Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-kinh-t%E1%BA%BF-t%C6%B0-nh%C3%A2n-t%E1%BB%89nh-Th%C3%A1i-Nguy%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 185 – 189

    e-ISSN: 2615-9562

     

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

     

    Nguyễn Văn Đức

    Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến nay, góp phần quan trọng chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình lãnh đạo. Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu, báo cáo, văn kiện của Tỉnh ủy Thái Nguyên cũng như Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển phát kinh tế tư nhân, hiệu quả, bền vững, khai thác được những tiềm năng thế mạnh của địa phương, đưa kinh tế tư nhân thật sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Thái Nguyên phát triển.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân; Thái Nguyên; tư nhân; động lực phát triển; giải pháp phát triển kinh tế.

     

    Ngày nhận bài: 22/4/2019; Ngày hoàn thiện: 20/6/2019; Ngày duyệt đăng: 21/6/2019

     

    DEVELOPMENT SOLUTIONS PRIVATE ECONOMY

    OF THAI NGUYEN PROVINCE

     

    Nguyen Van Duc

     

    TNU – University of science

     

    ABSTRACT

     

    Private economy is an economic component based on private ownership of means of production, making an important contribution to socio-economic development. This paper presents a study on the process of Thai Nguyen Provincial Party leadership of private economic development since 1997. The study aims to make an important contribution to point out the advantages, limitations and causes of advantages, limitations and practicalexperience in the leadership. Research methods are based on analysis and evaluation of documents, data, reports, documents of Thai Nguyen Provincial Party Committee as well as Thai Nguyen Statistical Office. This research result would be an important basis for Thai Nguyen Provincial Party Committee to propose specific guidelines and solutions to promote the development of private, effective, sustainable economic development and to tap the potentials. As a result, local strengths and private economy can become an important driving force for the socio-economic development ofThai Nguyen province.

     

    Keywords: Private economy; Thai Nguyen; private; development motivation; economic development solutions.

     

    Received: 22/4/2019; Revised: 20/6/2019; Approved: 21/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         185

     

    Nguyễn Văn Đức                          Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 185 – 189

     

    1. Mở đầu

     

    Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của KTTN, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay KTTN Thái Nguyên có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển. Đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011-2015 đạt 13,1%, trong đó công nghiệp – xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng 20,7%, dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng 7,7%, nông – lâm – thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng 5,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, năm 2015 tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đạt 83,2%, nông nghiệp chỉ còn 16,8% [1, tr. 31-32]. Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2015 là 58.543,9 tỷ đồng trong đó: kinh tế nhà nước 14.259,5 tỷ đồng, kinh tế ngoài nhà nước 27.217,6 tỷ đồng và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 14.272,2 tỷ đồng [2]. Để KTTN Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ và bền vững đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên phải có những chủ trương và giải pháp cụ thể nhằm tạo động lực quan trọng để kinh tế Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ hơn.

     

    2. Nội dung

     

    Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN. Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển KTTN, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định: “Thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, giải quyết việc làm. Khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm tạo nhiều việc làm mới để thu hút lao động”[3, tr. 15]. Cùng với đó phải thực hiện: “Xây dựng cơ chế, chính sách, ưu đãi đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ về công nghệ, thiết bị, đào tạo nguồn

     

    nhân lực, thông tin môi trường đầu tư và thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề ở nông thôn” [1, tr. 62]. Quán triệt thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh, KTTN Thái Nguyên có những chuyển biến mạnh mẽ và đạt được những kết quả quan trọng. Thứ nhất, KTTN đã góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo ổn định chính trị xã hội. Thứ hai, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo sự liên kết giữa các địa phương trong tỉnh. Thứ ba, KTTN của tỉnh phát triển nhanh cả về quy môn, số lượng và chất lượng. Thứ tư, KTTN góp phần thúc đẩy phát triển ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được KTTN của tỉnh cũng bộc lộ một số những tồn tại, hạn chế như: Công tác chỉ đạo điều hành, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ, công tác quản lý của các cơ quan chính quyền đối với thành phần KTTN chưa được thường xuyên và chặt chẽ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hỗ trợ nguồn vốn vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập. Các tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp tư nhân chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mình. Công tác quản lý, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể còn nhiều vướng mắc, bất cập.

     

    Để KTTN tư nhân Thái Nguyên ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ, thu hút được nhiều nguồn đầu tư, phát huy các tiềm năng thế mạnh, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, cần phải thực hiện tốt một số giải pháp sau:

     

    Thứ nhất, Đổi mới công tác quản lý Nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN.

     

     

    186                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Văn Đức                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 185 – 189

     

    Để làm tốt công tác quản lý Nhà nước và cải thiện môi trường đầu tư cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đảng bộ tỉnh và các ngành chức năng cần phải chú trọng cải thiện chỉ số PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) trong thời gian tới, rà soát ở các sở, ban, ngành và địa phương khắc phục tình trạng yếu kém trong các khâu để cải thiện môi trường kinh doanh. Xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có thể tiếp cận được với các nguồn vốn, đất đai, lao động, công nghệ và thông tin thị trường.

     

    Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống hành chính Nhà nước cho phù hợp với điều kiện của Thái Nguyên và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhận hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa các thủ tục, thực hiện cơ chế một cửa, liên thông trên tất cả các lĩnh vực, nhằm công khai, minh bạch các loại hồ sơ, giấy tờ, lệ phí, thời gian, công sức thực hiện giải quyết các công việc đối với doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN như: đăng ký kinh doanh, cấp phép kinh doanh, kê khai nộp thuế, thủ tục hải quan… Thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt, đối thoại giữa đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, lãnh đạo tỉnh với các doanh nghiệp nhằm nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tạo cơ chế thuận lợi nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp pháp triển [4].

     

    Thứ hai, Hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh.

     

    Các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên các doanh nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2015, số lượng doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh

     

    là 1.984 doanh nghiệp, với tổng số vốn là 68.759,1 tỷ đồng, trong đó số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 70% tổng số vốn kinh doanh [2]. Vì vậy, việc hỗ trợ các doanh nghiệp về mặt tài chính để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, mua sắm thiết bị, là việc làm cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, việc hỗ trợ về tài chính đối với các doanh nghiệp cũng chỉ tập trung vào các lĩnh vực và khu vực mà tỉnh quy hoạch phát triển, tránh việc hỗ trợ một cách tràn lan, không có trọng tâm, trọng điểm. Hiện nay, các khu công nghiệp, các vùng quy hoạch của tỉnh như: SamSung, Điềm Thụy, Yên Bình, Sông Công, Đại Từ, Núi Pháo… đã và đang đi vào hoạt động, đây là những nơi tỉnh quy hoạch, đầu tư phát triển, nên các doanh nghiệp đầu tư, sản xuất kinh doanh ở những nơi này sẽ nhận được những ưu đãi rất tốt về vốn, tài chính và đất đai. Cùng với đó, phải đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ tài chính, tín dụng trên địa bàn tỉnh nhằm giải quyết các vần đề về nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, doanh nhân như: cho vay, tín chấp, bảo lãnh lãi suất thấp… Khuyến khích phát triển dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán và các dịch vụ liên quan đến tài chính của doanh nghiệp tư nhân để giúp đỡ các doanh nghiệp khó khăn trong hạch toán, lập báo cáo tài chính, dự án kinh doanh [5].

     

    Để các doanh nghiệp hoạt động và mở rộng sản xuất kinh doanh vấn đề đất đai và mặt bằng sản xuất được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Tỉnh cần phải có những cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân về mặt bằng sản xuất kinh doanh, giúp các doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc. Chính sách đất đai phải khắc phục được bất bình đẳng trong việc giao đất, cấp đất cho sản xuất kinh doanh, mở rộng hơn nữa quyền của các doanh nghiệp tư nhân trong việc chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải được công khai minh bạch làm cơ sở cho việc giao đất, thuê đất, đấu thầu quyền

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          187

     

    Nguyễn Văn Đức                          Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 185 – 189

     

    sử dụng đất. Đặc biệt, trong quy hoạch đất đai phải nhanh chóng xây dựng khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, là cơ sở để thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đồng thời, những dự án quy hoạch trong thời gian dài không triển khai được cần phải thu hồi, bổ sung quỹ đất cho các dự án khả thi và hiệu quả hơn [6].

     

    Hiện nay, các khu công nghiệp của tỉnh như: Sông Công, Điềm Thụy, SamSung, Yên Bình, Núi Pháo… đã đi vào hoạt động, nhu cầu về vốn và đất đai để mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nhân là rất lớn. Vì vậy, nếu thực hiện tốt những giải pháp trên sẽ là động lực quan trọng để KTTN Thái Nguyên phát triển nhanh và hiệu quả.

     

    Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường kinh doanh.

     

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp tư nhân muốn đứng vững trong cạnh tranh và phát triển, đòi hỏi phải có năng lực, trình độ, tay nghề cao đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Để nâng cao trình độ của nguồn nhân lực đòi hỏi tỉnh Thái Nguyên phải mở các lớp bồi dưỡng cho chủ các doanh nghiệp tư nhân nhằm nâng cao trình độ tri thức quản lý, xây dựng chương trình đào tạo mới phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó, tỉnh phải mở rộng, nâng cấp hệ thống các trường đào tạo nghề trong đó tập vào các lĩnh vực như: cơ khí, khai khoáng, điện tử, may mặc, chế biến nông sản. Với lợi thế là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn thứ ba cả nước Thái Nguyên cần phải đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng lao động, đào tạo nhân lực theo yêu cầu của thị trường. Đồng thời, tỉnh cần phải nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm xúc tiến hỗ trợ việc làm cho người lao động, phát triển thị trường lao động và cho phép các doanh nghiệp tư nhân được mở rộng quyền thuê và tuyển dụng lao động [7].

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày

     

    càng sâu rộng, việc mở rộng thị trường kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân là hết sức cần thiết, mở rộng thị trường đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì vậy, để mở rộng thị trường kinh doanh cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin cần thiết về thị trường, đặc biệt là thị trường xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp có được thông tin cần thiết dễ dàng cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường và nắm bắt được các nhu cầu của đối tác hai bên. Tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch văn hóa với các tỉnh trong khu vực Việt Bắc, đẩy mạnh phát triển kinh tế với thủ đô Hà Nội và các địa phương trong cả nước.

     

    Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư thương mại và du lịch nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tìm kiếm thị trường mới và xuất khẩu mặt hàng mới. Quan tâm mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng, đổi mới mẫu mã sản phẩm (sắt thép, chè) tăng khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường của doanh nghiệp tư nhân một cách vững chắc, chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp đến các thị trường mới trong và ngoài nước. Xây dựng mạng thông tin doanh nghiệp chung của cả tỉnh nhằm giới thiệu hình ảnh và sản phẩm của các doanh nghiệp đến thị trường và các nhà đầu tư. Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, xây dựng chiến lược marketing, chủ động tìm kiếm thị trường mới, sản phẩm mới [5].

     

    Thứ tư, phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức đảng và đoàn thể, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

     

    Tổ chức cơ sở đảng và đoàn thể trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các chủ doanh nghiệp và người lao động. Làm cho chủ doanh nghiệp và người lao động hiểu được quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối

     

    188                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Văn Đức                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 185 – 189

     

    với xã hội. Từ đó, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động với chủ doanh nghiệp và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với việc thực hiện các vấn đề xã hội. Ngoài ra tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp còn có nhiệm vụ lãnh đạo chủ doanh nghiệp, người lao động thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước các hợp đồng lao động đã được ký kết với người lao động. Các tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền lợi của người lao động, giáo dục tinh thần, kỷ luật cho người lao động có ý thức, kỷ cương, trách nhiệm. Vì vậy, phát huy vai trò tổ chức tổ chức cơ sở đảng và đoàn thể là nhằm đảm bảo các doanh nghiệp thực hiện đúng mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của người lao động [8].

     

    Bên cạnh, việc phát huy vài trò của tổ chức đảng và đoàn thể, đòi hỏi Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên và chính quyền các cấp phải đẩy mạnh công tác quản lý đối với thành phần KTTN. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của KTTN như: làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, trốn thuế, không có giấy phép đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng nặt hàng đăng ký, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất [9].

     

    3. Kết luận

     

    Như vậy, từ khi tái lập tỉnh đến nay KTTN Thái Nguyên đã có sự phát triển mạnh mẽ góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển. Bên cạnh, những mặt ưu điểm KTTN Thái Nguyên cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục. Để KTTN của tỉnh phát triển bền vững và hiệu quả cần thực hiện tốt những giải pháp như: đổi mới công tác quản lý Nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN; hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết

     

    những khó khăn về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh; phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường kinh doanh; phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức đảng và đoàn thể, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nếu thực hiện tốt các giải pháp này, sẽ phát huy được hết các tiềm năng thế mạnh của tỉnh, huy động được các nguồn lực vào trong sản xuất kinh doanh, đưa KTTN trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội Thái Nguyên phát triển.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,

    Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Thái Nguyên 2015, tr. 31-32-62.

     

    • Cục thống kê Thái Nguyên, Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 2016, Thái Nguyên 2017.
    • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,

    Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Thái Nguyên 1997, tr.15.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo kết quả 2 năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5

    (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Thái Nguyên 2004.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo một số tình hình về phát triển kinh tế tư nhân và đảng viên làm kinh tế tư nhân tại địa phương, Thái Nguyên 2002.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 257-BC/TU ngày 02/12/2013 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/12/2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Thái Nguyên 2013.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo tình hình phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên 2001.
    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 14-BC/TU ngày 13/01/2016 kết quả thực hiện Đề án số 10-ĐA/TU ngày 8/8/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng, củng cố, phát triển đảng viên, tổ chức đảng trong doanh nghiệp, giai

    đoạn 2012-2015, Thái Nguyên 2016.

     

    • Tỉnh ủy Thái Nguyên, Báo cáo số 62 ngày 29/7/2016 về kết quả 10 năm thực hiện Quy

    định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương về đảng viên làm kinh tế tư nhân, Thái Nguyên 2016.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          189

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    190                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%C3%B4-h%C3%ACnh-kinh-t%E1%BA%BF-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-do-ph%E1%BB%A5-n%E1%BB%AF-l%C3%A0m-ch%E1%BB%A7-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Tr%C3%A0-Vinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình kinh tế hợp tác do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 109 – 113

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

    KINH TẾ HỢP TÁC DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TẠI TỈNH TRÀ VINH

     

    Hà Minh Tuân1*, Mai Thị Huyền Trang2, Nguyễn Minh Tuấn1,

    Vũ Thị Hải Anh1, Kiều Thị Thu Hương1, Nguyễn Thị Hiền Thương1

    1Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên

    • Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

    TÓM TẮT

     

    Bài viết nhằm mục đích đánh giá thực trạng phát triển, những khó khăn, tồn tại của mô hình kinh tế hợp tác (KTHT), và đặc điểm của các hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác (THT) do phụ nữ làm chủ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT tại địa phương. Phương pháp triển khai gồm thu thập tài liệu thứ cấp từ các đơn vị liên quan, phỏng vấn cá nhân đại diện của Liên minh HTX, khảo sát và thảo luận nhóm của đại diện các HTX và THT do nữ làm chủ. Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT của tỉnh còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý, do đó hoạt động tổ chức sản xuất và kinh doanh còn kém hiệu quả, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn yếu. Số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn thấp, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Các khó khăn/rào cản chính gồm thiếu vốn, thị trường đầu ra, sự hạn chế về năng lực khoa học kỹ thuật. Ngoài ra, chính quyền địa phương hiện cũng chưa có các chính sách hỗ trợ đặc thù cho các HTX và THT do nữ làm chủ. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình KTHT do phụ nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh.

     

    Từ khóa: Kinh tế hợp tác; hợp tác xã; phụ nữ; tổ hợp tác; Trà Vinh.

     

    Ngày nhận bài: 02/5/2019; Ngày hoàn thiện: 16/5/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    IMPROVING THE EFFECTIVENESS OF WOMEN-OWNED COOPERATIVE ECONOMICS MODEL IN TRA VINH PROVINCE

     

    Ha Minh Tuan1*, Mai Thi Huyen Trang2, Nguyen Minh Tuan1,

    Vu Thi Hai Anh1, Kieu Thi Thu Huong1, Nguyen Thi Hien Thuong1

    1TNU – University of Agriculture & Forestry

    2TNU – University of Economics & Business Administration

     

    ABSTRACT

     

    This research aims to evaluate the current situation, shortcomings and challenges of cooperative economics models, and characteristics of women-owned cooperatives and farmer groups in Tra Vinh province. The analyses were used to formulate rational recommendations for improving the role and effectiveness of coop economics in the research area. The methodology included destop studies of existing documents from relevant departments and organisations, personal interviews with leaders of the local cooperative alliance, survey and focus group discussions with representative leaders of women-owned cooperatives and coop groups. Results of this study showed that most of the cooperatives and farmer groups still have limited capacity in management and thus ineffective operation of their production and businesses. Limited linkages between production and markets were also found. In addition, the proportion of women-led cooperatives and farmer groups is rather small, coupled with their limited capacity in management and operation of production and businesses. Their stated key challenges and/or barriers include shortage of capital, market outlets and lack of science & technology. Besides, the local government has not issued specific support policies in favour of women-owned cooperatives and farmer groups. Recommendations for addressing the defined challenges are discussed.

     

    Keywords: Cooperative economics; cooperative; women; farmer groups; Tra Vinh.

     

    Received: 02/5/2019; Revised: 16/5/2019; Approved: 06/6/2019

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         109

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 109 – 113

     

    1. Giới thiệu

     

    Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long [1], với tổng diện tích tự nhiên là 2.358,2 km2, và mật độ dân số bình quân là 441 người/km2 [2]. Tính đến cuối năm 2017, tổng dân số của toàn tỉnh là 1.046.121 người. Trong đó, dân số sống tại khu vực nông thôn chiếm 82,3%, và dân số là người dân tộc thiểu số chiếm 31,0%, chủ yếu là người Khmer

     

    • Tổng số lao động đang làm việc là 615,658 người (chiếm 58,9% dân số toàn tỉnh). Trong đó, tỷ lệ số lao động đã qua đào tạo chiếm 55,0% [3]. Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, toàn tỉnh có 274.064 hộ dân, tỷ lệ hộ cận nghèo và nghèo còn khá lớn, chiếm tỷ lệ lần lượt là 8,66 và 8,34% [4].

    Là một tỉnh nghèo, sinh kế của nhiều hộ dân của tỉnh Trà Vinh phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Chính vì thế, các mô hình kinh tế hợp tác (KTHT) thông qua HTX (hợp tác xã) và THT (tổ hợp tác) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của toàn tỉnh. Trong đó, số lượng HTX và THT do nữ làm chủ còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ (với tổng số 3 HTX và 26 THT) trong tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh [5]. Hiện nay, chính quyền địa phương đang trú trọng đến vấn đề bình đẳng giới và dân tộc trong các hoạt động phát triển KT-XH của tỉnh. Do đó, nghiên cứu được triển khai nhằm mục đích đánh giá thực trạng của KTHT của toàn tỉnh và đặc điểm của các HTX và THT do nữ làm chủ, cũng như những khó khăn và thách thức hiện tại, nhằm đưa ra những kiến nghị, đề xuất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh nói riêng và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.1. Phương pháp thu thập thông tin

     

    Nhóm nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng thông qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phỏng vấn cá

     

    nhân và thảo luận nhóm. Số liệu được sử dụng dựa trên 2 nguồn:

     

    • Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tỉnh Trà Vinh, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Trà Vinh, Tổng cục thống kê, Liên Minh HTX Trà Vinh, và Bộ KH&ĐT, …
    • Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp gồm 02 lãnh đạo của Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, đồng thời điều tra, khảo sát và thảo luận nhóm với 12 đại diện THT và 03 HTX do phụ nữ làm chủ năm 2018.

    Nội dung nghiên cứu gồm: thực trạng của KTHT tại tỉnh Trà Vinh; đặc điểm của các HTX và THT do phụ nữ làm chủ; phân tích những khó khăn, tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh của các mô hình KTHT cho tỉnh Trà Vinh.

     

    2.2. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 20, SPSS Inc., Chicago, IL, USA).

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Khái quát về tình hình kinh tế hợp tác tại tỉnh Trà Vinh

     

    Số lượng HTX tại tỉnh Trà Vinh có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2017 thành lập mới 28 HTX với 1.849 thành viên (TV). Tổng số HTX của tỉnh là 121 HTX, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau với số lượng HTX tăng dần như sau: Điện (2 HTX, với 43 TV), tiểu thủ công nghiệp (6 HTX, 52 TV), thương mại, dịch vụ (7 HTX, 151 TV), vận tải (9 HTX, 481 TV), xây dựng (11 HTX, 95 TV), thuỷ sản (12 HTX, 1.218 TV), quỹ tín dụng (16 HTX, 20.807 TV), và nông nghiệp (58 HTX, 3.280 TV). Tổng số vốn điều lệ của HTX tỉnh Trà Vinh tính đến 31/12/2017 là 134.521.400 đồng, trong đó HTX hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có vốn cao nhất (chiếm 22,5%), và ít nhất là lĩnh vực điện (chiếm 0,54%).

     

    110                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    Kết quả phân loại về hiệu quả hoạt động của 93 HTX năm 2017 (không tính đến 28 HTX mới thành lập) cho thấy, có 35 HTX khá (chiếm 37,63%), HTX giỏi không có, còn lại là trung bình (34,41%) và kém (27,96%). Kết quả trên phần nào phản ánh về hiệu quả hoạt động của các HTX trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế.

     

    Về THT, tính đến cuối năm 2017 toàn tỉnh Trà Vinh có tới 1.841 THT với 37.344 thành viên (TV) tham gia (35.497 THT nông-lâm-ngư-diêm nghiệp và 1.847 THT phi nông nghiệp), trong đó có tới 136 THT được thành lập mới, với 1.677 TV.

     

    Trong các lĩnh vực hoạt động của THT thì hoạt động động trong lĩnh vực trồng trọt/cây ăn quả là nhiều nhất, với 1.175 THT (63,8%), tiếp đến là THT chăn nuôi (252 THT, 13,4%), thủy sản (172 THT, 9,3%) và THT hoạt động trong lĩnh vực Thương mại và tiểu thủ công nghiệp chiếm ít nhất với 69 THT (3,8%). Còn lại là các THT hoạt động ở các lĩnh vực khác (173 THT, 9,4%) [5].

     

    Kết quả cho thấy, đa số các HTX và THT trên địa bàn tỉnh hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Số lượng THT gấp nhiều lần so với số lượng HTX, qua đó đã góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình tại địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của cả HTX và THT nhìn chung còn thấp. Đặc biệt, hoạt động của THT còn mang tính đơn lẻ, chưa có sự liên kết vững chắc, thiếu sự hướng dẫn, tư vấn của chính quyền cơ sở, chính sách hỗ trợ cho THT còn rất ít. Do đó, hoạt động chưa đạt hiệu quả cao. Trong năm 2017 toàn tỉnh có tới 196 THT nông – lâm – ngư – diêm nghiệp (với 1.931 TV) đã bị giải thể.

     

    3.2. Đặc điểm của HTX và THT do nữ làm chủ tại tỉnh Trà Vinh

     

    Trong tổng số 15 đơn vị do phụ nữ làm chủ được phỏng vấn (gồm 3 HTX và 12 THT), có 3 phụ nữ là người Khmer (chiếm 20%). Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh của HTX và THT do nữ làm chủ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp – thủy sản (chiếm 71,4%).

     

     

    Hình 1. Lĩnh vực ngành nghề sản xuất, kinh

    doanh của HTX và THT

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    Ghi chú: NN-TS: Nông nghiệp & Thủy Sản; CN-XD:

    Công nghiệp & xây dựng; TM-DV: Thương mại &

    dịch vụ. Đơn vị tính: %.)

     

    Nhìn chung, trình độ học vấn của lãnh đạo các HTX và THT còn hạn chế, với 85,7% có trình độ học vấn từ cấp 1 đến cấp 3. Chỉ có 14,3% có trình độ Trung cấp và Đại học. Đồng thời, tỷ lệ lãnh đạo HTX và THT đã được tham gia các khóa đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ quản lý HTX/THT còn thấp, mới chiếm 42,9%.

     

    Trong số HTX và THT được điều tra, có tới 86,7% đơn vị mới được thành lập và vận hành trong vòng 1-3 năm. Khi được hỏi về lý do thành lập HTX và THT, chỉ có 33,3% đơn vị trả lời là thành lập trên tinh thần tự nguyện và tự thành lập; 26,7% thành lập theo chỉ đạo và hỗ trợ của cơ quan/tổ chức địa phương; và có tới 40,0% thành lập do có sự hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ và tài trợ vốn nước ngoài. Kết quả này cho thấy, phụ nữ có năng lực và chủ động thành lập các HTX/THT còn rất hạn chế, phần lớn vẫn còn được hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước. Ngoài ra, tỷ lệ HTX/THT có thành viên tham gia tự nguyện có góp vốn chỉ chiếm 60,0%, còn lại là không góp vốn (20,0%) hoặc có sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài (chính quyền địa phương hoặc tổ chức phi chính phủ).

     

    Các HTX và THT do nữ làm chủ có quy mô và trình độ kinh doanh còn nhiều hạn chế, với số hộ tham gia còn ít, trung bình 18,8 (± 3,0) hộ thành viên tham gia. Đồng thời, tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh còn rất thấp, trung bình 117,7 (± 44,0) triệu đồng/năm.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          111

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 109 – 113

     
             
       

    Bảng 1. Các thông tin chung về các HTX và THT do phụ nữ làm chủ tại Trà Vinh

       
                   
     

    TT

    Thông tin chung của HTX/THT

    Trung bình

    S.E.

    Tối thiểu

    Tối đa

     

    1

    Số người trong ban quản lý (người)

    3,0

    0,195

    2

    5

     

    2

    Số thành viên nữ trong ban quản lý (người)

    2,3

    0,300

    1

    4

     

    3

    Số hộ tham gia (hộ)

     

    18,8

    3,029

    9

    52

     

    4

    Số thành viên được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ (người)

    12,3

    2,168

    0

    32

     

    5

    Tổng doanh thu/năm (triệu đồng)

    117,7

    44,016

    36

    300

     

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2018.

     

    (Ghi chú: n = 15; S.E là sai số chuẩn của trung bình mẫu; thành viên nữ không nằm trong ban quản lý

     

    nhưng nếu có vốn điều lệ từ 51% trở lên vẫn được coi là HTX/THT do nữ làm chủ).

     

    3.3. Phân tích những khó khăn, tồn tại của HTX và THT tại tỉnh Trà Vinh

     

    3.3.1. Khó khăn, tồn tại của HTX và THT

     

    Theo nhận định của lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh Trà Vinh, mặc dù HTX và THT có xu hướng tăng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên số đơn vị hoạt động thực sự hiệu quả và bền vững còn thấp, tỷ lệ HTX và THT giải thể hàng năm cũng còn khá cao. Trên toàn tỉnh, chỉ có khoảng 6 HTX là vận hành có hiệu quả thực sự theo mô hình doanh nghiệp nông nghiệp. Điều này có thể cho thấy, trình độ quản lý và vận hành của các HTX hiện nay còn rất hạn chế. Tỷ lệ HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu kém còn cao, vốn tự có thấp, đồng thời chưa có nhiều HTX xây dựng được thương hiệu sản phẩm.

     

    Mặc dù hoạt động theo hình thức tự chủ, tự nguyện tham gia HTX và THT, song nội lực vẫn chưa phát huy tối đa, vẫn còn nhiều đơn vị có tư tưởng trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Nhìn chung, trình độ cán bộ quản lý HTX tuy được nâng lên, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, tỷ lệ cán bộ quản lý HTX và THT chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn khá cao. Các đơn vị còn nhiều lúng túng trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất, kết nối chuỗi giá trị, và phát triển thị trường.

