Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Văn Mẫu Nghị luận về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-%E1%BB%9F-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-S%C3%B4ng-C%E1%BB%ADu-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Sông Cửu Long

    PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    «««

    PHẦN MỞ ĐẦU

     

    1.     Lý do chọn dề tài

    Hàng hóa nông sản đóng vai trò quyết định trong chiến lược tăng tốc nền kinh tế của cả nước nói chung và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Tuy nhiên, thời gian qua ĐBSCL chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh vốn có của hàng hóa nông sản. Nông dân luôn trong tình trạng được mùa lại rớt giá mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp.

    2.     Mục đích nghiên cứu

    Thông qua nghiên cứu thực trạng sản xuất cũng như tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL nhằm tiềm kiếm những biện pháp giúp nâng cao chất lượng nông sản. Giúp cho nông sản ở ĐBSCL có đầu ra ổn định, đời sống của nông dân ngày càng được nâng cao.

    3.     Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các khái niệm lý thuyết sản xuất nông sản.

    Phương pháp nghiên phi thực nghiệm: quan sát thực tế thu thập và phân tích số liệu.

    4.      Phạm vi nghiên cứu

    Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005 đến 2008

    Không gian: vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung Ương.

     

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    Chương 1: Điều kiện tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    1.1.          Vị trí địa lý

    Đồng bằng sông Cửu Long nằm tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam), biên giới với Campuchia, và được bao bọc bởi biển Đông, biển Tây – vịnh Thái Lan.

    Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam á và thế giới, là một vùng đất quan trọng, sản xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thuỷ sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của cả nước.

    1.2.          Điạ hình

    Đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa hình bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố dày, rất thuận lợi phát triển cả giao thông thủy và bộ. Ngoài ra với bờ biển dài 700km là nhân tố quan trọng để vùng này phát triển kinh tế biển, du lịch, hàng hải và thương mại.

    1.3.          Khí hậu:

    ĐBSCL có một nền nhiệt độ cao, ổn định trong toàn vùng, trung bình là 280 C. Chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm 2.226 – 2.709 giờ. Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4.

    Những đặc điểm khí hậu trên đã tạo ra ở ĐBSCL những lợi thế riêng mà các nơi khác khó có được. Đây cũng là nơi ít xảy ra thiên tai do khí hậu đặc biệt là bão.

    1.4.          Nguồn nước:

    ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mêkông và nước mưa. Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Sông Mekông, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, qua Vân Nam – TQ, Mianma, Thái Lan, Lào, Cambodia chảy vào Việt nam bằng hai nhánh, Tiền giang và Hậu giang (Bassac), chiều dài từ biên giới Việt Nam – Campuchia, đến cửa biển là 230km, lượng nước bình quân của sông Mêkông chảy qua nơi đây hơn 460 tỷ m3 ,vận chuyển khoảng 150 – 200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng châu thổ phì nhiêu ngày nay.

     

    Chương 2: Tình hình sản xuất nông sản và những khó khăn

    2.1 Các nhóm nông sản chủ lực

    • Lúa

    ĐBSCL hiện trồng khoảng 3,6 đến 3, 7 triệu hécta lúa, tương ứng với lượng giống cần gieo sạ ít nhất là 500.000 tấn. Sản lượng lúa năm 2005 đạt 19 triệu tấn, chiếm 53% sản lượng lúa gạo của cả nước.

    Các vụ chính trong năm: Vụ đông xuân, vụ hè thu, vụ thu đông. Trong đó vụ Đông xuân đạt năng xuất cao nhất theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), vụ đông xuân 2008, sản lượng lúa ĐBSCL đạt trên 10 triệu tấn

     

    • Rau màu

    ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước. Hàng ngày, toàn vùng ĐBSCL tiêu thụ bình quân gần 3.000 tấn rau, màu các loại.

    Thực trạng hiện nay là các loại cây trồng cạn cũng chỉ được phát triển ở dạng trồng luân canh với lúa. ĐBSCL chưa thật sự có vùng quy hoạch riêng để phát triển các loại cây màu trồng cạn. Do chưa có chính sách tạo vùng nguyên liệu cho cây trồng cạn nên nông dân trồng một cách tự phát, rải rác… dẫn đến diện tích không cao, sau đó sẽ gặp khó khăn trong thu gom sản phẩm và tìm thị trường tiêu thụ. Các địa phương nên định hướng chỉ đạo đầu tư khuyến khích nông dân phát triển hơn nữa diện tích cây trồng cạn, chú trọng về giống cho nông dân (nghiên cứu giống mới; phục tráng giống cũ…); chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, để phát triển các loại cây màu.

    • Cây ăn trái

    Nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng, măng cụt,với sản lượng 3,3 triệu tấn/ năm (năm 2006), nhưng số lượng xuất khẩu được còn ít, do năng suất thấp, thiếu đồng đều về chủng loại, hệ thống canh tác manh mún, kỹ thuật lạc hậu. Và cứ đến mùa vụ chính, trái cây ĐBSCL cứ lặp đi lặp lại tình trạng “trúng mùa lại rớt giá” đặc biệt là tình trạng không cạnh tranh nổi với trái cây ngoại. Vì vậy rất cần đầu tư từ hệ thống canh tác, kỹ thuật trồng trọt đến bảo quản, bao gói và chế biến. Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam cho rằng: “Muốn có trái ngon phải tổ chức nhiều cuộc thi để chọn”. Những năm qua, các địa phương ĐBSCL đã và đang làm nhưng hiệu quả chưa cao. Trái cây ĐBSCL còn chạy theo số lượng hơn là chất lượng; diện tích manh mún nhỏ lẻ, không theo quy hoạch vùng.

    Tổng diện tích vuờn cây ăn trái toàn vùng ĐBSCL xấp xỉ 300.000 ha, trong đó có khoảng 120.000 ha trồng các loại cây đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi… tập trung nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang…

     

    • Thủy sản

    ĐBSCL có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng điểm là đông và tây Nam bộ. Năm 2006, sản lượng khai thác của vùng ĐBSCL đạt khoảng 850.000 tấn, bằng khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cả nước, trong đó trên 80% khai thác từ biển.

    Nuôi trồng: Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 400.000ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước (riêng cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000ha, tổng sản lượng năm 2007 khoảng 1 triệu tấn).

    Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2006 các địa phương trong vùng ĐBSCL đạt khoảng 2 tỷ USD, bằng 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Riêng tỉnh Cà Mau đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản gần 580 triệu USD. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chế biến xuất khẩu thủy sản, chế biến và tiêu thụ nội địa cũng là thế mạnh của ĐBSCL. Nơi đây chính là “vựa cá” lớn nhất cung cấp sản phẩm thủy sản cho TP. Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.

    2.2.  Những khó khăn

    Thứ nhất là sản xuất manh mún nhỏ lẽ, khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật. Do đó năng suất và chất lượng nông sản thấp.

    Thứ hai là vấn đề chế biến, bảo quản nông sản.

    Thứ ba là vấn đề thị trường cho nông sản của ÐBSCL.

    Thứ tư là nông sản mua rẻ, bán đắt và  phân phối nông sản có quá nhiều trung gian. Có thể thấy, chuỗi tiêu thụ nông sản hiện nay tồn tại quá nhiều nghịch lý. Nông dân phải bán với giá rẻ, còn người tiêu dùng lại mua với giá cao hơn gấp 2 – 3 lần. Nguyên nhân là do việc phân phối nông sản phải qua nhiều khâu trung gian. Mặc dù Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng đã ra đời được 6 năm nhưng quan hệ giữa các “nhà” vẫn “ông chẳng bà chuộc”. Như bưởi Năm Roi ở Mỹ Hoà (Bình Minh – Vĩnh Long) vào cuối tháng 10/2008 được thương lái mua tại vườn giá 2.500 – 3.000 đồng/kg tuỳ loại. Anh Nguyễn Minh Hoàng Em có 10 công bưởi cho biết: “Với giá này, người trồng bưởi lỗ nặng”. Trong khi đó, tại cửa hàng bưởi Năm Roi Hoàng Gia cách vườn nhà anh Minh hơn 5km, giá bưởi loại 1 lên tới 8.000 đồng/kg. Và từ đây, nếu hàng được đưa đi siêu thị hoặc tiêu thụ tại các chợ đầu mối, giá có thể lên tới 12.000 – 15.000 đồng/kg.

     

    Chương 3: Nâng cao chất lượng nông sản của vùng

    3.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp

    3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất nông sản

    Nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, nông dân sản xuất theo tập quán lạc hậu nên nông sản làm ra không có số lượng lớn, không đồng đều về giống, mẫu mã, chất lượng, dẫn đến giá thành cao và giảm khả năng cạnh tranh.

    Cần xây dựng những vùng sản xuất tập trung phù hợp với tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai…Không để nông dân sản xuất một cách tự phát theo phong trào, hình thành những vùng sản xuất theo quy hoạch chung.

    Đơn cử một số vùng chuyên canh đạt hiệu quả tốt: HTX vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Châu Thành – Tiền Giang) cũng vừa ký hợp đồng xuất khẩu 50 tấn vú sữa sang Nga và Đức. Theo đó, vú sữa phải đạt chứng nhận GlobalGap. Ông Cao Văn Hùng, nông dân trồng vú sữa cho biết: “Chúng tôi phải đáp ứng đủ 144 yêu cầu, hiện đã thực hiện được 128 tiêu chuẩn. Vú sữa Vĩnh Kim được đánh giá là tuyệt đối an toàn, quy trình sản xuất thân thiện với môi trường”. Nhờ thế, giá xuất khẩu đạt 32.000 – 40.000 đồng/kg, cao gấp 1,5 lần so với giá bán ở thị trường nội địa. Ông Nguyễn Văn Ngàn, Chủ nhiệm HTX cho biết: “HTX có 47ha vú sữa được trồng theo tiêu chuẩn GlobalGap, sản lượng bình quân 15 tấn/ha và sẽ cung cấp đủ cho Công ty Metro xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Từ lâu, HTX đã ký hợp đồng cụ thể với từng hộ, nếu sản xuất theo đúng yêu cầu, chúng tôi sẽ thu mua toàn bộ. Vì vậy, sản phẩm của chúng tôi luôn có giá cao, tiêu thụ ổn định”. Được biết, HTX vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim đang có kế hoạch mở rộng thêm 40ha đạt chứng nhận GlobalGap.

    3.1.2 Xây dựng hệ thống thủy lợi

    Tăng cường công tác quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi, đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ. Xây dựng các phương án quy hoạch thuỷ lợi, hỗ trợ việc chống sạt lở khu vực giáp biên giới với Campuchia và các khu vực sạt lở ven sông Tiền và sông Hậu, bảo đảm an toàn và sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê Kông trong điều kiện có những thay đổi bất lợi trên thượng nguồn.

    Tiếp tục xây dựng mới các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất phù hợp với quy hạch các vùng chuyên canh, đồng thời sữa chửa hay loại bỏ những công trình không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay.

    Hệ thống thủy lợi phải cung cấp đủ nước cho sản xuất vào mùa khô và đảm bảo không bị ngập lụt vào mùa mưa. Xây dựng những công trình chống ngập mặn, nhiễm phèn.

    • Hệ thống giao thông vận tải

    Để phát triển theo kịp vận tải đa phương thức trong khu vục và trên thế giới, vận tải thủy nội địa ĐBSCL phải được phát triển toàn diện về hạ tầng cơ sở và phương tiện vận tải. Vận tải thủy ở ĐBSCL là phương tiện vận tải quan trọng nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh phía Đông – Nam, bao gồn 5 tuyến vận tải: TP Hồ Chí Minh – Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh – Long Xuyên, TP Hồ Chí Minh – Mộc Hóa, TP Hồ Chí Minh – Kiến Lương, TP Hồ Chí Minh – Cà Mau trong đó TP Hồ Chí Minh – Cà Mau và TP Hồ Chí Minh – Kiên Lương là hai tuyến quan trọng nhất.

    Phát triển đồng bộ giữa luồng tuyến, cảng bến, đội tàu vận tải, đồng thời đảm bảo sự cân đối, đảm bảo sự thống nhất giữa vận tải thủy nội địa với các phương thức vận tải khác, tạo thành mạng lưới vận tải đa phương thức liên hoàn thông suốt, hiện đại. Có như thế hàng hóa nông sản mới vận chuyển dễ dàng. Xây dựng, mở rộng nhiều sông, ngòi, phấn đầu tàu 10.000 DWT vào được cảng Cần Thơ; Tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng hiện có. Tập trung nâng cấp, cải tạo các luồng tuyến chính, tận dụng điều kiện tự nhiên kết hợp với cải tạo để khai thác các tuyến khác, đặc biệt là các tuyến liên vận quốc tế; đầu tư tập trung các tuyến luồng chính, các cảng đầu mối, cảng khu vực.

    3.2 Ứng đụng công nghệ cao vào sản xuất

     Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là mối quan tâm của các nhà khoa học tâm huyết với đồng bằng sông Cửu Long. Theo họ, nếu nhìn nhận và triển khai phát triển nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bắt kịp với các trung tâm, đô thị lớn trong nước và trong khu vực…

    Do tốc độ đô thị hóa cao, mỗi năm diện tích đất sản xuất của khu vực kinh tế trọng điểm về nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng bị thu hẹp. Chỉ tính riêng đất sản xuất lúa, mỗi năm đều giảm khoảng 70 ngàn ha. Vì vậy, đòi hỏi năng suất và hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích phải tăng vượt bậc. Và điều đó chỉ có thể giải quyết bằng một qui trình sản xuất khép kín mà mỗi công đoạn đều được ứng dụng máy móc, thiết bị, sản phẩm sinh học… là kết quả của nền công nghiệp hiện đại. Về việc cần thiết phải phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao ở đồng bằng sông Cửu Long, Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu – Viện trưởng viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam khẳng định: “Nếu chúng ta làm nông nghiệp bình thường như hiện nay thì tốc độ tăng trưởng 4% mỗi năm sẽ không còn nữa mà giảm dần còn 3% rồi 2%… bắt buộc chúng ta phải làm nông nghiệp công nghệ cao để có năng suất cao hơn, giá thành rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, thị trường ổn định hơn…”

    Năm đối tượng cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp áp dụng mô hình này là: chăn nuôi kết hợp với chế biến, thủy sản, hoa cắt cành nhiệt đới, rau an toàn và trái cây đặc sản theo qui trình nông sản sạch GAP. Để phát triển mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao nếu thiếu vốn có thể vay, thiếu máy móc có thể liên kết chuyển giao công nghệ, nhưng với điều kiện của một vùng trũng về giáo dục như đồng bằng sông Cửu Long thì điều khiến các nhà khoa học lo ngại nhất chính là nguồn nhân lực chưa thích ứng.

    Đội ngũ những nhà khoa học nổi tiếng hiện nay hầu hết đã hoặc sắp đến tuổi về hưu trong khi lực lượng trẻ thay thế còn mỏng. Tốc độ nhân tài đào tạo ở nước ngoài về cũng còn chậm và điều kiện đãi ngộ kém hấp dẫn. Bên cạnh sự hụt hẫng nguồn nhân lực là cơ sở vật chất chưa hoàn chỉnh như phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu công nghệ thông tin, cầu, đường, sân bay quốc tế… cần có sự tiếp tục đầu tư đặc biệt của chính phủ. Vẫn còn thiếu rất nhiều điều kiện để có thể xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao ở ĐBSCL. Nhưng, mới đây, chính quyền và các nhà khoa học tâm huyết đã khởi động vấn đề bằng một hội thảo khoa học đặc biệt bàn về định hướng công nghệ cao cho khu vực tại thành phố Cần Thơ. Không lâu nữa, nhiều điểm trũng của đồng bằng sẽ dần được bù đắp khi sân bay quốc tế Trà Nóc, cầu Cần Thơ và các quan hệ liên kết giáo dục quốc tế phát triển…

    3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

    Làm nông nghiệp không thể đứng yên một chỗ mà cần phải đầu tư nhiều chất xám hơn để chủ động trước thị trường. ĐBSCL là “vùng trũng” của ngành giáo dục Việt Nam. 80% lao động nông nghiệp chưa được đào tạo mà chỉ dựa vào kinh nghiệm theo kiểu “cha truyền con nối”. Do đó, khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã nảy sinh nhiều bất cập.

    Phát triển nguồn nhân lực phải được làm đồng bộ từ nâng cao dân trí, tăng số lượng và nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp, phát triển các hình thức đào tạo ngành nghề phong phú, phù hợp với từng đối tượng, từng ngành nghề cần phát triển ở mỗi địa phương, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ doanh nhân có năng lực và có cơ chế, chính sách thoả đáng để thu hút nhân tài, cán bộ khoa học – kỹ thuật có trình độ cao. Thường xuyên bổ sung và có chính sách sử dụng hiệu quả cán bộ của cơ quan, doanh nghiệp trung ương đóng trên địa bàn tăng cường cho tỉnh, huyện và lấy cán bộ huyện tăng cường cho xã; thực hiện luân chuyển cán bộ nòng cốt.

     

    Chương 4: Giải quyết đầu ra cho nông sản

    4.1 Sự can thiệp của chính phủ

    • Cung cấp tín dụng và hỗ trợ người sản xuất

    Ngân hàng nông nghiệp khuyến khích  nông dân mở rộng đầu tư sản xuất bằng cách cho nông dân vay vốn ưu đãi với lãi xuất thấp. Hỗ trợ nông dân khi mua vật tư nông nghiệp như miễn thuế khi nông dân mua những máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hỗ trợ về giống cây trồng,vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…

    Thực hiện giảm thuế đối với các mặt hàng nông sản nhất là các sản phẩm xuất khẩu. Chính phủ cần có sự hỗ trợ đầu tư với lãi suất bằng không cho nông dân để tăng cường năng lực dự trữ. Hệ thống dự trữ quốc gia sẽ bao gồm dự trữ của Nhà nước và dự trữ của nông gia. Điều này sẽ giúp người nông dân được hưởng lợi nhiều hơn khi giá lúa tăng và giảm bớt bất lợi bởi yếu tố mùa vụ.

    Khả năng dự trữ của nông dân bị hạn chế bởi thiếu kho chứa và nhu cầu tiền mặt để hoàn trả các khoản nợ chi phí sản xuất, vì thế một hệ thống tín dụng tốt ở nông thôn có thể giúp cho việc này. Ngay cả trong thời kỳ lạm phát, biện pháp trợ cấp trực tiếp cho người nghèo cũng không hiệu quả bằng việc cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng nông nghiệp và hàng hóa dịch vụ đến được khu vực nông thôn một cách thuận lợi.

    Hỗ trợ người sản xuất: cung cấp vật tư nông nghiệp như: phân hóa học, thuốc trừ sâu, hướng dẫn thâm canh, tăng năng suất trong trồng trọt và chăn nuôi…

    • Xây dựng nền tài chính Vi mô

    Hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường, mở rộng tiếp cận tài chính cho khu vực nông thôn. Đây thực sự là kênh tài chính có ý nghĩa bởi không chỉ cung cấp vốn, tài chính vi mô còn hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến kinh nghiệm làm ăn hiệu quả cho người nghèo.

    Phát triển tài chính vi mô cũng là mục tiêu của Chính phủ. Cho dù có nguồn tín dụng nhiều đến đâu hay hệ thống cho vay tốt đến mức nào, Nhà nước cũng không thể giải quyết hết các vấn đề tín dụng của nhân dân. Chính các tổ chức tài chính vi mô là kênh tín dụng hiệu quả cho người nghèo, đồng thời là giải pháp tốt nhất cho chính sách xã hội của Nhà nước. Hiện nay, ở Việt Nam có cả ngàn tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động, trong đó có khoảng 60 là tổ chức phi chính phủ.

    Do đó, Nhà nước luôn dành sự quan tâm cho hoạt động tài chính vi mô. Chính phủ đã ký và ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam và Nghị định số 165/NĐ-CP điều chỉnh và bổ sung một số điều trong Nghị định 28. Điều này một lần nữa khẳng định sự cam kết của Chính phủ đối với việc phát triển ngành tài chính vi mô bền vững theo khuôn khổ pháp lý của Nhà nước. Đây là bước ngoặt quan trọng và là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của ngành tài chính vi mô trong tương lai.

     

    • Ổn định giá nông sản

    Chính phủ định giá sàn: nhằm bảo vệ người sản xuất đảm bảo cho người sản xuất có lợi nhuận và duy trì sản xuất. Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện mua nông sản thừa của nông dân khi cung về hàng hóa nông sản vượt cầu tuy nhiên chỉ mua những mặt hàng có chất lượng cao. Và như thế cũng khuyến khích người sản xuất chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm.

     

    4.2 Thành lập hợp tác xã nông nghiệp

    Thứ nhất: Để giúp các hộ nông dân cải thiện điều kiện sống và phát triển sản xuất, cần phải liên kết các hoạt động đầu ra, đầu vào cho họ dưới hình thức tốt nhất là hợp tác xã, nông nghiệp. Bởi vì theo tôn chỉ của hợp tác xã từ trước đến nay thì hợp tác xã có thể mang đến nhiều điều lợi cho nông dân như:

         + Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng.

         + Giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao.

         + Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá.

         + Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp.

         + Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân.

           Tuy nhiên, các giá trị trên chỉ có được khi hợp tác xã thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có sự tương trợ lẫn nhau.

    Thứ hai: để hợp tác xã nông nghiệp ra đời và phát triển tốt rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về các mặt: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn nhất là đường giao thông, điện, nước; tuyên truyền, khuyến khích, quảng bá cho các hợp tác xã. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã thực thi kiểm soát bằng các chế định luật hạn chế ban lãnh đạo hợp tác xã lũng đoạn, trá hình doanh nghiệp tư nhân dưới lốt hợp tác xã để hưởng ưu đãi.

    Thứ ba: tiêu thụ được sản phẩm cho hộ nông dân với giá phải chăng và chi phí thấp chính là sự hỗ trợ đáng giá mà các hộ nông dân Việt Nam đang cần. Để làm được điều này các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:

           + Ban quản lý hợp tác xã phải có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn là dùng hợp tác xã để làm giàu cho cá nhân mình hay để tích luỹ lợi nhuận cho hợp tác xã.

           + Người nông dân hiểu được hợp tác xã chính là tổ chức tự họ giúp họ nên hợp tác với ban quản lý nhằm thiết lập được chế độ hoạt động tối ưu cho hợp tác xã.

           + Chính quyền địa phương không được can thiệp vào công việc của hợp tác xã nhưng phải tạo điều kiện cho các mục tiêu xã hội của hợp tác xã có thể thực hiện dễ dàng nhất.

           Thứ tư: hợp tác xã nông nghiệp phải được tổ chức ở những khâu nào mà hợp tác xã làm thì tốt hơn hộ gia đình, tốt hơn tư nhân, thậm chí tốt hơn cả doanh nghiệp Nhà nước. Do đó lựa chọn khâu nào để hợp tác xã làm là hết sức quan trọng. Kinh nghiệm của Nhật Bản chỉ ra rằng bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hoá tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, tiêu thụ sản phẩm và khuyến nông là rất phù hợp với hợp tác xã [1]. Nhưng để chiến thắng tư nhân thì hợp tác xã nên tổ chức theo kiểu đa năng và tuyển chọn người giỏi làm giám đốc để quản lý, điều hành. Cán bộ là khâu rất quan trọng, có tính chất quyết định đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã.

           Thứ năm: theo kinh nghiệm của Nhật Bản cần đề cao vấn đề giáo dục đào tạo nhân lực cho hợp tác xã. Các tổ chức Liên hiệp hợp tác xã tỉnh, quốc gia đều coi trọng nhiệm vụ này. Nếu làm tốt nhiệm vụ này thì phong trào hợp tác xã sẽ phát triển bền vững. Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ tư vấn cho hợp tác xã và nông dân. Đặc biệt các hợp tác xã cần coi trọng hoạt động khuyến nông, coi đây là phương tiện cơ bản giúp nông dân vượt khó, xoá nghèo để vươn lên làm giàu. Hợp tác xã nông nghiệp phải coi cải tạo tư tưởng phong cách, lề lối, tập quán sản xuất của nông dân là mục tiêu của mình thì mới giúp ích nhiều cho nông dân và giúp hộ nông dân phát triển lực lượng sản xuất để cạnh tranh hiệu quả với nông dân thế giới trong nền kinh tế toàn cầu và chắc chắn 100% nông dân sẽ trở thành xã viên của hợp tác xã như ở Nhật Bản.

    Hợp tác xã vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), đơn vị duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và là đơn vị thứ hai trên cả nước vừa được cấp chứng chỉ Global GAP sau khi đáp ứng được 141 yêu cầu khắt khe đối với hợp tác xã và xã viên thỏa mãn được 236 yêu cầu do Global GAP đưa ra.

    4.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ

    Trong kinh doanh, điều người ta quan tâm nhất là đầu ra của sản phẩm và lợi nhuận thu được. Đây cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của mỗi mô hình kinh tế. Tuy nhiên, trước hàng loạt khó khăn, bất cập như mua bán trôi nổi, không qua hợp đồng, có quá nhiều trung gian, thiếu sự liên kết… khiến việc tiêu thụ nông sản của nông dân gặp khó khăn. Đã đến lúc, vấn đề liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi tiêu thụ nông sản phải đi vào thực chất hơn.

    Thị trường tiêu thụ của chúng ta không thể chỉ ở trong nước mà cần phải tìm kiếm những thị trường ngoài nước để xuất khẩu. Bên cạnh đó giữ vững thị trường trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu từ Thái Lan và Trung Quốc với chất lượng tốt  và giá rẻ hơn các mặt hàng nông sản của chúng ta.

     

    4.4 Thiết lập hệ thống thông tin thị trường

    Nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin thị trường, giá cả nông sản, Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT đang triển khai dự án xây dựng mạng lưới thông tin thị trường nông nghiệp.

    Thông tin thị trường nông sản ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đối với nông dân mà với cả các tác nhân khác trong hệ thống ngành hàng như người thu gom, bán buôn và các doanh nghiệp (DN)…

    Việc phổ biến thông tin thị trường kịp thời sẽ giảm được các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giúp hộ nông dân và các tác nhân ra quyết định đúng đắn nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành hang

    Thông tin thị trường là cơ sở để đưa ra các quyết định sản xuất và marketing, giúp người nông dân và các tác nhân khác- trong chuỗi cung ứng xác định các hoạt động đem lại lợi nhuận và giảm bớt các rủi ro đi kèm với các chiến lược sản xuất và marketing được áp dụng.

    Nông dân sẽ có thể biết được tình hình giá cả nông sản, thời tiết, các thông tin về thị trường nông sản trong nước và thế giới cũng như có thể tham khảo thông tin khoa học và công nghệ nông nghiệp tiên tiến trên thế giới. Hơn thế, nông dân cũng có thể nhờ nhân viên điều hành trung tâm điền các mẫu văn bản hành chính trực tuyến giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại.

    Mở rộng hệ thống thông tin thị trường là cần thiết không chỉ đối với nông dân mà cả đối với DN và cán bộ quản lý. Tuy nhiên để thực hiện các bước này thì việc xây dựng và phát triển các phương pháp tiến hành điều tra thu thập thông tin là hết sức cần thiết quyết định sự thành công của hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thị trường nông sản nói riêng. Bên cạnh đó là kênh phổ biến thông tin, cần thiết phải kết hợp các kênh truyền thông (tivi, đài, báo, bản tin, mạng điện thoại di động…). Sử dụng kết hợp các phương pháp hoặc các kênh truyền thông sẽ bổ sung hỗ trợ để việc thu thập thông tin và phổ biến thông tin thị trường, xúc tiến thương mại trong nông nghiệp. Để thông tin nông nghiệp sẵn sàng chia sẻ hỗ trợ miễn phí  cho nông dân, cần thiết phải có sự quan tâm, hỗ trợ từ ngành nông nghiệp và của tỉnh.

     

    4.5 Sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp

    Trong những năm gần đây ĐBSCL, mô hình liên kết “bốn nhà”: Nhà nước-nhà doanh nghiệp- nhà nông- nhà khoa học, đã mang lại những hiệu quả tích cực trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.

    Để có thể hạn chế những khó khăn, thúc đẩy nông dân tham gia vào mô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng, từ đó có thể hưởng lợi từ chuỗi giá trị nông nghiệp, cần một số giải pháp một số giải pháp:

    • Cần tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn để khuyến khích nhiều doanh nghiệp (cả trong và ngoài nước) đầu tư kinh doanh nông sản. Nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường sẽ tạo ra tính cạnh tranh cần thiết giúp khai thác triệt để và nâng cao năng lực sản xuất của nông dân.
    • Cần cải thiện môi trường pháp lý, đặc biệt là các điều khoản về tính ràng buộc và chế tài xử phạt của hợp đồng để nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện hợp đồng.
    • Cần tiếp tục hỗ trợ để các tổ chức liên kết của nông dân phát triển hơn nữa, tạo nên kênh liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và nông dân.
    • Khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và tổ chức hợp tác xã của nông dân liên kết nâng cao chất lượng sản phẩm, tiến đến xây dựng thương hiệu cho từng mặt hàng nông sản.

    4.6 Bảo hiểm nông sản

    Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn, 60 – 70% dân số sống ở nông thôn, nếu nhìn về diện rộng thì bảo hiểm nông nghiệp có một thị trường rất lớn. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Cho đến nay, có rất ít diện tích cây trồng và vật nuôi được bảo hiểm. Con số điều tra năm 2001 là khoảng từ 0,05 – 0,3% tham gia bảo hiểm và từ đó đến nay, thị trường này vẫn không có sự chuyển biến nào đáng kể.

    Bảo hiểm trong nông nghiệp sẽ giảm được rủi ro trong sản xuất như thiên tai,dịch bệnh, … Nhưng hiện nay các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp triển khai không đáng kể. Chỉ có một số dịch vụ dành cho cây công nghiệp như cao su. Các dịch vụ khác không triển khai vì rủi ro lớn, người dân không có khả năng tham gia và việc quản lý rủi ro rất khó khăn. Vì vậy cần có những doanh nghiệp mạnh dạng đầu tư vào thị trường này và có những quy định rõ ràng về bảo hiểm nông sản.

    • Xây dựng thương hiệu nông sản

    Vấn đề xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản vốn được nói đến từ lâu. Tuy vậy, Việt Nam vẫn chưa có những thương hiệu thực sự mạnh dù có nhiều đặc sản giá trị. Xây dựng thương hiệu không đơn giản chỉ là gắn cho sản phẩm một cái tên mà còn phải đặt nền móng cho nó phát huy hết giá trị. Nhưng xem ra những gì chúng ta làm cho thương hiệu nông sản vẫn chỉ dừng lại ở bước… khởi đầu.

    Việc làm đầu tiên là phải sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao và an toàn nhằm tăng sức cạnh tranh khi xuất khẩu sang nước ngoài .

    Đảm bảo lượng nông sản cung cấp liên tục cho thị trường.

    Xây dựng thương hiệu đi đôi với việc quảng bá và phát triển thương hiệu ngày càng vững mạnh trên thị trường trong nước và ngoài nước. Một số trái cây ở ĐBSCL đã xây dựng được thương hiệu thành công được người tiêu dùng ưa chuộng. Đơn cử như “Thanh Long Chợ Gạo” (Tiền Giang) đã xuất sang các thị trường khó tín như Mỹ và Châu Âu ; “Bưởi năm roi” (Vĩnh Long) ;…

    Việc xây dựng thương hiệu cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước bằng những chính sách cụ thể không để người nông nân tự sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm mà mình làm ra.

    4.8.          Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hóa

    Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động nông dân, doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác thực hiện các hình thức tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, gắn sản xuất với chế biến, nhất là ở vùng sản xuất nguyên liệu tập trung. Nâng cao nhận thức trong việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng.

    Tăng cường đầu tư, hỗ trợ xây dựng vùng sản xuất quy mô lớn, vùng nguyên liệu tập trung để thúc đẩy các hình thức liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ.

    Trong quy hoạch, cần tạo điều kiện để nông dân, các HTX và tổ hợp tác cùng tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến và thực hiện.

    Hỗ trợ các hình thức kinh tế hợp tác của nông dân, các hiệp hội, ngành hàng để các tổ chức này có đủ khả năng cung cấp dịch vụ tiêu thụ nông sản cho nông dân, hạn chế tình trạng độc quyền, ép giá…

    Hỗ trợ pháp lý cho nông dân và các bên liên quan trong việc ký hợp đồng.

    Tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, các cơ quan liên quan.

    Tăng cường hợp tác quốc tế. (Nguồn: Cục Hợp tác xã và PTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT))

     

     

    Chương 5: Các mô hình sản xuât kết hợp hiệu quả

    5.1 Mô hình trang trại

    Mô hình kinh tế trang trại đã tạo ra bước chuyển cơ bản về giá trị sản phẩm hàng hóa, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ. Đơn cử, năm 2004, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của các trang trại ước tính 70.047 tỷ đồng, bình quân 1 trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất 980 triệu đồng, gấp 6-8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp.
    Tại vùng Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại còn đạt cao hơn, bình quân gần 1,1 tỷ đồng/trang trại/năm. Riêng loại hình trang trại có giá trị hàng hóa cao nhất vẫn là trang trại nuôi trồng thủy sản, đạt bình quân từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng/trang trại/năm, cá biệt có trang trại đạt trên 10 tỷ/năm (như trang trại của Vietfram Hùng Tiến ở Bình Quới, TPHCM)… Số DN hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản, mặc dù số lượng chưa nhiều, mới chỉ có 3.376 DN, nhưng lại là những DN có đóng góp nhiều nhất trong việc phát triển các loại hình dịch vụ nông nghiệp.Có thể nói, kinh tế trang trại phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phát triển mạnh. Báo cáo của các địa phương cho thấy, mặc dù giá trị sản xuất của trang trại trên cả nước chưa cao lắm nhưng so với giá trị sản xuất bình quân của kinh tế nông nghiệp đã tăng gấp gần 2 lần.
    – Điển hình cho mô hình trang trại và DN nông thôn thành đạt là Công ty TNHH Thang Nguyên (TP Buôn Ma Thuột-tỉnh Đắc Lắc) của ông Trần Văn Nguyên. Với ngành nghề sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi trên địa bàn Đắc Lắc, công ty đã có thu nhập (lãi) hàng năm trên 1 tỷ đồng. Hay như ông Vũ Đức Bằng, Giám đốc Nhà máy Chè Bằng An, tỉnh Lai Châu, với ngành nghề đầu tư sản xuất nguyên liệu và chế biến chè, ông Bằng đã đạt doanh thu hàng năm trên 8,8 tỷ…
          Tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn
    Việc phát triển kinh tế trang trại và DN nông thôn đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân. Đa số các chủ trang trại, DN đều có nhu cầu sử dụng lao động rất lớn tùy loại hình và quy mô sản xuất. Theo số liệu thông kê chưa đầy đủ, hiện nay, kinh tế trang trại đã thu hút, tạo việc làm cho hơn 60.000 lao động, góp phần giảm bớt áp lực thiếu việc làm ở nông thôn, đồng thời giúp cho thu nhập của người lao động được đảm bảo ở mức ổn định từ 400.000 – 600.000/tháng (với lao động thời vụ, tiền công cũng phổ biến ở mức 20.000/ngày).

    Riêng các DN nông thôn đã giải quyết cho trên 1 triệu lao động có việc làm trong các xí nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ 700.000 – 1.000.000/tháng.

    Trên thực tế, đời sống của bà con nông thôn hiện nay tuy còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đã có những đổi thay sâu sắc, đã cơ bản xóa được đói, giảm được nghèo. Trong thành quả và đóng góp chung đó, có vai trò rất tích cực của các trang trại và DN nông thôn.
    Nhiều trang trại, DN đã ủng hộ hàng trăm triệu đồng giúp xây dựng trường học, xóa nhà tạm, hỗ trợ trẻ mồ côi… góp phần giảm tỷ lệ đói, nghèo của cả nước xuống còn khoảng 10%. Có thể nói, những thành quả nêu trên chứng tỏ mô hình kinh tế trang trại và DN nông thôn đã thực hiện khá tốt đường lối chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước.
    Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ nông dân về khai thác tiềm năng lao động, đất đai, huy động vốn đầu tư trong dân, áp dụng KHKT vào sản xuất để hình thành nên những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung…
    Đây cũng chính là mô hình tạo nên nhiều nhân tố mới ở nông thôn, tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiến tới xây dựng nên những vùng, miền nông thôn mới văn minh hiện đại.

    5.2 VAC

    Đồng Bằng Sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều ao hồ. Vì vậy, cùng với nhà ở, một số nông dân còn có cả vườn và ao với cách bố trí: vườn trồng rau, cây ăn trái, ao nuôi cá, chuồng nuôi gia súc, gia cầm. Theo quan điểm của chúng ta ngày nay, đây là một hệ sinh thái nông nghiệp (VAC: Vườn-ao-chuồng).

    + VAC là một hệ thống canh tác mà trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động làm vườn, nuôi cá và chăn  nuôi gia súc, gia cầm:

    Vườn: kết hợp trồng nhiều loại cây theo nhiều tầng . Vườn trồng cây ăn trái có thể kết hợp trồng các loại rau, đậu, một số cây gia vị, cây làm thuốc…

    + Ao: trong ao nuôi cá thường kết hợp nhiều giống cá để tận dụng thức ăn. Quanh bờ ao trồng khoai nước; một phần mặt ao thả bèo dùng làm thức ăn cho lợn. Trên mặt ao có thể trồng bầu bí, mướp…

    + Chuồng: nuôi gia súc, gia cầm (thường là lợn, gà, vịt).

    Tiền Giang: Làm giàu từ mô hình VAC ở vùng nhiễm mặn ven biển Gò Công

    Gò Công Đông là huyện biển của tỉnh Tiền Giang và là vùng đất nhiễm mặn, phèn, thời tiết bất lợi. Trước đây, đất đai canh tác mỗi năm 1 vụ lúa mùa năng suất thấp, bấp bênh, đến kỳ giáp hạt đa phần người dân phải đi tha hương làm thuê làm mướn kiếm sống. Đến nay, bà con đã an cư lạc nghiệp, đời sống ổn định và đi lên bền vững nhờ phát huy dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công, xây dựng mô hình kinh tế VAC (vườn – ao – chuồng) theo hướng hàng hóa, chất lượng nông sản cao và qui mô trang trại.
    Theo ông Nguyễn Văn Re, Phó Giám đốc sở Khoa học Công nghệ tỉnh, trên 80% số hộ dân Gò Công Đông sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, ngoài điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, hạn chế về nông nghiệp trước đây, nhưng sau khi dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công hoàn thiện tạo cơ hội mới cho nông dân tăng mùa, chuyển vụ, thay đổi tư duy và tập quán cũ đi lên theo hướng sản xuất hàng hóa qui mô lớn. Ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn và các đơn vị hữu quan địa phương đã triển khai dự án “Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông thôn xã Kiểng Phước” do Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ. Dự án kết thúc vào năm 2002 nhưng đã được trang bị những kiến thức khoa học mới về thâm canh lúa chất lượng cao, lập vườn trồng cây ăn quả trong điều kiện đất đai từ nhiễm mặn chuyển sang ngọt hóa, phát triển chăn nuôi gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa….
    Tùy theo điều kiện của từng gia đình, bà con áp dụng mô hình VAC trên qui mô và định hướng sản xuất phù hợp với thực tế. Những hộ có vốn, có trình độ khoa học công nghệ cao đều đầu tư theo hướng khép kín hoặc mở rộng qui mô làm ăn kiểu trang trại kinh doanh tổng hợp vừa có thu nhập cao vừa tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn tại chỗ. Đất lúa một vụ bà con chuyển sang hai vụ lúa chất lượng cao. Đất trồng cây tạp chuyển sang trồng cây ăn quả đặc sản có giá trị: xoài cát Hòa Lộc, sơ ri, táo, mãng cầu, sapôchê kết hợp với chăn nuôi lợn lai hướng nạc, nuôi dê, nuôi trồng thủy sản xuất khẩu…Chưa kể việc trồng rau màu hoặc trồng xen canh, chăn nuôi lồng ghép kiểu lấy ngắn nuôi dài là động lực giúp cho nhiều hộ nghèo khó nhanh chóng thoát nghèo và làm giàu. Thực tế cho thấy, mặc dù đất hẹp, người đông, nhiều hộ chỉ 1 đến 2 công đất (1.000 m2 đến 2.000 m2) nhưng nhờ áp dụng mô hình VAC nên sau vài vụ bội thu đã thoát nghèo, mua sắm tư liệu sản xuất, tậu thêm đất đai, cất nhà cửa khang trang. Hiện huyện Gò Công Đông đã định hình được vùng trồng cây ăn trái đặc sản 2.500 ha, 5.500 ha rau màu, hơn 1.000 ha mặt nước nuôi thủy sản lồng ghép trong các mô hình. Hàng năm, huyện thu hoạch đạt sản lượng trên 27.500 tấn trái cây các loại, 88.000 tấn rau màu, 6.500 tấn thịt gia súc, gia cầm và trên 4.000 tấn thủy sản các loại. Nhiều nông sản chủ lực của Gò Công Đông như: xơ ri, tôm càng xanh, tôm sú, gà ta thả vườn, lúa chất lượng cao…đang trở thành mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của tỉnh, mang lại nguồn ngoại tệ lớn.

    5.3 VACR

    Phát triển nông nghiệp hữu cơ từ mô hình kinh tế VACR trong phạm vi nông hộ/trang trại, sản xuất nông nghiệp đã tận dụng tối đa những phế phẩm của các hoạt động sản xuất khác nhằm giảm thiểu việc sử dụng phân hoá học và thuốc sát trùng. Đây là một trong những lộ trình tiến tới nền nông nghiệp hữu cơ mang tính khả thi cao, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

    Đã có nhiều đề tài khoa học liên quan đến vấn đề này, trong đó nổi bật là dự án “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng – vật nuôi cho vùng sản xuất có nhiều khó khăn” của sở Khoa học – Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh. Cảm nhận đầu tiên của chúng tôi khi đến thăm gần 10 mô hình thuộc dự án là không còn mùi hôi khai của phân gia súc, gia cầm.

    Anh Lâm Hố ở xã Vĩnh Trạch (thị xã Bạc Liêu) cải thiện mô hình canh tác của gia đình hướng theo mục tiêu của nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Từ chỗ nuôi 4 con bò cái, tới nay gia đình anh có thêm 2 con bê, nếu chỉ như vậy thì chẳng có gì đáng nói. Điều đặc biệt là những con bò này được coi như là “nhà máy” sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, đạm sinh học; phân và nước tiểu bò được khử mùi hôi khai bằng chế phẩm EM, được chế biến thành thức ăn cho trùn (giun) quế. Anh Hố nuôi trùn quế dưới lán lá rộng 60m2, chia thành 16 ô để thu hoạch luân phiên. Bên cạnh đó, anh còn nuôi 200 con gà Lương Phượng; 9 ao nuôi tôm sú, 1 ao nuôi cá bống tượng với tổng diện tích gần 4ha. Theo anh Hố thì cách nuôi trùn quế sinh sản, “chế biến” trùn thành thức ăn chăn nuôi cũng như cách khử mùi hôi bằng EM rất dễ thực hiện. Anh Ngọc, cộng tác viên kỹ thuật của dự án giải thích: Nếu trước đây mua bổ sung đạm cho tôm, gà phải mất gần 200.000 đồng/lượt, nhưng nay nhờ nuôi bằng trùn nên chỉ mất khoảng 50.000 đồng. Không chỉ tận dụng để nuôi trùn, phân bò còn là phân bón sạch, rất tốt cho rau, hoa quả. Từ khi tham gia dự án, doanh thu của gia đình anh Hố đạt 600 triệu đồng/năm, lãi gần 20%

    Dùng chế phẩm sinh học EM không những giúp môi trường sống trong lành, tránh ô nhiễm mà còn xây dựng được tập quán tận thu phân, nước tiểu gia súc làm phân sạch. Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và PTNT Bạc Liêu) cho biết, tỉnh vừa khảo sát và tổng kết 20 mô hình canh tác có doanh thu tương đối cao trong năm 2007, trong đó có mô hình chuyên màu (đạt 60-90 triệu đồng/ha); mô hình lúa – màu (55-75 triệu đồng/ha); lúa – cá (55-70 triệu đồng/ha); tôm-cua-cá (50-80 triệu đồng/ha); cá bống tượng và VACR được xếp hàng đầu, vì đều vượt 100 triệu đồng/ha.

    Có nhiều loại đề tài, dự án chuyển giao kỹ thuật mới vào sản xuất, mỗi loại có những ưu điểm riêng, nhưng đề tài tác động đến hệ thống VACR đáp ứng được nhu cầu mà nông dân cần, vì tác động vào các hoạt động sản xuất của nông hộ, nâng cao trình độ sản xuất cũng như tăng thu nhập nhanh hơn, bền vững hơn.

    Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã tổng kết công tác khoa học và công nghệ năm 2007, theo đó, số vốn đầu tư cho công tác khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp lên tới 484 tỷ đồng và đã có một số kết quả nổi bật như chọn tạo ra nhiều giống lúa, ngô, đậu đỗ, rau… năng suất cao, chất lượng khá, sản xuất ra các loại vắc – xin, chế phẩm sinh học có tính ứng dụng rộng. Nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2008 được xác định là phải tập trung hơn nữa đến tính ứng dụng của các công trình khoa học và giúp ích cho bà con nông dân. Đề tài “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi…” do sở Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh đang thực hiện hẳn là một trong những hướng hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2008.

    5.4 VACB

    Khí sinh học Biogas là một hỗn hợp các loại khí được sản sinh trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong môi trường yếm khí, trong đó, thành phần chủ yếu là khí mê-tan. Biogas đốt cháy sinh ra nhiệt lượng cao. công trình “Sản xuất Biogas bằng công nghệ lên men kỵ khí” thì đốt cháy 1m3 Biogas có thể thu được nhiệt lượng từ 5.200 – 5.800 kCal. Do đó, chúng ta có thể sử dụng Biogas thay thế các chất đốt truyền thống như rơm rạ, than, dầu, điện… Ứng dụng công nghệ sản xuất khí sinh học sẽ mang lại cho con người nhiều lợi ích như: tạo nguồn năng lượng tái sinh rẻ và sạch; góp phần đáng kể trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường; tăng thu nhập cho các hộ gia đình thông qua việc giảm chi phí về nhu cầu chất đốt, đặc biệt là trong tình hình giá chất đốt đang gia tăng một cách chóng mặt như hiện nay; tạo nguồn phân bón hữu cơ vi sinh góp phần cải tạo đất trồng nâng cao năng suất cây trồng và nuôi cá trong hệ thống VAC gia đình; góp phần giảm sức lao động của phụ nữ trong công việc nội trợ. Với vốn đầu tư ban đầu ít, loại thể tích phù hợp nhất hiện nay chỉ hết 3,5 triệu đồng có độ bền sử dụng từ 20 –25 năm, một năm trung bình tiết kiệm được 1 triệu đồng tiền chất đốt. Như vậy, giá trị thu được từ khí gas sinh học gấp khoảng 7 lần vốn đầu tư ban đầu. Bã thải sinh học là nguồn phân bón sạch, có giá trị dinh dưỡng cao cho cây trồng và nuôi thuỷ sản, nếu xử lý và chế biến tốt, nó còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc gia cầm, cá nuôi ít bị bệnh và không bị chết như bón phân tươi. Công nghệ khí sinh học góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, thúc đẩy chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, có hiệu quả theo mô hình kinh tế V.A.C.B (Vườn – Ao – Chuồng – Biogas), chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Giải quyết một phần chất đốt và nguyên liệu phục vụ sinh hoạt đời sống, bảo vệ môi sinh, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn văn minh, sạch đẹp, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nông dân.

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    KẾT LUẬN

    Việc sản xuất nông sản ở ĐBSCL có quá nhiều bất cập từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Nông dân không chỉ sản xuất mà phải tự tiêu thụ hàng hóa mà mình làm ra.

    Nông dân còn luôn trong vòng luẩn quẩn được mùa mất giá, được giá lại mất mùa

    Vùng chưa có những sản phẩm nông nghiệp bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng để có thể cạnh tranh với khu vực và thế giới trong xuất khẩu. Các vùng trồng lúa tuy nhiều, nhưng lúa đặc sản, chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu chưa phát triển; các vùng trồng cây chuyên canh, hàng hóa xuất khẩu… còn nhỏ và manh mún. Vì thế, hướng đi cho nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long là tập trung vào công nghệ sinh học, tạo ra các vùng chuyên canh sản phẩm hàng hóa đủ tiêu chuẩn, chất lượng và có khối lượng lớn, có sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

     

    KIẾN NGHỊ

    Sau khi nghiên cứu tình hình sản xuất cũng như tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL nhóm chúng tôi có những kiến nghị mong có thể giúp nông sản vùng ĐBSCL phát triển bền vững và đời sống của người nông dân được cải thiện hơn.

    Giữ ổn định diện tích đất trồng lúa có điều kiện thuỷ lợi để thâm canh tăng năng suất; đưa vào trồng đại trà các giống lúa có chất lượng cao dành cho xuất khẩu. Phát triển mạnh trồng cây ăn quả, rau và hoa, cây cảnh ở những nơi có điều kiện, hình thành vùng chuyên canh cây ăn quả, hoa, cây cảnh có giá trị xuất khẩu.

    Chủ động đầu tư máy móc thiết bị của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo, người nông dân chú trọng hơn trong khâu chọn giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc hóa học…

    Xây dựng các nhà máy chế biến,  các ngành công nghiệp chế biến để chế biến nông sản.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Tìm hiểu TPP, vai trò của Mỹ trong TPP và lợi ích của TPP đối với ngành Logistics ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Marketing-c%C4%83n-b%E1%BA%A3n-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-gia-s%C6%B0-T%C6%B0%C6%A1ng-Lai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Marketing căn bản: Dịch vụ gia sư Tương Lai

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu hướng không ngừng đổi mới nền giáo dục như hiện nay thì chương trình học các cấp tại trường đang là nỗi lo của các bậc phụ huynh và các em học sinh, với khối lượng kiến thức quá nhiều mà lại không đảm bảo đủ thời gian học trên lớp, các em tiếp thu không kịp và phải tự học ở nhà để hiểu bài. Nhiều em học sinh đã bị “stress” nặng dẫn đến kết quả học tập không khả quan sau các kỳ kiểm tra và các đợt thi cuối kỳ. Nhưng việc tự học ở nhà không phải em nào cũng tự giác được vì các em đang ở tuổi ăn tuổi chơi,cuộc sống hiện đại lại có nhiều cám dỗ khiến các em không tập trung cho việc học. Ở trường học cũng mở nhiều lớp dạy thêm ngoài giờ nhưng lại đại trà không chất lượng, nhiều em chỉ đi học vì sợ thầy cô ghét hay đề thi thường ra chỗ mà thầy cô dạy thêm. Nhiều em còn lợi dụng giờ học thêm ngoài giờ để đi chơi,tụ tập bạn bè…. Trước tình hình này, các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của học sinh và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI ra đời với sứ mệnh “ Cung cấp dịch vụ gia sư đa dạng với ba kết hợp hàng đầu là chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp sẽ đem lại sự hài lòng cho bạn khi đến với dịch vụ của chúng tôi. “

    Viễn cảnh mà chúng tôi đem đến: “ Trong tương lai, Trung tâm chúng tôi sẽ là địa chỉ đáng tin cậy, là người bạn đồng hành tốt nhất của các bạn trên chặng đường chinh phục tri thức. “

    Điều gì để chúng tôi có thể khẳng định điều đó, tất cả là nhờ đội ngũ gia sư giỏi uy tín là các giáo viên, sinh viên được chúng tôi tuyển chọn, đó là đội ngũ giàu kinh nghiệm và nhiệt tình để giúp các bạn học sinh yếu củng cố kiến thức căn bản, đồng thời các học sinh khá giỏi có điều kiện để nâng cao trình độ. Trung tâm gia sư chúng tôi cam kết cung cấp nguồn gia sư trình độ chuyên môn cao, đáp ứng mọi nhu cầu học tập của học sinh các cấp trên khắp các quận, huyện trong địa bàn thành phố Đà Nẵng.

    Với sứ mệnh của mình, là nơi cung cấp dịch vụ gia sư và giảng dạy tại Trung tâm theo ba tiêu chí kết hợp “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”  chúng tôi sẽ đem đến sự hài lòng cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi.

     

     

     

     

     

     I. PHÂN ĐOẠN VÀ ĐỊNH VỊ THỊ TRƯỜNG:

     1. Phân đoạn thị trường:

    Cũng như các doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh, việc phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu là khâu quan trọng đối với Trung tâm gia sư của chúng tôi. Việc phân đoạn thị trường là bước đầu tiên cơ bản trong quá trình làm marketing mục tiêu. Chúng tôi phân đoạn thị trường như sau:

    1.1, Phân đoạn thị trường theo yếu tố địa lí:

    Theo thống kê năm 2012 nước ta có tổng số 14747078 trong đó có7202767 học sinh tiểu học, 4869839 học sinh trung học cơ sở và 2674472 học sinh trung học phổ thông tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị nhất là ở địa bàn các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng , Tp Hồ Chí Minh …

    Ở nông thôn số lượng học sinh ,thu nhập của người dân tương đối thấp hơn so với khu vực thành thị, chủ yếu các em học ở trường và đi học thêm đại trà.

    Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi tập trung vào khai thác thị trường ở khu vực thành thị đặc biệt là ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Hà Nội, Hồ Chí Minh. Trong đó chúng tôi chọn thị trường trọng điểm là thành phố Đà Nẵng – trụ sở chính của trung tâm.

    1.2,  Phân đoạn thị trường theo nhân khẩu học:

    • Theo lứa tuổi: Ở nước ta theo như nghiên cứu thì có hơn 86% phụ huynh bắt con em mình phải đi học thêm vì nhiều lí do khác nhau. Số lượng học sinh đi học thêm rất nhiều. Chúng tôi phân ra thành các đoạn thị trường: bậc Tiểu học (từ 6-12 tuổi) , bậc Trung học cơ sở (từ 13-15 tuổi), bậc Trung học phổ thông (từ16-18 tuổi) và đoạn thị trường dành cho các sĩ tử ôn thi Đại học và Cao đẳng.
    • Theo thu nhập: Việt Nam là 1 nước đang phát triển có thu nhập bình quân trên đầu người thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Những người có thu nhập khá và ổn định là đoạn thị trường mà trung tâm chúng tôi chú trọng. Hầu hết những người trong đoạn thị trường này đều tất bật với công việc công sở ít có thời gian để dạy con học nhưng họ lại rất quan tâm đến kết quả học tập và chất lượng của con em mình. Họ sẵn sàng đầu tư để đem lại kết quả tốt nhất do đó nhu cầu thuê gia sư của họ sẽ thường xuyên hơn.

    1.3, Phân đoạn theo tâm lí:

    Các bậc phụ huynh khi có nhu cầu tìm gia sư cho con mình đều có tâm lí thích người ở cùng nơi sinh sống với mình, có giọng nói dễ nghe, khả năng sư phạm khá tốt và kiến thức vững để có thể hỗ trợ con họ một cách tốt nhất. Và họ thường tìm đến những Trung tâm gia sư có uy tín cao, lâu năm , độ tin cậy lớn. Trong nội thành Đà Nẵng vốn có rất nhiều trung tâm gia sư nhưng trong số đó cũng có không ít những trung tâm giả mạo hoạt động vì tiền mà chất lượng kém, hay xuất hiện những trung tâm lừa đảo sinh viên lấy phí.  Trung tâm gia sư Tương Lai chúng tôi luôn đảm bảo ưu tiên chất lượng giảng dạy là hàng đầu, với tiêu chí uy tín và chuyên nghiệp sẽ luôn đem lại cảm giác an toàn cho khách hàng đến với dịch vụ của Trung tâm.

    Hầu hết các em học sinh thích gia sư tại nhà vì theo tâm lí học sinh nào có gia sư chứng tỏ gia đình có tiền,các em sẽ được thoải mái hỏi những điều mà mình chưa biết hoặc đưa ra ý kiến của mình mà không sợ bạn bè chê cười.

    1.4, Phân đoạn theo hành vi:

    • Lí do tìm đến dịch vụ gia sư: trước tình hình học quá tải của con cái, chất lượng học ngày càng không khả quan các bậc làm cha mẹ cũng lâm vào tình trạng căng thẳng không kém vì vừa phải lo công việc mưu sinh vừa phải quan tâm, theo dõi quá trình học tập của con em mình. Theo xu hướng thời đại, phụ huynh đã dần tìm đến các trung tâm gia sư uy tín, chất lượng với mong muốn tìm được những gia sư giỏi chuyên môn có thể theo dõi và hỗ trợ cho con em họ học tập tố hơn.
    • Lợi ích tìm kiếm: các bậc phụ huynh muốn tìm các gia sư giỏi chuyên môn, tận tình với nghiệp giảng dạy để hỗ trợ phụ huynh theo dõi quá trình học tập của con mình và giúp đỡ các em cải thiện trình độ học vấn, mở mang kiến thức toàn diện. Nhiều nghiên cứu cho biết các em khi học gia sư ở nhà có kết quả khả quan hơn khi học thêm ở ngoài, các em tự tin nói những điều mình chưa biết để khắc phục chứ không như học ở bên ngoài sợ bạn bè chê cười.

    2. Đánh giá các đoạn thị trường:

    Qua sự phân đoạn thị trường như trên,chúng tôi thấy đó đều là những đoạn thị trường hấp dẫn có khả năng phát triển tốt trong tương lai.

    Đoạn thị trường bậc Tiểu học : Đoạn này có quy mô không lớn, các em ở độ tuổi này còn nhỏ cần sự quan tâm từ cha mẹ nhiều, họ sát sao theo dõi và dạy dỗ con họ từng ngày. Mức tăng trưởng cũng không cao và sức hấp dẫn không nhiều. Nhu cầu tìm gia sư ở đoạn này thường ít, mục tiêu của trung tâm chủ yếu là các nhà có điều kiện và tập trung ở các em 10-12 tuổi.

    Đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở: Quy mô ở đoạn này khá hơn đoạn 1, các em bắt đầu học nhiều môn hơn, khối kiến thức rộng và khó hơn. Mức tăng trưởng của đoạn thị trường này rất hứa hẹn vì giai đoạn này nhu cầu học thêm cao nhất là các em 15 tuổi cuối cấp phải thi lên lớp 10. Trường cấp 3 giờ rất phân loại phải học tốt và thi tốt thì mới vào được những trường danh tiếng có chất lượng cao nên nhu cầu tìm gia sư rất nhiều đối với đoạn thị trường này.

    Đoạn thị trường bậc Trung học phổ thông: Quy mô đoạn thị trường này khá lớn, vì là ba năm cuối cấp nên các em cần phải đặt nền tảng cho mình ngay từ khi bước vào lớp 10 và định hướng cho tương lai nên thi vào trường Đại học, Cao đẳng nào, khối nào, ngành gì. Giai đoạn này các bậc phụ huynh cũng rất lo lắng, công việc tất bật con em họ đang ở tuổi dậy thì tuổi ăn tuổi chơi nên cần phải được theo dõi. Nhiều em giai đoạn này lơ là việc học, lợi dụng việc học thêm để đi chơi. Nhu cầu tìm gia sư cũng rất cao,nhất là những gia sư uy tín chất lượng.

    Đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng: Đây là đoạn thị trường tiềm năng khi kì thi này là bước ngoặt đối với mỗi sĩ tử. Nhu cầu cao và mục đích của khách hàng hàng đầu chính là chất lượng giảng dạy và chương trình giảng dạy được khách hàng rất quan tâm khi lựa chọn tại các trung tâm.

    3. Lựa chọn thị trường mục tiêu:

    Qua các đánh giá trên chúng tôi nhận thấy đoạn thị trường bậc Trung học cơ sở, bậc Trung học phổ thông và đoạn thị trường ôn thi Đại học, Cao đẳng là các đoạn thị trường nhiều tiềm năng nhất , đó là đoạn thị trường của các em học sinh cấp 2, cấp 3 và một phần nhỏ bộ phận ôn thi lại Đại học, Cao đẳng. Đây cũng là thị trường mục tiêu mà Trung tâm chúng tôi lựa chọn để phục vụ. Khách hàng ở đoạn này có nhu cầu lớn, Trung tâm chúng tôi có thể đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng nằm trên những đoạn thị trường này, ưu thế nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh, bên cạnh đó trung tâm sẽ có những dịch vụ mới lạ và đa dạng phục vụ tận tình hơn với quý khách hàng. Chúng tôi lấy phương châm “ uy tín hàng đầu chất lượng là cốt lõi ”, cam kết đem lại chất lượng tốt nhất mà quý vị phụ huynh mong đợi.

    4. Định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu :

    Có thể thấy định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu là một bước chiến lược chung nhất cho phối chương tình marketing. Những chiến lược mà Trung tâm gia sư chúng tôi sẽ áp dụng trong hoạt động:

          4.1, Tạo hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, thương hiệu trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu:

    Hình ảnh trong tâm trí khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá của khách hàng về doanh nghiệp và sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng .Nó là một tập hợp các ấn tượng cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và thương hiệu đó.Hình ảnh của trung tâm của chúng tôi đucợ hình thành dựa trên:

    Sự thiết kế và truyền bá những hình ảnh mà trung tâm đã lựa chọn: Trung tâm gia sư chúng tôi hướng đến hình ảnh một trung tâm với chất lượng tốt nhất, phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất và tạo được lòng tin, sự uy tín trong các bậc phụ huynh và các em học sinh với các dịch vụ tiện ích,hỗ trợ tốt nhất mà chỉ Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI có. Một hình ảnh thân thiện, gần gũi và là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các bạn học sinh. Chúng tôi thiết kế các kênh thông tin trên mạng cung cấp rất đầy đủ thông tin và những dịch vụ mà quý vị phụ huynh cần. Chúng tôi thiết lập các đường dây nóng để sẵn sàng hỗ trợ ,tư vấn cho quý vị mọi lúc và sẽ có một bộ phận phụ trách tại của trung tâm có nhiệm vụ đến tận nhà của quý vị để khảo sát tình hình hiện tại của các em nếu nhận được yêu cầu từ khách hàng để có thể khảo sát được chất lượng hiện tại của các em và đưa ra được phương pháp giảng dạy phù hợp. Chúng tôi đảm bảo sẽ đem đến cho khách hàng sự phục vụ tận tình và chu đáo nhất với dịch vụ của mình.

    4.2, Lựa chọn vị thế của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu:

    Nếu chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình ảnh cụ thể cho sản phẩm thương hiệu thì một sản phẩm dịch vụ ,thương hiệu không thể tồn tại và đứng vững lâu dài. Công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng lại ở việc tạo dựng được một hình ảnh mà còn phải lựa chọn cho hình ảnh đó một vị thế trên thị trường mục tiêu .Vị thế đó do khách hàng nhìn nhận và hình thành thái độ như thế nào khi khách hàng tiếp cận với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    Khi mới thành lập thì Trung tâm sẽ gặp phải các đối thủ cạnh tranh lớn đặc biệt là trung tâm gia sư TRÍ VIỆT. TRÍ VIỆT đã xâm nhập thị trường dich vụ gia sư khá lâu với nhiều kinh nghiệm và được mệnh danh là trung tâm gia sư số 1 tại Đà Nẵng: có đội ngũ giáo viên chất lượng,  trình tuyển chọn giáo viên kỹ lưỡng và các chương trình học tập hiệu quả….Khi xâm nhập vào thị trường dich vụ này, để tồn tại và phát triển Trung tâm chúng tôi có những chiến lược cạnh tranh trực tiếp những sản phẩm dịch vụ có ưu điểm tốt hơn và sẽ có khai thác những đoạn thị trường mà trung tâm gia sư TRÍ VIỆT chưa sở  hữu. Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI cần xây dựng một hình ảnh mới mẻ hơn và nhiều dịch vụ hữu ích hơn, tập trung chú trong tới chất lượng dịch vụ để từng bước xây dựng cho mình một vị thế vững chắc trên thị trường dịch vụ gia sư Đà Nẵng.

    4.3, Tạo được sự khác biệt cho thương hiệu dịch vụ:

    4.3.1, Tạo điểm khác biệt cho dịch vụ:

    Trung tâm chúng tôi xây dựng các dịch vụ nhằm phục vụ quý vị phụ huynh và em học sinh một cách tận tình nhất ngoài chất lượng giảng dạy luôn được đảm bảo.

    • Quản lý điểm số, đánh giá chất lượng học tập của học sinh, có “ Bảng Tổng Kết Tình Hình Giảng Dạy ” trong từng tháng, đảm bảo về thông tin và chất lượng giảng dạy của gia sư.
    • Khi gia sư giảng dạy không đạt hiệu quả mong muốn, khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm  đổi gia sư (miễn phí).
    • Chúng tôi hàng kì sẽ có những đợt kiểm tra, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh, nhằm đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên và sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập tại trung tâm.
    • Khách hàng có quyền yêu cầu trung tâm gia sư TƯƠNG LAI  cung cấp tài liệu học tập và các đề thi từ  thư viện trực tuyến của trung tâm.
    • Đặc biệt trung tâm sẽ cung cấp tài liệu và đề thi và các công cụ hỗ trợ tốt nhất cho các em cuối cấp sắp thi đại học.
    • Ngoài ra trung tâm còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để có thể tiết kiệm thời gian và chi phí hơn cho các em và có thể mở rộng phạm vị cung cấp dịch vụ ra các tỉnh lân cận.

    4.3.2, Tạo điểm khác biệt về nhân sự:

    Chúng tôi luôn cam kết đáp ứng mọi nhu cầu về chất lượng dạy và học, cũng như mọi mong muốn của quí phụ huynh – học sinh. Chúng tôi đặt trọng tâm vào chất lượng dạy và học, điểu này sẽ tạo nên thương hiệu của Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI .Và để đạt được điều đó ban Quản lý trung tâm phải quan tâm tới chất lượng phục vụ là trên hết. Một khi dạy tốt, học sinh tiến bộ sẽ tạo dựng được niềm tin trong lòng người học và nâng cao uy tín của trung tâm.

    Chúng tôi luôn cung ứng gia sư là các giáo viên và sinh viên tốt, nhiều kinh nghiệm, luyện thi vào các trường chuyên, các trường Đại học danh tiếng với điểm đầu vào khắt khe. Quy trình tuyển chọn giảng viên chúng tôi  rất chú ý. Chọn những giáo viên giỏi có nhiều kinh nghiêm trong giảng dạy và những sinh viên có kết quả cao trong các kì thi đại học ở các trường công lập. Đầu vào sinh viên trung tâm chúng tôi sẽ có các bài kiểm tra để thử năng lực của các bạn trước khi đuợc nhận chính thức vào Trung tâm chúng tôi.

    Ngoài ra chúng tôi còn có mời các giáo sư có tiếng trong giảng dạy về tập huấn trao đổi với đội ngũ gia sư của trung tâm để trau dồi và mở những buổi thảo luận nhằm giúp đội ngũ giảng dạy của Trung tâm nâng cao được nghiệp vụ nhằm tìm ra được những phương hướng giảng dạy tốt nhất.

    Đội ngũ giảng viên được bố trí theo đúng công việc và nhiệm vụ và được trang bị những công cụ hỗ trợ tốt nhất để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Trung  tâm còn bố trí các tư vấn viên và đội ngũ giáo viên để tư vấn mọi thắc mắc và khảo sát tình hình hiện tại của các em học sinh để tìm ra phương pháp dạy và họ tốt nhất.

    Trung tâm gia sư TƯƠNG LAI phân công Điều hành viên, chuyên trách thực hiện hoạt động chăm sóc khách hàng, đại diện cho trung tâm làm việc với khách hàng về các vấn đề: tài chính, chất lượng học và giảng dạy của học sinh và gia sư. Bộ phận nhân viên tư vấn trong Trung tâm được đào tạo làm việc một cách chuyên nghiệp sẽ phục vụ khách hàng với thái độ thân thiện, niềm nở nhất. Sẽ giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng về dịch vụ của trung tâm cũng như mọi thắc mắc liên quan đến học phí và thời gian gảng dạy.

    4.3.3, Tạo sự khác biệt về hình ảnh:

    Khi các sản phẩm và dịch vụ giống nhau thì khách hàng vẫn có phản ứng khác nhau với hình ảnh của doanh nghiệp hay thương hiệu. Công cụ để tạo ra hình ảnh và đặc điểm nhận dạng bao gồm logo, tên gọi, biểu tượng…

    Chúng tôi thiết lập ra một trang web riêng của trung tâm trên đó có ghi đầy đủ thông tin về trung tâm như đội ngũ gia sư ,các lớp dạy, phần dành cho ý kiến phản hồi của phụ huynh, diễn đàn xoay quanh vấn đề học tập….Ngoài ra chúng tôi còn tổ chức các lớp học trực tuyến qua mạng để tiết kiệm thời gian và chi phí do đó giá thành sẽ rẻ hơn. Hình ảnh chính mà trung tâm tạo dựng là sự uy tín và chất lượng cốt lõi,cam kết đem lại kết quả mà quý vị mong đợi.

    II. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM:

    2.1, Các cấp độ dịch vụ:

    Dịch vụ Trung tâm tương tự như một sản phẩm cũng có ba cấp độ cấu thành:

    • Lớp lợi ích: Chính là giá trị cốt lõi của dịch vụ mà trung tâm cung cấp. Dịch vụ gia sư do trung tâm chúng tôi cung cấp đảm bảo chất lượng tốt.  Với đội ngũ giáo viên và sinh viên chất lượng đuợc tuyển chọn đầu vào, khách hàng có thể yên tâm về chất lượng chuyên môn cũng như thái độ phục vụ của chúng tôi.
    • Lớp vật chất: Ngoài chất lượng chuyên môn giảng dạy tốt, trung tâm chúng tôi còn có được sự hợp tác và tư vấn bởi nhiều giáo sư có tiếng tăm. Ngoài ra đội ngũ giảng dạy của chúng tôi còn có những gương mặt tiêu biểu giáo viên dạy giỏi, đối với sinh viên, chúng tôi tổ chức những đợt kiểm tra kiến thức đầu vào để tuyển chọn chất lượng, cũng như được hướng dẫn nghiệp vụ sư phạm giảng dạy. Đây chính là tiềm năng về chuyên môn mà chúng tôi thu hút cũng như có được. Trung tâm chúng tôi có website riêng thường xuyên cập nhật những tin tức giảng dạy, kết quả giảng dạy cũng như những ưu đãi được thông báo tới toàn bộ khách hàng.
    • Lớp tăng thêm: Đối với những đợt lớp học mới, trung tâm chúng tôi có thêm những khuyến mãi giá trị hấp dẫn đối với các khách hàng. Tùy theo từng đợt, có thể đó sẽ là việc khách hàng được tặng phiếu giảm mức học phí; khách hàng được tư vấn miễn phí và được sử dụng vụ thử nghiệm mà nếu không vừa lòng có thể ngưng khóa học và không mất phí.. Ngoài ra nếu có kết quả tốt trong học tập (đối với khóa học tại trung tâm), chúng tôi sẽ có những món quà thú vị dành tặng các bạn học sinh như những chuyến du lịch ngắn ngày hay vé xem phim và vé dự các hội thảo về nâng cao kĩ năng mềm hấp dẫn.

    Đây chính là những nét khác biệt về sản phẩm dịch vụ mà trung tâm chúng tôi tạo ra để có thể cạnh tranh và vượt trội trên thị trường.

    2.2,  Phân loại dịch vụ tại trung tâm:

    Dịch vụ trung tâm chúng tôi cung  cấp được phân loại theo hai loại chính :

    • Đối với dịch vụ môi giới gia sư dành cho các cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông : Trung tâm chúng tôi tuyển chọn những bạn sinh viên giỏi và giao những suất dạy phù hợp với yêu cầu của các bạn với mức phí giao nhận nhất định do trung tâm quy định trước. Nhưng trong quá trình giảng dạy vẫn có sự theo dõi của trung tâm về khóa dạy của các bạn để kịp thời xử lý những yêu cầu của hai bên.
    • Đối với dịch vụ dạy học tại Trung tâm: chúng tôi có mở các lớp ôn thi Đại học, cao đẳng ngay tại trung tâm. Có những khóa học ôn thi Đại học, Cao Đẳng các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Anh, Văn, Địa Lý, Lịch Sử cùng đội ngũ giáo viên giỏi và được tuyển chọn sẽ phục vụ việc giảng dạy tốt nhất.

     

    2.3,  Các quyết định về dịch vụ tại trung tâm :

    Quyết định về dịch vụ đơn lẻ:

    *  Đặc tính dịch vụ

    – Chất lượng dịch vụ: chúng tôi cam kết đem đến chất lượng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng với phong cách làm việc uy tín và chuyên nghiệp nhất theo tiêu chí 3 kết hợp: “chất lượng – uy tín – chuyên nghiệp”.

    – Tính năng:  Cung cấp nguồn chất lượng gia sư tốt nhất, là địa chỉ đáng tin cậy để gửi gắm con em vào việc ôn thi Đại học và Cao đẳng.

    **  Quyết định về thương hiệu:

    • Biển hiệu và địa chỉ rõ ràng.
    • Nơi uy tín phải là nơi công khai mọi người đều biết đến và có thể tìm tới gặp trực tiếp chứ không phải là một trung tâm địa chỉ lập lờ.
    • Thông tin trên website trung thực.
    • Thông tin gia sư trung thực đầy đủ.
    • Website thiết kế uy tín.
    • Phong cách làm việc chuyên nghiệp.
    • Các sinh viên và giáo viên của trung tâm phải mang thẻ do trung tâm cấp khi đi dạy .
    • Tổ chức tặng quà cho các đầu năm cho 1 số khách hàng than thiết.
    • Ghi nhận các phản ảnh và ý kiến của các học sinh cũng như sinh viên của trung tâm từ đó thay đổi để hoàn thiện.

    ***  Nhãn hiệu:

    Logo của Trung tâm :

    (hình ảnh)

      2.4, Các quyết định về hệ hàng:

    *  Hệ hàng: Nhận thấy để tận dụng những nguồn lực dồi dào từ các đoạn thị trường còn lại, trung tâm chúng tôi có mở thêm nhiều dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng như:

    – Dịch vụ luyện chữ đẹp: ngoài dịch vụ gia sư cho các em từ bậc tiểu học tới trung học phổ thông, chúng tôi có thêm dịch vụ luyện viết chữ đẹp tại trung tâm dành cho các em tiểu học lớp 1,2,3 cho nhu cầu.

    – Dịch vụ dạy thiết kế đồ họa: đối với những ai yêu thích đồ họa, trung tâm sẽ có liên kết mở lớp dạy đồ họa.

    – Dịch vụ dạy Tiếng anh bao gồm: Tiếng anh giao tiếp, tiếng anh chuyên ngành  hướng đến các bạn sinh viên và những người đang đi làm cho nhu cầu. Tiếng anh thiếu nhi cho các bé mới bắt đầu với môn Tiếng anh.

    **  Các quyết định về hệ hàng:

    Quyết định về chiều dài mặt hàng:

    Trung tâm sẽ phát triển các hệ hàng bằng cách kết hợp giữa phát triển hướng xuống dưới và hướng lên trên. Các dịch vụ sẽ được phục với mức giá thấp hơn như dịch vụ dạy kèm một buổi theo yêu cầu, gia sư giá rẻ hướng đến những khách hàng không có điều kiện cao. Bên cạnh đó là nâng cao và phát triển thêm một số dịch vụ với mức giá cao hơn nhưng chất lượng cũng đuợc nâng lên trông thấy. Những bước đi này sẽ tiếp cận được tới từng yêu cầu cụ thể của khách hàng và đem lại sự hài lòng về dịch vụ đến cho họ.

    Quyết định tạo đặc trưng của hệ hàng:

    Các dịch vụ gia sư như dạy một buổi nhận tiền ngay (dành cho những học sinh không có điều kiện học thêm muốn chuẩn hóa lại kiến thức để phục vụ thi cử); thường xuyên tổ chức các buổi gặp mặt trao đổi kiến thức và kinh nghiệm cho gia sư và học sinh; gia sư dạy thêm qua skype giá rẻ (dành cho các bộ môn ngoại ngữ). Với những dịch vụ mới lạ này nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho gia sư và học sinh chắc chắn trung tâm sẽ tạo được vị thế của mình đối với khách hàng.

    Quyết định hiện đại hóa mặt hàng:

    Trao đổi tài liệu và giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng một cách nhanh nhất qua internet sẽ là bước đi mà chúng tôi cần phải quan tâm đúng mức.  Điều này sẽ tạo ra sự bứt tốc đối với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó Trung tâm sẽ cố gắng tổ chức các chương trình bổ trợ miễn phí về kĩ năng mềm và kĩ năng vi tính cho khách hàng. Trên wesite của Trung tâm chúng tôi có mục đón nhận ý kiến từ khách hàng, chúng tôi sẽ có những phần quà xứng đáng cho những khách hàng gửi những lời đóng góp ý kiến đúng đắn, xác thực về chất lượng cũng như hoạt động của Trung tâm. Đây là những bước đi mang tầm chiến lược của Trung tâm, điều này giúp các khách hàng cảm thấy được quan trọng và hơn nữa những góp ý chuẩn xác sẽ giúp trung tâm cải thiện những mặt còn yếu kém và đẩy mạnh chất lượng cũng như tốc độ phát triển của Trung tâm. Điều này sẽ là một điểm khác biệt rất mới của Trung tâm chúng tôi.

    2.5,  Kế hoạch chu kỳ sống của sản phẩm:

    Bất kì sản phẩm nào cũng phải trải qua một chu kì sống với đầy đủ các giai đoạn  giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. Ở mỗi giai đoạn công ty phải có những chiến lược khác nhau để đứng vững trên thương trường. Với sản phẩm là dịch vụ gia sư chúng tôi có những kế hoạch về chu kì sống như sau:

    * Giai đoạn giới thiệu:

    Ở giai đoạn này với việc  đưa mới sản phẩm vào thị trường, trung tâm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với khách hàng. Dịch vụ  gia sư là một sản phẩm rất phổ biến trên địa bàn Đà Nẵng, chính vì vậy để chứng tỏ thương hiệu với khách hàng về trung tâm không phải là một điều đơn giản. Trong giai đoạn đầu tiên ra mắt, trung tâm sẽ đầu tư tập trung vào những dịch vụ trọng tâm của mình là môi giới gia sư và ôn luyện thi ĐH – CĐ, chấp nhận đầu tư  vào các khâu marketing cho sản phẩm như tăng cường quảng cáo, tập trung vào nhóm khách hàng mục tiêu, thực hiện chiến lược xâm nhập chớp nhoáng bằng cách khởi đầu đưa ra một mức giá thấp so với mặt bằng chung của thị trường nhằm thu hút đối với khách hàng,  ngoài ra mức phí môi giới sinh viên gia sư cho trung tâm cũng  thấp khoảng từ 15% – 20%  khoản phí nhận suất. Tập trung vào nhóm khách hàng tiềm năng với dịch vụ là học sinh từ C1- C3, các sĩ tử đang ôn luyện thi.  Mở rộng quảng bá bằng tờ rơi, truyền đơn, qua internet và áp dụng nhiều ưu đãi với những khách hàng ban đầu. Với chiến lược marketing này trung tâm kêt hợp với khả năng và chất lượng dịch vụ của mình chắc chắn sẽ dễ dàng chiếm được thiện cảm của khách hàng và bước đầu tạo được vị thế của mình.

    ** Giai đoạn phát triển:

    Mức tiêu thụ của dịch vụ bắt đầu tăng nhanh, lợi nhuận trong giai đoạn này của trung tâm sẽ bắt đầu tăng.  Đây là giai đoạn quan trọng nhất và để duy trì và phát triển một cách bền vững trung tâm sẽ tiếp tục mở rộng xúc tiến cổ động và tăng cường quảng cáo thông tin mạnh mẽ tới công chúng. Ngoài ra áp dụng thay đổi chính sách khuyến mãi như việc đăng kí học theo từng nhóm 5 người sẽ được giảm giá khóa học tại trung tâm. Tăng chi phí cho khoản mục kích thích tiêu thụ. Bên cạnh đó sẽ dần tăng mức phí và giá theo thị trường ở đợt mở lớp  sau. Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về dịch vụ và xâm nhập ra những vùng thị trường mới để mở rộng địa bàn trên thành phố Đà Nẵng. Sẽ cố gắng kéo dài giai đoạn này càng dài càng tốt.

    *** Giai đoạn bão hòa:

    Đến lúc này tốc độ  tiêu thụ dịch vụ của trung tâm sẽ có dấu hiệu bị chững lại. Lý do là bởi dịch vụ của trung tâm bắt đầu đã tràn ngập trên các kênh lưu thông và hàm chứa có một sự canh tranh gắt gao của các đối thủ trên thị trường. Để tiếp tục duy trì trung tâm  thực hiện những biện pháp cải biến thị trường, cải biến sản phẩm, tăng cường công tác quảng cáo, đưa ra cách chọn lọc mới để chất lượng gia sư được tốt, thực hiện chế độ đãi ngộ tốt hơn đối với gia sư,  sẽ có nhưng món quà mang ý nghĩa tinh thần dành cho gia sư nếu kết quả học tập của lớp được cải thiện. Đối với khách hàng, nếu có kết quả học tập tốt dựa theo bảng điểm thi đua của trung tâm cũng sẽ nhận được những phần thưởng như : vé xem film cuối tuần, vé dự buổi thảo luận về kĩ năng mềm, những buổi hội thảo về phương pháp học tốt… Ngoài ra trung tâm sẽ tích cực tìm kiếm thêm thị trường mới trên địa bàn Đà Nẵng. Tìm kiếm thị trường mới như môi trường giáo dục mầm non sẽ là cánh cửa mới lúc này với việc dạy cho bé biết chữ, luyện chữ đẹp..

    **** Giai đoạn suy thoái:

    Giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ dịch vụ của trung tâm bắt đầu giảm sút. Do sự canh tranh gay gắt của các trung tâm khác trên địa bàn Đà Nẵng và thị hiếu của khách hàng đã thay đổi, khách hàng bị hấp dẫn bởi những chính sách và dịch vụ của những đối thủ cạnh tranh. Để giải quyết khó khăn trong giai đoạn này trung tâm sẽ dự định thực hiện các biện pháp sau: rút gọn thị trường cung ứng dịch vụ môi giới gia sư đối những thị trường không hiệu quả về mặt lợi nhuận, thu hẹp phạm vi môi giới tập trung vào những phân đoạn lứa tuổi dễ đem lại lợi nhuận cho trung tâm, từ bỏ thị trường nhỏ, cắt giảm chi phí khuyến khích đồng thời hạ giá nhiều hơn. Ngoài ra còn có thêm những chính sách ưu đãi đối với những khách hàng than quen của trung tâm. Trung tâm cần quan sát cụ thể từng chuyển biến mới của dịch vụ để kịp thời điều chỉnh tránh để gây ra những thiệt hại về uy tín cũng như doanh thu trong giai đoạn này.

    III. CHÍNH SÁCH ĐỊNH GIÁ

     

    3.1, Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá là:

    3.1.1, Môi trường bên trong:

    a, Định vị sản phẩm và mục tiêu marketing, marketing mix:

    Trung tâm chúng tôi hoạt động lấy chất lượng và uy tín làm gốc.

    Vì vậy với các mục tiêu marketing, giá cả của trung tâm cũng sẽ có những điều chỉnh thay đổi nhất định.

    Việc ra các quyết định về giá cần phải có sự phối hợp với các chữ P khác theo sơ đồ:

    Chiến lược định vị -> Lựa chọn 4Ps -> Quyết định về giá.

    Giá và các chiến lược marketing mix đưa ra phải có sự hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện chiến lược định vị và mục tiêu marketing đã chọn. Cụ thể:

    – Mục tiêu xây dựng thị phần: để xây dựng thị phần tốt thì trung tâm sẽ xây dựng mức giá thấp và có khả năng cạnh tranh lớn nhất với thị trường.

