Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-%E1%BB%9F-C%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    LỜI NÓI ĐẦU

    Để nước ta có thể thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì chúng ta phải chú trọng nhiều tới quản trị nhân lực, vì nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong quá trình phát triển đó.

    Một doanh nghiệp, hay một tổ chức, để có được một đội ngũ nhân viên đắc lực hay một lực lượng lao động hùng hậu, thì điều trước tiên doanh nghiệp đó hay tổ chức đó phải làm là phải có nghiệp vụ quản lý giỏi, phải có khoa học trong công tác quản trị nhân lực. Đó là nắm được yếu tố con người là đã nắm trong tay được hơn nửa thành công.

    Tổ chức và quản lý để tối ưu hoá, năng suất lao động và nghiệp vụ chủ yếu của quản trị nhân lực và đồng thời quản trị nhân lực còn tạo ra được động lực thúc đẩy nhân viên nâng cao năng suất lao động, sáng tạo trong công việc. Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết phải đổi mới hơn nữa công tác quản trị nhân lực trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là trong các doanh nghiệp Nhà nước với mong muốn góp một phần nhỏ trong công tác quản trị nhân lực trong các doanh nghiệp nói chung và công tác quản trị nhân lực của Công ty xây dựng số 9, cùng với một số kinh nghiệm ít ỏi trong đợt thực tập em chọn đề tài: “Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9″ để viết luận văn tốt nghiệp.

    Luận văn của em ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 2 chương:

    Chương I: Thực trạng về công tác quản trị nhân lực tại Công ty xây dựng số 9

    Chương II: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty xây dựng số 9.

     

    PHẦN I

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

    TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

     

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    1. Sự ra đời và hoạt động của công ty

     

    Công ty xây dựng số 9 Hà Nội là doanh nghiệp Nhà nước hạng I (một) trực thuộc Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội, thành lập từ tháng 3 năm 1976. Với trên 28 năm kinh nghiệm hoạt động trong các lĩnh vực Đầu tư và Xây dựng, Công ty đã và đang xây dựng nhiều loại công trình và dự án  đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Thủ Đô Hà Nội và các địa phương khác. Công ty đã từng bước tạo dựng cho mình truyền thống xây dựng vẻ vang, đảm bảo uy tín và chất lượng với bạn hàng trong, ngoài nước.

    • Công ty Xây dựng Đông Anh được thành lập theo Quyết định số 174/QĐ-UB ngày 01 tháng 3 năm 1976 của Uỷ Ban Hành Chính Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng Đông Anh được đổi tên thành Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội theo Quyết định số 3265/QĐ-UB ngày 17 tháng 12 năm 1992 của Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được thành lập lại theo Quyết định số 677/QĐ-UB ngày 13 tháng 02 năm 1993 của UBND Thành phố Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số: 105713 cấp ngày 11 tháng 3 năm 1993 của Trọng tài kinh tế Thành phố.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được Xếp hạng Doanh nghiệp loại I (một) theo Quyết định sô 3509/QĐ-UB ngày 13 tháng 12 năm 1994 của UBND Thành phố Hà Nội.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội là doanh nghiệp thành viên trực thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội theo Quyết định số 78/1999/QĐ-UB ngày 21 tháng 9 năm 1999 của UBND Thành Phố Hà Nội.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được Bổ sung nhiệm vụ theo Quyết định số 7644/QĐ-UB ngày 17 tháng 12 năm 2003 của UBND Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được đăng ký lại lần thứ nhất theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp nhà nước số: 0106000146 ngày 20 tháng 02 năm 2004 do sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp.
    1. Tên gọi đầy đủ của Công ty:

    CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9 HÀ NỘI

    1. Tên giao dịch quốc tế

    HANOI CONSTRUCTION COMPANY NO9

    1. Tên viết tắt: HANCO9
    2. Giám đốc công ty: KỸ SƯ NGUYỄN VĂN KHIÊU
    3. Trụ sở giao dịch chính: Tại số 560 Nguyễn Văn Cừ -Long Biên – Hà Nội
    • Điện thoại giao dịch: (04).8.271774 – (04)8.776752
    • Fax: (04)8.273730
    1. Mã số thuế: 0100105768 – 1
    2. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty : 7.965.638.647 đồng

    Trong đó:

    • Vốn kinh doanh: 7.080.073.682 đồng

    Theo bản xác nhận vốn kinh doanh hiện có đến ngày 30 tháng 6 năm 2003 của Chi cục Tài chính doanh nghiệp Thành phố Hà Nội.

    1. Tổng số Cán bộ công nhân viên của Công ty: trên 573 người

    Trong đó:

    • Trình độ đại học: 70 người.
    • Trình độ cao đẳng, trung cấp: 55 người.
    • Công nhân kỹ thuật : 268 người
    • Các lao động khác: 180 người
    • Độ tuổi bình quân là: 37

    2. Chức năng và nhiệm vụ:

     

    Chức năng và nhiệm vụ  của Công ty được ghi trong Quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh là:

    – Xây dựng các công trình công nghiệp, Xây dựng các công trình công cộng, Xây dựng các công trình nhà ở, xây dựng khác.

    – Xây dựng các dự án đầu tư, liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước  để thực hiện các dự án.

    – Kinh doanh nhà.

    – Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, các công trình giao thông vừa và nhỏ

    – Thi công và xây lắp công trình: Điện lực (đường dây và trạm biến áp) đến 35KV, hệ thống điều hoà trung tâm.

    – Thi công xây lắp các công trình: Giao thông, thể dục thể thao và vui chơi giải trí, cấp – thoát nước, thủy lợi, cầu cảng, kè sông, hồ và kênh mương.

    – Sản xuất và gia công cấu kiện bê tông, sản xuất  gạch nung.

    – Trang trí nội thất, mộc xây dựng.

    – Kinh doanh và làm đại lý bán vật liệu xây dựng, thiết bị văn phòng

    Chuyển giao công nghệ xây lắp và vận hành lò tuy nen.

    3. Cơ cấu tổ chức  của công ty:

     

    3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bộ máy quản lý văn phòng Công ty bao gồm :

    • 01 Giám đốc
    • 03 Phó giám đốc:
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Quản lý kỹ thuật, chất lượng, an toàn lao động.
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Kế hoạch tổng hợp và Hành chính Quản trị.
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Dự án đầu tư.

    Công ty có 6 phòng chuyên môn, nghiệp vụ: 

    1. Phòng Kế hoạch – Tổng hợp: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong các khâu xây dựng kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch tổng hợp báo cáo thống kê công tác hợp đồng kinh tế.
    2. Phòng Quản lý Dự án: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong các công tác tiếp thị và đấu thầu các công trình, các dự án phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, địa phương.
    3. Phòng Kỹ thuật – Chất lượng: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong lĩnh vực quản lý kỹ thuật quản lý chất lượng công trình an toàn lao động và các hoạt động khoa học kỹ thuật.
    4. Phòng Tài chính kế toán: có chức năng tổ chức bộ máy tài chính kế toán từ công ty đến các đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc. Đồng thời tổ chức và chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin kinh tế, hạch toán kế toán theo đúng điều lệ tổ chức kế toán, pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước và những quy định cụ thể của công ty về công tác tài chính.
    5. Phòng Tổ chức lao động: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong việc thực hiện các phương án sắp xếp và cải tiến tổ chức sản xuất công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng và tuyển dụng lao động đồng thời thực hiện các công tác thanh tra nhân dân trong toàn công ty.
    6. Phòng Hành chính quản trị: Có chức năng tiếp nhận thông tin, truyền tin truyền mệnh lệnh giúp giám đốc công ty trong việc quản lý điều hành đơn vị và trong quan hệ công tác với cấp trên, cấp dưới, khách hàng.

    3.2. Cơ cấu sản xuất của Công ty:

    Công ty trực tiếp điều hành sản xuất các Xí nghiệp, đội, bao gồm 7 Xí nghiệp và 1 đội xây dựng và trang trí nội thất trực thuộc:

    – Xí nghiệp xây dựng số 1.

    – Xí nghiệp xây dựng số 2.

    – Xí nghiệp xây dựng số 4.

    – Xí nghiệp xây dựng số 6.

    – Xí nghiệp xây dựng số 7

    – Xí nghiệp xây dựng số 8

    – Xí nghiệp xây dựng – Vật tư và xe máy

    – Đội xây dựng và trang trí nội thất.

    3.3. Trụ sở các đơn vị trực thuộc công ty:

    • Xí nghiệp xây dựng số 1.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.272071.- 5.564416.

    • Xí nghiệp xây dựng số 2.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.272562

    • Xí nghiệp xây dựng số 4.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.775.943

    • Xí nghiệp xây dựng số 6.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.775804.

    • Xí nghiệp xây dựng số 7.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 0903458198

    • Xí nghiệp xây dựng số 8.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 0913564297

    • Xí nghiệp xây dựng – Vật tư xe máy.

    Trụ sở: Khối 6 Thị trấn Đông Anh – Hà Nội.

    Tel: 8.832650.

    • Đội xây dựng – Trang trí nội thất.

    Trụ sở: Khối 6 Thị trấn Đông Anh – Hà Nội.

    Tel: 8.832340.

     

    2. Lực lượng lao động của Công ty

    Ngay từ khi mới thành lập công tác tổ chức của Công ty được hình thành để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của nhà nước giao.

    Đội ngũ cán bộ của Công ty được tuyển lựa từ các trường đại học và cơ sở sản xuất, vừa giỏi về lý thuyết vừa giỏi về thực tế đã đáp ứng được mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển của Công ty.

    TT CHUYÊN MÔN ĐƠN VỊ SỐ LƯỢNG
      ĐẠI HỌC   70
    1 Kỹ sư Xây dựng Người 35
    2 Kỹ sư điện Người 2
    3 Kỹ sư Quy hoạch Người 2
    4 Cử nhân Kinh tế Người 10
    5 Cử nhân Tài chính Người 13
    6 Cử nhân Luật, ngoại ngữ Người 3
    7 Kỹ sư Giao thông Người 3
    8 Kỹ sư Thuỷ lợi Người 2
      TRUNG CẤP   55
    1 Trung cấp Xây dựng Người 38
    2 Trung cấp Điện Người 5
    3 Trung cấp Kinh tế Người 12
      CÔNG NHÂN KỸ THUẬT   268
    1 Công nhân thợ nề Người 135
    2 Công nhân thợ sắt, hàn Người 64
    3 Công nhân thợ mộc Người 25
    4 Công nhân thợ điện, nươc Người 32
    5 Lái xe, lái cẩu, vận hành máy Người 12
    6 Lao động phổ thông Người 180

    Qua số liệu của bảng ta thấy bộ phận lao động gián tiếp gồm đại học: 77 người và trung cấp là 55 người chiếm 22%. Còn tỷ lệ lao động trực tiếp gồm công nhân kỹ thuật là 268 người, lao động phổ thông là 180 người chiếm 78%. Xét về cơ cấu lao động trực tiếp của công ty là 78%  tương đối thấp. Đây cũng là tình trạng chung của các doanh nghiệp. Do đó công ty cũng cần xem xét và bố trí lại lực lượng lao động cho phù hợp.

    II. KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

    1. Năng lực kinh nghiệm  của công ty:

    1. Số năm kinh qua làm tổng thầu hoặc thầu chính:
    • Trên địa bàn Hà Nội: 28 năm
    • Trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác: 23 năm

     

    1. Số năm có kinh nghiệm xây dựng chuyên dụng:
    STT TÍNH CHẤT CÔNG VIỆC SỐ NĂM KINH NGHIỆM
    1 Các công trình công nghiệp 28 năm
    2 Xây dựng các công trình nhà ở 28 năm
    3 Xây dựng các công trình nhà cao tầng 17 năm
    4 Xây dựng các công trình nhà biệt thự 17 năm
    5 Xây dựng các công trình trường học, nhà trẻ 28 năm
    6 Xây dựng các công trình Văn hoá 17 năm
    7 Xây dựng các công trình Hạ tầng kỹ thuật 14 năm
    8 Xây dựng các công trình Thể dục thể thao 21 năm

     

    1. Một số công trình công ty đang tiến hành thi công
    TÊN HỢP ĐỒNG GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG TÊN CƠ QUAN

     

    KÝ HỢP ĐỒNG

    NGÀY H.THÀNH
    Trung tâm thương mại và dịch vụ 151 Yên phụ 12,7 tỷ Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch vụ Du Lịch Ba Đình 03/2006
    Khu nhà ở cho thuê và dịch vụ du lịch 16B Ngũ xã 3,9 tỷ Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch vụ Du Lịch Ba Đình 03/2004
    Chung cư 17 tầng B6C Khu đô thị Nam Trung Yên 33 tỷ Ban QLDA xây dựng Nam Trung Yên 12 /2004
    Chung cư cao tầng CT4 khu đô thị mới Mỹ Đình – Mễ Trì 30 Tỷ Ban Quản lý các Dự án đô thị khu vực Hà Nội – Cty CPĐTPT Đô thị và KCN Sông Đà 04/2005
    Chung cư 9 tầng A3 Khu đô thị Nam Trung Yên 20 Tỷ Ban QLDA xây dựng Nam Trung Yên 12/2005
    Giảng đường 7 tầng Trường Đại học Thương Mại 16,5 tỷ Trường Đại Học Thương Mại 7/2005
    Thân nhà N2A Khu đô thị Trung hoà – Nhân chính 10,7 tỷ Công ty đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà nội 12/2004
    Tổng giá trị: 127,2 tỷ    

     

    1. Một số Công trình công ty Đã thực hiện trong 5 năm vừa qua

             

    TT TÊN/TÍNH CHẤT

     

    CÔNG TRÌNH

    TỔNG

     

    GIÁ TRỊ

    GIÁ TRỊ T.H THỜI  HẠN HỢP ĐỒNG CƠ QUAN CHỦ ĐẦU TƯ
    K.CÔNG H.THÀNH
    1 Khu nhà ở Đầm Trấu Hà Nội. 3 tỷ 3 tỷ 4/1998 8/1998 Ban QLDA Công ty Đầu tư Phát triển nhà Hà Nội
    2 Trung tâm giáo dục Quảng An – Tây Hồ 4,5 tỷ 4,5 tỷ 3/1999 8/1999 Ban QLDA Quận Tây Hồ  Hà Nội.
    3 Trường Thể thao thiếu niên học sinh nghiệp dư 10-10 HN 8,6 tỷ 1,8tỷ 10/1999 5/2000 Ban Quản lý dự án Trường Thể thao thiếu niên học sinh nghiệp dư 10-10.
    4  Khu nhà ở (lô số 2 và 3) 560 Nguyễn Văn Cừ  Gia Lâm Hà Nội 5,2 tỷ 5,2 tỷ 10/1999 12/2000 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    5  Khu nhà ở (lô số 1) 560 Nguyễn Văn Cừ  Gia lâm Hà Nội 9,1 tỷ 9,1 tỷ 12/1999 10/2001 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    6 Khu nhà ở 684 Nguyễn Văn Cừ  Gia lâm Hà Nội. 5,1 tỷ 5,1 tỷ 11/1999 11/2001 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    7 Kiên cố hoá kênh mương Đông Anh. 3,6 tỷ 2,5 tỷ 11/2000 1/2001 Ban quản lý dự án Huyện Đông Anh.
    8 Chung cư 6 tầng G3 Vĩnh phúc Cống vị – Ba đình. 6,4 tỷ 6,4 tỷ 12/2000 10/2001 Ban quản lý dự án Quận Ba Đình.
    9 Xưởng sản xuất thịt nguội Xuất nhập   chế biến Thực phẩm Hà Nội 3 tỷ 3 tỷ 10/2002 12/2002 Công ty SX -DV và XNK Nam Hà Nội
    10 Khu nhà ở N1,N2 xã Xuân Đỉnh – Từ Liêm – Hà Nội 7,7 tỷ 7,65 tỷ 10/2002 1/2003 Công ty Thiết kế xây dựng nhà.
    11 Xây dựng nhà xưởng Công ty Thiết bị điện Đông Anh 1,37 tỷ 1,37 tỷ 2/2003 5/2003 Công ty Thiết bị điện Đông Anh
    12 Phần mái trung tâm TDTT Tỉnh Yên Bái 4,8 tỷ 4,8 tỷ 10/2002 5/2003 Ban QLDA Tỉnh Yên Bái
    13 Phần móng  Nhà chung cư 9 tầng N2A  Trung Hòa – Nhân Chính  6 Tỷ 6 Tỷ 1/2003 5/2003 Công ty Đầu tư và Phát triển  nhà số 6 Hà Nội
    14 Chung cư 6 tầng N6B Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính 8,65 tỷ 8,65 tỷ 2/2003 9/2003 Công ty Đầu tư và Phát triển nhà số 6 Hà Nội
    15 Nhà luyện tập và thi đấu TDTT Gia lâm 37tỷ 22,578 tỷ 5/2001 9/2003 Ban quản lý dự án Huyện Gia Lâm.
    16 Chung cư 9 tầng N1A-N1B khu Đô thị Trung Hoà – Nhân Chính. 20,5 tỷ 20,35 tỷ 5/2002 10/2003 Công ty đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà Nội
    17 Nhà chung cư 11 tầng tại 18 Yên Ninh – Ba Đình Hà Nội 17 tỷ 17 tỷ 6/2002 10/2003 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Tây Hồ và Cty ĐTXDBa Đình.
    18 Khu chung cư  Nghĩa Đô – Dịch Vọng -Từ Liêm – Hà Nội 6 tỷ 6 tỷ 2/2003 2/2004 Công ty kinh doanh nhà số 3 Hà Nội
    19 Cải tạo kè đá hạ lưu sông Lừ 1,7 1,7 05/2003 02/2004 Ban Quản lý dự án công trình Giao thông Công chính
    20 Trường Phổ thông Trung học  Ninh Sơn 4,108 4,108 6/2003 3/2004 Công ty Phát triển Kỹ thuật xây dựng TDC
    21 Nhà khám đa khoa và nhà nghiệp vụ Bệnh Công ty Dung Quất 8,4 8,4 9/2003 4/2004 Công ty phát triển kỹ thuật xây dựng TDC
    22 Nhà điều hành đội vận tải Công ty truyền tải điện I 1,95 1,95 10/2003 4/2004 Công ty truyền tải điện I
    23 Phần móng chung cư  17 tầng B6C khu đô thị Nam Trung Yên 8,9 tỷ 8,9 tỷ 11/2003 04/2004 Ban QLDA Nam Trung Yên
    24 Xây dựng Hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan ngoài nhà ô đất N6 Khu đô thị Trung Hoà – Nhân Chính 1,5 1,5 04/2004 5/2004 Công ty Đầu tư và Phát triển nhà số 6 Hà Nội

     

    2. Năng lực thực hiện sản xuất vật liệu xây dựng

    1. Năng lực gia công cấu kiện bê tông đúc sẵn: Công ty đã tăng cường đầu tư chiều sâu mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất các loại cấu kiện cọc bê tông với các kích cỡ theo yêu cầu thiết kế, các cấu kiện bê tông định hình như cấu kiện Panen, ống cống BTCT, cọc BTCT….. để phục vụ các công trình chung cư cao tầng của công ty, các đơn vị thành viên trong Tổng công ty và tiêu thụ trên địa bàn Hà Nội, các tỉnh lân cận.
    2. Năng lực gia công sản phẩm mộc: Được tập trung tại xưởng có diện tích 3000m2 và phục vụ ở các công trình đang thi công. Có đội ngũ thợ mộc giỏi đủ khả năng hoàn thiện các công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, sản xuất hàng mộc đạt chất lượng tốt, kỹ mỹ thuật đẹp.

    3. Năng lực thực hiện dự án đầu tư

    Một số các dự án Công ty đang triển khai :

    – Dự án nhà ở Bồ Đề – Long Biên

    – Dự án nhà ở Tiên Dương – Đông Anh

    – Dự án nhà ở Xuân Nộn – Đông Anh

    – Dự án nhà ở Ninh Hiệp – Gia Lâm

    Các dự án trên Công ty đã và đang phối hợp với các cơ quan quản lý của Thành phố, chính quyền địa phương và phía đối tác  để hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục sớm đưa dự án vào khởi công trong năm 2004 và các năm tiếp theo.

    4. Các thành tích cơ bản của công ty:

    Trong 28 năm qua Công ty đã và đang xây dựng nhiều công trình đóng góp đáng kể vào các lĩnh vực Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, Thể dục thể thao, Khoa học kỹ thuật của Thủ đô. Công ty đã từng bước tạo dựng cho mình một truyền thống xây dựng vẻ vang, đảm bảo uy tín chất lượng với bạn hàng trong và ngoài nước, với những thành tích đạt được, Công ty được Nhà nước tặng thưởng:

    Huân chương lao động hạng Ba ( năm 1990 )

    Huân chương lao động hạng Nhì ( năm 2000 ).

    Là một đơn vị tiêu biểu đạt chất lượng trong ngành xây dựng Việt nam. Đã được tặng thưởng 8 Huy chương vàng chất lượng cao cho các công trình tiêu biểu đạt chất lượng cao.

    MỘT SỐ CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CẤP HUY CHƯƠNG VÀNG VÀ BẰNG KHEN 

    CHẤT LƯỢNG CAO

    1. Nhà làm việc Công An huyện Đông Anh
    2. Công trình chợ Đồng Xuân – Bắc Qua
    3. Thư viện Công ty Hà Nội
    4. Nhà điều hành sản xuất Nhà máy Điện Cơ Trần Phú
    5. Cải tạo và mở rộng nhà khách UBND Thành phố Hà Nội
    6. Công trình lò nung Tuy – nel Nhà máy gạch Cầu Đuống
    7. Trường trung học cơ sở Quảng An Tây Hồ – Hà Nội
    8. Bể bơi Trường Thể Thao Thiếu Niên 10-10 Ba Đình – Hà Nội

    5. Năng lực nhóm xe máy xây dựng thi công của công ty

    Thiết bị máy của Công ty được trang bị ở các Xí nghiệp bao gồm nhiều chủng loại xe máy và chia làm hai nhóm:

              5.1. Nhóm máy thi công các loại máy: Cẩu tháp RAIMONDI, POTAIN, độ cao 50¸80m tầm với 30¸55m, Cần cẩu tải trọng 5¸12 tấn, máy khoan cọc nhồi, máy ép cọc, máy ủi, máy xúc, máy phát điện, máy  hàn, máy trộn bê tông, máy trộn vữa, đầm dùi, đầm bàn, máy khoan phá bê tông, máy mài, máy cưa, máy bơm nước, máy vận thăng đưa vật liệu lên cao 40¸70 mét, máy trắc địa đo đạc các loại. Các loại máy có đủ khả năng thi công cơ giới mọi công trình có quy mô lớn, địa hình phức tạp và chiều cao khác nhau.

              5.2. Nhóm ô tô và phương tiện vận tải: gồm các loại ô tô tải, sơ mi rơ mooc, xe ô tô các hạng khác phục vụ các dạng đường sá công trình.

    Ngoài năng lực thiết bị, xe máy của Công ty đơn vị có liên kết với một số đơn vị bạn trong Tổng công ty,Thành phố và các đơn vị thi công xây dựng trong nước để có khả năng cung cấp đáp ứng các loại máy thi công để phục vụ cho công tác thi công các công trình cao tầng và phức tạp

              5.3. Một số máy móc thiết bị của Công ty

    LOẠI THIẾT BỊ, MÁY MÓC NƯỚC SẢN XUẤT SỐ

     

    LƯỢNG

    SỞ HỮU C.TY THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Cần cẩu tháp POTAIN

     

    Cần cẩu tháp RAIMONDI

    Cẩu tự hành HITACHI

    Máy đào KOMASU

    Máy ép cọc

    Máy đóng cọc

    Máy bơm bê tông cố định

    Ôtô benzin

    Ôtô tự đổ HuynĐai

    Máy ủi HITACHI

    Xe lu SAKAI

    Máy cắt gạch

    Máy mài 2 đá

    Máy kinh vĩ

    Máy Thuỷ bình

    Máy vận thăng trụ vuông

    Máy trộn bê tông 500L

    Máy trộn bê tông 250L

    Máy trộn vữa 80L

    Máy đầm bê tông

    Máy đầm cóc MIKSA

    Máy hàn điện HQ 24

    Máy phát điện

    Máy phát điện nhỏ

    Máy bơm nước

    Máy khoan bê tông

    Cốt pha thép

    Giáo chống tổ hợp

    Máy cắt, uốn thép

    Nhật

     

    Nhật

    Nhật

    Đức

    Nga

    Nga

    Hàn Quốc

    Nhật

    Nhật

    Hàn Quốc

    Đức

    Nhật

    Nhật

    Nga

    Đức

    Đức

    Đức

    Đức

    Nhật

    Hàn Quốc

    Nhật

    Nhật

    Nhật – TQ

    Nhật, Đức

    Việt Nam

    Việt Nam

    T. Quốc

    02

     

    01

    02

    02

    02

    01

    02

    04

    04

    02

    02

    25

    04

    02

    08

    08

    12

    20

    10

    40

    08

    06

    01

    03

    12

    10

    5.000 M2

    42 bộ

    06

    x

     

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    Qmax= 8T,    Rmax=55m

     

    Qmax= 5T,    Rmax=40m

    Qmax=12T,    Rmax=18m

    Qmax= 0,5 m3

    30 – 80 Tấn

    2,5 Tấn

    30m3/h

    7.5 Tấn

    10 Tấn

    150HP

    8-12 Tấn

    1 Kw

    2.7 Kw

    Độ chính xác: 0.001

    Độ chính xác: 0.001

    0,5 tấn

    4 Kw

    1 Kw

    0,45 Kw

    0.8 – 1.5 Kw

    1,5 – 3,0 Kw

    380V-24 Kw

    60 KVA

    15KVA

    2m3/h ¸ 50m3/h

    1,4 Kw¸2.8 Kw

    fi Ma x<= 40

    6. Nguồn lực tài chính của công ty

    Cơ cấu vốn của công ty qua các năm 2002-2004:

              Đơn vị: Triệu đồng

                                      Năm

     

    Chỉ tiêu

    2002 2003 2004
    Tổng vốn kinh doanh 32.320 33.133 46.264
    Vốn lưu động 25.790 26.283 38.757
     Vốn cố định 6.530 6.850 7.507

    Nhìn vào bảng ta thấy sự gia tăng về các chỉ tiêu không ngừng qua mỗi năm, năm sau luôn cao hơn năm trước. Đó là quá trình bảo toàn và phát triển vốn được trên giao, quá trình cố gắng của cả một tập thể công nhân viên trong công ty, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất, tiết kiệm mọi chi phí trong sản xuất, quản lý.

    Sản lượng tiêu thụ qua các năm tăng dần, chứng tỏ công tác tiêu thụ qua các năm  tăng dần và công tác marketing của công ty làm rất tốt.

     

    III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    1. Tình hình tuyển dụng lao động của Công ty

    Mọi tổ chức, doanh nghiệp đều muốn có một nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ, giàu kinh nghiệm trong tay mình, tại Công ty xây dựng số 9 cũng vậy. Đây chính là nội lực quan trọng cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển, vậy nên việc tuyển chọn và sử dụng lao động là rất cần thiết đối với sự phát triển ngày càng cao của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi người lao động phải có trình độ, nhanh nhạy tiếp thu cái mới và luôn tự hoàn thiện bản thân.

    – Từ năm 1990 đến nay với luồng không khí mới của nền kinh tế thị trường. Công ty đã có số lượng tuyển dụng như sau:

    Số lượng tuyển dụng:

      Đơn vị Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
    Số lượng lao động tăng trong năm Người 18 21 24
    Lao động gián tiếp Người 2 2 3
    Lao động trực tiếp Người 16 19 21

    Nhìn vào bảng biểu cho thấy số lượng Công ty tuyển vào phần nhiều là công nhân lao động trực tiếp. Vì xuất phát từ thực trạng của Công ty bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh. Bởi vậy nên số lao động gián tiếp không cần tuyển nhiều.

    – Công tác tuyển dụng của Công ty: Tuyển chọn con người vào làm việc phải gắn với đòi hỏi của công việc.

    – Tuyển chọn những người có tình độ chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạt tới năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt.

    – Tuyển những người có kỷ luật, trung thực, gắn bó với công việc.

    – Tuyển những người có sức khoẻ, làm việc lâu dài với Công ty, với các nhiệm vụ được giao.

    – Từ việc biết rõ nhu cầu lao động của Công ty.

    Công ty đã có những hướng tuyển dụng phù hợp với ngành nghề của Công ty qua việc chọn lựa phương hướng tuyển chọn:

    – Tuyển từ bên trong các trường Đại học, Cao Đẳng kỹ thuật trong nước.

    – Tuyển chọn bên ngoài, qua giới thiệu, qua sự phân bổ từ cấp trên đưa các chỉ tiêu lao động xuống, họ thường là những người có trình độ đã và đang làm việc ở các nghành khác chuyển tới.

    – Từ năm 1999 trở lại đây do sự giảm biên chế của nhà nước nên số lượng lao động tại Công ty đã không tăng nhiều so với trước, lao động chủ yếu tại Công ty được bố trí sắp xếp những công việc chủ yếu của Công ty.

    2. Công tác tuyển chọn của Công ty thường được tiến hành chặt chẽ

    – Căn cứ vào đơn xin việc, lý lịch, bằng cấp và giấy chứng chỉ về trình độ chuyên môn của người xin việc.

    – Căn cứ vào các hệ thống câu hỏi và trả lời để tìm hiểu người xin việc, các câu hỏi do Công ty đề ra.

    – Căn cứ vào tiếp xúc, gặp gỡ giữa Phòng tổ chức và người xin việc.

    – Căn cứ vào kiểm tra sức khoẻ, thử tay nghề, thử trình độ và khả năng chuyên môn. Do đó việc xem xét lại nguồn nhân lực hàng năm sẽ làm cho tổ chức thấy rõ chất lượng của nguồn nhân lực, chuẩn bị sẵn cho nhu cầu hiện tại và tương lai.

    – Trách nhiệm tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp người lao động thường được giao cho Phòng tổ chức, những người giám sát thi tuyển là những “Trưởng, Phòng, Ban  hoặc giao cho người đứng đầu của Bộ máy có nhu cầu và nhân lực.

    – Đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp nói chung và đối với Công ty xây dựng số 9 nói riêng thì việc xác định số lao động cần thiết ở từng bộ phận trực tiếp và gián tiếp có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề hoàn thành một cơ cấu lao động tối ưu. Vì vậy mà nếu thừa lao động thì gây khó khăn cho quỹ tiền lương và lãng phí sức lao động và nếu thiếu thì không đáp ứng được yêu cầu về công việc.

    Số lượng lao động.

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
    Lao động gián tiếp 66 22,2 68 21,5 70 20,7
    Lao động trực tiếp 231 77,8 247 78,5 268 79,3
    Tổng số lao động 297 100 315 100 338 100

    Qua số liệu của bảng trên ta thấy cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp của Công ty đều tăng nhưng không đáng kể, cụ thể là qua 3 năm số lao động gián tiếp đang từ 66 người năm 2002 lên 70 người năm 2004, tương ứng từ 22,2% năm 2002 giảm còn 20,7%. Lao động trực tiếp tăng 37 người qua 3 năm, tương ứng với 77,8% năm 2002 lên 79,3% năm 2004.

    – Tại công ty sau khi một số cán bộ và công nhân về hưu sau những năm công tác cống hiến cho Công ty, nhưng sau đó Công ty đã kịp thời bổ sung từ những nguồn sinh viên mới ra trường, các cán bộ công nhân viên có chuyên ngành từ các Công ty khác chuyển đến v.v.. để thay thế và tạo ra động lực mới trong đội ngũ lao động của mình.

    Để làm rõ hơn về tình hình chất lượng tuyển dụng và sử dụng lao động ta hãy nghiên cứu thực trạng lao động trong bộ máy gián tiếp qua bảng biểu sau:

    Kết cấu theo trình độ, độ tuổi của bộ máy gián tiếp năm 2004

    TT Loại lao động Tổng số Trình độ học thức Độ tuổi
    ĐH TH S.C <35 35-50 >50
    1 Tổng số 70 31 24 15 33 35 2
    2 Nhân viên quản lý 23 9 8 6 8 14 1
    3 Nhân viên kỹ thuật 21 13 8 0 11 9 1
    4 Nhân viên khác 26 13 5 8 15 11 0
    5 Tỷ lệ % 100 44,2 34,4 21,4 47,1 50,0 2,9

    Ta thấy rằng trong số lượng lao động gián tiếp của Công ty có kết cấu tương đối hợp lý, những người có trình độ Đại học và cả trên Đại học chiếm 44,2% ở các vị trí nhân viên quản lý, nhân viên kỹ thuật, kỹ sư xây dựng v.v.. mọi lĩnh vực chiếm các vị trí chủ chốt của Công ty đó chính là tiềm lực thúc đẩy đưa Công ty phát triển cho tới ngày nay.

    – Còn xét độ tuổi thì ta thấy rằng đó là sự kết hợp sức trẻ và kinh nghiệm cụ thể độ tuổi dưới 33 chiếm 47,1; còn độ tuổi 35-50 chiếm 50,0%, nhờ vậy đã phát huy được những kinh nghiệm, sức trẻ trong công việc của Công ty.

    IV. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9.

    1. Sơ lược tình hình đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

    – Tính đến năm 2002 dân số nước ta khoảng 75 triệu người, trong đó 80% dân số nước ta sống ở nông thôn, số người trong độ tuổi lao động là 40 người, lao động trẻ là 50,1%, dân số dưới 18 tuổi là 35%. Vì vậy, nguồn dự trữ lao động là rất lớn và hàng năm phải bố trí khoảng 1,6 – 1,7 triệu chỗ làm thì mới phù hợp với số lao động trẻ.

    Mô hình tháp lao động của Việt Nam so với các nước khác.

    Việt Nam Nước khác
    Lao động không lành nghề 85% 35% hơn 2 lần
    Lao động lành nghề 5,5% 35% kém 7 lần
    Chuyên viên kỹ thuật 3,5% 24% kém 7 lần
    Kỹ sư 2,7% 5%  

    Thông qua con số đó cho thấy việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam là rất cần thiết có đào tạo thì mới theo kịp được tiến độ phát triển của khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới, đồng thời cũng đang phát triển ở Việt Nam.

    Để khắc phục chính sách đó Nhà nước cũng đã có những chính sách đó, định hướng cho công tác đào tạo và phát triển nguồn lao động ở Việt Namm, tạo điều kiện công ăn việc làm cho người lao động, mở các trường Trung cấp, cao đẳng dạy nghề, đào tạo v.v..

     

    2. Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty xây dựng số 9

    – Đào tạo nhằm giúp cho người lao động có được các kỹ năng và kiến thức cần thiết cho sự nghiệp mà mình theo đuổi, từ đó mà phát huy được năng lực của họ, giúp họ ổn định công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế xã hội của người lao động góp phần cho sự phát triển của xã hội, có ích cho đất nước, mang lại hiệu quả cao.

    – Nền kinh tế xã hội hiện nay đã trải qua một bước tiến lớn, thông qua tiến bộ về công nghệ đang làm biến đổi cơ cấu công nghiệp phát triển nguồn nhân lực càng trở lên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Bởi vậy mà xây dựng một kế hoạch cụ thể cho đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là cần thiết cho mọi doanh nghiệp, tổ chức, Công ty xây dựng số 9 cũng vậy. Công ty đã tổ chức công tác đào tạo nhân lực một cách có cụ thể:

    Những mục tiêu đào tạo của Công ty:

    + Trang bị những kỹ năng cần thiết, nâng cao được năng lực làm việc cho người lao động.

    + Đào tạo cho cán bộ, các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật

    + Nâng cao tay nghề, bồi dưỡng cho các bậc thợ cho công nhân

    – Từ những năm 1999 Công ty đã đổi mới cả đội ngũ nhân viên lẫn nâng cao công nghệ mới, tất cả những sự kiện trên cho thấy Công ty đã và đang có điều kiện hoàn thiện về chất lượng công trình, điều đó có lợi cho sự phát triển về hoạt động kinh doanh của Công ty.

    –  Về trình độ của lực lượng lao động trực tiếp tại Công ty hầu hết đã qua các trường đào tạo, nâng cao tay nghề.

    – Vấn đề hiện nay của Công ty đặt ra là Công ty phải nâng cao chất lượng công nhân viên, tiếp nhận những người có tay nghề cao, khuyến khích công nhân dự thi nâng bậc thợ, chú trọng việc đầu tư và nâng cao chất lượng của yếu tố con người, nó sẽ có hiệu quả lâu dài.

    – Để công tác đào tạo và phát triển nhân lực của Công ty mang lại hiệu quả cao thì việc lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp những điều kiện của Công ty phụ thuộc về vốn, tài chính, con người… Công ty cần đào tạo đúng đối tượng, đủ chứ không tràn lan. Từ những điều kiện vốn có của Công ty, Công ty đã lựa chọn cho mình phương pháp đào tạo riêng, Công ty đã đặt ra kế hoạch đào tạo theo chỉ tiêu hàng năm, có quỹ riêng chi phí khuyến khích đào tạo.

    – Thi lên bậc lương.

    – Những cán bộ cần phải có trình độ phù hợp với sự thay đổi của công việc hay nâng cao tay nghề, Công ty gửi đi đào tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau.

    – Với cán bộ bằng cách gửi đi học nâng cao trình độ

    – Đối với công nhân: Đào tạo tại nơi làm việc. v.v…

    Sơ đồ mô hình đào tạo và phát triển nhân lực ở doanh nghiệp

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Môi trường bên trong Doanh nghiệp

     

    3. Chế độ thù lao lao động tại Công ty xây dựng số 9.

    3.1. Mục tiêu và căn cứ đãi ngộ tại Công ty

    – Mục tiêu: Thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người lao động theo quy định của Nhà nước.

    – Người lao động cung cấp sức lao động của họ cho doanh nghiệp, sức lao động là nhân tố cấu thành nên các nguồn lực đầu vào của mọi doanh nghiệp và luôn luôn là nhân tố quyết định nhất ảnh hưởng tới kết quả vầ hiệu quả của mọi quá trình kinh doanh hay thành quả của tổ chức hay doanh nghiệp cũng như mọi hàng hoá khác sức lao động có giá trị, xét trên phương diện lý thuyết thì sức lao động, sức lao động được biểu hiện ở hình thức tiền lương. Bởi vậy mà Công ty đã có mục tiêu đãi ngộ cán bộ nhân viên của mình như sau:

    – Trả công xứng đáng cho đóng góp cống hiến của cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Đảm bảo tài sản sức lao động là nâng cao đời sống cho toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Động viên, khuyến khích thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công nhân viên để tạo ra nhiều thuận lợi, thành công của Công ty.

    – Khuyến khích lòng nhiệt tình, hăng say, tinh thần sáng tạo không ngừng, để thu hút lao động giỏi, có trình độ, có sức khỏe.

    – Tất cả các mục tiêu trên và chế độ thù lao tại Công ty đều hướng tới mục đích là sự phát triển không ngừng của Công ty, cải thiện đời sống của toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    3.2. Chế độ thù lao lao động tại Công ty.

    1. Chế độ tiền lương:

    – Tiền lương và vấn đề rất quan trọng trong xã hội, nếu chế độ thù lao, lao động là không phù hợp thì sẽ làm người lao động thất vọng. Bởi vậy mà Công ty  xây dựng số 9 đã cố gắng để có chế độ lương bổng phù hợp với quy định của nhà nước, phù hợp với sức lao động của công nhân viên, để kích thích lòng hăng hái trong công việc của công nhân viên, đảm bảo công bằng, bởi vậy Công ty đã có chế độ trả lương sau:

    + Phần 1: Lương cấp bậc của cán bộ công nhân viên theo nghị định 26/CP (gọi tắt là tiền lương T1).

    + Phần 2: Tiền lương theo kết quả kinh doanh cuối cùng của tập thể và cá nhân người lao động (gọi tắt là T2) được xác định theo công thức sau:

    T1 = Tli + T2i

    Với T1i : tiền lương cấp bậc của người thứ i

    T2i = tiền lương người nhận được theo công việc được gắn với độ phức tạp trách nhiệm, kết quả và ngày làm công thực tế.

    – Trong đó: T1i = Ni Ti

    Với Ni : số ngày công thực tế của người thứ i

    Ti : xuất lương ngày theo cấp bậc của người thứ i

    1. Chế độ tiền lương

    – Là con người ai cũng muốn nghe lời khen và muốn được công nhận về công việc mình đã hoàn thành tốt công việc đó mà mình đã cống hiến cho Công ty, Công ty hay doanh nghiệp.

    – Qua việc đánh giá, phân tích thành tích công tác chính xác, ban lãnh đạo của Công ty đã nắm được các thông tin về năng lực của từng nhân viên, biết được rõ những gì công nhân viên mang lại cho Công ty. Từ đó có những khen thưởng kỷ luật, duy trì sự công bằng về thưởng phạt của Công ty.

    – Tại Công ty xây dựng số 9 thông qua tiền thưởng cũng được coi là đòn bẩy kinh tế nhằm kích thích nhân viên và mang lại hiệu quả cao trong kinh tế.

    – Hàng năm Công ty không ngừng tăng cường quỹ khen thưởng và phúc lợi cho công nhân viên.

    – Việc phân chia quỹ tiền lương từ phúc lợi của Công ty hàng năm được phân chia theo nguyên tắc kết hợp giữa tiền lương cấp bậc T1 và kết quả của thành tích công việc được xếp hạng của từng quý và thời gian làm việc của mỗi người.

    1. Chế độ phúc lợi xã hội

    – Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, là một chính sách trợ cấp, hỗ trợ cho cán bộ công nhân viên đang công tác tại Công ty làm việc làm không thể thiếu được trong chế độ thù lao lao động. Ban lãnh đạo của Công ty luôn chú trọng tới.

    – Tình hình sử dụng các phúc lợi khác như thế nào? (Có những kỳ tham quan, nghỉ mát, dưỡng sức cho CBCNV không? có trợ cấp ốm đau? có sự quan tâm về tinh thần không?

    – Công ty đã tạo điều kiện môi trường làm việc cho cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Cải thiện đời sống, tinh thần cho người lao động

    – Tổ chức khám sức khoẻ hàng năm cho công nhân viên của Công ty

    – Có quà tặng cho những dịp lễ, tết, kỷ niệm hàng năm.

    – Hàng năm Công ty tổ chức các cuộc nghỉ mát, nghỉ dưỡng sức cho cán bộ công nhân viên, tại các điểm nghỉ mát, du lịch trong nước.

    – Công ty có đề ra một quĩ trợ cấp cho những cán bộ công nhân viên khi ốm, đau, v.v…

    – Tổ chức thăm hỏi thường xuyên, quan tâm đến đời sống tinh thần của toàn bộ công nhân viên của Công ty.

    – Khen thưởng, khuyến khích cán bộ công nhân viên tham gia các công tác, đoàn, Đảng v.v…

    – Bên cạnh những phương pháp hoàn thiện công tác quản trị, Công ty xây dựng số 9 vẫn còn có những khuyết điểm sau:

    – Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Công ty, đặc biệt là công tác tuyển dụng thường xuyên chưa phát huy hết tác dụng, chưa có hệ thống hoàn chỉnh, vì vậy mà Công ty chưa tuyển được nhiều những cán bộ trẻ, có tài năng cho công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

     

    CHƯƠNG II

     MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

     

    I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    – Mục tiêu kế hoạch trong những năm tới được xây dựng trên cơ sở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của những năm trước.

    Thực hiện theo nguyên tắc, đảm bảo việc làm không những nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên chức, đời sống vật chất đầy đủ hơn, tạo điều kiện cho họ công tác tốt.

    – Nâng cao công nghệ kỹ thuật, trang bị, đầu tư một số máy móc hiện đại đổi mới khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ những công trình lớn đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    – Xây dựng mức lương hoàn chỉnh hơn.

    – Tính toán chặt chẽ số người lao động, số công nhân viên để có thể tinh giảm bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng công việc.

    – Thường xuyên kế hoạch hoá và kiểm tra, kiểm soát chỉ tiêu tăng năng suất lao động cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là những lao động đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm.

    – Quan tâm thích đáng đến vấn đề bảo hộ và an toàn lao động, chú ý phát triển nghiên cứu kỹ các hình thức tiền lương, thưởng.

    – Tăng cường giáo dục ý thức tư tưởng cho người lao động, tư tưởng giáo dục và xuất phát điểm quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Người có ý thức tự giác lao động bao giờ cũng hăng say trong công việc, bao giờ cũng sáng tạo hơn, năng suất lao động cao hơn, ngược lại người có ý thức kém không những lao động thiếu nhiệt tình, năng suất lao động thấp, mà còn đôi lúc sẽ có những tư tưởng rã đám, lôi kéo người khác ảnh hưởng xấu tới công việc kinh doanh của Công ty. Vì vậy tăng cường kỷ luật lao động vầ một điểm quan trọng.

    – Hiện nay phần lớn công việc nhân viên của Công ty đều hăng hái nhiệt tình công tác, song bên cạnh đó vẫn còn một số kém. Bởi vậy Công ty cần phải có sự chấn chỉnh kịp thời, tháo gỡ những khúc mắc nhỏ.

    – Là một doanh nghiệp xây dựng mục tiêu của Công ty trước mắt vẫn là tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng công trình để cạnh tranh thị trường, xây dựng Công ty thành một doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên có trình độ giỏi, tay nghề cao, tạo hiêu quả tốt cho công tác của Công ty.

    – Công ty tiếp tục tăng cường đào tạo, sắp xếp bố trí, bổ sung những cán bộ, những nhân viên giỏi, đủ năng lực công tác vào những chỗ còn thiếu phù hợp với yêu cầu công việc của Công ty, Công ty sắp xếp hoàn thiện hơn các Phòng, ban…

    Áp dụng triển khai tiền lương, thưởng theo quyết định của Bộ lao động thương binh và xã hội, đồng thời áp dụng cơ chế khoán, nhằm khuyến khích người lao động tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả, đảm bảo thu nhập tương xứng với kết quả lao động.

    – Tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý tài chính Nhà nước, tiết kiệm, sử dụng vốn, ngăn ngừa vi phạm gây thất thoát tiền của Nhà nước.

    – Đối với bộ phận quản lý, các Phòng ban tổ chức, thì tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ trước mắt, các Phòng ban lãnh đạo, bằng hình thức nâng cao tay nghề, chuyên môn.

    Công tác quản trị cần chú ý thực hiện:

    – Để  nâng cao chất lượng những công tác của Công ty trong những năm sắp tới và nâng cao, tính hiệu quả của tổ chức thì việc tuyển dụng người, có năng lực và trình độ là công việc luôn cấp thiết của Công ty.

    – Lựa chọn được những nhân tài cho công ty, phù hợp với yêu  cầu của công việc thì bên cạnh công tác tuyển dụng nội bộ, Công ty cần tăng cường tuyển từ các nguồn bên ngoài để tạo ra động lực mới, góp phần tạo dựng các mục tiêu kinh doanh của Công ty.

    – Do yêu cầu của Công ty cũng như của Tổng công ty trong lĩnh vực xây dựng, nên việc tuyển dụng chỉ cần những người có năng lực, trình độ là chủ yếu do vậy mà cần chất lượng chứ không cần số lượng, để đảm bảo việc làm cho người lao động, khắc phục tình trạng dư thừa lao động tại Công ty, Công ty xem xét khả năng kỹ càng, trước khi ký hợp đồng dài hạn những cán bộ, công nhân lành nghề, đồng thời tinh giảm những người không có năng lực trong công việc.

    – Vẫn duy trì công tác tuyển chọn thường xuyên để có cơ hội tìm ra được những cán bộ công nhân viên giỏi cho Công ty, những nhân tài cho đất nước.

    * Hoàn thiện cơ cấu quản lý: Việc hoàn thiện đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty là một tất yếu cần thiết  phù hợp với cơ chế quản lý mới, cơ cấu phải đó phải phát huy được vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong Công ty, Công ty đã đổi mới hoàn toàn cơ cấu quản lý gọn, nhẹ, chất lượng, từ đó giúp Công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiểu quả, lãnh đạo đưa Công ty thực hiện tốt những mục tiêu vừa qua và sắp tới của Công ty.

    * Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ làm vịêc cho cán bộ công nhân viên của Công ty qua các hình thức sau.

    – Cử những cán bộ có năng lực, tham gia học nâng cao tay nghề, tại các trung tâm đào tạo.

    – Tạo điều kiện cho các công nhân viên có tay nghề cao, nâng cao trình độ bằng cách nhập học các trường Đại học, Tại chức, dành cho cán bộ công nhân viên.

    – Mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, thợ kỹ thuật v.v… nâng cao trình độ nghiệp vụ để giúp cho Công ty trưởng thực hiện những công tác của Công ty trong những năm tới, tạo điều kiện cho những cán bộ giỏi có cơ hội thăng tiến, đảm nhiệm các trọng trách quan trọng của Công ty.

    – Thực hiện các công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, để họ cảm thấy như sống trong một gia đình lớn đó là Công ty  do vậy họ sẽ chia sẻ gắn bó với công việc mình làm.

    – Xem xét lại chế độ thù lao, lao động tại Công ty, để có một phương pháp trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên một cách công bằng cho người lao động.

    – Đánh giá đúng mức độ đóng góp, hoàn thành công việc.

    * Những người được hưởng chế độ hệ số lương cao thì phải là người có trình độ, tay nghề cao, nắm bắt và áp dụng phương pháp lao động tiên tiến, có hiệu quả, ngày công lao động vượt mức năng suất lao động cá nhân.

    * Những người được hưởng hệ số trung bình là những người đảm bảo ngày, giờ công lao động, chấp hành chưa nghiêm những qui tắc của Công ty, những người này ngoài việc hưởng mức lương thấp còn có nguy cơ bị sa thải.

    * Về chính sách phúc lợi cho toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Tăng cường đảm bảo an toàn lao động, đảm bảo sức khoẻ, chế độ làm việc cho người lao động.

    – Chú ý hơn các chế độ bảo hiểm xã hội, y tế v.v. cho người lao động (tạo cảm giác an toàn) thoải mái trong công việc, thưởng, phạt, kịp thời.

    – Đề bạt, nâng cao, tận dụng có hiệu quả, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

    II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9.

     1. Về tuyển dụng

    Để Công ty ngày càng phát triển, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao thì việc tuyển dụng người có năng lực, trình độ là rất cần thiết. Hiện nay chính sách tuyển dụng của Công ty tương đối thích hợp và có hiệu quả.

    – Công ty tuyển những người đúng chuyên ngành, nghề phù hợp với công việc, khi cần tuyển dụng nhân viên, muốn có cơ hội chọn lựa thì Công ty cần tăng cường tuyển từ các nguồn bên ngoài.

    – Trong trường hợp cần lao động gấp thì Công ty nên Công ty sử dụng phương pháp nhờ giới thiệu đăng tin tuyển.

    – Do đặc thù công việc của Công ty là chuyên xây dựng những công trình dân dụng và công nghiệp nên thành phẩm sản xuất ra mặt hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng của người tiêu dùng trong xã hội nên đảm bảo lực lượng lao động của Công ty đủ người, không thừa, không  thiếu.

    Về tuyển dụng cần phải làm ngay:

    • Thường xuyên tuyển dụng cả ở nguồn bên trong, lẫn bên ngoài, phát hiện những cán bộ công nhân viên giỏi, có tay nghề để tuyển lao động vào làm việc tại Công ty. Tránh chỉ tuyển lao động theo sự giới thiệu thân quen, mang tính chất gia đình.

    Nhất thiết Công ty nên áp dụng các bước tuyển chọn nhân lực sau:

    1. Phỏng vấn sơ bộ ứng viên
    2. Nghiên cứu đơn xin việc
    3. Trắc nghiệm các lĩnh vực
    4. Phỏng vấn chính thức
    5. Nghiên cứu điều tra hồ sơ xin việc
    6. Khám sức khoẻ
    7. Chính thức tuyển dụng

    2. Hoàn thiện cơ cấu quản lý.

    Thực tế hiện nay ở Công ty Xây dựng số 9 cơ cấu bộ máy còn chưa thực sự gọn nhẹ, sự bất lợi do việc giám đốc trực tiếp chỉ đạo điều hành, sự bất lợi này thể hiện ở chỗ các quyết định về hoạt động và kinh doanh của công ty chỉ tập chung duy nhất ở giám đốc. Do vậy  dẫn tới khó khăn cho các phòng ban, các đơn vị thành viên trong việc xin ý kiến chỉ đạo cũng như việc ra quyết định kịp thời của giám đốc. Để khắc phục tồn tại trên công ty cần thực hiện công việc cụ thể sau:

    – Thực hiện việc uỷ quyền giữa giám đốc và các phó giám đốc: Giám đốc công ty sẽ uỷ quyền một phần hoặc toàn bộ cho các phó giám đốc trong từng mảng công việc khi mình đi vắng. Trong quá trình điều hành các phó giám đốc phải thường xuyên liên hệ với giám đốc qua thư tín hoặc điện thoại để  báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo nếu có vấn đề đột xuất xảy ra. Các phong ban, các đơn vị thành viên phải có trách nhiệm giúp đỡ các phó giám đốc hoàn thành trách nhiệm được giao và khi thực hiện công việc phải xin ý kiến chỉ đạo của phó giám đốc.

    3.Về đào tạo và phát triển nhân lực.

    – Việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho người lao động phải căn cứ vào mục tiêu phát triển của Công ty. Từ đó đánh giá chính xác nhu cầu hiện tại và nhữgn mục tiêu của những năm tiếp theo.

    – Công ty mở lớp đào tạo, huấn luyện một số cán bộ quản lý của Công ty, cử đi học cán bộ khoá nâng cao chuyên ngành, thi lên bậc, nâng cao trình độ nghiệp vụ của phòng ban, học thêm ngoại ngữ, sử dụng thành thạo vi tính.

    – Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các cán bộ quản lý giỏi có cơ hội thăng tiến.

    – Để có đội  ngũ cán bộ như mong muốn thì Công ty cần có kế hoạch đào tạo để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác quản trị.

    – Đối với những lao động có chuyên môn nghiệp vụ thì phải có kế hoạch, chương trình cụ thể đặt ra để bồi dưỡng cho cán bộ vào các kỳ đến niên hạn xét bậc lương.

    – Thực hiện công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức để họ có trách nhiệm, yêu thích công việc mình làm, để họ cố gắng hết sức mình vì sự nghiệp của Công ty.

    – Đề bạt những nhân viên, cán bộ có tài năng, có chế độ thưởng, phạt rõ ràng, công bằng, đó là yếu tố kích thích, sự cống hiến của mình đối với Công ty.

    – Nhân viên phải được đào tạo đúng ngành, đúng nghề.

    – Ngoài ra Công ty nên tổ chức lần giao lưu giữa các nhân viên với nhau.

    – Người công nhân có kinh nghiệp hướng dẫn cho những công nhân mới.

    4. Về chế độ thù lao lao động và chế độ khen thưởng

    – Để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty và để phát triển Công ty thành một công ty lớn có uy tín trong ngành xây dựng tại Hà Nội thì Công ty phải chú trọng tới nguồn nhân lực của mình, phải khuyến khích và có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với những nhân viên đã làm tốt phần việc của mình, có tay nghề cao.

    – Xây dựng một mức lương cơ bản, trả công xứng đáng với sức lao động mà người lao động bỏ ra. Từ đó sẽ thúc đẩy được nhân viên lao động với hiệu quả cao hơn.

    – Nhân viên sẽ được thưởng với mức thu nhập gia tăng nếu vượt mức kế hoạch.

    – Công ty đã trả lương theo (mức lương sản phẩm) đó là hình thức trả lương theo kết quả lao động đo bằng sản phẩm tạo ra, lương có thưởng.

    -Với hình thức trả lương có thưởng, không chỉ phải trả lương tăng thêm khi năng suất lao động tăng mà còn trả tăng thêm khi nâng cao chất lượng công việcd chẳng hạn như: giảm phế phẩm, tiết kiệm tiêu hao vật tư, có phát minh sáng kiến mới có lợi cho công việc đó là các khoản tiền.

    + Tiền thưởng năng suất.

    + Tiền thưởng chất lượng

    + Tiền thưởng tiết kiệm

    – Ngoài ra việc đánh giá mức độ đóng góp để hoàn thành công việc của người lao động thì phải phản ánh được chất lượng, số lượng lao động thực tế của người lao động do tập thể bàn bạc và quyết định một cách dân chủ, việc đưa các chỉ tiêu đánh giá bằng phương pháp cho điểm tuỳ theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nhưng phải phù hợp các nội dung cơ bản sau:

    – Những người hưởng hệ số lương cao thì phải là người có trình độ tay nghề cao và áp dụng phương pháp lao động tiên tiến, ngày công lao động đạt và vượt mức năng suất cá nhân.

    – Những người được hưởng hệ số trung bình là bảo đảm ngày, giờ, chấp hành sự phân công của người phụ trách, đạt năng suất cá nhân, đảm bảo an toàn lao động.

    – Những người hưởng hệ số thấp là những người không đảm bảo ngày công quy định, chấp hành chưa nghiêm sự phân công của người phụ trách, không được đưa năng suất lao động.

    + Về chính sách phúc lợi cho các cán bộ công nhân viên của Công ty, cho tới nay các hoạt động phúc lợi của Công ty đã có kết quả khá tốt, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tạo cảm giác an toàn trong công việc, đó là các hoạt động khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần cho người lao động đòi hỏi Công ty phải duy trì và phát triển nhiều hơn công tác này.

    – Bên cạnh các chế độ trả lương và phúc lợi xã hội, Công ty cần có các hình thức khác như thưởng phạt kịp thời đối với những người hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ được giao, có vậy mới khuyến khích được họ động viên được tinh thần tự giác cao của họ để kịp thời động viên khen thưởng những lao động có thành tích xuất sắc, sáng tạo trong công việc, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của Công ty.

    – Công ty cần trích quỹ khen thưởng kịp thời còn đối với những người mắc lỗi lầm thì cần phải đưa ra những hình thức đáng để răn đe kịp  thời như kỷ luật, trừ lương.v.v…

    • Chế độ tiền thưởng nên áp dụng như sau:

    + Đối với  lao động gián tiếp tiền thưởng = 0.005% Tổng giá trị hợp đồng.

    + Đối với lao động trực tiếp tiền thưởng  = 0.1% Tổng giá trị hợp đồng.

    5. Một số các biện pháp khác.

    1. Về đãi ngộ thông qua công việc

    Tại mỗi đơn vị của Công ty, mỗi cán bộ công nhân viên đều được giao trách nhiệm hoàn thành công việc. Để nâng cao công việc và hiệu quả lao động, Công ty cần có biện pháp:

    + Sử dụng đúng khả năng lao động, bố trí công việc của họ phù hợp với nguyện vọng, năng lực tạo điều kiện cho họ nâng cao trình độ và phát huy hết năng lực của mình.

    + Phân công giao trách nhiệm về công việc cụ thể cho từng người, một mặt giúp các nhà lãnh đạo quản lý công nhân viên của mình, mặt khác nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công nhân viên.

    – Cán bộ lãnh đạo của Công ty cần nắm vững hoàn cảnh gia đình của mỗi công nhân viên, thường xuyên quan tâm và động viên cấp dưới để tạo bầu không khí thoải mái khi làm việc.

    – Kịp thời đánh giá những thành tích đạt được của công nhân viên và tổ chức khen thưởng động viên kịp thời để khích lệ tinh thần công nhân viên.

    – Đánh giá thành tích của công nhân viên Công ty bao gồm những điểm sau:

    + Đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả làm việc, chủ quan hay khách quan, những tiêu chuẩn này nên có sự thoả thuận giữa các cán bộ lãnh đạo và công nhân viên.

    + Trước khi đánh giá phải được thực hiện đều đặn trong thời gian đó hiệu quả làm việc của người lao động phải được thường xuyên theo dõi.

    + Định  mức hiệu quả làm việc do nhà quản trị ấn định, dựa trên cơ sở quan sát và nhìn nhận. Đôi khi cũng nên tham khảo ý kiến của công nhân viên.

    – Bên cạnh đó cũng có thể tổ chức cho cán bộ các bộ phận đánh giá lẫn nhau, tìm ra những cá nhân nổi bật để kịp thời biểu dương họ nhằm khuyến khích các nhân viên khác của Công ty đều tập trung phấn đấu.

    1. Điều kiện và môi trường làm việc.

    – Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi trong môi trường làm việc cho mọi nhân viên của Công ty.

    – Cải thiện cuộc sống, cảnh quan môi trường.

    – Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua sản xuất như nâng cao năng suất lao động, thi sáng tạo mới, thợ giỏi, bảo quản máy móc thiết bị.

    – Công ty đã đầu tư chiều sâu vào máy móc trang thiết bị mới đồng bộ để đem lại hiệu quả, chất lượng công việc và đảm bảo an toàn trong lao động.

    – Tạo môi trường tâm lý thoải mái như các giờ giải trí như:

    + Công ty tổ chức các buổi tham quan nghỉ mát.

    + Tổ chức các phong trào thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ, cùng giúp nhau tiến bộ.

    + Thông qua công tác quản trị nhân lực của Công ty, đã cho thấy Công ty ngày càng hoàn thiện hơn cả về con người lẫn bộ máy làm việc. Do vậy đã tạo điều kiện cho Công ty ngày càng phát triển hơn nữa.

     

    KẾT LUẬN

    Con người ngày càng có vai trò quan trọng trong một tổ chức. Con người được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức vì con người là nhân tố hạt nhân của tổ chức, quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức, làm cho tổ chức vận hành được. Vì vậy, vấn đề quản trị nhân lực trong tổ chức trở thành vấn đề cấp bách hiện nay. Ngày nay một tổ chức tồn tại và phát triển không phải bởi sự quyết định của vốn, công nghệ, hay thiết bị mà nó phụ thuộc rất nhiều vào sự lãnh đạo, tổ chức của con người đối với tổ chức đó, do vậy công tác đào tạo và phát triển phải được đặc biệt chú trọng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo phát triển và đứng trước những thách thức trong giai đoạn hiện nay. Công ty xây dựng số 9 đã và đang cố gắng hoàn thành nhiệm vụ mà Nhà nước và Tổng công ty giao cho, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, cố gắng đứng vững và phát triển trên thị trường. Song trước những biến đổi thời cuộc, Công ty còn gặp rất nhiều khó khăn, do vậy mà Công ty cần phải năng động hơn, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh, Công ty phải hoàn thiện hơn nữa công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên trong công ty để đáp ứng những nhiệm vụ khó khăn hơn trong tương lai, khẳng định được vai trò vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường.

    Với một thời gian ngắn tìm hiểu thực tế về công ty, em đã thấy được thực trạng công tác quản trị nhân lực của Công ty, có những thành công nhất định và những tồn tại nhất định. Trước thực trạng đó luận văn của em này có đưa ra một số biện pháp mong rằng có giúp ích cho Công ty có thể hoàn thiện hơn Công tác quản trị nhân lực của mình trong thời gian tới.

    Mặc dù đã có những cố gắng nhưng do trình độ, năng lực và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót nhất định. Kính mong được sự góp ý của thầy giáo để luận văn của được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    Hà Nội, tháng 4 năm 2005

    Sinh viên: Nguyễn Chí Dũng

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình quản trị nhân lực – Trường ĐHQLKD
    2. Các báo cáo kết quả của Công ty xây dựng số 9.
    3. Quản trị học của nhà xuất bản Văn hoá
    4. Hướng dẫn đầu tư và sử dụng nguồn lao động ở Việt Nam
    5. Các tài liệu tham khảo khác qua Báo, Tạp chí lao động.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quan điểm toàn diện và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-marketing-cho-c%C3%B4ng-ty-TNHH-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-m%E1%BB%99t-th%C3%A0nh-vi%C3%AAn-%C4%91i%E1%BB%87n-c%C6%A1-th%E1%BB%91ng-nh%E1%BA%A5t-Vinawin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    LỜI NÓI ĐẦU

    Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm cả việc phát triển ngành điện- điện tử .Công ty trách nhiệm hưũ hạn nhà nước một thành viên Điện cơ thống nhất đã nhận được sự cổ vũ từ Trung ương và Thành phố về mọi mặt. Công ty là một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất quạt điện lớn nhất hiện nay với trang thiết bị maý móc hiện đại.Với 40 năm kinh nghiệm hoạt động công ty ĐCTN đã tự hoàn thiện mình để trở thành một doanh nghiệp mạnh . Tuy găp nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường nhưng hiện nay công ty ĐCTN với đội ngũ cán bộ đầy tài năng và nhiệt huyết đã trở thành một cánh tay đắc lực của Đảng và Nhà nước trong công cuộc cải tổ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nuớc. Công ty ĐCTN đã trở thành đơn vị anh hùng lao động và mới đón nhận huân chương lao động. Hệ thống phân phối của công ty phát triển rộng khắp với doanh thu ngày càng cao.

    Xây dựng Kế hoạch marketing là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải tính đến các vấn đề thuận lợi và khó khăn bên trong và bên ngoài trên cơ sở chiến lược marketing đã đề ra của công ty sao cho hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, để thích ứng với môi trường luôn thay đổi, công ty ĐCTN muốn thành công cần phải có khả năng ứng phó với mọi tình huống. Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải nắm được những xu thế đang thay đổi, tìm ra những yếu tố then chốt đảm bảo thành công, biết khai thác những ưu thế tương đối, hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của các đối thủ cạnh tranh, hiểu đuợc mong muốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của công ty, biết cách tiếp cận thị trường nhằm tìm ra các cơ hội kinh doanh, từ đó vạch ra kế hoạch marketing đúng đắn.

    Với mục tiêu nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận và phư-ơng pháp cụ thể để xây dựng kế hoạch marketing trong doanh nghiệp thương mại, nghiên cứu cơ sở hình thành các chính sách, biện pháp về chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch marketing quạt điện của công ty ĐCTN; Bên cạnh đó, để

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    phân tích thực trạng tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch marketing của công ty ĐCTN trong năm qua 2004, nhận thức được mặt mạnh cũng như mặt yếu cần khắc phục trong vấn đề này, qua đó đề ra những giải pháp giúp công ty xây dựng được kế hoạch marketing đúng đắn, em đi sâu vào nghiên cứu đề tài:

    “Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (VINAWIND)”.

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kế hoạch marketing VINAWIND phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

    • Về mặt không gian:Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Điện cơ thống nhất (VINAWIND)
    • Về mặt thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2006

    Trong đó em sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phư-

    ơng pháp tư duy kinh tế mới, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích phương pháp tổng hợp, tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, toán học, dự báo.

    Mặc dù đã có sự cố gắng, song thời gian thực tập không nhiều, kiến thức còn có những hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô hướng dẫn,các cô chú trong phòng của công ty để cuốn luận văn này được hoàn thiện hơn.

    Nội dung đề tài gồm 3 chương:

    Chương I:Những cơ sở lý luận về quá trình xây dựng kế hoạch marketing

    • công ty thương mại

    Chương II:Hiện trạng xây dựng kế hoạch marketing ở công ty TNHHNN một thành viên điện cơ thống nhất (vinawind

    Chương III: Xây dựng kế hoạch hoá marketing của ở công ty TNHHNN một thành viên điện cơ thống nhất (VINAWIND).

    2

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    CHƯƠNG I

    NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

    MARKETING Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI

    I.KHÁI NIỆM QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING THƯƠNG MẠI

    1.Khái niệm:

    -Xây dựng kế hoạch marketing thương mại là bao gồm các hoạt động có tính hệ thống nhằm giúp cho công ty hình thành nên những chương trình hành động cụ thể để thực thi những chiến lược marketing chung của nó.

    2.Tiến trình phát triển của kế hoạch marketing ở các công ty thương

    mại

    -Hầu như tất cả các công ty khởi đầu với hoạt động kế hoạch marketing không có theo thời gian họ sẽ nâng cao hệ thống kế hoạch của họ. Trên thực tế các hệ thống kế hoạch thường tiến hành theo những giai đoạn sau:

    *Giai đoạn không kế hoạch khi công ty mới được thành lập, các nhà lãnh đạo quá bận rộn với việc thu hút nguồn vốn, hấp dẫn khách hàng và tìm kiếm các công cụ, thiết bị, do đó không có thời gian dành cho kế hoạch marketing.

    *Giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách: ban quản trị dần dần nhận thấy sự cần thiết phải có một hệ thống định ngân sách nhằm cải thiện hoạt động quản lý dòng vận động tiền mặt của tổ chức. Ban quản trị ước tính thu nhập dự kiến và chi phí cho các kỳ kế hoạch tới, nhưng như những kế hoạch ngân sách này mang định hướng tài chính chứ không định hướng chiến lược, nó không giống các kế hoạch hoạt động.

    *Giai đoạn kế hoạch dự án: rất nhiều công ty thấy rằng họ cần phải phát triển kế hoạch hành động cho các dự án đặc biệt. Ví dụ một công ty khi phát triển một sản phẩm mới cần phải có một đơn vị kế hoạch thực hiện công việc

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    này. Như vậy, bộ phận kế hoạch của công ty không quan tâm tới kế hoạch chiến lược hay kế hoạch hàng năm.

    *Giai đoạn kế hoạch hàng năm: ban quản trị dần dần nhận thấy rằng cần thiết phải phát triển một hệ thống kế hoạch hàng năm dựa trên quản trị theo các mục tiêu. Họ có ba phương cách:

    +Kế hoạch từ trên xuống: Ban quản trị cấp cao đặt ra các mục đích và kế hoạch cho tất cả các cấp quản trị thấp hơn. Loại hình này thường phổ biến ở những công ty và tổ chức nhà nước, chính phủ.

    +Kế hoạch từ dưới lên: Các thành viên của công ty và tổ chức chuẩn bị các mục đích và kế hoạch tốt nhất của riêng đơn vị mà họ cho rằng có thể thực hiện được, sau đó họ gửi lên ban quản trị cấp trên phê chuẩn.

    +Kế hoạch mục đích từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên: Với phương pháp này ban quản trị cấp cao có một tầm nhìn rộng về các cơ hội và các yêu cầu của công ty đề ra cho năm đó. Trong khi đó các đơn vị trong công ty chịu trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch đối với việc phát triển các kế hoạch được đề ra nhằm mục đích hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu này. Những kế hoạch được ban quản trị phê chuẩn sẽ trở thành kế hoạch hàng năm chính thức của công ty.

    *Giai đoạn kế hoạch dài hạn: Trong mỗi giai đoạn này công ty hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch của mình theo chiều hướng nhằm cải thiện tính hữu hiệu của kế hoạch. kế hoạch dài hạn quan tâm đến tương lai của công ty thời gian từ 5 năm đến10 năm tới, với đặc trưng cơ bản là có rất nhiều yếu tố bất định và không thể dự đoán trước và như vậy mức độ rủi ro thường cao hơn so với kế hoạch ngắn và trung hạn. Để lập được kế hoạch dài hạn công ty thường quan tâm tới những thay đổi quan trọng diến ra trong môi trường vĩ mô, trong môi trường cạnh tranh, trong nhu cầu khách hàng…Mục đích của việc theo dõi và dự báo những thay đổi này và giúp việc công ty tiếp tục duy trì và phát triển được những lợi thế của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

    4

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    3. Những cơ sở chủ yếu trong việc xây dựng kế hoạch marketing ở công ty thương mại:

    Kế hoạch marketing gồm những thông tin cần và đủ về môi trường vĩ mô bên ngoài (yếu tố khách quan) và môi trường vi mô bên trong doanh nghiệp (yếu tố chủ quan). Cụ thể hơn, cơ sở xây dựng kế hoạch bao gồm bốn nội dung chính sau:

    +Thông tin về môi trường: phải phân tích toàn diện và có trọng điểm để rút ra những ảnh hưởng cốt lõi cho việc xây dựng kế hoạch.

    +Kết quả nghiên cứu thị trường: gồm các kết quả phân tích và dự đoán về cung cầu, giá cả của những mặt hàng và thị trường đang quan tâm.

    +Đánh giá đầy đủ các yếu tố nguồn lực cảu bản thân doanh nghiệp như :

    Nhân sự Tài chính Công nghệ Văn hoá

    +Khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước biến động của môi trường và thị trường như:

    Khả năng điều hành quản lý

    Khả năng thích ứng công nghệ mới

    Khả năng thích ứng về “4P” trong Marketing –mix

    4.Lợi ích của kế hoạch Marketing :

    Kế hoạch và các hệ thống kiểm tra là rất có lợi đối với toàn thể công ty , đặc biệt muốn cải thiện kết quả thực hiện của công ty. Một hệ thống kế hoạch hoá sẽ đem lại lợi ích sau:

    +Nó khuyến khích ban quản trị dự tính trước một cách có hệ thống.

    +Nó làm cho sự phân phối các nỗ lực của công ty tốt hơn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    +Nó dẫn tới việc phát triển các tiêu chuẩn thực hiện nhằm kiểm soát và kiểm tra.

    +Nó làm cho công ty phải xem xét và hoàn thiện các mục tiêu chính sách của mình.

    +Nó dẫn đến sự phối hợp cao hơn của các nhà điều hành về các nhiệm vụ có liên quan đến họ.

    5.Những nội dung chính của kế hoạch marketing :

    Phần                                                                                 Nội dung

    I.Tóm lược                                                                  -Trình bày tóm tắt các nội dung và

    kế hoạch để ban lãnh đạo nắm bắt

    nhanh.

    II.Hiện tình về marketing                             -Trình bày những số liệu cơ bản có

    liên quan về thị trường, sản phẩm,

    cạnh tranh, phân phối và môi

    trường vĩ mô.

    III.Phân tích cơ hội và vấn đề đặt ra -Xác định những cơ hội, mối đe doạ

    cho sản phẩm                                                          chủ yếu

    IV.Mục tiêu                                                               -Xác định các chỉ tiêu và kế hoach

    muốn đạt được về khối lượng tiêu

    thụ, thị phần và lợi nhuận.

    V.Chiến lược Marketing                                -Trình bày phương thức Marketing

    tổng quát sẽ sử dụng để đạt được

    những mục tiêu của kế hoạch

    1. Chương trình hành động -Trả lời các câu hỏi: Phải làm gì?

    Ai sẽ làm?

    Bao giờ  làm? Chi phí hết bao

    nhiêu?

    VII. Dự kiến lời-lỗ                                               -Dự báo kết quả tài chính trông đợi

    kế hoạch đó.

    Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Bá Thắng – CT2
    VIII.Kiểm tra -Nêu rõ cách thức theo dõi thực
      hiện kế hoạch.  

    6.Quy trình xây dựng kế hoạch Marketing trong công ty thương mại: Suốt nhiều thập kỷ qua, những biến động lớn của môi trường và thị trường đã dẫn tới những thay đổi cơ bản trong quá trình kế hoạch . Từ những năm 1950, marketing ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch đặc biệt là kế hoạch dài hạn nhằm có những quyết định nhanh chóng và thích ứng kịp với những cơ may và hiểm hoạ. Kế hoạch không chỉ bao gồm việc xây dựng kế hoạch mà cả phần quan trọng hơn là thực hiện kế hoạch, không chỉ là những

    chính sách hay chiến lược mà cả kế hoạch hành động.

    Phân tích tình thế

    Mục tiêu Marketing

    Chiến lược Marketing

    Chương trình thực hiện chiến lược Marketing

    Ngân sách Marketing

    Các hoạt động thực thi kế hoạch Marketing

    H1: Mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch marketing

    Trên đây mới chỉ là mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch marketing của công ty thương mại, phần chi tiết của quy trình kế hoạch này sẽ trình bày cụ thể ở những phần sau đây:

    7

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    II.MÔI TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG KINH DOANH

    1.Môi trường

    Để tiến hành xây dựng lập kế hoạch trước tiên phải xuất phát từ môi trường thương mại.

    1.1Môi trường nhân khẩu

    Lực lượng của môi trường cần theo dõi là dân số bởi vì con người tạo nên thị trường. Những người làm marketing quan tâm sâu sắc đến quy mô và tăng tỉ lệ dân số ở các thành phố, khu vực và quốc gia khác nhau, sự phân bố tuổi tác và cơ cấu dân tộc, trình độ học vấn, mẫu hình hộ gia đình, cũng như các đặc điểm và phong trào của khu vực.

    1.2.Môi trường kinh tế

    Thị trường cần có sức mua và công chúng. Sức mua hiện có trong mỗi nền kinh tế phụ thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng có thể vay tiền. Những người làm marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và chi tiêu của người tiêu dùng.

    -Khi xây dựng kế hoạch marketing các nhà quản trị marketing cần phải nghiên cứu và nắm bắt rõ môi trường văn hoá- xã hội của từng khu vực thị trường để có được những kế hoạch đúng đắn nhất, bởi vì ở những môi trường văn hoá- xã hội khác nhau thì thị hiếu, nhu cầu, luật pháp… của những khu vực cũng khác nhau.

    Để hiểu được một nền văn hoá nhất thiết phải hiểu được nguồn gốc lịch sử, cơ cấu hoạt động của nó. Văn hoá biến đổi dần theo thời gian một cách chậm chạp. Đôi khi có những thay đổi nhanh chóng diễn ra do áp lực từ bên ngoài, từ những thế lực cai trị. Vậy các nhà marketing phải cần thiết nắm bắt được nền văn hóa thay đổi ra sao và những quyết định của họ tác động qua lại như thế nào với sự thay đổi đó và đôi khi phải một tác nhân trong nền văn hoá đó.

    Mỗi nền văn hoá phản ánh trong ngôn ngữ những gì là giá trị của dân tộc. Ngôn ngữ là viết hay nói đều là những hiện thân của nền văn hoá. Chúng ta biết

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    rằng, truyền tin không phải luôn luôn nằm trong khuôn khổ của ngôn ngữ. Sự cư sử, hành vi bản thân là một dạng truyền tin.Mỗi nền văn hoá có tể khác nhau trong cách thức thể hiện và sử dụng những điều đó theo thời gian, không gian những mối quan hệ và hàng loạt những khía cạnh, phạm vi khác của văn hóa. Dạng truyền tin này được biết như một thứ ngôn ngữ không lời.

    1.3.Môi trường chính trị – pháp luật:

    Những quan điểm marketing chịu tác động mạnh mẽ của các diễn biến trong môi trường chính trị – pháp luật. Môi trường này gồm có pháp luật, các cơ quan nhà nước và những nhóm gây sức ép tác động đến hành vi của các hãng kinh doanh.

    * .Vai trò của chính phủ

    Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế quốc gia và qua đó tác động đến nền kinh tế thế giới bằng việc sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô (chính sách tài khoá, thuế…) để điều tiết nền kinh tế, do vậy mà sẽ có những tác động đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế. Những can thiệp của chính phủ có thể được chia làm ba nhóm:

    +Nhóm xúc tiến: khuyến khích, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh trong nước phát triển.

    +Nhóm cạnh tranh thay thế hàng xuất khẩu bằng hàng sản xuất trong

    nước.

    +Nhóm ngăn cản việc thực hiện nhập khẩu hàng ngoại.