     

    Hoạt động kinh doanh, dịch vụ của HTX và THT là đa ngành nghề, tuy nhiên quy mô hoạt động còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng của các loại hình chưa đồng đều, chưa tạo được sự liên kết bền vững.

     

    3.3.2. Khó khăn và tồn tại của THX, THT do phụ nữ làm chủ

     

    Năng lực nội tại của các HTX và THT do nữ làm chủ của tỉnh Trà Vinh còn nhiều hạn chế, thể hiện ở trình độ học vấn, năng lực quản lý, quy mô sản xuất và hiệu quả kinh doanh.

     

    Các khó khăn của các HTX và THT do nữ làm chủ ở tỉnh Trà Vinh thể hiện ở các khía cạnh sau theo trình tự ưu tiên:

     

    1. Thiếu thị trường đầu ra cho sản phẩm;
    1. Nguồn vốn và tiếp cận vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh còn khó khăn;
    1. Giá cả thị trường thấp và không ổn định;
    1. Kiến thức về khoa học, kỹ thuật của các thành viên HTX và THT còn yếu;
    1. Phương tiện vận chuyển vật tư và sản phẩm chưa chủ động.

    Ngoài ra, năng lực cạnh tranh các sản phẩm của HTX và THT do nữ làm chủ còn yếu, đầu vào phục vụ sản xuất (vật tư, trang thiết bị, giống,…) chưa chủ động, thời tiết bất thường dẫn đến nhiều rủi ro trong sản xuất, trình độ của các TV không đồng đều, quan điểm bất đồng giữa các TV, thủ tục thành lập HTX và THT còn phức tạp.

     

    Hơn nữa, các yếu tố về giới là một trong những hạn chế và rào cản đối với phụ nữ làm chủ HTX và THT. Kết quả thảo luận nhóm cho thấy, các hạn chế sau của phụ nữ so với năm giới:

     

    • Yếu tố năng lực tài chính: không có vốn;
    • Yếu tố văn hóa và giới: chăm sóc gia đình và con cái; nam giới quyết định mọi việc trong gia đình;

    112                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Hà Minh Tuân và Đtg                   Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 109 – 113

     

    • Năng lực và đặc điểm phụ nữ: trình độ bản thân; ngại va chạm và thiếu tự tin trong giao tiếp; sợ rủi ro trong kinh doanh và vay nợ; và yếu tố sức khỏe.

    Mặt khác, cơ chế, chính sách hỗ trợ HTX/THT cũng chưa thực thông thoáng và khuyến khích HTX/THT phát triển tại địa phương. Đây cũng là những khó khăn trở ngại cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế này.

     

    Bảng 2. Quan điểm về chính sách ưu tiên HTX/THT do phụ nữ và phụ nữ người dân tộc làm chủ

     

    Quan điểm

    Số người

    Tỷ lệ (%)

     

    trả lời

         
     

    Hoàn toàn đồng ý

    2

    13,3

     

    Đồng ý

    3

    20,0

     

    Đồng ý một phần

    7

    46,7

     

    Không đồng ý

    3

    20,0

     

    Tổng

    15

    100,0

    (Nguồn: Tổng hợp điều tra của tác giả, 2018)

     

    Mặc dù tỉnh đã có chủ trương khuyến khích vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, tuy nhiên vẫn chưa có các chính sách đặc thù trong việc hỗ trợ các HTX/THT do nữ làm chủ và nữ là người dân tộc làm chủ tại địa phương.

     

    4. Kết luận

     

    Với đặc thù là tỉnh có tới 82,3% dân số sống

     

    • nông thôn, hoạt động sản xuất nông nghiệp thông qua các mô hình KTHT đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KT-XH của toàn tỉnh. Số lượng HTX và THT trên toàn tỉnh có xu hướng tăng lên về số lượng, do đó chứng minh vai trò của KTHT ở Trà Vinh ngày càng cao. Tuy nhiên, đa số HTX và THT hiện nay còn hạn chế nhiều về năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh, hoạt động gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn mang tính thụ động và hiệu quả chưa cao.

    HTX và THT do nữ làm chủ chiếm tỷ lệ còn rất thấp so với tổng số HTX và THT trên toàn tỉnh. Trình độ học vấn, năng lực quản lý, vận hành và quy mô sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Đồng thời, các HTX và THT do nữ làm chủ còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn sản xuất, thị trường đầu ra cũng như năng lực về

     

    khoa học kỹ thuật. Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương còn ít, đồng thời chưa có những chính sách đặc thù cho nhóm phụ nữ và phụ nữ người dân tộc.

     

    Do đó, chính quyền địa phương cần có những chính sách và hình thức hỗ trợ sau nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của KTHT trong phát triển KT-XH và bình đẳng giới tại địa phương:

     

    • Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh cho các HTX và tổ hợp tác trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường các hỗ trợ về chuyển giao khoa học công nghệ và trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Tìm kiếm và kết nối thị trường đầu ra cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh, đồng thời hỗ trợ xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm địa phương.
    • Xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX kiểu mới nhằm nâng cao chất lượng các HTX hiện có, đồng thời khuyến khích các THT phát triển thành các HTX.
    • Tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn, và các chính sách đặc thù hỗ trợ và khuyến khích các HTX và THT do nữ làm chủ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • MPI, “Giới thiệu tổng quan về tỉnh Trà Vinh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư”, http://www. gov.vn/Pages/tinhthanhchitiet.aspx?idTin hThanh=17, 2017.
    • GSO, Dữ liệu thống kê về diện tích tự nhiên và mật độ dân số bình quân tỉnh Trà Vinh năm 2016, Tổng cục Thống kê, 2016.
    • Sở KH&ĐT, Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND tỉnh về nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2017 và Kế hoạch 2018 (Số 08/BC-UBND tỉnh Trà Vinh, ngày 18/1/2018),
    • GSO, Dữ liệu thống kê về dân số, lao động tỉnh Trà Vinh năm 2017, Tổng cục Thống kê, 2017.
    • LM HTX TV, Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hoạt động của LM HTX tỉnh Trà Vinh năm 2017, nhiệm vụ trọng tâm năm 2018, Báo cáo số

    138-BC-LMT ngày 29/12/2017, 2017.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          113

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    114                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Kinh-t%E1%BA%BF-t%C6%B0-nh%C3%A2n-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BB%8Bnh-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 165 – 169

    e-ISSN: 2615-9562

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

     

    Ngô Cẩm Tú

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế tư nhân ở nước ta còn bộc lộ một số hạn chế. Để nghiên cứu rõ hơn về kinh tế tư nhân, bên cạnh việc chỉ ra những thành tựu cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân, trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá những hạn chế của kinh tế tư nhân trong những năm qua. Từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

     

    Từ khóa: Kinh tế tư nhân; thành tựu; hạn chế; kinh tế thị trường; định hướng XHCN.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 17/6/2019; Ngày duyệt đăng: 18/6/2019

     

    THE PRIVATE ECONOMY IN THE SOCIALIST MAKET

    ECONOMY IN VIETNAM TODAY

     

    Ngo Cam Tu

    TNU – University of Information Technology and Communication

     

    ABSTRACT

     

    After more than 30 years of renovation, the private economy in Vietnam has been constantly developing, making a valuable contribution to the country’s renovation and socio-economic development. However, compared to the requirements of the period of accelerating industrialization and modernization associated with the development of knowledge economy and international economic integration, the private economy in the country also reveals some limitations. In order to study the private economy thorougly, besides generalizing the process of innovation of the Party’s thinking about the private economy, the author focused on assessing the status of the private economy in recent years. Since then, several initial solutions are proposed to overcome the limitations so that the private economy really becomes the driving force of the socialist-oriented market economy in Vietnam today.

     

    Keywords: Private economy; achievements; limit; market economy; socialist orientation.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 17/6/2019; Approved: 18/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         165

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân. Việc thừa nhận sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một bước phát triển trong tư duy của Đảng. Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế tư nhân được coi là kinh tế phi xã hội chủ nghĩa không có vai trò động lực thúc đẩy nền kinh tế, là đối tượng bị cải tạo và xóa bỏ. Việc nóng vội xóa bỏ kinh tế tư nhân là một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất và dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Bắt đầu từ Đại hội VI (12-1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện Đảng. Từ năm 1986 đến năm 1998, Đảng ta đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế tư nhân, tuy nhiên về chính sách và luật pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế này vẫn còn nhiều hạn chế. Đại hội IX (1-2001), Đảng ta khẳng định “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.[1] Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”[2]. Đại hội XI (năm 2011) xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân. Đại hội XII (năm 2016) của Đảng khẳng định “một động lực quan trọng” của nền kinh tế và nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[3].

     

    Như vậy, để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế cần nghiên cứu, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổng hợp… để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu.

     

    3. Nội dung

     

    3.1. Khái quát những thành tựu cơ bản của kinh tế tư nhân trong thời gian qua

     

    • Một là, trong những năm qua kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển và có những đóng góp ngày càng lớn mạnh vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100.000 doanh nghiệp thành lập mới. Trong hai năm 2017 – 2018 có gần 259.000 doanh nghiệp được thành lập mới. Kinh tế tư nhân đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước. Các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế; các doanh nghiệp mở rộng thị trường, liên kết đầu tư sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
    • Hai là, kinh tế tư nhân phát triển trên nhiều phương diện; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có một số những doanh nghiệp tư nhân với quy mô rất lớn như: Trường Hải, Vinamilk, Hòa Phát, Vingroup… với những bước tiến mạnh mẽ về đầu tư và công nghệ. Ví dụ như: Tập đoàn SunGroup đầu tư xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn hay tập đoàn Vinfast cho ra mắt dòng sản phẩm xe hơi đầu tiên ở Việt Nam…

    166                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Ba là, kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá và chiếm tỷ trọng 39-40% GDP; năm 2018 đóng góp 42,1% GDP của nền kinh tế. Sự tăng trưởng và mở rộng ngày càng lớn của khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước.
    • Bốn là, kinh tế tư nhân tạo công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống cho nhân dân đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động trong nước và quốc tế. Thêm vào đó, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân còn đóng góp to lớn vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, các công trình phúc lợi xã hội… góp phần đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.

     

    • Năm là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.

    3.2. Những hạn chế cơ bản của kinh tế tư nhân

     

    Bênh cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, kinh tế tư nhân còn có một số những hạn chế, những đóng góp của kinh tế tư nhân chưa tương xứng với tiềm năng thực tế. Biểu hiện cụ thể như sau:

     

    • Thứ nhất, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng chưa có có sự thay đổi như kỳ vọng. Trong những năm qua, Nhà nước ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân và có khá nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp dân doanh nhưng sức sống của doanh nghiệp tư nhân khá èo uột. Hàng năm có gần một trăm ngàn doanh nghiệp được thành lập mới nhưng khoảng 50% số đó bị giải thể hoặc phá sản. Theo Báo cáo thường niên doanh nghiệp năm 2017/2018 của Phòng Công nghiệp và thương

    mại Việt Nam (VCCI): năm 2017 có 126.859 doanh nghiệp doanh nghiệp đăng ký thành lập thì có 60.553 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 47.8%; năm 2018 có trên 131.200 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thì có 90.651 doanh nghiệp (chiếm 69%) tạm ngừng hoạt động, trong đó 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể. Tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP gần như không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2016, thậm chí còn có xu hướng giảm (Bảng 1).

     

    • Thứ hai, quy mô của kinh tế tư nhân phổ biến là nhỏ và siêu nhỏ. Do đó, năng lực đầu tư cho công nghệ và khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Nếu tính cả các hộ kinh doanh cá thể thì có tới 90% cơ sở kinh tế tư nhân có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng. Riêng trong khối doanh nghiệp thì lượng vốn bình quân 1 doanh nghiệp tư nhân khoảng 27 tỷ đồng, trong khi vốn của doanh nghiệp nhà nước là 2.616 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 372 tỷ đồng.
    • Thứ ba, năng lực quản lý và tổ chức sản xuất còn lạc hậu, không chuyên nghiệp, mang nặng tính gia đình; chưa thực sự theo hướng hiện đại để bắt kịp xu thế của sản xuất kinh doanh trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

     

    • Thứ tư, chất lượng sản phẩm, dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Sản phẩm của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đa số là đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước. Các doanh nghiệp của Việt Nam hiện chưa thực sự mạnh dạn đầu tư công nghệ, kinh doanh với công nghệ thô sơ mang tính tự phát do đó sức cạnh tranh về giá cả và chất lượng của sản phẩm Việt Nam còn hạn chế so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia…

    Bảng 1. Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong GDP giai đoạn 2000 – 2016

    Đơn vị tính: %

    Năm

    2000

    2005

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    Kinh tế Nhà nước

    Kinh tế tập thể

    Kinh tế tư nhân

     

    Kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài

     

    38,52

    37,62

    29,34

    29,01

    29,39

    29,01

    28,73

    28,69

    28,50

    8,56

    6,65

    3,99

    3,98

    4,00

    4,03

    4,04

    4,01

    3,95

    39,62

    41,47

    38,97

    39,89

    40,62

    39,49

    39,29

    39,13

    39,40

    13,28

    15,16

    15,15

    15,66

    16,04

    17,36

    17,89

    18,07

    18,20

    Nguồn: Kinh tế 2016 – 2017: Việt Nam và thế giới, Thời báo kinh tế Việt Nam, tr.102

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          167

     

    Ngô Cẩm Tú                                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 165 – 169

     

    • Thứ năm, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp: Hiệu suất sinh lời trên tài sản (ROA), hiệu suất sinh lời trên vốn (ROE), hiệu suất sinh lời trên doanh thu (ROS) của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng ¼ so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bằng ½ so với doanh nghiệp nhà nước. Các chỉ số trên trong năm 2015 như sau:

    Bảng 2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh

    của DN theo loại hình kinh tế

     

    Đơn vị tính: %

    Chỉ số

    Kinh tế tư

    Kinh tế

    Kinh tế có

     

    nhân

    nhà nước

    vốn ĐTNN

    ROA

    2,9

    6,6

    12,9

    ROE

    5,7

    13,9

    24,8

    ROS

    4,6

    8,0

    10,6

    Nguồn: Tạp chí Lý luận chính tri, số 9/2017, tr.77

     

    • Thứ sáu, có nhiều yếu tố văn hóa mà đội ngũ các chủ doanh nghiệp tư nhân còn thiếu: thiếu tính liên kết, tính cộng đồng, hỗ trợ nhau trong kinh doanh; thiếu tầm nhìn dài hạn; trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh chưa được coi trọng; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc trong kinh doanh. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII (Nghị quyết số 10-NQ/TW) đã chỉ rõ: “Tình trạng vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Việc sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm”, gây hậu quả xấu về kinh tế – xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

    3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Về phía nhà nước:

     

    • Môi trường kinh doanh còn hạn chế, khu vực kinh tế tư nhân còn nhiều rào cản. Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2019 môi trường kinh doanh của Việt Nam

    xếp hạng 69/190 nền kinh tế được khảo sát.

     

    • Hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

    Về nội tại khu vực kinh tế tư nhân:

     

    • Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực quản lý có trình độ thấp. Phần lớn các chủ doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về lĩnh vực quản lý và quản trị doanh nghiệp.
    • Thiếu vốn: Các cơ sở kinh tế tư nhân chủ yếu hoạt động nhờ vốn đi vay nhưng lại không đủ các điều kiện vay vốn từ các ngân hàng thương mại do không có chiến lược kinh doanh dài hạn, không đủ uy tín với các tổ chức, tín dụng, thủ tục vay vốn phức tạp, lãi suất cao.
    • Trình độ công nghệ lạc hậu: Hiện nay, máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất mà các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đang sử dụng tụt hậu so với mức trung bình của thế giới khoảng 40 – 50 năm. Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ thấp, hệ số công suất sử dụng máy móc, thiết bị chỉ đạt khoảng

    25 – 30%.

     

    • Chủ thể sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân chưa có triết lý kinh doanh sáng rõ; thiếu tinh thần tự tôn dân tộc.

    3.4. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

     

    Về phía nhà nước:

     

    • Hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách, môi trường tâm lý xã hội trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân.
    • Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật. Đảm bảo cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường.

    168                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Ngô Cẩm Tú                                    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 165 – 169

     

    • Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động.
    • Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực đất đai, vốn, công nghệ. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thay đổi chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài.
    • Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
    • Thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
    • Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực.
    • Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
    • Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    • Đổi mới nội dung, phương thức tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân.
    • Các cấp ủy đảng tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương nhất quán trong phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân.
    • Cùng với việc quán triệt, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các địa phương đều xác định lấy hiệu quả hoạt động để vận động, thuyết phục chủ doanh nghiệp và người lao động tích cực tham gia vào tổ chức, thành lập và duy trì hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể chính trị – xã hội.

    Về phía các chủ thể kinh tế tư nhân:

     

    • Trước hết, các chủ thể kinh tế tư nhân cần nhận thức rằng: động lực của mọi sự phát triển nằm ở bên trong sự vật. Vì vậy để phát triển thì các chủ thể phải tự thân vận động, không nên trông chờ vào sự hỗ trợ ngày càng lớn từ phía nhà nước. Môi trường vĩ mô tác động tới khu vực kinh tế tư nhân là yếu tố khách quan và bình đẳng với mọi chủ thể trong cùng khu vực kinh tế. Vì vậy chỉ có những chủ thể thông minh, bản lĩnh mới có thể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường.
    • Thứ hai, phải rất coi trọng việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt: về lý luận chính trị, về chuyên môn nghề nghiệp, về kỹ năng quản lý và về các kỹ năng mềm khác (kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, khả năng ngoại ngữ…).
    • Thứ ba, phải xây dựng cho mình một triết lý kinh doanh thông thái, phù hợp với thời đại và phải kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp với việc thực hiện trách nhiệm xã hội.

    4. Kết luận

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Để phát huy vai trò đích thực của kinh tế tư nhân cần đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế trong những năm qua và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó. Mặt khác phải có sự đồng tâm, nhất trí của tất cả các lực lượng xã hội để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, phần II, tr. 25.
    • Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

    XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội,

    2016, tr. 108.

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          169

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    170                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-kinh-t%E1%BA%BF-trong-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-qua-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%A1c-Li%C3%AAu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Bạc Liêu)

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 199 – 203

    e-ISSN: 2615-9562

     

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

    (QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TỈNH BẠC LIÊU)

     

    Đào Thị Bích Hồng

    Trường Đại học Bách khoa – ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

     

    TÓM TẮT

     

    Một trong những nội dung cốt lõi của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế cả nước nói chung và mỗi địa phương nói riêng. Bạc Liêu là một tỉnh ven biển, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có ưu thế trong phát triển nông nghiệp. Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bạc Liêu đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Quá trình đó đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế. Từ góc độ lịch sử kinh tế, bài viết này nhằm làm sáng tỏ những yếu tố tác động và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu từ năm 1997 đến năm 2018, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương khác trong cả nước.

     

    Từ khóa: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; kinh tế; công nghiệp hóa; hiện đại hóa; tỉnh Bạc Liêu.

     

    Ngày nhận bài: 08/5/2019; Ngày hoàn thiện: 22/6/2019; Ngày duyệt đăng: 24/6/2019

     

    SHIFTING THE ECONOMIC STRUCTURES IN THE PERIOD OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION (RESEARCH BASED ON EMPIRICAL EVIDENCES IN BAC LIEU PROVINCE)

     

    Dao Thi Bich Hong

    VNUHCM – University of Science and Technology

     

    ABSTRACT

     

    One of the core contents regarding the process of developing social-economy and enhancing the industrialization and modernization is the economic structure formation and transformation of the country, in general and of each local, in particular. Bac Lieu is a coastal province belonging to the Mekong Delta area, which posseeses remarkable advantages in agricultural development. In the process of industrialization and modernization, Bac Lieu has gradually and effectively shifted its economic structure, especially the agricultural economic structure. The process has achieved some certain results. However, several limitations are still remained. From an economic – historical perspective, this article aims to clarify the factors affecting as well as the process of the economic restructuring in Bac Lieu province from 1997 to 2018, and eventually remark some prominent and noteworthy experiences for the economic restructuring of the country.

     

    Keywords: Shifting the economic structures; economic; industrialization; modernization; Bac Lieu province.

     

    Received: 08/5/2019; Revised: 22/6/2019; Approved: 24/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                         199

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Bạc Liêu là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Tổ quốc, được tái lập (ngày 1-1-1997). Nền kinh tế của Bạc Liêu trước ngày tái lập tỉnh mang nặng tính chất thuần nông, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, kết cấu hạ tầng yếu kém, hệ thống giao thông nông thôn, nguồn lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… Đó là đặc điểm quy định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Bạc Liêu phải bắt đầu từ nông nghiệp.

     

    2. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Để làm rõ quá trình tỉnh Bạc Liêu tiến hành chuyến dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2018, trên cơ sở khảo cứu tài liệu, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước, bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận lịch sử và các phương pháp phân tích chính là thống kê mô tả, tổng hợp để làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu bao gồm những yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những thành tựu, hạn chế; và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử làm cơ sở cho các nhà khoa học và các cấp quản lý tham khảo đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi địa phương và trong cả nước.

     

    3. Kết quả và bàn luận

     

    3.1. Từ chủ trương phát triển nền nông nghiệp toàn diện đến thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững

     

    Xuất phát từ thực tiễn Bạc Liêu những năm đầu mới được tái lập, Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (1997) xác định nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Phát triển nhanh, vững chắc và toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trên cơ sở gắn chặt với thị trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh” [1].

     

    Do xuất phát điểm thấp, lại là một tỉnh thuần nông nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bạc Liêu trong những năm 1997-2000 là tập trung vào phát triển nông nghiệp, xem đây là mặt trận quan trọng nhất để thúc đẩy sản xuất. Biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh tăng năng suất, áp dụng tiến bộ của khoa học – công nghệ vào sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế trên từng đơn vị diện tích. Coi nông nghiệp là hướng chính để tạo bước chuyển biến cho nền kinh tế là sự lựa chọn đúng. Song với một tỉnh ven biển, để khai thác được lợi thế của từng vùng, bên cạnh trồng lúa thì nuôi trồng thủy sản cũng là sự lựa của tỉnh Bạc Liêu: “Tỉnh Bạc Liêu không thể tiến nhanh, tiến mạnh nếu chỉ độc canh cây lúa nước mà phải nhanh chóng chuyển đổi từ cây lúa, cây màu và những cây không có giá trị kinh tế cao sang nuôi trồng thủy sản” [2]. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của kinh tế thủy sản trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đại hội lần thứ XII (2001) và XIII (2006) của Đảng bộ tỉnh đều khẳng định: Tập trung chỉ đạo, đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa các loại thủy sản, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, bảo đảm phát triển bền vững và hiệu quả…” [3].

     

    Gắn với sự phát triển bền vững, theo chiều sâu cùng với khai thác hiệu quả hơn nữa lợi thế của địa phương, Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV (2011) đặt ra mục tiêu tập trung “đầu tư khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là kinh tế biển, du lịch, sản xuất nông nghiệp; đẩy nhanh phát triển công nghiệp, đặc biệt là những dự án trọng điểm để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh” [4].

     

    Để thực hiện khai thác theo chiều sâu tiềm năng, thế mạnh của Bạc Liêu, nhất là kinh tế biển và sản xuất nông nghiệp, Đại hội Đảng bộ lần thứ XV (2016), đặc biệt lưu ý đến giải pháp: “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng

     

    200                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    dịch vụ, công nghiệp; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại; phát triển mạnh dịch vụ – du lịch; phát triển đô thị hài hòa với nông thôn” [5].

     

    Như vậy, nếu như những năm 1997-2000, hướng chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng vừa khai hoang, mở rộng diện tích, vừa tăng vụ, thâm canh, tăng năng suất; trong những năm 2001-2010, hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là từng bước đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; đến những năm 2011-2015, phát triển kinh tế biển được ưu tiên hàng đầu; thì những năm 2015-2020, chủ trương thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế của Bạc Liêu theo hướng phát huy tối đa lợi thế, phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng hiệu quả, bền vững, xây dựng Bạc Liêu thành tỉnh có nền nông nghiệp công nghệ cao.

     

    3.2. Tập trung phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, tạo sự phát triển hiệu quả cho kinh tế Bạc Liêu

     

    Trên cơ sở ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò quan trọng kinh tế tư nhân, các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016) đều chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Đại hội X của Đảng (năm 2006) khẳng định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” [6]. Đặc biệt, Đại hội XII (năm 2016) nhấn mạnh chủ trương: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” [7].

     

    Bạc Liêu là một tỉnh với xuất phát điểm sản xuất nhỏ, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy việc phát triển các thành phần kinh tế, khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển

     

    kinh tế của tỉnh là yêu cầu cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn của Bạc Liêu, Đảng bộ tỉnh khẳng định: “Nhà nước khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, quản lý, kinh doanh tự đầu tư hoặc liên kết, liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển ngành, nghề dịch vụ, công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế trang trại, sử dụng nhiều lao động” [8].

     

    Xác định là một tỉnh nằm xa các trung tâm kinh tế lớn, nên việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, trong những năm qua, Bạc Liêu xem việc phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của địa phương.

     

    Tạo điều liện cho kinh tế tư nhân phát triển, tỉnh Bạc Liêu đã tích cực cải cách hành chính, rà soát, loại bỏ những thủ tục không phù hợp, không cần thiết; áp dụng cơ chế “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện giao dịch.

     

    Để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số cạnh tranh, phát huy nguồn nội lực, ngày 28-6-2012, Ban Thường vụ tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; ngày 15-8-2012, ban hành Kết luận số 09-KL/TU về một số chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh năm 2012 và những năm tiếp theo… Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, Bạc Liêu đã có tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp để nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh; cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh hấp dẫn, thông thoáng, đơn giản hóa các hồ sơ, thủ tục hành chính; tháo gỡ khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

     

    Nhờ quyết tâm khai thác mọi nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt thu hút nguồn lực từ kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân của tỉnh

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                          201

     

    Đào Thị Bích Hồng                      Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN               201(08): 199 – 203

     

    có sự chuyển biến mạnh mẽ. Chỉ số cạnh tranh tăng lên hàng năm. Thu hút đầu tư trong những năm 2010-2015 tăng 55 lần so với những năm 2006-2010*.

     

    3.3. Phát triển kinh tế biển, khai thác lợi thế của Bạc Liêu là bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng

     

    Bạc Liêu là tỉnh có đường bờ biển khoảng 56 km, vùng lãnh hải rộng hơn 40 nghìn km2, diện tích đất nuôi trồng thủy sản lớn, tài nguyên từ biển, tiềm năng gió… Vì vậy phát triển kinh tế biển cũng là lợi thế của Bạc Liêu. Để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từ biển, phấn đấu trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển và làm giàu từ biển, ngày 24-4-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra Nghị quyết 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A đến năm 2015 và những năm tiếp theo. Nghị quyết nhấn mạnh những nhiệm vụ Bạc Liêu cần tập trung vào giải quyết như: (1) Đầu tư xây dựng các công trình, dự án động lực để làm đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng và cả tỉnh; (2) Phát triển nuôi trồng thủy sản; (3) Khai thác, đánh bắt hải sản; (4) Phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế biển… [9].