    –  Mục tiêu chất lượng cao: Trung tâm  ấn đinh mức giá cao so với thị trường  nhưng đổi lại khách hàng sẽ nhận được những gói dịch vụ chất lượng nhất. Cặp quan hệ chất lượng – giá cả sẽ gây ảnh hưởng tới sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng cao mà dịch vụ mang lại.

    –  Mục tiêu đảm bảo sống sót:  định giá đủ để cầm cự, trang trải kinh phí duy trì hoạt động của doanh nghiệp và chờ cơ hội mới.

    b, Chi phí:

    Khoảng cách giữa giá và chi phí là lợi nhuận. Một đồng chi phí tăng thêm là một đồng lợi nhuận giảm xuống khi mức giá bán được ấn định.

    Kiếm soát được chi phí sẽ giúp trung tâm giành thế chủ động trong việc thay đổi giá thành được lợi thế cạnh tranh tránh mạo hiểm.

    c, Đặc điểm Doanh nghiệp:

    Nó được biểu hiện thông qua mục tiêu của chính sách giá đặt ra, khả năng về kỹ thuật, tài chính, tiếp thị và về Marketing của doanh nghiệp. Những ràng buộc về mục tiêu chính sách giá đòi hỏi giá bán sản phẩm của trung tâm  phải đảm bảo những mục tiêu đề ra về khối lượng, lợi nhuận… nhưng vẫn phải bù đắp những chi phí bỏ ra.

    3.1.2, Môi trường bên ngoài:

    • Chủ yếu là đặc điểm của thị trường và nhu cầu của khách hàng.
    • Thị trường gia sư ở nước ta ngày càng nở rộ,nhất là ở các thành phố lớn.vì vậy sẽ có rất nhiều khách hàng tiềm năng.
    • Nhu cầu khách hàng về gia sư rất lớn,vì nhà nhà đều muốn con mình giỏi hết nên việc đưa ra 1 mức giá hợp lí để tạo sư tin tưởng ở khách hàng.
    • Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lí,nhận biết khách hàng về giá mà sản phẩm mình đang quảng bá:
    • Khách hàng sẽ so sánh vs mức giá của các đối thủ cạnh tranh.
    • Khách hàng sẽ chú ý đến những giá tâm lí,giá rẻ (dù ở đây các mức giá chênh lệch không bao nhiêu).
    • Giá của đổi thủ cạnh tranh và chiến lược maketing của họ cũng ảnh hưởng đến việc đinh giá của chúng ta.Một chiến lược đinh giá cao,thu lời cao thì sẽ thu hút sức cạnh tranh,còn chiến lức định giá thấp mức lời thấp thì sẽ làm nản đối thủ cạnh tranh.
    • Biết giá cả và chất lượng của đối thủ cạnh tranh để từ đó xác định chất lượng và mức giá hợp lí cần đưa ra để có khả năng cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cho công ty.
    • Các yếu tố bên ngoài như giá xăng tăng, lạm phát hay suy thoái kinh tế đều có ảnh hưởng ít nhiều đến việc định giá sản phẩm.

    3.2, Các phương pháp xác định giá được trung tâm sử dụng.

    Có nhiều phương pháp định giá của sản phẩm như:

    • Định giá dựa vào chi phí
    • Định giá dựa vào khách hàng
    • Định giá vào đối thủ cạnh tranh.

    Công ty sử dụng phương pháp định giá theo chi phí và định giá theo đối thủ cạnh tranh.

    *  Xác định giá theo chỉ tiêu chi phí:

    Phương pháp định giá này chỉ áp dụng cho dịch vụ dạy tại trung tâm. Đối với dịch vụ môi giới gia sư, trung tâm áp dụng mức phí (%)  trên số tiền khách hàng sẵn sang chi trả cho suất dạy.

    Tổng chi phí cố định (FC):  là tổng chi phí đầu vào cố định, nó không thay đổi trong việc bán dịch vụ.

    Tổng chi phí biến đổi (AVC): là tổng chi phí đầu vào được biến đổi, nó thay đổi cùng với sản lượng.

    Tổng chi phí ( C ) =  Tổng chi phí cố định (FC)+ Tổng chi phí biến đổi(AVC)

    Giá thành sản phẩm được xác định theo CT:

    Giá thành đơn vị sản phẩm =  Tổng chi phí/Sản lượng.

    Sử dụng phương pháp định giá cộng vào chi phí:

    P = C+k.C

    Trong đó C: tổng chi phí , k: hệ số kê lời

    Trung tâm sử dụng phương pháp tính giá này để giảm thiểu sự cạnh tranh về giá, chi phí sản xuất có thể kiểm soát được và xác định được lợi nhuận thu về chắc chắn.

    **  Xác định giá theo đối thủ cạnh tranh:

    Ngoài sử dụng phương pháp định giá theo chi phí, tùy theo từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm mà trung tâm có thể thay đổi cách định giá cho phù hợp và linh hoạt với điều kiện hiện tại. Đối với phương pháp này trung tâm áp dụng:

    – Áp dụng hình thức giá ngang bằng với giá sản phẩm cạnh tranh: áp dụng với các hệ hàng : dịch vụ dạy thiết kế đồ họa, dịch vụ luyện chữ đẹp.

    – Áp dụng hình thức giá cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với dịch vụ tiềm năng của trung tâm, có nét đặc biệt và hoàn toàn có nét vượt trội so với đối thủ cạnh tranh: dịch vụ ôn luyện thi ĐH, CĐ.

    – Áp dụng hình thức giá thấp hơn giá của sản phẩm cạnh tranh:  áp dụng với những khách hàng nhạy cảm về giá, trung tâm áp dụng với dịch vụ môi giới gia sư bằng cách thu mức phí thấp hơn so với mặt bằng chung của thị trường.

    3.3, Các chiến lược định giá.

    3.3.1, Định giá cho sản phẩm mới:

    Nhận thấy thị trường này khá nhạy cảm về giá nên trung tâm áp dụng chiến lượt định giá của  là “bám chắc thị trường” với mục đích nắm giữ thị phần lớn, lâu dài và có được lợi nhuận trong dài hạn.  Hình thức này ban đầu đưa sản phẩm mới vào với mức giá thấp nhằm thâm nhập thị trường, chiếm giữ thị phần. Trung tâm tiếp tục khai thác hiệu quả quy mô để giảm được chi phí dẫn đến giá giảm mà vẫn thu được khoản lợi mong muốn. Giá hạ không thu hút thêm đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

    3.3.2, Định giá cho phối thức sản phẩm:

    Định giá hệ hàng

    Dịch vụ TG 1 khóa học Mức phí cả khóa học Ghi chú
    Luyện chữ đẹp 3 tháng 1.000.000đ  
    Dạy thiết kế đồ họa 5 tháng 1.500.000đ  
    Dạy Tiếng anh
    – TA giao tiếp
    – TA chuyên ngành
    – TA thiếu nhi
    9 tháng
    9 tháng

     

     

    6 tháng

    4.200.000đ

    4.000.000đ

    2.500.000đ

     

    3.3.3, Chiến lược điều chỉnh giá.

    * Chiếu khấu:  Đối với tất cả các dịch vụ dạy tại trung tâm

    • Chiết khấu thanh toán nhanh: Khách hàng thanh toán trong một lần cho toàn bộ khóa học được giảm 3%.
    • Chiết khấu số lượng: Khách hàng đăng kí theo nhóm: trên 5 người giảm 3% học phí cho mỗi khách hàng, trên 10 người giảm 5% cho mỗi khách hàng.
    • Chiết khấu theo mùa: trong hè khách hàng đăng kí được giảm 2% học phí mỗi khách hàng.

    **  Chiến lược giá phân biệt: đối với những khách hàng quen thuộc trung tâm sẽ áp dụng chính sách bớt giá : miễn phí 3 buổi học đầu tiên trong khóa học.

    *** Chiến lược giá khuyến mãi:

    Khách hàng sử dụng dịch vụ dạy học tại trung tâm có thể yêu cầu hoàn tiền trong vòng 3 buổi học đầu nếu thấy chất lượng giảng dạy không hài lòng.

    3.4, Quyết định thay giá đổi sản phẩm:

    3.4.1, Phản ứng trước sự thay đổi giá:

    Sự thay đổi giá là cần thiết trong từng giai đoạn tồn tại của sản phẩm dịch vụ. Nếu ở giai đoạn phát triển giá dịch vụ tăng nhưng tới giai đoạn suy thoái dịch vụ cần giảm giá để có thể tiếp tục được khách hàng nhạy cảm với giá lựa chọn.

    3.4.2, Tăng giá:

    Nếu giá cả trung bình của thị trường tăng, trung tâm điều chỉnh tăng giá theo để có thể thu thêm lợi nhuận trong trường hợp chi phí phát sinh không thay đổi hoặc ít thay đổi.

    Chi phí phát sinh tăng đột biến cũng dấn đến việc tăng giá.

    Với những dịch vụ trung tâm đầu tư thêm những nét đặc thù khác biệt khiến dịch vụ có chất lượng tốt hơn hấp dẫn  khách hàng, trung tâm sẽ tăng giá để tạo hiệu ứng chất lượng cáo – giá cao nhằm khẳng định thương hiệu của mình.

    IV. CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI

    Phân phối là một hoạt động rất quan trọng để marketing cho sản phẩm. Nó giải quyết vấn đề hàng hóa,dịch vụ được đưa đến tay người tiêu dùng như thế nào. Các quyết định về phân phối rất phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Ngày nay thì phân phối được xem là nhân tố tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị trường. Hiểu được tầm quan trọng của nó, chúng tôi những thành viên sáng lập Trung Tâm Gia Sư Tương Lai có những hoạch định như sau:

    4.1, Hệ thống trung gian phân phối:

    4.1.1, Bán lẻ:

    Với quy mô của trung tâm chúng tôi sẽ thiết lập mối quan hệ với các trường đại học, các trường THCS,THPT; các trung tâm tư vấn du học và các trung tâm gia sư khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:  như đặt thỏa thận với các phòng công tác sinh viên và quan hệ doanh nghiệp ở các trường đại học, tạo mối quan hệ tốt đẹp đôi bên cùng có lợi với các trung tâm gia sư khác…nhằm đưa dịch vụ đến gần hơn với khách hàng. Chúng tôi sẽ đưa ra trước mức học phí và mức phí môi giới đối với sinh viên để các bên được rõ qua đó để họ có thể nắm được và đem dịch vụ đến tận tay của khách hàng, trung tâm sẽ trích hoa hồng thích hợp cho các nhà bán lẻ.

    4.1.2, Bán sỉ:

    Vì là trung tâm gia sư mang tính chất của một sản phẩm dịch vụ cho nên chúng tôi sẽ ít chú trọng đến phân phối ra các đại lí bán sỉ. Và hoạt động chúng tôi làm ở đây là tìm đến các trung tâm môi giới việc làm có uy tín để kí hợp đồng và đặt thỏa thuận về việc phân phối sản phẩm của mình. Trung tâm môi giới có thể bán lại cho các trung tâm môi giới khác để kiếm hoa hồng( nhà bán sỉ) hoặc môi giới công việc này cho các sinh viên mới ra trường chưa tìm được việc làm( nhà bán lẻ).

    Với các địa chỉ  tin cậy như ở trên đã nêu chúng tôi tự  tin rằng sản phẩm mang ý nghĩa trồng người này sẽ lan rộng ra đối với toàn thể học sinh, sinh viên và các thầy cô giáo một cách nhanh chóng nhất. Và sẽ đem lại lợi ích rất nhanh cho trung tâm.

    4.2, Kênh phân phối:

    Nhân tố giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng với đúng mức giá họ có thể mua, đúng chủng loại họ cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu.

    4.2.1, Các cấp độ kênh phân phối:

    Trung Tâm Gia sư Tương Lai
               
               
     
     
     
     

    NHÀ BÁN SỈ: các trung tâm môi giới việc làm.

               
         
           
     
    KHÁCH HÀNG

    Trung tâm chúng tôi sử dụng 3 kênh phân phối:

    +Kênh trực tiếp: trung tâm trực tiếp giao nhận công việc với các gia sư và học viên không qua các trung gian. Điều này đem đến sự an toàn và giảm chi phí cho trung tâm.

    +Kênh một cấp: có thêm người bán lẻ. Trung tâm nhượng quyền bán sản phẩm dich vụ của mình cho các nhà bán lẻ. Phương thức này tuy làm phát sinh chi phí nhưng nó lại giúp cho tên tuổi trung tâm lan truyền nhanh hơn và số học viên cũng như gia sư đến với trung tâm dễ dàng hơn.

    +Kênh 2 cấp: Có thêm nhà bán sỉ. Phương thức này trung tâm rất ít sử dụng. Bởi vì nó đem lại chi phí cao và tên tuổi công ty dễ bị tác động xấu.

    Khi sử dụng các kênh phân phối này trung tâm sẽ phân phối chon lọc tức là trung tâm bán sản phẩm của mình qua một số trung gian được chọn lọc theo những tiêu chuẩn nhất định ở mổi cấp độ phân phối.

    4.2.2, Tổ chức kênh phân phối:

    Chúng tôi sẽ tổ chức kênh phân phối liên kết dọc tức là các kênh phân phối có chương trình trọng tâm và quản lí chuyên nghiệp được thiết kế để đạt hiệu phân phối và ảnh hưởng tối đa đến thị trường. Các thành viên trong kênh có sự liên kết chặt chẽ với nhau và hoạt động như một thể thống nhất, vì mục tiêu thỏa mãn nhu cầu thị trường của cả hệ thống kênh. Việc lựa chọn kênh phân phối theo chiều dọc sẽ giúp chúng tôi kiểm soát hoạt động của kênh và chủ động ngăn ngừa, giải quyết các xung đột, đạt được hiệu quả theo quy mô trong phân phối. Ngoài ra các kênh liên kết dọc sẽ giúp chúng tôi đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu tốt hơn do có khả năng thu nhậ thông tin phản hồi trực tiếp từ thị trường.

    Bên cạnh đó chúng tôi sẽ phát triển thêm kênh phân phối theo chiều ngang tức là liên kết với các tổ chức khác để theo đuổi một cơ hội tiếp thị mới. Ở khía cạnh trung tâm sẽ bắt tay với công ty du lịch Vietravel để tặng thưởng những chuyến du lịch ngắn ngày dành cho học viên đạt điểm cao trong kì thi đại học hoặc là liên kết với các trung tâm rèn luyện về kĩ năng mềm để thường xuyên mời các diễn giả về trung tâm thuyết giảng.

    Với 2 cách tổ chức phân phối này chúng tôi tin chắc rằng những thông tin của trung tâm sẽ đến với học sinh, sinh viên một cách nhanh nhanh chóng nhất.

    4.3, Các quyết định về kênh phân phối:

    4.3.1,  Thiết kế kênh phân phối:

    Phân tích nhu cầu của người tiêu dùng: trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay việc học hành của con em được các bậc phụ huynh đưa lên hàng đầu. Học ở lớp thôi là chưa đủ bởi trong một khoảng thời gian hạn hẹp giáo viên không thể truyền dạy được hết tất cả các kiến thức chứ chưa kể đến kĩ năng là bài cho học sinh. Chính vì vậy học thêm được xem là giải pháp tối ưu nhất để có thể học tập tốt được. Hiểu được điều này chúng tôi đã đưa ra kế hoạch xây dựng một trung tâm gia sư lấy chất lượng tốt làm trọng yếu. Và việc giao hàng càng nhanh, chủng loại sản phẩm càng đa dạng, dịch vụ kèm theo càng phong phú thì tầng dịch vụ phân phối của kênh càng xuất sắc.

    Xác định những mục tiêu và rằng buộc của kênh: Mục tiêu của kênh phân phối sẽ là hướng đến thị trường các đối tượng học sinh trên địa bàn Đà Nẵng và hướng đến mức độ phục vụ một cách tốt nhất (đảm bảo nguồn gia sư chất lượng cao).

    Các ràng buộc sẽ đến từ các nhân tố như người khách hàng mục tiêu, sản phẩm, cạnh tranh, môi trường, trung tâm, trung gian.

    + Khách hàng mục tiêu: đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh.Những yếu tố quan trọng cần xem xét về đặc điểm của khách hàng là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi khách hàng. Chúng tôi sẽ bố trí kênh càng dài ở những nơi phân tán về địa lí khách hàng( như muốn tìm kiếm khách hàng ở Hòa Khánh…); mật độ khách hàng trên đơn vị diện tích càng cao càng nên sử dụng kênh phân phối trực tiếp( ở gần trụ sở của trung tâm).

    +Sản phẩm: Với đặc tính của sản phẩm là dịch vụ gia sư thì kênh phân phối nên là bán trực tiếp.

    +Trung gian thương mại: Cần phải xem xét kĩ các điểm mạnh điểm yếu của các trung gian trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ. Để trung tâm có thể lựa chọn trung gian thich hợp cho kênh phân phối của mình( các trung tâm tư vấn du học…)

    +Đối thủ cạnh tranh: Trung tâm cần phải lựa chọn kênh phân phối có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Nhìn chung cạnh tranh càng mạnh thì trung tâm càng cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.

    +Bản thân trung tâm: Quy mô của trung tâm sẽ quyết đinh thị trường và khả năng của doanh nghiệp tìm được các trung gian thương mại thích hợp.( chúng tôi xây dựng một trung tâm với quy mô khá lớn vì thế thị trường sẽ khá rộng và các trung gian thương mại tương đối nhiều trên địa bàn Đà Nẵng)

    +Môi trường: Khi thiết kế kênh phân phối cần phải quan tâm đến vấn đè môi trường như  kinh tế, pháp lí…(thời điểm này kinh tế đang trên đà phục hồi trung tâm trung tâm sẽ chú trọng các kênh ngắn để bỏ bớt các dịch vụ không cần thiết nhằm giảm giá bán sản phẩm.

    Xác định những lựa chọn chủ yếu: Những nhân tố được đề cập ở đây là hình thức và cấp số kênh, kiểu trung gian, số lượng trung gian. Những nhân tố này đã được chúng tôi trình bày rất kĩ ở trên.

    Đánh giá lựa chọn kênh chính: Trung tâm xác định kênh chính trong phân phối sản phẩm sẽ là kênh trực tiếp. Bởi các lí do sau:

    + Tiêu chuẩn kinh tế: phương thức này cho chí phí rất thấp qua đó đem lại lợi nhuân lớn hơn cho trung tâm.

    +Tiêu chuẩn kiểm soát: phương thức này sẽ giúp trung tâm kiểm soat được một cách chặt chẽ quá trình cung ứng.

    +Tiêu chuẩn thích nghi: thích nghi tốt trong môi trường hiện nay.

    4.3.2, Quản trị kênh phân phối:

    Sau khi kênh phân phối đã được lựa chọn, vấn đề quan trọng là phải quản lí điều hành hoạt động của chúng.

    + Tuyển chọn: Trung tâm sẽ lựa chọn nhưng trung gian có thâm niên và làm ăn có uy tín trên thị trường

    +Kích thích: Các thành viên trong kênh phải thường xuyên được khuyến khích để làm việc tốt nhất. Trước hết, trung tâm sẽ phải tìm hiểu nhu cầu và các mong muốn của các thành viên trong kênh và sẽ cố gắng đáp ứng nó nếu có thể. Trung tâm sẽ sư dụng các phương pháp để khuyến khích thành viên kênh hoạt động như: hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên và xây dựng chương trình phân phối.

    +Đánh giá: Trung tâm phải định kì đánh giá hoạt động của các thành viên kênh theo những tiêu chuẩn như: mức mô giới thành công cho trung tâm, mức độ hợp tác trong các chương trình quảng cáo và huấn luyện gia sư cũng như học viên.

    Như đã trình bày rất cụ thể ở trên về cách phân phối sản phẩm của trung tâm chúng tôi rất hi vọng sẽ chiếm được cảm tình của khách hàng và đưa đến sự thành công của trung tâm. Để trung tâm có thể tiệp tục và duy trì lâu dài sự nghiệp trồng người cho đất nước.

    V. CHÍNH SÁCH TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG

    5.1 Tiến trình truyền thông cổ động:

    5.1.1,  Định dạng đối tượng:

    Định dạng khán giả mục tiêu

    • Khách hàng hiện tại: là khách hàng đang sử dụng dịch vụ của trung tâm
    • Khách hàng mục tiêu: những khách hàng mục tiêu mà trung tâm đang muốn hướng đến.
    • Nhóm: các nhóm khách hàng có nhu cầu về dịch vụ gần giống nhau
    • Người ảnh hưởng: những khách hàng đã biết và sử dụng dịch vụ của trung tâm và có tầm ảnh hưởng đến những khách hàng khác.
    • Người ra quyết định mua: là người có quyền quyết định trong việc sử dụng dịch vụ.

    Mỗi một loại hình khán giả đều có những nét đặc điểm riêng biệt nên việc định dạng đối tượng giúp cho việc xây dựng và thực hiện truyền thông cổ động chính xác và hiệu quả hơn rất nhiều.

    5.1.2, Xác định mục tiêu truyền thông:

    Khi xây dựng một chương trình truyền thông thì  một điều không thể thiếu là doanh nghiệp sẽ phải xác định những mục tiêu truyền thông. Vì vậy nhiệm vụ truyền thông của công ty trong thời gian đến ngoài việc cần thiết phải xây dựng sự nhận biết của khách hàng tiềm năng đối với trung tâm  mà còn phải làm sao để lôi kéo cũng như kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng, đưa khách hàng đến trạng thái sẵn sang mua cao hơn. Ngoài nhiệm vụ kích thích khách hàng, truyền thông cổ động còn giúp xây dựng và củng cố hình ảnh của trung tâm và một bộ phận đối tượng khách hàng cần sự củng cố quan hệ của trung tâm với họ. Thường đối tượng khác ở đây là các khách hàng thân quen, khách hàng đang sử dụng dịch vụ của đơn vị.

    Để xác định được mục tiêu truyền thông , trung tâm cần hiểu rõ và phân thích được 6 trạng thái sẵn sàng mua hàng khác nhau của khách hàng là:

    Nhận biết -> Hiểu -> Thích -> Ưa chuộng -> Tin tưởng -> Hành động mua.

    6 trạng thái trên được rút gọn thành ba mức độ là nhận thức – cảm thụ – hành vi mua. Khách hàng không nhất thiết phải trải qua 3 giai đoạn của tiến trình từ nhận thức đến cảm thụ và hành vi, mà có thể nhảy vọt từ nhận thức sang hành vi và bỏ đi giai đoạn cảm thụ. Dựa vào tâm lý của khách hàng khi sử dụng dịch vụ du lịch chiến lược truyền thông của trung tâm sẽ bỏ qua giai đoạn cảm thụ của khách hàng mà tiến tới kích thích giai đoạn hành vi.

    5.1.3, Lựa chọn phương tiện truyền thông:

    Kênh lựa chọn: kênh truyền thông không trực tiếp (kênh truyền thông đại chúng) bao gồm những phương tiện truyền thông đại chúng để quảng bá trung tâm gia sư Tương Lai như: internet, tờ rơi,… quá trình quảng cáo thông qua internet làm mấu chốt và trong thời gian dài, còn đối với quảng cáo thông qua tờ rơi sẽ định kỳ 2 lần một tuần. Đối với internet, chúng tôi sẽ tiến hành lập một trang web riêng của trung tâm địa chỉ: https//:wwww.giasutuonglai.com.vn , để quảng bá thương hiệu đối với tất cả tầng lớp trong xã hội. Đối với quảng cáo thông qua tờ rơi, chúng tôi quyết định quảng cáo tại các địa điểm trường học, các trung tâm giáo dục,…từ đó sẽ góp phần mang đến hiệu quả truyền thông cao nhất có thể, để đem đến thông tin chính xác nhất có thể đến với từng khách hàng, các bậc phụ huynh và học sinh. Song song với đó, chúng tôi quyết định đầu tư chi phí quảng cáo thông qua việc kí hợp đồng quảng cáo trên các phương tiện báo chí, cụ thể là các báo: Công an TP Đà nẵng, báo điện tử: www.baodanang.vn ,…

    5.1.4, Lựa chọn thông điệp:

    Sau khi đã xác định được mục tiêu truyền thông công việc tiếp tiếp theo là thiết kế thông điệp truyền đạt đến cho khách hàng. Hiện nay khách hàng sử dụng dịch vụ giáo dục đa số đều quan tâm đến yếu tố chất lượng, chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với khách hàng kế đến là yếu tố thuận tiện trong quá trình sử dụng. Yếu tố giá cả tưởng chừng như đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua dịch vụ nhưng vào thời buổi hiện nay khi mà thu nhập của người dân ngày một tăng cao thì giá cả chỉ được xếp hàng thứ 3. Yếu tố thứ 4 là yếu tố Thương hiệu…  Mới nhất  và cuối cùng là Tiếp thị sản phẩm của công ty.  Vì vậy trong nội dung thông điệp truyền thông của mình trung tâm tập trung và cũng như nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng, yếu tố chất lượng phải luôn đặt lên hàng đầu sau đó là yếu tố thuận tiện dễ dàng trong quá trình sử dụng tiếp theo mới là yếu tố giá cả. Nội dung thông điệp cụ thể như sau:

    “ Trung tâm Gia sư Tương Lai – chất lượng hàng đầu, sự lựa chọn tối ưu dành cho bạn. “

    -Dịch vụ và chất lượng đảm bảo, giá cả phải chăng, đội ngũ gia sư giàu kinh nghiệm, phục vụ ân cần chu đáo. Và luôn đem lại sự thoải mái và tiện lợi nhất cho khách hàng.

    5.2,  Xác định và phân chia ngân quỹ:

    5.2.1, Xác định kinh phí:

    Để tổ chức truyền thông  mỗi doanh nghiệp cần phải có  một lượng ngân sách nhất định. Thông thường ngân sách này là một phần ngân sách dành cho hoạt động marketing. Để tăng cường cạnh tranh các trung tâm cần phải tính toán chi ra một nguồn vốn ngân sách nhất định cho việc truyền thông cổ động. Dựa vào điều kiện kinh tế trung tâm ta có cách xây dựng ngân sách hợp lí như sau:

    Xây dựng ngân sách cho truyền thông trên cơ sở khả năng điều kiện tài chính cho phép của doanh nghiệp. Phương pháp này không tính đến mục tiêu của doanh nghiệp trong tương lai: nó cho phép doanh nghiệp chủ động về tài chính để tổ chức xúc tiến cổ động  và nó thường được sử dụng trong những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng có ưu điểm là đơn giản dễ tính toán và phù hợp với điều kiện tài chính của công ty.

    Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm trên doanh số, phương pháp này định kinh phí cổ động theo theo một tỷ lệ phần trăm nhất định dựa trên doanh số thu nhập của công ty. Ngân sách cổ động thay đổi tùy theo múc độ mà công ty có thể chi tiêu được, nó sẽ làm cho các nhà quản trị hài lòng vì họ cảm thấy chi phí cổ động gắn liền gắn liền với sự thay đổi doanh số của công ty trong chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên phương pháp này xem doanh thu như là một nguyên nhân hơn là kết quả của việc cổ động, việc phụ thuộc của ngân sách cổ động vào sự biến động của doanh số mỗi năm làm cản trở việc lập kế hoạch cổ động dài hạn.

    Vì vậy, sự cần thiết kết hợp cả 2 cách thức trên sẽ là tiền đề cho công ty sẽ đề ra những mục tiêu cần đạt được qua quá trình truyền thông, nó rất hợp lý cho tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp hiện nay. Và sẽ mạng lại những hiệu quả nhất định trong kinh doanh của doanh nghiệp.

    5.2.2,  Phân chia kinh phí:

    Trong quá trình tiến hành công tác truyền thông cho trung tâm, chúng tôi quyết định chiến dịch marketing trong tháng đầu tiên như sau:

    + Chi phí in ấn tờ rơi:

    *giấy in màu: 500.000đ (5000đ x100 tờ)

    *giấy in trắng đen: 200.000đ (200đ x 1000 tờ)

    + Chi phí nhân viên phát tờ rơi: 40h x 2 nhân viên x 50.000đ/1h/1 nhân viên = 4.000.000 đ.

    +chi phí bồi dưỡng nhân viên quản trị website: 500.000đ/1 tháng/ 1 nhân viên

    +chi phí lập website: 500.000đ

    +chi phí phát sinh: 500.000đ

    +CP quảng cáo qua báo chí:

    (theo bản tham khảo giá)

    Chúng tôi quyết định chọn quảng cáo dòng nội dung với kích thước 1/16 trang, trắng đen, chi phí là: 1.300.000đ

    Tổng cộng: 6.200.000 đ

    5.3, Trình bày kế hoạch truyền thông cổ động cụ thể:

    Vì lý do các trường học trên địa bàn đều hầu hết bắt đầu học chính thức trong nửa cuối tháng 8 trở đi. Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện chiến lược trong tháng 9/2013.

    *  Giai đoạn 1: chuẩn bị cho chiến lược  từ 15/8/2013-31/08/2013

    Công việc 1: thành lập ban tổ chức, ban truyền thông, ban tài chính và ban hậu cần. ban tổ chức tiến hành giao công việc cho các ban còn lại và thiết lập nội dung cụ thể cho chương trình chính.

    Công việc 2: ban tổ chức công bố trực tiếp toàn trung tâm về chương trình.

    Công việc 3: ban truyền thông thực hiện công việc in ấn tờ rơi, lập website, …

    Công việc 4: ban hậu cần kết hợp ban tổ chức thực hiện việc ký hợp đồng với các tổ chức báo chí và xin phép được truyền tin quảng cáo cho trung tâm tại các trường học.

    Công việc 5: ban tổ chức quyết định chương trình khuyến mãi trong chương trình:

    Cụ thể: sẽ giảm giá 10% trên tất cả các suất học đăng kí trong quá trình chuyến dịch diễn ra 1/9/2013 – 30/09/2013.

    **  Giai đoạn 2: thực hiện chiến lược chương trình chính: từ 1/9/2013 đến 30/09/2013

    Các ban trong chương trình kết hợp nhân viên phát tờ rơi thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Với những chính sách về thâm nhập thị trường, chính sách về sản phẩm, giá cả, chính sách phân phối cũng như truyền thông cổ động của Trung tâm chúng tôi, nhất định trong tương lai Trung tâm Gia sư Tương Lai sẽ là thương hiệu được nhắc đến hàng đầu trong lĩnh vực môi giới gia sư và đào tạo ôn thi Đại học, Cao đẳng.

    Hãy đến với chúng tôi, nơi có chất lượng phục vụ tốt nhất, nơi uy tín nhất và phong cách làm việc chuyên nghiệp nhất sẽ làm hài lòng tất cả các bạn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

    R: tài nguyên thiên nhiên

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

    1.1.2 Dự án đầu tư.

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

    3

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

    Phân loại dự án đầu tư

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

    cuối.

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

    Theo tính chất loại trừ:

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

    5

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

    6

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

    – Đối với chủ đầu tư:

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

    8

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

    9

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

    * Về phía Ngân hàng

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

    10

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

    Cho ai vay?

    Vay như thế nào?

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

    11

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

    12

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

    13

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tính:

    NPV = Co + PV

    Trong đó:

    NPV là giá trị hiện tại ròng

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

    tư)

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính      
    PV = C1 + C2 + C3 + . . . . . + Ct  
             
    (1 +r) (1+r)2 (1+r)3 (1+r)t  
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

    15

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

    Ưu điểm:

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

    Nhược điểm:

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

    16

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

      C1     C2   CT
    NPV = C0   +     +     +…. +     = 0
         
    (1 +IRR)   (1+IRR)2 (1+IRR)T
    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

    Với r2⇒ có NPV2< 0

    Áp dụng công thức:

    IRR = r1 + NPV 1 (r1 r2)  
    NPV 1 NPV 2  
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

    17

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

    nhất.

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

    18

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

    19

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Công thức tương tự nhau

      Số năm trước năm   Số năm ngay trước  
      các luồng tiền  
    Thời gian hoàn vốn =   năm các  
    của DA đáp ứng +
      Luồng tiền thu được  
      được chi phí  
        trong năm  
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

    Ưu điểm: của phương pháp này:

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

    20

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

      Bi i  
      n      
           
    BCR = i=0 (1+r)  
    Ci i  
      n      

    i=0 (1+r)

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

    Ci: Chi phí năm i

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

    21

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

    thu:

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

    Q   = FC  
    HV P V  
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn
    RHV = QHV × P = P × FC = FC  
    P V    
      1− V  
      P  
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

    RHV = FC
    n
      ∑(1− V i ) × wi

    i=1          Pi

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

    22

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

      Doanh thu hoà vốn
    Mức hoạt động hoà vốn =   x 100%
     

    Doanh thu lý thuyết

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

    * Độ nhạy của dự án:

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

    23

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

    +Giá bán sản phẩm.

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

    Phân tích luồng tiền mặt.

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

    24

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

    25

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

    27

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

    * Phương pháp thẩm định:

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

    28

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

    * Nội dung thẩm định:

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

    29

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

    Tổ chức điều hành

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

    * Từ phía doanh nghiệp

     

    30

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

    * Môi trường kinh tế

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

    * Môi trường pháp lí

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

    31

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

    Vốn

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

    NHTM, Công ty tài chính,

    bảo hiểm

    -Người cho vay

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    Vốn                                   -Chính phủ

    -Người nước ngoài

    Các thị trường tài

    chính

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

    3.1.2.1. Huy động vốn.

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

    * Huy động bằng tiền gửi

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

    34

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

    – Tiền gửi tiết kiệm:

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

    Ưu điểm:

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

    35

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

    * Huy động bằng cách đi vay:

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

    37

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

    mại.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

    38

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

    39

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

    40

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

    41

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

    42

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

    44

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    sao cho có hiệu quả.

    * Đối với Ngân hàng.

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

    Đối với nền kinh tế.

     

    45

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

    46

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

    47

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

    Bước thẩm định sơ bộ.

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

    49

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

    50

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

    Hệ số =   Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp
    tài trợ    
    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

    Năng lực = Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp  
    đi vay Vốn thường xuyên.  
     

    51

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

    52

      Chuyên đề thực tập   Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B
                   
        TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP
        TỪ NĂM 2000-2002
                 
        Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
      I. Tình hình sản xuất kinh          
      doanh          
      1.Giá trị tổng sản lượng          
      2.Giá trị sản lượng hàng hoá          
      tiêu thụ          
      Sản phẩm A          
      Sản phẩm B          
      3. Tổng chi phí          
      4. Kết quả SXKD          
      II.Tình hình tài chính          
      1.Vốn tự có          
      2.Vốn huy động          
      3.Vốn vay          
      Vay ngắn hạn          
      Vay trung- dài hạn          
      4.Các khoản phải thu          
      Trong đó: nợ khó đòi          
      5.Các khoản phải trả          
      6.Tổng tài sản lưu động          
      8.Số lượng lao động          
      9.Thu nhập bình quân          
      III. Các chỉ tiêu kinh tế.          
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
    Khả năng thanh toán chung Số tiền dùng để thanh toán
    =
      Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.
    Khả năng =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải
           
    thu Thanh toán nhanh Các khoản nợ đến hạn
             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

    Khả năng

    TT cuối cùng

    Tài sản   Tài  sản   Chênh lệch tỷ
    có lưu + thiếu chờ + giá và chỉ số
    động xử lý giá chưa xử lý
         

    =

    Nợ ngắn hạn Ngân Các khoản
    hàng và các tổ chức + nợ phải trả
    kinh doanh khác  

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:
    Doanh lợi = Lợi nhuận sau thuế  
    Tổng tài sản có.  
    vốn  

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

    54

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

    Doanh thu

    Tổng tài sản có

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

    55

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

    56

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

    57

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

    Thứ nhất:

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

    58

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

    +Từ NHTM.

    +Từ các nguồn khác.

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

    60

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

    61

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

    KẾT LUẬN

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

    62

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-l%C6%B0u-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-V%E1%BA%ADt-t%C6%B0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-Xi-m%C4%83ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    *  Tính cấp thiết của Đề tài :

    Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.

    * Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài :   

    Đối với các Doanh nghiệp , đặc biệt là các Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Quốc Doanh trong nền kinh tế mới phải chủ động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn .Ngoài vốn ngân sách nhà nuớc cấp còn phải huy động từ nhiều nguồn khác .Vì vậy việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả là hết sức quan trọng .Vì nó thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Vì vậy mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, khẳng định những mặt tích cực đã đạt được đồng thời tìm ra một số hạn chế cần khắc phục và có biện pháp hoàn thiện.

    * Phương pháp nghiên cứu :          

                 Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một thành viên trong Tổng công ty xi măng Việt Nam . Công ty được giao nhiệm vụ tổ chức lưu thông tiêu thụ xi măng , giữ bình ổn giá cả thị trường trên các địa bàn được phân công .Như vậy việc tiêu thụ Xi măng là công việc chủ yếu , đẩy nhanh tốc độ hoàn thành vượt mức kế hoạch Tổng Công Ty giao luôn là nhiệm vụ hàng đầu của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của vốn lưu động, Công ty đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức quản lý vốn lưu động để sao cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất.

    Xuất phát từ vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối thiểu, phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình ra sao, Các giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp mình.

    Sau thời gian thực tập tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam , Em đã chọn đề tài “Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng ”.

    * Kết cấu của Luận Văn :

    Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:

    Chương 1 – Những vấn đề lý luận chung của vốn lưu động

    Chương 2 – Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam

    Chương 3 – Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi Măng .

    CHƯƠNG 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

                                                  VỐN LƯU ĐỘNG

     

    1.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG :

    1.1.1- Khái niệm  của vốn lưu động:

    Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

    Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.

    Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang… đang trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến. Còn tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.

    Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động. Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông.

    Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm. Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.

    Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý không?

    Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.1.2- Đặc điểm của vốn lưu động

    Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Vốn lưu động có hai đặc điểm:

    Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm.

    Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển.

    1.1.3 – Phân loại vốn lưu động:

    Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận trọng yếu của công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ. Do vốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất. Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

    1.1.3.1- Phân loại Vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành ba loại:

    • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
    • Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
    • Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (dầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…)

    Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

    1.1.3.2- Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện:

    Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn loại:

    – Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản vốn có  hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm…

    – Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn…

    • Các khoản phải thu, phải trả:

    + Các khoản phải thu: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng và các khoản phải thu khác.

    + Các khoản phải trả: là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán

    cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.

    – Vốn lưu động khác: bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược…

    Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

    1.1.3.3- Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn:

    Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố định.

    • Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp…
    • Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.

    Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    1.1.3.4- Phân loại Vốn ưu động theo nguồn hình thành:

    Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi các nguồn vốn sau:

    • Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
    • Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
    • Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
    • Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại hoặc tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
    • Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

    Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.

    1.2 – CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VLĐ:

    Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau . Tuỳ theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp thích hợp . Sau đây là một số phương pháp chủ yếu :

     1.2.1 – Phương pháp trực tiếp :

    Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc dự trữ vật tư , sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu cầu của tùng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

    Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu VLĐ cho từng khâu kinh doanh của doanh nghiệp :

     

     

    1.2.1.1 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu dự trữ sản xuất :

    VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm : giá trị các loại nguyên vật liệu chính , vật liệu phụ , nhiên liệu phụ tùng thay thế , vật đóng gói , công cụ  ,dụng cụ .

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu chính :

    Vnl= Mn x Nnăng lực

    Trong đó :  Vnl :     Nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch

    Mn :     Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về  chi phí VLC

    Nl :  Số ngày dự trữ hợp lý

    • Xác định nhu cầu vốn vật liệu khác :

    Nếu vật liệu này sử dụng thường xuyên và khối lượng lớn thì cách tính như vật liệu chính , nếu sử dụng không thường xuyên thì tính theo công thức :                     Vnk = Mk x T%

    Trong đó :   Vnk : Nhu cầu vật liệu phụ khác

    Mk : Tổng mức luân chuyển từng loại vốn

    T% :Tỉ lệ phần trăm từng loại vốn chiếm trong tổng số

    1.2.1.2 – Xác định nhu cầu VLĐ cho khâu sản xuất :

    • Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Công thức tính như sau :   Vdc = Pn x Ck x Hs

    Trong đó :        Vdc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

    Pn  : Mức chi phí sản xuất bình quân ngày

    Ck :  Chu kì sản xuất sản phẩm

    Hs :  hệ số sản phẩm đang chế tạo

    • Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển :

    Công thức :        Vpb  =  V + Vpt – Vpg

    Trong đó :Vpb  : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch

    V  :Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch

    Vpt  : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ KH

    Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong kỳ kế hoạch.

    1.2.1.3 – Xác định nhu cầu vốn trong khâu lưu thông :

              VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm VLĐ để lưu giữ bảo quản sản phẩm trong kho và vốn lưu đông trong khâu thanh toán .

    Công thức  :           Vtp = Zsx x Ntp

               Trong đó : Vtp  : Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch

    Zsx  : Giá thành sản xuất bình quân ngày

    Ntp  : Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm                                                     

    1.2.2 – Phương pháp gián tiếp :

    Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào số VLĐ bình quân năm báo cáo , nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tăng tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch .

    Công thức tính như sau :  Vnc = VLD0 x  x (1 t%)

    Trong đó :Vnc     : Nhu cầu VLĐ năm kế hoạch

    VLD0 : Số dư bình quân VLĐ năm báo cáo

    M 0,1 :  Tổng mức luân chuyển VLĐ năm báo cáo , kế hoạch

    t%  : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển VLĐ năm  kế

    hoạch so với năm báo cáo.

                 t% =                     x 100%

    Trong đó :  K1  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

    K2  : Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo .

    Trên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu VLĐ năm kế hoạch các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào tổng mức luân chuyển vốn và số vòng quay VLĐ dự tính năm kế hoạch . Phương pháp tính như sau :

    Vnc =                        

    Trong đó :  M1  : Tổng mức luân chuyển vốn kế hoạch

    L1   :  Số vòng quay VLĐ kỳ kế hoạch.

    1.3 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG:

    Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

    1.3.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

    Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là vòng quay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động.

    • Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu động quay được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ

    VLD: Vốn lưu động

    • Kỳ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay của vốn lưu động.
    • Công thức tính toán như sau:

    Trong đó:

    K: kỳ luân chuyển vốn lưu động

    L: Vòng quay của vốn lưu động

    Kỳ luân chuyển càng ngắn thì trình độ sử dụng vốn lưu động càng tốt và ngược lại.

    Giữa kỳ luân chuyển và vòng quay của vốn lưu động có quan hệ mật thiết với nhau và thực chất là một bởi vì vòng quay càng lớn thì kỳ luân chuyển càng ngắn và ngược lại.

    1.3.2-Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong kỳ kinh doanh. Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:

    ­             Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể.

    Công thức tính toán như sau:

      Trong đó:

    tk : Mức tiết kiệm Vốn lưu động

    K0:   Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo

    M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch

     

    1.3.3- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = ­­Doanh thu
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh số doanh thu được tạo ra trên vốn lưu động bình quân là bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

    1.3.4- Hàm lượng vốn lưu động:

    Hàm lượng vốn lưu động =  Vốn lưu động bình quân
                 Doanh thu

    Là chỉ tiêu phản ánh mức đảm nhận về vốn lưu động trên doanh thu. Chỉ tiêu này cao hay thấp cũng được đánh giá ở các nghành khác nhau. Đối với nghành công nghiệp nhẹ thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu rất cao. Còn đối với nghành công nghiệp nặng thì hàm lượng vốn lưu động chiếm trong doanh thu thấp.

    1.3.5- Mức doanh lợi vốn lưu động:

    Mức doanh lợi vốn lưu động = Tổng lợi nhuận trước thuế
    Vốn lưu động bình quân

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập). Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.

    1.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, phải trả, hàng hoá tồn kho và tài sản lưu động khác. Vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.

    1.4.1- Quản trị vốn bằng tiền

    Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.

    Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.

     

    1.4.1.1- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý

    Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

    Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngân quỹ.

    Người ta cũng có thế sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp. Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản cao) để có được lượng tiền mặt như  lúc đầu. Có hai loại chi  phí cần được xem xét khi bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, đó chính là mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi  lần, đóng vai  trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng. Trong điều kiện đó mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn  tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt. Công thức tính như sau:

    Mức vốn tiền mặt dự trữ trung bình là:

              Trong đó:

    Qmax: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa

    Qn: Lượng tiền mặt chi dùng trong năm

    C1: Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt

    C2: Chi phí một lần bán chứng khoán

    • – Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ):

    Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ. Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.

    Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác. Trong các luồng nhập ngân quỹ kể  trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản doanh thu bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.

    Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản  chi cho hoạt động kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo  kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả  tiền lãi phải chia, nộp thuế và các khoản chi  khác.

    Trên  cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thời giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiên được hoặc khéo léo sử dụng các khoản nợ đang trong quá trình thanh toán. Doanh nghiệp cũng có thể huy động các khoản vay thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng nhập ngân quỹ lớn hơn luồng xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện các khoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.

    1.4.1.3 – Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt:

    Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày, hàng giờ; hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao, dễ dàng chuyển hoá sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh bị mất mát, lợi dụng. Các biện pháp quản lý cụ thể là:

    Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thực hiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi.

    Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền mặt, nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ; phải có các biện pháp  quản lý bảo đảm an toàn kho quỹ.

    Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để áp dụng cho từng trường hợp thu chi. Thông thường các khoản thu chi không lớn thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng tạm ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.

    1.4.2- Quản trị hàng tồn kho dự trữ:

    1.4.2.1-Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn  kho dự trữ:

    Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo nghành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.

    Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp  lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động.

                 Đối  với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vận chuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu.

    Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ  thuộc vào: đặc điểm và các yếu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.

                 Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…

    1.4.2.2- Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ:

    *– Phương pháp tổng chi phí tối thiểu

    Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các chi  phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường.

    Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho càng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.Vì vậy, doanh nghiệp cần xem xét mức dự trữ hợp lý để giảm tổng chi phi dự trữ tồn kho tới mức thấp nhất. Phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương pháp tổng chi phí tối thiểu.

    *- Phương pháp tồn kho bằng không

    Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí tồn kho dự trữ đến mức tôí thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp thời cho doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hoá khi cần thiết. Do đó có thể giảm được các chi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng. Phương pháp này có ưu điểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới; tuy nhiên phương pháp này lại làm tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức giao hàng đối với các nhà cung cấp.

    1.4.3 –  Quản trị các khoản phải thu, phải trả:

    1.4.3.1- Quản trị các khoản phải thu:

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro…Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau:

    Thứ nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng.

    Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.

    Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp: đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản.

     

    1.4.3.2- Quản trị các khoản phải trả:

    Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động. Việc quản trị các khoản phải  trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.

    Để quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Doanh nghiệp còn phải lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp an toàn và hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp.

    1.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác:

    Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác, khi vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý… doanh nghiệp phải tiến hành cầm cố, ký quỹ, ký cược.

    Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữu của mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền (phía đối tác) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hay thoả thuận.

    Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho thuê động sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá trị khác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê. Trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.

    Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một số tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài khoản phong toả tại Ngân hàng. Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải thực hiện cam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay nhận hàng theo những điều đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ. Bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.

    Vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Do vậy để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì cần phải quản trị tốt vốn lưu động ở từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông.

                

                 Trên đây là một số vấn đề lý luận của vốn lưu động . Để hiểu sâu hơn về Vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.Ta nghiên cứu thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG –TỔNG CÔNG TY XI MĂNG VIỆT NAM

     

    2.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY:

    2.1.1 –  Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:

                 Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng là doanh nghiệp nhà nước , thành viên Tổng công ty xi măng Việt Nam  có tư cách pháp nhân , hạch toán độc lập , có trụ sở chính tại Km6 đường Giải Phóng –Quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội

    Công ty được thành lập theo quyết định số 023A-BXD-TCLD ngày 12/2/1993 của Bộ trưởng Bộ xây dựng với nhiệm vụ chức năng ban đầu là cung cấp vật tư  kỹ thuật cho ngành xi măng , tham gia bán lẻ xi măng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh .

    Ngày 30/09/1993 Bộ trưởng Bộ xây dựng có quyết định số 445-BXD-TCLD bổ sung nhiệm vụ chức năng cho công ty được tham gia vào các liên doanh nghiền và sản xuất xi măng

    Từ ngày 01/06/1998 ,theo quyết định 606/XMVN-HĐQT ký ngày 23/05/1998 của Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng tiếp nhận thêm chi nhánh xi măng Bỉm Sơn tại Hà Tây ,Hoà Bình (hoạt động kinh doanh xi măng trên địa bàn các tỉnh Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Điện Biên) đồng thời phương thức kinh doanh từ tổng đại lý sang mua đứt bán đoạn xi măng với các công ty sản xuất xi măng .

    Do yêu cầu của công tác cải tiến hệ thống kinh doanh tiêu thụ xi măng , ngày 21/03/2000 Chủ tịch HĐQT tổng công ty xi măng Việt Nam có quyết định số 97/XMVN-HĐQT , chuyển giao nhiệm vụ từ công ty vật tư  vận tải xi măng sang công ty vật tư kỹ thuật xi măng .Theo quyết  định này ,kể từ ngày 01/04/2000 toàn bộ các chi nhánh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng tại Phú Thọ ,Vĩnh Phúc ,Lào Cai , Thái Nguyên được bàn giao cho công ty vật tư kỹ thuật xi măng làm nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng và bình ổn giá xi măng thị trường tại điạ bàn 14 tỉnh thành phố khu vực miền Bắc ,đó là :Hà Nội,Hà Tây,Hoà Bình ,Sơn La ,Lai Châu ,Vĩnh Phúc ,Phú Thọ ,Hà Giang ,Tuyên Quang ,Lào Cai ,Thái Nguyên ,Cao Bằng ,Bắc Cạn ,Yên Bái .

    Như vậy là kể từ khi được thành lập đến nay ,công ty luôn được bổ xung giao thêm nhiệm vụ với địa bàn kinh doanh ngày càng được mở rộng hơn .

    2.1.2 – Một số đặc điểm hoạt động kinh doanh của  Công ty

    2.1.2.1 – Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty:

    *   Ban giám đốc :

    – Giám đốc :Là người đứng đầu công ty , do HĐQT của công ty bổ nhiệm , miễn nhiệm ,khen thưởng ,kỷ luật theo đề nghị của Tổng Giám Đốc .Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Tổng Công Ty và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong công ty .

    – Phó Giám Đốc phụ trách kinh doanh :Có nhiệm vụ trợ giúp giám đốc phụ trách các lĩnh vực hoạt động sau :

    +  Nghiệp vụ kinh doanh , kế hoạch kinh doanh

    +  Hợp đồng kinh tế , thanh lý hợp đồng , kiểm tra và kiện toàn hàng hoá vật tư  .

    – Phó Giám Đốc phụ trách vận tải:phụ trách các hoạt động sau:

    +  Vận chuyển xi măng

    +  Công tác định mức trong khâu vận taỉ ,trong từng cửa hàng

    +  Quy trình ,quy phạm và các quy chế về an toàn của công ty

    +  Công tác đào tạo , cải tiến , sáng kiến kỹ thuật và công tác sửa chữa tài sản cố định .

    *  Các phòng ban , sự nghiệp ,chi nhánh :hoạt động theo chức năng được giám đốc phân công và là bộ máy tham mưu giúp ban giám đốc thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã đặt ra .

    – Văn phòng công ty:phụ trách về văn thư , lưu trữ hồ sơ ,quản lý con dấu ,mua sắm văn phòng ,in ấn ,quản lý nhà đất nhà cửa ,các công cụ lao động ……

    – Phòng kinh tế kế hoạch :xây dựng kế hoạch ,chủ trì dự thảo hợp đồng kinh tế ,mua và bán xi măng ,hợp đồng thuê phương tiện vận tải xi măng…..

    – Phòng tổ chức lao động : quản lý về mặt nhân sự ,thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên ,xây dựng đơn giá tiền lương

    – Phòng tài chính kế toán :tổ chức thực hiện công tác kế toán tài chính ,lập kế hoạch tài chính cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh , tổ chức thực hiện và kiểm tra thường xuyên công tác thống kê ,hoạch toán kế toán theo đúng với quy định của nhà nước ,trực tiếp kiểm tra và thanh toán công nợ , phải thu phải trả ;thông qua công tác thống kê hoạch toán kế toán bán hàng hàng ngày để phát hiện những sai lệch ,thừa thiếu xi măng trong quá trình tiếp nhận vận chuyển ,dự trữ ,cấp phát và lưu thông để báo cáo Giám Đốc xử lý kịp thời……

    – Phòng quản lý thị trường :giúp Giám Đốc công ty nắm bắt được nhu cầu xi măng trên địa bàn hoạt động của công ty .Theo dõi tình hình biến động giá cả mặt hàng xi măng ,kiểm tra việc thực hiện nội quy , quy chế trong kinh doanh tiêu thụ xi măng

    – Phòng tiêu thụ :tổ chức quản lý mọi hoạt động của các của hàng, đại lý công ty .Đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ,mở rộng mạng lưới bán hàng nhằm đáp ứng tới nhu cầu của người tiêu dùng.

    – Phòng kinh doanh tổng hợp: quản lý công tác xây dựng cơ bản nội bộ, thực hiện việc đa dạng hoá kinh doanh, tận dụng lao động cơ sở vật chất kinh doanh vật liệu xây dựng ngoài xi măng.

    – Phòng điều độ và quản lý kho: xây dựng hệ thống mạng lưới kho, đảm bảo xuất nhập xi măng , thực hiện liên tục, điều phối hàng hoá.

    – Xí nghiệp vận tải: có nhiệm vụ thực hiện tiếp nhận Xi măng, là trạm giao nhận đại diện của công ty tại các ga cảng , đầu mối tại Hà Nội về các kho dự trữ.

    – Các chi nhánh công ty vật tư kỹ thuật Xi măng tại Hà Tây, Hoà Bình, Lào Cai, Phú Thọ , Vĩnh Phúc, Thái Nguyên: thực hiện việc kinh doanh, tiêu thụ, đảm bảo bình ổn giá xi măng tại các tỉnh trên

    2.1.2.2 – Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh, tiêu thụ Xi măng, công ty có nhiệm vụ mua Xi măng từ các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam (như Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty xi măng Bỉm Sơn, Công ty xi măng Hải Phòng…) đáp ứng nhu cầu Xi măng của 14 tỉnh thành  phố miền Bắc.  Là nhân tố chính trong việc bình ổn giá thị trường xi măng (tránh các biến động như cơn sốt xi măng năm 1995) góp phần đấu tranh chống lại các hiện tượng làm giả xi măng. Thực hiện tốt những nhiệm vụ kế hoạch về sản lượng khung giá xi măng do Tổng Công ty đề ra.

    Công ty được thành lập trên cơ sở tổ chức của các đơn vị làm nhiệm vụ cung ứng xi măng trước đây, vì thế đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong việc tiêu thụ xi măng, có nhiều bạn hàng truyền thống(như các công ty xây dựng, các công ty vật tư tổng hợp ở các tỉnh) loại Xi măng công ty kinh doanh tiêu thụ là các loại được người tiêu dùng tín nhiệm: xi măng Hoàng Thạch, xi măng Bỉm Sơn, xi măng Hải Phòng… Địa bàn kinh doanh của công ty rộng khắp 14 tỉnh, thành phố miền Bắc. Công ty được sự giúp đỡ to lớn của các công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Đồng thời công ty luôn nhận được sự chỉ đạo, quan tâm của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ. Hiện nay, ở khu vực miền Bắc ngoài các công ty sản xuất Xi măng , công ty vật tư kỹ thuật Xi măng là đơn vị duy nhất được giao nhiệm vụ kinh doanh tiêu thụ xi măng với địa bàn được phân công rõ ràng nhất .

    Dưới đây là bảng kết quả kinh doanh của công ty vật tư kỹ thuật xi măng  trong năm 2003 và năm 2004 :

    Qua bảng kết quả kinh doanh của 2 năm ta thấy rằng: doanh thu bán hàng của năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 , doanh thu bán hàng của năm 2003 là 1.147.679.225.941VNĐ còn doanh thu bán hàng của năm 2004 là 1.156.533.879.485VNĐ, năm 2004 đã tăng 32% so với năm 2003 đã cho ta thấy sự nỗ lực của công ty trong việc tăng tiêu thụ sản lượng xi măng. Cũng từ đó làm cho lợi nhuận thuần của công ty tăng lên từ 8.481.238.133 VNĐ lên 8.660.885.054VNĐ, tăng 2,1% so với năm 2003.

    BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

                                                                                              ĐVT :VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    1.Doanh thu bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    2.Doanh thu thuần bán hàng 1.147.679.225.941 1.516.533.879.485
    3.Giá vốn hàng bán 971.739.382.548 1.407.399.507.657
    4.Lợi nhuận gộp 175.939.843.393 109.134.371.828
    5.Doanh thu hoạt động tài chính 3.695.157.730 4.155.368.975
    6.Chi phí tài chính 12.283.600 1.739.000
    7.Chi phí bán hàng 156.376.005.538 84.557.739.657
    8.Chi phí quản lý doanh nghiệp 14.765.473.852 20.069.377.092
    9.Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 8.481.238.133 8.660.885.054
    10.Thu nhập khác 8.107.171.532 18.350.845.185
    11.Chi phí khác 3.714.876.739 3.794.159.424
    12.Tổng lợi nhuận trước thuế 12.196.114.872 12.455.044.478
    13.Thuế thu nhập doanh nghiệp 3.886.756.759 4.520.397.293
    14.Lợi nhuận sau thuế 8.309.358.113 7.934.467.185

    2.1.2.3 -Đặc điểm về cơ cấu bộ máy tổ chức :

    Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và các điều kiện hoạt động ,qua một số lần sáp nhập ,điều chỉnh ,tổ chức bộ máy quản lý của công ty hiện nay đang vận hành theo bảng 2.1.2.3.

    Trong hệ thống các của hàng bán xi măng bao gồm hai loại :cửa  hàng bán xi măng do nhân viên bán hàng của công ty đảm nhận và của hàng bán xi măng của các đơn vị đại lý hưởng hoa hồng .

    Loại hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty đang áp dụng theo kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến –chức năng .Bộ máy quản lý vận hành liên hoàn ,đảm bảo chế độ một thủ trưởng .Giám đốc là người toàn quyền quyết định mọi công việc và chịu trách nhiệm về kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .Công việc quản trị kinh doanh được chia ra những đơn vị riêng biệt hình thành nên những người lãnh đạo quản trị thực hiện một hay một số chức năng thuộc phận sự và quyền hạn được giao .Nhờ vậy phát huy được tính năng động sáng tạo và kiến thức kinh nghiệm quản trị của các lãnh đạo chức năng ,cán bộ nhân  viên các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc trong việc chuẩn bị các quyết định ,hướng dẫn và kiểm tra .Làm cho khả năng thích ứng với những biến động của thị trường ngày càng nhạy bén hơn .

     

     Bảng 2.1.2.3 : Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công Ty

     

    2.1.2.4 -Đặc điểm về vốn của công ty :

      Là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành xi măng nên công ty vật tư kỹ thuật xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của mình .Một thuận lợi rất lớn của công ty là công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một công ty nhà nước trực thuộc Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam nên công ty được sự hỗ trợ một phần vốn đáng kể từ nhà nước .

    Từ  nguồn vốn kinh doanh của công ty tháng 12/2004 ta thấy:Tổng số vốn của công ty là 38.894.724.003 (VNĐ),trong đó tổng số vốn lưu động là 16.299.566.614(VNĐ) nghĩa là chiếm 41,72%,tổng số vốn cố định là 22.595.157.398(VNĐ) chiếm 58,18% .Nguồn vốn kinh doanh của nhà nước cấp chiếm 31,3% tổng nguồn vốn kinh doanh trong đó vốn lưu động do ngân sách cấp chiếm 78,5% tổng số vốn ngân sách cấp .Qua đó ta thấy rõ được sự quan tâm của nhà nước đối với nguồn vốn lưu động .

    Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác Công ty vật tư kỹ thuật xi măng cũng có nguồn vốn lưu động tự bổ xung khá lớn ,nguồn vốn này được tích luỹ trong hoạt động kinh doanh của công ty .

    Ngoài nguồn vốn được ngân sách nhà nước cấp ,công ty vật tư kỹ thuật xi măng còn có nguồn vốn từ nguồn vốn ngắn hạn .Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu ,nó giúp công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản ,tiện lợi đồng thời giúp cho công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn .

     

    2.2 . THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    2.2.1 . Cơ cấu vốn lưu động của Công ty:

    Để quản lý  và sử dụng Vốn lưu động đạt hiệu quả tốt nhất , các doanh nghiệp cần xây dựng cơ cấu vốn lưu động sao cho thật phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình .Cơ cấu vốn lưu động giúp ta thấy được mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp .Hiểu được điều đó công ty vật tư kỹ thuật xi măng đã cố gắng tổ chức nguồn vốn lưu động của mình thật khoa học ,đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất .Để thấy rõ hơn cơ cấu vốn lưu động của công ty ,ta xem xét số liệu bảng 2.2.1 ,tổng quát ta thấy như sau

    Tính đến tháng 12 năm 2004 tổng vốn lưu động của công ty là 126.237.489.794(VND) so với cùng kỳ năm 2003 thì tổng vốn lưu động đã giảm 2.717.737.185(VND) tương ứng tốc độ giảm 2,11% ,cho thấy thời gian qua công ty đã tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng ,máy móc thiết bị , tài sản cố định …

    Quy mô vốn lưu động giảm đi là do sự tăng giảm về giá trị của hầu hết các loại vốn lưu động của công ty ,trong đó chủ yếu là sự giảm về lượng tiền mà đặc biệt là tiền gửi ngân hàng .Đây là khỏan mục vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động .Năm 2003 vốn bằng tiền chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VND) .Năm 2004 vốn bằng tiền chiếm 68,59% tương ứng với số tiền là 86.591.634.699(VND) .Ta thấy được sự bất cập trong cơ cấu , số lượng tiền gửi ngân hàng là quá lớn .Nhưng đây chính là đặc trưng của công ty đó là do Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là Công ty có quy mô rất là lớn , với mạng lưới bán hàng gần khắp cả nước .Vì thế số lượng hàng hoá bán ra rất là lớn nhưng khi đó người mua chưa trả tiền ngay mà phải đến cuối năm mới trả.Đây chính là số liệu cuối năm vì thế số liệu này sẽ rất lớn . Số liệu này cho thấy khoản mục vốn bằng tiền của công ty năm 2004 giảm so với năm 2003 là 12.106.992.312(VND) giảm 12,27% .Sự sụt giảm này có nguyên nhân chủ yếu là lượng tiền gửi ngân hàng giảm mạnh :Năm 2003 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty là 94.131.943.511(VND) đến năm  2004 là 78.370.857.699(VND) giảm 15.761.085.812 (VND) tương ứng với tỷ lệ giảm 16,74% .Mặc dù bên cạnh đó có sự gia tăng về lượng tiền mặt :lượng tiền mặt tăng lên 3.449.651.500(VND) tương ứng tăng 186,87% . Qua đó cho thấy được công ty đang mở rộng kinh doanh bằng cách rút tiền gửi ngân hàng về quỹ tiền mặt và đem đi đầu tư vào các việc mới như xây dựng nhà máy sản xuất bao bì ,khu vui chơi giải trí thể thao ….

    Hàng tồn kho là khoản mục vốn lưu động chiến tỷ trọng thứ hai trong tổng vốn lưu động của công ty như sự biến động của nó có ảnh hưởng không lớn mặc dù hàng tồn kho của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 .Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VND) chiếm 15,44% đến năm 2004 là 27.396.485.175(VND) chiếm 21,7% .Như vậy năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của công ty đã tăng lên một lượng là 7.480.135.400(VND) chiếm 37,56% . Nguyên nhân là do công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh ,nhập thêm nhiều thiết bị để cung cấp cho khách hàng của công ty .

    Các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 ,khoản phải thu là 9.939.511.417(VND) chiếm 7,71% ,năm 2004 khoản phải thu lên tới 11.259.869.920(VND) chiếm 8,92% .Khoản phải thu đã tăng lên một lượng là 1.320.358.583(VND) chiếm 13,28% .Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu .Khoản phải thu của doanh nghiệp càng cao thì mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp càng lớn .Công ty cần tìm các biện pháp nhằm giảm bớt tình trạng ứ đọng vốn trong khâu này kết hợp với việc hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ của các khách hàng sau đó .

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của công ty .Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng số vốn lưu động ứng với số tiền là 400.738.779(VND) .Năm 2004 ,tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền là 989.500.000(VND) .Công ty vật tư kỹ thuật xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu qủa hơn nữa .

    Như vậy qua phân tích ta thấy rằng cơ cấu Vốn lưu động của Công ty mặc dù đã có nhiều chuyển biến rõ rệt nhưng vẫn còn một số điểm chưa hợp lý .Lượng tiền gửi ngân hàng của công ty quá lớn như vậy sẽ bất cập trong việc đầu tư mới .Công ty cần đẩy nhanh công tác thu nợ nhanh như vậy sẽ không gây nên tình trạng tiền bị ứ đọng vào cuối năm. Mặt khác Công ty còn làm chưa tốt trong công tác quản lý hàng tồn kho.Như vậy Công ty cần có những biện pháp nhằm giảm bớt lượng hàng tồn kho.

     

     

     

             Bảng 2.2.1 – Cơ cấu VLĐ của công ty năm 2003 và năm 2004 

                                                                                               ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    Số tiền (%) Số tiền (%) Số tiền (%)  
    I. Tiền 98698627011 76.54 86591634699 68.59 -12106992312 87.73  
    1.Tiền mặt 1846043500 1.43 5295695000 4.20 3449651500 286.87  
    2.TGNH 94131943511 73.00 78370857699 62.08 -15761085812 83.26  
    3.Tiền đang chuyển 2720640000 2.11 2925082000 2.32 204442000 107.51  
    II.Các khoản pthu 9939511417 7.71 11259869920 8.92 1320358503 113.28  
    1.Phải thu KH 8240668842 6.39 8630501665 6.84 389832823 104.73  
    2.ứng trước người bán 1416555317 1.10 2538445534 2.01 1121890217 179.20  
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0 0 0  
    4.Phải thu khác 282287258 0.22 99597421 0.08 -182689837 35.28  
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8674700 -0.007 -8674700 0  
    III.Hàng tồn kho 19916349775 15.44 27396485175 21.70 7480135400 137.56  
    IV.TSLĐ khác 400738776 0.31 989500000 0.78 588761224 246.92  
    Tổng cộng 128955226979 100 126237489794 100 -2717737185 97.89  

    (Trích Bảng cân đối kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.2.2 – Cơ cấu nguồn vốn lưu động :

    Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành Xi măng nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần một số lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của công ty.Cùng với nguồn vốn được nhà nước cấp hàng năm,  Công ty đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Nguồn vốn ngắn hạn là một giải pháp khá hữu hiệu nó giúp Công ty có thể huy động được một cách nhanh chóng số vốn cần thiết một cách đơn giản, tiện lợi đồng thời giúp Công ty tiết kiệm hơn nữa chi phí sử dụng vốn so với nguồn tài trợ dài hạn. Tuy nhiên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn lại có mặt hạn chế của nó. Nếu lạm dụng nguồn vốn ngắn hạn nhiều sẽ làm tăng hệ số nợ vay và làm tăng nguy cơ phá sản của Công ty.

    Ta thấy rằng khoản mục Phải trả người bán của Công ty là rất lớn , năm 2003 chiếm 56,08% và đến năm 2004 chiếm 51,8% .Nhưng đây cũng chính là đặc trưng của Công ty. Được sự cho phép của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam ,Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng được phép trả chậm người cung cấp . Có thể thấy rằng cuối năm 2004 khoản mục nợ phải trả của công ty đã giảm đi một lượng 4.557.677.614 (VND) ,hay giảm 4,58% so với năm 2003 .Trong đó khoản mục phải trả người bán giảm một lượng là 7.673.601.911(VND)so với năm 2003 .Điều này có nghĩa là công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mà không cần phải chiếm dụng nhiều vốn của nhà cung cấp .Đây là điều đáng mừng cho công ty .

    Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của thị trường xi măng trong nước ,công ty vật tư kỹ thuật Xi măng đã nhập khẩu thêm nhiều tư liệu sản xuất cùng với sự  lớn mạnh không ngừng của công ty  .Do vậy thuế và các khoản phải nộp nhà nước tăng lên 391.361.205(VND) là điều tất yếu . Cùng với đó là khoản người mua trả tiền trước tăng lên chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng vào công ty ngày càng cao. Bên cạnh đó khoản phải trả công nhân viên cũng tăng lên chứng tỏ được quy mô của công ty ngày càng mở rộng, công ty đã thu hút thêm nhiều công nhân viên có trình độ , kỹ thuật cao qua đó đời sống của công nhân viên đã được tăng lên khá rõ rệt .

    Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty năm 2004 đã tăng lên so với năm 2003 một lượng là 2.087.681.268(VND) , nghĩa là tăng lên 4,19% đã cho ta thấy sự phát triển ngày càng lớn mạnh của công ty , cùng với sự quan tâm to lớn của Tổng Công Ty Xi măng .

    Bảng 2.2.2 – Cơ cấu nguồn VLĐ năm 2003 và năm 2004

     

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    A-NỢ PHẢI TRẢ
    99533945689 66.66 94976268075 64.68
    I.Nợ ngắn hạn 95259258535 63.80 89404916138 60.89
    1.Vay ngắn hạn 0 0 0 0
    2.Phải trả cho người bán 83730340885 56.08 76056738974 51.80
    3.Thuế và các khoản phải nộp 723467532 0.48 1036971741 0.71
    4.Người mua trả tiền trước 5924560704 3.97 6315921909 4.30
    5.Phải trả công nhân viên 4048140117 2.71 4832969854 3.29
    6.Phải trả cho các đơn vị nội bộ 420159404 0.28 0 0
    7.Phải trả , phải nộp khác 412589893 0.28 1162313660 0.79
    II. Nợ khác 4274687154 2.86 5571351937 3.79
    B- NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 49773064695 33.34 51860745963 35.32
    Tổng cộng 149307010384 100 146837014038 100

    (Trích bảng cân đối Kế toán Năm 2003 và Năm 2004)

    2.3- PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    Xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh và đặc điểm về nhu cầu về vốn lưu động hàng năm của công ty nên Công ty xác định nhu cầu Vốn lưu động theo phương pháp gián tiếp ,tức là công ty chủ yếu dựa vào kết quả thống kê kinh nghiệm năm trước và kế hoạch đề ra cho năm sau .Hay cụ thể công ty dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra cho năm sau qua đó lập kế hoạch về số lượng vật tư phục vụ cho sản xuất lập kế hoạch số lượng hàng dự trữ và tiêu thụ .Từ  đó dựa vào các biểu giá được cung cấp bởi bộ phận vật tư ,bộ phận kinh doanh ,bộ phận kế toán tài vụ sẽ lập kế hoạch cho nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch

    Với doanh thu thuần là 1.516.533.879.485(VND) và số vòng quay VLĐ trung bình ngành là 10 vòng/năm nên nhu cầu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh  năm 2004 của công ty được tinh toán như sau :

    VnC=                       =

                                               =151.653.387.948,5 VND

    Như vậy nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho sản xuất năm 2004 là 151.653.387.948,5(VND) .Có sự đột biến  như vậy là do công ty đã ký thêm đựơc nhiều hợp động mới có nhiều khách hàng ngoài  dự kiến ,tăng các khoản phải thu ….Mặc dù vậy công ty  vẫn đáp ứng đủ nhu cầu VLĐ trong năm từ nhiều nguồn khác nhau .Qua đó ta thấy được sự cố gắng rất lớn của công ty trong việc huy động vốn.

    Năm 2005 này , công ty ước tính doanh thu thuần khoảng 578.378.000.000(VNĐ) . Do vậy nhu cầu VLĐ cần thiết cho năm kế hoạch là :

           
           

    VnC =                      =

       = 157.837.800.000 VNĐ

    Sau khi đã có kết quả nhu cầu VLĐ cho năm kế hoạch thì căn cứ vào tình hình thực tế để phân phối cho từng khâu .Về nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu cụ thể trong sản xuất ,dự trữ và lưu thông sản phẩm hàng hoá thì đựơc tính theo phần trăm từng khâu trong tổng nhu cầu dựa vào tỷ trọng thực tế của số vốn được sử dụng trong từng khâu của năm trước đồng thời căn cứ cả vào kế hoạch sản xuất kinh doanh để lập kế hoạch nhu cầu VLĐ cho năm sau.

    2.4 – NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY:

    2.4.1 – Quản trị vốn bằng tiền :

    Vốn bằng tiền là loại vốn linh hoạt và có khả năng thanh khoản cao nhất trong vốn lưu động của doanh nghiệp . Do vậy nhu cầu dự trữ vốn bằng tiền trong các doanh nghiệp là để đáp ứng những nhu cầu giao dịch hàng ngày và nhiều mục đích khác .

    Trong tổng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng , vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng rất lớn , năm 2003 vốn bằng tiền của công ty chiếm 76,54% tương ứng với số tiền là 98.698.627.011(VNĐ) .Đến cuối năm 2004 đã giảm đi còn 68,59% tương ứng là           86.591.634.699(VNĐ) .Như  vậy lượng vốn bằng tiền của công ty đã giảm đi  12.106.992.312(VNĐ) với tốc độ giảm 12,27% .Qua số liệu bảng 2.2.1 ta thấy vốn bằng tiền của công ty giảm đi chủ yếu là do sự sụt giảm của khoản mục tiền gửi ngân hàng mặc dù lượng tiền mặt vẫn tăng lên .

    Bảng 2.4.1 – Cơ cấu Vốn bằng tiền

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I. Tiền 98.698.627.011 76,54 86.591.634.699 68,59
    1.Tiền mặt 1.846.043.500 1,43 5.295.695.000 4,20
    2.TGNH 94.131.943.511 73,00 78.370.857.699 62,08
    3.Tiền đang chuyển 2.720.640.000 2,11 2.925.082.000 2,32

    Tiền mặt tại quỹ là bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn bằng tiền của công ty .Năm 2003 tỷ trọng của khoản vốn này chỉ chiếm 1,43% nhưng đến năm 2004 đã chiếm 4,2% trong tổng vốn lưu động của công ty .Tốc độ tăng vọt (186,87% tương ứng 3.449.651.500 (VNĐ) ) của tiền mặt tại quỹ cho thấy năm 2004 công ty đã có nhu cầu khá lớn về khoản vốn này để mua nguyên vật liệu ,đồng thời làm tăng khả năng thanh toán tức thời cho công ty khi xuất hiện nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn .

    Tiền gửi ngân hàng là bộ phận lớn nhất của vốn bằng tiền của công ty .Trong nền kinh tế thị trường ,xu hướng chung là các doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng ,phương thức này giúp cho hoạt động kinh tế được thuận tiện và an toàn hơn .Nhưng nếu xác định lượng tiền gửi ngân hàng quá lớn sẽ gây nên tồn đọng vốn do không được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh .Do vậy năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng của công ty đã giảm xuống so với năm 2003 .Năm 2004 lượng tiền gửi ngân hàng đã giảm 16,74% tương ứng với lượng tiền là 15.761.085.812(VNĐ) .Như vậy năm 2004 công ty đã đầu tư mới vào các hoạt động kinh doanh ,làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng mở rộng và lớn mạnh .

    Nhìn chung mức dự trữ vốn bằng tiền và cơ cấu của nó được Công ty xác định như vậy là chưa thực sự hợp lý công ty đang để xảy ra tình trạng ứ đọng vốn .Mức dư tiền gửi ngân hàng như hiện tại là quá lớn .Công ty nên mở rộng sản xuất ,đầu tư mới vào các lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận .

    2.4.2 – Quản trị hàng tồn kho dự trữ :

    Hàng tồn kho là khoản mục có giá trị lớn thứ hai trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 hàng tồn kho là 19.916.349.775(VNĐ) chiếm 15,44% trong tổng vốn lưu động của Công ty. Đến năm 2004, hàng tồn kho là 27.396.485.175 (VNĐ) chiếm 21,7%. Như vậy, năm 2004 khoản mục hàng tồn kho của Công ty đã tăng lên một lượng đáng kể so với năm 2003 là 7.480.135.400(VNĐ). Nguyên nhân là do Công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh, nhập thêm nhiều vật tư để cung cấp cho khách hàng trong nước. Tuy nhiên khoản mục hàng tồn kho lớn cũng gây ra nhiều vấn đề đáng lo ngại cho Công ty nhất là sự tồn đọng vốn. Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp là luôn tìm mọi cách để tối ưu hóa các chi phí. Từ thực tế của Công ty, ta thấy rằng tình hình quản trị hàng tồn kho dự trữ của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng chưa được tốt. Do đó, Công ty phải tìm biện pháp để giảm bớt chi phí cho hàng tồn kho mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ hàng hoá cho người tiêu dùng. Đồng thời, Công ty cũng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới và tăng cường các biện pháp bán hàng cần thiết.

    Bảng 2.4.2 – Bảng cơ cấu Hàng tồn kho

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    Hàng tồn kho 19.916.349.775 100 27.396.485.175 100
    1.Hàng mua đang đi trên đường 13.110.615.454 65,83 18.798.083.185 68,62
    2.Nguyên liệu,vật liệu tồn kho 146.688.235 0,74 153.857.825 0,56
    3.Công cụ ,dụng cụ trong kho 35.092.970 0,18 30.894.194 0,11
    4.Hàng hoá tồn kho 6.623.953.115 33,25 8.413.649.971 30,71

    2.4.3 – Quản trị khoản phải thu ,phải trả:

    Các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng không lớn trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, khoản phải thu là 9.939.511.417(VNĐ) chiếm 7,71%. Năm 2004, khoản phải thu lên tới 11.259.869.920 (VNĐ) triệu chiếm 8,92%. Trong các khoản phải thu thì khoản bán chịu cho khách hàng là chủ yếu. Năm 2003 khách hàng nợ Công ty là 8.240.668.842(VNĐ), chiếm 6,39% trong tổng vốn lưu động. Năm 2004 khách hàng nợ 8.630.501.665(VNĐ), chiếm 6,84% trong tổng vốn lưu động. Mặc dù số tiền mà khách hàng nợ Công ty tăng lên 389.832.823(VNĐ) nhưng đây cũng là điều tất yếu , bởi công ty đang ngày càng được mở rộng vì thế nên công ty có nhiều bạn hàng, lượng tiền mà khách nợ công ty tăng lên cũng không lớn . Bên cạnh đó

    cũng có sự gia tăng của các khoản phải thu khác nhưng mà sự gia tăng này không đáng kể.

    Bảng 2.4.3 – Bảng cơ cấu Khoản phải thu , phải trả

    ĐVT : VNĐ

    Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004
    Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
    I.Các khoản phải thu 9.939.511.417 7,71 11.259.869.920 8,92
    1.Phải thu KH 8.240.668.842 6,39 8.630.501.665 6,84
    2.Ứng trước người bán 1.416.555.317 1,10 2.538.445.534 2,01
    3.Thuế GTGT được khấu trừ 0 0 0 0
    4.Phải thu khác 282.287.258 0,22 99.597.421 0,08
    5.Dự phòng khoản phải thu khó đòi 0 0 -8.674.700 -0,007
    II. các khoản phải trả
    99.533.945.689 66,66 94.976.268.075 64,68

    Trả trước cho người bán chiếm  tỷ trọng nhỏ trong Tổng vốn lưu động của Công ty (năm 2003 là 1,1% và năm 2004 là 2,01%),như vậy khoản này đã tăng lên làm khoản phải thu của Công ty đã tăng lên .Công ty đã ứng trước cho các nhà cung cấp để đảm bảo có được nguyên vật liệu kịp thời để phục vụ sản xuất.

    Như vậy ,hầu hết các khoản phải thu của Công ty đã có xu hướng tăng lên.Công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ,kiên quyết không cung cấp hàng cho những khách hàng đang còn nợ lớn , thu hẹp được vốn ở khâu này sẽ hạn chế Vốn lưu động bị chiếm dụng ,giúp Công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn .

    Cùng với các khoản phải thu của doanh nghiệp thì các khoản phải trả của doanh nghiệp cũng đang được giảm dần. Năm 2003 nợ phải trả của công ty là 99.533.945.689 (VNĐ) đến năm 2004 thì chỉ còn 94.976.268.075 (VNĐ) . qua đó thấy được sự cố gắng của công ty trong việc thu hẹp các khoản nợ , tạo niềm tin cho các nhà cung cấp . Sự cố gắng này được thể hiện ở khoản phải trả người bán . Năm 2003 phải trả người bán là 83.730.340.885 (VNĐ) nhưng đến năm 2004 thì khoản phải trả người bán chỉ còn là 76.056.738.974(VNĐ).

    Như vậy , công ty đã đạt được những hiệu quả nhất định trong công tác quản trị các khoản phải thu , phải trả . Thời gian tới công ty cần chú trọng hơn nữa việc đốc thúc khách hàng trả nợ, cung với đó công ty cũng nên giảm bớt lượng phải trả người bán nhằm đảm bảo sự an toàn cho công ty . Làm được như vậy sẽ giúp công ty rút ngắn thời gian luân chuyển của đồng vốn.

    2.4.4 – Quản trị vốn lưu động khác :

    Tài sản lưu động khác chỉ chiếm một tỷ trong rất nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003 tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,31% trong tổng vốn lưu động, ứng với số tiền là 400.738.776(VNĐ). Năm 2004, tài sản lưu động khác chỉ chiếm 0,78% ứng với số tiền 989.500.000(VNĐ). Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn luôn quan tâm tới chỉ tiêu này và áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý và sử dụng nó có hiệu quả hơn nữa.

    2.5 – CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG:

    Công ty sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động :

    – Cách tính vốn lưu động bình quân:

    +     VLĐ bình quân năm 2003   =

                                             =  

                                                     =      118.205.552.134 VNĐ

     +   VLĐ bình quân năm 2004=

    = 127.596.358.386,5 VNĐ

    Các chỉ tiêu được tính toán cụ thể như sau:

    2.5.1- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (Vòng quay VLĐ):

    L=

    Năm 2003, L =  = 9,7 vòng

    Năm 2004, L =   = 11,92 vòng

    Như vậy, cứ một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được 9,7 đồng doanh thu năm 2003 và 11,92 đồng doanh thu năm 2004.

    2.5.2- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:

                                 K=

    Năm 2003, K =  = 37 ngày

    Năm 2004, K =  = 30 ngày

    Như vậy, năm 2003 cứ 37 ngày thì vốn lưu động thực hiện được một vòng quay và năm 2004 là 30 ngày. Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng được rút ngắn thì chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả.

    2.5.3- Mức tiết kiệm vốn lưu động:

    Vtk =  . (K1– K0)

    =  . (30- 37)

    = -29.489.158.767(VNĐ)

    So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tiết kiệm được 29.489.158.767(VNĐ) vốn lưu động. Mức tiết kiệm  này là do Công ty đã tăng vòng quay của vốn lưu động từ 9,7 vòng lên 11,92 vòng năm 2004 và rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu động.

     

     

    Bảng 2.5 : Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng VLĐ

     

    Chỉ tiêu ĐV Năm 2003 Năm 2004 Chênh lệch  
    1. Tổng doanh thu VNĐ 1151374383671 1520689248460 369314864789  
    2. Doanh thu thuần VNĐ 1147679225941 1516533879485 368854653544  
    3. VLĐ bình quân VNĐ 118205552134 127596358387 9390806253  
    4. Giá vốn hàng bán VNĐ 971739382548 1407399507657 435660125109  
    5. LN sau thuế VNĐ 8309358113 7934647185 -374710928  
    6. Vòng quay VLĐ Vòng 9.7 11.9 2.2  
    7. Kỳ luân chuyển VLĐ Ngày 37 30 -7  
    8. Mức tiết kiệm VLĐ VNĐ -29489158767    
    9. Hiệu suất sử dụng VLĐ VNĐ 9.70 11.90 2.2  
    10. Hàm lượng VLĐ VNĐ 0.103 0.084 -0.019  
    11. Mức doanh lợi VLĐ VNĐ 0.07 0.084 0.014  

    2.5.4- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động:

    HSSD VLĐ =

    HSSD VLĐ năm 2003 =

    = 9,7 đồng

    HSSD VLĐ năm 2004 =

    = 11,9 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh năm 2003 cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra có thể làm ra 9,7 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2004 chỉ tiêu này đã tăng lên 11,9 đồng doanh thu thuần trên một đồng vốn lưu động. Như vậy, năm 2004 vốn lưu động được sử dụng có hiệu quả hơn so với năm 2003.

