điều này lý giải cho việc chi phí bán hàng không ngừng tăng từ năm 2005 đến năm 2007.

    Chi phí quản lý năm 2006 chỉ tăng so với năm 2005 là 1, 73 tỷ, nhưng đến năm 2007 đã vọt tăng gấp 4 lần con số này, xấp xỉ 5 tỷ. Đó là do đầu năm 2007, công ty khởi công xây dựng nhà máy Bibica Bình Dương, một dự án lớn cầu đầu tư cả vốn và nhân lực, do đó công tác quản lý phải được đẩy mạnh. Chính vì vậy mà chi phí quản lý tăng cao.

    Tuy nhiên, mặc dù chi phí bán hàng, chi phí quản lý và tổng chi phí kinh doanh tăng, nhưng tỷ suất phí vẫn giảm. Đó là do năm 2006, công ty đạt giải thưởng Sao khuê của Hiệp hội Phần Mềm Việt Nam VINASA nhờ sự quyết tâm trong ứng dụng và ứng dụng có hiệu quả giả pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp). Công ty đã ứng dụng đầy đủ các tính năng của bộ phần mềm bao gồm : Quản lý Tài Chính Kế toán, Quản lý bán hàng, Quản lý mua hàng, Quản lý kho, Quản Lý sản xuất. Điều này giúp Bibica quản lý hoạt động doanh nghiệp khoa học hơn. Do vậy, tuy chi phí bán hàng và chi phí quản lý vẫn tăng nhưng công ty quản lý tốt nên tỷ suất phí qua các năm vẫn giảm.

    3. Phân tích tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp:

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN

     

    trước thuế

    9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ

     

    SXKD

    8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

    (trích bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Năm 2005, tổng lợi nhuận trước thuế của Bibica đạt 16 tỷ đồng. Năm 2006, con số này đã đạt trên 25 tỷ đồng và tăng 57.43% so với năm 2005. Từ năm 2006 đến 2007  tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có tốc độ tăng chậm hơn giai đoạn 2005-2006 (34.35%) nhưng vẫn đạt mức cao, 34 tỷ đồng.

    Nhìn chung cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp không có nhiều biến động đáng kể. Năm 2005 lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỉ trọng 98.94% và lợi nhuận khác chiếm 1.06% tổng lợi nhuận trước thuế. Năm 2005 tỷ trọng của lợi nhuận khác tăng 1.4% lên mức 2.46%, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm xuống còn 97.57%. Tuy nhiên đến năm 2007 mức tỷ trọng của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác lại gần giống với năm 2005, là 98.34% và 1.66%.

    Giai đoạn 2005-2006 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng gần 8.8 tỷ đồng tương đương 55.20%. Bên cạnh đó lợi nhuận khác tăng 265.16% từ hơn 170 triệu đồng lên đến hơn 622 triệu đồng. Tuy nhiên vì chiếm tỷ trọn nhỏ trong tổng lợi nhuận nên con số này dù lớn nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến sức tăng của tổng lợi nhuận.

    Từ năm 2006 đến 2007 lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn tăng, tuy mức độ có chậm hơn 35.46%. Ngược lại, lợi nhuận khác lại giảm hơn 58 triệu đồng (9.42%) tương đương với mức giảm tỷ trọng là 0.8%.

    Chỉ tiêu Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp bán hàng và cung cấp DV 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH        
    8. Tỷ suất phí CFQL        
    9. LNT hoạt động bán hàng, cung cấp DV 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

    (trích bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần năm 2005-2006 và 2006-2007)

    Doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tăng dần qua các năm từ 2005 đến 2007. Năm 2005 doanh thu thuần là hơn 285 tỷ thì đến năm 2006 con số này đã tăng lên mức hơn 341 tỷ và gần 453 tỷ vào năm 2007. So với năm 2005 doanh thu thuần năm 2006 tăng gần 55 tỷ tương đương với 19.61%. Năm 2007 so với năm 2006 mức tăng lên tới hơn 112 tỷ đồng (33.00%). Nhìn vào các con số trên ta có thể thấy rõ hoạt động sản xuất kinh doanh của Bibica có sự tăng trưởng rất ấn tượng: biến động doanh thu thuần 07/06 gấp đôi so với 06/05.

    Lợi nhận gộp hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2006 cao hơn năm 2005 hơn 38 tỷ tương ứng với mức tăng 25.13%. Biến động lợi nhuận gộp năm 2007-2006 ở mức lớn hơn hẳn so với năm 2006-2005: 36.90%. Điều này có thể lý giải qua sự gia tăng của doanh thu thuần năm 2007 so với năm 2006.

    Năm 2005, 100 đồng doanh thu thu về có 24.20 đồng là lợi nhuận gộp. Tỷ lệ LNG/DTT này tăng nhẹ trong 2 năm 2006 và 2007. Cho đến năm 2007, 100 đồng doanh thu thu về đã có tới 26.06 đồng lợi nhuận gộp. Tỷ lệ này cho thấy kết quả kinh doanh của Bibica trên cơ sở giá vốn hàng bán cũng như hiệu quả của việc điều chỉnh giá và quản lý giá vốn hàng bán của doanh nghiệp đều tăng.

    Chi phí bán hàng năm 2006 so với năm 2005 tăng 43.10%. Năm 2007 mức tăng này không có sự thay đổi đáng kể và đạt mức 44.72% nhưng chi phí quản lý lại có sự gia tăng đột biến. Biến động chi phí quản lý 07/06 cao gấp 2.6 lần so với biến động 06/05. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới mức tăng của lợi nhuận thuần. Tăng trưởng lợi nhuận thần giai đoạn 2005-2006 đạt 55.20% nhưng đến thời kì 2006-2007 lại chỉ ở mức 35.46%. Tuy nhiên nếu nhìn vào tỷ suất phí chi phí quản lý ta lại thấy tỷ suất phí giảm từ 5.03% (2005) xuống 4.64% (2007). Tăng chi phí quản lý, mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng Bibica cũng đồng thời nâng cao được hiệu quả quản lý. Đó là do Bibica đã ứng dụng có hiệu quả giải pháp phần mềm ERP ( Enterprise Resources Planning- Hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp) trong quản lý các khâu mua hàng, bán hàng sản xuất…

    Bên cạnh đó, tỷ lệ LNT/DTT và tỷ lệ LNT/GVĐĐ từ năm 2005 đến 2007 đều tăng. Năm 2005, 1 đồng chi phí bỏ ra thu được 5.97 đồng lợi nhuận thuần trong khi năm 2007, 1 đồng chi phí bỏ ra thu về được 7.77 đồng lợi nhuận thuần. 2 tỷ lệ trên cho thấy hoạt động sản suất kinh doanh nói chung cũng như khả năng kiểm soát của chủ doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động này và hiệu quả sử dụng đồng vốn đều được nâng cao.

    Với mức lợi nhuận thuần trên trong năm 2007 Bibica đã lọt vào top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam theo lợi nhuận với vị trí thứ 78 (Theo www.vnr500.com.vn).  Trong các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần thì doanh thu thuần là nhân tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới lợi nhuận thuần. Mức tăng 33% của doanh thu thuần năm 2007 so với 2006 nhờ việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, cải tiến mẫu mã sản phẩm… ảnh hưởng lớn nhất tới việc gia tăng lợi nhuận thuần. Bên cạnh đó, việc chi phí quản lý tăng nhanh lại là ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận thuần do đó Bibica cần phải có những biện pháp để giảm chi phí này.

    4. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    4.1. Phân tích khái quát tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51
    TSLĐ/NNH 1.35 3.16 1.63 2.68 2.23 5.70 1.49 1.61 1.45
    TSCĐ/NVTX 1.90 1.31 1.60 0.40 0.41 0.51 0.58 0.47 0.68

    4.1.1. Tỷ suất đầu tư:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất đầu tư 0.37 0.27 0.39 0.29 0.28 0.14 0.31 0.26 0.41

    Tỷ suất đầu tư của Bibica năm 2005 là 0.37, năm 2006 đã giảm 37% tức là ở mức 0.27 nhưng sang năm 2007 lại tăng lên 0.39. Như vậy là qua năm tỷ suất đầu tư vào tài sản cố định của Bibica đă tăng 5.4%, trong khi đó tài sản lưu động của doanh nghiệp đã không ngừng tăng chứng tỏ nhìn chung qua 3 năm thì doanh nghiệp đã đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Trong số hai doanh nghiệp cùng ngành thì Hải hà có diễn biến về tỷ suất đầu tư qua 3 năm cũng khá là giống với Bibica, Kinh Đô thì lại có tỷ suất đầu tư giảm dần trong 3 năm và ở mức thấp hơn nhiều so với Bibica cũng như là Hải Hà.

    4.1.2. Tỷ suất tự tài trợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Tỷ suất tự tài trợ 0.50 0.75 0.54 0.65 0.63 0.80 0.40 0.44 0.51

    Tỷ suất tự tài trợ của Bibica năm 2007 là 0.54, nghĩa là vốn chủ sở hữu chiếm 54% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, mặc dù so với năm 2006 thì chỉ số này đã giảm tới 0.39% nhưng mặt khác do tỷ lệ Nợ/VCSH của Bibica năm 2007 là 0.84 chứng tỏ nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp vẫn đủ khả năng thanh toán các khoản nợ và vì thế doanh nghiệp vẫn có khả năng kiểm soát được mức độ rủi ro trong kinh doanh. Nếu so cả 3 doanh nghiệp cùng ngành với nhau thì Hải Hà có khả năng tự chủ về tài chính là thấp nhất và cũng bởi vì tỷ lệ nợ/VCSH (năm 2007) là 0.96 (cao hơn so với Bibica) cho nên mức độ rủi ro trong kinh doanh của Hải Hà là lớn hơn so với Bibica. Nhưng nhìn chung cơ cấu nguồn vốn của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức chấp nhận được (vốn chủ sở hữu chiếm 30-70% tổng nguồn vốn) và vì thế mức độ rủi ro trong kinh doanh là hoàn toàn có thể kiểm soát được.

    4.1.3. Hệ số đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    TSLĐ/NNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    TSCĐ/NVTX 0.70 0.35 0.63 0.40 0.41 0.18 0.58 0.47 0.68

    Nhìn vào các chỉ tiêu trên của Bibica, ta thấy rằng qua 3 năm thì tỷ lệ TSLĐ/NNH đều lớn hơn 1 và tỷ lệ TSCĐ/NVTX đều nhỏ hơn 1 vì vậy trong quá trình kinh doanh trong suốt 3 năm qua thì vốn lưu động ròng của Bibica đều dương (vì VLĐR=TSLĐ-NNH=NVTX-TSCĐ) cho nên doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Tương tự như Bibica, Kinh Đô và Hải Hà đều có những con số khả quan như vậy. Ngoài ra thì vốn chủ sở hữu của cả 3 doanh nghiệp đều tăng đều đặn qua 3 năm nên ta cũng thấy được mức độ bền vững trong việc tăng vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp.

    4.2. Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số thanh ngắn hạn 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40
    Hệ số thanh toán nợ nhanh 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70
    Hệ số thanh tức thời 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30
    Hệ số thanh toán toàn bộ 2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04
    Hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    4.2.1. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTNH 1.21 2.32 1.27 1.83 1.52 3.8 1.50 1.60 1.40

    Năm 2005 hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica là 1.21, năm 2006 là 2.32 tức là tăng 1.92 lần nhưng năm 2007 giảm xuống mức 1.27. Cả 3 năm hệ số thanh toán đều lớn hơn 1 cho thấy tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt các khoản nợ ngắn hạn.

    Năm 2006, mỗi 1 VNĐ nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 2.32 VNĐ tài sản ngắn hạn. Hệ số thanh toán ngắn hạn cao như vậy là bởi vì tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng tài sản là 64.33%. Trong khi đó Kinh Đô có hệ số thanh toán ngắn hạn là 1.52 do tài sản ngắn hạn chỉ chiếm 49.15% tổng tài sản. hệ số này của Hải Hà là 1.60 mặc dù tài sản ngắn hạn chiếm tới 72% tổng tài sản nhưng con số nợ ngắn hạn của Hải hà là khá cao, cao nhất trong 3 năm.

    Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Điều này có thể được giải thích là do khoản nợ ngắn hạn đã tăng tới 2.50 lần trong khi đó tài sản ngắn hạn chỉ tăng 1.15 lần.

     

    4.2.2. Hệ số thanh toán nhanh:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTN 0.47 1.37 0.53 1.25 0.81 2.37 0.60 0.7 0.70

    Hệ số thanh toán nhanh của Bibica năm 2005 là 0.47 thấp hơn rất nhiều so với Kinh đô là 1.25 và cũng thấp hơn Hải Hà là 0.60 điều này cho biết rằng Bibica cũng như Hải hà đều không đủ khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn nếu không vay thêm và bán hàng tồn kho. Trong ba doanh nghiệp ngành bánh kẹo này thì chỉ có Kinh Đô là đủ khẳ năng làm được điều này.

    Tuy nhiên, sang năm 2006 thì hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại tăng rất mạnh lên 1.37. Đó là vì khoản mục tiền và các khoản phải thu đã tăng rất mạnh trong khi nợ ngắn hạn lại giảm rõ rệt. Như vậy là trong năm 2006, Bibica luôn có 1.37 VNĐ nằm trong khoản mục tiền và các khoản phải thu  để sẵn sàng đáp ứng cho 1 VNĐ tài sản ngắn hạn. Trong khi đó chỉ số này của Kinh đô là 0.81 và Hải hà là 0.7, chứng tỏ tổng số tiền mặt, khoản đương tương tiền và các khoản phải thu của 2 doanh nghiệp này đều không đủ trang trải số nợ ngắn hạn.

    Đến năm 2007 thì diễn biến lại trở lại như năm 2005, hệ số thanh toán nhanh của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 0.53, Hải Hà là 0.70, còn Kinh Đô thì lại tăng vọt lên mức 2.37. Sở dĩ hệ số này của Bibica giảm xuống thấp như vậy là vì nợ ngắn hạn tăng 2.89 lần trong khi tiền, các khoản tương đương tiền và khoản phải thu lại tăng không đáng kể. Như vậy là qua 3 năm thì chỉ có năm 2006 là Bibica có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm cũng như là bán hàng tồn kho.

    4.2.3. Hệ số thanh toán tức thời:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    HSTTTT 0.13 0.86 0.32 0.22 0.17 1.15 0.20 0.30 0.30

    Trong 3 năm liên tiếp, hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng như là Hải Hà đều thấp hơn 1 chứng tỏ trong suốt 3 năm 2 doanh nghiệp này đều không có khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền. Doanh nghiệp Kinh đô cũng chỉ có năm 2007 là đủ khả năng dùng tiền và các khoản tương đương tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn. Qua đó ta thấy được rằng lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) ở các doanh nghiệp ngành bánh kẹo luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và họ gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    4.2.4. Hệ số thanh toán toàn bộ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Hệ số

     

    thanh toán toàn bộ

    2.06 4.08 2.21 2.91 2.67 5.22 1.67 1.77 2.04

    Qua 3 năm ta thấy hệ số thanh toán toàn bộ của cả 3 doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1, điều này cho ta thấy được rằng cả 3 doanh nghiệp đều có khả năng thanh toán trong dài hạn tức là đều có thể mở rộng hoạt động sản xuất & kinh doanh trong tương lai. Năm 2006, hệ số thanh toán toàn bộ của Bibica là 4.08 cao hơn rất nhiều so với Kinh Đô và Hải Hà cho nên khả năng thanh toán toàn bộ của Bibica cũng tốt hơn hơn tương ứng. Nhưng đến năm 2007 thì hệ số này của Bibica lại giảm xuống chỉ còn 2.21, Hải Hà là 2.04 trong khi của Kinh Đô lại tăng lên 5.22 và cũng vì thế mà khả năng thanh toán toàn bộ của Kinh Đô là tốt hơn cả.

    4.2.5. Hệ số nợ:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    hệ số nợ 0.50 0.25 0.45 0.34 0.37 0.19 0.60 0.57 0.49

    Nhìn chung ta thấy hệ số nợ của Bibica và Hải Hà luôn ở mức cao hơn so với Kinh đô, mặc dù năm 2006 hệ số nợ của Bibica có giảm xuống mức thấp là 0.25 nhưng trong năm 2007 đã tăng lên 0.45 trước khi ở mức cao là 0.50 năm 2005. Điều này cho thấy  trong năm 2005 và 2007 thì các khoản nợ chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica và Hải Hà, cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica cũng như là Hải Hà là lớn hơn so với Kinh Đô và ngành Bánh kẹo nói chung. Ngược lại với hệ số nợ cao giúp cho 2 doanh nghiệp này có thể tận dụng được đòn bẩy tài chính nói chung để gia tăng khả năng sinh lời cho các cổ đông.

    4.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh đô Hải hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.0 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    4.3.1. Vòng quay tài sản cố định:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TSCĐ 4.42 5.71 3.04 3.51 3.87 0.94 6.82 7.02 4.03

    Nhìn chung vòng quay tài sản cố định của 3 công ty đều lớn hơn 1 qua các năm (chỉ có công ty Kinh đô có chỉ số này là 0.94 vào năm 2007), điều này có nghĩa là với cả 3 công ty thì 1 VNĐ tài sản cố định đều có thể tạo ra nhiều hơn 1 đồng doanh thu. Đây có thể coi là một điểm đặc trưng của ngành bánh kẹo, bởi vì tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ lệ thấp trên tổng tài sản và doanh thu thì luôn cao hơn rất nhiều so với tài sản cố định, tài sản cố định luôn được sử dụng với cường độ rất cao.

    4.3.2. Vòng quay tổng tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay TTS 1.60 1.40 1.20 1.02 1.07 0.40 2.1 2.0 1.8

    Cũng giống như vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản qua các năm của các doanh nghiệp đều ở mức lớn hơn 1 (duy nhất chỉ có Kinh Đô là 0.40 vào năm 2007). Có nghĩa là gần như với cả 3 doanh nghiệp thì 1 VNĐ tổng tài sản đều có thể tạo ra hơn 1 VNĐ doanh thu. Mặc dù chỉ số này của Bibica qua 3 năm đang có xu hướng giảm xuống, từ 1.6 năm 2005 giảm xuống 1.40 năm 2006 và sau đó là 1.20 năm 2007 nhưng vẫn cao hơn 1 chứng tỏ 1 VNĐ tổng tài sản của Bibica vẫn có khả năng sinh ra hơn 1 VNĐ doanh thu, so với chỉ số trung bình ngành thì năm 2007 Bibica có khả năng tạo ra doanh thu từ tổng tài sản là ngang bằng (đều ở mức 1.20). Qua đó ta có thể nhận xét rằng, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành bánh kẹo đều có  số vòng quay tài sản khá cao. Các doanh nghiệp này đều hoạt động với công suất cao và muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải đầu tư thêm vốn.

    4.3.3. Vòng quay khoản phải thu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay KPT 10.20 10.41 18.01 11.21 13.23 15.65 4.3 4.3 5.01

    Trong 2 năm 2005 và 2006 thì vòng quay khoản phải thu của Bibica đều ở mức ngang nhau là 10.20 và 10.41 nhưng đến năm 2007 thì đã tăng vọt lên 18.01. Mặc dù khoản phải thu của Bibica tăng là không đáng kể nhưng do doanh thu bán chịu đã không ngừng tăng lên, đặc biệt là trong năm 2007 doanh thu bán chịu đã tăng 58,06% so với năm 2006 trong khi khoản phải thu lại giảm 0.09%. So sánh với con số trung bình ngành năm 2007 là 13.33 thì Bibica có vòng quay khoản phải thu cao hơn rất nhiều điều này cho thấy việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành ( của Hải Hà chỉ là 5.01).

     

    4.3.4. Vòng quay hàng tồn kho:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    Vòng quay HTK 3.50 4.02 3.91 8.63 5.95 5.87 12.82 9.31 14.63

    Nhìn vào bảng số vòng quay hàng tồn kho trong 3 năm của 3 công ty ta có thể thấy rằng, số vòng quay hàng tồn kho của công ty Bibica luôn thấp hơn là Kinh Đô và Hải Hà, điều này cũng có nghĩa là số ngày hàng hoá được lưu kho của Bibica cũng lâu hơn. Bibica phải mất thời gian lâu hơn để tiêu thụ hàng hoá so với 2 doanh nghiệp còn lại.

    Nhìn chung qua 3 năm thì số vòng quay hàng tồn kho của Bibica không có biến động nhiều, năm 2005 là 3.50, năm 2006 tăng lên 4.02, năm 2007 lại tụt xuống 3.91. Như vậy là so với năm 2005 thì năm 2007 số vòng quay hàng tồn kho của Bibica đã tăng lên, nhưng so với năm 2006 thì lại giảm đi 0.11. Trong khi đó trong năm 2007 thì số vòng quay hàng tồn kho trung bình của ngành là 4.93, cao hơn rất nhiều so với Bibica. Vì thế mà hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hầu hết các doanh nghiệp cùng ngành.

    4.4. Phân tích chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

     

    4.4.1. Tỷ suất sinh lời của tài sản:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROA(%) 6.90 7.90 6.67 12.65 17.60 7.86 9.40 9.00 10.10

    Nhìn chung thì suất sinh lời của tài sản của công ty Bibica trong 3 năm là không có những thay đổi đáng kể. Năm 2006, công ty có suất sinh lời của tài sản cao nhất là 7.90% nhưng so với Hải Hà (9.00%) là nhất là Kinh Đô (17.60%) thì vẫn còn thấp hơn rất nhiều. Đến năm 2007 thì tỷ suất này của Bibica còn giảm xuống mức 6.67%, vẫn thấp hơn so với Kinh Đô (7.86%) và Hải Hà (10.10%), trong khi đó trung bình của ngành là 14.6%. Qua đó ta thấy được rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản của Doanh nghiệp Bibica là rất thấp so với các doanh nghiệp cùng ngành. Mặc dù số vòng quay tài sản của Bibica là tương đương với trung bình ngành nhưng tỷ suất lợi nhuận ròng của Bibica là quá thấp, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp cùng ngành. Qua đó ta có thể thấy rằng hiệu quả của việc quản lý nguồn vốn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của Bibica là kém hơn rất nhiều so với ngành.

    4.4.2. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu:

    Các chỉ tiêu Bibica Kinh Đô Hải Hà
    Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    ROE(%) 13.42 11.10 11.35 19.20 29.16 9.80 23.30 20.60 19.90

    Năm 2005, sau khi chào sàn giao dịch chứng khoán Sài gòn được 4 năm ROE của Bibica là 13.42%, thấp hơn nhiều so với Kinh Đô là 19.20% và Hải Hà là 23.30%. Trong năm tiếp theo, tình hình vẫn không có gì thay đổi, ROE của Bibica vẫn ở mức rất thấp so với Kinh Đô và Hải Hà. Năm 2007, chỉ số này của Bibica có cao hơn một chút so với Kinh Đô nhưng vẫn rất thấp so với Hải Hà, cũng như là so với trung bình ngành bánh kẹo là 20.2%. Điều này có thể giải thích là bởi vì tỷ suất sinh lời của tài sản và đòn bẩy tài chính của Bibica thấp hơn các doanh nghiệp trong ngành. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa được hiệu quả, vì thế trong những năm tới Bibica cần có những biện pháp để khắc phục được tình trạng chỉ số ROE quá thấp so với ngành nhằm đáp ứng được kỳ vọng của các cổ đông của công ty.

    III. Kết luận:

     

    1. Kết luận:

     

    Bằng việc phân tích doanh thu, chi phí, lợi nhuận và tình hình tài chính của công ty cổ phần Bánh Kẹo Bibica, chúng ta đã thấy được toàn bọ những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty.

    1.1. Điểm mạnh:

    – Doanh thu của công ty có sự tăng trưởng tương đối nhanh trong giai đoạn 2005-2006 là do công ty chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm , tạo dựng được thương hiệu trên thị trường. Một phần nữa đó là vì công ty đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu thị hiếu của khách hàng để tung ra các sản phẩm mới vào các ngày lễ đặc biệt và quan tâm tới nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng ở mọi độ tuổi.

    – Bibica cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và đạt được hiệu quả cao khi ứng dụng có giải pháp phần mềm ERP ( phần mềm giúp hoạch định các nguồn lực doanh nghiệp).

    – Công ty đầu tư ngày càng nhiều hơn vào nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc… để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

    – Trong suốt 3 năm từ 2005 đến 2007, vốn lưu động ròng của Bibica đều dương, doanh nghiệp có khả năng tài trợ tốt cho các hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như có khả năng thanh toán trong ngắn hạn

    – Việc thu hồi công nợ của Bibica có hiệu quả cao hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành.

    1.2. Điểm yếu:

    – Nhìn chung khả năng thanh toán của công ty là không mấy sáng sủa. Năm 2007, hệ số thanh toán ngắn hạn của Bibica giảm chỉ còn 1.27 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn của Bibica đã giảm rõ rệt. Trong khi đó hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời của Bibica cũng đều thấp hơn 1 chứng cho thấy lượng tiền mặt cũng như là các khoản tương đương tiền (có tính thanh khoản cao nhất) luôn ở mức thấp hơn nhiều so với những khoản nợ ngắn hạn và công ty gần như không đủ khả năng thanh toán trong nếu không sử dụng đến các biện pháp đi vay, bán hàng tồn kho hay đi thu các khoản phải thu.

    – Trong khi đó các khoản nợ lại chiếm một tỷ lệ cao trên tổng tài sản của Bibica , cao hơn rất nhiều so với trung bình ngành năm 2007 là 0.24 vì thế dẫn đến những rủi ro trong khả năng thanh toán trong dài hạn và thanh khoản trong ngắn hạn của Bibica là khá lớn.

    – Vòng quay hàng tồn kho thấp, hàng hoá của Bibica được lưu kho lâu hơn, so với các doanh nghiệp cùng ngành Bibica có khả năng giải phóng hàng tồn kho chậm hơn hẳn.

    – Tỷ suất sinh lời của tài sản và vốn chủ sở hữu Bibica đều thấp hơn mức chung bình ngành, tức là khả năng tạo ra 1 VNĐ của doanh thu là thấp hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác, đông thời việc  sử dụng vốn chủ sở hữu của các cổ đông trong công ty vẫn chưa có hiệu quả.

    2. Đề xuất:

    Công ty cần cải thiện hơn nữa tình hình thanh toán và khả năng thanh toán, nhất là khả năng thanh toán bằng tiền. Để làm được điều đó công ty cần quản trị tốt tiền mặt và các khoản phải thu. Việc quản trị tốt các khoản mục này một mặt giúp công ty giảm lượng vốn bị ứ đọng, vốn bị chiếm dụng, mặt khác có thể tận dụng các khoản vốn này một cách hiệu quả hơn vào kinh doanh hoặc dùng để đáp ứng kịp thời việc thoanh toán tránh tình trạng thanh toán chậm chậm trễ.

    – Quản trị khoản phải thu:

    Để quản trị tốt các khoản phải thu công ty cần có chính sách tín dụng tốt, chính sách tín dụng liên quan đến mức độ, chất lượng và rủi ro của doanh thu. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố: tiêu chuẩn bán chịu, thời hạn bán chịu, thời hạn chiết khấu, tỷ lệ chiết khấu. Việc hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu hoặc mở rộng thời hạn bán chịu, hay tăng tỉ lệ chiết khấu đều có thể làm doanh thu và lợi nhuận tăng, đồng thời kéo theo các khoản phải thu, cùng với những chi phí đi kèm các khoản phải thu này cũng tăng và có nguy cơ phát sinh nợ khó đòi. Do đó công ty khi quyết định thay đổi một yếu tố nào cũng cần cân nhắc, so sánh giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể có được với mức rủi ro gia tăng nợ không thể thu hồi mà doanh nghiệp cần đối mặt để có thể đưa ra chính sách tín dụng phù hợp. Theo dõi các khoản phải thu thường xuyên để xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá tính hữu hiệu của các chính sách thu tiền. Nhận diện các khoản tín dụng có vấn đề và thu thập những tín hiệu để quản lý các khoản hoa hụt

    – Quản trị tiền mặt:

    Áp dụng chính sách  chiết khấu với các khoản thanh toán trước hay đúng hạn vì nợ được thanh toán tốt thì tiền đưa vào càng nhanh. Lập lịch trình luân chuyển tiền mặt để luân chuyển tiền mặt có hiệu quả giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Đầu tư các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi bằng cách mua chứng khoán ngắn hạn cho tới khi tiền được huy động vào hoạt động kinh doanh.

    Bên cạnh đố công ty cũng cần mở rộng hệ thống phân phối của mình rộng khắp cả nước. Tính đến nay Bibica mới chỉ có hơn 108 đại lý phân phối, còn rất khiêm tốn so với con số 200 đại lý của Kinh Đô. Nếu như việc cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm giúp công ty có được niềm tin từ người tiêu dùng thì việc mở rộng đại lí sẽ tăng thị phần cho công ty. Đồng thời hiện nay, thị trường chính của Công ty là khu vực miền Nam, chiếm 70% doanh thu của Công ty. Khu vực miền Trung-Cao nguyên và khu vực miền Bắc có tỷ trọng doanh thu ngang nhau, mỗi khu vực chiếm 15% doanh thu của Công ty nên Bibica cũng cần tập trung hơn nữa để phát triển các đại lý ở khu vực miền Trung và miền Bắc, mở rộng thị trường.

     

    Tài liệu tham khảo

    1. Phân tích hoạt động kinh doanh, Nguyễn Tấn Bình, năm 2006, xuất bản lần thứ 6, Nhà xuất bản Thống kê.
    1. Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nguyễn Hải Sản, năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê.

    Các số liệu và thông tin trên các trang web:

    http://www.chungkhoananphat.vn/congty_show.php?mnu=2&ctid=472#

    http://www.bibica.com.vn/dsp_introduction.aspx?CategoryID={0}

    http://www.kinhdofood.com/default_vn.asp

    http://www.haihaco.com.vn/

    http://www.sbsc.com.vn/viewCompare.do?symbol=BBC

    Phụ lục

     

     

    Bảng 1: Bảng phân tích biến động doanh thu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TT TL ST TT TL
    Tổng DT 287,091,873,695   343,061,150,267   456,850,115,543   55,969,276,572   19.50 113,788,965,276   33.17
    Các khoản giảm trừ 1,729,630,268 0.60 1,730,500,189 0.50 2,874,617,047 0.63 869,921 (0.10) 0.05 1,144,116,858 0.12 66.11
    DT thuần 285,362,243,427 99.40 341,330,650,078 99.50 453,975,498,496 99.37 55,968,406,651 0.10 19.61 112,644,848,418 (0.12) 33.00

     

     

     

     

    Bảng2: Bảng phân tích biến động chi phí năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT Tsf ST TT Tsf ST TT Tsf ST TL TT Tsf ST TL TT Tsf
    Doanh thu 285,362,243,427     341,330,650,078     453,975,498,496     55,968,406,651 19.61     112,644,848,418 33.00    
    Tổng CPKD 50,212,566,049   17.60 67,400,018,326   19.75 95,314,887,913   21.00 17,187,452,277 34.23   2.15 27,914,869,587 41.42   1.25
    CP bán hàng 35,855,608,472 71.41 12.56 51,307,969,400 76.12 15.03 74,254,015,306 77.90 16.36 15,452,360,928 43.10 4.72 2.47 22,946,045,906 44.72 1.78 1.32
    CP quản lí 14,356,957,577 28.59 5.03 16,092,048,926 23.88 4.71 21,060,872,607 22.10 4.64 1,735,091,349 12.09 (4.72) (0.32) 4,968,823,681 30.88 (1.78) (0.08)

     

     

    Bảng 3: Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TL ST TL
    1. DTT bán hàng và cung cấp DV 285,362,243,427 341,330,650,078 453,975,498,496 55,968,406,651 19.61 112,644,848,418 33.00
    2. GVHB 216,296,053,953 254,908,885,176 335,662,124,255 38,612,831,223 17.85 80,753,239,079 31.68
    3. LN gộp BH,cung cấp DV 69,066,489,474 86,421,764,902 118,313,374,241 17,355,275,428 25.13 31,891,609,339 36.90
    4. Tỷ lệ LNG/DTT 24.20 25.32 26.06   1.12   0.74
    5. Chi phí bán hàng 35,855,608,472 51,307,969,400 74,254,015,306 15,452,360,928 43.10 22,946,045,906 44.72
    6. Chi phí quản lý 14,356,957,577 16,062,048,926 21,060,872,607 1,705,091,349 11.88 4,998,823,681 31.12
    7. Tỷ suất phí CFBH 12.56 15.03 16.36        
    8. Tỷ suất phí CFQL 5.03 4.71 4.64        
    9. LNT hoạt động BH, cung cấp DV 15,920,722,005 24,709,616,588 33,470,431,722 8,788,894,583 55.20 8,760,815,134 35.46
    10. Tỷ lệ LNT/DTT 5.58 7.24 7.37   1.66   0.13
    11. Tỷ lệ LNT/GVĐĐ 5.97 7.67 7.77   1.69   0.10
    12. Thuế TNDN phải nộp 3,772,985,317 6,149,513,572 9,038,734,795 2,376,528,255 62.99 2,889,221,223 46.98
    13. Lợi nhuận sau thuế 12,318,116,849 19,182,513,572 24,995,221,832 6,864,396,723 55.73 5,812,708,260 30.30

     

     

    Bảng 4: Bảng phân tích biến động lợi nhuận theo kết cấu năm 2005-2006 và 2006-2007

     

    Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Biến động 06/05 Biến động 07/06
    ST TT ST TT ST TT ST TL TT ST TL TT
    Tổng LN trước thuế 16,091,102,166   25,331,781,740   34,033,965,627   9,240,679,574 57.43   8,702,183,887 34.35  
    LNT từ HĐ SXKD 15,920,722,005 98.94 24,709,616,588 97.54 33,470,431,722 98.34 8,788,894,583 55.20 (1.40) 8,760,815,134 35.46 0.80
    LN khác 170,380,161 1.06 622,165,152 2.46 563,533,905 1.66 451,784,991 265.16 1.40 (58,631,247) (9.42) (0.80)

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-T%C3%80I-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-KHOA-H%E1%BB%8CC-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-C%C3%81C-NG%C3%80NH-KINH-T%E1%BA%BE-V%C3%80-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-KINH-DOANH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    LỜI MỞ ĐẦU

    Mỗi năm các trường khối kinh tế đào tạo được khoảng 50-60.000 cử nhân, họ đang là những nhân tố bổ sung nhân lực cho nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.  Theo đánh giá của các nhà tuyển dụng thì chất lượng nguồn nhân lực này vẫn còn yếu và kém. Mà nguồn lực cụ thể ở đây chính là sinh viên vừa mới tốt nghiệp. Khi nói đến sinh viên, người ta liền nghĩ đến khía cạnh học tập. Vì thế chân dung của sinh viên phải được phác họa qua thái độ học tập của họ. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng một bộ phận không nhỏ sinh viên ngày nay đang thật sự gặp bế tắc về phương pháp học tập. Đặc biệt với sinh viên khối ngành kinh tế, lượng kiến thức nắm bắt cần phải nhiều, đa dạng trên nhiều mặt của đời sống, đòi hỏi tính thực tiễn cao. Vậy làm thế nào để xây dựng lại một phương pháp học tập thật hiệu quả cho sinh viên khối ngành kinh tế phù hợp với thời đại và trên hết là làm tiền đề xây dựng thế và lực mới cho đất nước sau này? Phương pháp học tập là kỹ năng đòi hỏi rèn luyện lâu dài thông qua quá trình học và tự học chứ không thể truyền thụ một cách đơn giản, ngắn gọn bằng một khóa học. Chẳng hạn không thể qua một lớp huấn luyện viết mà sinh viên có thể viết tốt tiểu luận. Muốn được như vậy, anh ta nhất thiết phải qua một quá trình viết đi viết lại các tiểu luận khác nhau và được sửa chữa đối chiếu thì mới hình thành nên một lối viết vững vàng. Phương pháp học là một hệ thống những kỹ năng mang tính cá nhân cao. Tính cá nhân ở đây bị chi phối bởi nhân cách, mục đích học, tương quan của cá nhân đó với môi trường xã hội. Đây là yếu tố làm cho phương pháp học không thể rập khuôn từ người này sang người khác. Tuy vậy về mặt lý thuyết chung chúng ta vẫn có thể đưa ra phương pháp học cụ thể để sinh viên có thể áp dụng. Với vai trò là một sinh viên tôi tập hợp những phương pháp học ở Đại học, lồng ghép cụ thể vào sinh viên khối ngành kinh tế với mục đích nhằm mang lại cho các bạn sinh viên kinh tế một phương pháp học tập hiệu quả cao. Là lần đầu tiên làm đề tài nghiên cứu khoa học nên chắc chắn còn mắc phải nhiều sai sót, mong nhận được ý kiến phê bình, đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên.

