Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Kh%C3%B3a-lu%E1%BA%ADn-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Nh%E1%BB%AFng-r%C3%A0o-c%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-Vi%E1%BB%87t-Nam-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Có thể nói rằng, mười năm trở lại đây là một khoảng thời gian đáng nhớ đối với Việt Nam. Chúng ta đã thực sự để lại những dấu ấn trên trường quốc tế qua một loạt các sự kiện kinh tế-xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển mọi mặt của quốc gia. Tiêu biểu phải nói đến là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC và Hội nghị APEC CEO Summit năm 2006, là ứng cử viên duy nhất đại diện cho châu Á, hoàn thành tốt trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 và cương vị Chủ tịch Hội đồng bảo an LHQ tháng 7 và tháng 10 năm 2009. Những sự kiện lớn này là minh chứng xác đáng cho nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam hòa vào xu thế chung tất yếu của sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Hội nhập kinh tế thực sự đã mở ra cơ hội cho nước ta tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật mới và đáng kể nhất là thiết lập các mối quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài. Để thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cản gây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết. Bên cạnh những rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp còn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là một trong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa. Hệ quả của nó không chỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là nước ta mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam và khiến họ tìm đến những thị trường khác, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mạnh mẽ ở các đang phát triển như hiện nay.

    Nhận thấy tính cấp bách của vấn đề, người viết chọn đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài” với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn cái nhìn về những rào cản văn hóa nhằm hạn chế tác động của nó đến việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    Mục đích nghiên cứu

    1

    Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là xây dựng một cách nhìn đầy đủ hơn về những rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị giải pháp hạn chế rào cản này, góp phần hoàn thiện hình ảnh một Việt Nam thân thiện và tiến bộ, trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là những khó khăn mà các nhà đầu tư nước ngoài gặp phải do sự khác biệt về văn hóa. Phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư nước ngoài vì mục tiêu lợi nhuận, đang được tiến hành trên cả ba miền đất nước, trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây ở Việt Nam.

    Phương pháp nghiên cứu

    Để giải quyết các vấn đề đặt ra, người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với kiến thức nền tảng rút ra từ những đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành trong những năm qua. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu còn được hỗ trợ bởi việc tiến hành phỏng vấn gián tiếp qua e-mail đối với một số nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhận đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên một số địa phương tiêu biểu đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho những đánh giá được rút ra trong luận văn này.

    Bố cục đề tài

    Phù hợp với mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận ngoài Lời mở đầu gồm Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu còn có những chương sau:

    Chương I: Lí luận cơ bản về rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương II: Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương III: Một số giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    2

    Những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu là điều không thể tránh khỏi đối với một đề tài còn khá mới này. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô giáo và các bạn.

    3

    CHƢƠNG I

    LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HÓA ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I.                   Lý luận về văn hóa

     

    1. Khái niệm văn hóa

    Nghị trưởng Pháp Edouard Herriot đã phát biểu rằng: Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên hết cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học đủ cả. Lời phát biểu trên đã phản ánh tính trừu tượng của khái niệm này. Nói cách khác, việc xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa có thể thay đổi theo thời gian và theo các tiêu chí lựa chọn khác nhau.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [ 5,431]. Như vậy, văn hóa là tất cả những yếu tố do con người tạo nên, văn hóa sinh ra từ con người và cho con người.

    Chính vì văn hóa phản ánh mọi phương diện làm nên “phần hồn của một quốc gia” nên nó được dùng làm thước đo giá trị của một dân tộc. Nói đến văn hóa của một cộng đồng cũng tức là đề cập đến tư tưởng, tình cảm, cách tư duy, ứng xử trong phạm vi cộng đồng ấy. Các đặc trưng và biểu hiện của văn hóa vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù. Tức là, chúng ta có thể chỉ ra điểm tương đồng của hai nền văn hóa nhưng cũng đồng thời xác định được những khác biệt, những nét riêng có của mỗi dân tộc. Cho nên, bất kì một sự tiếp xúc văn hóa nào cũng nảy sinh đồng thời hai khả năng: thông hiểu và bất đồng. Sự thông hiểu xuất phát từ cái phổ quát, sự bất đồng xuất phát từ những đặc thù.