    2.5.5- Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhận VLĐ):

    Hàm lượng VLĐ =

    Hàm lượng VLĐ năm 2003 =

    =    0,103 đồng

    Hàm lượng VLĐ năm 2004 =

    =      0,084 đồng

    Như vậy, trong năm 2003 công ty cần 0,103 đồng VLĐ để tạo ra được một đồng doanh thu. Năm 2004 Công ty chỉ cần có 0,084 đồng VLĐ đã tạo ra được một đồng doanh thu. So với năm 2003, năm 2004 Công ty đã tăng được mức độ đảm nhận VLĐ lên và vì vậy sử dụng VLĐ có hiệu quả hơn.

     

    2.5.6- Mức doanh lợi vốn lưu động (Tỷ suất lợi nhuận VLĐ):

    Mức doanh lợi VLĐ =

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2003 =

    =  0,07 đồng

    Mức doanh lợi VLĐ năm 2004 =

    =  0,062 đồng

    Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra được 0,07 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2003 và 0,062 đồng năm 2004. So với năm 2003 thì mức doanh lợi của Công ty thấp hơn 0,008 đồng.

     

    Qua sự phân tích trên cho thấy thực trạng quản trị vốn lưu động của công ty vật tư kỹ thuật Xi măng trong nền kinh tế thị trường ta thấy một cách cụ thể những lý luận về vốn lưu động được thể hiện trong thực tiễn . Trong công tác này Công ty có nhiều ưu điểm song vẫn còn những tồn tại cần khắc phục. Sau đây Em xin mạnh dạn đề xuất  một số đánh giá và giải pháp về công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng.

     

     

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG

    3.1 -ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG:

    Sau khi nghiên cứu tình thực tế về công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng ,ta thấy tình hình quản trị vốn lưu động tại công ty có một số ưu , nhược điểm sau :

    3.1.1- Ưu điểm :

    Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng cấu thành nên vốn kinh doanh của công ty .Để sử  dụng vốn lưu động có hiệu quả ,tức là sử dụng vừa tiết kiệm lại vừa chính xác ,kịp thời thì công tác quản trị vốn lưu động tại công ty rất quan trọng .Xác định được tầm quan trọng của vấn đề ,Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng luôn tìm mọi cách để quản lý và sử dụng vốn lưu động sao cho tốt nhất và có hiệu quả nhất .Trong những năm qua ,Công ty đã đạt đựơc một số kết quả trong công tác quản trị vốn lưu động như sau :

    Thứ nhất ,về tổ chức bộ máy kế toán :Công ty có một cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán khá chặt chẽ ,với nhiệm vụ cụ thể của từng kế toán viên dưới sự điều hành của kế toán trưởng .Công tác hạch toán kế toán ,kế toán và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc tổ chức và thực hiện tốt đã giúp Công ty nắm đựơc tình hình vốn ,nguồn hình thành ,tình hình tăng giảm vốn lưu động trong kỳ ,khả năng đảm bảo vốn lưu động ,tình hình và khả năng thanh toán .Trên cơ sở đó giúp công ty đề ra được cho mình những giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn lưu động ,xử lý các vấn đề tài chính nảy sinh .

    Thứ hai ,về tình hình quản trị vốn lưu động :Do công ty đã đề ra được kế hoạch về vốn lưu động trong kỳ nên công ty đã chuẩn bị đựơc nguồn vốn lưu động phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của công ty .để đưa ra được các quyết định tài chính phù hợp với vốn lưu động thì công ty đã tổ chức công tác quản trị vốn lưu động một cách toàn diện .

    Thứ ba , về khả năng thanh toán của công ty bằng vốn lưu động :Do Công ty đã dự trữ một lượng tiền mặt khá lớn tại quỹ và tại ngân hàng nên khả năng thanh toán của công ty là rất tốt .Công ty đã thiết lập , mở rộng mối quan hệ với khách hàng và bạn hàng .Tất cả những điều này giúp Công ty mở rộng đựơc thị trường của mình ,tìm thêm cho mình những khách hàng mới thiết lập mối quan hệ tin tưởng  lẫn nhau.Trong quan hệ giao dịch vơi bạn hàng  trên cơ sở xây dựng mối quan hệ lâu dài và uy tín đã giúp cho Công ty có được uy tín thương mại từ phía bạn hàng .Số lượng khách hàng đến với Công ty ngày càng nhiều  điều đó củng cố vị thế của Công ty trong ngành Xi măng .

    Thứ tư, về tình hình huy động vốn lưu động: để đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm đủ số vốn để trang trải cho nhu cầu vốn lưu động của mình. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp nên Công ty muốn mở rộng thị trường kinh doanh cuả mình. Do vậy, Công ty cần một lượng lớn vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh. Tuy nhiên, số vốn được cấp cùng với lợi nhuận không chia để lại doanh nghiệp không đủ đáp ứng nhu cầu về vốn cho Công ty nên Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã phải huy động thêm nguồn tài trợ ngắn hạn vốn lưu động như nguồn vốn tín dụng thương mại . Nguồn vốn tín dụng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn của Công ty. Nó được hình thành khi Công ty nhận được tài sản, dịch vụ của người cung cấp song chưa phải trả tiền ngay. Công ty có thể sử dụng các khoản phải trả khi chưa đến kỳ hạn thanh toán với khách hàng như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của Công ty.

    Thứ năm , đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty không ngừng được nâng cao .Nếu năm 2003 ,thu nhập bình quân của công nhân viên là 2530000(đồng/người ) thì đến năm 2004 con số này là 3410000(đồng /người ).Đây chính là một minh chứng cụ thể và đầy đủ nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu qủa của công ty .Với lượng công nhân viên khoảng 714 người trong năm 2004 nhưng với bộ máy gọn nhẹ ,cấu trúc đơn giản ,hoạt động có hiệu quả đã cho phép công ty đạt đựơc những thành tựu lớn trong thời gian qua .

                 Thứ sáu ,Công ty được sự quan tâm giúp đỡ của Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong việc cung cấp nguồn vốn ,cũng như sự chỉ đạo chặt chẽ đã giúp cho công ty không ngừng lớn mạnh .
    3.1.2- Nhược điểm :

    Bên cạnh các ưu điểm trong công tác quản trị vốn lưu động thì tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng vẫn còn một số nhược điểm mà công ty cần phải tìm cách khắc phục:

    Thứ nhất, về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty chưa được tốt. Điều này biểu hiện qua các chỉ tiêu tài chính như vòng quay vốn lưu động cũng như tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty còn thấp. Trong những năm tới, Công ty cần phải đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của vốn, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng trong khâu tiêu thụ nhằm tăng thêm lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ hai, việc xác định nhu cầu vốn lưu động bằng phương pháp gián tiếp tuy có ưu điểm là tương đối đơn giản giúp công ty ước tính được nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch song chưa đảm bảo được độ chính xác cao.

    Thứ ba , Công ty đã để lượng dư tiền gửi ngân hàng quá nhiều , như vậy cũng có mặt tốt nhưng như vậy một lượng vốn lưu động đã bị tồn đọng làm giảm cơ hội đầu tư  vào những vực mới có nhiều khả năng đem lại lợi nhuận cho Công ty.

    Thứ tư , Khoản phải thu của Công ty chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn lưu động và ngày càng tăng lên qua các năm . Điều này sẽ làm nguồn vốn lưu động của công ty bị ứ đọng trong tay khách hàng . Tình trạng chiếm dụng vốn ngày càng cao như vậy sẽ gây nhiều khó khăn cho Công ty trong công tác thanh toán của mình .

    Thứ năm ,Sản lượng Xi măng tiêu thụ của công ty tuy vượt mức kế hoạch đặt ra nhưng sản lượng Xi măng Bỉm Sơn , Hoàng Mai đạt còn thấp . Do chưa thực sự quan tâm đẩy mạnh tiêu thụ , tiếp thị , quảng cáo hai chủng loại Xi măng này trên thị trường .

    3.2 -PHƯƠNG HƯỚNG CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI :

    3.2.1 – Phương hướng của công ty trong sản xuất kinh doanh:

    Nước ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và khu vực Mậu dịch tự do Châu Á (AFTA). Điều này đã tạo ra những cơ hội đồng thời cũng mang lại những thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Vì khi đó, Nhà Nước ta mở rộng cánh cửa cho hàng hoá của các nước trong khu vực và trên Thế giới  xâm nhập vào thị trường Việt Nam một cách dễ dàng với mức thuế nhập khẩu tương đối thấp. Do vậy, các sản phẩm được sản xuất ra ở trong nước phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Để làm được điều này thì các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm. Nắm bắt được điều đó nên : Toàn công ty phấn đấu đạt :

                 * Sản lượng xi măng mua vào , bán ra :     2,4 triệu tấn trở lên

                 Trong đó :   + Xi măng Hoàng Thạch : 1200000 tấn

    + Xi măng Bỉm Sơn            : 120000 tấn

    + Xi măng Bút sơn             :  800000 tấn

    + Xi măng Hải Phòng        :  130000 tấn

    + Xi măng Hoàng Mai       : 150000 tấn

    • Lợi nhuận từ 10 tỷ đồng trở lên.
    • Giữ cho thu nhập bằng năm 2004
    • Kế hoạch bán ra giao cho các đơn vị :

    + Phòng tiêu thụ Xi măng       :  1900000 tấn

    + Phòng kinh tế kế hoạch        :  30000    tấn

    + Xí nghiệp vận tải                  :  35000    tấn

    + Chi nhánh Thái Nguyên       :  120000  tấn

    + Chi nhánh Phú Thọ              :   135000  tấn

    +Chi nhánh Vĩnh Phúc            :   110000  tấn

    + Chi nhánh Lào cai                :   70000    tấn

    Trong đơn vị phải phấn đấu vượt mức KH từ 10% trở lên.      

     

     

    3.2.2 – Phương hướng về quản trị vốn lưu động:

    Thứ nhất ,công ty phải luôn tìm hiểu thị trường để nắm bắt được thông tin từ phía người tiêu dùng ,tìm kiếm các nguồn nguyên liệu có chất lượng cao mà giá thành lại  thấp  .

    Thứ hai ,Công ty sẽ đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường để có thể nắm bắt và xử lý các thông tin kinh tế ,dự đoán chính xác nhu cầu và diễn biến của thị trường từ đó tìm kiếm những thị trường tiềm năng mới mà doanh nghiệp chưa khai thác hoặc khai thác chưa triệt để .

    Thứ ba ,Công ty phải đẩy mạnh hình thức bán buôn kết hợp với các hình thức bán lẻ nhằm tăng nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng lợi nhuận của công ty .Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng cũng như hình thức thanh toán nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng .Nâng cao năng lực sản xuất đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10%

    Thứ tư ,Công ty phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động ,tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động .Trong những năm qua ,do công ty đã không sử dụng hết nguồn vốn lưu động sẵn có gây nên tình trạng ứ đọng vốn .Do vậy trong những năm tới công ty phải phấn đấu đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động tránh tình trạng vốn lưu động bị ứ đọng

    Thứ năm ,công ty cần phải phấn đấu tăng thu nhập cho người lao động nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động an tâm làm việc tại công ty .

    Để đạt được mục tiêu như vậy thì  công ty cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả tốt nhất .Phương hướng hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại công ty là hoàn thiện công tác mọi mặt sản xuất kinh doanh nhằm giảm thiểu các chi phí ,duy trì mở rộng thị trường ,có chính sách tín dụng tốt với khách hàng ,quản lý vốn trong thanh toán ,đầu tư đồng bộ cho máy móc thiết bị ….Từ đó sẽ nâng cao công tác quản trị vốn lưu động .

    3.3 -MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ :

    Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng trong thời gian qua , Em xin nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty như sau:

    3.3.1- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu      động:

    3.3.1.1 – Các giải pháp chung:

    Khi tiến hành hoạt dộng sản xuất kinh doanh thì bất cứ một Công ty nào cũng cần chú trọng thực hiện các biện pháp cơ bản sau nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu sử dụng vốn lưu động nói riêng.

    Thứ nhất, Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh: Trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay thì đòi hỏi Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải có một chiến lược kinh doanh chủ động. Muốn vậy thì đội ngũ nhân viên làm việc tại phòng Kinh doanh phải luôn tiếp cận với thị trường, khai thác thông tin từ thị trường để từ đó nắm bắt được nhu cầu của khách hàng. Có như vậy thì hoạt động kinh doanh của Công ty mới có hiệu quả. Quản trị chiến lược kinh doanh tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Công ty, vị thế cũng như hiệu quả kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng.

    Thứ hai, lựa chọn quyết định kinh doanh có hiệu quả: trong điều kiện nền kinh tế mở, có nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia vào thị trường làm cho sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp trở nên gay gắt. Do vậy, để tồn tại và phát triển được thì Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng phải nắm bắt lấy cơ hội và đương đầu với những khó khăn nhằm đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn.

    Thứ ba, nâng cao trình độ và tăng động lực cho đội ngũ lao động: Để mỗi cán bộ công nhân viên xem Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng là ngôi nhà thứ hai của mình, Công ty nên có các chương trình hoạt động văn hoá thể thao, tăng cường các qũy phúc lợi, khen thưởng mở các lớp đào tạo chuyên môn , nghiệp vụ. Đồng thời Công ty cũng cần có biện pháp để tăng mức lương cho người lao động. Khi đó, cán bộ công nhân viên của Công ty sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, đem lại hiệu quả cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Thứ tư, tăng cường mở rộng quan hệ giữa Công ty với khách hàng: Nếu biết khai thác tốt thị trường cũng như quan hệ bạn hàng thì Công ty sẽ dễ dàng có được những cơ hội phát triển kinh doanh.

    3.3.1.2 -Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty :

    Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng vốn lưu động, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động như sau:

     

    *  Hoàn thiện công tác quản trị vốn bằng tiền

    Qua phân tích tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thụât Xi măng trong hai năm gần đây, ta thấy, công tác quản trị vốn bằng tiền chưa được tốt do Công ty đã dự trữ một lượng tiền  khá lớn tại quỹ. Cụ thể, vốn bằng tiền chiếm một tỷ trọng lớn là 76,54% trong tổng vốn lưu động năm 2003 và chiếm 68,59% trong tổng vốn lưu động năm 2004. Việc dự trữ một khối lượng lớn tiền mặt tại quỹ có thể giúp cho Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả. Nhưng đồng thời nó lại gây nên tình trạng ứ đọng vốn do Công ty đã không sử dụng hết số vốn hiện thời mà mình có. Do vậy, trong những năm tới Công ty cần phải xem xét lại mức dự trữ tiền mặt một cách hợp lý sao cho Công ty vừa có khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ mà vừa không bị dư thừa vốn lưu động.

    *  Hoàn thiện công tác quản trị hàng tồn kho

    Tồn kho dự trữ là khoản mục chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng số vốn lưu động của Công ty. Năm 2003, hàng tồn kho chiếm 15,44% trong tổng tài sản lưu động. So với năm 2003, thì năm 2004  Công ty đã để tăng tỷ lệ hàng tồn kho trong tổng vốn lưu động lên tới 21,7% . Chính vì vậy, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng luôn  áp dụng mọi biện pháp nhằm giảm tối thiểu các chi phí lưu kho đồng thời vẫn đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục.  Một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm khối lượng hàng tồn kho là Công ty nên đầu tư thêm vào lĩnh vực quảng cáo, tham gia các hội chợ triễn lãm để kích thích tiêu dùng nhằm tối ưu chi phí lưu kho số thành phẩm này.

    *  Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động

    Việc quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động .Do đó tầm quan trọng của công tác này cần được Công ty đánh giá đúng mức để có thể xây dựng được một hệ thống phương pháp khoa học cho công tác xác định nhu cầu vốn lưu động .Qua tìm hiểu thực tiễn về công tác này tại Công ty em xin mạnh dạn đề xuất Công ty nên áp dụng phương pháp trực tiếp trong việc xác định nhu cầu vốn lưu động hàng năm.Mặc dù phương pháp trực tiếp thực hiện phức tạp tốn nhiều thời gian nhưng bù lại phương pháp này giúp cho Công ty đánh giá chính xác hơn về lượng vốn lưu động cần huy động trong các khâu sản xuất , lưu thông sản phẩm hàng hoá .Bằng phương pháp này sau khi tổng hợp các nhu cầu trong từng khâu sản xuất kinh doanh , Công ty sẽ có được tổng nhu cầu về Vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh hàng năm của mình một cách chính xác. Dựa vào công tác xác định nhu cầu Vốn lưu động sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh ,Công ty có thể chuẩn bị các biện pháp huy động Vốn lưu động chính xác , kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về Vốn lưu động chính xác, kịp thời và hết sức chủ động trước các đòi hỏi về vốn lưu dộng của quá trình sản xuất và tiêu thụ.

    *  Công ty cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng vốn lưu động:

    Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Do vậy, việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động và  sử dụng vốn lưu động vào sản xuất kinh doanh của Công ty là hết sức cần thiết. Công ty cần chủ động khai thác triệt để các nguồn vốn sẵn có và các khoản vốn có thể chiếm dụng được tạm thời như nợ của người cung cấp và các tổ chức tín dụng khác.

     

     

    * Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động:

    Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho Công ty tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động và giảm được các chi phí về hàng tồn kho. Công ty cần phải ưu tiên về thanh toán đối với các khách hàng lâu năm của Công ty nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài.

    *  Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên:

    Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng cần phải chú trọng vào việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên bằng cách cử cán bộ và công nhân viên có khả năng đi học các lớp bồi dưỡng về chuyên môn. Lãnh đạo Công ty cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, cương quyết thay thế những cán bộ yếu đồng thời đề bạt một số cán bộ có năng lực về chuyên môn, có khả năng đáp ứng những yêu cầu mới.Công ty cũng cần phải khuyến khích về vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên nhằm pháp huy tinh thần trách nhiệm của họ.

    3.3.2 – Một số kiến nghị mang tính chất hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty:

    Sau một thời gian tìm hiểu, phân tích thực trạng về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng. Em xin đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần giúp Công ty nâng cao hiệu quả tạo vốn và sử dụng vốn lưu động như sau:

     

     

    3.3.2.1 – Một số kiến nghị đối với công ty :

    Hình thức bán hàng mà công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng áp dụng trong những năm qua về cơ bản là phù hợp với hoạt động kinh doanh. Công ty cần tiếp tục đẩy mạnh hình thức bán buôn để đẩy nhanh tổng doanh số bán ra từ đó tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Trong bán buôn, công ty cần tăng cường hình thức bán giao thẳng không qua kho vì hình thức này đảm bảo tiết kiệm nhiều chi phí, thu được lợi nhuận cao và đẩy nhanh vòng quay của vốn lưu động.

    Công ty cần thực hiện đa dạng hoá các hình thức bán hàng và phương thức thanh toán (như thanh toán nhanh hoặc trả chậm trong một thời gian nhất định) để phục vụ tốt nhu cầu của mọi khách hàng. Ngoài ra Công ty còn phải sử dụng công cụ marketing nhằm thúc  đẩy hoạt động bán hàng.

    Công ty cần mở thêm các văn phòng đại diện cũng như các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm ở các tỉnh thành trong cả nước, không ngừng huấn luyện đội ngũ bán hàng có năng lực và có kinh nghiệm bán hàng. Công ty cần duy trì và phát triển quan hệ bán hàng với các đơn vị thường xuyên mua hàng của Công ty với khối lượng lớn. Bởi vì bộ phận khách hàng này sẽ đảm bảo hàng hoá tiêu thụ được ổn định. Đối với thị trường mới, Công ty phải có những chiến lược xâm nhập thích hợp bởi đây chính là nơi có thể mở rộng các quan hệ của Công ty với những bạn hàng mới. Do vậy, Công ty phải phân tích những thông tin về các biến cố trên thị trường, xử lý tốt các thông  tin kinh tế nhằm tìm ra cơ hội kinh doanh phù hợp với tiềm năng của Công ty.

     

    3.3.2.2 – Một số kiến nghị đối với Tổng công ty Xi Măngvà nhà nước:

                 Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa nên các đơn vị kinh doanh được quyền tự chủ về các hoạt động kinh doanh của mình. Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng chịu sự quản lý của Tổng Công Ty Xi măng nên vẫn phải chịu ít nhiều sự tác động của Tổng Công Ty và nhà nước như hệ thống các chính sách, chế độ có liên quan.Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới thì Nhà nước, các Bộ, các Ngành phải có các biện pháp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường.Vì vậy ngoài việc nhanh chóng ban hành đồng bộ các chính sách , Nhà nước cần phải sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô một cách có hiệu quả nhất thiết .Đối với những ngành như ngành Xi măng hiện nay không chỉ do Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam sản xuất kinh doanh(Tổng Công Ty mới chỉ chiếm xấp xỉ 53% thị phần ). Song việc bình ổn giá Xi măng là trách nhiệm của nhà nước giao cho các thành viên của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đảm nhiệm . Hơn nữa Nhà nước vẫn còn thực hiện chính sách xã hội đối với các Tỉnh Miền Núi thông qua một số ngành hàng quan trọng . Vì vậy Nhà nước cần phải ban hành một số cơ chế kiểm soát , chính sách hỗ trợ về Vốn , Thuế , Trợ Giá phù hợp tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện được nhiệm vụ chính trị xã hội nhưng không bị thua lỗ kéo dài .

    Tổng Công Ty Xi măng cần tiến hành giao thêm các chi nhánh tiêu thụ của các Công ty sản xuất Xi măng trong Tổng Công Ty ở khu vực Miền Bắc cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng . Đồng thời có chính sách hợp lý về giá bán nội bộ của các Công ty sản xuất bán cho Công ty vật tư kỹ thuật Xi măng để đảm bảo khẳng định cạnh tranh.

    KẾT LUẬN

                 Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự ra đời của nhiều doanh nghiệp, sự canh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày các gay gắt và khốc liệt. Để chiến thắng trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để sử dụng vốn lưu động một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả.Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả chính là cơ sở giúp doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh thuận lợi.

    Trong thời gian qua , tình hình chung của toàn ngành Xi măng còn gặp nhiều khó khăn , nhưng nhờ sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà Nước , Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách để vươn lên và phát triển ổn định. Trong những kết quả đạt được một phần là nhờ Công Ty đã làm tốt công tác quản trị Vốn lưu động của mình, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đồng vốn bỏ ra , mang lại hiệu quả sản xuất ngày càng cao . Tuy nhiên ,trong công tác này của Công ty phải chú trọng hoàn thiện hơn nữa để phát huy tối đa sự vận động và hiệu quả của đồng Vốn lưu động.

    Từ cơ sở lý luận chung và phân tích thực trạng của việc sử dụng vốn lưu động tại công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng – Tổng Công Ty Xi măng Việt Nam trong thời gian qua, em có đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty. Mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhưng do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian thực tập ngắn cũng như tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh chắc chắn những  kiến nghị của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, đó là những cố gắng trong việc tìm ra các giải pháp trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc về thực trạng tài chính và các hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua.

    Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Công đoàn đã trao cho em kiến thức bổ ích trong quá trình học tập.

    Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thạc sỹ Đặng hải Lý cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng Kế toán của Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận này.



    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp “Kế toan tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Thành


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%B4ng-t%C3%A1c-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-n%E1%BB%99p-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-M%E1%BA%B7t-Tr%E1%BB%9Di-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong cơ chế tập trung hoá vấn đề tiền lương chưa có sự quan tâm thích đáng, những quan điểm về tiền lương bộc lộ những thiếu sót trong nhận thức như tiền lương không phải là giá cả sức lao động, cơ chế phân phối tiền lương phụ thuộc vào cơ chế phân phối thu nhập quốc dân. Điều đó cho thấy tiền lương trong cơ chế kế hoạch hóa không làm được vai trò là đòn bảy của kinh tế của mình.

    Chuyển sang cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp thực hiện chế độ tự hạch toán đảm bảo tiền lương của cán bộ, công nhân bù đắp hao phí lao động của họ một cách hợp lý, đồng thời tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.

    Chính vì vậy tổ chức kế toán tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của công tác kế toán tiền lương trong doanh nghiệp, nó có quan hệ mật thiết với từng người lao động, đến mọi mặt sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giải quyết quan hệ tiền lương tốt sẽ làm cho người lao động thoả mãn lợi ích vật chất của mình, đồng thời quan tâm đến thành quả lao động, phát huy sáng kiến kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Bên cạnh tổ chức hạch toán tiền lương một cách hợp lý việc

    trích nộp và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Quỹ BHXH, BHYT được thành lập để tạo nguồn tài trợ và đảm bảo quyền lợi cho cán bộ công nhân viên.

    Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong quá trình thực tập tại Công ty Mặt Trời Việt tôi đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp: “Công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo

    lương tại Công ty Mặt Trời Việt“. Việc nghiên cứu nhằm mục đích hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về lương, phân tích thực trạng công tác tổ chức kế toán tiền lương ở công ty trên cơ sở hiểu biết của bản thân trong quá trình học

    1

    tập đề suất những biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương.

    Nội dung gồm ba phần sau:

    Phần I : Đặc điểm, tình hình chung của Công ty Mặt Trời Việt

    Phần II : Thực trạng công tác tổ chức kế toán tiền luơng của Công ty Mặt Trời Việt

    Phần III : Nhận xét và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích nộp theo lương.

    Mặc dù đã cố gắng nắm bắt vấn đề lý thuyết và áp dụng lý thuyết vào tình hình thực trạng của Công ty nhưng do thời gian có hạn, nên chắc chắn bản báo cáo này vẫn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp của cô giáo để bổ sung vào bản báo cáo thực tập tốt nghiệp và khắc phục những thiếu sót trên.

    2

    PHẦN I

    ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Đặc điểm chung của Công ty

    1.     Quá trình phát triển của Doanh nghiệp

    Công ty Mặt trời Việt là một doanh nghiệp tư nhân chịu sự quản lý của sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội. Được thành lập theo số đăng ký kinh doanh: 0102020255 do sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội cấp ngày13/12/1999. Đánh dấu một bước quan trọng trong ngành quảng cáo, thiết kế dàn dựng triển lãm.

    Những ngày đầu thành lập Công ty Mặt Trời Việt có gần 40 cán bộ công nhân viên, diện tích lúc đó chỉ 600m2 thuộc địa chỉ 60/80 Hoàng Cầu – Hà Nội.Công ty Mặt Trời Việt là hệ thống tổ chức chuyên về dàn dựng thiết bị quảng cáo tại các hội chợ, triển lãm, nhà hàng, khách sạn, có tư cách pháp nhân đầy đủ hạch toán kinh tế độc lập.

    Thực hiện hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh,đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng, nhằm bảo toàn và phát triển vốn của Công ty. Đồng thời giải quyết thoả đáng hài hoà lợi ích cá nhân người lao động trong khuôn khổ luật pháp quy định.

    Cùng với những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước và thủ đô Hà Nội, Công ty Mặt Trời Việt đã có bước phát triển vững chắc và đã đạt được những thành tựu đáng kêtrong công tác quản lý và kinh doanh:

    Năm 2000 đưa dàn máy thiết bị mới vào cải tiến kỹ thuật đổi mới trang bị dàn dựng quảng cáo, nhằm nâng cao và đảm bảo mục tiêu toàn bộ khu vực triển lãm được đánh giá là chất lượng cao.

    3

    Năm 2001 tại hội chợ triển lãm Giảng Võ Công ty Mặt Trời Việt đã dàn dựng thành công 115 gian hàng, sau hội chợ triển lãm đó các đơn vị được Công ty dàn dựng gian hàng đó đã đánh giá một cách khách quan.

    Công ty không ngừng đào tạo, xây dựng đội ngũ và nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên.Với 4 cán bộ có trình độ tay nghề cao (cử nhân) cùng với một đội ngũ công nhân lành nghề nhiều kinh nghiệm.

    Với tổng số gần 100 cán bộ công nhân viên, tiền lương và thu nhập được cải tiến rõ rệt năm sau cao hơn so với năm trước. Thu nhập bình quân của năm 2000 là 658.000đ/người/tháng.Và trong năm 2002 là 1.100.u000đ/người/tháng. Hiện tại, có 100% người lao động trong Công ty được ký hợp đồng lao động theo quy định của Nhà nước ban hành.

    Với những kết quả, những thành tựu đạt được trong những năm gần đây cho ta thấy Công ty Mặt Trời Việt đã không ngừng phấn đấu xây dựng hoạt động giữ lấy chữ tín làm hàng đầu để thu hút thêm nhiều hợp đồng mới, mang lại cho Công ty nhiều nguồn lợi nhuận mới.

    2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty

    Công ty Mặt Trời Việt được thành lập nhằm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nhiệm vụ chính của Công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh bao gồm 2 lĩnh vực cụ thể:

    Kinh doanh dịch vụ

    Cung cấp các thiết bị quảng cáo, giàn dựng cho các Công ty khác ở

    Việt Nam, cho các khách hàng có nhu cầu về thiết kế quảng cáo.

    Hoạt động kinh doanh

    Công ty được phép nhập các mặt hàng phục vụ cho sản xuất hàng hoá

    và phục vụ tiêu dùng cho Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho phép dưới hình thức uỷ thác và trực tiếp.

    Ngày nay, với đòi hỏi bức bách của thị trường, Công ty Mặt Trời Việt được bổ sung chức năng và nhiệm vụ sau :

    • Tổ chức các dịch vụ lắp đặt, thiết kê quảng cáo

    4

    • Tổ chức kinh doanh dịch vụ sửa chữa cho các Công ty và các đơn vị

    ngoài.

    3. Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến đứng đầu là Giám đốc. Giúp việc cho Giám đốc có 2 phó Giám đốc.

    • Giám đốc : Người nắm toàn bộ quyền hành chỉ đạo chung cho toàn

    Công ty. Giám đốc Công ty trực tiếp phụ trách các phòng sau:

    • Văn phòng Công ty là đơn vị tổng hợp hành chính quản trị giúp Giám đốc chỉ đạo quản lý công tác pháp chế, thi đua, tuyên truyền.
    • Phòng kế hoạch vật tư : Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo trong công tác

    kế hoạch, thống kê và các hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác cung ứng vật thiết kế quản lý và sử dụng có hiệu quả vật tư thiết bị trong toàn Công ty.

    • Phòng tổ chức nhân sự : là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc chỉ đạo

    quản lý về tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công tác thanh tra, pháp chế và ban hành các quy chế nội bộ.

    • Phòng tài chính Kế toán : là đơn vị tham mưu giúp Giám đốc về quản

    lý tài chình và tổ chức công tác hạch toán kế toán toán Coong ty.

    • Phòng công nghệ: Giúp Giám đốc trong việc nghiên cứu áp dụng các

    công nghệ mới vào sản xuất.

    • Phó Giám đốc Kinh doanh: Giúp Giám đốc trong việc chỉ đạo điều hành lĩnh vực Kinh doanh của Công ty trực tiếp phụ trách.
    • Phòng Kinh doanh : Giúp Giám đốc chỉ đạo Công ty Kinh doanh.
    • Phòng giao dịch thương mại : có nhiệm vụ trong việc xúc tiến thương

    mại.

    • Tổ bán hàng : thực hiện việc bán sản phẩm do Công ty sản xuất.

    + Phó Giám đốc kỹ thuật : Giúp Giám đốc Công ty về lĩnh vực kỹ thuật lập phương án xây dựngcác công trình về điện tử, quảng cáo và công tác thanh tra an toàn. Phòng kỹ thuật được chia ra làm các tổ kỹ thuật với nhiệm

    5

    vụ sửa chữa là lắp đặt máy móc thiết bị quảng cáo cho các đơn dặt hàng của

    Công ty.

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA

    CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT

    Kế toán trưởng

    Phòng   Th   Kế   Kế   Kế   Kế   Kế   Phó
    kế   qu   toán   toán   toán   toán   toán   phòng (kế
    toán       tin   công   vốn   vt   TSCĐ   toán giá
            n         thành và
    (kế       lươn     bằn   liu      
                        chỉ đạo
    toán       g       g          
                          công tác
                tiền          
    tng                         TCKT)
                             
                                 

    4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty Mặt Trời Việt

     

    Bộ máy kế toán được tổ chức theo kiểu tập trung

    4.1. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty Mặt Trời Việt.

    Kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra bảo vệ, sử dụng tài sản nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, chủ động tài chính của Công ty.

    Phòng kế toán tài vụ của Công ty có chức năng và nhiệm vụ như tham mưu cho Giám đốc lên kế hoạch về tài chính vốn và nguồn vốn, kết quả doanh thu từng quý và năm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    6

    Để đảm bảo thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, phòng kế toán tài vụ của Công ty gồm có 06 nhân viên và mỗi nhân viên phải chịu trách nhiệm về một phần việc của mình:

    • Một kế toán trưởng kiêm trưởng phòng
    • Một kế toán lương kiêm TSCĐ, vật tư, hàng hoá
    • Một kế toán thanh toán kiêm giao dịch ngân hàng
    • Một kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành
    • Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán công nợ
    • Thủ quỹ.

    *Kế roán trưởng kiêm trưởng phòng

    • Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo, thực hiện công tác kế toán thống kê của Công ty.
    • Tổ chức thực hiện và kiểm tra thực hiện các chế độ, thể lệ kế toán, các

    chính sách, chế độ tài chính trong Công tycũng như chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, chế độ sổ kế toán, chính sách thuế, chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng.

    • Có nhiệm vụ báo cáo tài chính theo yêu cầu quản lý và theo quy định

    của Tung ương và thành phố cũng như các ngành có chức năng.

    *Kế toán tiền lương kiêm TSCĐ, vật tư, hàng hoá

    • Về tiền lương, BHXH, BHYT: Tổ chức hạch toán cung cấp thông tin

    về tính hình sử dụng lao động tại Công ty, về chi phí tiền lương và các khoản nộp BHXH, BHYT.

    • Về TSCĐ : Xác định giá trị TSCĐ, tham gia kiểm kê tài sản và theo dõi vào sổ sách tình hình tài sản phát sinh trong Công ty.
    • Về vật tư, hàng hoá : Chịu trách nhiệm theo dõi tình hình hiện có và

    biến động từng loại vật tư, hàng hoá, đông thời chấp hành đầy đủ quy định về thủ tục nhập, xuất, bảo quản vật tư.

    *Kế toán thanh toán kiêm giao dịch ngân hàng

    7

    Chịu trách nhiệm về mở TK, ghi séc, uỷ nhiệm chi, thanh toán tiền gửi ngân hàng…, hướng dẫn thủ tục thanh toán, kiểm tra chứng từ, kiểm tra việc mở sổ, ghi sổ xuất, nhập vật tư, hàng hoá của Công ty.

    *Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành

    Thu thập, lập và kiểm tra chứng từ kế toán, tham gia giúp lãnh đạo xét duyệt chi phí cho các hoạt động kinh doanh của Công ty.

    *Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán công nợ

    Theo dõi tình hình công nợ, tạm ứng của khách hàng, của thủ tục kê khai nộp thuế, tổ chức đối chiếucông nợ, thu hồi các khoản nợ của khách hàng, cân đối nhu cầu vốn, tránh tình trạng thiếu vốn trong kinh doanh.

    *Thủ quỹ

    Chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt có nhiệm vụ thu chi tiền mặt khi có sự chỉ đạo của cấp trên.

    4.2.Hệ thống tài khoản

    Công ty đang sử dụng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do Bộ Tài chính quy định.

    4.3.Hình thức sổ kế toán

    Để phù hợp quy mô cũng như điều kiện thực tế, Công ty Mặt Trời

    +Việt áp dụng hình thức hạch toán chứng từ ghi sổ và các loại sổ của hình thức này gồm có: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái và các sổ chi tiết tài khoản.

    *Hệ thống sổ kế toán được áp dụng tại Công ty:

    • Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Sổ chi tiết các tài khoản
    • Sổ cái
    • Bảng tổng hợp chi tiết

    8

    Quy trình hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ tại Công ty được

    thực hiện qua sơ đồ sau :

        Chng t kế toán      
             
               
               
    Sổ đăng ký          
      Chng t ghi s   S chi tiết
    chng t ghi s          
           
               
               
        S cái   Bng TH chi
               

    Bng cân đối s

    Báo cáo kế toán

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối kỳ

    Đối chiếu, so sánh

    4.4.Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán tại Công ty

    Công ty Mặt Trời Việt sử dụng hệ thống báo cáo kế toán theo đúng chế độ và quy định của Nhà nước và thực hiện tốt các báo cáo về các hoạt động tài chính của Công ty.

    *Hệ thống báo cáo tài chính của Công ty Mặt Trời Việt

    • Báo cáo quyết toán
    • Bảng cân đối kế toán
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
    • Bảng cân đối tài khoản
    • Tờ khai chi tiết doanh thu, chi phí thu nhập
    • Quyết toán thuế GTGT
    • Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
    • Thuyết minh báo cáo tài chính

    PHẦN II :

    9

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN VÀ CÁC

    KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY

    MẶT TRỜI VIỆT

    A – THỰC TRẠNG CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Kế toán vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, ứng và trả trước.

    1. Kế toán vốn bằng tiền

    Vốn bằng tiền là vốn lưu động được biểu hiện khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp trong các quan hệ mua bán, thanh toán nói chung.

    Đặc trưng của vốn bằng tiền là tính luân chuyển cao chuyển hoá phức

    tạp. Do vậy yêu cầu kế toán phải quản lý tốt bộ phận này, sử dụng hiệu quả

    tăng cường chống tham ô, lãng phí khi sử dụng. Việc quản lý tốt vốn bằng

    tiền sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp diễn

    ra liên tục.

    Vốn bằng tiền của Công ty bao gồm : tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Để quản lý tốt vốn bằng tiền của Công ty thì kế toán phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ quản lý lưu thông tiền tệ hiện hành của nhà nước, kế toán phải phản ánh kịp thời và đầy đủ chính xác số tiền hiện tại quỹ và tính hình biến động.

    Các thủ tục và nguyên tắc liên quan đến việc thu, chi tiền mặt kế toán sử dụng tài khoản chứng từ sau :

    • Phiếu thu tiền
    • Phiếu chi tiền và các chứng từ cần thiết khác để ghi sổ kế toán như : Hoá đơn GTGT…

    Bảng kiểm tra quỹ

    Giấy đề nghị tạm ứng

    Giấy thanh toán tạm ứng Sổ quỹ tiền mặt

    PHIẾU CHI Quyển sổ: HM Mẫu sổ C22 – H
      Số : 02 QĐ số 999 – TC/QĐ/CĐKT
         
      10  
    Ngày 28 tháng 2 năm 2004 Ngày 02 tháng 11 năm 2004
    Nợ :… của Bộ Tài Chính  
    Có :…    

    Họ và tên người nhận tiền : Trần Thị Tuyến

    Địa chỉ : Hành Chính

    Lý do chi : Mua gỗ

    Số tiền : 2.500.000đ (bằng chữ : Hai triệu lăm trăm ngàn đồng chẵn)

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Thủ trưởng đơn vị (ky, họ tên, đóng dấu)

    Phụ trách kế toán

    (ký, họ tên)

    Người lập phiếu

    ( ký, họ tên)

    Đã nhận đủ tiền : Hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn.

    Thủ quỹ Ngày 28 tháng 02 năm 2004 (ký, họ tên) Người nhận tiền (ký, họ tên)

    PHIẾU CHI                                 Mẫu sổ C22 – H

    Ngày 28 tháng 02 năm 2004

    Họ và tên người nhận tiền : Trần Thị Tuyến

    Địa chỉ                                             : Phòng Hành Chính

    Lý do chi                                         : Nộp 5% BHXH trả Sở

    Số tiền                                               : 502.200đ

    Viết bằng chữ : Năm trăm linh hai ngàn hai trăm đồng chẵn.

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền : Năm trăm linh hai ngàn hai trăm đồng chẵn.

    Ngày 28 tháng 02 năm 2004

    Thủ trưởng đơn vị                     Phụ trách kế toán                 Người nhận tiền

    (ký tên, đóng dấu)                          (ký, họ tên)                               (ký, họ tên)

    2.Kế toán các khoản phải thu

    Đối tượng các khoản phải thu là cán bộ công nhân viên trong Công ty, hoặc có thể là đối tượng khác ( người vận chuyển, người mua hàng).

    11

    *Các khoản tạm ứng

    Căn cứ các giấy đề nghị tạm ứng hợp lệ ( đã được ký duyệt bởi trưởng các phòng ban và Giám đốc Công ty), Kế toán lập phiếu chi theo đúng số tiền đề nghị tạm ứng

    Ví dụ :

    Ngày 10/03 Anh Nguyễn Duy Minh phòng Kỹ thuật đề nghị xin tạm ứng 2.000.000đ để mua thiết bị về việc quảng cáo. Căn cứ vào đề nghị tạm ứng đã ký duyêt, Kế toán lập phiếu chi và hạch toán vào máy như sau:

    Nợ TK 141 : 2.000.000

    Có TK 111 : 2.000.000

    Việc hạch toán và vào sổ tiến hành theo quy trình của các nghiệp vụ chi tiền như trên.

    Các khoản tạm ứng sẽ được theo dõi chi tiết theo người nhận tạm ứng. Cuối tháng kế toán thanh toán lên bảng kê danh sách nợ tạm ứng để có kế hoạch thanh toán tạm ứng trong thời gian tới. Việc thanh toán tạm ứng tiến hành theo thời hạn thanh toán trên giấy tờ đề nghị tạm ứng.

    Khi các nhiệm vụ đã hoàn thành, cán bộ công nhân viên tập hợp các chứng từ (là các hoá đơn mua hàng, dịch vụ ) kèm theo đề nghị thanh toán việc duyệt chi tạm ứng dựa trên các chứng từ hợp lý, hợp lệ.

    Hoá đơn GTGT với nội dung mua thiết bị về quảng cáo, có giá trị trước thuế là 1.000.000đ, thuế VAT là 100.000, kế toán lập phiếu chi và tạm ứng (

    2.000.000 – 1.100.000 = 900.000đ). Cuối cùng Kế toán định khoản vào máy:

    Nợ TK 111 :       900.000

    Nợ TK 641 : 1.000.000

    Nợ TK 133 :       100.000

    Có TK 141 : 2.000.000

    Đối với các khoản phải thu khách hàng

    12

    Khi xuất hàng giao khách đã tiến hành nghiệm thu bàn giao có sự xác nhận của hai bên, kế toán bán hàng căn cứ hoá đơn giá trị gia tăng

    được xuất ra để ghi nhận khoản phải thu của khách hàng.

    Ví dụ:

    Trường hợp lắp đặt thiết bị như trên, nếu khách hàng không thanh toán ngay, căn cứ số hóa đơn đó , về việc cung cấp dịch vụ lắp đặt thiết bị, có giá trước thuế: 5.000.000 đ, thuế VAT: 500.000 đ, kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 131: 5.500.000 đ

    Nợ TK 511: 5.000.000 đ

    Có TK 333:     5.00.000 đ

    3.Các khoản ứng trước, trả trước

    Đối với những hợp đồng mua bán phải nhập khẩu từ nước ngoài Công ty phải tiến hành đặt trước cho khách hàng đảm bảo bù đắp các chi phí và đảm bảo việc nhập hàng.

    Ví dụ : Ngày 15/08/2004 về việc cung cấp một máy thiết bị mới, phía Công ty Mặt Trời Việt phải đặt cọc trước 30% giá trị hợp đồng tức 21.000USD.

    Ngày 1/09/2004, khi thủ tục chuyển tiền cho bên A đã hoàn tất tiền sẽ

    xuất khỏi tài khoản của Công ty tại ngân hàng với tỉ giá: 15.759 đ/USD, kế toán sẽ hạch toán như sau:

    Nợ TK 331: 330.939.000 đ

    Có TK 112: 330.939.000 đ

    Có TK 112: 330.939.000 đ

    13

    Việc theo dõi các khoản ứng trước, trả trước cũng được theo từng nhà cung cấp.

    Việc mua bán ngoại thương đều thực hiện theo hợp đồng đã ký và luật thương mại quốc tế. Mọi tranh chấp được hai bên thoả thuận bằng văn bản.

    Khi xuất hàng, kiểm tra xác nhận hàng đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng kế toán mới hạch toán.

    Nợ TK 156

    Có TK 331

    II/ Kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ

    1. Kế toán chi tiết vật liệu

     

    Kế toán nghiệp vụ mua nguyên vật liệu:

    • Các nguyên vật liệu chủ yếu như là : gỗ, phoóc mêka…do yêu cầu nên

    khi mua đều phải có hợp đồng.

    • Phương thức thanh toán : Tiền mặt, chuyển khoản, séc.
    • Chứng từ sử dung

    -Hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT, hoá đơn đặc thù.

    -Phiếu chi, giấy báo ngân hàng, phiếu thanh toán tạm ứng.

    -Phiếu nhập kho, biên bản kiểm nghiệm vật tư hàng hoá.

    • Tài khoản sử dụng chủ yếu là TK 152, TK153, TK 111, TK 112, TK113, TK331.

    (Giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho bao gồm giá trên hoá đơn chưa thuế GTGT + Chi phí thu mua).

    14

    TK 331, 111, 112                                                             TK 152, 153

    Trị giá nguyên vật liệu, công cụ , dụng cụ

    TK 133

    Thuế GTGT đầu vào

    Ví dụ : Ngày 03 tháng 10 năm 2004 Ông Nguyễn Ngọc Trãi mua 1.500 bulông mối P43 với giá 5.307đ tại Công ty Cơ khí Hà Nội.

    Kế toán căn cư vào hoá đơn GTGT để ghi bút toán sau :

    Nợ TK 1521 : 7.960.500

    Nợ TK 1331 :      760.050

    Có TK 331.07 : 8.756.550

    *Trường hợp mua nguyên vật liệu thanh toán ngay Công ty Mặt Trời Việt vật liệu tăng chủ yếu do mua ngoài. Có thể dùng tiền mặt, tiền tạm ứng, tiền mua chịu. Trong đó mua chịu vật liệu là nghiệp vụ chủ yếu làm tăng nguyên vật liệu.

    Hiện nay, Công ty tiến hành nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên thuế GTGT được khấu trừ, được phản ánh trên TK 133. Khi dùng tiền mặt để thanh toán với khách hàng thường là thanh toán tiền vận chuyển. Kế toán căn cứ vào hoá đơn, cước vận chuyển và phiếu chi ghi vào sổ Nhật ký chung, sổ cái chi tiết, sổ cái tổng hợp.

    Ví dụ:

    15

    Ngày 14 tháng 10 năm năm 2004, Chị Nguyễn Thị Lan mua nguyên vật

    liệu bằng chuyển khoản về nhập kho giá hoá đơn chưa thuế 12.600.000, thuế

    12.600 giá hạch toán là 12.612.000  
    Nợ TK 152 : 12.600.000
    Nợ TK 133 : 12.600

    Có TK 111 : 12.612.600

    *Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu

    Căn cứ vào kế hoạch mua hàng trong tháng, phòng vật tư tiến hành đi mua nguyên vật liệu.

    Căn cứ hợp đồng ký kết hai bên mua và bán.

    Căn cứ vào hoá đơn GTGT

    Căn cứ vào bản nghiệm thu chất lượng hàng hoá

    Phòng vật tư tiến hành lập phiếu nhập kho.

    Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho chủ yếu là do mua ngoài được xác định.

    Giá thực tế NVL = Giá mua NVL + Chi phí thu mua

    Nhập kho                       (theo hoá đơn)

    16

      HOÁ ĐƠN (GTGT)     Mẫu sổ : 01 GTKT – 311
    Ngày 02 tháng 10 năm 2004         ET/02 – B
      Liên 2 (Giao hàng cho khách hàng)  
    Họ và tên người bán : Xí nghiệp Cơ khí vật tư Đông Anh  
    Địa chỉ : Khối 2B – Đông Anh Hà Nội        
    Điện thoại : Mã số :        
    Họ tên người nua : Trần Văn Chiến        
    Địa chỉ : Công ty Mặt Trời VIệt            
    Hình thức thanh toán : trả chậm       Mã số : 01007696631
                   
    STT Tên nhãn hiệu, quy cách vật ĐVT   Số lượng   Đơn giá Thành tiền
      tư hàng hoá.            
    1 Căn sắt C3 Cái   2.000   8.132 16.264.000
      Tiền hàng           16.264.000
      Thuế GTGT           1.626.400
      Tổng cộng tiền thanh toán           17.89.400
                   

    Số tiền viết bằng chữ : Mười bảy triệu tám trăm chín mươi ngàn bốn trăm đồng.

    Người mua hàng

    (Đã ký)

    Người bán hàng

    (Đã ký )

    Thủ trưởng đơn vị

    (Đã ký)

    III/ Kế toán TSCĐ và đầu tư dài hạn

    1.Kế toán tổng hợp tăng TSCĐ

    Kế toán trưởng làm thông chi thanh toán lên cấp trên. Sau khi cấp trên chấp nhận đơn vị tiến hành tăng TSCĐ. Hằng ngày căn cứ chứng từ tăng TSCĐ, kế toán vào thẻ TSCĐ và vào sổ TSCĐ. Đồng thời, vào nhật ký chung, cuối tháng kế toán vào sổ cái.

    Ví dụ :

    Công ty mua 1 máy công cụ bằng tiền gửi ngân hàng giá chưa VAT 36.000.000 thuế VAT 36.000, tỉ lệ khấu hao 10%. Tài sản đầu tư bằng kinh

    17

    doanh đã đưa vào sử dụng ở phân xưởng sản xuất chính. Kế toán sẽ ghi như sau:

    Nợ TK 211 : 36.000.000đ

    Nợ TK 133 :            36.000đ

    Có TK 112 : 39.036.000đ

    2.Kế toán tổng hợp giảm TSCĐ

    Khi TSCĐ sử dụng không có hiệu quả thì doanh nghiệp tiến hành nhượng bán nhưng phải có đầy đủ thủ tục như quyết định, hợp, đành, biên bản…

    Ví dụ :

    Công ty nhượng bán TSCĐ ở bộ phận bán hàng nguyên giá 60.000.000. Đã khấu hao 16.000.000 đã thu tiền của ngân hàng theo giá bán là 55.000.000 trong đó thuế VAT 55.000.. Chi phí vận chuyển TSCĐ nhượng bán đã trả bằng tiền mặt 1.000.000đ. Tỉ lệ khấu hao 10%. Kế toán hạch toán như sau:

    Bút toán 1:

    Nợ TK 811 : 44.000.000

    Nợ TK 214 : 16.000.000

    Nợ TK 211 : 60.000.000

    Bút toán 2 :

    Nợ TK 811: 1.000.000

    Có TK 111: 1.000.000

    Bút toán 3 :

    Nợ TK 111 : 55.000.000

    Có TK 711 :            55.000

    Có TK 3331 : 54.945.000

    3.Trích khấu hao TSCĐ

    Do đặc trưng của hoạt động SXKD trong xí nghiệp nên TSCĐ thường phát sinh ít vì thế để tiện theo dõi đơn vị đã hạch toán kế toán TSCĐ theo

    18

    quý. Trong quý, chứng từ nào phát sinh tháng nào thì ghi vào thàng đó trong quý. Cuối tháng mới tính và trích khấu hao.

    + Đơn vị áp dụng tính khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng, tăng tháng này thì tháng sau mới trích khấu hao, giảm tháng này thì tháng sau thôi không trích khấu hao. Những TSCĐ hiện có của doanh nghiệp được sử dụng phục vụ kế toán thì phải trích khấu hao.

    Về phương pháp tính khấu hao đơn vị áp dụng phương pháp khấu

    hao theo đường thẳng.        
    Theo phương pháp này thì:        
    Mức khấu hao =   Nguyên giá   =  Nguyên giá x Tỉ lệ khấu hao năm
    TSCĐ năm Thời gian sử dụng  
    Tỉ lệ khấu hao năm    =   Mức khấu hao TSCĐ   x  100
            Nguyên giá TSCĐ  

    Dựa trên cơ sở thực tế của đơn vị và theo hướng dẫn của cục quản lý

    vốn và tài sản Nhà nước thì doanh nghiệp, đơn vị đã tính khấu hao như sau:

    Mức khấu hao =     Giá trị còn lại của TSCĐ   x 100
    Năm   thời gian còn lại của TSCĐ    
    Mức khấu  =   Mức khấu hao năm        
    hao quý 4        
    Vậy tổng mức khấu hao TSCĐ trong quý được tính như sau :
    Tổng mức khấu = Số khấu hao + Số khấu hao trích – Số khấu hao
    Hao TSCĐ     trong quý quý trước   giảm quý này

    Trong đó :

    Số khấu hao tăng = Tổng (NG TSCĐ cần tăng KH x tỉ lệ KH năm)

    12

    x số tháng cần trích khấu hao trong quý

    Việc hạch toán TSDCC trong Công ty sử dụng những chứng từ sổ sách

    sau:

    *Chứng từ

    19

    • Hợp đồng mua sắm TSCĐ
    • Biên bản giao nhận TSCĐ : MS04 – TSCĐ/HĐ
    • Hợp đồng đóng thầu ( giá trị lớn)
    • Giấy đề nghị tạm ứng (nếu có)
    • Biên bản nghiệm thu
    • Hoá đơn mua TSCĐ
    • Bảng trích khấu hao
    • Biên bản thanh lý hợp đồng mua sắm
    • Phiếu kiểm kê TSCĐ.

    *Sổ sách

    • Thẻ TSCĐ
    • Sổ theo dõi TSCĐ
    • Sổ nhật ký chung
    • Sổ cái

    IV/ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

    V/ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Vì nhiệm vụ của đơn vị là duy tu sửa chữa, làm mới công tác giàn

    dựng, quảng cáo nên đối tượng để lập chi phí là tính giá thành các công trình,

    giàn hàng quảng cáo… Do đặc trưng công việc nên hàng tháng các cung sản

    xuất thường được giao cho một khối lượng công việc nhất định.

    Ví dụ :

    Trong tháng 03 Công ty được giao việc lắp đặt, sửa chữa một gian hàng. Khối lượng việc khá nhiều. Công việc được giao theo định mức và kế hoạch, được Công ty hoàn thành sớm hơn dự kiến. Trong đó: chi phí phát sinh như vật liệu, công cụ dụng cụ và nhân viên. Riêng chi phí sản

    xuất chung theo dự kiến, phát sinh ở bộ phận nào thì tính trực tiếp vào bộ phận đó.

    20

    Những chi phí phát sinh chung trong toàn đơn vị được phân bổ vào chi phí sản xuất theo doanh thu dự kiến trong quý.

    Chi phí sản xuất chung = Tổng chi phí sản xuất chung chờ pbổ

    chờ phân bổ Tổng doanh thu dự kiến trong quý x Doanh thu dự kiến của Công ty.

    Giá thành sản xuất của công trình được tập hợp theo khoản mục chi phí.

    Giá thành sản xuất = Chi phí NVL + Chi nhân công + Chi phí sản xuất

    công trình                       trực tiếp               trực tiếp                           chung

    Giá thành sản xuất công trình = CPDDĐK + CP PS trong – CPDDCK

    Chi phí thực tế = CP thực tế DD đkỳ +   CP thực tế (.) kỳ
    SPDD     trình      
    Gtrị dự toán của công Gtrị dự toán DD c/kỳ

    x Giá trị dự toán dở dang cuối kỳ.

    Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    • Kế toán sử dụng chứng từ, sổ sách như sau:

    *Chứng từ

    • Phiếu chi tiền mặt
    • Giấy uỷ chiệm chi hoặc giấy báo nợ
    • Phiếu nhập xuất thẳng
    • Các chứng từ thanh toán : hợp đồng, dự án, biên bản nghiệm thu, biên bản thanh lý hợp đồng, biên bản quyết toán công trình.
    • Bảng phân bổ vật tư, công cụ dụng cụ
    • Bảng lương BHXH, BHYT, KPCĐ
    • Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ

    *Sổ sách

    • Nhật ký chung
    • Sổ cái
    • Sổ chi tiết

    21

    VI/ Kế toán nguồn vốn

    1.Kế toán các khoản nợ phải trả

    Khi thu được từ nguồn tài chính huy động của các cán bộ công nhân viên trong Công ty hoặc từ các ngân hàng trong nước kế toán hạch toán như sau :

    Ví dụ :

    Công ty thu tiền mặt từ việc bán hàng với giá bán 20.000.000 đồng. Kế toán sẽ hạch toán như sau.

    Nợ TK 111 : 20.000.000

    Có TK 311 : 20.000.000

    Đến kỳ hạn thanh toán các khoản vay kế toán hạch toán khoản phải trả và ghi tiền vay

    Nợ TK 642

    Nợ TK 311

    Có TK 111, 112

    1. Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu

    Trường hợp vốn được cấp bằng tiền, tiền gửi ngân hàng, kế toán hạch

    toán

    Nợ TK 211, 153

    Có TK 411

    VII/ Báo cáo kế toán

    22

    Căn cứ vào các quy định về hệ thống Báo cáo tài chính do Bộ tài chính ban hành theo quyết định 1114 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, căn cứ vào các quy định về hệ thống báo cáo của Công ty Mặt Trời Việt đề ra, căn cứ vào sự phân cấp quản lý, đáp ứng yêu cầu quản lý thống nhất và toàn diện tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của toàn Công ty. Hiện nay với tư cách là một đơn vị độc lập, phòng Kế toán của Công ty đã thực hiện tương đối đầy đủ chế độ Báo cáo tài chính theo quy định, hệ thống Báo cáo tài chính của Công ty bao gồm :

    • Bảng cân đối Kế toán, mẫu số B01 – DN ( lập 3 tháng 1 lần)
    • Báo cáo kết quả kinh doanh, mẫu số B02 – DN (lập 1 tháng 1

    lần)

    • Thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B09 – (lập 3 tháng 1 lần)

    Các báo cáo này đều được lập đúng mẫu biểu quy định, đúng phương pháp và đầy đủ nội dung, phản ánh một cách tổng quát và chân thực về tài sản và sự vận động tài sản cũng như quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty. Các báo cáo này do máy vi tính lập ra, do đó kế toán phải tổng hợp, đối chiếu, kiểm tra số liệu trên máy vi tính, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ các thông tin do máy tính lập ra, sửa các thông tin sai, cung cấp các thông tin đúng, các thông tin còn thiếu hoặc các thông tin mà máy không thể mã hoá để đưa ra được, sau đó trình kế toán truởng kiểm tra và trình giám đốc kiểm tra, duyệt gửi về phòng kế toán của Công ty.

    Kế toán trưởng và các cán bộ kế toán sẽ căn cứ vào các báo cáo kế toán lập ra, từ đó tiến hành phân tích trên cơ sở tình hình kinh doanh cụ thể tại đơn vị để đưa ra những đề xuất, kiến nghị với Giám đốc Công ty và lãnh đạo Công ty nhằm đưa ra quyết định phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản tại Công ty.

    23

    Nhằm nâng cao chất lượng của công tác kế toán, đảm bảo thông tin kế toán cung cấp phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình tài chính của Công ty, phòng kế toán Công ty mặt trời việt đã thực hiện tương đối công tác kiểm tra kế toán. Nội dung cụ thể của công tác này là :

    • Hằng ngày khi nhận được các chứng từ gốc, kế toán tiến hành thủ tục kiểm tra chứng từ, đảm bảo tính chính xác, hợp lý và hợp lệ của chứng

    từ, trên cơ sở đó phản ánh đúng, chính xác và đầy đủ các yếu tố chứng từ. Sau khi hoàn thành tốt việc kiểm tra chứng từ, cán bộ kế toán sẽ tiến hành nhập số liệu trên các chứng từ vào máy vi tính.

    • Sau khi nhập các thông tin vầo máy, kế toán cho hiển thị lại

    (Preview) các bản ghi như : Chứng từ ghi sổ, các sổ cái, các sổ chi tiết…. để

    kiểm tra lại tính chính xác, đầy đủ các thông tin được nhập vào.

    • Cuối tháng kế toán tiến hành khoá sổ kế toán bằng cách kích vào nút “Hệ thống” chọn “ Bút toán khoá sổ” . Trước khi lập Báo cáo tài chính có

    liên quan như : đối chiếu số liệu giữa kế toán tiền gửi ngân hàng với kế toán tiền mặt, đối chiếu giữa tài khoản tổng hợp với tàI khoản chi tiết có liên quan….

    Bên cạnh đó phòng kế toán của Công ty còn cử các cán bộ kế toán của mình đi đến các bộ phận kế toán của đơn vị khác để học hỏi kinh nghiệm của họ về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán. Trọng tâm của việc kiểm tra này là việc chấp hành các chính sách quản lý kinh tế tài chính của Công ty và các chính sách chế độ có thể lệ về tài chính kế toán của nhà nước, kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin kế toán do kế toán của các đơn vị trực thuộc cung cấp trên cơ sở chứng từ gốc, sổ kế toán các Báo cáo kế toán và quá trình nhập và xử lý số liệu. Các kết quả của quá trình kiểm tra đều được phản ánh vào báo cáo kiểm tra sau đó gửi về phòng kế toán của Công ty vào báo cáo lại với ban Giám đốc của Công ty. Căn cứ vào những nhận xét, đánh giá, kiện nghị của cán bộ kiểm tra, ban Giám đốc Công ty sẽ đề ra các

    24

    biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kế toán tại đơn vị cũng như kịp thời xử lý các sai phạm.

    Hiện nay, Công ty đang áp dụng kế toán máy, do đó việc lập Báo cáo tài chính cũng được tiến hành tương đối đơn giản. Cuối tháng, khi lập Báo cáo tài chính kế toán tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa các sổ kế toán có liên quan, sau đó kích nào nút “ Chứng từ” , trên thanh menu và chọn “ Bút toán kết chuyển” khi đó máy sẽ hiện ra báng kết chuyển, trong bảng này kế toán đã dặt sẵn một số bút toán kết chuyển thông thường, nếu trong kỳ mà có bút toán kết chuyển không nằm trong danh mục các bút toán kết chuyển này thì kế toán tiến hành nhập thêm vào, sau đó ấn nút “ Lưu” và ấn nút “ Kết chuyển”, lập tức máy sẽ tự động kết chuyển và sau đó kế toán tiến hành khoá sổ bằng cách kích vào nút “ Hệ thống” và chọn “ Bút toán khoá sổ”, khi đó máy sẽ tự động khoá sổ, lập các bảng tổng số phát sinh các tài khoản, Bảng tổng hợp chi tiết để kiểm tra, đối chiếu và lập các Báo cáo tài chính cuối kỳ. Khi cần xem, in các Báo cáo tài chính cuối quý, kế toán kích vào nút “ Báo biểu” trên thanh menu, sau đó chọn các báo cáo cần xem, in.

    B – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY.

    I/ Các vấn đề chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp.

    1. Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh

    Lao động là sự hao phí có mục đích thể lực và trí lực của người nhằm tác động vào các vật tự nhiên để tạo thành vật phẩm đáp ứng nhu cầu của con người hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh.

    Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh: Lao động là một trong 3 yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất. Do vậy, việc tổ chức tốt công tác hạch toán lao động (số lượng, thời gian, kết quả lao động) sẽ giúp

    25

    cho công tác quản lý lao động của doanh nghiệp đi vào nề nếp từ đó thúc đẩy công nhân viên chấp hành đúng kỷ luật, thưởng và trợ cấp BHXH theo đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đồng thời giúp cho việc quản lý quỹ lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được chặt chẽ đảm bảo việc trả lương và các khoản trợ cấp đúng chế độ chính sách, đúng đối tượng nhằm góp phần vào việc hạ giá thành sản phẩm.

    1. Phân loại lao động trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

    Lao động được chia theo các tiêu thức sau:

    • Phân loại lao động theo thời gian lao động: toàn bộ lao động của

    doanh nghiệp được chia thành các loại sau:

    • Lao động thường xuyên trong danh sách: Lao động thường xuyên trong danh sách là lực lượng lao động do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương gồm: công nhân viên sản xuất kinh doanh cơ bản và công nhân viên thuộc các hoạt động khác (gồm cả số hợp đồng dài hạn và ngắn hạn).
    • Lao động tạm thời tính thời vụ (lao động ngoài danh sách): là lực lượng lao động làm tại doanh nghiệp do các ngành khác chi trả lương như

    cán bộ chuyên trách đoàn thể, học sinh, sinh viên thực tập…

    • Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất:
    • Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các

    công việc nhiệm vụ nhất định.

    + Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    26

    • Phân loại lao động theo chức năng của lao động trong quá trình sản

    xuất kinh doanh

    + Lao động theo chức năng, sản xuất: bao gồm những lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ như: Công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên phân xưởng…

    + Lao động thực hiện chức năng bán hàng: là những lao động tham gia hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ như: nhân viên bán hàng, nghiên cứu thị trường…

    + Lao động thực hiện chức năng quản lý: là những lao động tham gia hoạt động quản trị kinh doanh và quản lý hành chính như: các nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính.

    Cách phân loại này có tác dụng giúp cho việc tập hợp chi phí lao động được kịp thời, chính xác phân định được chi phí và chi phí thời kỳ.

    1. Ý nghĩa, tác dụng của công tác quản lý lao động, tổ chức lao

    động.

    • Đối với doanh nghiệp: Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động, trên cơ sở đó tính đúng, chính xác thù lao cho người lao động, thanh

    toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan.

    • Đối với người lao động: quan tâm đến thời gian, kết quả lao động, chất lượng lao động, chấp hành kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động, góp phần tiết kiệm chi phí lao động sống, hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động.

    27

    1. Các khái niệm và ý nghĩa của tiền lương, các khoản trích theo

     

    lương.

    4.1. Các khái niệm

    • Khái niệm tiền lương:

    Tiền lương là biểu biện bằng tiền phần sản phẩm xã hội mà người chủ sử dụng lao động phải trả cho người lao động tương ứng với thời gian lao động, chất lượng lao động và kết quả lao động.

    • Khái niệm và nội dung các khoản trích theo lương
    • Bảo hiểm xã hội (BHXH):

    BHXH được sử dụng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng BHXH trong trường hợp họ mất khả năng lao động.

    Quỹ BHXH: được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương (gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp khác như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp thâm niên… của công nhân viên thực tế phát sinh trong tháng) phải trả cho cán bộ công nhân viên trong kỳ.

    Nội dung chi quỹ BHXH:

    • Trợ cấp cho công nhân viên nghỉ ốm đau, mất sức lao động, sinh

    đẻ.

    • Trợ cấp cho công nhân viên bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
    • Trợ cấp cho công nhân viên nghỉ mất sức.
    • Chi công tác quản lý quỹ BHXH
    • Bảo hiểm y tế (BHYT):

    28

    Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ BHYT trong các hoạt động chăm sóc và khám chữa bệnh.

    Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân viên.

    + Kinh phí công đoàn (KPCĐ):

    KPCĐ được trích lập để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo về quyền lợi cho người lao động.

    KPCĐ được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả cho công nhân viên trong kỳ.

    4.2. Ý nghĩa của tiền lương

    Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ… do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán tốt lao động, trên cơ sở đó tính đúng, chính xác thù lao cho người lao động, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan. Từ đó kích thích người lao động quan tâm đến thời gian, kết quả lao động, chất lượng lao động, chấp hành kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động, góp phần tiết kiệm chi phí lao động sống, hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động.

    4.3. Quỹ tiền lương

    • Khái niệm quỹ tiền lương

    Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương mà donah nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý.

    • Nội dung quỹ tiền lương:

    29

    Quỹ tiền lương của Doanh nghiệp gồm:

    • Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế

    (tiền lương thời gian và tiền lương sản phẩm).

    • Các khoản phụ cấp thường xuyên (các khoản phụ cấp có tính chất lương) như phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, làm thêm

    giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực…

    • Tiền lương trả cho công nhân trong thời gian ngừng sản xuất vì các nguyên nhân khách quan, thời gian hội họp, nghỉ phép…
    • Tiền lương trả cho công nhân làm ra sản phẩm hỏng trong phạm vi

    chế độ quy định.

    • Phân loại quỹ tiền lương trong hạch toán: chia làm 2 loại
    • Tiền lương chính: Là khoản tiền lương trả cho người lao động trong

    thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính, gồm tiền lương cấp bậc và khoản phụ cấp (phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ…).

    • Tiền lương phụ: Là khoản tiền lương trả cho người lao động trong

    thời gian họ thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ, như thời gian lao động, nghỉ phép, nghỉ tết, hội họp… được hưởng lương theo chế độ quyđịnh.

    1. Các chế độ tiền lương, trích lập và sử dụng KPCĐ, BHXH,

    BHYT.

    5.1. Chế độ Nhà nước quy định về tiền lương

    Các doanh nghiệp hiện nay thực hiện tuyển dụng lao động theo chế độ hợp đồng lao động. Người lao động phải tuân thủ những điều cam kết trong

    30

    hợp đồng lao động, còn doanh nghiệp phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong đó có tiền lương và các khoản khác theo quy định trong hợp đồng.

    Theo Điều 56 trong chương VI về “Tiền lương” của bộ luật lao động

    Việt Nam nhà nước quy định như sau:

    Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho mọi người lao động làm việc theo đơn giá làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được làm căn cứ tính các mức lương cho lao động khác Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định là 290.000đ/tháng.

    Chế độ của Nhà nước quy định về tiền lương: Trong chế độ XHCN thì “phân phối theo lao động” là nguyên tắc cơ bản nhất. Tiền lương về thực chất là tiền thuê lao động, là một trong các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Tiền lương phải đảm bảo ba yêu cầu sau:

    Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống

    vật chất, tinh thần cho người lao động. Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.

    Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.

    Để phản ánh đầy đủ những yêu cầu trên, chính sách quản lý tiền lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    • Trả công ngang nhau cho lao động như nhau

    Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau nghĩa là khi quy định các chế độ tiền lương nhất thiết không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc

    Người sử dụng lao động không được trả công cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, phải trả công ngang nhau cho những lao động như nhau nếu kết quả lao động và hiệu quả như nhau trong cùng một đơn vị làm việc.

    31

    • Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việc các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
    • Trình độ lành nghề bình quân của những lao động ở mỗi ngành khác nhau thì phương thức tổ chức tiền lương cũng khác nhau.
    • Những người làm việc trong các ngành nặng nhọc tổn hao nhiều năng lượng

    phải được trả lương cao hơn so với những người làm việc trong điều kiện bình thường để bù đắp lại sức lao động đã hao phí.

    • Sự phân bố khu vực sản xuất của mỗi ngành khác nhau cũng ảnh hưởng đến

    mức tiền lương do điều kiện sinh hoạt chênh lệch.

    Tóm lại nội dung cơ bản của quản lý tiền lương có hiệu quả là xác định được những chế độ và phụ cấp lương cũng như tìm được các hình thức trả lương thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người lao động.

    Các chế độ quy định về

    • Lương ngoài giờ = Lương cơ bản x Số công làm việc thực tế x 150%

     

    • Lương Chủ nhật = Lương cơ bản x Số công là việc thực tế x hệ

    số kinh doanh (nếu có)

    • Lương phép = Lương cơ bản x Số công làm việc thực tế

     

    • Lương lễ = Lương cơ bản x Số công lễ

    5.2. Chế độ Nhà nước quy định về các khoản tính trích theo tiền lương

    • Căn cứ để tính trích : KPCĐ , BHXH , BHYT
    • Kinh phí công đoàn : Trích lập để phục vụ hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo bảo vệ quyền lơi người lao động
    • Bảo hiểm xã hội : Được sử dụng để trợ cấp cho người lao động có

    tham gia đóng BHXH trong trường hợp mất khả năng lao động.

    32

    • Bảo hiểm y tế : Được trích lập để tài trợ người lao động có tham gia đóng góp quỹ BHYT trong các hoạt động chăm sóc, khám chữa bệnh.
    • Tỷ lệ trích BHXH, BHYT và KPCĐ

    + BHXH: Theo chế độ hiện hành, hàng tháng Doanh nghiệp phải trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong tháng, 15% tính vào chi phí sản xuất, 5% trừ vào thu nhập người lao động.

    Theo chế độ hiện hành, toàn bộ số trích BHXH nộp lên cơ quan BHXH quản lý.

    + BHYT: Theo chế độ hiện hành, DN trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên, trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, người lao động đóng góp 1% thu nhập, DN tính trừ vào lương của người lao động.

    Theo chế độ hiện hành, toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan quản lý chuyên trách để mua thẻ BHYT.

    • KPCĐ: Theo chế độ hiện hành, hàng tháng DN trích 2% tổng số tiền lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong tháng và tính vào chi phí sản

    xuất kinh doanh. Trong đó 1% số đã trích nộp cơ quan công đoàn cấp trên, phần còn lại chi tại công đoàn cơ sở.

    5.3. Chế độ tiền ăn giữa ca :

    Công ty quy định tiền ăn giữa ca của CNV là 5000đ/người

    5.4. Chế độ tiền thưởng quy định :

    Ngoài tiền lương, công nhân có thành tích tốt trong công tác còn được hưởng khoản tiền thưởng. Việc tính toán tiền thưởng căn cứ vào sự đóng góp của người lao động và chế độ khen thưởng của Doanh nghiệp.

    33

    • Tiền thưởng thi đua chi bằng quỹ khen thưởng, căn cứ vào kết quả

    bình xét thành tích lao động.

    • Tiền thưởng sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm phải căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định, được tính vào chi phí SXKD
    1. Các hình thức tiền lương
    1. Hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động

    6.1.1. Khái niệm hình thức tiền lương trả theo thời gian lao động

    Tiền lương thời gian: là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật hoặc chức danh và thang bậc lương theo quy định.

    6.1.2. Các hình thức tiền lương thời gian và phương pháp tính lương

    Hình thức tiền lương giản đơn: Là tiền lương được tính theo thời

    gian làm việc và đơn giá lương thời gian.

    Tiền lương giản đơn gồm:

    Tiền lương Thời gian làm Đơn giá tiền lương  
    (hay mức lương thời  
    = x
    thời gian việc thực tế gian)  
       
    • Tiền lương tháng: Là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động hoặc trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định

    gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực…

    (nếu có).

    Tiền lương tháng chủ yếu được áp dụng cho công nhân viên làm công tác quản lý hành chính, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên thuộc ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. Tiền lương tháng gồm tiền lương chính và các khoản phụ có có tính chất tiền lương.

    34

    Tiền lương chính là tiền lương trả theo ngạch bậc tức là căn cứ theotrình độ người lao động, nội dung công việc và thời gian công tác. Được tính theo công thức (Mi x Hj )

    Mi           =           Mn       x     Hi     +         PC

    Trong đó: – Hi: Hệ số cấp bậc lương bậc i

    • Mn: Mức lương tối thiểu
    • Phụ cấp lương (PC) là khoản phải trả cho người lao động chưa được tính vào lương chính.

    Tiền lương phụ cấp gồm 2 loại:

    Loại 1: Tiền lương phụ cấp = Mn x hệ số phụ cấp

    Loại 2: Tiền lương phụ cấp = Mn x Hi x hệ số phụ cấp

    • Tiền lương tuần: Là tiền lương trả cho một tuần làm việc
    Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng  
       
    phải trả    
    52 tuần  
     
       

    Tiền lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và là căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên, trả lương cho cán bộ công nhân viên những ngày hội họp, học tập và lương hợp đồng.

    Tiền lương tháng

    Tiền lương ngày         =

    Số ngày làm việc theo chế độ quy định trong tháng

    • Tiền lương giờ: Là tiền lương trả cho 1 giờ làm việc, làm căn cứ để

    phụ cấp làm thêm giờ.

    35

    Tiền lương ngày

    Tiền lương giờ                      =

    Số ngày làm việc theo chế độ (8h)

    6.1.3.Lương công nhật: Là tiền lương tính theo ngày làm việc và mức tiền lương ngày trả cho người lao động tạm thời chưa xếp vào thang bậc lương.

    Hình thức tiền lương có thưởng: Là kết hợp giữa hình thức tiền lương giản đơn và chế độ tiền thưởng trong sản xuất.

    Tiền lương thời Tiền lương thời gian Tiền thưởng có
    = giản đơn +
    gian có thưởng tính chất lương

    Ưu điểm và nhược điểm của hình thức tiền lương thời gian:

    • Ưu điểm: Đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tính toán đơn giản,

    có thể lập bảng tính sẵn.

    • Nhược điểm: Hình thức tiền lương thời gian chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động.

    6.2.     Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm

    6.2.1. Khái niệm hình thức trả theo sản phẩm

    Khái niệm: Hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là hình thức tiền lương trả cho người lao động tính theo số lượng sản phẩm, công việc, chất lượng sản phẩm hoàn thiện nghiệm thu đảm bảo chất lượng quy dịnh và đơn giá lương sản phẩm.

    6.2.2. Phương pháp xác định mức lao động và đơn giá tiền lương

    Đối với phương pháp xác định mức lao động kế toán phải tính từng người lao động, trong trường hợp tiền lương trả theo sản phẩm đã hoàn thành

    36

    là kết quả của tập thể người lao động thì kế toán chia lương phải trả cho từng người lao động.

    Đơn giá tiền lương sản phẩm áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm gọi là lương sản phẩm.

    6.2.3. Các phương pháp trả lương theo sản phẩm

    Tiền lương sản phẩm trực tiếp: là hình thức trả lương cho người lao động tính theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và

    đơn giá tiền lương sản phẩm.

    Đơn giá tiền

    Khối lượng

    Tiền lương sản phẩm             =                                                  x                 lương sản phẩm

    SPHT

    Tiền lương sản phẩm gián tiếp: được áp dụng đối với công nhân

    phục vụ

    cho công nhân chính như bảo dưỡng máy móc thiết bị v.v…

    Tiền lương sản Đơn giá tiền lương Số lượng sản phẩm
    = x
    phẩm gián tiếp gián tiếp  

    Tiền lương sản phẩm có thưởng: là sự kết hợp giữa hình thức tiền lương sản phẩm với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.

    Tiền lương sản phẩm luỹ tiến: là hình thức tiền lương trả cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền thưởng tính theo

    tỷ lệ luỹ tiến, căn cứ vượt định mức lao động đã quy định.

    Tổng tiền Đơn giá Số lượng Đơn giá Số lượng Tỷ lệ
    lương sản =  lương sản  x SP đã hoàn  + lương x   sp vượt   x tiền
    phẩm luỹ phẩm thành SP kế hoạch lương

    37

    tiến                                                                                                                                                        luỹ tiến

    Tiền lương khoán khối lượng , khoán công việc : áp dụng cho

    những công việc đơn giản , công việc có tính chất đột xuất như khoán bốc vác, vận chuyển NVL thành phẩm …

    Tiền lương cho sản phẩm cuối cùng : áp dụng cho từng bộ phận sản

    xuất.

    Tiền lương trả theo sản phẩm tập thể : áp dụng đối với các doanh

    nghiệp mà kết quả là sản phẩm của cả tập thể công nhân.

    Trường hợp tiền lương sản phẩm là kết quả của tập thể công nhân ,kế toán phải chia lương cho từng công nhân theo 3 phương pháp sau :

    Phương pháp 1: Chia lương sản phẩm theo thời gian làm việc thực tế

    và trình độ cấp bậc kỹ thuật của công việc

    Công thức :

    Li   n Lt xTiHi
     

    TiHi

    • 1

    Trong đó :

    Li : Tiền lương sản phẩm của CNi

    Ti : Thời gian làm việc thực tế của CNi

    Hi : Hệ số cấp bậc kỹ thuật của Cni

    Lt : Tổng tiền lương sản phẩm tập thể

    • : Số lượng người lao động của tập

    38

    Phương pháp 2: Chia lương theo cấp bậc công việc, thời gian làm việc kết hợp với bình công, chấm điểm : áp dụng với điều kiện cấp bậc kỹ

    thuật của công nhân không phù hợp với cấp bậc kỹ thuật công việc do điều kiện sản xuất có sự chênh lệch rõ rệt về năng suất lao động trong tổ hoặc nhóm sản xuất.Toàn bộ tiền lương được chia thành 2 phần . Chia theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc thực tế của mỗi người, chia theo thành tích trên cơ sở bình công chấm điểm mỗi người.

    Phương pháp 3: Chia lương bình công chấm điểm áp dụng trong các trường hợp CN làm việc có kỹ thuật giản đơn , công cụ thô sơ, năng suất lao động chủ yếu do sức khoẻ và thái độ lao động của người lao động. Sau mỗi

    ngày làm việc, tổ trưởng phải tổ chức bình công chấm điểm cho từng người lao động. Cuối tháng căn cứ để chia lương.

    1. Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
    • Tổ chức ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng,

    chất lượng, thời gian và kết quả lao động. Tính đúng, thanh toán kịp thời đầy đủ tiền lương và các khoản khác có liên quan đến thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp. Kiểm tra tình hình huy động và sử dụng tiền lương trong doanh nghiệp, việc chấp hành chính sách và chế độ lao động tiền lương, tình hình sử dụng quỹ tiền lương.

    • Hướng dẫn kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ, thẻ kế

    toán và hạch toán lao động tiền lương đúng chế độ tài chính hiện hành.

    • Tính toán và phân bổ chính sách, đúng đối tượng sử dụng lao động về

    chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận của các đơn vị sử dụng lao động.

    39

    • Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động trong doanh nghiệp ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ chính sách về lao động,

    tiền lương.

    1. Trích trước tiền lương nghỉ phép công nhân sản xuất trực tiếp

    Tại các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ, để tránh sự biến động của giá thành sản phẩm, kế toán thường áp dụng phương pháp trích trước chi như một khoản chi phí phải trả.

    Cách tính như sau:

    Trích trước     Tiền lương chính      
    tiền lương   = thực tế phải trả X Tỷ lệ trích
    phép kế hoạch CNTTSX trong trước
    của CNTTSX   tháng      
    Trong đó:          
    Tỷ lệ     Tổng số lương phép KH năm của CNTTSX    
    trích =         x  100
           
    trước     Tổng số lương chính KH năm của CNTTSX    

    Cũng có thể trên cơ sở kinh nghiệm nhiều năm, doanh nghiệp tự xác định một tỷ lệ trích trước lương phép kế hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất một cách hợp lý.

    1. Kế toán chi tiết tiền lương và khoản trích theo lương

    Tính lương và trợ cấp BHXH

    Nguyên tắc tính lương: Phải tính lương cho từng người lao động. Việc tính lương, trợ cấp BHXH và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp.

    40

    Căn cứ vào các chứng từ như “Bảng chấm công” ; “Bảng thanh toán tiền lương” ; “Bảng trợ cấp bảo hiểm xã hội”. Trong các trường hợp cán bộ

    công nhân viên ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… đã tham gia đóng BHXH thì

    được hưởng trợ cấp BHXH.

    Số BHXH Số ngày nghỉ Lương cấp bậc Tỷ lệ % tính
    = tính BHXH x x
    phải trả bình quân / ngày BHXH

    Trường hợp ốm đau, tỷ lệ trích là : 75% tiền lương tham gia đóng BHXH

    Trường hợp thai sản, tai nạn lao động tỷ lệ trích là: 100% tiền lương tham gia đóng BHXH.

    + Căn cứ vào các chứng từ “ Phiếu nghỉ hưởng BHXH , Biên bản điều tra tai nạn lao động ”, Kế toán tính ra trợ cấp BHXH phải trả công nhân viên và phản ánh vào “ Bảng thanh toán BHXH ”

    + Đối với các khoản tiền thưởng của công nhân viên Kế toán cần tính toán và lập bảng “ thanh toán tiền thưởng ” để theo dõi và chi trả theo chế độ quy định. Căn cứ vào “Bảng thanh toán tiền lương ” của từng bộ phận để chi trả thanh toán lương cho công nhân viên đồng thời tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng lao động, tính BHXH, BHYT, KPCĐ theo chế độ tài chính quy định. Kết quả tổng hợp, tính toán được phản ánh trong “ Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương ”.