                                                                                               

     

     

    TÓM TẮT THUYẾT MINH ĐỀ TÀI

    1.  Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài nghiên cứu

    Với yêu cầu đào tạo của giáo dục đại học khác với giáo dục phổ thông cho nên đặt ra nhiệm vụ học tập nặng nề hơn so với phổ thông. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp, có động cơ, thái độ đúng đắn, khoa học. Một bộ phận không nhỏ sinh viên đã có những biểu hiện không tốt trong học tập như: Trốn học không đi học thường xuyên, tới lúc thi thì chỉ mượn tập các bạn chăm chỉ photo. Cách học thụ động, đối phó, lười suy nghĩ và phát biểu không phát huy được tính năng động, sáng tạo, tích cực của sinh viên. Nhiều sinh viên có cách học “mù quáng” là tin tuyệt đối vào sách vở mà không có sự phản biện và hoài nghi. Không thường xuyên ôn tập những kiến thức cơ bản của môn học dẫn tới không nhớ bài cũ, không tiếp thu tốt bài mới, lượng tri thức tích luỹ thấp, thi cử kém hiệu quả. Sau này ra trường đụng chạm công việc thực tế thì không nhìn nhận, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra một cách chính xác. Sinh viên kinh tế tham gia hoạt động nhóm và xã hội ít, làm cho khả năng tiếp thu, trau dồi kiến thức thực tiễn hạn chế. Lười đọc thêm tài liệu tham khảo, học theo kiểu “nước đến chân mới nhảy”, “học ngày không đủ tranh thủ học đêm”, nhồi nhét và không tiêu hoá được kiến thức. Không có thời gian để suy ngẫm, liên hệ vận dụng thực tế, phát triển kiến thức của mình.

    Mục tiêu là đưa ra được ra phương pháp học tập các môn kinh tế áp dụng vào hai khoa: TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán giúp sinh viên làm quen với việc tự học và tự định hướng việc học của mình, tự tìm tòi tài liệu chủ động lên kế hoạch cho bản thân, chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên nhằm đạt kết quả cao trong học tập cũng như việc nắm bắt thực tiễn, có những kỹ năng thực tế nhất định, nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp và của cả xã hội.

    2.  Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện

    Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc điểm  của sinh viên kinh tế và đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Thực hiện khảo sát, lấy số liệu thống kê từ Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán để ứng dụng phương pháp học ở đại học đưa ra phương pháp học các môn kinh tế. Quá trình thực hiện từ khảo sát đến đưa ra phương pháp chung được tiến hành từ cuối học kỳ I đi đến hoàn thành đề tài nghiên cứu vào cuối tháng 4 năm 2010.

    Tiến độ thực hiện

    Nội dung công việc Thời gian thực hiện Kết quả dự kiến
    1. Xây dựng thuyết minh đề tài Từ đầu 01/2010 đến giữa 01/2010 Bản thuyết minh chi tiết của đề tài
    2. Thu thập tài liệu,phân tích, đánh giá và xây dựng báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu Từ giữa 01/2010 đến cuối 01/2010 – Bảng số liệu

     

    – Báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu

    3.Phần nghiên cứu lí thuyết về từng nội dung cụ thể của đề tài Từ đầu 02/2010 đến giữa 02/2010 Báo cáo về kết quả nghiên cứu lý thuyết chung
    4. Kiểm tra, thử nghiệm đánh giá kết quả (nêu phương pháp, cách thức đánh giá kết quả tạo ra)

     

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    Từ giữa 02/2010

     

    đến giữa 04/2010

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

     

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    5. Viết báo cáo tổng kết đề tài (theo biểu mẫu) Từ giữa 04/2010 đến kề cuối 04/2010 Bản báo cáo tổng kết
    6. Chuẩn bị bảo vệ và bảo vệ đề tài Cuối 04/2010  

     

    3.  Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: thông tin lý thuyết về phương pháp học ở đại học, những đặc điểm cơ bản và đặc thù của các môn chuyên ngành kinh tế, phương pháp học của sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán, trường Đại học Quy Nhơn.

    Phương pháp nghiên cứu: 1) Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài về phương pháp học ở đại học, 2) Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được thực hiện ở Khoa TCNH – QTKD và Khoa Kinh tế – Kế toán, đại học Quy Nhơn về kết quả học tập và tình hình phương pháp học, 3) Nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn cũng như những kinh nghiệm mà những sinh viên khá giỏi đã gặp khi vận dụng một vài phương pháp học đại học, 4) Đánh giá, phân tích, tổng hợp kết quả tìm kiếm, khảo sát, ứng dụng lý thuyết, 5) Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: Đánh giá tính khả thi và cần thiết của các giải pháp đã đề xuất.

    4.  Sản phẩm của đề tài nghiên cứu và ứng dụng

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD đạt hiệu quả, thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên các ngành kinh tế và QTKD.

     

     

    KẾT CẤU ĐỀ TÀI GỒM 3 CHƯƠNG:

    CHƯƠNG  1:

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    CHƯƠNG 2:

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

    CHƯƠNG 3:

    CHƯƠNG  1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    1.1  Giáo dục đại học – Sự khác biệt so với giáo dục phổ thông

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng của con người, giúp chúng ta thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Sinh viên là những công dân bình đẳng trước pháp luật tự chịu trách nhiệm với bản thân vì vậy có sự thay đổi lớn về cách thức học tập, nghiên cứu. Sự thay đổi lớn đó chính là sự tác động từ môi trường: Không bị ràng buộc nhiều về nề nếp, nội dung và phương pháp học tập mới, học tập gắn với thực tiễn nghề nghiệp, bạn học là đồng nghiệp tương lai, sống tập thể – tự lực – xa gia đình. Đối với cấp học phổ thông, phương pháp thường thấy là chủ yếu thầy cô giảng và đọc cho học sinh ghi chép, ít có giờ thảo luận và trao đổi trong quá trình học. Ở đại học: Các thầy cô giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu, những lời giảng của các thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, và hướng dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận… còn chủ yếu dựa vào khả năng tự tiếp thu, tự nghiên cứu và sử lý kiến thức của sinh viên đối với bài học đó. Chính vì sự khác nhau đó mà làm cho rất nhiều bạn sinh viên rất bỡ ngỡ trong việc xác định và tìm kiếm một số phương pháp học hiệu quả nhất cho mình. Một số đặc điểm cơ bản cụ thể của sinh viên đại học là:

    Tự quản lý

    Điểm khác biệt lớn nhất đó là sinh viên phải tự mình lên kế hoạch học tập cho bản thân. Sẽ không có giáo viên kèm cặp mỗi ngày, phải đến lớp, mượn tài liệu, đọc bài, vào thư viện, tìm kiếm thông tin…Thời gian và không gian làm những việc đó đều được tự quyết định, thành công hay thất bại, kết quả ra sao cũng chính sinh viên tự chịu trách nhiệm. Thế nhưng điểm tích cực của cách học này là sinh viên sẽ tìm ra được phương pháp thích hợp nhất với năng lực bản thân, cũng như sắp xếp lịch học sao cho đảm bảo được khối lượng bài vở không quá nặng nề.

    Tự kiểm soát

    Sinh viên có trách nhiệm với những gì họ chọn lựa: môn học, thời gian, nghề nghiệp hướng đến… Những lời khuyên cũng nên lắng nghe, nhưng hơn cả, chính họ mới là người quyết định áp dụng lời khuyên nào, áp dụng ra sao và vào thời điểm nào. Và cũng chỉ bản thân những sinh viên mới kiểm soát được mức độ tập trung của mình trong mỗi môn học, luôn duy trì tâm trạng và niềm yêu thích với những gì mình đã chọn lựa. Phải chắc rằng mình là người nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mình nhất, chứ không nên để bị tác động bởi nhân tố bên ngoài.

    Lên kế hoạch cá nhân

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng tiềm ẩn, giúp sinh viên thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Dù vậy, rất nhiều sinh viên nghĩ rằng vào đại học là để sau này dễ xin việc. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nhà tuyển dụng chú ý một bảng điểm tốt, nhưng điều làm họ quan tâm hơn nữa, đó là khả năng hoạt động thực tế của sinh viên. Đừng mãi lên kế hoạch về những môn học, hãy lên kế hoạch cho những hoạt động tình nguyện, những chương trình liên kết, hội thi, công việc part-time… Từ những hoạt động đó, sinh viên rút ra được kinh nghiệm và kĩ năng cần thiết cho công việc sau này như kĩ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, nói trước đám đông, giải quyết vấn đề…đó mới là những gì mà nhà tuyển dụng đánh giá cao.

    Học cách ghi chép hữu ích

    Không phải cứ chép y nguyên lời giảng của giảng viên là thành công. Điều các bạn sinh viên cần ở đây là một cuốn sổ tay nhỏ, và cố gắng ghi chép lại những điều cần chú ý, những việc cần làm và những điều cần tránh. Vì sao vậy? Vì sẽ thấy hối tiếc khi mất thời gian, tiền bạc và công sức học lại, thi lại chỉ vì quên mất hạn nộp bài, đề tài, những tư liệu phục vụ kì thi, ngày giờ thi… Đừng bao giờ để sót những thông tin dạng như vậy.

    Tìm kiếm thông tin

    Thường có tâm lý ỷ lại vào sự trợ giúp của giảng viên và đó là họ đang sai lầm lớn. Phần lớn giảng viên đều cung cấp tư liệu cần đọc cho sinh viên, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ ngồi đó chờ đến lúc gần thi mới đi tìm. Vì mỗi tài liệu ở thư viện đều chỉ có một hoặc vài bản lưu, do đó nếu có người mượn trước thì bạn rắc rối to. Để tránh tình trạng dở khóc dở cười này cần phải lên kế hoạch mượn tài liệu trước rồi photo ngay, lên danh sách những thư viện hoặc những địa điểm có thể mượn sách khác, và nếu quá khó thì Internet là một công cụ cực kì hữu dụng. Hiện nay có nhiều giảng viên đánh giá năng lực của sinh viên thông qua khả năng tự tìm kiếm và sàng lọc thông tin của họ, vì chỉ có bản thân người học mới nhận diện được thứ gì họ có thể tiếp thu được mà thôi.

    Sự nỗ lực

    Khi tự học, cần phải luôn giữ cho bản thân tập trung và có động lực. Tuy nhiên không phải lúc nào điều này cũng có thể thực hiện. Có nhiều lúc các bạn sinh viên thấy động lực của mình thay đổi, cũng như mục đích học bị lung lay. Điều này cũng là tự nhiên, vì không có thứ gì ổn định mãi mãi được. Nhưng quan trọng hơn cả là các bạn nhận ra được giá trị trong việc mình đang làm, các bạn sẽ đạt được gì trong tương lai sau khi tốt nghiệp. Nỗ lực hết mình không phải vì cái đích, mà là cho hành trình xây dựng bản thân các bạn được trọn vẹn hơn.

    1.2 Bối cảnh phát triển của giáo dục đại học

    Sự bùng nổ dân số gây ra hệ quả Giáo dục đại học chuyển từ đào tạo “tinh hoa” sang đào tạo “đại trà”, cụ thể nhiều hệ Đại học được mở ra “vừa học vừa làm” , “đào tạo từ xa”, “từ xa qua mạng”, “văn bằng hai”, “liên thông”,… Bên cạnh đó nguồn lực đào tạo cũng còn hạn chế, số lượng Giáo sư, Tiến sĩ trong một trường Đại học còn ít dẫn đến chất lượng đào tạo Đại học chưa thực sự đạt yêu cầu như mong muốn. Thực tế này cho thấy việc tự học để đạt chuẩn kiến thức ở sinh viên Đại học là điều hết sức cần thiết.

    Sự bùng nổ thông tin. Tri thức của loài người trong thế kỷ qua, tính trung bình cứ sau 7 năm thì tăng gấp đôi. Vì vậy, sau 4 năm đại học, kiến thức của 2 năm đầu lạc hậu 50%. Bước vào thế kỷ 21, loài người bước vào nền văn minh thông tin:  Mọi hoạt động của từng người và từng tổ chức xã hội đều gồm 3 bước theo thứ tự: 1.Thu thập thông tin, 2.Xử lý thông tin, 3.Ra quyết định hoạt động hoặc giải quyết vấn đề. Đó cũng chính là mục tiêu của Giáo dục của thế kỷ 21 trong đó Giáo dục đại học phải đào tạo ở trình độ cao 3 năng lực này. Sự bùng nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu giáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực. Điểm này cũng đã dẫn đến làm cho từng người chúng ta không chỉ học khi còn đi học mà còn học cả khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hưu – học suốt đời, tạo dựng nên một xã hội học tập.

    Sự bùng nổ tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm: tăng lượng thông tin theo cấp số nhân, nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức tăng theo cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng lên theo luỹ thừa của luỹ thừa. Những tiến bộ khoa học và công nghệ thông tin (tin học và viễn thông) đang làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học đại học một cách sâu sắc. Cụ thể là sự thay đổi về phương pháp dạy của giảng viên tuy nhiên còn bộ phận sinh viên chưa thích nghi và sự thay đổi lớn về phương pháp học.

    Hệ quả của các bùng nổ này đã làm đảo lộn giáo dục Đại học: chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm, chuyển từ việc chú trọng dạy kiến thức- kỹ năng sang chú trọng dạy năng lực, chuyển từ việc đào tạo tập trung sang đào tạo không tập trung, chuyển từ quản lý tập trung sang quản lý tự chủ.

    Các phẩm chất và năng lực hiện đại của sinh viên. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường đại học thế giới thì sinh viên phải là những người: Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để đảm bảo tính chuẩn mực. Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều đã được định sẵn. Biết đặt những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng. Có kỹ năng làm việc theo nhóm, bình đẳng trong công việc chứ không tuân thủ theo sự phân bậc quyền uy. Có hoài bão để trở thành những nhà khoa học lớn, các nhà doanh nghiệp giỏi, các nhà lãnh đạo xuất sắc chứ không chỉ trở thành những người làm công ăn lương. Có năng lực tìm kiếm và sử dụng thông tin chứ không chỉ áp dụng những kiến thức đã biết. Biết kết luận, phân tích đánh giá chứ không chỉ thuần tuý chấp nhận. Biết nhìn nhận quá khứ và hướng tới tương lai. Biết tư duy chứ không chỉ là người học thuộc. Biết dự báo, thích ứng chứ không chỉ phản ứng thụ động. Chấp nhận sự đa dạng chứ không chỉ tuân thủ điều đơn nhất.

    1.3  Học tập – các thang bậc của quá trình nhận thức

    Theo Bloom, học tập là một quá trình nhận thức gồm 6 cấp độ sau: 1.Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà sinh viên đã được học. 2.Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, sinh viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được. 3.Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã học. 4.Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng. 5.Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu.  6.Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí xác định.

    Năng lực tư duy: tối thiểu có thể chia thành 4 cấp độ như sau: 1.Tư duy logic: suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và có hệ thống. 2.Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hoá, tổng quát hoá vượt ra khỏi khuôn khổ có sẵn. 3.Tư duy phê phán: suy luận một cách hệ thống, có nhận xét, có phê phán. 4.Tư duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn khổ định sẵn, tạo ra những cái mới.

    1.4      Mục tiêu của phương pháp học ở đại học

    Tìm tòi những phương pháp học nhanh, hiệu quả là vấn đề mà đa số sinh viên từ khi bước vào giảng đường cho đến trong suốt quá trình học tập đều trăn trở, băn khoăn bởi mục tiêu và yêu cầu đào tạo của Đại học nặng hơn so với phổ thông. Phương pháp dạy học ngày nay cũng đang bắt đầu chuyển từ lấy người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm. Sự thay đổi về phương pháp giảng dạy yêu cầu người học phải thay đổi thích ứng. Thế nhưng, thực tế hiện nay đa số sinh viên đều không tìm được một phương pháp học tập hiệu quả. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới trình độ sinh viên, chất lượng đào tạo của nhà trường không đáp ứng được  yêu cầu của thị trường lao động trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nguyên nhân vì đâu ?

    Phương pháp học ở Đại học được thực hiện với mục tiêu là trang bị cho sinh viên kiến thức về các mô hình học tập khác nhau có thể áp dụng được ở bậc Đại học, huấn luyện cho sinh viên làm quen với việc tự học, tự tìm tòi tài liệu, chủ động lên kế hoạch cho bản thân cũng như chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên.

        1.5  Bí quyết học tốt và chuẩn bị thành đạt

    Giới thiệu phương pháp học tập và đọc tích cực SQ3R

    Mô tả:

    Có rất nhiều người trong chúng ta không thể nhớ nổi nội dung của một cuốn sách, một bài báo, một tài liệu cần thiết cho công việc của mình. Chúng ta quên béng mất nội dung của tài liệu chỉ sau vài giờ đồng hồ đọc chúng. Chính do quá trình quên nhanh chóng các nội dung quan trọng này, chúng ta thường không thể kết nối kiến thức, không thể thành công trong các kỳ thi và không thể hoàn thành tốt công việc của chính bản thân mình.

    Nguyên nhân:

    Do trong quá trình đọc tài liệu, chúng ta đọc một cách “thụ động”. Cặp mắt của chúng ta vẫn lướt trên tài liệu, nhưng bộ não của chúng ta lại đang nhảy múa với những ý tưởng khác hoặc hờ hững với nội dung của tài liệu. Hoặc học sinh của chúng ta đọc “ra rả” bài học nhưng ngay lúc ấy trí não của các em không hề “nhúc nhích”, nói cách khác, các em đang dùng các biện pháp “cơ học”, “cưỡng bức” để bộ não phải ghi nhớ, nhưng “chữ thầy vẫn trả cho thầy”. Theo các điều tra về tâm lý và hoạt động của não bộ, chúng ta sẽ nhớ lâu hơn khi chúng ta chú tâm một cách tích cực và hiểu rõ nội dung mà tài liệu đang trình bày.

    Giải pháp:

    Có rất nhiều phương pháp, kỹ thuật để giúp chúng ta học tập hiệu quả hoặc đọc tích cực một tài liệu, Phương pháp SQ3R (Francis Robinson, 1970) là một kỹ thuật hữu hiệu nhằm giúp chúng ta nắm hết toàn bộ nội dung thông tin của một tài liệu, một quyển sách, … thông qua việc làm cho ta phải chú tâm đọc tài liệu một cách tích cực. Phương pháp này được nhiều trường đại học trên thế giới khuyến khích các sinh viên sử dụng để nâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu. Các chữ cái SQ3R là từ viết tắt của các kỹ thuật mà chúng ta sẽ sử dụng liên tiếp để đạt đến mục đích cuối cùng là nắm toàn bộ nội dung của tài liệu.

    Các bước tiến hành:

    Survey (Khảo sát): Thu thập các thông tin cần thiết để tập trung và hình thành các mục đích khi đọc. Trước khi đọc bất kỳ tài liệu nào, hãy dành vài phút ban đầu để xem xét tổng quát tài liệu bằng cách xem qua mục lục, các tiêu đề của chương, các tựa đề, phần tóm tắt, phần mở đầu, phần kết luận … Chú ý những bảng biểu, đồ thị, hình vẽ trong sách. Hãy cố gắng đưa ra ý kiến liệu rằng tài liệu hay cuốn sách này có giúp ích gì cho bạn không? Nếu cảm thấy rằng nó không có ích lợi gì cho bạn, hãy lựa chọn một cuốn sách khác.

    Việc xem xét tổng quát tài liệu sẽ giúp chúng ta:- Có một khái niệm ban đầu và sự quen thuộc với nội dung sắp sửa đọc.- Cho phép ta ước lượng thời gian cần thiết để đọc tài liệu.- Khi đọc toàn bộ nội dung tài liệu, chúng ta sẽ thông hiểu tài liệu gấp đôi.

    Question (Đặt câu hỏi): làm cho não của bạn bắt đầu hoạt động và tập trung bằng cách dựng lên một loạt câu hỏi làm “khung sườn” cho nội dung. Chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật 5W1H để tạo ra các câu hỏi hoặc sử dụng ngay các câu hỏi do giáo viên đưa ra, câu hỏi ở đầu chương của sách…Đặt ra các câu hỏi trước khi bắt đầu đọc thật sự, sẽ giúp chúng ta có chủ đích khi tiến hành đọc tài liệu.

    Read (Đọc): lắp thông tin vào cấu trúc mà bạn đã dựng lên. Tiến hành đọc tài liệu. Trong quá trình đọc, hãy cố gắng tập trung tìm kiếm các chi tiết nhằm giúp ta trả lời những câu hỏi đã đặt ra. Khi đọc, chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật mindmap để ghi chú các chi tiết.

    Recite (Thuật lại): như tên gọi của nó: “thuật lại”, ở bước này chúng ta giúp não bộ tập trung ghi nhớ về nội dung vừa xem bằng cách thuật lại, diễn giải nội dung đã đọc bằng chính ngôn ngữ của bản thân. Nếu cần thiết, hãy viết ra các diễn giải hay các câu trả lời bằng chính suy nghĩ, diễn đạt của mình. Nếu có thể, hãy đọc hay diễn tả lại nội dung vừa xem bằng cách nói lớn tiếng. Hãy tưởng tượng, bạn đang phải trình bày lại nội dung của cuốn sách, bài báo vừa xem cho 1000 khán giả trước mặt, trong một khán phòng rộng lớn, những khán giả này đang chăm chú lắng nghe từng lời diễn tả của bạn. Điều quan trọng ở bước này là phải dùng chính ngôn ngữ của mình để thuật lại hay diễn tả lại. Nếu chúng ta đang ở nơi đông người và không muốn làm ảnh hưởng đến người khác thì chúng ta hãy nhắc lại một cách thì thầm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng quên đến 80% nội dung mà mình đã đọc sau 2 tuần lễ. Nhưng nếu chúng ta tiến hành bước “thuật lại”, thì chúng ta chỉ quên có 20% với cùng thời gian 2 tuần.

    Review (Xem lại): bước cuối cùng này theo đúng tinh thần mà ông bà chúng ta đã nhắc nhở: “Văn ôn, Võ luyện”. Vào ngày hôm sau, tuần sau, hãy thử quay lại quyển sách đã đọc và xem thử bạn nhớ được và có thể thuật lại bằng chính từ ngữ của bạn bao nhiêu về nội dung. Ở bước này, chúng ta chỉ nhìn lướt lại quyển sách đã đọc, các câu trả lời đã hoàn thành, các câu hỏi đã đặt ra và thử xem bạn có thể trả lời chúng một cách trôi chảy hay không. Nếu không, hãy làm lại các bước trên. Bước cuối cùng này giúp cho nội dung được làm mới và ghi nhớ lâu hơn trong trí óc của chúng ta.

    Một vài chuẩn bị cho sự thành đạt của sinh viên:

    • Xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tậ
    • Định hướng nghề nghiệ
    • Rèn luyện kỹ năng xã hộ
    • Tự tin trong học tập và cuộc số
    • Phương pháp học tập chủ động & tích cự
    • Ngoại ngữ và CNTT là chìa khóa.
    • Mạng Internet là phương tiện hiệu quả.
    • Khai thác tốt mọi nguồn lự

        1.6  Phương pháp học ở đại học

           Lý thuyết về cách học ở ĐH

    Học cách thức đi tới sự hiểu biết. Coi trọng sự khám phá và khai phá trong học thuật. Học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp. Học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động. Biết mềm hoá tư duy và tuỳ cơ ứng biến. Học phương pháp nghiên cứu đi từ phân tích đối tượng và mô trường để tìm giải pháp đồng bộ giải quyết những tình huống đa chiều. Nhiều trường đại học cho thấy có một tỉ lệ cao sinh viên không hứng  thú  trong  các  bài  giảng. Có lẽ đây cũng chỉ là một phát hiện mới về một điều mà chúng ta đã biết rất rõ từ lâu nay rồi. Nói cách khác là chất lượng giáo dục đại học hiện nay ở nước ta đang gặp  nhiều vấn đề mà đó chỉ là một biểu hiện như phần nổi của cả tảng băng chìm.

    Vấn đề đặt ra là vậy thì đâu là nguyên nhân chán học của sinh viên. Trong số các nguyên nhân khác nhau chắc chắn có việc sinh viên chưa xác định được đúng đắn các mục tiêu làm động cơ tự  thân cho việc học của mình. Mặt khác, nội dung và phương pháp đào tạo đại học của chúng ta cũng chưa phù hợp. Hơn nữa, mỗi  giáo viên cũng chưa thực sự trang bị được cho mình những kỹ năng cần  thiết để  lôi cuốn sinh viên học tập. Chính vì thế mà chúng ta vẫn chưa thu hút được sinh viên nhi ệt tình học tập nhằm tạo ra hiệu quả tốt hơn cho quá trình đào tạo. Do vậy, trong nh ững việc phải làm để thu hút sinh viên tích cực thì trước hết phải giúp họ xác định được học tập là mục tiêu tự thân, đồng thời giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy và trau dồi những kỹ năng sư phạm cần thiết.

    Xác định học tập là mục tiêu tự thân

    Các nhà giáo, trước khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho người học biết rằng: Học tập là mục tiêu tự thân (Đỗ Quốc Bảo, 2008). Chỉ khi nào sinh viên tự xác định được và nhà trường giúp sinh viên xác định được những mục tiêu học tập đúng đắn cho chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nổ lực học tập. Vậy thì mục tiêu học tập mà chúng ta cần hướng cho sinh viên là gì để thu hut được họ nhiệt tình học tập? Theo UNESCO (1996) các mục tiêu trụ cột của việc học trong thời đại ngày nay là “h ọc để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để tồn tại”. Có sự liên quan gì giữa những mục tiêu học tập này với sự nhiệt tình học tập của người học?

    Học để biết (learning to know)

    Học trước tiên để hiểu biết (learn to know) và là mục tiêu truyền thống của việc học. Khi người học khao khát muốn biết thì sẽ say sưa học tập để tìm kiếm kiến thức. Chính vì thế mà các nền giáo dục tiên tiến như giáo dục Mỹ đang dày công giúp cho học sinh, sinh viên có “khuynh hướng muốn biết”. Giáo dục Thái Lan đặt cũng ra mục tiêu “giúp cho học sinh khao khát tìm kiếm tri thức mới, khám phá bản thân và cuộc sống”.

    Tuy nhiên, kiến thức nhân loại, dù trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp, không ngừng được cập nhật và trong xã hội đầy biến động làm sao một con người có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung quanh và sử dụng lượng kiến thức học được ở trường đại học trong một số năm để tác động vào thực  tiễn? Cách duy nhất là học để không  ngừng cập nhật kiến thức trong suốt cuộc đời (life-long learning) (Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008). Do vậy, cái biết quan trọng nhất của người học là để biết cách học (knowing how to learn), đặc biệt là cách tự học. Nói cách khác, dạy học không chỉ lấy việc  thuyết giảng nhằm  trang bị kiến thức cho học viên  làm nhiệm vụ cơ bản mà phải tạo cơ hội cho người học chủ động  tích cực trong việc tìm kiếm kiến thức theo những cách thức nhất định (phương pháp học) và vận dụng những kiến thức đã học được để tiếp tục học. Rõ ràng sinh viên làm các bài tập toán với mục đích cụ thể là tìm ra đáp số cho bài toán, nhưng có lẽ không ai nhớ được và cũng không cần nhớ để làm gì những đáp số đó. Mục tiêu của việc làm bài tập đó là để biết được cách giải toán, để hiểu và vận dụng những nguyên lý toán học cho việc tiếp tục học được các môn học sau.

    Học để biết quan trọng nữa là biết sử dụng các phương tiện để giúp học tập có hiệu quả cao. Trong số các phương  tiện cần học nhất  trong  thời đại  toàn cầu hoá và bùng nổ thông tin hiện này thì phải là ngoại ngữ (mà quang trọng nhất là tiếng Anh) và tin học. Khi sinh viên chủ động sử dụng được ngoại ngữ và tin học thì chắc chắn họ cũng say mê học tập hơn vì họ tiếp cận được thông tin không hạn chế của nhân loại một cách có hiệu quả hơn.

    Học để làm (learning to do)

    Khi người học xác định được việc học là để trang bị cho mình năng lực làm việc với một nghề nghiệp đã được được định hướng  (theo chương  trình đào tạo) thì người học sẽ học nhằm có được những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Khi xác định được mục tiêu này thì người học sẽ say sưa học tập, học không vì mục đich đối phó thi cử hay bằng cấp mà học vì mục đích làm việc trong cả cuôc đời. Về khía cạch này thì học đại học cũng giống như học lái xe, mục đích của việc học lái xe không phải là để lấy bằng lái (mặc dù đó là yêu cầu bắt buộc phải có) mà cơ bản là để sau này biết lái xe mà không nguy hiểm đến tính mạng. Do vậy, khi h ọc lái xe không ai lại không tích cực học cả vì người học đều nhận thức rõ đó là học cho chính mình và học để làm (lái xe) thực sự.

    Tuy nhiên, học ở đại học còn phải nhằm mục tiêu xa hơn nữa là học để biết sáng tạo (learning to be creative). Học tập đối với sinh viên đôi khi chỉ vì sự thúc ép của gia đình, hoặc chỉ đơn thuần là để lấy tấm bằng vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm mà thiếu hẳn sự say mê vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo và vì thế mà thiếu đi sự đam mê. Khi có mục tiêu vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo thì sinh viên mới say mê trong học tập. Chính vì thế giáo dục Nhật Bản đặt ra mục tiêu “Đào tạo một lớp người mới đầy năng lực sáng tạo có khả năng khám phá và thích  ứng nhanh chóng với xã hội thông tin”.  Một khi người học không khát khao sáng tạo thì sẽ không tự giác, nỗ lực và say sưa trong học tập. Một sinh viên ngành giống cây trồng chẳng hạn chắc chắn sẽ say mê học tập nếu có khát khao và tin rằng rằng sau này mình sẽ tạo ra được những giống cây trồng mới có giá trị cao cho thực tiễn sản xuất.

    Học để chung sống (learning to live together)

    Vì thế giới ngày càng xích l ại gần nhau, mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội và phụ thuộc lẫn nhau cho nên bản thân mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau, để làm việc với nhau và để chung sống với nhau. Khía niệm học để chung sống nhấn mạnh vào việc phát triển sự hiểu biết, quan tâm và tôn trọng người khác, kể cả niềm tin, giá trị và văn hoá riêng của họ. Điều này được coi là sẽ tạo cơ sở cho việc tránh được xung đột, giải quyết mọ vấn đề không bằng bạo lực và chung sống hoà bình với nhau. Hơn thế nữa, điều này cũng có nghĩa là thừa nhận sự khác biệt của nhau và sự đa dạng như  là cơ hội,  là nguồn lực có giá  trị để khai  thác vì mục  tiêu chung, chứ không phải là mối đe doạ. Chính vì vậy nhiều nước đang tìm những cách khác nhau nhằm khuyến khích việc học để chung sống. Khi người học xác định được mục tiêu này thì ngoài việc học để lấy kiến thức và kỹ năng để làm việc thì họ sẽ thấy cần phải và hứng thú học với  nhau, học cách học cùng  nhau để phát  triển khả năng chung sống  và  làm việc cùng nhau sau này. Đó là một động cơ để sinh viên nhi ết tình học tập.