    Xét trong lĩnh vực kinh tế, bất đồng văn hóa chính là cội nguồn của những rào cản lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt khi đặt chân đến một thị trường hoàn toàn mới mẻ.

    4

    2. Các yếu tố văn hóa trong hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài

    Văn hóa là một phạm trù rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Sự tác động của từng yếu tố lên từng lĩnh vực trong đời sống xã hội thể hiện ở những mức độ đậm nhạt khác nhau. Xét riêng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục – tập quán, giáo dục, tôn giáo, thái độ và các giá trị được đề cao là những yếu tố văn hóa có sự tác động đậm nét hơn cả.

    2.1. Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có thể biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình với người khác. Đồng thời, ngôn ngữ là một phương tiện của tư duy. Những hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán hay suy lí đều tồn tại dưới hình thức biểu đạt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người cố kết cộng đồng, liên kết cá nhân với cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội và là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp đến các thế hệ tương lai.

    Ngôn ngữ, do đó, mang dấu ấn văn hóa của cộng đồng người bản ngữ. Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả là, muốn giao tiếp thành công, người giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định về những dấu ấn văn hóa được thể hiện trong các phương tiện giao tiếp, bao gồm cả các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cử chỉ và các yếu tố kèm lời như tốc độ lời nói, các yếu tố xen âm v.v.).

    Sự hiểu lầm có thể xảy ra trong giao tiếp giữa những người đến từ các quốc gia khác nhau do giữa họ có sự khác biệt về phương pháp tư duy; quan niệm giá trị; óc thẩm mỹ; đặc trưng tâm lý; phong tục, tập quán. Cung cách chào hỏi, cách gợi mở vấn đề v.v. có thể chỉ là những thao tác, kĩ năng đơn giản nhưng trong kinh doanh, chúng có khả năng quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án. Riêng ở lĩnh vực này, có thể khẳng định rằng, hiểu một ngôn ngữ và các dấu ấn văn hóa được bảo lưu trong nó là tiền đề tạo nên thành công bước đầu cho cuộc thương lượng, đàm phán ở giai đoạn đầu của quá trình hợp tác.

    5

    2.2. Nghệ thuật

    Nghệ thuật là nơi hội tụ của cái đẹp từ tất cả các lĩnh vực: thơ văn, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ẩm thực, điện ảnh v.v. và là nơi con người thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của mình. Tư tưởng thẩm mỹ chính là sự cảm nhận về Cái đẹp. Nhưng sự cảm nhận ấy hoàn toàn không giống nhau ở những nền văn hóa khác nhau; do đó, nghệ thuật có khả năng bộc lộ phong cách riêng của từng nghệ sĩ, nhưng đồng thời, thông qua những đặc trưng cá thể ấy, đặc trưng của một dân tộc được khẳng định.

    Ví dụ như khi nói đến ẩm thực của đất nước được coi là xứ sở của hoa anh đào, người ta nói đến “Bản hợp xướng của cả năm giác quan”, bởi ở đó mỗi món ăn được chế biến một cách tinh tế, với những hình dáng, màu sắc phong phú mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên vốn có của nguyên liệu làm nên món ăn. Những chi tiết dù nhỏ cũng được trau chuốt cẩn thận và mang những ý nghĩa riêng của nó. Phải nói rằng, hiếm có một dân tộc nào coi trọng sự hoàn mỹ và chất lượng như Nhật Bản. Họ không chỉ làm việc với trách nhiệm mà còn bằng cả niềm đam mê. Do đó, khi cộng tác với người Nhật, nếu chúng ta thiếu một trong hai yếu tố ấy thì cũng đồng thời chúng ta đánh mất sự thừa nhận cũng như sự tin cẩn từ phía họ.