    Nếu Doanh nghiệp trả lương cho công nhân viên thành 2 kỳ thì số tiền lương trả kỳ I (thường khoảng giữa tháng) gọi là số tiền lương tạm ứng. Số tiền cần thiết để trả lương kỳ II được tính theo công thức sau:

    Số tiền Tổng số thu   Các khoản khấu
    phải trả   = nhập của Số tiền tạm ứng
    –   trừ vào thu nhập
    cho CNV CNV   lương kỳ I
      của CNV

    41

    1. Kế toán tổng hợp tiền lương, KPCĐ, BHXH, BHYT.
    1. Các tài khoản chủ yếu sử dụng

    TK 334 – Phải trả công nhân viên (PTCNV); TK 335 Chi phí phải trả; TK 338- phải trả phải nộp khác

    • TK 334 – Phải trả công nhân viên: Dùng để phản ánh các khoản thanh

    toán cho CNV của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH vàcác khoản phải trả khác về thu nhập của CNV.

    Bên Nợ:

    • Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng, BHXH và các khoản khác đã trả, chi, đã ứng trước cho CNV.
    • Các khoản khấu trừ lương (tiền công) CNV

    Bên Có:

    Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng, BHXH và các khoản khác phải trả, phải chi cho CNV.

    Số dư bên có: Các khoản tiền lương (tiền công), tiền thưởng và các khoản khác phải chi cho CNV.

    Trường hợp TK 334- Phải trả CNV có số dư bên nợ, phản ánh số tiền đã trả thừa cho CNV.

    • Tài khoản 335- Chi phí phải trả

    Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản được ghi nhận là chi phí hoạt động, sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa phát sinh, mà sẽ phát sinh trong kỳ này hoặc trong nhiều kỳ sau. Nội dung, kết cấu cụ thể:

    42

    Tài khoản 335- Chi phí phải trả

    Bên Nợ:

    • Các khoản chi phí thực tế phát sinh đã tính vào chi phí phải trả
    • Phản ánh số chênh lệch về chi phí phải trả lớn hơn số chi phí thực tế được ghi giảm chi phí.

    Bên Có:

    • Phản ánh chi phí phải trả dự tính trước và ghi nhận vào CPSXKD.
    • Số chênh lệch giữa chi phí thực tế lớn hơn số trích trước

    Số dư cuối kỳ bên Có:

    Phản ánh chi phí phải trả đã tính vào chi phí hoạt động SXKD.

    • Tài khoản 338- Phải trả phải nộp khác: được dùng để phản ánh tình hình thanh toán các khoản phải trả, phải nộp khác ngoài nội dung, đã được phản

    ánh ở các tài khoản khác (từ TK 331 đến TK 336).

    Nội dung phản ánh trên các TK này: Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính vào chi phí SXKD và BHYT trừ vào thu nhập của CNV được phản ánh vào bên có. Tình hình chỉ tiêu sử dụng KPCĐ, tính trả trợ cấp BHXH cho CNV và nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý cấp trên được phản ánh vào bên có.

    TK 338 có các TK cấp 2 sau:

    • TK 3381 – Tài sản chờ giải quyết
    • TK 3382 – Kinh phí công đoàn
    • TK 3383 – Bảo hiểm xã hội

    43

    • TK 3384 – Bảo hiểm y tế
    • TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện
    • TK 3338 – Phải trả phải nộp khác

    Ngoài các tài khoản trên kế toán tiền lương và BH, KPCĐ còn liên quan đến TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 627 “Chi phí sản xuất

    chung”.

    10.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu

    Giải thích sơ đồ:

    1. Tính tiền lương, các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả

    cho CNV

    1. Tính trước tiền lương nghỉ phép CNV
    1. Tiền thưởng phải trả CNV

    3.1. Tiền thưởng có tính chất thường xuyên (thưởng NSLĐ…)

    3.2. Thưởng CNV trong các kỳ sơ kết, tổng kết… tính vào quỹ khen thưởng

    1. Tính tiền ăn ca phải trả CNV
    1. BHXH phải trả CNV (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động)
    1. Trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí sản xuất
    1. Các khoản khấu trừ vào tiền lương phải trả CNV (tạm ứng BHYT…)
    1. Tính thuế thu nhập của người lao động
    1. Trả tiền lương và các khoản phải trả CNV
    1. Số tiền tạm giữ CNV đi vắng
    1. Trường hợp trả lương cho CNV bằng sản phẩm, hàng hoá
    1. Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị
    1. Chuyển tiền BHXH, BHYT, KPCĐ cho cơ quan quản lý chức năng

    theo chế độ

    1. Cơ quan BHXH thanh toán số thực chi cuối quý

    44

    SƠ ĐỒ TỔNG HỢP KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG CÁC KHOẢN TRÍCH

    THEO LƯƠNG

    TK 141,138, 338                                             TK334                                                 TK 622, 623

    (7)                                                        (1),(4),(3.1)

    TK 333 (3338)

    (8)

    45

     

    TK 333(3338) TK 335
               
      (10)   (2)
               

    TK 431

    TK 512

    TK 3331(33311)

    ( 3.2) TK 627, 641, 642

    (11)

    TK 338

    TK 111, 112 (6)

    (9)

    (5)

    (12), (13)

    (14)

    II/ Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    1. Công tác tổ chức và quản lý lao động tại Doanh nghiệp

    Hiện nay, Công ty Mặt Trời Việt là một Công ty phát triển. Việc sử

    dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm về chi phí lao động. Vì thế Công

    ty Mặt Trời Việt gồm có các nhân viên như sau:

    • Giám đốc : 1 người
    • Phó Giám đốc : 2 người
    • Phòng kỹ thuật : 28 người
    • Phòng Hành Chính : 3 người
    • Phòng Kế toán : 5 người
    • Phòng Dịch vụ : 5 người

    46

    Mỗi nhân viên điều có trách nhiệm những công việc khác nhau vì thế dưới đây là bảng công nhân viên của Công ty Mặt Trời Việt.

    Bảng danh sách nhân viên của Công ty Mặt Trời Việt

    TT Đơn vị Tổng số DH NH Ghi chú
    1 Ban lãnh đạo 2 x    
    2 Phòng hành chính 4 x    
    3 Phòng dịch vụ 5   x  
    4 Phòng tổ chức lao động tiền lương 6   x  
    5 Phòng kỹ thuật 28   x  
    1. Nội dung quỹ tiền lương và thực tế quản lý quỹ tiền lươngcủa

    doanh nghiệp.

    2.1. Nội dung quỹ tiền lương.

    Quỹ tiền lương của doanh nghiệp

    -Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế (Tiền lương thời gian và tiền lương sản phẩm).

    -Các khoản phụ cấp thường xuyên ( các khoản phụ cấp có tính chất lương như phụ cấp học nghề, phụ cấp trách nhiệm…)

    -Tiền lương trả cho công nhân trong thời gian ngừng sản xuất vì các nguyên nhân khách quan, thời gian hội họp, nghỉ phép….

    2.2. Thực trạng công tác quản lý lao động và kế toán tiền lương, các

    khoản trích theo lương.

    • Quản lý lao động và tiền lương là một nội dung quan trọng. Trong

    công tác quảnt lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, Công ty

    Mặt Trời Việt đang quản lý lao động theo 2 loại bao gồm:

    • Lao động dài hạn gồm Giám đốc, phó Giám đốc và Kế toán trưởng.
    • Lao động ngắn hạn gồm tất cả các công nhân còn lại trong Công ty. *Hình thức trả lương của Công ty Mặt Trời Việt

    Hiện nay, Công ty đang áp dụng một hình thức trả lương chính. Đó là

    trả lương theo thời gian mà cụ thể là hình thức trả lương theo tháng.

    47

    Việc xác định tiền lương phải trả cho người lao động căn cứ vào hệ số mức lương, cấp bậc, chức vụ và phụ cấp trách nhiệm.

    Ngoài ra, tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, nên Công ty đạt được mức doanh thu theo chỉ tiêu, kế hoạch đề ra, thì các công nhân trong Công ty sẽ được hưởng thêm một hệ số lương của Công ty. Có thể là 1,5 hoặc 2 tuỳ theo mức lợi nhuận đạt được.

    Thời gian để tính lương và các khoản khác phải trả cho ngưòi lao động là theo tháng.

    Ví dụ :

    Anh Lại Việt Cường, truởng phòng Hành chính của Công ty có hệ

    số lương là 3,94; phụ cấp trách nhiệm là 0,2. Ngoài ra, do hoạt động kinh doanh năm 2002 đạt lợi nhuận cao, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đề ra nên toàn bộ công nhân viên trong Công ty được hưởng thêm một hệ số lương của Công ty là 2. Vậy mức lương tháng 3/2003 của Công ty Anh Cường sẽ là :

    ( 3,94 + 0,2 + 2) x 290.000đ = 598764

    *Chế độ thanh toán BHXH trả thay lương tại Công ty Mặt Trời Việt. Công ty thực hiện đúng chế độ hiện hành của Nhà nước như trong trường hợp nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn rủi ro có xác nhận của cán bộ y tế. Thời gian nghỉ lương BHXH sẽ căn cứ như sau:

    Nếu làm việc trong điều kiện bình thường mà có thời gian đóng

    • Dưới 15 năm sẽ được nghỉ 30ngày/năm
    • Từ 15 năm đến 30 năm được nghỉ 40 ngày/ năm
    • Trên 30 năm được nghỉ 50 ngày/năm.

    Nếu làm việc trong môi trường độc hại, nặng nhọc, nơi có phụ cấp khu

    vực hệ số 0,7 thì được nghỉ thêm 10 ngày so với mức hưởng ở điều kiện làm việc bình thường.

    Nếu bị bệnh dài ngày với bệnh đặc biệt được bộ y tế ban hành thì thời

    gian nghỉ hưởng BHXH, không quá 180 ngày/năm.

    48

    Tỉ lệ hưởng BHXH trong trường hợp này được hưởng 75% lương cơ

    bản .

    *Thực tế công tác kế toán tiền lương tại Công ty:

    Với công thức tính lương BHXH trả thay lương như sau

    Mức lương BHXH = Mức lương cbản x  Số ngày nghỉ  x tỉ lệ hưởng

    trả thay lương                         26 ngày               hưởng BHXH            BHXH

    Ví dụ :

    Trong tháng 3/2004 Anh Phí Anh Dương là nhân viên thuộc phòng kỹ thuật của Công ty bị bệnh có xác nhậ của bác sĩ. Theo bảng chấm công số ngày công thực tế của anh là 6 ngày anh nghỉ ốm 7. Mức lương cơ bản của anh là 2,98. Theo chế độ hiện hành thì anh được hưởng mức lương BHXH trả thay lương như sau:

    Số tiền BHXH trả = 2,98 x 290.000   x  7 x 75% = 203.000
    thay lương 26 ngày  

    Vậy Anh Dương sẽ được hưởng mức lương BHXH trả thay lương tháng là : 203.000đ

    3.Hạch toán lao động và tính lương, trợ cấp BHXH

    3.1.Hạch toán lao động

    Hạch toán lao động là việc thanh toán lao động với mỗi cán bộ công nhân viên ở từng bộ phận. Để phản ánh đúng, kịp thời tình hình sủ dụng lao động kế toán tiền lương ở Công ty Mặt Trời Việt sử dụng “Bảng chấm công”.

    Bảng này hàng tháng do các cán bộ được phân công trực tiếp theo dõi thời gian lao động thực tế (ngày công, giờ công) của công nhân viên trong Công ty.

    Cụ thể trong tháng 3 năm 2003 có bảng chấm công quý I của phòng

    Hành chính như sau:

    Biểu số 1:

    Đơn vị : Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ phận : Phòng Hành chính

    49

    BẢNG CHẤM CÔNG

    Tháng 3 năm 2004

                      Mẫu số : 01 – LĐTL
                                 
    TT Họ và tên Cấp   Ngày trong tháng     Quy ra công
        bậc               Số          
        lương 1   2 ….   30 31 công          
        hoặc               hưởng …. …. …. ….
        cấp bậc               lương          
        chức vụ                          
    A B C 1   2 ….   30 31 32   33 34 35 36
      Nguyễn Thị Hoa 2,74 x   x ….   x x     22      
      Vũ Thanh Hằng 2,26 x   x ….   x x     22      
      Lại Việt Cường 2,26 x   x ….   x x     22      
      Đào Thuỷ Linh 2,06 x   x ….   x x     22      
      ………………         ….                  
                                   
                                   
      Cộng                            
    Người duyệt Phụ trách bộ phận   Người chấm công
      (ký, họ tên)   (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    *Hàng tháng để hạch toán kết quả lao động, kế toán dựa trên các chứng từ báo cáo về kết quả sản xuất ở các phòng ban như : “Bảng theo dõi công tác ở tổ “giấy báo ca”, “phiếu giao nhận sản phẩm”, “phiếu khoán”, “hợp đồng giao khoán”, “phiếu báo làm thêm giờ”. Các chứng từ đó là các báo cáo về kết quả sản xuất tổ trưởng ký, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận.

    Chứng từ này được chuyển cho phòng kế toán để làm căn cứ tính lương, tính thưởng.

    Cuối tháng, Kế toán lập phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành. Ví dụ : Tại phòng Kinh doanh của Công ty Mặt Trời Việt

    Biểu số 02:

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOẶC

    CÔNG VIỆC HOÀN THÀNH

    50

    Tên đơn vị : Công ty Mặt Trời Việt

    Bộ phận : Phòng kỹ thuật

    Theo hợp đồng số…../HĐKT/13-HD. Ngày 02 tháng 02 năm 2004

    STT Tên sản phẩm (công Đơn vị Số Đơn giá   Thành tiền   Ghi
      việc)   tính lượng         chú
    A B   C 1 2   3   D
    1 Máy tính Malaisia Bộ 5 7.200.000   360.000.000    
    2 Màn hình LG Chiếc 10 3.450.000   34.550.000    
      Cộng   x x x   70.550.000   x
      Tổng số tiền (Viết bằng chữ): Bảy mươi triệu năm trăm năm mươi  
    nghìn đồng chẵn.                
    Người giao việc Người nhận việc Người kiểm tra Người chuyển  
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)   (Ký, họ tên)  

    Biểu số 3:

    PHIẾU NGHỈ HƯỎNG BẢO HIỂM XÃ HỘI

    Họ và tên : Phí Anh Dương – Tuổi 29   Số : 04  
                     
    Tên cơ Ngày   Số ngày nghỉ Y bác Số Xác
    quan y tháng do       sĩ ký ngày nhận của
    tế năm   Tổng Từ ngày Đến hết tên thực phụ
          số     đóng nghỉ trách bộ
                dấu   phận
    A 1 B 2 3 4 C 5 D
    BHYT 15/3/2004 Nghỉ 7 15/3/2004 23/3/2004   7  
    Hà Nội   ốm            

    51

    Phần thanh toán

    Số ngày nghỉ   Lương bình % tính BHXH Số tiền hưởng
    tính BHXH   quân 1 ngày   BHXH
             
    1   2 3 4
             
    7 ngày   29.000 100% 203.000
           
    Trưởng ban BHXH Ngày 23 tháng 06 năm 2004
    ( ký, họ tên)      

    -Hợp đồng giao khoán (Mẫu số 03 – LĐTL) là hợp đồng lao động giữa người sử dụng và đại diện người lao động giao khoán.

    Biểu số 04:

    BẢNG HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

      Nội dung công Khối lượng   Thời gian   Chất  
    TT việc Giao Thực Đơn giá Giao Thực   lượng Thành tiền
          hiện     hiện   đạt  
                    100%  
    1 Bán một dàn máy 01 01 5.000.000 4,5 4,5   100% 5.000.000
      tính                
    2 Vận chuyển thiết 30 30 10.000.000 5,5 5,5   100% 300.000
      bị đến công trình                
    3 Lắp đặt một ổ chức 01 01 1.000.000 01 01   100% 1.000.000
      CV                
      Cộng     16.000.000         6.300.000
      Bên giao khoán         Bên nhận khoán
      (ký)           (ký)  

    52

    • Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH mẫu số (04 – BHXH) trợ cấp BHXH chỉ được BHXH cấp trên quyết toán cuối năm, song hàng

    tháng đều có số công nhân viên bị ốm…

    Biểu số 05 :

    DANH SÁCH NGƯỜI LAO ĐỘNG HƯỞNG TRỢ CẤP BHXH

        Lương Thời Đơn vị đề nghị Cơ quan BHXH xét duyệt
    TT Họ và tên tháng gian Số ngày nghỉ   Số ngày nghỉ  
        đóng đóng Trong Luỹ Tiền trợ Trong kỳ Luỹ kế Tiền trợ
        BHXH BHX kỳ kế đầu cấp     cấp
          H   năm        
    1 Nguyễn Thị Hoa 396.750 22     91.473 3 20 91.473
    2 Vũ Thanh Hằng 396.700 22     95.400 7 30 95.400
      Cộng 793.450       186.873     186.873

    Cuối tháng, kế toán tại Công ty lập danh sách tiền thưởngcho toàn Công ty phụ thuộc vào bậc lương và xếp loại thưởng của Công ty.

    Biểu số 06 :

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN THƯỞNG

    Tháng 03 năm 2004

    TT Họ và tên Bậc   Mức lương   Ghi chú
        lương        
        1 2 3 4
                 
    1 Nguyễn Duy Minh 3,48 A 300.000    
                 
    2 Trần Văn Lâm 2,02 B 200.000    
                 
    3 Vũ Thanh Hằng 1,78 B 100.000    
                 
    4 Lại Việt Cường 1,78 A 200.000    
                 
      ……………….          
                 
      Cộng     800.000    
                 

    Ngày…tháng…năm…..

    53

    Kế toán

    Kế toán trưởng

     

    (ký, họ tên)

    (ký, họ tên)

    3.2.Trình tự tính lương BHXH phải trả và tổng số lương

    Hiện nay, Công ty Mặt Trời Việt đang áp dụng hình thức trả lương theo thời gian đối với tất cả công nhân viên trong toàn Công ty và đuợc hạch toán trực tiếp cho từng loại công nhân viên.

    Công ty cũng áp dụng hình thức trả lương này cho những mức tiền lương cụ thể trong mỗi tháng cho công nhân viên làm công việc đơn giản như bảo vệ….

    Có bảng thanh toán lương cơ bản của cán bộ công nhân viên phòng Hành chính để thấy rõ hơn phương thức trả lương theo thời gian mà Công ty áp dụng để trả lương cho cán bộ công nhân viên.

    Lương cơ bản = 290.000 x Hệ phụ cấp x (số ngày làm việc) + phụ cấp

    22

    Ví dụ :

    Anh Việt Cường đi làm đủ công, không vi phạm gì sẽ có lương cơ bản

    là :

    Lương cơ bản = 290.000 x 1,5 x 21 + 19,728 = 415.247
         
         

    22

    Trong đó : Phụ cấp của Anh Cường là 19.728.

    Hiện tại, Công ty cũng áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng. Về hình thức trả lương này, thì Công ty dựa trên cơ sở khoán doanh thu và khối lượng nhiệm vụ của từng đơn vị hay chính chất lượng công tác của mỗi đơn vị. Căn cứ khối lượng sản phẩm hoàn thành đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quy định được theo dõi ở phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành. (MS 06-LĐTL) và đơn giá tiền lương kế toán tính lương cho từng nhân viên trong Công ty, ví dụ như:

    54

    Anh Lê Văn Hải sẽ có phần lương khoán cá nhân lương theo sản phẩm

    có thưởng là :      
    LKCK =  Quỹ LKT  x Hkcl = 7.426.980 x 363  = 1.231.600
               
      Tổng Hkcl 2.189  
               

    Như trong tháng này tổng lương Anh Hải được lĩnh là:

    TCN = LCB + LKCN = 512.928 + 1.237.830 = 1.750.758 Sau đây là hệ số chức danh để xác định lương khoán tại Công ty.

    Biểu số 07:

    HỆ SỐ CHỨC DANH THEO CÔNG VIỆC

    CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    Loai lao động Hệ số chức danh
       
    Chuyên viên 1 1,65
    Chuyên viên 2 1,45
    Cán sự 1 1,45
    Cán sự 2 1,35
       

    3.3.Trình tự tính lương, BHXH phải trả và tổng số liệu

    *Căn cứ vào chứng từ hạch toán về thời gian lao động và chế độ tiền lương trả theo thời gian áp dụng trong Công ty để tính lương thời

    gian và các khoản phụ cấp phải trả cho một số người lao động điển hình có tên trong bảng chấm công.

    55

    Biểu số 08 :

    Đơn vị : Công ty Mặt Trời VIệt

    Bộ phận : Kỹ thuật

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    Tháng 05 năm 2004

            Lương thời gian   Phụ   Các khoản trừ Số còn lĩnh
    TT   Họ và tên Bậc lương Số   Hệ cấp Cộng Tạm ứng      
      Tiền trách   Kỳ II  
            công số lương lương kỳ I BHXH Ăn ca
              nhiệm  
                           
    1   Nguyễn Thị Hoa 870.500 21 752.230 1,5 24.000 1.570.275 500.000 46.656 459.275 150.000
                             
    2   Vũ Thanh Hằng 754.400 21 721.018 1,5 13.000 890.027 500.000 32.184 39.843 150.000
                             
    3   Lại Việt Cường 290.000 21 415.247 1,5 19.728 636.247 300.000 30.800 223.999 150.000
                             
    4   Đào Thuỷ Linh 392.400 21 375.586 1,5 18.000 579.845 200.000 23.544 206.300 150.000
                             
                  74.728 3.679.394 1.500.000   1.288.417 600.000
                           
    Kế toán thanh toán           Kế toán trưởng      
      (ký, họ tên)           (ký, họ tên)      

    55

    55

    *Căn cứ vào khối lượng sản phẩm hoàn thành dảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quy định được theo dõi bởi phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành (Mẫu số 06 – LĐTL) và đơn giá tiền lương sản phẩm là sản xuất ra một sản phẩm áp dụng trong Công ty để tính tiền lương sản phẩm cho công nhân sản xuất.

    TIỀN LƯƠNG PHẢI TRẢ CHO CÔNG

    NHÂN SẢN XUẤT

    Tên cá nhân : Nguyễn Duy Minh

    STT Tên công việc ĐVT   Số Đơn giá Thành tiền Ghi
              lượng       chú
    A B   C   1 2   3  
    1 Lắp đặt 1 bộ máy Chiếc   1 5.000.000 5.000.000  
      Cộng           5.000.000  
    Tổng số tiền (Viết bằng chữ) : Năm triệu đồng      
    Người giao việc Người nhận việc Người kiểm tra Người duyệt
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)   chất lượng   (ký, họ tên)
                (ký , họ tên)      

    *Cách tính tiền thưởng của doanh nghiệp

    Căn cứ vào bảng thanh toán tiền thưởng đã nêu trên

    Ví dụ :

    Tại Công ty đối với nhân viên Nguyễn Duy Minh với bậc lương của Anh là 798.500 đồng/tháng. Ngoài tiền lương chính Anh còn được thưởng 300.000 đồng/tháng với mức thưởng loại A do Anh thực hiện nghiêm túc chế độ quy định của Cơ quan, hoàn thành tốt công việc được giao, nhận được nhiều hợp đồng mới cho Công ty.

    *Hàng tháng tuỳ thuộc vào số người phải thanh toán trợ cấp BHYT trả thay cho lương trong tháng của đơn vị, kế toán lập bảng tổng hợp tiền lương, tập hợp cho các phòng ban, phân xưởng trong đơn vị, kẻ sổ lập bảng này là “phiếu nghỉ lương BHXH”, khi lập phiếu này phải phân chi tiết theo từng

    56

    trường hợp nghỉ ốm, nghỉ đẻ, sảy thai, nghỉ tai nạn lao động…trong mọi khoản phải phân ra số ngày, số tiền trợ cấp BHXH trả thay lương.

    Cuối tháng, sau khi kế toán tổng hợp số ngày nghỉ, số tiền trợ cấp cho từng người và cho toàn đơn vị, bảng nay được chuyển cho trưởng ban BHXH xác nhận và chuyển cho kế toán trưởng duyệt chi. Bảng này lập 2 liên:

    • 1 liên gửi cho Cơ quan quản lý BHXH cấp trên để tất toán
    • 1 liên lại phòng Kế toán cùng các chứng từ có liên quan.

    Trưòng hợp này của Anh Minh do Anh nghỉ ốm nên được hưởng số tền

    BHXH trả thay lương là Nguyễn Duy Minh do đó phiếu nghỉ hưởng lương

    BHXH (Giấy chứng nhận nghỉ ốm) được sử dụng tại Công ty theo mẫu sau :

    (Mặt trước)      
    Tên Cơ quan y tế Ban hành theo mẫu CV  
    ……………… Số 90TC/CĐ ngày 20/04/99 Quyển số : 12A
    Số KB/BA     Số : 037
    622 GIẤY CHỨNG NHẬN NGHỈ ỐM  
       
    Họ và tên : Nguyễn Duy Minh Tuổi :…36…
    Đơn vị công tác : Công ty Mặt Trời Việt  
    Lý do cho nghỉ : Phẫu thuật xương khớp tay  
    Số ngày cho nghỉ : 15 ngày (từ ngày 3/3 đến ngày 18/3/2005)
        Ngày 02 tháng 03 năm 2005
    Xác nhận phụ trách đơn vị Y bác sĩ khám chữa bệnh
    Số ngày nghỉ : 15 ngày (đã ký, đóng dấu)

    Nguyễn Thị Hương

    57

    (Mặt sau) Số sổ BHXH : 01133943564
    Phần BHXH      
    1-Số ngày nghỉ được hưởng BHXH : 15 ngày
    2-Luỹ kế, ngày nghỉ cùng chế độ : ngày
    3-Lương tháng đóng BHXH   : 270.800đồng
    4-Lương bình quân ngày   : 24.069 đồng
    5-Tỉ lệ hưởng BHXH   : 75%
    6-Số tiền hưởng BHXH   : 270.800 đồng
          Ngày 02 tháng 03 năm 2005
    Cán bộ Cơ quan BHXH   Phụ trách BHXH đơn vị
    (ký, họ tên)     (ký, họ tên)
        Hoàng Ngọc Diệp

    *Cuối kỳ, kế toán lập bảng tổng hợp lương của từng bộ phận gián tiếp các bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp.

    58

    Biểu số 09 :

    Bộ phận : Dịch vụ bán hàng

    BẢNG TỔNG HỢP TIỀN LƯƠNG PHÂN BỔ

    Tháng 05 năm 2005

      TK TK627 TK 622   Chi tiết theo từng loại sản phẩm  
    Tên tổ 642              
        Màn hình Mainboard CPU ổ cứng Notebook
                     
    Tổ 1   1.000.000 35.155.615 35.155.615        
                     
    Tổ 2   1.523.000 47.769.000     47.769.000    
                     
    Tổ 3   976.000 2.829.163       2.829.163  
                     
    Tổ 4   1.154.000 38.590.312         38.590.312
                     
            1.000.000   1.523.000 976.000 1.154.000
                     
    Cộng 4.653.000 124.344.090          
                     

    59

    Biểu số 10 :

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ TIỀN BHXH

    Tháng 05 năm 2005

      Ghi Có TK ghiNợ   TK 334 : Phải trả công nhân viên   TK 338, 3382
    STT các TK sử dụng         +3383 +3384
        Lương chính Lưong phụ Các khoản khác Cộng Có TK 334 Lương cơ bản
                – thuê ngoài
    1 TK 622 : CPNCTT          
        35.155.615        
        47.769.000        
        2.839.163        
        38.590.312        
    2 TK 627: CPSXC 5.200.000 140.000 800.000 8.028.000 23.863.305
        9.200.000 35.000 200.000 1.200.000 5.617.308
        1.200.000 35.000 200.000 2.373.000 3.822.750
        578.000 35.000 200.000 600.000 5.121.436
        2.789.778 35.000 200.000 1.285.000 9.301.811
    3 TK 642 :          
      CPQLDN          
      Cộng         28.912.167

    Tiền lương thuê ngoài :

    Tổ1 : 8.050.000

    Tổ 2: 10.450.000

    Tổ 3 : 3.340.000

    Tổ 4 : 7.250.000

    Cộng : 28.090.000

    BHXH phải trích trong tháng ( 180.259.300 – 28.090.000) x 19% = 28.912.167

    60

    *Căn cứ vào số liệu của bảng tổng hợp lương của từng đội sản xuất và các bộ phận gián tiếp, kế toán lập bảng thanh toán tổng số tiền lương toàn Công ty. Cụ thể bảng tháng lương toàn Công ty trong tháng 05/2004 như sau:

    Biểu số 11:

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG TOÀN CÔNG TY

    Tên đơn Số CN Lương thời gian Lương Phụ Tổng Giảm trừ Số tiền Tiền ăn
    vị   Công Tiền khoán cấp lương Tạm ứng BHXH lĩnh kỳ II ca
                  kỳ I      
    Tổ 1 6     18.899.000 35.000 18.934.000   1.789.980 17.144.020 800.000
    Tổ 2 9     20.782.000 35.000 20.817.000   1.526.500 19.290.500 1.000.000
    Tổ 3 3     4.482.163 35.000 4.517.163   1.726.354 2.790.809 450.000
    Tổ 4 8     19.462.152 35.000 19.497.152   1.624.505 17.872.247 900.000
    Phòng 4 125 4.525.000   70.000 4.595.000 1.500.000 159.000 2.936.000 500.000
    HC                    
    Phòng 5 150 3.450.650   70.000 3.520.650 1.500.000 167.939 1.852.711 700.000
    DV                    
    Phòng 2 150 3.490.365   70.000 3.650.365 1.500.000 133.507 1.926.858 300.000
    TCLĐ                    
    Phòng 6 125 3.563.700   70.000 3.633.700 1.500.000 169.422 1.964.278 850.000
                       
    Cộng 43 410 15.026.715 63.623.013 420.000 59.577.878 6.000.000 7.333.287 65.777.823 5.500.000

    61

    1. Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo luơng

    4.1. Các tài khoản kế toán áp dụng trong doanh nghiệp và các khoản tính trích theo lương của doanh nghiệp

    Tiền lương của công nhân viên trong công ty được tập hợp theo dõi trên TK 334 (phải trả công nhân viên) bao gồm tiền lương của các bộ phận quản lý phòng ban, khoản tiền lương này bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ của từng bộ phận và được hạch toán vào chi phí trên các chứng từ ban đầu.

    4.2. Trình tự kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương của doanh nghiệp

    *Từ các chứng từ trên về BHXH trả thay lưong cho công nhân viên và các phiếu chi, Kế toán đưa ra các nghiệp vụ để hạch toán BHXH trả thay lương như sau:

    Nghiệp vụ 1:

    Căn cứ vào bảng thanh toán BHXH và phiếu chi tiền mặt số 43 Ngày 12/3/2003. Kế toán tiền hạch toán vào sổ chi tiết TK 334 số tiền thanh toán cho Anh Phí Anh Dương như sau :

    62

    CHỨNG TỪ GHI SỔ    
    Ngày 30/03         Số 34
                 
    Trích yếu   Số TK   Số tiền Ghi chú
                 
        Nợ      
                 
    Thanh toán chế độ BHXH cho   334 111   203.000  
    nhân viên Nguyễn Duy Minh            
                 
    Cộng         203.000  
                 
    Kèm theo 04 chứng từ gốc          
    Người lập       Kế toán trưởng
    (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    Nghiệp vụ 2

    Cuối tháng 03/2003 Kế toán tiền lương tiến hành hạch toán tiền lương BHXH thay lương cho công nhân viên Phí Anh Dương vào sổ chi tiết TK 3383 như sau :

    Nợ TK 3383 : 203.000

    Có TK 334 : 203.000

    63

    Đồng thời nghiệp vụ trên được nhân viên Kế toán phản ánh ở chứng từ ghi sổ như sau :

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Ngày 31/03           Số 36
                 
    Trích yếu Số TK     Số tiền Ghi chú
                 
      Nợ        
                 
    Số tiền BHXH trả thay lương 3383   334   203.000  
    phải trả cho Phí Anh Dương            
                 
    Cộng         203.000  
                 
    Kèm theo chứng từ gốc            
    Người lập       Kế toán trưởng
    (ký, họ tên)       (ký, họ tên)

    64

    Nghiệp vụ 3

    Căn cư uỷ nhiệm chi số 30 ngày 30/03/2003 của Cơ quan BHXH Quận Hai bà Trưng về việc cấp kinh phí BHXH, Kế toán tiến hành hạch toán vào sổ chi tiết TK 112 như sau :

    Nợ TK 112 : 203.000

    Có TK 338 : 203.000

    Đồng thời nghiệp vụ trên được phản ánh vào chứng từ ghi sổ như sau: từ các chứng từ ghi sổ trên nhân viên kế toán có nhiệm vụ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.

    SỔ ĐĂNG KÝ CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Năm 2004

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
               
    Sinh hoạt NT   SH NT  
               
    12 05/3 4.700.000 32 29/3 2.002.720
               
    21 25/3 9.292.199 34 30/3 203.000
               
    25 26/3 4.596.199 36 31/3 203.000
               
    26 26/3 505.680 38 31/3 203.000
               
    29 28/3 1.517.040      
               
              2.631.000
               

    Cuối tháng, căn cứ vào các chứng từ ghi sổ, Kế toán vào sổ cái TK 111, TK 112, TK 334, TK 338…

    *Tổng hợp tiền lương

    65

    Căn cứ vào số liệu đã tổng hợp trên bảng thanh toán tiền lương toàn Công ty. Kế toán lập định khoản kế toán.

    Nghiệp vụ 1

    Hàng tháng, trên cơ sở tính toán tiền lương phải trả cho công nhân viên kế toán ghi sổ ghi theo định khoản sau :

    Nợ TK 622 : 124.344.090

    Nợ TK 627 : 4.653.000

    Nợ TK 642 : 60.113.212

    Có TK 334 : 59.577.878

    Nghiệp vụ II

    Từ ngày 10 đến ngày 15 hàng tháng kế toán Công ty tạm ứng cho các bộ phận quản lý trong Công ty.

    Nợ TK 334 : 6.000.000

    Có TK 111 : 6.000.000

    66

    Nghiệp vụ III

    1-Căn cứ vào bảng thanh toán lương của Công ty Kế toán xác định các khoản khấu trừ vào lương của nhân viên

    Nợ TK 334 : 5.500.000

    Có TK 141 : 5.500.000

    2-Sau đó kế toán tính lương tạm ứng kỳ II cho công nhân viên Nợ TK 334 : 65.777.823

    Có TK 111 : 65.777.823

    Nghiệp vụ IV

    Khi trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất

    Nợ TK 642 : 5.048.862

    Nợ TK 627 : 27.863.305

    Có TK 338 : 28.912.167

    67

    SỔ CÁI

    TK : Tiền mặt

    Số hiệu TK111

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền
    ghi S NT Diễn giải đối Nợ
    sổ H     ứng    
          Số dư đầu kỳ   102.569.780  
    6/3 12 5/3 Thanh toán tạm ứng 334   6.000.000
          lương kỳ I tháng      
          3/2003      
    12/3 18 12/3 Rút TGNH về nhập quỹ 112 45.500.000  
    15/3 18 13/3 Chi tạm ứng tiền hàng 331   42.500.000
          cho Công ty      
          NEWVISION      
    26/3 21 25/3 Thanh toán lương kỳ II 334   65.877.823
          tháng 3/2003      
    28/3 27 28/3 Thu tiền hàng nợ đợt 1 131 17.475.000  
          tháng 3/2003 của Công      
          ty MED      
    29/3 29 29/3 Mua hàng nhập kho 156   38.453.350
    30/3 33 30/3 TríchKPCĐ tháng 3382   101.136
          3/2003      
    31/3 34 30/3 Thanh toán BHXH cho 334   203.000
          Phí Anh Dương      
          Cộng phát sinh   165.544.780 104.534.173
          Dư cuối kỳ   113.376.780  

    68

    SỔ CÁI

    Tên TK : Phải trả, phải nộp khác

    Số hiệu TK : 338

    TK : 3383 BHXH

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền  
    ghi S NT Diễn giải đối Nợ
    sổ H     ứng    
          Số dư đầu kỳ     4.045.440
    27/3 26 26/3 BHXH trích theo lương 334   28.912.167
          công nhân viên tháng      
          3/2003 (5%)      
    28/3 29 28/3 BHXH phải trả công 642   7.333.827
          nhân viên tháng 3/2003      
          (15%)      
    31/3 32 30/3 Chuyển nộp tiền BHXH 112 6.068.160  
          quý I cho toàn Công ty      
    31/3 36 31/3 Thanh toán BHXH trả 334 203.000  
          thay lương cho nhân viên      
          Phí Anh Dương      
    31/3 38 31/3 Nhận uỷ nhiệm chi 112 203.000  
          BHXH      
          Cộng phát sinh   6.271.160 364.489.994
          Dư cuối kỳ      

    69

    70

    SỔ CÁI

    Tên TK : Phải trả công nhân viên

    Số hiệu TK : 334

    Ngày Chứng từ   TK Số tiền
    ghi sổ S NT Diễn giải đối Nợ
      H     ứng    
          Số dư đầu kỳ     1.176.504
    06/3 12 5/3 Thanh toán tạm ứng lương 1111 6.000.000  
          kỳ I      
          Tháng 3/2003      
    18/3 15 8/3 Trả tiền lương tháng 2 cho 3388 777.756  
          Lại Việt Cường      
    25/3 21 25/3 Thanh toán tiền lương kỳ II 1111 65.777.823  
    27/3 25 26/3 Tiền lương phải trả công 642    
          nhân viên 3/2003      
          Tháng 3/2003      
    30/3 34 30/3 Thanh toán chế độ BHXH 1111 203.000  
          cho Phí Anh Dương      
    31/3 36 30/3 Số tiền BHXH trả thay 3383    
          lương cho Anh Dương      
          Cộng phát sinh   75.758.579  
                 

    71

    SỔ CHI TIẾT TK 334

    Tiền lương

    Năm 2004

    Số NT Nội dung TK Phát sinh trong kỳ    
          đối Nợ Nợ
          ứng        
        Dư đầu kỳ         1.176.504
    12 05/3 Thanh toán tạm ứng 1111 6.000.000      
        Lương kỳ I tháng          
        3/2004          
    15 18/3 Trả tiền lương tháng 1111 777.756      
        2 chưa          
        Lĩnh cho Lại Việt          
        Cường          
    21 25/5 Thanh toán lương 1111 67.777.823      
        kỳ II tháng 3/2004          
    25 26/3 Tiền lương trả cho 642   59.577.878    
        CNV tháng 3/2004          
    34 30/3 Thanh toán BHXH 1111 203.000      
        trả thay cho Anh Phí          
        Anh Dương          
    38 31/3 BHXH phải trả cho 3383   203.000    
        Anh Phí Anh Dương          
        Cộng phát sinh   72.758.579 59.780.878    
        Dư cuối kỳ          

    72

    Phần III :

    HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY MẶT TRỜI VIỆT.

    I/ Nhận xét chung về công tác tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

    của Công ty.

    • Từ khi thành lập, Công ty Mặt Trời Việt đã không ngừng phấn đấu

    hoàn thiệncơ chế quản lý kinh doanh của mình . Ban lãnh đạo Công ty luôn phổ biến kịp thời những văn bản pháp luật mới, nâng cao trình độ hiểu pháp luật và kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao. Bên cạnh đó, Công ty thường xuyên quan tâm, củng cố đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Công ty cử những cán bộ có năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức làm công tác chuyên trách thanh tra của Công ty. Đồng thời, luôn tạo điều kiện cho cán bộ chủ chốt của Công ty tham gia các khoá học và tập huấn ngắn hạn do cấp trên mở nhằm mang lại kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn của họ.

    II/ Đánh giá thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo

    luơng của Công ty

    1.Ưu điểm

    Công ty hiện đang áp dụng hình thức hạch toán chứng từ ghi sổ, một loại hình hạch toán không ngừng phù hợp với quy mô của Công ty nà còn rất thuận tiện cho việc cơ giới hoá tính toán. Cùng với sự phát triển của Công ty, tổ chức bộ máy kế toán cũng không ngừng hoàn thiện, tham mưu giúp ban Giám đốc điều hành các phần việc mà mình phụ trách, đảmbảo cung cấp kịp thời chính xác những thông tin về tài chínhcủa Công ty giúp cho lãnh đạo Công ty ra các quyết định đúng đắn về quản lý điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty.

    Bộ phận Kế toán của Công ty đã hoàn thành việc thanh toán tiề lương cho cán bộ công nhân viên trong Công ty rất cụ thể chính xác đáp ứng nhu

    73

    cầu của cán bộ trong Công ty. Việc trả tiền lương thực hiện đúng theo các quy định hiện hành của Nhà nước về các chế độ BHXH, BHYT…Đảm bảo quyền lợi trực tiếp cho người lao động trong Công ty cũng sử dụng đầy đủ các chứng từ kế toán đã quy định trong chế độ ghi chép ban đầu về tiền lương về thanh toán các chế độ BHXH…

    Bên cạnh đó, thực hiện chế độ hưởng lương theo thuận lợi nên khi Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đạt doanh thu cao thì mức thu nhập của cán bộ công nhân viên trong Công ty được nâng cao đảm bảo cuộc sống và sinh hoạt cho người lao động sẽ khuyến khích được tinh thần nâng cao trách nhiệm của họ trong công việc.

    2. Nhược điểm

    Công ty Mặt Trời Việt là loại hình doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hạch toán kinh tế độc lập. Hiện tại, Công ty đang áp dụng hình thức hưởng lương theo lợi nhận . Theo hình thức trả lương này thì nếu Công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì thu nhập của cán bộ công nhân viên trong Công ty sẽ được nâng cao. Như vậy dảm bảo mưc thu nhập của họ có được ổn định không nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty không đạt hiệu quả hay không đạt được mức doanh thu như kế hoạch đề ra. Do đó, Công ty cần phải có chính sách khen thưởng hợp lý để khuyến khích người lao động trong công việc và cũng phần nào cải thiện đuợc cuộc sống của người lao động.

    Điều đó đòi hỏi ban lãnh đạo Công ty luôn tăng cường công tác quản lý phải luôn luôn quan tâm và củng cố đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn để góp phần phát triển của Công ty giúp cho tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty luôn đạt hiệu quả, đạt doanh thu cao.

    Về hệ thống sổ kế toán, chừng từ kế toán thì áp dụng theo hình thức chứng từ ghi sổ nên trong việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh còn có sự trùng lặp để nhầm lẫn và tốn nhiều công.

    III/ Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các

    khoản trích theo lương tại Công ty Mặt Trời Việt

    74

    1.Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các

    khoản trích theo lương

    Ta biết tiền lương là một vấn đề hết sức quan trọng. Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ là cơ sở, đòn bẩy cho sự phát triển của doanh nghiệp. Còn đối với người lao động tiền lương nhận được thoả đáng là động lực thúc đẩy năng lực sáng tạo, sự nhiệt tình trong công việc góp phần không nhỏ nhằm tăng năng suất lao động, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đạt kết quả cao.

    Do đó ở mỗi doanh nghiệp, tuỳ theo loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, quy mo của doanh nghiệp cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình mà có chế độ kế toán sao cho hợp lý, luôn nghiên cứu và hoàn thiện hơn công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, các chế độ hưởng BHXH, các chế độ khen thưởng khuyến khích lương…đẻ sao cho quyền lợi của người lao động luôn đảm bảo và đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, khuyến khích được người lao động trong sản xuất kinh doanh là 1 vấn đề quan trọng.

    2.                 Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

     

    • Tiền lương góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại của

    doanh nghiệp. Đối với nông dân sản xuất kinh doanh, tiền lương là một phần không nhỏ của chi phí sản xuất. Do đó nếu doanh nghiệp vận dụng chế độ thiền lương hợp lý sẽ tạo động lực tăng năng suất lao động.

    Việc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết và quan trọng nhưng nó đòi hỏi phải luôn đảm bảo nguyên tắc công bằngvà xứng đáng với sức lao động mà người lao động đã bỏ ra. Tiền lương nhận được thoả đáng thì người lao động sẵn

    75

    sàng nhận công việc được giao cho dù ở đâu, làm gì trong điều kiện sức lực và trí tuệ của họ cho phép.

    Bên cạnh đó việc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở từng doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc : tuân thủ theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước, của Bộ tài chính về các vấn đề như: cách tính lương, phân bổ tiền lương…cũng như thực hiện đúng hệ thống, sổ sách kế toán có liên quan.

    3. Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.

    Tuỳ theo tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà có phương hướng hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở doanh nghiệp mình sao cho phù hợp. Doanh nghiệp cần áp dụng các chính sách, quy định ban hành của Nhà nước và chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương. Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động doanh nghiệp cũng cần quantam đến đội ngũ Kế toán của doanh nghiệp, không những thế mà doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn để họ hoàn thành tốt công việc của mình và có thể thích nghi với chế độ chính sách kế toán mới.

    Đảm bảo sao cho người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ hiện hành của Nhà nước cũng như quyền lợi của họ.

    Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp cũng cần phải lập những quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, chế độ trợ cấp và chế độ khen thưởng thiết thực, công bằng hợp lý đối với người lao động để khuyến khích họ trong công việc góp phần giúp họ đảm bảo và nâng cao cuộc sống của bản thân mình và gia đình.

    76

    KẾT LUẬN

    Trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng yêu cầu tổ chức tốt công tác kế toán ngày càng khoa học hợp lý luôn được dặt lên hàng đầu . Việc hoàn thành tổ chức công tác kế toán sẽ góp phần quan trọng trong việc phát huy vai trò của kế toán trong công tác quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường . Trong cơ chế quản lý mới này, việc cung cấp thông tin kế toán một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và chính xác giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp có thể ra được các quyết định phù hợp đã trở thành một yêu cầu cấp bách có tính chất sống còn có sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình chung của công tác tổ chức kế toán tiền lương của Công ty Mặt Trời Việt, đề tài đã chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác tổ chức kế toán tiền lương tại Công ty Mặt Trời Việt, từ đó rút ra nguyên nhân, phân tích và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tại Công ty, để công tác kế toán tại Công ty ngày càng khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý và chế độ tài chính kế toán hiện hành.

    Với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo : Ninh Thị Hằng Nga và sự giúp đỡ hết lòng của các cán bộ phòng Tài chính – Kế toán và Giám đốc của Công ty Mặt Trời Việt, cộng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình một cách tương đối, đầy đủ các vấn đề nghiên cứu, song bản báo cáo thực tập tốt nghiệp này khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em rất mong sự đóng góp ý kiến của cô giáo hướng dẫn bản báo cáo thực tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.

    77


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiệp: Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Lời nói đầu

     

    Nền kinh tế nước ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường là thách thức lớn với mọi thành phần kinh tế. Bởi vậy muốn tồn tại một doanh nghiệp đứng vững trong thị trường kinh doanh hiện nay tuỳ thuộc vào kết quả quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà cụ thể là các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuận.

    Với doanh nghiệp vừa mang tính chất thương mại, tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình kinh doanh, nó có tính chất quyết định tới thành công hay thất bại của doanh nghiệp, giải quyết tốt khâu tiêu thụ thì doanh nghiệp mới thực sự thực hiện được chức năng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Điều đó cho thấy công tác hạch toán nói chung và công tác hạch toán xác định kết quả kinh doanh nói riêng là khâu vô cùng quan trọng không thể thiếu với mỗi doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này doanh nghiệp phải lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào có lợi nhất, các phương thức tiêu thụ để làm sao bán được nhiều mặt hàng nhất. Doanh nghiệp nên tiếp tục đầu tư hay chuyển sang hướng khác. Do vậy việc tổ chức tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh như thế nào để có thể cung cấp thông tin nhanh nhất kịp thời cho các nhà quản lý, phân tích đánh giá lựa chọn phương thức kinh doanh thích hợp nhất. Em thấy để có thể tồn tại và phát triển, các nhà doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đặc biệt là thúc đẩy công tác tiêu thụ tìm đầu ra cho sản phẩm của doanh nghiệp mình. Đây là nhiệm vụ sống còn của mỗi doanh nghiệp hiện nay, bởi vậy thông qua việc tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp mới có vốn để tiến hành tái mở rộng, tăng tốc độ lưu chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Xuất phát từ đó em đã chọn đề tài “Hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng”.

    Nội dung chia làm ba phần:

    Phần I: Một số vấn đề về lý luận kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty.

    Phần III: Đánh giá thực trạng và phương pháp hoàn thiện kế kế toán bán hàng tại công ty.

    CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1. Khái niệm bán hàng

    Bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện chuyển hóa vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ và hình thành kết quả tiêu thụ.

    2. Đặc điểm của quá trình tiêu thụ hàng hóa

    Đó là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng đồng ý mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán có sự chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng. Doanh nghiệp giao hàng hóa co khách hàng và nhận được từ họ một khoản tiền hay một khoản nợ tương ứng, khoản tiền này được gọi là doanh thu tiêu thụ dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Căn cứ trên số tiền hay khoản nợ, mà khách hàng chấp nhận thanh toán dể hạch toán kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

    3. Vai trò của quá trình bán hàng

    Tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mai doanh nghiệp, nó thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung gian là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí bỏ ra mà còn thực hiện được một phần chi phí thặng dư. Phần thặng dư này chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước mở rộng quy mô kinh doanh.

    Cũng như các quá trình khác, quá trình tiêu thụ hàng hóa cũng chịu sự thay đổi và quản lý của nhà nước, của người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp đó là chủ, doanh nghiệp, các cổ đông, bạn hàng, nhà tài trợ, các cơ quan quản lý nước…Với chức năng thu thập số liệu, xủ lý và cung cấp thông tin, kế toán được coi là một trong những công cụ góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp. Cụ thể kế toán đã theo rõi số lượng, chất lượng, giá trị của tổng lô hàng từ khâu mua đến khâu tiêu thụ. Từ đó doanh nghiệp mới điều chỉnh đưa ra những phương án, các kế hoạch tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được hiệu quả cao nhất.

    4. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

    Để đáp ứng được yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm và xác định kết quả tiêu thụ sản phẩm kế toán có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về têu thụ và xác định kết quả tiêu thụ như mức bán ra, doanh thu tiêu thụ, mà quan trọng nhất là lãi thuần của hoạt động tiêu thụ. Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp chi tiết sự biến động của hàng hóa ở tất cả các trạng thái: hàng đi đường, hàng nhập kho…nhằm đăm bảo an toàn cho hàng hóa.

    Tính toán chính xác giá vốn, chi phí khối lượng tiêu thụ hàng hóa, hàng trả lại…

    Phản ánh chính xác, kịp thời doanh thu tiêu thụ để xác định kết quả đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền bán hàng tránh sự chiếm dụng vốn.

    Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện kết quả tiêu thụ, cung cấp số liệu lập báo cáo tài chính và lập quyết toán đày đủ để đánh giá đúng hieuj quả tiêu thụ.

    II. CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG

    1.các phương thức bán hàng

    Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng một số phương thức tiêu thụ sau:

    1.1 Phương thức bán buôn

               Bán buôn hàng hóa được hiểu là hình thức bán hàng cho người mua trung gian để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho các nhà sản xuất. Trong bán buôn thì có hai phương thức:

    Bán buôn qua kho: Là  hàng hóa được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp.

    Bán buôn vận chuyển thẳng: Là hình thức mà các doanh nghiệp thương mại sau khi tiến hành mua hàng hóa không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho bên mua.

    1.2 Phương thức bán lẻ

    Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.

    1.3 Phương thức hàng đổi hàng

    Là phương thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem vật tư, hàng hóa, sản phẩm của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa, sản phẩm của người mua.

    1.4 Phươgn thức bán đại lý

    Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý  dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.

    1.5 Phương thức bán hàng trả góp

    Khi giao cho người mua thì hàng hóa được coi là tiêu thụ. Người mua được trả tiền mua hàng nhiều lần. Ngoài số tiền bán hàng doanh nghiệp còn được hưởng thêm ở người mua một khoản  lãi vì trả chậm.

    2 Kế toán bán hàng

    Kế toán tiêu thụ hàng hóa được thực hiện như sau:

    2.1 Giá vốn hàng bán

    Là giá trị vốn thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ. Đối với doanh nghiệp sản xuất đó là giá trị thực tế thành phẩm suất kho. Đối với doanh nghiệp thương mại giá vốn hàng bán bao gồm giá trị mua của hàng và chi phí mua hàng.

    Kế toán phản ánh giá vốn trên tài khoản 632 Giá vốn hàng bán

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng  các tài khoản liên quan khác: TK156, TK 611

    2.2 Chi phí bán hàng

    Chi phí bán hàng là những khoản chi phí phát sinh co liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí thuê kho bãi, …

    Kế toán sử dụng TK 641 – Chi phí bán hàng để phản ánh

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan như: TK 111, TK 112, … 2.3 Chi 2.3 phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí có liên quan đến toàn bộ hoạt động cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một hoạt động nào. Chi

    quản lý doanh nghiệp bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ, quản lý hành chính và chi phí chung khác.

    Kế toán sử dụng TK 642 để phản ánh chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác như: TK 111, TK 112,…

    2.4 Doanh thu bán hàng

    Là số tiền doanh nghiệp thu được từ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng. Giá trị hàng hóa được thỏa thuận như trên hợp đồng kinh tế về mua bán và cung cấp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lao vụ đã được ghi trên hóa đơn bán hàng.

    Để phản ánh doanh thu kế toán sử dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan: TK 111.TK 112,TK 131,TK 531

    2.5 Các khoản giảm trừ doanh thu

    Hàng bán bị trả lại: Là giá rị của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ,lao vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do nhưng nguyên nhân bị vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế: Hàng hóa bị kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách.

    Kế toán sử dụng TK 531 – Hàng bán bị trả lại

    Giảm giá hàng bán là: khoản giảm trừ được người bán chấp nhận một cách đặc biệt do hàng hóa kém phẩm chất, không đúng quy cách quy định trên hợp đồng

    KT 532 – Giảm giá hàng bán

    Riêng khoản triêt khấu bán hàng không được coi là khoản giảm trừ doanh thu thu mà tính vào chi phí hoạt độngt tài chính( TK 811 – Số tiền triết khấu cho khách hàng )

    2.6 Cách xác định kết quả bán hàng

    Kết quả bán hàng là kết quả bán hàng cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng số tiền lãi hoặc lỗ.

    Kết quả hoạt động tiêu thụ hàng hóa (lãi thuần) được tính bàng cách so sánh giữa một bên là doanh thu thuần vứi một bên là giá vốn hàng bán cho phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp biểu hiện qua chi tiêu lỗ(lãi ) về tiêu thụ.

    Kết quả bán hàng là việc so sánh giữa một bên là doanh thu thần của hoạt động tiêu thụ với một bên là giá bán hàng tiêu thụ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng bán ra.

    Việc xác định kết quả tiêu thụ được tiến hành vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị.

    Kế toán sử dụng TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh – Không có số dư cuối kỳ.

    CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRỰC TIẾP TẠI CÔNG TY

    A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÔNG TY

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Công ty cổ phần Kim Sơn thành lập ngày 8/4/2007 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy đăng  ký kinh doanh số 0104304411. Trụ sở giao dịch chính của doanh nghiệp hiện nay đóng tại số 144 đường Lê Lai, Phường Nguyễn Trãi – Hà Đông – Hà Nội.

    Trong đó ngành nghề kinh doanh bao gồm:

    – Khai thác và kinh doanh than

    – Chế biến và kinh doanh chất đốt từ than

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    – Suất nhập khẩu sản phẩm vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất, các mặt hàng công ty được phép sản xuất.

    Địa bàn hoạt động khắp các tỉnh trong cả nước

    II. TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY

    1.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

    Mô hình tổ chức được sắp sếp như sau:

     Giám đốc

     

           
     
       Phòng

     

    kế

    hoạch

     
       Phòng

     

    kế

    toán

    1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty:

    Chức năng nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán như sau:

    – Kế toán trưởng: Giúp giám đốc công ty tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán, thống kê,…..

    – Kế toán tổng hợp: kiểm tra toàn bộ hoạt động kế toán của đơn vị vào sổ tổng hợp, lập báo cáo kế toán định kỳ theo chế độ quy định.

    – Kế toán viên: lập các chứng từ kế toán phát sinh,thanh toán đủ tiền lương BHXH cho nhân viên, kiểm tra chứng từ suất nhập kho, theo dõi cập nhật theo dõi về nợ phải thu, nợ phải trả,….

    – Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và các giấy tờ khác như: trái phiếu, cổ phiếu… của công ty.

    III. TÌNH HÌNH VỐN VÀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

    Về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật hàng năn doanh nghiệp đã không ngừng đổi mới, cải tạo lại các văn phòng, đầu tư các trang thiết bị máy móc phục vụ cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Để đầu tư thêm cho quá trình hoạt động kinh doanh ngòai số vốn tự có của mình, doanh nghiệp còn đi vay thêm của ngân hàng để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

    Với số vốn ban đầu của doanh nghiệp là: 55 000 000 000 đ

    Trong đó:   Vốn cố định là: 35 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 20 000 000 000 đ

    Qua hai năm hoạt động kinh doanh đến nay ( 1/6/2009 ) tổng số vốn của doanh nghiệp đã tăng lên là: 90 000 000 000 đ

    Trong đó: Vốn cố định là:   55 000 000 000 đ

    Vốn lưu động là: 35 000 000 000 đ

    Nhìn vào vốn kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy tổng số vốn tăng so với ban đầu là: 35 000 000 000 đ trong đó:

    Vốn cố định tăng là:   20 000 000 000 đ

    Vốn lưu động tăng là: 15 000 000 000 đ

    B TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY

    Để thuận tiện cho việc phận công nhiệm vụ và phù hợp với đặc điểm kinh doanh công ty sử dụng hình thức “ Sổ nhật ký chung”. Công ty áp dụng “Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên” và “Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ”

    Chứng từ sổ sách liên quan đến bán hàng bao gồm: Hóa đơn thuế GTGT, phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất…giấy báo nợ, báo có của ngân hàng. Hệ thống sổ sách bao gồm: Sổ nhật ký chung ,sổ thu chi tiền mặt,sổ nhật biên tiền gửi ngân hàng, sổ cái các tài khoản, các sổ kế toán chi tiết,….

    Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng: Căn cứ vào hợp đồng mua bán hoặc nhu cầu của khách hàng kế toán lập hóa đơn GTGT. Hóa đơn GTGT được chia làm 3 liên: Liên 1 lưu chứng từ gốc, liên 2 giao khách hàng, liên 3 để thanh toán.

    Kế toán căn cứ vào hóa đơn để xác định doanh thu và xác lập công nợ với người mua, xác định giá vốn hàng bán. Quá trình này được theo dõi trên sổ nhật ký bán hàng vá sổ cái TK 511 – Doanh thu bán hàng và sổ chi tiết các tài khoản có liên quan.

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường công ty phải tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh, tự mình tìm khách hàng để tiêu thụ hàng hóa.Thi trường tiêu thụ của công ty khá rộng, có lượng khách hàng lớn.

    Phương tức thanh toán chủ yếu băng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoản.

    II. TÌNH HÌNH THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY

    1.Phương thức tiêu thụ

    Bán hàng là một trong những hoạt động chính có vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh tại công ty. Bởi vậy công ty luôn chú trọng tới việc tổ chức bán hàng giúp hạn chế ứ đọng vốn và đem lại lợi nhuận cao . Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức bán hàng: Bán buôn, bán lẻ.

    2.Kế toán giá vốn hàng bán

    Giá vốn hàng bán là giá trị thực tế của hàng hóa mua vào hoặc nhập về. Công ty quản lý hàng nhập kho theo từng lô hàng. Do vậy giá vốn thực tế nhập xuất được tính theo giá vốn đích danh.

    Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng tài khoản: TK632 – Giá vốn hàng bán, TK 156 – Hàng hóa, TK 911 –Xác định kết quả kinh doanh.

    Phương pháp tính giá vốn hàng bán:

    Giá trị vốn                               Đơn giá nhập kho của số                            Số lượng hàng

    –                                                                          x

    hàng bán                            hàng bán ra trong kỳ                                   bán ra

    VD: Trong tháng 12/2008 Công ty nhập kho một số hàng hóa như sau:

    Nhập 7.000 tấn than lọai cám với đơn giá 220.000đ/tấn

    5.000 tấn than loại cục 6 với đơn giá 250.000đ/tấn

    10.000 tấn than loại cám 6a với đơn giá 240.000đ/tấn

    Vậy tổng số vốn hàng bán ra:

    4500 x 220.000 + 1700 x 250.000 + 6000x 240.000 = 2.855.000.000đ

    Căn cứ “Phiếu nhậpkho” kế toán hoạch toán nhập kho hàng hóa

    Nợ TK 156: 5.190.000.000đ

    Nợ TK 1331:  259.500.000đ

    Có TK331: 5.449.500.000đ

    Hạch toán giá vốn hàng xuất bán:

    Nợ TK 632: 2.855.000.000đ

    Có TK 156: 2.855.000.000đ

    Kết chuyển giá vốn hàng bán:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK : 2.855.000.000đ

    3. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

    Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghiệp vào chi phí bán hàng:

    Nội dung: Chi phí bán hàng bao gồm: Chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương của cán bộ công nhân viên, chi phí vật liệu quản lý, chi phí công cụ dụng , đồ dùng văn phòng, chi phí điện, nước…chi phí khấu hao TSCĐ, thuế , phí…,chi phí bằng tiền khác.

    Tài khoản sủ dụng: Chi phí bán hàng được phản ánh trên TK 641 “Chi phí bán hàng” được chia thanh các TK cấp 2 sau:

    TK 6411 – Chi phí nhân viên

    TK 6412 – Chi phí vật liệu bao bì

    TK 6413 – Chi phí dụng cụ đồ dùng

    TK 6414 – Chi phí KH TSCĐ

    TK 6417 – Chi phí dịch vụ mua ngoài

    TK 6418 – TK chi phí bằng tiền khác

    Ngoài ra Công ty còn sử dụng các tài khoản đối ứng: TK 111, TK 112, TK 331, TK 911

    Trình tự kế toán:  Hàng ngày khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh liện quan đến chi phí bán hàng, dựa trên cơ sở chứng  từ hợp pháp như hóa đơn thuế GTGT, bảng thanh toán tiền lương, bảng khấu hao TSCĐ.. kế toán sẽ lập phiếu chi (nếu thanh toán bằng tiền mặt), lập ủy nhiệm chi (nếu thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng), lập chứng từ ghi sổ (đối với những TK chưa thanh toán), kế toán tập hợp phân loại chứng từ, vào sổ chi tiết tài khoản 641 – Chi phí bán hàng để theo dõi cuối kỳ kết chuyển sang TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.

    Chế độ trả lương cho nhân viên tính theo thời gian trả theo tháng.

    Mức lương phải trả  =  thời gian làm việc  x  mức lươnng thời gian/ ngày

    Trong đó: Mức lương thời gian:

    Lương cơ bản  x  hệ số

    Số ngày theo chế độ

    Và các khoản tính vào thu nhập của nhân viên như thưởng, phụ cấp.

    Còn các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) Công ty áp dụng theo đúng quy định

    VD: Căn cứ vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục, lương cơ bản là 112.315.423đ để tính BHXH kế toán áp dụng theo đúng quy định của Công ty các khoản trích theo lương:

    BHXH =  15%  x  lương cơ bản.

    BHXH =  15%  x  112.315.423  =  16.847.313,45 đ

    BHYT =   2%   x  112.315.423  =  2.246.308,46   đ

    KPCĐ =   2%   x   202.087.242 =  4.041.744,84   đ

    Theo số liệu trên kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6411: 337.538.031,8đ

    Có TK 334:  314.402.665đ

    Có TK 3383: 16.847.313,45 đ

    Có TK 3384: 2.246.308,46   đ

    Có TK 3382: 4.041.744,84   đ

    VD: Căn cứ vào phiếu chi số 178 ngày 30/12/2009 thanh toán tiền phí gửi bưu phẩm là: 3.750.864đ, thuế GTGT 10%. Kế toán hạch toán:

    Nợ TK 6412: 3.750.864 đ

    Nợ TK 133:  375.086,4  đ

    Có TK 111: 4.125.950,4 đ

    Cách tính khấu hao TSCĐ: Kê toán dùng phương pháp tính khấu hao trung bình theo phương pháp này thì số tiền khấu hao được tính cho mỗi thời kỳ trong thời gian hữu ích của tài sản là như nhau.

    Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao                   Số khấu hao

    TSCĐ phải     =      TS phải trích    +       TSCĐ tăng       –     TSCĐ giảm

    trích trong kỳ                     kỳ trước                           trong kỳ               trong kỳ

    VD: Căn cứ vao số khấu hao TSCĐ trong bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục với số tiền là: 61.834.489đ kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 6414:         61.834.489 đ

    Có TK 2141: 61.834.489 đ

    Dựa vào bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục ta tổng hợp chi phí bán hàng:

    Nợ TK 641: 707.460.798,8  đ

    Nợ TK 1331: 70.746.079,88 đ

    Có TK 131: 778.206.878,68  đ

    Cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911:  707.460.798,8  đ

    Có TK 641: 707.460.798,8  đ

    1. Kế toán doanh thu bán hàng

    Nội dung: Doanh thu bán hàng là doanh thu ghi trên hóa đơn GTGT xuất cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán.

    Tài khoản sử dụng: Để phản ánh tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ kế toán sủ dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và một số TK đối ứng như TK 111, TK 112, TK 131, TK911.

    Chứng từ kế toán sử dụng: Hợp đồng mua bán, hóa đơn GTGT, phiếu suất kho.

    Trình tự kế toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán với người mua hoặc nhu cầu khách hàng, kế toán lập hóa đơn thuế GTGT, hóa đơn được lập thành 3 liên: Liên 1 lưu sổ kế toán, liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 dùng để thanh toán. Kế toán sẽ căn cứ hóa đơn bán hàng để ghi nhận doanh thu và xác lập công nợ với người mua đồng thời xác định giá vốn của hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp. Quá trình này được theo dõi trên sổ cái TK 511.

    Phương pháp tiêu thụ tại Công ty: Công ty bán hàng theo phương pháp trực tiếp.

    Trường hợp bán hàng thu tiền ngay: Phương pháp bán hàng này áp dụng cho những khách hàng mua với số lượng ít và Công ty bán lẻ.

    VD: Ngày 17/ 12/2009 Công ty bán cho anh Hoàng 1700 tấn than cucjv[í đơn giá 340.000đ/tấn, thuế suất thuế GTGT là 5%. Theo hợp đồng GTGT 00915. Kế toán hạch toán như sau:

    Nợ TK 131: 2.079.000.000 đ

    Có TK 511: 1.980.000.000 đ

    Có TK 3331:    99.000.000 đ

    1. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.

    Công ty không có các khoản giảm doanh thu như: Giảm giá hàng bán, hàng hóa bị trả lại, triết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt. Do vậy doanh thu thuần được xác định chính là doanh thu ban hàng thu được.

    1. Kế toán xác định kết quả bán hàng.

    Tài khoản sủ dụng: Để xác định kết quả bán hàng trong kỳ kế toán sử dụng tài khoản 911 – xác định kết quả bán hàng – và các TK đối ứng như TK 632, TK 641, TK 511, TK 421.

    Cuối tháng khi xác định được doanh thu thuần, các khoản giảm trừ doanh thu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp kế toán tiến hành kết chuyển, để xác định kết quả bán hàng.

    Kết quả kinh doanh của Công ty trong tháng 12/ 2009

    • Giá vốn bán hàng: 2.855.000.000đ
    • Chi phí bán hàng: 707.460.798,8đ
    • Tổng doanh thu bán hàng: 3.953.000.000đ
    • Các khoản giảm trừ doanh thu :0
    • Doanh thu thuần: 3.953.000.000đ

    Kế toán tiến hành kết chuyển xác định kết quả bán hàng

    1. Kết chuyển giá vốn:

    Nợ TK 911: 2.855.000.000đ

    Có TK 632: 2.855.000.000đ

    1. Kết chuyển chi phí bán hàng:

    Nợ TK 911: 707.460.798,8đ

    Có TK 641: 707.460.798,8đ

    1. Kết chuyển doanh thu thuần:

    Nợ TK 511: 3.953.000.000đ

    Có TK 911: 3.953.000.000đ

    1. Kết chuyển lãi:

    Nợ TK 911:  390.539.201,2đ

    Có TK 421:  390.539.201,2đ

    Nhận xét: Vì Công ty hạch toán phụ thuộc lên không hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp riêng mà Công ty gộp chung chi phí quản lý doanh nghieepjvaf chi phí bán hàng gây khó khăn trong hạch toán chi tiết. Vì TK 641 – Chi phí bán hàng – chỉ phản ánh các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa. Mà không thể phản ánh hết các khoản chi phí phát sinh ở bộ phận văn phòng Công ty và các chi phí liên quan đến tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty. Công ty nên mở thêm TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp – Để hạch toán dược rễ dàng hơn.

    CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY

    1. Đánh giá thực trạng kế toán bán hàng tại Công ty


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam

    Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%E1%BA%A1i-s%E1%BB%9F-giao-d%E1%BB%8Bch-I-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp: Thẩm định tài chính dự án đầu tư tại sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    1.1.    Tổng quan về tín dụng ngân hàng và dự án đầu tư.

    Đầu tư và tăng cường hoạt động đầu tư luôn là một yêu cầu cấp thiết của bất kỳ một nền kinh tế phát triển nào. Thế nhưng, muốn có hoạt động đầu tư thì phải có đủ các nguồn lực cần thiết, và đặc biệt là phải có đủ vốn. Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứu sâu về vấn đề này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về tín dụng ngân hàng và dự án đầu tư.

    1.1.1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế.

    1.1.1.1. Khái niệm

    Tín dụng (credit), xuất phát từ tiếng Latinh là credo – là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độ khác nhau:

    • Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.
    • Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả.
    • Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
    • Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.

    Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.

    Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:

    Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

    1

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một số cách phân chia phổ biến mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:

    • Nếu phân theo thời hạn tín dụng ta có:
    • Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vay cho những tiêu dùng cá nhân.
    • Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Loại hình tín dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
    • Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có trên 5 năm. Loại tín dụng này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…

    Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn lưu động.

    • Theo mục đích sử dụng vốn:

    Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phong phú:

    • Cho vay bất động sản.
    • Cho vay thương mại và công nghiệp.
    • Cho vay cá nhân.
    • Cho vay thuê mua.
    • Cho vay khác.

    Trong đó các khoản cho vay thuê mua và cho vay khác chủ yếu bao gồm những khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính, cho vay ngân sách và chuyển nhượng các loại chứng khoán.

    • Phân theo đối tượng tín dụng: theo tiêu thức này, tín dụng được chia làm 2 loại:

    – Tín dụng lưu động: Loại hình tín dụng này được cấp phát để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, như cho vay để dự trữ hành hoá đối với xí nghiệp thương nghiệp; bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời,… Riêng loại hình tín dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời lại được chia làm 2 loại: cho vay để dự trự hàng hoá – chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu. Thời hạn cho vay là ngắn hạn.

    • Tín dụng vốn cố định: Là loại hình tín dụng được cấp phát để hình thành tài sản cố định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dụng các công trình mới,… Thời hạn cho vay đôí với loại này là trung và dài hạn.

    2

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Phân loại theo đồng tiền: Theo tiêu thức này thì TDNH được chia làm

    2 loại:

    • Tín dụng theo VNĐ: Hình thức này thường được dùng trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và giao dịch với các bạn hàng trong nước.
    • Tín dụng theo ngoại tệ (thường quy đổi ra USD hoặc VNĐ): Thường được sử dụng để nhập khẩu hàng hoá, trả nợ bạn hàng nước ngoài, nhập khẩu máy móc thiết bị, các hoạt động kinh tế đối ngoại, kinh doanh ngoại tệ,… Hình thức tín dụng này chịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá cũng như chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ.
    • Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế: được phân chia ra làm hai loại:
    • Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh
    • Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

    1.1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế

    Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ của mình, các doanh nghiệp luôn có xu hướng là cần vốn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ hay mở rộng sản xuất kinh doanh, và vấn đề thiếu vốn tạm thời để đầu tư cho các nhu cầu này thường xuyên xảy ra đối với các doanh nghiệp. Trong các trường hợp thiếu vốn, các doanh nghiệp sẽ phải tiến hành huy động từ các nguồn có thể, và một trong những nguồn đó là doanh nghiệp đi vay của các ngân hàng. Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu đó trên cơ sở Hợp đồng tín dụng sau khi được hai bên thoả thuận cho phù hợp nhu cầu, mục đích của mỗi bên và theo đúng quy định của Pháp luật. Khi nhận được vốn vay, doanh nghiệp sẽ có thể nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, và từ đó doanh nghiệp có thể thu hồi vốn và trả nợ cho ngân hàng.

    Không những vậy, tín dụng ngân hàng còn thoả mãn các nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn đóng góp một phần không nhỏ trong việc tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Tín dụng tài trợ cho nền kinh tế tăng gần 25% mỗi năm và được phân bổ một cách phù hợp cho cả khu vực kinh tế quốc doanh cũng như khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đây là mức tăng trưởng hợp lý, do đó góp phần làm giảm áp lực gia tăng tổng phương tiện thanh toán, hạn chế các yếu tố gây lạm phát, làm giảm gánh nặng trong công tác điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính

    • tiền tệ. Tín dụng ngân hàng tập trung phục vụ có hiệu quả các chương trình kinh tế lớn của Chính phủ như cho vay thu mua lương thực, phục vụ xuất khẩu, cho vay phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,… Đặc biệt, đối với những dự án đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, phát triển một số ngành nghề mũi nhọn, tín dụng ngân hàng luôn có sự tham gia không

    3

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nhỏ và đôi khi còn là nhà tài trợ chính cho những dự án này.

    Tín dụng ngân hàng với chức năng chủ yếu là đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại, nó quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, và hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho một ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội, là trung gian chuyển vốn giữa người thừa vốn sang người thiếu vốn, là cầu nối nhanh chóng giữa những chủ đầu tư và những nhu cầu đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ngay từ buổi đầu, hoạt động của ngân hàng thương mại đã tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình sản xuất – kinh doanh, hoặc nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Trong quá trình phát triển không ngừng của nền kinh tế, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiều phương pháp, công cụ kinh doanh mới xuất hiện nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay thường chiếm hơn 70% tổng Tài sản có và tỷ trọng huy động vốn tiền gửi thường chiếm trên 60% tổng Tài sản có của các ngân hàng thương mại. Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao hơn, ở các nước phát triển là 60% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng. Ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này chiếm khoảng 60 – 70% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng.

    Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn là công cụ Nhà nước để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Nhà nước thông qua Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện các chính sách tiền tệ của mình bằng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương dựa vào kế hoạch tăng lượng tiền cung ứng trong năm để xác định lượng tiền cần phát hành vào lưu thông với quy mô là bao nhiêu, bằng hình thức nào. Thông thường thì Ngân hàng Trung ưong sẽ thực hiện kế hoạch đó bằng cách cho ngân hàng thương mại vay và thông qua hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, lượng tiền này sẽ được đưa vào lưu thông. Như vậy, Ngân hàng Trung ương đã thực hiện chính sách tiền tệ để kiểm soát và tác động vào tổng lượng tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ, kiểm soát được những biến động trên thị trường và đồng thời có thể nhanh chóng phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.

    1.1.2. Đầu tư và dự án đầu tư

    1.1.2.1. Đầu tư và dự án đầu

    1. Đầu tư:
    • Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư. tư.

     

    Thuật ngữ đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sự hy sinh cái

    4

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gì đó để tác động đến kết quả trong tương lai. Xuất phát nguồn gốc của đầu tư, Paul Samuelson chỉ ra rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng cho tương lai”. Các nhà kinh tế vĩ mô lại cho rằng: “Đầu tư là đưa thêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn”. Và David Begg cho rằng: “Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất mới”. Theo định nghĩa chung nhất, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằm mục đích thu về lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế xã hội.

    Dưới góc độ nào đi nữa thì mọi hoạt động đầu tư đều phải sử dụng các nguồn lực ban đầu. Các nguồn lực này được sử dụng theo mục đích của chủ đầu tư để tạo mới, mở rộng hoặc nâng cao chất lượng hiện có của các tài sản tài chính (tiền vốn…), tài sản vật chất (như nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ (như trình độ văn hoá, chuyên môn…) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mục đích của công cuộc đầu tư là thu được những kết quả nhất định lớn hơn so với nguồn lực đã bỏ ra.

    Hoạt động đầu tư được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, nó không chỉ bó hẹp trong đầu tư tài sản vật chất và sức lao động mà còn tham gia cả đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.

    1. Dự án đầu tư:

    Theo quan điểm chung nhất, dự án đầu tư được hiểu là tài liệu tổng hợp , phản ánh kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về thị trường, về kinh tế, về kỹ thuật, về tài chính,… có liên quan, ảnh hưởng đến sự vận hành và tính sinh lời của một công cuộc đầu tư.

    • Việt Nam, theo nghị định số 177/CP về điều lệ quản lý dự án đầu tư và xây dựng, dự án đầu tư được định nghĩa như sau: “ Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.”

    Bất cứ một dự án đầu tư nào kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc đều phải trải qua giai đoạn:

    ¾ Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn 1 có quy trình như sau:

    Nghiên   Báo cáo   Lập dự án   Thẩm định   Quyết
    cứu cơ h ội     đầu tư   dự án đầu   định đầu
      NCKT      
    đầu tư          
               

    5

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư.

    Sau khi ra Quyết định đầu tư, công việc tiếp theo là cụ thể hoá nguồn vốn, hình thành vốn đầu tư và triển khai dự án đầu tư.

    Đàm phán và ký   Xây dựng   Lắp đặt   Vận hành
    kết hợp đồng thi     máy móc  
      công trình     chạy thử
    công công trình     thiết bị  
             
                 
    • Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động.

    Đây là giai đoạn đưa dự án đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và đưa ra tiêu thụ trên thị trường.

    Dự án đầu tư có một vai trò rất quan trọng trong bất cứ hoạt động đầu tư nào, điều này được thể hiện:

    • Dự án đầu tư là cơ sở để quyết định bỏ vốn ra đầu tư. Thông qua dự án đầu tư, nhà đầu tư sẽ quyết định có bỏ vốn ra đầu tư hay không và từ số vốn mình bỏ ra với dự án đầu tư này sẽ đem lại hiệu quả, lợi ích như thế nào?
    • Dự án là cơ sở lập kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư. Trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, thông qua dự án nhà đầu tư có thể tự bố trí kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án đồng thời tổ chức kiểm tra, đôn đốc, theo dõi quá trình thực hiện đầu tư.
    • Dự án là cơ sở để thuyết phục các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho dự án. Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thông qua việc xem xét, thẩm định dự án đầu tư để đánh giá hiệu quả của dự án, là lãi hay lỗ để từ đó đưa ra quyết định tài trợ vốn cho nhà đầu tư hay không.
    • Dự án là cơ sở để thuyết phục các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét cấp giấy phép đầu tư. Điều này được xem xét trên cơ sở dự án có hiệu quả kinh tế cao, không vi phạm quy định Pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến xã hội và qua đó sẽ đưa ra quyết định cho phép đầu tư hay không.
    • Dự án là một trong những cơ sở Pháp lý để xem xét giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình liên doanh thực hiện đầu tư.

    1.1.2.2. Những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư.

    Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia, dự án đó phải thoả mãn các yêu cầu sau:

    • Dự án phải có tính khoa học. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự án đầu tư. Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án. Tính khoa học của dự án được thể hiện: về số liệu thông tin phải đảm bảo trung thực, chính xác; về phương pháp lý giải: các nội dung của dự án không được tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất; về phương pháp tính toán phải đơn giản, chính xác,…
    • Dự án phải có tính pháp lý, tức là dự án phải phản ánh quyền lợi quốc

    6

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gia trong dự án. Nói một cách khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách và Pháp luật của Nhà nước.

    • Dự án phải có tính thực tiễn. Tính thực tiễn vủa dự án đầu tư thể hiện ở chỗ, nó có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế. Mỗi dự án thuộc một ngành nghề cụ thể, có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật cụ thể, cho nên các nội dung, các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể được nghiên cứu một cách chung chung mà phải dựa trên những căn cứ hợp lý, tức là dự án phải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, về thị trường vốn và các chỉ tiêu khác.
    • Dự án phải có tính thống nhất. Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án. Để các bên đối tác có quyết định tham gia dự án, các ngân hàng và tổ chức tài chính quyết định tài trợ hay cho vay vốn với các dự án, và muốn được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép đầu tư thì việc xây dựng dự án từ các bước tiến hành đến nội dung, hình thức, cách trình bày dự án cần phải tuân thủ theo những quy định chung mang tính quốc tế.
    • Dự án phải có tính phỏng định. Trong nhiều trường hợp, những nội dung, những tính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận,… trong dựa án chỉ có tính chất dự trù, dự báo do thực tế xảy ra khác xa với dự kiến ban đầu trong dự án. Vì vậy, dự án phải có tính phỏng định, tuy nhiên, sự phỏng định này phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quan nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế độ bất định trong dự án.

    1.2.    Thẩm định dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.

    1.2.1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư.

    1. Khái niệm.

    Các dự án đầu tư sau khi được soạn thảo và thiết kế xong dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ lưỡng và chi tiết thì chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được thực hiện hay không thì phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập và tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Quá trình đó gọi là thẩm định dự án. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thẩm định tuỳ theo tính chất của công cuộc đầu tư và chủ thể có thẩm quyền thẩm định, song đứng trên góc độ tổng quát có thể định nghĩa như sau:

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (Nhà nước hoặc tư nhân) thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về các mặt pháp lý, các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính hiện thực của dự án, để quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép về đầu tư hay quy định về đầu tư…

    7

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1. Ý nghĩa:

    Thẩm định dự án đầu tư là một công việc quan trọng, nó đề cập đến tất cả những vấn đề của bản thân dự án, và quan trọng hơn, qua quá trình thẩm định, dự án sẽ được tìm hiểu một cách sâu rộng hơn, chuyên môn hơn. Thẩm định dự án có những ý nghĩa vô cùng quan trọng sau đây:

    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư, với những kết quả thu được là một trong những cơ sở quan trọng để có quyết định bỏ vốn đầu tư được đúng đắn.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư, có cơ sở để kiểm tra việc sử dụng vốn đảm bảo đúng mục đích và an toàn vốn.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư có, với những kinh nghiệm và kiến thức của mình sẽ bổ sung thêm những giải pháp góp phần nâng cao tính khả thi của dự án.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư có cơ sở tương đối vững chắc để xác định kết quả đầu tư, thời gian hoàn vốn và trả nợ từ dự án của chủ đầu tư.
    • Thông qua thẩm định dự án đầu tư sẽ rút ra được những kinh nghiệm để tiến hành thẩm định các dự án đầu tư sau tốt hơn.

    1.2.2. Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư.

    Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của các thành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân. Nhưng hoạt động đầu tư sẽ không thể tiến hành được khi không có vốn hay không đủ vốn. Một câu hỏi được đặt ra là: “Vốn lấy từ đầu?” Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các nhà đầu tư thường kêu gọi sự tài trợ từ bên ngoài mà trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết rằng vốn vay có được sử dụng an toàn và hiệu quả hay không. Do đó, không chỉ riêng các nhà đầu tư, mà cả ngân hàng và các cơ quan hữu quan cũng phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư tức là đi sâu xem xét, nghiên cứu đánh giá hàng loạt các vấn đề trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyết định đúng

    đắn.

    1.2.2.1. Đối với nhà đầu tư.

    Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp là nhờ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đúng đắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự án. Với tư cách là chủ dự án và là bên lập dự án, chủ đầu tư biết khá rõ và tương đối tỷ mỷ dự án đầu tư của mình, nắm được những điểm mạnh cũng như điểm yếu, những khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện dự án của mình. Trên thực tế, khi đưa ra một quyết định đầu tư, chủ đầu tư thường xây dựng và tính toán các phương án khác nhau. Điều đó có nghĩa là có nhiều dự án khác nhau được đưa ra nhưng không phải dễ dàng gì trong việc lựa chọn dự án này, loại bỏ dự án kia vì nhiều khi khả năng thu thập, nắm bắt những thông tin mới của chủ dự án bị hạn chế nhất là đối với các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và điều này sẽ làm nguy cơ rủi ro tăng cao và làm giảm tính chính xác trong phán

    8

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đoán của họ. Thông qua việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lựa chọn được dự án đầu tư tối ưu và thích hợp nhất với năng lực của mình.

    1.2.2.2. Đối với ngân hàng.

    Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi và cho vay. Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng được ngân hàng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và ngân hàng. Muốn vậy, ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp cho ngân hàng dự án đầu tư. Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan hơn. Việc thẩm định dự án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thòi gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong tương lai.

    Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư là rất quan trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư như thế nào? Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạt được những chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng.

    1.2.2.3. Đối với xã hội và các cơ quan quản lý Nhà nước.

    Đầu tư luôn được coi là động lực phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia. Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là đầu tư như thế nào cho có hiệu quả, bằng không tác động của đầu tư không hợp lý là rất nguy hại và gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Hiệu quả ở đây không đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả các hiệu quả về mặt xã hội như vấn đề giải quyết công ăn việc làm, tăng thu ngân sách, tăng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề đảm bảo môi trường sinh thái. Ngoài ra, dự án được chọn đầu tư còn phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương mà dự án này thực hiện và phải hoàn toàn tuân thủ các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng và các quy chế quản lý khác của Nhà nước.

    1.2.3. Yêu cầu trong thẩm định dự án đầu tư.

    Thẩm định được tiến hành với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn, của mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu về nội dung thẩm định có khác nhau về mức độ và chi tiết giữa các dự án, tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án, nguồn vốn được huy động và chủ thể có thẩm quyền thẩm định. Tuy vậy, dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, để có kết quả thẩm định có sức thuyết phục thì chủ thể có thẩm quyền thẩm định phải đảm bảo các yêu cầu sau (hoặc một phần trong số các yêu cầu sau):

    9

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng của nhà nước.
    • Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và trình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới. Nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan hệ tài chính – tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các doanh nghiệp khác hoặc chủ đầu tư khác, với các ngân hàng…
    • Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nhgiệp hoặc chủ đầu tư, các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư, từ đó có thêm căn cứ vững chắc để quyết định đầu tư.
    • Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật quan trọng của dự án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế – kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định.
    • Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung của dự án, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành có liên quan cả trong và ngoài nước.
    • Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ dự án.
    • Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định, phối hợp phát huy được trí tuệ tập thể, tránh gây phiền hà.

    1.2.4. Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư.

    Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩm định khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tin đáng tin cậy. Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án. Sau đây là những phương pháp thẩm định thường gặp nhất.

    1.2.4.1. Phương pháp so sánh các chỉ tiêu.

    Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt động. Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:

    • Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được.
    • Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế.
    • Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi.
    • Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
    • Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế – kỹ thuật

    10

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    chính thức hoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế.

    • Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư.
    • Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiện hành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại.
    • Các chỉ tiêu mới phát sinh…

    Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược). Tránh khuynh hướng so sánh máy móc, cứng nhắc, dập khuôn.

    1.2.4.2. Phương pháp thẩm định theo trình tự.

    Trong phương pháp này, việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự biện chứng từ tổng quát đến chi tiết, lấy kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.

    • Thẩm định tổng quát: là việc xem xét một cách khái quát các nội dung cơ bản thể hiện tính pháp lý, tính phù hợp, tính hợp lý của dự án. Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, hiểu rõ quy mô, tầm quan trọng của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, xác định các căn cứ pháp lý của dự án đảm bảo khả năng kiểm soát được của bộ máy quản lý dự án dự kiến.
    • Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính hiện thực của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ, môi trường, kinh tế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng

    • hay sửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được. Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽ phát hiện được các sai sót, kết luận rút ra từ nội dung trước có thể bác bỏ toàn bộ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án.

    1.2.4.3. Phương pháp thẩm định dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án.

    Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính của dự án. Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thẩy xảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án.

    Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể. ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự án để xem xét. Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiều bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao. Trong trường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả

    11

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    năng phát sinh bất trắc đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế.

    1.2.4.4.  Phương pháp dự báo.

    Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tra cung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của dự án.

    1.2.4.5. Phương pháp triệt tiêu rủi ro

    Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án đến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài ý muốn chủ quan. Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dự đoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn chế thấp nhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến dự án.

    Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểm xây dựng, bảo lãnh hợp đồng. Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quen thuộc nhất là bảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và uy tín, thế chấp tài sản. Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lần khi vay vốn nên thành lập Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm.

    1.2.5. Nội dung thẩm định dự án đầu tư.

    • Thẩm định điều kiện pháp lý của dự án và sự cần thiết phải đầu tư:

    Nội dung này bao gồm việc thẩm định các văn bản, thủ tục hồ sơ trình duyệt theo quy định, đặc biệt là xem xét đến tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư. Đây là nội dung đầu tiên được xem xét khi thẩm định dự án, nó được xem như là điều kiện cần để tiến hành các nội dung thẩm định tiếp theo.

    Dự án có cần thiết đầu tư hay không? Điều này được xác định dựa trên hai khía cạnh: đó là dự án có ưu thế như thế nào trong quy hoạch phát triển chung; đồng thời dự án được đầu tư sẽ đóng góp như thế nào cho các mục tiêu gia tăng thu nhập cho nền kinh tế và doanh nghiệp, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo công ăn việc làm…

    • Thẩm định dự án về phương diện thị trường:

    Kiểm tra phân tích các vấn đề liên quan đến cung cầu về sản phẩm của dự án. Tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản phẩm của dự án, tiến hành lập bảng cân đối về nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng của các nguồn cung hiện có và xu hướng biến động của nguồn đó, đánh giá mức độ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án, công cụ được sử dụng trong cạnh tranh… Từ đó đánh giá mức độ tham gia thị trường mà dự án có thể đạt được. Kết quả phân tích này làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.

    12

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Thẩm định phương diện kỹ thuật và tổ chức của dự án: – Về phương diện kỹ thuật.

     

    Xem xét lựa chọn các phương án địa điểm và mặt bằng xây dựng dự án.

    Vị trí lựa chọn dự án cần được tối ưu hoá (về quy hoạch xây dựng kiến trúc của địa phương ngành, thuận lợi về giao thông, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, bảo đảm về môi trường…).

    Xem xét lựa chọn các hình thức đầu tư và công suất dự án. Đây là nhiệm vụ của chủ dự án, nhà thẩm định chỉ có trách nhiệm phát hiện sai sót, nhầm lẫn mang tính chủ quan đồng thời kiểm tra loại bỏ dự án sử dụng công nghệ ô nhiễm, lạc hậu so với chiến lược phát triển công nghệ.

    Xem xét lựa chọn công nghệ và dây chuyền thiết bị, đảm bảo phù hợp với điều kiện trong ngành, địa phương và nguồn nguyên liệu đáp ứng.

    – Về phương diện tổ chức

    Xem xét các đơn vị thi công về các khía cạnh tư cách pháp nhân, năng lực thực hiện, khả năng đáp ứng yêu cầu dự án và kế hoạch phòng ngừa rủi ro cũng như phương án tổ chức thực hiện, cơ cấu quản lý và thực hiện.

    • Thẩm định về phương diện tài chính: nội dung thẩm định tài chính bao gồm thẩm định tài chính trong doanh nghiệp (hoặc chủ đầu tư) và thẩm định tài chính đối với chính dự án đang được xem xét.

     

    • Thẩm định về phương diện lợi ích kinh tế xã hội: nhằm so sánh giữa cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt nhất và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế (chứ không chỉ riền cho cơ sở sản xuất kinh doanh). Việc thẩm định kinh tế xã hội của dự án được tính toán trên cơ sở một loạt các tiêu chuẩn đánh giá và chỉ tiêu đánh giá như: Giá trị gia tăng thuần tuý, giá trị gia tăng thuần tuý quốc gia, các chỉ tiêu về số lao động có việc làm, các chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội…

     

    1.2.6. Một số rủi ro chủ yếu trong thẩm định dự án.

     

    Một số dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện đầu tư đi vào sản xuất có thể xảy ra nhiều loại rủi ro khác nhau, có thể là do nguyên nhân chủ quan cũng có thể là do nguyên nhân khách quan. Việc tính toán khả năng tài chính của dự án như đã giới thiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không bị ảnh hưởng bởi một loại các rủi ro có thể xảy ra. Vì vậy, việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu. Dưới đây là một số rủi ro chủ yếu:

     

    • Rủi ro về cơ chế chính sách:

    Rủi ro này được xem là gồm tất cả những bất ổn về tài chính và chính sách của nơi hoặc địa điểm xây dựng dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế và chuyển tiền, quốc hữu hoá, tư hữu hoá hay các luật nghị quyết, nghị định và

    13

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    các chế tài khác có liên quan đến dòng tiền của dự án.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng nhiều cách:

    • Khi thẩm định dự án, phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (theo hồ sơ dự án), để đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh các luật và quy định hiện hành có liên quan tới dự án.
    • Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng quy định về vấn đề này.
    • Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới dự án.
    • Bảo hiểm tín dụng, xuất khẩu…
    • Rủi ro về tiến độ xây dựng, hoàn tất:

    Rủi ro này được xem là việc hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không phù hợp với các tiêu chuẩn và thông số thực hiện. Loại rủi ro này nằm ngoài khả năng điều chỉnh, kiểm soát của ngân hàng, tuy nhiên nó có thể giảm thiểu bằng cách đề xuất với chủ đầu tư thực hiện các biện pháp sau:

    • Lựa chọn nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh tài chính và kinh nghiệm.
    • Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh chất lượng công trình.
    • Giám sát chặt chẽ trong quá trình xây dựng.
    • Hỗ trợ của cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khoa học trong trường hợp vượt dự toán.
    • Quy định rõ trách nhiệm, vấn đề đền bù, giải toả mặt bằng.
    • Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khoá trao tay với sự phân chia rõ ràng nghĩa vụ của mỗi bên.

    ¾ Rủi ro thị trường, thu thập, thanh toán:

    Rủi ro này bao gồm: Thị trường không chấp nhận hoặc không đủ cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; do sức ép cạnh tranh, giá bán sản phẩm không đủ để bù đắp lại các khoản chi phí của dự án;…

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    • Nghiên cứu thị trường, đánh giá phân tích thị trường, thị phần cẩn thận.
    • Dự kiến cung cầu thận trọng, không nên có những dự báo quá lạc quan.
    • Phân tích khả năng thanh toán, thiện ý, hành vi của người tiêu dùng
    • Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng về tài chính.
    • Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm của Chính phủ
    • Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra.
    • Rủi ro về cung cấp:

    Đây là rủi ro khi dự án không có được nguồn nguyên liệu (đầu vào) với số lượng, giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ vốn vay để đầu tư.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    14

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Trong quá trình xem xét dự án, cán bộ thẩm định phải nghiên cứu, đánh giá cẩn trọng các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên nhiên liệu vật liệu đầu vào trong hồ sơ dự án. Đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính toán, xác định hiệu quả tài chính của dự án.
    • Nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật

    liệu.

    • Linh hoạt về thời gian và số lượng nguyên nhiên vật liệu mua vào.
    • Những thoả thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuối cùng.
    • Những hợp đồng cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào dài hạn với nhà cung cấp có uy tín.

    ¾ Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì:

    Đây là những rủi ro về việc dự án không thể vận hành và bảo trì ở mức độ phù hợp với các thông số thiết kế ban đầu.

    Loại rủi ro này, chủ đầu tư có thể giảm thiểu thông qua thực hiện một số biện pháp sau:

    • Sử dụng công nghệ đã được kiểm chứng
    • Bộ phận vận hành dự án phải được đào tạo tốt, có kinh nghiệm.
    • Có thể ký hợp đồng vận hành và bảo trì với những điều khoản khuyến khích và phạt vi phạm rõ ràng.
    • Bảo hiểm các sự kiện bất khả kháng tự nhiên như lụt lội, động đất, chiến

    tranh…

    • Kiểm soát ngân sách và kế hoạch vận hành.
    • Quyền thay thế người vận hành do không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
    • Rủi ro về môi trường, xã hội:

    Rủi ro này thể hiện những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người dân xung quanh.

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng một số biện pháp sau:

    • Báo cáo đánh giá tác động của môi trường phải khách quan và toàn diện, được cấp có thẩm quyền chấp nhận bằng văn bản.
    • Nên có sự tham gia của các bên liên quan như cơ quan quản lý môi trường và chính quyền địa phương, từ khi bắt đầu triển khai dự án.
    • Tuân thủ các quy định về môi trường.
    • Rủi ro về kinh tế vĩ mô:

    Đây là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất…

    Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

    • Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản.
    • Sử dụng các công cụ thị trường như hoán đổi và tự bảo hiểm.
    • Bảo vệ trong các hợp đồng như chỉ số hoá, giá cả leo thang, bất khả kháng…

    15

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đảm bảo của Nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối (nếu

    được).

    Trên đây là những nội dung căn bản trong bất cứ một quá trình thẩm định dự án đầu tư nào. Có thể nói, thẩm định dự án đầu tư là một công việc hết sức phức tạp, nó đòi hỏi phải luôn hoàn thiện qua thực tế chứ không phải chỉ dừng lại ở lý thuyết. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư đối với các ngân hàng là điều rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro, phát huy hiệu quả hoạt động của mình một cách tối đa…

    Trong công tác thẩm định dự án đầu tư, việc thẩm định tài chính của dự án đầu tư là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ một dự án nào. Những phân tích, đánh giá về mặt tài chính sẽ giúp người thẩm định tìm hiểu về dự án một cách toàn diện hơn, sâu rộng hơn, có được những đánh giá chính xác hơn đối với dự án đó. Vì xét một cách toàn diện, bất kỳ một dự án nào đều được phản ánh một cách hoàn hảo nhất qua các chỉ tiêu về tài chính như Doanh thu, chi phí, lãi lỗ qua các năm dự tính… Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong phần sau để có được những hiểu biết bao quát hơn về vấn đề này.

    1.3. Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại.

    1.3.1. Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM.

    Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đánh giá xem xét phân tích các chi phí và lợi ích tài chính dự toán của dự án. Lợi ích tài chính dự toán của dự án được xem xét thông qua các dòng tiền thu và dòng tiền chi dự toán. Thông qua lợi ích tài chính dự toán và qua các chỉ tiêu tài chính để ngân hàng quyết định cho vay hay bác bỏ cho vay. Thông thường NHTM thẩm định tài chính dự án theo quy trình sau:

    16

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
             
             
      Ph©n tÝch dù b¸o   Ph©n tÝch ®¸nh  
      vÒ nhu cÇu thÞ   gi¸ vÒ nhu cÇu  
      tr−êng   s¶n xuÊt  
             

    Ph©n tÝch kÕ ho¹ch tμi chÝnh

    Ph©n tÝch kÕ ho¹ch thu chi hμng

    TÝnh dßng tiÒn thu chi hμng n¨m cña

    ThÈm ®Þnh hiÖu qu¶ tμi chÝnh

    ChÊp nhËn hay b¸c bá quyÕt ®Þnh

    Sơ đồ 1: Quy trình thẩm định tài chính DAĐT tại các NHTM.

    Để thực hiện được công tác thẩm định về mặt tài chính một cách chuẩn xác và chặt chẽ, có tính thuyết phục cao, các ngân hàng thương mại phải xác định được nguồn thông tin dùng để phân tích. Thông tin bao gồm:

    • Thông tin hành chính: Nắm bắt được hiệu quả tài chính dự án (khả năng thu, chi, trả nợ, nguồn trả…). Các kết luận tài chính…
    • Thông tin phi tài chính: Bao gồm các thông tin về tên doanh nghiệp, văn phòng đại diện, ban giám đốc, số giấy phép đăng ký, cơ cấu vốn pháp định, tài khoản…

    Nếu thẩm định dự án một cách nghiêm túc đúng thủ tục và biện pháp thì quyết định đầu tư, tài trợ hợp lý của ngân hàng sẽ đảm bảo tăng lợi nhuận cho ngân hàng, tránh rủi ro, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư kinh doanh.

    1.3.2. Nội dung thẩm tài chính định dự án đầu tại NHTM.

    1.3.2.1. Xác định tổng vốn đầu tư:

    Đây là một nội dung quan trọng đầu tiên cần xem xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án. Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn

    17

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động, tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án. Nếu vốn đầu tư quá thấp thì dự án không thực hiện được và ngược lại, nếu dự tính quá cao thì sẽ không phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án. Tổng mức vốn này được chia ra làm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động ban đầu (chỉ tính cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên).

    • Vốn cố định:

    Vốn cố định bao gồm những chi phí sau đây:

    • Chi phí chuẩn bị: là những chi phí trước khi thực hiện dự án (chi phí trước vận hành). Chi phí này không trực tiếp tạo ra tài sản cố định nhưng là chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư. Chi phí này bao gồm:
      • Chi phí cho điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án.
    • Chi phí cho tư vấn, thiết kế, chi phí cho quản lý dự án.
    • Chi phí đào tạo, huấn luyện…

    Các chi phí này khó có thể tính toán chính xác được. Bởi vậy, cần phải được xem xét đầy đủ các khoản mục để dự trù cho chính xác.

    • Chi phí cho xây lắp và mua sắm thiết bị: bao gồm các khoản mục sau:
    • Chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước. Chi phí này phải phù hợp với các quy định của Bộ tài chính về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển.
    • Chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
    • Giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có.
    • Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng hoặc cấu trúc hạ tầng.
    • Chi phí về máy móc thiết bị (bao gồm cả lắp đặt và chạy thử), phương tiện vận tải.
    • Các chi phí khác…
    • Vốn lưu động ban đầu:

    Vốn lưu động ban đầu bao gồm các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên, nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật đã dự kiến. Nó bao gồm:

    • Vốn sản xuất: chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu, phụ tùng…
    • Vốn lưu thông: thành phần tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hoá bán chịu, vốn bằng tiền…

    ¾ Vốn dự phòng:

    Tổng mức vốn đầu tư dự tính của dự án cần được xem xét theo từng giai đoạn của quá trình thực hiện đầu tư và được xác định rõ bằng tiền Việt, ngoại tệ, bằng hiện vật hoặc bằng các tài sản khác…

    18

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.3.2.2. Xác định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự đảm bảo của nguồn vốn tài trợ cho dự án và tiến độ bỏ vốn.

    Đối với một dự án thì các nguồn tài trợ cho dự án có thể do ngân sách cấp phát, ngân hàng cho vay, góp vốn cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanh góp, vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác. Để đảm bảo cho tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn, các nguồn tài trợ nên được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà còn cả về thời điểm được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải được đảm bảo chắc chắn, sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế. Chẳng hạn nếu nguồn tài trợ này bằng văn bản sau khi các cơ quan này đã ký vào hồ sơ thẩm định dự án. Nếu là vốn góp cổ phần hoặc liên doanh phải có sự cam kết về tiến độ và số lượng vốn góp của các cổ động hoặc các bên liên doanh được ghi trong điều lệ liên doanh. Nếu là vốn tự có thì phải có bản giải trình về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở 3 năm trước đây và hiện tại chứng tỏ cơ sở đã, đang và sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ và do đó đảm bảo có vốn để thực hiện dự án.

    Tiếp đó, phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lượng và tiến độ. Nếu khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu cầu thì dự án được chấp nhận. Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xem xét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm quy mô của dự án.

    Sau khi đã xác định được các nguồn tài trợ cho dự án thì cần xác định cơ cấu nguồn vốn cho dự án. Điều này có nghĩa là tính toán tỷ lệ từng nguồn chiếm trong tổng mức vốn đầu tư dự kiến. Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện của các công việc đầu tư (trong phần phân tích kỹ thuật) và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn cụ thể. Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiền cần thiết thực tế phải huy động hàng năm trong trường hợp có biến động giá cả hoặc lạm phát.

    1.3.2.3. Xác định chi phí sản xuất và giá thành:

    Sau khi đã xác định được nguồn vốn cho dự án, ngân hàng tiếp tục xác định tổng chi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm dự kiến. Tổng doanh thu bao gồm cho phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm các loại chi phí vật chất, chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí sử dụng vốn và khấu hao TSCĐ. Chi phí ngoài sản xuất bao gồm các loại như chi phí quảng cáo, chi phí dự phòng lưu thông sản phẩm và các chi phí khác… Ngân hàng cần xác định giá thành của từng loại sản phẩm, đánh giá các khoản mục chi phí tạo nên giá thành sản phẩm cao hay thấp, có hợp lý hay không, so sánh với giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm tương tự trên thị trường và từ đó rút ra những kết luận cụ thể. Để tính giá thành sản phẩm cần căn cứ vào tổng mức chi phí, mức chênh lệch giá, xác định được các hao hụt ngoài dự kiến để tiến hành phân bổ cho số lượng thành phẩm một cách hợp lý. Khi đó trong quá trình thẩm

    19

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    định cần chú ý tới toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm, các loại khấu hao (hữu hình và vô hình), kiểm tra chi phí nhân công, phân bổ các chi phí lãi vay ngân hành, tính toán lại các mức thuế phải nộp, tránh thừa thiếu hay áp dụng sai mức thuế.

    1.3.2.4. Xác định doanh thu và lợi nhuận của dự án:

    Doanh thu của dự án là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ thu được trong năm dự kiến. Doanh thu của dự án được xác định trên cơ sở chi phí sản xuất giá bán buôn sản phẩm dịch vụ của dự án. Cần chú ý tới các chỉ tiêu tổng sản lượng, tổng doanh thu, lợi nhuận trước thuế, công suất hoạt động… Doanh thu cần được xác định rõ từng nguồn dự kiến theo năm. Thông thường trong những năm đầu, hoạt động doanh thu đạt thấp hơn những năm sau (50 – 60%) doanh thu khi ổn định).

    Lợi nhuận của dự án là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất các sản phẩm. Lợi nhuận của dự án mà người thẩm định quan tâm bao gồm lợi nhuận gộp, lợi nhuận ròng trước thuế, lợi nhuận ròng sau thuế…

    1.3.2.5. Xác định dòng tiền dự kiến:

    Dòng tiền ròng = Tổng các khoản thu trong kỳ – Chi phí trong kỳ

    NCF      =                      B                                                                      C

    Trong đó, khoản thu trong kỳ (ký hiệu là B): nó có thể là doanh thu thuần

    của các năm trong kỳ, giá trị thanh lý tài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản này hêt tuổi thọ quy định) và ở cuối đời dự án…

    Các khoản chi trong kỳ (ký hiệu là C): nó có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và tạo ra tài sản cố định ở các thời điểm trung gian, chi phí hàng năm của dự án (chi phí này không bao gồm khấu hao)…

    1.3.2.6. Tính toán chỉ tiêu chi phí sử dụng vốn của dự án:

    Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, đặc biệt là những chỉ tiêu hiệu quả tài chính có liên quan đến tỷ suất chiết khấu, ta cần tính được chi phí sử dụng vốn bình quân.

    m

    Σ I k .rk

    r = k =1m

    Σ I k

    k =1

    Trong đó:

    Ik: là số vốn đầu tư của nguồn thứ k

    rk: là lãi suất tương ứng của nguồn đó

    m: là số nguồn vốn huy động được cho dự án

    Tỷ suất chiết khấu r sẽ được dùng trong thẩm định tài chính dự án.

    20

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.3.2.7. Xác định các chỉ tiêu phân tích tài chính dự án (hiệu quả đầu tư):

    Trên thực tế có khá nhiều chỉ tiêu đánh giá dự án về mặt tài chính, song các chỉ tiêu phổ biến và cơ bản nhất thường được dùng trong thẩm định tài chính dự án gồm có:

    • Giá trị hiện tại của thu nhập thuần – NPV (Net Present Value): NPV là thu nhập ròng có được do thực hiện dự án tính ở thời điểm hiện

    tại. Chỉ tiêu NPV cho phép ta đánh giá được một cách đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án. Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí của cả đời dự án. Với ý nghĩa như vậy, NPV được xem như là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá và lựa chọn dự án. NPV được tính theo công thức sau:

    n B C i  
    NPV = Σ i
    (1 + r)i  
    i=0
    • Đánh giá dự án theo chỉ tiêu này đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên

    tắc sau:

    + Chỉ chấp nhận các dự án có NPV > = 0

    • Nếu lựa chọn dự án trong một tập hợp các dự án được chọn là dự án có NPV lớn nhất.
    • Chỉ tiêu NPV có các hạn chế sau:
    • Không thấy được lợi ích thu được từ một đồng vốn đầu tư.
    • Phụ thuộc vào cách lựa chọn tỷ suất triết khấu
    • Không áp dụng được trực tiếp để so sánh, lựa chọn các dự án có vòng đời hay vốn đầu tư khác nhau.

    ¾ Hệ số hoàn vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Returns):

    Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết

    khấu để tính chuyển các khoản thu và các khoản chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại, thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác là giá trị hiện tại của thu nhập thuần của dự án sẽ bằng không. Đây là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính dự án. Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được. Dự án được lựa chọn khi IRRda > MARR (Minimum Attractive Rate of Return). MARR được gọi là mức lãi suất thấp nhất có thể chấp nhận được. Nó chủ yếu được tính trên cơ sở kinh nghiệm của người chủ đầu tư hoặc ngân hàng thẩm định. IRRda được tính theo công thức:

    n Bi n Ci    
    Σ   − Σ   = 0  
    (1+ r)i (1 + r)i
    i=0 i=0    

    Ưu điểm: Có thể tính toán được mà không cần số liệu về tỷ suất chiết khấu.

    Nhược điểm: không xác định được IRR trong trường hợp dòng tiền bị biến dạng, thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc ngược lại, vì có rất nhiều đáp

    21

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    số khác nhau.

    • Thời gian hoàn toàn vốn (Pay – back Period):

    Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra. Nó chính là khoảng thời gian cần thiết để hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao thu hồi hàng năm.

    Thời gian hoàn vốn có thể được tính theo hai cách: Thời gian hoàn vốn giản đơn (không triết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.

    Thời gian hoàn vốn giản đơn:

    T                    T

    Σ Bi − Σ Ci  = 0

    i=0                i=0

    Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng không xét đến thời giá của đồng tiền nên không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn.

    Trong đó: T: là thời gian hoàn vốn chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền.

    Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:

    T Bi T Ci    
    Σ   − Σ   = 0  
    (1+ r)i (1 + r)i
    i=0 i=0    

    Trong đó: T là khoảng thời gian hoàn vốn có chiết khấu

    Ưu điểm: Mang tính thực tế cao, là căn cứ để ra quyết định đầu tư, giảm thiểu rủi ro vì dữ kiện trong những năm đầu của dự án bao giờ cũng đạt độ tin cậy cao hơn.

    Nhược điểm: Không cho biết thu nhập lớn hay nhỏ sau kỳ hoàn vốn, trong thực tế đây cũng là mối quan tâm lớn của nhà đầu tư. Có những dự án thời gian đầu mang lại thu nhập rất thấp nhưng triển vọng về lâu dài lại có thể tốt đẹp

    • Điểm hoà vốn của dự án (Break – Even Point):

    Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chi phí bỏ ra. Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, do đó tại đây dự án chưa có lãi nhưng cũng không bị lỗ. Bởi vậy, chỉ tiêu này cho biết khối lượng sản phẩm hoặc mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp nhất cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra. Điểm hoà vốn có thể được biểu hiện bằng chỉ tiêu hiện vật (sản lượng tại điểm hoà vốn) hoặc chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểm hoà vốn). Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc doanh thu của dự án tại điểm hoà vốn thì dự án có lãi, ngược lại nếu thấp hơn thì dự án bị lỗ. Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn. Có hai cách xác định điểm hoà vốn đó là phương pháp đại số và phương pháp đồ thị.

    Theo phương pháp đại số, người ta gọi x là khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc bán đựơc, gọi x0 là khối lượng sản phẩm tại điểm hoà vốn, f là chi phí cố

    22

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    định (định phí), v là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm (biến phí), v . x là tổng biến phí, p là đơn giá sản phẩm. Ta có hệ phương trình sau:

    yDT = px

    yCF = v.x + f

    Tại điểm hoà vốn thì px0 = vx0 + f suy ra:

    Sản lượng hoà vốn:

    =          f

    0         p v

    Doanh thu hoà vốn:

    DT0  = 1 f vp

    Người ta có thể tính các loại điểm hoà vốn khác nhau như điểm hoà vốn lãi lỗ, điểm hoà vốn hiện kim hoặc điểm hoà vốn trả nợ.

    • Số lần quay vòng của vốn lưu động:

    L =  0i

    Wci

    Trong đó: Oi: Doanh thu thuần bình quân năm kỳ nghiên cứu

    Wci: Vốn lưu động bình quân năm kỳ nghiên cứu

    Nếu L = [L]: dự án có số quay vòng vốn tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt

    động của dự án. L > [L]: dự án không đạt hiệu quả hoạt động, cần được sửa đổi.

    Trong đó [L] là số vòng quay vốn lưu động bình quân năm cho phép.

    • Tỷ suất sinh lời vốn của vốn đầu tư:

    RRi = WipvIvo

    Trong đó:

    Wipv: Lợi nhuận thuần thu được năm thứ i theo mặt bằng giá trị khi các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.

    Ivo: Tổng vốn đầu tư thực hiện ước tính đến thời điểm các kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng.

    Trường hợp RRi = [RRi], dự án có tỷ suất sinh lời vốn đầu tư càng lớn thì hiệu quả tài chính dự án càng cao. RRi < [RRi], dự án đầu tư không đạt hiệu quả

    cần được sửa đổi bổ sung. Trong đó [RRi] là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư cho phép.

    Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích, đánh giá hiệu quả tài chính dự án. Tuỳ theo yêu cầu hay tình huống cụ thể mà người thẩm định còn có thể lựa chọn rất nhiều các chỉ tiêu khác nữa nhằm đưa ra đánh giá

    23

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tổng quan hơn (ví dụ như tỷ suất sinh lời của vốn tự có, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư tính cho toàn bộ công cuộc đầu tư…)

    1.3.3. Chất lượng thẩm định tài chính dự án tại NHTM.

    1.3.3.1. Khái niệm chất lượng thẩm định dự án đầu tư:

    Hoạt động thẩm định dự án nói chung và hoạt động thẩm định tài chính dự án nói riêng có ảnh hưởng quyết định và trực tiếp đến các khoản cho vay, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, nâng cao chất lượng thẩm định tài trợ dự án đầu tư là nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên của mỗi ngân hàng.

    Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là sự đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của ngân hàng trong hoạt động cho vay: nâng cao chất lượng cho vay, hỗ trợ cho việc ra quyết định cho vay với phương châm sinh lợi và an toàn của ngân hàng. Trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư, các cán bộ phải xem xét, đánh giá một cách khách quan những vấn đề có liên quan đến khía cạnh tài chính của một dự án đầu tư. Các cán bộ phải đánh giá xem: dự án có mang lại lợi nhuận để có khả năng trả nợ cho ngân hàng không? Thời gian trả nợ là bao lâu? ..v..v..

    Vậy với chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư thể hiện mức độ chính xác, trung thực và linh hoạt trong việc đánh giá khía cạnh tài chính của dự án đầu tư. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tốt sẽ đảm bảo cho các quyết định đầu tư của ngân hàng hợp lý, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, rủi ro không thu hồi được vốn là thấp.

    1.3.3.2.  Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án:

    Thẩm định dự án là một công cụ quản lý và kiểm tra quan trọng của ngân hàng nhằm đưa ra những quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đồng thời tham gia góp ý kiến cho các chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay, thu đủ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Mặt khác, thẩm định tài chính dự án còn là cơ sở để xác định số tiền cho vay, mức thu nợ, thời hạn hợp lý, tạo tiền đề cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.

    Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định dự án có ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở các yếu tố, các quy trình thẩm định, ta có thể xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định làm cơ sở, căn cứ cho công tác thẩm định. Đó là yêu cầu và trách nhiệm đồng thời cũng là mong muốn của tất cả hệ thống ngân hàng. Hiện nay ở nước ta chưa có một cơ quan, ban ngành nào thực hiện được điều này.

    Chất lượng thẩm định thể hiện ở chỗ, các kết luận, các đánh giá về dự án có phải là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư cho dự án hay không. Đối với các nhà quản lý ngân hàng, hoạt động thẩm định được coi là có chất lượng khi nó hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định có đầu tư, có cho vay

    24

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    hay không và tất nhiên, là đầu tư phải an toàn, sinh lợi cho ngân hàng.

    Sau đây là một số chỉ tiêu cụ thể phản ánh chất lượng thẩm định:

    • Thẩm định đúng quy trình khoa học và toàn diện
    • Thông tin thu thập đa dạng được sử dụng tốt để làm căn cứ cho ra quyết định đánh giá khách quan
    • Công tác tổ chức và quản lý bộ máy thẩm định phù hợp với hoạt động của ngân hàng
    • Thẩm định với thời gian ngắn, chi phí thấp (giảm thời gian và chi phí thẩm định trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu).
    • Phát hiện và dự báo tốt các xu hướng, các rủi ro liên quan đến quá trình đầu tư, có biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro.
    • Xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá dự án phù hợp với từng dự án.

    Kết quả thẩm định đưa về việc đánh giá:

    • Độ rủi ro của dự án
    • Khả năng sinh lời của dự án
    • Tính khả thi của dự án

    Có thích hợp và hợp lý không?

    Cuối cùng, việc cho vay sẽ liên quan đến việc ngân hàng:

    • Có khả năng thu hồi được nợ không? Làm sao để không có nợ quá hạn, nợ khó đòi chỉ là tạm thời?
    • Đóng góp của dự án vào nền kinh tế quốc dân là nhiều hay ít, có thực

    hiện chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội hay không?

    Nếu như việc thẩm định dự án đầu tư được thực hiện với chất lượng tốt thì quyết định đầu tư hợp lý của ngân hàng sẽ dc đảm bảo:

    • Tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
    • Rủi ro không thu hồi được vốn của ngân hàng là thấp nhất.

    Tất nhiên việc đánh giá chính xác hiệu quả của từng quá trình thẩm định dự án là rất khó khăn và đòi hỏi thời gian dài. Mỗi khâu của quá trình thẩm định đạt chất lượng tốt thì chất lượng thẩm định dự án sẽ cao, đem lại hiệu quả cho ngân hàng trong công tác cho vay đầu tư của mình.

    1.3.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư:

    Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư ở ngân hàng thương mại phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau, muốn nâng cao chất lượng hoạt động này ngân hàng phải xem xét kỹ từng nhân tố. Thông thường chất lượng thẩm định tài chính chịu sự tác động của một số nhân tố sau:

    1.3.3.3.1. Về phía ngân hàng:

    • Thông tin:

    25

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thông tin là cơ sở cho phân tích đánh giá, là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Muốn có kết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải có được thông tin, số liệu đầy đủ, chính xác trên nhiều góc độ khác nhau. Để có được nguồn thông tin cần thiết cho dự án, ngân hàng có thể dựa vào các thông tin do chủ đầu tư cung cấp hoặc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến vấn đề cần đánh giá và tiến hành sắp xếp thông tin, sử dụng các phương pháp xử lý thông tin một cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định.

    Hiện nay để có được thông tin về khách hàng của mình không khó đối với ngân hàng nhưng làm sao để có những thông tin chính xác mới là vấn đề ngân hàng phải quan tâm. Thông thường để thuận lợi cho việc đi vay, dự án mà chủ đầu tư đưa đến NH đều khả th và mang tính chủ quan của người lập, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đều cho thấy tình hình tài chính là lành mạnh. Nếu NH chỉ dựa vào các thông tin này thì kết quả thẩm định sẽ không phản ánh đúng thực chất hiệu quả của dự án. Như vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác luôn được đặt ra như một nhu cầu cấp bách đối với công tác thẩm định dự án, thiết lập được một hệ thống thông tin như vậy sẽ giúp cho NH rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH.

    • Cán bộ thẩm định:

    Trong quá trình thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng cán bộ thẩm định luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ họ chính là những người trực tiếp tiến hành hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, và thẩm định tài chính dự án đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi cán bộ thẩm định không những phải có kiến thức sâu về nghiệp vụ, phải am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải có những hiểu biết về các vấn đề liên quan như: Thuế, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ… Do vậy phần nào hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ phụ thuộc vào chất lượng nhân tố con người. Sự hiểu biết và toàn bộ những kiến thức về khoa học, kinh tế, xã hội mà người thẩm định có được dều phải thông qua đào tạo hay sự bồi dưỡng kiến thức mà có; kinh nghiệm, kỹ năng là những gì tích luỹ được thông qua hoạt động thực tiễn; năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở các tri thức, kiến thức đã được tích luỹ. Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt của cán bộ thẩm định là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định và ngược lại, người thẩm định không có kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc, không đánh giá đúng được tính khả thi của dự án.

    Để đạt được chất lượng tốt trong thẩm định tài chính dự án, yêu cầu quan trọng đầu tiên đối với cán bộ thẩm định là phải nắm vững chuyên môn nghiệp vụ. Phải nắm vững các văn bản pháp luật, các chế độ chính sách do Nhà nước

    26

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    quy định đối với các lĩnh vực: Ngân hàng, xây dựng cơ bản, tài chính kế toán… Như vậy cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư. Lấy thông tin gì? Ở đâu? Áp dụng chỉ tiêu nào để đánh giá đều được tiến hành bởi cán bộ thẩm định. Do vậy muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trước hết bản thân trình

    độ kiến thức, năng lực đạo đức của cán bộ thẩm định phải cao.

    • Phương pháp thẩm định và các tiêu chuẩn thẩm định:

    Phương pháp thẩm định là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩm định tài chính dự án. Với nguồn thông tin đã có được, vấn đề đặt ra với ngân hàng là làm thế nào? Lựa chọn phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định dự án có hiệu quả tốt nhất. Mỗi dự án có một đặc trưng nhất định, không phải bất cứ dự án nào cũng cần phải áp dụng và tính toán tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống thẩm định. Việc sử dụng phương pháp nào, chỉ tiêu nào để thẩm định phụ thuộc vào quyết định của mỗi ngân hàng. Với mỗi dự án, phương pháp tốt nhất là phương pháp phù hợp nhất nhưng chưa chưa chắc chắn rằng phương pháp đấy là hiện đại nhất. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, những phương pháp thẩm định tài chính dự án hiện đại đã giúp cho việc phân tích, đánh giá dự án được toàn diện, chính xác và hiệu quả hơn. Song điều quan trọng là ngân hàng phải biết áp dụng đồng bộ các chỉ tiêu đảm bảo tính toàn diện và cũng phải lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất phù hợp với tình hình thực tế của ngành, dự án cũng như khả năng điều kiện cụ thể của ngân hàng.

    Khi dùng một phương pháp, một chỉ tiêu để thẩm dịnh cán bộ thẩm định phải hiểu rõ phương pháp ấy có những ưu nhược điểm gì, có phù hợp để thẩm định dự án không? Ví dụ như dùng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để thẩm định tài chính dự án đầu tư, phương pháp này không quan tâm đến dòng tiền sau năm thu hồi vốn, do đó không lường trước được những rủi ro trong tương lai ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án như thế nào? Do vậy nó thích hợp cho những dự án nhỏ, hao mòn nhanh, phải thu hồi vốn nhanh. Cán bộ thẩm định phải nắm chắc những nhược điểm ấy của chỉ tiêu để thẩm định những dự án phù hợp với nó. Rõ ràng ở đây nếu ngân hàng chỉ áp dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cho các dự án có thời gian dài, quy mô lớn thì không hiệu quả.

    Lạm phát là yếu tố bất định ảnh hưởng đến việc thẩm định tài chính dự án. Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian, do vậy nó làm biến đổi dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi đánh giá tài chính dự án đầu tư. Mức lạm phát không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố: quy luật cung cầu, tâm lý người tiêu dùng, sức mạnh nền kinh tế. Các biến số tài chính trong dự án, các yếu tố đầu vào của các chỉ tiêu NPV, IRR đều chịu tác động của lạm phát. Do vậy để đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó cần phải xác định một cách chính xác hợp lý giá cả của các yếu tố trong chi phí hay doanh thu của dự án. Nếu giá được cung cấp trong dự án là giá cố định,

    27

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    không thay đổi theo thời gian và nếu có được áp dụng trong suốt thời gian hoạt động của dự án thì một mặt người lập dự án đã đơn giản hoá việc xây dựng các bảng tóm tắt tài chính của dự án, mặt khác nó đã loại ra khỏi dự án sự phân tích các thông tin kinh tế, tài chính có thể ảnh hưởng đến kết quả của dự án. Nếu giá cả đầu vào đầu ra của dự án được điều chỉnh trong suốt thời gian hoạt động của dự án theo một xu hướng mà nhà thẩm định giả định cho các thời kỳ trong tương lai thì đó là giá thực. Đó là giá có thể có trong tương lai, được dự đớn trên mức cung cầu hàng hoá hay sản phẩm của dự án trong một khoảng thời gian với các nguồn cung cấp sẵn có và các yếu tố bên ngoài khác có thể ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Sử dụng giá này giúp cho việc tính toán xây dựng các biến số của bảng tài chính sẽ đáng tin cậy hơn, chính xác hơn, giúp cho công tác thẩm định có hiệu quả hơn.

    Lãi suất chiết khấu là yếu tố quan trọng trong thẩm định tài chính dự án đầu tư. Việc thay đổi lãi suất có ảnh hưởng đến giá trị hiện tại của các khoản thu nhập và chi phí. Nếu lãi suất này quá thấp sẽ khuyến khích đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, nếu nó quá cao sẽ hạn chế đầu tư. Hiện nay chúng ta chưa có một quy định thống nhất nào về tỷ lệ này đối với từng ngành nghề cụ thể cũng như không có một chuẩn mực nào để xác định lãi suất chiết khấu dẫn đến dùng các tỷ lệ khác nhau để đánh giá, so sánh dự án gây lên sự khó khăn không chính xác trong công tác thẩm định.

    • Một số nhân tố khác: – Tổ chức điều hành:

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nhiều hoạt động liên quan chặt

    chẽ với nhau, kết quả của nó phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức, điều hành, sự phối hợp các bộ phận trong quá trình thẩm định sẽ tránh được sự chồng chéo, phát huy được những mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu của mỗi tác nhân và trên cơ sở đó giảm bớt chi phí cũng như thời gian thẩm định. Tổ chức thẩm định hợp lý khoa học sẽ khai thác được các nguồn lực cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư, qua đó nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NH.

    – Trang thiết bị công nghệ:

    Hiện nay khoa học kỹ thuật hiện đại đã ứng dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là công nghệ thông tin đã được ứng vào trong ngành ngân hàng làm tăng khả năng thu thập, xử ký và lưu trữ thông tin một cách hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó cung cấp thông tin cho việc thẩm định tài chính dự án đầu tư một cách hiệu quả hơn. Hiện nay, có rất nhiều phần mềm chuyên dùng cho ngân hàng nói chung và cho công tác thẩm định nói riêng được thuận tiện hơn. Các cán bộ thẩm định có thể truy cập và xử lý một lượng thông tin lớn mà vẫn tiết kiệm thời gian, các chỉ tiêu tính toán đã được cài đặt chỉ cần nạp số liệu vào máy sẽ cho các chỉ tiêu như: NPV, IRR. Nhưng nếu máy hoặc chương trình có sự cố

    28

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    thì sẽ cho kết quả thẩm định không chính xác, đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải xem xét lại kết quả thẩm định để cho một kết luận chính xác.

    1.3.3.3.2. Về phía khách hàng

    Đối vơi khách hàng, các dự án mà khách hàng mang tới ngân hàng phải đưa ra các con số tương đối chính xác về khoản chi phí, doanh thu của khách hàng bởi nhiều khi khách hàng đưa ra những con số không chính xác về giá cả, chi phí, doanh thu, các cán bộ ngân hàng phải mất nhiều thời gian và công sức điều tra lại để có những con số chính xác hoặc ít nhất là tương đối chính xác. Nhưng nếu gặp những cán bộ không có trách nhiệm nghề nghiệp họ sẽ chẳng cần phải kiểm tra lại khi đó tính thiếu chính xác trong những con số mà khách hàng đưa ra sẽ dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng là kết luận sai về tính khả thi của dự án và nếu ngân hàng cho vay thì sẽ dẫn đến thua lỗ. Do đó chất lượng thẩm định dự án của ngân hàng sẽ bị đánh giá là thấp.

    1.3.3.3.3. Về phía cơ quan hữu quan:

    Cơ quan hữu quan – đó là những cơ quan quản lý ngân hàng hoặc những văn bản chính sách của các cơ quan này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Khi các cơ quan này đưa ra những văn bản mới thì sự kịp thời, tính hợp lý của chúng và của các văn bản hướng dẫn kèm theo có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng nói chung và công tác thẩm định của ngân hàng nói riêng. Các văn bản này có thể kể tới các văn bản hướng dẫn tính khấu hao, tính tiền thuế đất đai của nhà nước, tính giá trị của tài sản, hay những hướng dẫn về thuế là những văn bản có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thẩm định của ngân hàng.

    Các yếu tố về phía ngân hàng, khách hàng hay cơ quan hữu quan dù có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng nhưng chúng đều là cơ sở để đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án của các ngân hàng.

    29

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG

    ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.

    2.1. Khái quát về Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.1. Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.1.1. Lịch sử hình thành:

    Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có tiền thân là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.

    Ngày 26/04/1957, Thủ tướng chính phủ đã ký nghị định 177-TTG thành lập Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính. Ngân hàng thực hiện chức năng thay thế cho Vụ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản, với nhiệm vụ chủ yếu là thanh toán và quản lý vốn do nhà nước cấp cho kiến thiết cơ bản, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược. Từ năm 1957 – 1981, ngân hàng là một cơ quan của Bộ tài chính, hoạt động của ngân hàng nặng về kiểm soát, đánh giá và quản lý vốn, thanh toán các công trình xây dựng cơ bản hơn là cho vay. Ngân hàng không mang bản chất của một ngân hàng thực sự.

    Đến ngày 24/06/1981, Hội đồng chính phủ đã ra quyết định số 259/CP về việc chuyển Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính thành Ngân hàng Đầu tư & Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng vẫn chưa thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, mà nhiệm vụ chính của ngân hàng là thu hút và quản lý các nguồn vốn xây dựng cơ bản, tài trợ cho các công trình không đủ vốn tự có hoặc không nằm trong danh sách do ngân sách cấp, là đại lý thanh toán các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư.

    Ngày 14/01/1990, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định số 401/CT thành lập Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, thay thế cho ngân hàng đầu tư và kiến thiết cũ. Ngân hàng đã bắt đầu thực hiện chức năng kinh doanh và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế, là một trong 5 ngân hàng Quốc doanh có vai trò đi đầu trong lĩnh vực đầu tư và phát triển của nước ta.

    2.1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ:

    Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có các chức năng và nhiệm vụ sau:

    – Huy động vốn ngắn – trung – dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư phát

    triển.

    30

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Kinh doanh đa năng tổng hợp về tài chính, tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng.
    • Làm ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ đầu tư phát triển từ các nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức kinh tế – xã hội, cá nhân và đoàn thể trong và ngoài nước theo quy định về Pháp luật ngân hàng…

    Trong những năm vừa qua, mặc dù nền kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động và bất ổn, nhưng với sự cố gắng của mình, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã sáng tạo, nỗ lực triển khai các giải pháp trong hoạt động kinh doanh, đạt kết quả toàn diện tích cực trên cả 3 mặt: hoàn thành kế hoạch kinh doanh, lộ trình cơ cấu lại và xây dựng ngành, góp phần cùng toàn ngành ngân hàng thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ và phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước.

    2.1.2. Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.1.2.1. Lịch sử hình thành:

    • Căn cứ vào quyết định số 76/QĐ – TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, về việc thành lập Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.
    • Căn cứ vào Điều lệ tổ chức, hoạt động của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam ban hành và quyết định 349/QĐ/NH5 ngày 16/10/1997 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam.

    Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường, trực tiếp kinh doanh và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, có trụ sở chính tại 53 Quang Trung (Đã chuyển về Trung tâm Thương mại VINCOM – 191 Bà Triệu).

    2.1.2.2. Chức năng và nhiệm vụ:

    • Thực hiện cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VND, ngoại tệ, bảo lãnh cho các khách hàng theo các chế độ tín dụng hiện hành, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của đồng vốn.
    • Thực hiện tư vấn trong hoạt động tín dụng và uỷ thác đầu tư theo quy

    định.

    • Thực hiện việc huy động vốn từ mọi nguồn vốn hợp pháp cua các khách hàng như: tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn cả VND và ngoại tệ.
    • Tổ chức việc lập kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm của phòng và tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của SGD.
    • Thực hiện các báo cáo thống kê theo chuyên đề định kỳ hoặc đột xuất về hoạt động tín dụng, bảo lãnh theo quy định của BIDV và giám đốc.
    • Tổ chức thực hiện công tác khách hàng thường xuyên, phục vụ và khai thác tiềm năng của khách hàng truyền thống, mở rộng và phát triển khách hàng mới.

    31

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Tham mưu cho giám đốc về chiến lược kinh doanh, chính sách khách hàng, tín dụng, lãi suất của SGD.
    • Tổ chức lập, lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu theo đúng quy định.
    • Thu chi, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền mặt, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ, vàng bạc đá quý, in ấn giấy tờ có giá tại quỹ nghiệp vụ.

    2.1.2.3. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I:

    Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có cơ cấu tổ chức như sau:

    32

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ban Giám đốc

    Khối tín dụng

    Phòng tín dụng I

    Phòng tín dụng II

    Phòng tín dụng III

    Khối dịch vụ khách hàng

    Phòng Thanh toán quốc tế

    Phòng DV KH cá nhân

    Phòng DV KH doanh nghiệp

    Phòng tiền tệ – Kho quỹ

    Khối hỗ trợ kinh doanh

    Phòng kế hoạch – Nguồn vốn

    Phòng Thẩm định & Quản lý

    Khối nội bộ

    Phòng Tài chính – Kế toán

    Phòng Điện toán

    Phòng Tổ chức – Hành chính

    Phòng K.tra-Kiểm soát nội bộ

    Khối đơn vị trực thuộc

    Phòng Giao dịch I

    PGD Quang Trung

    PGD Nguyễn ĐÌnh Chiểu

    (Nguồn: Báo cáo cơ cấu tổ chức Sở giao dịch I)

    2.1.2.4. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại Sở giao dịch I:

    • Căn cứ quyết định số 76/QĐ – TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng Giám đốc Ngân hàng ĐT&PT VN về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam.

    33

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Căn cứ quyết định số 3198/QĐ – HĐQT ngày 04/09/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng ĐT&PT VN về việc phê duyệt cơ cấu tổ chức bộ máy thí điểm áp dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam.
    • Căn cứ công văn 3220/CV – TCCB2 ngày 05/09/2003 của Ngân hàng ĐT&PT VN về việc bổ nhiệm, bố trí cán bộ;

    Theo đề nghị của Trưởng phòng tổ chức hành chính Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, Giám đốc Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT VN quyết định thành lập các phòng nghiệp vụ sau đây trực thuộc Sở giao dịch Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam:

    2.1.2.4.1. Phòng Tín dụng:

    • Thực hiện việc cho vay ngắn hạn, trung, dài hạn bằng VND và ngoại tệ, bảo lãnh cho các khách hàng theo chế độ tín dụng hiện hành, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho đồng vốn.
    • Thực hiện tư vấn trong hoạt động tín dụng vả dịch vụ uỷ thác đầu tư theo quy định… tổ chức việc lập kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm của phòng và tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của Sở giao dịch.
    • Tổ chức thực hiện công tác khách hàng thường xuyên: phục vụ và khai thác tiềm năng của khách hàng truyền thống, mở rộng phát triển khách hàng mới.
    • Tham mưu cho giám đốc về chiến lược kinh doanh, chính sách khách hàng, chính sách tín dụng và chính sách lãi suất của Sở giao dịch.

    Bên cạnh đó, phòng tín dụng cũng hỗ trợ cho phòng nguồn vốn trong việc huy động vốn nếu có khách hàng gửi vào ngân hàng thông qua phòng tín dụng.

    2.1.2.4.2. Phòng Thanh toán quốc tế:

    Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế như: mở L/C, thanh toán L/C cho khách hàng, thực hiện dịch vụ Ngân hàng quốc tế khác….

    Thực hiện nghĩa vụ đối ngoại với các NH nước ngoài.

    Thực hiện công tác tiếp thị các sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng.

    2.1.2.4.3. Phòng nguồn vốn kinh doanh:

    Phòng nguồn vốn thực hiện việc huy động vốn từ mọi nguồn vốn hợp pháp của khách hàng như: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn… bằng cả VND và ngoại tệ.

    Bên cạnh đó phòng nguồn vốn cũng thực hiện nhiệm vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của tổng giám đốc, phòng tổ chức quản lý và điều hành tài sản nợ, tài sản có bằng tiền của Sở giao dịch để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, an toàn đúng quy định của pháp luật và trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ kinh doanh tại Sở giao dịch theo phân công

    Tổ chức thực hiện công tác thẩm định kinh tế kỹ thuật và tư vấn theo yêu cầu. Tổng hợp thông tin, báo cáo thống kê-phòng ngừa rủi ro phục vụ công tác

    34

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    điều hành của nghành và Sở giao dịch.

    2.1.2.4.4. Phòng tài chính kế toán:

    Thực hiện hạch toán kế toán để phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ phát sinh tại Hội sở Sở giao dịch.

    Thực hiện báo cáo kế toán đối với các cơ quan quản lý Nhà Nước theo chế độ hiện hành và cung cấp số liệu báo cáo định ký hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ban lãnh đạo Ngân Hàng đầu tư và phát triển, Ban giám đốc Sở giao dịch. Trực tiếp thực hiện kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng như: dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ trả lương…

    2.1.2.4.5. Phòng quản lý khách hàng:

    Nghiên cứu thị trường, xác định thị phần của Sở giao dịch để tham mưu cho Giám đốc xây dựng chiến lược khách hàng, định hướng phát triển nền khách hàng bền vững phục vụ kinh doanh của Sở giao dịch. Xây dựng chính sách chung đối với khách hàng, nhóm khách hàng và từng khách hàng cụ thể.

    Tham mưu cho Giám đốc sử dụng chính sách khách hàng linh hoạt trong các thời kỳ, giai đoạn cụ thể về lãi suất, phí, dịch vụ và các chính sách khác để đạt được hiệu quả trong kinh doanh.

    2.1.2.4.6. Phòng thanh toán quốc tế:

    Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế như: mở L/C, thanh toán L/C cho khách hàng, thực hiện dịch vụ Ngân hàng quốc tế khác….

    Thực hiện nghĩa vụ đối ngoại với các NH nước ngoài.

    Thực hiện công tác tiếp thị các sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng.

    2.1.2.4.7. Phòng Tiền tệ – Kho quỹ:

    Thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ kho quỹ :Quản lý quỹ nghiệp vụ của chi nhánh, thu chi tiền mặt, quản lý vàng bạc, kim loại quý, đá quý.Quản lý các chứng chỉ tiền gửi có giá, hồ sơ tài sản cầm cố thế chấp .

    Thực hiện xuất- nhập tiền mặt để đảm bảo thanh khoản tiền mặt cho chi nhánh, thực hiện các dịch vụ tiền tệ kho quỹ cho khách hàng.

    2.1.2.4.8. Phòng Giao dịch:

    Phòng giao dịch chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch đối với khách hàng là cá nhân và các TCKT khác, tiếp nhận các thông tin phản hồi từ khách hàng; duy trì và kiểm soát các giao dịch đối với khách hàng; tiếp thị sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng;

    Tham mưu cho Giám đốc về chính sách khách hàng của Sở giao dịch.

    2.1.2.4.9. Phòng kiểm soát nội bộ:

    Thực hiện công tác kiểm soát trong nội bộ các hoạt động kinh doanh tại Sở giao dịch theo quy chế của nghành, của pháp luật cũng như của bản thân Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    2.1.2.4.10. Phòng Điện toán:

    Quản lý mạng, quản lý hệ thống phân quyền truy cập, kiểm soát theo

    35

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    quyết định của Giám đốc, quản lý hệ thống máy móc thiết bị tin học tại Sở giao dịch, đảm bảo an toàn thông suốt mọi hoạt động của Sở giao dịch;

    Hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ các đơn vị trực thuộc Sở giao dịch vận hành hệ thống tin học phục vụ kinh doanh, quản trị điều hành của Sở giao dịch.

    2.1.2.4.11. Phòng thẩm định quản lý tín dụng:

    Thẩm định các dự án cho vay, bảo lãnh các khoản tín dụng vượt mức phán quyết của trưởng phòng tín dụng.Tham gia ý kiến về quyết định cấp tín dụng đối với các dụ án trung dài hạn.

    Thẩm định đánh giá về tài sản đảm bảo nợ vay.

    Định kỳ kiểm soát phòng tín dụng và việc giải ngân vốn vay.Kiểm tra theo dõi việc sử dụng vốn vay của khách hàng.Giám sát các khoản vay vượt hạn mức, việc trả nợ, giá trị tài sản đảm bảo,các khoản vay đả đến hạn, hết hạn.

    Theo dõi tổng hợp hoạt động tín dụng tại sở giao dịch.Giám sát việc tuân thủ các quy định của NHNN,quy định và chính sách của NHĐT&PTVN.

    Là đầu mối tổng hợp và đánh giá thục hiện các loại báo cáo tín dụng.

    2.1.2.4.12. Phòng tổ chức hành chính:

    Tham mưu cho giám đốc và hướng dẫn cán bộ thực hiện các chế độ chính sách của pháp luật về trách nhiệm và quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động.

    Phối hợp với các phòng nghiệp vụ để xây dựng kế hoạch, phát triển mạng lưới thành lập hay giải thể các đơn vị trực thuộc SGD.

    Lập phương án và tổ chức tuyển dụng nhân sự, theo dõi, bảo mật hồ sơ lý lịch và nhận xét cán bộ công nhân viên

    Quản lý thực hiện chế độ tiền lương và bảo hiểm của cán bộ công nhân viên, thực hiện nội quy cơ quan.

    Thư ủy quyền GĐ ký một số công văn trong pham vi nội bộ do GĐ quy

    định.

    2.1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Sở giao dịch I trong những năm gần đây.

    Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (2002 – 2004).

    36

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
                 
            Đơn vị: Triệu đồng.
      Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
             
    I. Huy động vốn 6.650.856 7.626.796 8.408.300 8.722.544
    1. Tiền gửi khách hàng 1.953.133 2.338.372 2.771.700 3.705.456
    + Tiền gửi không kỳ hạn 633.032 666.279 556.410 1.019.978
    + Tiền gửi có kỳ hạn 1.320.101 1.672.093 2.215.290 2.685.478
    2. Tiền gửi trong dân cư 4.392.226 5.288.424 5.636.600 5.017.088
    + Tiết kiệm 2.349.607 2.508.236 2.404.572 2.508.801
    + Kỳ phiếu 903.629 1.670.934 1.688.811 461.017
    + Trái phiếu 1.138.990 1.109.203 1.072.424 2.047.270
    3. Huy động khác 96.493   470.793    
    II. Tín dụng 5.223.826 5.660.368 4.994.625 5.319.184
    1. Cho vay ngắn hạn 1.310.429 830.339 825.170 1.069.764
    2. Cho vay trung dài hạn 1.813.109 2.265.679 1.955.707 1.681.642
    3. Cho vay KHNN 1.026.498 1.012.176 728.528 644.344
               
    4. Cho vay uỷ thác, ODA 387.955 432.392 466.980 484.692
    5. Cho vay TCTD khác 381.097     39.120
    6. Cho vay đồng tài trợ 304.738 934.905 1.018.240 1.399.621
               
    III. Chỉ tiêu khác          
    + Thu dịch vụ 18.755 24.300 25.650 24.502
    + Tổng tài sản 7.828.329 9.512.447 11.565.000 10.950.980
                 

    (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Sở giao dịch)

    Trong những năm vừa qua, được sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị, của Ban lãnh đạo Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, cùng với sự hợp tác chặt chẽ của các bạn hàng và sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ công nhân viên, Sở giao dịch I đã đạt được những kết quả khả quan. Sở giao dịch I Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam cũng giống như các ngân hàng thương mại quốc doanh khác, hoạt động đa năng trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc. Hiện nay, Sở giao dịch I đang thực hiện hầu hết các nghiệp vụ tài chính tiền tệ như: Nhận tiền gửi và thanh toán; tín dụng bảo lãnh; kinh doanh ngoại tệ; thanh toán quốc tế; bảo hiểm; chứng khoán; tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp; các dịch vụ khác (Rút tiền tự động ATM, Thẻ tín dụng, Home – Banking,…). Sở giao dịch I là đơn vị luôn dẫn đầu hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam trong nhiều năm qua.

    Tính đến 31/12/2004, tổng tài sản đạt 10.950.980 triệu đồng, giảm so với năm 2003 là 614.306 triệu đồng (giảm 5,3%), nhưng tăng 1.438.533 triệu đồng so vói năm 2002 (tăng hơn 15%). Sự giảm sút này thực chất là do năm 2003 – 2004, Sở giao dịch I đã tiến hành tách Phòng Giao dịch số II, nâng cấp thành chi nhánh Đông Đô – Chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Do vậy sự sụt giảm của tổng tài sản năm 2004 không phản ánh được

    37

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    gì nhiều kết quả hoạt động – kinh doanh của Sở giao dịch. Hoạt động của Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam được phản ánh qua các nghiệp vụ chính như sau:

    • Công tác huy động vốn:

    Bước vào năm 2004, trước những thuận lợi cũng như những khó khăn và thách thức của nền kinh tế trong và ngoài nước, Sở giao dịch vẫn giữ vững được vị thế của mình trên địa bàn Hà Nội trong công tác huy động vốn, mặc dù Sở giao dịch phải đứng trước sự cạnh tranh gay gắt từ các TCTD khác trên cùng địa bàn. Nguồn tiền gửi khách hàng tăng trưởng qua các năm, năm 2004 đạt 3.705.456 triệu đồng, chiếm tỷ trọng là 42% trong tổng ngồn vốn huy động, tăng 933.756 triệu đồng so với năm 2003 (tăng 34%); tăng 1.367.084 triệu đồng so với năm 2002 (tăng 58.5%). Trong đó nguồn tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng năm 2004 đạt 1.019.978 triệu đồng tăng nhanh so với các năm trước, tăng 53% so với năm 2002 (666.279), và tăng hơn 83% so với năm 2003 (556.410). Nguồn vốn huy động từ nguồn tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng cũng tăng qua các năm, năm 2004 đạt 2.685.478 triệu đồng, tăng thêm 21% so với năm 2003 và tăng 61% so với năm 2002. Có được kết quả này là do Sở giao dịch I đã có những chủ trương kinh doanh hợp lý trong công tác thu hút khách hàng, mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn cùng với việc triển khai nhiều hình thức huy động vốn như chính sách lãi suất, chế độ ưu đãi lãi suất đối với các khách hàng,… Cơ chế điều hành vốn được tập trung hoá toàn ngành, việc quản lý Tài sản Nợ – Có được xem xét và thực hiện phân tích, đánh giá hướng theo thông lệ. Sở giao dịch cũng đã triển khai các sản phẩm phái sinh trên thị trường ngoại hối để phục vụ khách hàng. Với sự nỗ lực và cố gắng đó, Sở giao dịch đã có được những thành công trong công tác huy động vốn từ nguồn tiền gửi khách hàng, đảm bảo một cơ cấu tín dụng hợp lý trong các nguồn ngắn, trung và dài hạn, đồng thời đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của Sở giao dịch.

    Nguồn vốn huy động từ nguồn tiền gửi trong dân cư của Sở giao dịch có sự biến động qua các năm. Trong khi năm 2003, nguồn này đạt 5.636.600 triệu đồng, tăng thêm 7% so với năm 2002 (đạt 5.288.424 triệu đồng) thì đến năm 2004, nguồn huy động từ dân cư chỉ đạt 5.017.088 triệu đồng, chiếm 58% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 11% so với năm 2003 và 5% so với năm 2002. Đó là do trong năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng liên tục ở mức cao (6 tháng đầu năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng tăng 7.2%, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 2.1%), lạm phát có nguy cơ tăng cao hơn các năm trước đã khiến người dân có xu hướng phải giữ lại tiền để đề phòng sự mất giá của đồng tiền. Bên cạnh đó, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, do đó nhu cầu mua sắm và xây dựng của người dân ngày càng tăng và chưa có xu hướng chậm lại. Sự biến động của các thị trường trong và ngoài nước cũng là một trong những nguyên nhân; như thị trường nhà đất, thị trường lãi suất trên thị trường

    38

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tiền tệ nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng,… Vì vậy, lượng tiền gửi của dân cư hầu như không có sự thay đổi nào đáng kể, các ngân hàng thương mại cũng như Sở giao dịch không có được sự thay đổi nào tích cực trong công tác huy động vốn từ dân cư.

    • Công tác tín dụng:

    Dư nợ tín dụng năm 2004 của Sở giao dịch đã có sự phục hồi trở lại sau 1 năm có tỷ lệ tăng trưởng là -6%. Năm 2003, do tình hình kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động và diễn biến phức tạp nên nền kinh tế Việt Nam không có nhiều chuyển biến tích cực, các khoản đầu tư ngắn, trung và dài hạn giảm. Các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước không có được môi trường đầu tư thuận lợi, do vậy các khoản cho vay ngắn, trung – dài hạn đã giảm. Tuy vậy, hoạt động tín dụng đã được cải thiện đáng kể cả về quy mô cũng như chất lượng, chất lượng thẩm định được nâng cao, các nghiệp vụ tín dụng được cải thiện đã góp phần thu hút thêm được các khách hàng đến giao dịch.

    • Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2004 đạt 1.069.764 triệu đồng chiếm tỷ trọng 20% trong tổng dư nợ, tăng so với 2 năm 2002 và 2003 lần lượt là 29% và 30%. Trong năm 2004, Sở giao dịch cũng đã tiến hành giản ngân các khoản vay, bảo lãnh theo hợp đồng hạn mức đã ký; đồng thời ký các hợp đồng hạn mức với Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Công ty Xây lắp XNK số 8; xem xét về đề nghị vay vốn ngắn hạn của các khách hàng, giải ngân, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng; thẩm định các dự án cho vay đối với các công ty: Cty Cổ phần Xây dựng CTGT 246, Cty Cổ phần Ximăng Thăng Long; tiếp cận một số công ty mới có nhu cầu vay vốn ngắn hạn.
    • Dư nợ tín dụng trung – dài hạn của Sở giao dịch năm 2004 giảm so với 2 năm 2002, 2003. Năm 2004, khoản này chỉ đạt 1.984.642 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 32% trong tổng dư nợ, giảm 14% so với năm 2003 (đạt 1.955.707 triệu đồng) và giảm 26% so với năm 2002 đạt 2.265.679 triệu đồng. Sở giao dịch trong năm vừa qua đã thực hiện được nhiều dự án lớn, như hoàn tất thủ tục cho vay và trình Trung ương dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương của TCT than Việt Nam, dự án của TCT Dầu khí Việt Nam,… đồng thời ký hợp đồng với các đối tác: Lilama, Công ty XNK Intimex, Hagarsco,… giản ngân các hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã ký: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ Long…;
    • Dư nợ tín dụng theo Kế hoạch Nhà nước năm 2004 đã giảm đáng kể so với năm 2002 và 2003. Năm 2004, cho vay theo KHNN đạt 644.344 triệu đồng, giảm 12% so với năm 2003 và 36% so với năm 2002. Điều này là phù hợp với chủ trương và thực tế của Sở giao dịch, giảm cho vay theo chỉ định, tăng cường tìm kiếm các dự án cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh, hạn chế sự phụ thuộc vào một số tổng công ty lớn. Trong khi đó, cho vay theo uỷ thác đầu tư, ODA và cho vay đồng tài trợ năm 2004 đã tăng lên qua các năm, đánh dấu sự

    39

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đổi mới trong công tác cho vay của BIDV nói chung và của Sở giao dịch nói riêng. Cho vay uỷ thác, ODA năm 2004 đạt 474.692 triệu đồng, tăng 4% so với năm 2003 và 12% so với năm 2002; cho vay đồng tài trợ tăng nhanh, đạt 1.399.621 triệu đồng, tăng 37% so với năm 2003 đạt 1.018.240 triệu đồng, tăng 50% so với năm 2002 đạt 934.905 triệu đồng.

    Trong những năm vừa qua, Sở giao dịch I đã thực hiện hàng loạt danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính chất của một ngân hàng hiện đại, đáp ứng được phần nào các nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như tòan bộ nền kinh tế, góp phần giữ vững vị thế của hế thống BIDV trên địa bàn và trên cả nước.

    • Các hoạt động và dịch vụ khác.

    Hoạt động dịch vụ năm 2004 đã tăng so với các năm trước cả về quy mô và chất lượng, chiếm 20% chênh lệch thu chi năm 2004. Trong năm 2004, thu từ hoạt động dịch vụ đạt 24.502 triệu đồng, dù giảm nhẹ và tăng không đáng kể so với năm 2003 và 2002 (đạt lần lượt là 25.650 triệu đồng và 24.300 triệu đồng) nhưng các dịch vụ ngân hàng đã có nhiều cải thiện cả về chất lượng và quy mô, thuận lợi, nhanh chóng và hợp lý đối với các khách hàng.

    Sở giao dịch I cũng tích cực thực hiện công tác Marketing và đưa ra những chính sách ưu đãi hợp lý nhằm tăng doanh số và lượng khách hàng đến giao dịch tại sở, phối kết hợp với các phòng giao dịch để nắm bắt các thông tin về phía khách hàng. Sở giao dịch I đã tiến hành tăng cường việc tìm kiếm, phát triển khách hàng, tập trung vào các đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp cổ phần, TNHH hoạt động trong các ngành triển vọng; đẩy mạnh công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới; đồng thời tiếp tục hoàn thiện dự án VCB – Money với Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, khai trương các quỹ tiết kiệm mới như Quỹ tiết kiệm 112 Nguyễn An Ninh… Dịch vụ thanh toán trong nước được mở rộng, tăng cả về quy mô và chất lượng. Hoạt động thẻ được phát huy mạnh mẽ, hệ thống thanh toán tự động ATM được lắp đặt và sử dụng trên nhiều địa bàn trong cả nước. BIDV cũng như Sở giao dịch I luôn cố gắng đem đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ nhanh chóng và thuận lợi nhất.

    Với sự nỗ lực không ngừng của toàn hệ thống, hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng đều đặn qua các năm. Đến cuối năm 2003, hơn 50 chi nhánh của BIDV đã thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp, riêng tại Sở giao dịch I doanh số hoạt động thanh toán quốc tế năm 2003 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2002, phí dịch vụ đạt gần 20 tỷ VNĐ, tăng 27% so với năm 2002, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch. Sở giao dịch I cũng đã mở rộng các dịch vụ thanh toán như thanh toán biên mậu, thanh toán CAD (Cash Against Document), mua bán thanh toán séc du lịch, phát hành séc thanh toán Ngân hàng (Bank Drafts), Đại lý thanh toán thẻ Visa, Master card, kiều hối,… Công tác kinh doanh ngoại tệ có lãi, thu hút được nhiều nguồn tiền chuyển đổi trong và ngoài nước.

    40

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Năm 2004, công tác thẩm định và quản lý tín dụng luôn được đảm bảo đúng tiến độ, đúng quy trình thẩm định của Sở giao dịch. Công tác thẩm định được tiến hành nhanh chóng và chính xác, thoả đáng đối với các đối tác khách hàng, đảm bảo là chỗ dựa cho nghiệp vụ đề phòng rủi ro tín dụng của Sở. Các phòng ban có thẩm quyền về thẩm định và quản lý tín dụng lập các báo cáo định kỳ đúng hạn, các báo cáo đột xuất gửi lên cấp trên nhanh chóng, chính xác, thuận lợi cho công tác quản lý của các cấp lãnh đạo ngân hàng. Công tác tổ chức

    – kế toán được hoạch toán đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ phát sinh, kiểm tra và phát hiện xử lý kịp thời các lỗi sai sót trong thanh toán. Các công tác của Sở được thực hiện chuyên nghiệp, quy mô, nhằm cung cấp được các dịch vụ hoàn thiện cho khách hàng.

    Về công tác bảo lãnh, thu từ công tác bảo lãnh trong năm 2004 tăng nhanh qua các năm, doanh số bảo lãnh đạt trên 5.000 tỷ đồng, tăng hơn 30% so với năm 2003, phí thu từ bảo lãnh đạt gần 15 tỷ đồng. Tuy nhiên, mặc dù doanh số bảo lãnh tăng mạnh nhưng thu dịch vụ đạt được lại tăng không đáng kể. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng. Vì vậy để chiếm được thị phần, SGD phải giảm phí để thu hút khách hàng, dẫn đến phí thu được thấp. Trong thời gian tới, BIDV cần có những phương hướng cần thiết để khắc phục tình trạng này, nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng, đồng thời tạo được ưu thế cạnh tranh trên địa bàn.

    • Hiệu quả kinh doanh.

    Chênh lệch thu – chi của Sở giao dịch I năm 2004 đạt 125 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 105 tỷ, tuy nhiên chỉ số này lại giảm so với năm 2003, đạt chênh lệch 195 tỷ đồng và thu nhập trước thuế đạt 170 tỷ đồng. ROA không ngừng tăng trưởng từ 0.6% năm 2002 lên 0.8% năm 2003 và năm 2004 đạt 0.9%, hoàn thành kế hoạch. Công tác trích dự phòng rủi ro tín dụng cũng được Sở giao dịch hết sức quan tâm và chú trọng. Số tiền trích quỹ dự phòng rủi ro luôn chiếm khoảng 2/3 lợi nhuận sau thuế (năm 2002 đạt 40 tỷ, 2003 đạt 50 tỷ, năm 2004 đạt 40 tỷ). Sở giao dịch I luôn đặt công tác đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng lên hàng đầu, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Sở giao dịch an toàn và chất lượng hơn.

    2.2.  Thực trạng công tác thẩm giao dịch I Ngân hàng Đầu

     

    định tài chính dự án tại Sở tư & Phát triển Việt Nam.

     

    2.2.1. Đánh giá tình hình đầu tư theo dự án tại Sở giao dịch.

    Sở giao dịch I ngay từ khi được thành lập theo sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo và Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã và đang phát huy được thế mạnh và nâng cao được vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng trên địa bàn cả nước. Cùng với sự tăng trưởng của hoạt động

    41

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tín dụng thì công tác cho vay theo dự án của Sở giao dịch I cũng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, khẳng định được ưu thế của Sở trong lĩnh vực này. Năm 2004, Sở giao dịch I đã tiến hành cho vay đối với các dự án trọng điểm lớn, như: Dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương của TCT than Việt Nam, dự án của TCT Dầu khí Việt Nam,… đồng thời ký hợp đồng với các đối tác: Lilama, Công ty XNK Intimex, Hagarsco,… giải ngân các hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã ký: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ Long…; triển khai việc ký kết các hợp đồng bảo đảm, làm việc với TCT Đường sắt Việt Nam, TCT Cà phê Việt Nam… Vốn được đầu tư chủ yếu vào việc nâng cao năng lực và xây dựng mới các công trình trọng điểm, đầu tư thiết bị thi công sản xuất vật liệu xây dựng, đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình thuỷ lợi… của một số Tổng công ty, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có tín nhiệm, các doanh nghiệp nước ngoài có khả năng trả nợ và có đủ tài sản bảo đảm. Với việc đầu tư cho các dự án lớn ngày càng gia tăng thì để nâng cao hiệu quả của công tác cho vay đối với dự án, công tác thẩm định dự án tại Sở giao dịch cũng phải được quan tâm thích đáng, đặc biệt là công tác thẩm định tài chính dự án. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu về công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam để có được cái nhìn bao quát hơn về vấn đề này.

    2.2.2. Quy trình thẩm định dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam:

    Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại Sở giao dịch I được thông qua các phòng Tín dụng, phòng Thẩm định, Cán bộ tín dụng (CBTD), Cán bộ thẩm định (CBTĐ), phòng Nguồn vốn và một số phòng khác có liên quan. Tuy nhiên quy trình này chỉ mang tính chất định hướng, tổng quát và cơ bản. Trong quá trình thẩm định dự án, tuỳ theo quy mô, tính chất, đặc điểm của từng dự án đầu tư xin vay vốn, tuỳ từng khách hàng và điều kiện thực tế, CBTĐ sử dụng linh hoạt các nội dung theo mức độ hợp lý để bảo đảm tính hiệu quả của công tác thẩm định. Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà CBTĐ cũng có thể xem xét bỏ qua một số nội dung nếu không phù hợp.

    Quy trình thẩm định dự án đầu tư của Sở giao dịch I như sau:

    42

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    LƯU ĐỒ QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ – NH ĐT&PT VN

    Phòng Tín dụng Cán bộ thẩm định Trưởng phòng thẩm định
    Đưa yêu cầu, giao   Tiếp nhận hồ sơ
    hồ sơ vay vốn  
       
         

    Kiểm tra

    Chưa đủ cơ sở để thẩm định                                                      sơ b h

    Nhận hồ sơ để

    thẩm định

      Chưa Thẩm Chưa đạt yêu  
    Bổ sung, giải trình
    cầu  
    định
     

    Kiểm tra,

    Lập báo cáo thẩm  kim soát định

    Đạt

    Nhận lại hồ sơ và   Lưu hồ sơ, tài liệu
    kết quả thẩm định.  
       
         

    43

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trình tự thực hiện thẩm định dự án đầu tư được tiến hành qua các bước chính như sau:

    1. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án xin vay vốn: nếu hồ sơ vay vốn chưa có đủ cơ sở để thẩm định thì chuyển lại để CBTD hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ; nếu đã đủ cơ sở thẩm định thì ký giao nhận hồ sơ vào Sổ theo dõi và giao hồ sơ cho cán bộ trực tiếp thẩm định.

     

    1. Trên cơ sở đối chiếu các quy định, thông tin có liên quan và các nội dung yêu cầu (hoặc tham khảo) được quy định tại các hướng dẫn thuộc Quy trình này, CBTĐ tổ chức xem xét, thẩm định dự án đầu tư và khách hàng xin vay vốn. Nếu cần thiết, đề nghị CBTD hoặc khách hàng bổ sung hồ sơ hoặc giải trình rõ thêm.
    2. CBTĐ lập báo cáo thẩm định dự án trình Trưởng phòng thẩm định xem

     

    xét.

     

    1. Trưởng Phòng thẩm định kiểm tra, kiểm soát về nghiệp vụ, thông qua hoặc yêu cầu CBTĐ chỉnh sửa, làm rõ các nội dung.

     

    1. CBTĐ hoàn chỉnh nội dung Báo cáo thẩm định trình Trưởng Phòng thẩm định thông qua, lưu hồ sơ tài liệu cần thiết và gửi trả hồ sơ kèm Báo cáo thẩm định cho Trưởng Phòng tín dụng.

    2.2.3. Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam:

    Trước khi tiến hành thẩm định dự án một dự án đầu tư, Sở giao dịch (sau đây xin được gọi ngắn gọn là Ngân hàng) thường tiến hành thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn. Nội dung thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Thẩm định quy mô, cơ cấu vốn và tài sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu trong tổng thể cơ cấu nguồn vốn; khả năng thanh toán; tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một vài năm trở lại; phân tích các chỉ tiêu, đánh giá khả năng sinh lời, giải trình các khoản phải thu của doanh nghiệp; xem xét các danh mục hàng tồn kho,… Sau khi Ngân hàng đã tiến hàng thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp, nếu thấy doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh và đang hoạt động tốt trên thị trường, hoặc doanh nghiệp thoả mãn đầy đủ các yêu cầu do Ngân hàng đề ra thì Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án. Công tác thẩm định tài chính dự án bao gồm những nội dung chính sau đây:

     

    • 3.1. Thu thập và xử lý thông tin về khách hàng và dự án.

     

    Khi có một dự án khách hàng mang đến Ngân hàng để xin vay vốn, Ngân hàng cần thẩm định lại tính chính xác của các nguồn thông tin do khách hàng cung cấp. Để làm được điều này, CBTĐ cần đến trực tiếp doanh nghiệp để có thể trực tiếp tìm hiểu được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tìm hiểu được về thực trạng nhà xưởng, máy móc thiết bị của doanh nghiệp; xác minh được địa điểm cơ sở nơi đầu tư dự án… Ngoài ra, CBTĐ cần phải thu thập

    44

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    thêm từ các nguồn thông tin bổ sung, các tài liệu liên quan từ các nguồn khác nhau để phục vụ cho quá trình thẩm định như: Đi thực tế để tìm hiểu về giá cả, tình hình cung cầu của thị trường đối với sản phẩm dự kiến của dự án; tìm hiểu từ các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, các nhà tiêu thụ sản phẩm tương tự, tìm hiểu từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ các cơ quan quản lý Nhà nước… Trên cơ sở đó, CBTĐ sẽ xem xét dự án trên các phương diện về mục tiêu của dự án, về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án; khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, nhận xét các phương diện kỹ thuật, phương diện tổ chức quản lý thực hiện dự án,… Tất cả những đánh giá thực hiện đó nhằm mục đích hỗ trợ cho việc tính toán, đánh giá hiệu quả tài chính của dự án và khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp đối với ngân hàng. Việc xác định hiệu quả tài chính dự án có chính xác hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào việc đánh giá và đưa ra các giả định ban đầu của CBTĐ, từ kết những quả phân tích đó sẽ được lượng hoá thành những giả định phục vụ trực tiếp cho các quá trình tiếp theo của công tác thẩm định đối với các dự án đầu tư.

    2.2.3.2. Thẩm định vốn đầu tư.

    Sau khi đã xác minh lại nguồn thông tin mà khách hàng mang đến, Ngân hàng sẽ căn cứ vào hồ sơ xin vay của khách hàng để xem xét tổng mức vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp, bao gồm: Vốn cố định (VCĐ), Vốn lưu động (VLĐ), Vốn dự phòng (VDP). VCĐ bao gồm vốn thiết bị, vốn xây dựng cơ sở hạ tầng,… VLĐ được xác định căn cứ vào tốc độ luân chuyển vốn lưu động hàng năm của dự án, của doanh nghiệp cùng ngành nghề, mức VLĐ tự có của doanh nghiệp và phí vốn lưu động hàng năm. CBTĐ tiến hành phân tích so sánh các nội dung trên, nếu thấy có sự khác biệt ở bất kỳ nội dung nào thì CBTĐ phải tập trung phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và từ đó đưa ra cơ cấu vốn đầu tư hợp lý mà vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu dự kiến ban đầu của dự án để làm cơ sở xác định mức tài trợ tối đa mà ngân hàng nên tham gia vào dự án.

    Ngân hàng tiến hành đánh giá tiến độ thực hiện dự án, từ đó xác định nhu cầu vốn cho từng giai đoạn. Việc tính nhu cầu vốn này làm cơ sở cho việc giải ngân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời gian trả nợ của doanh nghiệp vay vốn đầu tư dự án. Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư được duyệt, CBTĐ kiểm tra lại từng loại nguồn vốn tham gia tài trợ cho dự án, đánh giá khả năng tham gia của từng loại nguồn vốn, và từ kết quả phân tích tình hình tài chính của chủ đầu tư để đánh giá khả năng tham gia của nguồn vốn chủ sở hữu, chi phí của từng loại nguồn vốn, các điều kiện vay đi kèm của từng loại nguồn vốn. Dựa vào những tính toán trên, CBTĐ sẽ tiến hành tính toán chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vốn (lãi, phí vay vốn cố định), chi phí sửa chữa TSCĐ, khấu hao TSCĐ trích hàng năm, nợ phải trả của chủ đầu tư dự án trong những giai đoạn nhất định của quá trình đầu tư.