    Học để tồn tại (learning to be)

    Xã hội luôn luôn biến đổi, kiến thức nhân  loại luôn luôn bùng nổ, trong xã hội hiện đại ai muốn tự khảng định mình, muốn tồn tại được bình đẳng với mọi người thì không thể không học tập. Học tập không ngừng trong suốt cuộc đời là con đường mà mỗi người phải xây cho mình tồn tại được trong xã hội học tập ngày nay mà đất nước nào cũng đang xây dựng. Đây cũng chính là điều mà mỗi sinh viên phải ý thức được để lấy việc học làm động cơ tự  thân cho chính mình, từ đó mới say mê học, học cho chính sự tồn tại của bản thân mình.

    Trong quá trình học tập, sinh viên thường rơi vào một trong những rắc rối sau: Thứ nhất, không thể áp dụng tính năng động của bản thân vào những trường hợp vô cùng đơn giản, hay nói một cách khác, đây là tuýp người luôn quan trọng hóa vấn đề, biến cái đơn giản nhất thành cái khó nhất và ngược lại, một vấn đề khó ư? Chuyện nhỏ, đối với họ chẳng là gì. Kiểu thứ hai là mẫu người luôn tự đẩy mình vào tình trạng không biết phải phân bố thời gian thế nào cho hợp lý để có thể học hết khối lượng kiến thức dày đặc. Và cả kiểu thứ ba, thứ tư… nữa chứ. Sinh viên cần có những phương pháp học tập có hiệu quả, sau đây là một vài phương pháp:

    1.6.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Phương pháp đọc có cân nhắc: Đề tài của bài đọc, hoặc quyển sách bạn đang đọc là gì? Vấn đề nào đang được nêu ra? Tác giả đã kết luận gì về vấn đề ấy? Những lý do nào được đưa ra để chứng minh cho quan điểm của tác giả? Người viết dùng sự thật, lý thuyết hay niềm tin của bản thân? Sự thật có thể được chứng minh. Lý thuyết còn đang cần được chứng minh, không nên nhầm lẫn với sự thật. Ý kiến có thể có hoặc không được xây dựng trên cơ sở lập luận vững chắc. Bản thân niềm tin không cần được chứng minh. Tác giả dùng từ trung lập hay có xen lẫn cảm xúc cá nhân? Người đọc biết cân nhắc là người có cái nhìn xuyên thấu bề mặt ngôn từ, để thẩm định lý lẽ bên trong. Khi quyết định chấp nhận hay không chấp nhận ý kiến của người viết, cần củng cố quyết định của mình bằng những lý do xác đáng. Những đặc điểm của người đọc có cân nhắc: Trung thực với bản thân, tránh sự chi phối, biết vượt qua vướng mắc, đặt câu hỏi, xây dựng phán đoán trên bằng chứng cụ thể, tìm mối quan hệ nối kết các sự việc, có tư duy độc lập.

    Phương pháp đọc tài liệu

    Trước khi đọc

    Một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc đòi hỏi người nghiên cứu phải đọc nhiều tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề đang quan tâm, một cách có chiến lược và hiệu quả. Do đó, điều cần làm đầu tiên khi có một tài liệu không phải là lao vào đọc chăm chú từ đầu tới cuối, mà là… một vài phút chuẩn bị (!). Tự đặt những câu hỏi để xác định rõ ràng mục đích đọc tài liệu, đánh giá sơ bộ tài liệu cần đọc trước khi đi vào từng chi tiết. Động cơ đọc tài liệu? – Giải trí, tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, làm sáng tỏ một vấn đề,… Vấn đề nào cần quan tâm? – Đó là những khía cạnh của vấn đề đã được xác định trong quá trình lựa chọn đề tài nghiên cứu, chủ đề cần tìm hiểu. Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời? Kiểu thông tin nào đang cần có? – Số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, hình ảnh minh hoạ, báo cáo tổng hợp,…Nhớ rõ mục đích đọc tài liệu rồi, vẫn chưa đến lúc đọc ngay mọi chi tiết! Nên đọc lướt qua toàn bộ tài liệu để đánh giá sơ bộ nội dung và đại ý tác giả muốn trình bày. Đôi khi, giai đoạn này còn giúp xác định mức độ phù hợp của tài liệu với nhu cầu đề tài, để quyết định đi vào chi tiết hay bỏ qua tài liệu. Ở thời điểm này, nên xem kĩ nội dung phần tóm tắt của tài liệu, đọc các đề mục chính và phụ trong bài để tạo một mối liên hệ chung giữa toàn bộ các khái niệm quan trọng, các từ khoá mô tả phạm vi giới hạn và trọng tâm của tài liệu.

    Trong khi đọc

    Sau khi đã làm xong bước chuẩn bị và đánh giá sơ bộ, mới đến lúc bắt đầu đọc thực sự. Hiệu quả đọc phụ thuộc vào phương pháp đọc (và phương pháp đọc phụ thuộc vào quá trình rèn luyện lâu dài), vào trình độ ngôn ngữ cả trong tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài, và vào khả năng lĩnh hội kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến quá trình đọc tài liệu là mức độ yêu cầu của cá nhân đối với vấn đề đang nghiên cứu.

    Có các phương pháp đọc thường gặp nhất là: 1.đọc định vị: đọc lướt qua tài liệu để tìm các thông tin chính xác, một mẩu trích dẫn, khái quát các yếu tố liên quan,…  đòi hỏi xác định rõ mục đích đọc ngay từ đầu; 2.đọc gạn lọc: chỉ đọc những gì quan trọng, cốt lõi, mới mẻ, hấp dẫn nhất, chỉ đọc tựa, các tựa phụ, đoạn đầu và đoạn cuối, câu đầu và câu cuối của các đoạn khác, ghi nhớ các ý chính; chú ý đặc biệt đến những từ nối quan trọng tạo mối liên hệ trong lập luận suốt toàn bài; không đọc các chi tiết nhỏ cụ thể; 3.đọc chéo: đọc nhanh qua tất cả các trang, đoạn văn bản mà không chú ý vào một điểm cụ thể nào trong bài; phù hợp với những tài liệu chỉ cung cấp các thông tin cơ bản, phổ thông, không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn sâu; 4.đọc bình thường: mức độ đúng… bình thường như vẫn gọi là “đọc”, tức đọc lần lượt toàn bộ văn bản, có thể nhanh hay chậm tuỳ khả năng, tiếp nhận thông tin một cách bình thường trong quá trình đọc mà không đòi hỏi một sự tập trung cao độ với nhiều thao tác tư duy phức tạp, và thông thường không đủ để đáp ứng yêu cầu cao khi đọc tài liệu khoa học; 5.đọc tích cực: là phương pháp đọc hiểu quả nhất, bằng cách:  ghi chú, đánh dấu các ý chính, tóm tắt toàn bộ tài liệu hoặc các phần quan trọng, biết lĩnh hội kiến thức, tiêu hoá thông tin một cách chủ động, có chọn lọc, đánh giá, so sánh, liên hệ giữa các ý, các tài liệu, các tác giả khác nhau nhằm đưa ra một cái nhìn phân tích/tổng hợp/phê bình đối với mọi tài liệu và thông tin khoa học.

    Sau khi đọc

    Sau khi đọc xong, cần kiểm tra, đối chiếu lại những gì thu được với các mục đích ban đầu. Có đáp ứng các yêu cầu chuyên môn đặt ra chưa? Có đạt được mục đích định ra ban đầu chưa? Có giải đáp được những thắc mắc cần tìm câu trả lời chưa? Và từ đó, xác định là đã hoàn tất việc đọc tài liệu, hay cần phải đọc lại, hay cần phải đọc mở rộng thêm trong các tài liệu khác…Có vài điều lưu ý sau đây khi đọc tài liệu: bỏ qua ngay những tài liệu có khoảng cách rất xa với đề tài hoặc chủ đề quan tâm; không nên đọc ngay những tài liệu có tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi phải có trước những hiểu biết sâu sắc nhất định về các vấn đề được trình bày, mà cần chuẩn bị trước các kiến thức nền đó qua các tài liệu cơ bản hơn.

     

    Để ghi nhớ tốt

    Trí nhớ là yếu tố nền tảng của tư duy. Có khả năng ghi nhớ tốt bạn sẽ có rất nhiều nguồn dữ liệu tham khảo để cho ra ý tưởng xuất sắc. Nắm được các phương pháp ghi nhớ còn giúp bạn có cách diễn đạt thông điệp phù hợp.

    Tưởng tượng và liên tưởng

    Hình ảnh và âm thanh có tác động mạnh lên trí não. Do đó, để ghi nhớ những thông tin quá trừu tượng hoặc thiên về kỹ thuật, bạn tưởng tượng hoặc gắn chúng với một hình ảnh, âm thanh nào đó. Ví dụ: một quy trình sản xuất sẽ được ghi nhớ tốt hơn nếu được minh họa bằng hình ảnh, sơ đồ thay vì chỉ có chữ viết và con số.

    Kết nối

    Phương pháp này sẽ giúp bạn ghi nhớ một loạt những thông tin có liên quan với nhau. Ví dụ: Để ghi nhớ tên, thứ tự các cung Hoàng đạo, bạn có thể hình dung ra một bức tranh với đầy đủ các con vật biểu trưng cùng những hành động của chúng. Con cừu đực (cung Dương Cửu) húc đầu vào con bò đực (cung Kim Ngưu), trên lưng bò đực là chị em sinh đôi (cung Song Sinh) cầm con cua (cung Cự Giải),…

    Định vị

    Đây là cách sử dụng những thứ tự của riêng bạn (thứ tự đồ vật trong nhà bạn, thứ tự các bộ phận cơ thể,…) và liên kết chúng với những thông tin cần ghi nhớ. Ví dụ: Trong một buổi truyết trình, bạn sẽ dễ dàng nhớ lại thứ tự nội dung trình bày của mình bằng cách gán chúng với những vật trong phòng làm việc theo hướng từ cửa đi vào. Rèn luyện: vẽ và đánh số thứ tự từ 1 đến 20 các đồ vật trong phòng bạn.

    Chiến lược cầu vồng

    Phương pháp này chủ yếu áp dụng khi trong từng chủ đề thông tin có nhiều đề mục nhỏ hơn. Khi đó từng chủ đề lớn sẽ được gán với màu sắc trên cầu vồng và các mục nhỏ hơn sẽ áp dụng phương pháp định vị. Bạn cũng có thể sử dụng một hình ảnh khác thay cho cầu vồng.

    Tạo ra từ ngữ mới cho riêng mình

    Những từ ngữ mới này được tạo ra bằng cách ghép những ký tự đầu của một nhóm từ ý nghĩa. Ví dụ: 5P trong kinh doanh (Product – Sản phẩm, Price – Giá, Promotion – Khuyến mãi, Place – Kênh phân phối, Post Sales – Hậu mãi), 5W (What – Why – When – Where – Who),…

    Sự gợi ý

    Gợi ý sẽ giúp trí não hồi tưởng lại thông tin, sự kiện cần phải ghi nhớ. Ví dụ: Bạn cần lập kế hoạch làm việc cho tuần sau, nhưng vì có việc nên phải ra ngoài gấp. Bạn đặt cuốn lịch ngay giữa bàn làm việc. Như vậy, khi quay lại văn phòng và nhìn thấy cuốn lịch, bạn sẽ nhớ ra cần phải làm gì.

    Học thuộc lòng

    Đây là phương pháp kém hiệu quả nhất, mặc dù chúng ta đã từng thường xuyên áp dụng khi còn trên ghế nhà trường. Điểm tích cực duy nhất của nó là giúp bạn ghi nhớ trong thời gian ngắn và cũng quên nhanh.

    1.6.2 Kỹ năng học nhóm hiệu quả

    Cộng tác trong học tập là một quá trình làm việc theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung. Lớp học chính là một môi trường lý tưởng để rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm mà sẽ rất cần trong cuộc sống sau này. Cộng tác trong học tập là hoạt động tương tác, là một thành viên của nhóm, mỗi sinh viên sẽ có trách nhiệm: phát triển và cùng chia sẻ một mục đích chung, đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề, đặt ra các câu hỏi hay tìm giải pháp, tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như ý kiến của họ, phát biểu và đóng góp, có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với người trong nhóm, quyền lợi và nghĩa vụ gắn liến chặt chẽ với mọi người và ngược lại.

    Những kĩ năng được rèn luyện trong khi làm việc nhóm là rất quan trọng cho môi trường làm việc mới sau này, đây sẽ là tiền đề để ta biết cách làm việc trong một môi trường tập thể. Làm việc nhóm có nhiều ưu điểm, nhưng không phải ai cũng đạt được kết quả cao với phương pháp học tập này, thậm chí đôi khi một số người cảm thấy nó mang nhiều tính hình thức và ít hiệu quả hơn so với làm việc theo cá nhân. Vậy nguyên nhân vì sao? Câu trả lời là:

    Thứ nhất, một số còn coi bài tập nhóm là công việc của tập thể nên thường có tâm lí “không phải việc của mình”, ai cũng trừ mình ra. Và kết quả là “cha chung không ai khóc”.

    Thứ hai, do làm việc theo nhóm nên sự hợp tác là rất quan trọng, đòi hỏi sự tự giác của từng thành viên trong nhóm. Nếu một thành viên trong nhóm không làm việc như đã phân công sẽ dẫn đến công việc của nhóm bị ngưng trệ.

    Thứ ba, sự phân công công việc không rõ ràng. Đôi khi một thành viên trong nhóm phải đảm nhiệm quá nhiều công việc, trong khi có thành viên không có việc để làm, kết quả là sự bất hợp tác.

    Các nguyên tắc làm việc nhóm

    Tạo sự đồng thuận

    Những buổi họp là cách thức tuyệt hảo để bổi đắp tinh thần đồng đội và thói quen làm việc theo nhóm ngay từ lúc đầu mới thành lập nhóm. Những loạt buổi họp giúp các thành viên mới làm quen với nhau, tạo sự nhất trí về các mục tiêu được giao cùng các vấn đề cần giải quyết về mặt tổ chức.

    Những điểm cần ghi nhớ: Mọi thành viên của nhóm cần thống nhất về việc phải nhắm tới. Các mục tiêu chỉ ổn định khi đã bàn thảo xong các biện pháp thực hiện. Mặc dù các thành viên của nhóm cần được định hình các mục tiêu, nhưng nên phổ biến các mục tiêu cho các hội viên nắm. Để đạt được những kết quả cao nhất, các mục tiêu còn phải được thử thách bằng cách kết hợp giữa những mục tiếu chung và mục tiêu riêng.

    Tһiết lập các mối quan hệ với ban quản trị

    Mọi nhóm cần có sự hỗ trợ của đôi ngũ thâm niên ở cơ quan chủ quản. Ba mối quan hệ chủ yếu mà nhóm cần tới là: Người bảo trợ chính của nhóm. Người đầu ngành hoặc phòng ban có liên quan. Và bất kỳ ai quản lý tài chính của nhóm.

    Khuyến khích óc sáng tạo

    Nhiều người trở thành những kẻ chỉ biết làm theo kinh nghiệm và tính cách riêng của họ. Hãy phá thế thụ động ấy và tạo tính sáng tạo.  Đừng để nhóm của bạn bị phân lớp thành những con người chuyên sáng tạo và những kẻ thụ động. Muốn vậy, bạn luôn biết hoan nghênh tính đa dạng của các quan điểm và ý tưởng, để rồi lái buổi tranh luận đi đến chỗ thống nhất.

    Phát sinh những ý kiến mới

    Việc có được những sáng kiến đòi hỏi có ngýời lãnh đạo và cần một hình thức tổ chức nào đó, để kết quả buổi họp có thể mở ra một hướng đi. Mọi ý kiến cần được ghi chép lên biểu đồ hay bảng để mọi người có thể nhìn thấy. Sau đó, loại bỏ nhũng ý kiến bất khả thi và tóm tắt những ý khả thi. Những điểm cần ghi nhớ: Phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể đôi khi được gọi là “tư duy hành động nhóm”. Sự chỉ trích làm giảm óc sáng tạo. Đừng bao giờ miệt thị ý kiến nào trong buổi họp. Nhiều ý kiến tưởng chừng ngớ ngẩn lại có thể đưa đến những giải pháp đáng giá. Cần ghi mọi ý kiến lên bảng cho dù đấy chưa hẳn là ý kiến độc đáo. Những ý kiến sáng tạo trong những buổi họp bao giờ cũng cao hơn ý kiến của một cá nhân đưa ra.

    Học cách ủy thác

    Sự ủy thác cói hai hình thức: ủy thác công việc và ủy thác quyền hành. Ủy thác công việc là phân nhỏ mỗi kế hoạch thành các phần việc riêng và với mục tiêu riêng, rồi phân chúng cho các thành viên của nhóm. Sau đó, phó mặc cho họ và chỉ can thiệp khi không đạt mục tiêu. Việc ủy thác quyền hành là sau khi tham khảo ý kiến, trao cho người được ủy quyền đầy đủ quyền và để họ được hành xử nó. Khi ủy thác, cần nhận diện các loại đặc tính khi ủy thác: Có khả năng muốn thực hiện: Đây là trường hợp ta gặp người được ủy nhiệm lý tưởng, sẵn lòng nhận trách nhiệm và cũng sẵn lòng tham khảo ý kiến người khác, thực hiện theo ý khi được ủy nhiệm. Có khả năng không muốn thực hiện: Loại người này không sẵn lòng học hỏi và tiếp thu ý kiến của người khác, thiếu tinh thần hợp tác, không nên giao quyền cho họ. Thiếu khả năng muốn thực hiện: Cần được đào tạo bổ khuyết những mặt yếu trước khi được ủy nhiệm. Thiếu khả năng, không muốn thực hiện: Giao việc cho loại người này hẳn là hỏng to.

    Khuyến khích mọi người phát biểu

    Người lãnh đạo cần động viên mọi người bàn thảo, ngay cả với ý kiến nghịch lại cũng có giá trị của nó.

    Chia sẻ trách nhiệm

    Bổ sung các cách thức hành động, giám sát tiến độ, sáng tạo, có tính xây dựng khi hoạt động nhóm gặp trở ngại tạm thời. Cũng cần tạo bầu không khí thông hiểu nhau giữa các thành viên nhất thông tin về tiến độ và những thay đổi đường lối làm việc.

    Cần linh hoạt

    Mỗi thành viên phải có khả năng thực hiện vai trò của mình chí ít cũng như người khác. Mỗi người phải được phân nhiệm để hành động chủ động trong nhóm. Dù việc khó đến đâu nhưng nếu có sự đồng lòng của toàn nhóm thì đều có thể hoàn thành. Mọi người đều được phân nhiệm rõ ràng tử đầu đến cuối. Mọi người đều được khuyến khích làm theo phương cách hiệu quả nhất của mình.

    1.6.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Môi trường học tập

    Không nhất thiết phải đẹp, đầy đủ thật sự tiện nghi nhưng góc học tập thuận tiện sẽ giúp cho việc học được dễ dàng hơn. Có thể học ở bất kỳ nơi nào, mặc dù rõ ràng có một số nơi thuận lợi hơn cho việc học. Thư viện, phòng đọc sách, phòng riêng là tốt nhất. Quan trọng là nơi đó không làm phân tán sự tập trung. Cho nên hãy làm cho việc lựa chọn nơi học thích hợp trở thành một phần của thói quen học tập. Không gian học tập cần có sự yên tĩnh nhất định để tránh bị phân tâm trong quá trình học. Môi trường làm việc độc lập gần như đối lập với môi trường làm việc nhóm vì vậy cần nhìn nhận ưu, nhược điểm của mình trong tưng môi trường mà chon cách học phù hợp và môi trương thích nghi. Nhưng nhìn chung dù chọn hình thức học tập nào thì cũng cần chọn môi trường tránh ít sự tác đọng bên ngoài nhất. Có như vậy mới luyện được khả năng tập trung bài cao độ, khi có được khả năng này rồi sẽ dễ dàng tích nghi với nhiều môi trường học tập khác nhau; ngay cả nhưng nơi có tiếng ồn. Xây dựng một môi trường học tập hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập lên nhiều lần.

    Phưong pháp học ở nhà

    Sau những giờ tiếp nhận kiến thức bài mới trên lớp do thầy giáo truyền thụ, nhiệm vụ tiếp theo của học sinh là về nhà tự học, bao gồm ôn lại lý thuyết, giải bài tập, rèn luyện kỹ năng xử lý các tình huống khó khi gặp một bài toán hóc búa, một phản ứng hóa học phức tạp hay hiện tượng vật lý thú vị…

    Cần tìm một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Nên chọn một thời gian học cố định và tạo cho mình thói quen học thời gian đó. Ngoài ra, cần có lịch học thật hợp lý, kết hợp giữa học tập và giải trí như có thể một bản nhạc nhẹ nhàng, hoặc một bài tập thể dục. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn, thoải mái thì học tiếp.

    1.6.4 Kỹ năng lập kế hoạch học tập

    Nhiều sinh viên cho rằng chỉ cần cố gắng học là có thể đạt kết quả tốt, nhưng thật ra, học ở Đại học khác với học ở trung học rất nhiều, và biết cách học có hiệu quả ở Đại học là một điều quan trọng mà có khi chưa được chú ý đúng mức. Hệ quả của phương pháp học không tốt là lãng phí thời gian, thành tích học tập kém, thậm chí thi rớt dẫn đến chán nản, thất vọng và bất mãn. Học đối với sinh viên là cuộc sống, là tương lai. Vậy nên thời gian học tập vô cùng quý giá, không thể lãng phí được. Do đó, hãy tạo và phát triển nơi mình một kĩ năng học tập có hiệu quả.

    Lập kế hoạch học tập là điều cần thiết:

    Trước khi làm bất cứ chuyện gì, nên lập kế hoạch. Nếu không có kế hoạch thì không làm chủ được thời gian, nhất là khi có điều gì bất trắc xảy đến. Một kế hoạch học tập tốt cũng giống như chiếc phao cứu hộ vậy. Mỗi người, tùy vào nhu cầu của mình, sẽ lập một kế hoạch học tập riêng, kế hoạch đó có thể thay đổi khi cần, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ kế hoạch đã đề ra.

    Kế hoạch học tập giúp quản lý thời gian:

    Bất cứ ai cũng có 168 giờ mỗi tuần, nhưng có người sử dụng quỹ thời gian đó có hiệu quả hơn người khác. Sinh viên có rất nhiều thứ để làm, hãy liệt kê tất cả công việc cho từng ngày ( ngủ, chưng diện, đi lại, ăn uống, kiếm tiền, đi chơi, tham gia công tác đoàn thể, xã hội, thể thao…) sau đó, nếu cảm thấy còn ít hơn 30 giờ mỗi tuần để tự học thì hãy kiểm điểm lại xem tại sao mình phí thời gian như vậy.

    Khi nào nên học tập:

    Nói chung chỉ nên học lúc chúng ta thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian đã lên kế hoạch để học. Nguyên tắc là không học trong vòng 30 phút sau khi ăn, và trước khi đi ngủ, không học ngốn vào giờ chót  trước khi đến lớp.

    Học cho giờ lý thuyết:

    Nếu học trước để chuẩn bị cho giờ lên lớp, cần đọc tất cả những tài liệu, cần đọc trước và ghi chú thích những điểm chưa hiểu. Nếu học sau giờ lên lớp, cần chú ý xem lại những thông tin ghi chép được.

    Học cho giờ cần phát biểu, trả bài:

    Nên dùng khoảng thời gian ngay trước các giờ học này để luyện tập kỹ năng phát biểu với các học viên khác (nếu cần). Điều này sẽ giúp hoàn thiện kỹ năng phát biểu.

    Sửa đổi kế hoạch học tập:

    Đừng lo ngại khi phải sửa đổi kế hoạch. Thật sự kế hoạch chỉ là cách dự tính sẽ dùng quỹ thời gian của mình như thế nào, cho nên một khi kế hoạch không hiệu quả, ta có thể sửa đổi nó. Nên nhớ rằng, việc lập kế hoạch là giúp có thói quen học tốt hơn và khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên dễ dàng hơn.

    Học phải có định hướng, phải biết mình học gì, có những bài kiểm tra lớn, nhỏ, đề tài quan trọng như thế nào để vạch kế hoạch thực hiện. Cần chủ động trong việc sắp xếp lịch học hợp lý, cân đối giữa việc học, làm thêm và giải trí.

    1.6.5 Phương pháp học tập trên lớp

    Nghe giảng: Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Hơn nữa, việc tập trung được hay không đôi khi còn phụ thuộc vào thầy giáo, bài giảng hay các nguyên nhân chủ quan khác. Chỉ có cách phải luyện tập, tránh để bản thân bị phân tâm. Tốt nhất nên chọn vị trí gần thầy cô, vừa có thể nghe rõ hơn, vừa có khả năng ít nói chuyện. Việc phát biểu hay đặc câu hỏi cho thầy cô giáo cũng là một cách khiến chúng ta tập trung hơn. Để phát biểu tốt thì hãy ghi những câu nhận xét hay phát biểu vào một tờ giấy trước khi phát biểu. Ghi chép: Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự viết tắt hơn. Không cần phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Hãy dành thời gian để nghe các thầy cô giải thích kĩ hơn về định nghĩa, khái niệm, cách chứng minh… Chỉ ghi chép những gì mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách không có. Ngoài ra, vở của người bạn học sẽ là tài liệu hữu ích vì có thể lúc đãng trí bỏ sót một chi tiết quan trọng trong bài giảng.

    Vấn đề nghe giảng ở lớp: đừng thắc mắc tại sao thầy cô cứ nhắc đi nhắc lại vấn đề này. Vì nó là điều kiện đầu tiên giúp bạn trong việc học bài ở nhà sau đó. Bạn nghĩ: “Ðã là học sinh thì khi đến lớp ai mà không chú tâm nghe giảng cần chi phải nhắc hoài!”. Không đâu bạn. Nếu tất cả các bạn đều “chú tâm nghe giảng” thì tôi có thể quả quyết với bạn rằng: Hầu hết những học sinh ấy đều là những học sinh giỏi. Bài giảng họ tiếp thu tốt thì tất nhiên sẽ học bài mau thuộc. Nhưng nếu tất cả như vậy, chắc chắn tôi sẽ không viết quyển sách này.

    Vậy thái độ nghe giảng của các bạn phải ra sao? Bạn cũng có thể nhìn lên bục giảng, nhìn thầy cô chăm chú, tưởng chừng như bạn đã “nuốt” từng lời giảng của thầy cô vậy. Nhưng nếu bạn không có nghe gì cả, mà thầy cô hỏi bạn một câu, chắc chắn bạn sẽ lúng túng ngay. Phải, bạn sẽ không thể đáp lại câu hỏi của thầy cô một cách chính xác được. Và như vậy là bạn đã “nhìn” chứ bạn có “nghe” đâu. Ðầu óc bạn mơ màng, bạn đang ngồi ở lớp mà nghĩ tới những cuộc chơi ở xa. Nào là chiều nay sẽ đi hồ bơi, đi đánh quần vợt, bóng chuyền… các bạn nữ thì mơ tưởng đến cuộc họp mặt nào đó.v.v…

    Nói chung, bạn đang nhìn thầy cô mà hồn bạn đang “lang thang” một cuộc viễn du nào đó chứ không có tại lớp. Thầy cô thì khản tiếng, hết nước bọt để trình bày bài dạy của mình, những mong học sinh hiểu sâu, hiểu rộng mà nào được có mấy ai chịu khó nghe! Bạn phải biết rằng bạn đang ở trong lớp học, và bạn đang có nhiệm vụ “nghe giảng bài”. Bạn phải xác định như vậy mới gạt phăng mọi vấn đề khác để tập trung cho việc nghe giảng bài. Nếu như bạn không chú tâm nghe giảng thì đâu phải bạn có động cơ đi học. Mà động cơ học tập thì đúng là điều rất quan trọng của tuổi trẻ. Vậy bạn phải tự hỏi mình. Ta đến lớp để làm gì? Học, học thì phải nghe lời giảng của thầy cô. Nếu không, bạn chỉ có tiếng đi học, mang danh là một học sinh, nhưng kỳ thực không phải là học sinh. Vì một học sinh thì phải biết học, chăm học và học giỏi nữa. Chịu bao lao nhọc để đặt kỳ vọng nơi bạn, vậy mà bạn nỡ phụ lòng ba mẹ bạn sao? Dù sau này bạn là ai, bất cứ địa vị nào trong xã hội, mà tuổi trẻ bạn chây lười trong học tập là bạn đã mắc nợ với đời. Trước nhất là cha mẹ. Sau đến là thầy cô và cuối cùng là với xã hội. Vì bạn sống trong lòng xã hội là bạn phải có trách nhiệm phục vụ xã hội. Ai làm ra những phẩm vật cho xã hội? Con người. Muốn làm một con đường phải có kỹ sư tính toán. Cái áo bạn mặc, quyển vở bạn đọc đều do tay con người làm ra. Bệnh tật, bạn cần bác sĩ và viên thuốc bạn uống cũng cần dược sĩ bào chế. Nhưng tất cả những thành phần đó là ai? Do đâu mà họ được như vậy? Tất cả cũng phải học và họ cũng đã trải qua quá trình gian lao để ngày nay có được công thành danh toại đó,nhằm góp bàn tay xây dựng và kiến tạo xã hội. Ðó cũng có thể gọi là “trả nợ áo cơm”, hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội… Ngay bây giờ, còn trẻ đến lớp mà bạn không học thì lớn lên bạn sẽ góp phần gì cho xã hộ? Chắc bạn đã từng nghe câu: “Trẻ mà không học, già sẽ ân hận” rồi chứ?

    1.6.8 Thư giãn – giảm Stress

    Nhiều học sinh, sinh viên, vì các lý do khác nhau, luôn cảm thấy bị stress trong học tập. Để đối phó một cách có hiệu quả với stress, chúng ta cần phát hiện những nguyên nhân gây ra stress và có phương pháp để giảm stress. Dưới đây là một vài biện pháp tích cực mà các bạn có thể thực hành để giảm stress trong học tập:

    Luyện tập thân thể thường xuyên: Bạn sẽ giảm được những áp lực căng thẳng nhờ luyện tập thân thể thường xuyên. Việc luyện tập là một cách thức có lợi nhất để thư giãn và làm dịu những cơn căng thẳng. Một thể chất khoẻ khoắn luôn tạo điều kiện cho một tâm trí thông suốt, đủ sức để bạn làm việc và học tập mỗi ngày.

    Ăn uống điều độ: Mỗi ngày, nên ăn uống điều độ và đầy đủ chất dinh dưỡng. Tránh dùng quá nhiều chất ngọt, nhiều đường, chất béo, vì những chất này có nguy cơ gây tăng huyết áp, làm cơ thể giảm khả năng đối phó với stress.

    Mỗi ngày, có một khoảng thời gian để thư giãn: Bạn có thể thực hành ít nhất một kỹ thuật thư giãn nào đó, chẳng hạn : nghe nhạc du dương, êm dịu; hô hấp sâu; trầm tư mặc tưởng;…

    Gặp gỡ những người bạn yêu thích: Cố gắng tham gia những nhóm, câu lạc bộ phù hợp với bạn, nơi bạn có thể cùng theo đuổi và chia sẻ những sở thích và các mối quan tâm với các bạn khác, chẳng hạn: sở thích văn chương, sở thích âm nhạc, sưu tầm tem, đàm thoại ngoại ngữ,…

    Tránh dùng những chất kích thích: Các chất cafein, cồn, nicotin có thể nhất thời làm bạn cảm thấy thích thú, nhưng về lâu dài, những chất này có khuynh hướng làm tăng stresss.

    Tâm sự nỗi buồn với người thân quen: Bất cứ ai cũng có những nỗi lo buồn không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Do đó, nếu có chuyện gì quá buồn, bạn cũng nên tâm sự với người thân, những người mà bạn có thể tin tưởng được, họ sẽ chia sẻ và đưa ra cho bạn những lời khuyên hữu ích. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng tâm sự mọi chuyện với bất kỳ ai. Có nhiều trường hợp, sức mạnh ý chí đòi hỏi bạn phải can đảm im lặng và tự mình vượt qua mọi buồn khổ.

    1.6.9 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Học thi: Cần giữ sức khỏe.

    Học sinh chuẩn bị bước vào kỳ thi cần giữ sức khỏe, đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng, tạo trạng thái tâm lý tốt và đặc biệt là không để bị áp lực gây căng thẳng. Không nên áp đặt lên kết quả thi cử, chẳng hạn như: “Phải thi đạt cho được loại giỏi, phải thi đỗ…”, đừng quá quan tâm đến những gì người khác nghĩ mà chỉ nên cố gắng làm thế nào để đạt kết quả cao nhất theo khả năng của mình. Sau đây là những cách giúp bạn có được sức khỏe và tinh thần tốt nhất để đạt kết quả cao trong các kỳ thi.

    Giữ gìn sức khỏe.

    Việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng là điều cực kỳ quan trọng vì trong thời gian ôn thi, học tập với cường độ cao, cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng. Ở giai đoạn này, các bạn cần tăng cường các loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm, cua… cùng các loại rau xanh, củ, quả. Bên cạnh đó, các bạn nên uống từ 2 đến 3 ly sữa mỗi ngày. Có vậy, sức khỏe mới được đảm bảo và việc học tập cũng hiệu quả hơn. Thức ăn đem lại nguồn dinh dưỡng quý giá cho sức khỏe nhưng nếu không bảo đảm vệ sinh thì trở thành mầm mống của nhiều bệnh tật. Để nâng cao sức khỏe và giúp bữa ăn ngon hơn, hấp dẫn hơn, cần chú ý đến nguyên tắc ba sạch: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong mùa nắng nóng.

    Nên ngủ đủ giấc 7 – 8 giờ mỗi ngày. Buổi trưa dù bận cách mấy cũng nên chợp mắt ít nhất nửa giờ vì người ta nhận thấy giấc ngủ buổi trưa dù ngắn nhưng sẽ giúp ích rất nhiều cho sự tiếp thu kiến thức vào buổi chiều và tạo sự sảng khoái trong học tập.