     

    Nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự đồng thuận của người nông dân, tình hình phát triển phát triển kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn luôn duy trì ở mức cao. Năm 2017, GDP thực tế (GRDP) nông, lâm, thủy sản đạt 10.545 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), chiếm 42% GRDP toàn tỉnh. Từ một nền nông nghiệp độc canh cây lúa, mang tính “tự cung tự cấp”, Bạc Liêu đã hình thành vùng sản xuất mà chủ lực là cây lúa gồm 68.000 ha

     

    • Trong năm 2011-2015, Bạc Liêu thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 98 dự án về phát triển kinh tế – xã hội, tổng số vốn đầu tư hơn 20 ngàn tỷ đồng. Tăng gấp 55 lần so với 2006-2010 (Tỉnh ủy Bạc Liêu, (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, lưu tại Văn phòng Tỉnh ủy Bạc Liêu, tr. 127).

    và vùng sản xuất tôm nước lợ với hơn 124.000 ha; chuyển đổi gần 2/3 diện tích đất sản xuất, trong đó chuyển đổi gần 60.000 ha đất lúa sang nuôi trồng thủy sản để thích ứng biến đổi khí hậu. Nhiều mô hình sản xuất mang lại hiệu quả rất cao như mô hình nuôi tôm “sạch”, nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính, nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, quảng canh cải tiến kết hợp tôm – cua – cá, mô hình lúa – tôm… Qua đó, sản phẩm sạch trong sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng được đòi hỏi khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng.

     

    Những chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần nâng cao đời sống cho người dân Bạc Liêu. Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người ở vùng nông thôn đạt 50 triệu đồng/năm; kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn được quan tâm đầu tư khá đồng bộ; chính sách an sinh xã hội và công tác giảm nghèo được quan tâm thực hiện tốt, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,3% [10].

     

    Bên cạnh những ưu điểm và thành công, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bạc Liêu cũng còn một số hạn chế nhất định:

     

    • Trong quá trình thực hiện quy hoạch sản xuất đang bộc lộ một số bất hợp lý giữa thực tế sản xuất với quy hoạch được duyệt; (2) Sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản của tỉnh còn ở trình độ thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu bền vững do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến bất lợi, dịch bệnh gây hại trên cây trồng, vật nuôi, thị trường không ổn định, giá cả nông sản, thực phẩm luôn biến động bất lợi cho người dân; (3) Sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng lại phân tán, manh mún, không gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản, thực phẩm chưa cao, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo; tình trạng bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thủy sản chưa giải quyết triệt để; nguồn lợi thủy sản bị khai thác quá mức, ngày càng cạn kiệt; (4) Nhiều tiến bộ kỹ thuật chậm triển khai nhân rộng như công nghệ sau thu hoạch (máy gặt, máy sấy lúa,…), san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, dụng cụ sạ

    202                                                                                                          http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đào Thị Bích Hồng                 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 199 – 203

     

    hàng, máy cấy; (5) Cơ cấu lao động chuyển dịch không đáng kể, quan hệ sản xuất chậm đổi mới, quá trình đô thị hoá nông thôn diễn ra chậm…

     

    Thực tiễn tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu, mà chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, với tất cả ưu điểm và hạn chế, thành công và chưa thành công, để lại một số kinh nghiệm quý báu, cụ thể như sau:

     

    Một là, phải xuất phát từ thực tiễn của địa phương, chủ động khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế và tiềm năng, đề ra chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả.

     

    Hai là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp với xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.

     

    Ba là, phải phát huy ý thức tự lực, tự cường, sáng tạo, huy động sức dân, dựa vào dân để tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng phát triển theo hướng hiện đại.

     

    Bốn là, phải luôn chú trọng nghiên cứu, ứng dụng kịp thời tiến bộ khoa học công nghệ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương.

     

    Năm là, quan tâm công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi nghề cho người lao động, từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm trong ngành nông nghiệp.

     

    Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp hài hòa với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững.

     

    Bảy là, chăm lo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, xác định đúng chủ trương, biện pháp; xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

     

    1. Kết luận

    Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, vấn đề chuyển dịch cơ cấu

     

    kinh tế và mở cửa chủ động hội nhập quốc tế ngày càng quan trọng trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1997 – 2018 đã đạt được những kết quả nhất định; khẳng định trong thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ với tinh thần chủ động và sáng tạo; khẳng định quyết tâm của nhân dân Bạc Liêu ra sức phấn đấu đến năm 2020, Bạc Liêu đứng vào tốp các tỉnh khá trong khu vực và trung bình khá của cả nước. Đó là những yếu tố rất quan trọng để tỉnh Bạc Liêu tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

     

    Lời cám ơn

     

    Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG – HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số C2017-20-07. Tác giả chân thành cảm ơn sự tài trợ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho nghiên cứu này.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XI, 1997, tr. 7.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Niên giám thống , 2008.
    • Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIII, 2006, tr. 45.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XIV, 2011, tr. 33.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thứ XV, 2015, tr. 79.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 83.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 107-108.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Kế hoạch số 14-KH/TU thực hiện Nghị quyết 06 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, 1999, tr. 7-8.
    • Tỉnh ủy Bạc Liêu, Nghị quyết số 04-NQ/TU về phát triển kinh tế biển và vùng phía Nam Quốc lộ 1A tỉnh Bạc Liêu đến năm 2015 và những năm tiếp theo, 2012.
    • Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Thực trạng kinh tế – xã hội Bạc Liêu (1997-2001), 2002.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CHUY%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U-KINH-T%E1%BA%BE-T%E1%BB%88NH-TH%C3%81I-NGUY%C3%8AN-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-1997-%E2%80%93-2017.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 45 – 50

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1997 – 2017

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh1*, Hoàng Thị Mỹ Hạnh2

    1 Khoa Ngoại Ngữ – ĐH Thái Nguyên

    2 Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Đông Bắc. Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, từ sau ngày tái lập tỉnh (1/1/1997) đến năm 2017, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã có những chủ trương hợp lý, đúng đắn cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Thái Nguyên đang từng bước hòa nhập với nền kinh tế thị trường của cả nước và thế giới trong thế kỉ XXI.

     

    Từ khóa: Thái Nguyên; nguồn lực; kinh tế; chuyển dịch; cơ cấu.

     

    Ngày nhận bài: 06/03/2019; Ngày hoàn thiện: 23/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    THAI NGUYEN ECONOMIC STRUCTURE TRANSFORMATION

    THE PERIOD 1997 – 2017

     

    Nguyen Thi Thu Oanh1*, Hoang Thi My Hanh2

    1 TNU – School of Foreign Languages

     

    2 TNU – College of Education

     

    ABSTRACT

     

    Thai Nguyen is one of the political, economic and culture of the Northeast. Integrated with the development of the country, since after the re-establishment (1/1/1997) to 2017, Thai Nguyen has gradually economic restructuring towards industrialization and modernization.With its favorable geographical location, land, diverse mineral resources, rich, eco-tourism potential, tourism, history, tourist attractions, the province of Thai Nguyen has many favorable conditions thatmany northern mountainous provinces, help to Thai Nguyen has the potential to develop, not only now, but also in the future. Thai Nguyen Provincial Party has advocated Rational and proper for the sustainable development of the province. Thai Nguyen is gradually integrated with the market economy of the country and the world in the XXI century.

     

    Keyword: Thai Nguyen; resources; economy; transition; structure.

     

    Received: 06/03/2019; Revised: 23/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

     

    * Corresponding author. Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           45

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    1.   Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên

     

    • Vị trí địa lý

    Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc, diện tích tự nhiên 3.526,20 km2 nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 21o19’ đến 22o03’ vĩ độ bắc và 105o29’ đến 106o15’ kinh độ đông [1]. Thái Nguyên phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang.

     

    Thái Nguyên có rất nhiều cơ sở kinh tế, văn hóa, quốc phòng có tầm chiến lược của đất nước: Khu công nghiệp Gang thép, Khu công nghiệp Sông Công, 8 trường Đại học, các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Bộ Tư lệnh Quân khu I. Nằm kề phía Bắc thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên còn có lợi thế rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả hiện tại và trong tương lai. Tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các mối liên kết về du lịch, dịch vụ với các địa phương lân cận trong và ngoài vùng (Hà Nội, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang…).

     

    Quốc lộ 3 nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong cả nước, đồng thời chạy qua huyện Phú Lương lên Bắc Kạn, Cao Bằng để có thể tới biên giới Việt – Trung.

     

    Ngoài ra, các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh. Tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều và tuyến đường sắt Thái Nguyên – Uông Bí là mạch giao thông quan trọng giữa Thái Nguyên với đồng bằng và vùng Đông Bắc.

     

    Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là một trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa, trung tâm đào tạo lớn của đất nước.

     

    1.2. Khí hậu

     

    Cũng như các địa phương khác thuộc miền Bắc Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa biến tính, có hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh mát, mùa mưa nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân là 230C, độ ẩm bình quân là 80%.

     

    1.3. Hệ thống sông, suối, hồ và trữ lượng nước

     

    Thái Nguyên có một hệ thống sông ngòi khá dày. Nguồn nước mặt của Thái Nguyên chủ yếu do hệ thống sông ngòi cung cấp. Hệ thống sông gồm có: Sông Cầu, sông Chu, sông Đu, sông Công, sông Nghinh Tường, sông Khe Mo

     

    – Huống Thượng. Đại bộ phận lãnh thổ thuộc hệ thống sông Cầu, cứ 1 km2 có 0,93 km sông; sông Công 1,2 km sông/km2; sông Nghinh

    Tường 1,05 km sông/km2. Bên cạnh nguồn nước mặt, Thái Nguyên còn có trữ lượng nước ngầm khá lớn, khoảng 3 tỷ m3, nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế [1].

     

    1.4. Địa hình, đất đai

     

    Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 352.621,50 ha [2], Thái Nguyên có các loại đất sau: Đất Feralit đỏ vàng chiếm phần lớn đất đồi núi của tỉnh. Đất thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp; đất đá vôi; đất đầm lầy; đất ruộng lúa (đất có nguồn gốc từ đất Feralit, đất đá vôi, hoặc đất phù sa các sông Cầu, sông Công, sông Chu… Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi, nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác. Đây cũng là một thuận lợi của tỉnh trong việc phát triển kinh tế – xã hội nói chung mà nhiều tỉnh trung du miền núi khác không có.

     

    Thái Nguyên có 165,1 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 104,8 nghìn ha và rừng trồng có trên 60 nghìn ha. Rừng phòng hộ có diện tích gần 55,6 nghìn ha, rừng đặc dụng gần 28,2 nghìn ha và rừng kinh tế 81,4 nghìn ha. Tổng diện tích đất chưa sử dụng có trên 49 nghìn ha, trong số này có trên 39 nghìn ha có khả năng phục vụ mục đích lâm nghiệp [2].

     

    Về tính đa dạng sinh học, có thể thấy Thái Nguyên khá đa dạng về các loài động thực vật, đặc biệt có nhiều loại cây con dược liệu quý có thể phát triển ở quy mô sản xuất hàng hóa.

     

    1.5. Tài nguyên rừng và khoáng sản

     

    Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Hiện đã phát hiện

     

    46                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    177 điểm quặng và mỏ khoáng sản với hơn 30 loại hình khoáng sản khác nhau phân bố tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai… [3]. Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như quặng, sắt, than (đặc biệt là than mỡ). Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng…

     

    1.6. Tài nguyên du lịch

     

    Tài nguyên du lịch của Thái Nguyên rất đa dạng. Trong đó, hồ Núi Cốc với diện tích 25 km2 cùng nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ đã mở ra tiềm năng du lịch lớn nhất tỉnh. Khu du lịch Hồ Núi Cốc cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía tây, với phong cảnh sơn thủy hữu tình đã trở thành khu du lịch lớn nhất của tỉnh, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, kéo theo sự phát triển của các loại hình dịch vụ du lịch, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương, đồng thời mang lại cho tỉnh khoản thu không nhỏ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có bãi đá cổ Thần Sa, Mái Đá Ngườm, nơi được coi là cái nôi của người tiền cổ. Cùng với đó, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, thác Mưa Roi (huyện Võ Nhai), thác bảy tầng, cây đa nghìn tuổi (huyện Định Hóa)… là những tiềm năng du lịch lớn của tỉnh [3].

     

    Thái Nguyên còn có tài nguyên du lịch nhân văn khá lớn với nhiều di tích lịch sử, công trình kiến trúc, nghệ thuật, phong tục, tập quán, lễ hội, truyền thống văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số… Thái Nguyên là nơi có truyền thống cách mạng lâu đời, thủ đô kháng chiến – “Thủ đô gióa ngàn” trong kháng chiến chống thực dân Pháp. An toàn khu (ATK) với nhiều địa danh như: đồi Tỉn Keo – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc; khu nhà làm việc của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng là những di tích lịch sử vô cùng quý giá. Bên cạnh đó, với vị trí là trung tâm văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi, có Bảo tàng văn hóa của các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên có lợi thế lớn để phát triển đa dạng các loại hình du lịch.

     

    Với vị trí địa lí thuận lợi, đất đai, tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch về nguồn hấp dẫn, tỉnh Thái Nguyên có nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển, không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai.

     

    2.   Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

     

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung

    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên tăng trung bình 40,4%/năm. Năm 2000 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chung đạt 1526,57 tỷ đồng (theo giá thực tế) đến năm 2010 tăng gấp 5,04 lần đạt 7696,58 tỷ đồng. Trong đó, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng nhanh nhất từ 1445,13 tỷ đồng lên 7368,58 tỷ đồng (2000 – 2010); giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2010 tăng 3,19 lần so với năm 2000; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2000 là 30,80 tỷ đồng tăng lên 166,30 tỷ đồng năm 2010. Đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,75% (cao nhất trong vùng và cao gấp gần hai lần mức bình quân chung cả nước); cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, thương mại và dịch vụ. Năm 2017, khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 55,4%; khu vực dịch vụ chiếm 32%; khu vực nông – lâm – thủy sản chiếm 12,6%.

     

    Cơ cấu giá trị nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2017 đã có sự chuyển dịch, tuy nhiên chưa rõ nét và ổn định do chịu nhiều tác động của yếu tố thị trường và dịch bệnh bùng phát trong những năm gần đây. Nhìn chung, trong cơ cấu giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ngành nông nghiệp giữ vị trí chủ yếu luôn chiếm trên 90% giá trị sản xuất. Điều này được lý giải do trong những năm vừa qua tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng đầu tư vào một số mặt hàng chủ yếu (cây trồng, vật nuôi) tạo năng suất và sản lượng cao, tạo dựng thương hiệu mạnh trên thị trường trong và ngoài tỉnh như: chè Tân Cương, gạo Bao Thai – Định Hoá,…

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            47

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    2.2. Ngành nông – lâm – thủy sản

     

    Đây là ngành giữ vai trò chủ đạo trong ngành kinh tế của tỉnh. Nhìn chung nông nghiệp và nông thôn Thái Nguyên trong những năm vừa qua có những chuyển biến tích cực, sản phẩm lương thực tăng nhanh và cơ bản bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ. Cơ cấu kinh tế trồng trọt, chăn nuôi và khai thác, dịch vụ nông-lâm-thủy sản đang từng bước chuyển đổi tích cực và sản xuất thêm nhiều mặt hàng, tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân. Tỷ trọng nông – lâm -thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giảm từ 33,68% (2000) xuống còn 21,73% năm 2010 và đến năm 2017 chiếm 12,6%.

     

    Tiềm năng phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh khá dồi dào. Năm 1997, diện tích trồng rừng là 2.175 ha, tăng 3,1%, đến năm 2017, đã tăng lên 6.684 ha [2]. Thái Nguyên tích cực triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từng bước chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, an toàn (tỉnh đang triển khai thí điểm việc dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn…,) phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một trong những điểm mới của Thái Nguyên là sự hình thành kinh tế trang trại. Năm 2017, toàn tỉnh có hơn 1.000 trang trại, với quy mô vừa và nhỏ. Ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị nông – lâm – thuỷ sản của tỉnh.

     

    Có thể nói, từ năm 1997 – 2017, nông – lâm – thủy sản là những ngành kinh tế sản xuất quan trọng của tỉnh. Ngành này đang từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hoá. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của tỉnh là thóc, chè, lạc, đậu tương, gia súc, gia cầm, hoa quả tươi. Cơ cấu sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi được chuyển dịch phù hợp với nhu cầu thị trường.

     

    2.3. Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

     

    Trong thời kỳ 1997 – 2017, GDP ngành tăng bình quân hằng năm 38,6%. Tỷ trọng của ngành trong GDP toàn tỉnh liên tục tăng lên

     

    qua các năm. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, từng bước khẳng định xu thế đúng đắn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

     

    Công nghiệp có bước phát triển vượt bậc. Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh tính theo giá so sánh 1994 đạt 4.760 tỷ đồng năm 2005. Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) trên địa bàn là 9.912 tỷ đồng, bằng 99,6% kế hoạch đầu năm và bằng 101,66% kế hoạch điều chỉnh, tăng 13,3% so với năm 2008. Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân năm 2017 đạt hơn 571 nghìn tỷ đồng (đứng thứ 7 trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước). Giá trị xuất khẩu bình quân năm 2017 tăng 23% đạt 23,563 tỷ USD (chiếm khoảng 11% giá trị xuất khẩu chung của cả nước). Khu vực kinh tế Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng nhất trong ngành công nghiệp tỉnh và thường xuyên đóng góp trên 70% cho giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh [2].

     

    Đến năm 2017, toàn tỉnh có trên 10.452 cơ sở sản xuất công nghiệp. Trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, điển hình là Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty vật liệu xây dựng, Điện lực Thái Nguyên, Công ty phụ tùng máy số I, Công ty Natsteel Vina… Tỉnh Thái Nguyên đã tập trung đầu tư phát triển hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trong đó tập trung đẩy mạnh việc hoàn thành giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Sông Công 2. Đồng thời, quan tâm, chú trọng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp (35%), cụm công nghiệp còn lại (74,7%); ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ; chú trọng phát triển công nghiệp địa phương gắn với công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; ưu tiên hình thức liên doanh, liên kết sản xuất với các doanh nghiệp địa phương, hỗ trợ dẫn dắt các doanh nghiệp địa phương cùng phát triển.

     

    • Các ngành tiểu thủ công nghiệp

    Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của Thái Nguyên còn nhỏ bé, tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công,

     

    48                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và Đtg           Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN             201(08): 45 – 50

     

    huyện Đồng Hỷ và huyện Phổ Yên. Trong những năm gần đây, một số lĩnh vực sản xuất và một số nghề đã từng bước được khôi phục và có chiều hướng phát triển như đan lát (cót, rổ rá, rọ tôm); sản xuất mía đường; chế biến mì, bún bánh và thêu ren.

     

    Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh về các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và mở rộng thị trường ra ngoài tỉnh đối với một số sản phẩm. Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hoá nông thôn, hình thành thêm các thị trấn, thị tứ trên cơ sở hình thành những ngành nghề mới tại các xã và cụm xã, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

     

    2.4. Ngành thương mại, dịch vụ, du lịch

     

    Nhìn chung, lĩnh vực dịch vụ tỉnh có mức tăng trưởng cao kể từ khi tách tỉnh đến nay (đạt bình quân 10,5% thời kỳ 1997 – 2005, năm 2005 tăng 10,7% so với năm 2004, tăng bình quân cho cả giai đoạn 2007-2017 là trên 21,1%).

     

    Dịch vụ thương mại

     

    Dịch vụ thương mại đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1997 – 2017 tăng nhanh. Phân ngành này luôn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong ngành dịch vụ tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội của Thái Nguyên tăng bình quân trên 12,3% trong cả thời kỳ 1997 – 2017.

     

    Mạng lưới thương mại trên địa bàn tỉnh phát triển rộng khắp. Thương mại miền núi được quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn trong những năm gần đây.

     

    Dịch vụ du lịch – khách sạn – nhà hàng

     

    Điểm đáng lưu ý là mặc dù ngành du lịch được xác định là một ngành kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh và được quan tâm đầu tư nhiều hơn trong những năm qua nhưng tỷ trọng ngành này trong GDP dịch vụ tỉnh lại không tăng lên trong suốt giai đoạn 2000 – 2002 (chiếm 4,7%) và giảm đáng kể từ sau đó. Năm 2005 phân ngành này chỉ chiếm 3,74% GDP

     

    toàn ngành dịch vụ.

     

    Từ năm 2000 đến nay, lượng khách du lịch tăng liên tục với tốc độ bình quân 58,6%/năm (riêng năm 2001 tăng gần 2,2 lần so với năm 2000). Năm 2005 đạt 507 nghìn lượt (trong đó khách nước ngoài có trên 12,2 nghìn lượt). Doanh thu du lịch cũng tăng nhanh (bình quân 15%/năm). Năm 2010 đạt trên 27,2%. Đến năm 2017, du lịch Thái Nguyên đã duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng du lịch đảm bảo mục tiêu đặt ra. Tổng số lượt khách đến Thái Nguyên là 2.229.700 lượt, tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 66.297 lượt tăng 3,5% so với cùng kỳ, khách do cơ sở lưu trú phục vụ đạt 947.625 lượt tăng 5% so với cùng kỳ, khách du lịch đến các điểm tham quan 1.172.075 lượt tăng 10% so với cùng kỳ, khách do các công ty lữ hành phục vụ 110.000 lượt tăng 15% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu từ các doanh nghiệp du lịch đạt 310 tỷ đồng tăng 24% so với cùng kỳ [2].

     

    2.5. Xây dựng cơ sở hạ tầng

     

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế – xã hội phát triển, tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng việc xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng.

     

    Trong những năm 1997 – 2017, Thái Nguyên huy động mọi nguồn vốn đầu tư cho xây dựng và sửa chữa các tuyến đường giao thông do địa phương quản lý. Mặt khác, tỉnh cũng tranh thủ tối đa các nguồn vốn viện trợ, vốn vay ODA (Quỹ giúp đỡ phát triển nước ngoài), đóng góp các tổ chức kinh tế, xã hội và sức dân để phát triển mạnh giao thông nông thôn. Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn tiếp tục được hiện đại hóa, đảm thông tin

     

    • trong nước và quốc tế thông suốt. Mạng lưới điện cũng được mở rộng tới phần lớn các xã trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Hệ thống cấp nước ở đô thị và các khu công nghiệp được cải tạo nâng cấp. Những năm 1997 – 2017, tỉnh đã đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước các thị trấn, thị tứ theo dự án; tiếp tục thực hiện chương trình nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường…

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            49

     

     

    Nguyễn Thị Thu Oanh và ĐtgTạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 45 – 50

       

    3.   Một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế tỉnh thái nguyên trong giai đoạn tiếp theo

     

    • Giải pháp về vốn đầu tư
    • Đối với vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cần phải phân định rõ thành phần vốn của Nhà nước, của nhân dân đóng góp.
    • Đối với vốn đầu tư phát triển các ngành sản xuất cần có chính sách đẩy mạnh hơn nữa quá trình tích lũy tập trung các nguồn vốn vào các ngành mũi nhọn và các khu vực trọng điểm [4].

    Như vậy, phương châm là huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn để tạo ra sức bật cho ngành kinh tế toàn tỉnh.

     

    3.2. Phát triển nguồn nhân lực

     

    Nhìn chung, nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên rất dồi dào. Để tận dụng được nguồn nhân lực đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho sự phát triển kinh tế, xã hội thì Thái Nguyên cần phải có những biện pháp đào tạo, nâng cao hiệu quả, sử dụng lao động theo những hướng sau:

     

    • Nâng cao dân trí và trình độ học vấn cho nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa trong tỉnh bằng các hình thức thông tin đại chúng, văn hóa, thông tin tuyên truyền.
    • Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, dạy nghề, nâng cấp chất lượng các cấp học, phát triển các loại hình liên kết đào tạo.
    • Phát triển các ngành dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động, dạy nghề cho con em đồng bào dân tộc nhằm mục đích sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ.
    • Ưu tiên đào tạo cán bộ là người dân tộc, tạo điều kiện tiếp xúc với khoa học công nghệ, qua các lớp tập huấn.

    3.3. Nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường

     

    • Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào mọi lĩnh vự sản xuất và các khâu quản lý.
    • Từng bước đồng bộ hóa công nghệ tiên tiến vào những ngành công nghiệp tạo sản phẩm

    mũi nhọn xuất khẩu như: chè, vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản.

     

    • Ứng dụng công nghệ sinh học vào quá trình chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi. Phát triển mô hình nông – lâm kết hợp để tăng hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.

    3.4. Đổi mới cơ chế quản lý

     

    Cần thực hiện triệt để việc cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy quản lý của tỉnh sao cho gọn nhẹ và điều hành có hiệu lực, phù hợp với cơ chế quản lý mới. Phát huy hiệu quả vai trò của trung tâm giáo dục thường xuyên và trường chính trị để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của tỉnh, đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng có trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và trình độ chuyên môn cao [4].

     

    4. Kết luận

     

    Hòa nhập với sự phát triển của đất nước, Thái Nguyên đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh đã đạt được những kết quả bước đầu đáng phấn khởi: cơ sở vật chất tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, trong cơ cấu nền kinh tế hiện nay của tỉnh, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Để phản ánh đúng điều kiền và tiềm năng, tương xứng với sự đầu tư và các lợi thế của địa phương, Thái Nguyên cần có nhiều giải pháp hơn nữa để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy nguồn lực sẵn có của mình, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Tỉnh ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Địa chí Thái Nguyên, Nxb

    Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.22, tr.68, 2009.

     

    • Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên -Thai Nguyen Statistical YearBook, Thái Nguyên, 20, tr.195, tr.271, tr.303, 2017, 2018.
    • Thái Nguyên – Thế và lực mới trong thế kỉ XXI,

    Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.25 – 29, 2005.

     

    • Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tr.121 – 136, 5/2007.

    50                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-CH%E1%BA%A4P-H%C3%80NH-PH%C3%81P-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-C%E1%BB%A6A-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-N%E1%BB%98P-THU%E1%BA%BE-T%E1%BA%A0I-C%E1%BB%A4C-THU%E1%BA%BE-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Kinh tế

     

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

     

    (ANALYSIS OF FACTORS AFFECTING THE SENSE OF EXECUTIVE LEGAL DUTY OF TAXATION TAXPAYERS IN HCM CITY)

     

    Tôn hất Viên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế tại Cục Thuế TP.HCM. Số liệu trong nghiên cứu ch́nh thức này được thực hiện bằng bảng câu h̉i khảo sát, m̃u được cḥn bằng phương pháp cḥn m̃u thuận tiện v́i c̃ m̃u là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM. Dựa trên phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân t́ch nhân tố khám phá EFA đ̉ đo lừng sự hội tụ c̉a các biến. Phân t́ch h̀i quy đ̉ kỉm định giả thuyết nghiên cứu và mô h̀nh nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế là: Tuân th̉ thuế, Công tác kỉm tra thuế, Nhận thức về công bằng, Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế, Vấn đề thuế suất. Dựa vào phương tr̀nh h̀i quy cho thấy, tám biến đưa vào mô h̀nh đều có tương quan thuận v́i hiệu quả c̉a công tác chấp hành luật thuế và ảnh hưởng như nhau. Bài viết cũng đ̀ng th̀i thảo luận những kết quả nghiên cứu ch́nh và đề xuất các giải pháp đ̉ nâng cao ý thức chất hành pháp luật thuế c̉a đối tượng nộp thuế.

     

    Từ khóa: Chấp hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, Cục Thuế TP.HCM

     

    ABSTRACT

     

    The study was conducted to determine the factors affecting the sense of observance of tax legislation in HCMC Tax Department. Data in the oficial study was performed in questionnaire survey, the sample was selected by convenience sampling method with a sample size of 276 taxpayers in the Tax Department. HCM. Based on the method of Cronbach’s Alpha reliability and ANALYSIS EFA EXPLORE FACTOR to measure the convergence of the variables. Regression analysis is meand for testing hypotheses and research model. The study results showed that the factors affecting the sense of observance of tax legislation: Tax Compliance, Tax Inspection, Perceptions of fairness, Operational eficiency of the tax authorities, Knowledge of the taxpayer’s tax, penalties and Awareness of crime, inancial status of the taxpayer, the tax issue. Based on the regression equation shows, the eight variables included in the model are positively correlated with the effectiveness of law enforcement activities at the same level. The article also discusses the main indings and propose solutions to raise awareness of the tax legislation of the taxpayer.