    45

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.3.3. Thẩm định doanh thu – Chi phí của dự án.

    Để thẩm định doanh thu và chi phí của dự án, Ngân hàng tiến hành thẩm định các nội dung sau:

    • Thẩm định yếu tố đầu vào và chi phí của dự án.

    Trên cơ sở hồ sơ dự án và những đặc tính kỹ thuật của dây chuyền công nghệ, CBTĐ đánh giá nhu cầu về nguyên nhiên vật liệu đầu vào để phục vụ cho sản xuất hàng năm, dự tính những biến động về giá mua – giá bán trong thời gian tới, nhu cầu nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào, dự tính tỷ giá trong trường hợp phải nhập khẩu,… Từ đó CBTĐ tiến hành xác định giá thành đơn vị sản phẩm, tổng chi phí sản xuất trực tiếp cho dự án.

    • Thị trường đầu ra, khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án.

    Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án là những nhân tố giữ vai trò hết sức quan trọng và quyết định đến sự thành bại của dự án. Vì vậy CBTĐ cần xem xét, đánh giá kỹ và chính xác về phương diện này như: đánh giá về mặt thị trường – điểm mạnh cũng như điểm yếu của sản phẩm trên thị trường; khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; những thách thức trong cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của dự án;… Từ đó, CBTĐ đưa ra phương án tiêu thụ sản phẩm để tính toán, như: Mức huy động công suất so với công suất thiết kế; doanh thu dự kiến hàng năm,… Ngoài ra, CBTĐ cần xem xét các chế độ thuế hiện hành, các văn bản ưu đãi riêng đối với các dự án để xác định phần trách nhiệm của chủ dự án đầu tư đối với Ngân hàng, từ đó xác định lợi nhuận sau thuế (LNST) của dự án trong nguồn trả nợ của chủ đầu tư dự án đối với Ngân hàng.

    Trên cơ sở những căn cứ nêu trên, CBTĐ sẽ dự tính và thiết lập các bảng tính toán hiệu quả tài chính của dự án, bảng dự kiến dòng tiền hàng năm thu được từ dự án, tính toán các chỉ tiêu tài chính đặc trưng làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả và khả năng trả nợ vốn vay của chủ đầu tư đối với Ngân hàng.

    2.2.3.4. Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Dựa trên cơ sở tất cả những tính toán ở trên, CBTĐ tiến hành tính toán các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời của dự án (như NPV, IRR, ROA, ROE,…) và các

    nhóm chỉ tiêu về khả năng trả nợ (nguồn trả nợ hàng năm; thời gian hoàn trả vốn vay; DSCR) của dự án. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu của từng dự án cụ thể, CBTĐ cần tính toán thêm các chỉ tiêu khác như: Khả năng tái tạo ngoại tệ; khả năng tạo công ăn việc làm; khả năng đổi mới công nghệ của dự án; đào tạo nguồn nhân lực;… Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên chỉ chính xác khi CBTĐ có được các yếu tố đầu vào chính xác. Ngoài ra thời gian hoạt động của dự án thường là trung và dài hạn nên sẽ có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của dự án, đặc biệt là các rủi ro như: Rủi ro thị trường, rủi ro về thu nhập, rủi ro trong thanh toán, rủi ro cung cấp, rủi ro môi trường và xã hội, rủi ro về lạm phát,… Chính vì vậy mà trong quá trình phân tích các chỉ tiêu này, CBTĐ cần tiến hành phân tích

    46

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    độ nhạy của các chỉ tiêu NPV, IRR, DSRC,… một các chính xác và hợp lý, có thể dự đoán được khi các giả định có sự thay đổi, từ đó có thể đảm bảo cho Ngân hàng tránh khỏi những ảnh hưởng trực tiếp khi những rủi ro này xảy ra.

    2.2.3.5. Xác định bảng cân đối khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay vốn đầu tư.

    Trong nội dung này, Ngân hàng tiến hành xác định nguồn trả nợ, thời gian trả nợ của khách hàng vay vốn dựa trên các thông số đã phân tích ở trên. Điều này là vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của Ngân hàng trong tương lai.

    • Nguồn trả nợ của khách hàng vay vốn về cơ bản được huy động từ các nguồn chính sau đây:

    – Nguồn từ dự án: Lợi nhuận sau thuế (LNST) giữ lại; Khấu hao cơ bản (KHCB). Đây là nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp vay vốn và trong nhiều trường hợp, đây là nguồn trả nợ duy nhất. KHCB được tính dựa vào kế hoạch khấu hao của doanh nghiệp, còn LNST giữ lại thông thường được tính bằng 50 – 70% LNST của dự án.

    – Nguồn hợp pháp khác ngoài dự án: từ các nguồn tích luỹ của doanh nghiệp hay Tổng công ty. Đây được coi là nguồn trả nợ phụ cho dự án, tuy nhiên trong một số trường hợp nó được coi là nguồn trả nợ chính đặc biệt là khi dựa án gặp rủi ro. Do đó, CBTĐ phải tính toán kỹ lưỡng và chính xác nguồn này và phải thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện của dự án cũng như quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng.

    • Xác định thời gian trả nợ của doanh nghiệp vay vốn: Ngân hàng là người trực tiếp cho doanh nghiệp vay vốn nên việc Ngân hàng quan tâm nhất chính là thời gian thu hồi được vốn vay. Khi tính toán thời hạn trả nợ, CBTĐ cần xem xét đến thời gian vay vốn, thời gian thi công, thời gian trả nợ gốc, thời gian ân hạn; đặc biệt là thời gian thi công để có kế hoạch thu nợ hợp lý. Đồng thời tuỳ theo đặc điểm mức doanh thu của từng dự án mà Ngân hàng xác định mức trả gốc, trả lãi vay cho từng kỳ hạn một cách phù hợp, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của doanh nghiệp vay vốn trong việc đầu tư của mình.

    Hiện nay tại Sở giao dịch, nếu chỉ dùng tiền từ dự án để trả nợ thì:

    Tổng vốn vay

    Thời gian trả nợ =

    KHCB + Lợi nhuận dùng để trả nợ

    2.2.3.6. Kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn vốn vay.

    Ngân hàng cần xem xét các điều kiện bảo đảm an toàn vốn vay của doanh nghiệp vay vốn đầu tư để đề phòng rủi ro cho nguồn vốn cho vay của mình:

    • Doanh nghiệp phải chỉ rõ nguồn trả nợ có thể huy động được từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong và ngoài dự án đầu tư để bảo đảm khả năng trả

    47

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nợ Ngân hàng đúng thời hạn.

    • Yêu cầu sự bảo lãnh của bên thứ ba nếu như Ngân hàng thấy cần thiết. Bên bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn phải ký hợp đồng bảo lãnh cam kết trả nợ thay cho doanh nghiệp trong trường hợp chủ dự án không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.
    • Doanh nghiệp phải mở và duy trì hoạt động tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, đảm bảo số dư tối thiểu trên tài khoản bằng một kỳ hạn trả nợ trước mỗi kỳ hạn trả nợ.
    • Doanh nghiệp cam kết sẽ chuyển toàn bộ doanh thu của dự án vào tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng để đảm bảo nguồn trả nợ, trả lãi vay theo lịch trả nợ kể thừ khi dự án bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Trên cơ sở kết quả thẩm định theo những nội dung trên, CBTĐ phải lập Báo cáo thẩm định dưới dạng tài liệu văn bản trong đó nêu cụ thể những kết quả của quá trình thẩm định, đánh giá dự án đầu tư xin vay vốn của khách hàng cũng như các ý kiến đề xuất đối với các đề nghị của khách hàng.

    2.2.4. Giới thiệu dự án cụ thể.

    Qua phần nghiên cứu ở trên, chúng ta đã tìm hiểu cụ thể về công tác thẩm định tài chính tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Sau đây tôi xin giới thiệu một dự án cụ thể mà tôi đã nghiên cứu tại Phòng tín dụng I

    – Sở giao dịch I để chúng ta có được những hiểu biết sát thực hơn về vấn đề này. Tên dự án : “Dự án đầu tư nhà máy thép tấm mạ sơn màu LILAMA

    công suất 80.000 tấn/năm”

    Chủ đầu tư: Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.

    2.2.4.1. Giới thiệu và đánh giá về Doanh nghiệp.

    2.2.4.1.1. Giới thiệu về Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.

    • Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội (tên viết tắt là LILAMA Hà Nội) là công ty đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (tên viết tắt là LILAMA) thuộc Bộ xây dựng; là khách hàng truyền thống của Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt

    Nam trong nhiều năm qua.

    • Hồ sơ Pháp lý.
    • Quyết định thành lập Doanh nghiệp số 031ABXDTCLD của Bộ xây dựng ngày 27/01/1993.
    • Giấy phép kinh doanh số 109587 ngày 08/03/1996 do Uỷ ban KH Hà Nội cấp.
    • Mã số đăng ký thuế số: 0100105341.
    • Người đại diện theo Pháp luật: ông Ngô Công Cường – Giám đốc.
    • Kế toán trưởng: Trần Đức Thọ.

    48

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Xây dựng công trình công nghiệp đường dây tải điện, trạm biến thế, lắp ráp thiết bị máy móc cho các công trình, xây dựng nhà ở: Trang trí nội thất, sản xuất phụ tùng cấu kiện kim loại cho xây dựng; Sản xuất vật liệu xây dựng, gạch lát, tấm lợp, đá ốp lát, đất đèn ôxy que hàn. Kinh doanh vật tư thiết bị, vật liệu xây dựng.

    • Trụ sở chính:
    • 52 Lĩnh Nam – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.

    2.2.4.1.2. Đánh giá tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.

    Biểu 1: Một vài số liệu cơ bản về tình hình tài chính và SXKD của Doanh nghiệp.

    Đơn vị: Triệu đồng.

        Thực hiện Thực hiện Thực hiện % %
    STT Chỉ tiêu năm 2002 năm 2003 năm 2004 03/02 04/03
    1 Tổng doanh thu 104,239 124,122 101,868 119% 82%
    2 Thu nhập B.quân 1,5 triệu 1,5 triệu 1,5 triệu    
    3 LN trước thuế 2,329 1,068 319 46% 30%
    4 Tổng tài sản 77,878 134,165 393,114 172% 293%

    * Phân tích tình hình tài chính của Doanh nghiệp:

    Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và sổ sách kế toán qua các năm 2002, 2003, 2004 của Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội (sau đây xin được gọi ngắn gọn là Doanh nghiệp), tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp qua các năm như sau:

    Biểu 2: Các thông số chủ yếu về tình hình tài chính của Doanh nghiệp qua các thòi kỳ

    Đơn vị: Triệu đồng

        Chỉ tiêu   Năm 2002   Năm 2003   Năm 2004 Tăng
          Số tiền %   Số tiền %   Số tiền % trưởng
                TS     TS     TS 04/03  
                                 
        Tổng tài sản     77,877     100%   134,163   100%   393,114   100% 293%  
      I.. Tài sản lưu động     51,286     66%   93,463   70%   88,364   22% 95%  
      1. Tiền 4,200   5% 1,396 1% 2,970 3% 213%  
      2. Đầu tư tài chính ngắn hạn 0   0% 0 0% 0 0% 0%  
      3. Các khoản phải thu 29,711   38% 66,171 49% 43,674 49% 66%  
      4. Hàng tồn kho 16,824   21% 25,241 19% 40,217 46% 159%  
      5. Tài sản lưu động khác 551   1% 655     1,503 2% 229%  
      6. Chi sự nghiệp 0   0% 0 0% 0 0% 0%  
      II. Tài sản cố định &                                
      Đầu tư dài hạn   29,591     34%   40,700   30%   304,750   73% 749%  
      1. Tài sản cố định 22,012   83% 22,623 17% 22,037 7% 97%  
                                           

    49

     

        Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp  
                                                           
      2. Đầu tư tài chính dài hạn     0       0%   0   0%     0     0%     0%  
                       
      3. Chi phí XDCB dở dang     4,569       17%   18,059   44%   282,713     93%     1565%  
      4. Khoản ký quỹdài hạn                                                
      5. Chi phí trả trước dài hạn     10       0%   9   0%           0%          
          Tổng nguồn vốn       77,877       100%   134,163 100%   393,14     100%     293%  
      I. Nợ phải trả       68,180       88%   124,414   93%   383,34     98%     308%  
      1. Nợ ngắn hạn     57,723       85%   75,881   61%   83,646     21%     110%  
      2. Nợ dài hạn     10,257       15%   47,466   35%   299,33     76%     631%  
      3. Nợ khác     200       0%   1,067   1%     361     0%     34%  
      II. Nguồn vốn CSH       9,697       12%   9,749   7%   9,774     2%     100%  
      1. Nguồn vốn quỹ     9,122       94%   9,280   95%   9,724     2%     105%  
      – Nguồn vốn kinh doanh     7,509       82%   7,383   80%   8,226     85%     111%  
      – Chênh lệch đánh giá lại TS                                                
      – Chênh lệch tỷ giá                                                
      – Quỹ đầu tư phát triển     1,106       12%   1,342   14%   1,006     10%     75%  
      – Quỹ dự phòng tài chính     388       4%   435   5%     373     4%     86%  
      – Lợi nhuận chưa phân phối     0           0                            
      – Nguồn vốn đầu tư XDCB     119       1%   120   1%     119     1%     99%  
      2. Nguồn kinh phí,quỹ khác     575       6%   469   5%     50     0%     11%  
                                     
          MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH TRUNG GIAN                  
          Chỉ tiêu               2002     2003   2004          
        I. Khả năng thanh toán                                            
        1. Khả năng thanh toán ngắn hạn       0.89     1.23   1.06          
        2. Khả năng thanh toán nhanh       0.59     0.89   0.56          
        3. Khả năng thanh toán tức thời       0.07     0.02   0.04          
        II. Khả năng độc lập tài chính                                    
        1. Tỷ suất Nợ – Tài sản               88%     93%   98%          
        2. Tỷ suất Nợ – Vốn chủ sở hữu       703%   1276%   3922%          
        III. Khả năng đảm bảo nguồn vốn KD                                  
        1. Nguồn vốn ngắn hạn               19,954   57,215 309,107          
        – VCSH               9,697     9,749   9,774          
        – Nợ dài hạn               10,257   47,466 299,333          
        2. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn       26,591   40,700 304,750          
        3. Vốn lưu động thường xuyên       -6,637   16,515   4,357          
        IV. Khả năng sinh lời                                            
        1. LN trước thuế/Tổng tài sản (%) (ROA)     2.98%     0.80%   0.08%          
        2. LN sau thuế/Vốn CSH (%) (ROE)     16.30%     7.50%   2.29%          
        3. LN sau thuế/Doanh thu (%)       1.50%     0.60%   0.36%          
        V. Năng lực hoạt động                                            
        1. Vòng quay các khoản phải thu       3.51     2.59   1.85          
                                                             

    50

     

      Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n       Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
                         
      2. Kỳ thu tiền bình quân   102.31   139.05   194.1    
             
      3. Vòng quay hàng tồn kho   5.73   5.53   2.84    
      4. Số ngày dự trữ hàng tồn kho   62.86   65.09   126.76    
      5. Vòng quay vốn lưu động   2.03   1.71   1.12    
      6. Chu kỳ sản xuất kinh doanh   177.12   209.91   321.29    

    Hai biểu trên đã phản ánh đầy đủ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp qua 3 năm trở lại đây. Qua đó, chúng ta có thể thấy được:

    • Cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp:

    Năm 2004 có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp. Tỷ trọng tài sản lưu động trên tổng tài sản năm 2003 là 70%, đến năm 2004 giảm xuống còn 22%. Tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư dài hạn trên tổng tài sản tăng, chiếm 78% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp năm 2004. Nguyên nhân của sự gia tăng tỷ trọng và giá trị sản lượng trong năm 2004 là do Doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng 02 nhà máy mới: Nhà máy sơn mạ màu công suất 80.000 tấn/năm với tổng vốn đầu tư là 390 tỷ đồng và Nhà máy chế tạo thiết bị Hà Nội công suất 6.000 tấn/năm với tổng vốn đầu tư là 22 tỷ đồng, làm tăng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản dở dang của hai nhà máy này lên tới: 282.71 tỷ đồng. Vì vậy đã làm chuyển dịch cơ cấu tài sản của Doanh nghiệp.

    Trong khoản mục tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn. Các khoản phải thu chiếm 49% so với tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với giá trị tuyệt đối 43.674 triệu đồng. Hàng tồn kho chiếm 45% tài sản lưu động tương ứng với giá trị tuyệt đối 40.217 triệu đồng. Tài sản lưu động khác và tiền chiếm tỷ trọng nhỏ chưa đến 5% giá trị tài sản lưu động và đầu tư dài hạn. Điều đó cho thấy Doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn lớn.

    • Cơ cấu nguồn vốn của Doanh nghiệp.

    Tỷ trọng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn qua các năm khá cao, trên 95% tổng nguồn vốn. Trong đó Nợ dài hạn tăng cao từ 47.466 triệu đồng năm 2003 lên 293.33 triệu đồng năm 2004. Nguồn vốn vay dài hạn tăng được sử dụng cho việc đầu tư xây dựng hai nhà máy là Nhà máy Sơn mạ màu và Nhà máy ché tạo thiết bị. Vay ngắn hạn chiếm 34% tên Tổng nợ ngắn hạn. Nguồn vốn vay ngắn hạn chủ yếu là do Doanh nghiệp vay hai ngân hàng là Ngân hàng Nông nghiệp

    • Phát triển nông thôn chi nhánh Láng Hạ và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư
    • Phát triển Việt Nam để phục vụ cho mục đích thi công các công trình mà Doanh nghiệp đã trúng thầu: Công trình Bia Thanh Hoá, công trình Bia Hà Nội hoặc được Tổng Công ty giao cho làm thầu phụ như: Công trình Nhiệt điện Uông Bí mở rộng, nhà máy xi măng Hải Phòng,…

    Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp năm 2004 thấp, chỉ chiếm 2.47% giá trị tổng nguồn vốn phản ánh vốn chủ sở hữu thấp, hoạt động

    51

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp bị phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Với nguồn vốn CSH thấp như vậy, Doanh nghiệp khó chủ động trong hoạt động sản xuất và khả năng thanh toán công nợ của mình.

    Dự định đến năm 2005, Doanh nghiệp sẽ chuyển đổi hình thức từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần, do vậy có thể huy động thêm vốn từ các cổ đông để nâng cao khả năng độc lập về tài chính. Dự kiến năm 2005, Doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phiếu mới với giá trị ước tính khoảng 35 tỷ đồng và làm tăng VCSH của Doanh nghiệp lên khoảng 45 tỷ đồng.

    • Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Công ty Lắp máy và xây dựng Hà Nội là đơn vị có uy tín trong hoạt động xây lắp, khả năng thi công cao. Công ty đã trúng thầu nhiều công trình có giá trị lớn, như: Công trình Bia Hà Nội, Gang thép Thái Nguyên, Kính Đáp Cầu,…

    Là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam, với năng lực của mình Doanh nghiệp cũng nhận được sự hỗ trợ từ Tổng Công ty mẹ dưới hình thức nhận làm nhà thầu phụ thi công các công trình như: Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy điện Uông Bí mở rộng, Trung tâm hội nghị quốc gia,… Trong quá trình thi công, Doanh nghiệp thực hiện tốt chất lương thi công, đảm bảo thi công đúng tiến độ đã cam kết với nhà thầu, các khối lượng đang thi công đều được nghiệm thu đúng quy định xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan, chủ đầu tư thanh toán chậm các công trình, tạm thời làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình tài chính của Doanh nghiệp.

    Về Doanh thu và giá vốn hàng bán: Cơ cấu chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung trong tổng chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh tương đối hợp lý. Chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng 52%, chi phí nhân công trực tiếp chiếm 13% so với tổng chi phí phát sinh. Tỷ trọng trên cho thấy Doanh nghiệp không quá bị phụ thuộc vào giá nguyên vật liệu, do vậy mà Doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được rủi ro khi có sự biến động về giá cả nguyên vật liệu trên thị trường. Tỷ lệ công trình bị lỗ trên tổng số công trình thực hiện năm 2004 là 11 trên 32 công trình, chiếm 32% với tổng giá trị là 1.199 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí nhân công trực tiếp của các công trình này tăng cao dẫn đến tổng chi phí phát sinh tăng cao, làm giảm lợi nhuận của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỷ trọng các công trình phát sinh lợi nhuận dương

    • lớn nên trong năm 2004, Doanh nghiệp thu được khoản tiền lãi là 3.005 triệu đồng chiếm 4.9% tổng lợi nhuận của Doanh nghiệp.

    Như vậy, cơ cấu giữa giá vốn hàng bán và doanh thu của Doanh nghiệp tương đối hợp lý, tổng chi phí bỏ ra nhỏ hơn doanh thu đảm bảo cho Doanh nghiệp hoạt động có lãi. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực xây lắp nên tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu và vốn CSH không lớn. Năm 2005, hai nhà máy “Thép mạ và sơn màu” và “Nhà máy chế tạo thiết bị Hà Nội” sẽ đi vào hoạt động, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh và tính chủ động cho Doanh nghiệp, nâng cao

    52

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    VCSH, Doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong thanh toán. Doanh nghiệp đang hoạt động tốt và có lãi qua các năm, hơn nữa Doanh nghiệp lại là bạn hàng lâu năm của Sở giao dịch I, do vậy Doanh nghiệp hoàn toàn có đủ năng lực thực hiện việc giao dịch với Sở giao dịch I để thoả mãn nhu cầu về vốn của mình.

    2.2.4.2. Giới thiệu dự án.

    Dự án đầu tư Nhà máy sản xuất thép tấm mạ sơn màu LILAMA đã được Bộ xây dựng chấp thuận về chủ trương đầu tư và về nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi tại các công văn số 748/BXD-KHTH ngày 21/05/2002 và công văn số 1096/BXD-KHTH ngày 19/07/2002. Tại quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt với nội dung chính như sau:

    • Tên dự án: Nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm.
    • Chủ đầu tư: Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội.
    • Mục tiêu: Xây dựng nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA từ tôn đen dạng cuộn để đáp ứng nhu cầu sử dụng tôn lợp trong Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cà cung cấp cho thị trường trong nước tiến tới xuất khẩu.
    • Công suất thiết kế:
    + Tôn mạ kẽm : 80.000 tấn/năm.
    + Tôn mạ kẽm sơn phủ : 50.000 tấn/năm.
    + Tôn cán sóng : 10.000 tấn/năm.
    • Xà gồ và các phụ kiện : 15.000 tấn/năm.
    • Sự cần thiết phải đầu tư:

    Ứng dụng chủ yếu của tôn mạ kẽm nhúng nóng và tôn mạ kẽm sơn phủ là sử dụng để lợp mái và bao che tường, gò hàn, vỏ của các thiết bị gia dụng, các ứng dụng che phủ, sản xuất xà gồ có kết cấu nhẹ, các cấu kiện nội thất và các công việc định khung khác. Nhu cầu sử dụng về nhóm vật liệu này gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nhưng cho đến nay nước ta không sản xuất được thép tấm cán nóng hay cán nguội, sản phẩm này vẫn phải nhập khẩu 100%. Hiện nay ở nước ta mới chỉ có 02 nhà máy đặt tại TP Hồ Chí Minh, nhưng sản phẩm chủ yếu phục vụ cho thị trường phía Nam, để cung cấp cho thị trường phía Bắc thì phải tính thêm cả giá cước vận chuyển (40-50USD/tấn); nhưng cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu thị trường.

    Với định hướng phát triển chiến lược của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam trong thòi gian tới là Tổng thầu EPC cho các dự án trong và ngoài nước, việc đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất tấm lợp từ tôn đen dạng cuộn để có thể tự cung tự cấp cho các công trình của Tổng Công ty đang thi công, tiết kiệm vốn đầu tư là hết sức cần thiết, tạo nên sức chủ động và cạnh tranh cao cho Tổng Công ty trong việc thắng thầu. Một nhà máy trong thời gian tới là nắm bắt được

    53

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đúng thời điểm, cơ hội đầu tư, phục vụ nhu cầu thiết yếu của Tổng Công ty nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung, đặc biệt nâng cao tính hiệu quả kinh tế trong công tác xây dựng cơ bản trên thị trường.

    * Mô tả dự án – Địa điểm xây dựng dự án:

    Nhà máy được xây dựng ở thị tứ Quang Minh – Huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc, nằm sát địa phận xã Tiền Phong – huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc; nằm song song với đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài, nối liền với đầmVân Trì – Đông Anh – Hà Nội.

    Khu đất nghiên cứu có giới hạn như sau:

    • Phía Bắc giáp với khu đất dự trữ khu Công nghiệp.
    • Phía Đông – Nam giáp với nhà máy sản xuất và lắp ráp máy vi tính.
    • Phía Tây – Nam giáp với đường sắt Hà Nội – Yên Bái.
    • Phía Tây – Bắc giáp với nhà máy sản xuất thiết bị thi công.

    Đây là khu trung tâm của 3 khu Công nghiệp lớn là Thăng Long, Nội Bài, Mê Linh và gần sát khu đô thị mới Nam Thăng Long và Bắc Thăng Long. Khu vực này cũng là trung tâm đầu mối giao thông của các tỉnh đi Tây Bắc – Đông Bắc và Châu thổ sông Hồng, gồm các đường Quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 18, quốc lộ 5,…

    2.2.4.2.1. Phân tích tài chính dự án “ Nhà máy sản xuất thép tấm mạ và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm.”

    • Xác định tổng vốn đầu tư.

    Tại quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng

    Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt:

    • Tổng vốn đầu tư: 000.000.000 đồng (390 tỷ đồng).
    • 490.196 USD với tỷ giá USD/VNĐ = 15.300. Thời gian hoạt động của dự án: 25 năm.

    Với cơ cấu vốn như sau:

    Biểu 3: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Doanh nghiệp.

      Nguồn vốn VNĐ USD
           
    1. Vốn xây lắp 55,121,369,143 3,602,704
    2. Vốn mua sắm thiết bị 256,942,515,180 16,793,628
    3. Chi phí khác 9,933,705,833 649,262
    3.1. CP giai đoạn chuẩn bị đầu tư 888,454,343 58,069
    3.2. CP giai đoạn thực hiện đầu tư 8,085,600,383 528,471
    3.3. Cp giai đoạn kết thúc xây dựng 959,651,107 62,722
    4. Lãi vay trong thời gian xây dựng 14,304,649,344 934,944
    5. Vốn dự phòng 18,697,760,500 1,222,076
    6. Vốn lưu động 35,000,000,000 2,287,582
      Tổng vốn đầu tư 390,000,000,000 25,490,196

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    Trong đó, Vốn được đầu tư bằng:

    54

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Vốn tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng: 000.000.000 VNĐ.

    –    Vốn tự có (23%)                                                                   : 90.000.000.000 VNĐ.

    Nguồn vốn đầu tư có kết cấu như sau:

    • Vốn cố định, vay với lãi suất 0.74%/tháng = 8.88%/năm.
    • Vốn lưu động, vay với lãi suất 0.62%/tháng = 7.44%/năm.

    Tiến độ đầu tư: Căn cứ vào phân đợt xây dựng và tiến độ thực hiện của dự án và nhu cầu vốn đầu tư cho từng công việc. Xác định tiến độ hoạt động như sau:

    • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Lập và thẩm định dự án.
    • Khảo sát địa chất, thiết kế xây dựng và lập tổng dự toán.
    • Thẩm định hồ sơ thiết kế và Tổng dự toán.
    • Năm 2003 doanh nghiệp đầu tư 329.890.947.000 VNĐ cho các công việc:
    • Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị công nghệ.
    • San lấp mặt bằng.
    • Xây dựng cổng tường rào, nhà thường trực.
    • Xây dựng một phần xưởng tôn cuốn.

    Doanh nghiệp chịu thuế suất theo quy định:

    • Thuế VAT : 5%.
    • Thuế TNDN : 25%.

    Tỷ giá ngoại tệ: USD/VNĐ = 15.300.

    • Cơ cấu vốn chi tiết: – Vốn cố định:

     

    • Vốn thiết bị: 256,942,515,180 VNĐ.

    Biểu 4a: Vốn đầu tư thiết bị của dự án.

        Nội dung chi phí Đơn vị Giá trị  
      I. Thiết bị nhập khẩu đ 231,691,750,000  
      1. Dây chuyền mạ tôn kẽm và sơn phủ d.chuyền 229,500,000,000  
      2. Các chi phí khác của thiết bị nhập đ 2,191,750,000  
      2.1. Uỷ thác nhập khẩu đ 1,377,000,000  
      2.2. Vận chuyển nội địa đ 500,000,000  
      2.3. Chi phí bảo quản, bảo dưỡng (0.05%GTB) đ 114,750,000  
      2.4. Chi phí lưu kho bãi tại cảng đ 100,000,000  
      2.5. Chi phí giám định chất lượng hàng hoá đ 100,000,000  
      II. Thiết bị mua trong nước đ 25,250,765,180  
      1. Thiết bị công nghệ mua trong nước đ 14,006,765,180  
      1.1. Dây chuyền gia công xà gồ thép đ 3,901,485,000  
      1.2. Dây chuyền cán tôn tấm tự động đ 5,105,280,180  
      1.3. Dây chuyền mạ tôn kẽm và sơn phủ đ 5,000,000,000  
      2. Thiết bị trạm biến áp và trạm điện Diezel đ 2,000,000,000  
      3. Thiết bị trạm xử lý nước thải đ 500,000,000  
      4. Thiết bị trạm khí nén đ 300,000,000  
      5. Thiết bị cân đ 200,000,000  

    55

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
           
           
    6. Thiết bị trạm cung ứng nước đ 200,000,000
    7. Bể LGG + trạm điều áp cấp I đ 994,000,000
    8. Máy sản xuất H2: 20m3/h đ 1,800,000,000
    9. Máy khử khoáng cho nước đ 300,000,000
    10. Thiết bị cơ khí sửa chữa đ 150,000,000
    11. Thiết bị nhà ăn đ 100,000,000
    12. Phương tiện vận tải + cần trục (6 cái) đ 4,000,000,000
    13. Thiết bị thí nghiệm đ 400,000,000
    14. Thiết bị điều hoà đ 200,000,000
    15. Thiết bị văn phòng đ 100,000,000
    16. Thiết bị PCCC đ 50,000,000
        Tổng chi phí thiết bị đ 265,942,515,180

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    • Vốn đầu tư xây lắp (có VAT = 5%): 53,479,035,810 VNĐ. Vốn đầu tư xây lắp có quy mô như sau:

    Biểu 4b: Vốn đầu tư xây lắp của dự án.

        Hạng mục xây lắp Giá trị trước thuế Giá trị sau thuế
    I. Chi phí xây dựng 46,629,448,571 48,960,921,000
    1. San lấp mặt bằng 1,260,000,000 1,323,000,000
    2. Cổng 60,000,000 63,000,000
    3. Nhà thường trực và bảo vệ 88,320,000 92,736,000
    4. Gara ô tô, xe máy 135,000,000 141,750,000
    5. Phân xưởng mạ + kho 10,601,500,000 11,131,575,000
    6. Phân xưởng sơn + kho 13,123,200,000 13,779,360,000
    7. Phân xưởng sản xuất xà gồ + tấm lợp 9,216,000,000 9,676,800,000
    8. Kho kẽm thỏi + SCRUF 672,000,000 705,600,000
    9. Bể sục 90,000,000 94,500,000
    10. Móng máy 476,190,476 500,000,000
    11. Nhà hành chính + Nhà ăn 1,575,000,000 1,653,750,000
    12. Trạm điện Diezel 110,400,000 115,920,000
    13. Trạm biến thế 72,000,000 75,600,000
    14. Trạm cấp ga 540,000,000 567,000,000
    15. Nhà nồi hơi 360,000,000 378,000,000
    16. Nhà vệ sinh 48,600,000 51,030,000
    17. Khu xử lý nước thải 476,190,476 500,000,000
    18. Trạm cầu cân 50,000,000 52,500,000
    19. Trạm cung cấp nước 936,000,000 982,800,000
    20. Đường nội bộ 3,000,000,000 3,150,000,000
    21. Tuyến ống cấp nước sạch 190,476,190 200,000,000
    22. Hệ thống thoát nước mưa 714,285,714 750,000,000
               

    56

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n   Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
               
             
    23. Hệ thống thoát nước thải 300,000,000   315,000,000
    24. Hệ thống cung cấp điện 714,285,714   750,000,000
    25. Điện chiếu sáng nội bộ 1,200,000,000   1,260,000,000
    26. Cây xanh + hàng rào 620,000,000   651,000,000
    II. Chi phí lắp đặt thiết bị (2%GTB) 4,302,966,486   4,518,114,810
      Tổng chi phí xây lắp 50,932,415,057   53,479,035,810

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp)

    • Vốn lưu động: 000.000.000 VNĐ.
    • Sau khi xem xét kỹ hồ sơ của Doanh nghiệp vay vốn, Cán bộ tín dụng đã đi đến thống nhất với Doanh nghiệp vay vốn về nguồn vốn của dự án đầu tư như sau:

     

    • Vốn tự có của Doanh nghiệp (chiếm 23%): 000.000.000 đồng.
    • Vốn vay dài hạn thương mại tại Ngân hàng:
    • Tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Việt Nam chi nhánh Láng Hạ, vốn vay trung – dài hạn: 000.000.000 đồng.
    • Tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, vốn vay trung – dài hạn đầu tư một dây chuyền công nghệ ngoại nhập với giá trị tối đa là
    • 000.000.000 đồng.

    Lãi suất vay được quy định ở trên.

    • Doanh thu – Chi phí của dự án. * Căn cứ tính:

     

    – Theo quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ tài

    chính về ban hành chế độ quản lý, sử dụng vốn và trích KHTSCĐ.

    • Theo các bảng giá tính toán kèm theo Quyết định số 743 TCT/HĐQT ngày 23/07/2002 của HĐQT Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã phê duyệt.
    • Theo tính toán về chi phí thực tế của Doanh nghiệp.
    • Theo giá thị trường của một số mặt hàng.

    * Phương pháp tính:

    • Theo nghiên cứu của Doanh nghiệp thì doanh thu thu được của mỗi loại sản phẩm đặc trưng sau khi nhà máy được đưa vào hoạt động là:

    57

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 5: Doanh thu tính trên mỗi loại sản phẩm.

    Đơn vị: nghìn đồng.

      Doanh thu             Năm hoạt động          
          1     2     3     4     …25  
                             
    1. DT từ tôn mạ                              
    kẽm 186,054,788   212,634,043   252,502,926     265,792,554   265,792,554  
    2. DT từ tôn sơn                              
    sau mạ 273,616,891   312,705,019   371,337,210   390,881,273 390,881,273  
    3.DT từ tấm lợp 88,195,392   100,794,734   119,693,747     125,993,418   125,993,418  
                     
    4. DT từ phụ kiện 46,403,648   53,032,741   62,976,380   66,290,926 66,290,926
               
    5. DT từ xà gồ                              
    thép 63,201,051 72,229,773   85,772,855   90,287,216 90,287,216
      Tổng DT     657,471,770     751,396,310     892,283,118     939,245,387     939,245,387  

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp vay vốn)

    • Chi phí của dự án được Doanh nghiệp dự tính:

    58

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 6: Danh mục dự tính chi phí của Doanh nghiệp trong.

    Đơn vị: Triệu đồng.

      Loại chi phí                             Năm hoạt động                        
          1     2     3     4     5     6     7     8     9     10  
                                                 
    1. Nguyên liệu chính 468,920   535,909   636,392   669,866 669,866   669,866 669,866   669,866 669,866 669,866  
    2. Nguyên liệu phụ 11,173   12,770   15,164 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962 15,962
    3. Nhiên liệu 3,780   4,320   5,130   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400   5,400  
    4. Điện năng 6,111   6,984   8,294   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730   8,730  
    5. Tiền lương CNSX 1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440   1,440  
    6. BHXH (17% lương) 216 216 216 216 216 216 216 216 216 216  
    7. BHYT (2% lương) 29   29   29   29   29   29   29   29   29   29  
    8. CP quản lý hành chính 34,416 39,317 46,667 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116 49,116
    9. Các CP khác 19,661 22,467 26,667 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067 28,067
    10. Tiền thuê đất 118   118   118   118   118   118 118   118 118 118  
    11. KHTSCĐ 38,480   38,480   38,480 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168
    12. Lãi vay hàng năm 34,152   29,420   24,688   19,956   15,223   10,491   5,759   2,604   2,604   2,604
      Tổng chi phí     618,496     691,470     803,285     823,068     818,335     813,603     808,871     805,716     805,716     805,716  

    (Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi của Doanh nghiệp vay vốn).

    (Dự tính trong 10 năm đầu Doanh nghiệp đi vào hoạt động).

    59

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trong phần này, Doanh thu mà Ngân hàng sau khi thẩm định lại dự án dự tính thấp hơn so với Doanh nghiệp. Đó là vì khi tham khảo trên thị trường và các yếu tố chi phối khác, Ngân hàng đã giảm đơn giá trong quá trình sản xuất sau khi nhà máy đi vào hoạt động so với đơn giá do Doanh nghiệp dự tính là 10%. Điều này là hợp lý vì khi lập dự án, Doanh nghiệp đã dự tính các khoản mục thấp hơn so với thời điểm khi Ngân hàng tiến hành thẩm định lại dự án, đồng thời Ngân hàng đã giảm công suất hoạt động của Nhà máy để phù hợp với năng lực và cân đối so với nhu cầu của thị trường.

    Ngân hàng cũng tiến hành thẩm định lại chi phí thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp khi Nhà máy đi vào hoạt động. Kết quả là Doanh nghiệp đã dự tính chi phí có nhiều điểm khác biệt so với khoản mục chi phí do Ngân hàng dự tính:

    • Doanh nghiệp đã không dự tính các khoản chi phí cho việc sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị khi Nhà máy thực hiện sản xuất. Ngân hàng đã dựa trên khoản mục bảo trì máy móc để dự tính lại khoản này của Doanh nghiệp.
    • Chi phí trả tiền lương cho công nhân sản xuất có sự khác biệt. Doanh nghiệp đã không dự tính đến sự thay đổi của khoản chi phí này qua các năm. Ngân hàng đã dự tính chi phí lương trả cho công nhân sản xuất tăng lên qua các năm, điều này là hợp lý vì mức lương trả cho công nhân có xu hướng thay đổi qua từng thời kỳ.
    • Về khấu hao tài sản cố định, Doanh nghiệp đã dự tính mức khấu hao quá nhanh so với thực tế (20%). Ngân hàng đã dựa theo quy định của Bộ xây dựng để tính lại mức khấu hao hàng năm của Doanh nghiệp (14%).
    • Doanh nghiệp đã không dự tính chính xác khoản mục chi phí trả lãi vay hàng năm của mình. Ngân hàng đã căn cứ vào nhu cầu cho sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp khi nhà máy đi vào hoạt động để dự tính khoản chi phí này.

    ¾ Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án:

    Sau khi tiến hành thẩm định lại dự án của Doanh nghiệp vay vốn đầu tư, Ngân hàng đã cân đối lại các khoản mục chi phí và doanh thu của Doanh nghiệp, bổ sung sửa đổi các khoản còn thiếu cũng như điều chỉnh lại các danh mục cần thiết. Ngân hàng đã tính toán lại các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp qua bảng chỉ tiêu sau:

    60

     

      Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n       Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp              
                                             
                    Biểu 7: Bảng đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án.          
        Khoản mục     Đơn vị               Năm hoạt động            
              1   2 3 4   5 6 7 8 9 10
      1. Công suất hoạt động %   70%   75% 80% 85%   90% 95% 100% 100% 100% 100%
        2. Sản lượng     tấn/năm   63,000   67,500 72,000 76,500   81,000 85,500 90,000 90,000 90,000 90,000
      – Tôn mạ kẽm   tấn/năm 21,000   22,500 24,000 25,500 27,000 28,500 30,000 30,000 30,000 30,000
      – Tôn mạ sơn phủ   tấn/năm 24,500   26,250 28,000 29,750 31,500 33,250 35,000 35,000 35,000 35,000
      – Tấm lợp kim loại   tấn/năm 7,000   7,500 8,000 8,500 9,000 9,500 10,000 10,000 10,000 10,000
      – Phụ kiện   tấn/năm 3,500   3,750 4,000 4,250 4,500 4,750 5,000 5,000 5,000 5,000
      – Xà gồ   tấn/năm 7,000   7,500 8,000 8,500 9,000 9,500 10,000 10,000 10,000 10,000
        3. Doanh thu     trđ   629,274   674,222 719,170 764,119   809,067 854,015 898,963 898,963 898,963 898,963
      – DT có VAT   trđ 660,738   707,933 755,129 802,325 849,520 896,716 943,911 943,911 943,911 943,911
      – VAT (5%DT)   trđ 31,464   33,711 35,959 38,206 40,453 42,701 44,948 44,948 44,948 44,948
        4. Tổng chi phí     trđ   631,321   668,319 704,698 740,370   775,573 776,616 835,082 835,082 835,082 835,082
      – CP nguyên liệu   trđ 489,580   524,550 559,520 594,490 629,460 664,430 699,400 699,400 699,400 699,400
      – CP sửa chữa lớn   trđ 2,989   2,989 2,989 2,989 2,989 2,417 2,417 2,417 2,417 2,417
      – CP s.chữa thường xuyên   trđ 448   448 448 448 448 363 363 363 363 363
      – CP bán hàng   trđ 19,822   21,238 22,654 24,070 25,486 2,691 28,317 28,317 28,317 28,317
      – CP quản lý Doanh nghiệp   trđ 33,037   35,397 37,756 40,116 42,476 44,836 47,196 47,196 47,196 47,196
      – CP lương + BHXH   trđ 1,190   1,257 1,360 1,445 1,530 1,615 1,700 1,700 1,700 1,700
      – Phân bổ lãi vay trong kỳ   trđ 2,861   2,861 2,861 2,861 2,861              
      – Lãi vay Vốn lưu động   trđ 17,506   18,749 19,991 21,234 22,476 23,698 24,941 24,941 24,941 24,941
      – Lãi vay Vốn cố định   trđ 33,994   30,936 27,225 22,823 17,953 12,398 6,580 6,580 6,580 6,580
      – KHCB   trđ 29,894   29,894 29,894 29,894 29,894 24,168 24,168 24,168 24,168 24,168
        5. Lợi nhuận trước thuế     trđ   -2,048   5,885 14,471 23,747   33,492 53,189 63,882 70,462 70,462 70,462
        6. Thuế TNDN     trđ         2,968 4,186 13,297 15,971 17,615 17,615 17,615
        7. Lợi nhuận ròng     trđ   -2,048   5,885 14,471 20,779   29,306 39,892 47,911 52,847 52,847 52,847
                                             

    61

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Các khoản mục do Ngân hàng tính toán trên đây đã phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu tài chính dự tính của Doanh nghiệp trong thời gian hoạt động của Doanh nghiệp (Chỉ dự tính trong 10 năm đầu từ khi nhà máy chính thức được đưa vào sản xuất kinh doanh). Có thể thấy là Doanh nghiệp hoạt động có kết quả khả quan và thu được lợi nhuận sau thuế tăng dần và tăng ổn định qua các năm, đồng thời phản ánh được hiệu quả kinh tế cao của dự án khi Nhà máy đi vào sản xuất và hoạt động đúng công suất đã đề ra. Khoản này sẽ là một nguồn quan trọng trong việc trả nợ vay cho Ngân hàng của Doanh nghiệp.

    Qua các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh tế của Doanh nghiệp, Ngân hàng đã tính toán các chỉ tiêu tài chính như dòng tiền của dự án qua các năm, hiện giá dòng tiền, NPV, IRR, DSCR của dự án. Tuy nhiên về khoản mục này, Ngân hàng đã tính toán và thu được kết quả thấp hơn so với Doanh nghiệp và đó là do sự khác biệt trong tính toán chi phí cũng như doanh thu của Doanh nghiệp đã nêu ở trên. (Biểu 8: Bảng cân đối dòng tiền dưới đây).

    Để có được sự đánh giá toàn diện hơn về dự án, Ngân hàng cũng đánh giá các chỉ tiêu tài chính qua Bảng thử độ nhạy công suất của dự án (Biểu 9: Bảng thử độ nhạy công suất kèm theo dưới đây). Qua sự thay đổi của từng mức công suất hoạt động của dự án, chúng ta có thể thấy được sự biến đổi của các chỉ tiêu như NPV, IRR, DSCR của dự án, sự co giãn của các chỉ tiêu này khi có sự thay đổi của công suất cũng như giá bán hay chi phí nguyên vật liệu của dự án. Điều này đã phản ánh độ nhạy cảm của dự án khi nhà máy chính thức đi vào hoạt động và đứng trước những khó khăn, thách thức trong cạnh tranh trên thị trường, đồng thời cũng dự tính những chỉ tiêu có thể chịu ảnh hưởng khi có sự biến động trên thị trường như thời gian trả nợ của Doanh nghiệp, mức hiệu quả trong hoạt động của dự án… Việc phân tích này là cần thiết, vì nó đã đề cập đến mức độ phù hợp của dự án khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích tính thích ứng cần thiết của dự án trong những trường hợp không mong muốn có thể xảy đến với Doanh nghiệp trong tương lai.

    62

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 8: Dòng tiền và các chỉ tiêu đánh giá.

        Khoản mục                             Năm hoạt động                            
            0     1     2     3     4     5     6     7     8     9     10  
                                                       
    1. Dòng tiền dự án -390,000 61,480 66,715 71,590 73,496 77,153   76,458 78,659 77,014 77,014 77,014
    2. Hiện giá đồng tiền -390,000 56,218 55,136 53,787 50,199 47,906   43,158 40,365 35,928 32,662 29,693
    3. NPV 231,638                                                              
    4. IRR 17.80%                                                              
    5. Thời gian trả nợ (tròn năm) 7                                                              
    6. Dòng tiền trả nợ       62,840   65,950   68,749   68,763   70,362     67,288   68,681                    
    7. Kế hoạch trả nợ vốn vay                                                                  
    7.1. Nợ gốc dài hạn phải trả       28,846   35,014   41,524   45,940   52,408     54,890   62,073                    
    7.2. Lãi vay vốn cố định       33,994   30,936   27,225   22,823   17,953     12,398   6,580                    
    8. Chỉ số khả năng thanh toán                                                                  
    8.1. DSCR trong năm trả nợ       1.00   1.00   1.00   1.00   1.00     1.00   1.00   1.00   1.00   1.00  
    8.2. DSCR nhỏ nhất 1.00                                                              
    8.3. DSCR trung bình 1.00                                                              

    (Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    (Chú ý: NPV, IRR được dự tính trong 10 năm đầu hoạt động của dự án).

    63

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 9: Bảng thử độ nhạy công suất của dự án.

      Giá trị thay đổi     Đơn vị                                      
      Công suất huy động ban đầu     %     70%     50%     55%     60%     75%     80%  
      Kết quả                                            
    1. NPV   trđ 231,689   142,045   166,302   189,362   250,559   267,477  
    2. IRR %   17.8% 14.5% 15.3% 16.1% 18.6% 19.3%  
    3. Thời gian trả nợ   năm 8   10   9   9   7   7  
    4. DSCR trung bình   lần 3.11   1.11   1.04   2.31   1.07   1.27  
        Giá trị thay đổi     Đơn vị                  
      1. Giá bán sản phẩm     trđ       Giảm 3%     Giảm 2%    
      2. Chi phí nguyên vật liệu     trđ             Tăng 2%   Tăng 5%
        Kết quả                        
    1. NPV   trđ 231,689 81,224 43,822 12,913
    2. IRR %   17.8% 12.8% 11.6%   10.5%
    3. Thời gian trả nợ   năm 8 10 12   13
    4. DSCR trung bình   lần 3.11 1.02   1.95   1.06

    Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Việt Nam và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    (Chú ý: NPV, IRR được dự tính trong 10 năm đầu hoạt động của dự án).

    64

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Cân đối nguồn và khả năng trả nợ của Doanh nghiệp. Lịch trả nợ của Doanh nghiệp.

    – Doanh nghiệp vay vốn trung – dài hạn của Ngân hàng với thời gian là 96 tháng (08 năm). Trong đó thời hạn cho vay thực tế là 84 tháng (07 năm) và 12 tháng là thời gian ân hạn trả nợ của Doanh nghiệp.

     

    – Các nguồn trả nợ của Doanh nghiệp được đảm bảo dựa trên nguồn lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận giữ lại, các khoản khấu hao của Doanh nghiệp, các nguồn tài trợ hợp pháp của Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

     

    – Doanh nghiệp vay vốn: 200.000.000.000 đồng tại Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam chi nhánh Láng Hạ và 99.000.000.000 đồng tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Doanh nghiệp cam kết các khoản nợ vay bằng ngoại tệ (USD) sẽ được tiến hành trả cả gốc và lãi bằng ngoại tệ (USD) cho Ngân hàng.

    – Doanh nghiệp được bảo lãnh vay vốn từ Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (tên viết tắt là LILAMA). Doanh nghiệp cũng thế chấp quyền sử dụng đất tại 53 Lĩnh Nam – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội và toàn bộ tài sản hiện có của Doanh nghiệp hình thành trên khu đất cho Ngân hàng; đồng thời Doanh nghiệp cam kết toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay (bao gồm cả quyền sử dụng đất tại xã Quang Minh – Huyện Mê Linh – Vĩnh Phúc) làm tài sản bảo đảm nợ vay cho Ngân hàng để vay vốn.

    Lịch trả nợ của Doanh nghiệp được xác định như sau:

    65

     

    Tr−êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Biểu 10: Lịch trả nợ của Doanh nghiệp đối với Ngân hàng.

    Đơn vị: Triệu đồng.

      STT     Chỉ tiêu                       Năm hoạt động                  
              0     1     2     3     4     5     6     7  
                                               
    1   Dư nợ đầu năm 320,695   320,695 291,849 256,835   215,311 169,371   116,963 62,073  
    2   Nợ gốc phải trả hàng năm       28,846   35,014   41,524   45,940 52,408 54,890 62,073
    3   Lãi vay phải trả trong năm       33,994   30,936   27,225   22,823   17,953   12,398   6,580
    4   Tổng mức trả nợ hàng năm       62,840   65,950   68,749   68,763 70,362 67,288 68,653
    5   Dư nợ cuối năm 320,695   291,849 256,835 215,311   169,371 116,963 62,073   0  
    6   Luỹ kế nợ gốc phải trả hàng năm       28,846   63,860   105,384   151,324   203,732   258,622 320,695
    7   Luỹ kế trả nợ lãi hàng năm       33,994   64,930   92,154   114,977   132,930   145,329 151,908

    (Nguồn: Báo cáo đồng thẩm định của Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam và Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

    66

     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.4.2.2. Ý kiến trình Ban Lãnh Đạo Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Qua Báo cáo thẩm định chung giữa Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Ngân hàng No&PT Nông thôn Việt Nam về dự án xây dựng “Nhà máy sản xuất thép tấm lợp và sơn màu LILAMA công suất 80.000 tấn/năm”, qua đánh giá về tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của cơ quan chủ quản đầu tư và Doanh nghiệp vay vốn, cân đối khả năng vay trả của dự án và của toàn công ty, Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam xét thấy cho vay dự án khả thi và có khả năng thu hồi được nợ vay.

    Sở giao dịch I trình Ban Lãnh Đạo xét duyệt cho Công ty lắp máy và xây dựng Hà Nội – Tổng Công ty lắp máy Việt Nam được vay vốn tín dụng dài hạn thương mại năm 2002 – 2004 với những nội dung sau:

    1. Tổng số tiền vay tối đa của dự án: 300 tỷ đồng (gồm 312 triệu đồng và 15.143.000 USD). Phần vốn thiết bị ngoại nhập sẽ vay bằng ngoại tệ, vốn xây lắp, chi phí khác và chi phí dự phòng sẽ vay bằng VNĐ.

    Trong đó:

    + Ngân hàng No&PT Nông thôn Chi nhánh Láng Hạ cho vay (Ngân hàng đầu mối): 200 tỷ đồng.

    + Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cho vay tối đa 100 tỷ đồng.

    (Dự kiến Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam sẽ cho vay đầu tư 01 dây chuyền sơn mạ mầu bằng USD quy đổi với tổng giá trị quy đổi tương đương tối đa 99 tỷ đồng)

    – Thời gian xây dựng dự án: 12 tháng.

    – Thời gian cho vay: 96 tháng (8 năm) bao gồm cả thời gian ân hạn.

    – Thời gian trả nợ: 84 tháng (7 năm).

    – Lịch trả nợ chi tiết: Quy định tại hợp đồng đồng tài trợ và hoạt động tín dụng dài hạn.

    1. Lãi suất cho vay:
    • Lãi suất cho vay được xác định trên nguyên tắc thả nổi, được điều chỉnh

    6 tháng 1 lần vào ngày làm việc đầu tiên của Quý I và III hàng năm:

    • Đối với VNĐ: Lãi suất cho vay bằng bình quân lãi suất tiết kiệm trả lãi sau của 2 Ngân hàng cho vay cộng (+) phí Ngân hàng là 2,2% mỗi năm.
    • Đối với USD: như trên.
    1. Điều kiện bảo đảm nợ vay:
    • Bảo lãnh vay vốn của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam.
    • Quyền sử dụng đất tại 52 Lĩnh Nam – quận Hai Bà Trưng – Hà Nội và toàn bộ tài sản hiện có của Doanh nghiệp hình thành trên khu đất mà Doanh nghiệp thế chấp cho Ngân hàng.
    • Doanh nghiệp cam kết toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay (bao gồm
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 67
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cả quyền sử dụng đất tại xã Quang Minh – Huyện Mê Linh – Vĩnh Phúc) làm tài sản bảo đảm nợ vay cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi.

    1. Điều kiện cho vay:
    • Doanh nghiệp chuyển và duy trì toàn bộ doanh thu và các dịch vụ liên quan đến dự án về Tài khoản tiền gửi của Doanh nghiệp tại các Ngân hàng Đồng tài trợ (NH ĐTT) theo tỷ lệ vốn tham gia.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cam kết hỗ trợ vốn cho dự án để Doanh nghiệp có đủ vốn tự có tham gia theo như cam kết.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam bảo lãnh khoản vay. Trong Hợp đồng bảo lãnh phải ghi rõ: Tổng Công ty lắp máy Việt Nam sẽ cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho Doanh nghiệp trong trường hợp Doanh nghiệp không trả được nợ vay NH ĐTT đúng thời hạn.
    • Tổng Công ty lắp máy Việt Nam cam kết yêu cầu các Công ty thành viên phải dùng sản phẩm của dự án vào các công trình thi công khi có nhu cầu và hỗ trợ ngoại tệ cho Doanh nghiệp để đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng.
    • Toàn bộ TSCĐ của dự án phải được mua bảo hiểm trong suốt thời gian còn dư nợ vay. Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ trong trường hợp xảy ra rủi ro, bên thụ hưởng hưởng quyền và quyền lợi số 1 là các NH ĐTT.

    2.3. Một số đánh giá về công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    2.3.1. Những ưu điểm đạt được:

    Qua hơn 10 năm hoạt động, Sở giao dịch I đã không ngừng đổi mới và ngày một lớn mạnh trên các mặt công tác, đồng thời khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ và ngân hàng. Góp phần vào sự phát triển chung của Sở giao dịch, công tác thẩm định dự án cũng ngày một được quan tâm hơn và không ngừng hoàn thiện, với mục đích nhằm cung cấp được những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Sở giao dịch I, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn và bảo đảm chất lượng tín dụng, cùng với sự ra đời của Phòng thẩm định và quản lý tín dụng tháng 10/2003 đã tiến hành nghiên cứu, thẩm định các dự án đầu tư của khách hàng, góp phần quan trọng trong tăng trưởng tín dụng và mang lại hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Công tác thẩm định dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam năm 2004 đạt được một số kết quả khả quan như sau:

    • Tổng số dự án thẩm định là hơn 50 dự án, tăng hơn 25% so với năm 2003.
    • Tổng số dư nợ cho vay theo dự án: 4.257.500 triệu đồng, tăng 108.5% so với năm 2003 đạt 3.924.170 triệu đồng.

    Tháng 09/2001, Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 68
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    đã ra quyết định quy định về “Quy trình thẩm định dự án đầu tư” và được áp dụng trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Quy trình thẩm định này được tiến hành thao một trình tự logic, đã đề cập được đầy đủ các nội dung của công tác thẩm định dự án, đặc biệt là trong thẩm định tài chính dự án các chỉ tiêu được đưa ra để thẩm định khá đầy đủ và chi tiết, đảm bảo cho việc thẩm định được chính xác và nhất là việc đánh giá khả năng hoàn vốn và thời gian trả nợ của khách hàng vay vốn. Quy định phối hợp giữa phòng tín dụng, phòng nguồn vốn và phòng thẩm định đã giúp Ngân hàng phát hiện được những sai sót khách quan một cách dễ dàng hơn, đồng thời giúp Ngân hàng có thể đưa ra kết quả đánh giá chính xác hơn về dự án, có được sự thống nhất trước khi lập tờ trình Ban lãnh đạo Ngân hàng. Cách làm việc tập thể này cũng giúp Ngân hàng giảm thiểu được rủi ro đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trách nhiệm của mỗi cán bộ, góp phần vào việc hoàn thiện công tác thẩm định dự án.

    Việc trang bị các thiết bị máy móc hiện đại, các phương tiện làm việc thuận tiện cho các cán bộ thẩm định đã được Sở giao dịch quan tâm một cách đầy đủ và thường xuyên hơn. Những công việc tính toán, soạn thảo, lưu trữ ngày càng được thực hiện chính xác, nhanh chóng và khoa học hơn, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, điện thoại, máy fax, mạng nội bộ, mạng Internet… đã và đang được trang bị và hoàn thiện giúp cán bộ thẩm định thu thập thông tin, khai thác các nguồn thông tin bổ có hiệu quả và chính xác hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lương thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng tại Sở giao dịch.

    Bên cạnh đó, Sở giao dịch cũng quan tâm và chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác thẩm định, giúp cho các cán bộ thẩm định có được trình độ chuyên môn ngày càng cao, đạo đức nghề nghiệp ngày càng vững vàng, có được những phẩm chất cần thiết của một cán bộ ngân hàng và đáp ứng được những yêu cầu của công việc đòi hỏi.

    2.3.2. Những hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I.

    Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thẩm định dự án nói chung và công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng tại Sở giao dịch I còn mắc phải không ít những hạn chế.

    Thứ nhất: Việc xem xét đánh giá từng nội dung trong quy trình thẩm định còn sơ sài, đôi lúc còn mang nặng tính hình thức và có nhiều điểm chưa hợp lý, nhiều khi công tác thẩm định còn chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ chủ quan giữa Sở giao dịch và khách hàng, hay do chỉ định theo kế hoạch Nhà nước. Kết quả là đến nay vẫn còn nhiều dự án ở tình trạng khó thu nợ hay nợ quá hạn không có khả năng thanh toán, buộc ngân hàng phải có biện pháp tháo gỡ như gia hạn nợ, giảm lãi suất cho vay, thu nợ gốc trước thu lãi sau,… trở thành gánh

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 69
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nặng đối với Sở giao dịch.

    Thứ hai: Nội dung, phương pháp thẩm định tài chính dự án, việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính chưa thực sự có hiệu quả. Trong thẩm định tổng vốn đầu tư cũng như cơ cấu tốc độ bỏ vốn đầu tư Sở giao dịch thường chấp nhận những dự toán của chủ đầu tư đưa ra trong dự án mà chưa cân nhắc đánh giá một cách kỹ lưỡng. Điều này đôi khi gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Sở giao dịch trong tương lai.

    Việc thẩm định doanh thu của dự án, thông thường cán bộ thẩm định chỉ phân tích sản phẩm có được chấp nhận trên thị trường hay không, và cho công suất tăng dần theo cảm tính hoặc thụ động theo kế hoạch của Doanh nghiệp. Cán bộ thẩm định đơn thuần chỉ đặt giả thiết về giá bán sản phẩm chủ yếu dựa vào phương pháp đơn đặt hàng, chưa thực sự tiến hành phân tích dựa vào các yếu tố cung cầu trên thị trường. Việc xác định chi phí và nhiều khoản mục chi phí đôi khi còn bị Sở giao dịch bỏ qua hoặc mặc nhiên chấp nhận định mức của chi phí do Doanh nghiệp đưa ra. Điều này sẽ gây ảnh hưởng tới độ chuẩn mực của dự án, đồng thời sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho cả khách hàng và Sở giao dịch trong những trường hợp bất lợi của thị trường. Sở giao dịch cần tránh rơi vào tình trạng này vì lợi ích của cả hai bên.

    Trong thẩm định tài chính dự án, một số chỉ tiêu như NPV, IRR, DSCR,… được dùng để đánh giá, xếp hạng dự án, tuy đã được đề cập đến nhưng không được Sở giao dịch sử dụng một cách thường xuyên, và nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở giai đoạn tính toán mà chưa đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa chúng, chưa so sánh với các chỉ tiêu khác. Hơn nữa, giá trị thời gian của tiền không được đề cập đến trong nhiều dự án, Sở giao dịch chú trọng nhiều đến việc tính toán thời gian thu hồi vốn và xác định nguồn trả nợ của dự án mà chưa quan tâm đến vòng đời dự án. Chính vì vậy, Sở giao dịch sẽ gặp nhiều khó khăn khi thị trường có biến động về tài chính như lạm phát, đồng tiền mất giá,… Điều này sẽ tác động không nhỏ đến khả năng hoạt động tốt, có hiệu quả của Sở giao dịch.

    Thứ ba: Tại các Ngân hàng thương mại hiện nay và tại Sở giao dịch I, việc thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư mới ở trạng thái “tĩnh” là chủ yếu, Sở giao dịch còn hạn chế trong việc thẩm định dự án và tài chính dự án ở trạng thái “động” của dự án. Điều này có nghĩa Sở giao dịch nên đặt dự án, các chỉ tiêu tài chính của dự án vào nhiều trường hợp hơn để tiến hành phân tích và thẩm định, từ đó Sở giao dịch sẽ nhận biết được khả năng thích ứng của dự án trong trạng thái “động” của thị trường. Ví dụ như: sự phát sinh các dòng tiền theo diễn biến của các giai đoạn dự án, dưới tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài như giá cả, môi trường kinh doanh, sự phát sinh ngoài dự tính của lạm phát, phá giá tiền tệ,… Đó chính là trạng thái “động” của thị trường, và trạng thái này luôn có xu hướng diễn ra bất cứ lúc nào.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 70
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thứ tư: Nguồn thông tin mà cán bộ thẩm định sử dụng để thẩm định dự án và thẩm định tài chính dự án còn nhiều hạn chế, độ tin cậy chưa cao. Nguồn dùng trong thẩm định vẫn chủ yếu là do Doanh nghiệp cung cấp cho Sở giao dịch, chính bản thân cán bộ thẩm định cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định lại độ chính xác và cập nhật của các thông tin này. Nguồn thông tin này không được các cơ quan độc lập chứng nhận, do đó dễ gây ra tình trạng gian lận từ phía khách hàng để việc vay vốn của mình được thuận lợi hơn, dễ gây ra sai lệch trong quá trình đánh giá hiệu quả tài chính của sự án và nhầm lẫn trong quyết định cho vay của Sở giao dịch.

    Thứ năm: Tiến độ thẩm định chưa thật sự nhanh chóng và sự kết hợp giữa các phòng tín dụng, phòng nguồn vốn và phòng thẩm định trong quá trình thẩm định còn chưa chặt chẽ, chưa phát huy được hiệu quả của mình. Một số dự án còn gặp phải tình trạng thời gian thẩm định kéo dài do các phòng tiến hành thẩm định và phân tích, lập tờ trình lên Ban lãnh đạo, hoặc do việc bổ sung thông tin được đề nghị nhưng không có sự phản hồi nhanh chóng từ phía Doanh nghiệp,… Điều này gây ảnh hưởng không chỉ đến cơ hội đầu tư của khách hàng mà còn tác động đến nguồn vốn của Sở giao dịch trong công tác cho vay.

    Thứ sáu: Công tác tái thẩm định dự án sau khi Sở giao dịch tiến hành giải ngân vốn vay cho Doanh nghiệp vay vốn còn chưa được quan tâm đúng mức. Một số dự án không phát huy được hiệu quả theo kỳ vọng nhưng chưa được Sở giao dịch đánh giá và nhìn nhận một cách khách quan, độc lập, do vậy chưa đánh giá đúng mức hiệu quả của vốn đầu tư. Việc đầu tư có hiệu quả hay không sẽ quyết định đến khả năng hoàn trả vốn vay vủa Doanh nghiệp đối với ngân hàng, Sở giao dịch cần xem xét về vấn đề này để có thể rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong công tác cho vay vốn để đầu tư.

    Thứ bảy: Chưa có sự phân biệt rõ ràng trong quy trình, nội dung, phương pháp phân tích hiệu quả tài chính dự án đối với các dự án thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác thẩm định dự án nói chung và công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng.

    Một trong những biểu hiện cụ thể về hạn chế của công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam là tỷ lệ nợ quá hạn cho vay theo dự án. Chúng ta nghiên cứu bảng sau:

    Đơn vị: Triệu đồng.

    Chỉ tiêu   Năm 2002   Năm 2003   Năm 2004  
             
    – Tổng dư nợ cho vay theo dự án 3,710,383   3,924,170 4,257,500
    – NQH cho vay theo dự án 52,425   54,000 56,500  
    – Tỷ lệ NQH 1.41%   1.38% 1.33%  

    (Nguồn: Số liệu tại phòng Tín dụng I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam)

     

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           71

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Theo số liệu ở trên, tỷ lệ NQH cho vay theo dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam ở mức thấp hơn 2%, tuy nhiên số tuyệt đối NQH cho vay theo dự án đầu tư có xu hướng tăng qua các năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, và một phần là do Sở giao dịch I đã thực hiện chuyển NQH theo đúng các quy định của Ngân hàng Nhà nước; đồng thời cũng một phần là do việc cho vay đầu tư của Sở giao dịch chưa đạt hiệu quả hay nói một cách khác, công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I chưa có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động cho vay theo dự án. Quá trình từ khâu thẩm định tài chính dự án đến khi dự án thực sự đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều bất cập và khó khăn, phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp, từ đó có thể gây ra rủi ro cho dự án. Và kết quả là, Doanh nghiệp không hoàn thành được các quy trình đầu tư theo đúng tiến độ mong muốn, Doanh nghiệp không có được thu nhập kỳ vọng và Doanh nghiệp không thể trả nợ vay cho Ngân hàng đúng thời hạn.

    Chúng ta đã nghiên cứu và chỉ ra một số hạn chế trong công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam. Vậy nguyên nhân gây ra những hạn chế đó là gì? Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu, tìm hiểu kỹ hơn về nguyên nhân gây ra các hạn chế đó.

    2.3.3.  Một số nguyên nhân chính gây ra các hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Những hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I là do sự tác động của nhiều nguyên nhân, tuy nhiên chúng ta có thể quy gọn chúng vào hai nhóm nguyên nhân chính như sau: Nguyên nhân khách quan và Nguyên nhân chủ quan.

    2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan.

    Thứ nhất, Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn phát triển toàn diện và chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, do vậy nền kinh tế còn có nhiều khó khăn, bất ổn và dễ chịu những tác động từ bên ngoài. Nền kinh tế thị trường còn chưa được định hình một cách rõ ràng, do vậy các hoạt động kinh tế còn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức, đồng thời còn phải đương đầu với nhiều rủi ro, bất ổn trong quá trình hội nhập và phát triển hiện tại. Có thể nói đây là cội nguồn của các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án tại các NHTM.

    Thứ hai, hệ thống thông tin trong nền kinh tế giúp cho công tác thẩm định tài chính dự án còn nghèo nàn và thiếu thốn, chưa có hệ thống, thiếu tính cập nhật và độ chính xác cần thiết – những yếu tố hết sức cần thiết trong công tác thẩm định dự án. Các Ngân hàng vẫn phải dựa vào các nguồn thông tin từ phía khách hàng là chủ yếu mà đa số các nguồn thông tin đó thiếu tính khách quan

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 72
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần thiết, và nhiều khi cán bộ thẩm định còn gặp nhièu khó khăn trong việc thẩm định lại tính chuẩn xác của các nguồn thông tin đó. Tình trạng này đã làm cho nội dung và phương pháp thẩm định tài chính dự án bị thiếu hụt rất nhiều, tạo nên xu hướng đơn giản hoá trong việc phân tích, đánh giá, tính toán các chỉ tiêu tài chính của dự án, do vậy không phản ánh hết tính chân thực của dự án, gây nhiều bất lợi về phía Ngân hàng trong tương lai.

    Thứ ba, tình trạng lập dự án thiếu tính chính xác, thiếu căn cứ khoa học của chủ đầu tư đã làm cho công tác thẩm định gặp không ít khó khăn để có thể đánh giá một cách chính xác nhất các dự án đó. Một số các chủ đầu tư khi lập dự án thường chỉ tập trung vào một số những nội dung chính mang tính nghiên cứu chủ đạo, thiếu sự hợp lý cần thiết và rất chiếu lệ. Điều này một phần là do sự thiếu hụt về thông tin cũng như sự hạn chế về công nghệ, một phần cũng là do trình độ còn hạn chế của các cán bộ quản lý ở các Doanh nghiệp. Hạn chế này cũng là một nguyên nhân khách quan tác động đến quá trình hoàn thiện công tác th tài chính dự án của Ngân hàng.

    Thứ tư, tình hình thị trường giá cả nói chung, thị trường giá cả tiền tệ nói riêng tuy đã có sự ổn định tương đối nhưng vẫn còn không ít khó khăn, nhiều bất ổn đã gây ảnh hưởng xấu đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư do quy trình thẩm định vẫn chưa thực sự quan tâm đến giá trị của đồng tiền qua các thời kỳ. Thêm vào đó, các hình thức của thị trường tài chính vẫn chưa phát triển đầy đủ ở nước ta, tâm lý và thói quen đầu tư chưa hình thành rõ nét, chưa có sự quan tâm đúng mức tới các yếu tố tác động tới quy mô dòng tiền của Doanh nghiệp. Do đó, việc thẩm định tài chính dự án vẫn chưa có được một căn bản hoàn hảo để phát triển và hoàn thiện được.

    Thứ năm, môi trường Pháp lý trong hoạt động tín dụng ngân hàng còn nhiều bất cập. Một số cơ chế chính sách, các Quyết định – Nghị định, các văn bản chế độ luật của ngân hàng còn nhiều kẽ hở dễ bị khai thác trong quá trình thực hiện các mối quan hệ tín dụng của Doanh nghiệp với Ngân hàng. Hơn nữa, việc có những thay đổi thường xuyên của các chế độ chính sách như hiện nay cũng làm cho ngân hàng khó có thể đưa ra những nhận xét chính xác trong tương lai, do vậy gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác thẩm định tài chính dự án. Công tác thẩm định tại các NHTM vẫn chưa có được một môi trường pháp lý vững chắc để phát triển và hoàn thiện, trong thời gian tới mong rằng điều này sẽ được khắc phục nhanh chóng để nâng cao năng lực tài chính tại các NHTM, và công tác thẩm định sẽ là cơ sở vững chắc của quá trình đầu tư dự án tại các Doanh nghiệp cũng như trong các NHTM nói chung và Sở giao dịch I nói riêng.

    2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan.

    Bên cạnh những nguyên nhân khách quan ở trên, những nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng cũng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 73
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch I. Có một số nguyên nhân chủ quan sau:

    Thứ nhất, về phía Ngân hàng vẫn chưa thực sự coi trọng kết quả thẩm định. Việc thẩm định tài chính dự án của các Ngân hàng đôi khi không được coi trọng. Điều này thể hiện trong việc Ngân hàng khi tiến hành thẩm định dự án đã quá coi trọng đến việc thẩm định tài sản cầm cố, thế chấp, thời gian trả nợ vay của các Doanh nghiệp hay đơn vị bảo lãnh mà không thẩm định kỹ các nội dung tài chính cũng như hiệu quả tài chính của dự án. Đây cũng là lý do lý giải vì sao khách hàng trong cho vay trung – dài hạn của Sở giao dịch chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, các khách hàng truyền thống và có uy tín với Sở, còn khu vực kinh tế tư nhân, khối kinh tế ngoài quốc doanh chưa thực sự được coi trọng.

    Thứ hai, hệ thống tổ chức, quản lý điều hành thẩm định tài chính dự án còn nhiều yếu kém và hạn chế. Mặc dù Sở giao dịch I đã thành lập Phòng thẩm định riêng nhưng do mới được thành lập, lượng cán bộ có kinh nghiệm và trình độ cao còn ít nên chưa thực sự phát huy được hiệu quả cần thiết. Hơn nữa, dù quá trình thẩm định được tiến hành thông qua sự phối hợp của nhiều phòng chức năng nhưng sự phối hợp giữa các phòng đôi khi còn lệch lạc, chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất nên chưa phát huy được năng lực cần thiết của mình trong quá trình thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính dự án tai Sở giao dịch.

    Thứ ba, trình độ của cán bộ thẩm định vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù Sở giao dịch I đã có quy trình thẩm định dự án theo Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, nhưng do trình độ năng lực của cán bộ thẩm định còn nhiều hạn chế nên nhiều khi còn thiếu sót, bỏ qua một số bước hoặc thẩm định một cách sơ sài, chiếu lệ. Đội ngũ cán bộ thẩm định đa số còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chỉ mới nghiên cứu công tác thẩm định tài chính dự án qua tài liệu tự nghiên cứu, tự tham khảo mà không được đào tạo một cách bài bản. Sở giao dịch I chưa có được một chương trình đào tạo phát triển tổng thể cho đội ngũ cán bộ thẩm định mà mới chỉ dừng lại ở hình thức tập huấn ngắn ngày.

    Thứ tư, việc áp dụng trang bị hiện đại cho công tác thẩm định còn nhiều hạn chế. Mặc dù Sở giao dịch đã và đang được trang bị hệ thống máy tính khá đầy đủ nhưng do năng lực còn nhiều hạn chế nên các cán bộ thẩm định chưa khai thác được hết các công dụng của hệ thống máy tính trong công việc của mình, chưa ứng dụng được thành thạo các phần mềm chuyên dụng trong công tác thẩm định. Đặc biệt công tác thẩm định tài chính dự án cần có sự phối hợp, trao đổi thông tin giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng và doanh nghiệp nhưng hiện nay, sự phối hợp này còn hạn hẹp, tồn tại nhiều vướng mắc và bất cập cả về công nghệ cũng như mức độ hợp tác của các ngân hàng.

    Nói tóm lại, trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu thu được thì Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam cũng gặp phải không ít khó khăn, hạn chế trong công tác thẩm định dự án cũng như thẩm định tài chính

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 74
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    dự án. Để hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong thời gian tới, Sở giao dịch I phải có được các giải pháp kịp thời và nhanh chóng, phù hợp với Sở giao dịch I, từng bước nâng cao chất lượng của công tác thẩm định và giúp Sở giao dịch I cũng như Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có được một công cụ tốt nhất để có thể hoạt động – kinh doanh đạt hiệu quả cao, phát triển vững mạnh trong tương lai.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           75

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

    DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH I.

    3.1. Định hướng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam là một ngân hàng đa năng chuyên sâu về phục vụ đầu tư và phát triển cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong những năm tới, SGD sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác cho vay đầu tư trung – dài hạn, đồng thời mở rộng cho vay ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế có nhu cầu về vốn. Nắm được tình hình sản xuất kinh doanh, nhu cầu thị trường, SGD sẽ chuẩn bị đầy đủ vốn sẵn sàng phục vụ cho vay các dự án đầu tư, SGD ưu tiên tập trung vốn cho các dự án trong điểm của ngành, của địa phương và của nền kinh tế nhằm tạo việc làm, tăng thu ngân sách phục vụ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Với mục tiêu tổng quát phát triển của toàn hệ thống NHĐT&PT Việt Nam trong thời gian tới là “ cấu lại gắn liền với phát triển toàn diện vững chắc”, SGD luôn phấn đấu giữ vững nhịp độ tăng trưởng cao, hiệu quả an toàn hệ thống và truyền thống phục vụ đầu tư tốt, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và toàn hệ thống theo đòi hỏi của thị trường và lộ trình hội nhập quốc tế. SGD luôn đặt mục tiêu phát triển bền vững hệ thống NHĐT&PT, làm nòng cốt cho việc xây dựng và phát triển tập đoàn tài chính (tài chính tín dụng) đa năng, vững mạnh, hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phát triển kinh tế xã hội theo con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Bên cạnh đó, chất lượng, hiệu quả và an toàn trong toàn bộ hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng chỉ có thể đạt được khi công tác thẩm định của SGD được tiến hành một cách nghiêm túc và hợp lý. Vì vậy, công tác thẩm định tài chính dự án phải được đặt đúng vị trí của nó dưới sự chỉ đạo chặt chẽ, có cơ chế quy trình công nghệ toàn diện và đồng bộ với quy trình công nghệ khác, tạo thành một tổng thể giải pháp mang tính chiến lược trong định hướng phát triển của toàn hệ thống. Để củng cố và phát triển công tác này trong thời gian tới, SGD đưa ra một số nội dung chính về phương hướng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

    • Xác định phương hướng, nhiệm vụ trước tiên phải xuất phát từ việc xác định đúng vị trí, vai trò và nội dung của công tác thẩm định tài chính dự án. Thực hiện tốt công tác này là một trong những yếu tố chính và là yếu tố quyết định, góp
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 76
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    phần bảo vệ và nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh của SGD.

    • Củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức thẩm định dự án: Các phòng chức năng trong công tác thẩm định của ngân hàng sẽ được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, đảm đương tốt nhiệm vụ, thực hiện tốt chức năng được chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, hướng dẫn công tác thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng. Đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện đại để thích ứng và phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế trong thời gian tới.
    • Ngoài các dự án đã và đang đầu tư, SGD còn chủ động tìm kiếm các dự án để cho vay, từ trong kế hoạch và ý tưởng đầu tư của doanh nghiệp, tư vấn cho doanh nghiệp khi xét thấy dự án khả thi.
    • Đẩy mạnh việc phân tích tổng hợp các thước đo, chỉ tiêu khoa học kỹ thuật, giá thành sản phẩm, tỷ suất hoàn vốn với một số ngành hay loại hình đầu tư.
    • Công tác thẩm định tài chính dự án phải phù hợp với tính đa dạng trong đầu tư, thực hiện chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau. Công tác thẩm định tài chính phải trở thành một thế mạnh trong cạnh tranh và kinh doanh, coi đó là một yếu tố thu hút khách hàng.

    * Đặc điểm của cho vay dự án là rủi ro cao do thời gian vay vốn thường là dài hạn. Và để hạn chế rủi ro, SGD tiến hành:

    • Cho vay đối với các dự án đầy đủ hồ sơ pháp lý theo quy định, phải có khả năng thu hồi vốn và thể hiện rõ hiệu quả đầu tư.
    • Kiểm tra, tính toán cẩn thận tính hiệu quả của dự án trên cơ sở nắm chắc thông tin về doanh nghiệp đồng thời chỉ ra những rủi ro tiềm ẩn để có biện pháp phòng ngừa.
    • Tăng cường giám sát, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay hay nói cách khác, cán bộ của SGD cần phải thẩm định dự án trong từng giai đoạn từ khi xem xét tiếp nhận hồ sơ đến khi vận hành và kết thúc dự án đầu tư.

    Trên cơ sở phân tích lý luận và quan sát thực tế công tác thẩm định tín dụng tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, nhận định nguyên nhân và những tồn đọng chủ yếu trong quá trình thẩm định với tư cách như một nhà đầu tư, sau đây em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hơn công tác thẩm định tài chính dự án tại SGD.

    3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    3.2.1. Giải pháp về phương pháp thẩm định.

    Với những ưu thế của những phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư được áp dụng trong các tổ chức kinh tế, tài chính ngân hàng trên thế giới, SGD nên nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế tại SGD. Điều

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 77
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    này hết sức cần thiết bởi vì trong thời điểm mở cửa nền kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực như hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế đang du nhập vào Việt Nam với những phương pháp thẩm định ở các giác độ khác nhau, góc nhìn khác nhau. Do đó, SGD cần chủ động lựa chọn phương pháp thẩm định tài chính có hiệu quả nhất, hợp lý nhất và phù hợp nhất với toàn cảnh thực tế để ứng dụng công tác thẩm định vào thực tiễn. SGD cần tiến hành kiểm tra và ra soát lại toàn bộ cách tính toán các chỉ tiêu được sử dụng để phân tích nhằm tìm ra những thiếu sót, bất hợp lý để bổ sung, thay đổi cho phù hợp. Việc này phải được tiến hành bởi những người trực tiếp tham gia thẩm định và tiến hành song song với việc tăng cường tham khảo các phương pháp hiện đại, và vấn đề chỉ còn là ứng dụng đến đâu, ứng dụng như thế nào cho phù hợp với SGD, bởi mỗi dự án đều có đặc thù riêng. Do đó, cách thẩm định ở mỗi dự án là khác nhau, cán bộ thẩm định cần phải lựa chọn phương pháp thẩm định cho phù hợp với từng dự án.

    • Thứ nhất, thẩm định một cách kỹ lưỡng vốn đầu tư.

    Đây là vấn đề mà ngân hàng thường không xác định kỹ, việc thẩm định đòi hỏi các cán bộ thẩm định phải thẩm định chính xác vốn đầu tư và các chi phí liên quan, tránh tình trạng chủ đầu tư có thể tính toán mức vốn quá cao để tránh thủ vốn, gây lãng phí, ứ đọng vốn làm giảm hiệu quả đầu tư; hay chủ đầu tư lập dự án tính mức vốn quá thấp để tăng hiệu quả đầu tư giả tạo dẫn đến quyết định đầu tư sai lệch. Việc xác định tổng vốn đầu tư sát với thực tế là cơ sở để tính toán hiệu quả tài chính và dự kiến khả năng trả nợ của dự án.

    Muốn vậy, các cán bộ thẩm định phải tích cực tìm hiểu thị trường, căn cứ vào các định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành, các đơn giá của nhà nước hay qua viện nghiên cứu mức độ hiện đại của công nghệ, tình hình giá cả ở thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần tích cực tìm hiểu, lưu trữ các thông tin của các dự án điển hình trong cả nước làm cơ sở cho việc kiểm tra, thẩm định tổng mức vốn đầu tư, trong một số trường hợp có thể thuê cơ quan tư vấn nếu cần thiết.

    Đối với các dự án xây dựng, đặc biệt là các dự án xây dựng có nhiều hạng mục công trình, kéo dài trong nhiều năm, ngoài việc tính các chi phí liên quan còn phải tính đến các yếu tố lạm phát, tỷ giá (nếu dự án mua máy móc từ bên ngoài)được áp dụng của dự án. Đã có không ít những dự án gặp phải khó khăn về tiến độ thi công do giá vật liệu tăng mà trước đó khi thẩm định không được tính toán đến. Việc xác định, đánh giá và tính toán trước những yếu tố trên sẽ giúp chủ đầu tư có thể phản ứng nhanh hơn trước những biến đổi bất lợi của thị trường.

    • Thứ hai, cần tính toán doanh thu và chi phí của dự án một cách sát thực và thực tế.