    Ngoài ra, việc dùng thuốc tăng cường bồi bổ trí nhớ đối với người bình thường là không cần thiết và không nên sử dụng. Bởi vì, những lợi ích của các loại “thuốc giúp thông minh” này thường đã bị thổi phồng và quảng cáo quá mức. Các thử nghiệm cho thấy những loại thuốc có thể giúp tập trung, ghi nhớ và tỉnh táo bằng cách tạo các tương tác khác nhau lên chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, các nhà quản lý và dược sĩ đều cảnh báo về việc lạm dụng thuốc bổ óc có thể gây nhiều tác hại đối với học sinh. Một số chuyên gia tin rằng, có những loại “thuốc giúp thông minh” khi ngấm vào não sẽ gây nghiện và nguy hiểm cho não bộ về lâu dài.

    Giữ trạng thái tâm lý tốt.

    Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng để học thi, nhưng việc định hướng, sắp xếp thời khóa biểu học tập một cách khoa học, hợp lý cũng cần thiết không kém. Kinh nghiệm cho thấy, chuẩn bị bước vào mùa thi, trạng thái tâm lý của học sinh không ổn định, lo lắng, thậm chí là sợ thi nên các bạn dễ bị rối trí. Do vậy, các bạn nên sắp xếp thời gian hợp lý để chú tâm hơn vào việc học. Tránh tình trạng đầu tư thời gian vào môn này quá nhiều, môn kia lại quá ít, môn sở trường thì ham học, còn những môn không thích thì không muốn học.

    Việc học tập căng thẳng cũng tạo nên cảm giác mệt mỏi. Vì thế, thời gian ngủ của các bạn phải được đảm bảo, hoạt động vui chơi giải trí cũng không thể bỏ qua. Quãng thời gian thư giãn có thể là lúc để các bạn hồi tưởng lại những gì đã học.

    Trong trường hợp tự giải các đề thi thử, nếu có bài làm của môn nào không được như ý muốn thì hãy khoan vội thất vọng, mà hãy biết điểm còn yếu của mình để chú tâm hơn cho môn đó. Việc giữ gìn sức khỏe cho tốt, tâm lý vững vàng cũng là một cách giúp cho việc thi cử đạt kết quả cao. Vì vậy, đừng quá lo lắng và miệt mài học thi mà lơi lỏng việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.

    Phương pháp tập đọc nhanh trong mùa thi: Đọc bằng mắt, không phát âm; tập mở rộng tầm nhìn để khi mắt lướt qua, đọc và tập nhớ lại tựa bài, những vấn đề chính yếu căn bản của bài; không học thuộc lòng mà nhớ ý là chính; cố gắng hiểu những gì đã học kể cả hỏi bạn bè, thầy cô; ghi nhớ các chi tiết gần nhau, khắc ghi những gì quan trọng nhất,  gạch dưới hoặc tô màu dễ thấy; sau khi đọc xong, dùng trí nhớ hệ thống hóa lại toàn bộ bài học, những điểm căn bản, trước khi ngủ, ôn lại một lần nữa vì trong giấc ngủ, tài liệu ôn tập dễ ghi vào bộ nhớ. Việc học thuộc lòng làm não trở nên thụ động, lười suy nghĩ .  Vì vậy, vào phòng thi, nhiều thí sinh đọc xong đề bài, bừng con mắt dậy thấy óc mình trống trơn. Vì thế, muốn tăng cường trí nhớ, học dễ nhớ lâu quên thì phải tập trung phân tích, tổng hợp bài vở kèm theo hình ảnh cụ thể để trí nhớ dễ tìm kiếm khi cần thiết.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN

    CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

     2.1 Đặc điểm riêng của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Căn cứ theo mục tiêu đào tạo, có thể tạm chia nhóm ngành kinh tế thành ba nhóm nhỏ với ba đặc điểm đào tạo khác nhau của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Nhóm đào tạo các nhà quản lý nhà nước về kinh tế gồm các ngành: kinh tế học, kinh tế kế hoạch đầu tư, kinh tế môi trường, kinh tế quản lý công cộng, kinh tế lao động quản lý nguồn nhân lực… Tốt nghiệp các ngành này sẽ làm công tác quản lý, phân tích, hoạch định chính sách kinh tế, dự án kinh tế trong các cơ quan quản lý nhà nước. Nhóm ngành này phù hợp với những người có khả năng lãnh đạo, khả năng quản lý, thuyết phục, lập kế hoạch cũng như khả năng nghiên cứu, phân tích – tổng hợp và ra quyết định…

    Nhóm đào tạo các chuyên gia kinh tế: tài chính, kế toán, kiểm toán, ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm… Nhóm ngành này cũng yêu cầu khả năng nghiên cứu kinh tế – tài chính, lập kế hoạch, thu thập xử lý thông tin số liệu giải quyết vấn đề liên quan đến nghiệp vụ của mình. Các ngành kế toán, kiểm toán đặc biệt yêu cầu khả năng tính toán cũng như khả năng làm việc tỉ mỉ, chính xác… Tốt nghiệp các ngành này (tùy chuyên môn cụ thể) có thể làm việc ở các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, thương mại – dịch vụ, ngân hàng, tổ chức tín dụng…

    Nhóm đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp: quản trị kinh doanh, quản trị chất lượng, kinh doanh quốc tế, thương mại, ngoại thương, marketing… Tốt nghiệp các ngành này có khả năng phân tích thị trường, phát hiện cơ hội kinh doanh, lập kế hoạch và quản lý hoạt động doanh nghiệp (thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu…). Nhóm ngành này yêu cầu kỹ năng làm việc theo nhóm, có khả năng quản lý, lập đề án phát triển doanh nghiệp, ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh…

    Ngoài ba nhóm ngành trên, nhóm ngành hệ thống thông tin kinh tế với các tên gọi như: thống kê, tin học quản lý… là các ngành học gắn liền với nhu cầu của các doanh nghiệp. Họ cần những “nhà kinh tế giỏi công nghệ thông tin, nhu cầu nhân lực lớn nhưng ít người. Ngành này trang bị các kiến thức và kỹ năng ở cả hai lĩnh vực kinh doanh và công nghệ thông tin. Tốt nghiệp ngành này có thể làm các công việc: xây dựng hệ thống mạng quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh doanh qua mạng, quản lý hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hoặc làm việc ở lĩnh vực thu thập và phân tích số liệu, thống kê…

    Cân nhắc việc học và làm thêm sao cho hiệu quả

    Một vấn đề mà có lẽ rất nhiều sinh viên kinh tế quan tâm: làm thêm. Tìm việc làm thêm không dễ dàng nhưng cũng không phải là không thể. Tuy nhiên trong giai đoạn học thi thì nhất định không được làm thêm bất cứ công việc gì. Trong thời gian này hãy cố gắng học bài thi cho tốt để được kết quả tốt nhất. Có thể tìm việc theo ba cách: trên internet, tại sở lao động hoặc tìm tại trường đại học đang theo học.

    Sinh viên vừa làm vừa học mới là những người tiếp thụ được kiến thức nhiều nhất. Họ được học hành và cùng lúc đó là có thể duy trì được công việc và có tiền để tiêu. Tuy nhiên, đó có thể là con dao hai lưỡi, nếu bạn không cẩn thận, nó có thể hủy hoại việc học tập lẫn công việc. Dưới đây là các cách giúp sinh viên cân bằng để đạt hiệu quả tốt nhất.

    Quản lý thời gian tốt. Tự mình lên kế hoạch hàng ngày hoặc hàng tuần và hãy chắc chắn rằng phải dành thời gian nhất định cho việc học. Lựa chọn thời gian phù hợp cho việc học nhất và lên lịch. Thời gian còn lại có thể phân đều cho gia đình, bạn bè, hoạt động xã hội … Luôn nhớ rằng viêc học đối với sinh viên vẫn là quan trọng nhất. Tùy vào số lượng công việc và số giờ ngủ cần thiết mà các buổi sáng thứ Bảy và Chủ nhật có thể là sự lựa chọn tốt cho phép các bạn có thời gian rãnh rỗi dành cho gia đình, đi lễ nhà thờ, các hoạt động thể thao, và các chương trình vui chơi khác.

    Hãy năng động, tạo động lực cho mình bằng cách tạo mối liên hệ với các bạn cùng lớp. Sử dụng email để chia sẽ ý kiến và thảo luận nhóm về cách giải quyết, đáp án đốI với các bài tập được giao. Vừa học vừa làm, sẽ dễ dàng đánh mất động lực học nếu không có sự liên hệ thường xuyên với các sinh viên khác, vì thế hãy sử dụng tốt khoảng thời gian gặp bạn bè để trao đổi. Cố gắng theo kịp bài học trước hay sau khi môn học kết thúc, tuy đôi khi bạn đến lớp chỉ để điểm danh.

    Thiết lập mục tiêu và hãy tự tán thưởng cho mình khi các bạn đạt được mục tiêu đó. Đây là thói quen tự động viên rất hiệu quả. Mục tiêu cao cả là thực hiện đúng thời gian biểu vừa học vừa làm!

    Chọn một nơi yên tĩnh để học, tách bạch hoàn toàn khỏi những sự xao nhãng từ cuộc sống gia đình, như là xem ti vi, những cú điện thoạI hoặc từ các nhân viên đồng nghiệp. Hãy luôn cất giữ cuốn tập, các mẫu giấy ghi chú, máy vi tính, … chỉ ở một nơi để bạn có thể dễ dàng nhìn thấy vào và lục tìm khi cần thiết. Làm như thế sẽ làm giảm bớt sự lo lắng khi mà sau một ngày dài làm việc ở văn phòng, cửa hàng hoặc xí nghiệp là khoảng thờI gian mà bạn thực sự cảm thấy mệt mỏi

    Dọn dẹp, sắp xếp căn phòng ngăn nắp để cảm thấy dễ chịu. Thử tưởng tượng đi làm về mệt, nhìn nhà cửa bề bộn như thế thì trong đầu bạn chắc chắn sẽ chẳng hứng thú gì khi phải lôi sách vở ra học.

    Vui chơi lành mạnh. Làm việc, làm việc và làm việc sẽ góp phần làm con người bạn trở nên nhàm chán, tẻ nhạt. Vui chơi sẽ làm sảng khoái tinh thần và cho ta cảm giác yêu đời hơn. Hãy đi ra ngoài và tự thỏa mãn những sở thích của mình như coi ca nhạc, xem phim, dành cả một buổi chiều nghịch chơi với trẻ nhỏ như xếp hình, lắp ráp đồ chơi trên sàn. Đây là những giây phút đáng quý hơn bao giờ hết vì trong khi bạn đùa giỡn, đầu óc bạn sẽ được nghỉ ngơi. Một nguồn năng lượng mới được tái tạo sẽ giúp sinh viên cảm thấy hăng say hơn cho công việc sắp tới.

    Hãy tận hưởng những lợi ích khi vừa làm vừa học. Các sinh viên chỉ có học sẽ cảm thấy ganh tỵ với bạn vì họ đã không tận dụng được một cơ hội quan trọng để thúc đẩy bản thân, đó là kinh nghiệm làm việc. “Đã từng làm việc” sẽ làm tăng thêm giá trị cho tấm bằng của các bạn, bằng cách cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc sống thực tế và những tình huống mà có thể giúp bạn hiểu rõ các bài học trên trường tốt hơn.

    Ngay cả khi việc làm và chuyên ngành học hoàn toàn không liên quan gì đến nhau thì bạn cũng học được rất nhiều kỹ năng cần thiết cho công việc sau này như: kỹ năng sắp xếp công việc, kỹ năng cân bằng công việc, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp và giải quyết vấn đề… Tất cả các kỹ năng thì vô giá khi đem so sánh với những sinh viên học toàn thời gian nhưng lại chẳng có chút kinh nghiệm nào.

    Bí quyết: Hãy “tranh thủ” sự thông cảm của gia đình và bạn bè. Nếu chỉ tập trung cho công việc, việc học mà “lơ là” người thân, gia đình thì đang dần biến mình thành “Robinson trên đảo hoang đấy”. Nếu phải cúp tiết học vì công việc, hãy tham gia các lớp học khác để học bù. Nếu có thể, hãy cho Giảng viên của bạn biết được hoàn cảnh và những nỗ lực ko bỏ lỡ bài vỡ của bạn. Đừng cho rằng giảng viên nào cũng hiểu vấn đề của bạn trong thời gian thi – điều này phải rõ ràng, cụ thể trước khi bắt đầu học kỳ. Đừng để công việc trượt dốc. Nếu như nhận thấy rằng việc học làm tốn nhiều công sức và rằng nó làm ảnh hưởng đến công việc, cần phải điều chỉnh thời gian biểu. Nếu đã xác định vừa học vừa làm, thì hãy cố gắng hòan thiện cả hai..

     2.2  Kết quả học tập của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Sự đổi mới về phương thức quản lý sinh viên trong năm học 2009-2010 đã cho thấy sự thay đổi về chất lượng học tập của sinh viên cao hơn so với những năm học trước. Cụ thể học kỳ I  Khoa TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán số sinh viên xuất sắc, giỏi đạt 13,1%; sinh viên khá chiếm 38,5%; và 34,73% là số sinh viên trung bình; còn lại 13,67% có kết quả duới trung bình.

    Có được kết quả này chính nhờ sự đổi mới về phương thức quản lý cũng như việc đổi mới về cách thức truyền đạt của giảng viên đến sinh viên. Tuy nhiên về cơ bản vẫn còn nhiều bộ phận sinh viên chưa có một phương pháp học tập hiệu quả, đào sâu kiền thức đặc biệt là các môn trong khối ngành kinh tế. Sinh viên vẫn chưa tập được cho mình thói quen chủ động trong học tập, chỉ đến lớp để ứng phó điểm danh, kiểm tra giữa kỳ, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng học tập của bản thân dẫn đến chưa đưa ra cho mình được phương pháp học tập hiệu quả.

    2.3 Tình hình phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Thực trạng chương trình dạy và học hiện nay: Chúng ta có thể nói rằng các môn học tự bản thân nó không có tội nhưng chính cách dạy làm sinh viên ngao ngán và chán nản. Giờ học cho các môn chuyên ngành ít, trong khi giờ cho các môn ngoại ngữ, tin học lại quá nhiều. Thời gian học không hợp lý, dồn dập, đặc biệt là các lớp buổi tối. Từ đó dẫn đến tình trạng là sinh viên đi học không đều. Sinh viên hiện nay không tự tin trong khi học và khi đi làm, không có phương pháp học cụ thể, khoa học. Phần lớn họ chỉ xem lại bài học khi đến gần ngày kiểm tra.

    Qua khảo sát hơn 2500 sinh viên của Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán thu được kết quả sau:

    Thời gian tự học mỗi ngày của sinh viên khá, giỏi từ 2-3 giờ mỗi ngày chiếm 56%, từ 4-5 giờ chiếm 38% và 6% cho số còn lại.

    Trong khi mức trung bình chung từ 2-3 giờ mỗi ngày chỉ 32%, từ 4-5 chưa đến 19% và có đến 49% chưa dành thời gian học tập hàng ngày đến 2 giờ.

    Sinh viên khá giỏi tham gia đầy đủ các buổi học. Tỷ lệ có mặt trên lớp của số sinh viên này từ 95% trở lên chiếm 80%, số còn lại tham gia các buổi học từ 90-95%.

    Thời gian có mặt trên lớp của sinh viên trung bình và dưới trung bình hạn chế hơn, chỉ 57% các sinh viên này tham gia các buổi học từ 95% trở lên, số còn lại có mặt trên lớp khá khiêm tốn, thậm chí có nhiều sinh viên cả học kỳ chỉ có mặt trên lớp một vài buổi.

    Hầu hết sinh viên khá, giỏi đều có giáo trình đầy đủ chiếm khoảng 93%, số còn lại tham khảo tài liệu ngoài; có khoảng 56% trong số họ sử dụng Internet làm công cụ hỗ trợ học tập.

    Hoạt động thảo luận nhóm được sinh viên khá giỏi tham gia chiếm hơn 61%, 93% trong số họ có khả năng học tập độc lập và 86% hoạt động thảo luận trên lớp; 45% sinh viên khá, giỏi tham gia hoạt động nhóm và học tập độc lập đạt hiệu quả cao. Những bạn sinh viên khác hoạt đọng nhóm chỉ chiếm 34%; 96% trong số những sinh viên này hoạt động độc lập và 65% hoạt động trên lớp nhờ những buổi đi học.

    Kế hoạch học tập, thời gian biểu cụ thể được các bạn sinh viên khá, giỏi quan tâm, 82% trong số họ có kế hoạch học tập hàng ngày, 26% có kế hoạch học tập hàng tuần và 7% có kế hoạch hàng tháng; trong đó có khoảng 15% sinh viên khá, giỏi vừa có kế hoạch hàng ngày, vừa có kế hoạch hàng tuần. Trong khi chỉ có 13% các sinh viên trung bình và dưới trung bình cho một bảng kế hoạch học tập.

    Sinh viên tham khảo tài liệu ngoài còn hạn chế, 85% trong số sinh viên khá, giỏi thỉnh thoảng tham khảo tài liệu ngoài, 13% có mức độ tham khảo thường xuyên và chỉ 2% còn lại hầu như ngày nào cũng tham khảo tài liệu ngoài.

    2.4  Đánh giá về phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    2.4.1. Những kết quả đạt được

    Kết quả cuộc khảo sát cho thấy sinh viên khá giỏi là những người có kế hoạch, biết đầu tư thời gian hợp lý cho học tập (3-4 giờ tự học mỗi ngày), tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp, có đầy đủ sách giáo trình và tham khảo tài liệu ngoài, tham gia hoạt động thảo luận nhóm đạt hiệu quả. Kết quả đạt được này thực sự chưa cao, nhất là về tính rộng rãi, phong phú của các môn học kinh tế. Nhưng về cơ bản hầu hết họ đã ứng dụng được một vài phương pháp học tập ở Đại học vì vậy đã đạt được kết quả khả quan. Những sinh viên này khi đã có định hướng sẽ chuẩn bị cho mình những kiến thức phù hợp, họ sẽ có thể học và không học một số kiến thức, tuy nhiên họ phải có những kỹ năng căn bản nhất mà một sinh viên phải có khi ra trường. Dù có làm việc trong môi trường nào, công việc nào, đúng chuyên ngành hay phải làm trong một vị trí không phù hợp thì những kỹ năng vẫn là những chìa khóa cho thành công cho bất kỳ ai. Những kỹ năng này sẽ được học hỏi và vận dụng tốt hơn đối với những sinh viên khá giỏi. Áp dụng kiến thức căn bản trên lớp được thầy cô truyền thụ nhiệt tình kết hợp những kỹ năng phù hợp sinh viên khối ngành kinh tế thì nhất định sẽ có được nhưng con người kinh tế năng động thật sự, đáp ứng nguồn nhân lực giàu năng lực cho đất nước.

    2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    Bên cạnh những kết quả đạt được đó, vẫn còn bộ phận sinh viên chưa đạt được kết quả cao trong học tập cũng như khả năng ứng dụng thực tiễn do họ chưa tìm được cho mình những phương pháp học tập hiệu quả, đặc biệt là các môn thuộc khối ngành kinh tế và QTKD, kể cả sinh viên khá, giỏi.

    Về mặt thực tiễn và một số kỹ năng cần thiết ở sinh viên kinh tế ở số sinh viên này vẫn còn hạn chế, lý do của việc này là sinh viên tìm hiểu kiến thức chưa sâu cũng như hạn chế về việc tìm kiếm tài liệu, họ vẫn thụ động từ cách học phổ thông, tin tuyệt đối vào sách vở không có sự hoài nghi phản biện, không chủ động trong việc mở mang kiến thức xã hội cho bản thân, nhất là những kinh nghiệm thực tế – sự cần thiết tối thiểu cho sinh viên kinh tế sau này. Trong khi con nguời kinh tế là những nguời thật sự hiểu sâu biết rộng trên nhiều lĩnh vực, mọi mặt của đời sống, bởi mọi sự vận động của các yếu tố xã hội, từ khoa học công nghệ, giáo dục , y tế, văn hoá, chính trị … đều có sự tác động, ảnh huởng đén nền kinh tế. Bên cạnh đó khả năng tiếp thu tài liệu cũng như tư duy vận dụng kiến thức cơ bản đến thực tiễn của các bạn sinh viên còn yếu, sự tác động của nhiều yếu tố bên ngoài, khối lượng thông tin, kiến thức các bạn tiếp xúc hàng ngày nhiều làm cho khả năng ghi nhớ thông tin cần thiết, quan trọng đối với các bạn bị hạn chế, đặc biệt là các thông tin kinh tế – xã hội cập nhật hàng ngày luôn có sự liên quan ảnh huởng đến tình hình phát triển kinh tế của đất nuớc.

    Các bạn sinh viên ở hai khoa chưa chú trọng nhiều đến việc học nhóm, thảo luận, tự nghiên cứu cũng như trao đổi với giáo viên về kiến thức trên lớp, tìm hiểu kiến thức mở rộng, nguyên nhân của hạn chế này là do các bạn sinh viên còn ngại ngùng trong việc trao đổi, trau dồi kiến thức cùng nhau, chưa chủ động trong mọi việc, phần lớn mang tính tự chủ. Việc học nhóm ở sinh viên kinh tế là điều kiện để phát huy các kỹ năng cơ bản cũng như kỹ năng chuyên biệt của các bạn. Học nhóm sẽ giúp các bạn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, khả năng làm viẹc nhóm hiệu quả – rất cần thiết cho công viẹc sau này. Ở đó cũng giúp cho các bạn trao đổi lẫn nhau những phưong pháp học hiệu quả, bổ sung kiến thức cho nhau. Điều khiến các bạn thiếu đi sự quan quan tâm học nhóm này là do các bạn chưa thật sự hội nhập, thích nghi với môi trưòng đại học; chưa có cách sống tự lập xa gia đình an toàn, lành mạnh và huớng đến xã hội, cộng đồng. Bên cạnh đó các bạn cũng thiếu đi việc xây dựng hình ảnh cá nhân, các kỹ năng lãnh đạo, giải đáp vấn đè mà chính môi trường học nhóm là điều kiện tốt đẻ các bạn phát huy những kỹ năng này.

    Việc tự xây dựng cho mình cũng như thích nghi một môi trường học tập ở các bạn sinh viên kinh tế còn thiếu và yếu, sự phát triển của các phương tiện thông tin giải trí, cũng như các loại hình vui chơi khác đã khiến nhiều bạn bị cuốn vào và không tìm cho mình được môi trường học tập hiệu quả. Một số bạn lựa chọn thư viện hay giảng dường làm nơi khổ luyện hàng ngày nhờ sự yên tĩnh, ở đây cũng vừa cung cấp cho các bạn một lượng thông tin khá lớn nhưng mặt trái của vấn đè này là các bạn cứ vùi đầu vào sách vở ngày qua ngày mà thiếu đi các hoạt động trao đổi thực tế, cũng như sắp xếp thời gian giải trí phù hợp. Nhiều bạn rơi vào tình trạng Stress mà không rõ nguyên nhân, phần lớn các bạn chưa quan tâm đến Stress và rất dễ rơi vào tình trạng này.

    Một vấn đề nữa tồn tại ở các bạn sinh viên kinh tế là đa số các bạn chưa có kế hoạch học tập hiệu quả cũng như sắp xếp công việc làm thêm, giải trí hiệu quả, mà đây lại là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của một nhà kinh tế, chính sự không chủ động trong mọi việc của các bạn sinh viên đã làm cho các bạn chưa có những kế hoạch, học tập làm việc hiệu quả.

    Việc học tập trên lớp của sinh viên phần nhiều còn mang tính hình thức, các bạn đến lớp chỉ để điểm danh, kiểm tra giữa kỳ mà không quan tâm đến lượng kiến thức mình tiếp thu được trên lớp như thế nào đều này dẫn đến việc các bạn không tìm được cho mình cách học trên lớp sao cho hiệu quả, tận dụng hết khả năng của mình trên lớp mà tiếp thu kiến thức của thầy cô truyền thụ. Cũng như việc tận dụng thời gian trên lớp để trao đổi cùng bạn bè về những kiến thức vừa học, kiểm tra lẫn nhau chuẩn bị cho bài học mới.

    Đi học không thường xuyên, không sắp xếp cho mình kế hoạch học tập phù hợp cũng là nguyên nhân dẫn đến việc các bạn sinh viên chưa có được những kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra đạt hiệu quả. Thụ động trong việc học tập, nhiều bạn không đi học thường xuyên hoặc có đi học nhưng không ghi bài, không tập trung đến lúc thi chỉ mượn vở các bạn khác photo đã làm cho chính các bạn thiếu đi khả năng chuẩn bị ôn tập và thi đạt kết quả cao.

    Phần lớn sinh viên chưa nắm được những điều kiện cần thiết, nền tảng để có được phương pháp học tập hiệu quả. Mỗi người có một phương pháp, cách học khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, khả năng của mỗi người. Nhưng về cơ bản phải nắm vững những yếu tố cần thiết để hình thành phương pháp học tập hiệu quả cho mình như: đọc, tìm kiếm tài liệu, làm việc theo nhóm, đồng đội, tập thể, học tập và nghỉ  ngơi, cách nghe giảng, ghi chép, tóm lược và sửa chữa bài giảng, Kỹ năng tư duy hiệu quả, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp luận sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc khoa học, lên kế hoạch học tập, viết tiểu luận, báo cáo khoa học, thuyết trình… Học chưa gắn liền với hành. Những phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học được các thầy/cô hướng dẫn trên lớp, trong những lần báo cáo chuyên đề, giao lưu hay những phương pháp có trong các cuốn sách, bài báo chỉ trở thành sở hữu của sinh viên khi nó được tìm hiểu, phân tích, vận dụng, bổ sung, chỉnh sửa hàng chục, hàng trăm lần trong nhiều nội dung môn học khác nhau. Nhiều sinh viên có nghe, có xem nhưng lại không có ý chí, kiên nhẫn để thực hành do sức ỳ từ những cách thức, cách làm cũ. Sức ỳ từ phương pháp học tập ở phổ thông. Thói quen, lề lối, phương pháp học tập đó được duy trì cho tới bậc trung học và ngay cả bậc đại học – bậc học có mục tiêu và yêu cầu khác với bậc phổ thông. Thiết nghĩ rằng, mỗi  sinh viên muốn thắng được “sức ỳ” của mình, tìm được phương pháp học tập mới thì cần phải “biết quên” cái cũ đi. Hãy nhìn vấn đề một cách háo hức, say mê, không chỉ là ghi nhớ, thuộc các dữ kiện mà có khả năng quan sát, suy nghĩ, hiểu, giao lưu, thích nghi và sáng tạo. Đối với sinh viên, học tập là nhằm trang bị cho mình năng lực lao động để tạo ra sản phẩm công việc. Học tập phục vụ cho ai? Học tập cái gì? Người sử dụng đang cần gì ở mình? Chất lượng có đáp ứng yêu cầu của người sử dụng không?… Là những câu hỏi cần trả lời để sinh viên có định hướng, phương pháp, nội dung học tập phù hợp, hiệu quả bảo đảm đầu ra cho mình. Nhiều sinh viên cho rằng Đại học là chỗ “xả hơi” sau những năm học tập mệt mỏi, nặng nề ở phổ thông. Họ cũng luôn ca thán, oán trách, phê phán nền giáo dục nước nhà là trì trệ, lạc hậu, không phát huy được tài năng, sức sáng tạo của mình trong lúc cách học của họ thì rất thụ động, đối phó, lười suy nghĩ, phát biểu, tìm kiếm tài liệu, không đi học thường xuyên, phong cách lề mề, chậm chạp, thiếu tính kỷ luật, quay cóp,… Chính với tinh thần, thái độ học tập lệch lạc, miễn cưỡng như vậy tất yếu sẽ dẫn đến một phương pháp học tập hiệu quả chưa cao.

     

     

    CHƯƠNG 3

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC

    Ở ĐẠI HỌC VÀO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ

    3.1 Đặc thù các môn học ngành kinh tế

     Nhìn chung các môn học nhóm ngành kinh tế chuyên về các kiến thức rộng, nền tảng, kiến thức bổ trợ liên quan đến ngành học. Từ đó, sinh viên có thể có tầm nhìn tổng quát, có thể nghiên cứu sâu hơn để đưa ra những cải tiến, phát minh, giải pháp mới. Các môn học kinh tế có tầm kiến thức khá rộng rãi, cần có kết quả nghiên cứu từ thực tế và có ứng dụng trong thực tiễn đòi hỏi sinh viên kinh tế phải nắm bắt kiến thức cơ bản trên lớp sâu sắc, tham khảo tài liệu ngoài nhiều, tích cực tham gia hoạt động thảo luận nhóm…Tựu chung lại, yêu cầu về phương pháp học các môn kinh tế cho sinh viên là điều hết sức cần thiết.

    3.2 Các giải pháp để học các môn kinh tế đạt hiệu quả

    Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R cho sinh viênkinh tế

    Từ “Power” ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink

    Prepare (chuẩn bị sửa soạn)

    Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi sinh viên nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi sinh viên chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, sinh viên có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà sinh viên có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính sinh viên tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

    Organize (tổ chức)

    Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi sinh viên bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người sinh viên biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống.

    Work (làm việc)

    Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này sinh viên phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành. Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng, phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặcthảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm… tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

    Evaluate (đánh giá)

    Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, sinh viên còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập. Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực, sinh viên mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập.

    Rethink (suy nghĩ lại – luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác)

    Khả năng suy nghĩ lại này giúp sinh viên luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra. Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

    3.2.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Sách giáo trình và tài liệu về kinh tế đa dạng và phong phú, để có thể nắm bắt được những kiến thức quan trọng cần chú ý những hướng dẫn về những tài liệu tham khảo cần thiết của thầy cô. Khi đọc sách, tài liệu tham khảo tập trung những nội dung, số liệu cần thiết. Tài liệu rất đa dạng từ nhiều nguồn: báo chí, thư viện, Internet…nhưng không thể đọc hết được. Theo đó cần chọn khối lượng vừa đủ để bắt đầu, cố gắng nắm bắt được cách bố trí, hệ thống của tư liệu, cần đọc phần tóm lược để nắm ngay nội dung. Đọc những gì hiểu rõ nhất để xác định độ khó chừa lại những gì không hiểu. Dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng hay chưa hiểu để xen lại. Trong khi đọc thỉnh thoảng dừng lại và đặt những câu hỏi kích thích, tự tìm câu trả lời. Để có một trí nhớ tốt hãy chọn cho mình một thói quen như khi đến trường kiểm tra sách vở; nên ghi danh sách các việc cần làm vào một tờ giấy nhỏ và thỉnh thoảng kiểm tra xem tiếp theo mình cần phải làm gì. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp thu kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận về một vấn đề cùng quan tâm. Ngoài ra, ghi nhớ qua các chi tiết quan trọng, các key words, các hình ảnh minh họa. Học thật kĩ: Hãy ghi chép cẩn thận trong giờ giảng của thầy cô và từ sách giáo khoa. Xem chỉ dẫn ở Ghi chép trong giờ học và Ghi chép từ sách giáo khoa. Ngay sau tiết học hoặc ngay khi về nhà, hãy xem lại những gì bạn đã ghi chép được. Xem qua lại bài trước buổi học sau. Định ra một khoảng thời gian dài hơn vào cuối tuần để ôn lại thật kĩ.

    Bạn phải bận rộn giữa hàng đống công việc, làm sao để nhớ mọi thứ tốt hơn?

    Viết ra giấy: Tại sao với một mớ công việc, bạn lại cố gắng nhồi nhét vào đầu để rồi bắt nhớ tất cả mọi thứ! Cách tốt nhất để nhớ mọi thứ là ghi nó ra giấy, khi cần nhớ đến một việc gì đó, chỉ cần bạn lật sổ tay ra…

    Liên kết chúng lại với nhau: Khi ghi ra sổ tay, bạn cũng cần phải sắp xếp theo đề mục khoa học, chứ đừng ghi quyển sổ tay này một ghi chú, quyển khác một ghi chú khác! Kết quả, bạn sẽ rất mất thời gian để lục lại mọi điều mình cần nhớ.

    Duy trì sức khỏe tốt: Ăn những loại thức ăn tốt cho bộ nhớ, ngủ đủ giấc, tập thể dục. Những điều này rất tốt cho sức khỏe và bộ nhớ của bạn.

    Ghi âm lại suy nghĩ: Đôi khi bạn muốn nhớ một điều gì đó mà lại không có giấy bút bên cạnh để ghi ra. Nếu bạn có thể trang bị một máy ghi âm nhỏ thì tốt – điện thoại di động có ghi âm cũng là một phương tiện hữu ích, nhất là lúc ghi nhớ lại số điện thoại của ai đó.

    Suy nghĩ tích cực: Đừng vội kết luận mình sẽ có một trí nhớ không tốt rồi quyết định… không ghi nhớ gì cả! Hãy lạc quan lên, hãy tự nói với mình “Tôi có thể nhớ được mọi điều”.

    Ghi chú vào những mẩu giấy stick: Thật tuyệt vời khi luôn có những mẩu giấy stick nhỏ bên cạnh! Hãy trang bị những mẩu giấy stick và ghi vào những điều bạn cần nhớ, cần làm và dán nó lên góc làm việc chẳng hạn.

    Hẹn giờ báo công việc: Bạn có thể hẹn giờ cho công việc vào điện thoại di động hoặc những lịch điện tử bỏ túi.

    Gợi nhớ bằng mắt: Sử dụng bộ nhớ bằng thị giác sẽ giúp bạn ghi nhớ tốt hơn! Hãy tập nhớ những sự kiện bằng cách ghi nhớ lại một hình ảnh có liên quan nào đó

     

            

    Sự đa dạng của số liệu kinh tế cũng như kiến thức nền tảng của các môn kinh tế làm cho khối lượng kiến thức của sinh viên kinh tế tăng lên đáng kể so với giáo khoa. Để có thể có khả năng ghi nhớ một lượng kiến thức lớn như vậy sinh viên kinh tế cần chọn cho mình một thói quen học tập để ghi nhớ tốt. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp nhận kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận vấn dề cần quan tâm. Ghi danh sách những việc cần làm vào các key words và thường xuyên kiểm tra chúng. Các vần đề được thầy cô giao, có thể dùng các công cụ khác để hỗ trợ sau đó đóng thành tập, để ở nững nơi thuận tiện để thường xuyên xem lại. “Một trí nhớ tốt cũng không bằng một mẫu bút chì” vì vậy cần ghi lại những gì cần nhớ và xem lại chúng thường xuyên, nhất là các công thức, số liệu thống kê kinh tế.