     

    Keywords: law observation, inspector, examination, HCMC tax department

     

     

    • GV. Trừng Đại ḥc Kinh tế – Kỹ thuật B̀nh Dương

     

     

    1

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Những nghiên cứu hiện nay tập trung vào hướng mới là phù hợp và sự thích nghi của quản lý thu thuế đối với sự thay đổi của đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Các nghiên cứu theo hướng này tập trung làm rõ tại sao? và làm thế nào ? để ĐTNT chấp hành pháp luật thuế, với hai cách tiếp cận khác nhau. Hướng thứ nhất, một số nghiên cứu tập trung làm rõ tại sao đối tượng lại trốn thuế và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp hành pháp luật thuế (Alm, J., & McClelland, G. H., Schulze (1992)). Hướng nghiên cứu thứ hai, một số tác giả cho rằng theo chuẩn mực truyền thống thì đối tượng nên chấp hành hơn là không chấp hành pháp luật thuế và vì vậy một hệ thống thuế có hiệu lực phải đạt được sự vui lòng hợp tác của đa số những người nộp thuế. Cơ quan thuế sẽ có lợi hơn khi giúp đỡ đối tượng chấp hành pháp luật, đáp ứng những nhu cầu của họ, tạo điều kiện cho họ chấp hành pháp luật nghĩa vụ thuế hơn là tiêu tốn quá nhiều nguồn lực vào thiểu số những đối tượng trốn thuế. Do đó, hệ thống tự khai tự nộp (TKTN) là sự ngụ ý cho việc đảm bảo và tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Cục Thuế TP.HCM hơn mười năm thực hiện công cuộc cải cách hành chính thuế theo lộ trình được đề ra một cách cụ thể, khoa học và hiện nay vẫn tiếp tục thực hiện. Thực tế cho thấy ngành thuế đã có những bước tiến dài và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại trên thế giới, đáp ứng được theo sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế đất nước trong từng giai đoạn.

     

    Hiện nay, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp (DN) ở các nước đang phát triển, đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với nhiệm vụ thu thuế của nhà nước. Một trong những thách thức lớn,

     

    đó là sự đa dạng hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế. Phức tạp hơn, khi hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế lại chịu ảnh hưởng của nhiều biến số khác nhau. Những yếu tố này tạo ra bài toán lớn đối với cơ quan thuế trong việc đảm bảo sự chấp hành pháp luật thuế của của đối tượng nộp thuế. Do vậy, tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế là khâu đột phá của toàn bộ lộ trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế hiện nay. Công tác này có tầm quan trọng đặc biệt, không những nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tính tự giác chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành, mà còn tạo mối quan hệ gắn kết giữa cơ quan thuế và ĐTNT. Từ đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế cũng như làm tốt công tác hỗ trợ ĐTNT đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT; từng bước giảm dần các sai sót và vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách thuế của đối tượng nộp thuế; quan hệ giữa cơ quan thuế, công chức thuế và ĐTNT ngày càng thân thiện và là người bạn đồng hành trong việc thực thi các chính sách, pháp luật thuế.

     

    Tuy nhiên, sự đổi mới nói trên không thể đảm bảo rằng cơ quan quản lý thuế có thể đạt được sự chấp hành pháp luật tự nguyện, đầy đủ của hầu hết các ĐTNT, đảm bảo nguồn thu tiềm năng cho ngân sách nhà nước (NSNN). Trong bối cảnh hành vi và đặc điểm của ĐTNT ngày càng phức tạp như ở TP. HCM, quản lý thu thuế cần phải đạt được mục tiêu chấp hành pháp luật cao nhất đặc biệt là sự chấp hành pháp luật tự nguyện của ĐTNT. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi quản lý thu thuế ở các thành phố lớn như TP. HCM có sự đổi mới hoàn toàn về quan điểm, chiến lược, chính sách quản lý thu thuế đối với ĐTNT.

     

     

    2

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

    • Cơ sở lý thuyết

    2.1.1. Khái niệm nộp thuế

     

    Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN). Các tác giả ở Học Viện Tài chính viết: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007)). Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN. Tính tất yếu này xuất phát từ một số cơ sở như sau:

     

    • Thuế là khoản chi phí mà DN phải trả cho việc sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin.v.v.). Vì vậy, DN phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho Nhà Nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng.

     

    • Thuế thu từ DN là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô.v.v. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ. Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu các DN chấp hành pháp luật thuế đầy đủ thì đó chính là tín hiệu tích cực và có lợi đối với NSNN.

     

    • Nộp thuế của DN đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự

    cân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước. Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của DN là tất yếu bởi đây là công cụ mà Nhà nước sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.

     

    • Nộp thuế của DN sẽ đảm bảo tính công bằng trong chấp hành pháp luật thuế giữa các DN ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau. Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một DN sẽ ảnh hưởng tích cực đến các DN khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế của đại bộ phận các DN còn lại, đặc biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các DN đang khai thác các hình thức tránh thuế. Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của các DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế tiềm năng.

    Tóm lại, nộp thuế phải được các DN nhận thức là một nghĩa vụ tất yếu. Quản lý thu thuế của Nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho các DN nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự chấp hành pháp luật thuế một cách đầy đủ và kịp thời.

     

    2.1.2. Chấp hành pháp luật thuế

     

    “Chấp hành pháp luật thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế” (James, S., Alley, C. (1999)). Theo cơ quan thuế Australia (ATO), “chấp hành pháp luật thuế là việc DN đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyết định của toà án” (Cash Economy Task Force (1998)), Mc Barnet nghiên cứu rằng dựa vào mục đích và lợi ích của mình, DN có thể lựa chọn một trong 4 phương án sau (1) chấp hành pháp thuế (2) thoả

     

     

    3

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đó hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và chấp hành pháp luật thuế mà các mục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được (3) chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích cực cho việc trốn thuế (4) phá vỡ hoặc không chấp hành pháp luật luật với hy vọng không bị phát hiện bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào (Kirchker, E., Macielovsky, B., Schneider, F. (2001)). Theo Mc Barnet, các DN lớn có xu hướng là có học” trong việc lựa chọn sự chấp hành pháp luật thuế, họ có xu hướng chọn cách trốn thuế theo phương án thứ hai và thứ ba, còn DN nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế theo cách thứ tư.

     

    Do vậy, chấp hành pháp luật thuế nghĩa là chấp hành mục đích của luật trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, khái niệm chấp hành pháp luật thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện chấp hành pháp luật thuế, và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Nghiên cứu khái niệm chấp hành pháp luật thuế thông qua việc tập trung vào sự không chấp hành pháp luật thuế và tính cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế là quá đơn giản hoá.

     

    Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Bergman (1998) gợi ý rằng sự chấp hành pháp luật thuế được đo bằng số thu

     

    mà cơ quan thuế giả định dựa theo luật thuế do DN thanh toán cho NSNN. Tuy nhiên, phạm vi mà DN phản đối các luật thuế lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự vui lòng chấp hành pháp luật thuế. Vì vậy, các tác giả như Andrreoni J., Erard B. bắt đầu xem xét đến tính tự nguyện của sự chấp hành pháp luật thuế (Andrreoni J., Erard B.(1998)). Tính tự nguyện sau đó đã được một số cơ quan thuế như cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ (IRS) xem xét đến trong các định nghĩa về khoảng cách thuế. Theo đó, chấp hành pháp luật thuế được định nghĩa là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ và tự nguyện. Nếu DN chấp hành pháp luật thuế chỉ bởi vì sự đe doạ và trừng phạt thì đó dường như không phải là sự chấp hành pháp luật thuế đúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành. Quản lý thu thuế thành công là hầu hết đối tượng chấp hành pháp luật thuế một cách tự nguyện mà ít cần đến sự chất vấn, điều tra, nhắc nhở hoặc đe doạ và các hành vi xử phạt hành chính khác. Khía cạnh “tự nguyện” trong định nghĩa trên đây rất quan trọng, giúp các cơ quan thuế phân biệt giữa khái niệm chấp hành pháp luật thuế mà ít cần hoạt động cưỡng chế trực tiếp và khái niệm chấp hành pháp luật thuế là kết quả của sự cưỡng chế.

     

    Theo đó, cần phát triển khái niệm này và đưa yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự chấp hành pháp luật thuế tự nguyện. Một DN cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn. Hơn nữa, nếu lãi suất nộp muộn bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn tự nguyện. Từ đó có thể định nghĩa sự chấp hành pháp luật thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. Như vậy khái niệm chấp hành pháp luật thuế

     

     

    4

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    trên được đo bằng 3 yếu tố (1) tính đầy đủ, (2) tính tự nguyện và (3) yếu tố thời gian.

     

    Tuy nhiên để đạt được 3 tiêu chí trên, quản lý thu thuế của nhà nước cần xem xét sự chấp hành pháp luật thuế dự tính và sự không chấp hành pháp luật thuế không dự tính. Nhiều khi DN tự nguyện có thể không đáp ứng nghĩa vụ thuế một cách không tính toán bởi vì họ không

     

    thể hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc họ không nhận thức được hoặc hiểu sai về luật hay do những lý do tương tự. Những nỗ lực của các cơ quan thuế để cải thiện quản lý thu thuế

     

    • khía cạnh này là tìm ra các giải pháp giúp đỡ ĐTNT để họ không rơi vào tình trạng không chấp hành pháp luật thuế không dự tính.

     

     

    Bảng 2.1. Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về chấp hành pháp luật thuế theo đề nghị c̉a James và Alley (2004).

     

    Bảng 2.1: Các cách tiếp cận chấp hành pháp luật thuế

     

    Chấp hành

           

    pháp luật

    Cách tiếp cận kinh tế

     

    Cách tiếp cận hành vi

     

    thuế

           
             

    Góc độ

    Chấp hành pháp luật 100% quy định về

    Tự

    nguyện, sẵn sàng hành động

     

    thuế so với thực tế, xét trên góc độ hẹp.

    theo tinh thần và từng quy định của

     

    tiếp cận

     

    luật thuế, xét trên góc độ rộng hơn

     
       
           

    Quyết  định  chấp

    Dựa trên sự hợp lý về lợi ích kinh tế

    Dựa trên hành vi hợp tác giữa

     

    hành pháp luật

     

    người nộp thuế và cơ quan thuế

     
       

    Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần

     
     

    Cân nhắc lựa chọn:

    là một cá thể độc lập chỉ biết tối đa

     

    Mức độ chi tiết

    1. Lợi ích mong đợi từ từ việc trốn thuế

    hoá lợi ích cá nhân. Họ tương tác

     

    2. Rủi ro bị phát hiện và mức bị phạt

    theo thái độ, niềm tin tiêu chuẩn và

     
     
     

    3. Tối đa hóa thu nhập và của cải cá nhân

    vai trò khác nhau.Thành công dựa

     
       

    trên sự hợp tác

     
           

    Chấp hành pháp

    Hiệu quả trong việc phân phối nguồn lực

    Hợp lý, công bằng và phạm vi tác

     

    luật thuế

    Hình ảnh người nộp thuế  ích  kỷ  tính

    động

    tích cực “Công dân tốt”

     
     

    toán lợi ích và thiệt hại bằng tiền

         
             

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Trong phạm vi đề tài này, tập trung chủ yếu là để khai thác thêm về cách tiếp cận thứ hai với khía cạnh hành vi được nhấn mạnh hơn so với cách tiếp cận hợp lý về kinh tế. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã nỗ lực để định nghĩa chấp hành pháp luật thuế, dựa trên mục đích của nghiên cứu này (phù hợp với định nghĩa của

    Nguồn: James và Alley (2004), trang 33.

     

    IRS (2009), ATO (2009) và IRB (2009); ALM (1991); Jackson và Milliron (1986); Kirchler

     

    (2007), khái niệm chấp hành pháp luật thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của người nộp thuế để tuân theo luật thuế, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn.

     

     

    5

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT. Trong nghiên cứu chính thức này được thực hiện bằng bảng câu hỏi khảo sát, mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM theo phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để đo lường sự hội tụ của các biến và phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Từ cơ sở các lý thuyết, học thuyết và các nghiên cứu có liên quan, đề tài nghiên

     

    cứu kế thừa mô hình nghiên cứu của Palil và Mustapha (2011), Võ Đức Chín (2011) và phát triển, tác giả xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính ban đầu với biến phụ thuộc là Ý thức chấp hành pháp luật thuế và các biến độc lập được lấy từ các yếu tố: (1) Tuân th̉ thuế (Nirmala, 2011), (2) Công tác kỉm tra thuế,

     

    • Nhận thức về công bằng, (4) Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, (5) Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, (6) Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, (Palil and Mustapha, 2011),

     

    • T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế (Evan, Carlon và Massey, 2005), (8) Vấn đề thuế suất, (Clotfelter, 1983). Từ đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị (hình 3.1) phù hợp với tình hình, đối tượng tại TP. HCM.

     

     

     

     

     

    Hình 3.1: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả đề nghị

     

     

     

     

    6

     

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

     

     

     

     

    Hình 3.2: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả điều chỉnh

     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

    Theo mô hình tác giả đề nghị, đã hình thành các nhân tố tác động đến ý thức chấp hành pháp luật thuế: H1: T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H2: Kỉm tra thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H3: T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ngừi nộp thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H4: Nhận thức về t́nh công bằng c̉a thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H5: Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H6: Kiến thức thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H7: Nhận thức về h̀nh phạt có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H8: Thuế suất tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

     

    Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng mô hình lý thuyết nghiên cứu được chấp nhận là H1, H2, H3, H4, H5, H7 và H8. Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được minh họa qua hình 3.2 được trình bày nêu trên.

    4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Các thang đo được đánh giá độ tin cậy qua hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các biến quan sát trong thang đo tương quan với nhau, nghĩa là nó cho chúng ta biết một thang đo nào đó có phải là thang đo tốt về một phía cạnh nào đó hay không. Công cụ này cũng giúp loại đi những biến quan sát và những thang đo không phù hợp vì nếu không chúng ta không thể biết được độ biến thiên cũng như độ lỗi của các biến. Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally & Burnstein (1994).

     

    Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (phụ lục 4) cho thấy biến KKHAI4 “Hoạt động quản lý thu thuế c̉a Nhà nức đối v́i doanh nghiệp tốt ngừi nộp thuế càng ý thức chấp hành pháp luật thuế” bị loại vì hệ số tương quan biến tổng <0.3. Kết quả chỉ còn 32 biến còn lại đều có tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và các hệ số Cronbach Alpha đều lớn hơn 0,6 được sử dụng cho phân tích nhân tố (EFA) tiếp theo.

     

     

    7

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.1: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha trức khi phân t́ch EFA

     

         

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    Số biến

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

         
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế(CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha, các thang đo được đánh giá tiếp theo bằng phương pháp EFA. Thông qua việc phân tích nhân tố EFA ở bước tiếp theo, sẽ cho thấy được cụ thể hơn các thang đo trên có tách thành những nhân tố mới hay bị loại bỏ ra hay không. Điều này sẽ đánh giá chính xác hơn thang đo, đồng thời loại bỏ bớt các biến đo lường không đạt yêu cầu, mục đích làm cho các thang đo đảm bảo tính đồng nhất. Một số tiêu chuẩn mà các nhà nghiên cứu thường quan tâm trong phân tích nhân tố khám phá (EFA) như sau:

     

    Hệ số KMO (Kaiser-Mayer-Olkin) ≥ 0.5 và mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett ≤ 0.05. KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, phân tích nhân tố khám phá (EFA) thích hợp khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1. Hệ số tải nhân tố (Factor loading) là hệ số tương quan đơn giữa các yếu tố thành phần và các nhân tố. Hệ số tải nhân tố > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu, Hệ số tải nhân tố > 0.4 được xem là quan trọng và ≥ 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn. Tác giả sử

    dụng phương pháp trích Principal Component Analysis với phép quay Varimax và điểm dừng khi trích các nhân tố có eigenvalue > 1.

     

    • Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy 32 biến quan sát trong 8 thành phần của thang đo các yếu tố các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc vẫn được rút trích thành 8 thành phần. Hệ số KMO = 0.839 nên EFA phù hợp với dữ liệu và thống kê Chi-quare của kiểm định Bartlett đạt giá trị 7150.203 với mức ý nghĩa Sig
    • 000; do vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Phương sai trích được là 74.126% thể hiện rằng 8 nhân tố rút ra được giải thích 74.126% biến thiên của dữ liệu, tại hệ số eigenvalue bằng 1.016.

     

    Như vậy, thang đo các yếu tố ảnh hưởng kết quả công việc từ 8 thành phần nguyên gốc (33 biến quan sát) sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA thì vẫn được giữ nguyên 8 thành phần với 32 biến quan sát, các nhân tố trích ra đều đạt độ tin cậy và độ giá trị.

     

     

    8

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.2: Kết quả phân t́ch nhân tố khám phá (EFA)

     

         

    HỆ SỐ TẢI NHÂN TỐ

       
     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    CQT1

    .842

                 
                     

    CQT2

    .837

                 
                     

    CQT3

    .756

                 
                     

    CQT4

    .701

                 
                     

    CQT5

    .822

                 
                     

    TCB1

     

    .838

               
                     

    TCB2

     

    .671

               
                     

    TCB3

     

    .818

               
                     

    TCB4

     

    .847

               
                     

    TC1

       

    .812

             
                     

    TC2

       

    .811

             
                     

    TC3

       

    .849

             
                     

    TC4

       

    .820

             
                     

    KTRA1

         

    .838

           
                     

    KTRA2

         

    .837

           
                     

    KTRA3

         

    .691

           
                     

    KTRA4

         

    .696

           
                     

    KTT1

           

    .924

         
                     

    KTT2

           

    .853

         
                     

    KTT3

           

    .906

         
                     

    KTT4

           

    .516

         
                     

    HP1

             

    .717

       
                     

    HP2

             

    .667

       
                     

    HP3

             

    .745

       
                     

    HP4

             

    .805

       
                     

    TS1

               

    .795

     
                     

    TS2

               

    .824

     
                     

    TS3

               

    .776

     
                     

    TS4

               

    .598

     
                     

    KKHAI1

                 

    .816

                     

    KKHAI2

                 

    .711

                     

    KKHAI3

                 

    .607

                     

    Giá trị riêng

    9.340

    3.199

    2.736

    2.336

    2.115

    1.623

    1.312

    1.018

    Phương sai trích %

    12.657

    10.323

    10.165

    9.420

    8.497

    8.429

    7.570

    6.646

    Độ tin cậy

    0.905

    0.908

    0.919

    0.917

    0.814

    0.815

    0.759

    0.662

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Sau khi phân tích EFA, các thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc có biến quan sát bị EFA loại, từ 33 còn 32 biến quan sát, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo đó được tính lại, kết quả cũng đạt được yêu cầu về độ tin cậy. Do vậy, các thang đo đã phân tích là chấp nhận được.

     

     

    9

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.3: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha sau khi phân t́ch EFA

     

       

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

           
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả EFA, 4 biến thành phần được rút trích thành 1 nhân tố và hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5 nên các biến này đều có ý nghĩa thực tiễn. Hệ số KMO = 0.585 nên EFA phù hợp với dữ liệu phân tích. Thống kê Chi-Square của kiểm định Bartlett’s đạt giá trị 441.202 với mức ý nghĩa 0.000, tại hệ số eigenvalue bằng 2.424, vì thế các biến quan sát có tương quan với nhau. Phương sai trích đạt 60.594% thể hiện rằng 1 nhân tố rút ra giải thích được 60.594% biến thiên của dữ liệu. Cùng với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha bằng 0.758 thì thang đo kết quả công việc đạt yêu cầu.

     

    Bảng 4.4: Kết quả EFA cho thang đo Ý thức chấp hành pháp luật thuế

     

    Biến quan sát

    Hệ số tải nhân tố

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 1

    .936

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 2

    .796

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 3

    .715

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 4

    .635

       

    Giá trị riêng

    2.424

       

    Phương sai trích %

    60.594

       

    Độ tin cậy

    0.758

       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    10

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.5: Tóm tắt kết quả kỉm định thang đo

     

    Thành phần

    Số biến

    Độ tin cậy

    Phương

    Đánh

     

    sai trích

    quan sát

    Alpha

    giá

     
     

    (%)

             
               

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

         

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

         

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

         

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

         

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    74.126

    Đạt yêu

     

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

     

    cầu

     
           
               

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

         

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

         

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

    4

    0.758

    60.594

       

    Tổng

    36

           

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả chạy SPSS cho ra hệ số tương quan tuyến tính giữa các biến, hầu hết các biến đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

     

    Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan

     

       

    KKHAI

    KTRA

    TC

     

    TCB

    CQT

    KTT

    HP

    TS

    CHLT

                           

    KKHAI

    Tương quan

    1

                     

    Pearson

                     

    KTRA

    Tương quan

    .509**

    1

                   
     

    Pearson

                       

    TC

    Tương quan

    .375**

    .438**

    1

                 
     

    Pearson

                       

    TCB

    Tương quan

    .238**

    .362**

    .423**

     

    1

    **

           
     

    Pearson

                       

    CQT

    Tương quan

    .304**

    .559**

    .397**

     

    .419**

    1

           
     

    Pearson

                       

    KTT

    Tương quan

    .150*

    .315**

    .078

     

    .199**

    .206**

    1

         
     

    Pearson

                       

    HP

    Tương quan

    .252**

    .246**

    .343**

     

    .572**

    .304**

    .138*

    1

       
     

    Pearson

                       

    TS

    Tương quan

    .159**

    .169**

    .187**

     

    .191**

    .181**

    -.019

    .217**

    1

     
     

    Pearson

                       

    CHLT

    Tương quan

    .534**

    .597**

    .655**

     

    .556**

    .538**

    .238**

    .491**

    .125*

    1

     

    Pearson

                       

    *. Tương quan ý có nghĩa 0.05 level (2-tailed).

               

    **. Tương quan có ý nghĩa 0.01 level (2-tailed).

               
                         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Kết quả bảng hệ số tương quan bảng 4.6 cho thấy biến phụ thuộc có mối tương quan tuyến tính với 8 biến độc lập, Tác giả sẽ xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập này thông qua kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bên dưới.

     

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Bảng 4.7: Mô h̀nh đầy đ̉

     

               

    Sai số

     

    Thống kê thay đổi

       
                         

    Hệ số

                         
     

         

    R2 điều

    chuẩn

    R2

         

    Sig. F

     

    R

    R2

     

    F thay

       

    Durbin-

     

    hình

     

    chỉnh

    của ước

       
           

    thay

    df1

    df2

    thay

    Watson

               

    lượng

    đổi

               

    đổi

       

    đổi

     
                         
                             

    1

     

    .821a

    .675

     

    .665

    .26989

    .675

    69.188

    8

    267

    .000

    1.007

                         

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

           

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

                   
                             
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

    Trị số thống kê F đạt giá trị 69.188 được tính từ giá trị R2 của mô hình đầy đủ, tại mức ý nghĩa Sig = 0.000; kiểm tra hiện tượng tương quan bằng hệ số Durbin–Watson (1< 1.008 < 3). Như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính đưa ra là phù hợp với mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy phương trình được trình bày trong bảng 4.7 và 4.8.

     

    Bảng 4.8: Phân t́ch ANOVA

     

     

    Mô hình

    Tổng các

    Bậc tự

    Bình quân

    Giá trị

    Giá trị Sig.

     

    bình phương

    do(df)

    độ lệch

    F

         
                 

    1

    Hồi quy

    40.317

    8

    5.040

    69.188

    .000b

                 

    2

    Số dư

    19.448

    267

    .073

       
                 

    3

    Tổng

    59.764

    275

         
                 

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

       

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

           
         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    12

     

                 

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

                     
     

    Bảng 4.9: Các thông số c̉a từng biến trong phương tr̀nh h̀i quy

     
                       

     

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số

           

    Nhân tố

    chuẩn

    Giá trị

     

    Đa cộng tuyến

    hình

    hoá

     

    Giá trị

       

    hoá

       
               

    Sig.

       
               

    t

       
       

    B

     

    Sai số

    Beta

     

    Độ chấp

    VIF

             
         

    chuẩn

       

    nhận

                   
                       
     

    (hằng số)

    .353

     

    .189

     

    1.866

    .063

       
                       
     

    KKT

    .032

     

    .026

    .045

    1.210

    .227

    .873

    1.145

                       
     

    KKHAI

    .200

     

    .040

    .208

    4.980

    .000

    .700

    1.428

                       

    1

    KTRA

    .129

     

    .037

    .170

    3.455

    .001

    .506

    1.976

                     

    TC

    .280

     

    .035

    .338

    7.961

    .000

    .675

    1.482

       
                       
     

    TCB

    .127

     

    .036

    .161

    3.476

    .001

    .568

    1.760

                       
     

    CQT

    .117

     

    .038

    .137

    3.091

    .002

    .619

    1.616

                       
     

    HP

    .133

     

    .036

    .159

    3.644

    .000

    .639

    1.564

                       
     

    TS

    -.079

     

    .032

    -.089

    -2.455

    .015

    .919

    1.088

    a.  Biến phụ thuộc: CHLT

               
                       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Từ bảng 4.9 cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số β = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Bảng 4.9 cũng cho thấy dung sai các biến (độ chấp nhận) khá cao từ 0.506 trở lên và hệ số VIF của cả 7 nhân tố nhỏ hơn 10, nghĩa là không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập trong mô hình.

     

    Phương trình hồi quy đối với các biến có hệ số chuẩn hoá có dạng như sau:

    0.89X8 +ɛ1

     

    F1= 0.208 X1 + 0.170X2          + 0.338X3 + 0.161X4 + 0.137X5 + 0.045X6 + 0.159X7

     

    Trong đó:   F: Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

     

    X1: Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

     

    X2: Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

     

    X3: Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

     

    X4: Nhận thức về tính công bằng (TCB)

     

    X5: Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

     

    X6: Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

     

    X7: Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

     

    X8: Vấn đề thuế suất (TS)

     

    Mô hình nghiên cứu tác giả điều chỉnh cho ta kết quả bảng 4.10 sau:

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả kỉm định giả thuyết

     

     

    Giả thuyết

    Kết quả kiểm định

     
           

    H1

    T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động cùng chiều đến ý

    Chấp nhận

     

    thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H2

    Công tác kỉm tra thuế có tác động cùng chiều đến ý thức chấp

    Chấp nhận

     

    hành pháp luật thuế.

         
           

    H3

    T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ĐTNT nộp thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H4

    Nhận thức về t́nh công bằngcó tác động cùng chiều đến ý thức

    Chấp nhận

     

    chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H5

    Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H6

    Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế có tác động cùng chiều đến

    Không chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H7

    Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội có tác động cùng chiều đến

    Chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H8

    Vấn đề thuế suất có tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành

    Chấp nhận

     

    pháp luật thuế.

         
           
     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

     

    Kết quả cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số

     

    • = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê.

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến

    không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Thái độ của người nộp thuế đối với từng nhân tố tác động đến việc chấp hành pháp luật thuế, với giá trị trung bình của các tiêu chí dao động trong khoảng giá trị từ 3.84 cho đến 3.86. Các biến có giá trị thấp nhất là KTT4, KTT3, KTT2 và KTT1 đều có giá trị lần lượt là 2.67, 3.28, 3.37. 3.37. Điều này có nghĩa là cũng có một bộ phận người nộp thuế cho rằng ý thức chấp hành pháp luật thuế không chịu tác động về việc họ càng được cập nhật kiến thức về thuế càng chấp hành pháp luật tốt hơn.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

     

    Hỗ trợ đối tượng nộp thuế tăng cừng ý

     

    thức chấp hành pháp luât thuế:

     

    • Không ngừng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch, công khai và đầy đủ.