    * .Những kiểm soát của chính phủ

    -Những đòi hỏi bắt buộc về giấy phép kinh doanh

    -Thuế nhập khẩu là các khoản tiền mà các hãng, các doanh nghiệp phải nộp cho chính phủ, được tính bằng tỉ lệ % giá trị lô hàng nhập khẩu.

    Mục đích của thuế xuất nhập khẩu là tăng nguồn thu có ngân sách nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng. Thuế

    9

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    nhập khẩu tạo khả năng xâm nhập và cạnh tranh của các sản phẩm ở thị trường nước ngoài.

    1.4. Môi trường công nghệ

    Những người làm marketing cần hiểu rõ là môi trường công nghệ luôn luôn thay đổi và nắm bắt được những công nghệ mới đó có thể phục vụ nhu cầu con người như thế nào. Họ cần hợp tác chặt chẽ với những người làm, công tác nghiên cứu và phát triển để khuyến khích họ nghiên cứu hướng theo thị trường nhiều hơn. Họ phải cảnh giác với những hậu quả không mong muốn của mọi đối tượng mới có thể gây thiệt hại cho người sử dụng và tạo ra sự mất tín nhiệm cùng thái độ chống đối của người tiêu dùng.

    1.5 .Môi trường cạnh tranh:

    -Một nội dung trọng tâm không thể thiếu trong các kế hoạch marketing là các dự báo và phản ứng của công ty đối với đối thủ cạnh tranh. Trong marketing, cạnh tranh là tất yếu, tính sống còn của một doanh nghiệp việc phối hợp các hoạt động của công ty treen là một yêu cầu bắt buộc. Chính vì vậy kế hoạch hoá marketing cần phải quan tâm đến môi trường cạnh tranh này.

    Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chúng ta ngày càng nhận rõ cạnh tranh mỗi lúc lại trở nên gay go và quyết liệt hơn. Vì thế các hãng kinh doanh muốn đảm bảo được vai trò của mình trên thị trường, tạo được vị thế trên thị trường đều phải tạo được tính dị biệt hoá, tức là tạo được lợi thế cạnh tranh riêng biệt.

    Các công ty kinh doanh phải nắm bắt được cơ cấu cạnh tranh, số lượng các đối thủ cạnh tranh và những hoạt động của họ. Trong đó, việc đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh là một nội dung rất quan trọng.

    Có bốn nhân tố tác động đến cạnh tranh:

    +Tình hình kinh doanh nói chung, những điều kiện về văn hóa, kinh tế- xã

    hội.

    +Chi phí

    10

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    +Luật pháp và những quy định của chính phủ.

    +Những hoạt động và những chính sách của đối thủ cạnh tranh.

    2.Đặc điểm thị trường kinh doanh của công ty (thị trường các doanh nghiệp)

    2.1.Khái niệm các doanh nghiệp:

    Thị trường các doanh nghiệp gồm tất cả những tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ vào việc sản xuất ra các sản phẩm khác hay những dịch vụ để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người khác.

    2.2.Đặc điểm thị trường các doanh nghiệp:

    Do khối lượng tiền lưu chuyển và hàng hoá bán cho các doanh nghiệp lớn hơn so với trường hợp bán cho người tiêu dùng trên thị trường các doanh nghiệp có đặc điểm trái ngược hẳn với thị trường ngươì tiêu dùng. Những đặc điểm này đặc biệt cần phải tính đến trong kế hoạch marketing.

    -ít người mua hơn: do hoạt động nên thị trường này thông thường chỉ quan hệ bán buôn số lượng lớn cho các doanh nghiệp, hầu như không tiếp cận với người tiêu dùng.

    -Người mua tầm cỡ hơn; thị trường các doanh nghiệp có đặc điểm là tỷ lệ tập trung người mua cao( một vài người mua tầm cỡ chiếm gàan hết khối lượng mua)

    -Quan hệ chặt chẽ giữa người cung ứng và khách hàng: Do có ít khách hàng và tầm quan trọng cùng quyền lực cảu những khách hàng tầm cỡ ta thấy có những mối quan hệ chặt chẽ giữa khách hàng và người cung ứng trên thị trường.

    -Người cung ứng hầu như phải đáp ứng hoàn toàn những thay đổi nhu cầu của khách hàng.

    -Người mua tập trung theo vùng địa lý: Việc tập trung các nhà sản xuất theo vùng địa lý góp phần giảm bớt chi phí bán hàng. Tuy nhiên, cần theo dõi những sự chuyển vùng trong những nghành nhất định.

    11

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Nhu cầu phát sinh: Nhu cầu về hàng tư liệu sản xuất bắt nguồn từ nhu cầu về hàng tiêu dùng. Vì vậy những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải theo dõi chặt chẽ tình hình mua sắm của người tiêu dùng.

    -Nhu cầu không co giãn: Nhu cầu đặc biệt không co giãn trong những khoảng thời gian ngắn vì những người sản xuất không hề thay đổi nhanh các phương pháp sản xuất của mình. Nhu cầu về những mặt hàng chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng chi phí sản phẩm cũng không co giãn.

    -Nhu cầu biến động mạnh: Nhu cầu hàng tư liệu sản xuất và dịch vụ có xu hướng biến động mạnh hơn nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, điều này đặc biệt đúng với nhu cầu về giá nhà máy và thiết bị mới. Với tình hình này buộc nhiều người hoạt động trên thị trường doanh nghiệp phải đa dạng hoá sản phẩm và thị trường của mình để đảm bảo mức tiêu thụ cân bằng hơn trong chu kỳ kinh doanh.

    -Người đi mua hàng là người chuyên nghiệp: Những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải cung cấp và nắm vững những số liệu kỹ thuật hơn về sản phẩm của mình và sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh để giảm chi phí xuống mức thấp nhất.

    -Nhiều người ảnh hưởng đến việc mua hàng: Số người ảnh hưởng đến quyết định mua tư liệu sản xuất nhiều hơn so với quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Vì thế những người hoạt động trên thị trường các doanh nghiệp phải cử những đại diện bán hàng được đào tạo kỹ.

    2.3Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua:

    +Nền văn hoá: Nền văn hoá là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một con người.

    Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹ được một số giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế then chốt khác.

    +Nhánh văn hoá: Mỗi nền văn hoá đều có những nhánh văn hoá nhỏ hơn tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hoà nhập với xã hội cho những

    12

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    thành viên của nó. Các nhánh văn hoá bao gồm các dân tộc, tôn giáo, các nhóm chủng tộc, các vùng địa lý.

    Những người làm marketing thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo các nhu cầu của

    13

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Văn hoá        
             
    – Nền văn hoá Xã hội      
             
      -Nhóm tham Cá nhân    
           
      khảo      
    -Nhánh văn hoá -Tuổi và giai đoạn của Tâm lý  
        chu kỳ sống    
      -Gia đình -Nghề nghiệp -Động cơ Người
      mua
      -Hoàn cảnh sống -Nhận thức
       
        -Lối sống -Hiểu biết  
         
        -Nhân cách và ý thức -Niềm tin và  
          thái độ  
      -Vai trò và địa      
      vị      
    -Tầng lớp xã hội        
           
             
             

    H2:Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

    3. Dự báo môi trường và thị trường tương lai của công ty :

    Để soạn thảo được các kế hoạch không những phải căn cứ vào tình hình hiện tại mà những nhà quản trị marketing cần ước tính những thay đổi trong tương lai. Một trong những nhân tố quan trọng cần phải dự báo và ước tính là nhu cầu hiện tại và tương lai. Những phép đo định lượng về hai chỉ tiêu này là rất quan trọng đối với việc phân tích cơ hội của thị trường, hoạch định chương trình marketing và kiểm soát nỗ lực marketing.

    Nhu cầu của thị trường đối với một sản phẩm là tổng khối lượng sản phẩm mà nhóm khách hàng sẽ mua tại một thời điểm và địa bàn nhất định với một môi trường marketing nhất định và chương trình marketing nhất định.

    14

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Xác định được nhu cầu của thị trường thì từ đó công ty có thể thi hành một số biện pháp nếu không hài lòng với mức tiêu thụ hiện tại của mình. Vì vậy công ty cần phải ước tính được nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai của thị trường.

    3.1.Ước tính nhu cầu hiện tại:

    Đây là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà quản trị marketing . Tổng nhu cầu có thể ước tính bằng phương pháp chuỗi tỉ số, theo đó phải nhân số cơ bản với một chuỗi tỉ lệ %. Nhu cầu của thị trường của khu vực có thể ước tính bằng phương pháp xây dựng thị trường và phương pháp chỉ số đa yếu tố.

    Việc ước tính mức tiêu thụ của ngành đòi hỏi phải phát hiện các đối tượng cạnh tranh có liên quan và ước tính mức tiêu thụ riêng của công ty và dựa trên các nỗ lực và chi phí marketing .

    Cuối cùng các công ty quan tâm đến việc ước tính thị phần của các đối thủ cạnh tranh của mình để xét đoán thành tích tương đối của họ.

    3.2 Ước tính nhu cầu tương lai:

    Để ước tính nhu cầu tương lai, công ty có thể sử dụng một số phương pháp dự báo: thăm dò ý định của người mua, tổng hợp ýkiến của lực lượng bán hàng, ý kiến chuyên gia, thử nghiệm thị trường, phân tích chuỗi thời gian và phân tích thống kê nhu cầu. Những phương pháp này có mức độ phù hợp khác nhau đối với mục đích dự báo, kiểu sản phẩm, mức độ sẵn có và độ tin cậy của các số liệu.

    III. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY KINH DOANH:

    Chúng ta biết rằng những công ty đang thành đạt hiện nay đều hoạt động theo động theo định hướng thị trường và có lập kế hoạch chiến lược. Tuy nhiên các kế hoạch chiến lược của công ty chỉ là điểm xuất phát để lập kế hoạch. Những kế hoạch của công ty phải được soạn thảo cho từng chi nhánh, từng đơn vị kinh doanh chiến lược, từng loại sản phẩm và thị trường mục tiêu quan trọng.

    1..Mục tiêu của công ty

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Mục tiêu kinh doanh của công ty là một phần quan trọng trong kế hoạch marketing của công ty . Có hai loại mục tiêu cần xác định là:

    +Mục tiêu tài chính

    +Mục tiêu marketing

    1.1.Mục tiêu tài chính:

    Ban lãnh đạo các công ty kinh doanh đều mong muốn việc kinh doanh của công ty đạt được những kết quả tốt đẹp về tài chính.

    Người quản lý sản phẩm phải đề ra những mục tiêu tài chính cụ thể như:

    -Trong 5 năm tới phải đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư hàng năm sau

    thuế là 15%.

    -Trong một năm tới đem lại lợi nhuận ròng là X.USD -Trong một năm tới tạo ra lượng lưu kim là Y.USD

    1.2.Mục tiêu marketing :

    Các mục tiêu tài chính phải được biến thành các mục tiêu marketing . Nếu công ty muốn kiếm được lợi nhuận là X (USD) và mức lời mục tiêu là 10% trên doanh số bán thì công ty phải đề ra chỉ tiêu doanh thu bán hàng là 10.X(USD)

    Nếu công ty xác định giá bình quân của một sản phẩm là I(USD) thì có nghĩa là công ty phải bán được 10X/I sản phẩm.

    2.Mục đích của công ty kinh doanh:

    Mục đích và mục tiêu của công ty kinh doanh có vai trò:

    -Phục vụ cho việc hoạch định chiến lược và báo cáo lên các cấp quản lý cao hơn.

    -Phục vụ cho việc bảo vệ yêu cầu ngân sách.

    -Phục vụ cho việc bảo vệ yêu cầu ngân sách.

    -Làm công cụ để theo dõi quá trình tiến triển và đề ra những biện pháp uốn nắn trong quá trình thực hiện kế hoạch.

    IV.CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH:

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    1.Định nghĩa chiến lược marketing :

    -Chiến lược marketing là tập hợp các quyết định của công ty cần thực hiện trong suốt một thời gian dài nhằm thích ứng với môi trường và thị trường hoạt động.

    2.Các vấn đề chủ yếu cần phải xác lập trong chiến lược:

    Marketing :

    2.1.Phân đoạn thị trường:

    *Khái niệm: Phân đoạn thị trường là một quá trình chi tiết của marketing . Đó là việc phân chia thị trường tổng thể thành những đoạn thị trường nhỏ hơn dựa trên các tiêu thức (tuổi, thu nhập, giới tính….) để từ đó mà công ty có thể lựa

    chọn được những đoạn thị trường phù hợp với khả năng và tiềm lực của mình (không một công ty nào có đủ khả năng và muốn kinh doanh trên toàn bộ thị trường tổng thể.

    Đoạn thị trường là nhóm những người mua có thông số đặc tính và hành

    • Việc phân đoạn thị trường sẽ giúp công ty có thể tập trung toàn bộ nguồn lực vào một vài đoạn thị trường nhờ đó mà có thể đạt được hiệu quả cao nhất.

    -Người làm marketing sẽ thử nghiệm các biến số khác nhau để xác định biến nào làm bộc lộ những cơ hội tốt nhất của đoạn thị trường và phù hợp với công ty .

    -Đối với mỗi loại thị trường phải xác định được những đặc điểm riêng biệt của nhóm khách hàng đó.

    -Hiệu quả của việc phân đoạn thị trường phụ thuộc vào việc các đoạn thị trường thu được có đáp ứng được các yêu cầu: đo lường được, cơ bản có thể tiếp cận, có thể phân biệt à hoạt động ở đó hay không.

    2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu:

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Sau khi phân đoạn thị trường, tiếp đó công ty phải hướng vào những đoạn thị trường tốt nhất. Trước tiên cần phải đánh giá khả năng sinh lời của từng đoạn thị trường.

    -Tiềm năng sinh lời của đoạn thị trường là một hàm quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường, mức độ hấp dẫn về cơ cấu của đoạn thị trường, những mục tiêu và nguồn tài nguyên của công ty . Sau đó căn cứ vào tiềm năng của các phân đoạn, công ty sẽ quyết định tập trung vào những đoạn thị trường nào.

    Các công ty có thể bỏ qua những điểm khác biệt của các đoạn thị trường (Marketingkhông phân biệt) hay tính đến sự khác biệt thông qua việc phát triển những sản phẩm khác nhau cho một đoạn thị trường (Marketing phân biệt) hay theo đuổi một đoạn thị trường duy nhất (Marketing tập trung).

    -Khi lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu, người làm marketing cần xem xét những mối quan hệ qua lại giữa các thị trường và các kế hoạch xâm chiếm những đoạn thị trường tiềm ẩn để sao cho không ảnh hưởng đến các phân đoạn thị trường mà công ty đang có dự án kinh doanh.

    2.3.Định vị sản phẩm trên thị trường trọng điểm:

    *Khái niệm định vị: Định vị là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của công ty làm sao để nó chiếm được chỗ đặc biệt và có giá trị trong tâm trí cảu các khách hàng mục tiêu.

    Việc định vị đòi hỏi công ty phải quyết định khuyếch trương bao nhiêu đặc điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào dành cho khách hàng mục tiêu.

    -Nhà tiếp thị có thể đi theo một số tiêu thức định vị sau: định vị sản phẩm trên một thuộc tính nào đó của nhãn hiệu, định vị theo công năng của mặt hàng, định vị dựa theo tầng lớp người sử dụng, định vị bằng cách so sánh trực tiếp với đối thủ cạnh tranh và tách biệt hẳn với đối thủ cạnh tranh.

    Để có thể xác lập kế hoạch định vị cho một nhãn hiệu mới hay đang lưu hành, đầu tiên công ty phải tiến hành phân tích để xác định những vị thế hiện có

    18

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    của chính mình và các nhãn hiệu cạnh tranh. Phương pháp định vị nhãn hiệu có thể sử dụng ma trận BCG hoặc sử dụng hệ thống chất lượng –giá bán.

    19

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Quy mô (mức độ) của lợi thế

    Số lượng Rất Phân tán Chuyên môn  
    Phương (vụn vặt) hoá  
    nhiều
    cách (tiếp   (chuyên biệt)  
       
    cận) để đạt        
    đượclợi thế        
    ít Bế tắc Khối lượng  
     
      (Thế bí) (quy mô)  
       
             

    -Tân ma trận BCG-giá

    Chất lượng

    B

    Cao

    A Giá bán

    Thấp                     Cao

    Thấp

    -Định vị theo mối quan hệ chất lượng

    2.4. Chiến lược Marketing hỗn hợp: (Marketing-mix)

    2.4.1.Khái niệm Marketing-mix

    -Marketing-mix được hiểu là một phối định hướng các biến số marketing có thể kiểm soát được mà công ty thương mại sử dụng một cách liên hoàn và đồng bộ nhằm theo đuổi một sức bán và lợi nhuận dự kiến trong một thị trường trọng điểm xác định.

    -Marketing-mix là công cụ marketing mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu.

    20

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    2.4.2.Chiến lược Marketing-mix ở công ty thương mại và những yếu tố ảnh

    hưởng

    -Chiến lược marketing được hiểu là toàn bộ logic tiếp thị thương mại mà nhờ đó các đơn vị kinh doanh đạt được mục tiêu marketing của nó.

    -Một chiến lược chung marketing của công ty thương mại bao gồm marketing mục tiêu, Marketing- mix, ngân quỹ Marketing kinh doanh và định vị quy hoạch Marketing của công ty phù hợp với những điều kiện môi trường và cạnh tranh kỳ vọng.

    -Marketing –mix đóng một vai trò quan trọng trong việc kinh doanh thành bại của công ty, sau Marketing mục tiêu để tiếp tục công việc phải thông qua những quyết định về Marketing-mix đối với cả kênh phân phối lẫn người tiêu dùng cuối cùng. Biểu hình sau thể hiện quá trình công ty chuẩn bị sang mục chào bán sản phẩm, dịch vụ và giá cả, và sử dụng xúc tiến hỗn hợp bao gồm kích thích tiêu thụ, quảng cáo, lực lượng bán hàng, quan hệ với công chúng, gửi thư trực tiếp và marketing qua điện thoại tiếp cận các kênh phân phối và người tiêu dùng mục tiêu.

    Xúc tiến hỗn hợp

    Danh mục chào hàng

    Công -Sản phẩm  
    ty -Dịch vụ  
      -Giá cả  
         
         

    Kích thích tiêu

    thụ

    Quảng cáo

    Lực lượng bán Kênh phân   Khách hàng
    hàng phối   mục tiêu
           

    Quan hệ với

    công chúng

    Gửi thư trực tiếp

    và Marketing

    qua điện thoại

    -Chiến lược Marketing-mix

    21

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    H3: Chiến lược markeing- mix

    2.4.3.Các công cụ Marketing –mix

    Trong Marketing-mix có đến hàng chục công cụ khác nhau, McCarthy đã đưa ra một cách phân loại các công cụ này theo yếu tố gọi là “4P”. Đó là sản phẩm (product), giá cả (price), tiêu thụ (place-phân phối) và xúc tiến (promotion).

    -Những biến số chi tiết của một yếu tố P được liệt kê dưới biểu hình sau:

    Sản phẩm (Product)     Phân phối (Place)
                 
    -Chủng loại -Bao bì     -Kênh
    -Chất lượng -Kích cỡ     -Phạm vi
    – Mẫu mã -Dịch vụ     -Danh mục hàng hoá
    -Tính năng -Bảo hành     -Địa điểm
       
    -Nhãn hiệu -Trả lại     -Dự trữ
              -Vận chuyển
                 
                 

    Marketing-mix

    Giá cả (price)

    -Giá quy định -Kỳ hạn

    -Chiết khấu                      thanh toán

    – Bớt giá                            -Điều kiện

    trả chậm

    Xúc tiến (promotion)

    -Kích thích -Quan hệ với
    tiêu thụ công chúng
    -Quảng cáo  
    -Lực lượng -Marketing
    bán hàng trực tiếp
       

    H4: Các công cụ marketing- mix

    -Sản phẩm là hàng hoá hữu hình của công ty được tung ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm., mẫu mã, tính năng, nhãn hiệu, bao bì.

    22

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Giá cả là số tiền mà khách hàng phải trả để có được sản phẩm. Giá cả và các hình thức thanh toán, dịch vụ phải đảm bảo được tính cạnh tranh cao nếu không công ty sẽ mất khách hàng.

    -Phân phối bao gồm các hoạt động khác nhau mà công ty tiến hành nhằm đưa sản phẩm đến những nơi mà khách hàng có thể tiếp cận và mua chúng.

    -Xúc tiến bao gồm các hoạt động hỗ trợ nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc tiêu thụ sản phẩm và tạo nên hình ảnh về công ty đối với khách hàng.

    V.CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG, NGÂN SÁCH VÀ KIỂM TRA MARKETING CỦA CÔNG TY

    Sau khi đã đề ra được chiến lược Marketing của công ty thì phần tiếp theo của kế hoạch marketing là chương trình hành động để triển khai chiến lược Marketing đó. Muốn triển khai được thì phải dựa vào ngân sách dành cho Marketing của công ty, sau đó kiểm tra lại xem kế hoạch đã được triển khai như thế nào? có đạt được mong muốn của công ty khi kế hoạch hoá Marketing hay không? Những vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể sau đây:

    1.Chương trình hành động:

    -Chiến lược marketing phải được chuyển thành một tập hợp các hành động nhằm hoàn thành mục tiêu marketing. Từng thành tố của chiến lược phải chi tiết hoá thành các hành động thích hợp. Những hành động có mức chi phí-hiệu quả cao nhất sau đó sẽ được giao cho các cá nhân với thời gian hoàn thành định trước. Có thể lập thành một lịch trình thời gian theo tuần hoặc theo tháng với các hoạt động Marketing trong từng giai đoạn.

    2.Ngân sách:

    -Mục tiêu, chiến lược và các hành động kế hoạch hoá cho phép các giám đốc xây dựng ngân sách, đó chính là bản ngân sách dự kiến lãi lỗ. Phí bên thu nhập cần đưa ra con số dự báo về doanh số bán và doanh thu với mức giá dự kiến. Bên chi phí thể hiện chi phí sản xuất, marketing và quản lý. Mức chênh

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    lệch giữa hai bên chính là lãi hoặc lỗ. Sau đó ban quản trị xem xét ngân sách rồi phê chuẩn hoặc sửa đổi. Khi được phê duyệt thì mới có thể tiến hành các hoạt động tác nghiệp Marketing, kế hoạch hoá tài chính và tuyển mộ nhân sự.

    3.Kiểm soát

    -Phần này phải mô tả những hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm theo dõi tiến trình của kế hoạch. Thông thường các mục đích và ngân sách cho từng tháng hoặc từng quý, điều này có nghĩa là từng kết quả, từng giai đoạn sẽ được xem xét và phát hiện ra những giám đốc không đạt được mục tiêu, mục đích của họ. Những giám đốc này sẽ phải đệ trình những hành động mà họ sẽ tiến hành cải thiện hiện trạng.

    VI.YÊU CẦU ĐÁNH GIÁ KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY THƯƠNG MẠI. Khi quyết định thực hiện kế hoạch hoá Marketing ở công ty thương mại

    thì các nhà quản trị Marketing phải có các yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá kế hoạch này để sau khi hoàn thành chu trình kế hoạch hoá Marketing thì họ có thể biết được khâu nào trong chu trình kế hoạch hoá của họ chưa đạt yêu cầu và từ đó có những biện pháp sửa đổi, nâng cao hiệu quả Marketing của công ty.

    1.Những yêu cầu về kế hoạch Marketing ở công ty thương mại.

    +Phải khuyến khích ban quản trị dự tính trước một cách có hệ thống, đồng thời phải xem xét và hoàn thiện được các mục tiêu, chính sách của công ty đã đề ra.

    +Phải giúp cho sự phối hợp của các nhà điều hành một cách chặt chẽ hơn về các trách nhiệm có liên quan đến họ, từ đó giúp cho sự phối hợp các nỗ lực của công ty một cách tốt hơn.

    +Phải giúp được công ty phát triển được các tiêu chuẩn thực hiện nhằm kiểm soát và kiểm tra nỗ lực marketing.

    +Kế hoạch hoá marketing cần phải giúp công ty tạo ra được sự chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi bất ngờ về thị trường cũng mư môi trường kinh doanh.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    CHƯƠNG II

    HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY TNHHNN MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN CƠ THỐNG NHẤT (VINAWIND)

    I. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY

    1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất:

    Công ty Điện cơ Thống Nhất là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội. Công ty được thành lập từ năm 1965 trên cơ sở sát nhập 2 xí nghiệp công tư hợp doanh là Xí nghiệp Điện Thông và Xí nghiệp Điện cơ Tam Quang, lấy tên là Xí nghiệp Điện Khí Thống Nhất.

    Địa chỉ: Số 164 phố Nguyễn Đức Cảnh – Phường Tương Mai – Quận Hoàng Mai – Hà Nội.

    Điện thoại: 6622400                          Fax: 6622473

    Năm 1970 UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 142QĐ – UB sát nhập bộ phận còn lại của xí nghiệp Điện Cơ Tam Quang vào Xí nghiệp Điện khí Thống Nhất thành lập Xí nghiệp Điện cơ Thống Nhất.

    Giấy phép kinh doanh số 105804 do Trọng tài kinh tế câp ngày 4/2/1993 Với số vốn kinh doanh ban đầu là: 7.657.056.352đồng.

    Ngày đầu thành lập xí nghiệp có mặt bằng trên 8.000m2 với gần 600m2 nhà xưởng, tổng số cán bộ công nhân viên là 464 người và trên 40 máy móc thiết bị các loại, với nhiệm vụ chính trị là sản xuất các loại quạt điện và động cơ điện cỡ nhỏ phụ vụ nhu cầu đời sống của nhân dân Thủ đô và quốc phòng.

    25

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Để thích ứng với xu hướng phát triển chung và phù hợp với qui mô sản xuất kinh doanh. Ngày 02/11/2000 UBND Thành phố Hà Nội có quyết định số 5928/QĐ – UB về việc đổi tên Xí nghiệp điện cơ Thống Nhất thành Công ty điện cơ Thống Nhất.

    Ngày 28/6/2005 UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 94/2005/QĐ – UB đổi tên Công ty Điện cơ Thống Nhất thành Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất.

    Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, với sự cố gắng nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ công nhân viên, Công ty đã vượt qua nhiều thử thách trong từng giai đoạn phát triển. Với tinh thần đoàn kết cao, tập thể ban lãnh đạo Công ty và các phòng ban nghiệp vụ đã luôn cố gắng hết mình để tìm ra những hướng đi đúng đắn như: Tổ chức lại sản xuất, bố trí lại lao động cho phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh của Công ty trong từng giai đoạn đồng thời tăng cường các biện pháp quản lý sản xuất như: Đầu tư mở rộng qui mô sản xuất, thay đổi hệ thốn máy móc thiết bị và đổi mới khoa học công nghệ, đồng thời tăng cường đổi mới tư duy để hoàn thiện dần phương thức quản lý mới phù hợp với cơ chế thị trường và phù hợp với xu thế phát triển, hội nhập kinh tế trong nước với kinh tế khu vực và thế giới.

    1.2. Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty:

    Chức năng nhiệm vụ của công ty được qui định rõ ngay từ khi mới thành lập, đó là: Chuyên sản xuất các loại quạt điện và động cơ điện phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Qua quá trình vận động và phát triển, để phù hợp với cơ chế thị trường, chức năng nhiệm vụ của công ty được xác định lại như sau:

    – Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm: quạt điện và các loại đồ điện gia

    dụng.

    • Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh, hợp tác, nhập khẩu thiết bị, vật tư, nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng của ngành điện và điện tử gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường.

    26

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Liên doanh hợp tác với các đơn vị kinh tế trong nước và nước ngoài, làm đại lý, đại diện, mở cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh.

    Ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, là một doanh nghiệp nhà nước công ty còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phải bảo toàn và phát triển vốn do nhà nước cấp và thực hiện đầy đủ chính sách về kinh tế và pháp luật theo qui định. Cho đến tại thời điểm hiện nay (năm 2005) công ty vẫn là 1 trong 17 doanh nghiệp thuộc Sở công nghiệp Hà Nội sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 86/QĐ – TTg phê duyệt phương án tống thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước thành phố Hà Nội. Trong đó, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất được phép giữ nguyên pháp nhân doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp khác do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thu lỗ… thì chuyển sang thực hiện cổ phần hoá, sáp nhập, giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu khác. Điều đó đã nói lên những đóng góp đáng kể của công ty đối với sự phát triển kinh tế Thủ đô nói chung và ngành công nghiệp nói riêng trong thời kỳ đổi mới.

    1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý và hoạt động của công ty:

    Đặc điểm bộ máy quản lý (Biểu 1: Mô hình bộ máy tổ chức- quản lý ) Xuất phát từ đặc điểm tình hình và thực tế điều kiện sản xuất kinh doanh

    trongnhững năm qua, công ty đã tiến hành tổ chức lại bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả (theo sơ đồ tại biểu 1).

    Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động cua công ty hiện nay cho thấy:

    Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến – chức năng. Giám đốc ra lệnh điều hành trực tiếp trong công ty thông qua các phó giám đốc, các phòng ban nghiệp vụ. Các phó giám đốc, trưởng phòng ban có trách nhiệm tham mưu giúp việc cho giám đốc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Các phòng ban nghiệp vụ được bố trí tương đối gọn nhẹ, giúp cho giám đốc nhanh chóng có những quyết định, chỉ đạo kịp thời trong mọi hoạt động của công ty.

    27

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:

    Ban giám đốc: gồm giám đốc và 2 phó tổng giám đốc:

    -Chủ tịch-Tổng giám đốc: Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung. Trực tiếp chỉ đạo và quản lý.

    Phòng tổ chức – hành chính, bảo vệ, kế hoạch – vật tư, tiêu thụ sản phẩm, tài vụ.

    • Phó tổng giám đốc kỹ thuật: Giúp việc cho giám đốc chỉ đạo về mặt kỹ thuật đồng thời trực tiếp chỉ đạo kiểm tra chất lượng sản phẩm. Chỉ đạo, theo dõi, điều chỉnh và ban hành thực hiện các định mức lao động kỹ thuật. Chủ tịch QMR (hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000).

    -Phó tổng giám đốc sản xuất: Giúp việc cho giám đốc , trực tiếp điều hành, chỉ đạo, xây dựng tiến độ sản xuất, giao kế hoạch sản xuất hàng tháng cho các phân xưởng. Tổ chức kiểm kê hạch toán nội bộ, chỉ đạo các phòng chức năng về định mức tiêu hao vật tư.

    Chức năng các phòng ban nghiệp vụ:

     

    • Phòng kế hoạch – vật tư: Tham mưu cho giám đốc trong công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất, cân đối vật tư, bán thành phẩm hạch toán vật tư bán thành phẩm với các phân xưởng sản xuất hàng tháng, quí, năm.
    • Phòng tiêu thụ sản phẩm: Giúp giám đốc trong công tác tìm hiểu thị trường, xâydựng và thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, hoạch định chính sách phân phối sản phẩm.

     

    • Phòng tài vụ: Giúp giám đốc trong lĩnh vực hạch toán kế toán và sử dụng vốn. Giám sát việc thực hiện các chính sách kinh tế, chế độ tài chính trong công ty, hoạch định các chính sách về giá cả như: Xác định giá bán, giá gia công theo đơn đặt hàng của khách hàng.
    • Phòng tổ chức hành chính: Giúp giám đốc trong việc sắp xếp chương trình làm việc hàng ngày, tuần, tiếp khách, đối nội, đối ngoại. Tổ chức đội ngũ thống kê phân xưởng để quản lý lao động, xác định kết quả lao động của toàn

     

    28

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    công ty. Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương cho toàn bộ qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm tại công ty, hàng tháng xác định tiền lương, tiền thưởng cho CBCNV toàn công ty.

    • Phòng KCS: Giúp giám đốc theo dõi việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng tại công ty, bố trí nhân viên tại các phân xưởng sản xuất để kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm.

     

    • Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ quản lý, xây dựng, tạo mẫu sản phẩm theo nhu cầu thị trường hoặc theo đơn đặt hàng, định mức nguyên vật liệu, xây dựng định mức về thời gian công nghệ cho toàn bộ sản phẩm của công ty, chỉ đạo trực tiếp các phân xưởng sản xuất về mặt kỹ thuật.
    • Phòng bảo vệ: Giúp giám đốc trong việc bảo đảm an ninh trật tự trong công ty, bảo vệ, quản lý tài sản và phòng chống cháy nổ, bão lụt thiên tai, hoả hoạn.

     

    II. TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN KẾ HOẠCH VÀ HIỆN THỰC KẾ HOẠCH MARKETING CỦA VINAWIND

    • các công ty lớn, tập đoàn, tổng công ty nổi tiếng và thành công trên thương trường,chúng ta đều dẽ dàng nhận thấy được bắt buộc họ phải có được một hệ thống kế hoạch hoá marketing đúng đắn rõ ràng nhằm mục tiêu mục đích mà họ đề ra. Bên cạnh đó họ còn có một lực lượng cán bộ có trình độ,năng động và nhiệu tình với công việc để luôn thực hiện tốt kế hoạch mà họ đã lập ra. Điều này giúp chúng ta thấy rõ kế hoạch marketing là công cụ marketing đắclực cho sự thành công của các công ty kinh doan.

    Trên thực tế những công ty vừa và nhỏ vẫn thiết lập kế hoạch marketing mặc dù có thể nó không được hoàn thiện như các Công ty lớn khác. Trong trường hợp cụ thẻ này, chúng ta xem trình độ kế hoạch marketing của VINAWIND đã có lịch sử phát triển như thế nào.

    1.                 Trình độ phát triển kế hoạch Marketing của VINAWIND

    Cũng giống như tình trạng của một số doanh nghiệp trực thuộc quản lý của nhà nước mặc dù công ty có mặt hàng sản xuất kinh doanh và dịch vụ là

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    quạt điện rất đa dạng về chủng loại và kiểu dáng nhưng lại chưa có phòng Marketing và các nhân viên chuyên trách. Công việc marketing của công ty thực hiện chủ yếu bởi phòng Tiêu thụ sản phẩm nhưng đa số các nhân viên phòng này không có trình độ và kiến thức marketing mà họ làm việc hầu như chỉ dựa vào kinh nghiệm.

    Sau những năm đầu tư tích luỹ vốn và kinh nghiệm ban giám đốc đã nhận thức được sự cần thiết của việc phân bổ nguồn lực và tổ chức một hệ thống định ngân sách nhằm cải thiện sự quay vòng vốn của doanh nghiệp. Ban giám đốc cùng phòng Tiêu thụ sản phẩm của công ty đã ước tính thu nhập dự kiến và chi phí cho kỳ kế hoạch sau, sau đó ban giám đốc công ty đã chuẩn bị kế hoạch ngân sách cho Công ty.

    Những kế hoạch ngân sách này giúp công ty định hướng phân bổ nguồn tài chính của công ty nhưng nó hoàn toàn không mang tính chiến lược.

    Qua một số phân tích trên chúng ta dẽ dàng nhận thấy trình độ kế hoạch hoá marketing của VINAWIND mới chỉ ở giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách trong quá trình tiến triển của kế hoạch hoá marketing.

    1. Tình hình xây dựng kế hoạch marketing hiện tại của VINAWINDVINAWIND là một doanh nghiệp nhà nước vì thế những nhân viên ở đây

    hàng tháng nhận một khoản tiền lương và công việc tương đối ổn định. Nhưng chính điều này đã khiến cho nhân viên ít hoặc hầu như không có những sáng tạo, đóng góp vào công việc kinh doanh của Công ty, họ chỉ làm đủ công việc mà ban giám đốc giao cho và đúng chức năng của họ. Đây cũng là một đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhà nước. Do tinh thần làm việc và sự kém năng động của các nhân viên đồng thời thiếu những ý kiến xây dựng cho công ty nên ban giám đốc công ty luôn phải tự đặt vào các mục đích và kế hoạch cho cấp dưới cụ thể hoá nhiệm vụ cho họ, đây chính là phương pháp xây dựng kế hoạch marketing từ trên xuống.

    30

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    III. QUY TRÌNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở VINAWIND

    VINAWIND là doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trong gai đoạn đất nước đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường giống như những doanh nghiệp khác VINAWIND khi tham gia kinh doanh vào thị trường thì đã có những kế hoạch nhưng do chưa có bộ phận chuyên trách nên kế hoạch của công ty chắc chắn chưa thể hoàn thiện một cách rõ ràng, sau đay chúng ta xem quy trình và các nội dung kế hoạch hoá mà công ty đang áp dụng và thực hiện.

    1. Phân tích tình thế

    Một bước đầu tiên có vai trò chủ yếu nhưng chi tiết của kế hoạch marketing là hoạt động phân tích tình thế. Trong giai đoạn này giám đốc công ty và những người lập kế hoạch thực hiện mô tả các đặc điểm chủ yếu của tình thế mà họ đang phải đương đầu, đó là vấn đề: Bối cảnh, dự báo thông thường, phân tích các cơ hội và đe doạ, các thế mạnh điểm yếu của công ty.

    1.1. Bối cảnh của  VINAWIND

    Trên thị trường quạt điện hiện nay đang có sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh quạt điện. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn tích cực cải tiến cả về mẫu mã, chất lượng sản phẩm, bao bì… nhằm mục đích làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được ngày càng nhiều hơn nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng để đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận. Chỉ có doanh nghiệp nào đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì mới tạo được cho mình

    Là một doanh nghiệp nhà nước dưới sự lãnh đạo của một giám đốc năng động nhiều kinh nghiệm nên nguồn vốn nhà nứơc giao cho luôn được bảo đảm và gia tăng hàng năm và không nợ nhà nước. Điều này được chứng minh qua các con số trong bảng sau:

    Do năm bắt được nhu cầu và đổi mới tư duy kinh tế VINAWIND đã trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất quạt điện lớn nhất Việt Nam. Công ty không ngừng đổi mới trang thiết bị hiện đại và áp dung công nghệ tiên

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    tiến vào sản xuất .Sản phẩm của công ty có độ bền cao, lưu lượng gió lớn tiêu thụ điện năng it, hình thức đẹp được người tiêu dùng ưa chuộng.

    1.2 Các dự báo

    Qua nhiều năm kinh nghiệp Công ty đã thống kê các mức doanh thu đạt được và những vùng thị trường của công ty.Báo cáo thực tế năm trước

    Năng lực sản xuất thực tế và khả năng mở rộng quy mô sản xuất của công

    ty.

    Các chỉ tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước giao phó.

    Công ty năm được hoạt động kinh doanh và doanh thu của công ty trên mỗi phân đoạn thị trường.Từ những thông tin này mà giám đốc đề ra các kế hoạch phát triển cho mình.

    Nhưng do không có phòng ban và nhân viên chuyên trách về marketing nên VINAWIND không tiến hành điều tra về biến động mar keting, vì vậy chỉ đơn lẻ giám đốc dựa vào báo cáo kế toán và những thay đổi diễn ra trong công ty để chứng kiến doanh số thu chi, lãi lỗ trong kỳ kế hoạch tới.

    1.3 Các cơ hội và nguy cơ của VINAWIND

    Để tồn tại và phát triển được trên thị trường thì bất kỳ công ty nào cũng phải quan tâm nghiên cứu những nhân tố, điều kiện ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty mà công ty không thể tác động thay đổi được. Đây chính là điều mà công ty kinh doanh phải quan tâm để tìm ra và năm bắt các cơ hội cũng như các nguy cơ kinh doanh trên thị trường.

    Các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty này phụ thuộc vào môi trường quản lý kinh doanh vĩ mô, nó bao gồm các nhân tố ảnh hưỏng: Kinh tế, nhân khẩu, tự nhiên, chính trị, văn hoá lỹ thuật công nghệ.

    Đối với môi trường nhân khẩu

    VINAWIND xem đây là yếu tố đầu tiên vì con người là yếu tố kiến tạo nên thị trường. Côngty quan tâm đến quy mô và tỷ lệ tăng đân số trong khu vực thị trường của công ty để từ đó tiên liệu nhu càu phân đoạn thị trường. Nhưng do

    32

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    chi phí thực hiện nghiên cứ yếu tố này lầ quá lớn do vậy công ty chỉ xem xét qua các thông tin đại chúng truyền thanh truyên hình … sau đó công ty thống kê lại xem vùng thị trường có độ tuổi trung bình là bao nhiêu, mức thu nhập bình quân trên đầu người là bao nhiêu….từ đó tiên lượng được cơ hội giữa các vùng thị

    trường để nắm bắt cũng như tránh né các nguy cơ. Đối với môi trường kinh tế- chính trị, văn hoá

    Kinh tế nước ta đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Lúc này nên kinh tế đã bién chuyển sang chiều hướng tốt, ngày càng phát triển giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội vươn tầm hoạt đông xa hơn và chủ động hơn trong kinh doanh.

    Nhà nước có nhiều chính sách bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước như:

    Duy trì, đẩy mạnh việc thực hiện chỉ thị 853/ttg của thủ tướng chính phủ về chống buôn lậu và gian lận thương mại, trong đó có dán tem các loại quạt ngoại.

    Tạo điều kiện cho doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi

    ……………

    Môi trường tự nhiên kỹ thuật công nghệ

    Sản phẩm của công ty là mặt hàng quạt điện chịu ảnh hưởng rất lớn đến hai nhân tố này:

    Sản phẩm của công ty đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và được giám sát bởi hệ thống quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001: 2000.

    Hiên nay công ty đang đươc trang bị những máy móc thiết bị sản xuất hiện đại nhất Việt Nam, đã xây dựng một trang web riêng www.vinawind.com.vn công ty chưa có hệ thống máy vi tính nối mang internet với khách hàng đặt tại phòng Tiêu thụ sản phẩm.

    1.4 Các thế mạnh và điểm yếu của VINAWIND

     

    33

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Đánh giá được thế mạnh tìm ra các điểm yếu của mình để khắc phục VINAWIND đã tiến hành phân tích môi trường vi mô của công ty bao gồm các nhân tố về: nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, tài sản vô hình của công ty.Đây là những yếu tố mà công ty có thể tác động thay đổi được để phù hợp với điều kiện của công ty.

    Về nhân sự

    Tổng số CBCNV của công ty gần 700 người . Đa số các cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng số còn lại có trình độ trung cấp.

    Hầu hết các cán bộ công nhân đều có kinh nghiẹm và có khả năng làm tròn nhiệm cụ được giao.Ban giám đốc công ty là những người có trình độ, kinh nghiệm và khả năng quyết đoán nhanh. Các cán bộ kinh doanh đều đáp ứng được khả năng kinh doanh của công ty, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên sự sắp xếp cán bộCNV trong công ty chưa thật sự hợp lý nên chưa tận dụng được hết năng lực.

    Về tài chính

    Việc quản lý và sử dụng vốn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đặc biệt, với diễn biến của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần như hiện nay thì vấn đề quản lý, sử dụng vốn luôn song song với việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh doanh. Trong những năm qua Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất đã hết sức linh hoạt nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty đã có những bước tiến vượt bậc, các chỉ tiêu sử dụng vốn đều tăng

    Qua bảng tài chính của công ty đã trình bày ở phần bối cảnh của Công ty cho thấy vốn của công ty tăng dần theo từng năm.Nhưng với số vốn là 30 tỷ đồng không phải là cao so với quy mô của công ty và điều kiện kinh doanh trên thị trường hiện nay.Công ty đi vay ngân hàng và hình thức trả trậm thanh toán trả trậm khá phổ biến đẫn đến khó khăn trong việc quay vòng vốn vì thế bảo đảm tính linh hoạt và chủ động trong kinh doanh.

    34

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Về cơ sở vật chất

    Trụ sở làm của công ty khá thuận lợi cho việc giao dịch và quan hệ kinh doanh. Ngoài ra kinh doanh làm trong công ty tương đối tốt.Công ty trang bị khá đầy đủ các thiết bị cần thiết trong các phòng ban, nhà xưởng khá rộng và rất vệ sinh công nghiệp.

    Bảng 1: Tình trạng tài sản cố định của công ty đến 31/12/2004

    Tại thời điểm 31/12/2005, tổng nguyên giá tài sản cố định của công ty là 50.650.817.000 đồng và được đầu tư bằng các nguồn khác nhau như: vay vốn ngân hàng, sử dụng nguồn vốn tự có và vốn do ngân sách nhà nước cấp. Giá trị hao mòn luỹ kế đến thời điểm này bằng 45,74% nguyên giá.

    Qua bảng trên chúng ta thấy phần lớn các tài sản của công ty được sử dụng từ nhiều năm nay. Riêng các tài sản thuộc nhóm nhà cửa, vật kiến trúc hầu như đã khấu hao hết, giá trị còn lại bằng 50,79% nguyên giá nhưng hầu hết chỉ là giá trị sử dụng đất đai. Tuy nhiên, các tài sản này vẫn còn sử dụng được, mặc dù quy mô sản xuất kinh doanh ngày một tăng nhưng công ty hiên nay chỉ có một khu nhà hai tầng dành cho bộ phận quản lý và toàn bộ phân xưởng sản xuất, nhà ăn, kho, bãi… nằm gói gọn trong khuôn viên của công ty. Trong năm vừa qua công ty đã đầu tư hơn 8 tỷ đồng để mua mới và nâng cấp các loại máy móc thiết bị, dụng cụ quản lý, nâng cấp, sửa chữa một số công trình kiến trúc để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Tóm lại, trong thời gian qua tài sản cua công ty không biến động nhiều, hoạt động đầu tư mua sắm không lớn mà tập trung chủ yếu vào cải tạo và nâng cấp dây chuyền công nghệ đã được đầu tư từ lâu. Hiện nay, công ty đang lập dự án khả thi xây dựng thêm một nhà máy mới tại huyện Gia Lâm để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Nếu dự án này được phê duyệt công ty sẽ có một cơ sở mới phù hợp với quy mô và tiềm năng của mình.

    Tài sản vô hình

    Một lợi thế lớn trong viêc cạnh tranh trên thị trường Công TNHHNN một thành viên điện cơ Thống Nhất là uy tín hình ảnh- chất lượng qua sản phẩm

    35

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    thương hiêu VINAWIND.Là một trong những công ty sản xuất quạt điện lớn nhất Việt Nam, sản phẩm của công ty được người tiêu dùng trong nước coi như tiêu chuẩn để đánh giá các loại quạt điện khác.Giá cả của sản phẩm mấy năm gần đây đã phù hợp với người tiêu dùng bình dân và cũng thoả mãn được nhu cầu của người có thu nhập trên mức trung bình đồng thời hình thức quạt cũng được cải tiến đáng kể đa dạng về chủng loại và mẫu mã.

    2. Mục tiêu của VINAWIND năm 2006.

    – Tăng trưởng ổn định, nâng cao doanh số bằng cách

    • Tìm kiếm, tìm cách thâm nhập, đi đến chỗ chiếm lĩnh thị trường mới, nâng cao thị phần của công ty.
    • Phục vụ hiệu quả hơn câc thị trường cũ bằng cách phát huy các lợi thế cạnh tranh của công ty
    • Đầu tư nỗ lực marketing để hoàn thiện khâu tiêu thụ sản phẩm

    Định vị hình ảnh, uy tín của công ty trên thị trường, dành được thiện cảm của khách hàng nhờ uy tín và văn hoá kinh doanh.

    Các chỉ tiêu cụ thể: Bảng 2

    3. Chiến lược của VINAWIND -năm 2006.

    • không ngừng nâng cao chất lượng phẩm sản đáp với ứng trông đợi của khách hàng.Thông điệp truyền thông phải trung thực và có hiệu quả.khách hàng tìm kiếm.
    • Đa dạng hoá sản phẩm song luôn phải thế hiện được “ bản sắc” của công ty mình.Đó là chất lượng sản phẩm, chữ tín trong kinh doanh, mang lại lợi ích mà khách hàng tìm kiếm.
    • Tận dụng tối đa các nguyên vật liệu để đạt mục tiêu tiết kiệm, giảm giá thành sản phẩm.
    • Tiếp tục xây dựng và bảo vệ hình ảnh cuả công ty trong nhận thức của khách hàng mục tiêu.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối,xúc tiến để đạt được mục tiêu Marketing- mix.

    3.1. Sản phẩm.

    Hiện nay, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất đang sản xuất kinh doanh sản phẩm chính là các loại quạt điện, đây là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu làm mát của người tiêu dùng. Trước khi đem tiêu thụ ra thị trường phải được bộ phận KCS khẳng định là đảm bảo về mặt chất lượng, mẫu mã và an toàn sử dụng,các sản phẩm này có đặc tính là tiêu thụ theo mùa

    1. Chủng loại sản phẩm của công ty gồm:

    Quạt trần cánh 1,4m, quạt cây cánh 400, quạt cây mini cánh 400, quạt bàn cánh 400, quạt bàn cánh 300,quạt bàn cánh 225, quạt treo trường cánh 400, quạt treo tường cánh 450, quạt treo đảo cánh 400, quạt hộp cánh 350, quạt hộp cánh 300, quạt hộp cánh 225, quạt thông gió cánh 150-250…….

    1. Cơ cấu số lượng từng loại

    Cơ cấu số lượng: theo bảng kế hoạch sau:

    STT Sản phẩm Ký hiệu Số lượng Ghi chú  
    (chiếc)
             
    1 Quạt trần cánh 1,4m QT- 1.400 196.407    
               
    2 Quạt đứng cánh 400 QĐ- 400 30.769    
               
    3 Quạt đứng MINI cánh 400 QĐM- 400 40.745    
               
    4 Quạt bàn cánh 400 QB- 400 24.780    
               
    5 Quạt bàn cánh 300 QB- 300 14.900    
               
    6 Quạt bàn cánh 225 QB- 225 14.900    
               
    7 Quạt treo trường cánh 400 QTT- 400 43.766    
               
    8 Quạt treo tường cánh 450 QTT- 450 24.776    
               
    9 Quạt treo trần cánh 400 QTQ- 400TT 16.900    
               
    10 Quạt hộp cánh 350 QH 350 GLP 34.700    
               

    37

      Luận văn tốt nghiệp   Nguyễn Bá Thắng – CT2
                   
      11 Quạt hộp cánh 300 QH-300 LP   34.700    
                   
      12 Quạt hộp cánh 225 QTT- 225 HP   10.877    
                   
      13 Quạt thông gió cánh 150-250 QTG   12.900    
                   
      14 Tổng cộng     501.120    
                   
    1. Sản phẩm mới:
    • Công ty đã hoàn thành chế thử quạt đứng công nghiệp cánh 650.
    • Công ty đã chế thử xong quạt trần 1.400 với sự thay đổi toàn bộ kết cấu sản phẩm kể cả động cơ được cuốn, lồng bin vào Stato bằng máy tự dộng và hình dáng bên ngoài với nắp trên nắp dưới bằng nhôm đúc áp lực, nhằm tăng sản lượng năng xuất,chất lượng và hạ giá thành sản phẩm

    3.2.Giá bán sản phẩm.

    1.Mức giá bán cho từng loại sản phẩm: (Bảng giá sản phẩm, phần phụ lục)

    2.Cách chiết khấu cho khách hàng

    Qua bảng giá sản phẩm ta tháy công ty đang áp dụng ba mức giá bán cho khách hàng.

    • Giá bán lẻ: áp dụng cho khách hàng mua từ 01 sản phẩm đến 49 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán dưới 10.000.000 đồng.
    • Giá bán buôn cấp 2: áp dụng cho khách hàng mua từ 50 sản phẩm đến 99 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
    • Giá bán buôn cấp 1(mức giá thấp nhất): áp dụng cho khách hàng mua trên 100 sản phẩm cùng loại hoặc tổng giá trị thanh toán trên 50.000.000 đồng.

    3 Phương pháp định giá

    Hiện nay, công ty định giá bán theo phương pháp định giá giá cạnh tranh kết hợp phương pháp định giá khuyến mại và điịnh giá phân biệt.

    3.3.Trung gian

    Hệ thống kênh phân phối

    38

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    VINA

    WIND

    Điện cơ

    thống

    nhất

        Cửa Người  
    Các nhà
      hàng    
    phân phối      
      bán lẻ    
        tiêu  
         
             
             

    Cửa

    hàng                                    dùng

    bán lẻ

    H5: Hệ thống kênh phân phối

    Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất chủ yếu là thị trường miền Bắc từ Thanh Hoá trở ra. Hiện nay, các sản phẩm của công ty chưa xâm nhập được nhiều vào thị trường miền Trung và Nam Bộ một phần do yếu tố địa lý ảnh hưởng đến vận chuyển dẫn đến chi phí cao ảnh hưởng tới giá bán, một phần do sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành ở phía Nam và phần nữa cũng do sản phẩm của công ty còn ít được người tiêu dùng phía Nam biết đến.

    1. Bán lẻ

    Là hệ thống cửa hàng bán lẻ quạt điện trên toàn miền Bắc và .bên cạnh đó công ty có 3 cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm phục vụ bán lẻ trên địa bàn

    1. Hà Nội đó là:
    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 164 Nguyễn Đức Cảnh -Hoang Mai – Hà Nội.
    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 176 Trần Duy Hưng- Cầu Giấy –

    Hà Nội.

    • Cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm: 392 Nguyễn Văn Cừ- Gia Lâm-

    Hà Nội

    1. Bán buôn

     

    39

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Là những doanh nghiệp thương mại, cửa hàng, đại lý lớn kinh doanh điện-điện tử ở miền bắc .

    1. Số lượng bán buôn từng khu vực thị trường cụ thể như sau. (xem phần phụ lục)

     

    • Chương trình xúc tiến quảng cáo

     

    1. Phương tiện quảng cáo

     

    Trong các phương tiên quảng cáo để truyền thông tới công chúng như

    Truyền hình, truyền thanh, báo chí, tạp chí chuyên ngành, ….tờ rơi tờ gấp thì

    công ty chọn tạp chí chuyên ngành, tờ gấp để quảng cáo sản phẩm chi phí thấp nhưng hiệu quả khá cao.

    1. Marketing trực tiếp

    Công ty chưa áp dụng marketing trực tiếp sủ dụng điện thoại, fax, thư gửi qua bưu điện… để gửi các bản cháo giá, chào hàng tới thi trường mục tiêu.

    1. Kích thích tiêu thụ

    Công ty dang áp dụng chương trình kích thích tiêu thụ vào đợt đầu năm và cuối năm bàng hình thú khuyến mại giảm giá tuy nhiên hiệu quả thực sự đem lại là chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh cty cần có thêm nhiều phương pháp khác.

    1. Bán hàng trực tiếp

    Công cụ xúc tiến quan trọng mà công ty đang áp dụng đào tạo nhân viên bán hàng những kỹ năng để: Tìm kiếm khách hàng mới, truyền đạt khéo léo sản phẩm và dịch vụ của công ty, thực hiện viêc bán hàng, cung cấp dịch vụ và cố vấn về kỹ thuật, giao hàng của sản phẩm, thu thập thông tin từ thị trường và đánh giá tính chất khách hàng. Tuy nhiên lực lượng nhân viên bán hàng cua công ty hiên nay chưa năng động do tuổi khá cao.

    5.Quan hệ công chúng

    Công ty thường xuyên tham gia những đợt hội chợ, triển lãm cấp quốc tế, khu vực, quốc gia và cả địa phương.

    40

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Nhìn chưng các công ty kinh doanh muốn kinh doanh có hiệu quả thì họ phải có được một chiến lược Marketing cũng như kế hoạch Marketing cụ thể. Họ thường đầu tư vào Marketing từ 15 – 25% doanh thu của Công ty, nhưng ở vinawind vấn đề này chưa được quan tâm chính đáng thể hiện ở chỗ Công ty chưa có phòng ban Marketing và các nhân viên Marketing có trình độ, vì thế VINAWIND mới chỉ đầu tư từ 1 – 2% doanh thu của Công ty vào chi phí

    4. Chương trình thực hiện chiến lược marketing của VINAWIND

    Bước tiếp theo trong quy trình kế hoạch của Công ty sau khi đã xây dựng được chiến lược marketing là chương trình thực hiện chiến lược đó như thế nào.

    VINAWIND là một doanh nghiệp Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, đang trong giai đoạn hệ thống định bổ ngân sách của quá trình xây dựng kế hoạch nên các nhân viên chỉ tận tình làm việc khi có sức ép từ trên xuống. Bên cạnh đó Công ty lại chưa có phòng ban Marketing, người phụ trách Marketing của Công ty cũng như các nhân viên có trình độ năng lực Marketing, vì vậy khi đã xây dựng được chiến lược marketing, phòng tiêu thụ sản phẩm phải trực tiếp thực hiện những vấn đề cốt lõi của chiến lược, phải tự liên hệ với khách hàng, tìm kiếm và ký kết hợp đồng với các đối tác.

    5. Ngân sách marketing của VINAWIND

    Muốn thực hiện được các chiến lược marketing nhằm đáp ứng mục tiêu mà Công ty đã đề ra thì ngân sách phải được ban giám đốc Công ty phê duyệt.

    Trong khi đó ở VINAWIND thì các mục tiêu, chiến lược marketing cũng như chương trình thực hiện hầu hết là do ban giám đốc phác thảo ra và xây dựng lên vì thế khi đã xác định được thực hiện một chiến lược marketing nào đó thì ban giám đốc cũng đã đưa ra các dự báo về doanh số bán, doanh thu với mức giá dự kiến, các chi phí kinh doanh. Từ đó ban giám đốc xây dựng được ngân sách

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    marketing, nó giúp cho ban giám đốc Công ty dự kiến được lãi hoặc lỗ như thế nào khi tiến hành thực hiện chiến lượcmarketing này.

    Nếu dự kiến có lãi thì ngân sách này sẽ được ban giám đốc phê duyệt và nó chính là cơ sở cho các hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong quá trình thực hiện chiến lược nếu có khâu nào sai sót thì ban giám đốc sẽ phải đứng ra sửa đổi để hoàn thành được mục tiêu mà Công ty đã đề ra bằng các hoạt động kiểm soát của Công ty.

    6. Các hoạt động kiểm soát tiến trình thực thi kế hoạch marketing của VINAWIND

    Thông thường ở các tập đoàn cũng như các Công ty lớn khi quá trình kế hoạch hoá Marketing của họ đã hoàn thiện thì bao giờ khâu cuối cùng của quá trình kế hoạch hoá đó cũng là kiểm tra, kiểm soát các nỗ lực Marketing mà kế hoạch đã lập ra. Chính phần kiểm soát này sẽ giúp cho các nhà quản trị theo dõi được tiến trình của kê hoạch, xem xét trong từng tháng, từng quý hay từng giai đoạn mục tiêu và mục đích của Công ty đã đề ra có đạt được yêu cầu mà kế hoạch đã nêu ra hay không, từ đó có những biện pháp điều chỉnh cho phù hợp, VINAWIND cũng theo dõi kiểm soát trong từng tháng nhưng vẫn cơ bản dựa vào số liệu thống kê lịch sử.

    7. Quy trình tổng quan hoạt động  xây dựng kế hoạch marketing

    VINAWIND

    Bối cảnh   Mục tiêu kinh doanh
         

    Chiến lược kinh doanh

    42

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Chương trình thực hiện Chiến lược kinh doanh

    Ngân sách của Công ty

    Các hoạt động kiểm soát tiến trình thực thi kế hoạch

    H6: Mô hình xây dựng kế hoạch marketing của VINAWIND

    IV. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI CỦA VINAWIND

    Qua phần phân tích kế hoạch hoá của VINAWIND chúng ta dễ nhận thấy những thuận lợi và khó khăn còn vướng mắc của Công ty.

    1. Những thuận lợi mà VINAWIND có :

    • Được sự chỉ đạo thường xuyên và tạo điều kiện thuận lợi từ lãnh đạo thành phố Hà Nội.
    • Đã có 40 năm kinh nghiệm là công tác sản xuất kinh doanh quạt điện
    • Ban giám đốc Công ty nhạy bén, quản lý tốt.
    • Phát huy tốt các bạn hàng truyền thống.
    • Áp dụng cơ chế khoán doanh thu đem lại hiệu quả cao trong công việc.
    • Mặt hàng quạt điện của công ty có chỗ đứng trong lòng khách hàng.
    • Tận dụng được uy tín kinh doanh và lợi thế của một doanh nghiệm Nhà nước (vay vốn ngân hàng).

    2.                 Những khó khăn còn tồn tại của VINAWIND

    Thị trường quạt điện ở nước ta hiện nay là khá lớn, vì vậy sản phẩm quạt Điện cơ Thống Nhất có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Có thể chia ra làm hai loại chính như sau:

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Đối thủ cạnh tranh trong nước: Điện cơ 91, quạt Hoa Sen của công ty cơ khí chính xác số 1, quạt SUNLUX của công ty TNHH điện- điện tử Hồng Hải, quạt Phong lan, quạt hoa Phượng,……. ở miền bắc.quạt ASIA của công ty

    TNHH ASIA, Công ty quạt điện Đồng Nai và một số doanh nghiệp sản xuất quạt khác ở miền Nam. Ngoài ra, còn có công ty quạt điện liên doanh với Đài Loan sản phẩm là quạt Chinghai ở 562 phố Minh Khai- Hà Nội.

    Đối thủ cạnh tranh nước ngoài: Quạt điện của Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc.

    Hạn chế nữa của công ty là phải nhập ngoại hoàn toàn nguyên vật liệu nên khi thị trường vật tư thế giới có sự biến động đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động của công ty.

    Hàng hoá của Công ty đã phần nào thích ứng với thị trường nhưng có thể thấy được việc nghiên cứu, quyết định sản phầm chưa mang tính chiến lược.

    Công việc nghiên cứu thị trường làm chưa đồng bộ. Việc dựa vào kế hoạch của Nhà nước làm cho Công ty không phát huy được nhưng lợi thế và nỗ lực.

    Công việc tái đào tạo và tuyển mộ nhân sự chưa được làm thường xuyên thể hiện ở chỗ Công ty đang cần những cán bộ giỏi vi tính, ngoại ngữ chuyên ngành cao để có thể tham gia hội thảo ở thị trường trong và ngoài nước một cách thuận tiện.

    Công ty chưa đầu tư vào hệ thống kế hoạch hoá : về thời gian, nguồn lực và phân bổ công việc.

    Hoạt động định vị thị trường mục tiêu không rõ ràng, chưa thể hiện được các chiến lược và kế hoạch chung cho sản phẩm.

    CHƯƠNG III

    XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING Ở CÔNG TY TNHHNN MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN CƠ THỐNG NHẤT (VINAWIND)

     

    44

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    I.                   NHỮNG DỰ BÁO BIẾN ĐỘNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ THỊ TRƯỜNG CỦA VINAWIND

     

    1.                 Dự báo môi trường

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc dự báo về môi trường kinh tế là hết sức cần thiết. Những nhân tố về kinh tế ảnh hưởng tới mức tiêu thụ hàng hoá, tác động của chúng về tiềm năng thị trường ở mọi thời điểm với định hướng hiện đại hoá thị trường.

    1.1     Môi trường kinh tế

    Sự khác nhau về kinh tế , thu nhập của người dân giữa các vùng miền là khá lớn. Một sản phẩm có thể được chấp nhận ở thị trường này nhưng lại không được chấp nhận ở thị trường kia. Vấn đề này hết sức quan trọng đối với việc thiết kê sản xuất và định giá cho một sản phẩm.

    Do vậy dự báo cơ hội thị trường và tìm kiếm thông tin về biến động cung cầu trên thị trường phụ thuộc vào sự biến động của nền kinh tế đất nứơc ở mỗi giai đoạn cụ thể.

    Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước diễn ra khẩn trương.Trong khi một số nền kinh tế lớn của thế giới đang có dấu hiệu chậm lại thì Việt Nam vẫn ổn định và tăng trưởng, nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt ở mức cao 8.2%. Tuy nhiên thế không có nghĩa là chúng ta đứng vững trước sóng gió.Trong năm vừa qua một số ngành đã có dấu hiệu giảm sút: Xuất khẩu giảm, thật nghiẹp gia tăng, lãi xuất ngân hàng cao, giá cả tang vọt ảnh hướng lớn đến đời sống của nhân dân và các doanh nghiệp.

    Theo mục tiêu chính sách của Nhà nước đề ra VINAWIND đa đưa ra định hướng phát triển trong năm để hào cùng công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

    Những định hướng cụ thể là:

    • Đẩy mạnh tăng trưởng hoạt động sản xuất kinh doanh phấn đấu mức cao nhất thực hiện các chỉ tiêu trong chiến lựơc kinh doanh.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Nâng cao một bước chất lượng tăng trưởng.
    • Hoàn thiện việc tuyển nhân sự cũng như tái đào tạo CBCVN.
    • Năm 2006 cần phấn đáu đạt một số chỉ tiêu chủ yếu sau: Tổng thu khoảng 119 tỷ đồng, tức là tăng 20% so với năm trước, lợi nhuận đạt 2.976 tỷ đồng tăng khoảng 11.08 %, nộp ngân sách 4.681 tỷ đồng tăng 14%, thu nhập bình quân người/tháng 2 triệu đồng tăng 20%….. Tạo đà cho những năm tiếp theo phấn đấu đến năm 2010 trở thành một công ty lớn mạnh trên thị trường quốc tế.

    1.2    Môi trường chính trị – pháp luật

    Với bất kể đất nứớc nào, chính phủ luôn có xu hướng khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.

    Chính phủ có nhiều chính sách bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước như:

    Duy trì, đẩy mạnh thực hiện chỉ thị 853/TTG của Thủ tướng chính phủ về chống buôn lậu và gian lận thương mại trong đó có dán tem các loại quạt ngoại. Tuy nhiên sự thay đổi nhanh chóng các chính sách về thuế quan hay những biện pháp quản lý thương mại khác khi gia nhập thị trường chung asean -AFTA đã ảnh hưởng không nhỏ thậm chí còn gây thiệt hại đối với một số doanh nghiệp trong nước trong đó có VINAWIND vì phải cạnh trang hàng nhập ngoại giá rẻ.

    2.Dự báo về thị trường quạt điện

    Dự báo thị trường là tiền đề cơ sở cho việc hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh. Mặt hàng kinh doanh phải thoả mãn được mong muốn của người tiêu dùng. Trên thực tế cho thấy rằng ở những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh làm ăn có hiệu quả là dựa trên các dự báo về thị trường, tức là dự báo về dung lượng thị trường, nhu cầu tiềm năng và các yếu tố tác động đến thị trường một cách chính xác.

    46

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Dự báo thị trường là dự báo triển vọng mua hàng của khách hàng ,khối lượng hàng hoá tiêu thụ của doanh nghiệp trong thời gian tới. Thông qua việc dự báo này, VINAWIND có thể giải đáp một số vấn đề :

    • Đánh giá được lợi ích, thiệt hại khi thâm nhập thị trường là bao nhiêu, tức là quyết định theo đuổi chiến lược thâmnhập thị trường mà VINAWIND đã đề ra thì có nghĩa là VINAWIND đã dự kiến được rằng thị trường hiện nay công ty đang kinh doanh vẫn còn nhiều tiềm năng mà công ty chưa tận dụng và khai thác hết. Chính vì thế mà VINAWIND đã mạnh dạn đưa ra dự kiến tăng tổng doanh thu trong năm 2006 tăng lên đến 20%.

    -Phân tích và điều hoà nguồn cung cầu hợp lý trong giai đoạn hiện nay thị trường quạt điện vẫn còn tiềm năng công ty xác định được nhu cầu của thị trường nên đã tập trung nghiên cứu thâm nhập thị trường hiện tại và xâm nhập vào thị trường mới.

    II.XÂY DỰNG MỤC TIÊU MARKETING CỦA VINAWIND TRONG NHỮNG NĂM TỚI

    1.Xác định mục tiêu marrketing của công ty

    Trong những năm tới, Công ty tiếp tục củng cố hoàn thiện tổ chức mạng lưới kinh doanh và phương hướng kinh doanh hợp lý, tạo ra sự phối hợp thống nhất trong toàn công ty , tạo ra sức mạnh tổng hợp trong toàn công ty , đủ sức đứng vững và chiếm lĩnh thị phần.

    VINAWIND sẽ cố gắng trở thành một công ty kinh doanh lớn, làm chủ được mặt hàng chiến lược.

    2.Phương hướng kinh doanh của VINAWIND

    2.1.Các chỉ tiêu phấn đấu

    -Tăng doanh số

    -Tăng lợi nhuận

    -Tăng thu nhập bình quân /nhân viên

    -Hướng tới xuất khẩu

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    2.2.Các nhiệm vụ cụ thể của VINAWIND

    a.Về kinh doanh:

    -Thực hiện tốt định hướng của công ty về công tác sản xuất kinh doanh quạt điện và thiết bị điện dân dụng ổn định lâu dài, tăng nhanh doanh số.

    -Tiếp tục phát triển và hoàn thiện mạng lưới kinh doanh, phân công kết hợp công việc một cách hợp lý nhất, tạo sức cạnh trạnh chiếm lĩnh thị trường cao nhất, kinh doanh có lãi.

    -Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, không để sản phẩm lỗi, hỏng ra thị trường nhằm nâng cao tín nhiệm của công ty đối với khách hàng.

    -Thực hiện đầy đủ các quy chế về quản lý tài chính của Nhà nước, phấn đấu bảo toàn và tăng trưởng nguồn vốn.

    b.Về tổ chức

    • Hoàn thiện phương án kinh doanh , tổ chức quản lý, điều hành kinh

    doanh.

    • Nâng cao trình độ của CBCNV về nghiệp vụ chuyên môn.

    III.XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING CỦA VINAWIND

    1.Định hướng giai đoạn xây dựng kế hoạch marketing ở VINAWIND

    Trên thực tế, các Công ty kinh doanh đã đứng vững trên thị trường, họ thường thay đổi hay đúng ra là quá trình kế hoạch marketing của họ đã phát triển sang giai đoạn kế hoạch hoá dài hạn- đây chính là công cụ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở Công ty của họ. Muốn chuyển sang được giai đoạn này VINAWIND phải hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch của mình theo hướng nhằm cải thiện tính hữu hiệu của kế hoạch. Ban giám đốc của VINAWIND phải thực sự nhận thấy rằng các kế hoạch hàng năm chỉ có ý nghĩa khi nó nằm trong kế hoạch dài hạn. Vì trên thực tế, kế hoạch dài hạn phải được thiết lập trướcvà kế hoạch hàng năm chính là kế hoạch chi tiết của năm đầu tiên trong kế hoạch dài hạn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Tuy nhiên, kế hoạch dài hạn hàng năm vẫn cần phải xem xét lại cho môi trường luôn luôn thay đổi từ đó đòi hỏi VINAWIND phải xem xét lại các giả thiết trong kế hoạch dài hạn của mình.

    Khi một công ty nào đó bắt đầu tiến hành kế hoạch dài hạn, thì nó có hướng giả định rằng tương lai sẽ là sự mở rộng của hiện tại và các chiến lược, hình thái tổ chức, các quy trình trong quá khứ vẫn còn phù hợp. Nhưng do môi trường đầy rẫy những biến động, thay đổi không có gì là chắc chắn do đó VINAWIND cần phải có cách suy nghĩ mang tính chiến lược bao quát hơn.

    -Phương hướng thực hiện: Để xây dựng hệ thống kế hoạch hoàn thiện thì ban giám đốc VINAWIND phải ý thức được kế hoạch không phải như là một điều vặt vãnh đáp ứng yêu cầu của thành phố mà kế hoạch marketing chính là một công cụ hữu hiệu góp phần đắc lực trong phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty.

    Thông thường ở các Công ty nước ngoài có đủ điều kiện họ sẽ thuê một giám đốc kế hoạch marketing – người sẽ chịu trách nhiệm về việc thiết kế hệ thống cuối cùng. Nếu không, họ sẽ thuê một nhà tư vấn bên ngoài có nhiều kinh nghiệm trongthiết kế các hệ thống kế hoạch quản lý cho các Công ty và các tổ chức. Nhà tư vấn bên ngoài này có thể cung cấp các triển vọng có giá trị về kế hoạch cũng như các quy trình và hình thái đặc biệt. Sau đó dựa vào kinh nghiệm và hệ thống kế hoạch mà nhà tư vấn đưa ra ban giám đốc công ty có thể tự thiết kế lấy hệ thống cuối cùng. Khi đã thiết kế được hệ thống cuối cùng này thì ban giám đốc sẽ phân bổ công việc cho cấp dưới một cách hợp lý để hoàn thành một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra.

    Nhưng hiện nay do nước ta mới chỉ là một nước đang phát triển, chưa có đủ điều kiện thuê giám đốc kế hoạch hoá hay nhà tư vấn, vì thế VINAWIND sẽ phải đào tạo và bầu ra một giám đốc kế hoạch hoá cho công ty -đây sẽ là người thiết kế hệ thống kế hoạch cuối cùng cho công ty sau đó giám sát việc thực hiện kế hoạch và chịu trách nhiệm về hệ thống kế hoạch mà họ đưa ra.

    49

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Nhiệm vụ chủ yếu của giám đốc kế hoạch hoá VINAWIND là phát triển một lịch trình cho quá trình kế hoạch marketing của công ty . Các bước thông thường trong lịch trình thường là:

    1.Phát triển một tập hợp các thực tại và xu thế môi trường nhằm cung cấp cho các giám đốc để chuẩn bị cho hoạt động kế hoạch hoá của họ.

    2.Làm việc với ban lãnh đạo của thành phố nhằm phát triển một tập hợp các mục tiêu chung của công ty cho năm tới và chuyển nó cho giám đốc của VINAWIND để chuẩn bị cho hoạt động kế hoạch hoá của họ.

    3.Làm việc với các trưởng phòng trong VINAWIND để hoàn thành các kế hoạch marketing của họ vào một thời điểm được ấn định.

    4.Làm việc với lãnh đạo Thành phố nhằm xem xét, phê chuẩn hoặc biến đổi các kế hoạch khác nhau.

    5.Phát triển một kế hoạch chính thức đối với VINAWIND trong giai đoạn sắp tới.

    2.Phương pháp xây dụng kế hoạch marketing của VINAWIND

    Chúng ta đã biết rằng phương pháp xây dựng kế hoạch ở Công ty ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống kế hoạch hoá của toàn công ty . Nếu phương pháp kế hoạch hoá tốt, sáng tạo của công nhân viên cũng như sự nhạy bén, quản lý tốt của ban giám đốc thì hệ thống kế hoạch hoá của công ty sẽ tiến triển tốt đẹp. Đây là một điều kiện quan trọng đóng góp vào sự thành công trong kinh doanh của công ty và ngược lại.

    Hiện nay, VINAWIND cũng giống như đa số các công ty quốc doanh khác là sử dụng phương pháp xây dựng kế hoạch từ trên xuống. Trong quá trình VINAWIND áp dụng phương pháp kế hoạch từ trên xuống naỳ còn có những nhược điểm như: không tận dụng được sáng tạo, năng động của nhân viên trong công ty, chính vì thế tạo cho nhân viên sự ỷ lại và họ chỉ làm việc một cách miễn cưỡng cho hoàn thành nhiệm vụ của mình khi được ban giám đốc giao cho. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của VINAWIND.

    50

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Trên thực tế, các công ty kinh doanh đã thành công trên thị trườngchúng ta dễ nhận thấy họ có một đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình làm việc tận tình vì công ty, bên cạnh đó ban giám đốc công ty có trình độ quản lý tốt, có chí tiến thủ: xem xét và lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của nhân viên sau đó họ dự tính và đánh giá các chiến lược thế vị có khả năng dẫn công ty tới trạng thái thịnh vượng càng tốt. Vì vậy để có thể cải thiện được tình hình và nâng cao hiệu quả làm việc VINAWIND nên sử dụng phương pháp “ xây dựng kế hoạch mục đích từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên”.

    Muốn áp dụng một cách hiệu quả nhất phươngpháp này sau khi đã đưa ra những mục đích, mục tiêu và chủ trương của mình ban giám đốc VINAWIND sẽ phải phân phát tài liệu hoặc phổ biến đến từng phòng ban trong công ty để mọi CBCNV trong công ty đều nắm bắt được chủ trương của ban giám đốc. Sau đó tổ chức họp toàn công ty để thu thập ý kiến đóng góp xây dựng, phát huy tính sáng tạo cũng như giải thích những thắc mắc của CBCNV. Cuối cùng ban giám đốc VINAWIND sẽ sàng lọc, thông suốt tư tưởng của mọi người trong công ty và đi đến quyết định cuối cùng một cách hợp lý nhất.

    Đây là phương pháp kết hợp cả hai phương pháp kế hoạch từ trên xuống và kế hoạch từ dưới lên. Phương pháp này sẽ giúp cho VINAWIND tận dụng được hết các ưu điểm của hai phương pháp trên cộng lại từ đó triệt tiêu được những nhược điểm khi thực hiện hai phương pháp trên một cách riêng lẻ.

    Phương pháp này sẽ giúp cho ban giám đốc VINAWIND có một tầm nhìn rộng về các cơ hội, các yêu cầu của công ty và đề ra các mục tiêu cho VINAWIND trong năm tới. Trong khi đó các phòng ban cũng như nhân viên trong VINAWIND đều phải chịu trách nhiệm chuẩn bị các kế hoạch đối với việc phát triển các kế hoạch của công ty đã đề ra nhằm mục đích hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu kinh doanh của mình. Những kế hoạch này khi đã được ban giám đốc VINAWIND xem xét và phê chuẩn thì nó sẽ trở thành kế hoạch hàng năm chính thức của công ty.

    51

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    3.Quy trình xây dựng kế hoạch marketing của VINAWIND

    3.1Quy trình tổng quan hoạt động xây dựng kế hoạch marketing của

    VINAWIND

    Hệ thống xây dựng kế hoạch luôn là một chu trình tổng thể khép kín, có như vậy thì hệ thống kế hoạch mới phát huy được tối đa những lợi ích của nó để đóng góp vào sự phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.

    Nhưng trên thực tế ở VINAWIND lại đang sử dụng một hệ thống xây dựng kế hoạch có chu trình không khép kín và tất nhiên khi chu trình kế hoạch mà công ty đang sử dụng lại không khép kín thì hệ thống kế hoạch đó hoàn toàn không phát huy được hết khả năng và ưu thế của kế hoạch marketing.

    VINAWIND xem xét, nghiên cứu chu trình kế hoạch của các công ty đã thành danh tên thị trường để từ đó xác định quy trình xây dựng kế hoạch marketing của công ty một cách hợp lý nhất, đạt hiệu quả cao nhất.

    52

                Xây dựng kế hoạch      
                Marketing I+II+III Nguyễn Bá Thắng – CT2
    Luận văn tốt nghiệp    
       
          Dự báo          
                       
                    Mục tiêu
                 
                Marketing
      Doanh nghiệp    

    Cụ thể VINAWIND thực hiện theo các chu trình sau:

      Môi trường và     Phân tích   Chiến lược            
        thị trường     và đánh giá   và mục tiêu            
              Chiến lược  
                I   II        
             
        H7: Mô hình tóm tắt quy trình xây dựng kế hoạch Marketing   marketing  
        đề xuất cho  
        Đầu vào     VINAWIND                
                           
                               
                             
                Hành IV   III            
                  Khả năng            
                động       Ngân sách  
                             
        Sửa đổi                    
                                   
                                   
                               
                                     
                          Kế hoạch hành  
        Kiểm tra                
                            động  
                             
                                 

    Thực thi

    3.2.Xây dựng quáThtrìnhựchiệnnghiênkếhoạch cIVứ u và phân tích tình thế của VINAWIND

    a.Các dự báo về môi trường và thị trường kinh doanh của VINAWIND Giả sử nếu không có những biến động lớn về môi trường kinh doanh (các

    cuộc khủng hoảng kinh tế, sự thay đổi bổ sung luật pháp…)hay chiến lược kinh doanh dự kiến của công ty thì công ty có thể tiến hành nghiên cứu thị trường theo ba bước: Lập kế hoạch, thu thập thông tin và xử lý thông tin. Nội dung của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu khả năng xâm nhập thị trường và tiến tới mở rộng thị trường của công ty.