    3.2.2 Học nhóm

    Học nhóm đối với sinh viên kinh tế là điều hết sức cần thiết. Sau giai đoạn tìm kiếm, tài liệu cần ghi chú lại những vắn đề trọng tâm, những số liệu kinh tế để cùng nhau thảo luận. Từ số liệu thực tế đến kiến thức liên quan là cả vấn đề, vì vậy cần thảo luận nhóm để tham khảo được nhiều ý kiến, cũng như đánh giá khách quan ý kiến của mình. Các yếu tố, đề tài kinh tế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau sẽ đem lại khả năng ứng dụng cao hơn; cũng như các lý thuyết kinh tế, thảo luận sẽ giúp nhận ra, mở rộng ưu và nhược điểm nhiều hơn. Khi thảo luận cũng cần nhìn nhận ở 3 khía cạnh, đưa ra vấn đề, thảo luận và tổng hợp; có như vậy buổi thảo luận mới đạt kết quả tốt hơn.

    Học nhóm hiệu quả

    Để học nhóm có hiệu quả, giáo viên phải đảm bảo rằng trong nhóm có sự “phụ thuộc tích cực”, trao đổi trực tiếp, thảo luận trong nhóm và trách nhiệm của cá nhân cũng như của cả nhóm. “Phụ thuộc tích cực” nhấn mạnh tầm quan trọng và tính độc đáo sự đóng góp của mỗi thành viên trong nhóm trong khi thực hiện các hoạt động nhận thức và giao lưu giữa các cá nhân. Trong khi học viên giao tiếp với nhau, sẽ phải có một người làm trưởng nhóm. Người này phải có kĩ năng hòa giải xung đột, có khái niệm rõ ràng và khả năng thảo luận, có khả năng tháo gỡ những phức tạp trong quan hệ giữa mọi người. Quá trình học như thế này sẽ nâng cao hiệu quả học tập của học viên. Vì thế, học viên có thể học được nhiều hơn những gì được giảng giải.

    Tuy nhiên, học nhóm có thể tạo điều kiện cho những học viên lười – những thành viên không hoàn thành trách nhiệm mà vẫn được điểm do thành tích của cả nhóm. Để hạn chế tình trạng này, giáo viên có thể cho áp dụng hình thức đánh giá theo nhóm để đánh giá đóng góp của từng thành viên trong nhóm, hoặc tổ chức một bài kiểm tra kèm theo. Vì vậy sẽ tồn tại hai mức độ trách nhiệm: cá nhân và nhóm. Các phương pháp học nhóm:

    Chia nhóm nhỏ cùng thảo luận: Chia học viên thành các nhóm nhỏ gồm 4 hoặc 5 để thảo luận về một khía cạnh xoay quanh một vấn đề nào đó. Sau 20 phút thảo luận, mỗi nhóm nhỏ cử một thành viên trình bày ý kiến của cả nhóm cho cả lớp.

    Chia nhóm theo sở thích: Chia thành các nhóm 4 hoặc 5 học viên cùng làm một nhiệm vụ được giao ở bên ngoài trong một thời gian nhất định. Trong lần thảo luận tiếp theo với giáo viên, các nhóm hoặc đại diện mỗi nhóm phải trình bày kết quả cho cả lớp.

    Chia nhóm đánh giá: Một nhóm chịu trách nhiệm thảo luận một chủ đề nào đó và một nhóm khác có trách nhiệm phê bình đưa ra các quan sát, nhận xét và đánh giá bài trình bày của nhóm kia.

    “Giảng – Viết – Thảo luận”: cuối mỗi bài học, học viên phải trả lời những câu hỏi ngắn và chứng minh câu trả lời của mình. Sau khi mỗi cá nhân xử lí các câu hỏi thì so sánh với học viên khác. Sau đó, giáo viên tổ chức một buổi thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lí.

    Thảo luận có phê bình, đóng vai, tranh luận và nghiên cứu là những phương pháp giảng dạy hiệu quả khác nhằm khơi dậy sự nhiệt tình của học viên và khuyến khích học viên tham gia học nhóm. Học viên theo đó cũng có cơ hội học tập trong môi trường không bị kiểm soát nhưng vẫn “an toàn” (vì được giáo viên hoặc các nhóm khác đánh giá). Ngoài ra, học viên cũng tập phản ứng với những tình huống phức tạp và “có thật” sẽ gặp trong cuộc sống sau này.

    3.2.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Sự tác động của môi trường học tập là một ảnh hưởng khá lớn đến kết quả học tập của sinh viên. Cần chọn một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn, sách vở, dụng cụ tài liệu được sắp xếp ngăn nắp, hợp lý sẽ giúp sinh viên thuận tiện hơn trong học tập. Bên cạnh góc học tập của sinh viên kinh tế thì không thể thiếu báo chí về kinh tế, tạp chí chuyên ngành các loại như Marketing, Thời báo kinh tế, Kinh doanh và sản phẩm, Thời báo Ngân hàng… Góc học tập là nơi cung cấp thông tin tối thiểu cần có cho sinh viên thì sẽ giúp việc học thuận tiện hơn và đạt kết quả.

    Một môi trường học thoải mái sẽ đem lại cho bạn sự hứng thú, khả năng tư duy, sáng tạo và tưởng tượng cao hơn hản một không gian bừa bãi, tối tăm và ngột ngạt đó bạn.Đối với các bạn, dù có đang học ở phổ thông hay đại học thì cũng đều phải tạo cho mình một không gian hay nói khác đi là một môi trường thoải mái để bạn có thể học tập một cách tốt nhất. Còn môi trường đó thế nào thì do bản thân mỗi người. Hãy sắp xếp một góc học tập thật “ấn tượng” để bạn có thể dễ dàng tìm kiếm công cụ học tập cho mình. Khu cửa sổ luôn được chọn là mảnh đất tốt cho chiếc bàn học. Ở đây có đầy đủ ánh sáng, khí trời – tự nhiên hơn hẳn thứ ánh sáng của chiếc đèn bàn cùng những luồng gió phát ra từ chiếc quạt điện. Khi bạn cảm thấy mệt mỏi thì có thể thơ thẩn qua ô cửa sổ, điều đó cũng sẽ giúp bạn thư giãn, xả hơi nhanh và hiệu quả lắm đó. Không cần quá gọn gàng nhưng cũng không quá bừa bộn với “địa hạt” của mình. Điều này tuỳ thuộc vào thói quen của mỗi người. Các bạn cứ làm thế nào cho thoải mái, tiện lợi với mình nhất là được. Bạn cũng đừng quên sắm cho mình một chiếc đèn bàn nhé. Ánh sáng của chiếc đèn sẽ giúp bạn tập trung nhiều lắm đấy. Theo kinh nghiệm của nhiều người. Những đồ vật dễ thương với màu sắc bạn ưa thích cũng làm cho không gian thêm sinh động hơn, cuốn hút bạn hơn và giúp bạn có sáng tạo, tưởng tưởng tốt hơn.

    Học ở nhà thế nào cho hiệu quả

     

     

    Đặc thù của những môn kinh tế là phải tham khảo tài liệu ngoài khá nhiều từ các nguồn như Internet, báo chí, thư viện…Do vậy việc học ở nhà của sinh viên kinh tế cần cân đối giữa việc học lý thuyết căn bản và đọc tài liệu tham khảo. Cần tìm một chỗ học yên tĩnh tránh tiếng ồn, cần tạo một thời gian học cố định và tạo thói quen cho thời gian học đó. Ôn lại những kiến thức cơ bản, tóm tắt các ý chính, kiên trì làm bài tập đầy đủ và đọc tài liệu tham khảo. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn thỏa mái thì học tiếp.

    Tự học dễ làm thấy chán và mất cảm hứng học tập, nhất là đối với những bạn đã từng rớt thi lại. Vì thế mà không ít bạn đã tự biến thành các lò luyện thi để ép mình phải học. Tự học chính là cách để bạn rèn luyện tính kiên trì và thử thách tin thần của bạn. Đặt ra vấn đề là phải điểm thật cao khi ra trường, nên cho mình một menu các môn cần phải ôn. Đây chính là chiến lược chậm mà chắc. Cứ nhìn một bài tập thật khó và tự do sáng tạo cách giải, các bạn sẽ học được thật nhiều từ bản thân.

    3.2.4 Lập kế hoạch học tập

    “Không chuẩn bị là chuẩn bị cho thất bại”. Phát triển kỹ năng sắp xếp thời gian đòi hỏi những nỗ lực lớn, nhất là khối lượng học tập các môn kinh tế khá lớn, đòi hỏi tính thực tiễn cao, một số sinh viên còn sắp xếp thời gian làm thêm. Một mục tiêu để nhận thức được cách sử dụng thời gian như một điều quan trọng khi sắp xếp, đặt việc quan trọng và đạt được thành công trong học tập khi có hoạt động chi phối khác như đi làm, vui chơi cùng bạn bè, họp hội…

    Chiến lược về cách sử dụng thời gian: Tự tạo các khoảng thời gian học hợp lý,
    tổng kết và cập nhập chương trình sau mỗi tuần, lập danh sách những việc cần làm, việc gì quan trọng hơn thì làm trước, việc nào kém quan trọng thì làm sau. Ghi ra giấy những điều cần làm, rồi quyết định việc nào sẽ làm bây giờ, việc nào để sau, hay nhờ ai làm, hoặc hoãn việc nào sau một thời gian dài. Cần có quyển lịch sắp xếp công việc theo tuần tháng: Đánh dấu các buổi hẹn, đi học, họp trong một cuốn sổ tay chia ô thời gian hoặc bảng biểu. Lịch ghi kế hoạch lâu dài: Sử dụng một bảng cho mỗi tháng để có thể lên kế hoạch trước. Những lịch ghi kế hoạch lâu dài như thế này sẽ nhắc nhở để sử dụng tốt quỹ thời gian.

    3.2.5 Học tập ở trên lớp

    Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Với những môn kinh tế, khối lượng kiến thức chuyển tải thường ở dạng chủ đề, đòi hỏi sinh viên phải có sự vận động suy nghĩ liên tưởng thực tế. Những môn toán kinh tế thường không khó nhưng rộng rãi và có sự liên kết từ nhiều môn theo từng bộ môn nên khi học môn này thì phải liên tưởng đến môn đã học trong cùng bộ môn, nhất là phần tính toán. Về phần các môn với nội dung lý thuyết được tập trung nhiều hơn cũng có sự tương quan, chẳng hạn các bước trong Marketing thường lặp lại trong nhiều môn vì vậy cần có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Khi nghe giảng chú ý tập trung lời giảng và những câu hỏi gợi mở của giảng viên. Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự hơn, không nhất thiết phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Tuy nhiên cần ghi chép đầy đủ các đề tài thầy cô giao trên lớp để về nhà nghiên cứu, ghi chép các gợi mở cho các đề tài này để việc sưu tầm, nghiên cứu đạt hiệu quả, đặc biệt là các số liệu kinh tế thực tế phản ánh tính thực tiễn cao của đề tài.

    3.2.6 Thư giãn – Giảm Stress

    Nhiều sinh viên nghĩ rằng học thi là học liên miên từ sáng đến tối, từ tối đến khuya, nhưng não bị nhồi nhét nhiều quá cũng sẽ “sôi” lên, khó nhớ và dễ quên. Chống bão hòa não bằng thư giãn, nghỉ ngơi: Khi não đã bão hòa thì học chỉ là hình thức mà tiếp thu chẳng có gì, chưa kể nhầm lẫn chi tiết, vấn đề này sang chi tiết khác. Vì vậy, cần phải có thời gian thư giãn. Chọn bơi lội, tập thể dục cho máu huyết lưu thông, nghe nhạc êm dịu (đừng chọn metal rock sẽ nhức đầu thêm) hoặc đi chơi chút đỉnh với bạn bè, ngủ một giấc thật sâu cũng là cách xả hơi cho não. Tìm niềm vui trong học tập: Cần biết tạo niềm vui trong học tập thì việc học đỡ vất vả hơn, dễ nhớ lại lâu quên. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến trí nhớ rất nhiều như: lo âu tiền bạc, sức khỏe suy giảm hoặc bị phân tâm bởi những vấn đề nào đó. Sinh viên kinh tế cũng thường chọn làm thêm vừa là công viecj giải trí, kiếm thêm thu nhập, vừa học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên cần cân đối thời gian hợp lý và lựa chọn công việc phù hợp để không ảnh hưởng đến việc học nâng cao khả năng làm việc sau này.

    Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. Cụ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ hoặc là ngủ quên. Ngoài ra, tìm đến rượu, thuốc, hoặc những biểu hiện khó chịu khác cũng là những dấu hiệu của stress. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ, hoặc sợ hãi. Bằng cách nghỉ ngơi, thư giãn, tạo cho mình một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày hoặc vận động như đi bộ,tập thể dục,trò chuyện cùng bạn bè. Sau khi đã cảm thấy thoải mái hơn hãy bắt đầu giải quyết vấn đề,xem xung quanh bạn có việc gì mà bạn có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình. Đừng để tâm vào những việc lặt vặt. Ngoài ra, phải ngủ đủ giờ, hãy luôn cố gắng suy nghĩ tích cực như: Tại sao phải “ghét” khi mà “một chút xíu không thích”; Tại sao lại phải “lo cuống lên” khi mà “hơi lo một tẹo”; Tại sao phải “giận sôi người” khi mà “hơi giận một chút” là đủ? Tại sao “đau khổ tột cùng” khi mà bạn chỉ cần “buồn một tẹo”…

    Stress là tình trạng phổ biến khi ôn thi và chính stress làm giảm năng lực ôn tập của thí sinh.Vì sao cần giữ giấc ngủ? Khi học bài nhiều, trí óc bị bão hòa, hiện tượng stress dẫn đến suy sụp tinh thần gây trằn trọc khó ngủ hoặc tỉnh dậy trong trạng thái căng thẳng. Giấc ngủ càng không đạt chất lượng thì việc ôn tập càng khó nhớ bài. Khi bị mất ngủ thì không nên ngủ trễ (quá giấc), tránh sử dụng chất kích thích và không nên chuyển từ bàn học qua giường để rồi lại trằn trọc. Cách tốt nhất trong mùa thi cử là thư giãn trước khi đi ngủ. Chính trong giấc ngủ mà não bộ làm việc, đưa các dữ liệu mới nạp vào tiềm thức. Các thuốc an thần giảm lo âu, giúp dễ ngủ sẽ làm mất đi nhịp sinh lý tự nhiên của giấc ngủ nên sẽ ngăn cản hoạt động của não bộ. Vì vậy không nên dùng thuốc an thần trong mùa thi cử. Tránh mệt mắt: Để tránh mệt mắt và ít bị phân tâm, môi trường học cần yên tĩnh và sáng sủa. Lượng ánh sáng đủ sẽ làm mắt đỡ mệt nên ít bị đau đầu và làm tăng năng suất học tập. Một nguồn sáng 60w là đủ. Trường hợp chữ nhỏ, nhiều biểu đồ cần tập trung hơn thì đòi hỏi nguồn sáng mạnh hơn.

    3.2.7 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Bước vào kỳ thi, hãy nghiên cứu kỹ đề thi của những năm trước, phải xác định các tài liệu liên quan để ôn tập; sắp xếp những gì ghi chép được, hệ thống hóa kiến thức, ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập, chia nhỏ những gì học thành từng phần. Phân bổ các môn lý thuyết kinh tế, bài tập kinh tế và những môn khác hợp lý để có thể vạch kế hoạch thi tốt nhất. Học 3 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều sẽ hiệu quả hơn ngồi học cả ngày. Hoặc có thể ôn theo nhóm, điều này tạo điều kiện để hoàn thiện cả những phần quan trọng mà nếu học một mình rất dễ bỏ qua. Cần thu xếp một buổi tổng ôn tập trước khi thi. Đặc biệt, nên chú ý đến những thông tin được các thầy, cô chỉnh sửa đến mọi hướng dẫn về học tập. Đôi khi quá bận vào một công việc nào đó mà sao nhãng việc học. Khi còn ít thời gian để ôn tập thì học nhồi nhét. Đầu tiên hãy xem trước tất cả những tài liệu mà cần phải học, lướt qua các chương để nắm được ý chính, bỏ qua những phần mà không có thời gian xem lại.  Sắp xếp những ghi chép, sách vở và bài tập, theo thứ tự những gì sẽ gặp trong bài kiểm tra. Ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập. Lập một thời gian biểu, chỉ ra khoảng thời gian dành để ôn tập và có những tài liệu gì. Tự kiểm tra qua các tài liệu. Học hết những gì bạn cần trước ngày kiểm tra.

    Khi làm bài kiểm tra cố gắng chứng minh rằng có thể hiểu bài học và làm một số dạng bài tập nhất định. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính khách quan, như bài tập đúng sai, trắc nghiệm, điền vào chỗ trống. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính chủ quan, như những câu trả lời ngắn gọn, những bài luận, thi vấn đáp. Đến sớm hôm có giờ kiểm tra. Mang theo tất cả những đồ dùng cần như là bút chì, bút bi, máy tính, từ điển và đồng hồ. Như vậy sẽ có thể hoàn toàn tập trung vào bài kiểm tra. Luôn tạo một tâm thế thoải mái nhưng phải cảnh giác. Giữ cho mình được thoải mái và tự tin. Trong quá trình làm bài thi: Đọc kĩ hướng dẫn của đề bài. Điều này có vẻ là đương nhiên, nhưng nó sẽ giúp khắc phục được những sai lầm do không cẩn thận. Nếu có thời gian, nhanh chóng lướt qua toàn bài kiểm tra để có một cái nhìn tổng quát. Nhận biết những phần quan trọng, vạch ra thật ngắn gọn những ý chính. Trả lời các câu hỏi theo cách khoa học nhất.Trước tiên là những câu hỏi dễ để tạo cảm giác tự tin, để ngay lập tức ghi được điểm, và định hướng cho bản thân về vốn từ, các khái niệm và những kiến thức đã có. Sau đó là đến những câu hỏi khó hoặc những câu được nhiều điểm nhất. Với dạng bài kiểm tra mang tính chất khách quan, trước tiên, loại trừ những đáp án biết là sai, hoặc chắc chắn là sai, không phù hợp, hoặc là hai đáp án rất giống nhau và cả hai đều không thể đúng được. Với dạng câu hỏi mang tính chủ quan, vạch ra những ý chính, và sắp xếp những ý đó theo một trình tự phù hợp nhất. Xem lại: Hãy kiềm chế ý muốn được rời khỏi phòng thi ngay khi đã trả lời hết các câu hỏi. Xem lại bài thi để đảm bảo rằng đã trả lời hết tất cả các câu hỏi trong bài, không đánh dấu nhầm trong bài làm, hay làm sai một vài chỗ đơn giản. Đọc lại bài luận của để có thể phát hiện ra các lỗi chính tả, ngữ pháp, dấu câu… Quyết định xem những cách thức nào phù hợp và bám lấy chúng. Chỉ ra những cách không hiệu quả và thay thế chúng.

    Trong một bài kiểm tra mà sinh viên được sử dụng sách vở sẽ được đánh giá dựa trên những gì các bạn sinh viên hiểu chứ không phải là khả năng ghi nhớ:  Áp dụng sách vở vào những tình huống mới. Đánh giá các yếu tố và sự liên quan giữa chúng. Biết tổng hợp hoặc bố trí các thông tin các bạn có được. Sử dụng các tài liệu của các bạn để đánh giá một nhận định hay một vấn đề nào đó. Sử dụng tất cả các nguồn thông tin (sách, vở ghi, …) mà thầy cô cho phép. Chuẩn bị: Đều đặn làm bài và đọc sách trong các buổi học ở trên lớp. Chuẩn bị một cách ngắn gọn, những ghi chép chính xác về những khái niệm và ý chính sẽ có trong bài kiểm tra. Chọn lựa thật cẩn thận, những gì dự định sẽ mang vào phòng kiểm tra và chỉ rõ ra những gì không cần mang vào. Mang theo cả những bài luận tự viết về các thông tin, đó chính là cơ sở cho các lập luận, và chứng tỏ rằng đã từng nghĩ đến những vấn đề đó trước giờ kiểm tra. Thử dự đóan trước đề bài với những câu hỏi mẫu, nhưng không phải là những câu trả lời mẫu. Thử thách chính mình bằng cách xem có thể trả lời những câu hỏi đó hay không, và sẽ cần phải có những phương án lựa chọn ra sao và cần quan tâm tới những tài liệu nào. Bố trí những tài liệu tham khảo – “cuốn sách mở”. Bố trí sao cho các tài liệu đó được đặt ở một vị trí thuận tiện nhất để không phải mất thời gian định vị xem cái đang cần nằm ở đâu. Tạo dựng một thói quen cho bản thân với bố cục và cách trình bày của cuốn sách và những tài liệu của bạn. Sắp xếp những cuốn sách này cùng với những ghi chép của để có thể nhanh chóng lấy ra những thứ cần thiết, những ý chính, các khái niệm, bằng cách chỉ dẫn hoặc ghi số trang của tài liêu vào trong vở. Tạo một tập những bút đánh dấu, giấy nhớ, bảng cấc khái niệm… để đánh dấu những ý chính, đề mục, tóm tắt, chương. Viết những bản tóm tắt ngắn gọn về nội dung của từng phần. Liệt kê ra những số liệu và công thức một cách riêng biệt để dễ tìm được trong khi làm bài. Làm bài kiểm tra: Đọc kĩ câu hỏi để nắm được yêu cầu của đề bài. Có thể dựa trên những hướng dẫn của chúng tôi trong mục cách làm bài viết và các hướng dẫn. Thu xếp thời gian sao cho hợp lí nhất. Nhanh chóng xem tổng số câu hỏi của bài và ghi rõ xem bạn cần bao lâu cho mỗi câu hỏi. Trước tiên, hãy trả lời những câu hỏi mà bạn cảm thấy chắc chắn và/hoặc những câu mà bạn không cần nhiều thời gian để tham khảp các tài liệu. Làm những câu phức tạp và khó hơn sau. Đừng trả lời thừa. Hướng tới việc có những câu trả lời đúng đắn, chính xác, dựa trên những bằng chứng đích thực. Sử dụng dẫn chứng. Để trình bày một ý nào đó.Để chứng minh rằng có tận dụng lợi ích của việc được mở tài liệu. Vì không thể trình bày tốt hơn thế. Các dẫn chứng có thể rất ngắn. Ba hay bốn từ thôi cũng sẽ rất hiệu quả nếu nó thích hợp với câu văn. Chỉ rõ lấy dẫn chứng từ đâu cũng sẽ quan trọng không kém việc đưa ra lời trích dẫn. Phải chú ý để không dẫn chứng quá nhiều. Đây là bài viết của các bạn, là những lí luận của các bạn; trích dẫn quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng chính kiến của các bạn.

    Có thể làm bài ở lớp hay mang về nhà với những câu hỏi các bạn đã hoặc chưa từng gặp trước bài kiểm tra. Đừng đánh giá thấp sự chuẩn bị trước cho một bài kiểm tra được mở tài liệu: bạn bị hạn chế về thời gian, vì vậy mà chìa khóa cho việc đạt hiệu quả là các bạn phải sắp xếp cho thật hợp lí để có thể nhanh chóng tìm thấy những dữ liệu, lời trích dẫn, ví dụ, hoặc những lập luận cần dùng tới trong khi làm bài.

     

    KẾT LUẬN

     

    Trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng và phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thị việc học tập, nghiên cứu lý thuyết cũng như các vấn đề kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu bức xúc và có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc đổi mới. Nhằm góp phần cho sinh viên kinh tế có một phương pháp học thiết thực và hiệu quả hơn, đáp ứng đúng nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như xã hội đặt ra tôi tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “Phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh”. Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở Đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên khá, giỏi ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Đây là đề tài khá mới mẻ trong việc tìm kiếm phương pháp học hiệu quả, chất lượng, đúng yêu cầu cho sinh viên kinh tế. Với tính thiết thực và mới mẻ của đề tài, hy vọng sẽ mang lại cho sinh viên khối ngành kinh tế một phương pháp học hiệu quả nhất. Ngoài ra, cũng là một đề tài mà sinh viên các ngành khác sẽ tìm thấy những phương pháp khá bổ ích trong quá trình nghiên cứu và học tập của mình.

    Đề tài được thực hiện dựa trên những vấn đề lý thuyết chung, cuộc khảo sát thực tế và sự giúp đỡ của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng trong quá trình nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn những thế hệ đi trước đã có những nghiên cứu làm cơ sở cho tôi trong việc tìm lý thuyết chung, tất cả những anh, chị, các bạn và các em sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán đã có sự hợp tác trong quá trình khảo sát, và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài này.

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học các môn kinh tế đạt hiệu quả, chuyển thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện lại các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên nhóm ngành kinh tế cả trường và phát triển. Xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Chi Tiết Máy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-L%C3%BD-Kh%C3%A1ch-S%E1%BA%A1n-V%C3%A0-%C4%90%E1%BA%B7t-Ph%C3%B2ng-Tr%E1%BB%B1c-Tuy%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Đồ án tốt nghiệpQuản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG I:

    MÔ TẢ BÀI TOÁN VÀ GIẢI PHÁP

     

    I. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHÁCH SẠN

    Bộ máy quản lý của khách sạn bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Phó giám đốc, các phòng ban (Phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính), và các tổ; được bố trí theo sơ đồ sau:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              1

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    GIÁM ĐỐC

    PHÒNG KINH DOANH   PHÒNG KẾ TOÁN   PHÓ GIÁM ĐỐC
             
    BỘ   BỘ   BỘ   BỘ   PHÒNG TỔ CHỨC
    PHẬN   PHẬN   PHẬN   PHẬN   – HÀNH CHÍNH
    LỄ TÂN   NHÀ   NHÀ   DỊCH VỤ    
             
        PHÒNG   HÀNG        
            VÀ BẾP        
                     
    BỘ   BỘ   BỘ
    PHẬN   PHẬN   PHẬN
    AN NINH   NHÂN   BACK
    SỬA   SỰ   OFFICE
    CHỬA        
             

    Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của khách sạn

    Khách sạn được hình thành từ các phòng, tổ quan hệ mật thiết hỗ trợ nhau. Mỗi phòng ban có tổ chức rõ ràng, không chồng chéo. Mọi hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của khách sạn đều dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc. Ban giám đốc chịu trách nhiệm với hội đồng quản trị cấp trên và chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ công nhân viên công ty.

    Giám đốc là người chịu trách nhiệm chính của khách sạn và là người chịu trách nhiệm trực tiếp với hội đồng quản trị cấp trên và trước tập thể cán bộ công nhân viên.

    Phó giám đốc hành chính chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác tổ chức, lao động, làm công tác khen thưởng, kỷ luật, quản trị hành chính, lưu trữ văn thư.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              2

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm trước ban giám đốc chuyên sâu về vấn đề tổ chức kinh doanh của khách sạn để đạt hiệu quả cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho khách sạn.

    Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm trước ban giám đốc khách sạn, bộ phận này gồm có một kế toán trưởng và các kế toán viên, có trách nhiệm thực hiện các hoạt động về kế hoạch tài chính cà công tác kế toán, cụ thể là lập kế hoạch tài chính, dự trù ngân sách hàng năm, tổ chức theo dõi việc thu chi của khách sạn, chi trả lương, định giá thành và kiểm soát các hoạt động tài chính.

    Bộ phận lễ tân, Bộ phận nhà phòng, Bộ phận nhà hàng và bếp, Bộ phận dịch vụ, Bộ phận an ninh – sửa chữa, Bộ phận nhân sự, Bộ phận back office – chịu trách nhiệm trực tiếp với phòng kinh doanh và giám đốc.

    Bộ phận lễ tân là chiếc cầu nối giữa khách hàng và khách sạn.

    1. Quy trình đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn những thông tin của khách sạn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua website. Để có thể đăng ký đặt phòng, khách có nhu cầu cần phải đăng ký một account cho mình trên website của khách sạn – account gồm có địa chỉ Email đang hoạt động và password của khách. Khi tiến hành lựa chọn phòng thuê, khách sẽ đăng nhập vào website thông qua account của mình (hoặc có thể đăng nhập sau khi đã lựa chọn được phòng phù hợp với yêu cầu của mình), sau đó sẽ chọn loại phòng muốn đăng ký. Từ yêu cầu đặt phòng của khách, hệ thống website sẽ tự động kiểm tra trong cơ sỡ dữ liệu rồi đưa ra những phòng có trong loại phòng khách yêu cầu.

    Từ danh sách phòng mà website đưa ra, nếu khách hàng tìm được phòng theo yêu cầu của họ, họ sẽ đánh dấu vào phòng mình chọn, điền các thông tin bắt buộc và không bắt buộc (những thông tin có thể điền hoặc có thể không) như: chọn loại phòng, ngày nhận phòng (Ngày nhận phòng phải sau ngày đặt phòng tối thiều là 2 ngày), ngày trả phòng, số lượng phòng, số người

    • (số người lớn và số trẻ em), họ và tên khách (người đăng ký), giới tính, số

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              3

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    partpost hoặc số chứng minh thư nhân dân, số tài khoản, địa chỉ liên lạc, số điện thoại, số fax (nếu có), tên nước…; và chọn chức năng “đặt phòng”.

    Thông tin của cuộc đặt phòng của khách sẽ được gửi về ban quản lý để xử lý. Danh sách phòng được đặt và khách thuê là kết quả cuối cùng và sẽ được chuyển cho bộ phận lễ tân.

    Bộ phận phụ trách và điều hành website sẽ có trách nhiệm giải quyết những thắc mắc, yêu cầu của khách hàng qua Email hoặc hướng dẫn qua điện thoại.

    Sơ đồ quy trình đặt phòng:

    Nguồn khách

    Nhận yêu cầu đặt phòng

    Đưa ra danh sách phòng

    thuộc loại phòng khách

    yêu cầu

    Khách sạn không có khả

    năng đáp ứng

    Nhận thay đổi yêu cầu

    của khách

    Nhận thông tin đặt phòng Trường ĐHDL Hải Phòng

    Khách đồng ý

    4

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    1. Đón tiếp và xếp phòng cho khách: Khi khách hoặc đoàn đến khách sạn;

     

    + Đối với khách đã đặt phòng từ trước khi yêu cầu nhận phòng phải đưa thông tin liên quan tới cuộc đặt phòng của mình. Nhân viên lễ tân sẽ tìm kiếm thông tin đặt phòng trên máy tính hoặc trong sổ sách, xác nhận lại các thông tin check in và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin check in bao gồm thông tin về khách và thông tin phòng khách thuê.

     

    + Còn với khách chưa đặt phòng trước có yêu cầu thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ cung cấp thông tin về các phòng trống hiện có cho khách thông

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              5

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    qua việc truy vấn vào kho dữ liệu danh sách phòng. Khách xác nhận thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ lưu thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Trường hợp là khách lẻ: bộ phận lễ tân ghi nhận các thông tin về khách

    hàng

    Trường hợp là khách đoàn: Bộ phận lễ tân sẽ ghi nhận nhưng thông tin về người đại diện cho đoàn, thông tin về các thành viên trong đoàn, số lượng phòng, loại phòng, danh sách khách trong từng phòng và các yêu cầu của khách hàng.

    Nếu khách có yêu cầu giúp đỡ đối với hành lí của họ thì nhiệm vụ của nhận viên này là thông báo với tổ trưởng bộ phận phục vụ khách hàng để cử nhân viên của bộ phận đó đưa hành lý lên phòng cho khách. Bên cạnh đó, bộ phận lễ tân giới thiệu các dịch vụ sẳn có của khách sạn phục vụ khi khách ở trong khách sạn.

    Sơ đồ quy trình đón tiếp và xếp phòng cho khách:

    ĐÓN TIẾP

      Đã đặt chỗ trước   XÁC NHẬN VIỆC ĐẶT   Chưa đặt chỗ trước
            PHÒNG      
                     
                   
      LÀM THỦ TỤC ĐĂNG KÝ       ĐÓN TIẾP
                 
                     
    Trường ĐHDL Hải Phòng     6
                 
      XÁC NHẬN KHẢ NĂNG     XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG
      THANH TOÁN       CỦA KHÁCH SẠN

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.                 Quy trình phục vụ khách hàng trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn:

    Trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn, khi khách có yêu cầu sử dụng dịch vụ, khách sạn sẽ cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách. Bộ phận lễ tân thu thập các phiếu sử dụng của khách hàng gửi lên từ các bộ phận phục vụ khách để tiến hành lập và tổng hợp lại các khoản chi phí của khách.

    Sơ đồ quy trình phục vụ khách

    NHẬN YÊU CẦU SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

    CUNG CẤP DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng 7

    LƯU THÔNG TIN SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách (Check out):

    Khi khách có yêu cầu trả phòng, bộ phận lễ tân có nhiệm vụ thông báo cho các bộ phận khác trong khách sạn về việc trả phòng của khách nhằm xác định các khoản chưa thanh toán. Khi khách trả phòng, nhân viên lập hoá đơn tổng hợp và tiến hành thanh toán với khách.

    Việc check out cho khách theo đoàn phải có khả năng phân biệt các chi phí của đoàn và các chi phí của cá nhân trong đoàn.

    Sau khi làm thủ tục check out xong, bộ phận lễ tân sẽ thông báo cho bộ phận trực phòng làm thủ tục kiểm kê tài sản và vệ sinh phòng đó.

    Cuối mỗi ngày bộ phận lễ tân sẽ viết báo cáo tổng hợp về tình hình khách đến, khách đi, thực trạng phòng trống, phòng bận cũng như thu chi của ngày cũng như ý kiến phản hồi của khách (từ bộ phận back office) cho ban giám đốc khách sạn.