    14

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    • Xây dựng hình ảnh cơ quan thuế hướng đến khách hàng với chất lượng dịch vụ được nâng cấp.
    • Cải thiện và nâng cao giá trị sử dụng của trang thông tin điện tử Cục Thuế TP.HCM theo xu hướng phù hợp với yêu cầu của hệ thống thuế điện tử.
    • Tăng cường hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra thuế.
    • Tăng cường giáo dục kiến thức thuế nhằm cải thiện nhận thức của người nộp thuế.
    • Xây dựng văn hóa tự giác tuân thủ thuế một cách hiệu quả.
    • Tăng cường thiết lập một hệ thống hoạt động dựa trên cơ chế tiếp nhận thông tin và phản hồi, kết hợp với việc đánh giá các phản hồi
    • Xây dựng và không ngừng củng cố cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp về người nộp thuế.
    • Xem xét việc xây dựng chức năng cung ứng dịch vụ cho người nộp thuế.

    Hạn chế c̉a đề tài và hứng nghiên cứu tiếp theo:

     

    Tuy có những kết quả nghiên cứu đạt được, nhưng đề tài còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện sau đây:

    • Nghiên cứu chỉ thực hiện được trên một bộ phận người nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM nên tính đại diện sẽ chưa cao, sẽ bao quát hơn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2010), Quy trình quản lý thuế và Cơ chế tự khai tự nộp thuế theo Luật Quản lý thuế, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

     

    • Ian Pretty (2011), Hiện đại hóa quản lý thuế nhìn từ cơ quan thuế Anh, Tạp chí Thuế nhà nước, Số 4 (314), kỳ 4/1/2011.

     

    • Lê Thị Xuân Nghi (2015), Các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Tài chính-Marketing.

    nếu lấy mẫu nhiều quận, huyện trong TP. HCM.

     

    • Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên cũng có thể hạn chế sự đa dạng trong các đối tượng được khảo sát. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính toàn diện của thông tin được thu thập.
    • Do đặc thù của công việc kê khai, kế toán thuế ở Việt Nam trong một số trường hợp, nhân viên kê khai, kế toán thuế không được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế theo quy định mà phải thực hiện theo chỉ đạo của chủ doanh nghiệp, công ty khi xác định tiền thuế phải nộp. Vì vây, mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với nhân viên kê khai, kế toán thuế ảnh hưởng như thế nào đến việc chấp hành pháp luật thuế của các công ty ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau, ở những quy mô khác nhau là hướng nghiên cứu có thể cần được khai thác ở những nghiên cứu tiếp theo.

     

    • Mối quan hệ giữa các ngành, các cấp chưa có sự phối hợp đồng thời và còn tuân thủ theo Luật NSNN có những quy định về thuế quá khắt khe trước xu thế hội nhập.

     

    • Tính nghiên cứu còn dựa trên phương pháp định lượng mà chưa kết hợp toàn diện ở phương pháp định tính, làm cho đề tài chưa được đa dạng, phong phú của các đối tượng thực thi công việc (người nộp thuế, công chức thuế…)./.

     

    • Ngân hàng thế giới (2011), Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn, Ban quản lý kinh tế và xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.

     

    • Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình quản lý thuế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007), Giáo trình thuế, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Hoàn thiện

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội), Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội.

     

    • Võ Đức Chín (2011), Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp – Trường hợp tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TPHCM.

     

    • Vương Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ

    chức bộ máy ngành thuế trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.

     

    • Tổng cục Thuế (2006), Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.
    • Tổng cục Thuế – Tạp chí thuế nhà nước (năm

     

    2008), Quy trình kê khai, miễn giảm, hoàn, kiểm tra và quản lý nợ thuế (tập 1), NXB Tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

    16


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-%C4%91%C3%B3ng-g%C3%B3p-quan-tr%E1%BB%8Dng-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%AFc-Ninh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TṚNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA TỈNH BẮC NINH

     

    IMPORTANT ROLE OF FOREIGN INVESTMENT

     

    IN ECONOMIC DEVELOPMENT IN BAC NINH PROVINCE

     

     

    TÓM TẮT

     

    Mặc dù bối cảnh kinh tế trong nức và thế gíi còn nhiều khó khăn nhưng kết thúc năm 2015, tỉnh Bắc Ninh ṽn là đỉm sáng nhất c̉a cả nức về thu hút nhiều dự án đầu tư nức ngoài (FDI), v́i tổng vốn đầu tư đạt gần 3,5 tỷ USD. Bên cạnh ngùn vốn trong tỉnh đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nức ngoài là một trong những ngùn vốn quan tṛng, trong đó, FDI được coi là ngùn vốn th́ch hợp đối v́i Bắc Ninh. Vai trò c̉a FDI trong những năm qua đã được khẳng định, đóng góp t́ch cực vào tăng trưởng và phát trỉn kinh tế c̉a tỉnh. Bài viết, vận dụng phương pháp thống kê mô tả đánh giá những thành tựu nổi bật về thu hút FDI và những đóng góp t́ch cực mà FDI mang lại cho tỉnh Bắc Ninh. Đ̀ng th̀i, đề xuất một số giải pháp quan tṛng đ̉ tiếp tục thu hút ngùn vốn FDI này cho mục tiêu phát trỉn đến những năm tiếp theo

     

    Từ khóa: Vốn FDI, Bắc Ninh, công nghiệp, xuất khẩu.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Phát huy lợi thế về địa kinh tế, tiềm năng thế mạnh của tỉnh, ngay sau khi tái lập Bắc Ninh đã thực hiện quy hoạch xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN), coi đây là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp. Sau 19 năm hình thành và phát triển, với hệ thống hạ tầng đồng bộ, các KCN Bắc Ninh đã minh chứng được năng lực vượt trội đó là sức hút đầu

     

    Khổng Văn Thắng (*)

     

    ABSTRACT

     

    Although the economic context in the country and the world are more dificult but at the end of 2015, Bac Ninh province is still the biggest highlights of the country in attracting foreign investment (FDI) with total capital invested nearly $ 3.5 billion. Besides, the capital of the province plays a decisive role, foreign investment is one of the important sources of capital inwhich, FDI is considered appropriate funding for Bac Ninh. The role of FDI in recent years has been conirmed a positive contribution to growth and economic development of the province. Article, using descriptive statistical methods to assess the accomplishment highlights of FDI inlows and the positive contribution that FDI brings in Bac Ninh province. At the same time, proposed some important measures to attract FDI for development goals in the comming year.

     

    Keywords: FDI, Bac Ninh, industrial, export.

     

    tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng, đưa Bắc Ninh từ một tỉnh nông nghiệp vươn lên đứng tốp đầu toàn quốc về thu hút đầu tư. Sự xuất hiện của FDI tại Bắc Ninh thời gian qua đã đem lại cho tỉnh những tác động tích cực về kinh tế

     

    • xã hội thể hiện qua các khía cạnh như: đóng góp đối với tổng vốn đầu tư toàn xã hội; làm tăng khả năng huy động các nguồn vốn khác; góp phần làm chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tăng thu

     

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh

     

     

    95

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    ngân sách nhà nước; tăng việc làm và thu nhập cho người lao động; tăng cường xuất khẩu; góp phần chuyển giao công nghệ một cách thuận lợi và nhanh chóng. Ngoài ra, FDI còn góp phần tích cực vào phát triển lực lượng sản xuất, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh trong những năm gần đây liên tục tăng cao; đem lại những mô hình quản lý tiên tiến, những phương thức kinh doanh hiện đại cho tỉnh Bắc Ninh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lương sản phẩm và sức cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, mở rộng tiến trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới bên ngoài [5]. Bên cạnh những đóng góp quan trọng đó kinh tế FDI cũng có những tác động tiêu cực đối với tỉnh Bắc Ninh như vấn đề môi trường, chuyển giao khoa học công nghệ, vấn đề an ninh trật tự, vấn đề trốn thế, chuyển giá và tính bền vững của nền kinh tế khi phụ thuộc quá nhiều vào đóng góp của FDI. Tuy nhiên, để có cái nhìn chính xác, khách quan và khoa học về vai trò của FDI đối với kinh tế tỉnh Bắc Ninh, thì từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và có tính hệ thống về vấn đề này. Chính vì vậy, bài viết này sẽ nghiên cứu cụ thể, khoa học và hệ thống cao về vai trò của FDI đối với kinh tế tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp cần thiết để đến năm 2020 và những năm tiếp theo nguồn vốn FDI sẽ đóng góp hiệu quả hơn vào kinh tế – xã hội cho tỉnh, đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp tiêu biểu của cả nước và là thành phố trực thuộc trung ương vào những năm 2020. [3]

     

    THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ CỦA TỈNH BẮC NINH NĂM 2015

     

    Đến hết năm 2015 các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư 144 dự án vào tỉnh Bắc Ninh với tổng

     

    vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,46 tỉ USD, chiếm 16% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước và là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài đứng trên cả TP.Hồ Chí Minh (đứng thứ 2) với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,32 tỉ USD, chiếm 14,6% và Bình Dương (đứng thứ 3) với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,95 tỉ USD, chiếm 13% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Trà Vinh và Đồng Nai với tổng vốn đầu tư lần lượt là 2,52 tỉ USD và 1,94 tỉ USD. Cũng trong năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 4 ngành lĩnh vực của tỉnh Bắc Ninh, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 112 dự án đầu tư đăng ký mới, chiếm 77,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đứng thứ 2 với 7 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới 1,93 tỷ USD, lĩnh vực xây dựng đứng thứ 3 với 2 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 0,6 tỉ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư… Lũy kế đến hết năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư vào 15 trên tổng số 21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó FDI tư tập trung nhiều vào lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo với 714 dự án, tổng vốn đầu tư 10,921 tỷ USD, chiếm 94,6% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh; đứng thứ hai là lĩnh vực xây dựng với 19 dự án và số vốn là 17,3 triệu USD, chiếm 0,15%; tiếp đến là bán buôn, bán lẻ 18 dự án với số vốn là 41,5 triệu USD, chiếm 3,6% và kinh doanh bất động sản với 12 dự án và vốn đăng ký là 358 triệu USD, chiếm 3,12 % tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Bốn lĩnh vực này đã chiếm hơn 98% tổng vốn đầu tư đăng ký trên toàn địa bàn tỉnh, còn lại là một số lĩnh vực khác như vận tải, dịch vụ lưu trú và ăn uống. [10]

     

     

    96

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    Bảng 01: Số dự án đầu tư có hiệu lực và số vốn đăng ký có đến 31/12/2015

     

       

    Số dự án, vốn đăng ký từ

    Số dự án còn hiệu lực,

     
       

    vốn đăng ký l̃y kế đến

     
       

    1/1/2015-31/12/2015

       

    hết năm 2015

     

    STT

    Chỉ tiêu

       
             

    Số dự án (dự

    Vốn đăng ký

    Số dự án (dự

    Vốn đăng

     
       
       

    ký (Triệu

     
       

    án)

    (Triệu USD)

    án)

       

    USD)

     
             
                 

    1

    Tổng số

    144

    3.460

    786

    11.469,9

     
    • Phân theo ngành kinh tế chủ yếu

    2.1

    Công nghiệp chế biến, chế tạo

    112

    3142

    507

    714

    2.2

    Xây dựng

    2

    6

    17

    19

    2.3

    Bán buôn, bán lẻ

    7

    19.5

    11

    18

    2.4

    Kinh doanh bất động sản

    0

     

    12

    12

    2.5

    Dịch vụ lưu trú ăn uống

    1

    0.5

    9

    10

    • Phân theo nước đầu tư chủ yếu

    3.1

    Hàn Quốc

    77

    3.047,5

    474

    8.297,8

    3.2

    Nhật Bản

    12

    38,7

    80

    1066.4

    3.3

    Singapore

    7

    33,0

    28

    282,4

    3.4

    Trung Quốc

    11

    22,5

    66

    135,6

    3.5

    Đài Loan

    7

    7,2

    38

    362,4

    3.6

    Hồng Kông

    7

    14,5

    33

    289,5

    3.7

    Phần lan

    0

    0,0

    1

    302,0

    Nguồn: Báo cáo kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

    Phân theo h̀nh thức đầu tư: Các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tập trung chủ yếu vào hình thức 100% vốn FDI với 586 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 7,34 tỷ USD,chiếm 93,8% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Các dự án còn lại thuộc hình thức liên doanh, công ty cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     

    Phân theo đối tác đầu tư: Tính đến nay, đã có 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Các nhà đầu tư Hàn Quốc dẫn đầu với trên 474 dự án và 8,29 tỷ USD, chiếm 72,3% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD, chiếm 9,3% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh với trên 80 dự án. Trung Quốc đứng thứ ba, có 66 dự án với tổng vốn đầu tư là gần 135,6 triệu USD,chiếm 1,2 % tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Còn lại là nhà đầu tư đến

    từ các quốc gia khác như: Đài Loan, Singapo, Phần Lan, Thái Lan… Một số dự án tiêu biểu: Dự án FDI lớn nhất tại Bắc Ninh đến thời điểm hiện nay là dự án Công ty TNHH SamSung Display Bắc Ninh cấp phép ngày 21/6/2007 của nhà đầu tư Sam Sung Display Co.,Ltd (Hàn Quốc). Tổng vốn đầu tư của dự án đạt 1 tỷ USD, dự án này chuyên sản xuất, lắp ráp gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình Smartphone… đến tháng 8 năm 2015, Công ty Samsung Display Việt Nam tiếp tục đầu tư thêm dự án mới với số vốn đầu tư tăng thêm là 3 tỷ USD. Với việc đầu tư thêm 3 tỷ USD, nâng quy mô và vốn đầu tư, dự án của Samsung Display tại Bắc Ninh lên 4 tỷ USD đã đưa Samsung Display trở thành dự án có quy mô vốn đầu tư lớn nhất của Tập đoàn Samsung tại Việt Nam và đưa Samsung trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Dự kiến với

     

     

    97

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    việc đầu tư mở rộng như vậy đến năm 2018 doanh thu sẽ đạt 40 tỷ USD và năm 2020 đạt 60 tỷ USD; tạo kim ngạch xuất khẩu lớn và tạo trên 20.000 việc làm cho người lao động. Đứng thứ hai là dự án Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam cấp phép ngày 25/3/2008 của nhà đầu tư Samsung Electronics Asia Holding Pte. Ltd, Singapore. Tổng vốn đầu tư của dự án lên tới 2,5 tỷ USD. Dự án sản xuất sản phẩm điện tử công nghệ cao, cung cấp dịch vụ sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử. [4]

    ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH

     

    3.1. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh

     

    Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh đã khẳng định vị trí của mình và trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào điểm phần trăm tăng trưởng GRDP trong những năm gần đây. Đầu tư nước ngoài FDI trong thời gian qua đã đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Bắc Ninh. Bình quân giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh lên đến 17%/ năm, tăng cao gấp 3,19 lần so với bình quân cả nước (5,28%). Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GRDP toàn tỉnh tăng dần qua các năm, nếu như năm 2010 là 36,5%, sang năm 2011 đã tăng lên 47,3%, tăng 10,8 điểm phần trăm; năm 2012 đạt 51,6%, thì đến năm 2014 đã đạt 60,4% và đến năm 2015 đạt đến 61,1% (xem bảng 2).

     

     

    Bảng 2: Đóng góp c̉a kinh tế có vốn đầu tư nức ngoài đối v́i Tổng sản phẩm (GRDP) tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015

         

    Năm

           
                 

    Tốc độ

     
                 

    phát triển

     
     

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    bình quân

     
     

    2010-2015

     
                 
                 

    (%)

     
                     

    TỔNG SỐ (Tỷ đồng)

    45.716,0

    59.041,0

    67,834.0

    97,149.0

    92,206.0

    100,241.0

    117,0

     
                     

    Tốc độ phát triển(%)

    129.15

    129.14

    114.89

    143.21

    94.91

    108.71

    x

     
                     

    Nhà nước (tỷ đồng)

    4.935,0

    5.028

    5.544

    4.721

    5.010

    5.418

    101,9

     
                     

    Ngoài Nhà nước (tỷ đồng)

    20.921,0

    22.274

    21.993

    23.752

    25.708

    27.920

    105,9

     
                     

    Kinh tế có vốn đầu tư nước

    16.685,0

    27.908

    35.011

    63.153

    55.650

    61.228

    129,7

     

    ngoài (tỷ đồng)

                   
                     

    Thuế sản phẩm (tỷ đồng)

    3.175,0

    3.831

    5.286

    5.523

    5.838

    5.675

    112,3

     
                     

    Cơ cấu (%)

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

       
                     

    Nhà nước

    10,8

    8,5

    8,2

    4,9

    5,4

    5,4

    x

     
                     

    Ngoài Nhà nước

    45,8

    37,7

    32,4

    24,4

    27,9

    27,9

    x

     
                     

    Kinh tế có VĐT nước ngoài

    36,5

    47,3

    51,6

    65.0

    60.4

    61,1

    x

     
                     

    Thuế sản phẩm

    6,9

    6,5

    7,8

    5,7

    6,3

    5,7

    x

     
                     

    Nguồn: Niêm giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

    98

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    3.2. Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu

    nghiệp FDI của tỉnh Bắc Ninh tăng 53,2%/năm,

    kinh tế ngành thúc đẩy tăng trưởng sản xuất

    cao hơn bình quân trung toàn ngành của tỉnh

    công nghiệp

    16,1%, toàn tỉnh là 37,1%/năm.

    Có thể khẳng định FDI là một nhân tố quan

    Nhìn chung FDI đã xuất hiện ở tất cả các

    trọng đóng góp rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu

    ngành, nhưng FDI vẫn được thu hút nhiều nhất

    ngành theo hướng công nghiệp hóa ở Bắc Ninh

    vào ngành công nghiệp, trong đó sự xuất hiện

    và tỷ trọng công nghiệp so với GDP tăng lên là

    của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng

    nhờ đáng kể vào khu vực FDI, cụ thể: Giá trị sản

    do công đóng góp lớn của FDI. Nếu như năm

    xuất công nghiệp (CN) khu vực FDI năm 2010

    2010 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt

    là 68.803 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), chiếm

    111.037 tỷ đồng chiếm 78,2% tổng giá trị sản

    48,4%; đến năm 2012 đã là 322.722 tỷ đồng,

    xuất toàn ngành thì đến năm 2015 ngành này

    chiếm 79,2%; đến năm 2014 là 513.469 tỷ đồng,

    đã tạo giá giá trị sản xuất đạt 642.706 tỷ đồng

    chiếm 84,0% và năm 2015 đạt 580.495 tỷ đồng,

    chiếm 93,3% và bình quân giai đoạn 2010-2015

    chiếm 84,2% tổng giá trị sản xuất công nghiệp

    công nghiệp chế biến chế tạo của tỉnh Bắc Ninh

    toàn tỉnh, bình quân giai đoạn 2010-2015 công

    tăng 42,1%/năm.

    Bảng 3: Kinh tế có vốn đầu tư nức ngoài làm chuỷn dịch mạnh mẽ cơ cấu ngành công nghiệp (giá so sánh năm 2010) c̉a tỉnh Bắc Ninh

         

    Năm

       

    Tốc độ phát

     
                 

    triển bình

     
                 
     

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    quân 2010-

     
                 

    2015 (%)

     
                     

    Giá trị sản xuất công nghiệp

    142.038

    262.399

    407.245

    616.381

    611.618

    689.101

    137,1

     

    (Tỷ đồng)

                   
                     

    – Nhà nước

    9.084

    8.494

    9.820

    8.237

    8.748

    9.467

    100,8

     

    – Ngoài Nhà nước

    64.151

    74.442

    74.703

    81.450

    89.401

    99.139

    109,1

     
                     

    – Kinh tế có VĐT nước ngoài

    68.803

    179.463

    322.722

    526.694

    513.469

    580.495

    153,2

     
                     

    Cơ cấu (%)

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    x

     
                     

    – Nhà nước

    6,4

    3,2

    2,4

    1,3

    1,4

    1,4

    x

     
                     

    – Ngoài Nhà nước

    45,2

    28,4

    18,3

    13,2

    14,6

    14,4

    x

     
                     

    – Kinh tế có VĐT nước ngoài

    48,4

    68,4

    79,2

    85,4

    84,0

    84,2

    x

     
                     

    Phân theo ngành công nghiệp

                   

    cấp 2 (Tỷ đồng)

                   

    – Khai khoáng

    23

    37

    28

    27

    4

    3

    66,5

     

    – Công nghiệp chế biến, chế tạo

    111.037

    229.014

    372.381

    577.591

    568.651

    642.706

    142,1

     
                     

    – SX, PP điện, khí đốt, nước

    220

    217

    346

    415

    412

    444

    115,1

     

    nóng,…

                   

    – Cung cấp nước; HĐ quản lý

    265

    311

    274

    360

    532

    446

    111,0

     

    và xử lý rác thải, nước thải

                   
                     
         

    Nguồn: Niêm giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

     

    99

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút ĐTNN, dòng vốn FDI hướng vào những ngành công nghiệp khai thác và thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên, xu hướng này đã thay đổi kể từ năm 2000 đến nay. Theo đó, các dự án FDI vào ngành công nghiệp chế biến và định hướng xuất khẩu đã tăng nhanh, góp phần tăng tổng kim ngạch xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Bắc Ninh. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện

     

    điện tử… Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Bắc Ninh có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN.

     

    3.3. Đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh

     

    Điểm đáng nói nữa là sự xuất hiện của FDI và phát triển của khu vực này cũng làm xuất hiện nhiều sản phẩm công nghiệp và dịch vụ mới có đóng góp trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu, ví dụ các sản phẩm thiết bị điện, điện tử, linh kiện. Đây là những mặt hàng xuất hiện cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh và đóng góp nhiều cho xuất khẩu.

     

     

    Bảng 04: Một số đóng góp ch́nh c̉a khu vực vốn đầu tư nức ngoài đối v́i

     

    Kim ngạch xuất khẩu tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015

     

    Chỉ tiêu

    ĐVT

         

    Năm

       
                 

    2010

    2011

    2012

     

    2013

    2014

    2015

         
                     

    Tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh

    Tr. USD

    2.451

    7.757

    15.041

     

    26.283

    21.975

    23.274,1

                     

    + Giá trị xuất khẩu khu vực FDI

    Tr. USD

    2.357

    7.509

    14.911

     

    26.072

    21.826

    23.130,6

                     

    + Cơ cấu

    %

    96,2

    96,8

    99,1

     

    99,2

    99,3

    99,4

                     

    Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực

                   
                     

    Hàng dệt may

    Tr. USD

    108,7

    159,8

    162,1

     

    189,5

    241,8

    155,5

                     

    Hàng điện tử

    Tr. USD

    1.550,8

    6.206,2

    13.173,8

     

    23.866,3

    19.925,8

    20.207,1

                     

    Máy tính và linh kiện

    Tr. USD

    9,4

    15,4

    18,3

     

    45,7

    181,6

    80,1

                     

    Dây điện và cáp điện

    Tr. USD

    9,3

    11,1

    14,3

     

    32,8

    17,1

    8,7

                     

    Sản phẩm từ Plastic

    Tr. USD

    3,0

    3,1

    2,9

     

    19,5

    65,5

    30,3

                     

    Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

    Xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu

    khu vực FDI có mức xuất khẩu lớn gồm hàng

    tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2010, kim ngạch

    điện tử, máy tinh và linh kiện, hàng dệt may dây

    xuất khẩu khu vực FDI đạt 2.357 triệu USD,

    điện và cáp điện, trong đó hàng điện tử đang

    chiếm 96,2% kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh;

    chiếm giá trị lớn nhất trong các hàng hoá xuất

    đến năm 2012 đạt 14.9111 triệu USD, chiếm

    khẩu của tỉnh Bắc Ninh, nếu năm 2011 giá trị

    99,1%; năm 2014 đạt 21.862 triệu USD, chiếm

    xuất khẩu của mặt hàng này là 6.206,154 triệu

    99,3% và đến hết năm 2015 đạt trên 23.131 triệu

    USD chiếm 82,65%, sau một năm đến 2012 con

    USD chiếm 99,4%. Các mặt hàng chủ lực của

    số này đã tăng lên gấp 2,1 lần và đạt 13.173,836

     

     

    100

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    triệu USD, chiếm 88,3% giá trị xuất khẩu của khu vực FDI; đến năm 2015 mặt hàng này đã lên đến 20.207,042 triệu USD và chiếm 87,4% của khu vực FDI.[6]

     

    3.4. Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng và tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh Bắc Ninh

     

    Thu hút đầu tư lớn, sản xuất phát triển đã góp phần đưa khu vực vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh đóng góp ngày càng lớn vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài năm 2010 đạt 2.120 tỷ đồng, chiếm 34,8%, đến năm 2012 đã là 3.823 tỷ đông, chiếm 40,5%, đến năm 2014 là 4.000 tỷ đồng chiếm 32,2% và đến hết năm 2015 ước đạt 4.500 tỷ đồng, chiếm 31,5% tổng thu ngân sách toàn tỉnh.

     

    Hình 1: Nộp ngân sách c̉a kinh tế vốn đầu tư nức ngoài giài đoạn 2010-2015

     

    Nguồn: Số liệu Thống kê ch̉ yếu th̀i kỳ 2010-2015

     

    Số nộp ngân sách khu vực FDI tăng nhanh qua từng năm, đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bình quân mỗi năm tỉnh đão tạo việc làm mới cho trên 26 nghìn lao động, thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh đến hết năm 2015 đã đạt trên 42 triệu đồng/người/năm.

     

    3.5. Nguyên nhân của những thành quả trên

     

    • Có được kết quả đó trước tiên phải kể đến khâu đột phá đầu tiên của Bắc Ninh là cải cách hành chính, thời gian qua tỉnh Bắc Ninh không ngừng nỗ lực thực hiện đồng bộ công tác cải cách hành chính (CCHC), coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là bước đột phá trong thực hiện nhiệm vụ

    chính trị của địa phương nhằm góp phần nâng cao chỉ số năng lực canh tranh của tỉnh (PCI) liên tục đạt ở mức rất tốt, năm 2010 đạt 64,48 điểm, xếp thứ 6; đến năm 2011 đạt 67,27 điểm, xếp thứ 2; năm 2012 đạt 62,26 điểm, xếp thứ 10; năm 2013 đạt 61,07 điểm, xếp thứ 12; đến năm 2014 đạt 60,92 điểm, xếp thứ 10 cả nước và thứ 3 trong vùng và năm 2015 đạt 59,91 điểm chỉ còn xếp thứ 13 toàn quốc song vẫn duy trì xếp thứ 3 của vùng, tạo đà thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh (xem hình dưới).