    Mục đích của việc nghiên cưú thị trường là xác định khả năng tiêu thụ hay bán một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm của công ty nếu có những biến động lớn về môi trường hay thị trường so với những dự báo mục tiêu của công ty thì VINAWIND phải xem xét lại, thậm chí có thể phải làm lại. Nếu các kết quả dự báo của VINAWIND không phù hợp tới thành phố thì VINAWIND phải xem xét áp dụng những chiến lược mới nhằm mục đích tìm ra chiến lược có thể đem lại kết quả lao động trong tương lai cao hơn.

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                                 Nguyễn Bá Thắng – CT2

    b.Các thế mạnh và điểm yếu của VINAWIND *Về nhân sự:

    Hiện nay ở VINAWIND không có phòng ban Marketing cũng không có các nhân viên có trình độ Marketing. Vì vậy một số nhân viên ở phòng kinh doanh , phòng xuất nhập khẩu phải gánh vác cả công việc này khi cần thiết, nhưng do không có trình độ chuyên môn Marketing mà chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân nên hoạt động Marketing ở VINAWIND hầu như không đem lại mấy hiệu quả. Đồng thời hiện nay công ty lại đang áp dụng phương pháp kế hoạch hóa từ trên xuống nên không tận dụng tối đa sự sáng tạo và tận tuỵ vì công việc của các nhân viên.

    Qua một số phân tích trên chúng ta thấy rõ công ty cần phải tuyển thêm nhân viên Marketing hoặc phải đào tạo cán bộ cũ để nâng cao kiến thức, kỹ năng Marketing cho họ đồng thời kết hợp thay đổi phương pháp kế hoạch hoá để phát huy được sự sáng tạo và sự tận tuỵ của CBCNV trong công ty.

    *Về tài chính:

    Qua bảng báo cáo tài chính hàng năm của công ty , chúng ta thấy số vốn của VINAWIND cũng đã tăng dần lên nhưng còn rất chậm. Một phần là do vốn lưu động của công ty còn thấp nhưng phần lớn đã bị ảnh hưởng sự trả chậm của khách hàng diễn ra khá phổ biến dẫn đến tình trạng không đảm bảo được tính linh hoạt và chủ động trong kinh doanh. Vấn đề này công ty có thể dùng biện pháp sau để khắc phục: – ưu đãi những khác hàng mua với khối lượng lớn và trả tiền ngay, cụ thể là giảm 1% tổng số tiền hàng hoặc không tính chi phí vận chuyển và ngược lại. Điều này sẽ giúp VINAWIND khuyến khích được khách hàng của mình thanh toán ngay khi giaohàng, tạo điều kiện cho Công ty quay vòng vốn nhanh, đảm bảo tính linh hoạt và sự chủ động trong kinh doanh

    3.3. Xây dựng quá trình hình thành và quyết định mặt hàng kinh doanh quạt điện của VINAWIND

     

    54

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với nhau bởi chúng thực hiện một chức năng tương tự, được bán cho cùng một nhóm người tiêu dùng, qua cùng một kênh như nhau tạo nên một khung giá cụ thể. Còn danh mục sản phẩm là một tập hợp tất cả những loại sản phẩm, mặt hàng mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua.

    Để có thể đạt được giá trị sản lượng, sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận cao, VINAWIND luôn có những hoạch định về chiến lược sản phẩm của công ty. Việc hoạch định có thể dựa vào danh mục sản phẩm với chiều dài, chiều rộng, chiều sâu, mật độ của sản phẩm. Các chủng loại khác nhau hợp thành chủng loại sản phẩm của công ty được định kỳ đánh giá lại về khả năng sinh lời và tiềm năng tăng trưởng. Những sản phẩm tốt được công ty tiếp tục sản xuất và hỗ trợ, những sản phẩm kém bị cắt bỏ. Ngoài ra việc hoạch định chiến lược sản phẩm của công ty phụ thuộc vào việc nghiên cứu tình hình tiêu thụ và phần đóng góp lợi nhuận của từng loại quạt điện cũng như vị trí tương quan đối với các loại quạt của mình so với các đối thủ cạnh tranh.

    -VINAWIND nên nâng cao chất lượng sản phẩm phải bổ xung thêm những tính chất mới cho sản phẩm và cải tiến kiểu dáng nhiều hơn nữa.

    -VINAWIND nên bổ xung những mẫu mã mới và những sản phẩm “che sườn”.

    -VINAWIND nên cải tiến chất lương nhằm nâng cao tính năng của sản phẩm như tốc độ quay, lưu lượng gió, thời gian sử dụng cho quạt.

    -Cải tiến tính chất nhằm bổ xung những tính chất mới làm tăng công dụng thời gian sử dụng, độ an toàn…

    -Cải tiến các tính chất có một số ưu điểm vì các tính chất mới có thể sẽ tạo hình ảnh và tinh thần mới cho VINAWIND.

    -Cải tiến kiểu dáng nhằm làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ của sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập ngoại

    55

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    -Cải biến kiểu dáng làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập khẩu từ Trung Quốc.

    -Cải tiến kiểu dáng nhằm làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ của sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập ngoại

    -Cải biến kiểu dáng làm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh được với quạt nhập khẩu từ Trung Quốc.

    3.4 Xây dựng và quyết định giá đối với mặt hàng kinh doanh của VINAWIND.

    Trước tiên công ty phải xem xét mình muốn đạt mục tiêu gì. Mục tiêu của công ty càng rõ ràng thì càng dễ định.

    Có thể kiểm tra 06 mục định giá:

    • Đảm bảo sống sót
    • Tối đa hoá lợi nhuận trước mắt
    • Tăng tối đa mức tiêu thụ.
    • Tăng tối đa việc hớt phần ngon trên thị trường
    • Giành vị trí dẫn đầu về chất lượng sản phẩm.

    Trong 6 mục tiêu trên WINNAWIND có thể theo đuổi 1 hoặc 2 mục tiêu định giá là tối đa hoá liợi nhuận trước mắt và tăng tối đa mức tiêu thụ.

    Tiếp đến WINNAWIND cần phải xem xét, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng từ phía thị trường, môi trường vĩ mô và phía Công ty:

    • Từ phía thị trường : mức độ cạnh tranh, nhu cầu, tiềm năng thị trường, dung lượng thị trường… để làm được điều này WINNAWIND phait gấp rút tuyển mộ nhân sự hoặc tái đào tạo, nâng cao trình độ Marketing cùng một số cán bộ, nhân viên. Sau đó lập ra phòng Marketing, cử người chuyên trách về vấn đề này để giải quyết các vấn đề có liên quan với Marketing của WINNAWIND.

     

    56

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Từ phía môi trường vĩ mô : Luật pháp và chính sách chế độ quản lý của Nhà nước. Yếu tố này là rất quan trọng, nó liên quan trực tiếp đến việc hoạt động kinh doanh của WINNAWIND có lợi hay không? Vì thế chính ban Giám đốc của WINNAWIND sẽ phải trực tiếp theo doĩo những biến đỏi này thông qua các cuộc họp từ Tổng Công ty, báo chí, tuyên truyền hình… để giúp cho việc kinh doanh của Công ty luôn được thuận lợi theo đúng Pháp luật cũng như tận dụng được hết sự bảo hộ của Nhà nước.

     

    • Từ phía Công ty : Chi phí sản xuất, chất lượng, uy tín sản phẩm, sự kết hợp giữa chính sách giá cả và các chính sách khác của Công ty.

    Sau khi đã biết được giá thành, của đối thủ cạnh tranh và đánh giá của khác hàng, WINNAWIND có thể lựa chọn mức giá nào đó thông qua cac kỹ thuật định giá :

    • Định giá cộng thêm vào chi phí.
    • Định giá theo lợi nhuận mục tiêu.
    • Định gía theo mức giá hiện hành.

    Hiện nay WINNAWIND áp dụng kỹ thuật định giá cộng thêm vào chi phí, những kỹ thuật định giá này chỉ có lợi khi áp dụng với những loại mặt hàng luôn ổn định, một môi trường và thị trường luôn ổn định cũng như các nguồn cung luôn phải ổn định. Do mũi nhọn của WINNAWIND là kinh doanh xuất nhập khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu lại luôn biến đổi theo công nghệ đòng thời môi trường kinh doanh cũng không ngừng thay đổi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậy WINNAWIND nên áp dụng kỹ thuật định giá theo mức giá hiện hành tức là : áp dụng giá bán hàng với giá bán của các đối thủ cạnh tranh. Với mức giá này WINNAWIND sẽ tận dụng được lợi thế của mình (có mối quan hệ tốt với nền tảng khách hàng truyền thống) do vậy WINNAWIND giữ vững được thị phần của mình trước những đối thủ cạnh tranh và đy chính là một điều kiện tốt cho việc thực hiện chiến lược của WINNAWIND.

    57

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Xác định mục tiêu định giá

    Xác định nhân tố ảnh hưởng

    Nhâ tố về phía   Nhâm tố thuộc   Nhân tố về phía
      môi trường  
    thị trường     Công ty
      vĩ mô  
           
             

    Lựa chọn chính sách định giá

    Xác định giá

    H8: Các giai đoạn trong qua trình xác định giá sản phẩm

    3.5. Xây dựng quyết định phân phối của WINNAWIND

    Mục tiêu phân phối có thể là mức phục vụ khách hàng trọng điểm và bao phủ thị trường mục tiêu đến đâu và các thành viên kênh phải hoạt động như thế nào. Những mục tiêu của kệnh còn thay đổi theo đặc điểm của từng sản phẩm.

    58

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Sản phẩm của Công ty là quạt điện, mang tính mùa vụ cho nên cho các đại lý bán trực tiếp vớiư khách hàng.

    Lựa chọn các loại kệnh : WINNAWIND có thể sử dụng 2 loại kênh trực tiếp và gián tiếp hoặc kết hợp cả 2 loại kênh này.

    Đối với loại kệnh trực tiếp, ưu thế rõ rệt của nó là đẩy nhanh tốc độ lưu thông, đảm bảo sự giao tiếp chặt chẽ của Công ty với khác hàng. Nhưng đối với từng loại hàng nó cơ ưu nhược điểm khác nhau. Loại kênh này có thể sử dụng với đại diện bán hàng của Công ty để bán trực tiếp cho khác hàng.

    Hiện nay WINNAWIND đang áp dụng kỹ thuật định giá cộng thêm vào chi phí, những kỹ thuật định giá này chỉ có lợi khi áp dụng với những loại mặt hàng luôn ổn định, một môi trường và thị trường luôn ổn định cũng như các nguồn cung luôn phải ổn định. Do mũi nhọn của WINNAWIND là kinh doanh xuất nhạp khẩu và hàng hoá xuất nhập khẩu lại luôn biến đổi theo công nghệ đồng thời môi trường kinh doanh cúng không ngừng thay đỏi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác. Vì vậyvna nên áp dụng kỹ thuật định giá theo mức giá hiện hành tức là : áp dụng giá bán bằng với giá bán của các đối thủ cạnh tranh. Với mức giá này WINNAWIND sẽ tận dụng được lợi thế của mình (có mối quan hệ tốt với nền tảng khách hàng truyền thống) do vậy WINNAWIND sẽ giữ vững được thị phần của mình trước những đổi thủ cạnh tranh và đây chính là một điều kiện tốt cho việc thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường của WINNAWIND.

    • Đối với loại kệnh gián tiếp, tuỳ theo mục tiêu của Công ty mà lựa chọn loại kênh một mức hay nhiều mức và lựa chọn số thành viên theo chiều rộng của kênh.
    • Tổ nhất WINNAWIND nên sử dụng cả 2 kệnh phân phối trên vì WINNAWIND là một Công ty sản xuấtkinh doanh rất nhiều loại quạt điện, khi sử dụng cả 2 loại kênh này thì sẽ tận dụng triệt để được ưu điểm cuat chúng tạo nên những thuận lợi tốt cho Công ty.

    59

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    * Quản trị kênh :

    Sau khi đã lựa chọn được một phương án kênh, WINNAWIND phải có quyết định vận hành, quản trị kệnh đã chọn. cộng việc bao gồm :

    • Tuyển chọn thành viên kênh: Mỗi Công ty thường có những khả năng khác nhau trong việc thu hút các thành viên kênh có chất lượng cho kênh dự định. Trong việc lựa chọn thành viên kênh, Công ty có thể đưa ra các tiêu thức để lựa chọn một thành viên tốt, chẳng hạn:
    • Khả năng thanh toán nhanh, chậm nhật chỉ trong vòng 30 ngày
    • Uy tín được đảm bảo trong khu vực thị trường đó.
    • Sức tiêu thụ phải đáp ứng được yêu cầu của Công ty.
    • Kích thích các thành viên kênh : Những người trung gian cần được độnh viên để hoàn thành tốt nhất công việc của họ. Những điều kiện đưa họ đến với kênh đã tạo ra một sự động viên nào đó, nhưng những điều kiện đó cần phải được bổ sung thêm. WINNAWIND phải nghĩ rằng mình khong chỉ bán hàng thông qua người trung gian mà còn là bán hàng cho họ. đối với Công ty Thương mại có 3 loại tiếp cận khác nhau : Hợp tác, hùn hạp và lập chương trình phân phối. qua đó Công ty sẽ đạt được quan hệ chặt chẽ và tín nhiệm trong công việc đảm nhận các chức năng tiếp thị tiêu thụ hữu hiệu cho nguồn hàng và ngược lại nhận được các kích thích từ phía nguồn hàng về giá, điều kiện giao hàng và thanh toán.

    Đánh giá các thành viên kênh : Công việc đánh giá này phải được làm thường xuyên định kỳ. WINNAWIND có thể dựa vào các tiêu chuẩn:

    • Doanh số bán cao hay thấp ?
    • Mức dự trữ bình quân là bao nhiêu ?
    • Thời gian giao hàng nhanh hay chậm ?

    60

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    + Dịch vụ cho khách hàng đã hoàn hảo chưa ?

    Việc đánh giá mạng kệnh phân phối WINNAWIND có thể so sánh các tiêu chuẩn của các thành viên khác nhau.

    *Điều chỉnh các quyết định biến thể kênh, mạng : Hành vi mua của người tiêu dùng có thể thay đổi trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm mới, cạnh tranh khốc liệt hơn hay có những kênh phân phối mới… Với sự thay đỏi này, việc điều chỉnh hệ thống phân phối sẽ là cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Vì thế WINNAWIND có thể thay đổi kênh phân phối qua 3 mức độ :

    • Lấy thêm hay loại bỏ những thành phần kênh.
    • Lấy thêm hay loại bỏ những cấu tử mạng ở một vài đoạn thị trường cá

    biệt

    • Thể hiện một phương cách mới cho việc bán hàng ở tất cả các thị trường trọng điểm.
    • Thoả mãn dịch vụ khách hàng : khách hàng khong quan tâm đến việc hàng hoá được vận chuyển hay dự trữnhư thế nào hay những thành viên kênh phải làm gì để cung cấp hàng hoá cho họ . Khác hàng chỉ quan tâm đến việc sản phẩm có đáp ứng được yêu cầu về mặt thời gian và có đáng tin cậy không. Có những trường hợp, hệ thống phân phối của WINNAWIND vận hành không hiệu quả, khách hàng đã phải chờ đợi để mua được những hàng hoá mà họ cần. Điều này đã làm khách hàng phiền lòng và sẽ có những tác động xấu đến

    WINNAWIND.

    Những dịch vụ mà WINNAWIND có thể cung cấp tốt cho khách hàng như: Thời gian, địa điểm và mặt hàng mà khác hàng cần, những dịch vụ này hiện nay Công ty có khả năng đáp ứng được vì vậy WINNAWIND nên lưu ý và làm tốt những vấn đề dù chỉ là nhỏ nhất này.

    61

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Những trang thiết bị phân phối cần thiết : Để cung cấp hàng hoá từ nhà sản xuất đến nơi khách hàng yêu cầu, cần thiết phải có những phương tiện như kho, trạm, phương tiện vận tải.

    Sự lựa chọn phương tiện vận tải tốt nhất phải tuỳ thuộc và sản phẩm, những quyết định phân phối khác và những dịch vụ khách hàng mà WINNAWIND đưa ra. Sự lựa chọn tốt nhất sẽ không chỉ đạt được một chi phí ở mức thấp có thể mà còn đưa ra một tiêu chuẩn dịch vụ như tốc độ, độ tin cậy…

    Việc lưu kho là cần thiết khi sản xuất không phù hợp với khác hàng về không gian, thời gian, số lượng… việc dự trữ hàng hoá có thể làm tăng giá trị hàng hoá và đảm bảo sự sẵn sàng khi khách cần. Nhưng WINNAWIND cũng phải lưu ý rằng dự trữ luôn liên quan đến chi phí.

    Mục tiêu phân phối

    Lựa chọn loại kênh   Thoả mãn dịch vụ KH
             
             
    Trực tiếp   Gián tiếp   Những trang thiết bị
        phân phối cần thiết
               
                 
                 

    Quản trị kênh

    62

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    H9: Quyết định chiến lược phân phối

    3.6. Xây dựng trương trình xúc tiến quảng cáo * Phương tiện quảng cáo

    Trong năm nay 2006, Công ty nên quảng bá thương hiệu và sản phẩm nhờ các phương tiên quảng cáo để truyền thông tới công chúng như Truyền hình, truyền thanh, báo chí của các địa phương chi phí thấp nhưng hiệu quả khá cao.

    * Marketing trực tiếp

    Công ty áp dụng marketing trực tiếp sủ dụng điện thoại, fax, thư gửi qua bưu điện… để gưỉ các bản chào giá, chào hàng tới thị trường mục tiêu sẽ tiết kiệm được chi phí mà vẫn đảm bảo được mục tiêu.

    * Kích thích tiêu thụ

    Thường xuyên tham gia những hội chợ triển lãm để thu hút khách và nâng cao vị thế của công ty.

    Công ty dang áp dụng chương trình kích thích tiêu thụ vào đợt đầu năm và cuối năm bàng hình thú khuyến mại giảm giá tuy nhiên hiệu quả thực sự đem lại là chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh công ty cần có thêm nhiều phương pháp khác.Ký hợp đồng nguyên tắc với các nhà phân phối và hứa sẽ chiết khấu phần trăm cho họ vào cuối năm khi hợp đồng được thanh lý.

    Hàng năm mời các nhà phân phối đi tham quan du lịch để tăng thêm sự gắn bó giữa nhà phân phối với công ty.

    Đối với người tiêu dùng trực tiếp: nên áp dụng chương trình khuyến mại bằng hiện vật khi mua hàng.

    4. Chương trình hành động và ngân sách.

    Chiến lược mới thể hiện những nét chính của marketing,để đạt được những mục tiêu của kinh doanh. Mỗi yếu tố trong chiến lược marketing phải được cụ thể hoá để giải đáp câu hỏi: Phải làm gì? Bao giờ thì làm ? ai làm ? Tốn

    63

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    kém hết bao nhiêu ? Trong khuôn khổ của một cuốn luận văn em xin được đề xuất chương trình hàng động kích thích tiêu thụ sản phẩm quạt điện VINAWIND thuộc phần quảng cáo xúc tiến- trong chiến lược marketing đã nêu

    • trên.

    Chương trình kích thích tiêu thụ nhằm vào các đại lý còn phần kia nhằm

    của vinawind gồm hai phần, một phần vào người tiêu dùng.

    Chương trình kích thích đại lý gồm:

    Thang hai- vinawind thực hiên chương trình khuyến mại cụ thể như

    sau:

    1.Đối tượng được khuyến mại:

    • Tất cả đơn vị, cá nhân là khách hàng truyền thống của công ty.

    2.Mức khuyến mại:

    a/ Hình thức khuyến mại: Giảm giá bán trước thuế ngay trến hoá đơn bán

    hàng.

    b/ Mức khuyến mại đối với từng loại sản phẩm như sau:

    • Khuyến mại giảm giá 2%: Quạt trần 1.4m cánh tôn.
    • Khuyến mại giảm giá 5% đối với các loại sau:
    • Quạt bàn: QB 300CV, QB 400NSĐG
    • Quạt hộp: QH 300LP, QH 350 GLP
    • Khuyến mại giảm giá 12% đối với các loại quạt:
    • Quạt treo tường: QTT 400R, QTT400E, QTT 400 EHD, QTT 400X.HD
    1. Tổ chức thực hiện.

    Phòng tiêu thụ sản phẩm tổ chức thực hiện.

    64

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Thời gian đăng ký nộp tiền, viết hoá đơn hưởng khuyến mại: Bắt đầu từ ngày 07/02/2005 đến 14/02/2006.
    • Thời gian lấy hàng: Hạn cuối cùng lấy hết hàng ra khỏi công ty vào ngày 25/02/2005
    1. Chỉ tiêu bán hàng của đợt khuyến mại này là: 10 tỷ đồng

    Tháng ba: Tổ chức hội nghị khách hàng.

    • Trao quà cho những nhà phân phối đạt chỉ tiêu doanh số của công ty
    • Tổ chức thăm dò lấy ý kiến khách hàng.

    Phòng tiêu thụ sản phẩm tổ chức thực hiện với kinh phí là: 300.000.000

    đồng.

    Tháng tư:

    • Tham gia hội chợ thường niên Hàng việt nam chất lượng cao tại Giảng Võ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức
    • Kinh phí: 50.000.000 đồng.
    • Tổ chức thực hiện: Phòng tiêu thụ sản phẩm.

    Tháng sáu:

    • Tổ chức mời một số nhà phân phối lớn đi tham quan du lịch
    • Kinh phí: 120.000.000 đồng
    • Thực hiên: Phòng tiêu thụ sản phẩm kết hợp cùng phòng tổ chức.

    Tháng 10:

    • Tham gia hội chợ hàng tiêu dùng ở Việt trì, Hải phòng
    • Kinh phí: 50.000.000 đồng
    • Tổ chức thực hiện: Phòng tiêu thụ sản phẩm.

    Chương trình khuyến mãi cho người tiêu dùng:

     

    65

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    • Tháng chín: vinawind quảng cáo trên báo chí rằng trong tháng này tất cả mọi người mua sản phẩm quạt điện đều được tặng một ổ cắm điện trị giá 10.000 đồng do công ty sản xuất.
    • Kinh phí: 80.000.000 đồng
    1. Kiểm tra

    Phần cuối của bản phác hoạ là kế hoạch công tác kiểm tra theo dõi tiến trình triển khai kế hoạch. Thông thường các chỉ tiêu và ngân sách được xác định cho từng tháng hay quý. Banh lãnh đạo cấp trên có thể xem xét kết quả của từng kỳ và phát hiện những xí nghiệp tụt hậu phải giải trình tình hình đang xảy ra và những biện pháp mà họ sẽ thi hành để đảm bảo hoàn thành kế hoạch.

    Một số phần kiểm tra có đề ra những kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ. Kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ sẽ vạch ra những bước mà ban lãnh đạo cần thực hiện để đối phó với những diễn biến bất lợi như chiến tranh giá cả và đình công. Mục đích qua việc lập kế hoạch đối phó với những tình huống bất ngờ là khuyến khích các cán bộ quản trị lo liệu trước những khó khăn có thể gặp phải.

    66

    Luận văn tốt nghiệp                                                                                     Nguyễn Bá Thắng – CT2

    Biểu 1: Mô hình bộ máy tổ chức – quản lý sản xuất

    Chủ tịch –

    Tổng giám đốc

    Phó Tổng giám đốc  Kỹ thuật

    Phó Tổng giám đốc

    sản xuất

    Phòng Tổ chức – Hành chính

    Phòng Bảo vệ

    Phòng Tài vụ

    Phòng Kế hoạch – Vật tư

    Phòng Tiêu thụ sản phẩm

    Phòng KCS

    Phân xưởng cơ khí

    Phân xưởng Lưới, Sơn, Mạ

    Phân xưởng Đột Dập

    Phân xưởng Thiết bị đầu tư

    Phân xưởng Lắp ráp T.Phẩm

    Ghi chú:

    Thông tin chỉ đạo

    Thông tin hướng dẫn

    67


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Xây dựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng tại Công ty cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-T%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-t%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-TNHH-Nh%E1%BA%A5t-Vi%E1%BB%87t-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trải qua hơn mười năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những bước chuyển mình khởi sắc. Đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần nhà ở và các công trình xây lắp…Tạo cơ sở hạ tầng vững mạnh cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp thành công trong nghành xây lắp nói riêng, của nền kinh té quốc dân nói chung, dã nhận thấy rằng: TSCĐ đóng vai trò không nhỏ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chỉ cần một biến động nhỏ về TSCĐ cũng ảnh hưởng tới giá thành, tới lợi nhuận của Công ty.

    Một trong những biện pháp bền vững là phải sử dụng hợp lý và hiệu quả khi đưa vào sản xuất kinh doanh. Tổ chức hạch toán TSCĐ sẽ giúp cho các nhà quản lý lập dự toán chi phí TSCĐ, lập kế hoạch vật tư cung cấp kịp thời cho sản xuất. Làm tốt công tác hạch toán TSCĐ sẽ giúp doanh nghiệp vươn lên hơn nữa trên thương trường và ngày càng khẳng định mình không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.

    Hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này,trong thời gian đi sâu nghiên cứu, tìn hiểu tại công ty Nhất Việt được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ phòng tài chính- kế toán, được sự chỉ đạo tận tình của thầy giáo Hà Đức Trụ em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội”

    Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

    CHƯƠNG I :Lý luận chung về công tác hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp CHƯƠNG II:Thực trạng tổ chức Hạch toán tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt

    CHƯƠNG III:Những tồn tại và một số ý kiến đề xuất hoàn thiện công tác Hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 1 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP

    I.Khái niệm, đặc điểm và vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    1.Khái niệm TSCĐ:

    TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam các tài sản được coi là TSCĐ phải đồng thời thoả mãn 4 tiêu chuẩn sau (theo quy định tại chuẩn mực kế toán số 3) :

    • Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
    • Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
    • Thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
    • Có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên

    2.Đặc điểm của TSCĐ;

    Tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng không thay đổi hình thái vật chất lúc ban đầu cho đến khi bị hư hỏng .

    Giá trị TSCĐ hao mòn dần và chuyển dịch tong phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.

    Vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ thường lớn, thời gian thu hồi vốn dài

     3.Vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    Thông qua công tác hạch toán TSCĐ các nhà quản lý và những người quan tâm nắm bắt được tình hình thực tế về TSCĐ trong doanh nghiệp

    Công tác hạch toán TSCĐ phản ánh được tình hình tăng giảm hiện có của TSCĐ tại công ty.Từ đó giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược cho công ty một cách chính xác và hiệu quả.

    4.Yêu cầu của công tác quản lý trong doanh nghiệp:

    Xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải quản lý TSCĐ chặt chẽ về cả hiện vật và giá trị.

    Về mặt hiện vật:Đòi hỏi phải ghi chép, phản ánh đầy đủ số lượng TSCĐ cũng như việc bảo quản và sử dụng chúng ở các đặc điểm khác nhau.

    Nguyễn Đức Hạnh – 2 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Về mặt giá trị:đòi hỏi kế toán phải tính toán, xác định giá TSCĐ, hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ và kết quả kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ.

    II.Phân loại và đánh giá TSCĐ

    1.Phân loại TSCĐ:

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và công tác kế toán, TSCĐ được phân theo các tiêu thức khác nhau sau đây:

    a.Theo hình thái vật chất:

    TSCĐ hữu hình:Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho thuê hoặc cho hoạt động hành chính doanh nghiệp, phúc lợi phù hợp vưói tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng

    TSCĐ hữu hình gồm có;

    • Nhà cửa vật kiến trúc
    • Máy móc thiết bị
    • Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
    • Thiết bị, dụng cụ quản lý
    • Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
    • TSCĐ hữu hình khác

    TSCĐ vô hình:là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ trong sản xuất hay cung ứng dich vụ, cho các đối tượng khác thuê hoặc dùng cho mục đích quản lý.

    TSCĐ vô hình gồm có:

    • Quyền sử dụng đất
    • Quyền phát hành
    • Bản quyền, bằng sáng chế
    • Nhãn hiệu hàng hoá
    • Phần mềm máy vi tính
    • Giấy phép và giấy nhượng quyền
    • TSCĐ vô hình khác
    Nguyễn Đức Hạnh – 3 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    b.Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:  

    Căn cứ vào quyền sở hữu đối với TSCĐ thì TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành:

    • TSCĐ tự có: Là những tài sản được xây dựng, mua sắm, hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, bằng nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được quyền tặng, viện trợ không hoàn lại
    • TSCĐ thuê ngoài:là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ

    thuê ngoài được chia thành:TSCĐ thuê tài chính, TSCĐ thuê hoạt động

    Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ với TSCĐ tự có của doanh nghiệp.

    c.Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:

    • TSCĐ hìmh thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp (nếu là doanh nghiệp nhà nước)
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung
    • TSCĐ nhận vốn góp liên doanh bằng hiện vật

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp sử dụng phân phối nguồn khấu hao được chính xác, theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ.

    d.Phân loại TSCĐ theo công dụng và tình hình sử dụng:

    • TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh
    • TSCĐ dùng cho đơn vị hành chính sự nghiệp
    • TSCĐ dùng cho phúc lợi, an ninh, quốc phòng, dự trữ
    • TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý, giải quyết

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 4 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp có thông tin về cơ cấu TSCĐ tính toán và phân bổ chính xác số khấu hao cho các đối tượng sử dụng và có biện pháp đối với TSCĐ chờ thanh lý.

    2.Tính giá TSCĐ.

    TSCĐ được ghi sổ hạch toán và tính giá theo từng TSCĐ hoàn chỉnh chúng có thể là những TSCĐ độc lập hoậc một hệ thống các tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chứuc năng nhất định. Như vậy, đối tượng ghi TSCĐ có thể là một dây chuyền sản xuất đồng bộ và hoàn chỉnh.TSCĐ được hạch toántheo nguyên giá, giá trị còn lại và giá trị hao mòn.

    a.Nguyên giá TSCĐ

    Nguyên giá TSCĐ là giá trị ban đầu (giá trị nguyên thuỷ) của TSCĐ khi nó được xuất hiện lần đầu ở doanh nghệp. Nguyên giá TSCĐ chỉ thay đổi khi nâng cấp trang thết bị thêm cho TSCĐ hay tháo bớt một số bộ phận không dùng dến hoặc đánh giá lại TSCĐ. Tuỳ nguồn hình thành của TSCĐ mà nguyên giá được tính nhưu sau: *Trường hợp mua sắm TSCĐ được xác định theo nguyên tắc:

     

    Nguyên giá TSCĐ Mua sắm

    = Giá      + phí tổn trước  + thuế nhập khẩu

    mua                Khi dùng                           (nếu có)

    – giảm giá (nếu có)

     

    *Trường hợp tự xây dựng, chế tạo mới:

     

    Nguyên giáTSCĐ do XDCB bàn giao

    giá trị dự án duyệt

    =

    lần cuối TSCĐ

    +

    phí tổn trước

    khi dùng

     

    *Trường hợp TSCĐ được cấp:

    Nguyên giá TSCĐ Gía trị trên “biên bản chi phí trước
    = +    
    được cấp giao nhận” TSCĐ khi dùng (nếu có)
    *Trường hợp nhận TSCĐ của đơn vị khác góp vốn liên doanh  
           
    Nguyên giá TSCĐ nhận  =  giá trị do hội đồng liên + phí tổn khác
      Góp liên doanh doanh đánh giá   (nếu có)
    Nguyễn Đức Hạnh – 5 –   Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
           
    *Trường hợp TSCĐ được quyền tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại:
      Nguyên giá TSCĐ được  = Gía thị trường của  
      biếu tặng, viện trợ TSCĐ tương đương

    *Trường hợp TSCĐ được điều chuyển nội bộ cho đơn vị cấp dưới:

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán độc lập

    Nguyên giá TSCĐ = giá trị còn lại + chi phí phát sinh liên quan (nếu có)

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc TSCĐ đó, chi phí liên quan tính vào chi phí hoạt động

    *Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính:

    Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính ở đơn vị thuê như đơn vị chủ sở hữu tài sản.

    Nguyên giá TSCĐ  =     giá    +    chi phí trước     +         thuế và lệ phí

    Thuê tài chính                     mua             khi dùng                            trước bạ (nếu có)

    Phần chênh lệch tiền thuê TSCĐ phải trả cho đơn vị cho thuê và nguyên giá TSCĐ đó được hạch toán vào chi phí kinh doanh phù hợp vói thời hạn của hợp đồng thuê tài chính.

    Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá có tác dụng trong việc đánh giá khách quan đúng năng lực sản xuất, trình độ trang bị, cơ sở vật chất kĩ thuật và quya mô vốn đầu tư của doanh nghệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính khấu hao.

    Nguyên giá TSCĐ trong doanh nghiệpchỉ được thay đổi trong các trường hợp

    sau

    • Đánh giá lại TSCĐ
    • Xây dựng trang bị thêm
    • Cải tạo nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động kéo dài tuổi thọ của TSCĐ
    • Tháo dỡ một hay một số các bộ phận của TSCĐ

    b.Gía trị còn lại của TSCĐ:

    Gía trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế còn lại của TSCĐ tại thời điểm báo cáo

    Gía trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ –  số khấu hao luỹ kế

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 6 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp     ĐH Quản lý và kinh doanh HN
                 
    Gía trị còn lại của TSCĐ được xác định lại nếu nguyên giá TSCĐ được đánh giá
    lại và tính như sau:          
    Giá trị còn lại   Gía trị còn lại của     Giá trị đánh giá lại TSCĐ
    Của TSCĐ = TSCĐtrước khi x      
         
        được đánh giá     Nguyên giá TSCĐ
           

    Theo chuẩn mực của kế toán quốc tế thì gía trị còn lại trong trường hợp đánh giá lại được tính như sau:

    Gía trị còn lại  = Gía trị đánh giá lại    –  Số khấu hao luỹ kế

    III.Nội dung công tác Kế toán TSCĐ:

    1.Nhiệm vụ Kế toán TSCĐ:

    TSCĐ là tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSCĐ thường có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số giá trị tài sản cảu doanh nghiệp.Quản lý và sử dụng tốt tài sản của doanh nghiệp không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động tốt trong kế hoạch sản xuất mà còn là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốnhạ giá thành sản phẩm. Để góp phần quản lý và sử dụng TSCĐ tốt, hạch toán TSCĐ phải thực hiện theo các nhiệm vụ sau:

    Theo dõi, ghi chép, quản lí chặt chẽ tình hình sử dụng và thay đổi của từng TSCĐ trong doanh nghiệp

    • Tính và phân bổ khấu hao TSCĐ cho các bộ phận sử dụng
    • Tham gia và lập kế hoạch và theo dõi tình hình sửa chữa TSCĐ

     2.Kế toán chi tiết TSCĐ

    Để phục vụ cho nhu cầu thông tin một cách cụ thể,chi tiết đối với từng loại, nhóm và đối tượng ghi TSCĐ cần thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ theo địa điểm sử dụng và tại phòng kế toán của đơn vị việc vào sổ kế toán chi tiết TSCĐ cần tiến hành theo từng đối tượng ghi TSCĐ : đối tượng ghi TSCĐ hữu hình và vô hình

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở địa điểm sử dụng, bảo quản

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 7 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Để quản lý theo dõi TSCĐ theo địa điểm sử dụng người ta mở sổ “sổ TSCĐ theo đơn vị sử dụng” cho từng đơn vị bộ phận. Sổ này dùng để theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐ

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận Kế toán

    Bộ phận Kế toán TSCĐ sử dụng thẻ TSCĐ để theo dõi chi tiết cho từng TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị hao mòn đã trích hàng năm của tiừng TSCĐ. Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập cho từng đối tượng ghi TSCĐ. Thẻ TSCĐ được lưu ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng.

    Để tổng hợp TSCĐ theo từng loại, nhóm TSCĐ kế toán còn sử dụng “sổ TSCĐ” Mỗi loại TSCĐ được mở riêng từng sổ hoặc một số trang trong sổ TSCĐ.

    3.Kế toán tổng hợp TSCĐ

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình:

    Kế toán sử dụng TK 211,411 và một số TK có liên quan khác

    TK 211 “TSCĐ hữu hình dùng để phản ánh tình hình tăng giảm và hiện có của TSCĐ hữu hình theo nguyên giá”

    *Nguyên tắc đánh giá TSCĐ – TK 211

    Giá trị TSCĐ phản ánh trên TK211 theo nguyên giá, kế toán phải theo dõi chi tiết nguyên giá của từng TSCĐ

    Mọi trường hợp tăng giảm TSCĐ hữu hình đều phải lập biên bản giao nhận TSCĐ và phải thực hiện đúng thủ tục quy định.

    TSCĐ hữu hình phải được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng ghi TSCĐ, theo từng loại TSCĐ và điều kiện bảo quản sử dụng, quản lý TSCĐ.

    Khi xây dựng cơ bản và mau sắm TSCĐ hoàn thành bằng nguồn vốn khấu hao, bằng nguồn vốn kinh doanh, thì chi phí ghi tăng giá trị TSCĐ không được ghi tăng nguồn vốn kinh doanh.

    Trường hợp TSCĐ được xây dựng cơ bản hoàn thành bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, bằng quỹ phát triển kinh doanh, thì kế toán phải ghi tăng giá trị TSCĐ

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 8 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    và đồng thời ghi tăng nguồn vốn kinh doanh, ghi giảm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,ghi giảm quỹ phát triển kinh doanh

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình được phản ánh sơ đồ 1 trang phụ lục

    4.Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính:

    Kế toán sử dụng TK 212 “TSCĐ thuê tài chính” để phản ánh tình hình tăng, giảm và hiện có của TSCĐ thuê tài chính theo nguyên giá

    Nguyên tắc kế toán TSCĐ thuê tài chính- TK212

    –  Không phản ánh vào TK 212 giá trị của các TSCĐ thuê có tính chất hoạt động

    Các TSCĐ được coi là TSCĐ thuê tài chính phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:

    • Quyền sở hữu TSCĐ thuê được chuyển sang cho bên đi thuê khi hết hạn hợp

    đồng.

    • Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá trị thực tế của TSCĐ thuê tại thời điểm mua lại
    • Thời hạn thuê theo hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4 thời gian hữu dụng của TSCĐ thuê
    • Giá trị hiện tại của các khoản chi theo hợp đồng ít nhất bằng 90% giá trị của TSCĐ thuê .

    Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau: – Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền sở hữu tài

    sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.

    – Nội dung hợp đồng thuê có quy định :khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại

    – Thời hạn thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.

    Nguyễn Đức Hạnh – 9 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    –   Tổng số tiền thuê một số loại tài sản quy định tại một hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm kí hợp đồng.

    Theo hình thức thuê TSCĐ tài chính, bên đi thuê ghi sổ kế toán giá trị TSCĐ theo nguyên giá tại thời điểm đi thuê như là đã được mua và ghi sổ nợ dài hạn.

    Bên cho thuê TSCĐ tài chính được coi hoạt động này là hoạt động đầu tư tài chính, vì vậy phải tổ chức theo dõi đầy đủ các quá trình: đầu tư cho thuê, tính chi phí về cho thuê TSCĐ (khấu hao) thu hồi vốn đàu tư, lỗ lãi của hoạt động đầu tư cho thuê

    TK 212 được mở chi tiết theo dõi từng loại, từng TSCĐ cho thuê tài chính

    *Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính được phản ánh qua sơ đồ2 trang phụ lục

    5.Kế toán TSCĐ vô hình:

    Hạch toán TSCĐ vô hình được phản ánh trên TK 213, TK213dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ TSCĐ vô hình của doanh nghiệp

    * Nguyên tắc kế toán TSCĐ vô hình TK213

    Nguyên giá của TSCĐ vô hình là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế về thành lập doanh nghiệp, chuẩn bị sản xuất, về công tác nghiên cứu phát triển.Số chi trả về mua quyền hoặc nhượng quyền, bằng phát minh sáng chế.

    Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh có liên quan đến TSCĐ vô hình trong quá trình hình thành trước hết được tập hợp vào TK214- XDCB dở dang sau khi kết thúc quá trình đầu tư phải xác định tổng chi phí đầu tư thuê từng đối tượng tập hợp chi phí,ghi tăng nguyên giá TSCĐ vô hình vào bên nợ TK213

    Trong quá trình sử dụng phải trích khấu hao TSCĐ vô hình theo mức độ hao mòn của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh. TSCĐ vô hình được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ trong “sổ TSCĐ”

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ vô hình được phản ánh qua sơ đồ 3 trang phụ lục

    6.Kế toán TSCĐ thuê hoạt động:

    Nguyễn Đức Hạnh – 10 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    *Kế toán tại đơn vị đi thuê:  

    Kế toán tăng giảm TSCĐ thuê hoạt động được phản ánhtrên tài khoản ngoài bảng TK 001 “TSCĐ thuê ngoài”. Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị của tất cả tài sản mà đơn vị thuê của đơn vị khác.

    Tài khoản này theo dõi chi tiết thuê từng đối tượng cho thuê và từng loại cho

    thuê

    Trình tự kế toán TSCĐ thuê hoạt động theo sơ đồ 4 trang phụ lục *Kế toán tại đơn vị cho thuê:

    Nghiệp vụ cho thuê TSCĐ hoạt động được coi là hoạt động bất thường. Trình tự kế toán TSCĐ theo sơ đồ 5 ttrang phụ lục

    Các chi phí khác

    7.Kế toán khấu hao TSCĐ

    Hạch toán hao mòn TSCĐ được phản ánh trên TK214.Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐtrong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ và những khoản tăng giảm hao mòn khác.

    Nguyên tắc kế toán hao mòn TSCĐ -TK214

    Mọi TSCĐ của doanh nghiệp đều phải được huy động và sử dụng và đều phải trích khấu hao cơ bản, thu hồi đủ vốn trên cơ sở tính đúng, tính đủ nguyên giá TSCĐ. Các trường hợp đặc biệt không trích khấu hao cơ bản, doanh nghiệp phải chấp hành đúng theo quy định quản lý hiện hành của nhà nước.

    Căn cứ vào quản lý tài chính hiện hành của nhà nướcđối với doanh nghiệp và căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp trích tỉ lệ và mức trích khấu hao cho thích hợp, nhằm kích thích sự phát triển của sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho việc thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp phải chấp hành ngiêm chỉnh các quy định về điều hoà và sử dụng vốn khấu hao TSCĐ.

    Đối với các TSCĐ đã tính đủ khấu hao cơ bản thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyễn Đức Hạnh – 11 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đối với các TSCĐ vô hình phải tuỳ theo thời gian phát huy hiệu quả của từng TSCĐ để trích khấu hao cơ bản tính từ khi TSCĐ đưa vào hoạt động.

    Đối với TSCĐ thuê tài chính, trong quá trình sử dụng bên đi thuê phải trích khấu hao cơ bản trong thời gian thuê theo hợp đồngtính vào chi phí sản xuất kinh doanh, đảm bảo thu hồi vốn. Bên cho thuê phải tính chi phí đầu tư tài chính theo mức khấu hao của TSCĐ cho thuê.

    Đối với TSCĐ đầu tư mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào hoạt động văn hoá, phúc lợi thì không trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh mà chỉ tính hao mòn TSCĐ.

    Phương pháp khấu hao

    Phương pháp khấu hao TSCĐ phải phù hợp vói đặc điểm của doanh nghiệp và đảm bảo tính nhất quán cho các niên độ kế toán

    Các phương pháp khu hao cơ bn

    Khấu hao theo đường thẳng (khấu hao tuyến tính), khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.

    Do đặc điểm hình thành và sự vận động tăng giảm của TSCĐ nên để đơn giản trong công tác Kế toán thì những TSCĐ tăng, giảm trong kì sang kì sau mới tính khấu hao tăng giảm. vì vậy số khấu hao TSCĐ phải trích trong kì tính như sau:

    Mức khấu hao TSCĐ = M ức KH TSCĐ + mức KH TSCĐ Phải trích trong kì đã trích kì trước tăng trong kì

    – mức KH TSCĐ giảm trong kì

     

    Hiện nay việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của bộ trưởng Bộ tài Chính

    Mức KH TSCĐ phải   Nguyên giá TSCĐ  x tỷ lệ khấu hao trong kì
    Trích hàng tháng =    
    12 tháng

    Phương pháp Kế toán khấu hao TSCĐ

    Để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng và các khoản tăng giảm giá trị hao mòn kế toán sử dụng TK214 “hao mòn TSCĐ”.

    Nguyễn Đức Hạnh – 12 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Trình tự hạch toán khấu hao và hao mòn TSCĐ được phản ánh theo sơ đồ 6 trang phụ lục

    8.Kế toán sửa chữa TSCĐ

    Sửa chữa TSCĐ là việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa những hư hỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục lại năng lực hoạt động bình thường của TSCĐ.

    Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, TSCĐ bị hao mòn dần và hư hỏng từng chi tiết bộ phận.

    Để duy trì và tiếp tục cho TSCĐ hoạt động bình thường, khôi phục duy trì năng lực hoạt động TSCĐ cần tiến hành sửa chữa thay thế những bộ phận chi tiết của TSCĐ bị hư hỏng.

    Căn cứ vào quy mô, tính chất công việc sửa chữa cũng như mức độ chi phí sửa chữa và khả năng thực hiện mà doanh nghiệp có thể tiến hành sửa chữa TSCĐ theo phương thức tự làm hoặc thuê ngoài.

    Kế toán sử dụng TK241 (TK2413-sửa chữa lớn TSCĐ)

    Trình tự hạch toán theo sơ đồ 7 trang phụ lục

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I.Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp tư nhân, được thành lập theo giấy phép số 240/GP_UB ngày 05/03/1997do UBND thành phố Hà Nội cấp. Giấy phép đăng kí kinh doanh 110786035 của UBKH thành phố Hà Nội cấp ngày 10/05/1997

    Tên công ty: Công ty TNHH NhấT Việt

    Tên giao dịch:Nhat Viet Construction Company Limited

    Trụ sở đặt tại: toà nhà A4 .Làng quốc tế Thăng Long.Trần Đăng Ninh.HN

    ĐT: (84-4) 7 567 567

    Fax: (84-4)7 567 777

    Có tài khoản riêng tại Ngân Hàng Công Thương Hai Bà Trưng-Hà Nội

    Nguyễn Đức Hạnh – 13 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Có con dấu riêng, là doanh nghiệp tư nhân

    Ban đầu thành lập công ty chỉ có hơn 20 cán bộ công nhân, hầu như chưa có đội ngũ cán bộ chuyên ngành, vốn liếngcơ sở vật chất kĩ thuật buổi ban đầu rất nhỏ bé hạn hẹp. Là một đơn vị kinh tế độc lập, hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu, có chức năng hành nghề. Nhận thầu thi công xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ chăm sóc nhà cửa.Với đội ngũ cán bộ công nhân viên phát huy năng lực, kế thừa những thành tích và những thuận lợi cùng kinh nghiệm của lớp trước, tìm tòi sáng tạo để tìm ra hướng đi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

    Phát huy nội lực để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời liên kết hợp tác với các doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đảm bảo đời sống cho CBCNV

    Với những thành tích đạt được trong những năm qua, công ty đã tự khẳng định mình, đứng vững và đang trên đà phát triển của nền kinh tế thị trường mở của nước ta hiện nay

    II.Chức năng và nhiệm vụ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là doanh nghiệp thi công công trình xây dựng hạ tầng xây lắp, các công trình mà công ty tự nhận thầu.

    Địa bàn hoạt động của công ty là chuyên xây dựng cơ bản các công trình dân dụng, công nghiệp do đó địa bàn hoạt động của công ty rất phong phú và đa dạng Tổ chức cán bộ công nhân viên chức thi đua, quản lý doanh nghiệp theo

    quy định của pháp luật

    Đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao thu nhập và phúc lợi của công nhân lao động

    Phát hiện đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tiêu cực, vận động cán bộ công nhân viên học tập, nâng cao trình độ chính trị, kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ tổ chức hoạt động xã hội

    Nguyễn Đức Hạnh – 14 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty

    Góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước III.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty (sơ đồ 8 phần phụ lục)

    Trong thời kỳ đổi mới của nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý và định hướng của nhà nước, để nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, đòi hỏi tổ chức bộ máy của công ty phải được củng cố và kiện toàn với cơ cấu đơn giản, hiệu quả cao. Mặt khác để mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty, buộc công ty phải có một bộ máy quản lý hợp lý.

    Từ những yêu cầu và đòi hỏi như vậy, công ty đã cố gắng điều chỉnh và kiện toàn cơ cấu tổ chức, các lực lượng lao động, sắp xếp được hợp lý theo từng công việc phù hợp trình độ của mỗi người.

    Đứng đầu công ty, giám đốc công ty, giám đốc là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể công ty trước pháp luật. Giám đốc chịu trách nhiệm chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp phụ trách khâu tổ chức lao động kế hoạch, tài chính kế toán, giám đốc là người quyết định mọi phương thức kinh doanh hoạt động của công ty.

    Các phòng chức năng thực hiện các chức năng chính của mình đồng thời là bộ phận tham mưu giúp ban giám đốc diều hành quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    • Phòng hành chính: Có trách nhiệm tổ chức và quản lý về vấn đề nhân sự.
    • Phòng kỹ thuật: Có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ kỹ thuật để nghiệm thu công trình, cấp giấy xác nhận đủ diều kiện nghiệm thu chuyển giao cho cho phòng kế hoạch.
    • Phòng kế hoạch: Có nhiệm vụ lên kế hoạch công việc sao cho hợp lý, kịp

    thời.

    • Phòng tài chính, kế toán: Nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, phương hướng, kế hoạch và chuẩn bị kịp thời, chính xác cho các quyết định quản lý thuộc lĩnh vực tài chính kế toán cho giám đốc.
    Nguyễn Đức Hạnh – 15 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Tổ chức kiểm tra, giám sát hạch toán, quyết toán và phân tích kết quả thực hiện các quy định quản lý tài chính ké toán của giám đốc giao.

    Đảm bảo kịp thời các điều kiện về vốn, số liệu tài chính kế toán theo đúng trách nhiệm đã phân công dể đảm bảo phục vụ tốt nhất việc sản xuất kinh doanh.Kịp thời đề xuất các biện pháp quản lý tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.Báo cáo tổng kết rút kinh nghiệm công tác quản lý tài chính, kế toán.

    • Các tổ sản xuất: Tham gia vào hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị

    trường.

    Một số chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

            Đơn vị:nghìn đồng
               
    TT Chỉ tiêu 2004 2005   Chênh lệch
               
    1 Doanh thu thuần 63.226.893 84.779.695   21.552.802
               
    2 Lợi nhuận trước thuế 3.150.217 5.861.367   2.711.150
               
    3 Thuế thu nhập phải nộp 882.061 1.641.183   759.122
               
    4 Lợi nhuận sau thuế 2.268.156 4.220.184   1.952.028
               
    5 Thu  nhập  bình  quân 950 1.150   200
      1CNV/tháng        
               

    Các chỉ tiêu doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu tổng vốn kinh doanh được lấy từ bảng cân đối kế toán trong hai năm 2004, 2005, lưu tại phòng kế toán của công ty

    IV. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán của công ty.

    1- Bộ máy kế toán (Sơ đồ 9 phần phụ lục)

    Công ty Tnhh nhất việt là một doanh nghiệp tư nhân, thực hiện chế độ kinh tế độc lập và áp dụng mô hình bộ máy kế toán tập chung.Trong số các phòng ban chức năng thuộc bộ máy quản lý của công ty, phòng tài chính kế toán có vị trí trung tâm quan trọng, nó đảm bảo tài chính, giám sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán kết quả kinh doanh, tham mưu cho giám đốc về mọi mặt của quá trình kinh

    Nguyễn Đức Hạnh – 16 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    doanh. Tất cả các công tác kế toán như thu nhận chứng từ, hạch toán, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh tế đều do phòng kế toán đảm nhận.

    *Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng: là người phụ trách và quản lý chung về toàn bộ tài chính, phân công công tác cho từng phần hành kế toán của công ty, có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về mọi mặt trong hoạt động quản lý tài chính

    • Kế toán tổng hợp kiêm kế toán thuế là người có trách nhiẹm giúp việc cho kế toán trưởng, có nhiệm vụ kiểm tra, đối chiếu làm báo cáo tổng hợp theo định kỳ theo yêu cầu quản lý mà bộ tài chính qui định, phản ánh giá thành tiêu thụ, lỗ, lãi và tổng kết tài sản, đổng thời theo dõi các khoản thu
    • Kế toán thanh toán kiêm kế toán tập tập hợp chi phí: Là người có nhiệm vụ ttheo dõi thu, chi tiền mặt, tiền gửi, thanh toán công nợ tạm ứng và phản ánh kịp thời chính xác theo từng đối tượng, từng khoản thanh toán.Đồng thời có nhiẹm vụ xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tưọng cụ thể.
    • Kế toán tiền lương kiêm kế toán vật tư, CCDC, TSCĐ:
    • Về tiền lương có nhiệm vụ chấm công, ghi rõ ngày công làm việc, nghỉ việc của từng cán bộ công nhân viên, đảm bảo chấp hành chế độ đối với lao động, cung cấp thông tin về sử dụng lao động, về chi phí tiền lương và các khoản trích nộp bảo hiểm.Cuối kỳ tổng hợp thời gian lao động và tính lương, thực hiện các khoản nộp bảo hiểm cho từng bộ phận tổng công ty.
    • Về vật tư: phản ánh tình hình hiện có, biến đọng từng loại vật liệu và toàn bộ vật liệu. Chấp hành dầy đủ thủ tục về nhập, xuất, bảo quản vật liệu.Nắm vững phương pháp tính giá vật liệu và phân bổ vật liệu cho các đối tượng sử dụng vật liệu.Hàng tháng lập bản kê tổng hợp nhập, xuất tồn vật liệu bảo đảm đúng khớp với chi tiết và tổng hợp với the kho, cuối kỳ lập báo cáo kiểm kê.
    • Về công cụ dụng cụ, TSCĐ: theo dõ vào sổ sách tình hình tải sản phát sinh trong tháng, quý năm.

    * Thủ quỹ kiêm kế toán ngân hàng: Có nhiệm vụ thu chi tiền mặt, vào sổ quỹ hàng tháng, cuối ngày phải báo cáo số tiền tồn két cho giám đốc.Đồng thời có nhiệm

    Nguyễn Đức Hạnh – 17 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    vụ giao dịch với ngân hàng theo dõi tiền mặt và tièn gửi ngân hàng làm thủ tục, lập phiếu chi, ghi séc, uỷ nhiệm chi. Công ty XD TNHH Nhất Việt hiện đang áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ. Trình tự ghi chép và xử lý số liệu được thực hiện như sau.

    2- Đặc điểm tổ chức hệ thống sổ kế toán

    Sổ kế toán là phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm kế toán ghi chép phản ánh một cách có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng như theo đối tượng. Việc lựa chọn hình thức sổ kế toán nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Đối với công ty TNHH Nhất Việt thì hình thức sổ sách được sử dụng là hình thức ” Chứng từ ghi sổ”, công tác kế toán được kết hợp vừa làm thủ công vừa đưọcc thực hiện bằng máy vi tính.1. Định khoản cho chứng từ gốc

    1. Từ chứng từ gốc vào sổ quỹ
    1. Từ chứng từ gốc vaò chứng từ ghi sổ
    1. Từ chứng từ gốc vào sổ chi tiết
    1. Từ chứng từ ghi sổ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Từ chứng từ ghi sổ vào sổ cái
    • Từ sổ chi tiết lập bảng tổng hợp

    8.Đối chiếu giữa sổ cái và bảng tổng hợp

    • Lên báo cáo kế toán

    Trình tự hạch toán:(Sơ đồ 10 phần phụ lục)

    Các loại sổ kế toán sử dụng:

    • Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Sổ cái
    • Các sổ kế toán chi tiết ( Sổ TK 112,111, 131, 133, 144, 156.1, 156.2, 155, 311, 331, 333.1, 333.3, 333.4, 334, 421, 211, 511, 632, 511, 642, 413, 711, 911, 142. )

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 18 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
         
      Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán  

    Tất cả các loại báo cáo tài chính đều được lập theo biểu mẫu và gửi đúng kỳ hạn quy định.

    • Bảng cân đối kế toán
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
    • Thuyết minh báo cáo tài chính
    • Bảng lưu chuyển tài sản
    • Bảng cân đối tài khoản
    • Báo cáo các khoản phải thu, phải trả, tình hình công nợ của công

    ty

    Báo cáo quỹ, thủ quỹ lập hàng ngày và gửi tới giám đốc.

    V.Thực trạng hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt:

    1. Đặc điểm Tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt :

    Qua nhiều năm hoạt động từ công ty nhỏ đến nay công ty đã có cơ ngơi khang trang, máy móc thiết bị tương đối hiện đại, cùng với quá trình hiện đại hóa sản xuất công ty đã sử dụng bộ máy kế toán của mình ngày càng hữu hiệu để quản lý chặt chẽ TSCĐ trên mọi mặt nâng cao hiệu quả sử dụng và cung cấp thông tin, để tiếp tục đổi mới TSCĐ, đưa công nghệ vào sản xuất.

    Mặc dù công ty TNHH Nhất Việt không phải là một công ty lớn, nhưng địa bàn hoạt động của công ty rộng, vì vậy khả năng quản lý tập trung TSCĐ là rất khó khăn. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố quyết định đối với hiệu quả sử dụng TSCĐ mà điều quyết định là công ty có được biện pháp quản lý TSCĐ đúng đắn.

    Trước hết, TSCĐ được xác định đúng nguyên giá khi nhập về hoặc khi xây dựng cơ bản bàn giao. Đây là bước khởi đầu quan trọng để công ty hạch toán chính xác TSCĐ theo đúng giá trị của nó. Sau đó mọi TSCĐ được quản lý theo hồ sơ ghi chép trên sổ sách cả về số lượng và giá trị. TSCĐ không chỉ theo dõi trên tổng số mà còn được theo dõi riêng từng loại, không những thế mà còn được quản lý theo địa điểm sử

    Nguyễn Đức Hạnh – 19 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    dụng, thậm chí giao trực tiếp cho nhóm đội sản xuất. TSCĐ khi có sự điều chuyển trong nội bộ đều có biên bản giao nhận rõ ràng. Để sản xuất tốt hơn công ty luôn kịp thời tu bổ sửa chữa những tài sản đã xuống cấp.

    Trong thời gian sử dụng, một mặt TSCĐ được tính và trích khấu hao đưa vào giá thành theo tỷ lệ quy định của công ty, mặt khác lại được theo dõi xác định mức hao mòn giá trị còn lại thực tế để có kế hoạch đổi mới. Hàng năm công ty đều tổ chức kiểm kê vào cuối năm, vừa để kiểm tra TSCĐ, vừa để xử lý trách nhiệm vật chất với trách nhiệm hư hỏng, mất một cách kịp thời. Định kỳ công ty có tổ chức đánh giá lại TSCĐ.

    Tính đến thời điểm cuối tháng6 năm 2005, tài sản cố định của công ty đạt mức trên 3 tỷ đồng, về nguyên giá gồm nhiều loại do nhiều nước sản xuất như : Anh úc, Pháp. Trong đó thiết bị máy móc chủ yếu là của Việt Nam.

    Công ty có rất nhiều TSCĐ như thông qua bảng sau ta cũng thấy phần nào của công ty.

    Bảng tổng hợp khấu hao TSCĐ

          Đơn vị tính:nghìn đồng
           
      Loại tài sản Nguyên giá KH tb hàng năm
           
    Nhà cửa 621.895 77.737
           
    Vật kiến trúc 189.674 23.709
         
    – Phương tiện vận tải 756.165 94.520
         
    – Máy móc thiết bị 298.478 37.310
         
    – Dụng cụ quản lý 171.214 21.402
         
    – Tài sản chờ thanh lý 121.353 15.169
           
      Cộng 2.158.779 269.847
           

    2.Hạch toán tăng, giảm TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    2.1. Hạch toán tăng TSCĐ (Sơ đồ 1 phần phụ lục)

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 20 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    TSCĐ ở công ty TNHH Nhất việt nói chung có ít biên động các trường hợp tăng TSCĐ chủ yếu là do công ty mua sắm bằng nguồn vốn tự có. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết của các bộ phận, căn cứ vào kế hoạch đầu tư, tình hình TSCĐ hiện có của công ty, công ty đã có kế hoạch mua sắm TSCĐ cho mỗi năm mà công ty có quyết định mua sắm mới TSCĐ. Bộ phận có nhu cầu sử dụng TSCĐ và kế toán trưởng lập tờ trình gửi Giám Đốc xét duyệt và cho lập kế hoạch mua sắm khi tài sản mà bên bán giao cho công ty, căn cứ vào hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT và các chứng từ gốc cần thiết kế toán hạch toán nghiệp vụ mua sắm TSCĐ.

    Hồ sơ TSCĐ bao gồm :

    • Quyết định cấp phát hoặc điều chuyểnTSCĐ giữa các bộ phận trong công ty
    • các tài liệu kỹ thuật kèm theo.
    • Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản này được thành lập 3 bản:
    • 01 bản được lưu ở kế toán công ty để làm hồ sơ gốc để ghi sổ kế toán.
    • 01 bản được giao cho bên giao tài sản .
    • Phiếu thu của bên giao nhận tài sản giữ
    • Phiếu chi của đơn vị.
    • Phiếu bảo hành < nếu có>.
    • Ngày 24 tháng 4 năm 2005 công ty mua thêm 1 máy vi tính và 1 máy in Canon.theo hoá đơn GTGT .Hoá đơn chưa thuế là 16.350.000đ.Thuế GTGT 5%, thanh toán bằng tièn mặt (DN đã nộp thuế theo phương pháp khấu trừ)

    Căn cứ vào chứng từ trên kế toán phản ánh tăng TSCĐ và tiến hành ghi sổ, trước tiên kế toán lập chứng từ ghi sổ,vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và vào sổ cái ghi:

    Nợ TK 211: 16.350.000
    Nợ TK133: 817.500

    Có TK 111 : 17.167.500

    Đồng thời ghi bút toán kết chuyển nguồn vốn và kế toán tiến hành ghi sổ cái 411

    Nợ TK 414: 16.350.000

    Có TK 411: 16.350.000

    Nguyễn Đức Hạnh – 21 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.2. Trường hợp giảm TSCĐ  

    TSCĐ của công ty TNHHNhất Việt giảm có thể do nhượng bán thanh lý, đối với một TSCĐ đã cũ không dùng được không phù hợp với công việc thì bộ phận sử dụng với kế toán trưởng đề nghị với Giám Đốc nhượng bán thanh lýTSCĐ ,Giám Đốc công ty sẽ xét tình hình thực tế hiện trạng TSCĐ tại công ty. Từ đó cho phép nhượng bán thanh lý, thủ tục thanh lý bao gồm: Lập bản thanh lý TSCĐ để xem xét đánh giá hiện trạng của TSCĐ cần thanh lý và giá trị TSCĐ thanh lý cần thu hồi, lập biên bản thanh lý TSCĐ

    Ngày 18 tháng 6 năm 2005 công ty thanh lý xe cẩu KC2 biển số 29E-15-32 Biên bản thanh lýTSCĐ nhằm mục đích xác nhận việc thanh lý TSCĐvà làm

    căn cứ để kế toán ghi giảm TSCĐ trên sổ kế toán

    Biên bản này do ban thanh lý TSCĐ lập và có đầy đủ chữ ký ghi rõ họ tên của trưởng ban, kế toán trưởng, Giám đốc. Cùng với biên bản thanh lý còn có biên bản giao nhậnTSCĐ với bên muaTSCĐ , phiếu thu

    *Viêc xác định kết quả về thanh lýTSCĐ được tính như sau:

    • Sổ TSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 821: 720.000 đ

    Nợ TK 214 :209.730.000 đ

    Có TK 211 : 210 450.000 đ

    • Toàn bộ số thu về thanh lýTSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK111: 65.000.000 đ

    Có TK 721: 65.000.000 đ

    • Xác định kết quả thanh lý, kế toán ghi:

    Nợ TK 911: 64 .280.000 đ

    Có TK421: 64.280.000đ

    Trên cơ sở chứng từ kế toán gốc, kế toán TSCĐ cuối tháng và sổ chi tiếtTSCĐ tại công ty lập theo tháng và theo loại tài sản, đối với việc tăng ,giảmTSCĐ được hạch toán kịp thời chi tiết vào sổTSCĐ của đơn vị và được lập theo mẫu sổ

    Nguyễn Đức Hạnh – 22 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Báo cáo tăng ,giảmTSCĐở công ty được theo dõi cho tình hình biến động của TSCĐ trong tháng theo ngùôn hình thànhTSCĐ đó.

    Trong gần 160 đơn vị TSCĐ của công ty 35 máy móc đã cũ để thanh lý và có kế hoạch xử lý số máy móc này kế toán TSCĐ lập ( bảng kê thiết bị chờ xử lý ) số hiệu của bảng này được bổ xung thường xuyên năm.

    3.Hạch toán khấu hao TSCĐ (Sơ đồ 6 phần phụ lục)

    Trong quá trình sử dụngTSCĐ cùng với sự tác động của thiên nhiên và sự tiế bộ của khoa học kỹ thuật thì TSCĐ bị hao mòn dần về giá trị theo thời gian. Do vậy kế toán phải làm công tác khấu hao TSCĐ theo định kỳ, hàng tháng kế toánTSCĐ tại công ty phải tiến hành tính và khấu haoTSCĐ theo từng đói tượng sử dụng. Việc khấu hao TSCĐ là quá trình chuyển dần giá trịTSCĐ đang sử dụng vào chi phí kinh doanh , cụ thể là chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Việc xác định thời gian khấu haoTSCĐ dựa vào tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế đặc tính hao mòn của TSCĐ, đặc điểm nguồn vốn hình thànhTSCĐ và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

    Phương pháp tính khấu hao: TSCĐ trong công ty được tinh khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng, việc tính khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng, đối với TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng thì giá trị còn lại phải thu hồi một lần, đói với những TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn sử dụng được thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyên giá TSCĐ

    Mức KH TB năm          =

    Thời gian sử dụng

    Mức KH TB năm

    Mức KH Tháng            =

    12

    Từ đây xác định được mức KH của mỗi tháng là :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 23 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Mức KH tháng này = mức KH tháng trước + mức KH tăng trong tháng từ mức KH giảm trong tháng. Việc tính và phân bổKH được xác định theo từng tháng, nó được thể hiện trên bảng tính và phân bổ KH.

    * VD trong tháng 3 năm 2005 thì việc thanh toán khấu hao như sau :

    Trong tháng 02: số TSCĐ tăng lên 31.932.248 đ làm cho số KH trong tháng 03 tăng là 530. 537đ. Số TSCĐ giảm 36.560.000đ làm số KH trong tháng 03 giảm 253.889đ. Từ bảng tính và phân bổ KH kế toán tiến hành ghi sổ và ghi nợ TK 009-nguòn vốn KH.

    Và ghi nợ TK 009 : 222.755.958đ

    Để cung cấp thông tin chi tiết cho nhà quản lý tại phòng kế toán của công ty mở sổ chi tiết TK 214, sổ chi tiết này mở chi tiết theo từng loại TSCĐ.

    Căn cứ vào số liệu trên sổ tổng hợp và sổ chi tiết TK 214 của từng tháng, kế toán tập hợp KH trích theo quý và lập ra bảng KH của mỗi quý để cung cấp cho nhà quản lý.

    4.Hạch toán sửa chữa TSCĐ.

    TSCĐ là tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài , vì vậy để TSCĐ của công ty hoạt động tốt, hoạt động kinh doanh diễn ra đều đặn thì phải luôn quan tâm đến sửa chữaTSCĐ. Việc sửa chữa TSCĐ tại công ty có thể sửa chữa lớn thường xuyên huặc sửa chữa lớn TSCĐ.

    4.1. Sửa chữa thường xuyên.

    Loại hình sửa chữa này có tính chất bảo quản, bảo dưởng thường xuyênTSCĐ, kỹ thuật sửa chữa đơn giản thường do công nhân của công ty làm, thời gian sửa chữa diễn ra ngắn,chi phí phát sinh chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp, chi phí này được đưa vào chiphí kinh doanh trong kỳ.

    *VD: tháng 3 quý I năm 2005 trong công ty có sửa chữa nhỏ như sau: tại công ty có sửa chữa nền nhà của một số phòng với tổng chi phí là: 4.342.000đ. nghiệp vụ này được hạch toán như sau :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 24 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Căn cứ vào chứng từ có liên quan: hoá đơn xuất vật liệu, phiếu chi tiền mặt cho sửa chữa ,kế toán ghi

    NợTK 642: 4.341.500

    Có TK 152: 1.085 500

    Có TK 111: 3.256 .000

    Sau đó kế toán tiến hành ghi sổ

    4.2. Sửa chữa lớn TSCĐ:

    Tại công ty thì loại hình sửa chữa này có tính chất khôi phục năng lực hoạt dộng của TSCĐ, kỹ thuật sửa chữa phức tạp có thể do công nhân của công ty đảm nhận huặc thuê ngoài. thời gian sửa chữa thường kéo dài và phải ngừng hoạt động đối với TSCĐ. chi phí sửa chữa phát sinh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của công ty

    Sửa chữa lớn TSCĐ tại công ty có thể ngoài kế hoạch hoặc theo kế hoạch.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.

    Khi TSCĐ không thể hoạt động, hoặc hoạt động không hiệu quả mà cần sửa chữa thì bộ phận sử dụng đề nghị cần sửa chữaTSCĐ. Giám đốc công ty duyệt và cho tiến hành sửa chữa.

    Khi sửa chữa xong công ty tiến hành quyết toán công trình bộ phận sửa chữa xây dựng kế hoạch giải trình. Căn cứ vào bảng quyết toán công trình và các chứng từ liên quan kế toán tiến hành hạch toán, chi phí cuả nghiệp vụ này được tập hợp vào TK 142 và tiến hành phân bổ vào chi phí kinh doanh của các kỳ sau khi sửa chữa hoàn thành.

    • VD: trong tháng 2 năm 2005 công ty tiến hành SCL một số phương tiện vận tải theo phương thức tự làm với tổng chi phí : 17.794.872đ

    trong đó CP về vật tư là : 11.235.271đ , số công là : 1.534 ; tiền lương là : 5.594.200đ khi tiến hành sửa chữa các CP được tập hợp theo các chứng từ gốc ( chi phí khác : 965.401đ ).

    Kế toán tiến hành vào sổ cái TK241 , TK 142

    Nguyễn Đức Hạnh – 25 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Khi công trình được quyết toán, kế toán còn ghi sổ cái TK142

    Loại hình sửa chữa này ít xảy ra, phần lớn các nghiệp vụSCL xảy ra đã có kế hoạch định trước.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch

    Tại công ty TNHH Nhất việt cùng với định kỳ kiểm kêTSCĐ là 6 tháng hoặc 1 năm thì bộ phận bảo dưỡngTSCĐ của công xem xét tình hình thực tế TSCĐ tại từng bộ phận sử dụng quản lý TSCĐ. Đến cuối mỗi năm, căn cứ rà soát những tài sản trang thiết bị cần sửa chữa, bảo dưỡng thay thế. Từ đây cùng với phòng kế toán lập văn bản và lập kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ trình lên Giám đốc

    VD: công ty có dự định sửa 1 chiếc ô tô biển số 29H 97.38 và xe cẩu biển số

    29H 61.38 kế toán có kế hoạch trích trong 3 tháng ( 1,2,3 ), khi trích trước kế toán hạch toán tại thời điểm tháng 01 năm 2005 và tháng 02.03 năm 2005 và tiến hành ghi sổ như sau:

    Nợ TK 642: 6.987.000đ

    Có TK 335: 6.987.000đ

    Đồng thời kế toán vào sổ cái TK355

    Nhưng thực tế nghiệp vụ này xảy ra đầu tháng 4 năm 2005,căn cứ vào các chứng tù như phiếu xuất kho vật tư, hoá đơn GTGT kế toán hạch toán bằng chứng từ ghi sổ số 86

    Khi cuối tháng 04 năm 2005 việc sửa chữa tài sản này kết thúc và giá trị sửa chữa được quyết toán là 20.960.000đ . Kế toán so sánh số liệu này với số liệu đã trích theo kế hoạch xác định, chênh lệch giữa số đã trích và thực tế phát sinh là: 3.880.348đ.Kế toán căn cứ vào bảng quyết toánSCL và các chứng từ liên quan hạch toán như sau :

    Nợ TK 335: 20.960.000

    Có TK 2413 : 20.960.000

    Số chênh lệch được hạch toán vào chi phí trả trước Nợ TK 142: 3.880.348

    Nguyễn Đức Hạnh – 26 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
      Có TK 2413 : 3.880.348

    5. Hạch toán kiểm kê TSCĐ:

    Tại công ty TNHH Nhất việt, công tác kiểm kê được tiến hành đều đặn mỗi năm hai lần vào cuối năm. Trước mỗi đợt kiểm kê, công ty lập ban chỉ đạo kiểm kê, ban này sẽ lập phương án kiểm kê, đánh giá TSCĐ, xác định phạm vi kiểm kê, xác định đói tượng chính xác , chẩn bị kiểu mẫu báo cáo, dự chù kinh phí. Phòng kế toán có nhiệm vụ cung cấp chứng từ , sổ sách và các tài liệu có liên quan để tổng hợp sau khi đã tiến hành kiểm kê đánh giá TSCĐ cùng hệ thống chỉ tiêu kiểu mẫu báo cáo. quá trình kiểm kê sử dụng phiếu kiểm kê hiện vật

    Sau khi kiểm kê kết thúc ngoài biên bản kiểm kê ban kiểm kê đánh giáTSCĐ còn lập bảng tổng hợp.

    Thực tế kết quả kiểm kê năm 2005 của công ty TNHH Nhất việt không thừa thiếu so với sổ sách. Nếu thấy thừa , thiếu so với chế độ sau :

    Nếuphát hiện thiếu : căn cứ vào biên bản kiểm kê và quyết định sử lý của Giám đốc, kế toán ghi:

    Nợ TK214 : Giá trị hao mòn

    Nợ TK 138 : giá trị cá nhân phải bồi thường

    Nợ TK 411: ghi giảm vốn

    Nợ TK 821 : tính vào chi phí bất thường

    Có TK 211: nguyên giá

    • Mặt khác phân tích đẻ phục vụ cho công tác quản lý
    • Phân tích TSCĐ đã kiểm kê theo các loại giá
    • Phân tích khấu hao và quỹ khấu hao, mức hao mòn
    • Phân tích hiệu quả kinh tế sử dụng TSCĐ qua các chỉ tiêu cơ bản

    Trên đây là công tác hạch toán các nghiệp vụ cơ bản về TSCĐ của công ty TNHH Nhất việt. Tuy nhiên công việc không chỉ dừng lại ở các bút toán định khoản mà kế toán TSCĐ còn có nhiệm vụ phản ánh các nghiệp vụ này và hệ thóng sổ kế toán thống nhất của công ty.

    Nguyễn Đức Hạnh – 27 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG III

    NHỮNG TỒN TẠI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I. Đánh giá chung về công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

    Đến nay công ty TNHH Nhất việt đã có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vật tư, các thiết bị cho ngành xây dựng lớn trên khắp các tỉnh miền Bắc. Công ty không ngừng lớn mạnh, sự lớn mạnh này thể hiện ở đội ngũ công nhân viên trình độ cao, cơ sở vật chất không ngừng được nâng cấp, cũng như trình độ quản lý đang từng bước được hoàn thiện.

    Hiện nay công ty không ngừng khẳng định tính độc lập , tự chủ trong kinh doanh khai thác nguồn hàng mới và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nứơc. Công ty đã biết khai thác, phát huy và sử dụng có hiệu quả nội lực, tiềm năng sẵn có của mình, mà trong đó TSCĐ là yếu tố quan trọng. Nhận thức được điều này ban lãnh đạo Công ty đã có những biện pháp quan trọng, tích cực tới quản lý và sử dụng TSCĐ

    Công ty không ngừng tăng cường công tác quản lý , sử dụng TSCĐ như phân công, phân cấp quản lý, sửa chữa bảo dưỡng thường xuyên, sử dụng TSCĐ đúng công suất cố gắng đảm bảo hiệu quả sử dụng TSCĐ đạt mức cao nhất.

    Công ty đẫ đưa máy vi tính vào sử dụng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt, giảm bớt nhân lực.

    Công ty đã làm tốt công tác phân công, bố trí nhân lực ở các phân xưởng và phòng ban song song với việc tổ chức gọn nhẹ ở các bộ phận. ở phòng kế toán chỉ với

    • nhân viên nhưng đã tỏ ra làm việc rất hiệu quả. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình biến động tài sản, tính toán tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh và kết quả kinh doanh cũng như quản lý các nguồn vốn của công ty Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của kê toán TSCĐ, kế toán TSCĐ đã phản ánh tương đói đầy đủ, chính xác kịp thời tình hình biến động tăng , giảmTSCĐ, quá trình sử dụng quỹ khấu haoTSCĐ.

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 28 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nhất việt, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn công tác hạch toán TSCĐ, tôi rút ra một số nhận xét cụ thể về công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt như sau :

    1.                 Ưu điểm

     

    • 1- Sổ sách:

     

    Với đặc điểm kinh doanh và sản xuất của công ty TNHH Nhất việt, với khối lượng TSCĐ tương đối lớn. Do đó lượng thông tin cho người quản lý là rất nhiều và cần thiết. Vì vậy kế toán tổng hợp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ là phù hợp, sổ sách kế toán tổng hợp được thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính và kế toán viên ghi đúng theo quy định.

     

    • 2-Về hệ thống quản lý của công ty và các yếu tố có ảnh hưởng tới công tác hạch toán TSCĐ: Hệ thống quản lý TSCĐ tập chung đã giúp công ty quản lý tương đối tốt TSCĐ. Từ công nhân, trưởng phòng kế toán, kế toán chi tiết TSCĐ, kế toán tổng hợp , Giám đốc đều có mối quan hệ chặt chẽ trong vấn đề quản lý sử dụng.

     

    • 3-Về hạch toán TSCĐ

     

    Về cơ bản kế toán TSCĐ đã theo dõi tình hinh tăng, giảm, khấu hao và sửa chữaTSCĐ theo đúng quy định, đảm bảo việc phản ánh đúng nguyên giá TSCĐ hiện có cũng như mức tính khấu hao.