    Sơ đồ quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách:

    NHẬN YÊU CẦU TRẢ

    PHÒNG

    XÁC ĐỊNH THÔNG TIN TRẢ

    PHÒNG

    LƯU THÔNG TIN TRẢ PHÒNG

         
    Trường ĐHDL Hải Phòng TỔNG HỢP CHI PHÍ PHÁT 8
      SINH CỦA KHÁCH  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

    1. Giải pháp kỹ thuật

    Yêu cầu chung đối với tổng thể hệ thống:

    • Bộ phận tiếp tân sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Phòng kế toán sử dụng từ 2 – 5 máy tính và máy đọc thẻ tín dụng do ngân hàng cung cấp.
    • Bộ phận đặt phòng sử dụng từ 1 – 2 máy tính.
    • Bộ phận dịch vụ sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Các bộ phận khác sử dụng từ 1 – 4 máy tính tùy theo nhu cầu sử dụng chương trình.
    • Các máy tính phải nối mạng với nhau và nối mạng Internet).
    • Cấu hình tối thiểu đối với mỗi máy tính:
    • Cấu hình CPU tối thiểu phải là Pentium 500Mhz.
    • Hệ điều hành: Windows 2000, Windows XP.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              9

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giải pháp hệ thống

    Từ việc phân tích hoạt động của khách sạn diển ra hàng ngày ở trên, có thể thấy: Quản lý khách sạn là một công việc quá phức tạp và luôn yêu cầu phải được giải quyết nhanh chóng. Để đáp ứng yêu cầu này cần phải có một chương trình có thể quản lý được các công việc trên và được làm tự động hóa trên máy tính. Hệ thống với dữ liệu vào là Các thông tin về khách, thời gian thuê phòng của khách, giá các loại dịch vụ, thông tin về việc sử dụng dịch vụ hàng ngày của khách. Hệ thống sẽ xử lý các dữ liệu này và đưa ra: Phiếu thanh toán chi tiết cho khách, hóa đơn thanh toán, các báo cáo thông kê tình hình doanh thu trong ngày, trong tháng, trong quý, trong năm, các dự trù kinh phí cho các hoạt động sắp tới.

    CHƯƠNG 2:

    GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

    VISUALBASIC 6.0

    1. Giới thiệu vài nét về ngôn ngữ lập trình VisualBasic

    Dùng VisualBasic là cách nhanh và tốt nhất để lập trình cho Microsoft Windows. Cho dù là một chuyên gia lập trình hay một người mới làm quen với chương trình windows, VisualBasic sẽ cung cấp một bộ công cụ hoàn chỉnh để đơn giản hóa việc triển khai lập trình ứng dụng cho MSWindows.

    VisualBasic là gì? Phần “Visual” đề cập đến phương pháp được sử dụng để tạo giao diện đồ họa người dùng (Graphical User Interface, viết tắt là GUI). Có sẵn những bộ hình ảnh, gọi là controls, bạn tha hồ sắp đặt vị trí và quyết định các đặc tính của chúg trên một khung màn hình, gọi là form. Điều này giúp cho người lập trình với VisualBasic đỡ mất công hơn – thay vì việc

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            10

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phải viết những dòng code để mô tả các thành phần đồ họa trên form thì chỉ cần thêm vào những đối tượng đã được định nghĩa trước trong thư viện của VisualBasic.

    Phần “Basic” đề cập đến ngôn ngữ BASIC (Beginner All-Purpose Symbolic Instruction Code), một ngôn ngữ lập trình được coi là đơn giản, dễ học.

    VisualBasic đã ra đời từ MSBasic, do Bill Gate viết từ thời dùng cho máy tính 8 bits 8080 hay Z80. Từ VisualBasic 1.0 đến VisualBasic 5.0 đã được bổ sung thêm nhiều cách thức, tạo thêm phần hỗ trợ 32 bits, ngoài khả năng tạo các tập tin thêm còn có khả năng tạo các bảng điều khiển riêng. Đến bản VisualBasic 6.0 (Có 3 ấn bản là Learning, Professional và Enterprise) đã được bổ sung một số tính năng ngôn ngữ đã được mong đợi từ lâu, tăng cường năng lực Internet, và các tính năng cơ sở dữ liệu mạnh hơn. VisualBasic đã trở thành ngôn ngữ lập trình mạnh nhất và tiện lợi nhất hiện nay, nó tiết kiệm thời gian và công sức hơn so với các ngôn ngữ lập trình khác khi xây dựng cùng một ứng dụng.

    VisualBasic gắn liền với khái niệm lập trình trực quan, nghĩa là khi thiết kế chương trình ta thấy ngay kết quả qua từng thao tác và giao diện khi chương trình thực hiện. Đây là một thuận lợi so với các ngôn ngữ lập trình khác. ViusalBasic cho phép chỉnh sửa đơn giản, nhanh chóng về màu sắc, kích thước, hình dáng của các đối tượng có mặt trong ứng dụng.

    Một khả năng đặc biệt của VisualBasic là khả năng kết hợp các thư viện liên kết động DLL (Dynamic Link Library). DLL chính là phần mở rộng cho VisualBasic tức là khi xây dựng một ứng dụng nào đó có một số một số yêu cầu mà VisualBasic chưa đáp ứng đủ, ta viết thêm DLL phụ trợ.

    Khi viết chương trình bằng VisualBasic, chúng ta cần trải qua hai bước:

    • Thiết kế giao diện (Visual Programing)
    • Viết lệnh (Code Programing).

    2.                 Tổ chức chương trình của VisualBasic (Project)

     

    • Project bao gồm:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            11

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • File project (.vpb)
    • Các form (.frm): Dùng để cập nhật dữ liệu cho cơ sỡ dữ liệu (nhập, sửa, xóa, tìm kiếm, các xử lý tính toán dữ liệu…).
    • Các thiết kế:
    • Designer
    • Data Envirment tạo các kết nối cơ sở dữ liệu
    • Data report tạo các báo cáo
    • Các Module (.bas): Chứa các hàm, các thủ tục viết bằng VisualBasic.
    • Các Class Module (.cls): Tạo ra các lớp.
    • Có nhiều cá điều khiển riêng của người sử dụng như ActiveX (.ocx).

    3.     Truy cập cơ sở dữ liệu từ xa bằng mô hình ADO (ActiveX Data

    Object)

     

    Mô hình này dùng để truy cập và xử lý cơ sở dữ liệu từ xa thông qua mạng nhờ kết nối ODBC.

     

    3.1.           ODBC (Open DataBase Connectivity – Khả năng tương kết cơ

    sở mở)

     

    Đây là một biện pháp độc lập ứng dụng để kết nối nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau nghĩa là có trình điều khiển đúng đắn khi đó ODBC sẽ cho phép kết nối với cơ sở dữ liệu nào đó từ xa.

     

    ODBC có 2 loại: laọi 32 bits và loại 16 bits.

     

    – ODBC Adminitrator 32 bits hay ODBC Data Source Adminitrator (Bộ điều hành nguồn dữ liệu ODBC) nó sẽ bao gồm các bảng sau:

     

    • User DSN (Data Source Name): Cho phép cấu hình một nguồn dữ liệu ODBC dành cho chỉ một người dùng.
    • System DSN: Xác lập các nguồn dữ liệu sẽ được nhiều người dùng trên một máy tính.
    • File DSN: Xác lập một nguồn dữ liệu gốc tập tin (Tạo ra một kết nối nhưng tồn tại ở dạng 1 file .DSN).

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            12

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • ODBC Driver: Liệt kê các trình điều khiển ODBC đã cài đặt

    trên hệ thống.

    • Tracing: Cho phép theo dõi các lệnh gọi ODBC cho các trình điều khiển ODBC thực hiện.

    3.2. Mô hình ADO (Active Data Object)

    Connection

    Command

    Parameter

    RecordSet

    Field

    Error

    Hình 2.1: Mô hình ADO

    3.2.1. Điều khiển ADODC (ADO Data Control)

    Project Æ Component Æ Control Æ Microsoft ADO Data Control 6.0 (OLEDB).

    • Tác dụng của điều khiển ADODC: Cho phép truy cập và xử lý dữ liệu trong cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua kết nối ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            13

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Một số thuộc tính
    • Connectinon String = “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc:

    Connectinon String = “Giá trị Provider (Trình điều khiển) = Tên trình điều khiển; DataSource = Tên và đường dẫn đến cơ sở dữ liệu”

    • Command Type (Xác định các kiểu câu lệnh) = adCmdTabe adCmdText adCmdUnknown adCmdStoredProc
    • Cursor Type (Kiểu con trỏ) = adOpenDynamic

    adOpenKeyset

    adOpentatic

    • Lock Type = adLockBatchOptimistic adLockOptimistic adLockRessimistic adLockReadOnly
    • Mode (Quy định mở bảng) = adModeRead adModeWrite adModeShareDenyNone adModeShareDenyRead adModeShareDenyWrite adModeShareDenyUnknown
    • RecordSource: Xác định bảng dữ liệu cần truy cập. RecordSource = “Tên bảng\ Nội dung câu lệnh SELECT…”
    • Cursor Location = adUserClient

    adUserServer

    (Định vị con trỏ làm việc về phía máy khách\chủ).

    • Refresh: Làm tươi mới cơ sở dữ liệu.
    • ROF Action = 0 – adDomovefirst: chưa ở đầu bảng.

    1 – adStayBOF: đầu đọc dừng ở đầu bảng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            14

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    + EOF Action = 0 – adDomovelast: chưa ở cuối bảng.

    • – adStayEOF: đầu đọc đang ở cuối bảng.
    • – adDoaddnew: Tạo ra bản gi trống.
    • Một số các phương thức (Method):

    Khi việc kết nối cơ sở dữ liệu thành công cho phép sử dụng một số phương pháp sau để xử lý dữ liệu. Việc xử lý dữ liệu được thực hiện nhờ các phương thức của thành phần RecordSet.

    • Phương thức dịch chuyển bản ghi trong bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Movefirst: Dịch chuyển về bản ghi đầu.
    • ADODC Name.RecordSet.Movelast: Dịch chuyển về bản ghi cuối.
    • ADODC Name.RecordSet.Movenext: Dịch chuyển về bản ghi tiếp

    theo.

    • ADODC Name.RecordSet.Moveprevious: Dịch chuyển về bản ghi đứng trước bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Move n: Dịch tiến (n) hoặc lùi (-n) n bản ghi so với bản ghi hiện hành.
    • Phương thức cập nhật dữ liệu cho bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Addnew: Thêm bản ghi mới.
    • ADODC Name.RecordSet.Delete: Loại bỏ bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Update: Lưu trử một bản ghi tại một thời điểm.
    • ADODC Name.RecordSet.UpdateBatch: Lưu trử 1 bó dữ liệu tại một thời điểm.
    • Phương thức truy cập đến trường dữ liệu: ADODC Name.RecordSet.Fields(“Tên trường”)
    • Kiểm tra trạng thái con trỏ trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet.BOF = TRUE: Control đang ở đầu bảng;

    • FALSE: Control khác đầu bảng.
    • ADODC Name.RecordSet.EOF = TRUE: Control đang ở cuối bảng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            15

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    =  FALSE:  Control  không  ở  cuối

    bảng.

    • Đếm số bản ghi trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet. RecordCount

    3.2.2. Đối tượng ADODB

    Tham chiếu đến thư viện:

    Project Æ References Æ Microsoft ActiveX Data Object 2.0 Library.

    Tác dụng của đối tượng ADODB là: kết nối đến cơ sở dữ liệu từ xa, là dạng đối tượng ActiveX.

    3.2.2.1. Cách khai báo và thiết lập:

    Khai báo biến connection:

    Dim cn AS ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet Set cn = New ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet cn.Open “Tên kết nối ODBC” [Hoặc: “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc: “Driver =…; server = …; UID = …; PWD = …; Database=…”] Set rs = New ADODB.RecordSet

    Set rs = cn.Execute(“Tên bảng | Tên truy vấn | Nội dung câu lệnh select”)

    Hoặc: rs.Open Source, Active Connection, Cursor Type, Lock Type;

    Với Source là biểu thức chuổi chứa tên bảng cần mở trong cơ sở dữ liệu,

    Active Connection là tên kết nối đã được thiết lập từ trước (chính là cn)

    Cursor    Type    là    kiểu    con    trỏ    (gồm    3    kiểu:    adOpenDynamic,

    adOpenKeyset, adOpenstatic).

    Lock Type là kiểu khóa dữ liệu (Gồm: adLockBatchOptimistic, adLockOptimistic, adLockPessimistic, adLockReadOnly).

    • Ngoài ra còn cho phép sử dụng cây lệnh của SQL để cập nhật dữ liệu cho bảng trong cơ sở dữ liệu mà không cần thông qua RecordSet:

    cn.Execute(“INSERT INTO…| DELETE FROM… | UPDATE…”)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            16

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2.2. Các phương thức để xử lý dữ liệu trong bảng thông qua

    RecordSet:

    1. Cập nhật dữ liệu cho bảng: – Nhập dữ liệu mới cho bảng:

    rs.AddNew

    rs.Field(“Tên trường”) = <Giá trị mới>

    rs.Update

    – Sửa dữ liệu:

    cn.Execute(“UPDATE<Tên bảng> SET<Tên trường> = <Giá trị mới sửa> WHERE <Điều kiện>”)

    – Xóa bản ghi hiện hành: rs.Delete

    1. Dịch chuyển bản ghi

    rs.Movefirst

    rs.Movenext

    rs.Moveprevious

    rs.Movelast

    rs.Move n

    1. Thuộc tính rs.BOF rs.EOF

    rs.RecordCount (Đếm số bản ghi)

    1. Thiết kế môi trường dữ liệu DED (Data Environment Designer)

     

    • Định nghĩa

     

    • DED dùng để định nghĩa những kết nối phức tạp giữa cơ sở dữ liệu dùng trong ứng dụng, cụ thể:

    + Định nghĩa kết nối các cơ sở dữ liệu.

    + Sử dụng câu lệnh của SQL để truy cập cơ sở dữ liệu vừa được kết

    nối.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            17

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Chỉ định các lệnh riêng rẽ kết hợp với nhau như thế nào để tạo nên những mục (câu) hỏi phức tạp.
    • Định nghĩa chức năng gộp cho các mục hỏi.
    • Chỉ định thứ tự sắp xếp của dữ liệu ở các mục hỏi.
    • Sau khi đã tạo ra được các kết nối để kết nối đến cơ sở dữ liệu cần làm việc thì các kết nối này sẽ được sử dụng vào các công việc sau:
    • Làm nguồn dữ liệu để tạo báo cáo bằng các DataReport.
    • Làm nguồn dữ liệu để hiển thị dữ liệu của bảng trong cơ sở dữ liệu trên Form, từ đó cho phép cập nhật dữ liệu vào bảng.

    +Làm nguồn dữ liệu cho điều khiển HFG (Hierachical Flex Grid – điều khiển khung kẻ ô có thứ bậc)

    4.2. Các thành phần có trong một DE (Data Environment)

    Data Environment

    Connection 1

    Command 1.1

    Child Command

    Command 1.2

    Command 1.n

    Connection2

    Connection m

    Hình 2.2: Các thành phần trong một DE

    – Mô tả cấu trúc:

    Một DE sẽ bao gồm nhiều kết nối (Connection) khác nhau. Mỗi một kết nối sẽ kết nối đến 1 cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            18

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trong mỗi kết nối sẽ có nhiều câu lệnh (Command) khác nhau. Trong đó mỗi câu lệnh trong kết nối sẽ kết nối trực tiếp đến 1 bảng hoặc đến nhiều bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối (trong trường hợp nhiều bảng Æ dùng câu lệnh Select của SQL).

    Ngoài ra: trong mỗi câu lệnh còn các câu lệnh con (Child Command) ở trong nó, mỗi câu lệnh con trong câu lệnh cha sẽ kết nối đến 1 bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối thỏa mãn bảng này phảo có quan hệ n-1 với bảng mà câu lệnh cha đang kết nối vào.

    • Đối với mỗi câu lệnh trong kết nối cho phép:
    • Phân nhóm dữ liệu theo 1 trường nào dods của bảng để từ đó thống kê dữ liệu trên bảng (Chức năng Grouping).
    • Cho phép thay đổi quyền truy cập dữ liệu đối với bảng trong cơ sở dữ liệu (Chức năng Advanced).
    • Đối với câu lệnh con nằm trong câu lệnh cha thì phải đặt mối quan hệ với bảng dữ liệu mà câu lệnh cha truy cập vào (Chức năng Relation).
    • Một DE được tạo ra sẽ được tồn tại ở bộ nhớ ngoài dưới dạng 1 tệp có phần mở rộng là .DSR (Designer).

    * Các phương thức của RecordSet trong command: Tên DE.RS tên lệnh.AddNew Tên DE.RS tên lệnh.Delete Tên DE.RS tên lệnh.Update

    Tên DE.RS tên lệnh.Find “Biểu thức điều kiện” Tên DE.RS tên lệnh.MoveFist

    Tên DE.RS tên lệnh.MoveLast Tên DE.RS tên lệnh.MovePrevious Tên DE.RS tên lệnh.MoveNext Tên DE.RS tên lệnh.Move n

    * Thuộc tính:             Tên DE.RS tên lệnh.BOF

    Tên DE.RS tên lệnh.EOF

    Tên DE.RS tên lệnh.Finter = “Biểu thức điều kiện”

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            19

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Tên DE.RS tên lệnh.RecordCount

    Tên DE.RS tên lệnh.Fields(“Tên trường”)

    CHƯƠNG 3:

    GIỚI THIỆU CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS

    Cơ sở dữ liệu là một tập hợp các thông tin liên quan tới một đối tượng liên quan cụ thể hoặc theo một mục đích nào đó. Ví dụ như các thông tin về đặt hàng của khách hàng hoặc lưu trữ các thông tin hàng hoá.

    Sử dụng Microsoft access có thể quản lý tất cả các thông tin với một tệp tin cơ sở dữ liệu đơn lẻ (tệp có phần mở rộng .mdb). Trong tệp tin cơ sở dữ liệu này, thông tin sẽ được lưu trữ trong các hộp chứa gọi là các bảng (table). Cập nhật thông tin, xem thông tin, nhập thông tin mới trên các bảng được thực hiện một các trực tiếp trên các mẫu biểu (forms). Tìm kiếm, lấy các thông tin được thực hiện nhờ các truy vấn (query) và phân tích in ấn, trình bày dữ liệu được thực hiện bằng cách tạo ra các báo biểu (report).

    Để lưu trữ thông tin, cần tạo một bảng cho mỗi kiểu thông tin cần lưu trữ. Để thực hiện việc tổ hợp các thông tin trên nhiều bảng lại với nhau cần định nghĩa quan hệ giữa các bảng.

    1. Bảng trong access (Table):

    Bảng (Table) là đối tượng được định nghĩa và dùng để lưu trữ dữ liệu, mỗi bảng chứa các tệp tin về một chủ đề xác định. Mỗi bảng gồm các trường (field) hay gọi là cột (Column) lưu trữ các loại dữ liệu khách nhau.

    Có thể định nghĩa một khoá cơ bản (Primary key) gồm một hoặc nhiều trường trong mỗi bảng ghi có giá trị xác định duy nhất và một hoặc nhiều chỉ mục (index) cho mỗi bảng để tăng tốc độ truy cập dữ liệu.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            20

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Mỗi bản ghi trên một bảng chứa đầy đủ thông tin hoàn chỉnh về một đối tượng dưới dạng một bảng tính, bạn có thể thêm, sửa hoặc xem dữ liệu trong bảng.

    Bạn có thể kiểm tra và in dữ liệu trong bảng dữ liệu của bạn hoặc thực hiện việc lọc sắp xếp dữ liệu, thay đổi cách hiển thị dữ liệu, thay đổi cấu trúc bảng (thêm, xoá các cột (trường)).

    Trong cửa sổ DataBase chọn tabs Table và chọn New để tạo một bảng mới hoặc chỉ mục Design để thiết kế sửa lại cấu trức của một bảng đã tồn tại.

    Các bước tạo một bảng dữ liệu:

    • Nhập vào tên một trường hoặc đổi tên một trường (nếu làm việc với các bảng đã có sẵn) trong cột Field Name.

    Tên trường: gồm một dãy không quá 64 ký tự, bao gồm chữ cái, chữ số và các ký tự cách trống.

    • Chọn kiểu dữ liệu tương ứng với trường đó trong cột Data Type

    Các trường có các kiểu dữ liệu cơ bảng sau:

    STT Kiểu Mô tả   Kích thước
             
    1 Text Ký tự   Dài ≤ 255 Byte
             
    2 Memo Ký tự   Dài ≤ 64000 Byte
             
    3 Number Ký tự   Dài 1, 2, 4 hoặc 8 Byte
             
    4 Date/Time Ngày, tháng, giờ   Dài 8 Byte
             
    5 Currency Tiền tệ   Dài 8 Byte
             
    6 Autonumber Số   Dài 8 Byte
             
    7 Yes/No Boolean   Dài 1 bit
             
    8 Ole object Đối  tượng  nhúng kết  
        hình ảnh    
             
    • Các loại quan hệ
    • Mối quan hệ 1 – 1: đòi hỏi giá trị của trường khoá trong chỉ một bản ghi của bảng mới phải so khớp với giá trị tương ứng của trường có quan hệ

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            21

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    trong bảng hiện có. Trong trường hợp này, từ khoá trong bảng mới phải là duy nhất.

    • Mối quan hệ 1 – nhiều: Đòi hỏi trường khóa chính của bảng mới phải là duy nhất, nhưng các giá trị trong trường khóa của bảng mới có thể so khớp với nhiều mục trong bảng quan hệ trên hệ cơ sở dữ liệu hiện có. Trong trường hợp này, trường quan hệ trong bảng của cơ sở dữ liệu hiện có sẽ có mối quan hệ nhiều – một với trường khóa chính trong bảng mới.
    • Mối quan hệ nhiều – một: cho phép bảng mới có nhiều giá trị trường khóa tương ứng với chỉ một giá trị trong trường giá trị của bảng hiện có. Trong trường hợp này, ta có thể có các giá trị trường khóa trùng lặp. Đây là kiểu phổ biến nhất.
    • Cách tạo quan hệ
    • Trong cửa sổ DataBase Windowns chọn Relationships từ menu Tools
    • Chọn các bảng, các truy vấn để đưa vào quan hệ
    • Chọn một trường từ bảng chính (Primary Table) và kéo sang trường tương ứng của bảng quan hệ, rồi bấm chuột tại Create để tạo quan hệ.
    • Chọn mục Enforce Referential Intergity. Nếu thỏa mãn:
    • Trường của bảng chính là khóa chính
    • Các trường quan hệ có cùng kiểu dữ liệu
    • Cả hai bảng trong quan hệ cùng thuộc một cơ sở dữ liệu thì access luôn đảm bảo tính chất: mỗi bản ghi trong các bảng quan hệ phải có một bản ghi tương ứng trong bảng chính. Điều này ảnh hưởng đến các phép thêm và xóa trong bảng quan hệ.
    • Tùy chọn Cascade Update và Cascade Delete

    – Khi đánh dấu Enforce Referential Intergity có thể sử dụng thêm các

    tùy chọn sau:

    • Cascade Update Related fields
    • Cascade Delete Retated fields

    Cascade Update: Khi sửa giá trị trường khóa trong bảng chính thì giá trị tương ứng của bản ghi trong trường quan hệ cũng bị sửa theo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            22

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Cascade Delete: Khi xóa một bản ghi trong bảng chính thì bản ghi tương ứng trong trường quan hệ cũng bị xóa theo.

    2. Truy vấn (Query )

    Truy vấn là một đối tượng cho phép chọn xem các dữ liệu của một hoặc nhiều bảng theo ý muốn. Trong Microsoft Access có thể tạo ta các truy vấn bằng phương tiện truy vấn đồ họa theo mẫu QBE hoặc viết các câu lệnh SQL. Có thể định nghĩa các truy vấn dùng để chọn, cập nhật, chèn hoặc xoá DEL và để tạo các bảng mới từ các dữ liệu trong một hoặc nhiều bảng có sẳn.

    3. Mẩu biểu (Form)

    Mẩu biểu là một đối tượng được thiết kế chủ yếu dùng để nhập và hiển thị dữ liệu hoặc điều khiển việc thực hiện một ứng dụng. Cũng có thể in mẫu biểu, có thể thiết kế một mẫu biểu để chạy một Macro khi giá trị của dữ liệu thay đổi.

    4. Báo biểu (Report)

    Báo biểu là một đối tượng được thiết kế để quy định các tính toán, in và tổng hợp các dữ liệu được chọn; và chúng ta có thể xem một báo các trên màn hình trước khi in nó.

    Báo biểu dùng để in ấn các kết quả sau khi đã được xử lý từ bảng hay từ truy vấn với các khả năng sau:

    • In dữ liệu dưới dạng các bảng.
    • In dữ liệu dưới dạng phiếu.
    • Sắp xếp dữ liệu trước khi in và có thể phân nhóm dữ liệu trước khi in, sử dụng phép toán để tổng hợp dữ liệu trên mỗi nhóm trước khi in.
    • Ngoài dữ liệu tổng hợp nhận được trên các nhóm có thể đưa vào trong công thức để nhận được sự so sánh đối chiếu trên các nhóm và trên toàn báo biểu.
    • In dữ liệu của nhiều bảng có liên quan tới nhau cùng một lúc bằng hệ thống báo biểu chính và báo biểu phụ cấp 1, cấp 2.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            23

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra việc chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu chữ, số lượng bản in, in các trang nào cũng như việc trình bày trên các báo biểu được tiến hành đơn giản và nhanh chóng.

    5. Macro

    Macro là một đối tượng định nghĩa một hoặc nhiều hành động (thao tác) có cấu trúc Access sẽ thực hiện để đáp ứng một sự kiện xác định. Ví dụ để thiết kế một Macro mà nó sẽ mở một mẫu biểu thức hai khi một phần tử nào đó trên mẫu biểu chính được chọn. Cũng có thể thiết kế một Macro mà nó sẽ kiểm tra tính hợp lệ của giá trị trong một trường khi giá trị của trường đó thay đổi, trong đó các Macro có thể đặt thêm các điều kiện đơn giản để quy định khi nào thì một hoặc nhiều hành động của một Macro sẽ được thực hiện hoặc sẽ bị bỏ qua. Các Macro có thể dùng để mở và thực hiện các truy vấn, các bảng, in và xem các báo cáo. Trong một Macro có thể chạy một Macro khác hoặc các hàm trong Module.

    6. Module

    Module là đối tượng chứa các thủ tục tuỳ ý được lập trình bằng Microsoft Acces Basic, đó là một biến thể của ngôn ngữ Microsoft Basic được thiết kế để làm việc trong Access, các module tạo ra các chuỗi hành động rời rạc và cho phép bẫy các lỗi mà các Macro không thực hiện được. Các Module có thể là các đối tượng độc lập chứa các hàm và có thể được gọi từ một vị trí bất kì trong một ứng dụng hoặc chúng có thể được liên kết trực tiếp với các mẫu biểu hoặc báo cáo để đáp ứng các sự kiện xảy ra trên mẫu biểu hoặc báo cáo đó. Các Module được liên kết với các mẫu biểu hoặc báo cáo là một ưu điểm đặc biệt của Access.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            24

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

     

    CHƯƠNG 4:

    PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN

    I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

    Luồng dữ liệu (Data Flow): là các dữ liệu di chuyển từ một vị trí này

    đến một vị trí khác trong hệ thống.

    Luồng dữ liệu được ký hiệu:

    Kho dữ liệu (Data Store): là các dữ liệu được lưu trữ tại một chỗ.

    Kho dữ liệu được ký hiệu:

        Tên kho dữ liệu D
           

    Tiến trình (Process): là một công việc hay một hành động có tác dụng lên các dữ liệu làm cho chúng di chuyển, được lưu trữ, thay đổi hay được phân phối. Tên tiến trình phải là một mệnh đề động từ gồm động từ và bổ ngữ; ví dụ: “Tính tiền” hay “Lập đơn hàng”…

    Tiến trình được ký hiệu:

    (với n là số hiệu của tiến trình)

    n

    Tên tiến trình

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            25

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra, người ta còn thêm vào phần thứ 3 của hình chữ nhật góc tròn để ghi tên người, bộ phận hay phương tiện thực hiện tiến trình này; được ký hiệu như sau:

    n

    TÊN TIẾN

    TRÌNH

    Người/phương

    tiện thực hiện

    Tác nhân (Actor): là nơi xuất phát (nguồn – source) hay nơi đến (đích – sink) của luồn dữ liệu. Tên tác nhân phải là một danh từ, ví dụ như: “Khách hàng” hay “Nhà cung cấp”… Tác nhân có thể là:

    • Một tổ chức hay một đơn vị của tổ chức bên ngoài hệ thống (hay một phần hệ thống) gửi hay nhận thông tin từ hệ thống mà ta nghiên cứu.
    • Những người hay nhóm người có tương tác với hệ thống.
    • Các hệ thống thông tin khác có trao đổi thông tin với hệ thống.

    Tác nhân được ký hiệu như sau:

    TÊN TÁC NHÂN

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            26

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN.

    1. Biểu đồ mức khung cảnh của hệ thống:

    Biểu đồ ngữ cảnh cho ta cái nhìn tổng quan về hệ thống quản lý khách sạn. Nó bao gồm ba thành phần sau:

    • Một tiến trình duy nhất: Hệ thống quản lý khách sạn.
    • Các tác nhân: Khách hàng và Nhà quản lý khách sạn.
    • Các luồng dữ liệu: Các luồng dữ liệu đi từ hai tác nhân đến hệ thống quản lý khách sạn và từ hệ thống quản lý khách sạn đến hai tác nhân.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            27

    Trường ĐHDL Hải Phòng
                                          òng
                                        h   h
                                        Yêu cầu đặt phòng
            Yêu cầu báo cáo             Trả lời yêu cầu đặt phòng  
                                                   
                                           
                                                           
                                        Yêu cầu thuê phòng            
            Báo cáo         0                      
                                                   
                                     
                                                       
                                  Trả lời yêu cầu thuê phòng          
            Yêu cầu cập nhật                        
                                                 
                                     
            thông tin dịch vụ                                            
                  HỆ THỐNG   Yêu cầu nhận phòng        
                                 
                          HỆ THỐNG                            
    KHÁCH SẠN                 nận p                    
              QUẢN LÝ       KHÁCH HÀNG
    NHÀ QUẢN LÝ                       Trả lời yêu cầu  
                          QUẢN LÝ                            
                              Yêu cầu dịch vụ              
            Yêu cầu cập nhật KHÁCH SẠN          
            KHÁCH SẠN                            
                               
            thông tin tiện nghi       Cung cấp dịch vụ      
                               
            Yêu cầu cập nhật                   Yêu cầu trả phòng              
                                   
              hòng                        
                                             
            thông tin p                   Thanh toán                
                                     
            Yêu cầu cập nhật                      
                                                   
                                           
            thông tin loại                                        
                                                   
            phòng                                        
                  Hình 4.1: Biểu đồ ngữ cảnh hệ thống                            
                                                               
    uểBi ánĐồ
    đồ tốt
    khungcứm pệnghi
    ng:ốthệhnhảc  
      ạskháchlýnảQu
      nếtuycựtrphòngtđặvàn

     

    28

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Phân rã chức năng hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến:

    HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    Quản lý khách sạn

    Quản lý tài nguyên

    Quản lý đặt phòng

    Quản lý khách vào

     Quản lý sử dụng dịch vụ

    Quản lý khách ra

    Báo cáo

    Quản lý đặt phòng qua mạng

    Thông tin về khách sạn

    Đặt phòng qua mạng

    Hình 4.2: Biểu đồ phân rã chức năng

    2.1 Quản lý tài nguyên

    Các tài nguyên của khách sạn cần quản lý như: loại phòng, phòng, tiện nghi, tài nguyên hỗ trợ cho các dịch vụ của khách sạn… Trong đó mỗi loại

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            29

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phòng bao gồm nhiều phòng và mỗi phòng sẽ được trang bị những tiện nghi khác nhau.

    Thông tin về phòng cần phải quản lý để phục vụ cho quy trình đặt phòng, quản lý khách vào, khách ra. Thông tin về phòng bao gồm: số phòng, loại phòng, các tiện nghi hiện có trong phòng, giá phòng… và được lưu vào kho dữ liệu “Danh sách phòng”. Thông tin phòng phải được cập nhật thường xuyên về tình trạng phòng: phòng trống (phòng chưa có người thuê), phòng bận (phòng đã có người thuê), phòng được đặt ( phòng đã có khách đặt trước).

    Các tiện nghi được trang bị cho các phòng cũng được phân loại và cập nhật vào danh sách các tiện nghi. Các tiện nghi này sẽ được quản lý theo từng phòng và do nhân viên phục vụ phòng kiểm soát tình trạng khi dọn dẹp trong thời gian khách ở. Thông tin về tiện nghi bao gồm: tên tiện nghi, giá tiện nghi, mô tả tiện nghi.

    Quản lý tài nguyên cho phép quản lý dịch vụ mà khách sạn cung cấp, thông tin về dịch vụ bao gồm: tên dịch vụ, giá tiền, dụng cụ sữ dụng.

    Chức năng quản lý tài nguyên:

    QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

    Phòng   Loại phòng   Tiện nghi   Dịch vụ
                 
    2.2. Quản lý đặt phòng:        

    Chức năng quản lý đặt phòng cho phép quản lý thông tin về các cuộc đặt phòng của khách. Thông tin về cuộc đặt phòng bao gồm:

    • Thông tin về khách: thông tin định danh, tên khách, giới tính, địa chỉ, số điện thoại, số fax, số tài khoản…
    • Thông tin về cuộc đặt phòng: số phòng, ngày đến, giờ đến, ngày đi, hình thức thanh toán…

    Chức năng quản lý đặt phòng:

    QUẢN LÝ ĐẶT PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng     30
               
               

    Khách                         Cuộc đặt phòng

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.3 Quản lý khách vào:

    + Khách đã đặt chỗ trước:

    Khi đến thuê phòng, khách hàng cần đưa ra thông tin liên quan đến cuộc đặt phòng. Nhân viên lễ tân sẽ tra cứu thông tin cuộc đặt phòng trên máy tính, xác nhận lại các thông tin thuê phòng và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin về Quản lý khách vào bao gồm: thông tin khách thuê phòng và thông tin phòng khách thuê.