     

     

    Hình 2: Đỉm số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và thứ hạng c̉a Bắc Ninh so v́i cả nứ

     

    Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 2016

     

    Qua hình trên cho thấy, công tác CCHC được triển khai đồng bộ, hiệu quả cả về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công và hiện đại hoá hành chính. Với sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh các Sở, ban, ngành công tác CCHC thu được những kết quả khả quan, được các cấp, ngành, đơn vị và cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình trong cải cách TTHC là thực hiện nghiêm túc việc rà soát các TTHC và thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật khi có sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ, bãi bỏ liên quan đến các TTHC; kiểm soát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc các thủ tục được công bố công khai, đồng thời nghiên cứu, đề nghị cắt giảm tối đa các thủ tục không cần thiết cụ thể ở Sở kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang thực hiện giải quyết các TTHC và toàn bộ được áp dụng giải quyết theo cơ chế một cửa với việc niêm yết công khai các quy định về TTHC và trình tự giải quyết TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; công khai,

     

     

    101

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    minh bạch tất cả các TTHC thuộc phạm vi quản lý của ngành trên cổng thông tin điện tử của Sở KH&ĐT, trong đó ưu tiên việc cắt giảm thời gian thực hiện các TTHC so với quy định như: Thời gian thực hiện thủ tục Thẩm định kế hoạch đấu thầu giảm 60%; Cấp Giấy chứng nhận hoạt động doanh nghiệp giảm 70%; Thẩm định chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp giảm 66%…[8]. Bước đầu thực hiện thành công việc đăng ký kinh doanh qua mạng là bước đột phá trong CCHC, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, từng bước hiện đại hóa nền hành chính công. Bên cạnh đó, Sở KH&ĐT cũng thường xuyên chỉ đạo rà soát, nâng cao chất lượng hỗ trợ, phục vụ doanh nghiệp, phối hợp với các cơ quan có liên quan giải quyết kịp thời vướng mắc cho doanh nghiệp; công khai số điện thoại, email tại Bộ phận một cửa hiện đại, số điện thoại tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo để kịp thời tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về TTHC trong việc giải quyết công việc của tổ chức, doanh nghiệp, công dân. Tăng cường đối thoại giữa chính quyền với doanh nghiệp và nhân dân, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của tổ chức và cá nhân trong việc xây dựng thể chế…[9]

     

    1. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA KHU VỰC KINH TẾ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TỈNH BẮC NINH

    Tuy đã đạt được nhiều thành tựu, song trong quá trình hoạt động khu vực kinh tế này cũng bộc lộ một số hạn chế, yếu kém đó là:

     

    -Một là, chất lượng dòng vốn đầu tư vào tỉnh chưa cao, vẫn nặng về trang thủ sử dụng nhân công giá rẻ để sinh lợi kể cả các tập đoàn lớn như: Samsung, Canon…đa số các dự án FDI thuộc lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh đều phải nhập khẩu linh phụ kiện, thiết bị từ nước ngoài để lắp ráp nên giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp và chủ yếu gia

     

    tăng từ nguồn nhân công giá thấp. Điều này cho thấy phát triển công nghiệp phụ trợ của tỉnh còn ở mức rất thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp FDI. Doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp FDI rất lớn và liên tục có xu hướng tăng qua từng năm song đóng góp cho ngân sách so với doanh thu rất thấp thậm chí không bằng doanh nghiệp dân doanh trong nước cụ thể: Năm 2010, tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu của các doanh nghiệp FDI Bắc Ninh là 3,61%, cao hơn 3,23% của doanh nghiệp dân doanh, đến năm 2014, tỷ lệ này giảm chỉ còn 1,25%.

     

    • Hai là, hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra rất chậm và không rõ nét, rất nhiều doanh nghiệp FDI vào tỉnh Bắc Ninh gần 20 năm nay nhưng tỷ lệ nội địa hóa không đáng kể thậm chí là không có; nhiều dự án hoạt động không hiệu quả đã bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Một số doanh nghiệp liên tục báo thua lỗ, theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2010, có tới 66 doanh nghiệp FDI làm ăn thua lỗ với số tiền là 622,4 tỷ đồng và đến năm 2014, cũng từ kết quả điều tra doanh nghiệp cho số liệu tương ứng là 196 doanh nghiệp FDI làm ăn thua lỗ với số tiền lỗ là 2.028,9 tỷ đồng; hiện tượng chuyển giá để báo lỗ đã xuất hiện ở một số doanh nghiệp FDI tỉnh Bắc Ninh với mức độ ngày càng tinh vi hơn.

     

    • Ba là, tình trạng tranh chấp lao động và đình công còn diễn ra, tình trạng công nhân bỏ các doanh nghiệp dân doanh chạy sang các doanh nghiệp FDI khá phổ biến, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp FDI có sự chênh lệch rất lớn giữa cán bộ quản lý và công nhân lao động trực tiếp điều đó đã tạo ra sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa các tầng lớp lao động trong doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nợ lương, thưởng và phổ biến nhất là nợ đọng Bảo hiểm xã hội nhiều năm sau đó bỏ trốn gây hoang mang và thiệt hại cho người lao động điển hình vào ngày 8 tháng 5 năm 2015 tại Khu công nghiệp Quế Võ tỉnh Bắc Ninh Công ty TNHH GMIE có 100% vốn đầu tư nước ngoài chuyên

     

     

    102

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    sản xuất, gia công vỏ điện thoại di động, linh kiện điện tử và các chi tiết khác của điện thoại di động; các thiết bị, linh kiện điện tử cao cấp khác, sử dụng 439 lao động bỏ trốn làm hàng trăm công nhân không chỉ mất việc làm mà mất cả lương. Một điểm nhấn nữa cần đề cập đến đó là do mở rộng và phát triển nhiều Khu công nghiệp nên một lượng lớn lao động nhập cư đổ về tỉnh Bắc Ninh thuê trọ ở xung quanh các khu công nghiệp kéo theo hệ lụy về ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội…gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.

     

    • Nguyên nhân, được tỉnh Bắc Ninh chỉ ra là do việc thu hút FDI trong những năm qua còn chạy theo lượng vốn đăng ký mà chưa chú trọng đến hiệu quả của dòng vốn. Hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư còn chồng chéo, thay đổi nhanh, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán. Công tác hậu kiểm dự án đầu tư nước ngoài chưa được tiến hành thường xuyên, trong khi sự phối hợp giữa các sở, ngành ở địa phương và giữa địa phương với trung ương vẫn chưa chặt chẽ. Hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, hệ thống đường giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào khu công nghiệp…

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾP TỤC THU HÚT ĐẦU TƯ CHO CÁC NĂM TIẾP THEO

     

    Để tiếp tục duy trì và thu hút hiệu quả hơn nữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài tỉnh Bắc Ninh tiếp tục phải thực hiện nhiều gải pháp đồng bộ trong đó tập chung vào các giải pháp chính như sau:

     

    Một là, Bắc Ninh cần lựa chọn các dòng vốn đầu tư, lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI theo định hướng “sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai”. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ dần thay thế nhập khẩu linh phụ kiện, thiết bị từ nước ngoài để lắp ráp nhằm tạo giá trị gia tăng

     

    cao trong sản phẩm, nâng cao giá trị đóng góp cho ngân sách.

    Hai là, tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành như Thuế, bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp FDI, tránh trốn thuế, chuyển giá và nợ đọng bảo hiểm xã hội, trốn đóng bảo hiểm xã hội gây thiệt thòi cho người lao động; tiến hành rà soát, phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các dự án chậm triển khai hoặc không triển khai thực hiện; nhằm đa dạng hóa các hình thức đầu tư để huy động và nâng tỷ trọng của vốn FDI vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, trường học), tỉnh tiếp tục khuyến khích đầu tư theo hình thức BT, BOT, đồng thời chỉ đạo nghiên cứu và triển khai mô hình đầu tư hợp tác công tư (PPP) theo Quyết định số 71/2010 ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Ba là, Thường xuyên kiểm tra công tác tuyển dụng và sử dụng lao động, chế độ tiền lương và các phúc lợi khác ghi trong hợp đồng lao động theo Bộ Luật lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng, tránh tình trạng tranh chấp lao động, nợ lương, chậm lương dẫn đến đình công. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong công nhân về tác phong lao động công nghiệp, tránh tình trạng công nhân bỏ doanh nghiệp này chạy sang các doanh nghiệp khác. Tăng cường công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường trong và ngoài Khu công nghiệp tập trung, vì một lượng lớn lao động nhập cư đổ về Bắc Ninh thuê trọ ở xung quanh các khu công nghiệp kéo theo hệ lụy về ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội… gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.

     

    Bốn là, tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đầu mối trung tâm là Bộ phận một

     

     

    103

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cửa của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, xây dựng, thúc đẩy nhanh việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Coi trọng và thường xuyên chỉ đạo làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thực thi công vụ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, bố trí, sắp xếp bộ máy tổ chức khoa học và nhất là đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước và tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư… Đẩy mạnh công tác an ninh trật tự tại các khu công nghiệp tập trung

     

    Năm là, có cơ chế chính sách hỗ trợ, ưu đãi bao gồm: Hỗ trợ về giải phóng mặt bằng; Hỗ trợ nhà đầu tư cung ứng và đào tạo lao động; Đối với các dự án có quy mô lớn (vốn đầu tư từ 1500 tỷ trở lên), sử dụng công nghệ cao, ngoài các ưu đãi theo quy định chung của Chính phủ, nhà đầu tư được UBND tỉnh xem xét hỗ trợ xây dựng cơ chế hỗ trợ ưu đãi đặc thù trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận… tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, xây dựng các khu nhà ở cho công nhân, trường học cho con em công nhân, đầy mạnh công tác xử lý rác nước thải và rác thải; chú trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông, cung cấp phần mềm và giải pháp, nghiên cứu và phát triển (R&D),… Giai đoạn 2020 -2030 và tầm nhìn 2030-2050 sẽ điều chỉnh nâng dần tỷ trọng vốn FDI trong ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

     

    Sáu là, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cần nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Việc cấp Giấy CNĐT phải đảm bảo các yêu cầu như: Sự phù hợp của lĩnh vực đầu tư đối với hệ thống quy hoạch của tỉnh Bắc Ninh, quy hoạch vùng, quy hoạch phát triển ngành..; hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án phải

     

    bằng hoặc cao hơn hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, công nghệ sử dụng trong dự án phải là công nghệ tiên tiến và thân thiện với môi trường….tăng cường công tác kiểm tra đánh giá

     

    tác động môi trường của các doanh nghiệp FDI, nghiêm cấm xả thải chưa qua xử lý thẳng ra môi trường.

     

    Bảy là, tỉnh Bắc Ninh cần thường xuyên gặp mặt đối thoại với các nhà đầu tư và đại diện các tổ chức quốc tế đang hoạt động trên địa bàn, có danh mục các dự án cần thu hút, các chính sách ưu đãi của tỉnh công bố về quy hoạch thu hút đầu tư vào lĩnh vực mà Bắc Ninh có thế mạnh tiềm năng về tài nguyên và lao động để các nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn. Trong công tác xúc tiến đầu tư tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… Đối mới và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Chú trọng các hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ theo định hướng tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường công tác hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được cấp Giấy CNĐT.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Qua nghiên cứu về vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã cho thấy tầm quan trọng của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh; kinh tế vốn đầu tư nước ngoài phát triển trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu, tăng thu ngân sách cho địa phương, đặc biệt là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh những đóng góp quan trong đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định với tỉnh như: Một số lượng lớn FDI đầu tư vào ngành công nghiệp, nhưng chất lượng chưa cao, tình trạng đầu tư không hiệu quả dẫn đến phải thu hồi dự án vẫn còn, nhiều dự án vẫn chỉ khai thác nhân công giá rẻ làm mục tiêu lợi nhuận nên giá trị tăng

     

     

    104

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    thêm thấp do chi phí trung gian quá cao; tình trạng báo lỗ trốn thuế, chuyển giá ngày một tinh vi; tình trạng gây ô nhiễm môi trường trong và ngoài khu công nghiệp đang ngày một gay gắt, an ninh chính trị tại các Khu công nghiệp đang là vấn đề cần phải quan tâm. Chuyển giao công nghệ qua FDI còn hạn chế và nếu có thường xảy ra với các doanh nghiệp quy mô lớn, thông qua ký kết hợp đồng…Do vậy, để cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động đúng quỹ đạo đóng góp tăng trưởng GRDP một cách bền vững. Tỉnh Bắc Ninh cần có hàng loạt

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2016). Niêm giám Thống kê năm 2015. NXB Thống kê HN.

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2015). Bắc Ninh số liệu Thống kê ch̉ yếu th̀i kỳ 2010-2015. NXB Thống kê Hà Nội.
    • Tỉnh ủy Bắc Ninh (2015), Báo cáo ch́nh trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, Tỉnh ủy Bắc Ninh.

    [4]. Khổng Văn Thắng (2013). Thu hút đầu tư nức ngoài vào tỉnh Bắc Ninh- thực trạng và giải pháp. Tạp ch́ khoa ḥc Kinh tế đại ḥc Đà Ñng, (Số 2), tr.23 – 28.

     

    • Khổng Văn Thắng (2013). Đ̉ phát trỉn biền vững các Khu công nghiệp tập trung ở tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Lý luận ch́nh trị, Ḥc viện Ch́nh trị – Hành ch́nh quốc gia H̀ Ch́ Minh, (Số 9), tr.57 -60.

     

    • Khổng Văn Thắng (2013). Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu

    các giải pháp, trong đó có bảy giải pháp mà bài viết đã nêu. Tin rằng, trong thời gian tới hoạt động này sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, tiếp sức cho tỉnh Bắc Ninh thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn mới 2015-2020. Việc điều chỉnh chính sách nâng cao chất lượng dòng vốn ĐTNN vào thời điểm thích hợp sẽ góp phần phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của đầu tư nước ngoài, đồng thời đóng góp cho thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh trong tương lai./.

     

    • tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ khoa ḥc đại ḥc Huế, (Số 8), tr.86 – 94.
    • Khổng Văn Thắng (2013). Sử dụng mô hình SWOT nhằm tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất – nhập khẩu nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ khoa ḥc Đại ḥc Cần Thơ, (Số 28), tr.45 – 53.

     

    • Khổng Văn Thắng (2014). Kinh nghiệm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (Số 98), tr.41-49.

     

    • Khổng Văn Thắng (2014). Tổng quan cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Con số và Sự kiện Tổng cục Thống kê – Bộ kế hoạch và đầu tư, (Số 1 và 2), tr. 23-30.
    • Khổng Văn Thắng (2016). Thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Tạp ch́ đại ḥc Cửu Long, (Số 01), tr.44 – 51.

     

     

     

    105


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-xanh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-c%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM

     

    – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

     

    TOWARDS A GREEN ECONOMY IN VIETNAM

     

    – OPPORTUNITY AND CHALLENGE

     

    Đỗ Thị Hoa Liên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Chuỷn đổi phương thức phát trỉn – Hứng t́i phát trỉn “Kinh tế xanh” ở Việt Nam là hứng tiếp cận ḿi, có nhiều khó khăn, thách thức song xét về dài hạn đây là hứng tiếp cận phù hợp v́i xu thế phát trỉn chung c̉a nền kinh tế toàn cầu.

     

    Từ khóa: Kinh tế xanh, kinh tế xanh ở Việt Nam, hướng tới nền kinh tế xanh.

     

    KINH TẾ XANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN

     

    Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngày 25 tháng 09 năm 2013, Chính phủ đã thông qua Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh. Đồng thời, trong thời gian qua các hoạt động nội hàm có liên quan đến kinh tế xanh đã và đang được triển khai ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới như “kinh tế Cac bon thấp”, “giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, “tăng trưởng xanh”, “công nghệ xanh”, “việc làm xanh”. Định hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở nước ta được đặt trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp: Khủng hoảng tài chính; nợ công châu Âu; biến đổi khí hậu toàn cầu… Tuy nhiên, không chỉ do tác động của bối cảnh quốc tế mà do nội tại nền kinh tế Việt Nam đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nền kinh

     

    ABSTRACT

     

    The green economy as “one that results in improved human well being and social equity, while signiicantly reducing environmental risks and ecological scarcities”. The newapproach for the economy development based on “Green economy” in Vietnam is deinitely neccessary for the time being and the future. However, this new kind of model faces dificulties and challenges, yet it is suitable for the global development.

     

    Keywords: Green economy, green economy in Vietnam, towards a green economy.

     

    tế Việt Nam thời gian qua tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên với hiệu quả sử dụng thấp, phát thải lớn, do đó, phát triển kinh tế xanh sẽ là phương án lựa chọn tối ưu cho sự phát triển bền vững và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.

     

    Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc, nền kinh tế xanh là “nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Như vây, kinh tế xanh là nền kinh tế (i) thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; (ii) tăng trưởng theo chiều sâu, tiêu hao ít tài nguyên, tăng cường sử dụng tài nguyên tái tạo, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, và đổi mới công nghệ; (iii) tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng [1]. Kinh tế xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà nó đề cập đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu.

     

     

    • GV. Khoa Quản trị kinh doanh, trừng Đại ḥc Lao động – Xã hội

     

     

    87

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH CỦA VIỆT NAM

     

    Dưới đây sẽ phân tích môi trường kinh tế

     

    • xã hội của Việt Nam (những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức) để nhận định khả năng thành công của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh:

     

    2.1. Thuận lợi

     

    • Bước đầu đã hình thành khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh: Aghion, Hemous & Veugelers (2009) cho rằng không thể có tăng trưởng xanh nếu không có cải tiến và sự can thiệp của Chính phủ [4]. Nhà nước và khung khổ pháp luật có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát triển nền kinh tế xanh. Trong thực tiễn, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của Chính phủ. Chất lượng tăng trưởng của ngành kinh tế sẽ được duy trì trong dài hạn ở một quốc gia hay địa phương có thể chế và quy định minh bạch, rõ ràng, tính thực thi của hệ thống pháp luật cao. Chính phủ Việt Nam thể hiện rõ quan điểm và cam kết của mình trong việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh. Khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh đã bước đầu được hình thành từ việc ban hành Luật đến các Chiến lược và Chương trình hành động cụ thể: Tiếp tục định hướng phát triển bền vững; Chiến lược Tăng trưởng xanh; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chiến lược quốc gia về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp; Chương trình phát triển nhiên liệu sinh học; Nội dung các hoạt động thuộc kế hoạch hành động tăng trưởng xanh; Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả.

     

    • Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá trong nhiều năm qua: Việt Nam đã trải qua nhiều năm đổi mới, thu được những thành tựu

    kinh tế – xã hội quan trọng. Đặc biệt, sự tăng trưởng công nghiệp liên tục trong những năm qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới của nền kinh tế.

     

     

    Hình 01: Tăng trưởng c̉a nền kinh tế

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2005- 2014

     

    Công nghiệp là ngành phát thải nhiều nhất trong các ngành kinh tế, tuy nhiên những năm gần đây, ngành đã phát triển theo chiều hướng công nghiệp khai khoáng tăng thấp hoặc giảm để tiết kiệm tài nguyên, năng lượng. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng nhanh hơn, cùng với việc ngành công nghiệp xử lý nước thải, rác thải và tái chế phế liệu tăng với tốc độ cao (hình 02), phản ánh xu hướng tiến đến một nền công nghiệp sạch hơn và một nền kinh tế xanh trong tương lai.

     

     

    Hình 02: Chỉ số phát trỉn các ngành công nghiệp

     

    Nguồn: Tổng Cục Thống kê 2005-2014

     

    Đã tiếp nhận chuyển giao và phát triển khoa học, công nghệ: Những tiến bộ nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ cho phép khai thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý hơn

     

     

    88

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    các nguồn tài nguyên. Đồng thời, công nghệ hiện đại giúp tận dụng nhiều loại tài nguyên trước đây còn bỏ phí trong hoạt động sản xuất công nghiệp, giảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, giảm lượng chất thải vào môi trường. Do đó, khai thác những mặt tích cực của khoa học công nghệ là hướng lựa chọn quan trọng trong phát triển kinh tế xanh.

     

    Hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ có cơ hội thuận lợi trong tiếp nhận chuyển giao và phát triển năng lực khoa học và công nghệ để phát huy các lợi thế của đất nước nhằm phát triển nền kinh tế xanh. Nhiều doanh nghiệp FDI đã mang công nghệ hiện đại vào Việt Nam và nếu Việt Nam có chính sách phù hợp sẽ khiến các tập đoàn này đầu tư công nghệ cao và góp phần nâng cao năng lực công nghệ của đất nước, kết nối với mạng sản xuất toàn cầu. Mặt khác, trình độ công nghệ của Việt Nam đang có sự cải thiện đáng kể nhờ lợi thế của nước đi sau, có thể tiếp thu chọn lọc những thành tựu khoa học và các quy trình công nghệ phù hợp trên thế giới về phát triển kinh tế xanh, tránh lặp lại kịch bản của nhiều nước đi trước.

     

    Nguồn nhân lực đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao: George, Paschalis & Sotiris (2007) cho rằng chất lượng nguồn nhân lực tác động đến tăng trưởng kinh tế và nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quan trọng hơn cả [5].

     

     

    Hình 03: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo tr̀nh độ chuyên môn kỹ thuật

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2009-2014

     

    • Việt Nam giai đoạn (2009 – 2014), tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao (hình 03), có khả năng tiếp thu khoa học nhanh, bí quyết công nghệ và kỹ năng quản lý để phát triển thành nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ hiện đại. Đây sẽ là nguồn nhân lực chủ yếu của phát triển kinh tế xanh, nếu được tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng hiệu quả, sẽ là động lực tạo đột phá trong phát triển kinh tế xanh.

     

    2.2 Khó khăn

     

     

    Hình 04: Hệ số ICOR t́nh theo vốn đầu tư

     

    Nguồn: T́nh toán c̉a tác giả từ ngùn số liệu c̉a Tổng cục Thống kê

     

    Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp: Những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước thời gian qua chủ yếu dựa vào sự đóng góp của nguồn nhân lực chất lượng thấp, vốn và tài nguyên thiên nhiên, do đó, hiệu quả đầu tư thấp (hệ số ICOR rất cao – hình 04). Trong khi đó, Huang & Quibria (2013) cho rằng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm chậm đáng kể quá trình thực hiện tăng trưởng xanh [8].

     

    89

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 01: Sản lượng khai thác một số loại tài nguyên quan tṛng ở Việt Nam

     

    Đơn vị t́nh: Ngh̀n tấn

     

    TT

    Tài nguyên

    2006

    2007

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

                         

    1

    Than sạch

    38.778

    42.483

    39.777

    44.078

    44.835

    46.611

    42.083

    41.035

    41.697

                         

    2

    Dầu thô

    16.800

    15.920

    14.904

    16.360

    15.014

    15.185

    16.739

    16.705

    17.392

                         

    3

    Sắt và tinh quặng

    1.372

    1.904,5

    1.972

    1.988

    1.506

    2.435

    2.308,2

    sắt

    4

    Đồng và tinh

     

    46,07

    51,741

    49,04

    47,55

    50,86

     

    48.072

    quặng đồng

    53,35

    5

    Quặng Titan

    437,4

    574,1

    681,6

    631,3

    586,8

    760

    978,3

    1038,3

    929,4

                     

    Như vậy, trong giai đoạn (2006-2014), sản lượng khai thác một số tài nguyên quan trọng của đất nước không ngừng tăng lên (bảng 01). Sự tăng lên khá đều đặn này cũng phản ánh thực tế là tăng trưởng kinh tế của đất nước cho đến nay còn dựa nhiều vào tài nguyên và gắn liền với nó là sức ép ngày càng tăng đối với môi trường (lượng kh́ thải CO2 tăng nhanh hơn nhiều so v́i tăng trưởng GDP trong cùng th̀i kỳ – h̀nh 05).

     

     

     

    Hình 05: Tăng trưởng GDP và các chỉ số tuyệt đối về ô nhiễm không kh́ (1990=1)

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

    Nguồn: Tổng cục Thống kê

     

     

    Hình 06: Cừng độ phát thải CO2 so v́i GDP-So sánh Việt Nam v́i một số nức

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

     

    Cường độ phát thải CO2 so với GDP của Việt Nam là rất cao (hình 06 ), cao hơn mức trung bình của châu Á. Do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên cần được đặt ra như một yêu cầu nghiêm ngặt ngay trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nhằm hướng tới nền kinh tế xanh. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên rất khó cắt giảm tiêu nhiên liệu, nguyên liệu.

     

    Trình độ công nghệ thấp: Thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất liên tục đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường và đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung năng lực

     

     

    90

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    công nghệ của các ngành, nghề hiện nay ở Việt Nam còn lạc hậu. Theo thống kê của Bộ Khoa học công nghệ, hiện chỉ có khoảng 5-6% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, 80% sử dụng công nghệ trung bình, còn lại là các công nghệ lạc hậu [11]. So với các nước khác trong khu vực, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam chưa có độ tinh xảo về công nghệ. Tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo chỉ khoảng trên 20% và không thay đổi trong những năm gần đây [9]. Chuyển giao công nghệ ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư vào Việt Nam ở những ngành, nghề thâm dụng lao động và tài nguyên.

     

    Cơ sở hạ tầng mềm cho kinh tế xanh chưa phát triển: Hạ tầng kiểm soát và quản lý ô nhiễm với công nghệ và phương pháp lạc hậu; vấn đề đo lường quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh cần được đổi mới; đánh giá phát thải khí nhà kính chưa có cơ sở.

     

    2.3. Cơ hội

     

    • Xu hướng quốc tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế xanh: Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tăng trưởng xanh hay kinh tế xanh đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia, như một động lực thúc đẩy, phục hồi kinh tế toàn cầu và là công cụ để phát triển bền vững. Tại Châu Á, “diễn đàn khí hậu Đông Á” năm 2009 đã trao đổi về việc thiết lập các chiến lược tăng trưởng xanh của Đông Á; Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Hàn Quốc (2009) cũng bày tỏ sự đồng thuận cao đối với chính sách tăng trưởng xanh mà chính phủ Hàn Quốc đưa ra; Tại Hội nghị cấp cao Á – Âu (ASEM), Việt Nam đã chính thức đề xuất sáng kiến hợp tác Á – Âu về tăng trưởng xanh (2010); Diễn đàn Hợp tác Á – Âu với chủ đề “ Cùng hành động hướng tới các nền kinh tế xanh” (2011) để tìm các cơ chế hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm phát triển xanh giữa các nước; Diễn đàn tăng

    trưởng xanh toàn cầu (2011) tại Đan Mạch với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua cơ chế phối hợp công – tư giữa các chính phủ với khối doanh nghiệp. Rõ ràng, với một mức độ quan tâm cao thể hiện qua một loạt các hội nghị, diễn đàn ở các cấp độ quốc tế khác nhau được tổ chức trong những năm gần đây cho thấy xu hướng nhận thức chung của cộng đồng quốc tế trong quá trình hội nhập hiện nay đều đồng thuận là phải thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế xanh. Do đó, Việt Nam cũng sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nỗ lực chung nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới nền kinh tế xanh. Hơn nữa, thực tế là tăng trưởng xanh ở các quốc gia phát triển như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…đã thu được những kết quả rõ ràng trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Đồng thời, các sáng kiến được các cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh như: Đầu tư công nghệ sạch (WB); Việc làm xanh (ILO); Thị trường công nghệ xanh (WIPO); Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU); Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO); Sản xuất sạch hơn và hiệu quả sử dụng tài nguyên (UNEP và UNIDO)… đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp, sẽ là cơ sở, nền tảng cho nền kinh tế Việt Nam theo hướng xanh hóa.

     

    • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế – xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Như vậy, phát triển kinh tế xanh là phù hợp với Chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung.
    • Việt Nam có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo: Huang & Quibria (2013) cho rằng năng lượng tái tạo tác động tích cực đến

    91

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tăng trưởng xanh [8]. Bởi vì, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo sẽ góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính, làm chậm lại quá trình nóng lên toàn cầu, giúp tăng hiệu suất sử dụng năng lượng đồng thời mở ra cơ hội phát triển mới cho nhiều địa phương. Do đó, việc xem xét, khai thác nguồn năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của Việt Nam ngày một gia tăng, trong khi khả năng cung cấp các nguồn năng lượng truyền thống hạn chế. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo:

     

    • Năng lượng gió: Theo Đề án “ Quy hoạch tiềm năng năng lượng gió để phát điện” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió của Việt Nam vào khoảng 1.785 MW [3].

     

    • Năng lượng mặt trời: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó có nguồn năng lượng mặt trời khá dồi dào và thuận tiện cho việc ứng dụng, cường độ bức xạ bình quân năm là 1346,8 – 2153,5 kWh/m2/năm [3].