    Các bước trong quá trình hạch toán đã tuân theo đúng quy định của Bộ tài chính. Hiện nay công ty tiến hành trích khấu haoTSCĐ theo đúng quyết định 166 / 1999/ QĐ- BTC ngày 30/ 12 /1999. Hàng tháng công ty lập tính và phân bổ khấu hao

     

    theo quy định.

     

    Qua việc phân tích những ưu điểm trên cho phép rút ra kết luận : nhìn chung công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt được thực hiện khá tốt đảm bảo việc tuân thủ các quy định hiện hành của BTC về các nghiệp vụ hạch toán TSCĐ và việc ghi sổ sách kế toán. Tuy nhiên bên cạnh đó công ty vẫn còn một số tồn tại và thiếu sót

     

    2.                 Một số tồn tại

    Nguyễn Đức Hạnh – 29 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.1- Về kiểm kê đánh giá TSCĐ  

    Theo quy định 6 tháng hoặc 1 năm công ty tiến hành kiểm kê đánh giá lại TSCĐ xem xét hiện trạngTSCĐ. Nhưng tại công ty TNHH Nhất Việt chỉ diễn ra kiểm kê hoặc xem xét hiện trạng tình hình TSCĐ cần bảo dưỡng mà không đánh giá lại giá trị hiện thời của TSCĐ. Điều này dẫn tới việc xem xét giá trị của TSCĐ hiện có không đúng với thực tế mà chỉ theo sổ sách . Từ đây làm cho nhà quản lý đưa ra các quyết định không sát với thực tế, đầu tư và sử dụng TSCĐ kém hiệu quả hơn.

    2.2- Về việc áp dụng máy tính trong công tác kế toán

    Phòng kế toán đã áp dụng máy vi tính nhưng một số kế toán viên chưa có khả năng áp dụng, khai thác phần mềm hiện có, mặt khác số lượng người biết sử dụng máy vi tính vẫn ít ( 4/8 ). Do đó khối lượng công việc làm thủ công vẫn còn nhiều.

    2.3- Về việc sửa chữa TSCĐ

    Việc sủa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch khá chặt chẽ và chủ động còn việc sửa chữa lớn ngoài kế hoạch diễn ra chậm, điều này dẫn đến tình trạng bị động trong quá trình kinh doanh tại công ty

    2.4- Về việc khấu hao TSCĐ

    Hiện nay công ty thực hiện tính khấu hao nhanh nhằm đổi mới công nghệ mức khấu hao này đối với công ty còn quá cao làm tăng giá thành một cách giả tạo gây khó khăn cho công ty khi quyết toán nên công ty cũng phải bỏ ra 1 khoản chi phí để bù đắp thiếu sót. Như vậy việc tính khấu hao của công ty không những không chính xác mà còn không có cơ sở khoa học cho phương pháp tính.

    2.5 – Phương pháp đánh giá lại TSCĐ

    Chưa phù hợp với thực tế nên việc xác định giá trị còn lại của máy móc thiết bị cao hơn nhiều so với giá cả thực mà nó có thể làm được. Vì vậy công ty có nhiều máy móc thiết bị hư hỏng cần thanh lý nhưng không bán được vì bán không thu được vốn, vậy là cứ để đó, tiếp tục khấu hao mặc cho vốn không phát huy được hiệu quả.

    II. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    Nguyễn Đức Hạnh – 30 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    Căn cứ vào những tồn tại và khó khăn hiện nay của công ty, căn cứ vào chế độ

    quy định của nhà nước và BTC em xin có 1 số ý kiến sau đây hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    1.Về việc kiểm kê đánh giá lại TSCĐ

    Công việc kiểm kê đánh giálại TSCĐ của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào cũng là việc làm cần thiết, qua đó xác định số lượng thừa thiếu TSCĐ, thực trạng TSCĐ cần sửa chữa bảo dưỡng cũng như đánh giá được giá trị hiện tại của TSCĐ thực tế của doanh nghiệp trên thị trường từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp cho quá trình sử dụng và quản lý nên khi doanh nghiệp tiến hành kiểm kê thì cần đi đôi với đánh giá lại TSCĐ sẽ được thể hiện trên biên bản đánh giá lại TSCĐ *Biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Mục đích của biên bản này nhằm xác nhận việc đánh giá lại TSCĐ và làm căn cứ để ghi sổ kế toán và các tài liệu liên quan số chênh lệch ( tăng, giảm ) do đánh giá lại TSCĐ

    Sau đây là mẫu biên bản đánh giá lại (trang phụ lục 19)

    Sau khi đánh giá xong,Hội đồng có trách nhiệm lập biên bản ghi đầy đủ các nội dung và các thành viên trong hội đồng ký, ghi rõ họ tên và biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Biên bản đánh giá lại TSCĐ được lập thành 2 bản, 1lưu lại phòng kế toán để ghi sổ kế toán, 1 bản lưu cùng với hồ sơ kỹ thuật của TSCĐ

    2.Về việc trang bị hiện đại cho phòng kế toán góp phần nâng cao năng lực TSCĐ

    Trong hạch toán kế toán cần áp dụng tin học hoá nhằm hoà nhập với sự phát triển KHCN kỹ thuật , hoà nhập với su hướng tiến bộ trên toàn thế giới. côg ty nên trang bị máy vi tính cho phòng kế toán đầy đủ hơn, đồng thời cần có chính sách thích hợp dể các kế toán viên đều có khả năng sử dụng máy vi tính thành thạo .Việc này ban đầu sẽ gặp khó khăn nhưng đảm bảo được tính nhất quán và chính xác trong công tác kế toán. Hơn nữa việc cập nhập thông tin diễn ra thường xuyên nhanh chóng đáp

    Nguyễn Đức Hạnh – 31 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    ứng kịp thời thông tin, phục vụ đắc lực trong công tác quản lý mọi mặt hoạt động của công ty cũng như góp phần giảm nhẹ khối lượng công tác kế toán trong đó có việc quản lý và hạch toán TSCĐ.

    3. Về việc hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ

    *Công việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch: Việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch trong công ty còn diễn ra chậm, mất nhiều thời gian

    • Biên bản giao nhận SCL hoàn thành: như đã trình bày phần hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ, công ty không sử dụng biên bản này trong hạch toán , mà bộ phận SCL của côngty chỉ lập biên bản giao khối lượng công việc hoàn thành. Việc sử dụng chứng từ này sẽ không khoa học và không đúng quy định của BTC. Vì vậy đối với việc sửa chữa lớn TSCĐ hoàn thành thì cần lập biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lơns hoàn thành việc SCL giữa bên có TSCĐ sửa chữa và bên thực hiện sửa chữa. Đây là căn cứ ghi sổ kế toán và thanh toán chi phí sửa chữa TSCĐ

    Giả sử với ví dụ trong phần hạch toán SCL ngoài kế hoạch thì khi hoàn thành công việc quyết toán công trình và giao cho đơn vị sử dụng thì hội đồng giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành sẽ được lập (trang phụ lục20)

    * Phương pháp ghi chép:

    • Khi có TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành phải tiến hành lập ban giao nhận gồm đại diện bên thực hiện việc sửa chữa

    Nơi quản lý sử dụg TSCĐ và ghi rõ thời gian bắt đầu sửa chữa và hoàn thành việc sửa chữa TSCĐ

    Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, lập thành 2 bản, 2 bên giao nhận cùng ký và mỗi bên giữ 1bản, sau dó chuyển cho kế toán trưởng của đơn vị mình duyệt và lưu tại phòng kế toán.

    4.Công tác thanh lý TSCĐ

    Tại thời điểm này công ty có sự lãng phí lớn về vốn gây ra bởi TSCĐ chờ thanh lý. Số tài sản này cần phải được giải quyết nhanh hơn, tốt hơn trên nguyên tắc cơ bản

    Nguyễn Đức Hạnh – 32 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    bảo tồn vốn, sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn không nhằm mục đích mua đi bán lại tạo chênh lệch để ăn chia vào vốn, thời gian thanh lý công ty nên rút ngắn và hạn chế tối đa các chi phí trong quá trình này.

    KẾT LUẬN

    Tài sản cố định có vị trí quan trọng và cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó phản ánh năng lực trình độ tiến bộ KHKT và trang bị cơ sở vật chất của doanh nghiệp .Với vị trí như vậy mà nó được quản lý 1cách chặt chẽ và các doanh nghiệp luôn tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ .Việc tổ chức tố các công tác hạch toán TSCĐ có ý nghĩa quan trọng dối với việc hoạt động kinh doanh.

    Chương trình thực tập tại công ty TNHH Nhất việt đã giúp em vận dụng những kiến thức đã ddược trang bị ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời giúp em củng cố những kiến thức đã học. Thông quaviệc thực tập đã giúp cho sinh viên kế toán vững vàng, tự tin bước vào nghề, bởi vì thực tế và lý luận luôn có 1 khoảng cách nhất định.

    Báo cáo tốt nghiệp này được hoàn thành trên cơ sở những kiến thức được tiếp thu tại nhà trường và các hoạt động thực tiễn tại công ty TNHH Nhất việt. Do hạn chế về thời gian thục tập cũng như kiến thức, báo cáo của em không tránh khỏi những sai

    Nguyễn Đức Hạnh – 33 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    sót. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo , cô giáo để báo áo của em được hoàn thiện hơn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa kế toán trường ĐHQLKD.

    • Cảm ơn thầy giáo Hà Đức Trụ và các anh, chị phòng kế toán và các cán bộ nhân viên của công ty TNHH Nhất việt đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.

    Sinh viên thực hiện

    Nguyễn Đức Hạnh

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 34 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 35 –                                                                         Lớp 604


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng dẫn  Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-D%E1%BB%B1-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn này nằm trong số các hướng dẫn được soạn thảo theo quan điểm của nhà tài trợ

    dành cho các tổ chức xã hội dân sự.

    Tài liệu này mang tính chất tham khảo và không phải là những hướng dẫn cứng nhắc.

    Tăng cường Năng lực tổ chức

    Xây dựng Dự án: Hướng dẫn xây dựng và thực hiện dự án và các câu hỏi chính cần đưa ra trong quá trình xây dựng và thực hiện.

    Hướng dẫn này bao

    gồm các phần về: mục đích của kế hoạch dự án, các mục đích và mục tiêu; và thiết lập một kế hoạch hành động.

    Lập ngân sách

    Hướng dẫn lập ngân

    sách, chú trọng vào

    mục đích, các bước

    tiến hành và các hợp

    phần.

    Hệ thống Tài chính Hướng dẫn thiết lập một hệ thống tài chính minh bạch và rõ ràng để xây dựng tính bền vững tài chính.

    Giám sát & Đánh giá Hướng dẫn rà soát và đánh giá tiến độ trong việc đạt được các mục tiêu, xác định các vấn đề và chiến lược và điều chỉnh kế hoạch.

    Huy động Nguồn lực

    Hướng dẫn huy động

    các nguồn lực, chủ

    yếu là nội lực, để tăng

    cường năng lực tổ

    chức và mang lại lợi

    ích cho cộng đồng.

    Viết Đề xuất xin tài trợ

    Hướng dẫn xây dựng và viết một đề xuất, bao gồm các yếu tố chính để giúp dự án thành công.

    Báo cáo lên các Nhà tài trợ

    Hướng dẫn duy trì và tăng cường quan hệ với các nhà tài trợ sau khi đã được tài trợ.

    MỤC ĐÍCH CỦA MỘT KẾ HOẠCH DỰ ÁN

    Với các nhà tài trợ, trọng tâm của một đề xuất xin tài trợ là một dự án cụ thể hoặc một loạt các hoạt động mà bạn đang tìm kiếm sự tài trợ và các yêu cầu về ngân sách cần có để hoàn thành tốt công việc. Ở đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn các yếu tố chính để xây dựng và thực hiện một dự án, và làm thế nào để liên kết các khái niệm này trong đề xuất của bạn. Trong hướng dẫn này, từ “dự án” được sử dụng để nói về một sự can thiệp hoặc một hành động cụ thể.

    Khi lập kế hoạch cho một dự án, bước đầu tiên là phải đảm bảo rằng có mối liên hệ mạnh mẽ giữa sứ mệnh của tổ chức bạn và sáng kiến mà bạn đang xem xét. Dự án mà bạn đang lập kế hoạch và tìm kiếm tài trợ phải là một phần trong chiến lược tổng thể của bạn để giải quyết các vấn đề. Khi xây dựng kế hoạch, bạn cần xem xét những điểm sau đây:

    • Dự án có liên quan như thế nào đến sứ mệnh của tổ chức bạn?
    • Bạn đang làm việc trong bối cảnh nào và bối cảnh này có tính đặc trưng như thế nào?
    • Dự án sẽ giúp thay đổi hoặc cải thiện điều kiện sống và phát triển của các thành viên cộng đồng hoặc những người hưởng lợi như thế nào?

    MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

    Các nhà tài trợ thường đặc biệt quan tâm đến kết quả và lợi ích mà dự án sẽ mang lại cho

    cộng đồng hoặc nhóm người dân các bên có liên quan. Các nhà tài trợ cũng hiểu rằng trong một số trường hợp kết quả sẽ không thấy được rõ ràng trong khoảng thời gian ngắn và có những kết quả mang tính phi vật thể như xây dựng vốn xã hội kết quả hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường đánh giá cao quá trình tham vấn với các bên có liên quan trong quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án. Mỗi tổ chức xã hội dân sự sẽ tự quyết định chiến lược nào là phù hợp trong bối cảnh của mình. Khi kết hợp hiểu biết về bối cảnh và đánh giá các kỹ năng có sẵn của mình, mỗi tổ chức có thể đóng góp vào quá trình cải thiện hoặc mang lại các thay đổi cho cộng đồng.

    NHỮNG THUẬT NGỮ THÔNG THƯỜNG

    Dưới đây là một số thuật ngữ thông thường, định nghĩa và các câu hỏi chính để giúp xây dựng dự án. Các nhà tài trợ cũng thường đưa ra những câu hỏi tương tự khi quyết định liệu dự án có phù hợp với các ưu tiên của chương trình tài trợ không, liệu dự án có tính thực tế không hoặc liệu dự án có thể mang lại những thay đổi tích cực cho cộng đồng không.

    Mục đích:

    là các kết quả lâu dài và theo bề rộng mà dự án sẽ mang lại. Khi đưa ra mục đích, hãy tự hỏi: Bạn muốn đạt được kết quả gì với dự án này? Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?

    Mục tiêu:

    là các tác động (hoặc là đầu ra trong một số trường hợp) dự kiến sẽ mang lại lợi ích vật chất, tài chính, thể chế, xã hội, môi trường hoặc các lợi ích khác cho xã hội, cộng đồng hoặc một nhóm người thông qua một hoặc nhiều hoạt động phát triển. Khi xác định các mục tiêu, hãy tự hỏi: Các kết quả dự kiến cụ thể và có thể đo lường được của dự án là gì? Các mục đích phải :

    • (specific): cụ thể – dự án phải có các kết quả dự kiến cụ thể
    • (measurable): tính đo lường được – kết quả dự kiến phải đo lường được A (answer): trả lời được các câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở đâu và như thế nào

     

    R (realistic): tính thực tế khi đưa ra những kết quả dự kiến dự án có thể thực sự đạt

     

    được

     

    T (thời gian): có khung thời gian cụ thể cho quá trình thực hiện dự án

    Các hoạt động.

    Các hoạt động hoặc công việc đã được thực hiện. Các hoạt động này có thể được đưa vào một kế hoạch làm việc với khung thời gian cụ thể. Hãy tự đưa ra các câu hỏi như: Hành động hoặc nhiệm vụ nào là cần thiết để thực hiện các mục tiêu này?

    Ví dụ về Mục đích, Mục tiêu và các Hoạt động

    Mục đích của dự án là cải thiện sự tiếp cận của nông dân với các dịch vụ nông nghiệp công trong địa bản của tỉnh/thành phố/huyện

    Mục tiêu của dự án là: tăng 50% số người tiếp cận được với các dịch vụ có sẵn và triển khai hệ thống thẻ đánh giá của cộng đồng tại 5 làng để giúp đánh giá chất lượng các dịch vụ do cơ quan khuyến nông cung cấp.

    Các hoạt động trong hơn 1 năm bao gồm hoạt động quảng bá thông tin về tiếp cận dịch vụ thông qua đài phát thanh và 10 cuộc hội thảo về giám sát và trách nhiệm giải trình sử dụng phương pháp thẻ đánh giá của cộng đồng.

    Điều quan trọng là phải xem xét các quan điểm và nhu cầu của người hưởng lợi của dự án khi xây dựng các mục đích và mục tiêu cũng như khi thực hiện các hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường quan tâm đến sự tham gia của người hưởng lợi vào quá trình đưa ra các quyết định chính của dự án. Trong những trường hợp khó khăn khi tổ chức của bạn đang làm việc với những đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương, hãy mô tả tình hình của những nhóm người này, những người có thể không phải là một phần của bất cứ cộng đồng nào.

    Khi xây dựng các mục đích và mục tiêu, bạn cũng cần luôn nghĩ đến phương thức giám sát và đánh giá dự án. Ví dụ như các nhà tài trợ có thể hỏi làm thế nào mà bạn biết là dự án đã mang lại các kết quả đã đề ra. Khi trình bày dự án với các nhà tài trợ, bạn có thể mô tả tình hình trước khi thực hiện dự án để có thể đánh giá được tiến độ của dự án hoặc so sánh tình hình trước và sau khi thực hiện dự án.

    Bạn cũng có thể cần phải xem xét về tính bền vững của dự án và các lợi ích của dự án sau khi được tài trợ hoặc khi dự án kết thúc. Hãy xem thêm hướng dẫn về “Huy động Nguồn lực” để suy nghĩ về tính bền vững.

    CÁC BƯỚC: Thiết lập một Kế hoạch Hành động

    Kế hoạch hành động là các bước của một quá trình mà tổ chức bạn sẽ tiến hành để đạt được các mục đích và mục tiêu của dự án. Quá trình này không nhất thiết phải bao gồm phần huy động nguồn tài trợ. Khi lập kế hoạch hoạt động cần có sự tham gia của các bên có liên quan để đảm bảo sự tham gia và tính sở hữu của họ trong dự án. Một kế hoạch hành động phải trả lời được các câu hỏi sau:

    1. Mục đích và mục tiêu của bạn là gì?
    1. Bạn sẽ tiến hành các bước hành động nào để đạt được các mục tiêu đó?
    1. Ai chịu trách nhiệm cho mỗi bước hoạt động?
    1. Có ai khác tham gia không? Họ tham gia như thế nào vào việc lập kế hoạch? Vai trò và trách nhiệm của họ là gì?
    2. Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ đã được tham vấn như thế nào? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?
    3. Các kết quả dự kiến của bạn là gì? Các kết quả dự án sẽ dẫn đến những thay đổi

    nào?

    1. Có những chỉ số nào để theo dõi tiến độ dự án?
    2. Khung thời gian cho các bước hành động của bạn là gì? Khi nào thì các hoạt động đó sẽ diễn ra? Trong khoảng thời gian nào?
    3. Bạn sẽ cần các nguồn lực tài chính nào để hoàn thành kế hoạch hành động và bạn sẽ gây quỹ như thế nào?
    4. Bạn sẽ cần nguồn nhân lực nào? Nhóm của bạn có những điểm mạnh và điểm yếu gì để hoàn thành các hoạt động?
    5. Bạn có thể xây dựng quan hệ đối tác nào với các tổ chức tương tự hoặc với các cơ quan địa phương để tối đa hóa tác động, bổ sung cho các nỗ lực của bạn và học hỏi từ họ?
    1. Bạn có thể sẽ gặp phải những trở ngại hoặc khó khăn tiềm ẩn nào (ví dụ như điều kiện thời tiết hoặc điều kiện xã hội) và bạn đã có kế hoạch dự phòng nào chưa?

    Các bước trên đây về xây dựng một dự án đã giúp giải quyết một số câu hỏi mà các nhà tài trợ thường nêu ra khi xem xét một đề xuất. Một dự án được xây dựng thông qua quá trình tham vấn với các cơ sở, mục tiêu và kế hoạch hành động rõ ràng cũng sẽ giúp tổ chức của bạn có được nền tảng vững chắc để thành công.

    ThS. Hoàng Trọng Nghĩa

    (theo Yumi Sera và Susan Beaudry, 2007)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi và bài tập marketing căn bản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Từ nhiều thập kỷ qua, các tổ chức kinh tế đã nhận thức được rằng : trong các yếu tố để phát triển nhanh và bền vững của doanh nghiệp, của nền kinh tế thì nguồn lực con người là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất. Bởi lẽ con người vừa là người sáng tạo ra, vừa là người sử dụng phương tiện, phương pháp công nghệ để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất cho xã hội, cho doanh nghiệp và cho bản thân họ. Tuy nhiên, nguồn nhân lực phát huy được vai trò của nó không phải do ưu thế về số lượng mà là ở chất lượng. Vì vậy, vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Một chiến lược đào tạo, phát triển hợp lý sẽ phát huy được nội lực cao nhất, phát huy được khả năng làm việc, khả năng sáng tạo của người lao động, nâng cao trách nhiệm, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.

    Hiện nay đất nước ta đang bước vào một thời kỳ phát triển mới sau khi đã hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu hóa, với những cơ hội và thách thức chưa từng có, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng. Mặt khác chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay được đánh giá là còn thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển của xã hội. Chính vì vậy nhu cầu đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động càng trở nên quan trọng và cần thiết. Thực tế đã chứng minh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Đó cũng chính là lý do vì sao mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm của Mỹ và Nhật đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh chung của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 – ICON4, thuộc Tổng Công ty xây dựng Hà nội. Qua tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực của Công ty trong những năm gần đây, em nhận thấy công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn luôn giữ một vai trò quan trọng và trở thành công tác thường xuyên được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, môi trường kinh doanh thay đổi…thì công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Do vậy làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty nhằm nâng cao trình độ cho người lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đáp ứng kịp thời với sự thay đổi? Đây chính là lý do em đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 ”.

    • Mục đích nghiên cứu đề tài:

    Về mặt lý luận: Đề tài góp phần đưa ra những ý kiến, quan điểm chung nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần tổng hợp và tạo ra một hệ thống các biện pháp có tính khả thi, có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung tìm hiểu công tác đào tạo và phát triển tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, hiệu quả của công tác và những yếu tố làm ảnh hưởng dẫn đến những tồn tại.
    • Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng hệ thống phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, bảng biểu, thống kê, phương pháp bảng hỏi, khảo sát nhằm đánh giá hiệu quả công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong công tác này của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Nội dung của bài chuyên đề được chia làm 3 chương như sau:

          Chương I: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

          Chương II: Phân tích thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Chương III: Một số phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    CHƯƠNG I:

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP

    I.                   BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    1.    Khái niệm về Nguồn nhân lực

    Nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực trong từng con người, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp, chân tay. Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội.

    Nguồn nhân lực của một tổ chức chính là tập hợp những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Nó được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người, do chính giá trị sức lao động của con người tạo ra. Để nâng cao vai trò của con người, của nguồn nhân lực trong tổ chức thì việc quan tâm đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một yếu tố cần thiết và quan trọng đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.

    2.    Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là hệ thống các biện pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập giúp con người tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đó là tổng thể các hoạt động có tổ chức được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổi cho người lao động đối với công việc của họ theo chiều hướng tốt hơn.

    Theo chiều hướng này, phát triển được phản ánh qua 3 hoạt động: Đào tạo, giáo dục và phát triển:

    • Đào tạo: Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu đào tạo không thể thiếu được bởi vì không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng tuyển được những người mới có đủ trình độ, kỹ năng phù hợp với những công việc đặt ra.
    • Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới, thích hợp hơn trong tương lai.
    • Phát triển: Là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.

    Đào tạo, giáo dục và phát triển đếu có điểm tương đồng dùng để chỉ một quá trình tương tự như nhau. Đó là quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, các kỹ năng mới, thay dổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đào tạo, giáo dục và phát triển đều sử dụng các phương pháp tương tự nhau nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, đào tạo và phát triển được phân biệt căn cứ vào mục đích của các hoạt động đó.

      Đào tạo Phát triển
    1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai
    2. Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức
    3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn
    4. Mục đích Khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng hiện tại Chuẩn bị cho tương lai

    3.    Lý do, mục đích và vai trò, ý nghĩa của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

    • Lý do:
    • Để đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức, chuẩn bị và bù đắp những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống giúp doanh nghiệp hoạt động trôi chảy.
    • Để đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của người lao động. Nghiên cứu về nhu cầu của con người ta thấy rằng nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu cao nhất của con người, theo đó, con người luôn muốn được học tập để tiến bộ, để đạt được tiềm lực của mình và tự tiến hành công việc.
    • Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào nguồn lực con người, là hoạt động sinh lời đáng kể. Bởi vì con người là một yếu tố rất quan trọng của sản xuất, tác động đến tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất. Suy cho cùng con người là yếu tố quyết định đến sự thành hay bại của một doanh nghiệp.
      • Mục đích:
    • Giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có.
    • Giúp doanh nghiệp có thể chủ động đáp ứng nhu cầu nhân lực cho chiến lược phát triển dài hạn trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp.
    • Nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn vè nghề nghiệp của mình.
    • Nâng cao khả năng thích ứng của nhân viên với các công việc trong tương lai.
    • Nâng cao khả năng thích ứng của tổ chứcvới sự thay đổi của môi trường.
    • Chuẩn bị đội ngũ các bộ quản lý, chuyên môn kế cận. Đào tạo và phát triển giúp cho nhân viên có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.
    • Thoả mãn nhu cầu phát triển của nhân viên.
      • Vai trò, ý nghĩa:
    • Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng do các nguyên nhân:

    + Việc áp dụng các trang bị công nghệ, kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất làm cho lao động thủ công dần dần được thay thế bằng lao động máy móc. Người công nhân cần phải có kiến thức kỹ thuật mới có thể điều khiển, sử dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị, đưa ra các kiến nghị cải tiến kỹ thuật, nâng cao các thông số kỹ thuật làm cho máy móc thiết bị phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý của con người.

    + Việc áp dụng máy móc kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất khiến cho tỷ trọng thời gian máy làm việc tăng lên trong quỹ thời gian ca. Điều này dẫn đến khả năng mở rộng phạm vi và các chức năng hoạt động của nhân viên, phải biết thêm nghề thứ hai, thứ ba…Vì vậy, nhân viên phải được đào tạo ở diẹn rộng, có thể thực hiện nhiều nghề, nhiều chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất.

    + Sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tính chất phức tạp của sản xuất ngày càng tăng, nhiều mặt hàng, sản phẩm mới ra đời để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng cũng làm tăng nhu cầu đào tạo.

    + Trong quá trình lao động, nhân viên sẽ tích luỹ được các thói quen và kinh nghiệm làm việc nhưng quá trình tự đào tạo này diễn ra lâu với lượng ít. Chỉ có thể thực hiện đào tạo mới có thể nhanh chóng cung cấp một số lượng công nhân viên kỹ thuật cần thiết cho quá trình sản xuất.

    • Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động nói riêng:

    + Đối với doanh nghiệp:

    Đào tạo được xem là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội. Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau:

    • Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
    • Giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát được.
    • Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động.
    • Đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực.
    • Giảm bớt được tai nạn lao động
    • Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế.

    + Đối với người lao động:

    Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp chop người lao động  cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật. Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào tahỉ trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội. Và nó còn góp phần làm thoả mãn nhu cầu phát triển cho người lao động.

    + Đối với nền kinh tế xã hội:

    Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của người lao động có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đào tạo là cơ sở thế mạnh, là nguồn gốc thành công của các nước phát triển mạnh trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật…Sự phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    II.               NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP.

    1. Các phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
      • Các phương pháp đào tạo trong công việc.

    Đào tạo trong công việc là một phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn.

    • Ưu điểm: Không yêu cầu một không gian hay những trang thiết bị riêng biệt đặc thù; học viên được làm việc và có thu nhập trong khi học; học viên có thể nhanh chóng nắm vững được các kỹ năng công việc và đòi hỏi ít chi phí để thực hiện.
    • Nhược điểm: Lý thuyết được trang bị không có hệ thống; học viên có thể bắt chước những kinh nghiệm, thao tác không tiên tiến của người dạy.

    Điều kiện để đào tạo trong công việc đạt được hiệu quả là các giáo viên dạy nghề phải được lựa chọn cẩn thận và phải đáp ứng những yêu cầu chương trình đào tạo về trình độ chuyên môn, mức độ thành thạo công việc và khả năng truyền thụ; quá trình đào tạo phải được tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch.

    Đào tạo trong công việc bao gồm các phương pháp sau:

    • Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc

    Đây là phương pháp phổ biến dùng để dạy các kỹ năng thực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một số công việc quản lý. Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của người dạy về mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát , trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ dẫn chặt chẽ của người dạy.

    • Đào tạo theo kiểu học nghề

    Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý thuyết ở trên lớp, sau đó các học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề trong một vài năm; được thực hiện các công việc thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. Phương pháp này dùng để dạy một nghề hoàn chỉnh cho công nhân.

    Phương pháp này thực chất là sự kèm cặp của công nhân lành nghề đối với người học và là phương pháp thông dụng ở Việt Nam.

    • Kèm cặp và chỉ bảo

    Phương pháp này dùng để giúp cho các cán bộ quản lý và các nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc trong tương lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của người quản lý giỏi hơn. Có 3 cách để kèm cặp là:

    • Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp
    • Kèm cặp bởi một cố vấn
    • Kèm cặp bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn
      • Luân chuyển và thuyên chuyển công việc.

    Là phương pháp mà người học viên được luân chuyển một cách có tổ chức từ công việc này sang công việc khác để nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Những kinh nghiệm và kiến thức thu được qua quá trình đó sẽ giúp cho họ có khả năng thực hiện được những công việc cao hơn trong tương lai.

    Luân chuyển và thuyên chuyển công việc có thể thực hiện theo 3 cách:

    • Luân chuyển đối tượng đào tạo đến một bộ phận khác với một cương vị không thay đổi.
    • Người quản lý được cử đến nhận cương vị công tác mới ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ.
    • Luân chuyển người học viên trong nội bộ một lĩnh vực chuyên môn.
      • Các phương pháp đào tạo ngoài công việc.

    Đào tạo ngoài công việc là các phương pháp đào tạo trong đó người học được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế.

    • Ưu điểm: người học sẽ có điều kiện học tập một cách tập trung, nỗ lực và sáng tạo.
    • Nhược điểm: sự chuyển giao kỹ năng thực tế, sử dụng kỹ năng học được vào làm việc thực tế bị hạn chế hơn đào tạo trong công việc.

    Đào tạo ngoài công việc bao gồm các phương pháp sau:

    1.2.1. Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp

    Đối với những nghề tương đối phức tạp, hoặc các công việc có tính đặc thù, thì việc đào tạo bằng kèm cặp không đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Các doanh nghiệp có thể tổ chức các lớp đào tạo với các phương tiện và thiết bị dành riêng cho học tập.

    Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bao gồm hai phần: Lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được giảng dạy tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các phân xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Phương pháp này giúp cho học viên học tập có hệ thống hơn.

    1.2.2. Cử đi học ở các trường chính quy

    Các doanh nghiệp cũng có thể cử người lao động đến học tập ở các trường dạy nghề hoặc quản lý do các Bộ, ngành hoặc do Trung ương tổ chức.

    Trong phương pháp này, người học sẽ được trang bị tương đối đầy đủ cả kiến thức lý thuyết lẫn kỹ năng thực hành. Tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều thời gian và kinh phí đào tạo.

    1.2.3. Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo

    Phương pháp này dùng chủ yếu để đào tạo kỹ năng, cung cấp kiến thức cần thiết chủ yếu cho cán bộ quản lý, lãnh đạo trong doanh nghiệp.

    Các buổi giảng bài hay hội nghị có thể được tổ chức tại doanh nghiệp hoặc ở một hội nghị bên ngoài, có thể được tổ chức riêng hoặc kết hợp với các chương trình đào tạo khác. Trong các buổi thảo luận, học viên sẽ thảo luận theo từng chủ đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm và qua đó học được các kiến thức, kinh nghiệm cần thiết.

    1.2.4. Đào tạo theo kiểu chương trình hoá, với sự trợ giúp của máy tính

    Đây là phương pháp đào tạo kỹ năng hiện đại mà ngày nay nhiều công ty ở nhiều nước đang sử dụng rộng rãi. Trong phương pháp này, các chương trình đào tạo được viết sẵn trên đĩa mềm của máy tính, người học chỉ việc thực hiện theo các hướng dẫn của máy tính. Phương pháp này có thể sử dụng để đào tạo rất nhiều kỹ năng mà không cần có người dạy.

    Có 3 cách để có chương trình dạy qua máy tính:

    • Thiết kế chương trình.
    • Mua chương trình.
    • Đặt hàng chương trình.

    1.2.5. Đào tạo theo phương thức từ xa

    Là phương pháp đào tạo mà giữa người dạy và người học không trực tiếp gặp nhau tại một dịa điểm và cùng thời gian mà thông qua phương tiện nghe nhìn trung gian. Phương tiện trung gian này có thể là sách, tài liệu học tập, băng hình, băng tiếng, đĩa CD và VCD, Internet. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin các phương tiện trung gian ngày càng đa dạng.

    Phương pháp đào tạo này có ưu điểm nổi bật là người học có thể chủ động bố trí thời gian học tập cho phù hợp với kế hoạch của cá nhân; có thể đảm bảo được chất lượng đào tạo mà không cần đưa giáo viên đến tận người học và do đó tiết kiệm được chi phí đào tạo. Nhược điểm của phương pháp này là thiếu sự trao đổi trực tiếp giữa người học và người dạy, đồng thời các phương tiện cũng phải thiết kế hoặc mua nên cũng phải tính toán cho hợp lý.

    1.2.6. Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm

    Phương pháp này bao gồm các cuộc hội thảo học tập trong đó sử dụng các kỹ thuật như: bài tập tình huống, diễn kịch, mô phỏng trên máy tính, trò chơi quản lý hoặc là các bài tập giải quyết vấn đề. Đây là cách đào tạo hiện đại ngày nay nhằm giúp cho người học thực tập giải quyết các tình huống giống như trên thực tế.

    1.2.7. Đào tạo kỹ năng xử lý công văn, giấy tờ

    Đây là một kiểu bài tập, trong đó người quản lý nhận được một loạt các tài liệu, các bản ghi nhớ, các tường trình, báo cáo, lời dặn dò của cấp trên và các thông tin khác mà một người quản lý có thể nhận được khi vừa tới nơi làm việc và họ có trách nhiệm sử lý nhanh chóng và đúng đắn. Phương pháp này giúp cho người quản lý học tập cách ra quyết định nhanh chóng trong công việc hàng ngày.

    1.2.8. Mô hình hóa hành vi

    Đây cũng là phương pháp diễn kịch nhưng các vở kịch được thiết kế sẵn để mô hình hóa các hành vi hợp lý trong các tình huống đặc biệt.

    2.    Tiến trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Trình tự xây dựng một chương trình đào tạo – phát triển như sau:

    • Xác định nhu cầu đào tạo.

    Nhu cầu đào tạo là khoảng cách giữa những gì hiện có và những gì mong muốn trong tương lai xét về khía cạnh thái độ của người quản lý và người lao động trong doanh nghiệp.

    Xác định nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập và phân tích thông tin nhằm làm rõ nhu cầu cần cải thiện kết quả thực hiện công việc và xác định đào tạo hiện có phải là giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc, khả năng phát triển với từng cán bộ, nhân viên cụ thể.

    Phân tích nhu cầu đào tạo là một quá trình mang tính hệ thống nhằm xác định và xếp thứ tự các mục tiêu, định lượng các nhu cầu và quyết định các mức độ ưu tiên cho các quyết định trong lĩnh vực đào tạo.

    Công tác đào tạo và huấn luyện phải giúp ích cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp, hay nói một cách khác là không có sự khác biệt giữa mục tiêu của doanh nghiệp với mục tiêu của việc đào tạo nhân viên. Chính vì vậy nhu cầu đào tạo nhân viên được xem xét bắt đầu từ nhu cầu của chính bản thân doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải tự trả lời các câu hỏi:

    – Thách thức của môi trường kinh doanh đặt ra cho doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn là gì?

    – Nhân viên của doanh nghiệp có khả năng đáp ứng đến đâu các đòi hỏi của thị trường?

    – Nhân viên của doanh nghiệp còn thiếu gì để thực hiện chiến lược của doanh nghiệp?

    Nhu cầu đào tạo của mỗi nhân viên là có những điểm khác biệt do kiến thúc cơ bản, tiềm năng và hoài bão phát triển của họ không giống nhau. Do vậy các hoạt động đào tạo phải hướng tới việc thiết kế chương trình sao cho đáp ứng được yêu cầu của từng đối tượng.Nhu cầu đào tạo quyết định phương pháp đào tạo. Không có bất kỳ chương trình hay phương thức nào phù hợp với mọi nhu cầu. Các chương trình đào tạo được chọn lựa trên cơ sở dung hoà mong muốn của các cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp, trong đó hiệu quả kinh doanh được đưa ra làm tiêu chí ảnh hưởng có tính quyết định. Nhiều thất bại trong công tác phát triển nhân sự là nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến hiệu quả đào tạo, không đánh giá được tác động của việc đào tạo tới quá trình thực hiện nhiệm vụ của mỗi nhân viên.

    2.1.1. Cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo:

    1. Phân tích mục tiêu, kế hoạch, chiến lược, chỉ số hiệu quả về mặt tổ chức của doanh nghiệp:

    Phân tích chỉ số hiệu quả về mặt tổ chức bao gồm việc phân tích các tiêu thức tổ chức như: Năng suất, chất lượng thực hiện công việc , tỷ lệ thuyên chuyển, kỷ luật lao động…

    Mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp cho biết định hướng phát triển của doanh nghiệp.

    Kế hoạch hóa nguồn nhân lực là quá trình xác định các nhu cầu về nhân lực của tổ chức một cách có hệ thống để phục vụ các mục tiêu của tổ chức,…

    1. Phân tích công việc

    Phân tích công việc là nghiên cứu công việc một cách chi tiết nhằm làm rõ các nhiệm vụ, trách nhiệm và các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đối với người thực hiện công việc. Từ đó tiến hành các chương trình đào tạo phù hợp.

    Trong trường hợp này, sử dụng bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện là rất hữu ích. Sử dụng biểu mẫu phân tích công việc:

    • Liệt kê các nhiệm vụ công việc chính
    • Xác định mức độ thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ, công việc
    • Tiêu chuẩn mẫu thực hiện công việc
    • Điều kiện thực hiện công việc.
    • Các kỹ năng và kiến thức cần thiết giảng dạy cho nhân viên
    • Nhiệm vụ sẽ được học cách thực hiện tốt nhất “tại” hay “ngoài” nơi làm việc.

    Việc xác định nhu cầu đào tạo có thể được thực hiện thông qua phương pháp đánh giá nhu cầu cổ điển như phân tích công việc:

    Lý do đào tạo Bối cảnh nảy sinh nhu cầu đào tạo Kết cục
    Luật pháp

     

    Thiếu các kỹ năng cơ bản

    Thực hiện nhiệm vụ tới

    Công nghệ mới

    Đòi hỏi của khách hàng

    Tiêu chuẩn thực hiện cao hơn

    Công việc mới, sản phẩm mới

    Người lao động cần đào tạo điều gì?

     

    Phân tích tổ chức

    Nảy sinh nhu cầu đào tạo có thứ tự ưu tiên.

    Sự ủng hộ và hỗ trợ của giới quản lý và đồng sự

    Chiến lược của tổ chức đi đến đâu, nhằm mục tiêu  gì?

    Các nguồn lực cho đào tạo: Ngân sách, thời gian, chuyên môn, trình độ

    Phân tích con người

    Đặc tính cá nhân: Kiến thức, kỹ năng và thái độ.

    Đầu vào, đầu ra

    Kết cục: ảnh hưởng, năng suất, chất lượng

    Phân tích nhiệm vụ

    Chọn công việc để phân tích

    Phát triển danh mục các nhiệm vụ.

    Khẳng định danh mục các nhiệm vụ.

    Nhận dạng kiến thức, kỹ năng thái độ cần thiết cho việc thực hiện thành công mỗi nhiệm vụ

    Người học cần học điều gì?

     

    Ai cần đào tạo?

    Loại hình đào tạo?

    Tần số đào tạo?

    Đào tạo hay thực hiện thông qua các hình thức khác như tuyển lựa, thiết kế lại công việc?

    (Nguồn: http://bkeps.com/thong-tin/phat-trien-mo-hinh-dao-tao-trong-doanh-nghiep-tren-mo-hinh-he-thong.html)

    1. Phân tích thực hiện công việc:

    Là nghiên cứu kỹ lưỡng việc thực hiện công việc để xây dựng quy trình thực hiện công việc tối ưu cũng như là để huấn luyện, đào tạo nhân viên khả năng thực hiện công việc. Việc phân tích này chú trọng đến các năng lực và các đặc tính cá nhân của nhân vien, được sử dụng để xác định ai là người có thể đảm đương được công việc và họ thiếu những kiến thức, kỹ năng gì, để từ đó xác định cần chú trọng đào tạo những kiến thức, kỹ năng nào.

    Quá trình phân tích thực hiện công việc gồm các bước sau:

    1. Ngoài ra, còn có thể sử dụng các thông tin khác để xác định nhu cầu đào tạo:
    • Theo báo cáo của viên giám thị.
    • Theo yêu cầu quản trị.
    • Căn cứ vào thành tích, chỉ tiêu cá nhân đạt được.
    • Trách nghiệm kiến thức.
    • Bản câu hỏi điều tra.

    Kết quả thực hiện mức lao động.

    2.1.2. Xác định nhu cầu đào tạo kỹ thuật:

    1. Phương pháp tính toán căn cứ tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật cần thiết cho từng loại sản phẩm và quỹ thời gian lao động của loại nhân viên kỹ thuật tương ứng.

    Nhu cầu (công) nhân viên thuộc nghề (chuyên môn) i

    Tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i cần thiết để sản xuất

    Quỹ thời gian lao động của một (công) nhân viên kỹ thật thuộc nghề (chuyên môn) i

    Khả năng hoan thành vượt mức ở kỳ triển vọng của (công) nhân viên kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i

    1. Phương pháp tính toán căn cứ vào số lượng máy móc thiết bị kỹ thuật cần thiết cho quá trình sản xuất , mức đảm nhiệm của một (công) nhân viên kỹ thuật và hệ số ca làm việc của máy móc thiết bị

    SM: Số lượng máy móc trang thiết bị kỹ thuật cần thiết ở kỳ triển vọng

    Hệ số ca làm việc của máy móc trang thiết bị

    N: Số lượng máy móc trang thiết bị do công nhân viên kỹ thuật phải tính

    1. Phương pháp chỉ số

    Phương pháp này sử dụng công thức:

       

    Chỉ số tăng công nhân viên kỹ thuật

    Chỉ số tăng sản phẩm

    Chỉ số tăng tỷ trọng công nhân viên kỹ thuật trên tổng số

    Chỉ số tăng NSLĐ

    Phương pháp này cho số liệu không chính xác bằng cách tính ở hai phương pháp trên. Thường dùng để dự đoán nhu cầu công nhân viên kỹ thuật của các công ty lớn trong các kế hoạch dài hạn.

    Căn cứ vào bản phân tích công việc và việc đánh giá tình hình thực hiện công việc, căn cứ vào cơ cấu tổ chức, Công ty sẽ các định được số lượng, loại lao động và loại kiến thức kỹ năng cần đào tạo.

    1. Phương pháp trực tiếp:

    Căn cứ vào bản phân tích công việc, căn cứ vào tình hình thực hiện công việc, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp để trực tiếp xác định số lượng nhân viên kỹ thuật của từng nghề cần thiết trong từng bộ phận, phân xưởng, sau đó tổng hợp lại thành nhu cầu của toàn doanh nghiệp.

    Sau khi xác định được nhu cầu nhân viên kỹ thuật cần có ở kỳ kế hoạch, nhu cầu đào tạo ( nhu cầu bổ sung ) sẽ được xác định theo công thức:

    Nhu cầu tăng để phát triển sản xuất = Nhu cầu cần có – Số đã có
    Nhu cầu bổ sung = Nhu cầu tăng để phát triển sản xuất + nhu cầu thay thế

    Trong quá trình đào tạo, thường có một tỷ lệ nhất định học viên bị rớt hoặc không đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Do đó, nhu cầu tuyển sinh đào tạo bao giờ cũng lớn hơn nhu cầu thực tế cần đào tạo, và được xác định theo công thức:

    Dtsđt = Dđt / ( 1- % rơi rớt trong đào tạo )

    Trong đó :

    • Dtsđt : Nhu cầu tuyển sinh đào tạo
    • Dđt : Nhu cầu đào tạo ( nhu cầu bổ sung )
      • Xác định mục tiêu đào tạo

    Là xác định các kết quả cần đạt được của hoạt động đào tạo. Bao gồm:

    + Những kỹ năng cụ thể cần được đào tạo và trình độ kỹ năng có được sau đào tạo

    + Số lượng và cơ cấu học viên

    + Thời gian đào tạo

    Việc xác định mục tiêu đào tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và là cơ sở để đánh giá trình độ chuyên môn của người lao động trong mỗi công ty, tổ chức. Các mục tiêu đào tạo phải rõ ràng, cụ thể và có thể đánh giá được.

    • Lựa chọn đối tượng đào tạo

    Là lựa chọn người cụ thể để đào tạo, dựa trên:

    • Nghiên cứu nhu cầu và động cơ đào tạo của người lao động
    • Tác dụng của đào tạo đối với người lao động
    • Triển vọng nghề nghiệp của từng người

    Việc lựa chọn người để đào tạo đảm bảo phải đào tạo đúng người cần đào tạo, tức là phải lựa chọn người đúng khả năng, nguyện vọng học tập…để tránh tình trạng đào tạo nhầm đối tượng, làm tổn thất về thời gian và chi phí không cần thiết.

    • Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo.

    Chương trình đào tạo là một hệ thống các môn học và các bài học cần được dạy, cho thấy những kiến thức, kỹ năng nào cần được dạy và dạy trong bao lâu. Trên cơ sở đó lựa chọn các phương pháp đào tạo phù hợp.

    Chương trình đào tạo phải được xây dựng thật cụ thể về: số môn học, các môn học sẽ cung cấp trong chương trình, số giờ học, tiết học của từng môn, chi phí cho mỗi môn, mỗi tiết, các phương tiện cần thiết cho chương trình như: giáo trình, tài liệu, trang thiết bị,…

    Chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở nhu cầu đào tạo và mục tiêu đào tạo đã xác định. Sau đó doanh nghiệp sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể về năng lực tài chính, cơ sở vật chất…để chọn phương pháp đào tạo cho phù hợp.

    Có nhiều phương pháp đào tạo khác nhau để lựa chọn và mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng của nó. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp hoặc kết hợp nhiều phương pháp đào tạo. Phương pháp đào tạo phải phù hợp với nội dung chương trình đào tạo, chi phí phải thấp và là phương pháp đem lại hiệu quả lớn nhất.

    • Xác định chi phí đào tạo

    Chi phí đào tạo quyết định việc lựa chọn các phương án đào tạo, bao gồm các chi phí cho việc học, chi phí cho việc đào tạo.

    • Những chi phí về học tập: là những chi phí phải trả trong quá trình người lao động học việc, bao gồm: Những khoản tiền cho người lao động trong khi học việc, chi phí nguyên vật liệu dùng cho học tập, giá trị hàng hoá bán do gia công không đúng khi thực tập, giá trị sản lượng bị giảm xuống do hiệu quả làm việc thấp của học sinh học nghề…
    • Những chi phí về đào tạo: Bao gồm: Tiền lương của những người quản lý trong thời gian họ quản lý bộ phận học việc; tiền thù lao cho giáo viên hay những nhân viên đào tạo và bộ phận giúp việc của họ; những dụng cụ giảng dạy như: Máy chiếu phim, tài liệu, sách báo, bài kiểm tra, chương trình học tập,…

    Doanh nghiệp phải tính toán để xác định chi phí đào tạo cho hợp lý và có hiệu quả.

    • Lựa chọn và đào tạo giáo viên

    Doanh nghiệp có thể lựa chọn giáo viên theo 2 phương án sau:

    • Lựa chọn những công nhân lành nghề, những người quản lý có kinh nghiệm trong doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Phương án này vừa tiết kiệm chi phí vừa cung cấp cho học viên những kỹ năng thực hiện công việc có tính sát với thực tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng còn những hạn chế như: khó cập nhật những thông tin, kiến thức mới đồng thời có thể ảnh hưởng đến công việc mà người được chọn làm giáo viên đảm nhiệm.
    • Lựa chọn giáo viên từ cơ sở đào tạo bên ngoài ( giảng viên của các trường đại học, trung tâm đào tạo…). Theo phương án này có thể cung cấp những kiến thức, những thông tin cập nhật theo kịp được sự tiến bộ của ngành nghề. Tuy nhiên phương án này có nhược điểm là khả năng thực hiện thấp, không sát thực với doanh nghiệp, chi phí thường cao.

    Giáo viên phải được tập huấn để nắm vững mục tiêu và cơ cấu của chương trình đào tạo nói chung.

    • Thiết lập quy trình đánh giá
      • Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo
    1. Các giai đoạn đánh giá:
    • Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu đặt ra có đạt hay không? ( Có 2 phương pháp )

    + Phương pháp 1: Kiểm tra kiến thức, kinh nghiệm của học viên sau khóa học.

    + Phương pháp 2: Dùng phiếu đánh giá.

    Giai đoạn 2: Tiến hành thu thập thông tin về kết quả học tập của các học viên sau đào tạo.

    Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo đó là việc kiểm tra xem sau khi đào tạo các học viên đã áp dụng các kiến thức đã học được vào trong thực tế để thực hiện công việc như thế nào? Hoặc có thể thống kê năng suất lao động, sự thuyên chuyển trong công việc…

    1. Các phương pháp đánh giá:
    • Phân tích thực nghiệm:

    Chọn hai nhóm thực nghiệm, ghi lại kết quả thực hiện công việc của mỗi nhóm lúc trước khi áp dụng chương trình đào tạo. Chọn một nhóm tham gia vào quá trình đào tạo, còn nhóm kia vẫn thực hiện công việc bình thường. Sau thời gian đào tạo ghi lại kết quả thực hiện về cả số lượng và chất lượng giữa hai nhóm: nhóm đã được đào tạo và nhóm không được đào tạo. Phân tích, so sánh kết quả thực hiện công việc giữa hai nhóm với chi phí đào tạo sẽ cho phép xác định mức độ hiệu quả của chương trình đào tạo.

    • Đánh giá hiệu quả đào tạo theo 4 vấn đề cơ bản:
    • Phản ứng: Cần đánh giá phản ứng của học viên đối với chương trình đào tạo. Họ có thích chương trình hay không? Nội dung chương trình có phù hợp với nội dung công việc thực tế hay không?…
    • Hành vi: hành vi của người được đào tạo có thay đổi gì do kết quả tham dự khoá học hay không?
    • Học thuộc: Kiểm tra xem các học viên đã nắm vững những nguyên tắc, kỹ năng, các vấn đề theo yêu cầu của khoá đào tạo chưa?
    • Mục tiêu: Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất. Kết của cuối cùng của học viên có đạt được mục tiêu đào tạo hay không?
      • Đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo nói chung:
    1. Đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo thông qua chất lượng lao động.

    Đánh giá chất lượng lao động của doanh nghiệp sau đào tạo xem trình độ lao động được nâng lên như thế nào và đã đáp ứng được đến đâu yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đánh giá này thông qua các chỉ tiêu như: sự thực hiện công việc, sự chênh lệch về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sự hoàn thành nhiệm vụ được giao,…của người lao động sau khi được đào tạo với trước khi được đào tạo .

    1. Đánh giá bằng cách lượng hóa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển:
    • Bước 1: Xác định tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực

    Bao gồm:

    • Tổng tiền lương trả cho người lao động và các khoản thu nhập khác của người lao dộng có tính chất lương được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
      ( W )
    • Tổng tiền thưởng ( R )
    • Tổng chi phí cho phúc lợi và dịch vụ ( B )
    • Tổng chi phí cho đào tạo và phát triển ( K )

    Như vậy tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực ( T ) là:

    T = W + R + B + K

    • Bước 2: Tính tỷ lệ chi phí đào tạo trong tổng chi phí đầu tư cho nguồn nhân lực ( S )

    K

    S = ­­­­­­­­­­­————– x 100%

    T

    • Bước 3: Xác định phần đóng góp của đào tạo và phát triển và phát triển nguồn nhân lực vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu giả thiết rằng S cũng bằng tỷ lệ giữa phần đóng góp của đào tạo trong tổng lợi nhuận thì ta có:

    Mo = P x S

    Trong đó: Mo : là phần đóng góp của đào tạo năm n-1 vào lợi nhuận năm n

    P : là lợi nhuận năm n

    Hiệu quả của công tác đào tạo có thể được đánh giá qua chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí đào tạo ( HM )

    Mon

    HMn-1 = ————–­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

    Kn-1

    Trong đó: Kn-1 : là chi phí đào tạo và phát triển năm n-1

    HMn-1 : là lợi nhuận trên một đơn vị chi phí đào tạo, phản ánh hiệu quả đào tạo năm n-1

    Mon : là phần đóng góp của đào tạo vào lợi nhuận năm n

    Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đơn vị chi phí cho đào tạo năm trước thì năm sau thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận, cho biết khả năng sinh lợi của đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

    III.            CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP.

    1.    Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp.

    • Mục tiêu, chiến lược, chính sách của doanh nghiệp.

    Mỗi một doanh nghiệp đều có những mục tiêu, chiến lược riêng cho từng giai đoạn phát triển. Những mục tiêu chiến lược này chi phối tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động dào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi cơ cấu tổ chức, công nghệ,…thì người lao động cần phải được đào tạo lại để có những kiến thức, kỹ năng phù hợp với những thay đổi đó.

    Chính sách, triết lý quản lý, những tư tưởng, quan điểm của người quản lý cấp cao của tổ chức về cách quản lý con người trong tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    • Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.

    Quy mô của doanh nghiệp càng lớn thì công tác đào tạo của doanh nghiệp càng phức tạp và ngược lại.

    Cơ cấu tổ chức càng đơn giản thì việc ra quyết định càng nhanh chóng, sự trao đổi thông tin thuận lợi và mức độ gắn kết các bộ phận càng cao. Ngược lại, tổ chức bộ máy càng cồng kềnh, phức tạp thì quản lý càng khó, dẫn đến trong công tác đào tạo tiến trình đào tạo sẽ khó thực hiện một cách đồng bộ và linh hoạt. Ngoài ra sự thay đổi cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo trong doanh nghiệp.

    • Lực lượng lao động hiện tại của doanh nghiệp.

    + Trình độ của người lao động: Nghiên cứu chất lượng lao động của lực lượng lao động hiện tại sẽ cho thấy những ai cần phải đào tạo? Đào tạo những gì?

    + Cơ cấu lao động theo độ tuổi, giới tính:

    Về độ tuổi, nếu một doanh nghiệp có cơ cấu lao động trẻ hơn doanh nghiệp kia thì nhu cầu đào tạo sẽ có khả năng cao hơn doanh nghiệp kia. Điều này xuất phát từ đặc điểm tâm lý của người lao động là càng lớn tuổi thì nhu cầu học tập càng giảm đi.

    Giới tính cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo của một doanh nghiệp. Thông thường trong một doanh nghiệp nếu tỷ lệ nữ cao hơn nam giới thì nhu cầu đào tạo sẽ thấp và ngược lại.

    • Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

    Nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì doanh nghiệp đó sẽ có điều kiện thuận lợi để đầu tư cho hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Ngược lại nếu doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ thì kinh phí cho đào tạo có thể phải cắt giảm.

    • Điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ cho đào tạo và phát triển:

    Điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Bởi vì khi điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ được đảm bảo thì công tác đào tạo và phát triển mới tiến hành một cách có hiệu quả, và ngược lại.

    2.    Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp.

    Môi trường pháp lý của doanh nghiệp: Không chỉ riêng hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mà tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều bị giới hạn bởi những khuôn khổ pháp lý do Nhà nước quy định, phải đảm bảo không bị trái pháp luật.

    • Môi trường kinh tế, môi trường chính trị cũng ảnh hưởng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Khi nền kinh tế phát triển, môi trường chính trị ổn định thì người lao động thường có nhu cầu đào tạo lớn và công tác đào tạo cũng không bị ảnh hưởng lớn.
    • Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ càng hiện đại tiên tiến kéo theo trình độ của người lao động phải được nâng lên để có thể nắm vững các thao tác, quy trình của công nghệ khi thực hiện công việc.
    • Thị trường của doanh nghiệp: Thị trường rộng, hàng hoá bán nhiều, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng dần từ đó nó sẽ quyết định đến nguồn kinh phí trích vào quỹ đào tạo và phát triển.

    IV.             SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    Ngày nay nền kinh tế của đất nước ta đang bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu hoá đã tạo ra những thuận lợi, những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng đặt ra cho Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 những nhiệm vụ hết sức nặng nề, phải nhanh chóng vươn lên, không ngừng phát triển mới có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để tồn tại và phát triển được. Vì vậy, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải được quan tâm đúng mức.

    Với việc mở rộng quy mô sản xuất tạo ra hàng loạt việc làm mới cho cán bộ công nhân viên trong công ty. Vì vậy Công ty cần phải thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo cho các cán bộ công nhân viên trong Công ty để họ cập nhật được kiến thức, kỹ năng mới, giúp cho họ thực hiện công việc tốt hơn.

    Đặc thù của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 là một Công ty trực thuộc Tổng Công ty xây dựng Hà Nội và có nhiều xí nghiệp thành viên nên thường xuyên có sự điều phối, thuyên chuyển đội ngũ cán bộ quản lý, đòi hỏi Công ty phải chuẩn bị đội ngũ lao động kế cận. Vì vậy đào tạo và phát triển sẽ giúp cho cán bộ công nhân viên trong Công ty có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II:

    PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    I.                   NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

    – Tên công ty: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    – Tên tiếng Anh: Investment and construction joint stock company No4.

    – Tên viết tắt: ICON4.

    – Địa chỉ: 243A Đê La Thành – Láng Thượng – Đống Đa – Hà Nội

    – Số điện thoại: 04.8348976

    – Fax               : 04.8348863

    Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được thành lập ngày 18 tháng 10 năm 1959, tiền thân là công trường xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc và công ty kiến trúc khu bắc Hà nội. Qua nhiều thời kỳ sát nhập đến năm 1955 Bộ có quyết định nhập công ty xây dựng số 4 vào Tổng Công ty xây dựng Hà nội, từ đó đến nay công ty xây dựng số 4 là một doanh nghiệp Nhà nước được xếp hạng I trực thuộc Tổng công ty xây dựng Hà nội.

    Trụ sở của công ty hiện nay : 243A – Đê La Thành – Láng Thượng – Đống Đa – Hà Nội.

    Giấy phép kinh doanh số 314258 cấp ngày 06/04/2001

    Vốn điều lệ: 45.000.000.000 đồng.

    Người đại diện : Tổng giám đốc: Nguyễn Minh Cương

    Qua hơn 45 năm hoạt động từ tiền thân là công trường xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc và công ty kiến trúc khu bắc Hà nội, sự trưởng thành và phát triển của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 có thể khái quát bằng 4 giai đoạn sau :

    • Giai đoạn 1959-1965:

    Công ty xây dựng số 4 ra đời vào lúc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1961-1965), Đảng và Nhà nước ta chủ trương hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng và khôi phục nền kinh tế Miền Bắc. Với tinh thần đó, nhiệm vụ đầu tiên của công ty là xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc(1960). Việc thi công này gặp rất nhiều khó khăn như cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế, lao động thủ công là chủ yếu và đa phần là bộ đội…,song với tinh thần lao động cần cù sáng tạo, vừa sản xuất vừa học tập nâng cao tay nghề nên đã hoàn thành tốt kế hoạch chỉ tiêu đặt ra.

    • Giai đoạn 1965-1975:

    Thời kỳ này đất nước ta trải qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh xâm lược khốc liệt, vừa chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, vừa xây dựng XHCN, đánh dấu một thời kỳ khó khăn ác liệt song tập thể công ty xây dựng số 4 trong giai đoạn này cũng đã đạt được nhiều thành tích trong lao động. Thời kỳ này công ty được giao thi công hàng loạt các công trình quân sự như sân bay Kép, sân bay Gia Lâm, sân bay Hoà Lạc, kho vật tư kỹ thuật quân sự và các công trình khác như đài phát thanh 69-14, đường Hữu Nghị…Bên cạnh đó với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, công ty đã điều hàng trăm xe tải vận chuyển vật tư kỹ thuật quân sự chi viện cho chiến trường Miền Nam, hàng ngàn thanh niên của công ty cũng hăng hái lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Ngoài các công trình về quốc phòng công ty vẫn đảm nhiệm thi công các công trình công nghiệp, dân dụng khác như nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy cơ khí Đông Anh, bệnh viện Lạng Sơn, nhiệt điện Hà Bắc…Đây là thời kỳ của sáng tạo, dũng cảm quên mình phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của tập thể CBCNV số 4

    • Giai đoạn 1975-1986:

    Trong giai đoạn này công ty xây dựng số 4 đã tiến hành phương thức phân công, phân cấp tự chủ trong sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi, tổ chức lại các xí nghiệp theo hướng chuyên ngành, theo vùng…

    Thời kỳ này nhiều công trình được đánh giá cao được thi công bởi công ty như nhà máy xe lửa Gia Lâm, cơ khí Hà Bắc, nhà máy kính Đáp Cầu, nhà máy ô tô 1 tháng 5, nhiệt điện Phả Lại, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, học viện kỹ thuật quân sự Vĩnh Phú, đài vệ tinh mặt đất Hoa Sen I và Hoa Sen II, trại giống lúa Đồng Văn, nhà máy in sách giáo khoa Đông Anh,…

    Thời kỳ này được coi là thời kỳ của sáng kiến cải tiến và quản lý chất lượng đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ CBCNV xây dựng số 4 trong quản lý cũng như điều hành tổ chức thi công. Với những thành tích đạt được, công ty xây dựng số 4 được đánh giá là một trong những đơn vị mạnh của Tổng công ty xây dựng Hà nội, và được Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng nhiều bằng khen và bằng lao động sáng tạo.

    • Giai đoạn 1986-nay:

    Đây là thời kỳ bắt đầu của sự đổi mới, từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Sự cạnh tranh trên thị trường nói chung và thị trường xây dựng nói riêng diễn ra gay gắt. Các đơn vị thiếu việc làm, lao động dôi dư nhiều. Trong khi đó cơ sở vật chất công ty còn nghèo nàn, trang thiết bị đã thiếu lại còn lạc hậu, lực lượng lao động hầu hết được đào tạo trong thời kỳ bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu của thời kỳ đổi mới, chưa quen với hoạt động của nền kinh tế thị trường. Tất cả những khó khăn trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của công ty.

    Trước những khó khăn chồng chất đó công ty xây dựng số 4 dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, các cấp lãnh đạo công ty cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện của Bộ xây dựng, Tổng công ty xây dựng Hà nội và các ban ngành đoàn thể…đã chủ động kết hợp cùng với sự hăng say, thi đua lao động sản xuất của tập thể cán bộ công nhân viên, công ty đưa ra những giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo đà phát triển để đảm bảo sự tồn tại và không ngừng phát triển của công ty.

    Những công trình thi công đạt chất lượng cao của công ty trong thời kỳ này tiêu biểu như Nhà họp Chính Phủ, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, văn phòng Quốc hội, nhà hát lớn Thành phố, đại sứ quán Pháp, trung tâm điều hành thông tin di động VMS, nhà máy chế biến thức ăn Hoa Kì, Thư viện Quốc gia Hà nội, trường đại học Tài chính, bưu điện Phủ Lý, khách sạn Opera Hilton Hà nội, khách sạn Melia-44 Lý Thường Kiệt-Hà nội, dự án thoát nước Hà nội giai đoạn I,…

    Với hàng chục công trình đạt huy chương vàng chất lượng và sự đánh giá tin tưởng của khách hàng trong và ngoài nước là bằng chứng khẳng định vị trí và sự phát triển của công ty trong thời kỳ mới. Công ty xây dựng số 4 đã được Đảng, Nhà nước, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ xây dựng, Công đoàn ngành xây dựng Việt Nam, Thành phố Hà nội tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua cao quý cho công ty và các cá nhân của đơn vị cụ thể như:

    –     01 Huân chương độc lập Hạng Nhì

    • 03 Huân chương độc lập Hạng Ba
    • 12 Huân chương lao động các hạng
    • Nhiều Bằng khen, cờ thưởng luân lưu, bằng chứng nhận của Chính phủ, Bộ xây dựng, Tổng liên đoàn Lao động, các tỉnh thành phố trực thuộc tặng

    Hàng năm có nhiều đồng chí là CBCNV của Công ty được Chính phủ, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ xây dựng…tặng huân chương Lao động, bằng khen, giấy khen và các danh hiệu khác

    2. Ngành nghề kinh doanh của công ty.

         – Nhận thầu, tổng thầu xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, hạ tầng kỹ thuật; đường dây và trạm biến thế điện; trang trí ngoại, nội thất.

    – Tư vấn, tổng thầu tư vấn đầu tư và xây dựng các dự án đầu tư xây dựng bao gồm : Lập và thẩm tra dự án đầu tư; Tư vấn đấu thầu và quản lý dự án; Tư vấn công nghệ thiết bị và tự động hoá; Khảo sát địa hình địa chất thuỷ văn, đo đạc công trình, thí nghiệm; Thiết kế lập tổng dự toán và thẩm tra thiết kế tổng dự toán; Thiết kế quy hoạch chi tiết các khu dân cư, khu chức năng đô thị, khu công nghiệp; Kiểm định chất lượng công trình

    –  Sửa chữa, phục hồi và phục chế các công trình di tích lịch sử

    –  Đầu tư, kinh doanh phát triển nhà và hạ tầng đô thị, khu dân cư, khu công nghệ cao, khu kinh tế mới, khu chế xuất, khu công nghiệp; Kinh doanh bất động sản, dịch vụ cho thuê nhà, quản lý khai thác dịch vụ các khu đô thị mới

    –  Khai thác, sản xuất, chế biến, kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn; Vận tải, bốc xếp, dịch vụ giao nhận hàng hoá

    –  Đầu tư, kinh doanh du lịch, thương mại dịch vụ, nhà hàng, khách sạn, hàng thủ cong mỹ nghệ, rượu, bia, nước giải khát, nước sạch, hàng tiêu dùng

    –  Kinh doanh xuất, nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, phụ tùng, phương tiệ vận tải

    –   Cung cấp, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành điều hoà không khí, điện lạnh, thiết bị phòng cháy nổ, thang máy, sửa chữa xe máy thi công xây dựng.

    3. Cơ cấu tổ chức và chức năng – nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty.

    3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

    Khái niệm cơ cấu tổ chức: Là sự phân chia tổng thể ra những bộ phận nhỏ theo những tiêu thức chất lượng khác nhau, những bộ phận đó thực hiện các chức năng riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm phục vụ mục tiêu chung. Tổ chức bao hàm một chỉnh thể hoạt động độc lập, có chính danh và tôn chỉ mục đích hoạt động

    Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    Ta có thể thấy cơ cấu của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng. Đây là cơ cấu tổ chức khá hợp lý và có khoa học phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của công ty.Cơ cấu tổ chức này có ưu điểm là để đảm bảo được tính thống nhất trong quản lý, đảm bảo chế độ một thủ trưởng và cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt, sự phối hợp chặt chẽ giữa các phong ban. Tuy nhiên cơ cấu này lại bộc lộ những nhược điểm là: chức năng quản lý không được chuyên môn hoá nên không có điều kiện để đi sâu thực hiện từng chức năng một, không tận dụng được đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và dễ dẫn đến tình trạng quá tải về công tác đối với người lãnh đạo.

    3.2. Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận.

    3.2.1. Hội đồng quản trị (HĐQT):

    HĐQT Công ty có 3 thành viên, trong đó có 1 thành viên là giám đốc công ty

    Hoạt động của HĐQT Công ty được quy định rất cụ thể trong quy chế hoạt động của HĐQT Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 do tổng Công ty xây dựng Hà nội ban hành kèm theo quyết định số 617/QĐ-HĐQT ngày 14/07/2003.

    3.2.2. Giám đốc công ty (GĐCT).

           GĐCT là đại diện pháp nhân của công ty, có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo chế độ một thủ trưởng và có tránh nhiệm cao nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước theo đúng pháp luật. Giám đốc Công ty do Hội đồng Quản trị của Tổng công ty xây dựng Hà Nội bổ nhiệm và miễn nhiệm.

    Giám đốc Công ty trực tiếp chỉ đạo một số công tác:

    • Công tác sản xuất kinh doanh.
    • Công tác tổ chức cán bộ.
    • Công tác tài chính, thống kê, kế toán.
    • Công tác kiểm tra, thanh tra.
    • Công tác đối ngoại.
    • Công tác thương mại gồm: Xuất khẩu, nhập khẩu, vận tải hàng hoá, vật liệu nổ công nghiệp quá cảnh.
    • Công tác đầu tư liên doanh cà hợp tác sản xuất kinh doanh với nước ngoài.
    • Quan hệ với các đoàn thể trong công ty.
    • Chủ tịch hội đồng thi đua khen thưởng Công ty.
    • Trực tiếp chỉ đạo phòng tổ chức cán bộ, Phòng kiểm toán nội bộ- thanh tra, phòng thống kê – kế toán, tài chính, phòng thương mại.
    • Sinh hoạt hành chính tại phòng tổ chức cán bộ.

    3.2.3. Phó giám đốc:

    Là người giúp việc giám đốc công ty điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo phân công của Giám đốc. Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền thực hiện.

    3.2.4. Kế toán trưởng:

    Giúp Giám đốc công ty chỉ đạo, thực hiện công tác hạch toán kế toán , thống kê, tài chính của công ty. Kế toán trưởng thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại pháp lệnh kế toán thống kê và điều lệ Kế toán trưởng.

    3.2.5. Các phòng nghiệp vụ chuyên môn của công ty.

    Khối văn phòng cơ quan công ty là khối bao gồm các phòng ban nghiệp vụ được thành lập theo quyết định của chủ tịch Hội đồng quản trị công ty để tham mưu, giúp tổng giám đốc công ty trong việc thực hiện các chức năng quản lý của công ty theo từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ.

    Khối văn phòng ban công ty bao gồm các phòng ban sau :

    • Phòng kỹ thuật thi công
    • Phòng tài chính kế toán
    • Phòng kinh tế thị trường
    • Phòng tổ chức lao động
    • Phòng dự án
    • Ban bảo hộ lao động Công ty
    • Văn phòng Công ty
    1. Phòng kinh tế thị trường.

    Là phòng tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc Công ty nhằm triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện về lĩnh vực tiếp thị, các hợp đồng kinh tế trong và ngoài công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng quý, hàng năm, báo cáo thống kê theo quy định, công tác đầu tư của toàn công ty và thực hiện ISO 9001-2000. Chỉ đạo nghiệp vụ các mặt công tác:

    • Công tác kế hoạch và quản lý kinh tế.
    • Công tác Marketing
    • Công tác đầu tư
    1. Phòng kỹ thuật thi công.

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc Công ty và lãnh đạo Công ty triển khai chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các công trình trực thuộc Công ty và các đơn vị trực thuộc về tiến độ thi công, chất lượng sản phẩm, khoa học công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, triển khai việc thực hiện ISO 9001 – 2000 của Công ty. Giúp Công ty thực hiện các mặt công tác:

    –    Công tác thi công

    –    Công tác khoa học kỹ thuật

    1. Phòng tài chính kế toán.

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty để triển khai tổ chức thực hiện công tác tài chính kế toán và hạch toán kinh tế toàn Công ty, đồng thời kiểm tra kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính của Công ty theo điều lệ hoạt động và quy chế quản lý tài chính đã được Hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Chỉ đạo nghiệp vụ các mặt công tác:

    –     Công tác tài chính

    –     Công tác kế toán

    1. Phòng tổ chức lao động

    Là phòng tham mưu giúp việc Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty tổ chức, triển khai, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chủ trương đường lối của lãnh đạo Công ty đối với các đơn vị trực thuộc về các lĩnh vực công tác: tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, dân quân tự vệ và các chế độ khác đối với CBCNV. Thực hiện ISO 9001 – 2000. Các mặt công tác mà phòng thực hiện:

    • Công tác tổ chức
    • Công tác lao động
    • Công tác định mức lao động
    • Công tác đào tạo, thi đua khen thưởng
      1. Phòng dự án Công ty

    Là phòng tham mưu, giúp việc cho Tổng Giám đốc Công ty trong công tác đấu thầu, kiểm soát công tác đấu thầu và đề xuất việc thực hiện sau đấu thầu trong toàn Công ty.

    Chức năng nhiệm vụ của phòng là:

    • Mua hồ sơ thầu và nghiên cứu hồ sơ dự thầu;
    • Chủ trì thực hiện việc lập Hồ sơ dự thầu bao gồm: Tất cả các công việc cần thiết đáp ứng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu: Hồ sơ pháp lý, kỹ thuật và giá dự thầu. Giải quết các vướng mắc liên quan đến Hồ sơ dự thầu.
    • Đối với các dự án do các xí nghiệp lập: Phòng có chức năng cung cấp tài liệu pháp lý cho các đơn vị, có thể tham gia thực hiện một phần hoặc chủ trì thực hiện dự án khi cần thiết.
    • Kiểm soát việc thực hiện công tác đấu thầu trên toàn Công ty bao gồm: Việc đăng ký hồ sơ dự thầu của các đơn vị, kiểm soát các tài liệu pháp lý của hồ sơ dự thầu.

    Đề xuất biện pháp thực hiện sau đấu thầu đồng báo cáo định kỳ với Tổng Giám đốc về công tác đấu thầu trên toàn Công ty.

    1. Văn phòng Công ty

    Là phòng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc và lãnh đạo Công ty để tổ chức triển khai tình hình hoạt động của Công ty, nắm bắt thông tin, phản ánh của các đơn vị; công tác hành chính, quản trị để thực hiện các hoạt động tác nghiệp; quản lý đất đai các khu tập thể của Công ty hiện đang quản lý và thực hiện ISO 9001 – 2000.

    1. Phòng khoa học kỹ thuật

    Giúp Giám đốc quản lý, hướng dẫn công tác khoa học kỹ thuật và tiếp thu công nghệ mới; Phổ biến áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đề xuất vận dụng khoa học tiên tiến vào SXKD; Chủ trì nghiên cứu phương án đầu tư chiều sâu; Phối hợp với phòng tổ chức lao động xây dựng chương trình đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân…

         4. Những đặc điểm về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm qua.

    Kể từ khi thành lập đến nay Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tạo dựng được năng lực cơ sở sản xuất mới. Các cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, nơi làm việc, phương tiện vận tải được đầu tư sửa chữa, nâng cấp và đầu tư mới, sản xuất ngày một phát triển, đời sống tinh thần và thu nhập của người lao động ngày càng tăng.

    Kết quả sản xuất Của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

                          Năm

     

    Chỉ tiêu

    2005 2006 2007 So sánh 2006/2005 So sánh 2007/2006
    Δ % Δ %
    1.GTSXKD (tr.đ) 861135 904191 1412305 43056 4,99 508114 56,19
    2.Doanh thu   (tr.đ) 576000 578724 610348 2724 0,47 31624 5,46
    3.Lợi nhuận  (tr.đ) 3500 4250 5380 750 21,43 1130 26,59
    4.Số lao động (người) 6418 6498 6679 80 1,25 181 2,78
    5.Quỹ tiền lương (tr.đ) 101220 117480 133305 16260 16,06 15825 13,47
    6.Nộp ngân sách (tr.đ) 1980 2250 2415 270 13,64 165 7,33
    7.Thu nhập bình quân (tr.đ) 1,600 1,750 1,950 0,15 9,375 0,2 11,43
    8.TLBQ (tr.đ) 15,77 18,08 19,96 2,31 14,65 1,88 10,40
    9.NSLĐ bình quân (tr.đ) 134,17 139,15 211,45 4,98 3,71 72,3 51,96

                                                                        Nguồn: Phòng tổ chức hành chính

    Theo bảng kết quả sản xuất của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 ta thấy:

    Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm vừa qua rất tốt, giá trị sản xuất kinh doanh, doanh thu tăng lên đáng kể qua các năm. Đặc biệt là thu nhập bình quân của người lao động đã tăng lên từ 1.600.000 đồng năm 2005 lên 1.950.000 đồng năm 2007 ( tăng 21,87 % ) góp phần cải thiện đời sống của CBCNV, khuyến khích họ tích cực cống hiến vì sự ổn định và phát triển của Công ty.

    Ta thấy TLBQ cũng tăng lên đáng kể, cụ thể tăng từ 18,08 ( tr.đ ) năm 2006 lên 19,96 ( tr.đ ) năm 2007, tức là tăng 1,88 ( tr.đ ), tương ứng tăng 10,40 %. Điều này rất hợp với quy luật phát triển, sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc có hiệu quả hơn.

    NSLĐ bình quân năm 2006 so với năm 2005 tăng 4,98 (tr.đ), tương ứng tăng 3,71%. Năm 2007 so với năm 2006 tăng 72,3 (tr.đ), tương ứng tăng 51,96%. Điều này phản ánh lên rằng trong năm 2007 là một năm phát triển vượt bậc. Nguyên nhân là do trong năm 2007, công ty đã có những thay đổi hợp lý trong quản lý, chất lượng nguồn nhân lực cũng được cải thiện rõ rệt…

    So sánh tốc độ tăng NSLĐ bình quân với tốc độ tăng TLBQ ta thấy NSLĐ bình quân tăng nhanh hơn TLBQ. Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất của công ty.

    Những kết quả mà Công ty đạt được trong sản xuất kinh doanh những năm qua là khá cao. Tuy nhiên, với tư cách là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, Công ty cần phải năng động hơn nữa trong sản xuất kinh doanh. Để làm được điều đó, công tác đào tạo và phát triển phải luôn bám sát mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh, đào tạo sâu về kiến thức quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của người lao động trong doanh nghiệp.

    Tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi đã tạo điều kiện cho công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực của Công ty. Nguồn kinh phí đào tạo tăng lên qua các năm do được trích từ lợi nhuận của Công ty. Bên cạnh đó, với những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh, Công ty đã tạo dựng được lòng tin và sự ủng hộ, đầu tư ngày càng lớn của Nhà nước. Vì thế, nguồn kinh phí đào tạo do Nhà nước cấp ngày càng tăng, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty có nhiều thuận lợi.

         5. Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4

    5.1. Sản phẩm và thị trường tiêu thụ

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ có tính tổng quát là tái sản xuất tài sản cố định của sản xuất và không sản xuất cho các ngành kinh tế và dịch vụ xã hội. Sản xuất và tiêu dùng xã hội ngày càng cao về quy mô và trình độ thì nhu cầu về sản phẩm xây dựng ngày càng phải gia tăng về cả số lượng lẫn chất lượng.