     

    Để thẩm định về doanh thu và chi phí chính xác cần phải có kết quả ở khâu thẩm định thị trường tốt, Ngân hàng phải quan tâm đến nguồn cung cấp nguyên vật liệu và khả năng tiêu thụ của sản phẩm hay nói cách khác, Ngân hàng phải xem xét đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án. Nghiên cứu vấn đề này là

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 78
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    một việc khó khăn nhưng hết sức cần thiết, bên cạnh việc SGD phải dự toán doanh thu và chi phí trong tương lai. Muốn vậy, SGD cần phải nghiên cứu thị trường trên các mặt như: quan hệ cung cầu của sản phẩm, điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm, đối tượng, phương thức tiêu thụ sản phẩm và đặc biệt là tình hình cạnh tranh trên thị trường. Do đó, phòng thẩm định cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu điểm mạnh điểm yếu, cơ hội và sự đe doạ của sản phẩm, và cách tốt nhất để thực hiện được điều này là Ngân hàng đẩy mạnh và chi tiết hoá các mô hình đánh giá chủ yếu như: mô hình SWOT, mô hình PORTER.

    Việc tính toán chi phí sản phẩm kinh doanh phải được tham khảo quy định của Bộ Tài chính, cơ quan chủ quản của doanh nghiệp và trên thị trường. Các loại chi phí như: quản lý doanh nghiệp, lãi vay vốn lưu động, chi phí thuê đất, thuê chuyên gia SGD không nên chấp nhận mặc nhiên theo cách tính toán của doanh nghiệp hay tuỳ tiện nâng lên để an toàn hơn. Đối với các dự án mở rộng hoặc dự án mới của doanh nghiệp đã hoạt động trong ngành đó, cán bộ có thể lấy các chỉ tiêu cũ làm cơ sở. Nếu là các dự án và doanh nghiệp mới hoàn toàn, các chỉ tiêu của các doanh nghiệp tương tự cũng là những yếu tố tham khảo tốt cho công tác thẩm định.

    Xuất phát từ thực tế, các chủ đầu tư do mong muốn có được quyết định đầu tư và được vay vốn ngân hàng một cách nhanh chóng, mặt khác họ lại đoán được tâm lý của ngân hàng hay quan tâm đến nhiều các chỉ số NPV, IRR, DSCR, nguồn trả nợ nên họ thường tính chi phí cao, đặc biệt là chi phí mua máy móc thiết bị và xây dựng nhà xưởng. Vì vậy khi tính khấu hao tài sản cố định Doanh nghiệp luôn tính cao hơn thực tế, vì nếu thế, doanh nghiệp vừa giảm được thuế thu nhập Doanh nghiệp lại vừa có nguồn trả nợ từ khấu hao cao. Do đó khi thẩm định, SGD phải xem xét một cách kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác của khoản mục chi phí này. Khi tính khấu hao, nếu doanh nghiệp tính sai so với quy định về khấu hao của Bộ tài chính thì SGD nên tính lại và có ý kiến với doanh nghiệp. Khi xem xét, tính toán khấu hao cơ bản cũng phải xem xét trong mối quan hệ đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, đến tính khả thi của dự án, bởi khấu hao cơ bản không phải là nguồn trả nợ sẵn có hiển nhiên. Trên thực tế nó chỉ là con số trên sổ sách, nó rất có thể là con số vô nghĩa nếu dự án không khả thi, sản phẩm không tiêu thụ được. SGD cũng cần phải lập bảng tính giá thành sản phẩm dịch vụ. Bước này rất quan trọng vì giá thành là cơ sở để xác định giá bán, liên quan chặt chẽ đến căn cứ dự kiến doanh thu, lỗ, lãi của Doanh nghiệp. Dựa vào các chỉ tiêu này, cán bộ thẩm định có thể chỉ ra được các chi phí bất hợp lý được kê khai trong dự án, các chi phí không được công nhận trong chế độ kế toán thống kê của dự án.

    Muốn tính chính xác doanh thu của dự án, các cán bộ thẩm định phải xác định được xu hướng mức biến động về lợi nhuận, sự bảo đảm nguồn cung cấp, nguồn tiêu thụ, những yếu tố này đảm bảo cho việc tính toán doanh thu một cách

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 79
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    chính xác hơn. Muốn vậy, các cán bộ thẩm định phải nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu thị trường, đặc biệt là chú ý tới các sản phẩm cùng loại, tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm về chất lượng, lợi nhuận và uy tín. Đẩy mạnh sử dụng phương pháp phân tích SWOT và PORTER, SGD cũng nên nghĩ đến việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng trong dự báo khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng phát triển cho những dự án quan trọng. Dự báo chính xác xu hướng phát triển cung cầu thị trường trong nước cũng như khu vực và trên thế giới là điều rất quan trọng và cần thiết trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế như hiện nay. Bên cạnh đó, một yếu tố khác có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của dự án, đó là công nghệ của dự án. Vấn đề đặt ra ở đây đối với các dự án là phải có được công nghệ phù hợp với dự án, ở đây, công nghệ phù hợp không bắt buộc phải là công nghệ hiện đại nhất, tiên tiến nhất có trên thế giới. Bởi vì nếu là hiện đại quá trong khi mà trình độ và năng lực của công nhân Việt Nam chưa đủ để sử dụng thì sẽ sử dụng không hết công suất lãng phí, giá thành lại cao; mặt khác, nhiều công nghệ thải của nước ngoài vẫn hiện đại hơn của chúng ta nhưng nếu đầu tư vào thì sản phẩm lại có khả năng cạnh tranh kém trên thị trường. Điều này cần được các Doanh nghiệp nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng trước khi tiến hành đầu tư.

    Sau khi tính toán được doanh thu và chi phí của dự án, SGD cần tính được dòng tiền ròng (NCF) hàng năm của dự án. SGD nên xây dựng bảng lưu chuyển tiền tệ của dự án, trên cơ sở đó phản ánh đầy đủ các khoản thu chi của dự án, từ đó xác định được các dòng tiền vào ra của dự án. Khi xác định NCF của dự án, SGD cần lưu ý đến việc thu hồi giá trị thanh lý khi dự án chấm dứt hoạt động kinh doanh. Thực tế cho thấy, một số máy móc thiết bị vẫn còn giá trị sử dụng khi dự án kết thúc, khi bán sẽ xuất hiện một luồng tiền thu cuối dự án, tuỳ theo từng trường hợp, luồng tiền này có thể phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hay không. Theo chế độ kế toán hiện hành thì nếu giá bán lớn hơn chi phí thanh lý cộng với giá trị còn lại của tài sản cố định thì phần chênh lệch này phải chịu thuế thu nhập, ngược lại nếu nhỏ hơn thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế:

    CF thanh lý tài sản cố định = S – (S – B)*T

    Trong đó:               S: giá bán TSCĐ.

    B: Tổng giá trị còn lại và CF thanh lý.

    Luồng tiền này được cộng vào năm cuối của dự án. Ngoài ra SGD cũng cần tính tới khoản thu hồi vốn lưu động ròng, khoản này cũng sẽ được cộng vào dòng tiền ở năm cuối cùng của dự án.

    • Thứ ba, SGD cần coi việc tính các chỉ tiêu hiệu quả dự án: NPV, IRR, PP, DSCR là bắt buộc khi thẩm định tài chính dự án đầu tư.

    Có khá nhiều chỉ tiêu để thẩm định tài chính dự án, tuy nhiên ngân hàng nên áp dụng các chỉ tiêu: NPV, IRR, PP, DSCR và coi đây là chỉ tiêu cơ bản, bắt

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 80
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    buộc trong thẩm định tài chính dự án bởi các chỉ tiêu này là những chỉ tiêu tổng hợp cơ bản, phản ánh hiệu quả, tính chất của doanh nghiệp, chúng được xây dựng, tính toán dựa trên số liệu từ bảng dự trù cân đối thu chi của dự án hàng năm. Tuy nhiên, khi kết hợp hai chỉ tiêu này để ra quyết định đối với một dự án thì nhiều khi nó cho biết tỷ lệ sinh lời của dự án mà không quan tâm đến quy mô nguồn vốn và lợi nhuận tuyệt đối của dự án. Nhiều dự án có IRR cao nhưng lợi nhuận tuyệt đối lại thấp, lúc này IRR không phản ánh trực tiếp sự gia tăng này. Hơn nữa, NPV được giả định rằng các luồng tiền của dự án được chiết khấu theo chi phí vốn của dự án, nhưng IRR lại chiết khấu các luồng tiền theo IRR của dự án và điều này là không hợp lý. Tuy IRR đơn giản hơn thông qua việc so sánh tỷ lệ phần trăm, do đó nó có sức hấp dẫn, dễ hiểu hơn nhưng ta cũng phải thừa nhận rằng phương pháp IRR không hoàn thiện bằng phương pháp NPV, vì nó không đề cập đến độ lớn của dự án và không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư. Lựa chọn một trong nhiều dự án đầu tư loại trừ nhau theo đó phải dựa trên phương pháp NPV. Để đảm bảo độ tin cậy cho các chỉ tiêu tính toán, điều quan trọng là phải xác định được thời điểm phát sinh các dòng tiền và quy mô của nó. Dòng tiền của dự án không nhất thiết phải là chi phí, có những khoản mục kế toán đưa vào chi phí nhưng trong thẩm định dự án nó không được coi là dòng tiền vì không liên quan đến hoạt động thu chi tiền thực sự (chẳng hạn như khoản mục khấu hao). Dòng tiền cũng độc lập một cách tương đối với doanh thu từ dự án, doanh thu có thể tăng, giảm nhưng dòng tiền mặt vẫn không thay đổi (trường hợp biến động các khoản phải thu, hàng gửi bán). Do đó, khi xác định dòng tiền phát sinh cần lưu ý những điểm sau:

    • Các dòng tiền phát sinh ở bất kỳ thời điểm nào được giả định phát sinh ở

    cuối kỳ.

    • Xử lý các khoản thu hồi: Vốn đầu tư vào TSCĐ được thu hồi dẫn qua KHTSCĐ. Nếu TSCĐ đã trích hết khấu hao nhưng vẫn bán được thì khoản tiền đó được tính là dòng voà ở thời điểm phát sinh và chịu thuế TNDN theo quy định. Trường hợp TSCĐ chưa trích hết khấu hao, phải thanh lý thì thu nhập từ hoạt động thanh lý cũng là một dòng vào của dự án, vẫn phải chịu thuế TNDN. Giá trị còn lại của TSCĐ theo sổ sách kế toán được đưa vào cho phí trong kỳ, làm giảm thuế TNDN. Bản thân giá trị còn lại không được coi là dòng ra vì đó không phải là một khoản chi tiền thật sự.

    Vốn đầu tư vào TSLĐ sẽ được thu hồi khi dự án kết thúc, được tính như một dòng vào tại kỳ cuối cùng và không phải chịu thuế TNDN.

    • Đối với các dự án đầu tư thay thế, dòng tiền có một số điểm khác biệt:

    Dự án đầu tư mới có thể không làm tăng doanh thu nhưng làm giảm chi phí. Khoản giảm chi phí đó phải được coi như một dòng vào của dự án mới.

    Khi mua thiết bị mới về thay thế thiết bị cũ, tiền thu được do bán tài sản cũ cũng là một dòng vào của dự án. Tiền bán tài sản và giá trị còn lại của nó đều có

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 81
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    ảnh hưởng đến thuế TNDN phải nộp. Nếu tiền bán lớn hơn giá trị còn lại làm tăng thuế, sẽ xuất hiện mộg dòng ra có độ lớn bằng chênh lệch giữa tiền bán TSCĐ và giá trị còn lại theo sổ sách nhân với thuế suất thuế TNDN. Ngược lại sẽ là một dòng vào có độ lớn là chênh lệch giữa giá trị còn lại và tiền bán TSCĐ nhân với thuế suất.

    • Các dòng tiền ròng có thể bao gồm hoặc không bao gồm các dòng tài chính. Việc đưa hay không đưa các dòng tài chính vào tính toán phụ thuộc vào vị trí của người xem xét: là doanh nghiệp hay là ngân hàng. Nếu không đưa các dòng tài chính vào (các dòng vay, trả nợ gốc, trả lãi vay) việc tính chỉ tiêu thời gian hoàn vốn trở nên chính xác hơn.

    Số vốn đầu tư có thể được hiểu là số vốn của bản thân dự án (không tính tiền vay tại thời điểm đầu tư) hoặc là số vốn chủ đầu tư bỏ ra (có tính đến tiền vay tại thời điểm đầu tư). Với cách hiểu thứ nhất, thời gian hoàn vốn sẽ là thời gian để dự án thu hồi được số vốn đầu tư ban đầu. Với cách hiểu thứ hai, thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian chủ đầu tư thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra (ngân hàng thu được vốn cho vay). Điều này được khẳng định rằng, trong các dự án được đầu tư bằng 100% vốn vay ngân hàng, chủ đầu tư sẽ không lo lắng đến hiệu quả dự án bằng SGD, SGD sẽ là người gánh chịu nhiều rủi ro nhất.

    ¾ Thứ tư, xác định lãi chiết khấu hợp lý đối với từng dự án.

    Xác định LSCK của dự án đầu tư là việc làm không đơn giản. Có thể hiểu LSCK là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp rủi ro, khi rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh nghiệp và chính sách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án thì LSCK bằng với chi phí bình quân của vốn (WACC), nó thể hiện chi phí cơ hội của các nguồn vốn tham gia vào dự án. Các nguồn vốn thường có trong dự án là vốn vay và vốn chủ sở hữu (VCSH).

    • Nếu nguồn vốn vay được dùng để đầu tư thì:

    LSCK = Lãi suất vay trước thuế* (1 – thuế suất TNDN)

    • Nếu nguồn vốn chủ sở hữu được dùng để đầu tư thì: LSCK = Chi phí trung bình của vốn.
    • Nếu nguồn gồm cả vốn cho vay và chủ vốn sở hữu dùng để đầu tư thì LSCK = Chi phí bình quân gia quyền.

    Trên thực tế, các ngân hàng thường lấy lãi suất cho vay dài hạn của ngân hàng làm LSCK, điều này chỉ chính xác khi toàn bộ vốn của dự án là vốn vay từ ngân hàng, nhưng vốn cho dự án lại vừa là vốn của doanh nghiệp, vừa là vốn vay của ngân hàng. Do vậy, sử dụng LSCK như vậy là không hợp lý, LSCK hợp lý là lãi suất được xác định theo công thức trên.

    Ngoài ra SGD có thể lấy lãi suất trái phiếu kho bạc nhà nước làm tỷ lệ chiết khấu cộng thêm một số mức độ rủi ro tương ứng của ngành nghề sản xuất kinh doanh mà dự án hoạt động. SGD phải xem xét mức độ rủi ro ảnh hưởng đến lãi suất của các yếu tố sau:

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 82
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Tỷ lệ làm phát hàng năm: tỷ lệ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì LSCK cũng tăng và ngược lại, nếu tỷ lệ làm phát giảm thì LSCK cũng giảm một cách tương ứng.
    • Tỷ lệ gia tăng do sử dụng phương án này mà không sử dụng phương án khác, hay nói cách khác là chi phí cơ hội. Tỷ lệ gia tăng này xuất hiện khi cùng một kế hoạch đầu tư nhưng có nhiều phương án khác nhau.
    • SGD cũng có thể sử dụng các lãi suất không cố định để phản ánh kẹp thời các điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới quá trình thực hiện dự án sao cho giá trị hiện tại thực của dự án không bị quá thổi phồng hoặc giảm đi.

    ¾ Thứ năm, SGD cần coi dòng tiền của dự án là nguồn trả nợ duy nhất cho mình.

    Điều này SGD quan tâm nhất khi thẩm định tài chính dự án đầu tư là khi nào dự án, doanh nghiệp có tiền và có kảh năng trả nợ, do vậy phải thực sự quan tâm tới dòng tiền dự tính của dự án. Đây phải là tiền mặt chứ không phải là nguồn từ khấu hao TSCĐ hay từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, bởi vì đó chỉ là những số liệu trên sổ sách kế toán, lợi nhuận cao chưa chắc khả năng thanh toán cao, nhiều doanh nghiệp có lợi cao nhưng thực sự vẫn có nguy cơ bị phá sản vì tình trạng lãi giả, lỗ thật thì làm sao họ có thể thanh toán nợ với ngân hàng. Trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp, doanh thu được ghi khi khách hàng chấp nhận thanh toán nhưng thời điểm từ khi doanh thu được ghi cho tới khi doanh nghiệp được nhận tiền là cả một thời gian dài, thậm chí là vô hạn. Vì vậy, quan điểm nguồn trả nợ duy nhát của doanh nghiệp là dòng tiền mặt cần được tiêu chuẩn hoá trong toàn SGD. Theo đó, số liệu mà SGD quan tâm là tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp và căn cứ để lập lịch trình trả nợ cần dựa vào chu kỳ tiền mặt của doanh nghiệp.

    Dòng tiền của dự án:

    CF = Dòng tiền vào – Dòng tiền ra.

    Dòng vào: là toàn bộ khoản thực thu bằng tiền mặt từ việc bán sản phẩm, dịch vụ (chỉ tính phần thu được) và giá trị khoản phải thu (thực sự thu được).

    Dòng ra: là tất cả chi phí sản xuất, vận hành chi trả lãi vay và các khoản thực phải chi.

    Trên cơ sở luồng tiền mặt vào và ra của dự án, doanh nghiệp sẽ xác định được tình trạng tiền mặt của dự án để kiểm tra nhu cầu tiền vay doanh nghiệp cho đủ.

    Trong công tác thẩm định, SGD cần chú trọng tới việc phân tích kế hoạch tài chính ngắn hạn. SGD phải xem xét nhu cầu vốn lưu động, tính hợp lý của chính sách quản lý tiền mặt, chính sách dự trữ, chính sách tín dụng khách hàng để xác định khả năng thanh toán. Kế hoạch ngắn hạn đảm bảo giữa nguồn và sử dụng vốn của Sở giao dịch I, nâng cao tính chủ động của SGD trong thời gian tới.

    ¾ Thứ sáu, SGD cần tính toán chính xác vòng đời của dự án.

    Một nội dung nữa cần quan tâm trong đánh giá tài chính dự án tại SGD là

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 83
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    cần hoàn thiện nội dung tính toán đời dự án, vòng đời công nghệ và các tiêu chí phân tích cung cầu thị trường. Vòng đời dự án là một tiêu chí quan trọng, nó cho biết thời gian dự án tồn tại từ khi hoàn thiện công tác thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý dự án. Tiêu chí này giúp cán bộ thẩm định có cái nhìn tổng thể và sát thực về dự án, xác định được tổng thu nhập của dự án cũng như dự kiến những biến đổi bất thường của môi trường đầu tư tác động tới dự án, dự trù chi phí bổ sung cần thiết. Tuổi thọ công nghệ được xem như một yếu tố hữu cơ tác động đến đời dự án, trong phân tích tài chính cán bộ thẩm định cần hình thành hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tuổi thọ công nghệ dựa trên các quy định của nhà nước cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật, công suất của công nghệ. Trong việc xác định nhu cầu của thị trường về sản phẩm dự án cần tiến hành xem xét trong trạng thái “động”, tức là phân tích dựa trên các giả thuyết biến động của thị trường, trong sức ép của cạnh tranh (đặc biệt trong thời gian tới khi hàng rào thuế quan hoàn toàn được rõ bỏ).

    • Thứ bảy, SGD cần đẩy mạnh hơn nữa công tác phân tích tài chính dự án trong các dự án đầu tư.

    Một mục tiêu quan trọng SGD cần chú trọng hơn nữa là việc phân tích tài chính dự án hàng năm. Để thuận lợi cho việc này, tốt nhất SGD nên lập thêm các bảng dự trù cân đối tài sản, bảng dự trù cân đối thu chi của các doanh nghiệp. Trong việc phân tích này, SGD có thể sử dụng phương pháp tỷ lệ với một số chỉ tiêu chủ yếu: khả năng thanh toán, hiệu suất sử dụng tài sản, doanh lợi tiêu thụ sản phẩm, bảng thử độ nhạy của công suất, của sản phẩm. Ngoài phương pháp tỷ lệ, SGD còn có thể sử dụng cả phương pháp phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, phân tích luồng tiền mặt để đánh giá tài chính dự án. Đặc biệt, trong phân tích tài chính dự án, SGD nên quan tâm đến phân tích cơ cấu vốn và khả năng thanh toán.

     

    Mục đích của phân tích cơ cấu vốn là đánh giá nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn tài chính cho việc thực hiện liên tục và hiệu quả các dự án đầu tư. Do đó, SGD cần phải xem xét từng hoạt động kinh doanh hoàn trả được nợ hay không, có mức lãi suất cho phép hoạt động kinh doanh có hoàn trả được nợ hay không, có đưa cam kết bằng hợp đồng tín dụng của bên cung ứng vốn không. SGD cũng cần đánh giá tài chính dự án trên các khía cạnh: chi phí của dự án về vốn cố định và vốn lưu động vận hành như thế nào? Chúng được tài trợ bằng nguồn vay ngắn hạn hay dài hạn? Nếu một phần vốn cố định được tài trợ bằng vay ngắn hạn thì sẽ gây khó khăn như thế nào trong việc cân đối thu chi? Việc xác định một cơ cấu vốn hợp lý cho dự án là điều rất cần thiết. SGD phải phân tích tỷ trọng giữa hai nguồn vốn: Vốn tự có và nợ.

    Tỷ trọng giữa nguồn vốn tự có và vốn đi vay ngân hàng cho phép xác định trạng thái tài chính của dự án, một dự án được đánh giá là có tình trrạng tài chính lành mạnh nếu dự án có tỷ lệ nợ vừa phải, có khả năng trả nợ ngân hàng và có

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 84
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    một mức độ rủi ro dự tính là có thể chấp nhận được. Vì vậy, một cơ cấu vốn hợp lý là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu bằng 1.

    Một cơ cấu vốn tối ưu cũng cần được xác định trên cơ sở cân nhắc mức doanh lợi và khả năng thanh toán của dự án. Một dự án có khả năng sinh lợi cao và khả năng thanh toán tốt có thể chấp nhận một tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu cao hơn các dự án bình thường khác. Phân tích khả năng thanh toán có nhiệm vụ đánh giá tình trạng tiền mặt trong suốt quá trình hoạt động của dự án. Nó giúp cho việc xem xét liệu vốn tự có và các khoản vay dài hạn có thích hợp với các điều kiện vay trả đã ký kết trong hợp đồng tín dụng hay không, liệu sự thiếu hụt tiền mặt có xảy ra không và nếu xảy ra thì sẽ đựơc gải quyết như thế nào.

    SGD phải tính toán chi tiết khả năng hoàn trả đối với từng khoản nợ theo kỳ hạn trả nợ thực tế, không nên làm tròn số, nên tính cho từng năm của dự án. Trong những năm lợi nhuận âm, SGD phải tính đến việc khấu trừ khoản đó khỏi nguồn trả nợ nếu doanh nghiệp không chắc chắn huy động được nguồn vốn khác để thay thế. Nếu dự án thực sự có hiệu quả nhưng trong suốt một số năm đầu dự án thiếu nguồn trả nợ thì SGD nên hỗ trợ doanh nghiệp trả nợ cho năm đó. Với DNNN, khi tính toán khả năng trả nợ, SGD cần phải loại trừ phần thu sử dụng vốn NSNN ra khỏi phần lợi nhuận sau thuế để xác định khoản lợi nhuận ròng dùng trả nợ cho chính xác.

    3.2.2. Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin.

    Ngày nay, thông tin được sử dụng như một nguồn lực, một loại vũ khí trong môi trường cạnh tranh, các tổ chức kinh tế nói chung, các ngân hàng nói riêng phải sử dụng thông tin ngày càng nhiều để tăng năng lực, tăng hiệu quả trong hoạt động và đem lại lợi ích cho nền kinh tế cũng như cho ngân hàng. Trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư thì thông tin cũng đóng vai trò quyết định đến chất lượng của công tác thẩm định. Thông tin cung cấp chính xác, kịp thời sẽ giúp cho hiệu quả thẩm định cao hơn, hạn chế được rủi ro có thể xảy ra, còn thông tin không cập nhật sẽ làm cho quyết định cho vay của ngân hàng bị hạn chế. Do vậy, việc xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống thông tin đảm bảo cung cấp chính xác, kịp thời, đầy đủ các thông tin phục vụ công tác thẩm định là yêu cầu bức thiết của ngân hàng. Trong suốt quá trình thẩm định, những thông tin liên quan đến dự án phải được cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời. Hiện nay, công tác thẩm định cần một số thông tin quan trọng sau:

    • Thông tin về kinh tế xã hội: đó là những chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Theo em, ở đây ngoài việc nắm bắt các định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, cần đặc biệt quan tâm đến những quy định của nhà nước liên quan đến lĩnh vực đầu tư mà cán bộ thẩm định phải nắm chắc, đó là: quy định về dự toán vốn đầu tư và xây dựng. Quy định về đấu thầu; quy định vể bảo vệ môi trường; quy định về quy hoạch kiến trúc và xây dựng; quy định về chế độ tài chính đối với từng loại hình doanh nghiệp; quy định về chế độ tài chính với
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 85
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    từng loại hình doanh nghiệp; quy định về chế độ khấu hao tài sản cố định, tiền lương; quy định về thuế; quy định về miễn giảm ưu đãi, hộ trợ và khuyến khích đầu tư.

    • Các thông tin về tài chính ngân hàng: Đây là những thông tin cực kỳ quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất lượng thẩm định tài chính dự án của SGD. Thông tin về số lượng các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm trong cùng một khu vực thị trường; Mức cầu về sản phẩm cùng loại trong năm qua đây để thấy được tốc độ tăng trưởng và làm cơ sở cho việc dự báo tốc độ tăng trwongr trong thời gian tới; Mức cung thực thế của các doanh nghiệp trên thị trường hiện tại; Thông tin về giá cả, dự báo thị trường trong nườc và quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu trong những năm qua, quy hoạch kế hoạch đầu tư, định hướng phát triển do Bộ, ngành xác định và công bố.

    Các thông tin trên SGD có thể thu thập từ nhiều nguồn. Hiện nay ở tại ngân hàng, nguồn thông tin từ mạng internet chưa được khai thác triệt để, do vậy SGD phải biết tận dụng các ứng dụng của công nghệ thông tin để thu được những thông tin rất có giá trị trong công tác thẩm định. Bên cạnh đó, SGD có thể thu thập thông tin từ báo chí, từ khảo sát trên thị trường, từ hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra SGD có thể thu thập thêm thông tin nhờ việc gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp khách hàng xin vay vốn, thông qua cuộc phỏng vấn SGD có thể nắm bắt những thông tin như:

    • Mục đích, nhu cầu sử dụng vốn vay
    • Lĩnh vực hoạt động, sản phẩm chủ yếu, phương thức tiêu thụ.
    • Trình độ ban lãnh đạo, kinh nghiệm và khả năng chỉ đạo, điều hành của nhân viên quản lý.
    • Khả năng tạo ra nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng vốn vay của SGD để trả nợ.
    • Những nguồn khác để SGD có thể thu nợ ngoài nguồn thu nhập tạo ra từ

    dự án.

    • Các khó khăn mà dự án sẽ gặp phải và biện pháp khắc phục của doanh

    nghiệp.

    Để có được thông tin tốt với chất lượng tốt thì cán bộ thẩm định cần có sự chuẩn bị, tổ chức các cuộc phỏng vấn một cách chu đáo và nghiêm túc kết hợp với kỹ năng quan sát và giao tiếp tốt. Bên cạnh đó, SGD cũng có thể thu thập thông tin về doanh nghiệp từ các nguồn khách như từ phía các bạn hành và các đối tác của doanh nghiệp, hay điều tra từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trước kia đã từng có sự quan hệ với doanh nghiệp hoặc nhờ sự giúp đỡ của các công ty kiểm toán. Để thông tin chính xác từ phía khách hàng thì SGD cần phải đảm bảo các điều kiện sau:

    • Thực sự có uy tín trong việc thu thập thông tin, thông tin phải chính xác, có tính cập nhật.
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 86
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đảm bảo bí mật về thông tin tốt, đảm bảo cho công tác thẩm định tài chính dự án.
    • Hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin báo cáo nội bộ, phải làm sao để thông tin được đầy đủ, thông suốt, không phiến diện, làm cơ sở cho việc cung cấp thông tin cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư được nhanh chóng thuận tiện và hiệu quả.
    • SGD cần có qui định cụ thể về việc cung cấp những thông tin từ những dự án đã, đang hoạt động, xử lý khối lượng thông tin này tạo cho SGD một cơ sở dữ liệu thông tin rất đa dạng về mọi loại hình doanh nghiệp. Cần có sự phối hợp tích cực giữa các phòng ban SGD và NHĐT&PTVN với phòng tín dụng để tái thẩm định tài chính dự án và có thông tin đa chiều, đặc biệt giữa phòng kế toán, phòng tín dụng và phòng nguồn vốn kinh doanh. Khi có một khách hàng được vay vốn tại SGD thì các tài khoản và tất cả các khoản thanh toán qua SGD được theo dõi thường xuyên bởi phòng kế toán. Song cán bộ tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng cũng cần nắm được thông tin này.
    • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thu nhập, xử lý thông tin về thị trường, khách hàng, nắm bắt biến động về cung cầu vốn trong từng thời kỳ để điều chỉnh lãi suất cho hợp lý.
    • SGD cần phát triển hệ thống thông tin từ bên ngoài theo hướng mới qua hệ thống mạng thông tin, trung tâm thông tin trong nước và quốc tế. Đây là một nguồn thông tin rất chính xác mà SGD cần khai thác để phục vụ cho hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư. Bên cạnh đó, SGD cần tăng cường quan hệ hợp tác với các NHTM, các bộ, ngành, các cơ quan, tổ chức khác để khai thác, tận dụng thông tin.

    Để thực hiện được những điều này đòi hỏi SGD cần phải có một hệ thống máy tính hiện đại, được nối mạng trong toàn hệ thống. SGD nên nghiên cứu ứng dụng các phần mềm tin học đủ mạnh để quản lý, lưu trữ, phân tích và truyền tin nhằm đảm bảo tính chính xác kịp thời của thông tin phục vụ cho công tác thẩm định.

    3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực.

    Đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng, con người luôn là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định. Con người ở đây là đội ngũ cán bộ thẩm định dự án, là chủ thể của mọi hoạt động, từ việc hoạch định chính sách đến việc thẩm định dự án, xét duyệt cho vay. Do vậy, để nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án cần xây dựng đội ngũ cán bộ thẩm định có đủ về số lượng, chất lượng để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khó khăn của công việc. Mỗi cán bộ thẩm định cần đạt được những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực làm việc và phẩm chất đạo đức, cụ thể: các cán bộ thẩm định phải có trình độ đại học trở lên, có kiến thức cơ bản về kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng, kiến thức về lĩnh vực

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 87
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    tài chính, phải là người có kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động thẩm định, tham gia theo dõi, quản lý tài chính một số dự án cụ thể trước khi được làm công tác thẩm định; phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, trung thực, có tinh thần trách nhiệm, kỷ luật nghề nghiệp cao. Muốn là được điều đó, SGD cần tập trung vào các công việc sau:

    • Sở giao dịch cần có cán bộ chuyên trách về quản lý nhân sự. Căn cứ vào yêu cầu công việc của từng bộ phận, từng nghiệp vụ của SGD cũng như trình độ hiện tại của cán bộ tín dụng (người làm công tác thẩm định nhất thiết phải từng hoạt động trong lĩnh vực tín dụng) chuyên viên nhân sự sẽ phối hợp với các trưởng, phó phòng xác định nhu cầu nhân sự cho từng phòng, có kế hoạch sắp xếp, điều chuyển nhân sự hợp lý hơn. Ngoài ra, chuyên viên nhân sự cần phân tích biến động môi trường kinh doanh, tính hình đối thủ cạnh tranh, mục tiêu hoạt động của SGD để dự báo số nhân viên tăng giảm trong tương lai.
    • Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ ngay từ khâu tuyển chọn nhân viên. Tuyển dụng nhân viên mới vào làm công tác tín dụng (thẩm định) phải là người tốt nghiệp đại học hệ chính quy theo đúng chuyên ngành phù hợp. Ngoài ra còn phải có các tố chất khác như: nhanh nhẹn, nắm bắt tâm lý tốt, có óc phân tích. Công tác tổ chức thi tuyển phải công khai, chặt chẽ, đảm bảo công bằng để có thể lựa chọn được những người giỏi nhất. Việc kiểm tra, sát hạch trình độ chuyên môn, nghiệp vụ người được dự tuyển phải do các cán bộ thẩm định có kinh nghiệm, thâm niên công tác trực tiếp tiến hành.

    Những người vượt qua được kỳ thi tuyển phải qua thời gian thử việc thích hợp (có thể những công việc hỗ trợ cho cán bộ thẩm định trong thẩm định dự án đầu tư) để đánh giá khả năng ứng dụng các kiến thức trong công việc thực tế. Hết sức tránh việc thuyên chuyển cán bộ: kế toán, kiểm ngân, văn thư sang làm công tác thẩm định.

    • Thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thẩm định. Cán bộ thẩm định cần được cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương, chiến lược phát triển ngành, các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng cũng như những kiến thức pháp luật trong lĩnh vực liên quan. SGD cần thiết phải tăng cường đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn ngoài giời hành chính cho nhân viên về nghiệp vụ tín dụng, thẩm định. Việc này có thể được thực hiện dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước. Cuối mỗi khoa học cần tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả được để rút ra kinh nghiệm cho những lần tổ chức sau đạt kết quả tốt hơn.
    • SGD cần coi trọng, khuyến khích khả năng tự đào tạo của mỗi cán bộ thẩm định.

    Các kiến thức họ nhận được trong trường đại học sẽ nhanh chóng bị lạc hậu, SGD có thể hỗ trợ quá trình tự đào tạo bằng cách cung cấp những tài liệu,

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 88
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    sách báo mới nhất trong các lĩnh vực có liên quan.

    • SGD phải không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức mỗi cán bộ thẩm định. Phẩm chất đạo đức có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Đây là việc làm khó khăn nhất, đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức và vật chất. SGD cần quy định mức khen thưởng xứng đáng với một dự án phức tạp được thẩm định tốt, hoạt động hiệu quả, đồng thời phải có mức phạt thích đáng trong các trường hợp vi phạm nguyên tắc tín dụng, móc ngoặc với doanh nghiệp vay vốn ngân hàng.
    • Tiến hành đánh giá trình độ cán bộ tín dụng thường xuyên qua hoạt động thực tiễn và thi tuyển định kỳ để có kế hoạch điều chuyển vị trí công tác cũng như xét duyệt mức lương hợp lý.

    Mức lương được hưởng phải căn cứ vào năng lực thực sự chứ không phải thâm niên công tác.

    3.2.4. Giải pháp về trang thiết bị ngân hàng.

    Hiện nay, trình độ công nghệ của ngân hàng và công nghệ thẩm định của các tổ chức tín dụng khu vực và trên thế giới đã rất phát triển. Do vậy, muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tương xứng với yêu cầu hiện nay thì công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phải được chú trọng và đổi mới hơn nữa. Để thực hiện được điều này, SGD cần trang bị cho bộ phận thẩm định đầy đủ phương tiện làm việc tuỳ theo tính chất công việc để có thể truy cập, xử lý lượng thông tin lớn, áp dụng các phương pháp thẩm định hiện đại, phức tạp với số liệu tính toán lớn. Theo hướng này, mỗi cán bộ thẩm định nên được trang bị một máy tính được nối mạng. SGD cần nghiên cứu lắp đặt một hệ thống máy tính mạng cục bộ giữa các bộ phận thẩm định và các bộ phận khác của SGD để phục vụ việc truyền tin báo cáo, khai thác thông tin. Tuy nhiên, tuỳ theo quy mô, tính chất công việc mà có sự đầu tư phù hợp để vừa không lãng phí, vừa đảm bảo phục vụ tốt nhất cho yêu cầu công việc. SGD nên tự nghiên cứu hoặc đặt mua số phần mềm hỗ trợ cho công tác thẩm định tài chính dự án hoặc trao đổi thông tin.

    3.2.5. Giải pháp về tổ chức điều hành.

    Thẩm định dự án đầu tư là tập hợp của rất nhiều hoạt động khác nhau nhưng nó lại có liên quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, việc sắp xếp, tổ chức ra sao để các bộ phận hoạt động một cách nhịp nhàng, kế thừa và hỗ trợ cho nhau một thể thống nhất là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án. Một cơ chế tổ chức hoạt động phải đủ hai tiêu chuẩn: hiệu quả và an toàn. Tuy SGD đã hoạt động khá hiệu quả với mô hình tổ chức và cách quản lý như hiện nay trong nhiều năm. Nhưng thực tế cho thấy để hoạt động có hiệu quả hơn nữa Sở cần có những thay đổi cả về hình thức quản lý và mô hình tổ chức cho phù hợp với điều kiện hoạt động hiện nay. SGD cần tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các chi nhánh, các phòng ban trong quá trình thực hiện các công đoạn khác nhau của hoạt động thẩm định dự án nói chung, thẩm định tài chính dự án đầu tư nói chung.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 89
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Thực tế cho thấy, với cách tổ chức và quản lý như hiện nay SGD chưa tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, chi nhánh trong ngân hàng. Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chưa đạt hiệu quả mong muốn, không tạo được sức mạnh tập thể của cánh tay phải trong hệ thống NHĐT&PTVN.

    Để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho việc phát triển hoạt động tín dụng nói chung, hoạt động thẩm định tài chính án nói riêng. SGD nhất thiết phải kiện toàn lại bộ máy, điều chỉnh lại hình thức quản lý theo đúng ý tưởng thành lập ban đầu. Việc quản lý tập trung, phân công hợp lý, phối hợp nhịp nhàng một SGD có tầm cỡ lớn như SGD I đòi hỏi những yêu cầu hết sức khắt khe về quy chế hoạt động, khả năng tổ chức và lãnh đạo của cán bộ quản lý. Điều đó không dễ dàng thực hiện và đòi hỏi những chi phí về thời gian, tiền của, công sức không nhỏ. Tuy nhiên, chỉ có làm được điều đó SGD I – NHĐT & PTVN mới có thể tạo được sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ phận trong hệ thống, phát huy được tiềm lực và các thế mạnh của một cánh tay phải đắc lực trong một hệ thống ngân hàng đồ sộ như NHĐT &PTVN.

    3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Sở giao dịch I Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam.

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư là công việc rất phức tạp, khối lượng công việc nhiều, liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau, là công việc đòi hỏi tính chính xác cao. Để công tác thẩm định tài chính được tốt, có chất lượng cao, cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận có liên quan thì mới đáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, em xin đề ra một số kiến nghị sau:

    3.3.1. Với chính phủ và các bộ ngành liên quan.

    Chính phủ phải có những quy định để tăng cường tính công khai trong hoạt động kế toán tài chính. Tất cả mọi nỗ lực của ngân hàng chỉ có hiệu quả khi thông tin mà họ nhận được là trung thực. Nếu các báo cáo tài chính không minh bạch sẽ làm biến dạng, sai lệch các chỉ tiêu kết quả. Do đó, Chính phủ cần phải ban hành quy chế bắt buộc và công khai kiểm toán của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thuê các công ty kiểm toán độc lập kiểm tra lại các báo cáo tài chính hàng năm.

    • Đề nghị các Bộ, ngành địa phương nghiêm chỉnh thực hiện công tác kế hoạch hoá đầu tư theo thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch Đầu tư.
    • Đề nghị các Bộ, ngành cùng phối hợp để xây dựng các mức thông số kỹ thuật của từng ngành, các lĩnh vực kinh doanh để làm cơ sở cho việc so sánh hiệu quả của dự án được sát hơn, cụ thể hơn như tỷ lệ lãi suất của nền kinh tế, giá cơ sở của các mặt hàng chủ lực, các định mức tiêu hao nguyên liệu.
    • Đề nghị các Bộ, ngành cần hệ thống hoá các thông tin liên quan đến lĩnh
    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 90
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    vực mình quản lý. Hàng năm, trên báo cáo tổng kết cần công khai tình hình hoạt động, đưa ra những chỉ số chung phản ánh tốc độ tăng trưởng và các chỉ số liên quan của ngành thông qua tài liệu chuyên ngành hay thông qua trung tâm thông tin của ngành.

    -Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có biến pháp bắt buộc chủ đầu tư tuân thu các quy định đã ban hành về lập luận chứng kinh tế: các chỉ tiêu đưa ra phải rõ ràng, đầy đủ và được giải thích hợp lý, căn cứ tính toán phải thoả mãn yêu cầu là có thể kiểm tra được. Bộ cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về kế hoạch đầu tư của Nhà nước như: dự báo chính xác về khả năng nguồn vốn trong kỳ kế hoạch, hướng dẫn đầu tư vào các chương trình, các dự án trọng điểm, các lĩnh vực then chốt, ưu tiên của nền kinh tế. Trong đó cần đẩy mạnh bám sát các mục tiêu ưu tiên của nền kinh tế, các lĩnh vực sản xuất đang được nhà nước khuyến khích và khả năng thực tế của Bộ, ngành địa phương. Khi ghi đến nguồn nhập thiết bị trả chậm kế hoạch ghi rõ nguồn vốn ngoại tệ nhập, ngoại tệ trả nợ.

    Bộ Tài chính cần có biện pháp bắt buộc các doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán thống nhất và tăng các biện pháp quản lý kinh doanh đối với doanh nghiệp theo đúng chức năng, quy mô hoạt động phù hợp với vốn điệu lệ và năng lực.

    • Cần tạo một khung pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải công khai tình hình tài chính của mình với ngân hàng khi xin vay. Để làm được điều này phải tiến hành kiểm toán các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước nhằm có được các báo cáo tài chính có độ tin cậy cao. Các công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước đánh giá của mình.
    • Đề nghị các Bộ, ngành địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong việc phê duyệt và thẩm định các dự án vì nội dung dự án gồm nhiều khía cạnh có quan hệ chặt chẽ với nhau, các Bộ, ngành địa phương tham gia thẩm định dự án trên các khía cạnh khác ấy, sự phân phối này nhằm nâng cao trách nhiệm của từng bộ phận thẩm định dự án.
    • Các Bộ, ngành địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơn trong việc trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết và phát triển một mạng thông tin trong toàn quốc với sự tham gia của các cơ quan trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động đầu tư và công tác thẩm định.

    3.3.2. Với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại

    khác.

    Đề nghị ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường hỗ trợ cho việc nâng cao trình độ thẩm định, phát triển đội ngũ nhân viên, trợ giúp thông tin, kinh nghiệm cho các ngân hàng, hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về thẩm định dự án, mở rộng phạm vi thông tin tín dụng về các doanh nghiệp, giúp cho các tổ chức tín dụng nhận định đúng và có những cơ sở thẩm định trước khi đầu tư vốn cho doanh nghiệp.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 91
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Đề nghị ngân hàng Nhà nước có biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm phòng ngừa rủi ro (CIC), cần đưa ra mức độ rủi ro về từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp để làm căn cứ cho các ngân hàng phân loại, xếp hạng doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư.
    • Cần chính thức hoá tài liệu nghiệp vụ ngân hàng Nhà nước về thẩm định dự án đầu tư để các cấp cơ sở thực hiện. Với chủ trương cải cách hành chính hiện nay của Đảng và Nhà nước, tài liệu này cần được rút gọn vào một số điểm và có sự phân công giữa các Bộ, ngành, các cấp.
    • Đề nghị các ngân hàng thương mại quốc doanh khác toàn quốc tăng cường hợp tác trong việc xử lý thông tin và trao đổi kinh nghiệm, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.3.3. Với Ngân hàng Đầu tư &Phát triển Việt Nam.

    • Tăng cường tổ chức các khoá học ngắn hạn, các lớp tập huấn chuyên để thẩm định dự án đàu tư, tổ chức đi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm công tác thẩm định cho các chi nhánh nhằm tăng nâng cao năng lực thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án đầu tư nói riêng trong toàn hệ thống.
    • Cần hoàn thiện quy trình tín dụng cũng như quy trình thẩm định dự án đầu tư thống nhất trong toàn hệ thống cho phù hợp với tình hình mới để SGD có thể căn cứ vào đó mà thực hiện.
    • Đề nghị NHĐT &PTVN cần thành lập mộtk mạng lưới thông tin; thống nhất mẫu báo cáo thẩm định trong toàn chi nhánh NHĐT &PT.
    • Cần tăng cường hoạt động của bộ phận thông tin phòng ngừa rủi ro thuộc NHĐT &PTVN để có thể cung cấp thông tin thường xuyên cho các chi nhánh của mình.
    • NHĐT &PTVN cần có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến các chi nhánh. Cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết các tỷ lệ tài chính trung bình từng ngành để tạo thuận lợi cho công tác thẩm định ở mỗi chi nhánh. Bên cạnh đó, NHĐT &PTVN cần tích luỹ các chỉ tiêu dự án sau khi đã kiểm chứng qua thực tế cùng với việc sưu tầm những chỉ tiêu của các ngân hàng bạn. Tập hợp các tông tin về chất lượng phát triển của các ngành, tình hình đầu tư, hiệu quả đầu tư của các ngành trên toàn quốc sẽ được NHĐT &PTVN xây dựng thành hệ thống thông tin của ngành và đưa lên mạng nội bộ.
    • Định kỳ có tổng hợp, đúc kết kinh nghiệm trong toàn hệ thống để làm bài học chung trong lĩnh vực đàu tư.

    3.3.4. Với các khách hàng.

    Để giúp cho SGD có thể nâng cao chất lượng thẩm định dự án, có quyết định chính xác trong quyết định cho vay đói với dự án, tránh những trường hợp từ chối không cho vay những dự án có hiệu quả do nguyên nhân từ công tác thẩm định làm mất cơ hội đầu tư của dự án. Các doanh nghiệp có dự án xin vay vốn tại

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B 92
     

    Tr−êng §¹i häc kinh tÕ Quèc d©n                                                         Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SGD cần phải cung cấp đầy đủ những tài liệu cần thiết và trung thực cho SGD đúng như quy định, để công tác thẩm định được tiến hành nhanh chóng hơn. Đây là nghĩa vụ của doanh nghiệp vì khi đánh giá dự án, nếu SGD không thấy được những rủi ro, vì những rủi ro này đã bị doanh nghiệp giấu đi. Thì khi rủi ro xảy ra thì hậu quả doanh nghiệp cũng phải chịu.

    Các chủ đầu tư cần nghiêm chỉnh chấp hành việc xây dựng và lập dự án đúng nội dung quy định của các văn bản pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Chủ đầu tư phải lập đầy đủ các biểu mẫu quy định trong dự án như: bảng tính vốn đầu tư theo khoản mục, bảng tính huy động vốn theo chương trình đầu tư và thực hiện dự án, bảng tính vốn hoạt động, bảng tính khả năng trả nợ theo cả gốc và lãi. Các chủ đầu tư phải tính toán đầy đủ các chi phí, đặc biệt là chi phí lãi vay vốn lưu động, chi phí đầu tư bổ sung đối với những dự án có vòng đời kéo dài, đây là những vấn đề mà hiện nay khách hàng chưa thực hiện đúng yêu cầu của SGD.

    Các chủ đầu tư cần tự nâng cao năng lực lập và thẩm định dự án đầu tư, cần nhận thức đúng vai trò, vị trí của công tác thẩm định dự án khi quyết định đầu tư để có những dự án thực sự hiệu quả. Khi thi công dự án cần đảm bảo đúng những nội dung đã lập ra trong dự án theo đúng kế hoạch, cần phối hợp với SGD giải quyết các bất trắc xảy ra trong quá trình thi công của Doanh nghiệp.

    NguyÔn Vò H−ng – Ng©n hμng 43B                                                                                           93


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My

    Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My

    Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:THIẾT KẾ BỘ KHỞI ĐỘNG MỀM ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ ROTO LỒNG SÓC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-TNHH-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i-Ho%C3%A0ng-My.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My

    MỞ ĐẦU

    1.     Lý do chọn đề tài:

    Hiện nay công tác kế toán tiền lương tại các doanh nghiệp tại các doanh nghiệp sử dụng nhiều phương pháp tính lương khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm của công ty của mình. Rất nhiều doanh nghiệp sử dụng thành công những phương pháp tính lương rất khoa học(ebay, vatgia.com…). Bên cạnh đó còn có các doanh nghiệp chưa gắn liền công tác kế toán tiền lương với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần xã hội . Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố quyết định nhất. Chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh là tiết kiệm chi phí về lao động sống góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNV, người lao động trong doanh nghiệp.

    Tiền lương (hay tiền công) là một phần sản phẩm xã hội được Nhà nước phân phối cho người lao động một cách có kế hoạch, căn cứ vào kết quả lao động mà mỗi người cống hiến cho xã hội biểu hiện bằng tiền nó là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động  bù đắp hao phí lao động của công nhân viên đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tiền lương gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lương là phần thu nhập chính của công nhân viên. Trong các doanh nghiệp hiện nay việc trả lương cho công nhân viên có nhiều hình thức khác nhau, nhưng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đang được thực hiện ở một số doanh nghiệp là được quan tâm hơn cả. Trong nội dung làm chủ của người lao động về mặt kinh tế, vấn đề cơ bản là làm chủ trong việc phân phối sản phẩm xã hội nhằm thực hiện đúng nguyên tắc “phân phối theo lao động” . Thực hiện tốt chế độ tiền lương sản phẩm sẽ  kết hợp được nghĩa vụ và quyền lợi, nêu cao ý thức trách nhiệm của cơ sở sản xuất, nhóm lao động và người lao động đối với sản phẩm mình làm ra đồng thời phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, khắc phục khó khăn trong sản xuất và đời sống để hoàn thành kế hoạch. Trong cơ chế quản lý mới hiện nay thực hiện rộng rãi hình thức tiền lương. Sản phẩm trong cơ sở sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp đi vào làm ăn có lãi, kích thích sản xuất phát triển.

    Trước những vai trò của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, việc tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương  mại  Hoàng My là một điều vô cùng cần thiết. Vì vậy em tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Hoàng My”

    2.     Mục tiêu nghiên cứu:

    Khi tiến hành nghiên cứu chuyên đề, chuyên đề hướng tới những mục tiêu

    Tìm hiểu và nhìn nhận về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại các doanh nghiệp nói chung và tại công ty TNHH Thương mại Hoàng My.

    Tìm hiểu khó khăn và thuận lợi trong công tác kế toán. Từ đó rút ra nhận xét và đưa ra những kiến nghị nhằm giúp công ty quản lý tốt công tác kế toán tiền lương.

    3.     Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

    Đối tượng nghiên cứu:

    • Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương mại Hoàng My.
    • Mức lương của các công nhân viên trong công ty.
    • Các chứng từ, phương pháp tính lương tại công ty.

    Phạm vi nghiên cứu:

    Vấn đề tiền lương, các khoản phải trích theo lương và cách hạch toán lương của nhà máy trong tháng 10 năm 2010.
    4. Phương pháp nghiên cứu:

    Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
    – Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, ghi chép: bằng việc sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và nghiên cứu, tìm hiểu các sổ sách, báo cáo kế toán từ phòng Tài vụ và phòng tổ chức hành chính của công ty để thu thập những số liệu cần thiết cho đề tài.
    – Phương pháp phân tích: trên cơ sở hệ thống số liệu thu thập được, thông qua sàng lọc xử lý số liệu để từ đó là cơ sở cho việc phân tích thực tế hoạt động của đơn vị.
    – Phương pháp tổng hợp: thông qua việc tổng hợp những số liệu, chứng từ làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu.

    5. Kết cấu chuyên đề:

    Chuyên đề  tiến hành nghiên cứu có 3 chương:

    Chương I : Lý luận về tổ chức lao động tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp.

    Chương II : Thực trạng tổ chức kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH  Thương mại Hoàng My.

    Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán lao động  tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH  Thương mại Hoàng                       My

     

     

     

    CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.

    1.1. Những khái niệm cơ bản

    1.1.1 Tiền lương

    1.1.1.1 Khái niệm tiền lương

    Trong kinh tế thị trường sức lao động trở thành hàng hoá, người có sức lao động có thể tự do cho thuê (bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động: Nhà nước, chủ doanh nghiệp…) thông qua các hợp đồng lao động. Sau quá trình làm việc, chủ doanh nghiệp sẽ trả một khoản tiền có liên quan chặt chẽ đến kết quả lao động của người đó.

    Về tổng thể tiền lương được xem như là một phần của quá trình trao đổi giữa doanh nghiệp và người lao động.

    – Người lao động cung cấp cho họ về mặt thời gian, sức lao động, trình độ nghề nghiệp cũng như kỹ năng lao động của mình.

    – Đổi lại, người lao động nhận lại doanh nghiệp tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp xã hội, những khả năng đào tạo và phát triển nghề nghiệp của mình.

    Đối với thành phần kinh tế tư nhân, sức lao động rõ ràng trở thành hàng hoá vì người sử dụng tư liệu sản xuất không đồng thời sở hữu tư liệu sản xuất. Họ là người làm thuê bán sức lao động cho người có tư liệu sản xuất. Giá trị của sức lao động thông qua sự thoả thuận của hai bên căn cứ vào pháp luật hiện hành.

    Đối với thành phần kinh tế thuộc sởn hữu Nhà nước, tập thể người lao động từ giám đốc đến công nhân đều là người cung cấp sức lao động và được Nhà nước trả công. Nhà nước giao quyền sử dụng quản lý tư liệu sản xuất cho tập thể người lao động. Giám đốc và công nhân viên chức là người làm chủ được uỷ quyền không đầy đủ, và không phải tự quyền về tư liệu đó. Tuy nhiên, những đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của khu vực kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau nên các quan hệ thuê mướn, mua bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thoả thuận về tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương cũng được thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau.

    Tiền lương là bộ phận cơ bản (hay duy nhất) trong thu nhập của người lao động, đồng thời là một trong các chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.

    Vậy có thể hiểu: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả yếu tố của sức lao động mà người sử dụng (Nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo nguyên tắc cung – cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước.

    Cùng với khả năng tiền lương, tiền công là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn với các quan hệ thoả thuận mua bán sức lao động và thường sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hợp đồng thuê lao động có thời hạn. Tiền công còn được hiểu là tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả theo khối lượng công việc được thực hiện phổ biến trung những thoả thuận thuê nhân công trên thị trường tự do. Trong nền kinh tế thị trường phát triển khái niệm tiền lương và tiền công được xem là đồng nhất cả về bản chất kinh tế phạm vi và đối tượng áp dụng.

    • Bản chất của tiền lương, chức năng của tiền lương:

    – Bản chất của tiền lương:

    1. Các quan điểm cơ bản về tiền lương:

    Quan điểm chung về tiền lương:

    Lịch sử xã hội loài người trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Một trong những đặc điểm của quan hệ sản xuất xã hội là hình thức phân phối. Phân phối là một trong những khâu quan trọng của tái sản xuất và trao đổi. Như vậy trong các hoạt động kinh tế thì sản xuất đóng vai trò quyết định, phân phối và các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất và do sản xuất quyết định nhưng có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực trở lại sản xuất.

    Tổng sản phẩm xã hội là do người lao động tạo ra phải được đem phân phối cho tiêu dùng cá nhân, tích luỹ tái sản xuất mở rộng và tiêu dùng công cộng. Hình thức phân phối vật phẩm cho tiêu dùng cá nhân dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) được tiến hành theo nguyên tắc: “Làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Bởi vậy, “phân phối theo lao động là một quy luật kinh tế “. Phân phối theo lao động dưới chế độ CNXH chủ yếu là tiền lương, tiền thưởng. Tiền lương dưới CNXH khác hẳn tiền lương dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Tiền lương dưới chế độ XHCN được hiểu theo cách đơn giản nhất đó là: số tiền mà người lao động nhận được sau một thời gian lao động nhất định hoặc sau khi đã hoàn thành một công việc nào đó. Còn theo nghĩa rộng: tiền lương là một phần thu nhập của nền kinh tế quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến.

    Như vậy nếu xét theo quan điểm sản xuất tiền lương là khoản đãi ngộ của sức lao động đã được tiêu dùng để làm ra sản phẩm. Trả lương thoả đáng cho người lao động là một nguyên tắc bắt buộc nếu muốn đạt hiệu quả kinh doanh cao.

    Nếu xét trên quan điểm phân phối thì tiền lương là phần tư liệu tiêu dùng cá nhân dành cho người lao động, được phân phối dựa trên cơ sở cân đối giữa quỹ hàng hoá xã hội với công sức đóng góp của từng người. Nhà nước điều tiết toàn bộ hệ thống các quan hệ kinh tế: sản xuất, cung cấp vật tư, tiêu hao sản phẩm, xây dựng giá và ban hành chế độ, trả công lao động. Trong lĩnh vực trả công lao động Nhà nước quản lý tập trung bằng cách quy định mức lương tối thiểu ban hành hệ thống thang lương và phụ cấp. Trong hệ thống chính sách của Nhà nước quy định theo khu vực kinh tế quốc doanh và được áp đặt từ trên xuống. Sở dĩ như vậy là xuất phát từ nhận thức tuyệt đối hoá quy luật phân phối theo lao động và phân phối quỹ tiêu dùng cá nhân trên phạm vi toàn xã hội.

    Những quan niệm trên đây về tiền lương đã bị coi là không phù hợp với những điều kiện đặc điểm của một nền sản xuất hàng hoá.

    1. Bản chất phạm trù tiền lương theo cơ chế thị trường:

    Trong nhiều năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Song tình hình thực tế cho thấy rằng sự đổi mới một số lĩnh vực xã hội còn chưa kịp với công cuộc đổi mới chung nhất của đất nước. Vấn đề tiền lương cũng chưa tạo được động lực phát triển kinh tế xã hội.

    Hiện nay có nhiều ý thức khác nhau về tiền lương, song quan niệm thống nhất đều coi sức lao động là hàng hoá. Mặc dù trước đây không được công nhận chính thức, thị trường sức lao động đã được hình thành từ lâu ở nước ta và hiện nay vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở nhiều vùng đất nước. Sức lao động là một trong các yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản, của quá trình sản xuất, nên tiền lương, tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động. Vì vậy việc trả công lao động được tính toán một cách chi tiết trong hạch toán kinh doanh của các đơn vị cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Để xác định tiền lương hợp lí cần tìm ra cơ sở để tính đúng ,tính đủ giá trị của sức lao động .Người lao động sau khi bỏ ra sức lao động,tạo ra sản phẩm thì được một số tiền công nhất định.Vậy có thể coi sức lao động là một loại hàng hoá,một loại hàng hoá đặc biệt.Tiền lương chính là giá cả hàng hoá đặc biệt đó – hàng hoá sức lao động. Hàng hoá sức lao động cũng có mặt giống như mọi hàng hoá khác là có giá trị. Người ta định giá trị ấy là số lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra nó. Sức lao động gắn liền với con người nên giá trị sức lao động được đo bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống (ăn, ở, học hành,đi lại …) và những nhu cầu cao hơn nữa.Song nó cũng phải chịu tác động của các quy luật kinh tế thị trường .

    Vì vậy, về bản chất tiền công, tiền lương là giá cả của hàng hoá sức lao động, là động lực quyết định hành vi cung ứng sức lao động. Tiền lương là một phạm trù của kinh tế hàng hoá và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan. Tiền lương cũng tác động đến quyết định của các chủ doanh nghiệp để hình thành các thoả thuận hợp đồng thuê lao động.

    -Chức năng của tiền lương:

    Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp và bao gồm các chức năng sau:

    + Tiền lương là công cụ để thực hiện các chức năng phân phối thu nhập quốc dân, các chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động và người  lao động.

    +Tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc trao đổi tiền tệ do thu nhập mang lại với các vật dụng sinh hoạt cần thiết cho người  lao động và gia đình họ.

    + Kích thích con người tham gia lao động, bởi lẽ tiền lương là một bộ phận quan trọng của thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của người lao động.   Do đó là công cụ quan trọng trong quản lí. Người ta sử dụng nó để thúc đẩy người lao động hăng hái lao động và sáng tạo, coi như là một công cụ tạo động lực trong sản xuất kinh doanh (SXKD).

    1.1.2. Lao động

    Khái niệm lao động :

    Lao động là hoạt động chân tay trí óc của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành các vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người. Trong doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên chúng ta phải tái tạo sức lao động hay phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ ntham ra sả xuất kinh doanh.

    1.2 Cơ sở lý luận chung về tổ chức lao động tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp.

    1.2.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán lao động và tiền lương trong các doanh nghiệp.

    1.2.1.1 Ý nghĩa của lao động và quản lý lao động.    

    Lao động là sự hoạt động chân tay hay trí óc của con người nhằm biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm thoã mãn nhu cầu sinh hoạt của con người.

    Một quá trình sản xuất xã hội bao giờ cũng bao gồm 3 yếu tố đó là: Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong ba yếu tố đó thì lao động của con người là yếu tố quan trọng nhất. Sản xuất sẽ không thể tiến hành được nếu thiếu tư liệu lao động và đối tượng lao động, nhưng nếu không có lao động của con người thì tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ là những vật vô dụng và không thể phát huy được tác dụng.

    Như  ta đã biết, chi phí về lao động là một trong ba yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Chi phí về lao động cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Vì vậy, muốn quản lý tốt chi phí sản xuất thì trước hết cần phải quản lý chặt chẽ các khoản chi cho lao động và phải quản lý từ lao động thông qua hai chỉ tiêu cơ bản đó là số lượng và chất lượng lao động.

    – Quản lý số lượng lao động là quản lý về số lượng người lao động trên các mặt: Giới tính, độ tuổi, chuyên môn…

    – Quản lý chất lượng lao động là quản lý năng lực mọi mặt của từng người lao động trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm như: Sức khoẻ lao động, trình độ kỹ năng – kỹ xảo, ý thức kỷ luật…

    Chỉ có trên cơ sở nắm chắc số lượng, chất lượng lao động thì việc tổ chức, sắp xếp, bố trí các lao động mới hợp lý làm cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng có hiệu quả cao. Ngược lại, không quan tâm đúng mức việc quản lý lao động thì dẫn tới sức sản xuất của doanh nghiệp bị trì trệ, kém hiệu quả.

    Đồng thời, quản lý lao động tốt là cơ sở cho việc đánh giá trả thù lao cho từng lao động đúng, việc trả thù lao đúng sẽ kích thích được toàn bộ lao động trong doanh nghiệp lao động sáng tạo, nâng cao kỹ năng – kỹ xảo, tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động góp phần tăng lợi nhuận

    1.2.1.2 Ý nghĩa của tiền lương

    – Tiền lương là công cụ để thực hiện các chức năng phân phối thu nhập quốc dân, các chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động và người  lao động.

    – Tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc trao đổi tiền tệ do thu nhập mang lại với các vật dụng sinh hoạt cần thiết cho người  lao động và gia đình họ.

    – Kích thích con người tham gia lao động, bởi lẽ tiền lương là một bộ phận quan trọng của thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của người lao động.   Do đó là công cụ quan trọng trong quản lí. Người ta sử dụng nó để thúc đẩy người lao động hăng hái lao động và sáng tạo, coi như là một công cụ tạo động lực trong sản xuất kinh doanh (SXKD).

    1.2.1.3 .Nhiệm vụ của kế toán lao động và tiền lương

    Tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý. Vì vậy, kế toán lao động tiền lương cần phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    – Phản ánh đầy đủ chính xác thời gian và kết quả lao động của công nhân viên. Tính toán đúng, thanh toán đầy đủ kịp thời tiền lương và các khoản trích theo lương cho công nhân viên. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lương.

    – Tính toán phân bổ hợp lý chính xác chi phí về tiền lương (tiền công) và trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.

    – Định kỳ phân tích tình hình sử dụng lao động và quản lý sử dụng quỹ tiền lương. Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan.

    1.2.2 Các hình thức tiền lương, quỹ lương, quỹ BHXH, BHYT, CPCĐ.

    1.2.2.1 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp.

    – Hình thức tiền lương theo thời gian: Tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc hoặc chức danh và thang lương theo quy định theo 2 cách: Lương thời gín giản đơn và lương thời gian có thưởng

    + Lương thời gian giản đơn được chia thành:

    • Lương tháng: Tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc quy định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp(nếu có). Lương tháng thường được áp dụng trả lương nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.
    • Lương ngày : Được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả CNV, tính trả lương cho CNV trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.
    • Lương giờ : Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày chế độ. Lương giờ thường được làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.

    + Lương thời gian có thưởng : Là hình thức tiền lường thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền lương trong sản xuất.

    Hình thức tiền lương thời gian mặc dù đã tính đến thời gian làm việc thực tế, tuy nhiên nó vẫn còn hạn chế nhất định đó là chưa gắn tiền lương với chất lượng và kết quả lao động, vì vậy các doanh nghiệp cần kết hợp với các biện pháp khuyến khích vật chất, kiểm tra chấp hành chấp hành kỉ luật lao động nhằm tạo người lao động tự giác làm việc, làm việc có kỉ luật và năng suất cao.

    – Hình thức tiền lương theo sản phẩm : Hình thức trả lương theo sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc khối lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu. Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động, đơn giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, phải kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ.

    – Theo sản phẩm trực tiếp: Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản lượng hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá lương sản phẩm. Đây là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương phải trả cho CNV trực tiếp sản xuất hàng loạt sản phẩm.

    • Trả lương theo sản phẩm có thưởng : Là kết hợp trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp và chế độ tiền thưởng trong sản xuất( thưởng tiết kiệm vât tư, thưởng tăng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm)
    • Trả lương theo sản phẩm lũy tiến: Theo hình thức này tiền lương trả cho người lao động gồm tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền lương tính theo tỉ lệ lũy tiến căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động của họ. Hình thức này nên áp dụng ở những khâu sản xuất quan trọng, cần thiết phải đẩy nhanh tiến độ sản xuất hoặc cần động viên công nhân phát huy sáng kiến phá vỡ định mức lao động

    – Theo sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng để trả lương cho công nhân viên làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: công nhân viên vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trực tiếp để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất.

    – Theo lượng công việc: Là hình thức tiền lương trả theo sản phẩm áp dụng cho những công việc lao động đơn giản, công việc có tính chất đột xuất như: Khoán bốc vác, khoán vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm.

    – Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương: Ngoài tiền lương, BHXH, CNV có thành tích trong sản xuất, trong công tác được hưởng khoản tiền thưởng, việc tính toán tiền lương căn cứ vào quyết định và chế độ hiện hành.

    Tiền thưởng thi đua từ quỹ khen thưởng, căn cứ vào kết quả bình xét A, B, C và hệ số tiền thưởng để tính. Tiền thưởng về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định.

    1.2.2.2.Quỹ tiền lương   

    Là toàn bộ số tiền lương trả cho số CNV của doanh nghiệp doanh nghiệp quản lí, sử dụng và chi trả lương. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp gồm:

    – Tiền lương sản trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và các khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm, thêm giờ, Phụ cấp khu vực…

    – Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép.

    – Các khoản phụ cấp thường xuyên: Phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp công tác lưu động, phụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thật có tài năng

    – Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.

    + Tiền lương chính : Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính. Gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp

    + Tiền lương chính : Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính của họ, thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết, ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ.

    Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp.

    1.2.2.3  Quỹ bảo hiểm xã hội

    Quỹ bảo hiểm xã hội ( BHXH) được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số quỹ tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp ( chức vụ, khu vực, đắt đỏ, thâm niên) của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện hành tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 23% trong đó 16% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp được tính vào chi phí kinh doanh;  6% còn lại do người lao động đóng góp và được trừ vào lương tháng.

    Quỹ BHXH được trích lập nhằm hỗ trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp trong trường  hợp họ bị mất khả năng lao động, cụ thể:

    • Trợ cấp công nhân viên ốm đau thai sản.
    • Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.
    • Chi phí công tác quản lí quỹ BHXH.

    Theo chế độ hiện hành, toàn bộ số trích BHXH được nộp lên cơ quan quản lí quỹ bảo hiểm để chi trả các trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động.

    Tại doanh nghiệp hàng tháng doanh nghiệp hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho CNV bị ốm, thai sản…Trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Cuối tháng doanh nghiệp, phải thanh quyết  toán với cơ quan quản lí quỹ BHXH.

    1.2.2.4  Quỹ bảo hiểm y tế

    Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang… cho người lao động trong thời gian ốm đau sinh đẻ. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng.

    Để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn hàng tháng doanh nghiệp còn phải trích theo tỷ lệ quy định với tổng số quỹ tiền lương, tiền công và phụ cấp (phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút; phụ cấp đắt đỏ; phụ cấp đặc biệt; phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp lưu động, phụ cấp thâm niên, phụ cấp phục vụ quốc phòng an ninh) thực tế phải trả cho người lao động kể cả lao động tính vào chi phí kinh doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Các khoản trích theo lương BHXH, BHYT, KPCĐ

    Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán:

    • Yêu cầu quản lý:

    Tiền lương là giá trị của sức lao động là một yếu tố của chi phí sản xuất. Do đó muốn tiết kiệm được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm các doanh nghiệp phải sử dụng tiền lương của mình có kế hoạch thông qua các phương pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ tiền lương.

    Việc trả lương cho công nhân trong các doanh nghiệp phải theo từng tháng. Muốn làm tốt tất cả các vấn đề trên các doanh nghiệp phải lập kế hoạch quản lý nguồn vốn tạm thời này. Nếu thực hiện tốt sẽ tạo ra khả năng sử dụng có hiệu quả đồng vốn, nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.

    Trong điều kiện kinh tế thị trường quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của các quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị. Cơ chế thị trường khắc nghiệt sẵn sàng đào thải những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không có hiệu quả. Trong điều kiện đó chất lượng sản phẩm và giá cả là những nhân tố quan trọng giúp cho sự đứng vững và phát triển của mỗi doanh nghiệp.

    Để công nhân gắn bó với doanh nghiệp, phát huy hết khả năng sáng tạo tinh thần, trách nhiệm trong sản xuất, luôn tìm ra cách cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và hạ giá thành. Các doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả tiền lương nói riêng và quỹ tiền lương nói chung.

    –  Nhiệm vụ kế toán:

    Tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề quan tâm riêng của công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý. Vì vậy, kế toán lao động tiền lương cần phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: Phản ánh đầy đủ chính xác thời gian và kết quả lao động của công nhân viên. Tính toán đúng, thanh toán đầy đủ kịp thời tiền lương và các khoản trích theo lương cho công nhân viên. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lương.

    – Tính toán phân bổ hợp lý chính xác chi phí về tiền lương (tiền công) và trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.

      1.3 Kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương theo chế độ kế toán hiện hành

    Kế toán lao động tiền lương:

    Chu kỳ tiền lương và lao động được bắt đầu từ thời điểm tiếp nhận nhân sự, đến việc theo dõi thời gian làm việc hoặc sản phẩm hoàn thành; tính lương phải trả cho công nhân viên và các khoản trích theo lương, cuối cùng là thanh toán tiền lương và các khoản khác cho công nhân viên.

    • Hạch toán lao động:

    Tiếp nhận lao động là thời điểm bắt đầu của chu kỳ tiền lương và lao động. Đó là việc xem xét và ra quyết định tiếp nhận, phân phối công việc cho người lao động, quyết định phê chuẩn mức lương, phụ cấp; lập hồ sơ cán bộ nhân viên.

    Để quản lý lao động về mặt số lượng, các doanh nghiệp sử dụng sổ danh sách lao động. Sổ này do phòng lao động tiền lương lập (lập chung cho toàn doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận) nhằm nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ lao động (mở riêng cho từng người lao động) để quản lý nhân sự cả về số lượng và chất lượng lao động, về biến động và chấp hành chế độ đối với lao động.

    Muốn quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, cần phải tổ chức hạch toán việc sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. Chứng từ sử dụng để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công được lập riêng cho từng bộ phận, tổ, đội lao động sản xuất, trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ việc của mỗi người lao động. Bảng chấm công do tổ trưởng (hoặc trưởng các phòng ban) trực tiếp ghi rõ và để nơi công khai để công nhân viên chức giám sát thời gian lao động của từng người. Cuối tháng bảng chấm công được dùng để tổng hợp thời gian lao động và tính lương cho từng bộ phận, tổ, đội sản xuất.

    Theo dõi thời gian làm việc hoặc khối lượng công việc hoàn thành và tính lương và các khoản phải trả cho công nhân viên là giai đoạn tổ chức chấm công, lập bảng kê và xác nhận khối lượng hoàn thành, tính lương và các khoản khác phải trả cho từng công nhân viên, từng tổ, đội, bộ phận liên quan, tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng các loại chứng từ ban đầu khác nhau, tuỳ theo loại hình và đặc điểm sản xuất ở từng doanh nghiệp. Mặc dầu sử dụng các mẫu chứng từ khác nhau nhưng các chứng từ này đều mang các nội dung cần thiết như tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu, kỳ hạn và chất lượng công việc hoàn thành… Đó chính là các báo cáo về kết quả như “phiếu giao, nhận sản phẩm”, “Phiếu khoán”, “Hợp đồng giao khoán”, “Phiếu báo làm thêm giờ”, “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “bảng kê sản lượng  từng người”.

    Chứng từ hạch toán lao động phải do người lập (tổ trưởng) kí, cán bộ kiểm tra kỹ thuật xác nhận, được lãnh đạo duyệt y (quản đốc phân xưởng, trưởng bộ phận). Sau đó các chứng từ này được chuyển cho nhân viên hạch toán phân xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị, rồi chuyển về phòng lao động tiền lương xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lương, tính thưởng. Để tổng hợp kết quả lao động tại mỗi phân xưởng, bộ phận sản xuất, nhân viên hạch toán phân xưởng phải mở sổ tổng hợp do các tổ gửi đến, hàng ngày (hoặc định kỳ), nhân viên hạch toán phân xưởng ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên quan. Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao động để tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp.

    1.3.1 . Kế toán tổng hợp tiền lương:

    1. Chứng từ lao động

    Muốn tổ chức tốt kế toán tiền lương, BHXH chính xác thì phải hạch toán lao động chính xác là điều kiện để hạch toán tiền lương và bảo hiểm chính xác theo quy định hiện nay, chứng từ lao động tiền lương bao gồm:

    – Bảng chấm công

    – Bảng thanh toán lương

    – Phiếu nghỉ BHXH

    – Bảng thanh toán BHXH

    – Phiếu xác nhận sản phẩm và công việc đã hoàn thành

    – Phiếu báo làm thêm giờ

    1. Chứng từ kế toán

    Dựa vào chứng từ lao động nêu trên nhân viên hạch toán phân xưởng tổng hợp là làm báo cáo gửi lên phòng lao động tiền lương và phòng kế toán để tổng hợp và phân tích tình hình chung toàn doanh nghiệp, phòng kế toán dựa vào các tài liệu trên và áp dụng các hình thức tiền lương để làm bảng thanh toán lương và tính BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Căn cứ vào bảng thanh toán lương kế toán viết phiếu chi, chứng từ tài liệu về các khoản khấu trừ trích nộp.

    1. Thủ tục hạnh toán

    Từ bảng chấm công kế toán cộng sổ công làm việc trong tháng, phiếu báo làm thêm giờ, phiếu xác nhận sản phẩm, kế toán tiến hành trích lương cho các bộ phận trong doanh nghiệp. Trong bảng thanh toán lương phải phản ánh được nội dung các khoản thu nhập của người lao động được hưởng, các khoản khấu trừ BHXH, BHYT, và sau đó mới là số tiền còn lại của người lao động được lĩnh. Bảng thanh toán lương là cơ sở để kế toán làm thủ tục rút tiền thanh toán lương cho công nhân viên. Người nhận tiền lương phải ký tên vào bảng thanh toán lương.Theo quy định hiện nay, người lao động được lĩnh lương mỗi tháng 2 lần, lần đầu tạm ứng lương kỳ I, lần II nhận phần lương còn lại sau khi đã trừ đi các khoản khấu trừ vào lương theo quy định.

    Trường hợp ở một số doanh nghiệp có số công nhân nghỉ phép năm không đều đặn trong năm hoặc là doanh nghiệp sản xuất theo tính chất thời vụ thì kế toán phải dùng phương pháp trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất. Việc trích trước sẽ tiến hành đều đặn vào giá thành sản phẩm và coi như là một khoản chi phí phải trả.

    Cách tính như sau:

    Tổng số tiền lương nghỉ phép của

    Mức trích trước    CNSX theo kế hoạch năm                 Tiền lương thực tế

    tiền lương nghỉ =                                                        x  phải trả cho CNSX

    phép của CNSX   Tổng số tiền lương chính phải

    trả theo kế hoạch của CNSX năm

    Tỷ lệ trích trước tiền      Tổng số tiền lương nghỉ phép KH năm CNSX

    Lương nghỉ phép (%) =                                                                        x 100

    Tổng số tiền lương theo KH năm CNSX

    Mức  tiền lương nghỉ phép

    =

    Tiền lương thực tế

     

    phải trả

    x

    Tỷ lệ % trích tiền

    lương nghĩ phép

    • Hạch toán

    Khi trích trước tiền lương nghỉ phép CNSX sản phẩm

    Nợ TK622 (chi phí CN trực tiếp)

    Có TK335 (chi phí phải trả)

    Khi tính lương thực tế phải trả cho CNSX nghỉ phép

    Nợ TK335 chi phí phải trả

    Có TK334 phải trả công nhân viên

    Để phục vụ yêu cầu hạch toán thì tiền lương được chia ra làm 2 loại:

    • Tiền lương chính:

    Là tiền lương trả cho CNV trong thời gian CNV thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực)

    • Tiền lương phụ:

    Là tiền lương trả cho CNV trong thời gian CNV thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian CNV nghỉ được hưởng lương theo quy định của chế độ (nghỉ phép, nghỉ do ngừng sản xuất …)

    Việc phân chia tiền lương thành lương chính lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm. Tiền lương chính của công nhân sản xuất gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm và được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ của công nhân viên sản xuất không gắn liền với các loại sản phẩm nên được hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất sản phẩm.

    1. Tài khoản kế toán sử dụng hạch toán tiền lương và BHXH, BHYT, KPCĐ

    Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương kế toán sử dụng 2 tài khoản chủ yếu.

    – TK334- Phải trả công nhân viên: là tài khoản được dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương (tiền công), tiền thưởng, BHXH và các khoản khác thuộc về thu nhập của công nhân viên.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 334

    TK 334

    – Các khoản khấu trừ vào tiền công,              Tiền lương, tiền công và các lương của tiền lương của CNV                             khoản khác còn phải trả cho CNV chức

    – Tiền lương, tiền công và các khoản

    khác đã trả cho CNV

    – Kết chuyển tiền lương công nhân

    viên chức chưa lĩnh

    Dư nợ (nếu có): số trả thừa cho CNV    Dư có: Tiền lương, tiền công và

    chức                                                        khoản khác còn phải trả CNV chức

    • TK 338: “Phải trả và phải nộp khác”: Dùng để phản ánh các khoản phải trả và phải nộp cho cơ quan pháp luật, cho các tổ chức, đoàn thể xã hội, cho cấp trên về kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các khoản khấu trừ vào lương theo quyết định của toà án (tiền nuôi con khi li dị, nuôi con ngoài giá thú, án phí,…) giá trị tài sản thừa chờ xử lý, các khoản vay mượn tạm thời, nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn, các khoản thu hộ, giữ hộ…

    Kết cấu và nội dung phản ánh TK338

    TK 338

    – Các khoản đã nộp cho cơ quan         – Trích KPCĐ, BHXH, BHYT

    quả  lý                                                    theo tỷ lệ quy định

    – Các khoản đã chi về kinh phí công – Tổng số doanh thu nhận trước phát

    đoàn                                                       sinh trong kì

    – Xử lý giá trị tài sản thừa                    – Các khoản phải nộp, phải trả hay thu                                                         hộ

    – Kết chuyển doanh thu nhận trước      – Giá trị tài sản thừa chờ xử lý

    vào doanh thu bán hàng tương ứng

    từng kỳ

    – Các khoản đã trả đã nộp khác                     – Số đã nộp, đã trả lớn hơn số phải nộp,                                                                             phải trả được hoàn lại.

    Dư nợ (Nếu có):Số trả thừa, nộp thừa          Dư có: Số tiền còn phải trả, phải nộp Vượt chi chưa được thanh toán                          và  giá trị tài sản thừa chờ xử lý

     
       

    Tài khoản 338 chi tiết làm 6 khoản:

    3381 Tài sản thừa chờ giải quyết

    3382 Kinh phí công đoàn

    3383 Bảo hiểm xã hội

    3384 Bảo hiểm y tế

    3387 Doanh thu nhận trước

    3388 Phải nộp khác

    1. Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương, BHXH, KPCĐ

    1.1. SƠ ĐỒ TÓM TẮT TỔNG HỢP  KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG, BHXH, KPCĐ

    TK 333                      TK 334                                   TK 241

    Thuế thu nhập                 Tiền lương phải trả

    Công nhân phải chịu

    TK138                                                                      TK 622

    Khấu trừ các khoản                            335

    Phải thu            Trích trước tiền

    lương nghỉ phép

    TK 111, 112                                                            TK 627, 641, 642

    Thực tế đã trả

    Thanh toán lương

    Cho CNV

    TK 431

    Tính tiền thưởng

    cho CNV

    TK 338

    Tính BHXH trả           Trích BHXH

    trực tiếp cho              BHYT

    CNV                   KPCĐ

     

    Chương 2 : Thực trạng tổ chức kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH- Thương mại Hoàng My

    2.1 Đặc điểm chung của công ty.

    2.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của công ty

    – Tên công ty viết bằng tiếng Việt: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại Hoàng My.

    – Tên công ty viết tắt: Công ty TNHH THƯƠNG MẠI HOÀNG MY

    – Địa chỉ trụ sở chính: Số 56 Lý Tự Trọng, đường Ngô Thì Nhậm, phường Quang Trung, quận Hà Đông, Thành Phố Hà Nội

    Công ty TNHH Thương Mại hoàng My được thành lập ngày 12 tháng 03 năm 2007 giấy phép kinh doanh số 0104524382. Do ông Hoàng Văn Hạnh làm giám đốc. Các ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là:

    • Bán buôn nước hoa, hàng mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh.

    2   Bán lẻ nước hoa, mỹ phẩm và vật phẩm vệ sinh trong các cửa hàng chuyên doanh.

    3   Cắt tóc gội đầu: Cắt tóc, gội đầu, uốn, sấy, nhuộm tóc, duỗi thẳng, ép tóc

    và các dịch vụ làm tóc khác phục vụ cả nam và nữ: Cắt tỉa và cạo râu: Massage mặt, làm móng chân, móng tay, trang điểm…

    4   Bán buôn dao, kéo, lược, máy uốn tóc, máy sấy tóc và các dụng cụ phục vụ cho trang điểm và làm đẹp tóc.

    5  Bán lẻ dao, kéo, lược, máy uốn tóc, máy sấy tóc và các dụng cụ phục vụ cho trang điểm và làm đẹp tóc.

    6  Sản xuất các dụng cụ phục vụ cho làm đẹp(dao, kéo, …)

    2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty.

    2.1  Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty

    2.1.3. Chức năng

    – Giám đốc công ty

    Giám đốc là người điều hành cao nhất, chịu trách nhiệm hoàn toàn mọi hoạt động và hoạch định chiến lược và định hướng kinh doanh của công ty. Giám đốc là người quản lý và sử dụng số nhân viên được công ty tuyển dụng trên cơ sở bố trí phù hợp để nhằm phát huy tốt đội ngũ nhân viên.

    -Phòng kinh doanh

    Tổng hợp và phân tích các báo cáo kinh doanh, lập kế hoạch cung ứng vật liệu, tìm hiểu thị trường, đề ra hoạt động cho công ty, giúp ban giám đốc điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.

    -Phòng tổ chức hành chính

    Theo dõi ngày công thực tế của các bộ phận khai thác và sản xuất để kịp thời phân công hợp lý lực lượng lao động, điều động nhân lực sao cho hợp lý tránh những lãng phí không cần thiết.