    + Khách chưa đặt chỗ trước:

    Nhân viên lễ tân sẽ đưa ra thông tin về các phòng còn trống trong

    khách sạn cho khách thông qua việc truy vấn vào kho dữ liệu Danh sách

    phòng trên máy tính. Khách xác nhận phòng thuê và nhân viên sẽ lưu các

    thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Chức năng quản lý khách vào:

    QUẢN LÝ KHÁCH VÀO

    Khách   Phòng thuê
         

    2.4. Quản lý sử dụng dịch vụ:

    Thông tin khách sử dụng dịch vụ của khách sạn sẽ được lưu trữ vào cơ

    sỡ dữ liệu và được tính toán tự động số tiền khách phải trả. Khách sẽ thanh

    toán theo hóa đơn riêng lẻ của từng dịch vụ hoặc thanh toán theo hóa đơn

    tổng hợp khi khách rời khỏi khác sạn.

    Chức năng quản lý sử dụng dịch vụ:

    QUẢN LÝ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng         31
                   
      Ăn uống   Điện thoại   Giặt là   Gửi fax
                     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.5 Quản lý khách ra:

    Nhân viên khách sạn sẽ tổng hợp chi phí phát sinh của khách, lập hóa đơn và chuyển cho nhân viên thu ngân của lễ tân thông báo cho khách và thanh toán tiền với khách. Nhân viên thu ngân chuyển phòng khách vừa trả thành phòng trống.

    Chức năng quản lý khách ra:

    QUẢN LÝ KHÁCH RA

    Hóa đơn thanh toán   Phòng trả
         

    2.6. Chức năng báo cáo:

    Hệ thống báo cáo có thể lọc theo thời gian hoặc theo một số tiêu chí khác theo yêu cầu:

    • Báo cáo về tình trạng phòng: số phòng trống, số phòng bận, số phòng

    đã được đặt.

    • Báo cáo về khách: Số khách vào, số khách ra…
    • Báo cáo về Phòng đặt.
    • Báo cáo về doanh thu phòng
    • Báo cáo về doanh thu dịch vụ.

    2.7. Thông tin về khách sạn:

    Chức năng thông tin về khách sạn nhằm giới thiệu và quảng cáo về khách sạn: Lịch sử khách sạn, vị trí địa lý, địa chỉ của khách sạn, diện tích khuôn viên của khách sạn, các dịch vụ mà khách sạn hiện có để cung cấp…

    Khách hàng có thể truy vấn thông tin về khách sạn trên mạng Internet.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            32

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.8. Đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua mạng. Để có thể đặt phòng, khách hàng sẽ phải đăng ký một tài khoản (account) với email của khách hàng đã có.

    Việc đặt phòng sẽ được tiến hành như sau: sau khi truy cập website của khách sạn, khách hàng sẽ tiến hành việc chọn loại phòng có trong danh sách loại phòng của khách sạn. Khi khách hàng thực hiện yêu cầu chọn phòng, hệ thống sẽ đưa ra danh sách phòng thuộc loại phòng khách hàng yêu cầu. Khách hàng sẽ đánh dấu phòng chọn, điền các thông tin liên quan đến việc đặt phòng: số lượng phòng đặt, số phòng đôi, số phòng đơn, số khách thuê, số trẻ em, số người lớn, ngày đến, ngày đi, số tài khoản… Với yêu cầu ngày đến phải sau ngày đặt phòng ít nhất là hai ngày. Các thông tin này sẽ được gửi đến hệ thống. Sau đó hệ thống sẽ kiểm tra số lượng phòng có thể đáp ứng cho khách. Nếu thỏa mãn sẽ xác nhận lại thông tin đặt phòng và đặt phòng cho khách. Nếu không thỏa mãn thì sẽ gửi thông tin từ chối khách.

    3.     Biểu đồ luồng dữ liệu hệ thống.

     

    3.1 Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh:

      Yêu cầu đặt phòng 1.0 Thông tin              
        phòng đặt              
        Trả lời yêu cầu QUẢN LÝ              
                           
        đặt phòng ĐẶT Thông tin                  
        D53   DSDSphòngkhách        
          PHÒNG phòng        
                           
    Tr  ng ĐHDL Hải P òng   Thông tin         33      
                 
        Yêu cầu thuê 2.0       D6 DS phòng đặt    
        phòng phòng đặt          
               
            Thông tin                  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh.

    3.2.1. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý đặt phòng

        1.1                
          Thông tin phòng  
    Trường ĐHDL Hải Phòng TRA CỨU
                34  
      Tra cứu thông tin   D5 DS phòng        
        THÔNG          
                       
        TIN                
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý khách vào:

    3.2.2.1. Đối với khách đã đặt chỗ trước.

    Trường ĐHDL Hải Phòng 2.1.1 35

    TRA CỨU

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

        3.2.2.2. Đối với khách chưa đặt chỗ trước.          
                2.2.1          
            Yêu cầu thuê phòng TRA CỨU          
            Thông tin phòng rỗi THÔNG Thông tin phòng rỗi
            TIN          
                         
                           
                    D5 DS phòng  
                           
    Tr KHÁCH HÀNG     36  
    ường ĐHDL  ải Phòng      
                           
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.3. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý sử dụng dịch vụ

      Yêu cầu sử dụng dịch vụ   Thông tin dịch vụ      
      3.1                
                     
                     
      D2   Dịch vụ    
                   
          QUẢN LÝ      
    KHÁCH HÀNG      
                     
                     
          DỊCH VỤ Lưu              
      Cung cấp dịch vụ              
      D4   Hoá đơn    
               
                   
                           

    Hình 4.6: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý

    đặt phòng đối với khách chưa đặt chỗ trước

    3.2.4. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý khách ra

    Yêu cầu trả phòng 4. 1

    TRA CỨU

    THUÊ

    PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    Thông tin đúng

    4 2

    Thông tin khách sử

    dụng dịch vụ

    D2  Dịch vụ

    kháchphòng          37

    về

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.5. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý tài nguyên

    Yêu cầu c ập nhật 5.1          
    thông tin phòng   Cập nhật thông        
    QUẢN LÝ D5   DS phòng  
         
      tin phòng        
             
      PHÒNG          
      Yêu cầu cập nhật 5.2        
      thông tin loại phòng QUẢN LÝ        
    Trường ĐHDL Hải Phòng        
    Cập nhật thông D7 38  
            Loại phòng  
          LOẠI tin lợi phòng      
               
    NHÀ QUẢN LÝ        
               

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.6. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

            Thông tin D1     Tiện nghi          
              tiện nghi                                
                                             
                  Thông tin                    
                    D2     Dịch vụ        
                  dịch vụ                              
                                               
                    Thông tin                        
                      D3     DS khách    
                                         
      Yêu cầu báo cáo 6. 0         khách                            
                                         
              Doanh thu                      
                                   
                                 
          LẬP BÁO     D4   Hóa đơn  
    NHÀ QUẢN LÝ  
                                           
          CÁO       Thông tin                            
      Danh sách các báo cáo                                  
                  D5   DS phòng  
                         
    Trường ĐHDL Hải Phòng             phòng          
                                           
            D6   DS phòng đặt 39
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Thông tin

    phòng

    Thông tin

    loại phòng

    Hình 4.9: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

    4.     Mô hình dữ liệu quan hệ:

     

    • Các khái niệm cơ bản

     

    – Thực thể (Entity): là một khái niệm để chỉ một lớp các đối tượng cụ

    thể hay các khái niệm có cùng những đặc trưng chung mà ta quan tâm; và được ký hiệu:

    TÊN THỰC THỂ

    Bản thể (Instance): là một đối tượng cụ thể của thực thể.

    – Thuộc tính (Attributes): là các đặc trưng của thực thể. Nó được ký

    hiệu:

    Tên thuộc tính

    Thuộc tính của thực thể có các loại cơ bản sau:

    • Thuộc tính tên gọi: là thuộc tính của thực thể mà mỗi giá trị cụ thể của nó cho ta tên gọi của một bản thể thuộc thực thể và có thể nhận biết được bản thể đó.
    • Thuộc tính định danh: là một hay một số thuộc tính của thực thể mà giá trị của nó cho phép ta phân biệt được các bản thể khác nhau của một thực thể.
    • Thuộc tính mô tả: là các thuộc tính của thực thể không phải là thuộc tính định danh, không phải là thuộc tính tên gọi; những thuộc tính này cho ta biết đầy đủ hơn về các bản thể của thực thể; Thực thể có thể có nhiều hoặc không có một thuộc tính mô tả nào.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            40

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Thuộc tính đa trị (lặp): là một thuộc tính có thể nhận nhiều hơn một giá trị đối với mỗi bản thể thuộc thực thể.

    Ký hiệu:

    Tên thuộc tính Tên thuộc tính
      định danh  
        đa trị (lặp)
        TÊN THỰC THỂ  
           
    Tên thuộc tính   Tên thuộc tính
    tên gọi   mô tả

    – Các liên kết: là các mối quan hệ gắn kết các thực thể trong mô hình E-

    1. Một mối quan hệ có thể kết nối giữa một thực thể với một hoặc nhiều thực thể khách được xem xét trong tổ chức. Nó phản ánh mối quan hệ vốn có giữa các bản thể của các thực thể đó; được ký hiệu:

    TÊN LIÊN

    KẾT

    4.2. Các thực thể và thuộc tính của nó trong hệ thống quản lý khách sạn:

    – Thực thể PHÒNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Số phòng Thuộc tính khóa (định danh)
         
    2 Loại phòng  
         
    3 Giá phòng  
         
    4 Mã khách hàng  
         
    5 Trạng thái Rỗi, bận
         

    Bảng 4.1: Thông tin về phòng – Thực thể LOẠI PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            41

    Đồ án tốt nghiệp Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                 
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
                 
      1 Mã loại phòng   Thuộc tính khóa (định danh)  
                 
      2 Tên loại phòng      
                 
      3 Giá phòng      
                 
      4 Mô tả      
               
          Bảng 4.2: Thông tin về loại phòng
               
      – Thực thể TIỆN NGHI      
               
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
               
      1 Mã tiện nghi   Thuộc tính khóa (định danh)  
              được thêm vào  
               
      2 Tên tiện nghi      
               
      3 Đơn giá      
               
      4 Mô tả      
                 

    Bảng 4.3: Thông tin về loại phòng – Thực thể KHÁCH HÀNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Mã khách Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
         
    2 Tên khách (Last name và First name)
         
    3 Ngày sinh  
         
    4 Quốc gia  
         
    3 Giới tính  
         
    4 Thông tin định Là loại giấy tờ xác định khách hàng như:
      danh Chứng minh thư nhân dân / Visa / passport
         
    5 Ngày đến Sau ngày đặt phòng ít nhất 2 ngày
         

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            42

    Đồ án tốt nghiệp     Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                         
    6   Ngày đi   Trước ngày đến ít nhất 1 ngày
                         
        5   Địa chỉ liên lạc          
                         
        6   Số điện thoại          
                         
        7   Số fax          
                         
        8   Nước          
                       
              Bảng4.4: Thông tin về khách hàng
                     
        – Thực thể DỊCH VỤ        
             
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
             
      1 Mã dịch vụ   Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
                 
      2 Tên dịch vụ        
                 
      3 Đơn giá        
                 
      4 Mô tả        
                         

    Bảng4.5: Thông tin về dịch vụ

    4.3. Mô hình quan hệ thực thể E-R của hệ thống quản lý khách sạn:

    LOẠI       Thuộc TIỆN
    PHÒNG       NGHI
         
                     
                     
                     
    PHÒNG Trang bị
     

    Đặt

        Ngày thuê                   Ngày trả
                         
                             
                             
    Trường Đ HDL Hải Phòng             43
                                 
      SỰ ĐẶT                       DỊCH VỤ
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4.4. Mô hình quan hệ

    Chuyển các thực thể, liên kết thành các quan hệ, ta có mô hình quan hệ sau:

    Xét khách đặt phòng nhưng chưa tới nhận phòng là “khách đặt”; khách đến nhận phòng là “khách”. Khi đó ta sẽ có “khách đặt” có thể đặt phòng cho một hoặc nhiều “khách” đến nhận phòng. Còn “khách” có thể là “khách đặt” hoặc cũng có thể là “khách” đơn lẻ không đặt phòng trước nhưng đến thuê trực tiếp.

    Khách hàng thuê phòng, sử dụng dịch vụ; tiền thuê phòng và sử dụng dịch vụ sẽ được tính vào trong hóa đơn.

    TIỆN NGHI

    #Mã tiện nghi

    LOẠI PHÒNG

    #Mã loại phòng

    TRANG BỊ

    #Mã tiện nghi

    #Số phòng

    PHÒNG

    #Số phòng #Mã loại phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    44

    SỰ ĐẶT PHÒNG

    #Mã đặt phòng

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    III. GIAO DIỆN VÀ MỘT SỐ ĐOẠN MÃ CHƯƠNG TRÌNH DEMO

     

    1.     Form đăng nhập:

    Option Explicit

    ‘Dim dbMyDB As Database

    Dim rsUserRight As ADODB.Recordset

    Dim LoginSucceeded As Boolean

    Private Sub cmdCancel_Click()

    LoginSucceeded = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            45

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End

    End Sub

    Private Sub cmdOK_Click()

    If (txtPassword.Text = “please”) Then

    frmMain.mnuList.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckin.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckOut.Enabled = True

    frmMain.mnuReser.Enabled = True

    frmMain.mnuReport.Enabled = True

    frmMain.mnuFileLogin.Enabled = False

    frmMain.mnuLogout.Enabled = True

    Unload Me

    Exit Sub

    End If

    If Not LoginSucceeded Then

    MsgBox “Invalid Password !”, , “Login”

    txtPassword.SetFocus

    SendKeys “{Home}+{End}”

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            46

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giao diện chính của chương trình:

    Chọn tab System chọn chức năng English – Vietnamese để chuyển tiếng anh sang tiếng việt hoặc ngược lại.

    Mã nguồn thực hiện chức năng này:

    Private Sub MDIForm_Load()

    VIETANH = False

    If (VIETANH = True) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            47

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    init

    RATEOFEXCHANGE = 0

    frmLogin.Show 1

    frmRateOfExchange.Show 1

    End Sub

    3. Chức năng Danh mục

    Bao gồm các form: Danh mục quốc gia

    Danh mục điện thoại – fax

    Danh mục dịch vụ

    Danh mục giá phòng

    Tỉ giá ngoại tệ

    Form cập nhật danh mục quốc gia

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            48

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Form cập nhật loại phòng, giá phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            49

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Chức năng Đăng ký

    Bao gồm các form: Đăng ký khách

    Chuyển phòng

    Xem tình trạng phòng

    Xem thông tin phòng

    Xem thông tin khách

    Tìm kiếm

    Form đăng ký khách (Quản lý khách vào)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            50

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    – Khai báo

    Dim SuaFlag As Boolean

    Dim ThemMoiFlag As Boolean

    Dim BOOK As Byte

    Dim clicked As Boolean

    – Hộp chọn giới tính

    Private Sub CboGT_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboGT.ListCount > 0) Then

    If (CboGT.ListIndex = 0) Then

    CboGT.Tag = “M”

    ElseIf (CboGT.ListIndex = 1) Then

    CboGT.Tag = “W”

    End If

    End If

    End Sub

    – Hộp chọn tên quốc gia

    Private Sub CboNation_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboNation.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” & CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            51

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End Sub

    – Hộp chọn phương thức thanh toán

    Private Sub CboPayment_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End If

    End Sub

    • Xoá thông tin của khách đăng ký Private Sub CmdXoa_Click()

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE

    CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    – Các hàm được gọi

    Private Sub Form_Load()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            52

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (VIETANH = True) Then

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    Call LoadCusID

    Call LoadGioiTinh

    Call LoadNation

    Call LoadPayMent

    Call init

    Call ClearItem

    LoadCustomer

    clicked = False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End Sub

    Private Sub LoadGioiTinh()

    CboGT.AddItem “Man”

    CboGT.AddItem “Woman”

    End Sub

    Private Sub LoadNation()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “select * from QG”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    CboNation.Clear

    While Not rs1.EOF

    CboNation.AddItem rs1!Tennuoc

    rs1.MoveNext

    Wend

    rs1.Close

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            53

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount > 0) Then CboNation.ListIndex = 0 sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” &

    CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    + Thông tin giá phòng

    Private Sub LoadRate(RoomNumber As String)

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    sql = “Select * From ROOMRATE WHERE ROOMNUM=’”

    & Trim(RoomNumber) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    TxtRate.Text = “”

    If Not rs1.EOF Then

    TxtRate.Text = Str(rs1!Rate)

    Else

    MsgBox “Invalid Room number !”

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            54

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Đánh chỉ số ID cho khách Private Sub LoadCusID()

    sql     =      “Select      Max(CUSTOMERID)       as     SL      From

    CUSTOMER”

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If Not rs1.EOF Then

    If (IsNull(rs1!SL)) Then

    TxtCusID.Text = “1”

    Else

    TxtCusID.Text = rs1!SL + 1

    End If

    Else

    TxtCusID.Text = “1”

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    – Cập nhật thông tin khách mới

    Private Sub CmdNew_Click()

    Call ClearItem

    ThemMoiFlag = True

    SuaFlag = False

    SetButton True

    End Sub

    – Sửa thông tin khách

    Private Sub CmdSua_Click()

    If (VSDS.Rows > 1 And VSDS.Row > 0 And VSDS.Row <

    VSDS.Rows) Then

    SuaFlag = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            55

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    ThemMoiFlag = False

    SetButton True

    Exit Sub

    Else

    MsgBox “Please Select a customer to modify !” (Thông báo khi chưa chọn đối tượng để sửa thông tin)

    Exit Sub

    End If

    End Sub

    – Huỷ thông tin khách vừa nhập

    Private Sub CmdHuy_Click()

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    Call VSDS_Click

    End Sub

    • Thoát khỏi form nhập thông tin khách đăng ký thuê phòng Private Sub CmdThoat_Click()

    SuaFlag = False ThemMoiFlag = True Unload Me

     

    End Sub

     

    • Hộp text nhập số phòng đăng ký của khách

    Private Sub TxtRoomNumber_LostFocus()

    If ThemMoiFlag = False And SuaFlag = False Then

    clicked = False

    Exit Sub

    End If

    If clicked = True Then

    clicked = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            56

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Exit Sub

    End If

    If CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then MsgBox “Room number invalid !” TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If RoomBusy(TxtRoomNumber.Text) = True Then

    MsgBox “The Room is not avaiable !” & ” Please Choice another room !”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    LoadRate (TxtRoomNumber.Text)

    End Sub

    • Hộp chọn phương thức thanh toán Private Sub LoadPayMent()

     

    Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim STT As Integer

    sql = “Select * From PayMent” Set rs1 = pConnection.Execute(sql) CboPayment.Clear

     

    While Not rs1.EOF CboPayment.AddItem rs1!Detail rs1.MoveNext

     

    Wend rs1.Close

     

    Set rs1 = Nothing

     

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then CboPayment.ListIndex = 0

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            57

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End Sub

    Private Sub SetButton(B As Boolean)

    CmdGhi.Visible = B

    CmdHuy.Visible = B

    CmdNew.Visible = Not B

    CmdXoa.Visible = Not B

    CmdSua.Visible = Not B

    CmdThoat.Visible = Not B

    End Sub

    • Kiểm tra và lưu thông tin vừa nhập Private Sub CmdGhi_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim Maloaihh As String

     

    IfTrim(TxtRoomNumber.Text)=””Or

    CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then

    MsgBox “Invalid Room number”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtFirstName.Text) = “” Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            58

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    MsgBox “First Name Invalid”

    TxtFirstName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtLastName.Text) = “” Then

    MsgBox “Last Name Invalid”

    TxtLastName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboNation.Tag) = “” Then

    MsgBox “National Invalid”

    CboNation.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboPayment.Tag) = “” Then

    MsgBox “Payment Invalid”

    CboPayment.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboGT.Tag) = “” Then

    MsgBox “Invalid Sexual”

    CboGT.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If (ThemMoiFlag = True) Then

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” &

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            59

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    ElseIf SuaFlag = True Then

    sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            60

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “DELETE FROM CUSTOMER WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            61

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    Private Sub init()

    Dim i As Integer

    VSDS.Cols = 16

    VSDS.Rows = 1

    For i = 1 To 5

    VSDS.ColWidth(i) = (VSDS.Width – VSDS.ColWidth(0)) / 5 – 20 Next

    VSDS.TextMatrix(0, 0) = “Cust. ID”

    VSDS.TextMatrix(0, 1) = “RoomNum”

    VSDS.TextMatrix(0, 2) = “Last Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 3) = “First Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 4) = “Birthday”

    VSDS.TextMatrix(0, 5) = “National”

    VSDS.TextMatrix(0, 6) = “Sexual”

    VSDS.TextMatrix(0, 7) = “Day In”

    VSDS.TextMatrix(0, 8) = “Day out”

    VSDS.TextMatrix(0, 9) = “Payment”

    VSDS.TextMatrix(0, 10) = “No. Visa”

    VSDS.TextMatrix(0, 11) = “Rate”

    VSDS.TextMatrix(0, 12) = “Time In”

    VSDS.TextMatrix(0, 13) = “Time out”

    VSDS.TextMatrix(0, 14) = “No. Pass”

    VSDS.TextMatrix(0, 15) = “Company”

    For i = 6 To 15

    VSDS.ColHidden(i) = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            62

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Next

    For i = 0 To VSDS.Cols – 1

    VSDS.Cell(flexcpAlignment, 0, 0, 0, 5) = flexAlignCenterCenter

    VSDS.Cell(flexcpFontBold, 0, 0, 0, 5) = True

    Next

    BOOK = 1

    End Sub

    • Hàm kiểm tra phòng

    Private Function CheckRoom(RN As String) As Boolean CheckRoom = False

    If (Trim(RN) = “201” Or Trim(RN) = “202” Or Trim(RN) = “203” Or Trim(RN) = “204” Or _

    Trim(RN) = “301” Or Trim(RN) = “302” Or Trim(RN) = “303” Or Trim(RN) = “304” Or _

    Trim(RN) = “401” Or Trim(RN) = “402” Or Trim(RN) = “403” Or Trim(RN) = “404” Or _

    Trim(RN) = “501” Or Trim(RN) = “502” Or Trim(RN) = “503” Or Trim(RN) = “504” Or _

    Trim(RN) = “601” Or Trim(RN) = “602” Or Trim(RN) = “603” Or Trim(RN) = “604” Or _

    Trim(RN) = “701” Or Trim(RN) = “702” Or Trim(RN) = “703” Or Trim(RN) = “704” Or _

    Trim(RN) = “801” Or Trim(RN) = “802” Or Trim(RN) = “803” Or Trim(RN) = “804”) Then

    CheckRoom = True

    End If

    End Function

    Private Sub LoadCustomer()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            63

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “Select * FROM CUR_CUST where book=” & BOOK Set rs1 = pConnection.Execute(sql) VSDS.Clear 1

    VSDS.Rows = 1

    STT = 0

    While Not rs1.EOF

    STT = STT + 1

    VSDS.AddItem rs1!CUSTOMERID & vbTab & Trim(rs1!ROOMNUM) & vbTab & rs1!LASTNAME & vbTab & rs1!FIRSTNAME & vbTab & rs1!BIRTHDAY & vbTab & rs1!nation & vbTab & Trim(rs1!SEXSUAL) & vbTab & Trim(rs1!DATE_IN) & vbTab & Trim(rs1!DATE_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PAYMENT) & vbTab & Trim(rs1!VISA_NUM) & vbTab & Trim(rs1!Rate) & vbTab & Trim(rs1!TIME_IN) & vbTab & Trim(rs1!TIME_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PASSPORT) & vbTab & Trim(rs1!COMPANY)

    rs1.MoveNext

    Wend

    If (VSDS.Rows > 1) Then

    VSDS.Row = 1

    CmdSua.Enabled = True

    Call VSDS_Click

    Else

    CmdSua.Enabled = False

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    • Bảng hiển thị danh sách khách đăng ký Private Sub VSDS_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            64

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Dim MaChungTu As String

    Dim MaLoaiHangHoa As String

    Dim MaHangHoa As String

    clicked = True

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then

    TxtCusID.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)

    TxtRoomNumber.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 1)

    TxtLastName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 2)

    TxtFirstName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 3)

    TxtBirthDay.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 4)

    CboNation.ListIndex = GetIndex(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 5))

    If (Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 6)) = “M”) Then CboGT.ListIndex = 0

    Else

    CboGT.ListIndex = 1

    End If

    TxtDateIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 7) TxtDateOUT.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 8) CboPayment.ListIndex=

    GetIndexPayMent(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 9))

    TxtVisaNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 10)

    TxtRate.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 11)

    txtTimeIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 12)

    TxtTimeOut.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 13)

    TxtPassNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 14)

    TxtCompany.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 15)

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            65

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Private Function GetIndex(Ma As String) As Integer Dim NationName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from QG where Manuoc=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndex = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    NationName = rs1!Tennuoc

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboNation.ListCount – 1

    If (Trim(CboNation.List(i)) = Trim(NationName)) Then GetIndex = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    Private Function GetIndexPayMent(Ma As String) As Integer Dim PayMentName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from PAYMENT where PAYMENTID=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndexPayMent = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            66

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    PayMentName = rs1!Detail

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboPayment.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboPayment.ListCount – 1

    If (Trim(CboPayment.List(i)) = Trim(PayMentName)) Then GetIndexPayMent = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    • Xóa thông tin đang nhập

    Private Sub ClearItem()

    Call LoadCusID

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtLastName.Text = “”

    TxtFirstName.Text = “”

    TxtBirthDay.Value = Null

    CboNation.ListIndex = -1

    CboGT.ListIndex = -1

    CboPayment.ListIndex = -1

    TxtVisaNum.Text = “”

    TxtPassNum.Text = “”

    TxtRate.Text = “”

    TxtCompany.Text = “”

    TxtDateIn.Value = Date

    TxtDateOUT.Value = Date

    txtTimeIn.Value = Time()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            67

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    TxtTimeOut.Value = Time()

    End Sub

    Private    Function    RoomBusy(ROOMNUM      As    String)    As

    Boolean

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select ROOMNUM From CUR_CUST WHERE ROOMNUM=’” & Trim(ROOMNUM) & “‘ and book=1”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    RoomBusy = False

    If (Not rs1.EOF) Then

    RoomBusy = True

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Function

    5. Chức năng Trả phòng ( Quản lý khách ra)

    Bao gồm các Form:

    Nhập hoá đơn

    Nhập hoá đơn điện thoại

    Nhập hoá đơn Fax

    Sửa hoá đơn

    Trả phòng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            68

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    6. Chức năng Đặt phòng (Quản lý thông tin đặt phòng)

    Form hiển thị tình trạng phòng của khách sạn

    – Đoạn code

    Private Sub SetStatusRoomBusy(ByVal Room As String, ByVal code As Integer)

    Room = Trim(Room)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            69

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (CheckRoom(Room) = True) Then

    If (code = 1) Then ‘ Free Room

    IRoomX((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 2) Then ‘ Busy Room

    IRoomD((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 3) Then ‘ Overdate Room

    IRoomV((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 4) Then ‘ Booking Room

    IRoomT((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    End If

    End If

    End Sub

    7. Chức năng báo cáo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            70

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    8. Chức năng trợ giúp

    • Code kết nối dữ liệu access bằng OLEDB: Private Sub init()

     

    Set pConnection = New ADODB.Connection With pConnection

    .ConnectionTimeout = 5

     

    .ConnectionString=

    “PROVIDER=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0;Data            Source=”         &

    App.Path             &             “\CSDLKS.mdb;Jet              OLEDB:Database

    Password=vietnam;”

    .CursorLocation = adUseServer

    .IsolationLevel = adXactIsolated

    .Open

    End With

    Exit Sub

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            71

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

    1. Nhận xét về đề tài

    Trong thời gian nghiên cứu, xây dựng chương trình, em hết sức cố gắng làm việc với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo. Chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định: Giao diện đơn giản, dể sử dụng, đảm bảo tìm kiếm thông tin nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm thời gian, hạn chế được việc phải lưu trữ quá nhiều sổ sách trong quá trình quản lý.

    Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến là một đề tài thiết thực với nhu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn hiện nay.

    Tuy nhiên với thời gian ngắn, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế; hệ thống quản lý vẫn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong các thầy cô giáo và các bạn tận tình giúp đỡ để hệ thống quản lý ngày càng được hoàn thiện hơn.

    2. Hướng phát triển của đề tài:

    Hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến trên đây phần nào đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn; tuy nhiên còn có rất nhiều thiếu sót và hạn chế.

    Nếu được phát triển tiếp đề tài này em sẽ xây dựng hệ thống quản lý bằng website, ban quản lý khách sạn có thể quản lý dữ liệu trực tiếp trong cơ sở dữ liệu của website, đồng thời cập nhật thường xuyên cho khách hàng những thông tin mới nhất của khách sạn đồng thời tiếp nhận ý kiến của khách hàng cũng nhanh chóng hơn. Việc quản lý và đăng ký đặt phòng trực tuyến cũng trở nên dể dàng hơn; Hạn chế được việc để lỡ các cơ hội cho thuê phòng cũng như những sai sót có thể làm ảnh hưởng đến uy tính của khách sạn do ảnh hưởng của việc tra cứu thông tin chậm trễ – đó là điều mà những nhà kinh doanh nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng không bao giờ mong đợi.

    Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn TS.Trần Minh cùng ThS.Nguyễn Hoài Thu, người đã định hướng cho em hướng nghiên cứu đề tài này và là người hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn Ba, Mẹ, anh chị và bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này.

    Em xin trân trọng cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    LỜI NÓI ĐẦU

    TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    Tại sao l ại phải nghiên cứu về ph ạm trù con ngườ i và v ấn đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khi thế giới đ ã tr ải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và trên thế giới đã có rất nhiều, rất nhiều nước đã trở thàmh những nước công nghiệp lớn. Ph ải ch ăng đó là vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phương thức duy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới và bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá ch ậm, quá lạc hậu so với bước đi của thế giới? Và phải chăng giống như các quốc gia khác, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy lu ật chung đ ó? Nhưng quan trọng hơn cả, phải chăng con người là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu cũng như là cái đích của quá trình lâu dài này?

    Đúng là trên thực t ế ở nhiều quốc gia công nghiệp hoá, hi ện đại hoá đã tạo ra nhiều thành tựu khoa họ c không thể phủ nhận được. Chẳng hạn việc sử dụ ng n ăng lượng nguyên tử, năng lượ ng mặt trời đ ã làm giảm sự phụ thu ộc của con ng ười vào nguồn năng lượng khoáng sản; sự ra đời của các vật liệu t ổng hợp không những giúp con người giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được. Nh ờ phát minh con người sử dụ ng nguồn vật liệu mới này mà con người đã có thể thu nhỏ máy tính điện tử xuống hàng vạn lần về th ể tích đồng thời tăng hiệu năng của nó lên hàng chục vạn lần so với ba chục năm trước. Sự ra đời và xuất hiện các loại vật liệu mới đang ngày càng trở thành nhân tố vô cùng quan trọng của sự phát triển sức sản xuất xã h ội và tiến bộ khoa học công nghệ. Cùng với quá trình tự động hoá, tiến bộ khoa học công nghệ cho thấy khả năng loài người sẽ tiến tới một xã hội của cải tuôn ra rào rạt.

    Còn ở Việt Nam thì sao?

    Cho đến nay,Vi ệt Nam vẫn thuộc loại những nước nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng lạc hậu, còn mang tính chất tự cấp, tự túc, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bộ i chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (7% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân

    1

    dân còn nhiều khó khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu người thuộc loại thấp nhất th ế gi ới: 220$ (tại thời điểm tháng 9 năm 1993), thấp hơn Lào, Bangladesh, chỉ bằng 1/9 của Thái Lan, b ằng 1/4 của Malaysia, 1/45 của Đài Loan; tố c độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nước trong khu vực. Gắn liền v ới n ền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của sản xuất nhỏ. Cùng với những thuy ền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyền thống lạc hậu củ a người đã ch ết đang đ è nặng lên vai người đang sống… Vì vậy muốn không bị t ụt hậu xa hơn n ữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị l ần thứ VI Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và Đại hội đại biểu toàn qu ốc gi ữa nhiệm kỳ (20 -25/1/1994) đã xác định tới đây nước ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằ m t ạo thêm nhiều công ăn vi ệc làm, đẩy nhanh tố c độ t ăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.” Song d ựa vào đ âu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí như đã từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu đi ều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa. Như v ậy cũ ng có nghĩa là chúng ta đã để lại cho thế hệ tương lai một cái gánh quá nặng và sẽ có tội rất lớn đối với những ai đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ đất nước.

    Nhưng nếu ch ỉ có như vậy thì tại sao lại phải đề cập đến vấn đề con người? Liệu có phải con người đang giữ một vai trò gì đó trong sự nghi ệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n ước, và hơn thế nữa phải chă ng đó là một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này?

    Trước h ết có thể nói rằng xã hội loài người tồn t ại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Theo quan niêm cổ đ iển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nh ận thức tính vô tận của thế giới vật chất, tiếp tụ c nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên còn vô tận nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới

    2

    của những d ạng tài nguyên đang sử d ụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hộ i trong những điều kiện mới. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội.

    Đồng thời, nguồn l ực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả cũng chính là con người- nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí

    tuệ đó. Ta đã biết rằng, “tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”(1), tức là phải thông qua trí tuệ của họ.

    Trước tiên, những nhu cầu về sinh tồn đã thúc đẩy con người hoạt động theo bản năng như bất kỳ một động vật nào khác. Nhưng rồi “bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra

    những tư liệu sinh ho ạt của mình- đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định” (2). Sự khác biệt căn bản về mặt “tổ chức cơ thể” giữa

    con người và con vật chính là bộ óc và đôi bàn tay. Bộ óc điều khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ (b ộ óc) và lao động ( đôi bàn tay) con người đã tiến hành ho ạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó đã biến đổi cả bản thân mình.

    Cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa họ c, những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo. Nh ững t ư duy máy móc, trí tuệ nhân tạo… dù r ộng l ớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ là mộ t mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con người, ch ỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của ho ạt động trí tuệ của con người. Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt động của con người. Do đó con ng ười luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội.

    Th ực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đ úng đắn trong quan niệm của Mác về vị trí vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước thực hi ện với những thành công bước đầu củ a nó cũng ngày càng đòi hỏ i mỗi chúng ta ph ải nhận thức sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con ng ười”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến l ượ c phát triển kinh tế xã hội trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày

    càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cả i vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” (3). Bởi vậy để đẩy

    3

    nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nướ c ta, chúng ta không thể không phát triển con người Việt Nam, nâng cao độ i ngũ những người lao độ ng nước ta lên một tầm cao chất lượng mới. Nhận định này đã được kh ẳng định trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Nâng cao dân trí, bồi d ưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

    Một lần nữa ta có th ể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này. Qua đ ó, triết học tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nướ c ta được tiến hành như thế nào, quy mô và nhịp độ của nó ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng góp của triết học.

    4

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I . BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    Con người là sinh vật có tính xã hội. Đối với Mác “con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới” (4). Đó là những

    con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có nh ững quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát triển của văn minh.

    Các Mác viết “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng

    cố hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” (5). Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta

    thấy Mác muốn nói b ản chất con người, một sự trừ u tượng khoa học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể, t ừ thuộc tính của con người hiện thực, thế hệ này qua thế hệ khác, bản ch ất con người đượ c thể hiện và chỉ có thể được thể hi ện thông qua tổng thể các quan hệ xã h ội. Mu ốn tìm bản chất con người thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài đời sống hiện thực của con người. Luận đề củ a Mác không làm mất đi tính cá nhân, khẳng định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con người. Nếu đứng trên quan điểm sinh vật học mà xét thì không thể hi ểu được chẳng nh ững thực chất của con người, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con ng ười, từ khi quá trình nguồn gốc loài người kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều đượ c hướng dẫn b ởi ảnh h ưởng quyết định của văn hoá: khả năng đối xử có tính người đối với thế giới và đố i với nh ững ngườ i khác, khả năng lao động, giao tiếp với những ng ười chung quanh, khả năng t ư duy, có những tình cả m đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ , tất cả những cái đó đều không phải là đặc tính của cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hộ i, tiêu biểu cho thự c chất củ a con ngườ i trong cách biểu hi ện và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con ng ười tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hộ i, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội (lao động, hoạt động) . Chính trong quá trình này con người đã t ự sáng tạo ra bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản thân với tư cách là con người. Tiêu chuẩn

    5

    lịch s ử cho phép ngườ i ta phân biệt con ng ười- đó là sản xu ất ra công cụ lao động cũ ng b ằng chính công cụ. Đồ ng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện của văn hoá con người là giới tự nhiên mà con ng ười dùng để xây dựng nền văn hóa củ a mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo. Con người xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy, con người hoàn toàn mang tính xã hội.

    Vậy thì trong đời sống xã hội con người có vai trò gì?

     

    II. . VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, ĐẶC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XÃ HỘI

    Hơn mộ t trăm nă m trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hộ i loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, Các Mác đã nói t ới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm th ước đo chung cho sự phát triển xã h ội. Các Mác cho rằng, xu hướ ng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi s ự phát triển của lực lượ ng sản xuất bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra. Sự phát triển củ a lực lượng sản xuất t ự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử d ụng ngày càng nhi ều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở v ật ch ất cho hoạt đoọng sống của chính con người. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt độ ng thực tiễn cơ bản của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của con người t ăng lên không ngừng, do đó mà con người luôn luôn phát triển sản xuất vì muốn nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xu ất, giảm nhẹ lao độ ng. Vì vậy có thể nói, trong quá trình hoạt động, trước hết và quan trọng h ơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ óc và bàn tay con người không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ sở, là nguồn vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, đa dạng, phong phú của con ngườ i, đưa đến sự thay đổi liên tục cơ sở vật chất và kỹ thuật củ a xã hội. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con người đã được th ể hi ện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác và được ghi nhận nhân cách cụ thể, trước hết ở sự biến đổi của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác, sức mạnh trí tuệ con người không ngừng được vật th ể hoá trong công cụ sản xuất, trong lực lượng sản xuất nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con ng ười được biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong quá trình phát triển củ a xã hộ i. Những cuộc cách mạng l ực l ượng s ản xu ất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loài người là những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn của công cụ sản

    6

    xuất: từ lử a đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và công nghệ trí tuệ ngày nay.. Tất cả những đi ều đó chứng tỏ rằng con người với bàn tay và khối óc của mình là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.

    Nh ưng bên cạnh vai trò con người là chủ thể của hoạt độ ng sản xuất, là y ếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượngsản xuất củ a xã hội, con ngườ i còn là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua ho ạt động sản xuất vật chất, cc sáng tạo ra lịch sử củ a chính mình, sáng tạo ra l ịch s ử của xã h ội loài ng ười. Kết quả là xã hội loài ng ười đã bước từ thời đại v ăn minh này sang thời đại văn minh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự nhiên.

    Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất ngày càng gia tăng, vi ệc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượ ng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang l ại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát

    triển của lực lượng sản xuất xã hộ i trước hết có ý nghĩa là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”(6). Bởi

    vậy theo Các Mác, ý nghĩa lị ch sử, mục đích cao cả của s ự phát triển xã hội là phát triển con ngườ i toàn diện, nâng cao n ăng lực và phẩm giá của con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộ c số ng con người mọi sự tha hoá để con người sống với cuộc sống đích thực của mình.

    Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con ngườ i-y ếu tố quan trọng nhất trong l ực lượng s ản xuất của xã hộ i mới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quy ết định sự thành công hay thất bại. Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổ i mới này. Hay nói cách khác, công cu ộc đổi mới đất nước mà cụ thể là công nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộc vào con người và vì con người.

    7

    CHƯƠNG II

    VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I . CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ LÀ GÌ ?

    Từ trước tới nay, có nhiều đị nh nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá. Vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào?

    Quan niệm đơn gi ản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “ công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…” Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứ u định nghĩ a phạ m trù công nghiệp hoá củ a các nhà kinh tế Liên Xô (cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính tr ị của Liên Xô đượ c dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “ công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, tr ước hết là công nghiệp n ặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.”

    Quan đ iểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã đượ c chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của n ước ta. Cuốn “ Từ điển tiếng Việt” đã giải thích công nghiệp hoá là quá trình xây dựng n ền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành c ủa nền kinh tế qu ốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, quá trình công nghi ệp hoá, hiện đại hoá đất nước những năm 60, ta đ ã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát khỏi n ền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém… Mặc dù không đạt được mục tiêu nhưng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nước ta đẫ xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế-quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo được phần nào đời sống nhân dân.

    Nă m 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO) đã đưa ra mộ t định ngh ĩa: “công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này, một b ộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở

    8

    trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc đi ểm của c ơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển v ới nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã h ội.” Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.

    Còn theo quan niệm m ới phù hợp với đ iều kiện nước ta thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Nói tóm lại đó là sự phát triển củ a lực lượng sản xuất từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp triển kinh tế-xã hội, đưa nước ta theo kịp các nước tiên tiến

    thấ p đến cao, từ hoá là nhằm phát trên thế giới.

    II. MUỐN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TA PHẢI LÀM GÌ?

    Sự thành công củ a quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính tr ị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh ư: nguồn lực con ngườ i, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nướ c ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò của nguồn lực con người quan tr ọng nh ư thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước t ư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ,… nhi ều nhà kinh doanh nước ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thường chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy móc và coi đó là nguyên nhân t ạo nên “kỳ tích Nhật Bản”. Nhưng họ đã nhầm, chính người Nhật Bản cũng không quan niệm như v ậy. Ng ười Nhật cho rằng kỹ thuật và công ngh ệ có vai trò rất to lớn nh ưng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn đến thành công của h ọ là con ngườ i. Cho nên họ đã tập trung cao độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con người.

    Ngày nay đối với những nước lạc hậu đ i sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công

    9

    ngh ệ hiện đại của các nướcphát triển. Nhưng không ph ải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của n ước ngoài khi đượ c tiếp thu sẽ phát huy tác dụng t ốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu t ố con người khi sử dụng chúng. Nhiều công ty chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhưng vì không chú ý đến yếu tố con người nên đều thất bại. Ông Victor S.L.Tan, giám đốc của Ohostate University đã viết: “Điều mỉa mai lớn nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hi ện đổi mới, nhưng lại có ít công ty thực hiện đủ mức để đạt t ới thành công. Nhiều công cu ộc đổi mới đã tiến hành nhưng thất bại vì các công ty đ ó đã không đưa vào cấu tạo của kế ho ạch đổ i mới hoặc chương trình đổi mới của họ một nhân tố khó nhất để thành công- con người.”

    Như mọ i quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi vì:

    _ Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ t ồn tại d ưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt độ ng có ý thức của con người. Bởi lẽ, con người là nguồ n lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành mộ t sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các nguồn lực khác là những khách thể chịu s ự cải tạo, khai thác của con người, hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối. Vì th ế trong các yếu t ố cấu thành lực lượng sản xuất, ngườ i lao động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”.

    Ch ẳng hạn như vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hi ện đại hoá nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan tr ọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.

    Tương tự như vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về v ị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác.

    Ngày nay trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu tư nướ c ngoài cũng là nguồn l ực quan trọng, nó tạo ra “cái hích” kinh tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái hích”

    10

    này đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó.

    Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện di ện của trí tu ệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều tr ở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm “nguồn lực” cũng không còn lý do gì để tồn tại.

    _ Thứ hai, các nguồn l ực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồ n lực con người lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh h ọc mà còn tự đổi mớ i không ng ừng, phát triển về chất trong con ng ười xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho n ăng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận xét trên bình diện cộng đồ ng nhân lo ại. Nhờ vậy con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, sáng t ạo, khám phá ra nhiều nguồ n tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có hiệu quả hơn, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.

    _ Thứ ba, trí tuệ con người có s ức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC đã và đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão của cu ộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nướ c công nghiệp phát triển vận độ ng đến nền kinh tế củ a trí tuệ. Gi ờ đ ây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.

    _ Th ứ t ư, kinh nghiệm của nhiều n ước và th ực tiễn của chĩnh nướ c ta cho thấy sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng nh ư tổ chức thực hiện, ngh ĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Đối với những nền kinh tế nông nghiệp chưa công nghiệp hoá thì mặt số lượng của ngu ồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp hoá thì mặt chất lượ ng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực l ại quan trọng hơn. Cơ cấu lao độ ng cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề… không có các chính khách, các học gi ả tài ba thì khó có thể có được những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn;

    11

    không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các ngu ồn vốn, nhân lực, công nghệ. S ự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con người là nguồn lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, mu ốn công nghiệp hoá, hi ện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triể n nguồn lực con ngườ i cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đ ây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    III. . CON NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ KHÔNG? VÌ SAO?

    Có rất nhiều nước trên thế giới đã thực hi ện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nguồn lực ch ủ đạo là con người. Vậy trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với nh ững thế mạnh và những hạn chế của mình con người Việt Nam có thực hiện được vai trò của mình hay không?

    Trước h ết ta tìm hiểu xem ngu ồn nhân lực củ a Việt Nam có những đặc điểm gì để phát huy và những hạn chế gì cần phải khắc phục.

    Những thế mạnh phải nói đến đó là:

    _ Th nhất , ở Vi ệt Nam hiện nay có lực l ượng lao động dồi dào với 36,5 triệu người trong độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2000 con số này sẽ là 45,6 triệu người.

    _ Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọ ng tương đối cao v ề lao động trẻ, ph ần lớn có học vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lự c lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đượ c đào tạo tương đối lớn (so với các nước có thu nhập như nướ c ta). Hi ện t ại n ước ta có trên 9000 tiến sĩ và phó tiến sĩ , trên 800000 ngườ i có trình độ đại học cao đẳng, trên 2 triệu công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển khoa họ c, tiếp thu, làm ch ủ và thích nghi với các công nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả công nghệ cao.

    12

    _ Thứ ba, chúng ta có mộ t lượng tương đối l ớn người Việt sống ở nước ngoài, tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ người có trình độ cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 người). Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước, là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.

    _ Th , đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con người Việt Nam. Truyền thống đó cần được nuôi dưỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm b ắt, tiếp thu và v ận d ụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại phục v ụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nướ c. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng được phát huy mạnh mẽ s ẽ có thể hỗ trợ đắc lực không ch ỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, t ạo dựng và phát triển c ơ nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn vi ệc làm, góp phần làm giảm sứ c ép về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truy ền thống biết chịu đựng gian khổ để tiết ki ệm, tích luỹ cho đầu tư mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế nước nhà nói chung.

    Nhưng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những điểm yếu kém sau đây:

    _ Thứ nhất, s ố người lao động được đ ào tạo quá ít chỉ chiếm 5.5% dân số và 11% tổng số lao động. Mặt bằng dân trí còn thấp, s ố năm đi học của người dân từ 7 tu ổi trở lên mới đạt 4,5 nă m. Đáng lo ngại hơn là mặc dù chúng ta đã cố gắng để đạt được 88% dân số bi ết chữ nhưng hiện nay lại đang diễn ra quá trình tái mù chữ, nhất là các tỉnh miền núi (có xã số ngườ i mù ch ữ lên tới 70%); trong số trẻ em ở độ tuổi đi học chỉ có 45% em học hết cấp I. Số người được đào tạo có tay nghề cao cũng như người có học vấn đại h ọc và sau đại học năm 1982 là 0,26% năm 1993 còn 0,2%. Tỉ lệ này ở các nước công nghiệp mới Đông nam á là 0,6 đến 0,8. Trong 75% lao động sản xuất nông nghiệp chỉ có 7% được đào tạo. Vì vậy năng su ất lao động thấp, trong công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới, còn trong nông nghiệp một lao độ ng của ta chỉ nuôi được 3 đến 5 người, trong khi chỉ số này ở các nước phát triển là 20 đến 30 người. Đây là trở ng ại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hoá trong nông nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.

    _Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trường đại học

    13

    thì số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ và tiến sĩ, hơ n 70% giáo sư và hơn 90% giáo sư đều ở độ tu ổi này.Trong khi đó sinh viên giỏ i sau khi tố t nghiệp đều không muốn ở lại trường. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.

    _Th ba, vi ệc bố trí sử d ụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa h ọc của ta làm việc trong các viện nghiên cứu, các trườ ng học, còn trong các ngành sản xu ất vật chất thì rất ít Chẳng hạn, trong các ngành nông lâm ngư nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học và 6,49% cán b ộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có trình độ đại học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Nhìn vào một số nước trong khu vực, cán bộ khoa h ọc làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao như Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lượng lao động không hợp lý này gây nên hiện tượng thừa thiếu gi ả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong lao động tri thức. Qua đ iều tra ở 55 trường đại học có khoảng 14 nghìn sinh viên ra trường chưa có việ c làm. Chẳ ng hạn từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở 19 trườ ng đại học và cao đẳng khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% (năm 1988) lên 35,38% (năm 1992). Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa l ại thi ếu cán bộ khoa họ c kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra trường muốn ở lại công tác tại các thành phố, khu công nghiệp, nơi kinh tế phát tri ển để có thu nhập cao hơn và điều kiện việc làm tốt hơn, mặt khác chúng ta chưa có chính sách thu hút để điều chỉnh sự phân bố này.

    _ Thứ , thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Sự phát triển về phương diện sinh lý và thể lự c dường như chững lại “sau hơn 40 năm thanh niên n ước ta không cao thêm 1cm nào và không cân nặng thêm 1kg nào”, mức duy dinh dưỡng ở trẻ em dưới năm tuổi là 51,5%.

    _ Thứ năm, người lao động nước ta nói chung ch ưa có nếp lao động công nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phương đông, cha truyền con nối. Chính vì thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ làm vi ệc ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với công cụ đã rèn cày cuốc và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô

    14

    gái Hà Đông vẫn dệt lụa trên các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.

    Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngườ i ở Việt Nam với những thế mạnh cũng như các mặt hạn chế. Ph ải có những nố lực phi thường bằng hành động thực tiễn trong vi ệc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện đại hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vì sao nhi ều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một cuộc “cách mạng con người” mà thự c ch ất là cách mạng về ch ất lượng nguồn lao động. “Cách mạng con ngườ i” với công nghiệp hoá hiện đại hoá là hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện ch ứng với nhau. Bởi vậy, mỗ i b ước tiến lên của cuộc “cách mạng con người” s ẽ đ em lại những thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ngược lại.

    IV. ĐỂ CON NGƯỜI VIỆT NAM TH ỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ CẦN CÓ NHỮNG CHÍNH SÁCH GÌ?

    Thự c chất căn bản c ủa chủ nghĩa Mác về con người là sự phát triển tự do của mỗi con ngườ i là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Xã hội loài người chỉ được phát triển khi phát triển tối đa từng cá nhân. Vấn đề phát triển cá nhân không còn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu thiết yếu trong thực tiễn xã hội ta ngay từ hôm nay. Cụ thể để công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành một cu ộc “cách mạng con người” nhằm tạo ra một số lượng lớn các nhà khoa học một đội ngũ đông đảo các nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tương đối cao và những người lao động lành nghề. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng nhân tài phải phát triển tương ứng.

    Thử nhìn vào lịch sử kinh tế của một số nước tư bản phát triển, ta thấy nói chung những nướ c này đều r ất coi tr ọng công tác giáo dục. Chẳng hạn thời kỳ đầu sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, tài chính quố c gia vô cùng nguy ngập nhưng chính phủ Nhật bản không hề giảm chi phí giáo dục, tỷ trọ ng kinh phí giáo dục luôn chiếm 20% trở lên trong kinh phí hành chính củ a Nhật còn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nước cho giáo dục chiếm 4,2% GDP và chiếm 12,8% chi tiêu củ a nhà nước. Thực tế đã chứng minh, ở Mỹ nếu đầu tư cho giáo dục 1$ thì sẽ lãi 4$, còn ở Nhật thì 1$ sẽ lãi 10$.

    Th ực ra không chỉ có các nướ c tư bản phát triển nhìn th ấy vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế mà mộ t số nước Đông nam á cũng đã nhận thức được v ấn đề này. Và k ết qu ả là sự ra đời của những nước công nghiệp mới ở châu á. Suốt 40 năm qua, các nước này đã đầu tư cho giáo dục ngày

    15

    một tăng. Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong ngân sách nhà nước ở cộng hòa Triều Tiên nă m 1972 là 13,9%, nă m 1981 tăng 17,9%, nă m 1983 tăng lên 21,6%. Trong 30 năm từ 1952 đến 1981 ở Đài Loan tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,43 lần nhưng kinh phí giáo dục tăng hơn 90 lần. Hoặc như

    • Singapore, hiện nay kinh phí giáo dục chiếm 4% giá trị GDP, mấy năm nữa sẽ lên đến khoảng 6% ngang với mức của các nước phát triển phương Tây. Những con số, ở một mức độ nào đó tự nó đã giải thích rằng không phải ngẫu nhiên mà trong một tời gian dài một loạt các nước quanh ta đã vươn lên trở thành “ những con rồng châu á”.

    Đó là do kinh nghiệm của các nước đi trước, còn ở Việt Nam thì

    sao?

    Trong nhiều năm qua, nhà nước ta đ ã chú ý phát triển nguồn l ực con ngườ i bằng những chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không tránh khỏi một số hạn chế do điều kiện kinh tế hạn hẹp.

    Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó- chính sách phát triển giáo dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tìm ra bước đ i tiếp theo để hoàn thành cu ộc “ cách mạng con người” ở Việt Nam. Có thể khái quát tình hình giáo dục ở Việt Nam như sau:

    _ Quy mô giáo d ục không ngừng đượ c tăng lên, liên tục phát triển ở các ngành học và cấp học. Chẳng hạn, quy mô đào tạ o sinh viên đại học và cao đẳng có nhiều biến động lớn. Hình thức đào tạo cao học của ta r ất phong phú: chính quy tập trung, tại chức và ngắ n hạn…Tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trong độ tuổi đi họ c của Việt Nam là 2,3_2,5%, cao hơ n mức 2% của Trung Quốc nhưng thấp hơn so với mức16% của Thái Lan, 40% của Hàn Quốc.

    _ Hệ thống giáo dục được mở rộng: số trường học tăng nhanh, mỗi làng xã có ít nhất một trường tiểu học hoặc trung học cơ sở. S ố trường phổ thông trong cả nước liên tụ c tăng từ năm 1991-1992 đến nă m 1994-1995 là 16%. Trướ c tình hình phải t ăng s ố l ượng ngườ i có trình độ chuyên môn cao, nhà nước chủ trương phát triển hệ thống đ ào tạo đại học và cao đẳng. Tính đến năm 1994, Việt Nam đ ã có 109 trường đại học, cao đẳng và đào t ạo hơn 200 ngành h ọc. Tuy nhiên so với tiêu chuẩn quốc tế thì hầu hết các trường đại học của Việt Nam còn nhỏ bé.

    _ Trong chính sách phát triển giáo d ục và đào tạo, hình th ức giáo dụ c tại chức được nhà nước quan tâm chú ý đặc biệt. Hiện nay đã có khoảng 200

    16

    trung tâm đào tạo nghề theo các chương trình ng ắn hạn và dài hạn, nhưng hàng năm mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu của người học.

    _ Hợp tác quố c tế trong lĩnh vực giáo dục và đ ào tạo cũng được phát triển. Tính đến cuối năm1994, đã có 1900 sinh viên, 394 sinh viên cao học, 715 nghiên cứu sinh, 298 thực t ập sinh đang họ c tập nghiên cứu t ại 25 nước trên thế giới. Để có vốn đầu tư phát triển giáo dục Việt Nam đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tài trợ và cho vay vốn. Trong chu kỳ 1991 -1995, UNICEF đã hỗ trợ 10 tri ệu USD để nâng cấp các nhà trẻ, mở thêm các trung tâm dạy nghề. Chính phủ Việt Nam đã vay của Nhật Bản từ nguồn ODA thời kỳ 1993 -1995 là 1431,02 triệu yên, của ngân hàng thế giới 70 triệu USD để nâng cấp và cải t ạo một số trường học lụp xụp. Ngoài ra ngân hàng thế giới còn cam kết cho Việ t Nam vay 60 triệu USD thời kỳ 1995-1998 để đầu tư phát triển tr ường ĐH Quố c gia HN và ĐH Quốc gia thành phố HCM. Có thể nói h ợp tác trong lĩnh vực khoa học và giáo dụ c là tiền đề nâng đỡ Việt Nam vượt qua những khó khăn về vốn, khắc phục các mặt yếu kém về chương trình, về công nghệ giáo dục, tăng cường sự hiểu biết giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.

    _ Từ năm 1990, ngân sách giáo dụ c của Việt Nam đã ở mức 10 -11% tổng ngân sách hàng năm của nhà nước. So với những năm tr ước đây, ngân sách này đã tăng nhưng cũng mới ch ỉ đáp ứng được 50% yêu cầu của ngành giáo dục. Giá trị thực tế bình quân đầu người về ngân sách giáo dục của Việt Nam vào khoảng 7,7 USD chỉ bằng 1/29 của Hàn Quốc, 1/22 của Malaixia và 1/8 của Thái Lan.

    Tuy nhiên so với các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp như Việt Nam thì nền giáo dục Việt Nam vẫn được xếp vào loại khá.

    Mặc dù vậy sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn bộc lộ một số mặt yếu kém như:

    _ Mô hình giáo dục -đào tạo đa ngành và chuyên môn hẹp đã không thích nghi kịp xu thế đổ i mới, không phản ứng nhạy bén trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, đào tạo ngành nghề không tươ ng x ứng với đòi hỏi khắt khe của thi trường lao động. Nhiều năm xảy ra sự mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng…

    _ Cùng với nó là cơ cấu đào tạo t ạo không hợp lý giữa đào tạo đại học và đào tạo nghề. Có d ự báo cho rằng tươ ng lai Việt Nam s ẽ thiếu các nhà toán học, vật lý h ọc và các nhà khoa học khác. Lực lượng nghiên cứu cơ bản thiếu sẽ ngăn cản khả năng tiếp thu công nghệ và tri thức mới.

    _ Chất lượng giáo d ục cũng là vấn đề đáng phải quan tâm. Trướ c hết cần khẳng định, bộ phận học sinh giỏi của Việt Nam không thua kém các nước khác. Điều đó được chứng minh qua các kỳ thi OLEMPIC Quốc tế về toán

    17

    học, tin học, vật lý học… Nhưng những nă m gần đây chất l ượng giáo dục ở nhiều cấp bị giảm sút, theo số li ệu của Bộ giáo dục và đào tạo cứ 1000 h ọc sinh năm học 1986- 1987 thì chỉ có 500 em tố t nghi ệp tiểu học. Chủ yếu là do học sinh bỏ họ c và lưu ban. Nguyên nhân là do đời sống của đông đảo đội ng ũ giáo viên thấp dẫn đến tình trạng bỏ dạy, chân trong chân ngoài, những học sinh giỏi không thích nghi vào sư phạm. Theo đánh giá củ a Bộ GD và ĐT, thì giáo viên không đủ tiêu chuẩn ở mức 60 -70% cũ ng theo thống kê c ủa bộ thì ch ỉ có 10% giáo viên có nức sống tương đối khá, 60% có mức sống trung bình, 30% có mức sống th ấp. Ngoài ra, chất lượng giáo dục giả m sút còn do tình trạng thiết bị học tập nghèo nàn, thiếu thốn, công nghệ lạc hậu.

    Có thể nói giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn lao, trước yêu cầu đổ i mới kinh tế-xã hội, trướ c yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước sức ép v ề nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực. Trong 20 n ăm tới, giáo dục Việt Nam phải thực hiện được các mục tiêu sơ b ản là nâng cao mặt bằng dân trí, đ ào tạo nhân lực và b ồi dưỡng nhân tài theo hướng khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, trên c ơ sở nỗ lực của bản thân và kinh nghiệm, cùng sự giúp đỡ của các nước phát triển.

    Muốn vậy nhà nước phải có các chính sách, biện pháp phù hợp như: _ Tăng ngân sách giáo dục và đào tạo, s ử dụng ngân sách đó một cách có hiệu quả. Kể từ năm 1996, mỗi năm ngân sách giáo dục phải tăng 1% để đạt được mức trung bình của khu vực vào năm 2005.

    _ Đồ ng thời, nhà nước phải chăm lo đến đời sống của đội ngũ giáo viên, cải thiện chế độ tiền lương, tăng phụ cấp cho giáo viên để giáo viên có thể nâng cao vị trí xã hội của mình.

    _ Mặt khác, phải chú ý đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ nhiều hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

    _ Nâng cao chất lượng của các bậc tiểu học, làm tiền đề vững chắn cho chất lương của các cấp học tiếp sau.

    Nh ững phân tích trên đây mới chỉ đề cập đến phát triển giáo dục và đào tạo – một yếu tố một cơ sở để con ngươi Việt Nam có thể thực hiện vai trò của mình.

    Vì vậy tồn tại song song với phát triển giáo dục, nhà nước ta còn phải thực hiện những nhiệm vụ cấp bách sau đây:

    18

    _ Một là, căn cứ vào yêu cầu phát triển củ a các ngành và các vùng lãnh thổ, cần tổ chứ c bố trí lại lực l ượng lao độ ng một cách hợp lý trên phạm vi cả nước theo hướng đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn.

    _ Hai là, cần tr ả lương đúng và đủ cho ng ười lao độ ng, trong đó chú ý đến đội ngũ cán bộ khoa học. Cần nhấn mạnh rằng, bản thân tiền lương không đơn giản chỉ là việc trả công, mà nó còn tái sản xuất ra sức lao độ ng ( nhiều hay ít), kích thích những phẩm chất (tích cực hay tiêu cực) của người lao động.

    _ Ba là, tiến hành đào t ạo bồi d ưỡng l ại lực lượng lao động hiện có và đào tạo lự c lượng mới theo chuyên ngành nhất định. Trong đó, b ảo đảm sự cân đối và đồng bộ giữa lao động phổ thông, lao động kỹ thuật và lao động khoa học.

    _ Bốn là, tiến hành một cách th ường xuyên đồng bộ hoạt động giáo dụ c đối với người lao động về các mặt: chính trị-tư tưởng, lợi ích, ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân, truyền thống. Trong đi ều kiện hiện nay, chỉ quan tâm đến lợi ích v ật chất mà không thực hi ện công tác giáo dục thì sẽ dẫn đến sai lầm, tại hại, làm hư hỏng con người, thậm chí cả một thế h ệ ng ười. C.Mác đã từng nhắc nhở chúng ta, trong phát triển kinh tế phải gắn “sự nghiệp giải

    phóng con người v ới cuộc đấu tranh chống lại biểu hi ện thực tiễn cực đoan của sự tha hóa con người”(7). Không nghi ngờ gì rằng, mặt trái của nền kinh

    tế thị tr ường đ ã và đang tác động đến từng cá nhân, từng gia đ ình và mỗi tập th ể của chúng ta. Trong xã hội hiện nay, có tình trạng một số người có kinh tế khá, thậm chí là giàu có nhưng vẫn tham ô, móc ngo ặc, ăn cắp, buôn lậu. Trái lại, mộ t số người nghèo, thậm chí rất nghèo nhưng không chịu lao động chân chính, chuyên dùng thủ đoạn l ừa bip, ăn cắp… Bên cạnh đó, còn một lớp người (thường là trẻ tuổ i) không chịu học hành, làm việc, chỉ lo ăn chơi và từ đây dẫn đến tội phạm.

    _ Năm là, phải nâng cao thể lực cho thanh niên. Mặc dù đây là một vấn đề đòi h ỏi phải có thời gian để giải quyết trên cơ sở nâng cao dần mứ c sống của nhân dân về vật chất cũng như v ề tinh thần. Trước mắt, cần tập trung giải quyết cho được các mục tiêu củ a chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em đến năm 2000, nh ất là các mục tiêu giảm đáng kể t ỷ lệ suy dinh dưỡng: đầu tư nâng cao chất lượng của chương trình giáo dục thể chất và y t ế học đường; đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong thanh thiếu niên, tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên duy trì phong trào “ khoẻ vì ngày mai lập nghiệp”, “khoẻ để bảo vệ Tổ quốc”.

    Thực hiện những nhiệ m vụ trên đây có nghĩa là về c ơ bản nhà nước ta đã hoàn thành cuộc “ cách mạng con người ”, biến con người Việt Nam

    19

    thành nguồn lực quyết định đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thành công.

    20

    KẾT LUẬN

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã, đang và sẽ là xu hướng phát triển chung của t ất cả các qu ốc gia trên thế giới. Đó cũng là con đườ ng phát triển tất yếu củ a nước ta để đi tới mục tiêu “dân giàu, nướ c mạnh, xã hội công bằng, văn minh” công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi, cách mạ ng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và con ng ười), làm cho xã hội phát triển lên một tr ạng thái mới về chất. Nhưng cơ sở, động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì? Theo các nhà kinh điển củ a chủ nghĩa Mác-Lênin, con người vừa là điểm khởi đầ u vừa là điểm kết thúc, đồng thời vừa là trung tâm của mọ i biến đổi lịch sử. Nói cách khác, con ngườ i là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn chính là con ngườ i. Chính vì vậy, quá trình này đòi hỏi phải có ngu ồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác, nguồn nhân lực phải trở thành động lực thật sự của sự phát triển.

    Quan điểm phát triển nguồn nhân lực đ ã được nhiều quốc gia quan tâm và đặc biệt đang nổi lên ở khu vực Đông á. Xuất phát là những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong tr ường hợp đầu tư phát triển đủ mạnh nguồ n nhân lực. S ự đầu t ư ấy được hiểu cả ba mặt: ch ăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức số ng và phát triển giáo dục, trong đó đầu t ư có hiệu quả nhất là đầu tư cho giáo dục. Khi nghiên cứu quan hệ giữa GDP và các yếu tố của nguồn nhân lực, ngườ i ta thấy sự phát triển củ a nguồn nhân lực càng sớm thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Thực tế đ ã ch ứng minh, do phát triển nguồn nhân lực mà Hàn Quốc đã mau chóng trở thành nước công nghiệp, có sự hội nhập thần kỳ ở khu vực Đông á và trở thành một điểm sáng bên Nhật Bản siêu cường.

    Đồ ng thời, xuất phát từ tư t ưởng của C.Mác về s ự phát triển vì con ng ười, vì sự nghiệp giải phóng củ a con người, giải phóng nhân loại, chúng ta có thể khẳ ng định rằng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới nói chung và đặc biệt là ở nước ta hiện nay chính là mộ t cuộc cách mạng-cách mạng con người. Trong “Tư b ản”, C.Mác đã khẳng định: “để sản xuất ra những con người toàn diện” cần phải có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá mới, một nền khoa học kỹ thuật hi ện đại, mộ t nền giáo dục tiên tiến. Và ông coi tạo ra những thành tưu kinh tế xã hội đó “không phải chỉ là

    21

    một phương pháp để làm tăng thêm nền s ản xuất xã hội, mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện”

    • – những chủ nhân thực sự của một xã hội vì con người. Như vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải vì mục tiêu phát triển con người. Chỉ có như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới trở thành sự nghiệp cách mạng của quần chúng.

    Qua toàn bộ phân tích trên, có thể khẳng định rằng, bước sang th ời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện đại làm yế u t ố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, phải gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện đời số ng nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện ti ến bộ và công bằng xã hội. Đồng thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là vì sự phát triển con người Vi ệt Nam toàn diện, con người phải được coi là giá tr ị tối cao và là mục đích của sự nghiệp đầy khó khăn, phức tạp nhưng tất yếu này.

    —————————

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]