    Ngoài việc tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức xây dựng mới, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định không ngừng bị hao mòn hữu hình và vô hình; Vì vậy, với Công ty nói riêng và ngành xây dựng nói chung còn có nhiệm vụ khôi phục, sửa chữa, mở rộng và hiện đại hoá các loại tài sản cố định đã được sản xuất trong những chu kỳ trước đó. Tỷ trọng giữa xây dựng mới và sửa chữa, khôi phục, hiện đại hoá… tài sản số định có mối tương quan xác định.

    5.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật

    Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã đặt cho Công ty đứng trước một thử thách mới là nếu không đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất thì Công ty sẽ bị tụt hậu do năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo. Chính vì vậy trong những năm qua, Công ty xây dựng số 4 đã tiến hành đầu tư mua sắm hàng loạt máy móc thiết bị thi công tiên tiến hiện đại như hệ thống khoan cọc nhồi,  máy khoan đá,  trạm trộn bê tông AFPHAN, máy trải thảm, máy lu, xúc, ủi,… Đồng thời hệ thống máy móc thiết bị văn phòng cũng được đầu tư trang bị đầy đủ như hệ thống thiết bị liên lạc, FAX, điện thoại, hệ thống máy Vi tính , máy Foto vv.. đảm bảo đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý điều hành sản xuất nhanh, kịp thời, đạt hiệu quả.

    THỐNG KÊ MÁY MÓC TRANG THIẾT BỊ

    TT Tên tài sản Số lượng Đang  SD Tình trạng
    1 Ô tô vận tải tự đổ 21 19 Chất lượng còn 70%-90%
    2 Ô tô con 10 10 Chất lượng còn 80%-100%
    3 Máy xúc-ủi thuỷ lực 10 10 Chất lượng còn 50%-80%
    4 Máy đóng cọc 6 6 Chất lượng còn 60%-80%
    5 Máy khoan cọc nhồi 4 4 Chất lượng còn 80%-90%
    6 Máy ép cọc thuỷ lực 1 1 Chất lượng còn 70%
    7 Máy trộn bê tông 10 10 Chất lượng còn 60%-80%
    8 Các máy cắt uốn 15 15 Chất lượng còn 60%-80%
    9 Máy cưa, bào 17 17 Chất lượng còn 60%-90%
    10 Máy đầm các loại 24 24 Chất lượng còn 70%-80%
    11 Máy lu 4 4 Chất lượng còn 80%-90%
    12 Cẩu tháp 3 3 Chất lượng còn 60%-85%
    13 Vận thăng chở người 4 4 Chất lượng còn 70%-85%
    14 Máy vận thăng 8 8 Chất lượng còn 60%-85%
    15 Cẩu tự hành 4 4 Chất lượng còn 70%-85%
    16 Thiết bị đo 15 15 Chất lượng còn 75%-90%
    17 Máy vi tính 35 35 Chất lượng còn 80%-95%

    Qua bảng thống kê trên, có thể thấy rằng việc cung ứng trang thiết bị trong Công ty là tương đối đầy đủ. Hệ số sử dụng trang thiết bị khá cao, chứng tỏ Công ty đã có sự đầu tư, quan tâm đến việc sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguyên vật liệu. Điều đó không chỉ làm giảm chi phí trang bị máy móc thiết bị, chi phí sửa chữa mà còn thể hiện ý thức bảo vệ, bảo quản tài sản của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Chi phí sữa chữa, chi phí trang bị máy móc thiết bị giảm sẽ làm tăng doanh thu, góp phầm làm tăng quỹ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Công ty.

       6. Đặc điểm về lao động

    Biên chế thực tế CBCNV của Công ty hiện  nay có Tổng số trong danh sách hợp đồng dài hạn   là: 818 người –  Đây là một đội ngũ cán bộ công nhân viên kỹ thuật có tri thức, có tay nghề cao, đã từng quản lý thi công nhiều công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, luôn yêu nghề và không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề. Nhưng trong quá trình thi công các công trình, do thi công ở những địa điểm khác nhau nên Công ty phải thuê một lực lượng lao động thời vụ rất lớn tới hàng ngàn người, trong đó có nhiều lao động giản đơn, lực lượng này thường không ổn định vì nhiều người coi đây chỉ là công việc tạm bợ, luôn tìm cách chuyển nghề để mong tìm được việc khác đỡ nặng nhọc, vất vả mưa nắng lại tích luỹ được kinh nghiệm nâng cao tay nghề. Do công nghệ và kỹ thuật xây dựng mới không ngừng phát triển, Công ty cũng đã có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại để tiếp thu nhưng với đặc điểm trên, việc đào tạo huấn luyện cũng như thực thi các quy trình quản lý khá khó khăn. Bảng dưới đây cho biết số lượng và chất lượng lao động hịên có :

                    Năm 2007 2006 2005 2007/2006 2006/2005
    Chỉ tiêu Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    Tuyệt đối

     

    (người)

    Tỷ trọng

     

    (%)

    % Δ

     

    (Người)

    % Δ

     

    (Người)

    Tổng số lao động 6679 100 6498 100 6418 100 2,7 181 1,2 80
    Theo chức năng:

     

    – Lao động trực tiếp

    – Lao động gián tiếp

    5826

     

    853

    87,23

     

    12,77

    5664

     

    834

    87,16

     

    12,84

    5600

     

    818

    87,25

     

    12,75

    2,8

     

    2,3

    162

     

    19

    1,1

     

    1,9

    64

     

    16

    Theo trình độ chuyên môn:

     

    – ĐH

    – CĐ

    – TC

    – THPT

    318

     

    542

    635

    5184

    4,76

     

    8,11

    9,51

    77,62

    352

     

    512

    608

    5026

    5,42

     

    7,88

    9,36

    77,34

    286

     

    495

    588

    5049

    4,46

     

    7,71

    9,16

    78,67

    – 9,66

     

    5,86

    4,44

    3,14

    – 34

     

    30

    27

    158

    23,1

     

    3,43

    3,4

    -0,45

    66

     

    17

    20

    -23

    Theo độ tuổi:

     

    – 18 – 30

    – 31 – 45

    – 46 – 55

    –     > 55

    2368

     

    3015

    794

    502

    35,45

     

    45,14

    11,89

    7,52

    2014

     

    2895

    824

    765

    30,99

     

    44,55

    12,68

    11,78

    1989

     

    2714

    912

    803

    30,99

     

    42,28

    14,21

    12,52

    17,57

     

    4,14

    -3,64

    -34,4

    354

     

    120

    -30

    -263

    1,26

     

    6,67

    -9,65

    -4,73

    25

     

    181

    -88

    -38

    Theo giới tính:

     

    – Nam

    – Nữ

    4846

     

    1833

    72,55

     

    27,45

    4215

     

    2283

    64,87

     

    35,13

    4011

     

    2407

    62,49

     

    37,51

    204

     

    -124

    631

     

    -450

    5,08

     

    -5,15

    204

     

    -124

                                                                                    Nguồn: Phòng tài vụ

    Như vậy, tính đến cuối năm 2007, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 có tổng số lao động là 6679 người. Trong đó lao động trực tiếp là 5826 người, chiếm 87,23% tổng số cán bộ công nhân viên; lao động nam là 4846 người, chiếm 72,55%.

    Độ tuổi trung bình của người lao động là 36 tuổi, đây là độ tuổi vẫn đang ở mức sung sức. Số người trong độ tuổi < 30 tuổi và từ 31 – 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể là: số người trong độ tuổi < 30 tuổi là 2368 người, chiếm 35,45% tổng số cán bộ công nhân viên; số người trong độ tuổi 31 – 45 tuổi là 3015 người, chiếm 45,14%. Đây là nhân tố tích cực giúp cho công ty ngày càng phát triển nhưng cũng đặt ra cho ban lãnh đạo Công ty những khó khăn trước mắt về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Số lao động có trình độ đại học là 318 người, chiếm 4,76%; cao đẳng là 542 người, chiếm 8,11%; lao động trung cấp là 5184 người, chiếm 77,62%. Điều này cho thấy trình độ lao động chưa tương xứng với yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại của Công ty. Vì vậy để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài thì Công ty phải có kế hoạch đào tạo và phát triển hiệu quả nhằm nâng cao trình độ chuyen môn, nghiệp vụ cho người lao động.

        7. Những yếu tố thực tế đã ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    7.1. Các yếu tố thuận lợi.

    – Ban lãnh đạo công ty luôn đặt công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực lên hàng đầu.

    – Cán bộ công nhân viên trong công ty đều là những người có tư tưởng “cầu tiến”, ham học hỏi.

    – Cơ sở hạ tầng và mặt bằng sản xuất của công ty khá tốt.

    7.2. Các yếu tố khó khăn.

    – Địa bàn hoạt động của công ty trải khắp cả nước, công ty lại có nhiều xí nghiệp, đơn vị thành viên trực thuộc nên việc lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng nhân sự của công ty tương đối khó khăn

    – Là một doanh nghiệp nhà nước nên còn chịu nhiều ảnh hưởng của cơ chế, lề lối làm việc cũ như: tư duy, tác phong làm việc ở một số bộ phận còn lạc hậu, tính tự giác của người lao động chưa cao

    – Đội ngũ cán bộ quản lý trong công ty vừa thiếu lại vừa yếu.

    1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NNL TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    Quy trình thực hiện công tác đào tạo nhân sự của công ty:

    1. Cách xác định nhu cầu đào tạo tại công ty

    – Hàng năm dựa theo kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm đó, kế hoạch hóa nguồn nhân lực, tình hình lực lượng lao động thực tế…để xác định nhu cầu đào tạo thực tế

    – Vào quí một hàng năm, người phụ trách có liên quan cần xác định các nhu cầu đào tạo chung cho nhân viên của bộ phận mình quản lý gửi cho Trưởng phòng Tổ chức-Lao động/Người được uỷ quyền. Nhu cầu đào tạo có thể được xác định trên các cơ sở :

    + Nhân viên mới tuyển dụng

    + Yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật

    +  Các yêu cầu xuất phát từ hành động khắc phục và phòng ngừa

    + Kết quả của xem xét lãnh đạo

    Ngoài các nhu cầu đào tạo được xác định như trên, Người phụ trách có liên quan có thể đưa ra các nhu cầu đào tạo đột xuất khi thấy cần thiết để đáp ứng được yêu cầu.

    Đối với nhân viên mới tuyển dụng theo hợp đồng dài hạn, trong vòng 6 tháng kể từ ngày tuyển dụng phải được đào tạo các nội dung chủ yếu sau đây:

    + Các quy định nội quy của Công ty

    + Cơ cầu tổ chức của Công ty

    + Chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng

    + Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001-2000 của Công ty

    Đối với công nhân mới tuyển dụng theo hợp đồng ngắn hạn, thời vụ cho các dự án, trong vòng 2 tháng kể từ ngày tuyển dụng cần phải được đào tạo các nội dung chủ yếu sau đây:

    + Các quy định nội quy của Công ty

    + Biện pháp thi công, đảm bảo an toàn

    + Chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng

    + Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001- 2000 của Công ty

    + Các yêu cầu về kỹ thuật khi thấy cần thiết

    – Căn cứ số lượng, chất lượng lao động hiện có; khối lượng, mức độ phức tạp của công việc, đặc điểm thiết bị máy móc; yêu cầu kỹ năng và trình độ cần thiết để lên kế hoạch đào tạo sao cho phù hợp.

    * Nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp qua 3 năm gần đây ngày càng tăng thể hiện qua bảng dưới đây:

                   Năm

     

    Chỉ tiêu

    2005 2006 2007
    Nhu cầu đào tạo và phát triển 789 849 900
    Số người được đào tạo và phát triển 769 835 891
    Tỷ lệ phần trăm được đào tạo và phát triển ( %) 97,46 98,35 99,00

    Từ bảng trên ta thấy nhu cầu đào tạo của Công ty luôn cao hơn số người đước đào tạo là do các nguyên nhân như: phải hoãn việc học để thực hiện nhiệm vụ mới tại cơ sở mới; bị điều động nhận nhiệm vụ khác; hạn chế về trình độ văn hoá…

    Nhu cầu đào tạo tăng nhanh trong năm 2007 là do Công ty đã xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh viên chức, yêu cầu cán bộ công nhân viên chức học tập, nâng cao trình độ tay nghề…

    2.    Xác định mục tiêu đào tạo

    Từ nhu cầu đào tạo, công ty xác định mục tiêu đào tạo. Với mỗi loại nhu cầu đào tạo khác nhau, công ty có những mục tiêu đào tạo tương ứng.

    Dưới đây là bảng mục tiêu đào tạo cho các đối tượng cần được đào tạo của Công ty:

    Đối tượng. Các loại hình đào tạo. Yêu cầu, mục tiêu đặt ra.
    Công nhân trực tiếp sản xuất Đào tạo nâng bậc 100% đạt yêu cầu nâng bậc.
    Đào tạo mới Nắm vững được kiến thức và kỹ năng sau khi được đào tạo.
    Đào tạo sử dụng trang thiết bị công nghệ mới Nắm vững nguyên lý chuyển động, cấu tạo của máy, sử dụng thành thạo và an toàn máy móc thiết bị mới.
    Đào tạo an toàn lao động Sau khi được đào tạo, giảm thiểu được tối đa số vụ tai nạn lao động.
    Cán bộ, nhân viên trong Công ty. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ CBNV phải nắm vững được kiến thức, kỹ năng  liên quan đến công việc.
    Đào tạo tin học Sau khoá học đảm bảo CBNV ứng dụng kiến thức, phần mềm quản lý để vận dụng vào công việc có hiệu quả.
    Đào tạo ngoại ngữ. Có thể áp dụng được vào thực tế công việc hoặc làm việc được với chuyên gia nước ngoài.

                                                                            Nguồn: phòng hành chính

    Như vậy, ở mỗi chương trình đào tạo, Công ty đều đặt ra những yêu cầu, mục tiêu cụ thể tương ứng với mỗi nội dung đào tạo.Việc đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng đối tượng và áp dụng cho từng loại hình đào tạo đã khiến cho việc tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả được tốt hơn. Tuy nhiên, những mục tiêu này còn chưa cụ thể. Những yêu cầu đối với học viên cũng chỉ theo ý kiến chủ quan  của người xây dựng và chưa được sử dụng một cách thực sự có hiệu quả vào công tác đánh giá hiệu quả đào tạo. Mục tiêu là cái đích mà khi thực hiện một hoạt động nào đó cần phải đạt được.do vậy, đây cũng chính là một hạn chế của công tác đào tạo.

    3.    Lựa chọn đối tượng đào tạo.

    Sau khi nhu cầu đào tạo được xác định, chỉ tiêu đào tạo được phân bổ cho các đơn vị, quy định rõ cho từng cấp đào tạo, hội đồng tuyển chọn do Giám đốc Công ty làm chủ tịch tiến hành lựa chọn đối tượng đào tạo. Hội đồng sẽ xem xét kỹ yêu cầu của việc bố trí, sắp xếp lao động để đảm bảo nhiệm vụ và không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời phải chọn đúng đối tượng cần tiến hành đào tạo.

    Căn cứ vào hồ sơ nhân viên và trình độ chuyên môn nghiệp vụ hiện tại của họ để xác định xem ai còn thiếu bằng cấp, chứng chỉ thì thuộc diện đào tạo.

    Nhìn chung công tác lựa chọn đối tượng đào tạo của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá bài bản, các tiêu chuẩn lựa chọn được quy định cụ thể và rõ ràng.

    Dưới đây em xin được đưa ra một vài góp ý cho việc lựa chọn đối tượng đào tạo phù hơp thông qua bảng hỏi về nhu cầu đào tạo:

     
     
    BẢNG HỎI VỀ NHU CẦU ĐÀO TẠO

     

    “ Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phòng Tổ chức, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, tiến hành nghiên cứu, thăm dò về nhu cầu đào tạo của cán bộ công nhân viên trong Công ty. Xin anh (chị) vui lòng điền vào phiếu này ”:

    Họ và tên: ( Có thể có hoặc không )               Nam ( Nữ ):

    Tuổi:                                                                Chức danh công việc:

    Bộ phận:                                                          Trình độ học vấn:

    Thâm niên công tác:                                        Trình độ chuyên môn:

    Câu 1: Các kiến thức, kỹ năng mà anh ( chị ) đã được đào tạo?

    Chuyên ngành:……………………………………………………………..

    Tốt nghiệp trường: …………………………………………………………

    Câu 2: Anh ( chị ) có cảm thấy hài lòng với công việc hiện tại?

    * Rất hài lòng.                                       * Bình thường.

    * Hài lòng                                              * Không hài lòng

    Câu 3: Anh ( chị ) có muốn được đào tạo thêm không?

    * Rất muốn                                            * Bình thường

    * Muốn                                                  * Không muốn

    Câu 4: Ngành nghề mà anh ( chị ) muốn được đào tạo là gì?

    ………………………………………………………………………………

    Câu 5: Để nâng cao hiệu quả trong công việc, anh ( chị ) mong muốn được đào tạo thêm những kiến thức, kỹ năng gì?

    ……………………………………………………………………………….

    Câu 6: Anh ( chị ) muốn được đào tạo thêm nhằm mục đích gì?

    * Thực hiện tốt hơn công việc hiện tại

    * Tăng lương

    * Thăng tiến

    * Học hỏi thêm

    Câu 7: Anh ( chị ) muốn được đào tạo vào thời điểm nào:…………………….

    Trong bao lâu:…………………….

    Câu 8: Anh ( chị ) mong muốn được Công ty hỗ trợ nguồn kinh phí là:

    * 100%                                                   * 50%

    * 75%                                                     * 25%

    Ý kiến khác: ……………………………………………………………………

    “ Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ của Anh ( chị )!”

    1. Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo
      • Xây dựng chương trình đào tạo

    Để xây dựng chương trình đào tạo thì phòng Tổ chức cán bộ phải phối hợp với các phòng ban khác trong công ty chủ động lập kế hoạch đào tạo cho cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Chương trình đào tạo của công ty được lập có những nội dung sau:

    • Số lượng đào tạo bao nhiêu?
    • Phương pháp đào tạo
    • Chi phí đào tạo cụ thể như thế nào?
    • Địa điểm đào tạo
    • Lựa chọn giáo viên như thế nào?
    • Thời gian đào tạo
    • Phương tiện dùng trong đào tạo
    • Cán bộ trực tiếp phụ trách, cán bộ giúp đỡ
    • Hội đồng đánh giá kết quả đào tạo

    Phòng tổ chức lao động lập chương trình đào tạo, sau đó trình Giám đốc Công ty ký duyệt và làm công văn thông báo cho các đơn vị thành viên trực thuộc thực hiện theo kế hoạch được giao.

    • Các phương pháp đào tạo và phát triển tại công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    Hiện nay, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 áp dụng một số loại hình đào tạo và phát triển như sau:

    • Đào tạo mới
    • Đào tạo lại
    • Đào tạo nâng bậc
    • Bồi dưỡng nghiệp vụ

    Các phương pháp đào tạo được sử dụng tại Công ty:

    • Đào tạo tại chỗ: Với mục đích để người lao động có khả năng làm việc hiệu quả trong từng công việc cụ thể, Công ty đã tiến các hành hình thức đào tạo tại chỗ như: Dạy kèm, luân chuyển công việc, mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân kỹ thuật tại các xí nghiệp của Công ty.
    • Gửi đi đào tạo tại các trường chính quy: Công ty thường cử các cán bộ quản lý cấp cao đi học theo chỉ tiêu do Tổng Công ty xây dựng Hà nội giao xuống. Ngoài ra Công ty còn cử cán bộ công nhân viên đi học tại các trường chính quy của Nhà nước như: Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Luật,…Hình thức này thường áp dụng đối với các nhân viên văn phòng, cán bộ chuyên môn và cán bộ lãnh đạo Công ty.
    • Dự các cuộc hội nghị, hội thảo: Công ty sẽ cử những người cần thiết tham gia vào các cuộc hội thảo , hội nghị do Tổng Công ty Xây dựng Hà nội tổ chức nhằm học hỏi, nắm bắt được những thông tin cần thiết để từ đó rút ra kinh nghiệm.

    Hiện nay Công ty ngày càng chú trọng việc đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn cho công nhân kỹ thuật. Hàng năm Công ty thực hiện tổ chức các cuộc thi như chọn thợ giỏi, thi nâng bậc,… đã khuyến khích được người lao động tích cực tự nâng cao tay nghề chuyên môn của mình để có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, đồng tời tăng được số công nhân có tay nghề giỏi lên cao.

    4.    Phân tích cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn kinh phí đảm bảo cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty.

    • Việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đào tạo ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá đầy đủ và hiện đại. Công ty có địa bàn hoạt động rộng, có nhiều chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trong cả nước là điều kiện thuận lợi cho việc mở các lớp đào tạo ở nhiều nơi.
    • Nguồn kinh phí đào tạo: Huy động chủ yếu từ 3 nguồn:
    • Nguồn 1: Do tổng công ty xây dựng Hà Nội cấp, một phần cấp bằng tiền, một phần cấp dưới các hình thức mở các lớp học cho các cán bộ lãnh đạo của các công ty trực thuộc.
    • Nguồn 2: Do công ty tự bỏ ra. Nguồn này được trích từ quỹ đào tạo – phát triển mà hàng năm Công ty trích 2% lợi nhuận cho quỹ này.
    • Nguồn 3: Người lao động tự nguyện bỏ tiền ra học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của mình để tạo cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp.

    Hàng năm công ty dự tính chi phí đào tạo bằng cách:

    + Với hình thức gửi người đi đào tạo tại các trường chính quy, hay thuê giáo viên ngoài về dạy tại Công ty thì Công ty liên hệ với các trường, các giáo viên đó và qua đó dự tính được chi phí đào tạo cần thiết.

    + Với hình thức đào tạo tại Công ty và các đơn vị trực thuộc thì căn cứ vào quy định của Công ty về chi phí đào tạo cho cán bộ kiêm chức và chi phí tiền lương trả cho công nhân trong thời gian học tập sẽ xác dinh được chi phí đào tạo theo hình thức này.

    * Quỹ đào tạo, phát triển và tình hình sử dụng quỹ tại công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 được thể hiện qua bảng sau:

    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. Từ trên hỗ trợ Trđ 437,350 387,500 350,250
    2. Từ lợi nhuận công ty 489,527 565,950 685,950
    3. Từ nguồn khác 144,350 146,269 192,304
    Tổng số 1071,227 1099,719 1228,504
    4. Kinh phí sử dụng từ quỹ ĐTPT 971,215 999,719 1128,254
    5. Tình hình sử dụng quỹ % 90,66 90,91 91,84

              ( Nguồn : Báo cáo công tác đào tạo và phát triển hàng năm của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 )

    Nhìn vào bảng ta thấy quỹ đào tạo – phát triển của Công ty chưa cao. Mặt khác, do một phần quỹ đào tạo được trích từ lợi nhuận của Công ty nên quỹ đào tạo phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Đây là một điều bất lợi vì khi Công ty sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, lợi nhuận thấp sẽ dẫn đến quỹ đào tạo và phát triển giảm. Điều này gây khó khăn cho công tác đào tạo và phát triển của Công ty.

    Tình hình sử dụng quỹ là khá cao, cho thấy nhu cầu đào tạo của Công ty là rất lớn. Đây có thể coi là thuận lợi ban đầu vì vừa đáp ứng được phần lớn nhu cầu đào tạo và phát triển của cán bộ công nhân viên trong Công ty, vừa tích lũy được kinh phí cho đào tạo.

    Trong thực tế, việc lập kế hoạch và quản lý kinh phí đào tạo của Công ty được thực hiện tương đối tốt. Công ty đã chủ động trong việc dự tính chi phí, phân bổ chi phí cho từng khâu đào tạo, từng nội dung đào tạo một cách cụ thể, chi tiết, tạo điều kiện cho các chương trình đào tạo được thực hiện dễ dàng hơn.

    5.    Lựa chọn và đào tạo giáo viên.

    Đối với hình thức đào tạo tại chỗ thì công ty sẽ lựa chọn các cán bộ quản lý, kỹ thuật có kinh nghiệm, chuyên môn, tay nghề cao…để đảm nhiệm công tác giảng dạy.

    Đối với hình thức đào tạo gửi đi các trường chính quy thì công ty sẽ quan tâm nhất vào việc lựa chọn các trường có uy tín, tiếp đó là lựa chọn trường thuận lợi cho việc đi lại học tập của cán bộ công nhân viên và sau cùng là chi phí học tập thấp nhất.

    Trong những năm qua công tác lựa chọn giáo viên của Công ty là khá tốt. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên chỉ được tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong thời gian ngắn nên chưa đủ để họ có nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Điều này gâp khó khăn trong việc truyền đạt cho học viên.

    6.    Tổ chức và quản lý công tác đào tạo.

    Công tác này được công ty quy định rõ trong trách nhiệm của các phòng trong công ty. Đặc biệt đối với Phòng Tổ chức lao động của Công ty có những trách nhiệm sau:

    • Xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí đào tạo; dự kiến phân bổ chỉ tiêu đào tạo. Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện các kế hoạch đã được phê duyệt.
    • Tập hợp các đề nghị của các đơn vị, đề xuất trình lãnh đạo Công ty duyệt các đối tượng thuộc diện đào tạo hàng năm. Thực hiện các thủ tục cử cán bộ, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng tại các trường trong và ngoài Công ty.
    • Theo dõi, tổng hợp báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng định kỳ tháng, quý, năm với lãnh đạo Công ty, Tổng Công ty quy định .
    • Phối hợp cùng các phòng để thực hiện các hoạt động thi đua, khen thưởng, kỷ luật và kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị.
    • Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên kiêm chức về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, giảng dạy tay nghề tại Công ty, đơn vị.
    • Tập hợp đề xuất báo cáo Giám đốc Công ty xem xét quyết định thu tiền bồi dưỡng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ công nhân viên bỏ việc, chuyển khỏi Công ty vì lý do cá nhân khi chưa đủ thời gian phục vụ trong Công ty quy định.

    7.    Đánh giá hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    1. Các căn cứ đánh giá.
    • Đối với cán bộ công nhân viên được cử đi học tại các trường chính quy thì Công ty căn cứ vào bảng điểm kết quả đào tạo sau khóa học của họ để đánh giá trình độ năng lực của họ.
    • Đối với công nhân được đào tạo theo kiểu kèm cặp tại Công ty thì Công ty đánh giá kết quả đào tạo thông qua việc thi sát hạch cả về lý thuyết, thực hành và tác phong công nghiệp sau mỗi khóa học.

    Qua đây ta thấy việc đánh giá hiệu quả đào tạo của Công ty được thực hiện khá tốt.

    • Ngoài ra việc đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn được thực hiện thông qua phiếu đánh giá hiệu quả đào tạo:
    PHIẾU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO

     

    1.      Anh/chị hiện đang làm việc ở bộ phận:

    ………………………………………………………………………………………

    2.      Theo anh /chị, tham gia các khóa đào tạo trong công ty là:

    * Rất có ích                                                     * Bình thường

    * Lãng phí

    Lý do: ……………………………………………………………………………….

    3.      Đánh giá của anh/chị về các phương pháp đào tạo được áp dụng trong các khóa học

    * Rất phù hợp                                                   * Phù hợp

    * Bình thường                                                   * Không phù hợp

    * Rất không phù hợp

    4.      Đánh giá của anh/chị về giáo viên giảng dạy trong các khóa đào tạo:

    * Rất tốt                                                            * Chư nhiệt tình

    * Chuyên môn nghề thấp                                  * Không quan tâm

    * Ý kiến khác, cụ thể:…………………………………………………………..

    5.      Đánh giá của anh/chị về các vấn đề sau của chương trình đào tạo.

    Nội dung Mức độ
    Kém Trung bình Khá Tốt
    Ý nghĩa thực tiễn        
    Giúp ích cho công việc đang làm        
    Mức độ hiệu quả trong sử dụng thời gian        
    Rõ ràng, dễ hiểu        
    Tài liệu học tập được trang bị        
    Cơ sở vật chất và trang bị phục vụ khóa học        
    Khả năng vận dụng những kiến thức được học vào công việc thực tế        

    6.      Những gì anh/chị muốn được học thêm từ khóa học?

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    7.      Anh/chị có đề nghị gì về việc sửa đổi các khóa học không?

    ………………………………………………………………………………………

    III. Hiệu quả cụ thể của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    1. Số lượng đào tạo:
    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. Số lượng người được đào tạo Người 769 835 891
    2. Tỷ lệ đạt yêu cầu % 100 100 100
    3. Tỷ lệ khá giỏi % 40,2 52,4 60,5
    4. Tổng chi phí cho đào tạo Trđ 971,215 999,719 1128,254
    5. Chi phí đào tạo bình quân/người Trđ 1,26 1,19 1,27

    ( Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 )

    Nhìn vào bảng ta thấy số lượng người được đào tạo qua các năm liên tục tăng, điều này cho thấy Công ty ngày càng chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển cho cán bộ công nhân viên.

    1. Chất lượng đào tạo

    Cũng qua bảng trên ta thấy chất lượng đào tạo của Công ty ngày càng tăng, thể hiện: Tỷ lệ đạt yêu cầu luôn ở mức 100%, tỷ lệ khá giỏi tăng hàng năm, cụ thể: năm 2005 là 40,2%, năm 2006 là 52,4%, và năm 2007 là 60,5%.

    1. Hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của công ty còn được biểu hiện qua sự tăng lên của năng suất lao động. Điều này được thể hiện cụ thể qua bảng dưới đây:
    Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
    1. NSLĐ bình quân của 1 lao động Tr.đ/người 134,17 139,15 211,45
    2. TNBQ đầu người 1,60 1,75 1,95
    3. Tỷ lệ tăng NSLĐ %   + 3,71 + 51,96
    4. Tỷ lệ tăng thu nhập %   + 9,375 + 11,43

                                                                   ( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính )

    Nhìn vào bảng ta thấy nhờ có công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mà trình độ năng lực tay nghề chuyên môn của người lao động được nâng lên đáng kể góp phần làm tăng NSLĐ bình quân của 1 lao động qua các năm. Đặc biệt so với năm 2006 thì NSLĐ bình quân 1 lao động trong năm 2007 tăng lên một cách đáng kể, cụ thể tăng từ 139,15 (triệu đồng / người) lên 211,45 ( triệu đồng / người ), tương ứng tăng 51,96%. Kết quả tăng lên đáng kể này là do trong năm 2007 Công ty đã tiến hành phương thức sản xuất kinh doanh mới; máy móc thiết bị được trang bị mới, hiện đại; lực lượng lao động được đào tạo mới và đào tạo lại một cách bài bản đã làm cho trình độ tay nghề của lực lượng lao động được nâng lên đáng kể. Điều này tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất hiệu quả hơn, doanh thu của Công ty cũng tăng lên đáng kể. Do đó TNBQ đầu người trong năm 2007 tăng lên 11,43% so với năm 2006.

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG III:

    MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NNL TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1. ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰCCỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1.    Quan điểm, định hướng chiến lược, mục tiêu của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4.

    • Quan điểm, định hướng chiến lược về đào tạo và phát triển
    • Thống nhất quản lý công tác đào tạo – phát triển trong toàn Công ty…
    • Xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực dài hạn trong toàn Công ty để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH-HĐH.
    • Tập trung chủ yếu vào đào tạo nhân lực có tri thức
    • Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác đào tạo, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo, phát triển
    • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
      • Mục tiêu đào tạo và phát triển

    Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao trình độ năng lực cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty…để ngày càng nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên  trong toàn Công ty.

    II.               MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 4.

    1.    Hoàn thiện việc xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    Để xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực một cách chính xác thì công tác phân tích công việc và đánh giá khả năng thực hiện công việc của cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 phải được thường xuyên.

    Để đánh giá chính xác việc thực hiện công việc thì Công ty cần thực hiện tốt một số công việc sau:

    • Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc
    • Lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp
    • Lựa chọn thời điểm và chu kỳ đánh giá
    • Lựa chọn và huấn luyện những người làm công tác đánh giá
    • Công tác đánh giá phải tiến hành một cách công khai, nghiêm túc, công bằng, phải có thông tin phản hồi về nội dung, phạm vi và các kết quả đánh giá với cán bộ công nhân viên của mình.

    Phân tích công việc là tiến trình xác định một cách có hệ thống các nhiệm vụ và các kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong một tổ chức. Đối với từng công việc, phân tích công việc cho thấy đó là công việc gì? Để thực hiện công việc đó, người lao động cần phải thực hiện những nhiệm vụ gì và phải có những kiến thức, kỹ năng nào cần phải đào tạo cho công nhân viên. Để tiến trình phân tích công việc được thành công, Công ty phải thực hiện tuần tự các bước sau:

    • Bước 1: Tiến hành xác định mục đích sử dụng phân tích công việc
    • Bước 2: Xác định những công việc hay là vị trí đặc trưng cần phân tích.
    • Bước 3: Tiến hành lựa chọn các phương pháp khác nhau cho phù hợp với mục tiêu của phân tích công việc
    • Bước 4: Tiến hành thu thập thông tin
    • Bước 5: Tiến hành tổng hợp thông tin theo mục tiêu ban đầu đặt ra và kiểm tra xác minh lại mức độ chính xác của thông tin
    • Bước 6: Tiến hành xây dựng mô tả bản công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện

    2.    Nâng cao cơ sở vật chất cho học tập.

    Cơ sở vật chất cho đào tạo đóng vai trò rất lớn trong việc quyết định hiệu quả của công tác đào tạo. Với cơ sở vật chất hiện đại, các học viên sẽ tiếp thu được những kiến thức dễ dàng hơn, đồng thời tiếp cận được với những công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến rất có lợi cho học viên. Ngược lại, với cơ sở vật chất yếu kém thì việc giảng dạy sẽ rất khó khăn và gây nhiều cản trở cho người học.

    Cơ sở vật chất cho đào tạo của Công ty không quá yếu kém nhưng việc đầu tư cho công tác Đào tạo & Phát triển luôn là cần thiết và phải được quan tâm đúng mức. Việc khối lượng lớn các học viên được học tập hàng năm đã khiến cho cơ sở vật chất của Công ty dần dần không đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Mặt khác đó lại là những cơ sở vật chất được sử dụng nhiều năm qua, ít được cập nhật nên việc tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo là rất cần thiết.

    Nhìn qua chi phí đào tạo của các khoá đào tạo ta có thể thấy hàng năm Công ty đã chi rất nhiều cho công tác đào tạo, vì vậy việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng của việc học tập sẽ giúp cho Công ty giảm bớt được chi phí cho đào tạo trong tương lai, hơn nữa còn tạo được sự hài hoà giữa nội dung chương trình đào tạo và cơ sở vật chất của nó. Nếu mỗi năm Công ty trích khoảng 10% chi phí đào tạo để nâng cấp cơ sở vật chất thì có thể đảm bảo rằng hệ thống đào tạo của Công ty không những đáp ứng được nhu cầu đào tạo mà nó còn là hệ thóng đào tạo hiện đại với công nghệ cao.

    Nhưng ngoài các khoá đào tạo được tổ chức tại Công ty , còn rất nhiều khoá học phải tổ chức ở ngoài, cơ sở vật chất hoàn toàn là của các trung tâm, trường lớp nhận đào tạo. Do đó việc lựa chọn nguồn cung cấp dịch vụ đào tạo cũng được quan tâm đúng mức. Thực ra công tác này không được coi trọng lắm vì Công ty có rất ít sự lựa chọn các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo.

    3.    Tạo động lực cho người được đào tạo

    Đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho cán bộ công nhân viên mới chỉ là yếu tố quan trọng ban đầu, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để bộ máy quản trị Công ty hoạt động có hiệu quả. Nhân viên có năng lực, điều đó chưa có nghĩa là họ làm việc tốt. Vậy làm thế nào để phát huy khả năng tiềm tàng trong mỗi nhân viên, làm thế nào để nhân viên trung thành với công ty, làm việc tận tụy hết mình và luôn có gắng tìm tòi sáng tạo để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn? Đó là khoa học và nghệ thuật lãnh đạo của các quản trị gia. Để làm được điều này, Công ty cần phải tạo động lực để kích thích người lao động.

    Tạo động lực sẽ làm cho người lao động trở lên hưng phấn, hăng hái hơn trong công việc, họ có ý thức hoàn thiện mình hơn. Chính vì vậy Công ty nên áp dụng các hình thức sau:

    • Người lao động sau khi được đào tạo phải được Công ty bố trí công việc phù hợp với trình độ khả năng của họ.
    • Tăng cường công tác thưởng, phạt đối với người lao động: thưởng cho những ai hoàn thành tốt chương trình đào tạo, có kết quả học tập cao, có những sáng kiến mang lại lợi ích cho Công ty, tạo cơ hội thăng tiến cho người được đào tạo như đề bạt, tăng lương…Ngược lại, những ai không hoàn thành chương trình đào tạo, không qua các đợt thi giữ bậc nếu không bị hạ bậc lương thì cũng phải bị giảm trừ tiền thưởng trong tháng hoặc tiền thưởng cuối năm.
    • Hàng năm, Công ty nên thường xuyên tổ chức các cuộc thi thợ giỏi ở một số nghề chủ yếu. Đây cũng là một hình thức khuyến khích, tác động tích cực đến tinh thần học tập, sáng tạo của người lao động trong Công ty.
    • Ngoài ra, để tạo bầu không khí hăng say, tích cực học tập, nâng cao trình độ của người lao động và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo – phát triển nguồn nhân lực ở từng chi nhánh, xí nghiệp, Công ty nên tổ chức các đợt thi đua giữa các đơn vị xem đơn vị nào có hiệu quả đào tạo cao nhất.

    4.    Mở rộng các hình thức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Mỗi phương pháp đào tạo và phát triển đều có những điểm mạnh và yếu riêng của nó nên Công ty cần áp dụng một cách linh hoạt các phương pháp khác nhau để đào tạo và phát triển, không nên chỉ áp dụng cứng nhắc một vài phương pháp nhất định. Tuy nhiên, để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thực sự thành công thì trong bất kỳ hình thức nào, bộ phận làm công tác này trong Công ty cũng cần lưu ý một số nguyên tắc sau:

    • Khi bắt đầu đào tạo phải cung cấp cho học viên kiến thức chung về các vấn đề sẽ học.
    • Sử dụng nhiều ví dụ để minh họa khi cung cấp cho học viên các tư liệu, kiến thức mới.
    • Cố gắng tối đa để các tình huống trong đào tạo giống với thực tế .
    • Học viên tiếp thu kiến thức bằng thực hành sẽ mau nhớ, lâu quên.
    • Để đạt được các kết quả tốt, học viên cần phải tham gia tích cực, chủ động vào quá trình đào tạo. Công ty thường xuyên nên tham gia vào các cuộc hội thảo, thảo luận nhóm, trình bày trước các học viên khác ý kiến của mình, các cuộc thi giữa các nhóm…để thu hút học viên tham dự.

    5.    Mở rộng và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đào tạo, phát triển.

    Như phân tích ở trên ta thấy nguồn kinh phí cho đào tạo – phát triển của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 khá hạn hẹp. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tính hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển của Công ty. Chính vì vậy quỹ đào tạo phải được tăng cường sẽ làm cho cán bộ quản lý mạnh dạn hơn trong việc hoạch định và thực hiện phương pháp đào tạo.

    Để tăng nguonf kinh phí cho đào tạo, Công ty nên trích một khoản từ lợi nhuận của Công ty. Bên cạnh đó cần đề nghị Tổng Công ty xây dựng Hà nội tăng cường thêm cho quỹ đào tạo. Muốn được như vậy cần có chính sách và chiến lược cụ thể về công tác đào tạo và phát triển.

    6.    Xây dựng hệ thống đánh giá kết quả đào tạo và phát triển chi tiết, chính xác

    Việc đánh giá hiệu quả công tác đào tạo và phát triển của Công ty sau mỗi khóa học vẫn chưa được tổ chức thường xuyên và kỹ càng, mới chỉ dừng lại ở việc xem xét kết quả học tập của học viên thông qua bảng điểm, chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp,…Để việc đánh giá kết quả đào tạo được chính xác, Công ty cần có thêm các biện pháp như sau:

    • Thu thập thông tin phản hồi thông qua các bảng hỏi, các phiếu điều tra hoặc trực tiếp phỏng vấn.
    • Phỏng vấn, sát hạch những kiến thức, kỹ năng mà học viên đã được học để xem họ áp dụng vào thực tế như thế nào.
    • Tham khảo ý kiến của cán bộ quản lý, cấp trên trực tiếp của những người mới được đào tạo về những tiến bộ, những hạn chế còn tồn tại của họ sau quá trình đào tạo.
    • Tiến hành sao sánh những người được đào tạo và chưa qua đào tạo để thấy được sự chênh lệch.

    7.    Một số biện pháp khác

    • Gắn năng suất lao động với kết quả của đào tạo và phát triển.

    Việc đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo là rất quan trọng vì nó giúp cho doanh nghiệp có những thay đổi nhằm cải thiện chất lượng lao động thông qua nâng cao hiệu quả của nó. Việc đánh giá này có thể dựa trên nhiều tiêu thức nhưng tiêu thức quan trọng nhất là hiệu quả thực hiện công việc của người lao động sau đào tạo. Hiệu quả đó được thể hiện thông qua năng suất lao động. Mục tiêu của đào tạo là tăng cường hiệu quả thực hiện công việc, nếu không làm được điều này thì doanh nghiệp không cần phải thực hiện đào tạo cho phí thêm một khoản chi phí. Do đó nếu năng suất lao động tăng lên chứng tỏ hiệu quả của công tác đào tạo được nâng lên một mức. Và nhìn vào năng suất lao động có thể thấy được hai điều đó là doanh nghiệp đang thực sự phát triển và thứ hai là công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp được thực hiện rất tốt. Có thể coi năng suất lao động là một chỉ tiêu dựa vào đó hoàn thiện hơn công tác Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    • Có biện pháp sử dụng hợp lý lao động sau đào tạo:

    Việc sử dụng nguồn nhân lực sau khi đào tạo là rất quan trọng và cũng rất phức tạp. Nếu sử dụng hợp lý nguồn lực này sẽ tạo ra một tác dụng to lớn đối với việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Nguồn nhân lực sau đào tạo có chất lượng cao hơn, không những có thể thực hiện tốt hơn các công việc hiện tại mà còn có thể đảm nhiệm được những công việc ở vị trí cao hơn, tạo ra giá trị nhiều hơn cho Công ty. Nếu không sử dụng tốt , sẽ gây lãng phí các nguồn lực. Nhưng thực tế việc sử dụng, bố trí nguồn lực này rất phức tạp vì sau khi được đào tạo, trình độ của người lao động được tăng lên và có thể làm việc ở những vị trí cao hơn nhưng nếu không có những vị trí cao hơn nào trống thì họ vẫn phải làm việc tại vị trí cũ.

    Có những nhân viên, sau khi được đào tạo, tay nghề được nâng lên sau đó đã chuyển khỏi Công ty. Đây là thực tế không nhiều những cũng gây lãng phí quỹ đào tạo và cần phải được kiểm soát chặt chẽ hơn. Người lao động sau khi được đào tạo luôn muốn được thăng tiến, chính vì thế có thể sử dụng nó để níu giữ nhân tài.

    • Sử dụng kết quả của công tác quản lý nhân sự khác vào việc quản lý đào tạo.

    Quản lý nhân sự là một hoạt động quản lý mang tính hệ thống và các hoạt động của nó có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau. Trong công tác Đào tạo & Phát triển nguồn nhân lực thì việc sử dụng các kết quả của các công tác quản lý khác là rất cần thiết vì nó sẽ tăng cao mức độ khoa học và chính xác, loại bỏ những sai xót. Một số công cụ có thể sử dụng như kết quả phân tích công việc, các bảng đánh giá thực hiện công việc, …

    KẾT LUẬN

     

    Hiện nay khoa học và công nghệ ngày càng phát triển như vũ bão, nhưng cho dù khoa học và công nghệ có phát triển như thế nào đi chăng nữa, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò ngày càng trở nên quan trọng trong tổ chức. Con người được đào tạo, phát triển với đầy đủ trình độ kiến thức và kỹ năng cần thiết sẽ là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của bất kỳ một tổ chức nào.

    Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty và hiểu được đào tạo – phát triển là cách tốt nhất để có thể sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó, Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng đã, đang và chú trọng hơn nữa đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhan lực nhằm có được một đội ngũ lao động có dủ trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề cần thiết đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc và sự phát triển vững chắc của Công ty trong môi trường kinh tế đầy cạnh tranh hiện nay.

    Qua thời gian thực tập, tìm hiểu và thực hiện đề tài này ở Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4, em nhận thấy công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng tác động đến việc tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Mai Quốc Chánh và các cô chú, anh chị trong phòng Tổ chức lao động – Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng số 4 đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài chuyên đề này.

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     Sách:

    1. Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu. (2000). Kinh tế lao động. NXB Lao động
    2. Lê Thanh Tâm; Ngô Kim Thanh.(2003). Giáo trình quản trị doanh nghiệp. NXB Lao động xã hội.
    3. Lưu Thị Hương.(2005). Giáo trình tài chính doanh nghiệp.NXB thống kê.
    4. Ngô Hoàng Thy.(2004). Đào tạo nguồn nhân lực. NXB Trẻ.
    5. ThS.Nguyễn Vân Điềm & PGS.TS.Nguyễn Ngọc Quân.(2004). Quản trị nhân lực. NXB Lao Động-Xã Hội.

    Internet:

    1. Đánh giá nhu cầu đào tạo như thế nào

    www.business.gov.vn/advice.aspx?id=210 – 27k

    1. Đào tạo và huấn luyên nhân viên

    www.unicom.com.vn/forum/Default.aspx?g=posts&t=191 – 21k

    1. Đào tạo theo yêu cầu công việc

    http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/nghiencuutraodoi/2005/5/14253.ttvn

    1. Xây dựng chương trình đào tạo

    http://tamly.hnue.edu.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=17


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NG%C3%82N-H%C3%80NG-%C4%90I%E1%BB%86N-T%E1%BB%AC-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-V%C3%80-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Lời nói đầu

     

    Trong những thập niên gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin và khoa học viễn thông đã làm một cuộc cách mạng trong thương mại. Các phương pháp kinh doanh truyền thống đã và đang dần dần được thay thế bằng một phương pháp mới. Đó chính là thương mại điện tử mà “xương sống” của nó là công nghệ thông tin và Internet.

    Thương mại điện tử đã đưa ra một giải pháp hữu hiệu, một hướng đi trực tiếp trong việc trao đổi thông tin , hàng hoá, dịch vụ và mở rộng quy mô thị trường, thị trường không biên giới. Chính cuộc cách mạng về quy mô thị trường này đã trở thành động lực cho một cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng hướng tới một hệ thống thanh toán phù hợp với yêu cầu của thị trường thương mại điện tử. Điều này đã tạo ra một dịch vụ ngân hàng mới, dịch vụ ngân hàng điện tử.

    Để hội nhập với các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC chuẩn bị cho tiến trình ra nhập WTO, việc tìm kiếm một giải pháp toàn diện chuyên nghiệp nhằm tiến hành thương mại điện tử, hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu là một điều hết sức bức thiết đối với đất nước ta. Đi đôi với xu hướng chiến lược toàn cầu của quốc gia, ngành ngân hàng Việt Nam  cũng đã có những bước đi đáng kể. Đầu tiên phải kể đến là sự xoá bỏ độc quyền nhà nước trong hệ thống ngân hàng. Tiếp đến là công cuộc đổi mới cải tiến hệ thống ngân hàng. Bên cạnh dịch vụ tín dụng truyền thống, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng đã xuất hiện và đạt được những thành công đáng kể. Dịch vụ tài chính cho cá nhân này rất đa dạng, bao gồm  rút tiền tự động, chuyển tiền, thanh toán thẻ, thanh toán qua mạng…Đó chính là bằng chứng của sự hình thành và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Trong bài khoá luận này, tôi xin trình bày một số khái niệm cơ bản về dịch vụ ngân hàng điện tử, hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của cô giáo Lê Thị Thanh trong thời gian tôi thực hiện khoá luận.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương I: Tổng quan về ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược về ngân hàng điện tử

     

    1.         Sự thay đổi cơ bản trong ngành ngân hàng và khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    Công nghệ ngân hàng ngày nay đã và đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Rất nhiều nhân tố dẫn tới sự thay đổi này được đưa ra trong quá trình nghiên cứu thị trường ngân hàng thế giới.

    Ngày nay, một sợi cáp quang mảnh bằng sợi tóc trong một giây có thể truyền một lượng thông tin chứa đựng trong 90 nghìn cuốn từ điển bách khoa. Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế các quốc gia. Riêng về máy tính điện tử, cứ 18 tháng tổng công suất tính toán của các máy lại tăng gấp đôi. Ước tính toàn thế giới có khoảng 1 tỷ đường dây thuê bao điện thoại, 340 triệu người sử dụng điện thoại di động. Ở Mỹ hiện nay, 90% dân số sử dụng Internet.

    Nhân loại đang sống trong thời kỳ “tin học xã hội hoá”. Sự phát triển công nghệ thông tin đã gây một ảnh hưởng vô cùng lớn tới hệ thống ngân hàng, nhân viên ngân hàng và người sử dụng dịch vụ ngân hàng. Internet và máy tính đã mở ra cho chúng ta một hệ thống thanh toán rộng khắp toàn thế giới, tiến tới một thế giới thanh toán không dùng tiền mặt, nhanh gọn, an toàn và chính xác.

    Thuật ngữ “Ngân hàng điện tử” đối với nhiều người có vẻ khó hiểu và xa lạ. Thực ra rất nhiều ứng dụng của “Ngân hàng điện tử” đang phục vụ cho bạn. Bạn rút tiền từ một máy rút tiền tự động, trả tiền cho hàng hoá và dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiểm tra số dư tài khoản qua mạng hay điện thoại, công ty của bạn giao dịch với các đối tác qua thư điện tử, điện tín, fax, điện thoại…, tất cả những hoạt động tương tự như vậy đều có thể gọi là dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    Càng ngày, các ngân hàng và các tổ chức tài chính trên thế giới càng nhận thấy tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử” để củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường.

    Vậy “Ngân hàng điện tử” là gì và vì sao nó lại có tầm  quan trọng và được ứng dụng rộng khắp thế ?

    “Ngân hàng điện tử” tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là E- Banking. Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về “Ngân hàng điện tử”, song nhìn chung “Ngân hàng điện tử” được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Nói ngắn gọn, “Ngân hàng điện tử” là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử.

    Các nghiên cứu về thị trường ngân hàng còn cho thấy rằng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng truyền thống đang nhanh chóng được thay thế bởi một thế hệ khách hàng mới, có trình độ học vấn cao, và đòi hỏi cao về các dịch vụ tài chính ngân hàng.

    Bạn rất bận rộn với công việc kinh doanh của mình. Trong đó , phần lớn thời gian là để dành cho các công việc giao dịch và quản lý tài chính. Bạn rất ngại trước việc hoàn tất một lô giấy tờ thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. Bao nhiêu rủi ro khi đi giao dịch với một số lượng lớn tiền mặt… Còn các ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh và mở rộng mạng lưới của họ thì phải đối mặt với vấn đề thuê văn phòng làm việc, thuê thêm nhiều nhân viên để làm các công việc đơn giản tẻ nhạt như đếm tiền hay trực điện thoại.

    “Ngân hàng điện tử” sẽ mang lại cho một hướng giải quyết hiệu quả cho cả người cung cấp lẫn người sử dụng dịch vụ ngân hàng.

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CỦA GIAO DỊCH “NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ”

     

    2.         Các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”

    Ngân hàng điện tử là một ngành dịch vụ đòi hỏi một cơ sở công nghệ kỹ thuật cao, vốn lớn. Ngành dịch vụ này thường đi đôi với một nền kinh tế phát triển trình độ dân trí phát triển ở một mức độ nhất định.

     

    2.1     Điện thoại, điện thoại di động

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại nói chung và ngân hàng nói riêng. Trong sự gia tăng của số lượng thuê bao điện thoại và điện thoại di động, ngân hàng thương mại  với trang thiết bị ” hộp thư trả lời tự động” kết nối với máy chủ ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng qua điện thoại như cung cấp số dư tài khoản, báo mất thẻ tín dụng…Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn. Tuy nhiên, công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, kết thúc giao dịch vẫn phải dùng nhiều giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài, quốc tế vẫn còn cao.

    Điện báo, Fax có thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh, lời văn. Nhưng chúng cũng có một số mặt hạn chế như không thể truyền tải được hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và các hình ảnh phức tạp.

    2.2     Thiết bị thanh toán điện tử

    Một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta cũng như trên thế giới là nền kinh tế với hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt.

    Một thiết bị điện tử có đầu đọc dải điện tử được kết nối với mạng ngân hàng, mạng liên ngân hàng cho phép truyền tải, kiểm  tra các thông tin từ tấm thẻ nhựa của người mua hàng từ các địa điểm bán hàng, nơi lắp đặt máy, về các ngân hàng của chủ thẻ đó và thực hiện các giao dịch thanh toán. Với tấm thẻ nhựa (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thông minh…) bạn có thể mua hàng hoặc dịch vụ mà không cần tiền mặt. Ngân hàng sẽ thay mặt bạn thanh toán với nơi bán hàng.

    Một thiết bị điện tử quan trọng khác đó là máy rút tiền tự động. Nó cho phép bạn gửi tiền vào tài khoản, chuyển tiền và rút tiền tự động.

    2.3     Máy tính, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, mạng liên ngân hàng

    Mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một ngân hàng và các liên lạc mọi kiểu giữa các máy tính trong ngân hàng đó. Đó có thể gọi là mạng kết nối các máy tính gần nhau (mạng cục bộ – LAN) hoặc kết nối các máy tính trong khu vực diện rộng (mạnng miền rộng – WAN).

    Các ngân hàng và tổ chức tài chính liên hệ với nhau bằng mạng liên ngân hàng (Interbank, SWIFT…)

    2.4     Internet và Web

    Một cách tổng quát, Internet là một mạng diện rộng. Là tập hợp hàng ngàn các mạng máy tính trải khắp thế giới. Internet giúp cho hàng triệu người dùng trên trái đất có thể thông tin liên lạc với nhau. Nó là nguồn tài nguyên thông tin vô giá. Sự phát triển nhanh chóng của nó đã khiến cho nó có thêm một cái tên mới là “Siêu lộ thông tin”.

    Lịch sử ra đời của Internet có thể xem như được bắt đầu từ năm 1969 với dự án ARPANET của Bộ quốc phòng Mỹ. Mô hình này nhanh chóng được người Mỹ nhân rộng ra các lĩnh vực khác với quy mô ngày càng lớn. Và khi có sự liên kết các mạng máy tính thuộc các lĩnh vực khác nhau, khu vực và các quốc gia khác nhau thì mạng Internet  toàn cầu ra đời.

    Sự bùng nổ trong sử dụng Internet có lẽ nhờ một phần của cái gọi là dịch vụ tra cứu văn bản, dịch vụ thông tin toàn cầu goi là Web. Web được Tim Berners Lee triển khai lần đầu tiên vào năm 1989 tại phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân Châu Âu (CERN) ỏ Geneva, Thuỵ sĩ. Các nhà phát triển tại CERN đã làm cho Web bao trùm hầu hết các hệ thống mạng trước đó. Cho đến 1993 Web mới bắt đầu được chấp nhận rộng rãi.

    Thương mại thế giới nói chung và “Ngân hàng điện tử”  nói riêng đang trong tiến trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá. Internet và Web là các phương tiện đã đạt được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao.

     

    3.         Những tiến bộ do dịch vụ Ngân hàng điện tử mang lại

    Sự ra đời và phát triển của dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội.  Vậy chúng ta hãy xem xét những tiến bộ do ngành dịch vụ này mang lại.

     

    3.1     Lợi ích cho ngân hàng

    Các tiến bộ của công nghệ thông tin đã nhanh chóng được áp dụng trong ngành ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngân hàng.

     

    3.1.1  Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp giảm chi phí trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng ít giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều. Mạng, máy chủ và các máy tính cá nhân giúp rút ngắn thời gian cho công việc làm thủ tục, tìm kiếm và chuyển giao tài liệu. Tiếp đến là chi phí nhân viên. Một máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ và thay cho rất nhiều nhân viên.

    Bằng phương tiện Internet/Web Ngân hàng và khách hàng có thể tìm hiểu thông tin, giao dịch thường xuyên hơn, cập nhật hơn. mà do vậy làm giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.

    Bảng 1: Tốc độ và chi phí truyền gửi

     (Dành cho một đơn vị bộ tài liệu 40 trang, khoảng 100g)

    ĐƯỜNG TRUYỀN THỜI GIAN CHI PHÍ (USD)
    New York đi Tokyo    
    Qua bưu điện thông thường 5 ngày 7,40
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 26,25
    Fax 31 phút 28,83
    Internet 2 phút 0,10
    New York đi Los Angeles    
    Qua bưu điện thông thường 2-3 ngày 3,00
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 15,50
    Fax 31 phút 9,36
    Internet 2 phút 0,10

    (Nguồn: Ban thương mại điện tử, Bộ Thương Mại)

    Hệ thống mạng phá bỏ sự ràng buộc về không gian và thời gian. Các ngân hàng có thể mở nhiều chi nhánh ở các nước khác nhau mà không gặp khó khăn gì trong việc theo dõi quản lý tình hình hoạt động của các chi nhánh.

    3.1.2. Đa dạng hoá dịch vụ và sản phẩm

    Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta nghĩ ngay đến việc vay, cho vay, gửi tiền và các dịch vụ bán buôn khác như thanh toán xuất nhập khẩu và mua bán ngoại tệ. Do vậy mà sự khác biệt giữa dịch vụ ngân hàng này với ngân hàng khác là rất ít.

    Ngày nay, dịch vụ ngân hàng đang vươn tới từng người dân. Đó là dịch vụ ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ. Rõ ràng, lợi nhuận thu được từ dịch vụ bán lẻ không thể bằng bán buôn. Hơn thế nữa, chi phí cho việc cung cấp một dịch vụ tài khoản của một cá nhân cũng chẳng nhỏ hơn cho một công ty là bao. “Ngân hàng điện tử”, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độc cao và liên tục. Nếu như trước kia các ngân hàng chỉ phục vụ một số lượng nhất định các công ty, thì nay, một thị trường hàng tỷ dân đang mở ra trước mắt họ. Và thế là các ngân hàng đua nhau hiện đại hoá hệ thống tin học của họ, tung ra thị trường một loạt các dịch vụ mới như “phone banking”; “Internet banking”, chuyển và rút tiền tự động…làm  cho dịch vụ ngân hàng trở nên phong phú và phổ biến rộng rãi.

    3.1.3. Cạnh tranh và tồn tại

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi và bền vững. Bạn sẽ sẵn sàng từ bỏ một ngân hàng mà nơi đó bạn phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền để đi tới một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác và thực hiện nhiệm vụ này trong vài phút. Bạn sẽ tới một ngân hàng mà nơi đó sẵn sàng giúp bạn thực hiện các giao dịch với đối tác nhanh gọn và chính xác.

    3.2.    Lợi ích cho khách hàng

    Có thể nói hầu hết tất cả những gì tiến bộ hơn mà dịch vụ “Ngân hàng điện tử” mang lại chính là lợi ích cho khách hàng.

    “Ngân hàng điện tử” với công cụ chủ yếu là Internet/Web và các thiết bị điện tử, đem lại sự hiện diện toàn cầu cho người cung cấp và sự lựa chọn toàn cầu cho người tiêu dùng, bỏ qua khoảng cách địa lý giữa các quốc gia. Một ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ cho nhiều người ở bất cứ nơi nào trên thế giới tại bất cứ thời điểm nào. Một khách hàng có thể kiểm tra và quản lý tài chính của mình vào bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên chi phí cho dịch vụ này rất rẻ, không chỉ vì số tiền hợp lý phải trả cho dịch vụ mà còn vì tiết kiệm thời gian đi lại và hoàn tất các thủ tục giấy tờ mà các giao dịch vẫn được thực hiện an toàn và chính xác.

    Tuy nhiên những lợi ích này có lợi chủ yếu là đối với các nước phát triển. Đối với các nước đang và kém phát triển, giá dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có khi rất đắt so với thu nhập bình quân người tiêu dùng. Nguyên nhân là do vốn đầu tư lớn vào các trang thiết bị và công nghệ thông tin dẫn tới giá thành sản phẩm cao. Trong khi đó mức sống người dân các nước này lại rất thấp.

    3.3.    Lợi ích đối với toàn thể nền kinh tế

    Ngoài những lợi ích chính đối với các bên tham  gia “Ngân hàng điện tử” nói trên, “Ngân hàng điện tử” còn đem lại những lợi ích to lớn tiềm tàng đối với toàn thể nền kinh tế.

    Việc tiêu dùng chủ yếu bằng tiền mặt có rất nhiều điều hạn chế. Nhà nước phải bỏ ra một chi phí nhất định hàng năm trong việc in và quản lý số lượng tiền in ra cho thị trường. Việc khó xác định chính xác lượng tiền lưu hành trong dân khiến cho nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra các chính sách tài khoá nhằm đảm bảo một thị trường tài chính ổn định. “Ngân hàng điện tử” với sự phổ biến sử dụng tài khoản cá nhân và tiền điện tử sẽ góp phần không nhỏ trong việc tháo gỡ khó khăn này. Chính tiền điện tử và giao dịch tài khoản làm cải thiện khả năng thanh toán trong thị trường tài chính.

    “Ngân hàng điện tử” giúp cho nhà nước có thông tin đầy đủ về việc thực hiện thu nộp thuế một cách nhanh chóng và cập nhật.

    Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển rộng khắp trên toàn thế giới của thương mại điện tử, “Ngân hàng điện tử” chính là chiếc cầu nối cho sự hội nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế mà không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực của chính phủ.

    II.        Đối tượng và những điều kiện tiên quyết tham gia dịch vụ

    ngân hàng điện tử

    Qua các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”  đã được giới thiệu ở trên, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm và điều kiện của các bên tham gia dịch vụ này.

    Tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có ba thành phần chính. Đó là hệ thống ngân hàng thương mại, người tiêu dùng và các quy định của nhà nước.

    1          Các ngân hàng thương mại

    1.1.    Vai trò của các ngân hàng thương mại

    Hệ thống ngân hàng thương mại là người cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử”. Do vậy họ giữ vai trò chính.

    Các nhà kinh tế đã coi dịch vụ “Ngân hàng điện tử” như là một cuộc cải cách tài chính do các ngân hàng tiến hành. Nó đã mang lại nhiều dịch vụ có khả năng sinh lời lớn.

    Rất nhiều các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã nhận ra rằng phương thức cũ mà họ đang sử dụng trong kinh doanh không còn có khả năng mang lại lợi nhuận cao. Các dịch vụ tài chính mà họ bán ra trên thị trường không còn hấp dẫn người tiêu dùng. Thêm vào đó, các quy định về thủ tục tài chính đã trở nên nặng nề. Để tồn tại trong môi trường tài chính mới, các ngân hàng đã phải tìm kiếm và phát triển những sản phẩm dịch vụ mới. Cải cách trong ngân hàng là tất yếu nhằm đáp lại sự thay đổi của nhu cầu khách hàng.

    Trong khi đó, sự phát triển công nghệ thông tin đang mang lại cho thương mại nói chung và ngành ngân hàng nói riêng những cơ hội lớn lao. Mạng và hệ thống máy tính không những giúp cho ngân hàng giảm chi phí giao dịch mà còn  tạo điều kiện cho họ có khả năng đưa ra những dịch vụ mới. Do vậy, cải cách ngân hàng cũng là sự đáp lại sự thay đổi của cung.

     

    1.2.    Điều kiện tiên quyết để tham gia hệ thống dịch vụ “Ngân hàng điện tử” của các ngân hàng thương mại

    Một trong những yếu tố dẫn đến thành công của “Ngân hàng điện tử” là phải xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại ở  một mức nhất định. Cơ sở này dựa trên tiến bộ của công nghệ máy tính, công nghệ thông tin viễn thông. Điều này đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà không phải ngân hàng nào cũng có khả năng đáp ứng. Dưới đây một số yêu cầu tối thiểu cho dịch vụ “Ngân hàng điện tử”:

     

    1.2.1  Hạ tầng cơ sở công nghệ

     

    “Ngân hàng điện tử” phát triển trên cơ sở kỹ thuật số hoá, công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành “Ngân hàng điện tử” hiệu quả khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc.

    Nó bao gồm hệ thống điện thoại, máy tính, máy chủ, modem, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, thiết bị thanh toán điện tử (POS, ATM, CDM), vv… và các dịch vụ truyền thông (thuê bao điện thoại, phí nối mạng, truy cập mạng).

    Chi phí phần cứng cho một hệ thống máy tính văn phòng, máy chủ, mạng nội bộ khoảng USD 100,000. Một máy đọc thẻ thanh toán đặt tại các điểm bán hàng giá khoảng USD50 một chiếc. Một máy rút tiền tự động giá khoảng USD40,000 một chiếc. Chi phí phần mềm cho hệ thống này khoảng USD 200,000 tới USD 300,000. Còn phải kể đến chi phí tham gia các tổ chức thanh toán quốc tế, chi phí bảo dưõng, nâng cấp  hệ thống. Ước tính tổng vốn đầu tư có thể lên tới USD 10 triệu cho một ngân hàng.

    Ngoài ra, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin này chỉ có thể có và hoạt động tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng, bưu chính viễn thông đảm bảo cung cấp điện năng, thông tin liên lạc đầy đủ, ổn định với mức giá hợp lý. Thiết lập một nền công nghiệp như vậy năm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng. Nó đòi hỏi sự đầu tư cả về vốn lẫn thời gian của nhà nước. Điều này đặc biệt khó khăn với các nước đang và kém phát triển.

    1.2.2  Vấn đề an toàn và bảo mật

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử đặt ra đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là hoạt động qua mạng. Nhiều người sợ không dám mua bán qua mạng, thanh toán bằng thẻ qua máy điện tử, máy rút tiền. Người mua thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ, và kẻ xấu sẻ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng hay giao dịch đã được “ký kết theo kiểu điện tử”.

    Điều lo sợ ấy là có căn cứ, vì số vụ tấn công vào Internet hay các vụ làm và sử dụng thẻ giả ngày càng gia tăng. “Giặc máy tính” dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu, tạo vi rút máy tính, giả mạo địa chỉ Internet, dập thẻ giả, móc nối với người bán hàng tao ra các giao dịch “ảo”…

    Kỹ thuật mã hoá hiện đại, với khoá dài tối thiểu 1024 bit thậm chí 2048 bit cộng với các công nghệ SSL (Secure Socket Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này. Các ngân hàng phát hành thẻ đang khuyến khích phát hành và sử dụng thẻ có các “chip” điện tử thay thế cho các dải từ. Một chiến lược về mã hoá và giải mã kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin cho ngân hàng và khách hàng phải luôn được đặt ra và cập nhật.

    1.2.3  Hệ thống tuyên truyền giáo dục khách hàng

    Một nhân tố quan trọng khác dẫn đến thành công trong “Ngân hàng điện tử” hệ thống phân phối sản phẩm, tuyên truyền và giáo dục khách hàng.

    Điều này đòi hỏi một đội ngũ nhân viên tiếp thị chuyên nghiệp trang bị với các kiến thức nhất định về tin học.

    Với mục tiêu “giành lấy lòng tin của khách hàng”, các ngân hàng phải đặt ra một chiến lược tuyên truyền, quảng cáo, thực hiện, từng bước thuyết phục khách hàng về tính an toàn và tiện lợi của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Khách hàng

     

    2.1.    Đặc điểm chung hiện nay của người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử

    “Ngân hàng điện tử” chủ yếu phục vụ cho hệ thống khách hàng cá nhân hay nói cách khác nó là hệ thống dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    Những khảo sát gần đây cho thấy điển hình của khách hàng sử dụng dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là những người có trình độ học vấn cao, trẻ và có thu nhập tương đối cao.  Với kiến thức tin học cao, khả năng tiếp thu nhanh những vấn đề tiến bộ, họ là những người tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” đầu tiên. Đa phần trong số họ thuộc thành phần trí thức tự do, những người thành đạt trong sự nghiệp, những doanh nhân, tầng lớp trung lưu trong xã hội.

    Giao dịch với họ thường có giá trị tương đối cao, rủi ro ít vì họ có học và có thu nhập cao. Thứ nữa là cơ hội cung cấp dịch vụ trong một thời gian dài vì họ là những người trẻ tuổi. Cuối cùng là họ là những người năng động, giao dịch nhiều, cơ hội đi lại qua các quốc gia, nên ở điểm này, “Ngân hàng điện tử” có thể chứng minh tính ưu việt của nó đó là cung cấp dịch vụ liên tục và toàn cầu.

    2.2.    Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của người tiêu dùng

    Việc đưa vào thị trường một sản phẩm hay dịch vụ mới đòi hỏi nghiên cứu hành vi ứng xử người tiêu dùng. Người tiêu dùng phải trải qua các giai đoạn từ chỗ nhận thức sự sẵn có của sản phẩm, dịch vụ tới việc sử dụng thử và cuối cùng là chấp nhận sản phẩm và dịch vụ đó.

    Do tính chất cách mạng, “Ngân hàng điện tử” là một khái niệm rất mới đối với đại bộ phận người tiêu dùng. Không phải ai cũng có cái nhìn đầy đủ về “Ngân hàng điện tử”. Một trong những trở ngại lớn nhất của “Ngân hàng điện tử”  là thái độ hoài nghi, lưỡng lự khi chuyển đổi từ hình thức giao dịch cũ truyền thống sang hình thức mới. Chính vì vậy  việc quảng cáo, tuyên truyền và giáo dục khách hàng về dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một thách thức lớn đối với các ngân hàng thương mại.

    Xây dựng hệ thống khách hàng đã khó, duy trì nó còn khó hơn. Khách hàng sau khi đã nhận thức được “Ngân hàng điện tử” họ sẵn lòng dùng thử. Song, sẽ trở nên khó khăn cho họ khi hệ thống thanh toán “Ngân hàng điện tử” không ổn định và sẵn có. Một khách hàng sau khi mua thẻ tín dụng sẽ thấy nghi ngờ dịch vụ “Ngân hàng điện tử” nếu thẻ của họ thường xuyên bị từ chối vì lý do trục trặc kỹ thuật của thiết bị thanh toán điện tử hay chán nản vì không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị chấp nhận thẻ tín dụng. Bạn sẽ rất bực mình khi kiểm tra số dư tài khoản qua điện thoại mà điện thoại ngân hàng bị hỏng. Bạn sẽ vô cùng hoang mang số thẻ tín dụng của mình bị đánh cắp sau một lần mua hàng qua Internet.

    Đây là những vấn đề đặt ra cho các ngân hàng, đòi hỏi tính sẵn có của hệ thống thanh toán điện tử và các dịch vụ sau bán hàng như xử lý tranh chấp, bảo vệ khách hàng…

    3.         Các quy định của Nhà nước

    Nhà nước đóng vai trò thiết lập “luật chơi”. Do vậy, việc tạo ra một môi trường canh tranh lành mạnh, một hàng lang pháp lý và các quy định khung có ảnh hưởng lớn tới các thành viên tham gia dịch vụ này, từ đó quyết định sự phát triển nhanh và đúng hướng của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    “Ngân hàng điện tử” chỉ có thể thành công rực rỡ khi giới cần quyền ở tất cả các quốc gia đồng ý cho phép tạo điều kiện và bảo vệ loại hình dịch vụ này

    Trước hết chính phủ phải quyết định xem  xét thương mại điện tử nói chung và “Ngân hàng điện tử” nói riêng là cơ hội hay hiểm họa. Điều đó không dễ vì không phải quốc gia nào cũng đồng ý với ý tưởng ” toàn cầu hoá”. Ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 97-98 mới quyết định tuyên bố Internet  là một cơ hội.

    Còn ở Việt Nam, do một số lý do  chính trị mà nền kinh tế nước ta chưa thực sự “mở”. Để bảo  hộ nền công nghiệp còn quá non trẻ trước sự cạnh tranh khốc liệt, để duy trì một môi trường tài chính ổn định, Chính phủ nước ta đã phải đưa ra các quy định về quản lý ngoại hối. Mà các quy định này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới “Ngân hàng điện tử” nơi diễn ra các hoạt động tài chính qua biên giới.

    Việc đầu tiên phải làm của Chính phủ đối với “Ngân hàng điện tử” là:

    • Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch “Ngân hàng điện tử”

    –        Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu), chữ ký số hoá ( tức biện pháp biến đổi nội dung một thông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu)  và có các thiết chế pháp lý, cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá.

    –        Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả pháp chế hoá các tổ chức phát hành và chấp nhận các loại thẻ thanh toán).

    –        Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm, chống gian lận.

    Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành phát triển “Ngân hàng điện tử”, tiếp đó là các chính sách, đạo luật và các quy định cụ thể tương ứng được phản ảnh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống luật.

     

    III.      Xu hướng và kinh nghiệm phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới

    1.         “Ngân hàng điện tử ” trên thế giới

    Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và khoa học viễn thông cùng với tiến trình toàn cầu hoá đã gây một ảnh hưởng lớn trong ngành tài chính ngân hàng. Ngành ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cho ra đời một loạt các dịch vụ sản phẩm mới như tiền điện tử, “ví điện tử”. Đến lượt “Ngân hàng điện tử” lại giúp cho ngành ngân hàng vượt qua những hạn chế mà hình thức dịch vụ ngân hàng truyền thống không thể làm được. “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu nhằm tạo ra cho các ngân hàng một sức cạnh tranh trong kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông tin này. “Ngân hàng điện tử” chính là cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng.

    “Ngân hàng điện tử”, đặc biệt là Internet banking, sản phẩm mới nhất gần đây được tung ra sẽ gây một ảnh hưởng đáng kể trong thị trường tài chính ngân hàng.

    Internet là  một công nghệ phát triển nhanh. Nó làm thay đổi hoàn toàn Cách sống và làm việc của tất cả mọi người.  Năm 1991 mới có 31 nước nối mạng Internet, tới năm 1997 đã có 171 nước; số trang Web vào giữa năm 1993 là 130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu; giữa năm 1996 có 12,9 triệu địa chỉ Internet với khoảng 67,5 triệu người sử dụng, giữa năm 1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng. Theo dự báo , số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người. Dịch vụ ngân hàng qua Internet bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 90. Tới nay, chủ yếu các giao dịch ngân hàng là qua Internet.

    “Ngân hàng điện tử” đã tìm ra thị trường đầy tiềm năng và tương lai rực rỡ của nó.  Dĩ nhiên là bởi những tiến bộ của nó mang lại. Ngày nay, mỗi người mua hàng hoá hay dịch vụ, nhận tiền lương thưởng chỉ cần ghi lại trong tài khoản của họ. Đồng tiền ngày nay đơn giản chỉ là những thông tin được truyền tự động. Sự thống trị của đồng tiền điện tử  trên thị trường thương mại điện tử thế giới chính là bằng chứng của sự phát triển “Ngân hàng điện tử”.

    Theo thống kê của International Data Corp (IDC), có tới 10 triệu người sử dụng “Ngân hàng điện tử”. Con số này dự tính lên tới 30 triệu người trong vòng vài năm tới. Doanh số trung bình dịch vụ “Ngân hàng điện tử” vào năm 1997 là USD 8 tỷ, 1998 là USD 14 tỷ, 1999 là USD 31 tỷ và tới 2002 là USD 90 tỷ.

    Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù về chính trị xã hội, một số nước vẫn còn có các hoạt động kiểm soát Internet. Do vậy làm hạn chế sự phát triển của “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Dịch vụ “Ngân hàng điện tử” ở một số nước

     

    2.1     Trung Quốc

    Nỗ lực của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho công nghệ thông tin. Công suất sản xuất máy tính điện tử cá nhân năm 1998 đạt tới 8,5 triệu cái/năm. 4 công ty máy tính điện tử hàng đầu của Trung Quốc đều có sức cạnh tranh với IBM, COMPAQ, HP,  trên thị trường nội địa. Công nghệ phần cứng đạt tốc độ tăng khoảng 45%/năm. Công nghệ phần mềm tăng 20%/năm.

    Tuy vậy, Trung Quốc bước vào “Ngân hàng điện tử” rất chậm. Cuối năm 1997 mới chính thức ra nhập Internet. Trung Quốc đòi hỏi người sử dụng Internet phải đăng ký với công an.

     

    Do chính sách bảo hộ công nghiệp và kiểm soát ngoại tệ, các dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ ở Trung Quốc cũn bị hạn chế. Tỷ lệ thanh toán thẻ tăng 7,8%/năm.

    2.2     Các nước ASEAN

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước A SEAN phát triển hơn.

    2.2.1. Singapore

    Singapore, là một trong những nước áp dụng thanh toán điện tử đầu tiên trên thế giới. Tháng 12/1996, nhân phiên họp khai mạc cấp bộ trưởng WTO tổ chức ở Singapore, Singapore đã chính thức khai trương việc ứng dụng toàn diện các loại thẻ, thẻ ghi nợ, thẻ tiền mặt internet, thẻ thông minh, thẻ mua hàng diện tử, túi tiền  điện tử. Hệ thống giao dịch điện tử an toàn manh tính quốc tế (Network for Electronic Transfers) thành lập tháng 4/1997 đã được đưa  vào sử dụng toàn diện cuối năm 1998. Singapore đã đưa lên internet 30 chương trình phần mềm ứng dụng chuyên phục vụ thương mại điện tử.

    Có tới hơn 10,000 điểm bán hàng trên hòn đảo này được lắp đặt thiết bị thanh toán thẻ ghi nợ.

    Tuy nhiên, phát hành thẻ tín dụng lại hạn chế. Chính sách quản lý tiền tệ ở Singapore quy định cá nhân từ 21 tuổi trở lên và có thu nhập SGD 30,000 /năm mới được mua thẻ tín dụng. Hạn mức tín dụng tối đa là 2 tháng lương. Cho tới năm 2000, số lượng thẻ tín dụng phát hành là 2,5 triệu thẻ. Ngoài ra còn có các thẻ khác như thẻ thông minh, thẻ mua hàng…Thanh toán điện tử là một phần nằm trong “kế hoạch tổng thể về thương mại điện tử ở Singapore. Một loạt các văn kiện quan trọng có liên quan đã ra đời nhằm điều chỉnh hoạt động này như “Luật giao dịch điện tử, “luật chống lạm dụng máy tính điện tử… Luật bản quyền cũng được sửa đổi lại.

    2.2.2. Malaysia

    Thanh toán điện tử ở nước này rất phát triển. Đặc biệt là thanh toán thẻ. 3,5 triệu thẻ tín dụng dược phát hành. Ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55% thị phần. Nhưng hệ thống dày đặc máy rút tiền tự động là của các ngân hàng trong nước.

    Tuy nhiên, tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở nước này được xếp vào lại cao trong khu vực Asia Pacific.

    2.2.3. Philippin

     

    Internet thâm nhập vào Philippin khá sớm: năm 1996, ở Philippin có 53,000 người sử dụng Internet, năm 1997 đã lên tới 85,000 người và 2001 có tới 0,7 triệu người sử dụng Internet.