    -Phòng kế toán

    Ghi chép, tính toán, phản ánh số hịện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh và sử dụng kinh phí của công ty. Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động tài chính.

    -Phòng sản xuất

    Tổ chức quản lý và lập kế hoạch thay đổi thiết bị, thay đổi công nghệ, thay đổi máy móc( máy uốn, sấy, duỗi…) tại công ty. Tiền đề ra chất lượng máy móc phù hợp với thị trường

    2.1.4. Tổ chức công tác kế toán của công ty

    2.2 Sơ đồ bộ máy kế toán

    Chức năng và nhiệm vụ của phòng kế toán:

    +  Tham mưu cho lãnh đạo vế công tác nghiệp vụ tài chính kế toán và quản lý các nguồn vốn của công ty. Đồng thời lập và quản lý các thủ tục chứng từ về công tác tài chính kế toán theo đúng kế toán của nhà nước.

    + Tổ chức ghi chép tính toán  đầy đủ và phản ánh chính xác, kịp thời toàn bộ quá trình  kinh doanh. Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch chi tiêu tài chính để trình Giám đốc phê duyệt, triển khai và thực hiện.

    + Theo dõi và sử dụng vốn có hiệu quả. Quản lý các quỹ  tiền lương, quỹ khen thưởng, quỷ dự phòng. Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, kiểm kê các tài sản của công ty và lập báo cáo quyết toán.

    Kế toán trưởng

    +  Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc

    + Bảo đảm công tác kế toán thực hiện theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước và quy định của công ty.

    + Đồng thời cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin kế toán cho ban lãnh đạo có liên quan,..

    – Kế toán tổng hợp Theo dõi tổng hợp số liệu, báo cáo thu hồi vốn công ty, cập nhật công tác nhật ký chung, báo cáo quyết toán của công ty.

    – Kế toán tiền lương theo dõi các nghiệp vụ liên quan đến lương, thưởng, các khoản trích theo lương, căn cứ bảng chấm công, bảng thanh toán lương và trích lập các quỹ.

    – Kế toán công nợ làm nhiệm vụ kiểm tra chứng từ thủ tục liên quan đến tạm ứng, công nợ, vào sổ chi tiết, và theo dõi, kê khai các khoản thuế phải nộp, như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế lợi tức.

    2.1.5. Hình thức tổ chức kế toán Sổ sách kế toán sử dụng tại công ty.

    –  Công ty áp dụng hình thức kế toán: nhật ký chứng từ, hình thức tổ chức kế toán tập trung. Do đó, tất cả chứng từ về kế toán được tập trung về phòng kế toán

    doanh nghiệp. Phòng kế toán có nhiệm vụ tổng hợp chứng từ, ghi sổ kế toán, thực hiện kế toán chi tiết, tổng hợp, lập báo cáo tài chính và lưu giữ chứng từ.

    – Hàng ngày nhân viên phụ trách sẽ căn cứ vào chứng từ kế toán đã được kiểm tra lấy số liệu ghi trực tiếp vào các nhật ký chứng từ hoặc bảng kê, sổ chi tiết có liên quan.

    – Cuối tháng khóa sổ, tìm tổng số tiền của các nghiệp vụ phát sinh trong tháng của từng tài khoản sổ cái từ đó để lập ra bảng cân đối tài khoản.

    – Công ty tiến hành phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh vào thời điểm cuối năm sau khi lập bao cáo tài chính.

    Chứng từ kế toán

     

    Và các bảng phân bổ

    2.3  Sơ đồ và trình tự luân chuyển chứng từ

     
       

    Ghi chú:

    Theo dõi hàng tháng

    Theo dõi hàng ngày

    Đối chiếu

    2.2. Đặc điểm và tổ chức hạch toán lao động ở công ty.

    2.2.1. Phương pháp tính lương ở công ty

    – Những cơ sở pháp lí của việc quản lí tiền lương trong doanh nghiệp:

    – Quy định của nhà nước về chế độ trả lương

    Năm 1960 lần đầu tiên nhà nước ta ban hành chế độ tiền lương áp dụng cho công chức, viên chức, công nhân … thuộc các lĩnh vực của doanh nghiệp hoạt động khác nhau. Nét nổi bật trong chế độ tiền lương này là nó mang tính hiện vật sâu sắc, ổn định và quy định rất chi tiết, cụ thể:

    Năm 1985 với nghị định 235 HĐBT ngày 18/04/1985 đã ban hành một chế độ tiền lương mới thay thế cho chế độ tiền lương năm 1960. Ưu điểm của chế độ tiền lương này là đi từ nhu cầu tối thiểu để tính mức lương tối thiểu song nó vẫn chưa hết yếu tố  bao cấp mang tính cứng nhắc và thụ động.

    Ngày 23/05/1993 chính phủ ban hành các nghị định NĐ25/CP, NĐ26/CP quy  định tạm thời chế độ tiền lương mới đối với các doanh nghiệp với mức tiền lương tối thiểu là 144.000 đ/người/tháng.

    Những văn bản pháp lí trên đây đều xây dựng một chế độ trả lương cho người lao động, đó là chế độ trả lương cấp bậc.

    Tiền lương cấp bậc là  tiền lương áp dụng cho công nhân căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của công nhân.

    Hệ số tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà doanh nghiệp dựa vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.

    Chế độ tiền lương cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các ngành, các nghề một cách hợp lí, hạn chế được tính chất bình quân trong việc trả lương, đồng thời còn có tác dụng bố trí công việc thích hợp với trình độ lành nghề của công nhân.

    Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các thang lương, mức lương, hiện hành của Nhà nước.

    – Mức lương: là lượng tiền trả cho người lao động cho một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng…) phù hợp với các cấp bậc trong thang lương. Thông thường Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc I hoặc mức lương tối thiểu với hệ số lương của cấp bậc tương ứng.

    – Thang lương: là biểu hiện xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các công nhân cùng nghề hoặc nhiều nghề giống nhau theo trình tự và theo cấp bậc của họ. Mỗi thang lương đều có hệ số cấp bậc và tỷ lệ tiền lương ở các cấp bậc khác nhau so với tiền lương tối thiểu.

    Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó phải biết gì về mặt kỹ thuật và phải làm được gì về mặt thực hành.

    Giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có mối quan hệ chặt chẽ. Công nhân hoàn thành tốt ở công việc nào thì sẽ được xếp vào cấp bậc đó.

    Cũng theo các văn bản nàý nghĩa cán bộ quản lý trong doanh nghiệp được thực hiện chế độ tiền lương theo chức vụ. Chế độ tiền lương chức vụ được thể hiện thông qua các bảng lương chức vụ do Nhà nước quy định.

    Bảng lương chức vụ gồm có nhóm chức vụ khác nhau, bậc lương, hệ số lương và mức lương cơ bản.

    Phương pháp tính lương:

    Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chương 2 điều 56 có ghi: “Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút thì chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế”.

    Theo quy định tại nghị định 06/CP ngày 21/01/1997 áp dụng từ ngày 01/01/97 mức lương tối thiểu chung là 144.000 đ/ tháng/ người.

    Theo nghị định số 175/1999 ND-CP của Chính phủ ngày 15-12/1999 được tính bắt đầu từ ngày 1/1/2000 mức lương tối thiểu chung là 180.000 đ/ tháng/ người đối với cơ quan hành chính sự nghiệp, ngày 27/03/2000 ban hành nghị định số 10/2000, ND-CP quy định tiền lương tối thiểu cho các doanh nghiệp.

    Tuỳ theo vùng ngành mỗi doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương của mình sao cho phù hợp. Nhà nước cho phép tính hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá 1,5n lần mức lương tối thiểu chung.

    Hệ số điều chỉnh được tính theo công thức:

    Kđc = K1 + K2

    Trong đó:             Kđc : Hệ số điều chỉnh tăng thêm

    K1  :  Hệ số điều chỉnh theo vùng (có 3 mức 0,3; 0,2; 0,1)

    K2  : Hệ số điều chỉnh theo ngành (có 3 nhóm 1,2; 1,0; 0,8)

    Sau khi có hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa (Kđc = K1 + K2), doanh nghiệp được phép lựa chọn các hệ số điều chỉnh tăng thêm trong khung của mình để tính đơn giá phù hợp với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mà giới hạn dưới là mức lương tối thiểu chung do chính phủ quy định (tại thời điểm thực hiện từ ngày 01/01/1997 là 144.000 đ/ tháng) Theo nghị định Nhà Nước quy dịnh trả lương cho công nhân viên chức nhà nươc tháng 5 năm 2010 là 730.000 đ/ tháng

    TL minđc = TLmin  x (1 + Kđc)

    Trong đó:

    TLmin đc : tiền lương tối thiểu điều chỉnh tối đa doanh nghiệp được phép áp dụng;

    TLmin    : là mức lương tối thiểu chung do chính phủ quy định , cũng là giới hạn dưới của khung lương tối thiểu;

    Kđc       : là hệ số điều chỉnh tăng thêm của doanh nghiệp

    Như vậy, khung lương tối thiểu của doanh nghiệp là TLmin đến TLmin đc doanh nghiệp có thể chọn bất cứ mức lương tối thiểu nào nằm trong khung này, nếu đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định sau:

    + Phải là doanh nghiệp có lợi nhuận. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước mà không có lợi nhuận hoặc lỗ thì phải phấn đấu có lợi nhuận hoặc giảm lỗ;

    + Không làm giảm các khoản nộp ngân sách Nhà nước so với năm trước liền kề, trừ trường hợp Nhà nước có chính sách điều chỉnh giá ở đầu vào, giảm thuế hoặc giảm các khoản nộp ngân sách theo quy định;

    + Không làm giảm lợi nhuận thực hiện so với năm trước liền kề, trừ trường hợp Nhà nước có chính sách điều chỉnh tăng giá, tăng thuế, tăng các khoản nộp ngân sách ở đầu vào. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chính sách kinh tế-xã hội thì phải giảm lỗ.

    2.2.2. Các hình thức trả lương:

    – Hình thức trả lương theo thời gian

    Điều 58 Bộ luật lao động quy định các hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và bậc lương của mỗi người.

    + Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động.

    + Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân (x) với 12 tháng và chia (:) cho 52 tuần.

    + Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho một ngày làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho 26

    + Tiền lương giờ: Là tiền lương trả cho một giờ làm việc và được xác định bằng cách lấy tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo quy định của luật lao động (không quá 8 giờ/ ngày)

    Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lương theo thời gian (mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất) nên để khắc phục phần nào hạn chế đó, trả lương theo thời gian có thể kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc.

    • Hình thức trả lương theo sản phẩm

    Tiền lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau như trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế, trả theo sản phẩm gián tiếp, trả theo sản phẩm có thưởng, theo sản phẩm luỹ tiến.

    2.2.3. Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp:

    Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành phần quỹ lương bao gồm nhiều khoản như lương thời gian (tháng, ngày, giờ), lương sản phẩm, phụ cấp (cấp bậc, khu vực, chức vụ, đắt đỏ…), tiền thưởng trong sản xuất. Quỹ tiền lương bao gồm nhiều loại tuy nhiên về mặt hạch toán có thể chia thành tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp trong đó chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ.

    • Xây dựng quỹ lương:

    Khi giao công việc cho các bộ phận triển khai kế hoạch của công ty, cho từng bộ phận được tính theo công thức.

    Quỹ lương kế hoạch từng bộ phận đơn vị được hưởng = Quỹ lương kế hoạch Quỹ lương kế hoạch thuê ngoài

    Quỹ lương

    kế hoạch     =  quỹ lương kế hoạch quá trình i

    của bộ phận

    n: số công trình của đội

    Tỷ lệ tiền lương theo kế hoạch hoạt động kinh doanh = Quỹ tiền lương kế hoạch hoạt động kinh doanh của công ty
    Giá trị sản lượng của công ty

    Tỷ lệ tiền lương trên khi được giám đốc phê duyệt sẽ là căn cứ  để xác định quỹ lương thực hiện của các bộ phận.

    –  Xây dựng đơn giá tiền lương.

    Sau khi xác định đầy đủ các thông tin trên, đơn giá tiền lương của Công ty được xây dựng theo phương pháp đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm. Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh  là tổng sản phẩm đơn giá.

    Công thức để xác định đơn giá.

    Vđg  = Vgiờ x TSP

    Trong đó:

    – Vđg: Đơn giá tiền lương (đồng/đơn vị)

    – V­giờ: Tiền lương giờ trên cơ sở cấp bậc công việc bình quân, phụ cấp lương bình quân và mức lương tối thiểu của doanh nghiệp.

    – TSp : Mức lao động của đơn vị sản phẩm hoặc sản phẩm quy đổi (tính bằng  số giờ – người).

    2.2.4. Phương pháp trả lương:

    Thực hiện Nghị định 28/CP ngày 28/03/1997 của Chính phủ và Thông tư số 13/LĐTBXH – thị trường ngày 10/04/1997 của Bộ Lao động thương binh và Xã hội về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp nhà nước, đồng thời căn cứ vào quy chế khoán sản phẩm và trả lương, thu nhập của Tổng Công ty ban hành quyết định số 338/TCCB – LĐ ngày 04/05/1998, để thực hiện tốt các công tác chi,  trả lương tại doanh nghiệp, nhằm khuyến khích người lai động tăng năng xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập chính đáng, đảm bảo thực hiện công bằng trong phân phối tiền lương, góp phần tăng cường công tác quản lý lao động – tiền lương và quản lý kinh doanh  của doanh nghiệp, công ty TNHH TM Hoàng My quy định công tác chi, trả lương phải đảm bảo những yêu cầu sau:

    – Để đảm bảo công bằng trong việc trả lương, phân phối thu nhập phải căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động của mỗi bộ phận công tác và mỗi thành viên trong đơn vị. Không phân phối bình quân, tiền lương phải tương ứng với giá trị số lượng làm ra đạt tiêu chuẩn.

    – Đối với nhân viên gián tiếp, bố trí lao động phải phù hợp với năng lực, trình độ và yêu cầu trách nhiệm của mỗi chức danh. Việc  trả lương phải dựa trên đánh giá hiệu quả công tác.

    – Khuyến khích cán bộ công nhân viên có trình độ, năng lực chuyên môn cao, công nhân tay nghề giỏi, kiêm nhiệm việc nhưng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

    -Trả lương và phân phối thu nhập phải đảm bảo công bằng, công khai. Người lao động trực tiếp ký vào bảng nhận lương.

    –  Phương pháp trả lương tại công ty TNHH Hoàng My:

    Thực hiện Nghị định CP ngày 31/05/2010 của Chính phủ và căn cứ vào thực tiễn tình hình sản xuất kinh doanh, công ty TNHH TM  Hoàng My hiện đang sử dụng chế độ tiền lương theo thời gian và chế độ lương khoán sản phẩm  để trả cán bộ công nhân.

    Chế độ trả lương khoán sản phẩm áp dụng cho bộ phận trực tiếp sản xuất.

    – Đối với bộ phận gián tiếp:

    +  Tiền lương hàng tháng của bộ phận này được trả theo hệ số căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Mức tiền lương được hưởng của mỗi người phụ thuộc vào tiền lương cơ bản và số ngày làm việc thực tế trong tháng.

         Tiền lương cơ bản = 730.000 X Hệ số lương cấp bậc chức vụ

    Hệ số mức lương cấp bậc, chức vụ được Nhà nước quy định.

    Như vậy tiền lương thực tế của cán bộ công nhân viên quản lý được xác định như sau:

          (730.000 x HS CB, CV)

    Trong đó:

            NCCD

    TLtháng  = KCD                                                                      x (NC – NCBH(nếu có )) + LBH ( nếu có)

    + TLCB:     Tiền lương cơ bản.

    + NC:      Ngày công chế độ  ( 26 ngày )

    + NCTT:Ngày công nghỉ hưởng quỹ BHXH trong tháng ( nếu có)

    + KCD   ; chức danh

    Theo quy định riêng của công ty, mức lương trên sẽ được nhận thêm với một số hệ số, hệ số này tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, tuỳ thuộc vào trách nhiệm và mức độ đóng góp của từng đối tượng nhận lương:

    Ngày làm việc thực tế của các đối tượng nhận lương được theo  dõi qua bảng chấm           công. Bảng chấm công được phòng TCHC xác nhận. Sau đó sẽ được Giám đốc duyệt lấy đó làm căn cứ để tính lương.

    + Chứng từ kế toán sử dụng

                                      2.4. BẢNG CHẤM CÔNG

    Mẫu số 01            Tháng 10 năm 2010

    TT Họ và tên Ngày trong tháng Q. công  
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 24 25 .. 31 TG ô    công
    1 Nguyễn Mạnh Cường x x X x X     X X x X   ô ô   X 20 22  
    2 Nguyễn Thế Hinh 0 x X x X     X X 0 X   x 8   X 22 22  
    3 Nguyễn Ngọc Bích x p P p X     X X x X   x x   X 22 22  
    4 Bạch Huy Bồng                                 22 22  
    5 Đỗ Khắc Y                                 22 22  
    6 Nguyễn Văn Bằng                                 22 22  

    Ký hiệu:

    Thời gian ngừng nghỉ việc để vệ sinh:                  8

    Lương sản phẩm:                                        K

    Ốm, điều dưỡng:                                         Ô

    Con ốm:                                                      CÔ

    Thai sản:                                                     TS

    Tai nạn                                                       T

    Lương thời gian:                                         t

    Nghỉ phép:                                                  P

    Hội nghị, học tập                                        H

    Nghỉ bù:                                                      NB

    Nghỉ không lương                                       RO

    Ngừng việc:                                                 N

    Lao động:

    Việc chia tiền lương khối gián tiếp chưa gắn với việc hoàn thành kế hoạch sản xuất của Công ty, chưa đánh giá được chất lượng và số lượng công tác của từng cán bộ công nhân viên đã tiêu hao trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, phần tiền lương mà người công nhân được hưởng không  gắn liền với kết quả lao động mà họ tạo ra. Chính vì lẽ đó, nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không  mang lại cho người công nhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không  tạo điều kiện thuận lợi để uốn nắn thời những thái độ sai lệch và không  khuyến khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian. Để việc trả lương cho khối gián tiếp của Công ty đảm bảo công bằng hợp lý Công ty phải gắn việc trả lương cho khối gián tiếp với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất của Công ty và xác định  chất lượng công tác của từng CBCNV trong tháng.

    • Đối với công nhân trực tiếp sản xuất:

    Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất phụ thuộc vào khối lượng công việc hoàn thành của từng tổ, nhóm. Hàng tháng đơn vị tiến hành nghiệm thu, tính toán giá trị thực hiện và mức tiền lương tương ứng (trường hợp công việc làm trong nhiều tháng thì hàng tháng Công ty sẽ tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng).

    Khi áp dụng chế độ lương khoán  theo nhóm này, Công ty phải làm công tác thống kê và định mức lao động cho từng phần việc rồi tổng hợp lại thành công việc , thành đơn giá cho toàn bộ công việc.

    Tiền lương trả cho công nhân được ghi trong hợp đồng giao nhận khoán  theo yêu cầu hoàn thành công việc (về thời gian, số lượng, chất lượng….). Tiền lương của người lao động phải được thể hiện đầy đủ trong sổ lương theo mẫu thống nhất của Bộ Lao động Thương binh và  Xã hội ban hành.

    Việc thanh toán lương hàng tháng phải có:

    + Bảng chấm công.

    + Sổ giao việc, phiếu điều động.

    + Nhật trình xe, máy hoạt động.

    + Khoán sản phẩm

    Bảng chấm công, tính lương của tổ, đội phải có sự xác nhận của đội trưởng, của thống kê và kế toán đội ngũ về Phòng Tổ chức hành chính, phòng  tài vụ kiểm tra, Giám đốc duyệt trước khi cấp, phát lương cho công nhân.

    Đối với công nhân trực tiếp sản xuất:

    Phương pháp 1: Khoán sản phẩm đến người công nhân như tổ sản xuất

    LKSP của một người  = Số lượng sản phẩm  hoàn thành x đơn giá TL /1SP

    Nhận xét: Người công nhân đã quan tâm đến khối lượng, chất lượng  sản phẩm có động lực thúc đầy hoàn thành định mức lao động.

    Cách trả lương trên Công ty chưa khuyến khích công nhân làm tăng khối lượng sản phẩm do đơn giá sản phẩm chưa xét luỹ tiến, chưa tăng theo khối lượng sản phẩm vượt mức.

    Phương pháp 2:  Áp  dụng cho các công việc có yêu cầu kỹ thuật:

    Lương khoán của một người           =       Tổng lương khoán

     

    của tổ

         X Số xuất phân phối của mỗi người
    Tổng số xuất phân phối của tổ
    Lương khoán của tổ = Đơn giá TL/ SP      x      khối lượng SP hoàn thành
    Số xuất phân phối của mỗi người   =    Số công làm khoán của mỗi người X Hệ số chênh lệch   lương của mỗi người  
    Hệ số chênh lệch lương   =  

    Hệ số lương cấp bậc của từng người

     
    Hệ số cấp bậc lương của người thấp nhất trong tổ  
                   

    Ví dụ:         Tổng số lương khoán của các tổ trong tháng theo mức độ hoàn thành một công việc được xác định = 3.500.000 đồng. Trong tổ có 5 công nhân: 2 công nhân bậc V, 2 công nhân bậc IV và một công nhân bậc III  ( căn cứ vào bảng hệ số lương ta tính được bảng lương của tổ như sau)

    Bảng tính và thanh toán lương cho từng người được thể hiện ở biểu

    2.5. BẢNG CHIA LƯƠNG KHOÁN

    TT Công nhân Số công Hệ số lương Hệ số chênh lệch lương Số xuất phân phối Thành tiền Ký nhận
    0 1 2 3 4 5=4×2 6
    1 A 28 2,33 1,35 37,8 725.926
    2 B 25 2,33 1,35 33,75 648.148
    3 C 29 1,92 1,1 31,9 751.851
    4 D 26 1,92 1,1 28,6 674.075
    5 E 27 1,72 1,0 27 700.000
      Cộng 135     159,05 3.500.000  

    Việc tính lương cho công nhân trực tiếp sản xuất theo nhóm , tổ , đội thì chỉ căn cứ vào số lượng thời gian lao động mà chưa tính đến chất lượng công tác của từng người trong tháng để đảm bảo tính công bằng trong việc tính lương thì công ty phải xây dựng hệ số lương cấp bậc công việc và bằng xác định chất lượng công tác của từng cá nhân.

    Phương pháp3: Áp dụng  cho những công việc không yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Như tổ sản xuất

    Lương khoán của một người = Tổng lương khoán của tổ  x Số công của từng người
    Tổng số công của tổ

    Chế độ  trả lương khoán theo nhóm thường được áp dụng đối với những công việc có tính chất tổng hợp, gồm nhiều khâu liên kết, nếu chia thành nhiều chi tiết, bộ phận riêng rẽ thì không có lợi cho việc đảm bảo chất lượng  sản phẩm. Tiền  được trả dựa vào kết quả lao động sản xuất của cả tổ . Trả lương theo hình thức này, sẽ là động lực kích thích các cá nhân  quan tâm đến kết quả cuối cùng của tập thể, nhóm, hơn nữa còn đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động. Chưa quan tâm đến chất lượng lao động .

    Ngoài ra, đối với những công việc mà Công ty không thể tiến hành xây dựng định mức lao động một cách chặt chẽ, chính xác hoặc những công việc vào khối lượng hoàn thành định mức khoán .Thì Công ty áp dụng  chế độ tiền lương theo thời gian (công nhật) Còn ở hình thức trả lương khoán theo nhóm, trường hợp có một công nhân nào đó trong nhóm có thái độ và tinh thần làm việc không nghiêm túc, không tích cực, trông chờ, ỷ vào người khác… mà khi công việc của cả nhóm hoàn thành thì anh ta vẫn nhận được mức lương theo khối lượng  hoàn thành.

    Do vậy để tránh những tình trạng nêu trên, Công ty phải tìm ra những biện pháp trả lương thật thích hợp, đồng thời phải thường xuyên tăng cường các mặt quản lý, tăng cường công tác kiểm tra đối với tất cả các công việc kể  từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Mặt khác, khi giao khoán cần phải làm tốt  công tác thống kê và định mức lao động để cho việc tính toán đơn giá  khoán được chính xác, để không gây thiệt thòi cho người nhận khoán cũng như người giao khoán. Đối với bộ phận gián tiếp, việc bố trí lao động phải phù hợp  với năng lực, trình độ và yêu cầu nhiệm vụ của mỗi chức danh để việc trả lương cho bộ phận này được công bằng và chính xác hơn. Tốt hơn cả việc trả lương nên dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả công tác của từng người lao động, từng bộ phận.

    Tiền lương theo

     

    Công nhật

    =   Tiền lương

     

    Một ngày công

    X Ngày công thực tế
    Tiền lương một ngày công = HSCT X TLCB
    NC

    Trong đó:

    – HSCT:        Hệ số mức lương do công ty quy định.

    – TLCB:        Tiền lương cơ bản.

    -NC:        Ngày công chế độ.

    Ví dụ:         Một thợ bậc VII làm công tác duy tu, bảo dưỡng máy móc, thiết bị cho một tổ của Công ty.

    = 2,0 x  730.000  x  3,45  = 193.730 đồng / ngày

    26

    Trong tháng, người công nhân đó làm việc 20 ngày:

    [Tiền lương tháng]  =   193.730 x 20 =3.874.600 đồng.

    + Kế toán chi tiết tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty.

    1. Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán:

    Tài khoản 334 phải trả cho công nhân viên đối ứng liên quan đến nhiều tài khoản khác như TK 138-phải thu khác, TK338-Phải trả phải nộp khác…

    Phương pháp hạch toán:

    Cuối tháng 10/2010 căn cứ vào bảng phân bổ lương  kế toán tập hợp toàn bộ tiền lương cán bộ công nhân viên trong công ty vào chi phí nhân công trực tiếp (TK622) trên NKCT số 7 theo định khoản:

    Nợ TK 622           566.856.100

    Có TK334  529.911.600

    Có TK338  36.944.500

    Hàng tháng công ty tiến hành thanh toán tiền tạm ứng cho cán bộ công nhân viên khoản tạm ứng này được hạch toán thẳng vào TK111 không qua TK 141. Tổng hợp lương cho cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Nợ TK334            529.911.600

    Có TK111  518.194.916

    Có TK138  50.000

    Có TK338  11.666.684

    Khi trích nộp BHXH, BHYT , KPCĐ cho cơ quan chuyên môn

    Nợ TK338            48.611.184

    Có TK111  48.611.184

    * Thủ tục nộp BHXH, BHYT, KPCĐ.

    BHXH: Hàng tháng công ty nộp BHXH cho cơ quan BHXH Hai Bà Trưng. Đồng thời làm thủ tục thanh toán BHXH cho công nhân viên trong tháng gửi lên chứng từ hợp lệ để cấp tiền thanh toán BHXH cho công nhân viên của công ty. Sau khi tổng hợp tất cả các phiếu nghỉ hưởng BHXH của công nhân viên trong công ty kế toán lập bảng thanh toán gửi lên BHXH Hai Bà Trưng như sau:

    Đơn vị: Công ty TNHH TM HOÀNG MY

    Mẫu số 04-LDLT

    2.6. BẢNG THANH TOÁN BHXH

    Tháng 10/2010

    Nợ TK 334

    Có TK 111

    STT

    Họ và tên

    Nghỉ ốm Nghỉ con ốm Nghỉ tai nạn Nghỉ đẻ Tổng số tiền Kí nhận
    SN ST SN ST SN ST SN ST
    1

     

    2

    3

    4

    5

    .

    .

    .

    Cao Thị Bích Nguyễn Văn Anh

     

    Nguyễn Hoàng Hà

    Đỗ Văn Trung

    TrầnLan Hương

    Lưu Văn Quang

    5

     

    2

    4

    6

    59.700

     

    18.100

    41.300

    73.000

    1

    10.300

    3

    27.800

        59.700

     

    18.100

    41.300

    27.800

    10.300

    73.000

     
      Cộng                 28.685.000  

    Từ bảng thanh toán BHXH tháng 10/2010 kế toán lập phiếu chi tiền BHXH trả thay lương cho toàn công ty.

    PHIẾU CHI SỐ 38

    Ngày 31/10/2010                    Mẫu số 02-Tti

    Nợ TK334                                                          QĐ số 1141-TCKD/CĐH

    Có TK111                                             Ngày 1-1-95 của Bộ tài chính

    Họ và tên: Nguyễn Thị Phồn

    Địa chỉ: Nam Định

    Lí do: Chi BHXH cho công ty

    Số tiền: 28.685.000 đồng

    Bằng chữ: Hai tám triệu sáu trăm tám năm nghìn đồng chẵn

    Đã nhận đủ số tiền: 28.685.000 đồng

    Kèm theo một tập chứng từ gốc.

    Ngày 31 tháng 10 năm 2010

       Thủ trưởng

     

    đơn vị

    đã kí, đóng dấu

    Kế toán trưởng

     

    đã kí, đóng dấu

    Kế toán

     

    lập phiếu

    đã kí

    Thủ quỹ

     

    đã kí

    Người

     

    nhận tiền

    đã kí

    + Các nghiệp vụ hạch toán

    NV1: Cuối tháng căn cứ vào bảng tổng hợp và thanh toán lương, BHXH, ghi sổ phải trả công nhân viên về BHXH trả thay lương theo định khoản.

    Nợ TK338 (3383)                    28.685.000 đồng

    Có TK334            28.685.000 đồng

    NV2: Căn cứ vào bảng thanh toán BHXH và phiếu  chi tiền mặt số 38 của công ty kế toán ghi:

    Nợ TK334                     28.685.000

    Có TK111            28.685.000

    NV3: Căn cứ uỷ nhiệm chi số 36 của cơ quan BHXH Hai Bà Trưng về việc cấp kinh phí BHXH kế toán ghi:

    Nợ TK112                     28.685.000

    Có TK338            28.685.000

    Bảo hiểm y tế: Công ty mua thẻ BHYT năm cho công nhân viên theo lương cấp bậc, sau đó đến cuối tháng khấu trừ và lương và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.

    2.2.5.  Sổ kế toán tổng  hợp:

    Sổ kế toán tổng hợp và các khoản trích theo lương, BHXH trả thay lương công ty đang sử dụng gồm:

    * Nhật ký chứng từ số 1

    + Phương pháp ghi chép: là sổ ghi chép các nghiệp vụ phát sinh bên có của TK111 đối ứng với nợ các TK khác, cộng có TK111.

    + Cơ sở ghi NKCT số 1 là các báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ gốc có liên quan, cuối tháng lấy tổng cộng có TK111 để ghi sổ cái.

    2.7. Mẫu: Nhật ký chứng từ số 1

    Ghi có TK111-Tiền mặt

    Tháng 10/2010

    TT Chứng từ Diễn giải Ghi có TK111

     

    Nợ các TK

    Cộng có TK111
    Số Ngày TK334 TK…
    1

     

    2

    3

     

    22/3

     

    8/4

    8/4

    Chi tạm ứng lương kì I

     

    Chi thanh toán lương kì II

    Chi BHXH cho toàn công ty

    100.000.000

     

    429.911.600

    28.685.000

        100.000.000 429.911.600

     

    28.685.000

          Cộng 558.596.600     558.596.600
                   

    * Nhật ký chứng từ số 2.

    + Phương pháp ghi: NKCT số 2 dùng để phản ánh số phát sinh bên có TK112 đối ứng nợ các TK liên quan khác. Khi nhận được chứng từ gốc kèm theo với báo nợ của ngân hàng, kế toán ghi vào NKCT số 2. Cuối tháng cộng khoá sổ NKCT số 2 xác định tổng số phát sinh có TK112 đối ứng với nợ các TK liên quan khác, tổng số TK liên quan khác, tổng số TK112 để ghi sổ cái.

    + Mẫu: công ty TNHH TM HOÀNG MY

    2.8. Nhật ký chứng từ số 2

    Ghi có TK112-TGNH

    Tháng 10/2010

    Thị trường Chứng từ Diễn giải Ghi có TK111 nợ các TK… Cộng có TK112
    Số Ngày TK338 TK..  
    1

     

    2

    3

        Công ty nộp BHXH cho cơ quan quản lý (17%)

     

    Công ty nộp BHXH cho cơ quan quản lý cấp trên (2%)

    Công ty nộp KPCĐ cho CĐ ngành (1%)

    28.685.000

     

    4.154.500

    4.105.000

        28.685.000

     

    4.154.500

    4.105.000

          Cộng       36.944.500

    2.7. Nhật ký chứng từ số 7

    Nhật ký chứng từ số 7

    Tháng 10/2010

    STT Ghi có các TK

     

    Ghi nợ các TK

    TK334 TK388 Tổng cộng
    1 TK622 529.911.600 36.944.500 566.856.100
     

    Cộng

    529.911.600 36.944.500 566.856.100

    * Sổ cái

    – Khi đã kiểm tra đối chiếu trên các NKCT thì vào sổ cái các TK 334, TK338

    – Ta có mẫu sổ cái TK334, TK338 tháng 10/2010 như sau:

    2.10.SỔ CÁI

    TK334

    Số dư đầu năm
    Nợ
       
    Ghi có các TK khác Tháng 08 Tháng 09 Tháng 10 Cộng
    TK111 từ NKCT số 1     100.000.000  
          429.911.600  
          28.685.000  
    Cộng số phát sinh nợ     558.596.600  
    Cộng số phát sinh có     558.596.600  
    Số dư cuối tháng nợ        
    Số dư cuối tháng có        

    2.11. SỔ CÁI

    TK338

    Số dư đầu năm
    Nợ
       
    Ghi có các TK đối ứng nợ với TK338 Tháng 08 Tháng

     

    09

    Tháng 12 Cộng
    TK112 từ NKCT số 2     28.685.000  
          4.154.500  
          4.105.000  
    TK334 từ NKCT số 7     529.911.600  
    Cộng số phát sinh nợ        
    Cộng số phát sinh có        
    Số dư cuối tháng nợ        
    Số dư cuối tháng có        

    Tóm lại:

    Qua thực tế tìm hiểu tại công ty TNHH TM HOÀNG MY em nhận thấy việc ghi chép hạch toán trên các chứng từ sổ sách rất rõ ràng dễ hiểu mà điều đó là sự cần thiết cho công tác quản lý doanh nghiệp, giúp cho việc kiểm tra đối chiếu trên các chứng từ sổ sách được thuận lợi nhanh chóng. Mà đặc biệt hơn trong công tác kế toán tiền lương tại công ty việc phản ánh trung thực, chính xác đã giúp cho ban lãnh đạo công ty quản lý tốt về lao động và thu nhập của công nhân viên để duy trì sự tồn tại phát triển của công ty.

    2.2.6  Sơ đồ luân chuyển chứng từ về công tác tiền lương của công ty TNHH Thương mại Hoàng My

    2.12.  Sơ đồ luân chuyển chứng từ về công tác tiền lương của công ty TNHH Thương mại Hoàng My

     

    Quá trình luân chuyển diễn ra như sau:

    Bắt đầu từ bảng chấm công, bảng phân bổ tiền lương BHXH, BHYT, KPCĐ… Sau đó vào sổ theo dõi TK tiền lương và các nhật ký chứng từ liên quan. Từ các chứng từ này có số liệu vào sổ các TK 334 hàng tháng số này đối chiếu với bảng tổng hợp chi tiết tiền lương, BHXH…

    Từ các TK tiền lương vào bảng cân đối tài khoản bảng cân đối này cũng đối chiếu số liệu với bảng tổng hợp chi tiết.

    Từ bảng cân đối và bảng tổng hợp làm căn cứ để vào báo cáo kế toán.

    Quá trình luân chuyển diễn ra rất chặt chẽ với các số liệu được hạch toán chính xác và hợp lý. Các sổ sách này có liên quan chặt chẽ với nhau. Công ty áp dụng hình thức nhật ký chứng từ hợp lý vì nó đảm bảo được tính chính xác và vào sổ sau một cách gọn nhẹ và đúng quy định.

    Chương 3 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH  Thương mại Hoàng My.

    3.1. Đánh giá khái quát công tác quản lý và tổ chức hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH- Thương mại Hoàng My.

    3.1.1.Ưu điểm

    Công ty TNHH Thương mại Hoàng My áp dụng nhiều chế độ trả lương khác nhau và các khoản phụ cấp , khen thưởng gắn với công việc một cách  phù hợp đã khuyến khích được đội ngũ cán bộ công nhân viên hăng say hơn trong công tác   -Việc chia lương khoán sản phẩm đã làm cho các công nhân viên quan tâm đến khối lượng, chất lượng  sản phẩm có động lực thúc đầy hoàn thành định mức lao động

    3.1.2. Nhược điểm.

    Mặc dù công ty đã có  nhiều chế độ trả lương khác nhau nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những thiếu sót như:

    – Việc chia tiền lương khối gián tiếp chưa gắn với việc hoàn thành kế hoạch sản xuất của Công ty, chưa đánh giá được chất lượng và số lượng công tác của từng cán bộ công nhân viên đã tiêu hao trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, phần tiền lương mà người công nhân được hưởng không  gắn liền với kết quả lao động mà họ tạo ra. Chính vì lẽ đó, nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không  mang lại cho người công nhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không  tạo điều kiện thuận lợi để uốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không  khuyến khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian.

    Cách trả lương khoán của Công ty chưa khuyến khích công nhân làm tăng khối lượng sản phẩm do đơn giá sản phẩm chưa xét luỹ tiến, chưa tăng theo khối lượng sản phẩm vượt mức.

    -Việc tính lương cho công nhân trực tiếp sản xuất theo nhóm , tổ , đội thì chỉ căn cứ vào số lượng thời gian lao động mà chưa tính đến chất lượng công tác của từng người trong tháng để đảm bảo tính công bằng trong việc tính lương thì công ty phải xây dựng hệ số lương cấp bậc công việc và bằng xác định chất lượng công tác của từng cá nhân.

    Nói tóm lại công tác tiền lương của công ty còn nhiều khuyết điểm vì thế công ty cần có nhưng giải pháp thích hợp để hoàn thiện công tác tiền lương hơn nhằm khuyến khích đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty hăng say hơn và có trách nhiệm hơn trong công tác.

    3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương mại Hoàng My

    Sau thời gian thực tập tại Công ty TNHH TM HOÀNG MY em đã học hỏi được nhiều điều bổ ích. Xuất phát từ tình hình thực tế của Công ty em có một vài kiến nghị sau:

    -Cần tổ chức lại cơ cấu nhân sự cho phù hợp, hình thức phân công phân nhiệm cần được triển khai một cách cụ thể, có hiệu quả hơn để vừa thúc đẩy năng suất lao động, vừa quản lý nhân sự một cách có hiệu quả. Cần tổ chức quản lý nhân sự có hiệu quả, nhìn người mà phân công công việc, bố trí nhân sự một cách có hợp lý tránh tình trạng tổ này thiếu – tổ khác lại thừa lao động.

    -Theo dõi, cập nhật và nắm bắt kịp thời các chế độ chính sách trả lương để vừa thực hiện đúng các qui định của Nhà Nước, vừa thu hút nhân sự, duy trì nhân viên.

    -Cần có chế độ kế toán rõ ràng, nhất là kế toán tiền lương và nên giao việc cụ thể cho từng cá nhân trong việc tính và thanh toán lương để vừa đáp ứng yêu cầu kiểm tra rõ ràng, nhanh chóng của cấp trên, vừa đảm bảo thanh toán đúng lương cho người lao động.

    Nếu như công ty duy trì hình thức trả lương đang áp dụng, tính lương cho bộ phận quản lý hay bộ phận trực tiếp sản xuất đều tính theo lương sản phẩm. Nhưng cách tính giữa hai bộ phận này là khác nhau, thì nên tính như sau:

    + Đối với nhân viên quản lý tính lương theo sản phẩm từ lương theo Nghị Định nhân với chỉ số tương đương, mà chỉ số này chính là thương số giữa tổng lương sản phẩm và tổng lương hệ số công việc. Cách tính này dễ gây nhầm lẫn cho nhân viên do lương theo Nghị Định cao. Vì thế, công ty cần mở rộng thêm nhiều chi nhánh, đại lý bán hàng trên nhiều địa bàn, thu hút khách hàng với chiến lược kinh doanh hợp lý với mục tiêu mở rộng thị phần cho doanh nghiệp, tăng doanh thu dẫn đến tăng tổng quỹ lương và tăng tổng lương sản phẩm.

    + Đối với nhân viên trực tiếp sản xuất tính lương theo sản phẩm.

    -Đối với phòng kế toán:

    + Phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho CB–CNV.

    + Phải thường xuyên cử cán bộ kiểm tra các nơi trong việc thu mua, nhập – xuất, hạch toán, thu chi…

    + Thường xuyên đối chiếu sổ sách các xí nghiệp nhằm phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời.

    + Nên phát huy, tận dụng hết khả năng máy vi tính mà công ty đã trang bị nhằm tổng hợp báo cáo nhanh các số liệu…

    Để làm tốt công tác kế toán tiền lương, đẩy mạnh tăng năng suất công nhân viên, cần làm tốt công việc sau:

    – Tăng cường theo dõi, đôn đốc cán bộ – công nhân viên làm tốt nhiệm vụ của mình thông qua việc thường xuyên kiểm tra bảng chấm công của từng đơn vị, cá nhân.

    – Đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ (đặc biệt là các cán bộ kế toán lương), công nhân viên về nhiệm vụ, công việc mà họ đang đảm nhận.

    – Đôn đốc các tổ trưởng, cá nhân làm tốt nhiệm vụ, công việc mà mình đảm nhận, giao hàng đúng tiến độ và hoàn thành tốt các chỉ tiêu.

    – Tổ chức tốt khâu sản xuất bằng cách tuyển chọn và đào tạo cán bộ – công nhân viên có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật chuyên môn tốt, nhằm tăng năng suất lao động cả về số lượng lẫn chất lượng.

    – Chăm lo đời sống nhân viên để họ an tâm sản xuất tốt hơn bằng cách:

    + Xây dựng quy chế lương hợp lý.

    + Tổ chức thăm viếng, hỗ trợ công nhân viên có hoàn cảnh khó khăn.

    + Có chính sách khen thưởng, bồi dưỡng cho các cá nhân tích cực trong lao động sản xuất.

    + Tổ chức giờ làm việc một cách khoa học nhằm ổn định trong công tác, phân công nhiệm vụ cụ thể, nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động có hiệu quả cao.

    + Tận dụng triệt để, tiết kiệm các khoản chi phí và nguyên vật liệu để sản xuất, làm tăng doanh thu cho công ty, làm tăng thu nhập cho công nhân viên.

    + Sử dụng chế độ thưởng, phạt rõ ràng để khuyến khích và tổ chức và hoạt động có năng suất tốt.

    Tóm lại công tác quản lý, hạch toán lao động , tiền lương và các khoản trích theo lương có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp và liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động . Do đó việc hoàn thiện công tác này luôn được các doanh nghiệp đề cao xây dựng các điều kiện để thực thi.

     

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mọi quốc gia đặc biệt là trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Việt Nam, tiền lương – lao động luôn tồn tại song song và có mối quan hệ rất chặt chẽ, khăng khít với nhau, mối quan hệ tương hỗ, qua lại: lao động sẽ quyết định mức lương, còn mức lương sẽ tác động đến mức sống của người lao động.

    Nhận thức rõ được điều này, Công ty TNHH TM HOÀNG MY đã sử dụng tiền lương và các khoản trích theo lương như là một đòn bẩy, một công cụ hữu hiệu nhất để quản lý và khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, năng xuất lao động của cán bộ công nhân viên. Để từ đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty luôn đạt được ở mức cao nhất, đồng thời thu nhập của công nhân viên ngày càng ổn định và tăng thêm.

    Với khả năng và thời gian còn hạn chế, tuy rằng bản thân đã có nhiều cố gắng học hỏi, tìm tòi nhưng chuyên đề  này không thể không tránh khỏi những sai sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo hướng dẫn cùng toàn thể các cán bộ Phòng Hành chính, lao động – tiền lương trong Công ty TNHH Thương mại  Hoàng My và các bạn  sinh viên để chuyên đề tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths. LÊ THỊ HẢI LÝ cùng các cô chú phòng tổ chức hành chính trong công ty TNHH Thương mại Hoàng My  để  chuyên đề tốt nghiệp của em được hoàn thiện và đúng tiến độ.

    Em xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận tình huống quản lý nhà nước: Không đăng ký khai sinh hậu quả và trách nhiệm thuộc về ai


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Ngân sách nhà nước

    Chuyên đề 6: Bản chất của ngân sách nhà nước? Phân tích vai trò của ngân sách nhà nước trong việc điều tiết vi mô nền kinh tế.

    1.     Ngân sách nhà nước.

    v Khái niệm:

    Theo luật Ngân sách Nhà nước, Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

    Ngân sách nhà nước gồm hai hoạt động là thu và chi ngân sách.

    v Hoạt động thu ngân sách nhà nước:

    • Khái niệm:

     Về mặt bản chất, thu ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình.

    • Nội dung thu ngân sách nhà nước:
      • Thu thuế

    Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.

    • Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước.

    –    Thu lợi tức từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế.

    –   Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế cũng là một nguồn thu của ngân sách nhà nước trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường. Khoản thu này phản ánh sự hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nước và biểu hiện dưới nhiều hình thức phong phú như sau:

    +   Thu từ bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây.

    +   Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nước.

    +   Thu từ bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế.

    +   Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên.

    • Thu lệ phí và phí.

    Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước, song vẫn được huy động và khai thác nguồn thu đưa vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước.

    Lệ phí là khoản thu bắt buộc với các pháp nhân và thể nhân nhằm một mặt vừa bù đắp cho chi phí hoạt động hành chính mà nhà nước cấp cho các pháp nhân và thể nhân đồng thời vừa mang tính chất là khoản động viên, sự đóng góp cho NSNN. VD: lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí công chứng,…

    Phí là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi thường xuyên và bất thường về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ cho người nộp phí.

    • Vay nợ của chính phủ.

    –    Vay nợ  trong nước: gồm cả vay của tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội trong nước được thực hiện dưới hình thức phát hành các công cụ nợ của chính phủ (ngắn hạn, trung và dài hạn) như các tín phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu chính phủ.

    –    Vay ngoài nước: thực hiện thông qua các khoản viện trợ có hoàn lại (một phần quan trọng  trong nguồn vốn ODA), vay nợ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và các công ty.

    v Hoạt động chi ngân sách nhà nước.

    • Khái niệm:

    Chi ngân sách Nhà nước thể hiện các quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận.

    • Nội dung chi ngân sách:
      • Chi thường xuyên.

    Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi tiêu dùng xã hội, nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại và hoạt động, bao gồm các khoản chi cơ bản sau:

    –    Chi sự nghiệp.

    +   Chi sự nghiệp kinh tế, bao gồm các khoản: chi về sự nghiệp giao thông, sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp lâm nghiệp,…Chi về tiền lương và phụ cấp cho viên chức, chi cho phúc lợi tập thể; chi cho nguyên nhiên vật liệu dùng trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế,…

    +   Chi cho sự nghiệp văn hóa xã hội bao gồm: chi về khoa học công nghệ; chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; chi cho sự nghiệp y tế; chi cho sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao; chi cho sự nghiệp xã hội.

    –    Chi quản lý nhà nước: Đây là các khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

    –    Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

    • Chi đầu tư phát triển: Khoản chi này mang tính chất tích lũy, có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng năng suất xã hội và góp phần làmcho kinh tế tăng trưởng.

    Chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi cơ bản sau:

    +   Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội.

    +   Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước.

    +   Chi góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp.

    +   Chi dự trữ Nhà nước.

    • Chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay.

    –    Trả nợ trong nước.

    –    Trả nợ nước ngoài.

    2. Bản chất của ngân sách nhà nước.

    • Về mặt pháp lí: bản chất ngân sách nhà nước là dự trù các khoản thu, chi của nhà nước trong 1 năm.

    Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước.

    • Về mặt kinh tế: bản chất ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn tài chính quốc gia.

    Hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội.

    • Về tính chất xã hội: bản chất của ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế của Nhà nước.

    Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ tài chính này bao gồm:

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời, Ngân sách chi hổ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn…

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan hệ này phát sinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước. Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị trường các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, một phần trang trải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách.

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này được thể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp theo chính sách qui định.

    –   Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính: Quan hệ này phát sinh khi nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của kho bạc nhà nước nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách nhà nước.

    Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của Ngân sách nhà nước là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì Ngân sách nhà nước lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối. Từ sự phân tích trên cho thấy: Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    3.  Phân tích vai trò Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Vai trò này được thể hiện trên 3 khía cạnh sau:

    • Kích thích tăng trưởng kinh tế.

    –   Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng như: cầu đường, bến cảng, sân bay, hệ thống thông tin liên lạc,… đầu tư cho các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn.

    Ở Việt nam trong những năm gần đây Nhà nước đã đầu tư nâng cấp đường xá, xây dựng cầu cống như: cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu,…để kích thích đầu tư từ các công ty nước bạn. Nhà nước đầu tư vào các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn là ngành nông nghiệp mà đặc biệt đó là cây lúa nước, do nước ta có thời tiết, khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây lúa nước và có vùng đồng bằng rất phù sa, màu mỡ và rộng lớn thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây lúa nước. Vì đây là ngành đem lại sự phát triển nền kinh tế của nước ta. Bên cạnh còn có ngành thủy hải sản.

    –   Hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp trong trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới hợp lí hơn.

    –   Tùy theo tình hình kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp. Như nước ta hiện nay Nhà nước đang từng bước chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế Nông – Lâm – Ngư sang nền kinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, và phấn đấu đến năm 2010 nước ta trở thành nước công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    –   Hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để giúp cho các doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất góp phần làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng và phát triển.

    –   Thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất. Việc đặt ra các loại thuế suất ưu đãi, các quy định miễn giảm thuế,… có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại một chính sách thuế khắc khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh.

    VD: Ở Việt nam muốn phát triển sản xuất ngành mũi nhọn của mình thì Nhà nước phải áp dụng các chính sách như: giảm thuế, không thu thuế GTGT để kích thích xuất khẩu,… còn đối với những mặc hàng Nhà nước hạn chế sản xuất định hướng tiết kiệm cho người dân như: rượu, bia, thuốc lá,xe hơi, dịch vụ Karaoke, …thì nhà nước đánh thuế rất cao.

    –   Tranh thủ các nguồn vay trong và ngoài nước để tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm thỏa mãn cho nhu cầu đầu tư phát triển.

    Ở Việt nam cũng có phát hành trái phiếu chính phủ để hỗ trợ cho các cơ quan như: trường học, y tế,…

    • Điều tiết thị trường giá cả và chống lạm phát.

    Hai yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối mạnh sự hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho giá cả tăng hoặc giảm đột biến gây ra biến động trên thị trường. Để đảm bảo lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng Nhà nước sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của Ngân sách Nhà nước dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hóa và dự trữ tài chính.

    VD: Trong những năm gần đây trên thế giới giá xăng dầu tăng cao nhưng Nhà nước Việt nam đã trợ giá không cho giá xăng dầu tăng giá để giảm bớt lạm phát vì nếu tăng giá thì giá của các loại hàng hóa cũng sẽ tăng gây ra lạm phát và ảnh hưởng đến đời sống của người dân, trợ giá cho nông nghiệp: khi giá gạo giảm làm cho người dân không yên tâm sản xuất nên Nhà nước đã hỗ trợ giá bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp thu mua lúa ở mức giá mà người dân không bị thiệt để họ yên tâm trong sản xuất.

    Trong quá trình điều chỉnh thị trường NSNN còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm lạm phát, kiểm soát lạm phát.

    –  Khi có lạm phát: Nhà nước rút tiền vào Ngân hàng bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng.

    –  Để chống lạm phát Nhà nước áp dụng các biện pháp: giải quyết cân đối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia trên thị trường vốn với tư cách là người mua và bán chứng khoán.

    • Điều tiết thu nhập dân cư để góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    Trong xã hội nào cũng có sự phân chia giàu nghèo, Nhà nước cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Ngân sách Nhà nước là một công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư trên phạm vi toàn xã hội ở cả hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi công cộng, chi trợ cấp với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước.

    Ở nước ta hiện nay Nhà nước khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp bằng cách cho vay, hỗ trợ vốn, giảm thuế,…Nhưng có thu nhập cao thì người dân phải nộp thuế thu nhập và phí lệ phí cho Nhà nước. Nhà nước dùng tiền đó đầu tư vào chính sách xã hội như: về giáo dục: hiện nay nước ta đã hòan thành phổ cập giáo dục cấp II, trợ cấp cho những gia đình thuộc diện chính sách…

     

    Chuyên đề 7: Thâm hụt ngân sách là gì? Trình bày nguyên nhân và những giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước. Giải pháp nào được xem là hiệu quả đối với Việt Nam hiện nay?

    1.     Khái niệm thâm hụt ngân sách.

    Thâm hụt ngân sách hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu “không mang tính hoàn trả” của ngân sách nhà nước.

    Thâm hụt ngân sách được phân thành 2 loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.

    – Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng…

    – Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân.VD: khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.

    2.  Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    Dựa vào 2 loại thâm hụt trên có thể rút ra 2 nguyên nhân cơ bản gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước:

    – Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước. Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Mức thâm hụt do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra gọi là thâm hụt cơ cấu.

    – Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế của xã hội. Điều đó làm cho mức thâm hụt ngân sách tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Mức thâm hụt do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là thâm hụt chu kỳ.

    3.  Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách tới nền kinh tế.

    Thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nếu không có biện pháp xử lý đúng đắn. Nguyên nhân phổ biến gây ra thâm hụt ngân sách ở hầu hết các nước trên thế giới, từ những nước chưa phát triển cho đến những nước có nền kinh tế phát triển, đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế nhà nước không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế – xã hội. Và hậu quả là kìm hãm tốc độ tích lũy vốn cho sản xuất, hạn chế tiêu dùng dẫn đến khả năng suy thoái nền kinh tế cao. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo thì thâm hụt ngân sách không thể tránh khỏi. Bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu người quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỷ lệ đông viên từ GDP vào ngân sách nhà nước, trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên, nhất là khi nhà nước thực hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dẫn sự tăng trưởng.

    Thực tế cho thấy, thâm hụt ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát, gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng nổ lạm phát.

    Thâm hụt ngân sách không phải là hoàn toàn tiêu cực. Nếu thâm hụt ở một mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm) thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Vì thế ở những nước có nền kinh tế phát triển cao nhà nước vẫn chỉ cố gắng thu hẹp thâm hụt ngân sách chứ không loại trừ nó hoàn toàn. Nhưng cho dù thâm hụt ngân sách ở mức độ nào thì mọi chính phủ đều phải có biện pháp để kiểm soát và xử lý thâm hụt ngân sách.

    4.  Giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước.

    • Tăng thu giảm chi.

    Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thường dùng để giảm thâm hụt ngân sách. Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu và cắt giảm chi tiêu .

    Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xảy ra  hai nghịch lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng  ở khu vực tư nhân bị hạn chế, tức giảm động lực phát triển kinh tế. Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định, nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội.

    Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ  phải tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để  gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế.

    • Tăng thu.

    Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng, đủ, kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với các tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước; đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải cách các thủ tục hành chính, hải quan và mở rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu; tăng cường kiểm tra chống thất thu, nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình đẳng trong  mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật. Kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế, có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.

    Cần phải cải thiện các nguồn thu ngân sách tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều. Tiến hành cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản. Điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu, điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hàng thiết thực phục vụ sản xuất để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản…

    • Giảm chi.

    Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra thâm hụt ngân sách và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.

    • Biện pháp vay nợ.
    • Vay nợ trong nước.

    Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội và ngân hàng. Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình.

    – Ưu điểm: Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm thâm hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế. Vì vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.

    – Nhược điểm: Việc khắc phục thâm hụt ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng. Thứ nữa, viêc vay từ dân trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước.

    Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn. Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu. Tuy nhiên, nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau.

    • Vay nợ nước ngoài.

    Chính phủ có thể giảm thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế …

    Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA.

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng …

     –  Ưu điểm: Nó là một biện pháp giảm thâm hụt ngân sách hữu hiệu, có thể bù đắp được các khoản thâm hụt mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế. Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

     –   Nhược điểm: Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ. Đồng thời, nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều.

    • Sử dụng dự trữ ngoại tệ:

    Quỹ dự trữ ngọai tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia.

    Chính phủ có thể sử dụng việc giảm dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách.

    Ưu điểm của việc này là dự trữ hợp lý có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng.

    Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng

    • Vay ngân hàng (in tiền).

    Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp. Đáp ứng nhu cầu này, ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền. Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt.

    – Ưu điểm: Nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần.

    – Nhược điểm: Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi.

    • Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước.

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế – xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v.. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý thâm hụt ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết.

    5. Giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước hiệu quả đối với Việt Nam hiện nay.

    Xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Vậy xử lý thâm hụt NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?

    Để kiềm chế lạm phát cũng như sự suy thoái của nền kinh tế, ngoài các biện pháp mà Chính phủ, các bộ, ngành đang thực thi, vấn đề quản lý chặt tình hình chi NSNN như: chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước, đầu tư công… thông qua việc xử lý thâm hụt NSNN là vô cùng cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội cũng như vấn đề thu chi ngân sách là giải pháp quan trọng đối với thực trạng tại Việt Nam hiện nay.

    Nước ta là một nước đang trong đà phát triển, nền kinh tế còn nhiều khó khăn và thường xuyên phải chịu ảnh hưởng từ những tác động bên ngoài. Sự suy giảm kinh tế toàn cầu bắt đầu từ suy thoái kinh tế Mỹ cũng đổ bộ và gây ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Vấn đề thu chi ngân sách chưa được quản lý triệt để dẫn đến tình trạng lạm phát kéo dài, gây tác động xấu tới sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Môi trường kinh tế vĩ mô đã trở nên kém ổn định. Vì vậy, khả năng thu hút đầu tư nước ngoài cũng như khả năng thu hút đầu tư của khu vực tư nhân trong nước cũng bị hạn chế. Cũng như những nút thắt cổ chai của các đầu vào cho sản xuất. Cụ thể là những hạn chế về kết cấu hạ tầng, điện, nguồn nhân lực.

    Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách quản lý hợp lý, đặc biệt là quản lý chặt chẽ thu chi ngân sách để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn, đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát, vốn đang khá cao và ảnh hưởng đến đời sống cũng như sức mua của người dân. Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cần nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, nâng cao tỷ lệ cạnh tranh với kinh tế toàn cầu.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-nh%E1%BB%AFng-th%C3%A0nh-t%E1%BB%B1u-v%C3%A0-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-v%C3%A0-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-duy-v%E1%BA%ADt-tr%C6%B0%E1%BB%9Bc-M%C3%A1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Triết học: Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác

    Tiểu luận Triết học

    A. LỜI NÓI ĐẦU

    Lịch sử Triết học là một phần học trong chương trình môn Triết học Mác – Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng giúp người học nắm được quá trình hình thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật của tư duy triết học nhân loại, đồng thời nhận thấy rõ sự ra đời của phát triển của triết học Mác – Lênin là một tất yếu hợp qui luật chứ không phải là một trào lưu biệt lập nằm ngoài dòng chảy của văn minh nhân loại.

    Hạt nhân lí luận trong Triết học Mác – Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác – Ănghen và được Lênin kế tục phát triển, là cơ sở lí luận và kim chỉ nam cho hoạt động của các Đảng Cộng sản. Tuy nhiên không phải Mác – Ănghen xây dựng nên chúng từ mảnh đất không mà phải chọn lựa kế thừa những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử phát triển trước đó. Vậy quá trình phát triển của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng diễn ra như thế nào. Điều đó tôi sẽ làm sáng tỏ trong nội dung bài tiểu luận với đề tài: “Phân tích những thành tựu và hạn chế của phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước Mác“.

    Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.

    Tôi xin cảm ơn!

    Tiểu luận Triết học

    B. NỘI DUNG

    1. CHỦ NGHĨA DUY VẬT TRƯỚC MÁC

    Chủ nghĩa duy vật là một trong hai trường phái cơ bản của triết học. Xuất hiện ngay từ thời cổ đại khi triết học mới bắt đầu hình thành. Từ đó đến nay lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Nó đã trải qua nhiều hình thức khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi vật chất là cái có trước và cái quyết định ý thức, đề xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới.

    Lịch sử chủ nghĩa duy vật phát triển qua nhiều thời kỳ và ngày càng hoàn thiện, trở thành một nội dung quan trọng trong chủ nghĩa Mác – Lênin và được vận dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của đời sống. Bây giờ ta sẽ nghiên cứu từng thời kì lịch sử phát triển của nó.

    1.1. Hình thái duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại

     

    Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ nhưng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu chưa dựa vào các thành tựu của các bộ môn khoa chưa phát triển.

    này nói chung là đúng đắn dựa vào quan sát trực tiếp, học chuyên ngành vì lúc đó

    1.1.1. Chủ nghĩa duy vật Ấn Độ cổ đại

    • Ấn Độ, chủ nghĩa duy vật xuất hiện tương đối sớm và mang những nét độc đáo, tập trung ở một số trường phái sau:

    1.1.1.1. Trường phái Sam Khuya

    Vào thời gian đầu, triết lý Samkhuya không thừa nhận “tinh thần vũ trụ tối cao” phủ nhận sự tồn tại của thần. Ngược lại nó khẳng định thế giới này là thế giới vật chất. Đã giải thích mọi vật của thế giới là kết quả của sự thống nhất ba yếu tố. Đó là Sativa (sự trong sáng), Tamas (tính ỳ thụ động) và Rajas (kích thích động). Khi 3 yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì vật chất đầu tiên chưa biểu hiện nhưng khi cân bằng bị phá vỡ thì sinh thành vạn vật của vũ trụ.

    Tiểu luận Triết học

    Tuy nhiên quan niệm về vật chất của phái Samkhuya còn có nhiều hạn chế. Họ cho ràng dạng vật chất đầu tiên là không nhận biết được và giải thích về hình thành vạn vật còn chưa đúng đắn đó là quan niệm về sự hình thành thế giới hữu hình đa dạng từ thế giới vô hình, đồng nhất.

    1.1.1.2. Trường phái Nyaya:

    Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất rất phong phú đa dạng bao gồm nhiều sự vật, hiện tượng. Thế giới này tồn tại trong không gian do các hạt nhỏ cấu tạo nên và được gọi là nguyên tử. Nguyên tử của thực thể này khác nguyên tử của thực thể kia ở chất lượng, hình dạng và cách kết hợp. Các vật thể chỉ tồn tại nhất thời, thường xuyên thay đổi và chuyển hoá. Đây quả là một quan niệm thiên tài hết sức đúng đắn trong điều kiện khoa học tự nhiên thời bấy giờ chưa phát triển. Đã để lại một tư tưởng quý báu cho nhân loại mà các nhà duy vật sau này tiếp tục kế thừa và phát huy.

    Tuy nhiên chủ nghĩa duy vật của phái Nyaya còn hạn chế ở chỗ coi thế giới vật chất tạo nên bởi 4 yếu tố đất, nước, lửa, không khí, cho rằng nguyên tử không biến đổi, không chia cắt được. Âu cũng là do hạ chế về khoa học tự nhiên lúc bấy giờ.

    1.1.2. Chủ nghĩa duy vật Trung Hoa cổ đại

    Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của Phương Đông cổ – trung đại. Cùng với những phát minh có tính chất vạch đường trên mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên , y học, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều hệ thống triết học lớn. Nhìn một cách tổng thể, các trường phái triết học cổ đại Trung Quốc đa phần theo khuynh hướng duy tâm, tuy nhiên vẫn có một số tư tưởng duy vật tiến bộ có ý nghĩa to lớn mà điển hình là Mạc Gia.

    Mạc Gia đầu tiên đề xuất quan hệ giữa thực và danh như một phạm trù triết học. Chủ trương “lấy thực đặt tên để nêu ra cái thực”,”cái dùng để gọi tên, cái được gọi lên là thực”. Điều đó có nghĩa khách quan là tồn tại thực.

    Đồng thời, Mạc Gia cho rằng để đánh giá đúng sai trong thực tế khách quan phải dựa vào 3 tiêu chuẩn: trước hết lập luận phải có căn cứ, thứ hai phải

    Tiểu luận Triết học

    được chứng minh và thứ ba lập luận cần có hiệu quả. Thuyết “tam biểu” này của Mạc Gia thể hiện thuyết phản ánh của chủ nghĩa duy vật chất phác, các học thuyết cùng thời khó sánh kịp.

    Về sau thời Hậu Mạc đã phát triển khía cạnh duy vật lên một tầm cao mới. Họ cho rằng sự tồn tại của vật chất là bất diệt, hình thái tồn tại của sự vật thì có thay đổi, thời gian, không gian liên hệ mật thiết với sự vận động của sự vật. Vật thể vận động trong không gian và thời gian và muốn nhận thức được thế giới, trước hết nhờ các khí quan cảm giác (tai, mũi, miệng, mắt, thân) đồng thời để nhận thức sâu sắc sự vật, con người phải nhờ tâm, tức là hoạt động tư duy là quá trình phân tích so sánh, tổng hợp trừu tượng hoá để đạt đến ý nghĩa của nó. Vì vậy họ đã làm rõ mối quan hệ giữa cảm giác và tư duy.

    Các triết gia hậu Mạc còn phân ra tri thức thành 3 loại: “Văn tử” là sự hiểu biết nhờ sự truyền thụ của người khác, “Thuyết trị” là kết quả do sự hoạt động suy luận đem lại, “Thân trị” là kết quả do sự quan sát, đúc kết kinh nghiệm đem lại.

    Những quan điểm duy vật của phái Mạc Gia đã hơn hẳn những phái khác về nhận thức lý luận. Hệ thống lôgic của họ đã tấn công vào thuyết hoài nghi và bất khả thi của phái Trang – Chu. Đồng thời phê phán khía cạnh duy tâm trong học thuyết của phái Công Tôn Long.

    Tuy vậy, học thuyết của Mạc Gia vẫn không tránh khỏi một số sai lầm như xem trời là đấng anh minh có quyền lực tối cao, trời tạo ra muôn loài. Mạc Tử còn tin có cả quỉ thần giám sát hành vi con người. Dù vậy, những tư tưởng của Mạc Gia đã khiến cho thế hệ sau này phải ngưỡng mộ bởi tính đúng đắn tiến bộ của nó trong điều kiện hết sức lạc hậu như vậy. Cũng có lẽ vì thế mà học phái Mạc Gia đã không có chỗ đứng trong tư tưởng của giai cấp phong kiến và bị tuyệt diệt vào đời Tần hán.

    Tiểu luận Triết học

    1.2. Chủ nghĩa duy vật Phương Tây cổ đại

    1.2.1.Triết học Hy Lạp cổ đại

    Thời cổ đại, các ngành khoa học của Hy Lạp đã rất phát triển, đặc biệt thiên văn, toán học, y học… Triết học duy vật nhờ đó phát triển rực rỡ, chứa đựng hầu hết các nội dung cơ bản của nó. Sau đây ta sẽ xem xét một số trường phái tiêu biểu.

    1.2.1.1. Hêraclit (530-470 TCN)

    Ông cho rằng thế giới muôn vật không do thần thánh nào tạo nên, cũng không phải con người tạo ra mà là do ngọn lửa vĩnh viễn, linh động nhen nhóm lên. Mọi sự vật luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hoá qua lại. Ông nêu lên tư tưởng hiện vật đều trôi đi, hiện vật đều biến đổi “người ta không thể tắm 2 lần trên 1 dòng sông”.

    “Mặt trời luôn luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới”

    Theo ông nguồn gốc của mọi sự vật thay đổi là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật. Mọi vật đều nảy nở trong quá trình đấu tranh và sự vận động, phát triển liên tục của sự vật tuân theo các yếu tố khách quan, qui luật quyết định.

    Về lý luận nhận thức, Hêraclit cho rằng nhận thức là phản ánh hiện tượng khách quan. Ông chia quá trình nhận thức ra làm 2 giai đoạn cảm tính và lí tính. Hai giai đoạn này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể chỉ có một giai đoạn tồn tại độc lập.

    Về hạn chế: Hêraclit đã quan niệm lửa là nguồn gốc tạo ra vạn vật. Mọi vật trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả. Mọi sự biến hoá của sự vật dựa trên sự chuyển hoá của chúng thành những dạng vật chất đối lập với bản thân chúng. “Nước sinh ra từ cái chết của đất, không khí sinh ra từ cái chết của nước, lửa sinh ra từ cái chết của không khí.

    1.2.1.2. Triết học Hy Lạp thế kỷ V

    * Đêmôcrit

    Tiểu luận Triết học

    Ông là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại. Ông là người hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo đức học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triển quan điểm của Lơxip.

    Đêmôcrit cho rằng nguyên tử không nhìn thấy được, không âm thanh, màu sắc và mùi vị. Chúng đồng nhất với nhau về chất nhưng khác nhau về hình thức, thứ tự và tư thế. Ông quan niệm nguyên tử là vô hạn về lượng và hình thức. Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợp giữa chúng với nhau theo một trật tự và thế nhất định.

    Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không thay đổi.

    Nguyên tử luôn vận động trong không gian ông thấy rõ quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và vận động. Vận động là vốn có của nguyên tử chứ không phải được đưa từ ngoài vào. Nhưng ông chưa thấy được nguồn gốc của vận động và vận động không chỉ là sự di chuyển trong chân không của các nguyên tử.

    Dựa vào thuyết nguyên tử, Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy luật nhân quả tính khách qan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên. Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit vào triết học duy vật. Song ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tượng không có nguyên nhân.

    Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần đần từ thấp đến cao cảu tự nhiên. Sinh vật đầu tiên sống ở dưới nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con người được ra đời. Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tử cấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh hồn rời khởi thể xác. Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và tôn giáo về tính bất tử của linh hồn người.

    Tiểu luận Triết học

    Đêmôcrit đã có công lao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác là điểm khởi đầu của nhận thức và tư duy trong việc nhận thức thế giới.

    Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức được.

    Đêmôcrit phân chia nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối do các giác quan đem lại còn nhận thức chân lý là do sự phân tích sâu sắc về sự vật để nắm bắt bản chất bên trong của nó.

    Triết học duy vật của Đêmôcrit đã đóng vai trò quan trọng trog chủ nghĩa vô thần. Ông cho rằng sự tồn tại của thần chẳng qua là sự cách hoá những hiện tượng của tự nhiên hay những thuộc tính của con người chẳng hạn thần Dớt là sự nhân cách hoá mặt trời, thần ATêna là sự nhân cách hoá thuộc tính của con người.

    1.3. Duy vật Tây Âu Trung Cổ Phục Hưng và cận đại: đây là những thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật có nhiều thắng lợi rực rỡ.

    1.3.1. Fran xiBêcơn (1561 – 1621):

    Là người sáng lập triết học duy vật Anh. Becơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của Thế giới vật chất khoa học không biết cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tựnhiên ông cho rằng con người cần phải thống trị làm chủ tựnhiên. Điều đó thực hiện được hay không phụ thuộc vào hiểu biết của con người.

    Theo BêCơn, nhận thức tốt nhất là đi từ cái riêng lẻ đến cái chung, cái trừu tượng. Tri thức chỉ có thể đạt được bằng cách giải quyết những quan hệ nhân quả hiểu biết đúng là hiểu biết bằng nguyên nhân.

    Song chủ nghĩa duy vật của Bêcơn là duy vật siêu hình. Ông quy sự vận động của vật chất thất thành sự lặp lại vĩnh viễn những hình tứhc bất biến. Ông cũng chưa vượt qua được bức tường tôn giáo và nhà thờ để hoàn toàn tự do với những tư tưởng khoa học và biết học đặc sắc của mình.

    Tiểu luận Triết học

    1.3.2. Lút Vích Phoi ơ bắc (1807 – 1872):

    Là một nhà nhân vật kiệt suất trước Mác, là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản dân chủ. Có công lớn trong phê phán chủ nghĩa duy tâm công Hêghen nói riêng và chủ nghĩa duy tâm nói chung phê phán tôn giáo, khôi phục chủ nghĩa duy vật cổ đại.

    Phoi ơ bắc cho rằng thế giới vật chát không do ai sáng tạo ra, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người. Giới tự nhiên vận động biến đổi do những nguyên nhân bên trong của nó.

    Ông cho rằng ý thức là sản phẩm của con người. Nếu vật chất chưa tiến hoá đến con người thì chưa có ý thức.

    Phoi ơ bắc giải quyết vấn đề nhận thức trên quan điểm duy vật và không có gì con người không nhận thức được, chỉ có cái chưa nhận thức được mà thôi.

    Tuy nhiên khi khẳng định nhận thức của con người, Phoi ơ bắc nhấn mạnh mặt quan sát chứ không quan tâm đến mặt quan trọng tạo nên nhận thức là hoạt động thực tiễn. Ông coi thường thực tiễn, hạ thấp vai trò thực tiễn. Đồng thời con người mà Phoi ơ bắc nghiên cứu là con người thuần tuý động vật. Tức ông chỉ quan tâm đến mặt sinh học mà không quan tâm đến mặt xã hội. Vì vậy, con người của Phoi ơ bắc là con người trừu tượng.

    2. PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC MÁC

    2.1. Phép biện chứng thời cổ đại

    Phép biên chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơi và mang nặng tính trực quan được hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông qua kinh nghiệm của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học Ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau.

    Tiểu luận Triết học

    2.1.1. Triết học Trung Hoa cổ đại

    Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới

    • trường phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị – xã hội. Những tư tưởng biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ quan.

    Một trong những học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc là Học thuyết Âm – Dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập – đó là Âm và Dương. Âm – Dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Kinh dịch viết: “Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá”, “Sinh sinh chi vi dịch”. Sự tương tác lẫn nhau giữa Âm và Dương, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng. Đây là quan điểm thể hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc. Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất như: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm – dương), sau đó âm – dương lại tiến hành phân thành tứ tượng (thái âm – thiếu âm, thái dương – thiếu dương), tứ tượng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật.

    Tuy nhiên, học thuyết Âm – Dương cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp lại và được đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng Âm – Dương.

    • điểm này thì học thuyết Âm – Dương phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hướng đi lên mà cho rằng sự vận động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân bằng Âm -Dương. Hơn nữa, trong học thuyết Âm

    Tiểu luận Triết học

    • Dương còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí như quan điểm “Thiên tôn địa ty” cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tự của “trời đất”, họ đem trật tự xã hội gán cho giới tự nhiên, rồi lại dùng hình thức bịa đặt đó để chứng minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội.

    Tóm lại, học thuyết Âm – Dương là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại. Mặc dù còn những tính chất trực quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xã hội, nhưng học thuyết Âm – Dương đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.

    2.1.2. Triết học Ấn độ cổ đại

    Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học với tôn giáo và giữa các trường phái khác nhau. Các tư tưởng triết học được thể hiện dưới hình thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống, triết học Ấn Độ cổ đại có 9 trường phái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái phi chính thống. Trong tất cả các học thuyết triết học đó thì học thuyết triết học thể hiện trong Phật giáo là học thuyết mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền triết học Ấn Độ cổ đại.

    Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI TCN do Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca Mầu Ni (563 – 483 TCN), khai sáng. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không do một đấng thần linh nào đó tạo ra mà được tạo ra bởi hai yếu tố là Danh (tinh thần) và Sắc (vật chất). Trong đó Danh bao gồm tâm và thức, còn Sắc bao gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong). Chính nhờ tư tưởng nêu trên mà Phật giáo được coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học đương thời. Đồng thời Phật giáo đưa ra tư tưởng “nhất thiết duy tâm tao”, “vô thường”, “vô ngã”. “Vô ngã” nghĩa là “không có cái ta, cái tôi bất biến”, theo đó không có cái gì là trường tồn là bất biến, là vĩnh

    Tiểu luận Triết học

    hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập. Đây là tư tưởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự tồn tại của cái tôi – Átman bất biến. “Vô thường” tức là biến, biến ở đây được hiểu như là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ: Sinh – Trụ – Dị – Diệt (đối với sinh vật); Thành – Trụ – Hoại – Không (con người). Phật giáo cũng cho rằng sự tương tác của hai mặt đối lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con người, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một vật tồn tại được là nhờ hội đủ Nhân, Duyên.

    2.1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại

    Mặc dù hãy còn nhiều tính “cắt khúc”, nhưng triết học Hy Lạp cổ đại đã có những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính trong thời kỳ này thuật ngữ “biện chứng” đã hình thành. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về văn hoá, nghệ thuật, mà trước hết là các thành tựu trong khoa học tự nhiên như: Thiên văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học trong thời kỳ này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phương Tây sau này.

    Một trong những nhà triết học điển hình có tư tưởng biện chứng là Heraclit (540 – 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác – Lênin thì Heraclit là người sáng lập ra phép biện chứng. Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng dựa trên lập trường duy vật.

    Phép biện chứng của Heraclit chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học mà hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Tư tưởng biện chứng của Heraclit được thể hiện như sau:

    Một là Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo Heraclit thì không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại,

    Tiểu luận Triết học

    tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá. Ông nói: “Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông”; “Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới”. Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật, hiện tượng. Đồng thời lửa cũng chính là gốc của mọi vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi.

    Hai là Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về “sự trao đổi của những mặt đối lập”, về “sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập”. Ông nói: “cùng một cái ở trong chúng ta – sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già. Vì rằng cái này biến đổi là cái kia; và ngược lại, cái kia mà biến đổi thành cái này …”. Heraclit đã phỏng đoán về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập. Lê nin viết: “Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện chứng. Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit”.

    Ba là Theo Heraclit thì sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (mà ông gọi là Logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu. Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai nhưng cơ bản là đúng.

    • thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có được tư tưởng biện chứng sâu sắc như vậy. Chính là những tư tưởng biện chứng sơ khai của Heraclit sau này đã được các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập triết học Macxít đánh giá cao. C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh

    Tiểu luận Triết học

    gía một cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời cổ và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Heraclit”. (1)

    Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit (460 – 370 TCN) đã kế thừa quan điểm của Heraclit về vận động. Ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân. Ông cho rằng còn khoảng trống hay còn “chân không” trong nguyên tử là điều kiện vận động của nó. Tuy nhiên Đêmôcrit đã không lý giải được nguồn gốc của vận động.

    Sau Đêmôcrit là Arixtốt (384 – 322 TCN) ông cho rằngvận động gắn liền với các vật thể với mọi sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng định vận động là không thể bị tiêu diệt “Đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động”. Arixtốt là người đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành 6 dạng: Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí .

    Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động.

    Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ của các mặt đối lập, song chưa đi sâu vào chi tiết của bức tranh. Vì vậy, nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại.

    (1) Ph. Ănghen: Chống Đuyrinh, NXB Sự Thật Hà nội, 1971, tr33.

    Tiểu luận Triết học

    2.2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV – XVIII

    Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII), sự trưởng thành của tư tưởng biện chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình.

    Sau đêm trường Trung cổ, triết học là thứ triết học kinh viện giáo điều gắn với đạo Thiên chúa. Đến thời kỳ Phục hưng, triết học thời kỳ này đã khôi phục lại những tư tưởng duy vật cổ đại nhưng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vật xen lẫn duy tâm. Tuy nhiên phép biện chứng thời kỳ này vẫn có bước phát triển như tư tưởng về “sự phù hợp của các mặt đối lập” của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất – nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia ra đời. Nếu không theo nguyên tắc “các mặt đối lập phù hợp với nhau” thì dù là nhà toán học, nhà vật lý, cả nhà triết học cũng không làm việc được.

    Một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là Ph.Bêcơn (1561 – 1626). Ph.Bêcơn khẳnh định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Ông đã tiến hành phân vận động thành 19 loại. Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể hiện: Ông quy mọi loại vận động về vận động cơ học. Song cống hiến của ông là ở chỗ coi đứng yên là một hình thức của vận động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất, ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới.

    Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâu mổ xẻ phân tích giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu. Những phương pháp đó đã tạo ra thói quen nghiên cứu xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời và bất biến. Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phương pháp trong khoa học tự nhiên áp dụng vào triết học thì phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong triết học.

    Tiểu luận Triết học

    Phương pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình nhận thức giới tự nhiên, phương pháp đó chỉ thích ứng với trình độ sưu tập, mô tả giới tự nhiên. Do đó khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng thì nó bộc lộ rõ những hạn chế. Vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen.

    2.3. Phép biện chứng cổ điển Đức

    Như Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhưng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trước C. Mác thì triết học cổ điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác. Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học Phoiơbắc.

    Kantơ (1724 – 1804) là người sáng lập ra trường phái triết học cổ điển Đức. Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà chưa thấy được rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan. Mâu thuẫn chưa phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề, chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong vấn đề này Kantơ đã tiến gần đến phép biện chứng.

    Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là “tinh thần Phổ”. Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. Ông viết: “phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận

    Tiểu luận Triết học

    thức khoa học chân chính “(1). Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết học của Hêghen là: “Tất cả cái gì là hiện thực đều là hợp lý và tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại”(2).

    Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Trong logic học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù triết học như lượng – chất, vật chất – vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác như lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng. Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của tư duy, của khái niệm.

    Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen khẳng định sự phát triển cuả xã hội là sự đi lên. Quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa. Lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con người. Hêghen đã có công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng như là những công cụ của tư duy biện chứng.

    Trong khi hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của tư duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra. Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: “Phép biện chứng đi lộn đầu xuống đất”. Vì vậy, cần phải đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật.

    (1) Triết họ c dành cho cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên nghành triết học, NXB Chính trị quốc gia, 1997, tập 1, tr331.

    (2) C.Mác -Ph.Ănghen, Tuyển tập, NXB Sự Thật, Hà nội, 1984, tr361.

    Tiểu luận Triết học

    Tiểu luận Triết học

    C. KẾT LUẬN

    Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử trước Mác là những kho tàng quý giá để lại cho thế giới loài người mà sau này Mác và Ăng ghen là những người kế tục hoàn hảo nhất. Đặc biệt là duy vật HyLạp cổ đại, duy vật phoi ơ bắc và phép biện chứng của Hêghen. Hai ông nhiều lần nói rằng, trong sự phát triển của mình, hai ông chịu ơnnhièu nhà triết học Đức và là học trò của triết học HyLạp cổ đại.

    Tuy trong từng thời kỳ các tư tưởng duy vật và biện chứng còn có những hạn chế riêng song đã đóng góp tích cực vào kho tàng nhận thức của nhân loại. Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cho thấy chỉ khi nào đứng trên quan điểm duy vật và nắm vững lý luận phép biện chứng, chúng ta mới có thể nhận thức được các sự vật, một cách khoa học, bản chất và giải quyết các mối quan hệ một cách đúng đắn, mới có thể cải tạo tự nhiên biến đổi xã hội theo hướng phát triển. Ngược lại các quan điểm duy tâm duy ý chí siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm gây tổn thất cho quá trình phát triển của xã hội.

    Vì vậy học tập nghiên cứu sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là hết sức cần thiết. Nó giúp ta nắm vững phép biện chứng duy vật, thấu suốt những phương pháp luận đồng thời nắm được nguồn gốc ra đời, hình thành, phát triển qua quá trình đấu tranh gay gắt với chủ nghĩa duy tâm và các quan điểm siêu hình để khẳng định được vị trí to lớn của nó trong nhận thức và cải tạo thế giới.

    Hiện nay đất nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy. Nghiên cứu từ lịch sử của nó cũng à một phương pháp biện chứng trong nghiên cứu triết học. Đảng ta khảng định nguyênt ắc là phải trung thành với Mác – Lênin, giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, không che giấu sai lầm và phải vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng

    Tiểu luận Triết học

    Mác Xít để khắc phục những sai lầm xây dựng thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]