    2.4. Thách thức

     

    • Nhận thức về kinh tế xanh: Nhận thức về kinh tế xanh là gì và nội hàm của nó bao gồm những nội dung nào còn là vấn đề tranh cãi. Bởi vì, thực tế, các ngành dường như đã đi ngược với những tuyên bố về tăng trưởng xanh, khi mà trong quy hoạch, trong phát triển dựa vào sử dụng năng lượng, nguyên liệu hóa thạch còn nhiều.

    Sản xuất sạch hơn chưa thực sự thành công: Kết quả khảo sát về sản xuất sạch hơn ở Việt Nam của Hợp phần sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp (CPI) năm 2015 với 63 sở công thương và 9012 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc thì tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn giảm được tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm mới chỉ là 24%, số này chủ yếu do sự hỗ trợ của dự án, đây là con số quá nhỏ so với số lượng doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam. Năng

     

    lực quản trị doanh nghiệp về môi trường thể hiện qua số lượng các công ty được nhận chứng chỉ ISO 14001 còn quá ít [10].

     

    Huy động vốn cho nền kinh tế xanh gặp nhiều khó khăn: Mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy quốc gia so với các nước phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng nhiều đến quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh. Bởi vì, theo Huang & Quibria (2013) cho rằng đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ về khoa học, công nghệ tác động tích cực đến tăng trưởng xanh [8]. Để thực hiện phát triển kinh tế xanh Việt Nam cần các khoản đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, đầu tư để phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải còn lại. Theo kết quả của UNEP (2011), mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu, nguồn vốn này, nếu huy động từ các nước đang phát triển như Việt Nam là điều không dễ dàng.

     

    Thách thức từ sự hợp tác quốc tế kém hiệu quả: Để giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường, đây không phải là công việc riêng của một địa phương hay quốc gia nào, vì vậy, để xử lý vấn đề có tính thách thức toàn cầu này đòi hỏi sự chung tay hành động của cả thế giới, trong khi đó, sẽ có những quốc gia ít thiện chí khi thực hiện cam kết toàn cầu, nên sẽ phá vỡ mục tiêu chống biến đổi khí hậu và phát triển xanh.

     

    ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH

     

    Qua phân tích thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế xanh, rõ ràng Việt Nam còn nhiều khó khăn và thách thức của nước đang phát triển. Vì vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh khó có thể tiến hành nhanh nếu Việt Nam không có những bước đi đúng đắn trong từng giai đoạn phát triển, cũng như phải có sự chuyển hướng hài hòa nếu không Việt Nam sẽ gặp những vấn đề xã hội do sự chuyển đổi này gây ra. Để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, Việt Nam cần:

     

     

    92

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    3.1 Thiết lập khung khổ thể chế phù hợp: Cơ chế, chính sách được thiết kế phù hợp có thể xác định quyền và tạo động lực định hướng cho hoạt động kinh tế xanh, cũng như loại bỏ rào cản đối với các khoản đầu tư xanh và điều tiết những hành vi thiếu bền vững bằng cách tạo ra các tiêu chuẩn tối thiểu hoặc ngăn cấm hoàn toàn một số hoạt động. Cơ chế, chính sách cần tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện “xanh hóa các ngành truyền thống”, mặc dù việc xanh hóa các ngành truyền thống có vẻ không nhanh chóng và mang tính cách mạng so với sự phát triển của những công nghệ tiên tiến nhất, nhưng với tiềm lực tài chính hiện tại, sự đầu tư vào việc sử dụng hiệu quả năng lượng sẽ đem lại hiệu quả về mặt chi phí-lợi ích. Mặt khác phát triển những ngành kinh tế xanh mới nổi, những ngành công nghệ cao, công nghệ xanh, ngành năng lượng tái tạo… sẽ kích thích tạo ra nền kinh tế cacbon thấp, giảm sử dụng tài nguyên, tăng sản lượng hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt, rà soát, điều chỉnh quy hoạch các ngành sản xuất, hạn chế những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo điều kiện phát triển các ngành sản xuất xanh mới.

     

    3.2. Tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ hiện đại, công nghệ tiết kiệm tài nguyên:

     

    • Thực hiện chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả: Chuyển giao công nghệ theo hướng là các tập đoàn đa quốc gia cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước những công nghệ mới với nỗ lực nâng cao năng suất trong chuỗi sản xuất; hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo.

     

    • Tập trung đầu tư, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu, năng lượng vào các hoạt động sản xuất thông qua:

     

    + Khởi động các chương trình dự báo thực trạng công nghệ nhằm nâng cao nhận thức về những điểm yếu trong công nghệ của các ngành và tạo sự đồng thuận giữa các ngành, các cơ sở nghiên cứu và bộ máy quản lý về các giải pháp để khắc phục những điểm yếu đó.

     

    • Hình thành và phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển theo hướng xanh (Nghiên cứu, ban hành hệ thống các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn về công nghệ xanh…)

     

    • Khuyến khích kết nối giữa các doanh nghiệp và các phòng thí nghiệm R & D, các trường đại học, viện nghiên cứu để ứng dụng kết quả nghiên cứu.
    • Tăng cường đầu tư, trợ cấp cho hoạt động R & D tại các doanh nghiệp

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ xanh nhằm tạo sự đột phá về công nghệ trong sản xuất đối với những ngành chủ lực, mũi nhọn của quốc gia.

     

    3.3. Tăng cường áp dụng các công cụ tài chính: để tăng nguồn tài chính cho thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên; thuế môi trường; ký quỹ môi trường; phí phát thải

    • nhiễm. So với công cụ quản lý môi trường truyền thống kiểu mệnh lệnh – kiểm soát, thuế và phí cho phép đạt được mục tiêu giảm thiểu

     

    • nhiễm đề ra một cách linh hoạt hơn và tiết kiệm chi phí hơn cho toàn xã hội. Thuế, lệ phí có thể là cơ chế hiệu quả để thúc đẩy kinh tế xanh phát triển, các loại thuế có thể được đặt ra trên đầu vào sản xuất, quy trình hoặc các sản phẩm để khuyến khích các nhà sản xuất và người tiêu dùng xem xét các chi phí môi trường và xã hội, và tiền thu từ thuế tài nguyên, môi trường này được sử dụng để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, trên thực tế công cụ này đã được sử dụng song chưa hiệu quả, do đó để việc áp dụng thuế và phí tài nguyên, môi trường đạt được hiệu quả cao hơn trong điều kiện Việt Nam hiện nay nên đặt phí, thuế ở một mức thấp trong thời gian đầu, sau đó sẽ tiếp tục tăng lên cho tới khi mức độ ô nhiễm giảm tới điểm các doanh nghiệp, các cơ sở kiểm soát được mức độ ô nhiễm.

    Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập mạnh mẽ hiện nay, Việt Nam cần:

     

     

    93

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Tăng cường quản trị quốc tế thông qua việc tham gia các hiệp định đa phương về môi trường để thiết lập khuôn khổ pháp lý và thể chế giải quyết những thách thức môi trường toàn cầu; tham gia vào hệ thống giao dịch quốc tế, đàm phán quốc tế về kinh tế xanh giúp thúc đẩy sự gắn kết và hợp tác trong quá trình xanh hóa các nền kinh tế.

     

    • Tiếp tục nghiên cứu, học tập và hoàn thiện cách thức tiến hành kinh tế xanh của các quốc gia phát triển đã xây dựng nền kinh tế xanh như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…để có bước đi và cách tiến hành phù hợp trong điều kiện của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn Xuân Trung (2012), Kinh tế xanh trong đổi ḿi mô h̀nh tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn t́i, tham luận tại hội thảo diễn đàn kinh tế mùa xuân 2012, tại địa chỉ website: na.gov.vn/htx/Vietnamese/C2136/default. asp?Newid=59968

     

    • Thủ Tướng Chính Phủ (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Hà Nội.

     

    • Lê Thành Văn, Nguyễn Thị Thu Trang (2012), “Tổng quan ngành công nghiệp cacbon thấp trên thế gíi, tiềm năng tại Việt Nam” (Kỳ 1; kỳ 2), tại địa chỉ website: htp://

    nangluongvietnam.vn/news/vn/an-ninh-nang-luong-va-moi-truong/tong-quan-nganh-cong-nghiep-cacbon-thap-tren-the-

     

    gioi-iem-nang-tai-viet-nam-%28ky-1%29.html

     

    • Aghion, Philippe and Hemous, David and Veugelers, Reinhilde, (2009) “No green growth without innovation”, Bruegel Policy Brief 2009/07, available at https://lirias. kuleuven.be/bitstream/123456789/269700/2/ pb_climatervpa_231109_01.pdf

     

    • George Petrakos and Sotiris Pavleas
    • Chú trọng tiếp cận những kiến thức xanh và công nghệ xanh của cộng đồng khoa học thế giới.
    • Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính cũng như kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế cho các khu vực kinh tế xanh. Đặc biệt, là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển Kinh tế xanh.

    Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là sự khẳng định thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Mặc dù có những trở ngại nhất định, nhưng nếu có những giải pháp thích hợp bằng nội lực của quốc gia, cũng như thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm, sự hỗ trợ quốc tế, Việt Nam có thể xây dựng thành công nền kinh tế xanh để hội nhập quốc tế.

     

    (2007), Determinants of economic growth: the experts’ view, available at http://www.prd.uth. gr/uploads/discussion_papers/2007/uth-prd-dp-2007-10_en.pdf .

    • UNEP (2011), Towards a Green Economy: Pathways to sustainable Development and Poverty Eradicaton (A Synthesis for Policy Makers), available at: ipu.org/splz-e/ rio+20/rpt-unep.pdf.

     

    • UNEP (2011b), Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication, available at:

    www.unep.org/greeneconomy/2011/Green%20 EconomyReport_Final_Dec2011.pdf.

     

    • Yongfu Huang and M.G. Quibria (2013), “Green growth: theory and evidence”, Working Paper No.2013/056, available at: eadi.org/publications/_growth/_green…/ details_46265.

     

    • UNIDO (2012), Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam 2011

    [10].htpp://sxsh.vn/vi-VN/Home/ tongquansanxuatsachhon-14/2011/San-xuat-sach-hon-tren-toan-quoc-874.aspx

     

    [11].htp://kinhdoanh.vnexpress.net/in-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-cong-nghe-cao-chi-dem-tren-dau-ngon-tay-2752206.html

     

     

    94


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BA%BFm-ti%E1%BB%81n-th%E1%BA%ADt-100-tr%C3%AAn-m%E1%BA%A1ng-v%E1%BB%9Bi-Cashfiesta-B%E1%BA%A3n-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-chi-ti%E1%BA%BFt-nh%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    (1/1)

    SERPANT18:
    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    CASHFIESTA được đánh giá là một trong những chương trình kiếm tiền trên mạng trên mạng nổi tiếng nhất, đây là chương trình trả nhiều tiền nhất cho các thành viên tham gia. Trung bình trên một thành viên CASHFIESTA chi trả khoảng 90 USD/tháng và rất nhiều thành viên của CASHFIESTA dễ dàng kiếm được 500-600 USD/tháng.

    1. Vậy tại sao Cashfiesta lại trả tiền cho mình ? Cashfiest lấy tiền ở đâu để thanh toán cho chúng ta ?

    Cashfiesta trả tiền cho mình vì mình chấp nhận cho chương trình Cashfiesta để một góc quảng cáo trên màn hình máy tính của mình mỗi khi mình lên Internet. Trên góc quảng cáo này sẽ thấy các mẫu quảng cáo của các công ty, các casino, các cửa hàng và chính các công ty này sẽ trả tiền để được quảng cáo trên Cashfiesta, còn Cashfiesta trả tiền cho mình để mình xem các quảng cáo đó. Mình thấy cách kiếm tiền này cũng thú vị và muốn giới thiệu chương trình này để mọi người kiếm tiền chung với mình. Cũng thú thật là nếu các bạn tham gia chung thì mình cũng được lợi rất nhiều, tại sao mà mình được lợi thì các bạn đọc ở dưới sẽ hiểu rõ. Mình cũng nói trước với các bạn là cách kiếm tiền này tuy dễ nhưng thật cũng không quá dễ dàng mà đòi hỏi các bạn phải kiên nhẫn, người ta không tự nhiên trả tiền cho mình phải không các bạn, để có được thu nhập 100-1000 USD thì các bạn cũng phải tích cực và kiên nhẫn..

    2. Ban có thể kiếm được bao nhiêu tiền từ CASHFIESTA ?

    *Có 2 cách để kiếm tiền khi sử dụng chương trình này: 
    – Cách 1 là bạn tự sử dụng một mình và được trả tiền sử dụng. (Kiếm Được 90USD/tháng)
    – Cách 2 là giới thiệu thật nhiều người khác sử dụng chương trình và hưởng thêm hoa hồng. 
    Phân cấp hoa hồng của Cashfiesta như sau:
    Giờ sử dụng trung bình một ngày: 1 giờ/ ngày, mỗi người sử dụng sẽ giới thiệu 3 người khác.
    – 3 người: cấp 1 hưởng 15%
    – 3–> 9 người: cấp 2 hưởng 7%
    – 9–> 27 người: cấp 3 hưởng 5%
    – 27–> 81 người: cấp 4 hưởng 4%
    – 81–> 243 người: cấp 5 hưởng 3%
    – 243–> 729 người: cấp 6 hưởng 2%
    – 729–> 2187 người: cấp 7 hưởng 1%
    – 2187–> 6561 người: cấp 8 hưởng 1%
    Bạn phải kết hợp cả 2 cách để kiếm tiền hiệu quả nhất. (Kiếm Được trên 500 USD/tháng)

    Chương trình Cashfiesta sẽ trả cho các bạn mỗi giờ sử dụng internet khoảng cao nhất 15.000đ. Thực ra phần tiền khi chúng ta sử dụng trực tiếp các chương trình này không cao, chỉ được vài chục USD một tháng, nhưng phần tiền huê hồng khi giới thiệu người khác rất hấp dẫn.

    Hiện tại theo mình biết chính xác thì Cashfiesta trả cho trung bình cho tất cả các thành viên trên khắp thế giới mỗi người khoảng 90 USD/Tháng. Rất nhiều người đã tạo cho mình được thu nhập khoảng 500-600 USD/tháng nhờ tiền huê hồng chỉ riêng với chương trình Cashfiesta. 

    3. CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta như thế nào?

    Chương trình này thanh toán tiền mặt bằng cách gửi séc(check) tới tận nhà. 
    Cashfiesta chịu trả tiền cho các bạn như vậy thì tại sao vẫn có ít người sử dụng? Vì ở Việt Nam phần lớn không biết đến các chương trình này cũng như chưa tin tưởng,họ nghĩ là nó ko trả tiền cho mình và cứ kêu là trang SCAM.,chỉ vì họ ko đủ kiên nhẫn chỉ muốn kiếm được tiền ngay mà ko phải bỏ công sức thật quá sai lầm. Nếu bạn là những người đi đầu sẽ có nhiều cơ hội giới thiệu đến người khác chưa biết và khi bạn giới thiệu được nhiều người thì bạn đã tạo được cho mình một hệ thống kiếm tiền cho riêng bạn để khỏi lo về việc cạn túi vì nếu thất nghiệp cũng có Cashfiesta ”Chu Cấp” cho bạn hàng tháng .Hãy tạo cho mình một hệ thống tự động kiếm tiền, các bạn ơi nhanh lên nhé! Mình sẽ hướng dẫn cho các bạn một cách chi tiết, nhớ làm từng bước đúng như mình hướng dẫn thì sẽ sử dụng được một cách chính xác và hoàn hảo để tránh trường hợp nhầm lẫn nhé,nhớ đừng đăng kí nhiều tài khoản để kiếm tiền cùng 1 lúc nhé,rất dễ bị fake IP đó, đây là kinh nghiệm của mình.
    Bạn không tin hãy thử 1 lần đi, cũng chẳng mất gì mà. Tôi sẽ chỉ cho bạn tất cả. Để có thể kiếm được trên 50 USD mỗi tháng bạn hãy làm theo các bước sau.

    4. Đăng ký làm thành viên như thế nào http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc
    – Authentication Information

    Login: bạn tự chọn, vd: chocobo ( bạn phải nhớ tên sử dụng mà bạn chọn để lần sau có thể đăng nhập vào hệ thống để kiểm tra)
    Password: bạn tự đặt, ít nhất 6 ký tự
    Verify password: xác nhận lại Password bạn vừa đặt
    – First, tell us where we can send your checks
    First name: Họ và tên đệm
    Last name: ghi tên thật ( Bạn phải ghi rõ họ tên thật, vì thông tin này rất cần thiết khi nhận tiền)
    Street address: ghi địa chỉ nhà, vd số 9779 đường XYZ Quận ABC TP.HCM ( nhớ ghi địa chỉ thật, để CASHFIESTA chuyển SEC nhận tiền )
    City: ghi tên thành phố, VD: Ho Chi Minh, Ha Noi
    Zip/postal code : mã vùng, nếu ở HCM ( hoặc các tỉnh phía Nam) thi ghi là
    70000, nếu bạn ở miền Bắc hay Hà Nội thì ghi là 10000, Huê là  47000 (xem nhớ điền thêm 3 số 0 vào Cho đủ 5 số nhé).
    An Giang 94000,Vũng Tàu 74000, Bạc Liêu 99000, Bắc Kạn 17000, Bắc Giang 21000, Bắc Ninh 16000, Bến Tre 83000, Bình Dương 72000, Bình Định 53000, Bình Phước 77000, Bình Thuận 62000, Cà Mau 96000, Cao Bằng 22000, Cần Thơ – Hậu Giang 92000, Đà Nẵng 59000, ĐắkLắk – Đắc Nông 55000, Đồng Nai 71000, Đồng Tháp 93000, Gia Lai 54000, Hà Giang 29000, Hà Nam 30000, Hà Nội 10000, Hà Tây 31000, Hà Tĩnh 43000, Hải Dương 34000, Hải Phòng 35000, Hoà Bình 13000, Hưng Yên 39000, Hồ Chí Minh 70000, Khánh Hoà 57000, Kiên Giang 95000, Kon Tum 58000, Lai Châu – Điện Biên 28000, Lạng Sơn 20000, Lao Cai 19000, Lâm Đồng 61000, Long An 81000, Nam Định 32000, Nghệ An 42000, Ninh Bình 40000, Ninh Thuận 63000, Phú Thọ 24000, Phú Yên 56000, Quảng Bình 45000, Quảng Nam 51000, Quảng Ngãi 52000, Quảng Ninh 36000, Quảng Trị 46000, Sóc Trăng 97000, Sơn La 27000, Tây Ninh 73000, Thái Bình 33000, Thái Nguyên 23000, Thanh Hoá 41000, Thừa Thiên Huế 47000, Tiền Giang 82000, Trà Vinh 90000, Tuyên Quang 25000, Vĩnh Long 91000, Vĩnh Phúc 11000, Yên Bái 26000
    bạn có thể vào địa chỉ  sau để tham khảo http://danhba.vdc.com.vn/tracuu/danhba/mavungdt.asp 

    State: not select , không cần chọn, chỉ dùng cho công dân MỸ
    Province : ghi tên tỉnh, ở tỉnh nào thì ghi tên tỉnh đó.
    Country: Viet Nam
    Email address: ghi dia chi email, ( nhớ ghi đúng địa chỉ e-mail của mình) 
    Verify Email address : ghi lại địa chỉ email.

    – Now, please tell us more about yourself

    Year of birth: năm sinh
    Gender: male ( nam ) female (nữ)
    Education: chọn mục nào cũng được
    Annual household income: less than $ 20000
    Industry: chọn mục nào cũng được
    Title: chọn mục nào cũng được
    Additional Information: đánh dấu hết tất cả các mục
    – Payment Information: hình thức thanh toán tiền
    Preferred check size : chon 50$
    – Đánh dấu vào mục I have read and understand the Member Agreement
    – Nhan vao Submit Registration để hoàn tất .
    Nếu bạn thực hiện đầy đủ các bước ơ trên trang chủ sẽ hiện lên dòng chữ Congratulation. Ngược lại bạn phải kiểm tra lại các thông tin bạn đã điền (chỗ nào chưa đúng thì nó sẽ được tô màu đỏ).

    5.Làm thế nào để lấy chương trình CASHFIESTA?

    Sau khi đã hoàn tất việc đăng ký bạn vào trang web CASHFIESTA, vào mục members
    nhập username và password vào để đăng nhập, khi đã vào được trang web ban kiếm
    hàng chữ Download CASHFIESTA và nhấn chuột vào đó để download CASHFIESTA về.hay
    là click vao link sau http://www.cashfiesta.com/download/y/FiestaBarInstall.exe để download về máy.

    **************************************************
    HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH CASHFIESTA

    ************************************************** 
    Khi bạn vào CASHFIESTA sẽ có 1 thanh quảng cáo hiện lên ở phía trên cùng màn hình và trang web của CASHFIESTA ở phía dưới, bạn có thể tắt trang web này đi, chỉ cần thanh CASHFIESTA chạy là đủ. Trên thanh quảng cáo CASHFIESTA có 1 chú bế đội mũ, mặc quần xanh đang ngồi, ban rê chuột vào là chú bé đứng dậy và đi bộ, như vậy có ngĩa là chương trình đang hoạt động và điểm cua bạn sẽ tăng, nếu
    chú bé đứng đi bộ và ngồi xuống thi bạn phải rê chuột vào để nó đứng dậy đi tiếp. 
    Ô kế bên POINTS là ô tính điểm của bạn, mỗi một giờ trên internet điểm sẽ tăng khoảng 600 điểm ( 1000 điểm được tối đa 1,666 USD) Tiếp theo là ở ô REFERAL là ô hiện số người bạn giới thiệu được . Ô kế bên là SETTING là ô để chỉnh sửa chương trình CASHFIESTA. Bạn muốn coi mình. được bao nhiêu điểm thì vào SETTING/ACCOUNT/BALANCE.

    (1) Tôi ra máy ngoài dịch vụ internet có sử
    dụng CASHFIES dụng được không?

    Được, nếu máy ngoài dịch vụ không cài sẵn chương trình thì bạn chỉ cần vào CASHFIESTA và download chương trình về cài vô máy là xong ( chỉ mất khoảng 1 phút ).

    (2) Có phải CASHFIESTA sẽ trả tôi 1,666 USD
    cho 1000 điểm không ?

    Đúng với điều kiện bạn là thành viên của câu lạc bộ vàng GOLD CLUB của CASHFIESTA. Khi bạn chưa là thành viên của GOLD CLUB thì CASHFIESTA sẽ trả tiền cho bạn theo 6 cấp tùy vào số ĐĂNG KÝ ĐẶC BIỆT ( Special offer ) mà bạn đặt được, các Special offer này để chứng tỏ bạn có tham gia và quan tâm tới CASHFIESTA .
    1/0 Specialoffer :1.000 diểm =0.01 $
    2/1 Specialoffer: 1.000 diểm =0.04 $
    3/2 Specialoffer: 1.000 diểm =0.333 $
    4/3 Specialoffer: 1.000 diểm =0.50 $
    5/4 Specialoffer: 1.000 diểm =0.66 $
    6/5 Specialoffer: 1.000 diểm =0.83 $
    7/6 Specialoffer: 1.000 diểm =1$
    8/ GOLD CLUB : 1.000 diểm =1.666$
    (3) Làm cách nào tôi đặt được các SPECIAL
    OFFER?

    Rất đơn giản, bạn vào trang chủ CASHFIESTA, đăng nhập vào account của mình, nhấn chuột vào phần SPECIAL OFFER, bạn sẽ thấy rất nhiều ô quảng cáo nhỏ ở trong trang web, hãy lựa các SPECIAL OFFER cho phép đăng ký FREE và trên toàn thế giới WORLD, bạn chỉ cần nhấn chuột vào đó, một trang web khác sẽ mở lên, bạn vào đó và đăng ký thành viên của trang web đó thì coi như bạn đã được 1 SPECIAL OFFER ( lưu ý khi đăng ký bạn phải đăng ký lúc đang chạy chương trình CASHFIESTA và quan trọng là phải khai báo địa chỉ email giống như khai báo email với CASHFIESTA Nếu không sẽ không được tính).

    (4) Tôi đã đăng ký SPECIAL OFFER làm sao biết mình có bao nhiêu cái?

    Bạn có thể vào account của mình và nhấn vào phần SPECIAL OFFER DONE , nhưng lưu ý rằng kể từ khi đăng ký SPECIAL OFFER thì khoảng 2 đến 4 tuần sau CASHFIESTA mới kiểm tra được và xác nhận SPECIAL OFFER của mình, và đó cũng là lý do tại sao CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta trong vòng 30 ngày kể từ khi đạt được 50$.

    (5) Làm thể nào để trở thành thành viên của GOLD CLUB?

    Muốn trở thành thành viên của GOLD CLUB bạn phải có được 3 điều kiện sau : đăng ký được 6 SPECIAL OFFER , kiếm được 10.000 điểm thưởng từ các SPECIAL OFFER và đạt được 133 GPS.

    (6) Làm sao kiếm được điểm GPS (Gold Club Point) ?

    Mỗi ngày bạn sử dụng CASHFIESTA khoảng 30 phút sẽ được 1 GPS, mỗi ngày nếu các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA và đem lại cho bạn 100 points thi bạn được thêm 1 GPS , ngoài ra cuối tháng CASHFIESTA sẽ cộng cho bạn tối đa 15 GPS đưa vào số thành viên mới do bạn giới thiệu, CASHFIESTA sẽ cộng thêm15 GPS cho bạn đưa vào tổng thời gian các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA.Trung bình 1 tháng bạn sẽ kiếm được 100 GPS.

    (7) Tại sao hết tháng thì points lại nhảy về số 0?

    Bạn đừng lo cuối tháng CASHFIESTA sẽ quyết toán 1 lần và lưu lại điểm cho bạn, đưa vào số SPECIAL OFFER của bạn để thanh toán tiền cho bạn, khi đó bạn sẽ thấy số tiền của bạn hiện lên trong ô tháng trước.

    (8) Bao giờ thì CASHFIESTA thanh toán tiền cho
    tôi?
    Khi nào trong toài khoản của bạn có dư 50 $ thì nút PAYMENT REQUEST sẽ hiện lên, bạn nhấn vào nút đó để yêu cầu thanh toán tiền, trong vòng từ 2-4 tuần thì tiền sẽ đến Việt Nam ( trừ đi 2$ tiền phí chuyển tiền).

    Nhanh lên các bạn ơi, hãy click vào đây để đăng ký ngay lập tức
    http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ng%C3%A0nh-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Nghiên cứu này vận dụng số liệu của 21 NHTM (NHTM) VN từ năm 2003 – 2008, xem xét liên hệ giữa chi phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, và giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi hàng năm với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, để phản ánh được hiện trạng kỷ luật thị trường ngành

     

     

    ngân hàng (NH) VN giai đoạn 2003-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỷ luật thị trường ngành NH VN có tồn tại nhưng rất yếu. Ngoài ta tác giả cũng tiến hành phân tích kỷ luật thị trường (KLTT) từng loại hình NHTM – NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần (NHTMCP), để làm rõ thêm một số nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Cuối cùng tác giả gợi

     

    • một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu ứng KLTT [1] ngành NH VN – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát tài chính NH.

    Sự cần thiết của nghiên cứu

     

    Trong bản thảo năm 2001 với việc thảo luận hiệp định Basel mới, tác dụng KLTT đã được nhấn mạnh. KLTT, các yêu cầu vốn tối thiểu và quá trình kiểm tra giám sát được phối hợp với nhau, cùng nhau thành một trong ba trụ cột của cấu trúc khung hiệp ước mới. Một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của KLTT chính là nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM. Trong

    thực tế, cơ chế KLTT trong thực tiễn kinh doanh và trong hệ thống giám sát NH trước khi Basel II ra đời đã tồn tại: ví dụ như, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người gởi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gởi cao hơn hay là sẽ rút tiền gởi ra khỏi NH

     

     

    đó, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lực cạnh tranh của NH. Ở tình huống thông thường, khi KLTT tồn tại người gởi tiền yêu cầu NH có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gởi tiền sẽ rút tiền gởi của mình từ NH có độ rủi ro cao chuyển sang NH có độ rủi ro thấp.