    Các phương tiện truyền thông khác cũng phát triển.Ví dụ 1996 toàn quốc có 1,35 triệu thuê bao điện thoại, năm 1998 đã lên tới 5,49 triệu. Tỷ trọng người mua hàng bán lẻ qua Internet chiếm 1,8% với tổng giá  trị USD 151 triệu. 17 triệu thẻ được phát hành bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ…Hệ thống ATM và thiết bị chấp nhận thẻ rất phổ biến. Tuy nhiên hệ thống luật và một chiến lược đặc thù về ngân hàng điện tử thì chưa có một cách rõ ràng.

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước ASEAN bắt đầu xuất hiện. Nhưng chỉ phát triển mạnh ở một số nước và chủ yếu vẫn còn trong lĩnh vực nội địa. Nhìn chung các nước thành viên còn đang đứng trước tìng trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở hạ tầng pháp lý tài chính. “Ngân hàng điện tử” của ASEAN đang còn trong giai đoạn “nghiên cứu” để tìm đường phối hợp chuyển giao công nghệ và hợp tác kỹ thuật với nhau, thực sự tham  gia thanh toán điện tử với nhau và với các nước khác.

     

    Chương II:        Năng lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược hệ thống các ngân hàng Việt Nam

     

    1.         Cơ cấu và tổ chức của các ngân hàng Việt Nam

    Vào cuối những năm  80, trước khi có các chính sách “đổi mới”, ngân hàng nhà nước chiếm vai trò chủ đạo. Mọi giao dịch tài chính ngân hàng đều thực hiện bởi ngân hàng nhà nước. Qua quá trình “đổi mới”, nhằm thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã dần dần phát triển đi đôi với việc hình thành các quy định khung về tài chính ngân hàng.

    Năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam chia thành hai cấp: Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng thương mại. Năm 1990, Chính phủ đã tiến hành nhiều các chính sách cải cách ngân hàng nhằm mở rộng cơ cấu hệ thống và nâng cao hoạt động hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cho tới nay, đã có 4 ngân hàng thương mại  quốc doanh, 43 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 53 văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoài và 153 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động.

    Bốn ngân hàng quốc doanh đúng vai trò chủ đạo trong ngành ngân hàng, chiếm 74 % thị trường cho vay ( chủ yếu là cho các doanh nghiệp nhà nước vay). Các ngân hàng cổ phần, sau 3 năm hợp lý hoá theo hướng của ngân hàng nhà nước chiếm 15% thị trường cho vay ( chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân). Các ngân hàng khác và quỹ tín dụng nhân dân chỉ chiếm một thị phần nhỏ.

    Hệ thống ngân hàng quốc doanh chiếm ưu thế trên thị trường không chỉ bởi quy mô lớn mà còn bởi họ có những đặc quyền do chính phủ phân định. Họ được hưởng nhiều các chính sách ưu đãi, được sự đầu tư hỗ trợ của chính phủ. Điều này dẫn đến cơ cấu hiện nay là họ nắm giữ phần lớn  vốn đầu tư và các khoản tiền gửi lớn của doanh ngiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân.

    Năm 1992, Các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh hoạt động tại Việt Nam. Mặc dù vậy, sự tham  gia của ngân hàng nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam còn bị hạn chế rất nhiều do các chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của chính phủ Việt Nam. Phần lớn các khoản vay đều dành cho các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thời hạn đăng ký hoạt động tại Việt Nam  của các ngân hàng nước ngoài là 20 năm, của các ngân hàng liên doanh (vốn đầu tư nước ngoài chiếm tối đa là 50%) là 30 năm. Việc gia hạn giấy phép hoạt động kinh doanh sẽ do chính phủ xét duyệt trong từng trường hợp. Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng nước ngòai không được phép huy động tiền gửi ngoại tệ từ cá nhân người Việt Nam. Kể từ tháng 11 năm 2001, các ngân hàng liên doanh được phép huy động tiền gửi ngoại tệ cá nhân người Việt Nam song không quá 50% vốn.

    Các ngân hàng thương mại cổ phần đang trong quá trình cơ cấu lại nhằm giải quyết một số vấn đề về tài chính như đọng vốn, nợ khó đòi…Một số các ngân hàng nhỏ được sáp nhập lại thành ngân hàng lớn hơn nhằm  nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong những năm qua, 8 ngân hàng thương mại cổ phần đã được sáp nhập làm tổng số ngân hàng cổ phần giảm từ 51 ngân hàng còn 43 ngân hàng. Chính phủ cũng đã tiến hành cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần. Ngoài các ngân hàng có số vốn từ 200 đến 300 tỷ đồng, Vốn trung bình của các ngân hàng ở thành thị là 100 tỷ đồng và các ngân hàng ở nông thôn là 5 tỷ đồng. Theo Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, số lượng các ngân hàng cổ phần trong những năm tới chỉ còn từ 25 đến 30 ngân hàng.          Việc này khuyến khích các ngân hàng nhỏ sáp nhập lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

    Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng Việt Nam đang là một vấn đề hết sức bức thiết. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đòi hỏi một sự hỗ trợ tạo ra một lực mới nhằm đáp ứng những thách thức mới trong quá trình tự do hoá thương mại.

    2.         Sơ  lược hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

    Hoạt động hệ thống ngân hàng Việt Nam không lấy gì sáng sủa. Theo lời mời của chính phủ nước ta, phái đoàn FITCH đã đến thăm Việt Nam vào tháng 4 năm  2002. Theo đánh giá của FITCH, rất nhiều ngân hàng Việt Nam rơi vào loại yếu kém.

    Xếp loại E là ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển (BIDV)  và ngân hàng Công Thương Việt Nam (VIETINCOMBANK). Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) xếp loại D. Nghĩa là cao hơn hai ngân hàng kia một chút cả về năng lực tài chính lẫn quản lý. Loại D cũng đánh giá cho ngân hàng Sai Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và VID Public bank. Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không được đưa ra xếp loại vì nó chưa hoàn toàn tách khỏi ngân hàng dành cho người nghèo.

    Theo FITCH, loại A cho ngân hàng rất mạnh, loại B cho Ngân hàng mạnh, loại C cho ngân hàng trung bình, loại D cho ngân hàng yếu kém và loại E cho ngân hàng thực sự có những vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi sự giúp đỡ hỗ trợ.

    Nguyên nhân của tình trạng hoạt động yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là do khả năng quản lý kém, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, bộ máy hành chính cồng kềnh, hệ thống quản lý thông tin yếu kém, quy định lỏng lẻo.

    Trong nhiều năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp đổi mới. Một trong những vấn đề được đặt ra là thiếu vốn pháp định. Điều này gây cản trở rất nhiều cho các các ngân hàng trong việc cho vay các dự án lớn. Tổng vốn pháp định của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (chiếm 74 % thị truờng cho vay) là 3.300 tỷ đồng. Trong khi đó, quy định hiện hành chỉ cho  phép vay không quá 15% vốn pháp định. Rất nhiều các dự án cần vốn vay lớn như giao thông, bưu chính viễn thông, điện, xăng dầu và thép.

    Một vấn đề khác đó là vốn đầu tư thấp. Đặc biệt là đối với các ngân hàng cổ phần. Điều này không cho phép họ đầu tư vào các công nghệ hiện đại nhằm giảm chi phí và đa dạng hoá sản phẩm. Ví dụ như giá một chiếc máy rút tiền tự động là USD 30.000 (450 triệu đồng). Một ngân hàng với vốn pháp định 65 tỷ đồng thì không thể đầu tư cho một hệ thống ATM. Tuy nhiên tình hình này có phần được cải thiện từ sau khi nhà nước quyết định cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần.

    Mối lo ngại lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam bây giờ là hoạt động cho vay kém hiệu quả. Hầu hết các khoản vay là của 4 ngân hàng quốc doanh. Những khoản vay này đều là cho các doanh nghiệp nhà nước và thường chẳng mang lại chút lợi nhuận nào. Một nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi là cơ cấu quản lý chồng chéo. Giám đốc ngân hàng thương mại không những chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương mà còn bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa phương các cấp.

    Do vậy hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đôi khi đi theo hướng kinh tế địa phương. Còn các ngân hàng cổ phần thì vẫn tiếp tục bị áp đặt nhiều chính sách quản lý của ngân hàng nhà nước.

    Do chính sách hạn chế, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh chỉ chiếm 10,6% tổng số tiền gửi và 9% thị trường cho vay. Ấy vậy mà lợi nhuận nhóm này thu được lại gấp đôi các ngân hàng trong nước.

    Thêm vào đó, Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Rất nhiều các tổ chức khác như bảo hiểm , bưu điện cũng tham gia vào việc huy động vốn. Rất nhiều tổ chức tín dụng sử dụng vốn đầu tư vào bất động sản, nguy cơ “đóng băng về vốn” là rất cao.

    Nhằm quản lý chặt chẽ toàn bộ ngành ngân hàng, Ngân Hàng Nhà Nước đang xét lại toàn bộ hệ thống báo cáo bắt buộc. Các báo cáo thường niên  phải được xuất trình Ngân Hàng Nhà Nước kể từ khi kết thúc năm tài khoá (31 tháng 12) trong vòng 90 ngày đối với ngân hàng trong nước và 180 ngày đối với ngân hàng nước ngoài. Thanh tra nội bộ và thanh tra chéo là bắt buộc.  Việc lựa chọn cơ quan kiểm toán là do Ngân Hàng Nhà Nước xét duyệt. Đi đôi với các hoạt động kiểm soát, Ngân Hàng Nhà Nước cho phép ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần đăng ký và đưa vào sử dụng một số dịch vụ mới nhằm nâng cao nhận thức về dịch vụ ngân hàng trong dân.

    Như trên đã đề cập, hệ thống ngân hàng trung ương và thương mại Việt Nam mới thực sự hoạt động từ năm 1988. Cho tới nay, đó chỉ là một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới. Theo ông Nguyễn Thanh Toại, giám đốc ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu, một ngân hàng phát triển trên thế giới có thể cung cấp khoảng 6000 loại hình dịch vụ và sản phẩm. Trong khi đó hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chỉ cung cấp khoảng 200 sản phẩm và dịch vụ. Trong thời gian tới, hi vọng bằng các chính sách cứng rắn và linh hoạt của Chinh phủ và Ngân Hàng Nhà Nước, hẹ thống ngân hàng Việt Nam  sẽ từng bước được cải thiện và hoạt động có hiệu quả.

    II.        Thực trạng triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam

    1.         Quá trình phát triển hệ thống thanh toán của ngân hàng ở Việt Nam

    Thanh toán tài chính trực tuyến qua mạng (On-line) cho các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam còn vô cùng non trẻ. Đại bộ phận nhân viên ngân hàng trong những năm đầu thập niên 90 còn vô cùng bỡ ngỡ trước hệ thống mỏy tính điện tử. Cả người cung cấp và người sử dụng dịch vụ ngân hàng khó có thể bỏ qua một loạt giấy tờ để thay thế đó bằng một chiếc máy tính. Chữ ký điện tử là điều vô cùng xa lạ. Việc rút tiền từ một chiếc máy tự động mà không có sự chứng kiến của nhân viên ngân hàng thì cũng thấy khó yên tâm.

    Công nghệ tin học thông tin phát triển như một cơn bão làm thay đổi tất cả, và thanh toán trong hệ thống ngân hàng không nằm ngoài sự phát triển đó.

    Năm 1992:

     

    *        Giao dịch thanh toán qua máy tính điện tử đầu tiên ở Việt Nam là ở Ngân hàng Công Thương (Incombank)

    *        Tiếp theo là Vietcombank, các ngân hàng khác và Ngân Hàng Nhà Nước.

    *        Chính sách “mở cửa” làm xuất hiện chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng này mang theo một loạt công nghệ ngân hàng hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam. Trước nhu cầu đổi tiền và mua hàng hoá dịch vụ bằng thẻ tín dụng, các ngân hàng nước ngoài đã đi tiên phong trong lĩnh vực này. Kế đến là Vietcombank. Một loạt các đại lý ngân hàng chấp nhận thẻ tín dụng nhằm phục vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, bán vé máy bay, quầy thu đổi ngoại tệ xuất hiện.

    Năm 1995:

    Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (Vietcombank, Incombank, BIDV và VBARD) và 2 ngân hàng cổ phần tham gia vào hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế – SWIFT. Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng và tín dụng thư trong thanh toán quốc tế được cải thiện đáng kể (giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian và chính xác).

    Năm 1996:

    *        Vietcombank phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên

    *        Ngân Hàng Hồng Kông và Thượng hải (HSBC) đưa vào sử dụng chiếc mát rút tiền tự động (ATM) đầu tiên tại Việt Nam

    Năm 1997:

     

    *        Vietcombank phát hành thẻ tín dụng

    *        Ban hành quy chế phát hành sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng

     

    Năm 2002:

    *        Ngân Hàng Cổ Phần Á Châu (ACB) giới thiệu về dịch vụ ngân hàng qua Internet

    *        Dự thảo Luật Thương Mại Điện Tử Việt Nam

    *        Quyết định 44 của Chính phủ công nhận chữ ký điện tử trong chuyển tiền điện tử

    *        Thị trường liên ngân hàng điện tử trung ương đi vào hoạt động

     

    2.         Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử:

    Trong vòng một thời gian ngắn, từ 1992 đến nay, một loạt dịch vụ mới gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử đã rađời.

     
       

    2.1     Thanh toán thẻ

     
       

    Dịch vụ chấp nhận thẻ bắt đầu xuất hiện từ năm 1992. Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch tới Việt Nam. Họ mang theo thẻ tín dụng quốc tế: Visa, Mastercard, Amex, JCB, Diner Club…Các ngân hàng cung cấp dịch vụ rút tiền bằng thẻ tín dụng đầu tiên là Vietcombank, Incombank.

    Tiếp theo là sự xuất hiện các đại lý ngân hàng thanh toán thẻ. Là những địa điểm có liên quan tới  dịch vụ du lịch như sân bay, phòng vé máy bay, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngân hàng ký một hợp đồng thanh toán thẻ với các doanh nghiệp này. Ngân hàng tiến hành lắp đặt tại các đại lý thiết bị điện tử chấp nhận thanh toán thẻ. Nhờ vậy khách du lịch nước ngoài  có thể trả cho hàng hoá hoặc dịch vụ bằng thẻ tín dụng.

    Máy thanh toán thẻ điện tử là một thiết bị đọc từ được kết nối với mạng ngân hàng chấp nhận thẻ và các ngân hàng phát hành thẻ trên thế giới. Nó cho phép đọc và truyền các thông tin của chủ sở hữu thẻ về tới các ngân hàng phát hành thẻ. Các giao dịch tài chính nhờ vậy mà được thực hiện và ghi lại trên tài khoản chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.

    Dưới đây là sơ đồ một giao dịch bằng thẻ:

     
       

    Toàn Việt Nam hiện có khoảng 7000 đại lý thanh toán thẻ với tổng doanh số bán hàng bằng thẻ là USD 90 triệu/năm. Trong đó 48% là đại lý cho Vietcombank, 20% là đại lý cho ngân hàng ANZ, 15% cho ngân hàng United Over Sea Singapore (UOB), 10% cho ngân hàng Á châu (ACB) và 7% là của các ngân hàng khác.

    Bảng 2: Sơ đồ thị phần thanh toán thẻ

     
       

    Các đại lý thanh toán thẻ chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vũng Tàu.

    Vietcombank chiếm ưu thế cả về số lượng đại lý và doanh thu bán hàng. ACB là ngân hàng cổ phần Việt Nam duy nhất tham  gia vào thị trường này, mặc dù chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn. So với Việtcombank và một số ngân hàng khác được sự đầu tư rất lớn về trang thiết bị thanh toán thẻ, ACB quả là một ngân hàng hoạt động tương đối hiệu quả bằng chính sự nỗ lực của mình.

    Bảng 3: Số lượng đại lí

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 4,391 4,673 5,530 6,538 7,756 18,6%
    Khu Vực AP 5,855,840 6,419,088 7,600,832 9,414,793 12,271,272 30,3%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Bảng 4 : Doanh số chấp nhận thẻ (Triệu USD)

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 133 130 155 160 192 32%
    Khu Vực AP 148,200 155,030 212,030 256,605 301,360 29%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Do bị hạn chế hơn về số lượng chi nhánh, các ngân hàng nước ngoài chủ yếu tập trung khai thác những đại lý có doanh thu lớn. Ví dụ như UOB chỉ ký kết đại lý với các khách sạn 4-5 sao hoặc các địa điểm có doanh thu bán hàng bằng thẻ trên USD 10.000/tháng.

    Do không phải đầu tư lớn ban đầu về công nghệ, với kinh nghiệm  nhiều năm của ngân hàng nước ngoài cộng thêm đội ngũ nhân viên trẻ năng động nhiệt tình, các ngân hàng nước ngoài vẫn hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng trong nước. Số lượng đại lí ít, chi phí thấp nhưng doanh số cao và do vậy tỷ suất lợi nhuận vẫn cao hơn.

    Dịch vụ chấp nhận thẻ là dịch vụ bán lẻ, lợi nhuận không cao bằng dịch vụ tín dụng, song tỷ lệ rủi ro rất thấp. Dưới đây là tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở Việt Nam , khu vực và trên thế giới.

    Bảng 5: Tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ

      1999 2000 2001 2002
    Việt Nam 0,03% 0,05% 0,01% 0,02%
    Khu vực Châu Á Thái Bình Dương 0,12% 0,13% 0,08% 0,10%
    Thế giới 0,12% 0,14% 0,10% 0,11%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Với lượng khách du lịch tới Việt Nam ngày càng tăng, đây vẫn đang là loại hình dịch vụ đáng để các ngân hàng khai thác.

     

    2.2     Dịch vụ phát hành thẻ

     
       

    Vietcombank vẫn là ngân hàng dẫn đầu trong lĩnh vực này. Cho tới nay, các loại hình thẻ do Vietcombank phát hành bao gồm thẻ Visa, thẻ MasterCard, thẻ thông minh, thẻ ghi nợ. Thẻ ghi nợ nội địa của Vietcombank có tên là VCB-ATM với cách sử dụng đơn giản và giá rất cạnh tranh.

    Bạn muốn mua một thẻ tín dụng quốc tế của Vietcombank ? Chỉ cần mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 500.000 đồng và trả một tiền phí phát hành là 100.000 đồng. Thẻ này cho phép bạn rút tiền bằng hệ thống máy ATM của Vietcombank trên toàn quốc. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã phát hành 20,000 thẻ VCB-ATM.

    Thẻ tín dụng của Vietcombank cũng chiếm  lĩnh thị trường trong nước. Các tổ chức  và cá nhân thường mua loại thẻ này khi đi công tác nước ngoài. Theo ông Vũ Viết Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank, thì tổng giao dịch bằng thẻ tín dụng Vietcombank năm 2001 đạt USD 86,5 triệu tăng 22% so với năm trước. Số lượng thẻ tín dụng phát hành, tính đến hết 2000 là 3.060 thẻ tăng 130% so với năm trước.

    Một ngân hàng phát hành thẻ đáng nói đến, đó là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu (ACB).

    Bên cạnh hai loại thẻ tín dụng là Visa và MasterCard, ACB còn phát hành một số thẻ nội địa như thẻ SaiGon Tourist- thẻ thanh toán cho các hoạt động du lịch, thẻ Saigon Co-op – thẻ dùng để mua hàng hoá tại các siêu thị, thẻ Mai Linh – thẻ trả tiền taxi, thẻ Phước Lộc Thọ.

    Đặc biệt là từ tháng 6 năm 2002, ACB cho ra đời một loại thẻ mới có tên gọi ACB e-card. Loại này tương tự như VCB-ATM. Người mua loại thẻ này phải mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 1 triệu đồng và phải trả phí thường niên là 100,000 đồng. Tuy nhiên chủ thẻ sẽ được trả tỷ lệ lãi là 0,2% trên số dư tiền gửi mà họ không sử dụng đến. Chủ thẻ được cú thể cho thêm tiền gửi vào tài khoản của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn. Loại thẻ này cho phép chủ thẻ mua hàng hoá hoặc rút tiền mà không mất phí.

    Cho đến cuối năm  2002, ACB đã phát hành 10.000 ACB  e- card. Nếu so sánh với các ngân hàng Việt Nam  khác, ACB vượt trội hơn hẳn về chất lượng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ sau bán hàng. Tháng 6 năm 2002, ACB mở hai quầy hoạt động ngoài giờ nhằm cung cấp dịch vụ trợ giúp và thông tin cho các khách hàng mua thẻ Visa, thẻ MasterCard và các loại thẻ khác của ACB.

    Tham gia vào thị trường phát hành thẻ còn có các ngân hàng khác như EXIMBANK, Sacombank, ANZ và Ngân Hàng Đông Á.

    Ngân Hàng Đông Á mới khai trương trung tâm thẻ vào tháng 7 năm 2002. Nhưng theo Bà Lý Thị Ngọc, Giám Đốc trung tâm thẻ, Ngân Hàng Đông Á dự tính sẽ phát hành 1000 thẻ vào cuối năm 2002. Điều này hoàn toàn dựa trên cơ sở hệ thống khách hàng mở tài khoản giao dịch và tài khoản tiết kiệm sẵn có của ngân hàng. Ngân Hàng Đông Á còn có một hệ thống chấp nhận thẻ tại 5 chi nhánh ngân hàng và 20 siêu thị trên toàn quốc.

    Là một ngân hàng 100% vốn nước ngoài, với rất nhiều kinh nghiệm trong thanh toán và phát hành thẻ, cộng thêm công nghệ ngân hàng hiện đại sẵn có, song ANZ chỉ tham gia phát hành thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế.

    Thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ thẻ trả tiền hoặc rút tiền từ tài khoản tiết kiệm hoặc vãng lai của mình. Còn thẻ tín dụng có thể nói là loại thẻ tiêu trước trả sau. Người mua thẻ tín dụng sẽ được ngân hàng phát hành thẻ cấp cho một hạn mức tín dụng nhất định. Chủ thẻ tín dụng sẽ được tiêu dùng trong phạm vi hạn mức tín  dụng đó. Nếu vượt quá hạn mức này, chủ thẻ phải xin cấp phép của ngân hàng phát hành. Chủ thẻ phải thanh toán trả lại cho ngân hàng phát hành số dư có trong tài khoản thẻ vào một thời gian nhất định nào đó, tuỳ theo quy định của ngân hàng.

    Thẻ ghi nợ ít rủi ro hơn cho cả ngân hàng lẫn chủ thẻ. Song hạn chế của nó là; Nó chỉ có thể chấp nhận bởi các thiết bị thanh toán thẻ của chính ngân hàng phát hành hoặc một số rất hạn chế các ngân hàng khác. Trong khi đó thẻ tín dụng được chấp nhận phổ biến trên toàn thế giới.

    Cho tới nay ANZ đã phát hành khoảng 10.000 thẻ ghi nợ, cho phép mua hàng hoán tại các siêu thị và rút tiền ở các máy ATM trong và ngoài nước. ANZ đang có kế hoạch liên kết với một số các ngân hàng cổ phần Việt Nam trong việc giúp đỡ họ tham gia vào thị trường thanh toán và phát hành thẻ.

    Việc Đầu tư cho một hệ thống thanh toán thẻ đối với các ngân hàng cổ phần là rất khó khăn, thời gian thu hồi vốn lâu. Do vậy, đây chính là cơ hội của các ngân hàng cổ phần để tham gia vào “sân chơi chung” này.

    Nhìn chung việc sử dụng “tiền nhựa” ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Trong một thị trường với gần 80 triệu dân thì con số thẻ phát hành còn quá nhỏ bé. Việt Nam đang hướng tới thưong mại điện tử  và việc sử dụng thẻ sẽ trở nên phổ cập trong đại bộ phận dân chúng.

    Bảng 6: Số lượng thẻ phát hành và trị giá giao dịch

      12/1999 6/2000 12/2000 6/2001
    Số lượng thẻ phát hành (nghìn) 3 5 7 9
    Số lượng giao dịch (nghìn) 14 18 28 38
    Trị giá giao dịch (Triệu USD) 2 2 4 5

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    2.3     ATM và dịch vụ rút tiền tự động

     

      Chiếc máy ATM đầu tiên được lắp đặt bởi ngân hành Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Từ đó đến nay số lượng máy ATM tham gia vào thị trường tăng lên nhanh chóng.

    Sau năm 1996, trên thị trường chỉ hai ngân hàng có máy ATM. Đó là ANZ và HSBC. Ngân Hàng Citibank sau đó cũng lắp đặt ATM nhưng chỉ đọc được thẻ do Citibank phát hành. Do vậy có thể nói ANZ và HSBC là hai ngân hàng dẫn đầu trong mảng dịch vụ này. Tuy nhiên, do chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của Chính phủ, mà hai ngân hàng này không thể phát triển số lượng máy ATM lắp đặt của mình.

    ANZ chỉ có 2 máy lắp tại hai chi nhánh Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. HSBC cũng chỉ có hai máy tại thành phố Hồ Chí Minh.

    ATM thực chất chỉ là một công cụ rút tiền. Nó được kết nối mạng với các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng trên thế giới, cho phép đọc và chuyển tải thông tin của chủ thẻ tới ngân hàng phát hành thẻ. Nhờ vậy mà chủ thẻ có thể rút tiền từ tài khoản tín dụng, vãng lai hay tiết kiệm của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn.

    Với số luợng khách du lịch nước ngoài ngày càng tăng. Mặt bằng giá hàng hoá và dịch vụ ở Việt Nam tương đối rẻ so với khách nước ngoài. Mà không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị thanh toán thẻ cộng thêm thói quen bán hàng bằng tiền mặt của người Việt Nam. Do vậy khách nước ngoài thực sự có nhu cầu sử dụng tiền mặt. Các quầy thu đổi ngoại tệ không mở cửa 24/24. Đối với các ngân hàng nước ngoài, chi phí cho một nhân viên ngân hàng phục vụ khách rút/đổi tiền là không nhỏ. ATM chính là biện pháp hữu hiệu nhất.

    Tuy nhiên chi phí cho việc lắp đặt vận hành một hệ thống ATM là rất tốn kém mà không phải bất cứ ngân hàng Việt Nam nào cũng có khả năng đầu tư.

    Do vậy mà mãi đến tháng 5 năm 2002, cùng với việc ra mắt chính thức hệ thống nối mạng Vietcombank toàn quốc (Vietcombank – Online), Vietcombank cũng tung ra thị trường hệ thống ATM của mình. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã lắp đặt và đưa vào  sử dụng 70 máy ATM trên toàn quốc. Dự tính con số này sẽ lên tới 100 đến 150 máy nhằm phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng nói riêng và dịch vụ ngân  hàng điện tử nói chung của Vietcombank.

    Các ngân hàng khác cũng tiến hành triển khai kế hoạch ATM của mình, nhưng rất khác nhau cả về phương hướng lẫn kết quả.

    BIDV chính thức khai trương hệ thống ATM vào tháng 6 năm 2002.  6 Máy ATM đầu tiên của BIDV được lắp đặt tại các chi nhánh ngân hàng ở Hà nội, 1 máy ở Đà Nẵng, 4 máy ở thành phố Hồ Chí Minh, 1 máy ở Bình Dương. BIDV đang tiến hành hoàn tất hệ thống nối mạng dự kiến cho đến hết 2003. Hiện nay ATM của BIDV mới chỉ dùng để nhân viên ngân hàng rút tiền lương bằng thẻ do BIDV phát hành.

    Tháng 10 năm 2001, Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Vietincombank) công bố đưa vào hoạt động hệ thống ATM. 30 máy ATM loại hiện đại nhất được lắp đặt tại tất cả chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc. Kế hoạch của Vietincombank là sẽ đưa con số này lên đến 100 vào cuối năm 2003.  Vietincombank đồng thời phát hành thẻ nội địa với giá cả hết sức hấp đẫn. Thẻ này cho phép rút tiền tại, xem số dư tài khoản, chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản vãng lai tại các máy ATM của Vietincombank. Tuy nhiên kế hoạch này dường như không kết qủa cho lắm. Cho đến nay, số lượng thẻ phát hành vẫn rất khiêm tốn. Khách hàng trong nước thì vẫn đến xếp hàng gửi và rút tiền tại quầy. Khách nước ngoài thì chưa thể rút tiền từ ATM Vietincombank vì nó chưa được nối mạng quốc tế. Thế là các ATM Vietincombank hiện đang trong tình trạng “thất nghiệp”.

    Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn (VBARD) cũng có kế hoạch đầu tư vào hệ thống ATM. Máy thì mua rồi, song lắp đặt và kết nối mạng vẫn đang nằm trong kế hoạch. Việc triển khai hệ thống ATM của VBARD còn cần rất nhiều thời gian và sức lực.

    Các ngân hàng cổ phần, vốn ít, cơ sở kỹ thuật công nghệ kém nên chưa thể tham gia vào lĩnh vực này. Sacombank lại có cách đi của riêng mình. Đó là liên kết với ngân hàng ANZ. Cho tới nay, Sacombank đã phát hành thẻ nội địa và đưa vào hoạt động 3 máy ATM tại các chi nhánh. Con số này còn quá khiêm tốn. Song qua đó Sacombank có cơ hội để học tập và phát triển hệ thống ATM của mình mà không phải dò dẫm và đầu tư quá lớn.

     

    2.4     Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại và Internet

     
       

    Internet thâm nhập vào Việt Nam từ cuối năm 1997. Và đến năm 2000, Internet trở nên phổ biến. Phần lớn các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam đều có các trang Web. Mục đích chủ yếu của các trang Web là giới thiệu và cung cấp thông tin về các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng. Trong năm 2000, chưa có một giao dịch tài chính nào được thực hiện qua mạng.

    Tháng 10 năm 2000, Incombank, là ngân hàng đầu tiên giới thiệu dịch vụ tài chính qua internet đồng thời cung cấp dịch vụ hỏi đáp qua mạng cho khách hàng. Incombank là ngân hàng đầu tiên và duy nhất tham gia vào thanh toán qua mạng, nằm trong dự án Thương Mại Điện Tử Việt Nam do Bộ Thương Mại chủ trì.

    Bộ Thương Mại đánh giá rất cao những gì đạt được trong dự án này. Nó đóng vai trò nền tảng cho Internet-banking hay e-banking.

    Tháng 11 năm 2002, Incombank khai trương dịch vụ ngân hàng qua Internet hay còn gọi là Internet – banking. Dịch vụ này cho phép khách hàng tra soát, chuyển tiền, trả tiền dịch vụ qua trang chủ của Incombank vào bất cứ lúc nào.

    Năm 2001, lần lượt các ngân hàng tung ra thị trường dịch vụ Internet -banking. Đó là ACB, Vietcombank, Techcombank, BIDV.

    Cho tới nay Internet -banking của Vietcombank đã tiến vượt trội hơn hẳn các ngân hàng khác.

    ACB tiến hành dịch vụ ngân hàng qua điện thoại gọi là -phone-banking, cho phép khách hàng dùng điện thoại di động kết nối với hệ thống ngân hàng để nghe các thông tin về tài khoản như số dư, liệt kê giao dịch, hay các thông tin chứng khoán của công ty chứng khoán ACB.

    Tháng 9 năm  2002, Techcombank tiến hành dịch vụ phone-banking.

    Hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng và hệ thống thanh toán đang từng bước cải thiện dịch vụ ngân hàng truyền thống, mang lại lợi ích không nhỏ cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

    Dưới đây là một số địa chỉ trang chủ của các ngân hàng:

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.vietcombank.com.vn

    –        http://www.bidv.com.vn

    –        http://www.acbbank.com.vn

    –        http://www.techcombank.com.vn

    –        http://www.sacombank.com.vn

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.anz.com.vn

    –        http://www.vpbank.com.vn

     

    Trang chủ Ngân hàng Vietcombank:

     

     
       

     

     
       

    Trang chủ của ngân hàng ACB

    Tuy nhiên trang chủ của các ngân hàng Việt Nam còn rất nghèo nàn cả về hình thức lẫn nội dung. Chủ yếu giống như một tờ quảng cáo và các thông tin về ngân hàng thì rất chung chung.

    Trang chủ của các ngân hàng liên doanh và nước ngoài vẫn hấp dẫn hơn. Một số ngân hàng như ANZ, HSBC, Citibank, Deutsche bank cung cấp dịch vụ tỷ giá hối đoái trực tuyến hay kết nối trang chủ của họ với các trang thông tin nổi tiếng như Yahoo nhằm thu hút khách hàng.

    Do ảnh hưởng của một số ngành có liên quan như, bưu chính viễn thông, điện: cước phí internet, điện thoại cao, nguồn điện không ổn định…Internet -banking hay phone -banking còn chưa phổ biến.

    2.5     Thị trường điện tử liên ngân hàng

    2.5.1  Hệ thống  liên ngân hàng trung ương – Interbank

     

    Trong một nỗ lực cải thiện hệ thống thanh toán, tháng 5 năm 2002, ngân hàng trung ương đã đưa vào hoạt động hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đó là hệ thống máy tính nằm trong dự án trị giá USD 13,1 triệu do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ nhằm giúp Việt Nam hiện đại hoá hệ thống thanh toán thông tin ngân hàng.

    Một hệ thống thanh toán nối mạng trên toàn quốc mà trung tâm là Ngân Hàng Nhà Nước được lắp đặt. Nó cho phép kết nối 100 chi nhánh các ngân hàng trong cả nước. Hệ thống này có rất nhiều điểm tiến bộ so với hệ thống bù trừ giấy tờ trì trệ và cồng kềnh… Tốc độ giao dịch nhanh hơn, an toàn và thuận tiện hơn. Với hệ thống này, thời gian thực hiện cho một giao dịch rút ngắn chỉ còn 10 giây.

    Tuy nhiên còn nhiều khó khăn đặt ra. Đó là vẫn chưa có một quy định vận hành, nhằm đảm bảo cho hệ thống này hoạt động hoàn hảo. Hơn thế nữa, vấn đề thiếu nhân viên chuyên nghiệp vận hành hệ thống đang được đặt ra.

    2.5.2. Hệ thống  liên ngân hàng cục bộ – Intrabank

    Song song với hệ thống liên ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại cũng tiến hành cải tổ hệ thống liên ngân hàng cục bộ.

    BIDV tiến hành mở rộng hệ thống thanh toán của mình bao trùm  tất cả các chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc.

    VBARD tiến hành dự án trị giá USD 94 triệu do ngân hàng thế giới tài trợ. Trong đó có hạng mục hiện đại hoá hệ thống thanh toán trị giá USD 13,17 triệu.

    Vietcombank đã có Vietcombank – Online, cho phép khách hàng kiểm tra, thanh toán trên tài khoản của họ qua các chi nhánh Vietcombank khác nhau.

    2.5.3. Hệ thống liên ngân hàng quốc tế -S.W.I.F.T

    Đây là hệ thống, nơi diễn ra hàng ngàn trao đổi thông tin, hoạt động có liên quan đến chuyển tiền qua các quốc gia, mở thư tín dụng cho xuất nhập khẩu hàng hoá. Hiện tại có 36 ngân hàng (bao gồm 151 chi nhánh) tham gia S.W.I.F.T, trong đó có 15 ngân hàng Việt Nam và 21 ngân hàng nước ngoài.

    Bằng việc nâng các cấp hệ thống liên ngân hàng trong nước và quốc tế, thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã, đang và sẽ được cải thiện theo chiếu hướng nhanh, gọn và hiệu quả hơn.

     

    III.      Đánh giá tiềm năng thị trường dịch vụ ngân hàng điện tử

    Căn cứ tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chỉ số tăng trưởng kinh tế qua các năm gần đây, và đặc biệt là tiến bộ đạt được trong lĩnh vực cải cách ngân hàng, có thể nói thị trường Việt Nam , thị trường của gần 80 triệu dân là một thị trường tiềm  năng cho dịch vụ ngân hàng điện tử. Vấn đề là tiềm năng đó như thế nào, khai thác nó ra sao. Trong khoá luận này tôi xin trình bày một số số liệu khảo sát có liên quan tới thị trường dịch vụ này. Qua đó có thể giúp chúng ta xem xét đánh giá thị trường

     

    1.         Khảo sát thị trường

    Chi tiết kết quả khảo sát bao gồm các mục sau:

     

    1.1     Độ tuổi

    Nhìn chung dân số Việt Nam là dân số trẻ trên thế giới. Việt Nam là nước đông dân thứ hai ở Nam Á và đứng thứ 14 trên toàn thế giới (80 triệu dân). Trong đó Phụ nữ chiếm 50,8 % và nam là 49,2%. Tỷ lệ sinh sản tăng 1,36% /năm. 32 % là từ 0 đến 14 tuổi, 62 % từ 15 đến 64 tuổi và 6% là lớn hơn 65 tuổi.

    Bảng 7: Độ tuổi

     

     

     

     

    1.2.    Trình độ học vấn

     

    Bảng 8: Trình độ học vấn

    Trình độ học vấn %
    Sau đại học 4%
    Đại học 34%
    Cao đẳng, trung cấp 10,5%
    Học nghề 16%
    Phổ thông trung học 23%
    Phổ thông trung học cơ sở 12,5%

    Nhìn chung trình độ học vấn của Việt Nam vào loại cao so với khu vực. Đây là một thế mạnh để Việt Nam tham gia tiếp thu và áp dụng kiến thức mới, công nghệ mới.

    1.3.    Nghề nghiệp

     

    Bảng 9: Nghề nghiệp

    Nghề nghiệp %
    Kinh doanh tự do 26%
    Nhân viên 20%
    Cán bộ 18%
    Chủ doanh nghiệp 11%
    Giao sư 8%
    Buôn bán nhỏ 8%
    Cán bộ chính phủ 4%
    Giảng viên/giáo viên 3%
    Nghệ sĩ 1%
    Nghệ nhân 1%

    Chiếm một tỷ lệ lớn – 26% là người kinh doanh tự do, 20% là nhân viên, 18% là cán bộ cấp trung và cao 11% là chủ doanh nghiệp, số còn lại là lao động kỹ năng cao như giáo sư, nghệ sĩ.

    Việc kiểm soát thu nhập người kinh doanh tự do là rất khó. Chưa kể đến các vấn đề bức bối khác như buôn lậu, trốn thuế.  Chính vì vậy tỷ lệ thanh toán tiền mặt khá cao.

     

    1.4     Tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm

    Bảng 10: Mức tăng trưởng GDP

    GDP tính theo đầu người mỗi năm:

    Hà Nội:                                    USD 720/người/năm

    Đà Nẵng:                                 USD 530/người/năm

    Thành phố Hồ Chí Minh:                 USD 1460/người/năm

    Cần Thơ:                                 USD 353/người/năm

    Cơ cấu  GDP năm 2001:

    –        Nông, lâm, ngư nghiệp:  38,95%

    –        Công nghiệp:                 37,75%

    –        Dịch vụ:                         23,3%

    So với các năm trước, cơ cấu này đã thay đổi theo chiều hướng tiến bộ rất nhiều. Song tỷ lệ dịch vụ vẫn còn quá nhỏ cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng.

    Đại bộ phận dân số chiếm 75% có thu nhập bình quân USD35-USD 50/tháng, 13% có thu nhập USD 70/tháng, 10% có thu nhập USD100-USD200/tháng, 5% có thu nhập USD 300-USD500 và 2% có thu nhập trên USD600/tháng.

    Thu nhập bình quân đầu người thấp. Dẫn đến chỉ số tiêu dùng và dịch vụ thấp. Nói đến ngân hàng, thường người ta nghĩ ngay đến việc gửi tiền tiết kiệm và không nghĩ đến việc trả tiền cho các dịch vụ ngân hàng. Tiết kiệm chiếm 31% tổng thu nhập cá nhân.

    1.5.    Nhận thức về dịch vụ tài chính ngân hàng

    95% số người được hỏi trả lời là nhận tiền lương hay thu nhập bằng tiền mặt. Số còn lại nhận bằng chuyển khoản và séc. Sau đó 98% chi tiêu của họ được thanh toán bằng tiền. Điều này chứng tỏ sự “thống trị ” của tiền mặt trong hệ thống thanh toán.

    Thói quen dùng tiền mặt còn được phản ánh qua cách tiết kiệm. 64% người được hỏi nói rằng họ đâu có kế hoạch tiết kiệm. Chẳng qua là không tiêu tiền hoặc nghĩ rằng tiêu như thế là đủ rồi. 45% dân có thói quen giữ tiền mặt hoặc mua vàng hay ngoại tệ mạnh và cất đi một chỗ. Chỉ có 34% gửi tiền vào ngân hàng.

    Thói quen này là do mối quan hệ giữa các cá nhân người tiêu dùng và ngân hàng không tốt hoặc không có. Có người nghĩ ngân hàng là một nơi xa lạ, lạnh lùng rất khó tiếp xúc. Có người cho rằng gửi tiền ngân hàng không an toàn và mất thì giờ cho các thủ tục giấy tờ. Trong 10 năm trở lại đây, tình hình này có phần được cải thiện. Ngân hàng tự tìm đến với khách hàng bằng quảng cáo, nhân viên tiếp thị và nhiều hình thức khác.

    2.         Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng điện tử

    Trên đây là nhận thức nói chung trong dân về dịch vụ ngân hàng. Còn đối với người đã từng sử dụng dịch vụ ngân hàng thì sao. Yêu cầu của họ về dịch vụ này như thế nào?

     

    2.1     Nhu cầu thiết yếu:

    Trong số những người gửi tiền ngân hàng: 50% vì muốn giữ tiền ở một nơi an toàn, 31 % vì muốn có lãi, 29% vì mục đích tiết kiệm.

    Trong số những người không gửi tiền ngân hàng: 65 % vì không có tiền hay có nhưng cần tiền mặt cho mục đích khác, 15% vì không tin tưởng ngân hàng và số còn lại là chưa hiểu về dịch vụ ngân hàng.

    Nhìn chung, nhận thức về sử dụng dịch vụ ngân hàng trong giao dịch là rất nhỏ.

    Bảng 11: Các loại hình giao dịch bán lẻ

    Loại hình dịch vụ Mô tả (%) Nhận thức về dịch vụ (%) Có hiểu biết tốt về dịch vụ (%) Tham gia sử dụng Tần số sử dụng
    Vay Vay để kinh doanh, mua nhà, mua xe 80% 20% 10% Hàng năm
    Giao dịch qua quầy Rút tiền, chyển tiền, đổi tiền, séc 65% 30% 20% Hàng tháng, hàng năm
    Giao dịch bằng thiết bị điện tử Internet, điện thoại, thẻ tín dụng, ATM 35% 15% 4%  

    Bảng 11 cho thấy phần đông dân, (80%) cho rằng ngân hàng liên quan đến việc vay và cho vay. Trong số biết đến dịch vụ vay, thì chỉ có 20% có kiến thức tương đối tốt về vay. Và trong số hiểu biết về vay cũng chỉ có 10% đi vay ngân hàng. Tần số giao dịch là năm/lần.

    Các dịch vụ qua quầy và dịch vụ điện tử được biết đến ít hơn. 70% dân biết đến dịch vụ ngân hàng qua quầy, nhưng gần một nửa trong số đó mơ hồ về thủ tục và quy định về chuyển tiền, rút tiền, mua , bán ngoại tệ. Tần số giao dịch là 3 hay 6 tháng/lần. Công nghệ hiện đại ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng cũng chỉ có 15% dân tham gia các dịch vụ ngân hàng điện tử. Các ngân hàng Việt Nam đã sao lãng trong việc tiếp cận và giáo dục khách hàng cá nhân. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc các dịch vụ  ngân hàng tiêu dùng không tồn tại ở Việt Nam.

    Khi được hỏi về chất luợng dịch vụ của ngân hàng trong nước và nước ngoài, người tiêu dùng đánh giá như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thiết yếu

     

     

    Ngân hàng

     

     nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    An toàn và bảo vệ khách hàng 8,85 8,60
    Độ tin cậy 8,49 8,46
    Bảo vệ thông tin cá nhân 8,91 8,43
    Tốc độ phục vụ 8,76 8,06
    Thủ tục 8,58 7,93
    Thái độ phục vụ 8,73 7,5
    Có kiến thức hiểu biết tốt 8,77 7,5

    Khách hàng yêu cầu cao nhất ở ngân hàng là sự an toàn và độ tin cậy. Nhìn chung chất lượng phục vụ các ngân hàng nước ngoài vẫn tốt hơn (8/10 điểm). Nhưng khoảng cách giữa ngân hàng nước ngoài và trong nước không quá lớn. Đó chính là dấu hiệu rất tốt cho các ngân hàng Việt Nam.

     

    2.2.    Nhu cầu thứ yếu

    Phát triển xã hội ngày một đi lên. Nhu cầu khách hàng ngày càng cao. Nhất là khi xuất hiện một số dịch vụ mới và sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài.

    Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu khách hàng còn được thể hiện như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng đáp ứng nhu cầu thứ yếu dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thứ yếu

     

     

    Ngân hàng

     

    nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    Lãi suất tiền gửi cao 7,99 7,69
    Thời gian mở cửa 8,10 7,70
    Công nghệ hiện đại 8,80 7,71
    Thủ tục, điều kiện linh hoạt 8,26 7,69
    Lãi suất cho vay thấp 7,78 7,68
    Nhiều chi nhánh 7,66 8,08
    Dịch vụ 24/24 – ATM 8,47 6,85
    Phí ngân hàng thấp 7,59 7,82

    Công nghệ của các ngân hàng nước ngoài  cao hơn. Nhưng điểm mạnh của ngân hàng trong nước là có nhiều chi nhánh hơn, phí ngân hàng thấp hơn.

    3.         Đánh giá chung tình hình hiện tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

    3.1     Nhu cầu thị trường

    Kể từ năm 1996, có thể coi việc chiếc máy ATM đầu tiên do HSBC được lắp đặt là bằng chứng xuất hiện của dịch vụ ngân hàng điện tử. Cho tới nay, với số lượng máy ATM trên thị trường, số lượng thẻ phát hành, số lượng địa điểm chấp nhận thẻ, sự xuất hiện của các dịch vụ mới như phone-banking, internet-banking, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại và phát triển bước đầu của ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Rõ ràng nhu cầu cho ngân hàng điện tử là có và có tăng. Song, đại bộ phận nhu cầu đều tập trung ở các thành phố lớn, nơi có thu nhập tương đối cao và ổn định.

    Nhu cầu này cũng rất khác nhau và chưa thực sự chín muồi. Điều này thách thức các ngân hàng nỗ lực tuyên truyền giáo dục khách hàng.

    Chi phí cho loại hình dịch vụ này còn cao so với mặt bằng thu nhập. Đó chính là giải thích cho việc tuy nhận thức về ngân hàng điện tử tương đối tốt nhưng tỷ lệ tham gia thực sự không nhiều. Và nếu không tham gia dịch vụ này thì hiểu biết tường tận về dịch vụ này cũng không thể nâng cao.

    Thói quen tiêu tiền mặt, cộng thêm  tính sẵn có của dịch vụ ngân hàng điện tử chưa cao cũng là nguyên nhân dẫn đến việc dịch vụ này chưa phổ biến. Không phải bất cứ địa điểm nào cũng có mặt loại hình dịch vụ này.  Các ngân hàng đang sẵn sàng cho việc phát triển dịch vụ này. Nghĩa là cung đã có. Vậy việc khai thác và tăng cầu cho dịch vụ ngân hàng điện tử là một điều hết sức bức thiết.

    3.2     Kinh tế pháp lý và chính trị xã hội

    Tuy nhiên việc tăng cầu trong dân cho ngân hàng điện tử không chỉ cần nỗ lực của các ngân hàng mà còn đòi hỏi các chính sách vĩ mô của nhà nước.

    Cơ cấu kinh tế nước ta chưa thoát khỏi kinh tế nông ngiệp. Cơ cấu dịch vụ quá thấp chưa cho phép ngân hàng điện tử, một loại hình dịch vụ cao cấp của một nền kinh tế tương đối phát triển.

    Điều kiện chính trị hiện nay chưa cho phép nền kinh tế nước ta “mở” hoàn toàn. Do vậy cũng còn nhiều hạn chế đối với việc nhận thức của dân về các vấn đề tiến bộ, hạn chế phát triển một số ngành như thông tin viễn thông, điện, điện tử.

    Quá trình “đổi mới” mới diễn ra trong 10 năm  gần đây. Đó là một quãng thời gian quá ngắn, chưa đủ để làm thay đổi thói quen sống và làm việc của đại bộ phận dân chúng. Về mặt xã hội, cũng phải lưu ý tới nhận xét của nhiều học giả rằng, do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã” đông đảo dân chúng Việt Nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồng đội” ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, cũng như chưa có được lối sống theo pháp luật chặt chẽ, theo kỷ luật lao động công nghiệp tiêu chuẩn hoá, đều là những yếu tố mà thương mại điện tử nói chung hay ngân hàng điện tử nói riêng đòi hỏi một cách nghiêm ngặt.

    Hệ thống pháp lý liên quan đến thương mại điện tử và ngân hàng điện tử mới hình thành, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ. Các quy định về tài chính nói riêng và các quy định chung khác có liên quan thay đổi trong một thời gian khá ngắn. Điều này khiến cho hoạt động của các ngân hàng còn dè dặt, lòng tin của dân đối với ngân hàng chưa cao.

    3.3.    Công nghệ và nhân lực

    Như trên đã trình bày, công nghệ thông tin và tin học phát triển chính là một trong những động lực chính tạo ra ngân hàng điện tử. Sự phát triển công nghệ thông tin là một điều không thể phủ nhận. Và càng không thể phủ nhận nỗ lực của các ngân hàng trong việc áp dụng công nghệ hiện đại.

    Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách kịp thời để khuyến khích sự  phát triển này:

    –        Thu thuế thấp nhất đối với hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin

    –        Đầu tư ngân sách nhà nước (hơn 5%) cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ thông tin.

    –        Sửa đổi luật ngân hàng

    –        Chi 1 tỷ đồng cho dự án phát triển thương mại đIện tử. Gồm 14 tiểu dự án về hạ tầng cơ sở pháp lý.

    Đội ngũ nhân lực tin học và ngân hàng có thể nói khá mạnh: trẻ, thông minh, sánh tạo. Song, lực lượng này hiện nay chưa được tập hợp một cách có hệ thống và chưa được khai thác một cách đúng mức và có hiệu quả. Đa phần trong số họ làm việc cho các công ty nước ngoài. Trong khi các công ty trong nước thiếu một lực lượng chuyên nghiệp thực sự đủ năng lực để xử lý các hệ thống và phần mềm ứng dụng toàn quy mô lớn.

    Nhìn chung, trong vòng một thời gian ngắn, ngân hàng điện tử đã đi lên

    những thành công hôm nay từ con số không. Nó chứng tỏ sự phát triển tất yếu của ngành ngân hàng nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, để duy trì những thành công bước đầu và phát triển như mong đợi, dịch vụ ngân hàng điện tử còn đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam, các ngành có liên quan và Chính phủ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương III:       Giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    I.         Xu hướng phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    1.         Xu hướng trước mắt

    Theo báo cáo của ASEAN tháng 10 năm 2001, Việt Nam đã được xếp vào một trong số những quốc gia sẵn sàng cho thương mại điện tử.

    Bảng 13: Tình hình phát triển E – BANKING ở ASEAN

                       
       
     
       
    Việt Nam

     

    Cambodia

    Myanmar

    Lào

     
    Thailand

     

    Philippines

    Brunei

    Indonesia

     
    Malaysia
     
    Singapore

    Điều này có nghĩa là Việt Nam mới bắt đầu nhận ra sự tồn tại tất yếu của thương mại điện tử và có kế hoạch chuẩn bị cho việc tiến hành. Chính phủ Việt Nam đã có những cam  kết về thương mại điện tử trong lộ trình gia nhập AFTA, APEC và tiến tới là WTO. Bằng chứng là trong 5 năm  qua thương mại điện tử Việt Nam hay cụ thể là ngân hàng điện tử Việt Nam đã bước đi những bước đáng kể.

    Như đã phân tích ở trên, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn xa mới theo kịp các nước trong khu vực. Singapore có ATM từ năm 1979, Malaisia có ATM vào năm 1981, còn chúng ta, mới chỉ bắt đầu từ 1996.

    Kể từ cuối năm 2001, hệ thống ATM phát triển bùng nổ ở Việt Nam. Các ngân hàng đang trong một cuộc chạy đua về ATM. Xu thế này sẽ vẫn tiếp tục phát triển trong một vài năm tới. Bởi vì các ATM hiện nay mới chỉ tập trung nhiều ỏ Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả các ngân hàng đều có mong muốn hệ thống ATM của mình có mặt tại các tỉnh thành trong cả nước.

    Đi đôi với ATM là dịch vụ thẻ, bao gồm cả phát hành và chấp nhận thanh toán.

    Thẻ và ATM là mục tiêu trước mắt của các ngân hàng. Chủ trương phát triển dịch vụ ngân hàng tiêu dùng, ngân hàng bán lẻ buộc các ngân hàng phải nhanh chóng mở rộng hệ thống khách hàng cá nhân. Nhưng những ràng buộc như hạn chế về số lượng chi nhánh, số lượng nhân viên, thời gian phục vụ tại quầy đã khiến cho việc phục vụ một số lượng lớn khách hàng là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, thẻ và ATM là dịch vụ lợi thế nhất mang lại hiệu quả cho cả khách hàng và ngân hàng.

    Tuy nhiên việc lắp đặt chồng chéo ATM của các ngân hàng là không thể tránh khỏi. Chi phí quá lớn cho việc đầu tư lắp đặt hệ thống này có thể phải xem lại đối với một số ngân hàng vốn nhỏ. Tránh tình trạng đầu tư mua máy mà chưa đưa vào sử dụng trong thời gian dài, gây đọng vốn quá lâu.

    Dịch vụ phone-banking và internet-banking trong thời gian tới mới chỉ bước đầu đưa vào hoạt động hoặc thử nghiệm hoạt động. Nguyên nhân là các dịch vụ này đòi hỏi một cơ sở hạ tầng công nghệ cao. Cần có thời gian cho các ngân hàng thiết lập và nâng cấp hệ thống kỹ thuật cũng như cho người tiêu dùng nâng cao nhận thức và có một hiểu biết tương đối về dịch vụ có tính chất cách mạng trong lĩnh vực tài chính này.

     

    2          Xu hướng lâu dài

    Nền tảng của thương mại điện tử và ngân hàng điện tử  là Internet. Internet đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng dụng và chất lượng vận hành. Hiện nay, có khoảng 100 triệu người đang sử dụng Internet. Theo dự báo số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người.

    Tính đến cuối năm 2000, số thuê bao Internet ở Việt Nam là 113.000 và chưa đầy 1000 doanh nghiệp có trang chủ riêng. Tuy nhiên phải tính đến việc chúng ta mới chỉ ra nhập Internet từ cuối năm 1997.

    Không nằm ngoài xu hướng phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới, Internet cũng sẽ bùng nổ ở Việt Nam trong những năm tới. Đó chính là cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Hiện nay Chính phủ đang xem  xét để thông qua kế hoạch tổng thể nằm thực hiện nghiêm túc chỉ thị 58/CT-TW  chỉ đạo về công nghệ thông tin trong tình hình mới.

    Đào tạo nguồn nhân lực để phát triển công nghệ thông tin. Trong mọi lĩnh vực, nguồn nhân lực là hết sức quan trọng. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin nước ta mới đang ở dạng tiềm năng chứ chưa phải ở dạng khả năng khai thác. Mục tiêu của chúng ta là khuyến khích nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, có những chính sách nhằm thu hút tài năng tin học, có những sản phẩm phần mềm thay thế được nhập khẩu.

    Ứng dụng công nghệ thông tin ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội. Điều này không những xây dựng một nền kinh tế mới mà còn nâng  cao nền kinh tế tri thức, làm nền tảng cho sự phát triển của các loại hình dịch vụ cao cấp.

    Xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet ở Việt Nam. Với quyết tâm cao của ngành bưu chính viễn thông, của đông đảo cộng đồng khoa học công nghệ, hạ tầng cơ sở viễn thông giai đoạn tới phải được nâng lên ngang bằng với khu vực. Mục tiêu là tạo ra sự bùng nổ đột biến Internet ở Việt Nam. Và chỉ có cách đó chúng ta mới hoà nhập, sử dụng thương mại điện tử, Chính Phủ điện tử như Chính phủ nước ta đã cam kết với chính phủ các nước Đông nam Á.

    Kế hoạch đồng bộ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Hoàn thiện nâng cấp kỹ thuật hệ thống mạng thông tin ngân hàng rộng khắp từ Trung ương đến tất cả các chi nhánh. Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành, phục vụ công tác quản lý của Ngân Hàng Nhà Nước. Ưu tiên phát triển hệ thống thanh toán Quốc gia. Phổ cập dịch vụ ngân hàng tiêu dùng trong dân. Hoàn thiện  hệ thống các văn bản pháp lý trong các nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới công nghệ ngân hàng hiện đại.

    II.        Một số kiến nghị giải pháp cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    Trong quá trình đương đầu với những thách thức mới trên thị trường, ngành ngân hàng thế giới  luôn theo đuổi hai mục tiêu chiến lược. Đó là cạnh tranh toàn cầu và không ngừng phát triển khoa học công nghệ. Ngành ngân hàng ngày nay đang dần thay thay thế phương thức hoạt động truyền thống bằng phương thức mới. Đó chính là ngân hàng điện tử. Khái niệm ngân hàng điện tử tuy còn mới mẻ đối với Việt Nam. Song, để phát triển thương mại điện tử thì việc tiến hàng ngân hàng điện tử là điều thiết yếu, giúp nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu. Vấn đề chỉ còn là thời gian và những biện pháp cả ở tầm vĩ mô và vi mô để tạo ra một môi trường tốt cho ngân hàng điện tử phát triển.

    1.         Kiến nghị giải pháp vĩ mô

    Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện ngân hàng điện tử thông qua việc đưa ra các định hướng, xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý, triển khai cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như ban hành các chính sách phát triển một cách hợp lý. Chính phủ cần thể hiện rõ là người dẫn đầu cuộc chơi trong việc đem lại lợi ích quốc gia. Cụ thể có những việc cần làm  như sau:

    1.1.    Cải cách nâng cao hệ thống quản lý ngân hàng

    Một hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động hiệu quả là một trong số điều kiện tiên quyết sự ổn định và phát triển một nền kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Ngành ngân hàng Việt Nam mới chỉ chuyển đổi cơ cấu trong một thời gian ngắn. Khoảng thời gian này chưa để đủ tạo ra một hệ thống ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Quá trình đổi mới vẫn còn đang tiếp diễn. Ngoài những bước đi ban đầu, ngành ngân hàng Việt Nam  cần được củng cố thêm rất nhiều tạo cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử.

    *        Hiện đại hoá tổ chức và hoạt động hành chính của các ngân hàng thương mại

    –        Cải thiện và củng cố lại các quy tắc quản lý kế toán của các ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn quốc tế

    –        Nâng cao năng lực quản lý trong ngành ngân hàng. Giảm bớt hệ thống quản lý, nhân viên cồng kềnh. Giảm bớt số lượng ngân hàng nhỏ, không hiệu qủa.

    –        Tiến hành kế hoạch tập trung xúc tiến và trao đổi các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng điện tử một cách nghiên túc.

    –        Tạo điều kiện đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    –        Thông tin kịp thời về những tiến bộ công nghệ tới các cán bộ ngân hàng. Đầu tư thoả đáng cho việc xây dựng một nguồn nhân lực chuyên nghiệp.

    *        Tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng Việt Nam giao lưu với ngân hàng trong khu vực và trên thế giới

    Do chức năng và tính chất của hoạt động, hệ thống ngân hàng một nước luôn đòi hỏi một mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Chính  phủ cần:

    –        Dần dần dỡ bỏ chính sách quản lý và bảo hộ quá chặt chẽ đối với hệ thống ngân hàng bằng cách để các ngân hàng Việt Nam tham gia vào các tổ chức tài chính khu vực và thế giới, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính.

    –        Đưa các chương trình hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư thương mại điện tử vào kế hoạch phát triển hàng năm.

    –        Hợp tác triển khai các dự án thương mại điện tử có quy mô quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế.

     

    1.2     Xây dựng và cải thiện hành lang pháp lý và các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    *        Xây dựng hệ thống luật, các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    Hệ thống luật pháp liên quan tới ngân hàng điện tử hiện nay được tạo ra bởi rất nhiều cấp độ khác nhau như Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, các Bộ, Ngân Hàng Nhà Nước, Uỷ ban nhân dân thành phố. Tất nhiên các văn bản phát hành cấp Quốc hội vẫn có hiệu lực cao nhất. Nhưng điều này tạo ra sự chồng chéo về quy định mà vẫn không đầy đủ, rất khó áp dụng.

    Hơn thế nữa, việc thi hành chậm trễ các văn bản luật và dưới luật diễn ra rất phổ biến. Ví dụ như trường hợp quyết định 44/2002QĐ-TTg về vấn đề sử dụng hoá đơn điện tử trong thanh toán các dịch vụ do chính phủ ban hành ngày 21/3/2002. Nhưng đến ngày 8/10/2002, Ngân Hàng Nhà Nước mới ban hành thông tư 1092/2002/QĐ-NHNN  hướng dẫn thực hiện quyết định này cho các ngân hàng thương mại.

    Cần có thêm các thông tư hướng dẫn thi hành các vấn đề như thanh toán điện tử, tiền điện tử, vấn đề an toàn và bảo mật…Tham khảo luật và các tiền lệ khu vực và thế giới để có chung “một tiếng nói” với các quốc gia khác.

    Việc ban hành và sửa đổi các quy chế ngân hàng phải căn cứ và xuất phát từ những hoạt động thương mại và công nghệ hiện đại.

    *        Ban hành các quy chế nhằm tạo ra hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt

    Hạn chế thanh toán tiền mặt, trước tiên là trong hệ thống ngân hàng. Tiến hành thanh toán qua tài khoản cho việc trả lương, thanh toán giữa các ngân hàng. Khuyến khích mở tài khoản cá nhân.

    1.3.    Đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin

    Nền tảng của ngân hàng điện tử là công nghệ thông tin, cần có sự đầu tư thoả đáng không chỉ từ các ngân hàng mà còn từ phía Chính phủ.

    *        Thiết lập một hệ thống thanh toán tiêu chuẩn

    Hệ thống thanh toán ở Việt Nam còn nhiều điều bất cập, chưa hoàn thiện, chưa nối mạng quốc tế và bị lấn át bởi hệ thống thanh toán bằng tiền mặt. Việc cải tổ lại hệ thống thanh toán không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn mang lại lợi ích quốc gia.

    Hệ thống liên ngân hàng điện tử mới đưa vào hoạt động gần đây như là một bước tiến căn bản tạo nền móng vững chắc cho hệ thống ngân hàng trên toàn quốc. Hệ thống này cần được duy trì và khai thác một cách có hiệu quả hơn.

    Ngân Hàng Nhà Nước cần có các chính sách hỗ trợ khuyến khích các ngân hàng thương mại tự đầu tư cho hạ tầng cơ sở thanh toán điện tử. Xoá bỏ một số quy định cản trở các ngân hàng thương mại trong việc thiết lập kế hoạch chiến lược lâu dài đầu tư hiên đại hoá cơ sở hạ tầng.

    *        Xúc tiến ngành công nghệ tin học ngân hàng

    Công nghệ tin học ngân hàng đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản như trình độ quản lý kỹ thuật yếu kém, phát triển không đồng đều, thiếu vốn… Chính phủ có thể cho phép các công ty tài chính nước ngoài đầu tư một phần trong lĩnh vực thông tin viễn thông nhưng không cho họ liên quan tới các hoạt động điều hành nhằm thu hút vốn và kinh nghiệm kỹ thuật của họ mà vẫn kiểm soát được lĩnh vực này.

    *        Phổ cập công nghệ thông tin trong dân, xây dựng nguồn nhân lực tin học chuyên nghiệp

    Với cơ sở vật chất thiếu thốn như hiện nay, chúng ta không có hi vọng

    làm cho cả gần 80 triệu dân Việt Nam hiểu đầy đủ về Internet, song ít nhất chúng ta có thể đưa tin học tới mọi nơi có thể đến được. Đó là các công sở đã có hệ thống máy tính nối mạng Internet, là việc giảng dạy ở các cấp trường học, là việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Cần đưa báo chí, trung tâm thông tin lên mạng. Bằng cách tra cứu này, biến internet thành thứ công cụ gần gũi phổ biến cho các công ty và cá nhân.

    Cần đẩy mạnh kinh doanh thông tin trên internet nhằm lôi kéo các doanh nghiệp nối mạng. Các nội dung thông tin phải cập nhật, chính xác và bao trùm cả nước. Hoàn thiện các kỹ năng nghiệp vụ sử dụng internet.

    Phát triển internet là trước hết phải phát triển các nhà cung cấp dịch vụ internet. Bằng cách này mới mong tăng số lượng thuê bao internet.

    Các cơ quan quản lý nhà nước tích cực tham gia nối mạng để cung cấp các thông tin về chế độ chính sách, luật pháp, từ đó tạo thói quen dùng internet trong đời thường. Lựa chọn các doanh nghiệp để tham gia vào mạng.

    Khuyến khích tổ chức các hoạt động nghiên cứu sáng tạo tin học như cuộc thi “Trang Web ấn tượng năm 2000” do tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam  tổ chức.

    Chúng ta đang thiếu một nguồn  nhân lực công nghệ thông tin chuyên nghiệp. Việc sử dụng máy tính ngày càng phổ biến nhưng ít nhiều vẫn mang tính tự phát. Đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm. Chúng ta chưa có một lực lượng chuyên gia lập trình có khả năng xử lý ứng dụng hệ thống tầm cỡ quốc gia. Đây là vấn đề đặt ra cho Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường và Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

    Điều đáng nói tới là phương pháp đào tạo giáo dục. Hiện nay, nhiều sinh viên tin học tài năng lại không được hoặc không thể sử dụng trong các lĩnh vực ngân hàng. Nguyên nhân là họ không có chút kiến thức tối thiểu về ngành tài chính ngân hàng. Việc khuyến khích các sinh viên tin học tham gia sáng tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng còn rất ít.

    II.        Kiến nghị giải pháp vi mô

    Sau đây là một số giải pháp từ phía các ngân hàng thương mại, bộ phận đóng vai trò chính trong việc tiến hành và phát triển ngân hàng điện tử.

    1.         Chiến lược phát triển và quản lý hệ thống khách hàng

    Dịch vụ ngân hàng tiêu dùng ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu xuất hiện. Nhìn ở tầm dân chúng rộng rãi, nhận thức và hiểu biết về ngân hàng chưa rõ ràng và đầy đủ. Về phía các ngân hàng, phần lớn các ngân hàng cho tới nay vẫn còn sao lãng việc phát triển hệ thống khách hàng cá nhân.

    Các ngân hàng thương mại quốc doanh dựa dẫm vào nhà nước mà bỏ qua sự cần thiết trong việc tìm đến với khách hàng. Còn các ngân hàng cổ phần thì còn quá nhỏ và thiếu kinh nghiệm. Trong nền kinh tế thị trường, việc xây dựng hệ thống khách hàng là vô cùng quan trọng. Khách hàng chính là sự tồn tại của doanh nghiệp. Phương thức cung cấp dịch vụ truyền thống của các ngân hàng Việt Nam không còn có đủ khả năng tồn tại trước thách thức của cơ cấu kinh tế thị trường.

    Trong xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển công nghệ thông tin cho phép các đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường không chỉ trong phạm vị một nước mà là trên toàn thế giới. Nó tạo ra cho các ngân hàng có chiến lược marketing mạnh nhiều cơ hội và thách thức những ngân hàng có quy mô khách hàng nhỏ. Hơn bao giờ hết, đẩy mạnh marketing phát triển hệ thống khách hàng là nhiệm vụ đầu tiên của các ngân hàng.

    Ngày nay, sự khác biệt của các dịch vụ tài chính giữa các ngân hàng không còn là bao. Ngân hàng nào cũng có các dịch vụ như nhau Rất khó khăn để trở nên nổi trội trên thị trường. Do vậy cần phải duy trì một mối quan hệ tốt đối với khách hàng. Duy trì chất lượng dịch vụ, xây dựng kế hoạnh giữ vững thị phần và quy mô khách hàng. Nghiên cứu tìm hiểu kể cả nhu cầu nhỏ của khách hàng nhằm mang lại cho khách hàng dịch vụ cần thiết đúng lúc. Phưong châm là “đúng người, đúng sản phẩm, đúng lúc” Một số yêu cầu cụ thể đối với ngân hàng:

    *        Hiểu khách hàng

    Xây dựng cơ sở dữ liệu về khách hàng, các sở thích, nhu cầu thiết yếu, thứ yếu. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc phát triển dịch vụ, sản phẩm và xây dựng giá cho mỗi loại khách hàng

    *        Luồng phân phối sản phẩm

    Các luồng sản phẩm  mới phải thường xuyên đuợc tung ra xen kẽ luồng sản phẩm cũ. Giúp khách hàng luôn có nhiều sự lựa chọn. Đi đôi với việc này là các chiến dịch quảng bá khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm mới. Từ đó dần thay thế sản phẩm cũ đã hết tuổi thọ trên thị truờng.

    *        Tạo ra khách hàng

    Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên marketing chuyên nghiệp, chủ động biến nhu cầu tiềm  năng của khách hành thành nhu cầu thực sự, xoá bỏ định kiến của khách hàng, tăng cuờng dịch vụ sau bán hàng để nhanh chóng lấp đầy các “khe hở” hiểu biết chưa đầy đủ về dịch vụ của khách.

    2.         Xây dựng chiến lược đầu tư thực hiện ngân hàng điện tử

    Mỗi ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin cho ngân hàng mình nhằm thực hiện chiến lược tổng thể của ngân hàng, có tính đến nội lực. Tránh tình trạng đầu tư tràn lan, mất cân đối, thời gian hoàn thiện kéo dài. Với 15% trong số các ngân hàng thể hiện quan tâm đối với ngân hàng điện tử hiện nay thì qủa là đáng ngại. Thực tế, đầu tư cho ngân hàng điện tử yêu cầu một lượng vốn quá cao mà không phải ngân hàng nào cũng đáp ứng nổi.

    Lãnh đạo các ngân hàng phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao. Với tầm nhìn của mình, lãnh đạo ngân hàng có thể thấy một bức tranh toàn cảnh, từ đó mà cân đối giữa ngân hàng điện tử và các phần dich vụ khác.

    Các ngân hàng đã tham gia thực hiện ngân hàng điện tử cần thực hiện triệt để hệ thống ngân hàng điện tử đã xây dựng, tránh tình trạng lãng phí về người và của.

    Cuối cùng, các ngân hàng không quên phối kết với các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô, các ngành có liên quan để có thể từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách nhất là cơ sở hạ tầng truyền thông, chi phí giao dịch điện tử.

     

    3.         Vấn đề an toàn và bảo mật

    Vấn đề an toàn và bảo mật là vấn đề quan trọng đối với ngân hàng đặc biệt là ngân hàng điện tử. Để dẫn tới thành công trong phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng mới này, điều đầu tiên là ngân hàng phải chiếm được lòng tin của khách hàng.

    *        Áp dụng các biện pháp an toàn cần thiết

    Về mặt kỹ thuật, hiện nay một số các ngân hàng các hê thống an toàn như Secure Sockets Layer (SSL) hay Secure Electronic Transaction (SET). Ngoài ra các ngân hàng cần thiết lập một chính sách quản lý rủi ro nội bộ. Cuốn “Nguyên tắc quản lý rủi ro cho các hoạt động ngân hàng điện tử” do BASEL phát hành là một tài liệu tham khảo rất tốt.

    *        Giáo dục khách hàng

    Thực tế, những sơ xuất của khách hàng do thiếu hiểu biết đã dẫn đến những rủi ro đáng tiếc. Khách hàng dường như phó mặc cho ngân hàng và không nghĩ rằng mình cũng phải có trách nhiệm tự bảo vệ.

    Ví dụ như một người để cho người thân của mình biết mã số bí mật và sử dụng thẻ tín dụng của mình một vài lần. Điều này rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa ông ta với ngân hàng. Ông ta có thể từ chối các giao dịch xảy ra tại các địa điểm mà ông ta chứng minh là mình không thể có mặt ở đó.

    Ngân hàng có thể giáo dục hoặc cảnh báo nguy cơ cho khách hàng bằng các thông báo in trên bản sao kê tài khoản, thư, đơn đăng ký dịch vụ. Và luôn nhắc nhở khách hàng tuân theo các quy dịnh đảm  bảo an toàn.

    4.         Thiết kế trang chủ và tận dụng tiến bộ của trang chủ

     

    Trang chủ, tiếng Anh là Web site có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Đối với ngân hàng thì nó là một thị trường thông tin trên mạng. Nó cho phép xúc tiến các hoạt động quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Trang chủ là cở sở của Internet-banking.

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần lưu tâm hơn dến vấn đề thiết kế trang chủ, sao cho dẹp mắt, hấp dẫn hơn, thông tin cập nhật, phong phú hơn nhằm thu hút chú ý của khách hàng.

    Các ngân hàng cần cân nhắc đến việc tổ chức nhiều các giao dịch thực sự trên các trang chủ hơn nhằm  chiếm lòng tin khách hàng, xoá bỏ mối e ngại ban đầu của khách hàng về Internet-banking, làm Internet-banking trở nên phổ biến.

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận

    Ngân hàng điện tử là một phương thức mới của các hoạt động tài chính ngân hàng. Sự ảnh hưởng lớn lao của nó không chỉ ở những gì mà người ta dễ nhận ra như tăng số lượng khách hàng và dịch vụ ngân hàng, giảm bớt chi phí, giảm bớt khâu trung gian, tào điều kiện thuận lợi cho khách hàng…mà còn ở những điều khó nhận thấy hơn như mô hình thanh toán, hiệu quả hoạt động tài chính, cấu trúc thị trường, luật pháp, chính sách,.., từ đó ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế xã hội của các nước và trên toàn thế giới.

    Ngân hàng điện tử là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nó không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho ngành tài chính ngân hàng mà còn cho  các ngành khác như công nghệ thông tin, du lịch, sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng… Ngân hàng điện tử là một phần của thương mại điện tử và tiến trình “toàn cầu hoá”.

    Trong vòng 10 năm, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đưa ngân hàng điện tử Việt Nam  đi lên từ con số không và đạt được những thành tích đáng kể. Ngân hàng điện tử mang tính chất xúc tác thúc đẩy nhanh chóng quá trình cải tổ làm thay đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung, góp phần thực hiện các cam kết của nước ta trên lộ trình gia nhập ASEAN, AFTA, APEC và tương lai là WTO.

    Tuy còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu và hoàn thiện trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp luật và xã hội để có thể thúc đẩy ngân hàng điện tử phát triển ở Việt Nam, nhưng nhìn vào xu hướng phát triển ngân hàng điện tử trên thế giới và bước đi ban đầu của Việt Nam trong lĩnh vực này, ta có thể khẳng định rằng Việt Nam tất yếu sẽ triển khai thành công ngân hàng điện tử.

    Vì thời gian hạn chế nên bài khóa luận này không tránh khỏi có những thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Rất mong sự góp ý của các thầy cô để tôi có thể hoàn thiện thêm.

    Xin chân thành cảm ơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

    1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh

    Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế, nguồn tiềm năng cần được khai thác, đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

    1.1.2. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh

    Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    1.1.3. Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh

    Là làm sao cho các con số trên các tài liệu hạch toán “biết nói” để người sử dụng chúng

    hiểu được tình hình và kết quả kinh doanh.

    Phân tích hoạt động kinh doanh căn cứ vào các tài liệu hạch toán nghiên cứu đánh giá,

    từ đó đưa ra các nhận xét và đưa ra giải pháp đúng đắn.

    Vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp đưa ra kết luận sâu sắc là cơ sở phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, là căn cứ đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, biện pháp phòng ngừa các rủi ro.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại

    NHTM ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế, các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Theo Luật “các TCTD” (1997) của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    1.2.2. Nghiệp vụ huy động vốn

    Để đáp ứng nhu cầu về vốn thì việc tạo lập vốn là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó vốn tự có của các NHTM tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, mà nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng vào nền kinh tế là nguồn vốn huy động, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn. Việc huy động được nhiều vốn vừa đem lại lợi nhuận, vừa mở rộng hoạt động của Ngân hàng.

    1.2.2.1. Vốn tiền gửi

    1. a) Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 1

     

    Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại Ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi.

    Các TCKT thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn : Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho Ngân hàng nên tiền gửi này là nguồn vốn không ổn định của Ngân hàng.

    Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho khách hàng. Mặt khác, khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.

    • Tiền gửi có kỳ hạn:

    Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.

    Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời.

    Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

    1. b) Tiền gửi của dân cư:

    Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân hàng.

    Tiền gửi dân cư bao gồm:

    Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận gửi tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

    Trong hình thức này, người gửi tiền được cấp một thẻ tiết kiệm. Thẻ này được coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi này được chia thành 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.

    Thẻ này được xem là chứng từ đảm bảo tiền gửi. Vì vậy, người gửi có thẻ tiết kiệm có thể mang thẻ này đến Ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay tiền.

    1.2.2.2. Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:

    Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản. Ngoại trừ trường hợp

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 2

     

    khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ quan có thẩm quyền thì Ngân hàng mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản thanh toán có liên quan.

    Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản

    Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng kiểm tra con dấu, chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân hàng có thể từ chối thanh toán.

    Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.

    1.2.3. Nghiệp vụ tín dụng:

    1.2.3.1. Khái niệm tín dụng:

    Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được định nghĩa như sau: “Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại.

    1.2.3.2. Bản chất tín dụng:

    Tín dụng thể hiện như một sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một vật hoặc số tiền giữa người cho vay và người đi vay. Vì vậy, người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hóa trực tiếp hay gián tiếp thông qua trao đổi. Bản chất tín dụng thể hiện trong mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó trong quá trình sản xuất.

    1.2.3.3. Phân loại tín dụng:

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng nhưng cách phổ biến nhất là phân loại theo thời hạn và phân loại theo thành phần kinh tế.

    1. a) Phân loại theo thời hạn:

    Căn cứ vào thời hạn, tín dụng được chia thành ba loại:

    • Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến một năm
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên một năm đến năm năm
    • Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên năm năm
    1. Phân loại theo đối tượng

    Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị gia tăng nằm trong tổng giá trị lô hàng, các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, án đầu tư, phương án phục vụ đời sống.

    Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu, khách hàng phải làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 3

     

    Số lãi tiền vay trả cho TCTD cho vay trong thời hạn thi công, chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn để đầu tư tài sản cố định đó, mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố định.

    Số tiền khách hàng vay để trả cho các khoản vay tài chính cho nước ngoài mà các khoản vay đó đã được tổ chức tín dụng trong nước bảo lãnh.

    Các nhu cầu tài chính khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ và phục vụ đời sống theo quy định của NHNN.

    1. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng:

    Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: hình thức này dành cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

    1.2.3.4.  Nguyên tắc tín dụng:

    Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    1.2.3.5. Lãi suất tín dụng:

    Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.

    Lãi suất cho vay: là tỷ lệ % giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho vay trong thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất tính cho năm, quý, tháng…

    Tùy theo từng phương pháp cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng hai cách tính lãi độc lập:

    • Cách tính lãi đơn: là không nhập vốn gốc, chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn.
    • Cách tính lãi kép: là lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn.

    Do đó, cùng một khoản vốn cho vay sau một thời gian nhất định tùy theo cách tính lãi sẽ tạo ra những khoản thu khác nhau. Tuy nhiên, với cách tính lãi như thế nào thì lãi suất cho vay cũng đảm bảo theo công thức sau:

    Lãi suất cho vay = Chi phí vốn + Chi phí rủi ro tín dụng + Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng

     1.2.4. Rủi ro tín dụng:

    1.2.4.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:

    Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.

    Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho Ngân hàng. Còn ở Việt

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 4

     

    Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thường chiếm 70% – 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng có xác suất vỡ nợ cao so với những khoản đầu tư khác.

    1.2.4.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:

    1. Đối với ngân hàng:

    Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng là nguồn vốn huy động, khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong cho vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình trạng thiếu hụt.

    Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán, làm cho ngân hàng lỗ và có nguy cơ bị phá sản.

    1. Đối với nền kinh tế xã hội:

    Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đến các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, đến các tầng lớp dân cư. Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có khả năng lây lan sang các ngân hàng khác, tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi. Khi đó, dân chúng sẽ đua nhau đến ngân hàng rút tiền trước thời hạn, điều đó có thể đưa đến sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng tác động đến toàn bộ nền kinh tế.

    Do đó, rủi ro tín dụng là vấn đề rất nghiêm trọng mà Chính phủ các nước phải quan tâm, đặc biệt là Ngân hàng Trung Ương phải có những chính sách khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác thanh tra, kiểm soát, chiết khấu, tái chiết khấu và sẵn sàng hỗ trợ cho các NHTM khi có các biến cố rủi ro xảy ra.

    1.2.4.3. Những nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:

    1. Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn:

    Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị

    • đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa thu ngày càng gia tăng… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
    • Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định, bị sa thải, thất nghiệp, tai nạn lao động, hỏa hoạn, lũ lụt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sử dụng vốn sai mục đích, thiếu năng lực pháp lý…
    • Khi các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay đầy đủ cả gốc và lãi thường là những trường hợp sau: năng lực chuyên môn và uy tín của người lãnh đạo đơn vị giảm thấp, khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do lỗ trong kinh doanh, sử dụng vốn sai mục đích, thị trường cung cấp vật tư bị đột biến, bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ, thay đổi của chính sách của Nhà nước.
    1. Những nguyên nhân khách quan:
    • Tình hình kinh tế trong nước:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 5

     

    Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.

    Khi nền kinh tế có lạm phát càng tăng cao có thể dẫn đến rủi ro tín dụng, vì người gửi tiền có tâm lý lo sợ đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, nên họ muốn rút tiền ra. Trong khi đó, người đi vay lại muốn gia tăng nhu cầu vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng không có hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị phá sản.

    • Tình hình thế giới:

    Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế giới. Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở rộng kinh doanh ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.

    Chính vì vậy, khi có những biến cố về kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế giới và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước và tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng.

    1. Những nguyên nhân liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
    • Đảm bảo đối nhân: nếu người bảo lãnh gặp phải những tình huống chủ quan hay khách quan đã được trình bày ở phần trên. Điều đó có thể dẫn đến người bảo lãnh không có khả năng thực hiện những lời cam kết của mình, tức là không có khả năng thay mặt người vay trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
    • Đảm bảo đối vật: rủi ro tín dụng xảy ra liên quan đến vật dùng để thế chấp, cầm cố nợ vay khi gặp phải những trường hợp sau:

    Việc đánh giá tài sản cầm cố, thế chấp không chính xác.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không tiêu thụ được.

    Tài sản thế chấp, cầm cố bị hỏa hoạn hoặc cấm lưu thông.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên không thể phát mãi.

    1. Những nguyên nhân do chính bản thân ngân hàng:

    Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, đặt mong muốn về lợi nhuận cao hơn các khoản

    cho vay lành mạnh.

    Ngân hàng vi phạm các nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn (cho một

    khách hàng vay quá 15% vốn tự có), thiếu tài sản thế chấp, cầm cố,… Phân tích đánh giá khách hàng sai, cho vay thiếu thông tin xác thực.

    Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.

    1.2.4.4. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 6

     

    1. Phân tích khách hàng:

    Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ.

    Đánh giá tình hình tài chính của khách hàng

    Đánh giá tư cách, năng lực, trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp. Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn

    1. Phân tích tín dụng:

    Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng

    Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng

    Thực hiện các đảm bảo tín dụng

    Trình độ của cán bộ tín dụng

    1. Phân tán rủi ro:
    • NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần phải tôn trọng giới hạn an toàn.
    • Việt Nam, căn cứ vào quy chế cho vay của NHNN ban hành 31/12/2001 quy định: “Dư nợ đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng”.
    • Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình cho vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm đầu mối phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và của ngân hàng.

    Việc cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà cần nhiều ngân hàng kết hợp với nhau, cùng nhau xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả năng sinh lời của dự án để tíến hành cho vay. Các ngân hàng tham gia hợp vốn vào một dự án phải ký với nhau một hợp đồng đồng tài trợ, thỏa thuận rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên. Do đó, khi có rủi ro xảy ra gánh nặng sẽ không dồn vào một ngân hàng nào, bởi các ngân hàng tham gia đồng tài trợ để chia sẻ rủi ro, hậu quả của nó được giảm nhẹ.

    • Bảo hiểm tín dụng: như bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Ở các nước, bảo hiểm tín dụng thường được thực hiện dưới dạng sau:
    • Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho ngành, nghề mà họ kinh doanh.
    • Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm và sẽ được bồi thường hại nếu gặp rủi ro mất vốn tín dụng.
    • Bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay.
    • Lập quỹ dự phòng rủi ro: được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống rủi ro. Việc sử dụng các quỹ khi có rủi ro như sau:
    • Quỹ dự phòng rủi ro đặc biệt: dùng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hàng làm ăn thua lỗ do những nguyên nhân khách quan đem lại.
    • Quỹ dự phòng tổn thất tín dụng: dùng để bù đắp các khoản tổn thất rủi ro tín dụng do khách hàng gây nên.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 7

     

    Theo Luật TCTD ở Việt Nam áp dụng từ 01/10/1998, điều 82 dự phòng rủi ro có quy định: “TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động. Việc phân loại tài sản “có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro do Thống đốc NHNN cùng Bộ tài chính quy định”.

    Như vậy, trong nền kinh tế thị trường để giảm bớt rủi ro trong hoạt động ngân hàng thì tất yếu phải thành lập quỹ dự phòng rủi ro. Song tùy theo mỗi nước mà quỹ này được tổ chức theo những hình thức và tên gọi khác nhau.

    1.2.5. Đảm bảo tín dụng:

    1.2.5.1. Khái niệm về đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là phương tiện tạo cho ngân hàng có một sự đảm bảo rằng sẽ có một nguồn vốn khác để hoàn trả hay bảo chi nếu công việc cho vay bị phá sản.

    1.2.5.2. Vai trò của đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý của khoản tín dụng đã cấp với những tài sản của người vay hay người thứ ba để khi không thu được nợ sẽ có thể dựa vào việc bán tài sản đó để thu hồi nợ.

    Khi đánh giá hoạt động tín dụng của khách hàng chưa đem lại nguồn thu chắc chắn, ngân hàng buộc phải dùng đến hình thức đảm bảo tín dụng. Đó là các giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba.

    1.2.5.3. Biện pháp đảm bảo tiền vay:

    Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng.

    Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.

    Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

    1.2.5.4. Nguyên tắc bảo đảm tiền vay:

    Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của Nghị định 178 và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

    Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    Sau khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, nếu khách hàng chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng theo nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG:

    1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn:

    1.3.1.1. Tỉ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 8

     

    Tỉ lệ vốn huy động = Vốn huy động/tổng nguồn vốn

    Chỉ tiêu này cho biết nguồn vốn của Ngân hàng có phụ thuộc vào vốn của Hội Sở hay không. Cứ 100 đồng vốn thì có bao nhiêu đồng vốn huy động.

    Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn cao thể hiện ngân hàng tự chăm lo nguồn vốn đủ sức để hoạt động kinh doanh tín dụng và các sản phẩm ngân hàng khác

    Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy công tác huy động vốn không đủ nguồn vốn để cho vay, phải đi vay của ngân hàng Trung Ương hay các TCTD khác, mức vốn này có lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động từ dân cư. Vì vậy nếu tỷ lệ này thấp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

    Ngược lại, nếu ngân hàng có chính sách huy động vốn với lãi suất cao nhưng hoạt động tín dụng kém gây ứ động nguồn vốn huy động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vì vậy phải cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả.

    1.3.1.2. Tỉ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động:

    Tỉ lệ dư nợ trên vốn huy động = Dư nợ cho vay / Vốn huy động

    Chỉ tiêu này xác định năng lực đầu tư của vốn huy động. Nó cho chúng ta biết khả năng huy động vốn của ngân hàng có đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng không. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ.

    1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay:

    1.3.2.1. Tỉ lệ tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn:

    Tỉ lệ dư nợ = Tổng dư nợ/tổng nguồn vốn

    Đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ tập trung nguồn vốn vào hoạt động tín dụng. Tỉ lệ này càng cao thì Ngân hàng tập trung vốn tốt cho hoạt động tín dụng. Nó giúp nhà phân tích so sánh khả năng sử dụng vốn cho vay của ngân hàng so với nguồn vốn huy động. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ cho vay.

    1.3.2.2. Hệ số thu nợ

    Hệ số thu nợ = ( Doanh số thu nợ/ Doanh số cho vay) x 100%

    Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, tỉ lệ này càng cao thì công tác thu hồi nợ của ngân hàng được thực hiện tốt. Cứ 100 đồng doanh số cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng doanh số thu nợ. Đôi khi tỉ số này thấp Ngân hàng vẫn thu nợ tốt do một số khoản nợ chưa đến thời hạn trả gốc và lãi.

    1.3.2.3. Vòng quay tín dụng: (lần)

    Vòng quay tín dụng = Doanh số thu nợ / dư nợ bình quân

    Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, tốc độ thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm.

    1.3.2.4. Chỉ tiêu thời gian thu nợ bình quân:

    Thời gian thu nợ bình quân = 360 ngày / Vòng quay tín dụng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 9

     

    Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ thu hồi nợ là nhanh hay chậm về mặt thời gian. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng cao và tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng càng nhanh.

    1.3.2.5. Tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

    Tỉ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/tổng dư nợ) x 100%

    Chỉ số này đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng, tỉ lệ này càng thấp thì chất lượng hoạt động tín dụng càng hiệu quả. Cứ 100 đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng nợ quá hạn.

    1.3.3. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    1.3.3.1. Phân tích thu nhập:

    Chỉ số này giúp nhà phân tích xác định được cơ cấu của thu nhập để từ đó có những biện pháp phù hợp để tăng lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời có thể kiểm soát được rủi ro trong kinh doanh.

    Thu nhập từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục thu nhập = x 100%
    Tổng thu nhập
    1.3.3.2. Phân tích chi phí:
    Chi phí từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục chi phí = x 100%
    Tổng chi phí

    Chỉ số này giúp nhà phân tích có thể biết được kết cấu các khoản chi để có thể hạn chế các khoản chi bất hợp lý, tăng cường các khoản chi có lợi cho hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện tốt chiến lược mà hội đồng quản trị ngân hàng đã đề ra.

    1.3.3.3. Phân tích lợi nhuận:

    Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của NHTM. Lợi nhuận có thể hữu hình như: tiền, tài sản… và vô hình như uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, hoặc phần trăm thị phần ngân hàng chiếm được.

    Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

    Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô. Một bộ phận của lợi nhuận được doanh nghiệp trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.

    Các chỉ số:

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản

    ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản (%)

    Chỉ số này cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản. Nói cách khác, ROA giúp cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng tốt.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 10

     

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu

    ROS = (Lợi nhuận/doanh thu) x 100%

    Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu của Ngân hàng thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Lợi nhuận ròng trên VCSH

    ROE = (Lợi nhuận/VCSH) x 100%

    Tỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho thấy cứ trung bình 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào việc kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Tổng chi phí / Tổng thu nhập

    Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng thu nhập. Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Thông thường chỉ số này phải nhỏ hơn 1, nếu nó lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đang có nguy cơ phá sản trong tương lai.

    Tóm lại: Những cơ sở lý luận nêu trên về các nghiệp vụ cơ bản, nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng và các chỉ tiêu đánh giá nhằm làm cho hoạt động phân tích đạt hiệu quả tốt. Bên cạnh việc phân tích dựa trên các chỉ tiêu kinh doanh chúng ta cần có cái nhìn khái quát về Ngân hàng để nắm được đâu là thuận lợi, khó khăn mà ngân hàng đang gặp phải cũng như tình hình hoạt động trong thời gian qua.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 11

     

    CHƯƠNG 2

    PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.1.     KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG EXIMBANK

    2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

    Eximbank (EIB) được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.

    Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint – Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank.

    Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 10.560 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.

    Tính đến ngày 31/12/2010, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 183 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Nghệ An, Huế, Bạc Liêu, Long An, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM và đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 852 Ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới.

    2.1.2. Các sản phẩm, dịch vụ

    Ngân hàng Eximbank cung cấp đầy đủ các dịch vụ của một Ngân hàng tầm cỡ quốc tế, cụ thể sau:

    Huy động tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán của cá nhân và đơn vị bằng VND, ngoại tệ và vàng. Tiền gửi của khách hàng được bảo hiểm theo quy định của Nhà

    nước.

    Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; cho vay đồng tài trợ; cho vay thấu chi; cho vay sinh hoạt, tiêu dùng; cho vay theo hạn mức tín dụng bằng VND, ngoại tệ và vàng với

    các điều kiện thuận lợi và thủ tục đơn giản.

    Mua bán các loại ngoại tệ theo phương thức giao ngay (Spot), hoán đổi (Swap), kỳ

    hạn (Forward) và quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option).

    Thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, chiết khấu chứng từ hàng hóa và thực hiện chuyển tiền qua hệ thống SWIFT bảo đảm nhanh chóng, chi phí hợp lý, an toàn

    với các hình thức thanh toán bằng L/C, D/A, D/P, T/T, P/O, Cheque.

    Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa và quốc tế: Thẻ Eximbank MasterCard, thẻ Eximbank Visa, thẻ nội địa Eximbank Card. Chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 12

     

    Visa, MasterCard, JCB…thanh toán qua mạng bằng Thẻ.

    Thực hiện giao dịch ngân quỹ, chi lương, thu chi hộ, thu chi tại chỗ, thu đổi ngoại tệ,

    nhận và chi trả kiều hối, chuyển tiền trong và ngoài nước.

    Các nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước (bảo lãnh thanh toán, thanh toán thuế,

    thực hiện hợp đồng, dự thầu, chào giá, bảo hành, ứng trước…).

    Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học. Tư vấn đầu tư – tài chính – tiền tệ.

    Dịch vụ đa dạng về Địa ốc.

    Home Banking; Mobile Banking; Internet Banking.

    Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp Thomas Cook Traveller’ Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh (I.O.M), cùng với những dịch vụ và tiện ích Ngân hàng khác đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    2.2. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ

    NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.2.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng

    2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản

    Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản biến động liên tục qua các năm và bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 44%. Đặc biệt năm 2011 và Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản sụt giảm mạnh do khủng hoảng nền kinh tế tác động. Trong năm 2011, các giao dịch liên quan đến công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính khác của EIB đều đến hạn khiến cho khoản mục này năm 2011 giảm 100% so với năm 2010. Mặt khác, trong năm 2011 EIB cũng cơ cấu lại danh mục các khoản góp vốn đầu tư dài hạn, giảm 28% so với năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tổng tài sản của EIB ở mức trung bình, đứng thứ 5/9 ngân hàng so sánh.

    2.2.1.2. Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu

    Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm, bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 25%. Nguyên nhân vốn chủ sở hữu giảm chủ yếu do ngân hàng sử dụng thặng dư vốn cổ phần của EIB để tăng vốn điều lệ và trả cổ tức cho cổ đông, giảm từ 5.292 tỷ đồng năm 2008 xuống 156 tỷ đồng tại Quý 2/2012. Mặc dù tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm nhưng vốn điều lệ của EIB liên tục được bổ sung qua các năm, từ 7.220 tỷ đồng năm 20008 lên 12.355 tỷ đồng tại 30/6/2012. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, vốn chủ sở hữu của EIB hiện đứng thứ 4, sau 3 ngân hàng thương mại Nhà nước.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 13

     

    2.2.1.3. Tốc độ tăng trưởng thu nhập hoạt động, lợi nhuận trước thuế

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 55%, mức cao nhất đạt 71% vào năm 2011. Tính theo giá trị tuyệt đối, lợi nhuận trước thuế của EIB vẫn có xu hướng tăng qua các năm, từ 969 tỷ đồng năm 2008 lên 4.056 tỷ đồng năm 2011. Tuy nhiên Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của EIB lại giảm xuống còn tăng trưởng 37% so với cùng kỳ năm 2011 do thu nhập từ hoạt động dịch vụ giảm và hoạt động kinh doanh bị lỗ hơn 46 tỷ đồng trong khi cùng kỳ năm 2011 lại lãi 19 tỷ đồng.

    Thu nhập hoạt động của EIB có xu hướng tăng từ năm 2009 đến năm 2011, nhưng Quý 2/2012 lại có tốc độ tăng trưởng lại có xu hướng giảm, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân do khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu sụt giảm khiến cho thu nhập từ hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại hối của ngân hàng bị ảnh hưởng.

    So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV tại 30/6/2012, thu nhập hoạt động của EIB đứng thứ 7 và lợi nhuận trước thuế đứng thứ 5.

    2.2.1.4. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay

    Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng có xu hướng giảm, từ 81% năm 2009 xuống 20% năm 2011, đặc biệt Quý 2/2012 còn tăng trưởng 1% do tình hình kinh tế khó khăn, các ngân hàng thực hiện thắt chặt tín dụng theo định hướng của NHNN nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu. Tuy nhiên với lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 14

     

    và tài trợ xuất nhập khẩu, cùng với việc bắt đầu từ tháng 5/2012 chính sách tiền tệ đã dần dần được nới lỏng nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng, chúng tôi cho rằng EIB sẽ có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay cao hơn trong những tháng cuối năm 2012.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần cho vay của EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 7 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB và STB).

    2.2.1.5. Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng

    Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng của EIB biến động qua các năm và bình quân từ 2008 đến nay đạt 24%. Đặc biệt năm 2011, tốc độ tăng trưởng tiền gửi của EIB bị âm do tình hình lạm phát tăng cao nên huy động của EIB bị ảnh hưởng. Mặt khác, trong năm 2011 một lượng lớn tiền gửi bằng vàng đã được chuyển sang loại hình dịch vụ giữ hộ vàng khiến huy động vàng của EIB giảm đáng kể.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần huy động trên thị trường 1 của

    EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 9 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB, TECH, STB và

    MBB).

    2.2.2. Cơ cấu tài sản, chất lượng đầu tư

    Trong danh mục tổng tài sản của EIB, hoạt động cho vay trên thị trường 1 và thị trường 2 chiếm đến hơn 70% tổng tài sản và vẫn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Tỷ trọng cho vay trên thị trường 1 trong cơ cấu tài sản đang có xu hướng giảm trong khi tỷ trọng cho vay trên thị trường 2 có xu hướng tăng từ năm 2009 đến nay. Trong điều kiện thanh khoản của các

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 15

     

    ngân hàng nhỏ vẫn còn gặp khó khăn, lãi suất trên thị trường giảm mạnh, với cơ cấu cho vay trên thị trường 2 quá lớn so với các ngân hàng khác trong cùng ngành, EIB có thể gặp rủi ro trong thanh khoản. Vì vậy ngân hàng cần phải có chính sách hợp lý nhằm kiểm soát tốt các khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng.

    2.2.2.1. Tỷ lệ cho vay /Tổng tài sản (LAR):

    Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (LAR) của EIB trung bình từ năm 2007 đến nay đạt 48% và có xu hướng giảm từ năm 2009 do ngân hàng có xu hướng đẩy mạnh hoạt động cho vay trên thị trường 2. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ LAR của EIB ở mức thấp, cho thấy thanh khoản của ngân hàng vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, các tài sản đảm bảo cho các khoản cho vay của EIB có tính lỏng thấp chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng tài sản (bất động sản và động sản chiếm 88%). Do đó, trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn gặp khó khăn, ngân hàng phải có chính sách kiểm soát tốt rủi ro, đảm bảo thanh khoản.

    2.2.2.2. Tài sản có khác

    Tài sản có khác của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 1.307 tỷ đồng năm 2009 lên 10.789 tỷ đồng tại 30/6/2012 và chiếm 6% tổng danh mục tài sản của ngân hàng. Đặc biệt trong năm 2011, các khoản phải thu của ngân hàng tăng đột biến gấp 5,5 lần so với năm 2010 (từ 636 tỷ đồng lên 3.476 tỷ đồng) do ngân hàng phải ký quỹ bằng vàng tại các TCTD khác nhằm đảm bảo cho các khoản tiền gửi của các TCTD này tại EIB; đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ngân hàng mua trong năm nhưng chưa hoàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 16

     

    tất thủ tục chuyển nhượng và các khoản chờ thanh toán liên quan đến giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa ngân hàng và một đơn vị khác.

    Từ năm 2009 đến 2010, Tài sản có khác của EIB cũng tăng đột biến, từ 271 tỷ lên 4.253 tỷ đồng. Nguyên nhân do ngân hàng đã ủy thác đầu tư 4.000 tỷ đồng cho công ty quản lý quỹ đầu tư vào chứng khoán có lãi suất cố định thông qua các hợp đồng ủy thác có thời hạn 6 tháng. Vào cuối năm 2010, khoản tiền này được đầu tư ở dạng tiền gửi tại một ngân hàng khác. Tuy nhiên, vào năm 2011, khoản tiền ủy thác đầu tư này đã không còn, có thể do EIB đã thay đổi chiến lược đầu tư do điều kiện thị trường không thuận lợi đối với đầu tư vào chứng khoán.

    2.2.2.3. Danh mục đầu tư

    Danh mục đầu tư của EIB chỉ bao gồm chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn. Chứng khoán đầu tư năm 2011 tăng 27,5% so với năm 2010, trong đó chứng khoán nợ

    đầu tư giữ đến ngày đạo hạn tăng 27,6%; chứng khoán vốn đầu tư sẵn sàng để bán lại giảm mạnh, từ 33 tỷ đồng năm 2010 xuống còn 2,2 tỷ đồng năm 2011.

    Theo quy định của NHNN, các khoản đầu tư vào công ty chứng khoán và thực hiện các dịch vụ tài chính như bảo hiểm, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối… không đưa ra khỏi vốn tự có cấp 1 trong việc tính toán hệ số an toàn vốn nên EIB đã cơ cấu lại danh mục đầu tư, thoái toàn bộ vốn các khoản đầu tư có rủi ro cao nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn CAR. Cụ thể: EIB đã bán toàn bộ chứng khoán vốn của Ngân hàng TMCP Gia Định, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, CTCP Công nghệ Nguyễn Hoàng, CTCP Thủy sản số 1; đồng thời Eib cũng bán trái phiếu, kỳ phiếu của một số TCTD như Đại Á, VIB, BIDV, Việt Nam Thương tín, Gia Định, Việt Á.

    Đồng thời, EIB cũng thoái lui toàn bộ vốn đầu tư dài hạn tại doanh nghiệp như Ngân hàng Việt Á 289 tỷ đồng, CTCP Đầu tư và Phát triển Ngoại thương 20 tỷ đồng nhằm đảm bảo hệ só an toàn vốn CAR , khiến cho khoản mục Góp vốn đầu tư dài hạn của ngân hàng năm 2011 giảm 28% so với năm 2010.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 17

     

    Cơ cấu danh mục đầu tư của EIB theo đối tượng phát hành, chứng khoán cho các TCTD khác phát hành chiếm tỷ trọng tương đối lớn 78%, trong khí Trái phiếu Chính phủ lại chiếm tỷ trong rất nhỏ 6%. Điều này cho thấy danh mục đầu tư có EIB có mức độ rủi ro cao, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế và hệ thống ngân hàng vẫn còn khó khăn như hiện nay. Trong danh mục trái phiếu do các tổ chức kinh tế phát hành, EIB nắm giữ 250 tỷ đồng tái phiếu Vinashin, có khả năng khó thu hồi. Vì vậy, ngân hàng cần phải có những biện pháp quản lý tốt các khoản đầu tư nhằm hạn chế rủi ro trong điều kiện thị trường chứng khoán vẫn còn ảm đạm như hiện nay.

    Tính đến 30/6/2012, chứng khoán đầu tư của EIB giảm 9,6% so với năm 2011, chủ yếu do chứng khoán đầu tư gửi đến ngày đáo hạn giảm. Tuy nhiên, góp vốn đầu tư dài hạn trong Quý 2/2012 của EIB lại tăng đột biến 174% so với năm 2011 do các khoản đầu tư dài hạn khác tăng 181% và dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn tăng 61%.

    2.2.3. Chất lượng tín dụng

    2.2.3.1. Cơ cấu cho vay

    Cơ cấu cho vay của EIB trải rộng ở khắp các ngành nghề cho thấy chính sách phân tán rủi ro theo ngành của ngân hàng. Đồng thời, cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh tế của EIB tại Quý 2/2012 thay đổi không đáng kể so với năm 2011. Tỷ trọng cho vay thương mại dịch vụ và công nghệ chế biến, khai thác mỏ có xu hướng giảm, nhưng tỷ trọng cho vay cá nhân lại tăng. Đặc biệt cơ cấu cho vay của EIB tập trung vào các lĩnh vực có thể xuất khẩu mạnh như Công nghiệp chế biến, Nông lâm nghiệp và thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.

    Tỷ lệ cho vay bất động sản của EIB chiếm tỷ lệ rất nhỏ hơn 1% do ngân hàng đã ý thức

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 18

     

    được những nguy cơ từ khu vực bất động sản và đã sớm giảm tỷ trọng cho vay của khu vực này từ năm 2009. Điều này cho thấy mối lo từ nợ xấu bất động sản của ngân hàng rất ít.

    Cơ cấu cho vay hiện tại hoàn toàn phù hợp với chiến lược cho vay của ngân hàng là tập trung vào lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, hạn chế vốn tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản và cho vay tiêu dùng.

    Cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng tại Quý 2/2012 của EIB cũng có sự thay đổi. EIB đang chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay cá nhân (từ 35% xuống 24%), tăng tỷ trọng cho vay doanh nghiệp (từ 65% lên 76%). Trong cơ cấu cho vay của khối doanh nghiệp, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có xu hướng tăng. Phần tăng này chủ yếu được chuyển sang từ khối khách hàng cá nhân.

    Những thay đổi trong chiến lược kinh doanh cho thấy sự nhạy bén của EIB đối với thị trường và được thể hiện rõ ràng trên kết quả lợi nhuận của ngân hàng. Nhờ việc giảm tỷ lệ cho vay cá nhân, đồng thời thay đổi cấu thành của ngành cho vay theo nhu cầu thị trường, dư nợ cho vay khách hàng năm 2011 tăng 20% nhưng thu nhập từ cho vay khách hàng tăng đến 93% (từ 5.413 tỷ lên 10.435 tỷ) so với năm trước, thu nhập lãi thuần tăng 84%, giúp cho ROAE tăng 51%.

    Cũng giống như các ngân hàng khác, cơ cấu cho vay theo kỳ hạn của EIB tập trung chủ yếu vào cho vay ngắn hạn chiếm 70% tổng dư nợ cho vay. Trong đó, kỳ hạn dưới 3 tháng chiếm 26,5%; từ 3-12 tháng chiếm 41,5%; từ 1 năm trở lên chiếm 32%. EIB đang có xu

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 19

     

    hướng giảm dần tỷ trọng cho vay ngắn hạn, và tăng dần tỷ trọng cho vay dài hạn (từ 18% năm 2009 lên 23% năm 2010). Điều này cho thấy áp lực trong giải ngân và thu hồi vốn đúng hạn đã phần nào giảm bớt.

    2.2.3.2. Nợ xấu

    Tỷ lệ nợ xấu của EIB trong năm 2008 tăng đột biến, từ 0,9% năm 2007 lên 4,7%. Nguyên nhân do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến cho quan hệ tín dụng giữa EIB và khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu bị ảnh hưởng; đồng thời việc quản trị rủi ro trong hệ thống chi nhánh của EIB không tốt dẫn đến thất thoát tài sản thế chấp và không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, với sự tư vấn, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi như cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, xử lý tài sản đảm bảo…, tỷ lệ nợ xấu của EIB đã giảm xuống và trong tầm kiểm soát, từ 4,7% xuống còn 1,4% vào năm 2010.. Tuy nhiên, năm 2011 và Quý 2/2012, tỷ lệ nợ xấu lại có xu hướng tăng nhưng vẫn thấp hơn năm 2009. Nguyên nhân do tình hình kinh tế khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, hàng tồn kho gia tăng dẫn đến tình hình nợ xấu gia tăng trong toàn hệ thống ngân hàng. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ nợ xấu của EIB vẫn rất thấp, chỉ cao hơn STB và ACB.

    Trong cơ cấu nợ theo nhóm của EIB tại Quý 2/2012, nợ nhóm 3 giảm 86% trong khi nợ nhóm 4 và nhóm 5 tăng lần lượt là 67% và 51% cho thấy nợ xấu của ngân hàng đang có hiện tượng chuyển nhóm. Điều này càng thể hiện rõ những tiềm ẩn rủi ro tín dụng trong thời gian tới có thể sẽ tăng cao.

    Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (Coverage ratio) từ năm 2010 đến nay bình quân đạt 52% và ở mức cao nhất 71% vào năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của EIB ở mức thấp. Tuy nhiên, nợ nhóm 4 và 5 của ngân hàng tăng mạnh trong Quý 2/2012 nhưng dự phòng rủi ro tín dụng chỉ tăng 14% cho thấy chất lượng tài sản đảm bảo của EIB đã được cải thiện.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 20

     

    2.2.3.3. Chi phí dự phòng

    EIB có NPLs cao vào năm 2008, tuy nhiên đã giảm được nợ xấu vào 3 năm tiếp theo. Năm 2011, nợ xấu của EIB tăng so với 2010 (từ 1.42 lên 1.61%), tuy nhiên Chi phí dự phòng/Thu nhập, Chi phí dự phòng/Dư nợ bình quân đều giảm. Điều này thể hiện chất lượng tài sản đảm bảo của các khoản vay của EIB đang ngày càng được cải thiện, hoặc khả năng thu nợ khó đòi của EIB đã có những bước tiến mới.

    2.2.4. Tính thanh khoản

    2.2.4.1. Hệ số an toàn vốn

    Nhờ quy mô vốn chủ sở hữu lớn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR của EIB luôn cao hơn mức quy định tối thiểu của NHNN (9%) và mức tiêu chuẩn của Basel II (12%). Mặc dù tỷ lệ an toàn vốn CAR có xu hướng giảm từ năm 2008 nhưng so với các ngân hàng trong cùng ngành vẫn mức cao. Đặc biệt năm 2008, tỷ lệ an toàn vốn CAR của EIB đạt mức kỷ lục 45,86% nhờ vào việc phát hành cho cổ đông chiến lược với giá cao, qua đó làm thặng dư vốn cổ phần tăng đáng kể. Điều này phản ánh khả năng của EIB trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác là rất cao so với các ngân hàng khác.

    Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng của chính ngân hàng khi tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản có xu hướng giảm qua các năm, từ 26,62% năm 2008 xuống 8,22% tại Quý 2/2012.

    Trái ngược với tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản, tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu của EIB lại có xu hướng tăng qua các năm, từ 2,76x năm 2008 lên 11,17x tại Quý 2/2012, nhưng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 21

     

    so với trung bình các ngân hàng đang niêm yết (11,8x), tỷ lệ này của EIB vẫn thấp hơn. Với tỷ lệ thấp như vậy, rủi ro mất khả năng thanh toán các hợp đồng tín dụng nhiều khả năng cũng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn, ngân hàng vẫn phải có các chính sách quản lý nhằm kiểm soát tốt rủi ro tín dụng.

    2.2.4.2. Tài sản thanh khoản

    Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản của EIB ngày càng được cải thiện, tăng từ 24,34% năm 2009 lên 39,69% vào Quý 2/2012 và ở mức khá cao so với các ngân hàng niêm yết cho thấy khả năng gặp rủi ro thanh khoản của ngân hàng không cao. Trong những tài sản thanh khoản có khả năng chuyển thành tiền mặt một cách nhanh chóng, tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác chiếm đến hơn 80%. Trong điều kiện thanh khoản của một số ngân hàng nhỏ gặp khó khăn vào những tháng đầu năm 2012 thì việc tỷ lệ tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác cao có thể ảnh hưởng phần nào đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

    Tỷ lệ khả năng chi trả (tổng tài sản có khả năng thanh toán ngay trên tổng nợ phải trả) của EIB có xu hướng tăng và luôn cao hơn mức quy định 15% của NHNN. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ khả năng chi trả của EIB ở mức cao nhất.

    Khả năng thanh khoản của các ngân hàng niêm yết và BIDV Tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 22

     

    2.2.4.3. Tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR)

    Tỷ lệ cho vay/tiền gửi của EIB có xu hướng tăng nhanh từ 69% năm 2008 đến 139% trong năm 2011 trước khi được hạ xuống còn 121% vào 30/6/2012. Theo chúng tôi, việc siết chặt tăng trưởng tín dụng của NHNN nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng là nguyên nhân khiến LDR giảm trong Quý 2/2012. So với các ngân hàng đnag niêm yết và BIDV, tỷ lệ LDR của EIB ở mức cao nhất. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng trong điều kiện hệ thống ngân hàng vần còn khó khăn như hiện nay.

    2.2.4.4. Cơ cấu tiền gửi khách hàng

    Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền tệ của EIB chủ yếu tập trung vào đồng nội tệ và có xu hướng tăng gần qua các năm, từ 61% năm 2008 lên 80% tại Quý 2/2012. Nguyên nhân tiền gửi bằng vàng và ngoại tệ của EIB có xu hướng giảm do lãi suất huy động thấp, hoạt động huy động vàng giảm sút do khách hàng chuyển sang dịch vụ giữ hộ vàng. Mặt khác do khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng, cung cầu ngoại tệ giảm sút nên tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ bị giảm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 23

     

    Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng có sự biến động qua các năm và tập chủ yếu

    • nhóm khách hàng cá nhân chiếm trên 60%. Tỷ trọng tiền gửi của khối doanh nghiệp Nhà nước thấp, chiếm khoảng 8%. Do có lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu; được SMBC hỗ trợ về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho các khách hàng của Eximbank nên tỷ trọng tiền gửi của khối doanh ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có xu hướng tăng lên. Năm 2008 và 2009 tỷ trọng của 2 nhóm khách hàng này chiếm tỷ trọng không đáng kể, nhưng sang năm 2010 và 2011, tỷ trọng của nhóm doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng tiền gửi đã chiếm đến 28% và 20%; nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng tiền gửi chiếm 6% và 4%.

    Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn của EIB chủ yếu tập trung ở tiền gửi có kỳ hạn chiếm 88% vào Quý 2/2012. Cơ cấu tiền gửi của EIB đang có xu hướng giảm tiền gửi không kỳ hạn và tăng tiền gửi có kỳ hạn. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thị trường hiện nay khi lạm phát tăng cao, lãi suất giảm mạnh thì khách hàng sẽ có xu hướng gửi các kỳ hạn dài hạn. Mặt khác, do tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp tận dụng vốn tự có để sản xuất kinh doanh nên gián tiếp giúp cho tỷ trọng vốn có kỳ hạn của EIB tăng lên.

    2.2.4.5. Tương quan giữa kỳ hạn tiền gửi và cho vay

    Với cơ cấu huy động ngắn và cho vay dài, rủi ro kỳ hạn là mối lo ngại của EIB. Tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng của EIB chiếm hơn 90% tổng số dư tiền gửi, trong khi cho vay có kỳ hạn dưới 3 tháng chỉ chiếm 27% nên chênh lệch thanh khoản ròng dưới 3 tháng luôn bị âm. Các kỳ hạn còn lại có chênh lệch thanh khoản ròng dương.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 24

     

    Với việc đường cong lãi suất đang được thiết lập trở lại, cùng với sự hạ nhiệt của lãi suất huy động, chúng tôi kỳ vọng tiền gửi tại các kỳ hạn dài sẽ tăng lên trong thời gian tới.

    2.2.5. Khả năng sinh lời

    2.2.5.1. Cơ cấu thu nhập

    Hai nguồn thu nhập lớn nhất chi phối kết quả kinh doanh của EIB trong những năm gần đây là thu nhập lãi thuần và thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Chỉ tính riêng năm 2011, thu nhập từ 2 nguồn này chiếm 94% tổng thu nhập hoạt động.

    Thu nhập lãi thuần của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 685 tỷ đồng năm 2007 lên 5.304 tỷ đồng năm 2011 và tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động cũng ngày càng tăng, từ 67% năm 2007 lên 85% năm 2011. Điều này cho thấy hoạt động cho vay vẫn là hoạt động truyền thống của ngân hàng.

    Tính đến hết Quý 2/2012, thu nhập hoạt động của EIB đạt 2.890 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2011.

    Với hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của EIB không ngừng tăng lên, từ 109 tỷ đồng năm 2008 tăng lên 566 tỷ đồng năm 2011, trong đó đóng góp chính vào thu nhập từ hoạt động dịch vụ là hoạt động thanh toán quốc tế.

    Với bề dày kinh nghiệm và chuyên môn, đồng thời không ngừng đa dạng các sản phẩm dịch vụ, hoạt động thanh toán quốc tế là thế mạnh của EIB. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 25

     

    cầu kéo theo sức tiêu thụ hàng hóa giảm tại các thị trường (đặc biệt tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản), chính sách bảo hộ thương mại có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với những rào cản kỹ thuật và kinh tế đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của EIB. Tuy nhiên, với những chính sách linh hoạt và các gói sản phẩm đa dạng, tổng doanh số thanh toán xuất khẩu của EIB vẫn tăng trưởng qua các năm. Tính đến cuối năm 2011, thanh toán xuất khẩu đạt 3,1 tỷ USD, chiếm 3,2% kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng 36% so với năm 2010; Thanh toán nhập khẩu đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 2,6% kim ngạch nhập khẩu cả nước, tăng 17% so với năm 2010.

    Bên cạnh hoạt động thanh toán quốc tế, EIB cũng đẩy mạnh hoạt động kiều hối và thanh toán thẻ. Tổng doanh thu kiều hối chuyển về EIB năm 2011 đạt hơn 294 triệu USD, tăng 36% so với năm 2010. Doanh thu thanh toán thẻ đạt 7.043 tỷ đồng tăng 46% so với năm 2010.

    Các mảng hoạt động còn lại của EIB chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập và có xu hướng biến động qua các năm. Đặc biệt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, năm 2008 chiếm tỷ trọng lên đến 34% tổng thu nhập nhưng đến năm 2011 thu nhập từ mạng này đã bị lỗ 88 tỷ đồng do tình hình thị trường ngoại hối còn nhiều khó khăn, tỷ giá hối đoái có những diến biến phức tạp.

    2.2.5.2. Hiệu suất sinh lời

    Hệ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROAE) của EIB năm 2008 giảm mạnh so với năm 2011 (từ 11,3% xuống 7,4% do vốn điều lệ tăng 158% từ 2.800 tỷ đồng lên 7.220 tỷ đồng thông qua việc phát hành cho đối tác chiến lược nước ngoài SMBC và 2 quỹ đầu tư nước ngoài, trong khi lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 53,4%. ROE đã tăng trở lại từ năm 2009 đến năm 2011 do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế (bình quân 60%) chênh lệch quá lớn với tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu lại (bình quân 32%) mặc dù vốn điều lệ của ngân hàng liên tục được bổ sung qua các năm. Sang Quý 2/2012, tỷ lệ ROE lại giảm xuống 16,7% nhưng trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn như hiện nay, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu của EIB vẫn hấp dẫn. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ ROEA của EIB đứng thứ 4/9 ngân hàng.

    Hiệu suất sinh lời của tài sản (ROAA) lại có sự biến động qua các năm. Từ năm 2007

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 26

     

    đến năm 2009, ROA có xu hướng tăng do tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có xu hướng giảm mạnh (từ 84% năm 2007 xuống 36% năm 2009) trong khi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế giảm ít hơn (từ 79% xuống 59%). Tuy nhiên từ năm 2010 đến nay, ROE lại có xu hướng giảm từ 2% xuống còn 1,4% vào Quý 2/2012. Nguyên nhân giảm do tình hình kinh tế khó khăn, cạnh tranh giữ các ngân hàng ngày càng gay gắt, lãi suất giảm mạnh khiến cho kết quả hoạt động kinh doanh bị bị sụt giảm mạnh.

    Tỷ lệ lãi cận biên ròng (NIM) của EIB có xu hướng tăng từ năm 2007 đến năm 2009 (từ 3,1% lên 4,1%). Đặc biệt năm 2009, tỷ lệ NIM của EIB cao nhất 4,1% do việc nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách hỗ trợ lãi suất, thị truồng chứng khoán phục hồi, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn góp phần thúc đẩy tăng trưởng dư nợ tín dụng khiến thu nhập lãi thuần tăng mạnh. Tuy nhiên sang năm 2010, tỷ lệ NIM của EIB giảm xuống 3,4% do lạm phát tăng lên 2 con số, cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng căng thẳng, lãi suất biến động mạnh, tăng trưởng tín dụng không còn cao như năm 2009. Năm 2011, tỷ lệ NIM lại tăng lên 3,8% do EIB vốn là ngân hàng hoạt động mạnh trên thị trưởng 2 mà năm 2011 hoạt động kinh doanh trên thị trường 2 đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng khiến cho tỷ lệ lãi cận biên ròng tăng lên.

    Tính đến Quý 2/2012, tỷ lệ lãi cận biên ròng của EIB đạt 3,4% giảm so với năm 2011 do những tháng đầu năm 2012 hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, tăng trửong tín dụng chậm lại, thậm chí âm, lãi suất giảm mạnh, nợ xấu tăng cao nên đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ NIM của EIB đứng 5/9 ngân hàng.

    Khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết và BIDV tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 27

     

    2.2.6. Hiệu quả hoạt động

    Tỷ lệ Chi phí/Tổng tài sản (Overhead ratio) của EIB bình quân từ năm 2007 đến nay đạt 1,1%, trong đó cao nhất năm 2009 đạt 1,4% và thấp nhất năm 2010 đạt 0,8%. So với các ngân hàng niêm yết, Overhead ratio của EIB thấp nhất trong các ngân hàng. Điều này thể hiện EIB không chịu ảnh hưởng của tính kinh tế theo quy mô và ngân hàng có khả năng tiết giảm để chi phí ở mức thấp nhất.

    Tỷ lệ Chi phí/Thu nhập (CIR) có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2010 đến nay do ngân hàng đang đẩy mạnh phát triển hệ thống mạng lưới hoạt động nhằm nâng cao thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ Chi phí/Thu nhập của EIB ở mức thấp, đứng thứ 6/9 ngân hàng cho thấy EIB đã có những bước tiến trong việc quản lý chi phí.

    Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng niêm yết và BIDV

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 28

     

    2.2.6.1. Chi tiết cơ cấu chi phí hoạt động

    Chi phí hoạt động của EIB trong năm 2011 tăng gần gấp đôi so với năm 2010, trong đó chi phí cho nhân viên tăng 93%. Mức lương trung bình của nhân viên tăng từ 10,5 triệu đồng/người năm 2010 lên 17,8 triệu đồng/người năm 2011.

    Chi cho tài sản của EIB cũng tăng mạnh từ năm 2009 đến 2011 (Chi về tài sản tăng 244%, Khấu hao TS cố định tăng 127%). Điều này cho thấy những nỗ lực của EIB trong việc bắt kịp với những ngân hàng khác trong việc trả lương cho nhân viên và đầu tư tài sản cố định để tương xứng với tăng trưởng tổng tài sản.

    Trong Quý 2/2012, chi phí hoạt động của EIB tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó chi phí lương cho nhân viên tăng 11,1% , chi phí tài sản tăng 42,9%. Nguyên nhân các khoản chi phí của EIB vẫn có xu hướng tăng trong điều kiện NHNN đang thực hiện chính sách thắt chặt chi phí là do ngân hàng đang thực hiện chiến lược phát triển mạng lưới nhằm nâng cao thị phần và vị thế trong ngành.

    2.2.6.2. Lợi nhuận trước thuế do một nhân viên tạo ra:

    Lợi nhuận trước thuế so một nhân viên tạo ra của EIB tăng vọt qua các năm, từ 266 triệu đồng năm 2007 lên 865 triệu đồng năm 2011. Chi phí lương bình quân cho 1 nhân viên tạo ra trong một tháng cũng tăng vọt qua các năm, đặc biệt năm 2011 đã tăng 68% so với năm 2010, bắt kịp với xu hướng tăng lương cho nhân viên ngân hàng và đi kèm với tăng lượng công việc, trách nhiệm cho từng nhân viên. Điều này đã góp phần thúc đẩy tăng lợi nhuận của EIB.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 29

     

    2.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA EXIMBANK

    2.3.1. Những thành tựu đạt được

    • Eximbank – Ngân hàng xuất nhập khẩu số 1 Việt Nam

    Eximbank được thành lập vào tháng 5/1989, là một trong những NHTMCP đầu tiên của Việt Nam. Với vốn điều lệ đạt 13 nghìn tỷ đồng, Eximbank là một trong những NH có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối NHTMCP tại Việt Nam. Mục tiêu phát triển của Ngân hàng là phát huy thế mạnh trên các lĩnh vực tài trợ thương mại, tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối. Trong các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, hoạt động ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất nhập khẩu và phát triển ngân hàng bán lẻ là hoạt động cốt lõi.

    • Đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMB)

    Năm 2007, EIB ký thoả thuận hợp tác chiến lược với SMBC. SMBC chính thức sở hữu 15% cổ phần của EIB vào năm 2008. Theo đó, SMBC sẽ hỗ trợ EIB trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, hợp tác về tài trợ thương mại và hỗ trợ lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.

    Về mảng bán lẻ: SMBC cùng với các công ty liên kết trực thuộc tập đoàn tài chính SMFG cử các chuyên gia về Ngân hàng bán lẻ hỗ trợ EIB phát triển các hoạt động ngân hàng bán lẻ. Hiện nay, EIB đang áp dụng mô hình bán lẻ mới thông qua việc xem phòng giao dịch như một chi nhánh.

    Về mảng quản trị rủi ro: SMBC cử các chuyên gia biệt phái sang hỗ trợ EIB trong lĩnh vực quản trị rủi ro, tham gia sâu vào các hoạt động của Ủy ban về các vấn đề rủi ro trực thuộc Hội đồng quản trị.

    Về mảng nguồn vốn: SMBC hỗ trợ EIB về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho khách hàng của EIB.

    • Trở thành đối tác chiến lược

    Trong Quý II/2012, EIB tiến hành tham gia góp vốn 11% vào Air Mekong và trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp này. Ngoài việc đầu tư góp vốn, EIB còn hỗ trợ Air Mekong trong các hoạt động tài trợ thuê, mua để phát triển đội máy bay. Trước đấy, EIB đã

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 30

     

    cho Vietnam Airlines vay 100 triệu USD để mua 4 chiếc máy bay Airbus A321 trong thời gian 10 năm. Các sự kiện trên đặt ra khả năng NH đang có ý định đầu tư vào lĩnh vực hàng không.

    EIB cũng khá tích cực tham gia góp vốn cổ phần và các thương vụ M&A. Sự kiện EIB-STB là tâm điểm của thị trường chứng khoán trong nhiều tháng. Vào đầu năm 2012, Chủ tịch EIB bất ngờ tuyên bố đã nắm trong tay số cổ phiếu đại diện cho 51% vốn điều lệ của STB, đồng thời đưa ra yêu cầu thay thế ban lãnh đạo. Sau đại hội cổ đông ngày 26/5/2012, 4 người từ EIB được bầu vào HĐQT của STB, trong đó ông Phạm Hữu Phú là người đại diện vốn góp của EIB với 9,73% cổ phần STB.

    • Chính sách phát triển mạng lưới nhanh

    Phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất dựa trên phương châm phát triển nhanh và bền vững là một trong 2 chuyên đề của năm 2012. Hiện tại, mạng lưới giao dịch của EIB gồm 203 điểm giao dịch, hiện diện tại 20 tỉnh thành phố, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam. Theo kế hoạch của EIB, đến năm 2015, hệ thống mạng lưới của NH sẽ phủ kín 63 tỉnh thành trong cả nước. Điều đó đồng nghĩa với việc trung bình EIB phải mở chi nhánh tại 10 tỉnh thành mới mỗi năm trong vòng 5 năm tới. Đây là kế hoạch khá tham vọng, đặc biệt trong việc thâm nhập vào thị trường các tỉnh miền Bắc.

    Khác với các NHTM khác, EIB không mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác bằng việc thiết lập nhiều công ty con. NH chỉ có 1 công ty con là Công ty Eximbank AMC. Tuy nhiên, Eximbank đang đầu tư vào 3 công ty liên kết hoạt động trong 3 lĩnh vực tài chính quan trọng: CTCP Bất động sản Exim (Eximland), CTCP Chứng khoán Rồng Việt và CTCP Dịch vụ kinh doanh vàng XNK Kim Việt.

    • Thế mạnh trong việc kinh doanh ngoại tệ và kinh doanh vàng

    Với thế mạnh truyền thống là các hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, EIB là một trong các NH có phần mềm, hệ thống giao dịch kinh doanh ngoại tệ hiện đại và đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại hối chuyên nghiệp nhất trong toàn hệ thống ngân hàng. Eximbank cũng là NHTM duy nhất được phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Với thế mạnh trong mảng kinh doanh vàng vật chất, EIB là một trong 6 đơn vị được NHNN chọn để tham gia bán vàng bình ổn thị trường. Khi các sàn giao dịch vàng bị đóng cửa và kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài bị chấm dứt, EIB đã chuyển hướng kinh doanh sang việc tập trung mở rộng và phát triển thị trường bán lẻ, tăng cường mạng lưới bán lẻ để tận dụng tối đa các nhu cầu mua bán vàng trên các địa bàn.

    2.3.2. Những điểm hạn chế còn tồn tại

    Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi Eximbank phải tạo ra sản phẩm khác biệt so với đối phương thì mới phát triển bền vững, song trên thực tế Eximbank chưa thực hiện được.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 31

     

    Eximbank cũng chưa dự báo ai là đối thủ tiềm năng sẽ gia nhập ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác sản phẩm mới nào, dịch vụ mới nào trong kinh doanh tiền tệ sẽ gia nhập thị trường của ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác khách hàng mục tiêu mà mình

    sẽ nhắm tới cung ứng, phục vụ là ai đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác hệ thống cấu trúc của mình đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường kinh tề quốc tế, thị trường tài chính- tiền tệ thế giới tác động đến kinh doanh sẽ tạo ra các cơ hội

    – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường Việt Nam sẽ tạo ra

    các cơ hội – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa có các giải pháp hiệu quả cho việc phát triển khách hàng toàn diện, sản phẩm tối ưu, thị trường tối ưu….

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 32

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOAN

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của tất cả các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế nên nhiều Ngân hàng đã ra đời để đáp ứng nhu cầu cho các tổ chức kinh tế góp phần xây dựng đất nước. Do đó không thể tránh khỏi cạnh tranh giữa các Ngân hàng để tồn tại và phát triển. Do đó cho thấy để tiếp tục đứng vững và ngày càng tăng trưởng trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng như mọi doanh nghiệp khác, việc áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều vô cùng cần thiết đối với mọi Ngân hàng, đặc biệt là EXIMBANK. Trên cơ sở phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh với tình hình thực tế tại Ngân hàng em xin đưa ra một số biện pháp và hy vọng nó sẽ góp phần vào việc kinh doanh của ngân hàng ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn.

    3.1.     ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN:

    Nguồn vốn là mối quan tâm của Ngân hàng hiện nay. Vì vậy để gia tăng doanh số cho vay, để mở rộng và phát triển kinh doanh thì điều đầu tiên ngân hàng phải có là vốn với phương thức “đi vay để cho vay“. Tuy nhiên hoạt động huy động vốn của Ngân hàng phải gắn liền với chiến lược sử dụng vốn trong từng thời kỳ nhất định. Huy động vốn quá nhiều có thể gây ra trạng thái ứ đọng vốn trong trường hợp không có cơ hội đầu tư và ngược lại sẽ gây ra tình trạng thiếu vốn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vốn huy động trong EXIMBANK còn chiếm tỉ trọng thấp trong tổng nguồn vốn. Vậy Ngân hàng nên đẩy mạnh khai thác nguồn vốn nhàn rỗi còn tiềm tàng trong dân cư bằng cách đa phương hóa và đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp huy động vốn:

    Thực hiện lãi suất huy động hợp lý hấp dẫn vá áp dụng hình thức thưởng vật chất.

    Đối với cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào khi muốn gửi tiền vào Ngân hàng điều đầu tiên đó là lãi suất. Như chúng ta đã biết nếu ngân hàng huy dộng vốn với lãi suất cao thì cũng cho vay với lãi suất cao. Nếu các tổ chức kinh tế vay vốn với lãi suất cao thì việc kinh doanh của họ sẽ gặp nhiều khó khăn, ngược lại nếu họ cho vay vốn với lãi suất thấp thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn. Ngày nay, cạnh tranh giữa các Ngân hàng đã diễn ra hết sức đa dạng, EXIMBANK không chỉ cạnh tranh với các Ngân hàng trong hoạt động tiền gởi mà còn cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy việc nghiên cứu thị trường để đưa ra một chính sách lãi suất thích hợp có ý nghĩa đến việc gia tăng tiền gửi.

    Thưởng vật chất thông qua xổ số cũng là yếu tố đắc lực kích thích huy động tiền gửi bởi tập quán “cầu may” đã hình thành khá đậm nét trong đời sống xã hội, đặc biệt là những tầng lớp dân cư có mức sống trung bình. Mặt khác Ngân hàng nên đưa ra những giải thưởng thích hợp với những khách hàng có số dư tiền gửi tiết kiệm lớn hoặc nhỏ. Đây là một động lực khá hấp dẫn để huy động tiền gửi tiết kiệm.

    Tạo niềm tin nơi khách hàng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 33

     

    • Lòng tin: Là một trong những vấn đề sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng có huy động được hay không là nhờ vào lòng tin của dân chúng. Tạo lòng tin nơi khách hàng là một biện pháp tổng hợp nhiều khía cạnh, sau đây là một số biện pháp điển hình:
    • Cơ sở vật chất: Là một trong những cơ sở vững vàng nhất để tạo niềm tin nơi khách hàng, nhất là vấn đề huy động tiền gửi. Trước mắt Ngân hàng nên đầu tư vào cơ sở vật chất cho trụ sở làm việc của Ngân hàng thêm tiện nghi, trang trí thẫm mĩ, sắp xếp công việc một cách khoa học. Như thế sẽ tạo ấn tượng tốt cho khách hàng, họ sẽ nghĩ Ngân hàng giàu có, làm ăn hiệu quả và có thể yên tâm ký thác.
    • An toàn: Đây là yếu tố mà khách hàng rất quan tâm khi họ gửi tiền vào Ngân hàng. Vì ngoài lãi suất cao Ngân hàng còn phải chú trọng đến độ an toàn của khách hàng. Rất có thể khách hàng ưa chuộng mức lãi suất vừa phải mà độ an toàn vốn của họ cao hơn là lãi suất cao mà không được an toàn. Vì họ nghĩ ứng với một khoản lợi tức đều kéo theo một rủi ro, lợi tức càng cao rủi ro càng nhiều. Để cho khách hàng thấy được độ an toàn của họ Ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình đây là một biện pháp cơ bản để lôi cuốn khách hàng đặc biệt là đối với khách hàng tiền gửi thanh toán.
    • Phong cách phục vụ và trình độ nhân viên: Phong cách phục vụ là yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp vào tâm lý khách hàng, họ là cầu nối giữa Ngân hàng và khách hàng. Do đó những nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cần có một tác phong và phong cách tốt như ân cần, niềm nở, lịch sự, nhã nhặn, cởi mở, tận tâm và nhất là phải có trình độ. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên có lớp huấn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cũng như tạo điều kiện cho họ có sự nâng cao kiến thức. Mục tiêu chính là làm sao cho họ hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, có hiểu biết để giải thích khách hàng một cách tường tận, cặn kẽ những vấn đề mà họ quan tâm.

    Tóm lại, đây là một vấn đề thuộc về tâm lý của khách hàng, khi họ cảm thấy thoả mãn, vui vẻ, hài lòng, thì lần sau có lẽ họ sẽ tiếp tục gửi tiền vào Ngân hàng và giới thiệu cho người khác biết đến.

    • Áp dụng các hình thức huy động tiết kiệm có mục đích

    Đây là hình thức huy động rất hữu hiệu, đem lại cho khách hàng nhiều nguồn vốn để Ngân hàng có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vốn của nền kinh tế: Loại hình này có tiềm năng rất lớn trong dân cư, những người không có điều kiện vay vốn như: không có người bảo lãnh, không có tài sản thế chấp….. Tuy nhiên họ có một phần thu nhập dư ra để dành cho mục

    đích nào đó trong tương lai, lãi suất huy động đối với loại tiền gửi này được thoả thuận theo số tiền gửi, thời hạn gửi, giá trị món hàng sẽ mua…. sau một thời gian nhất định, khách hàng

    rút tiền ra sẽ được Ngân hàng cho vay bổ sung thêm vốn và món hàng được mua đó sẽ trở thành tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Làm như thế tức là Ngân hàng biến ước muốn của họ thành hiện thực, khách hàng sẽ đến Ngân hàng nhiều hơn và đồng thời vốn kinh doanh cũng được gia tăng.

    * Đa dạng hoá các dịch vụ cung ứng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 34

     

    Hiện nay, tại EXIMBANK, các hình thức huy động, dịch vụ Ngân hàng còn hạn hẹp, ít ỏi, điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Trong điều kiện tự do cạnh tranh như hiện nay, Ngân hàng nào đưa ra các dịch vụ tốt, chất lượng nhanh chóng, đảm bảo an toàn, chất lượng sẽ làm giảm được các chi phí về lưu thông tiền mặt tạo điều kiện thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển vốn và giúp Ngân hàng mở rộng công tác huy động vốn. Ngân hàng nên phát huy mở rộng sử dụng các phương tiện thanh toán để thu hút tiền gửi thanh toán.

    Bên cạnh công tác cải tiến và phát huy việc thực hiện các công cụ thanh toán như: Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, séc tiền mặt…Ngân hàng có thể mở rộng việc sử dụng sec cá nhân, dùng thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác thông qua công tác thông tin tuyên truyền về lợi ích của việc dùng sec: có lãi nhanh chóng, dễ dàng, đạt độ chính xác cao, không phải tiếp cận tiền mặt, với những đối tương có thu nhập khá, có nhu cầu chi trả thường xuyên.

    Tóm lại, để huy động được nguồn vốn vào Ngân hàng thì EXIMBANK cần phải vận dụng ngoại lực và nội lực để tạo được sự tin tưởng tuyệt đối nơi khách hàng.

    3.2.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG:

    Bên cạnh việc huy động vốn vào Ngân hàng ngày càng nhiều với những biện pháp linh hoạt hấp dẫn thì Ngân hàng cũng phải nỗ lực tìm biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để tránh cho đồng tiền không bị đóng băng làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận thì Ngân hàng phải có những biện pháp thật sự hài hòa giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. Và cũng như chiến lược huy động vốn chi nhánh cũng hạ lãi suất cho vay thấp hơn các Ngân hàng để chiếm ưu thế hơn về lãi suất so với Ngân hàng khác. Vì vậy EXIMBANK cần phải thực hiện một số vấn đề sau đây để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của mình:

    • Thực hiện chiến lược khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng, từng bước nâng cao chất lượng tín dụng đồng thời duy trì khách hàng truyền thống của Ngân hàng.

    Đối với khách hàng truyền thống, vay trả có uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng nên dùng một mức cho vay ưu đãi giúp cho doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tạo thế cạnh tranh có lợi hơn và qua đó tạo được mức lợi nhuận cao hơn.

    Đối với tư nhân cá thể, việc cho vay đều thực hiện các tài sản thế chấp, tuy nhiên, Ngân hàng không nên xem việc thế chấp là yếu tố quyết định cho sự cho vay mà chủ yếu xem xét mục đích vay có mang lại hiệu quả đích thực có khả năng trả được nợ mới quyết định cho vay.

    Ngân hàng cần thường xuyên tổ chức kiểm tra việc sử dụng vốn vay, đặc biệt là những khoản vay lớn và những khách hàng mới giao dịch lần đầu. Tăng cường thông tin giữa các Ngân hàng về tình hình tài chính của các doanh nghiệp và các sai phạm của khách hàng. Ngân hàng có thể sàng lọc đối tượng vay mạo hiểm, có triển vọng xấu khỏi quá trình cho vay để hạn chế rủi ro thông qua hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 35

     

    • Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, loại hình đầu tư kinh doanh chủ yếu là: kinh doanh Xuất Nhập khẩu phần lớn là những đơn vị làm ăn có hiệu quả đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là Ngân hàng chú trọng việc mở rộng các dịch vụ Ngân hàng như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ vay cầm đồ…
    • Chuyên môn hóa của cán bộ tín dụng: Ban lãnh đạo Ngân hàng cử từng cán bộ tín dụng chuyên cho vay và thu hồi nợ ở từng khu vực địa bàn nhất định. Việc phân chia như vậy sẽ giúp cán bộ tín dụng nắm chắc được tình hình tài chính cũng như quan hệ làm ăn của từng khách hàng, hiểu được nhu cầu vay vốn của họ. Từ đó lập ra phương án cho vay có hiệu quả, vốn cho vay được cấp phát thật sự đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu qủa. Qua đó thu hồi nợ và lãi một cách nhanh chóng và thuận lợi khi đến kì hạn thanh toán
    • Phát triển nguồn nhân lực: Yếu tố con người luôn là yếu tố hàng đầu để hoạch định chính sách kinh doanh của Ngân hàng nói chung và chính sách tín dụng nói riêng. Vì thế Ngân hàng nên tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng cán bộ công nhân viên ngày càng giỏi về nghiệp vụ giàu kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức tốt. Muốn như vậy Ngân hàng có thể đầu tư cho nhân viên thông qua việc đào tạo điều kiện cho họ có dịp tìm hiểu, học hỏi nâng cao trình độ kỹ thuật nghiệp vụ với mọi hình thức: huân luyện tại chỗ, tham dự các cuộc hội thảo, các khóa đào tạo ngắn ngày, dài ngày trong nước cũng như nước ngoài khi có điều kiện.
    • Thực hiện công tác tuyên truyền: Ngân hàng nên tiến hành thông tin, quảng cáo trên báo chí, truyền hình về hoạt động của Ngân hàng, thông qua phương thức đổi mới kinh doanh. Đặc biệt Ngân hàng nên tiếp cận với khách hàng tiềm năng, có tên tuổi, chào mời họ tham gia vào danh sách các khách hàng của Ngân hàng qua hình thức tham dự hội chợ thương mại từ khâu sản xuất, tiếp thị cho đến khâu thương mại hóa sản phẩm.

     

    * Một số biện pháp để cải thiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng:

    Thực hiện rà soát, đánh giá tình hình nợ thường xuyên, định kỳ và phân loại để nắm rõ thực trạng dư nợ tín dụng. Định kỳ rà soát, quản lý danh mục tín dụng của Ngân hàng

    để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu về giới hạn.

    Tổ chức xem xét, thẩm định kỹ, chặt chẽ trước khi cấp các khoản tín dụng mới trong đó

    có nội dung quan trọng là đánh giá và dự phòng khả năng xảy ra rủi ro.

    Thực hiện hoàn chỉnh, bổ sung và quản lý chặt chẽ hồ sơ tín dụng. Cần ban hành quy

    định cụ thể, chặt chẽ về việc lưu trữ, bảo quản và quản lý hồ sơ tín dụng.

    Có chính sách khen thưởng, giao chỉ tiêu thu nợ ngoại bảng đối với các chi nhánh như là một trong những chỉ tiêu chính trong hoạt động, đặt biệt là những chi nhánh có nợ

    ngoại bảng lớn.

    Lập phương án tận thu nợ gốc, nợ lãi đã xử lý toàn hệ thống.

    Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quá trình xử lý và tận thu hồi nợ.

    3.3.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHÁC:

    • Kinh doanh ngoại tệ:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 36

     

    Áp dụng chính sách tỷ giá: phương châm của Ngân hàng “ Thà là lời ít mà thu hút khách hàng nhiều”. Đưa ra tỷ giá hấp dẫn thu hút khách hàng.

    Ngân hàng cần phải có sự cân đối trên thị trường để đảm bảo lợi nhuận cho Ngân hàng và khách hàng.

    • Về thanh toán quốc tế:

    Nâng cao trình độ nghiệp vụ để giải đáp thắc mắc cho khách hàng và hướng dẫn cho khách hàng lập bộ chứng từ tránh sai sót xảy ra từ đó tạo niềm tin cho khách hàng đối với Ngân hàng.

    • Chiến lược tìm kiếm khách hàng mới:

    Hình thành một bộ phận nghiên cứu thị trường, tìm tòi và sáng kiến ra các sản phẩm dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ phi tín dụng như môi giới tiền tệ, bao thanh toán… xây dựng chính sách khách hàng, kế hoạch cụ thể với từng đối tượng khách hàng, có chính sách giá và phí dịch vụ hợp lý.

    Không ngừng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính tiền tệ , nghiên cứu và tiếp tục triển khai một số dịch vụ mà các tổ chức tín dụng khác đã thực hiện tốt như đại lý

    bảo hiểm, cho thuê, kinh doanh vàng, kiều hối, cầm đồ, …

    Tạo tiện ích cho khách hàng khi quan hệ với Ngân hàng, giúp thu hút khách hàng cũng như tạo mối liên hệ giữa Ngân hàng và doanh nghiệp qua những tài khoản ký thác và

    cho phép hình thành những bảo đảm tài chính an toàn cho Ngân hàng.

    Để tiếp cận khách hàng rộng hơn cần triển khai giới thiệu các loại hình tín dụng, các dịch vụ Ngân hàng trên mạng kết hợp với cả việc giải đáp thắc mắc cho khách hàng về những vấn đề liên quan đến thể lệ tín dụng.

    Tóm lại, những biện pháp trên sẽ mang lại hiệu quả cho việc sử dụng vốn, giải quyết tình trạng ứ đọng vừa mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh và đa dạng hóa các hình thức đầu tư vốn cũng như kết quả thu nhập từ hoạt động này góp phần đáng kể vào việc tăng lợi nhuận của chi nhánh.

    3.4.  BIỆN PHÁP GIẢM CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG:

    Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là muốn nâng cao lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng phải nâng cao các khoản thu của mình đồng thời giảm bớt chi phí hoạt động. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mang tính chất đặc thù, do đó giảm chi phí hoạt động kinh doanh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo quan tâm tìm ra phương pháp tốt nhất mà không ảnh hưởng đến các hoạt động khác.

    Qua quá trình phân tích ta thấy chi phí chủ yếu của Ngân hàng là chi phí trả lãi tiền gửi và trả lãi tiền vay. Hai khoản này phụ thuộc vào lãi suất, lãi suất lại phụ thuộc vào khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định. Vì vậy hai khoản chi phí này của Ngân hàng thường không chủ động lắm. Do đó chi phí mà Ngân hàng có thể điều chỉnh là chi phí vật chất và các khoản tiền lương công nhân, văn phòng phẩm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 37

     

    • Về khoản vật chất như nhà cửa, trang thiết bị máy móc cần phải được bảo quản, chăm sóc cẩn thận tránh những hư hỏng đáng tiếc làm tăng chi phí sửa chữa, khấu hao tài sản cố định. Dù là một phần không lớn nhưng cũng góp phần làm giảm chi phí hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng.
    • Về khoản tiền lương công nhân viên ở đây không có nghĩa là giảm lương mà nói về khía cạnh nghề nghiệp chuyên môn và sự bố trí nhân sự hợp lý của ban lãnh đạo Ngân hàng. Như vậy về khoản chi phí này, nếu muốn giảm được một phần thì trách nhiệm thuộc về các nhà lãnh đạo, họ phải hết sức khéo léo và nhạy bén trong việc bố trí đúng người, đúng việc và cả trong việc tiếp cận khoa học công nghệ.
    • Vấn đề văn phòng phẩm, điện thoại: Mỗi công nhân viên phải biết tiết kiệm nhằm đạt mục tiêu cao nhất trong kinh doanh, không hoang phí trong sử dụng mua sắm. Khoản này thì tùy thuộc vào ý thức của mỗi nhân viên trong Ngân hàng.
    • Trong điều kiện hiện nay, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng một tăng, việc tìm lợi nhuận gặp phải khó khăn vì lãi suất cho vay có chiều hướng giảm. Do đó, bên cạnh việc không ngừng tìm tòi những hình thức dịch vụ mới để mở rộng kinh doanh, đáp ứng nhu cầu khách hàng, Ngân hàng cần thực hiện chế độ thủ tục phí hấp dẫn để khuyến khích khách hàng đến giao dịch, đến mở tài khoản tiền gửi nhiều hơn.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 38

     

    KẾT LUẬN

    Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của ngân hàng đều rất tốt: Tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản

    • mức thấp trong các ngân hàng so sánh; Lợi nhuận do một nhân viên tạo ra có xu hướng tăng qua các năm cho thấy hiệu quả quản lý chi phí của EIB rất tốt góp phần thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng.

    Tỷ lệ thu nhập từ tín dụng cao và tăng qua các năm, chiếm trên 80% tổng thu nhập hoạt động, trong khi LAR ở mức thấp so với các ngân hàng khác cho thấy khả năng sinh lời từ các hoạt động ngoài lãi của EIB thấp và không hiệu quả.

    EIB cũng đã thể hiện những nỗ lực nâng cao hệ số đòn bẩy của mình bằng cách hoạt động mạnh hơn trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, những rủi ro trên thị trường 2 ngày càng gia tăng khi các ngân hàng nhỏ gặp rủi ro về thanh khoản và hệ thống ngân hàng đang thực hiện tái cơ cấu. Do đó ngân hàng cần phải có những chính sách quản lý hiệu quả trong điều kiện thị trường hiện nay.

    Với sự tham gia tư vần, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đã giảm, trong tầm kiếm soát và ở mức thấp so với các ngân hàng đang niêm yết.

    Bên cạnh thế mạnh về thanh toán xuất nhập khẩu, kiều hối và kinh doanh vàng, EIB còn có truyền thống cho vay cá nhân. Ở thị trường Việt Nam, cho vay cá nhân, tín dụng cá nhân chưa thật sự phổ biến như nhiều nước khác. EIB có cơ hội mở rộng, chiếm thị phần lớn ở thị trường này trong tương lai.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 39

  • Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              1

    LỜI MỞ ĐẦU

    Với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước không ngừng tăng lên, trong đó phải kể đến những đóng góp không nhỏ của hệ thống NHTM nước ta trong việc làm trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nước với nước ngoài, từng bước khẳng định niềm tin trên trường quốc tế.

    Cho đến nay, các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước khi quan hệ mua bán với nhau thường sử dụng các hình thức thanh toán như: Chuyển tiền (Remittance), Uỷ thác thu (Collection), Tín dụng chứng từ (Documentary Credit). Nếu như hai phương thức đầu đều bất lợi cho một bên là người mua hoặc người bán, ngân hàng chỉ là trung gian và không bị ràng buộc trách nhiệm phải thanh toán, thì phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn, nó đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia. Chính những ưu điểm nổi bật này mà phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng hơn. Ước tính có khoảng 80% các hợp đồng ngoại thương thoả thuận phương thức thanh toán bằng tín dụng thư không huỷ ngang.

    Bản thân phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt, song nó không phải là phương thức thanh toán tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối. Thực tế cho thấy, các bên tham gia của Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phần là mới lạ, kinh nghiệm còn non trẻ.Trong điều kiện đó các ngân hàng và các doanh nghiệp XNK đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi ro trong việc thanh toán bằng TDCT, có trường hợp bị thiệt hại lên đến hàng triệu đôla. Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những mối quan tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              2

    Trong những năm qua, Ngân hàng Công thương Đống Đa đã triển khai và thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ tín dụng chứng từ nói riêng, song việc hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp không ít khó khăn, bất cập. Vì thế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thương Đống Đa, trên cơ sở những kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong

    phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa”.

    Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán TDCT, từ đó làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phương thức thanh toán TDCT trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích lý luận theo một phương pháp luận khoa học lôgic và thực tiễn về hoạt động thanh toán TDCT, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NH Công thương Đống Đa. Nội dung đề tài gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận chung về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro khi áp dụng

    Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Tuy nhiên, do những hạn chế về lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía thầy cô và các bạn.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thu Hiền cùng với các cán bộ phòng Tài trợ thương mại thuộc Ngân hàng Công thương Đống Đa đã tận tình giúp em hoàn thành chuyên đề này.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              3

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO KHI ÁP DỤNG

    1.1. THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ

    1.1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế

    Quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực : kinh tế, chính chị, văn hoá, khoa học, kỹ thụât, du lịch…Quan hệ đối ngoại này cũng có thể được phân chia làm hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.

    Quan hệ mậu dịch là những mối quan hệ có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế.

    Quan hệ phi mậu dịch thì ngược lại, nó không mang tính chất thương mại như: quan hệ về ngoại giao, văn hoá, du lịch…

    Trong các mối quan hệ nêu trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác. Trong quá trình hoạt động, tất cả các quan hệ quốc tế đều cần thiết và liên quan đến vấn đề tài chính. Kết thúc từng kỳ, từng từng niên hạn các quan hệ quốc tế đều được đánh giá kết quả hoạt động, do đó cần thiết đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước có liên quan.

    1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế

    1.1.2.1. Đối với nền kinh tế

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              4

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì hoạt động thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích luỹ trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.

    Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.

    Thanh toán quốc tế làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Các ngân hàng với vai trò là trung gian thanh toán sẽ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán trong giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro trong thanh toán và tạo sự an toàn tin tưởng cho khách hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế là hoạt động tất yếu của một nền kinh tế phát triển.

    1.1.2.2. Đối với ngân hàng

    Thanh toán quốc tế là một loại hình dịch vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của NH. Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              5

    dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp NH tăng doanh thu, nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh cho ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà còn là một hoạt động nhằm hỗ trợ và bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tốt sẽ mở rộng hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác…

    Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện các nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.

    TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng. Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phương thức thanh toán là một điều kiện rất quan trọng. PTTT tức là chỉ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, các bên tham gia trong thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau, cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc cùng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              6

    có lợi, người bán thu được tiền nhanh và đầy đủ, người mua nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và TTQT, người ta đã thiết lập nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Các phương thức thanh toán quốc tế dùng trong ngoại thương hiện nay gồm có: phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance), phương thức uỷ thác thu (Collection), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)…

    Trong thực tế, khi các bên mua bán chưa có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán TDCT là phương thức phổ biến, được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia(người mua, người bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới, thanh toán bằng thư tín dụng được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong nội dung tiếp theo em xin đề cập sâu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    1.2.1. Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ

    Phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng- letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.

    Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà NK, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà XK hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK khi nhà XK tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              7

    Thuật ngữ “tín dụng- credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín nhiệm”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào,mà chỉ cho người NK “vay” sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà NK không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức TDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà NK.

    Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà XK, bảo đảm cho nhà XK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.

    Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chừng từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng XK nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C.

    1.2.2. Các bên tham gia

    1. Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này. Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer), nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee).

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              8

    1. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer).
    1. Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán.
    1. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK.
    1. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C.
    1. Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định trong L/C thì:

    Thanh toán (pay)cho người thụ hưởng Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ

    Chịu trách nhiệm trả chậm (deferrer payment) giá trị của L/C.

    Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              9

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ

    Người

    xuất khẩu

    Người

    nhập

    NH

    xuất khẩu

    NH

    nhập

    khẩ

    Bước 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thương, nhà NK chủ động viết đơn và gửi các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình (NH NK), yêu cầu ngân hàng mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng những điều kiện nêu trong đơn,để trả tiền cho nhà XK.

    Bước 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH NK sau khi đã đồng ý, và nhà NK đã thực hiện ký quỹ,thì sẽ mở một L/C với một số tiền nhất định để trả tiền cho nhà XK rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NH phục vụ nhà XK (NHXK)

    Bước 3: Nhận được bản chính L/C từ NHNK, NHXK phải xác nhận bằng văn bản L/C đã nhận được rồi gửi bản chính L/C cho nhà XK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            10

    Bước 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký trong hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.

    Bước 5: Sau khi đã tiến hành giao hàng, nhà XK phải hoàn chỉnh ngay bộ chứng từ hàng hoá theo đúng những chỉ thị trong L/C và phát hành hối phiếu rồi gửi toàn bộ các chứng từ này cho NHXK để xin thanh toán.

    Bước 6: NHXK nhận được bộ chứng từ từ nhà XK phải kiểm tra thật kỹ, nếu thấy các chứng từ này mà bề ngoài của chúng không có gì mâu thuẫn với nhau thì NH sẽ tiến hành trả tiền cho các chứng từ đó.

    Bước 7: NHXK chuyển bộ chứng từ cho NHNK và yêu cầu NH này trả tiền cho bộ chứng từ đó.

    Bước 8: Nhận được bộ chứng từ, NHNK phải kiểm tra kỹ, nếu các chứng từ khớp đúng, không có sự nghi ngờ thì NHNK trích tiền từ tài khoản ký quỹ mở L/C đứng tên nhà NK để chuyển trả cho NHXK.

    Bước 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng thời NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để người đó có căn cứ đi nhận hàng.

    1.2.4. UCP – Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT

    Khi thanh toán bằng phương thức TDCT, các bên XNK phải thoả thuận với nhau về việc sử dụng UCP. UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary credit) là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm 1933. Từ đó đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, lần cuối cùng là tháng 10 năm 1993 có hiệu lực áp dụng từ 01/01/1994.

    UCP đã được hơn 175 nước áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Các bên tham gia có quyền lựa chọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            11

    thanh toán TDCT. Nhưng một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp dụng của UCP sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia.