     

    Trụ cột 3 – KLTT bổ sung cho các yêu cầu vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quá trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2). Ủy ban Basel khuyến khích nguyên tắc thị trường bằng việc phát triển một bộ các yêu cầu minh bạch, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt, đánh giá độ rủi ro của các NHTM. KLTT có thể góp phần cho môi trường hoạt động NH an toàn và lành mạnh, các tổ chức giám sát NH có thể yêu cầu các NHTM phải cung cấp thông tin cho thị trường, điều này giúp cho các chủ thể liên quan giám sát hoạt động NHTM – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát NH (Hệ thống giám sát ngân hàng gồm yếu tố cấu thành

    sau: cơ quan giám sát của nhà nước, cơ chế kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, KLTT, cơ chế hợp tác giám sát quốc tế; và các thành phần khác như: tổ chức bảo hiểm tiền gởi, hai ngành tài chính NH, các tổ chức đánh giá tín nhiệm,…

     

    • KLTT cũng đã được Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trong

     

    NGUYỄN CHÍ ĐỨC & HOÀNG TRỌNG

     

    khuyến nghị về tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính nhắc đến. Ông cho rằng “thế kiềng ba chân” (1. Quản trị doanh nghiệp tốt; 2. Cơ chế kỷ luật thị trường phát huy tác dụng đầy đủ; 3. Các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả) cần được phát triển cân bằng.

     

    Trong lĩnh vực nghiên cứu KLTT, các nhà nghiên cứu nước ngoài trong ngành NH đã nghiên cứu rất sâu và đạt được nhiều thành tựu, đồng thời đại đa số là nghiên cứu thực chứng người gởi tiền thực hiện KLTT. So sánh ở VN, chỉ vài năm gần đây cùng với việc ra đời Basel II, và việc cam kết thực hiện giám sát NH theo hiệp ước Basel II năm 2004, chúng ta mới biết đến KLTT như là một trong ba trụ cột của hiệp ước Basel II. Do vậy việc nghiên cứu KLTT ở khía cạnh định tính cũng như định lượng còn chưa phát triển. Đây là lý do chủ yếu tác giả muốn nghiên cứu hiện trạng KLTT ngành NH VN hiện nay trên

     

    26             PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    cơ sở phân tích định lượng.

     

    Mô hình, định nghĩa biến, và xử lý số liệu

     

    Mô hình

     

    Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999 và 2004). Thông qua kiểm nghiệm mối quan hệ tương quan giữa lãi suất huy động thực tế của NHTM (chi phí trả lãi tiền gởi I) và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi (G) với rủi ro của NHTM (X) để khảo sát tình hình KLTT ngành ngân hàng của một quốc gia. Để tiến hành phân tích, phương pháp khá nổi tiếng

     

    Biến số

    Định nghĩa

     

    Dự đoán hệ số

       

    Ij,t (biến phụ

    lãi suất huy động của NH tại thời điểm t (tỷ lệ

             

    tổng chi phí trả lãi thực tế j mỗi năm và tổng nợ

             

    thuộc)

    phải trả.)

             
               

    Gj,t (biến phụ

    tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của NHj tại thời điểm

             

    t (tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động của khách

             

    thuộc)

    hàng.)

             
               

    GQj.t-1

    tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

    Âm đối với Ij,t

    với

     

    Dương

    đối

     
         

    Gj,t

         

    LDj.t-1

    tỷ lệ lưu động (tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên

    – Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    – Dương đối với Gj,t

     

    LRj.t-1

    tỷ lệ lợi nhuận (tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên

    Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    Dương

    đối

    với

     
         

    Gj,t

         

    Dj.t

    bảo hiểm tiền gởi

    Âm đối với Ij,t

       

    NHTMNN là 1, NHTMCP là 0

    Dương

    đối

    với

     
       

    Gj,t

    đối

    với

     
       

    Dương

     

    Yj.t

    Tỷ lệ lạm phát

    Ij,t

         
       

    Âm đối với Gj,t

     
           

    này nhìn từ hai góc độ: NHTM có độ rủi ro cao có phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao, và NHTM có độ rủi ro cao sẽ thu hút số lượng tiền gởi ít hơn hay không. Tác giả áp dụng mô hình này để phân tích tình hình VN. Phương trình tính toán như sau:

     

    B j.t =α + β X j.t1 + γ Y j.t  + δ

     

    • Bj,t: Ij,t lãi suất huy động tiền gởi (chi phí trả lãi thực tế) của

    ngân hàng j

     

    • Bj,t: Gj,t tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của ngân hàng j
    • Xj,t-1: biểu thị biến số trạng thái rủi ro ở thời kỳ t-1của ngân hàng j
    • GQj,t-1 (tỷ lệ vốn trên tài sản)
    • LDj,t-1 (tỷ lệ lưu động)
    • LRj,t-1 (tỷ lệ lợi nhuận)
    • Yj,t : biến kinh tế vĩ mô, lấy chỉ số tỷ lệ lạm phát
    • Dj,t : bảo hiểm tiền gởi (BHTG) [3] là biến nhị phân.
    • Dj,t × Xj,t-1: là tích của hai biến Dj,t và Xj,t-1
    • εj,t : là phần dư của mô hình.

    Giải thích các biến và lựa chọn:

     

    Tác giả áp dụng mô hình tính toán trên với một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của VN, tình hình số liệu mà tác giả đã thu thập được, và một số lý do khác. Cụ thể, việc lựa chọn các biến số và định nghĩa các biến số

     

    D j.t D j.t X j.t−1 + ε j.t

     

    có một số thay đổi như sau:

     

    • Tác giả không sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (căn cứ để tính tỷ lệ này có chỉ tiêu tổng tài sản được điều chỉnh theo rủi ro) vì tác giả nhận thấy số liệu báo cáo của các NHTM về các chỉ tiêu trên chưa đảm bảo độ tin cậy.
    • BHTG ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự bảo đảm tín dụng của Nhà nước đối với hoạt động của các NHTMNN, để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế VN khi hệ thống NHTMNN vẫn tồn tại và chiếm vai trò chủ yếu, đồng thời Công ty bảo hiểm tiền gởi VN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế. Vì vậy tác

    giả gọi BHTG tại VN là BHTG ẩn.

     

    • Công chúng biết kết quả kinh doanh các NHTM thường có độ trễ, giả định là một kỳ. Chúng ta thêm một biến chỉ tiêu vĩ mô, chọn tỷ lệ lạm phát thể hiện rủi ro hệ thống.

    Định nghĩa các biến

     

    – Tác giả cho rằng các NHTM sau: VCB (NHTMNN cổ phần hóa); Vietinbank (NHTMNN cổ phần hóa); BIDV; Agribank; MHB là NHTMNN.

     

    Nguồn số liệu

     

    Để tính toán các chỉ tiêu trên, tất nhiên cần phải tiến hành thu thập và chỉnh lý số liệu, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp có liên quan từ năm 2003 – 2008 của 21 NHTM, trong đó có 5 NHTMNN và 16

     

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát tác giả tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.
    • Các chỉ tiêu Ij,t ; Gj,t ; GQt-1 ; LDj.t-1 ; LRj.t-1 ; Dj.t tác giả tự tính trên cơ sở tập hợp các báo cáo tài chính của 21 NHTM VN từ năm 2003 đến năm 2008. (VCB; Vietinbank; BIDV; Agrib-ank; MHB; ACB; STB; EIB;

    Số 10 – Tháng 3/2011  PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

     

    27

     
           
           

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB) (Nguyễn Chí Đức, Hoàng Trọng 2009).

     

    Tất cả các số liệu tác giả đề cập đều được tính toán và lựa chọn phù hợp nên có tính tin cậy, và sử dụng được cho phân tích.

     

    Kết quả tính toán và phân tích kết quả

     

    Sau khi xây dựng bảng dữ liệu, tác giả sử dụng chương trình máy tính SPSS kiểm nghiệm mô hình. Các kết quả lần lượt được trình bày trong các phần tiếp theo (chú ý: những con số trong dấu ngoặc là hệ số hồi qui đã chuẩn hóa; * và ** là có ý nghĩa thống kê ở mức 10% và 5%).

     

    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chí phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM.

     

    1a. Mẫu là toàn bộ các NHTM

     

    Các phương trình từ (1) đến (6)

    kiểm nghiệm ảnh hưởng tình hình rủi ro của NHTM và BHTG ẩn đến chi phí trả lãi thực tế của ngân hàng.

     

    • Trong các phương trình từ (1) đến (3), chúng ta lần lượt dùng 3 biến rủi ro tính toán ảnh hưởng đối với lãi suất huy động, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (GLS) tiến hành tính

    toán. Kết quả cả LDj.t-1, LRj.t-1 đều có hệ số hồi qui âm, biểu thị

     

    LDj.t-1, LRj.t-1 cao sẽ làm giảm lãi suất huy động thực tế. Nhưng

     

    cả hai đều không là thể hiện rõ vì ý nghĩa thống kê kém. Còn

     

    GQj.t-1 có hệ số hồi qui dương, tương phản với dự đoán.

     

    • Các phương trình từ (4) đến
    • ứng với 3 biến rủi ro là GQt-1, LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi qui chúng ta đồng thời lấy các biến

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1 nạp vào trong mô hình. Kết quả là

     

    cả 3 biến rủi ro đều có hệ số âm phù hợp với dự đoán, nhưng đều

    có ý nghĩa thống kê kém. Trong tất

     

    cả các lần hồi qui, Yj.t đều có hệ số dương cùng dấu với dự đoán,

     

    và có ý nghĩa thống kê, thể hiện rõ ràng là khi lạm phát tăng thì lãi suất huy động tăng. Trong tất cả các lần hồi qui, giả định (4) và (5)

     

    Dj.t có hệ số âm cùng dấu với dự đoán, và (4) thể hiện rõ rệt, trong

     

    khi (6) Dj.t có hệ số dương ngược dấu với dự đoán nhưng không có ý

     

    nghĩa thống kê. Đây có thể là biểu thị của việc BHTG ẩn, sự bảo đảm của Nhà nước, làm giảm lãi suất huy động đối với các NHTMNN là có, nhưng không quá rõ ràng. Vậy chúng ta cũng sẽ phải đặt câu hỏi là cơ chế BHTG ẩn này có bao gồm tất cả các NHTM hay không.

     

    Từ những phân tích trên có thể nhận xét là KLTT có tồn tại nhưng

     

    rất yếu, qua đó hai chỉ tiêu LDj.t-1 (tỷ lệ thanh khoản), LRj.t-1 (tỷ lệ

     

    lợi nhuận), có ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn. Chỉ tiêu lạm phát Yj.t rõ ràng ảnh hưởng đến lãi suất huy động, đúng với lý thuyết

     

    Bảng 1: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

         

    Các phương trình

         

    Biến số

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

     
                   

    GQj.t-1

    0.043

       

    -0.008

         

    (0.087)

       

    (-0.015)

         

    LDj.t-1

     

    -0.058

       

    -0.098

       
     

    (-0.077)

       

    (-0.131)

       

    LRj.t-1

       

    -0.014

       

    -0.008

     
       

    (-0.137)

       

    (-0.078)

     

    Dj.t

         

    -0.023 (**)

    -0.005

    0.005

     
         

    (-0.351)

    (-0.069)

    (0.072)

     

    Yj.t

         

    0.329 (**)

    0.328 (**)

    0.34 (**)

     
         

    (0.547)

    (0.544)

    (0.565)

     

    Dj.t * Xj.t-1

         

    0.302

    -0.113

    -0.086 (**)

     
         

    (0.229)

    (-0.111)

    (-0.315)

     

    Tổng quan

    104

    104

    104

    104

    104

    104

     

    sát

                 

    R2

    -0.002

    -0.004

    0.009

    0.295

    0.302

    0.338

     
                   

    F

    0.789

    0.612

    1.975

    11.875

    12.255

    14.263

     
                   

    tài chính tiền tệ.

     

    1b. Mẫu là từng nhóm NHTM Tiến thêm một bước, chúng ta

     

    loại bỏ Dj.t ra khỏi phương trình, để so sánh sự thay đổi của lãi suất huy động của hai nhóm NHTM có bị tác động ảnh hưởng của một số nhân tố giống nhau hay không, ví dụ như kết quả kinh doanh của NHTM và nhận thức của người gởi tiền đối với rủi ro NH. Người gởi tiền có sự phân biệt giữa NHTMNN và NHTMCP hay không, hay nói cách khác BHTG ẩn hiện nay bao trùm lên toàn bộ hệ thống NHTM, hay Nhà nước chỉ bảo đảm tín dụng đối với nhóm NHTMNN. Trong các phương trình hồi qui từ (7) đến (12), chúng ta tiến hành tính toán cho từng nhóm NHTM. Cách tính toán đối với mỗi nhóm ngân hàng là giống nhau, tức là lần lượt

     

    28           PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

                                         

    (18) có 3

    biến rủi

    ro: GQj.t-1,

    Bảng 2: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả

     
     

    LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi

    NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

       
       

    qui chúng ta đồng thời đưa biến

           

    NHTMNN

                 

    NHTMCP

       

    Biến

                           

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1

     

    (7)

     

    (8)

    (9)

         

    (10)

       

    (11)

       

    (12)

         
                                         

    vào trong mô hình. Kết quả là:

       

    0.265 (*)

               

    -0.009

                     

    GQj.t-1

                                   

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

     

    (0.327)

               

    (-0.017)

                   
                                         

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    LDj.t-1

         

    -0.203

                 

    -0.102

             
         

    (0.247)

                 

    (-0.138)

           

    kê, còn LRj.t-1 có hệ số âm, ngược

             

    -0.093

                   

    -0.008

       

    với dự đoán. Yj.t trong tất cả các

    LR

           

    (**)

                         

    j.t-1

           

    (-0.651)

                 

    (-0.843)

     

    phương trình có được 1 dấu hiệu rõ

       

    0.267

     

    0.236

    0.331

       

    0.347

       

    0.356

     

    0.342

       

    ràng, cho thấy Yj.t có tác dụng ảnh

    Yj.t

     

    (**)

     

    (**)

    (**)

         

    (**)

       

    (**)

       

    (**)

         
                           

    hưởng giảm thấp tăng trưởng tiền

       

    (0.619)

     

    (0.548)

    (0.767)

       

    (0.546)

     

    (0.56)

     

    (0.537)

     

    gởi. Dj.t có 1 phương trình có hệ

    Tổng

                                       

    quan

     

    24

     

    24

    24

         

    79

       

    79

       

    79

         

    số dương, 2 mô hình hệ số âm, và

    sát

                                       

    trong đó 1 mô hình là có ý nghĩa

    R2

     

    0.331

     

    0.288

    0.625

         

    0.279

       

    0.298

       

    0.285

         
                           

    thống kê ngược dấu với dự đoán.

                                         

    F

     

    6.939

     

    5.855

    20.963

       

    16.252

       

    17.737

     

    16.734

       

    − Qua phân tích chúng ta có thể

                                         

    nhận thấy thị trường quan tâm đến

               

    2a. Kiểm nghiệm toàn bộ các

    áp dụng GQj.t-1, LDj.t-1, LRj.t-1

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1

    (tỷ lệ vốn tự

    là biến rủi ro, lấy Yj.t là biến kiểm

    NHTM

                   

    có trên tổng tài sản), KLTT có tồn

    soát khi hồi qui.

           

    − Trong các phương trình (13)

    tại.

           

    − Trong các phương trình (7)

    (14) (15), chúng ta lần lượt xem

    2b. Mẫu là từng nhóm NHTM

    (8) (9), tiến hành hồi qui 3 lần đối

    xét ảnh hưởng của 3 biến rủi ro

    Tiến thêm một bước nghiên

    với NHTMNN. Kết quả là GQj.t-1

    đối với tăng trưởng tiền gởi, áp

    cứu, chúng ta loại bỏ Dj.t ra khỏi

    có hệ số dương, có ý nghĩa thống

    dụng phương pháp bình phương

    phương trình, so sánh  tỷ lệ tăng

    kê, ngược với dự đoán; LDj.t-1

    nhỏ nhất thông thường. Kết quả là:

    trưởng tiền gởi của 2 nhóm NHTM

    và LRj.t-1

    có hệ số âm, trong đó

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

    có bị tác động ảnh hưởng của một

    LRj.t-1 có ý nghĩa thống kê.

     

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    số nhân tố giống nhau hay không.

    − Trong các phương trình (10)

    kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược với

    Nếu chỉ số thống kê của nhóm

    (11) (12) tiến hành hồi qui 3 lần đối

    dự đoán.

                   

    NHTMNN đối sự với ảnh hưởng

    với NHTMCP. Kết quả là GQj.t-1,

       

    − Các phương trình (16) (17)

    đến chỉ tiêu tăng trưởng tiền gởi

    LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm

                                         

    phù hợp với dự đoán, nên phần nào

           

    Bảng 3: Kết quả tính toán đối với tất cả NHTM

    cũng phản ánh được một kỷ luật

               

    (Biến phụ thuộc là tăng trưởng tiền gởi)

       

    thị trường có hoạt động ở nhóm

     

    Biến số

     

    (13)

     

    (14)

     

    (15)

     

    (16)

     

    (17)

     

    (18)

    NHTMCP

    này,  tuy

    yếu  nhưng

             

    6 . 6 0 3

                 

    6.512 (**)

           
     

    GQj.t-1

     

    (**)

                         

    mạnh hơn kỷ luật thị trường ở

                     

    (0.434)

           
             

    (0.44)

                         

    nhóm NHTMNN.

         

    LDj.t-1

           

    (0.119)

               

    (0.136)

       
                               

    2.718

               

    3.113

       

    − Trong cả 6 phương trình ở 2

                                         
                         

    -0.208

             

    -0.29

    nhóm NHTM, thì Yj.t đều có hệ số

     

    LRj.t-1

                           
                   

    (-0.065)

           

    (-0.091)

    dương có ý nghĩa thống kê, phản

                                         
     

    Dj.t

                         

    0.06

     

    -0.134

     

    -0.504 (*)

    ánh được một cơ chế lãi suất hình

                           

    (0.03)

     

    (-0.067)

     

    (-0.25)

    thành trên nền kinh tế thị trường

     

    Yj.t

                         

    -2.743 (*)

     

    -2.566

     

    -2.451

                           

    (-0.15)

     

    (-0.141)

     

    (-0.134)

    đang được phản ánh rất rõ nét.

                                           
       

    Dj.t x Xj.t-1

                       

    -4.861

     

    -5.085

     

    0.182

                                         

    2. Kiểm định mối quan hệ tương

                         

    (-0.121)

     

    (-0.164)

     

    (0.022)

    quan giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền

     

    Tổng quan

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    sát

                 

    gởi hàng năm với mức độ rủi ro

                                     
     

    R2

       

    0.186

     

    0.005

     

    -0.005

     

    0.192

     

    0.049

     

    0.039

    trong hoạt động của các NHTM.

                                         
     

    F

       

    24.767

     

    1.476

     

    0.438

     

    7.195

     

    2.327

     

    2.048

                               
                                                     

    Số 10 – Tháng 3/2011    PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP         29

     

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Bảng 4: Kết quả tính toán đối với 2 nhóm NHTM

    (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực)

     

    Biến

     

    NHTMNN

       

    NHTMCP

       

    (19)

    (20)

    (21)

    (22)

    (23)

    (24)

     
     
     

    2 . 6 6 6

       

    6 . 5 4 7

         

    GQj.t-1

    (**)

       

    (**)

         
     

    (0.543)

       

    (0.408)

         
       

    – 2 . 1 3 0

       

    3.180

       

    LDj.t-1

     

    (**)

           
         

    (0.135)

       
       

    (-0.428)

             
         

    – 0 . 3 2 3

       

    -0.297

     

    LRj.t-1

       

    (*)

       
           

    (-0.92)

     
         

    (-0.373)

           

    Yj.t

    -0.617

    -0.922 (*)

    -0.631

    -3.367

    -3.085

    -2.952

     

    (-0.236)

    (-0.353)

    (-0.241)

    (-0.166)

    (-0.152)

    (-0.145)

     

    Số quan

    24

    24

    24

    79

    79

    79

     

    sát

                 

    R2

    0.363

    0.261

    0.194

    0.163

    0.012

    0.002

     

    F

    7.84

    5.249

    3.895

    8.7

    1.468

    1.075

     

    chỉ tiêu rủi ro của các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để đầu tư). Còn đối với các NHTMCP, là các doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận, nhận sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ của nhà nước có giới hạn, đã từng có những NHTMCP nhỏ sụp đổ, đóng cửa, hay sáp nhập, vì vậy người dân sẽ phải quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro. Nhưng xét trên tổng thể mà nói, KLTT của ngành NH VN trong một nền kinh tế toàn cầu là còn rất yếu, chưa thể xem đó là một

     

    không rõ ràng, trong khi nhóm NHTMCP mà rõ ràng hơn, thì ít nhất chúng ta có thể xác định được KLTT đối với nhóm NHTMCP phản ứng mạnh hơn. Như vậy một sự lý giải hợp lý cho việc KLTT của nhóm NHTMNN yếu hơn chính là chế độ BHTG ẩn, sự bảo đảm tín dụng của nhà nước đối với NHTMNN, khiến cho người gởi tiền phản ứng một cách không rõ ràng đối với các chỉ tiêu rủi ro NH, hay cũng có thể nói họ không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro này. Còn đối với nhóm NHTMCP không có được chế độ BHTG ẩn, hay nếu có thì bị giới hạn, vì vậy người dân không thể không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro, hay chí ít là có quan tâm mạnh hơn so với nhóm NHTMNN, để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

     

    Trong các phương trình (19),

     

    • và (21), GQt-1 có hệ số dương cùng dấu với dự đoán và

    có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Trong

     

    khi 2 biến rủi ro còn lại LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm, ngược dấu dự đoán và cũng có ý nghĩa thống

     

    kê. Từ phân tích trên ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMNN rất yếu hay có thể nói

    là hầu như không có.

     

    • Trong các phương trình (22),
    • và (24), GQt-1 và LDj.t-1 có hệ số dương, trong đó GQj.t-1 phản

    ứng có ý nghĩa thống kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược dấu với hệ số dự

     

    báo nhưng không có ý nghĩa thống kê. Từ đó ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMCP cũng không phải là mạnh nhưng so với nhóm NHTMNN thì phản ứng có rõ ràng hơn.

     

    • Cả 6 giả định thì Yt đều có hệ số âm, cùng dấu với hệ số dự

    báo.

     

    • Thị trường quan tâm đến

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1 (tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản), nên khiến

     

    cho chỉ tiêu rủi ro này phản ứng tác động đến biến tăng trưởng tiến gởi, người dân có quan tâm đến chỉ tiêu này ở ngành NH VN.

     

    Như vậy quan điểm của người dân về quy tắc Too big to fail (NH lớn không thể chết) ở VN vẫn đang tồn tại. Nhà nước vì xã hội và sự ổn định nền kinh tế sẽ không để cho các NHTMNN sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy loại BHTG ẩn này đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các

    bộ phận cấu thành trong hệ thống giám sát tài chính NH VN.

     

    Kết luận và thảo luận

     

    Từ hai góc độ phân tích là lãi suất huy động và tăng trưởng tiền gởi của các NHTM, thì chúng ta có kết quả tương đồng về KLTT

     

    • ngành NH VN, và đối với từng nhóm NHTM.
    • KLTT đã bắt đầu hình thành trong ngành NH VN, nhưng hoạt động còn yếu.
    • KLTT của nhóm NHTMNN hoạt động yếu hơn so với nhóm

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát quan hệ rất chặt chẽ với lãi suất huy động vốn và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi theo đúng với lý thuyết tài chính tiền tệ, từ đó chúng ta có thể cho thấy được phần nào các quy luật tài chính tiền tệ đang hoạt động có hiệu quả tại VN.
    • Cũng nên thừa nhận, trong hơn 20 năm, BHTG ẩn của Nhà nước ở một mức độ nhất định đã duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, nhưng cùng với sự cải cách không ngừng của ngành NH, Chính phủ không nên tiếp tục duy trì việc bảo hộ che chở cho các NHTM (NHTMNN hay

    30            PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    NHTMCP), cần xây dựng chế độ BHTG phù hợp với nguyên tắc thị trường thay thế chế độ BHTG ẩn

     

    – đó là 1 chế độ BHTG hiệu quả và mạng lưới an toàn tài chính với cơ chế người cho vay cuối cùng là NHNN làm nội dung chủ yếu. Vì vậy xây dựng chế độ BHTG hiệu quả nên trở thành một bước đi quan trọng trong việc cải cách sâu rộng ngành NH nước ta.

     

    • Đồng thời tiếp tục tăng cường giám sát ngân hàng, kiểm soát nội bộ, tăng cường minh bạch thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng.
    • Phải nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác báo chí, làm sao cho người dân hiểu và tin cậy thông tin của các tổ chức truyền thông đưa ra, tổ chức truyền thống này đang bảo vệ họ, chứ không phải đang bảo vệ cho một số cá nhân có thế lực nào đó.
    • Đặc biệt là phải làm sao nâng cao trình độ hiểu biết của nhà đầu tư về lĩnh vực tài chính NH (vì theo tác giả, hiện nay đại bộ phận người gởi tiền xem không hiểu các báo cáo mà NHTM công bố, cho nên họ cũng không quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính, thông tin tài chính của NHTM, đây cũng là một lý do KLTT ngành ngân hàng hoạt động rất yếu).
    • Tất cả các vấn đề trên không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được. Vì vậy việc quá đề cao kỷ luật tự thân của thị trường (bàn tay vô hình) hay quá dựa dẫm vào hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong khi lại không chú trọng đúng mức tới vai trò điều tiết và giám sát của Nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng, đổ vỡ nền tài chính (bài học ở Mỹ năm 2008) (Nguyễn

    Chí Đức, Hoàng Trọng 2009). Đây cũng là một bài học cho hệ thống tài chính NH VN, khi mà nền kinh tế thị trường còn rất non trẻ và chưa hoàn hảo, thì chắc chắn bàn tay vô hình chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, thì hiển nhiên vai trò thanh tra giám sát của các cơ quan nhà nước phải được đề cao và chú trọng, phải là một khâu mấu chốt của Hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng VN giai đoạn hiện nay. Đây là một vấn đề không cần phải tranh luận.

     

    Cụ thể vừa qua Chính phủ thông qua Quyết định Số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 Về việc thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN. (Việc thành lập Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức NHNN với mục tiêu nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế). Quyết định số 398/1999/ QĐ-NHNN3 về hoạt động giám sát từ xa, quyết định số 06/2008/ QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần, Quyết định số 457/2005/ QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề tổ chức cơ cấu và nghiệp vụ thanh tra giám sát ngành ngân hàng, tăng cường công tác thanh tra giám sát các TCTD là rất phù hợp và cần thiếtl

     

    • Market discipline
    • Theo kết cấu luận văn “Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng VN và bài học từ Trung quốc” của NCS Nguyễn Chí Đức, Trường Đại học Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc.
    • Deposit Insurance

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà Nước VN
    1. Báo cáo tài chính của 21 NHTM: VCB; Vietinbank; BIDV; Agribank; MHB; ACB; STB; EIB; TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) “Market discipline and financial safety net design”, Finance, Policy Research Working Paper, Development Research Group, The World Bank.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (2004) “Market discipline and deposit insurance” Journal of Monetary Economics, 51, 2004.
    1. Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2009) “Phân tích hệ thống giám sát tài chính ngân hàng VN”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng tháng 12 năm 2009.
    1. Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày
    • tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
    1. Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh Tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN.

    Số 10 – Tháng 3/2011   PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP          31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]