    Một điểm cần lưu ý là UCP ban hành sau không phủ nhận các nội dung của UCP trước đó. Do đó các bên có thể thoả thuận lựa chọn một UCP nào đó, nhưng điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trong L/C. Chỉ UCP bản gốc bằng tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranh chấp, các bản dịch khác chỉ có giá trị tham khảo.

    Hiện nay, UCP bản sửa đổi năm 1993 số 500 được coi là hoàn chỉnh nhất và ngày càng được nhiều ngân hàng của các nước thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế. UCP 500 thực sự được coi là cẩm nang cho nghiệp vụ tín dụng chứng từ.

    1.2.5. Thư tín dụng (L/C) – Công cụ quan trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    Thư tín dụng là một bản cam kết trả tiền do NH phát hành (NH mở L/C) mở theo chỉ thị của người NK (người yêu cầu mở L/C), để trả một số tiền nhất định cho người XK (người thụ hưởng) với điều kiện người đó phải thực hiện đầy đủ những quy định trong L/C.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan. Có nghĩa là khi thanh toán NH chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì NH phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK.

    Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế có

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            12

    khớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do người bán xuất trình, nếu thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả tiền cho người bán.

    Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phương thức thanh toán TDCT mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại thương.

    1.3. MỘT SỐ RỦI RO CHỦ YẾU TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT

    Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối quan hệ ngược chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn và ngược lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên tham gia thường gặp là:

    1.3.1. Rủi ro kỹ thuật

    Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán TDCT.

    1. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu

    Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:

    1. Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK sẽ gặp bất lợi.
    1. Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            13

    với nội dung quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.

    Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :

    – Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hai nước người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C.

    – Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu cầu đề ra trong L/C.

    – Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta không thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ đó sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau

    – Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời hạn hiệu lực của L/C.

    Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, thường gặp vẫn là:

    • Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng vận tải
    • Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.
    • Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            14

    của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…

    Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà XK khi lập bộ chứng từ thanh toán.

    Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh toán.

    1. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà XK phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.
    1. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được NH phát hành sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần sự đồng ý của nhà XK.
    1. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu
    1. Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hoá. Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            15

    1. Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lượng các loại chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…) mà chấp nhận bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
    1. Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
    1. Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này.
    1. Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK.
    1. Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            16

    1. Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.
    1. Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân hàng phát hành theo cam kết của L/C.
    1. NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 500, đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của ngân hàng, theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày.
    2. Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

    NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, đồng thời phải xác minh chữ ký, mã khoá(test key), mẫu điện của NH phát hành trước khi gửi thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này thông báo một L/C giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính NH chưa xác nhận được tình trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C.

    1. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận

     

    1. Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho nhà XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NH phát hành hay không. Như vậy, NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.
    1. Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH phát hành.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định

    Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi nhận được tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            17

    cơ sở bộ chứng từ được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà XK.

    1.3.2. Rủi ro đạo đức

    Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia.

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà XK

    Mặc dù trong thanh toán TDCT đã có sự cam kết của NH mở L/C nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người mua và người bán vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi người NK không thiện chí, cố ý không muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của bộ chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            18

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà NK

    Với người mua sự trung thực của người bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm việc với các chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không. Do đó nhà NK có thể gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo…trong việc giao hàng: cố tình giao hàng kém phẩm chất, không đúng số lượng…

    Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, có bề ngoài phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có h àng giao, người NK vẫn phải thanh toán cho NH ngay cả trong trường hợp không nhận được hàng hoặc nhận được hàng không đúng theo hợp đồng.

    c.Rủi ro đạo đức đối với ngân hàng

    NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người hưởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK chủ tâm không hoàn trả.

    NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây khó khăn trong quá trình thanh toán.

    1.3.3. Rủi ro chính trị

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Do đó, phương thức TDCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của một quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp…từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán.

    Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT là những rủi ro bắt nguồn từ sự không ổn định về chính trị của các nước có liên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            19

    quan trong quá trình thanh toán.Thông thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như: thay đổi đột ngột về thuế XNK, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối), luật XNK. Những thay đổi này làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước làm các bên tham gia XNK và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có thể bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên tham gia.

    Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính, đình công…hoặc những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn ở các nước tham gia, chứng từ bị thất lạc cũng có thể gây rủi ro trong quá trình thanh toán.

    1.3.4. Rủi ro khách quan từ nền kinh tế

    Một rủi ro mà các bên tham gia phương thức thanh toán TDCT hay gặp là sự khủng hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng công nợ nặng nề của các quốc gia. Khi nền kinh tế của một quốc gia bị suy thoái, khủng hoảng sẽ kéo theo các ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng rtới quá trình thanh toán quốc tế. Nếu nợ nước ngoài của một quỗc gia làquá lớn thì các biện pháp như tăng thuế, phá giá nội tệ sẽ được áp dụng, từ đó làm giảm khả năng chi trả của người mua và ngân hàng có nguy cơ không đòi được tiền. Ngoài ra, sự phong toả kinh tế của các quốc gia như trường hợp của Cuba, Iraq… cũng mang klại những rủi ro cho bất kì quốc gia, đơn vị kinh tế nào có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước đó.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            20

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH Công thương Đống Đa

    Ngân hàng Công Thương Đống Đa được thành lập năm 1956, tiền thân là NHNN quận Đống Đa, một chi nhánh trực thuộc NHNN với chức năng quản lý của NHNN trên địa bàn quận Đống Đa. Theo NĐ 53/HĐBT (ngày 26/3/1988), hệ thống ngân hàng Việt Nam tách thành hai cấp, gồm NH Nhà nước và các NH chuyên doanh.Tháng 7/1988, NHCT Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động, theo đó, NHNN quận Đống Đa được chuyển thành NHCT quận Đống Đa trực thuộc NHCT thành phố Hà Nội. Với QĐ 93 (ngày 18/4/1993), NHCT quận Đống Đa chuyển thành NHCT khu vực Đống Đa, là đơn vị hạch toán phụ thuộc hệ thống NHCT Việt Nam.

    Địa bàn kinh doanh của NHCT Đống Đa chủ yếu là ở 2 quận Thanh Xuân và Đống Đa, với đặc điểm dân số tập trung đông, đa dạng các thành phần kinh tế, là khu trung tâm sản xuất công nghiệp, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp có quy mô lớn của thành phố như: Nhà máy công cụ số 1, xí nghiệp Dược phẩm TW I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Đây là những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng.

    Với phương châm “Phát triển- An toàn- Hiệu quả”, NHCT Đống Đa luôn khẳng định vị trí của mình và đã được nhiều người biết tới là chi nhánh hạng 1 của NH Công thương Việt Nam, một chi nhánh có doanh số hoạt động lớn trên địa bàn Hà Nội cả về phạm vi, qui mô và chất lượng hoạt động. Trong những năm gần đây NHCT Đống Đa đã đạt được những thành tích đáng kể đó là: năm 1995 chi nhánh được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba, năm 1998 được tặng thưởng Huân chương lao động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            21

    hạng nhì và năm 2002 được tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất về thành tích kinh doanh Tiền tệ – Tín dụng ngân hàng.

    Đặt trụ sở chính tại 187 Tây Sơn, NHCT Đống Đa ngày càng lớn mạnh về qui mô và chi nhánh. Trong toàn cơ quan đã có 11 phòng ban, bao gồm: Ban Giám đốc, Phòng tổ chức hành chính, Phòng Kế toán- Tài Chính, Phòng Tiền tệ- Kho quĩ, Phòng Tài trợ thương mại, Phòng Thông tin- Điện toán, Phòng Tổng hợp- Tiếp thị, Phòng Khánh hàng số 1, Phòng Khánh hàng số 2, Phòng Khách hàng cá nhân, Tổ nghiệp vụ bảo hiểm. NHCT Đống Đa có 1 Giám đốc và 4 Phó giám đốc. Tập thể cán bộ nhân viên của NH có tổng số

    • người. Có tất cả 2 phòng giao dịch: khu vực Cát Linh và khu vực Kim Liên và 16 quĩ tiết kiệm nằm rải rác trong quận Đống Đa.

    2.1.2. Hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa trong những năm gần đây

    Chi nhánh NHCT Đống Đa với chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng đã liên tục tự đổi mới và đi lên. Mặc dù tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều NH thương mại và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cùng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, trong những năm qua, Chi nhánh đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, ứng dụng các công nghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo uy tín với khách hàng, thể hiện qua một số kết quả sau đây:

    2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn

    Tổng nguồn vốn huy động của NH trong năm 2004 đạt trên 3100 tỷ đồng, tăng 386 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    – Tiền gửi của các tầng lớp dân cư tăng lên là: 2015 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 281 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 22

    – Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng lên là: 1085 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 105 tỷ đồng.

    Chi nhánh đã không ngừng đẩy nhanh tốc độ huy động vốn, nhất là các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Tỷ trọng huy động vốn từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn (65% tổng nguồn vốn huy động) là do NH đã nhận thức được tầm quan trọng của đối tượng khách hàng là cá nhân thuộc các tầng lớp dân cư. Do đó, NH đã mở thêm các quỹ tiết kiệm ở nơi đông dân cư và thuận lợi như quỹ tiết kiệm Thái Hà. NH đã ứng dụng công nghệ NH hiện đại theo mô hình NH bán lẻ để rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng, quảng cáo các tiện ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: rút tiền qua máy ATM, thực hiện chi trả lương qua tài khoản NH, đồng thời bố trí đội ngũ giao dịch viên trẻ trung, năng động, được đào tạo về kỹ năng giao tiếp văn minh. Bên cạnh đó, uy tín của NHCT Đống Đa cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng trưởng nguồn vốn của NH.

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %
    Tiền gửi dân cư 1360 58.6 1734 63.89 2014 65
    T.gửi tổ chức kinh 800 34.5 900 33.16 1016 32.77
    tế
    Các nguồn khác 160 6.9 80 2.95 70 2.23
    Tổng số 2320 100 2714 100 3100 100

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Ngân hàng huy động vốn từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dưới nhiều hình thức huy động như: phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, hay huy

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 23

    động bằng tiền mặt…Ngoài ra, còn tổ chức thu nhận tiền mặt vào các ngày nghỉ cho các đơn vị có nguồn tiền mặt lớn, thu tại các điểm thu lưu động để phục vụ khách hàng như: hàng ngày có 1 tổ thu tiền mặt đặt tại Xí nghiệp bán lẻ xăng dầu để thu tiền mặt tại Xí nghiệp, 1 tổ thu lưu động cho Chi nhánh điện lực Đống Đa. Bên cạnh đó, NHCT Đống Đa đã áp dụng các hình thức huy động vốn linh hoạt như gửi tiền tiết kiệm có dự thưởng, khuyến mại đầu năm phát lịch mới cho khách hàng.

    Doanh số huy động vốn những năm gần đây tăng trên ngàn tỷ đồng, có thể khẳng định nguồn vốn huy động của Chi nhánh tăng trưởng nhanh và ổn định vững chắc.

    2.1.2.2. Hoạt động cho vay và đầu tư

    Trong những năm qua, nhờ có nguồn vốn huy động khá dồi dào, NHCT Đống Đa đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế, giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến dây truyền công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động.

    Tổng dư nợ cho vay và đầu tư đến 31/12/2004 là 2203 tỷ đồng, tăng 183 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 59% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 41% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay XNK bằng ngoại tệ đạt 17% tổng dư nợ

    Bảng 2: Tình hình dư nợ của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 24
    Dư nợ ngắn hạn 995,6 53,92 1122 55 1292 59
    Dư nợ trung dài hạn 850,7 46,08 918 45 911 41
    Tổng dư nợ 1846,3 100 2040 100 2203 100
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Hoạt động tín dụng ngắn hạn: tổng doanh số cho vay ngắn hạn năm

    2004 đạt: 1292 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003. Vốn cho vay ngắn hạn của NH đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhập nguyên vật liệu, dự trữ cho sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu quả, đảm bảo chất lượng sản phẩm, có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và XK ra thị trường quốc tế như: sản phẩm xăm lốp ôtô, xe máy, xe đạp của công ty Cao su Sao Vàng, sản phẩm giầy dép của công ty Giầy Thượng Đình, sản phẩm dây cáp điện các loại của công ty Cơ điện Trần Phú, sản phẩm sơn của công ty Sơn tổng hợp Hà Nội, các sản phẩm bóng đèn của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông…

    Ngoài việc đáp ứng vốn kịp thời cho các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn, Chi nhánh còn rất chú trọng tới việc cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình, kinh tế tư nhân cá thể trên địa bàn Thủ đô để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động.

    Hoạt động tín dụng trung dài hạn: tổng doanh số cho vay trung dài hạn năm 2004 đạt: 911 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41% trong tổng dư nợ.

    NHCT Đống Đa đã đầu tư tín dụng trung dài hạn cho nhiều dự án của các doanh nghiệp, điển hình là:

    – Đầu tư cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 thi công dự án dường vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Pháp Vân thành phố Hà Nội. Đây là dự án trọng điểm đã được Chính phủ phê duyệt, tổng giá trị vốn NHCT Đống Đa đầu tư là 120 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            25

    – Cho vay dự án Cáp truyền hình của Công ty dịch vụ truyền thanh truyền hình tại Thủ đô Hà Nội số tiền 22 tỷ đồng.

    – Giải ngân dự án mua thiết bị để thi công nhà máy thuỷ điện A Vương của Công ty Lũng Lô số tiền gần 43 tỷ đồng.

    – Đầu tư cho dự án bổ xung Lò đúc kéo đồng, lò đúc cán nhôm liên tục và dự án hoàn thiện thiết bị công nghệ sản xuất dây và cáp nhôm, dây và cáp đồng, dây đồng mềm bọc nhựa PVC của Công ty cơ điện Trần Phú.

    – Đầu tư cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông để mở rộng vùng phủ sóng mạng Vinaphone tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành

    2.1.2.3. Hoạt động thanh toán quốc tế

    Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ mới của NHCT Đống Đa, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế thời kỳ mở cửa. Trong những năm qua, kim ngạch thanh toán quốc tế của NH không ngừng tăng, cụ thể là: kim ngạch thanh toán quốc tế năm 2003 đạt 120,81 triệu USD tăng 9,7% so với năm 2002, năm 2004 đạt 160,4 triệu USD, tăng 62,34% so với năm 2003.

    Bảng 3: Kim ngạch thanh toán quốc tế của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: triệu USD
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Kim ngạch TTQT 10,09 120,81 160,48

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    2.1.2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 26

    Kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động không thể thiếu của NH trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới. Một mặt nó hỗ trợ tích cực cho hoạt động thanh toán quốc tế, mặt khác nó góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế. Nắm bắt được xu hướng này, trong những năm qua, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa đã có nhiều khởi sắc.

    Bảng 4: Ba ngoại tệ được mua bán chủ yếu của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn

    Loại tiền 2002 2003 2004
    Mua Bán Mua Bán Mua Bán
    USD 49.917 48.733 45.114 45.835 57.148 57.053
    EUR 5.833 5.769 6.333 6.124 5.881 5.712
    GBP 3.214 3.270 2.916 2.625 2.741 2.622

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Từ năm 2002-2004, doanh số mua bán ngoại tệ nhìn chung năm sau đều tăng so với năm trước, chứng tỏ nhu cầu mua bán, trao đổi và sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế ngày càng phát triển. Đồng thời, nó cũng là tín hiệu đáng mừng cho NHCT Đống Đa trong quá trình hiện đại hoá NH và hội nhập kinh tế quốc tế.

    (2):

    Bảng 5: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 27
    Đơn vị: nghìn USD
    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện +/- so với KH +/- cùng kì
    Doanh số mua 40.000 19.213 48% -22%
    Doanh số bán 39.500 17.768 45% -26%

    Doanh số mua ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005 giảm 22% và doanh số bán ngoại tệ giảm 26% so với cùng kì đầu năm 2004 là vì: khách hàng của chi nhánh hầu hết là NK hàng hoá bằng vốn vay của NH, việc tạo nguồn ngoại tệ từ hoạt động XK là không đáng kể. Do vậy, NH rất khó khăn để cân đối cung cầu ngoại tệ. Mặt khác, đồng USD thường được giao dịch trên thị trường NH với tỷ giá kỳ hạn, đây là một khó khăn lớn đối với NH chỉ chuyên NK.

    2.1.2.5. Hoạt động bảo lãnh

    Trong những năm qua, Chi nhánh đã thực hiện nhiều nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng… Nhiều dự án được NHCT Đống Đa bảo lãnh đã trúng thầu.

    Đến 31/12/2004, NH đã bảo lãnh với số tiền lên tới gần 182 tỷ đồng. Sang năm 2005, chuyển đổi sang chương trình hiện đại hoá (Incas), NH đã có sự thay đổi mô hình hoạt động, toàn bộ hoạt động bảo lãnh của NH được Phòng Tài trợ thương mại thực hiện từ tháng 3/2005 với kết quả:

    Phát hành bảo lãnh: 125 món, trị giá 31.462.027.948 VNĐ

    Giải toả bảo lãnh: 157 món, trị giá 68.134.014.904 VNĐ

    Phí thu từ hoạt động bảo lãnh: 299.352.242 VNĐ

    2.2. THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    2.2.1. Những quy định chung về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của NHCT Đống Đa

    2.2.1.1. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu:

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            28

    Chi nhánh chỉ phát hành L/C nhập khẩu khi chưa sử dụng hết hạn mức vốn điều hòa của NHCT VN hoặc tài khoản điều chuyển vốn của chi nhánh dư có. Hàng hoá NK không nằm trong danh mục hàng hoá cấm NK do Bộ thương mại quy định hàng năm.

    Phòng Tài trợ thương mại có trách nhiệm thông báo với Ban lãnh đạo khi NHCT Đống Đa hết hạn mức sử dụng ngoại tệ, phối hợp cùng phòng Kinh doanh xem xét nhu cầu ngoại tệ thực tế để làm cơ sở cho phòng Kinh doanh trình NHCT Việt Nam xin điều chỉnh hạn mức sử dụng ngoại tệ.

    Cụ thể quy trình thanh toán L/C nhập khẩu như sau:

    (1):      Tiếp nhận và kiểm tra đơn xin mở L/C

    Khách hàng lập hồ sơ xin mở L/C thanh toán hàng NK gửi tới NHCT Đống Đa. Tại đây, phòng Tài trợ thương mại tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ ở các nội dung sau:

    – Bảo đảm tính hợp lệ của các chứng từ mà khách hàng xuất trình. Việc thanh toán phải phù hợp với chế độ quản lý ngoại hối và chính sách quản lý XNK hiện hành của Nhà nước.

    – Có giấy đề nghị mở L/C phù hợp với yêu cầu và qui định của NHCT VN, nội dung L/C không chứa đựng rủi ro cho chi nhánh.

    –  Nội dung của các tài liệu trong hồ sơ không mâu thuẫn nhau.

    – Đối với L/C ký quỹ dưới 100% phải có tờ trình mở L/C của các phòng kinh doanh đã được giám đốc hoặc người được ủy quyền phê duyệt.

    – Kiểm tra đơn xin mở L/C của khách hàng về tính hợp pháp lý của đơn, tính phù hợp về nội dung giữa đơn và hợp đồng, tư vấn cho khách hàng sửa đổi hợp đồng hoặc đơn mở L/C nếu cần thiết.

    – Việc xem xét hồ sơ nói trên được thực hiện trong vòng một ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ của khách hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            29

    (2):    Phê duyệt và cấp hạn mức phát hành

    Đối với các L/C ký quỹ dưới 100% đều phải qua các phòng Kinh doanh thẩm định và cấp hạn mức mở L/C, sau đó mới chuyển qua phòng Tài trợ thương mại.

    Đối với L/C ký quỹ 100%, khách hàng trực tiếp làm việc với phòng Tài trợ thương mại. Bộ phận TTTM có trách nhiệm xem xét hồ sơ mở L/C và lập giấy thông báo đề nghị phòng Kinh doanh cấp hạn mức mở L/C. Sau 30 phút kể từ khi nhận được thông báo, phòng Kinh doanh phải thực hiện xong việc cấp hạn mức cho việc phát hành L/C trên mạng máy tính. Chi nhánh có thời gian tối đa là 3 ngày để xem xét quyết định và thực hiện xong việc mở L/C cho khách hàng.

    (3):      Đăng kí và phát hành L/C nhập khẩu

    Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ đã được phê duyệt từ phòng Kinh doanh, đảm bảo khách hàng đã ký quỹ đủ số tiền theo quy định và đã mua bảo hiểm (nếu cần), cán bộ thanh toán L/C tiến hành mở L/C, ghi số L/C đã mở, trị giá và ngày phát hành L/C trên hợp đồng gốc, đồng thời ký tên trên hợp đồng. Hợp đồng gốc có thể trả lại khách hàng nếu khách hàng yêu cầu. Khi đó ngân hàng phải có bản sao, có dấu treo của đơn vị để lưu. Sau đó, kiểm soát viên phải kiểm soát lại toàn bộ hồ sơ theo đúng quy định của NHCT Việt Nam và chuyển L/C ra nước ngoài sau khi hồ sơ đã được Giám đốc hoặc người được giám đốc uỷ quyền ký duyệt.

    (4): Nhận, kiểm tra,xử lý chứng từ, thanh toán/chấp nhận thanh toán Sau khi nhận được bộ chứng từ từ NH thông báo, thanh toán viên phải

    ghi sổ theo dõi giao nhận chứng từ, ghi ngày nhận chứng từ. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, Chi nhánh phải hoàn tất việc kiểm tra chứng từ và thông báo cho khách hàng. Nếu chứng từ có sai sót thì phải lập điện thông báo sai sót và từ chối thanh toán thông qua NHCT

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            30

    Việt Nam trên mạng SWIFT, đồng thời liên hệ với khách hàng nhập khẩu để chờ chấp nhận thanh toán.

    – Đối với L/C trả ngay, trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, thanh toán viên lập điện MT 202 để thanh toán theo chỉ dẫn trong thư đòi tiền của NH gửi chứng từ. Đối với L/C trả chậm, thanh toán viên lập điện MT 799 thông báo chấp nhận thanh toán.

    – Ngân hàng chỉ phát hành thư bảo lãnh hoặc ký hậu vận đơn để khách hàng nhận hàng khi khách hàng có đủ tiền, kể cả tài khoản ký quỹ chuyển vào tài khoản tiền gửi đảm bảo các khoản thanh toán (số hiệu 870x.00xxx).

    – Chi nhánh sẽ tiến hành hạch toán thanh toán L/C từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc từ tài khoản tiền vay trên sơ sở giấy nhận nợ của khách hàng đã được phê duyệt, xuất ngoại bảng cam kết thanh toán và tính phí dịch vụ liên quan.

    – Trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng, thanh toán L/C…đơn vị phải làm đề nghị mua ngoại tệ để phòng Tài trợ thương mại xem xét và trình lãnh đạo phê duyệt. Đề nghị mua này sẽ làm căn cứ để phòng Kinh doanh và Ban lãnh đạo cho khách hàng vay bằng Đồng Việt Nam để mua ngoại tệ thanh toán ra nước ngoài.

    2.2.1.2. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu:

    (1):              Tiếp nhận và kiểm tra L/C

    Khi NHCT Đống Đa nhận được L/C nhờ thông báo thì thanh toán viên phải kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C. Nếu L/C truyền qua SWIFT thì phải có SWIFT KEY, nếu L/C nhận qua TELEX thì phải có TEST KEY, nếu L/C được chuyển bằng đường thư thì phải kiểm tra và xác thực mẫu dấu và chữ kí của người có thẩm quyền.

    Đồng thời, thanh toán viên sẽ kiểm tra các nội dung của L/C như: số L/C, loại L/C, địa điểm mở L/C, ngày mở, tên và địa chỉ của NH mở L/C, thời

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            31

    gian hiệu lực, giá trị L/C…cũng như các điều khoản khác để lưu ý khách hàng khả năng thực hiện trong tương lai.

    (2):             Thông báo L/C

    Sau khi kiểm tra tính chân thực và nội dung của L/C, NH sẽ thông báo L/C cho người hưởng lợi và thu phí thông báo.

    Nếu hai bên XNK có những thay đổi về nội dung của L/C thì NH sẽ nhận những thông báo cho người hưởng lợi và tư vấn cho họ những điểm bất lợi trong L/C để họ liên hệ với người mua để sửa đổi. Khi nhận chứng từ sửa đổi L/C, thanh toán viên phải kiểm tra các yếu tố như đối với L/C chính, sau đó thông báo cho khách hàng và thu phí sửa đổi.

    (3):             Tiếp nhận và kiểm tra bộ chứng từ

    Khi nhận được thư yêu cầu thanh toán, bộ chứng từ của khách hàng cùng bản gốc L/C và các điều chỉnh sửa đổi có liên quan, thanh toán viên phải tiến hành kiểm tra các chứng từ dựa trên các nội dung sau:

    Đảm bảo rằng L/C bản gốc và các bản sửa đổi liên quan là xác

    thực

    Kiểm tra số lượng, loại chứng từ so với qui định trong L/C

    Kiểm tra các nội dung trên từng loại chứng từ bảo đảm phù hợp với các điều khoản và điều kiện qui định trong L/C

    Kiểm tra sự thống nhất giữa các chứng từ

    Kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP 500 của ICC

    Trong phạm vi 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ, NH phải kiểm tra và xử lý xong bộ chứng từ.

    Nếu kiểm tra chứng từ có sai sót, thanh toán viên xử lý như sau:

    – Sai sót có thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng sửa chữa (trong khoảng thời gian hiệu lực của L/C)

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            32

    – Sai sót không thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng yêu cầu người mua tu chỉnh L/C hoặc thông báo cho NH phát hành nêu rõ sai sót, xin chấp nhận thanh toán.

    Sau khi hoàn thành các bước kiểm tra chứng từ, các sai sót đã được sửa chữa, được NH phát hành chấp nhận thì thanh toán viên sẽ gửi chứng từ đi đòi tiền theo qui định của L/C.

    (4):             Thanh toán / chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu

    NHCT Đống Đa thực hiện thanh toán cho đơn vị XK khi NH nước ngoài

    chấp nhận trả tiền và ghi Có vào TK của NHCT Đống Đa. Đối với bộ chứng từ L/C trả chậm, khi nhận được điện chấp nhận thanh toán từ NH phát hành/ NH xác nhận, NH sẽ chấp nhận thanh toán hối phiếu xuất trình theo L/C xuất khẩu. Khi đến hạn thanh toán, NH nhận được điện báo Có từ NH nước ngoài thì thanh toán viên sẽ tiến hành giải toả L/C cho khách hàng.

    2.2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Tại NHCT Đống Đa, hoạt động TTQT được thực hiện theo quyết định số 438/QĐ- NHCT 22. Đây là quyết định của Tổng Giám đốc NHCT Việt Nam về việc ban hành quy chế và quy trình nghiệp vụ TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam. Theo đó, TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam được hiểu là quá trình thực hiện các nghiêp vụ chuyển tiền, thanh toán Tín dụng chứng từ, nhờ thu và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác bằng ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCT Việt Nam, giữa NHCT với các tổ chức tài chính ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (Hệ thống nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế của NHCT Việt Nam), mạng SWIFT (Mạng tài chính viễn thông liên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác.

    Tại NHCT Đống Đa áp dụng chủ yếu ba phương thức thanh toán là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Trong đó, phương thức tín dụng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 33

    chứng từ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số TTQT bởi những ưu điểm của nó trong thanh toán, tính công bằng trong phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa người mua và người bán.

    Bảng 6: Tình hình thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Phươngthức
    Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng
    thanh toán
    (%) số (%) (%)
    số số
    Chuyển tiền 45.590 41,41 38.988 32,28 75.546 37,17
    và Nhờ thu
    Tín   dụng 64.505 58,59 81.823 67,72 84.934 52,92
    chứng từ

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Nhìn vào bảng số liệu ta thấy doanh số thanh toán theo phương thức TDCT có tốc độ tăng trưởng đều qua các năm. Năm 2002, tổng doanh số thanh toán TDCT đạt 64.505 nghìn USD, chiếm 58,59% tổng doanh số TTQT thì đến năm 2003 đã tăng lên 81.823 nghìn USD, tương ứng với tốc độ tăng là26%. Sang năm 2004, tổng kim ngạch thanh toán TDCT đạt 84.934 nghìn USD, chiếm 52,92% tổng doanh số.

    Đóng góp đáng kể cho sự phát triển này phải kể đến bộ phận doanh số thanh toán L/C nhập khẩu. Đây là bộ phận có tốc độ tăng trưởng ổn định, chiếm tỷ trọng lớn và tổng kim ngạch chiếm trung bình khoảng 51% tổng kim ngạch thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do đặc điểm khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những đơn vị sản xuất, thường xuyên NK nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: xí nghiệp Dược phẩm TƯ I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Vì vậy, hoạt động thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 34

    TDCT tại NHCT Đống Đa chủ yếu phục vụ cho việc mở L/C và thanh toán cho L/C nhập khẩu. Do đó NH phải thường xuyên khai thác ngoại tệ của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác cùng với sự hỗ trợ của Hội sở chính để đảm bảo nhu cầu thanh toán và nhập khẩu cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    Bảng 7: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu
    Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số
    (bộ) (bộ) (bộ)
    Phát hành L/C 405 32.978 375 41.395 348 41.761
    Thanh toán L/C 452 30.629 403 38.826 440 42.187
    Tổng 857 63.607 805 80.221 788 83.948

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Bảng 8: Tình hình thanh toán L/C xuất khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD
    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu Số Doanh Số lượng Doanh Số Doanh
    lượng lượng
    số (bộ) số số
    (bộ) (bộ)
    Thông báo 37 472 33 818 18 493
    L/C
    L/C đã thanh 33 426 31 784 18 493
    toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 35
    Tổng 70 896 64 1602 36 986
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Do sự chuyển biến lớn về kinh tế thế giới trong những năm qua, đồng thời có sự phát triển nhiều mặt của công nghệ ngân hàng, các phương tiện khoa học hiện đại, khả năng và tốc độ thanh toán của NHCT Đống Đa đã được đẩy mạnh, khách hàng đến với NH ngày càng nhiều, đặc biệt là giá trị thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng tăng.

    Hoạt động thanh toán TDCT 6 tháng đầu năm 2005 tại NHCT Đống Đa đạt được kết quả như sau:

    Phát hành L/C nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 300 món. Trị giá 40.000.000 USD

    Thực tế: 149 món. Trị giá 20.427.052 USD

    So với kế hoạch năm đạt 51%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 11%.

    Thanh toán hàng nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 400 món. Trị giá 58.000.000 USD

    Thực tế: 213 món. Trị giá 32.853.400 USD

    So với kế hoạch năm đạt 57%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 13%.

    Thanh toán hàng xuất khẩu: 8 món trị giá 222.607 USD

    (Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại 6 tháng đầu năm-Phòng tài trợ thương mại)

    L/C được sử dụng phổ biến nhất hiện nay tại NHCT Đống Đa là L/C không huỷ ngang, chiếm tới 92% tổng nhập. Ngoài ra còn có một số L/C khác như L/C không huỷ ngang có xác nhận, L/C chuyển nhượng… nhưng không đáng kể. Thị trường thanh toán lớn nhất của NHCT Đống Đa chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Hồng Kông, , Thái Lan,

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            36

    Trung Quốc, Singaphore…và gần đây bắt đầu mở rộng ra thị trường Châu Âu, Châu Mĩ.

    Một điều đáng chú ý trong hoạt động thanh toán L/C tại NHCT Đống Đa là doanh số thanh toán L/C trả chậm đã giảm nhanh chóng. Ngân hàng đã khắt khe hơn trong việc chấp nhận đứng ra bảo lãnh cho các L/C này bằng cách kiểm tra kĩ tình hình tài chính cũng như phương án hoạt động kinh doanh của khách hàng. Về mức độ kí quỹ, NHCT Đống Đa luôn xác định mức kí quỹ dựa vào mức độ tin cậy, tình hình tài chính và khả năng thanh toán của khách hàng. Thông thường, mức kí quỹ tại NHCT Đống Đa được chia ra làm 3 loại: từ 40-60%,60-80% cho những khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính tốt, và mức kí quỹ 100% cho những khách hàng mới, ít có quan hệ với ngân hàng. Ngoài ra, mức kí quỹ trên còn phụ thuộc vào đối tượng hàng hoá và phương án kinh doanh của từng thương vụ cụ thể. Mức kí quỹ phổ biến nhất tại NHCT Đống Đa hiện nay là 80-100%, chủ yếu là các đơn vị quốc doanh, các công ty và tổng công ty lớn trên địa bàn, các mức kí quỹ khác chiếm tỷ trọng rất ít.

    Hoạt động thanh toán TDCT đạt được kết quả cao như trên là do:

    • Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế nên nhu cầu thanh toán quốc tế tăng, kéo theo kim ngạch thanh toán TDCT cũng tăng.
    • Ngân hàng đã phát huy được những công nghệ hiện đại mới làm cho chất lượng công tác thanh toán TDCT được nâng cao, uy tín của ngân hàng ngày càng được củng cố, khách hàng ngày càng tin tưởng hơn khi giao dịch với NH.
    • Trong những năm gần đây, thanh toán quốc tế trong đó đặc biệt là thanh toán TDCT là một nghiệp vụ trọng tâm được ban lãnh đạo ngân hàng đầu tư và khuyến khích phát triển để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            37

    2.2.3. Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Những rủi ro xảy ra trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa mang tính chất đa dạng khác nhau và phát sinh do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu hai loại rủi ro phổ biến và điển hình nhất là: rủi ro phát sinh liên quan đến vấn đề chứng từ xuất trình và rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia.

    Những rủi ro liên quan đến vấn đề xuất trình gồm những rủi ro do các chứng từ xuất trình không phù hợp với các điều kiện qui định trong L/C hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ.

    Những rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia gồm:

    • Rủi ro do người xuất khẩu cố tình giao hàng kém chất lượng, không đúng số lượng.
    • Người nhập khẩu từ chối nhận hàng và không thanh toán cho ngân hàng phát hành
    • Rủi ro do người xuất khẩu xuất trìnhbộ chứng từ có sự sai biệt so với qui định của L/C

    Nguyên nhân tồn tại

    Qua thực tiễn thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa có thể thấy các rủi ro xảy ra xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:

    Một là, do các bên tham gia vào giao dịch thanh toán còn thiếu kinh nghiệm về hoạt động thanh toán quốc tế, quan niệm về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và các cam kết còn đơn giản, tuỳ tiện, hành động theo suy diễn chủ quan của mình.

    Hai là, do các bên còn hạn chế về trình độ am hiểu nghiệp vụ ngoại thương cũng như thanh toán quốc tế, nên hiểu và vận dụng chưa đúng các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            38

    điều khoản của UCP 500 về chứng từ xuất trình, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Ba là, do các đơn vị tham gia XNK tìm hiểu đối tác không kỹ, thiếu thông tin, ỷ lại vào ngân hàng trong việc tìm hiểu luật pháp quốc tế về TDCT, trước những món lợi lớn do thương vụ mang lại đã kí kết những hợp đồng bất lợi.

    Bốn là, do nền kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế chưa hoàn chỉnh, thường xuyên được sửa đổi bổ xung gây khó khăn cho các bên tham gia thanh toán TDCT.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            39

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHCT ĐỐNG ĐA TRONG NĂM 2005

    3.1.1. Định hướng chung

    Căn cứ vào các chỉ tiêu công tác được NHCT Việt Nam giao, Chi nhánh

    NHCT Đống Đa đề ra một số nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh doanh năm 2005 như sau:

    * Các chỉ tiêu kinh doanh:

    Nguồn vốn huy động đạt 3.782 tỷ đồng, tăng trưởng 22% so với 2004 Dư nợ cho vay đạt 2.645 tỷ đồng, tăng trưởng 20% so với 2004

    Doanh số hàng nhập khẩu thực hiện 200 triệu USD, doanh số hàng xuất khẩu đạt 15 triệu USD

    Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% tổng dư nợ

    Tài chính kinh doanh có lãi, đủ quỹ tiền lương, thưởng theo qui định

    Mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ như: mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán chuyển tiền, dịch vụ thanh toán thẻ, séc du lịch…

    * Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu của NHCT Đống Đa đó là nâng cao sức cạnh tranh giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nứơc ngoài, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng. Tất cả nhằm phục vụ phát triển kinh tế trong nước, đồng thời xây dựng một phong cách kinh doanh hiện đại, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Từ đó, khẳng định được vị thế của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế.

    * Phương châm hoạt động của NHCT Đống Đa: NHCT Đống Đa luôn đề ra phương châm hoạt động cho toàn bộ hệ thống các phòng ban, các tổ nghiệp

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            40

    vụ, các nhân viên của toàn NH nói chung và của riêng phòng Tài trợ thương mại nói riêng. Cụ thể:

    • Đối với Ngân hàng là: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng . An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang lại ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngân hàng.
    • Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn khi gửi tiền, phục vụ nhanh chóng, kịp thời với chất lượng và chi phí hợp lý.

    3.1.2. Định hướng trong hoạt động thanh toán TDCT

    Nhận thức được tầm quan trọng mà hoạt động TTQT nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng đem lại cho NHCT Đống Đa, NH cần có chiến lược để phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ TDCT để giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, khả năng thu hút khách hàng cũng như nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng.

    Để đạt được điều này, ngân hàng phải luôn thực hiện phương châm thu hút khách hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng bởi tiềm lực khách hàng trong nước đã trở thành bộ phận quan trọng đối với hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.

    NH tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thanh toán TDCT, phát triển tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tìm kiếm khách hàng mới và các dự án đầu tư hiệu quả, đặc biệt phục vụ phát triển hoạt động XNK và kinh tế đối ngoại của thủ đô.

    NH tăng cường bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho các các cán bộ thực hiện thanh toán TDCT. Tạo điều kiện cử các cán bộ, nhân viên đi học các lớp đại học, cao học, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Trung tâm đào tạo tổ chức, đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho cán bộ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            41

    3.2. GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.2.2. Giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế, trước hết là phương thức thanh toán TDCT.

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro, các quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách và củng cố hệ thống tài chính- ngân hàng một cách tích cực. Đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển và ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập như Việt Nam, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính- ngân hàng là hết sức cần thiết.

    TTQT mặc dù chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng nhưng lại liên quan trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm, uy tín của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia. Các qui tắc thực hành thống nhất về TTQT như URC(nhờ thu), UCP(thanh toán L/C)… do phòng thương mại quốc tế ban hành không phải là văn bản luật, mà chỉ là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong hoạt động TTQT, mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Vì vậy, nếu có mâu thuẫn giữa các qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia thì lựa chọn áp dụng là tuỳ theo pháp luật của từng nước.

    Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có luật hay pháp lệnh riêng về hoạt động TTQT. Thực tiễn các doanh nghiệp và các NHTM khi tham gia thanh toán tín dụng chứng từ hay gặp nhiều rủi ro, tranh chấp và xung đột pháp luật, mặc dù họ đã tìm mọi cách bảo vệ mình. Vì vậy, việc soạn thảo, bổ xung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật cho hoạt động TTQT là rất cần thiết cho các NHTM Việt Nam, đồng thời còn là cơ sở để toà án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong quan hệ TTQT.

    Bên cạnh đó, cần có những văn bản dưới luật (pháp lệnh, nghị định) qui định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            42

    cũng như các giải pháp xử lý trong trường hợp có tranh chấp, xung đột pháp luật giữa qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia trong TTQT nói chung và phương thức TDCT nói riêng (vì L/C đang và chắc chắn vẫn là phương thức chủ yếu trong TTQT). Việc này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan như Bộ thương mại, Tổng cục hải quan… nhằm tạo sự nhất quán trong việc ban hành và áp dụng các điều luật đó sau này.

    3.2.2.2. Tổ chức tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tạo điều kiện cho thị trường ngoại hối Việt Nam ngày càng phát triển.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi, cung cấp ngoại tệ nhằm giải quyết các nhu cầu về ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Việc hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một trong những điều kiện quan trọng để các NHTM mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và tạo thuận lợi cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thực hiện tốt hơn. Thông qua thị trường này, ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá cuối cùng một cách linh hoạt và chính xác nhất. Nhằm hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam, chúng ta cần đa dạng hoá các loại ngoại tệ và các hình thức giao dịch như: mua bán trao ngay (Spot), mua bán kì hạn (Forward), quyền chọn (Option), tương lai (Future) ; mở rộng đối tượng tham gia vào thị trường nhằm làm cho thị trường hoạt động sôi động hơn, tỷ giá giao dịch sát với thực tế hơn. Ngoài ra, đây cũng chính là giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro về tỷ giá, góp phần nâng cao chất lượng thúc đẩy thanh toán quốc tế phát triển.

    3.2.2.3. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

    Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kì nhất định, thường là một năm. Tình trạng của cán cân TTQT liên quan đến khả năng thanh toán của cả nước, của các ngân hàng, tác động đến tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại tệ của cả nước. Trong những năm vừa qua, cán cân thanh toán của Việt Nam, đặc biệt là cán cân

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            43

    thương mại và cán cân vốn luôn trong tình trạng thâm hụt, dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, gây khó khăn cho công tác thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán TDCT nói riêng. Do đó, để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, hạn chế tình trạng nhập siêu hiện nay, Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề sau:

    • Đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt hướng vào các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc thông qua các hiệp định thương mại được kí kết giữa chính phủ các nước.
    • Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài
    • Quản lí chặt chẽ nợ vay nước ngoài. Vay nợ nước ngoài cần phải đáp ứng được hai mục tiêu cơ bản là nâng cao hiệu quả sử dụng và giữ được mức nợ ở một tỷ lệ hợp lý, tương ứng với năng lực trả nợ của đất nước.
    • Cải tiến cơ cấu hàng XK: tăng XK sản phẩm đã qua chế biến, giảm lượng hàng thô…Hạn chế NK các loại hàng tiêu dùng và các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.
    • Thực hiện cơ sở tỷ giá hối đoái thích hợp có lợi cho xuất khẩu.

    3.2.2.4. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, công nghệ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành Ngân hàng. TTQT là một trong những hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng. Tuy nhiên, hoạt động ngoại bảng này lại tiềm ẩn nhiều rủi ro, muốn kinh doanh có hiệu quả, một điều kiện không thể thiếu là kỹ thuật, công nghệ hiện đại để cung cấp thông tin chính xác, cập nhật, xử lý tình huống nhanh chóng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ, kỹ thuật hiện đại đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động TTQT, đặc biệt là thanh toán TDCT, nhiều NHTM đã chú trọng đầu tư xây dựng, lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho hoạt động này. Tuy nhiên, cùng với sự khó khăn của đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngành khoa học kỹ thuật của nước ta, đặc

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            44

    biệt là công nghệ ngân hàng còn có một khoảng cách khá xa so với mặt bằng chung thế giới. Để có thể thích ứng được với xu thế phát triển của các ngân hàng trên thế giới là gắn chặt các sản phẩm của ngân hàng với công nghệ thông tin hiện đại thì ngành ngân hàng Việt Nam mà đi đầu là NHNN Việt Nam cần phải có kế hoạch hiện đại hoá ngân hàng theo hướng hoà nhập với cộng đồng thế giới, nhưng không nên cứng nhắc đưa mô hình của các nước khác vào áp dụng mà quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng phải đáp ứng được những vấn đề sau:

    • Công nghệ ngân hàng phải đưa ra các công cụ thanh toán hợp lí
    • Công nghệ ngân hàng phải xác định cách thức thanh toán sao cho phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế của Việt Nam, đồng thời cũng là yếu tố kích thích cho kinh tế Việt Nam phát triển
    • Cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ cho hoạt động ngân hàng phải mang tính hiện đại và có thể sử dụng lâu dài, tránh lạc hậu.

    3.2.2.5. Các NHTM khi tham gia vào thanh toán TDCT phải ban hành, bổ xung, hoàn chỉnh quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng.

    TTQT trong đó có thanh toán TDCT là hoạt động giữa các NHTM các nước, với việc tự nguyện chấp hành theo các quy ước, quy tắc quốc tế và pháp luật của mỗi nước. Do vậy, NHNN không thể ban hành qui định về TTQT như : qui định về cho vay của tổ chức đối với khách hàng, qui định về hạch toán kế toán…Chính vì vậy, các NHTM phải ban hành qui định qui trình TTQT trong hệ thống của mình một cách chặt chẽ, nhất quán, tuân theo quy tắc, thông lệ quốc tế, không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với mô hình tổ chức, bộ máy của NH đó. Các qui định càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu, càng giúp cho các cán bộ thanh toán tránh sai sót bấy nhiêu.

    Các NHTM Việt Nam cần thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, phối hợp giúp nhau trong TTQT, đặc biệt là trong thanh toán TDCT. Các ngân hàng cần xác định rằng tuy là một dịch vụ thu lợi lớn song có liên quan đến nước

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            45

    ngoài với rủi ro cũng lớn và không thể nào một NHTM có thể đảm nhận hết TTQT, cũng như một NHTM sai sót thì cả hệ thống NHTM sẽ bị ảnh hưởng uy tín. Do vậy, các NHTM cần coi đây là một hoạt động chung, cùng dựa vào nhau để phát triển.

    3.2.3. Giải pháp ở tầm vi mô

    3.2.3.1. Về nghiệp vụ

    Sau khi nghiên cứu thực trạng các rủi ro trong thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa, NH có thể đúc kết ra các kinh nghiệm để nhằm hạn chế các rủi ro xảy ra.

    Biện pháp chung đối với tất cả các bên khi tham gia vào phương thức thanh toán bằng L/C là các bên phải giữ đạo đức kinh doanh và giữ uy tín. Cụ thể là:

    Các bên nên tìm hiểu độ tin cậy của đối tác: đây có thể hiểu là tìm hiểu độ tin cậy của người mua, người bán, NH phát hành, NH thông báo và các NH khác…Người mua và người bán đều cần tìm hiểu về uy tín trong kinh doanh, tình hình tài chính…của bên đối tác trước khi kí kết hợp đồng ngoại thương. NH phát hành cần tìm hiểu về người mua để đánh giá rủi ro không hoàn trả của người mua; tìm hiểu về người bán để đánh giá khả năng thực hiện hợp đồng và độ trung thực, thiện chí trong quan hệ hợp tác buôn bán. Người mua phải tìm hiểu về NH thông báo để đánh giá năng lực và kinh nghiệm kinh doanh dịch vụ L/C. Người bán phải tìm hiểu về NH phát hành để đánh giá khả năng thực hiện cam kết trả tiền…Việc tìm hiểu này có thể được thực hiện qua các ngân hàng, các công ty vận tải giao nhận, các công ty tư vấn, phòng thương mại và công nghiệp các nước…Việc tìm hiểu ban đầu này là vô cùng cần thiết và có tác dụng trong việc hạn chế các rủi ro trong thanh toán L/C.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            46

    Ngoài ra, tuỳ theo chức năng và nghĩa vụ của các bên tham gia mà mỗi bên có những biện pháp riêng áp dụng để ngăn ngừa các rủi ro trong thanh toán L/C. Cụ thể:

    1. Đối với NHCT Đống Đa

    Với tư cách là NH phát hành

    • NH phải mở L/C theo đúng đơn xin mở L/C. Tất cả các L/C bắt buộc phải phát hành và quản lý trên hệ thống INCAS.
    • NH cần làm cho người NK nhận thức rõ nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH phát hành và tính độc lập của thư tín dụng với hợp đồ Vì một rủi ro hay xảy ra đối với NH phát hành là người mua từ chối hoàn trả tiền cho NH do hàng không đúng hợp đồng hay có sự giả mạo trong bộ chứng từ. Do đó, NH cần nêu rõ trong mẫu đơn xin mở L/C về nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH.

    Để hạn chế việc chứng từ về NH phát hành sớm hơn hàng hoá, NH cần tính toán khoảng thời gian hàng vận chuyển trên đường, thời gian chuẩn bị chứng từ của bên bán, thời gian làm việc của NH thương lượng, thời gian gửi chứng từ để xác định thời gian xuất trình của chứng từ hợp lý, tránh việc chứng từ xuất trình quá sớm dẫn đến NH phát hành phải chấp nhận chứng từ trước khi hàng đến Việt Nam.

    NH cần khống chế bộ chứng từ đầy đủ (full set)để có thể yêu cầu người mua hoàn tiền.

    NH nên kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ. Theo UCP 500, NH phải đưa ra quyết định tiếp nhận hay từ chối bộ chứng từ trong trên phán đoán của mình. Nhưng nếu NH kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ sẽ đem lại tác dụng như: tránh được tình huống người mua từ chối trả tiền cho NH phát hành, kết hợp với người mua trong việc phát hiện chứng từ giả mạo. Như vậy, trong 7 ngày kiểm tra chứng từ, NH nên tận dụng tối đa sự tham gia của người mua vào việc kiểm tra chứng từ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            47

    NH cần nâng cao khả năng phát hiện chứng từ giả mạo để hạn chế bớt các rủi ro, góp phần bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

    Trong trường hợp ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh cho khách hàng nhận hàng khi chưa nhận được bộ chứng từ, NH phải yêu cầu khách hàng chấp nhận thanh toán vô điều kiện, kể cả trường hợp chứng từ có sai sót.

    Đối với L/C trả ngay: trước khi ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh nhận hàng, NH phải yêu cầu khách hàng ký khế ước nhận nợ(nếu khách hàng vay vốn NH) hoặc chuyển khoản tiền tương đương với trị giá lô hàng vào tài khoản thanh toán với nước ngoài để chờ thanh toán(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có)

    Đối với L/C trả chậm: trước khi ký hậu vận đơn NH phải yêu cầu khách hàng thế chấp tài sản đảm bảo(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có) hoặc ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ(trường hợp vay vốn NH).

    Đối với thị trường bị cấm vận, để giảm thiểu rủi ro, NH cần yêu cầu khách hàng cam kết chịu rủi ro và bồi thường tất cả các thiệt hại xảy ra đối với NH khi thực hiện các giao dịch qua các nước bị cấm vận.

    Với tư cách là ngân hàng thông báo

    NH cần xác thực L/C một cách cẩn thận trước khi thông báo cho người bán. Nếu chưa kiểm tra được tính chân thực của L/C cũng như bản sửa đổi L/C thì không nên thông báo cho người bán, tránh trường hợp người bán hiểu lầm về tính chân thực của L/C dẫn đến những tranh chấp giữa người bán và NH sau này.

    NH nên kiểm tra, tư vấn cho khách hàng lập bộ chứng từ phù hợp với L/C để hạn chế những rủi ro trong thanh toán sau này.

    NH cần cẩn trọng khi chiết khấu các bộ L/C xuất trình bằng đường thư, hạn chế chiết khấu bộ chứng từ mà vận đơn do những hãng vận tải không đáng tin cậy phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            48

    NH không chiết khấu bộ chứng từ trong các trường hợp sau: bộ chứng từ XK mặt hàng Nhà nước cấm XK, các khách hàng mà NH không hiểu rõ về khách hàng đó, các chứng từ xuất trình không đúng với qui định của L/C.

    1. Đối với người NK

     

    Đàm phán kỹ hợp đồng trước khi mở L/C.Ơ Việt Nam nói chung và tại NHCT Đống Đa nói riêng có một thực trạng là khi ký kết hợp đồng, nhiều doanh nghiệp không suy xét kỹ khi đàm phán ký kết hợp đồng, sau đó thấy hợp đồng không có lợi thì lại mở L/C trái với hợp đồng để có lợi cho mình, thậm chí mở L/C chậm hoặc không mở L/C để đòi người bán đàm phán lại hợp đồng. Nếu hành động như vậy, người bán có thể qui kết người mua vi phạm hợp đồng. Do vậy, người mua phải hết sức thận trọng khi ký kết hợp đồng, không nên cho rằng có thể dễ dàng đàm phán lại.

     

    Làm đơn xin mở L/C phải thống nhất với hợp đồng. Người NK cần nhận thức rằng NH phát hành trả tiền căn cứ vào bộ chứng từ có phù hợp hay không, chứ không phải là hàng hoá phù hợp với hợp đồng hay không. Do đó, để đảm bảo nhận được hàng đúng như hợp đồng, người NK cần truyền tải kỹ lưỡng và đầy đủ các điều khoản của hợp đồng vào trong đơn xin mở L/C. Trước khi NH phát hành chuyển L/C sang NH thông báo cần kiểm tra lại L/C xem có thống nhất với hợp đồng và đơn xin mở L/C không.

     

    Dùng hợp đồng để buộc người bán giao hàng. Mục đích mà người NK là hàng hoá, do đó, dù người NK có thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng và mở L/C nhưng vẫn còn rủi ro là người bán không giao hàng. Để giảm thiểu rủi ro này, người NK nên dùng điều khoản phạt trong hợp đồng trong trường hợp người bán giao hàng chậm.

     

    1. Đối với người XK

     

    Dùng hợp đồng ràng buộc trách nhiệm, đề phòng trường hợp người mua không mở hoặc mở L/C chậm. Không mở hoặc mở L/C chậm là một rủi

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            49

    ro lớn đối với người XK. Do đó trong hợp đồng cần qui định các điều khoản phạt trong trường hợp người bán không mở hoặc chậm mở L/C.

    Kiểm tra kỹ các điều kiện chứng từ trong L/C để xem mình có khả năng lập được bộ chứng từ như qui định của L/C không. Đối với những điều kiện chứng từ bất lợi cho mình, người XK không nên nhất trí mà phải yêu cầu sửa đổi.

    Lập bộ chứng từ theo đúng điều kiện của UCP 500, tránh các lỗi xảy ra và xuất trình chứng từ đúng hạn .

    3.2.3.2. Về tổ chức

    NH cần phát huy mạnh mẽ nhân tố con người trong thời đại mới bằng cách vừa phát huy mạnh mẽ năng lực điều hành của ban lãnh đạo NH, đồng thời coi trọng đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và đạo đức của thanh toán viên.

    Để qui trình thanh toán L/C được chính xác nhanh chóng, thanh toán viên phải có khả năng xử lí nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế. Để làm được điều này, ngoài kiến thức chuyên môn về TTQT, các thanh toán viên cần có các kiến thức chuyên sâu về ngoại thương, về thị trường hàng hoá và thị trường tài chính trên thế giới. Vì thế, NH cần tiêu chuẩn hoá đội ngũ thanh toán viên bằng các biện pháp như :

    Tổ chức các lớp tập huấn theo chuyên đề về nghiệp vụ TTQT, thương mại quốc tế…

    Tạo điều kiện cho các cán bộ tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, các lớp cao học, mời chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài về đào tạo nghiệp vụ

    Tăng cường bổ xung các lãnh đạo trẻ có năng lực

    Trang bị các kiến thức về pháp luật, luật kinh tế, luật áp dụng trong ngoại thương…

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            50

    NH cần chú trọng hơn với việc đầu tư vào cơ sở vật chất kĩ thuật, trang bị và lắp đặt đầy đủ các thiết bị thanh toán hiện đại, đặc biệt là các thiết bị phương tiện phục vụ hoạt động thanh toán TDCT. NH cần nghiên cứu và đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả thanh toán TDCT và các hoạt động kinh doanh khác.

    3.2.3.3. Về khách hàng

    Để ngày một nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng, cũng như tiếp tục giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, NHCT Đống Đa nên xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn và hiệu quả. Để có một chính sách khách hàng tốt, NH cần chú trọng các vấn đề sau:

    Thứ nhất, NH nên chủ động tìm kiếm khách hàng, thiết lập quan hệ chặt chẽ với khách hàng. NH cần có sự ưu đãi đối với từng đối tượng khách hàng nhằm củng cố được đội ngũ khách hàng truyền thống và thu hút thêm các khách hàng mới.

    Đối với hoạt động thanh toán L/C, NHCT Đống Đa nên tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng khép kín, tức là NH đảm bảo phục vụ khách hàng

    • tất cả khác khâu. Đối với doanh nghiệp XK, NH không chỉ làm trung gian thanh toán mà còn có thể cho vay sản xuất và thu gom hàng. Đối với doanh nghiệp NK, NH có thể xem xét cho vay thanh toán. Khi đó, lợi ích của NH và khách hàng gắn bó với nhau. Đồng thời việc khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ NH sẽ giúp NH có điều kiện theo dõi nắm bắt tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng toàn diện hơn và có chính sách khách hàng tốt hơn, đảm bảo hoạt động kinh doanh của NH an toàn, quan hệ khách hàng- ngân hàng bền chặt hơn.

    Thứ hai, nâng cao công tác Marketing ngân hàng, bởi đây là một trong những chiến lược cạnh tranh của NH.

    NH nên quảng cáo, truyền bá hình ảnh và thương hiệu của NH mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.NH nên mở các dịch vụ tư vấn miễn phí, tổ chức các buổi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng thông qua các Hội nghị

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            51

    khách hàng để vừa giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới của NH, lại vừa nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.

    NH phải xác định mỗi nhân viên ngân hàng là một tuyên truyền viên tích cực vận động khách hàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NH, từ đó nâng dần nhận thức của khách hàng, giúp họ gần gũi sử dụng các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại.

    Trong quá trình quảng bá cần chú ý cung cấp các thông tin nêu bật được lợi thế hơn hẳn của NH mình trong chất lượng và cách thức cung cấp dịch vụ, để khách hàng có thể tự so sánh với các NH khác và tự rút ra kết luận.

    Thứ ba, NH cần chú trọng hơn đến chính sách giá cả, đảm bảo hợp lí cho từng đối tượng khách hàng, trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác NH đề ra.NH có thể thực hiện chính sách ưu đãi đối với khách hàng lâu năm và có uy tín như: hạn chế các thủ tục giao dịch, giảm tỷ lệ ký quỹ hoặc giảm mức phí giao dịch…Đồng thời, NH nên mở rộng các loại hình L/C, song song với đó là công tác tư vấn cho khách hàng về ưu nhược điểm của từng loại để khách hàng có được lựa chọn chính xác.

    Thứ tư, NH cần xây dựng văn hoá kinh doanh ngân hàng, tức là xây dựng một phong cách kinh doanh riêng trong lĩnh vực NH, để khi nhìn vào có thể thấy nét bản sắc riêng của NH mình. Đồng thời, NH cần tạo phong cách phục vụ khách hàng văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo. Bởi thái độ và phong cách giao tiếp chính là một trong những nghệ thuật thu hút khách hàng có hiệu quả nhất. Thái độ lịch sự, nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nhân viên giao dịch có thể tạo nên hình ảnh đẹp về NH trong lòng khách hàng, góp phần thu hút ngày càng nhiều lượng khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng.

    3.2.3.4. Mở rộng quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài

    Hiện nay, NHCT Đống Đa có quan hệ đại lý với trên 450 ngân hàng đại lý, hầu hết là các NH lớn có uy tín trên thế giới. Nhưng với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, thị trường thanh toán không ngừng mở rộng sang các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            52

    nước và các khu vực mới. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần tiếp tục mở rộng mạng lưới đại lý của mình. Muốn vậy, ngân hàng cần phải tiếp tục củng cố quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý trên thế giới. Lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực đối ngoại của từng khu vực để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng có uy tín cao.

    3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước

    TTQT là nghiệp vụ liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy mọi chính sách tác động đến một lĩnh vực nào đó cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến công tác TTQT. Xuất phát từ đặc điểm trên, các giải pháp nhằm giảm rhiểu rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán TDCT nói riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành liên quan cũng như các cơ quan quản lí vĩ mô, đặc biệt là ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cần có các giải pháp cụ thể sau:

    Xây dựng một chế độ tỷ giá lành mạnh dựa trên phương pháp rổ hàng hoá, đảm bảo khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu

    Khẩn trương hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý

    Vận hành tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và đẩy mạnh hoạt động của thị trường ngoại hối

    Thực hiện tốt vai trò làm tham mưu tư vấn cho chính phủ để đưa ra chính sách quản lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoạitệ, từ đó tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK.

    3.3.2. Kiến nghị với các doanh nghiệp XNK

    Như đã trình bày ở chương trước, rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT có nguyên nhân từ chính những yếu kém trong nghiệp vụ của các doanh nghiệp XNK và chính họ là người gánh chịu những thiệt hại nặng nề từ những rủi ro đó. Theo số liệu của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, có tới 70% giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo về

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            53

    nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Trong khi đó 80- 85% số doanh nghiệp đó tham gia kinh doanh XNK hoặc uỷ thác XNK. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp XNK là đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Cụ thể: các doanh nghiệp tham gia XNK phải có các cán bộ chuyên trách về XNK. Các cán bộ phải được đào tạo nghiệp vụ ngoại thương, am hiểu luật thương mại quốc tế, có năng lực công tác và đặc biệt phải có phẩm chất trung thực trong kinh doanh.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Trong những năm qua, nền kinh tế mở đã mang lại những chuyển biến tích cực đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng qua các năm, nền kinh tế dần được cải thiện và phát triển. Để đạt được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các NHTM với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, trong đó chủ yếu là phương thức thanh toán TDCT đã giúp cho hoạt động thanh toán XNK diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của thương mại quốc tế thì rủi ro trong hoạt động TTQT nói chung và rủi ro trong thanh toán TDCT nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, việc nâng cao chất lượng thanh toán TDCT và phòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết.

    Được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Thu Hiền, cùng cán bộ làm việc trực tiếp tại phòng Tài trợ thương mại thuộc NHCT Đống Đa, đề tài đã hoàn thành được những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Thứ nhất, giới thiệu một cách tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những rủi ro khi áp dụng.

    Thứ hai, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng

    Thứ ba, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa.

    Do đây là một vấn đề khá phức tạp nên những ý kiến đề xuất không tránh khỏi những thiếu xót, em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô và các anh chị trong ngân hàng để bài viết đạt kết quả tốt hơn.

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    1. NH : Ngân hàng
    2. NHCT : Ngân hàng Công thương
    3. NHNN : Ngân hàng Nhà nước
    4. NHTM : Ngân hàng thương mại
    5. NK : Nhập khẩu
    6. TDCT : Tín dụng chứng từ
    7. TTQT : Thanh toán quốc tế
    8. XK : Xuất khẩu
    9. XNK : Xuất nhập khẩu

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

  • Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN I:

    MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Sau đây là vai trò tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    2.1.4- Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi Ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động Ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Nhiều hướng dẫn của các bộ, ngành khác nhau còn chồng chéo, rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện.

    Hiện nay, điều kiện vay vốn đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luât về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cáp chứng nhận sở hưu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà Ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản. Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về Ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với Ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan.

    Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa Ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới.

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    PHẦN II

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của các Ngân hàng thương mại thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của các Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ trung gian khác. Khi chuyển hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng nỗ lực với bản thân, được sự ủng hộ từ nhiều phía các Ngân hàng đã quen dần với cơ chế mới, đã đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Đến thởi điểm hiện nay, chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của hầu hết các Ngân hàng thương mại, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Theo báo cáo của các Ngân hàng trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng trong nước cũng như các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh đều có tốc độ liên tục tăng. Riêng trong năm 2003, quán triệt nhiệm vụ ngay từ đầu, toàn hệ thống đã tích cực nắm bắt thị trường, tình hình biến động trong nước và thế giới, có nhiều giải pháp phù hợp để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đơn cử như giải pháp lãi suất huy động linh hoạt nội và ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại, phát hành

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng Tăng so với đầu năm 2004(%)
    So sánh trong tổng
    Tỷ trọng trong Huy động vốn
    nguồn vốn
    tổng nguồn vốn
    Nhóm các của các từ dân cư
    của các TCTD
    TCTD TCTD (%)
    Các   TCTD   nhà 75,7 8 10
    nước
    Các chi nhánh NH 1
    nước ngoài & NH 13 1
    liên doanh
    Các TCTD cổ phần 10 5 9
    Các TCTD phi NH 0,3 6 7
    Các TCTD hợp tác 1 10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    NHTMQD 79,6 75,5 77,2 81,4 81,6 71,4
    Trong đó: -VND 53,8 53,5 59,3 65,9 65,9 61,1
    – Ngoại tệ 25,8 22,2 18,0 15,7 15,7 10,3
    NHTM ngoài quốc 20,4 24,5 22,8 18,4 18,4 28,6
    doanh.
    Trong đó: -VND 7,5 10,1 9,5 12,1 12,1 20,4
    – Ngoại tệ
    12,9 14,4 13,2 6,3 6,3 8,2
    ĐHDL Phương Đông Phạm Khánh Linh
    Tổng 100 100 100 100 100 100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi Ngân hàng thương mại là tối thiểu hoá rủi ro tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, các Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp, quy trình đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau bao gồm cả chính thức, bán chính thức lẫn không chính thức. Mặc dù ngày nay các phương pháp đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng ngày càng được hoàn thiện và tinh vi hơn đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ tin cậy về các quyết định cho vay, chúng vẫn không hoàn toàn khắc phục được những hạn chế vốn có, thậm chí trong một vài trường hợp có thể làm lạc hướng các chuyên gia Ngân hàng. Sau đây là một số vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng.

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN III:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, khách hàng vừa là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng giúp các Ngân hàng thương mại có điều kiện nắm vững các thông tin có liên quan tới khách hàng, các Ngân hàng sẽ có đối sách thích hợp để có thể đứng vững môi trường cạnh tranh.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

     

  • Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tài liệu training Qui trình bán hàng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Hệ thống thông tin kế toán: Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty

    A– MỞ ĐẦU

     

     

    I : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

    Những năm gần đây, quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đã được đẩy mạnh ở nước ta, bên cạnh sự phát triển về sản lượng, đó còn là sự phát triển về việc ứng dụng khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất. Trong đó, công nghệ thông tin là một trong những ngành phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế.

    Đối với các doạnh nghiệp thương mại và dịch vụ, có thể nói hàng hóa là đối tượng kinh tế đặc trưng nhất, vì vậy công tác quản lý hàng hóa, đặc biệt là quản lý bán hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác kế toán và công tác quản lý.

    Tuy nhiên, có một khó khăn đối với các nhà quản trị, đó là các nghiệp vụ liên quan đến quá trình bán hàng phát sinh với số lượng lớn và liên tục, việc ghi chép trên sổ sách mang tính thủ công, có thể để sót các nghiệp vụ kinh tế, việc tổng hợp thông tin chậm…, dẫn đến hiệu quả năng suất thấp.

    Việc áp dụng công nghệ thông tin đã mang đến một giải pháp cho công tác quản lý, thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin, qua đó tin học hóa ngày càng được mở rộng, luồng thông tin được xử lý một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, đầy đủ và bảo mật.

    Xuất  phát từ những lý do trên, nhóm quyết định chọn đề tài : “Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty”

    II : PHẠM VI NỘI DUNG:

    Tên đề tài : : “Phân tích hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng tại Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty”

    Đà Nẵng Mễ Cốc Công ty là một doanh nghiệp thương mại, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các hàng hóa lương thực thực phẩm, ví dụ như sữa, nước giải khát, bia…..

    Địa chỉ công ty : 59 – 61 Hoàng Diệu, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.

    Tài liệu của đề tài đề cập đến công tác quản lý bán hàng của công ty. Bao gồm các  thông tin như Hóa đơn nhập, Hóa đơn xuất, Hóa đơn chi tiết, Danh mục hàng hóa, Danh mục nhân viên, Danh mục khách hàng,Thống kê hàng hóa tồn kho và báo cáo bán hàng.

    Hệ thống thông tin kế toán về bán hàng không thể áp dụng cho các công ty khác nhau, bởi vì mỗi công ty có một cách quản lý khác nhau, có các phương pháp hạch toán khác nhau.

    III : TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG:

    Thiết kế hệ thống thông tin ở đây là công việc phân tích hệ thống, thông qua sơ đồ phân tích hoàn thiện công tác quản lý. Thông qua việc thiết kế chỉ rõ các chức năng cơ bản của hệ thống được xây dựng và tiến hành làm việc như thế nào, chỉ ra các sơ đồ thuật toán, các sơ đồ cấu trúc chính của hệ thống, đồng thời mô tả một cách chi tiết các chức năng của hệ thống.

    IV : MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

    + Thông qua việc nghiên cứu,  xây dựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng, từ đó cơ cấu lại công tác tổ chức quản lý, với sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, các chương trình kế toán, doanh nghiệp có thể thay thế một số công đoạn thủ công bằng tin học hóa.

    + Với sự hỗ trợ của máy tính, các thông tin về quá trình nhập, xuất hàng hóa, các thông tin về khách hàng, nhân viên, hàng hóa sẽ được cập nhập và xử lý  một cách nhanh chóng, chính xác, đầy đủ.

    + Từ việc cập nhập và xử lý thông tin, các chứng từ, sổ sách kế toán sẽ được lập một cách dễ dàng, tạo điều kiện thuận cho công tác quản lý quá trình hoạt động của công ty.

    + Cung cấp các thông tin cần thiết cho các đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của công ty.

    Thông tin kết xuất
    DL vào
    1. Kế hoạch triển khai:

     

    .                Thời

    gian

    Công

    Việc

    Tuần 4 Tuần 5 Tuần 6 Tuần 7 Tuần 8 Tuần 9 Tuần 10
    Nghiên cứu đề tài
    Phân tích và chọn đề tài
    Vẽ biểu đồ phân cấp chức năng,  biểu đồ luồng dữliệu và thiết kế Entity Relationship
    Thiết kế Database vật lí, các form nhập liệu, Report, sơ đồ khối
    Thiết kế cơ sở dữ liệu bằng Ms_Access v à  các thuật toán
    Kiểm tra và viết kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    B- NỘI DUNG

     

    I. Biểu đồ phân cấp chức năng FHD

     

     

     

     

     

     

     

     

    II. Biểu đồ dòng dữ liệu DFD

              2.1 Biểu đồ dòng dữ liệu mức khung cảnh (mức 0)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2 Biểu đồ dòng dữ liệu mức đỉnh (mức 1)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.3 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh (mức2) :Định nghĩa chức năng cập nhật danh mục

     

     

     

    2.4 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng mua hàng

     

                                                                                        

     

     

    2.5 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng bán hàng

     

     

    2.6 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng gửi hàng

     

     

     

     

     

     

    2.7 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 2): Định nghĩa chức năng lập hóa đơn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.8 Biểu đồ dòng dữ liệu mức dưới đỉnh(mức 3): Định nghĩa chức năng kiểm tra thông tin

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    III. Các kiểu thực thể &mô hình ER(Entity Relationship

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     IV/ Thiết kế Database vật lí (gồm có 11 bảng )trình bày về các thông tin như Field Name,Type,Size,Description….

     

                1   Table Khách hàng

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma KH Text 10 Khóa chính Mã khách hàng
    2 Ten KH Text 30 Tên khách hàng
    3 Dia chi Text 20 Địa chỉ
    4 Dien thoai Text 50 Điện thoại
    5
    6

     

                2 Table Hàng

                                 

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma Hang Text 10 Khóa chính Mã hàng
    2 Ten Hang Text 50 Tên hàng
    3 Ma Loai Text 10 Mã loại
    4 Trong Luong Number Single Trọng lượng
    5 DVT Text 10 Đơn vị tính
    6 ĐG Nhap Number Double Đơn giá nhập
    7 ĐG Xuat Number Double Đơn giá xuất
    8
    9

     

     

     

     

     

    3. Table Nhà Cung Cấp

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NCC Text 10 Khóa chính Mã nhà cung cấp
    2 Ten NCC Text 10 Tên nhà cung cấp
    3 Dia chi NCC Text 20 Địa chỉ nhà cung cấp
    4 Fax Text 25 Fax

     

     

     

     

    4. Table DM loại

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma loai Text 10 Khóa chính Mã loại
    2 Ten loai Text 10 Tên loại

     

     

    5 Table : HĐ xuất

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chứng từ
    2 Ngay Date/time 25 Ngày
    3 Ma NV Text 10 Khóa ngoại Mã nhân viên
    4 Ma KH Text 10 Khóa ngoại Mã khách hàng
    5 Ma Kho Text 10 Khóa ngoại Mã kho
    6 Dien Giai Text 40 Diễn giaỉ
    7 Tk Co Number Double Tài khoản có
    8 Tk No Number Double Tài khoản nợ
    9 Ma NX Text 10 Khóa ngoại Mã nhập xuất

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    6 Table : HĐ Xuất CT (hóa đơn xuất chi tiết)

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chi tiết
    2 Ma Hang Text 10 Khóa chính Khóa chính của bảng hàng
    3 So luong Number Double Số lượng đơn đặt hàng
    4 DG ban Number Double Đơn giá bán xuất

     

     

     

     

    7. Table : HĐ Nhập

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chứng từ
    2 Ngay Date/time 10 Xác định ngày nhập hàng
    3 Ma NCC Text 10 Khóa ngoại Nhà cung cấp
    4 Ma KH Text 10 Khóa ngoại Mã khách hàng
    5 Ma Kho Text 10 Khóa ngoại Mã kho
    6 Dien Giai Text 40 Diễn giải
    7 Tk Co Number Double Xác định số nợ là bao nhiêu
    8 Tk No Number Double Xác định số có là bao nhiêu
    9 Ma NV Text 10 Khóa ngoại Mã nhân viên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    8. Table : HĐ nhập chi tiết

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 So CT Text 10 Khóa chính Sổ chi tiết
    2 Ma Hang Text 10 Khóa chính Khóa chính của bảng hàng
    3 So luong Number Double Cho biết số lượng đơn đặt hàng
    4 DG ban Number Double Đơn giá bán nhập

    9. Table : Nhân viên

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NV Text 10 Khóa chính Mã nhân viên
    2 Ten NV Text 30 Tên nhân viên
    3 Chuc vu Text 35 Chức vụ của nhân viên
    4 Dia chi Text 10 Địa chỉ

     

     

     

     

     

     

    10. Table : DM Kho

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma Kho Text 10 Khóa chính Mã kho
    2 Ten Kho Text 40 Tên kho
    3 Dia Chi Kho Text 40 Địa chỉ

     

    11. Table : DM NX

     

    Stt Field name Data type Field size Index Description
    1 Ma NX Text 10 Khóa chính Mã nhập xuất
    2 Ten NX Text 10 Tên nhập xuất

     

    IV. Thiết kế form

                1. Form Hoá đơn nhập

     

     

    HD Nhap

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.Form HD xuất

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. Form Hàng

     

     

     

     

     

    4. Form Nhân Viên

     

     

     

     

     

    5. Form Khách Hàng

     

     

     

     

     

    V. Thiết kế Report

             

     

     

     

    BẢNG KÊ DỊCH VỤ HÀNG HÓA BÁN RA

    Ngày …tháng …năm 2007

    Tên đơn vị :

    Ngành nghề kinh doanh:

    STT SHĐ Ngày HĐ Họ tên địa chỉ người mua Mã số thuế Mặt hàng Doanh số chưa thuế Thuế VAT(%)
    1
    Cộng:

    Kế toán trưởng                                                          Giám đốc

    (Ký,họ tên )                                                         (Ký,họ tên,đóng dấu )

     

    Đơn Vị: Công ty Bánh kẹo Quảng Ngãi

    Bộ phận : Bán hàng

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày 10 tháng 9 năm 2009

    Tên điạ chỉ người nhận:

    Lý do xuất: Xuất bán

    Xuất tại kho: Hàng hoá          Địa điểm: 19-Nguyễn Chí Thanh-Quảng Ngãi

    STT Tên sản phẩm, hàng hoá ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Thực xuất Yêu cầu
    01 Bánh ChoCoViNa

    Một mặt hàng
    Thùng 100 100 120000 12.000.000
    Cộng: 12.000.000

    Số tiền viết bằng chữ: Mười hai triệu đồng chẵn

    Số chứng từ gốc kèm theo

    Ngày 10 tháng 9 năm 2009

    Người lập phiếu        Người nhận hàng     Thủ kho     Kế toán trưởng        Giám đốc

    (Ký, họ tên)                  (Ký, họ tên)       (Ký, họ tên)    (Ký, họ tên)         (Ký, họ tên)

    BẢNG KÊ BÁN LẺ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ

    (Ngày ….Tháng…Năm…)

    Tên cơ sỏ kinh doanh:…………………………………………………………………………

    Địa chỉ:…………………………………………………………………………………………….

    Họ tên người bán hàng;……………………………………………………………………….

    Địa chỉ nơi bán:…………………………………………………………………………………

    STT Tên hàng hoá dịch vụ Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Doanh thu có thuế suất Thuế suất VAT
    A B C 1 2 3 4
    Tổng cộng tiền:

     

    Tổng số tiền bằng chữ:……………………………………………………………………..

    Ngày …Tháng…Năm…

    Người bán

    (Ký,họ tên)

    Mẫu số 01-1/GTGT

    (Ban hành kèm theo thông tư)

     

    BẢNG KÊ HOÁ ĐƠN CHỨNG TỪ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ BÁN RA

    (Kèm theo tờ khai thuế GTGT theo mẫu số 01/GTGT)

    Người nộp thuế:…………………………………………………………………………………

    Mã số thuế:……………………………………………………………………………………….

    Đơn vị tiền : đồng Việt Nam

    STT Hoá đơn chứng từ bán Tên người mua Mã số thuế người mua Mã hàng Doanh số bán chưa thuế Thuế suất Thuế VAT Ghi chú
    Kí hiệu hoá đơn Số hoá đơn Ngày tháng năm phát hành
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
    1.Hàng hoá dịch vụ không chịu thuế :
    2.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 0%:
    3.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 5%:
    4.Hàng hoá dịch vụ chịu thuế 10%:
    Tổng :

    Tổng doanh thu hàng hoá dịch vụ bán ra :…………………………….

    Tổng thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ bán ra:……………………..

    V. Thiết kế các thuật toán (Algorthms) xử lí (sơ đồ khối)

     

     1. Thuật toán cập nhật danh mục hàng hoá

     

     

     

     

    2. Thuật toán: Nhập hàng vào kho

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    3. Thuật toán :Sửa hoá đơn nhập

     

     

     

     

     

     

     

    4. Thuật toán: Xoá hoá đơn nhập

     

     

     

     

     

    5. Thuật toán: Tìm hoá đơn

     

     

     

     

     

     

    6. Thuật toán:Trả lời đơn đặt hàng của KH

     

    C- KẾT LUẬN

     

             Như đã nói ở trên, hoạt động quản lý bán hàng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp thương mại dịch vụ nào. Với việc xây dựng một hệ thống thông tin kế toán quản lý bán hàng, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong quá trình quản lý và duy trì hoạt động. Việc xây dựng hệ thống tin này phải dựa tren cơ sở khỏa sát tình hình thực tiễn tại công ty, không thể áp dụng đối với các công ty khác.

    Đề công tác quản lý đạt được hiệu quả cao, công ty cần phải có chính sách đầu tư hợp lý, ứng dụng công nghệ một cách rộng rãi, cần phải có một đội ngũ nhân viên được đào tạo một cách chuyên nghiệp….

    Vì thời gian nghiên cứu có hạn, nên bài báo cáo của nhóm có thể  còn nhiều sai sót, nhưng nhóm hy vọng từ bài báo cáo này sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quát về vai trò của việc thiết kê, xây dựng hẹ thống thông tin kế toán trong công ty.

    Để bài báo cáo được hoàn thiện hơn, nhóm kính mong sẽ nhận được sự góp ý nhận xét của thầy.

    …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                …………………………………………………………………………………………………………………………………………………