    Xét về không gian kiến trúc, có thể thấy sự cần thiết khi vận dụng các kiến thức về nghệ thuật bài trí để xây dựng một môi trường làm việc phù hợp với hoạt động kinh doanh, đặc biệt là ở cấp độ đa quốc gia. Môi trường được nói đến ở đây là không gian vật lí, nơi các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau gặp gỡ, trao đổi và thậm chí là „không gian sống‟ của những người làm việc cả ngày trong đó. „Không gian sống‟ ấy có khả năng tạo nên sự hứng khởi, khơi gợi ý tưởng, giảm căng thẳng trong công việc nếu nó được bài trí phù hợp với óc thẩm mỹ của những thành viên làm việc bên trong nó. Chẳng hạn, người Châu Á yêu thích không gian có chiều sâu tạo cảm giác ấm áp, với nhiều đường nét uốn lượn, nhiều màu sắc; trong khi đó, người Châu Âu thích sự thanh nhã, đường nét đơn giản, rõ ràng, hướng đến sự khoáng đạt, thoải mái như chính tính cách của họ. Ý thức được điều

    6

    này để chủ động tạo một không gian làm việc phù hợp văn hóa sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.3. Phong tục tập quán

    1. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã đưa ra khái niệm về phong tục như sau: Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng) [ 9,256]. Như vậy, phong tục tập quán là những hoạt động sống được hình thành từ lâu đời và trở thành nề nếp, thói quen được cộng đồng thừa nhận và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục tập quán thể hiện ngay trong những thể thức giao tiếp đời thường như cách chào hỏi, cách xưng hô v.v. đến cả những thể thức gói trọn cả vòng đời con người từ khi sinh ra, trưởng thành, cưới xin, cho đến mừng thọ, lên lão v.v. hay những thể thức mang tính cộng đồng như lễ, tết, hội.

    Có sự khác biệt lớn của những quy ước, những thể thức giữa các cộng đồng buộc những người tham gia giao tiếp phải đặc biệt chú trọng. Chỉ đơn giản, khi nói đến nghi thức chào hỏi, mỗi dân tộc có một quy ước riêng. Chẳng hạn, người Pháp và người Nga chấp nhận hành động bắt tay bất cứ lúc nào trong quá trình giao tiếp. Thế nhưng ở Anh và Mỹ, người ta chỉ bắt tay ở lần đầu gặp gỡ mà thôi. Hay, người Ba Lan và người Ý coi việc hôn tay phụ nữ là một cử chỉ chào hỏi rất lịch sự. Trong khi đó, ở một số nước Châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, hành động bắt tay hay hôn tay đều không được sử dụng nhằm mục đích này. Thay vào đó, họ sẽ nghiêng mình cúi đầu chào nhau. Còn người Ấn Độ chào nhau bằng cách chắp hai tay vào nhau như cầu nguyện trong khi người Ả Rập và một số nước Hồi giáo thì dùng lòng bàn tay phải đặt lên tim rồi đưa ra ngoài để thể hiện hành vi chào hỏi.

    Quan niệm “nhập gia tùy tục” của người Việt Nam đã phản ánh „hiệu lực‟ của những phong tục tập quán trong mỗi cộng đồng người bản ngữ. Nó như những ràng buộc vô hình buộc con người, dù là người bản xứ hay người ngoại quốc, phải tôn trọng và hành xử theo đúng những giá trị được truyền từ đời này sang đời khác ấy. Chính vì thế, để có cách cư xử đúng đắn, được lòng người thì nhất thiết phải có những hiểu biết nhất định về phong tục tập quán của nơi ta đến.

    7

    2.4. Giáo dục

    Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm tri thức và hoàn thiện nhân cách của các thành viên trong xã hội. Thông qua giáo dục, con người được tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng cần thiết, góp phần vào quá trình định hình thái độ, quan điểm sống cũng như nhân cách sống.

    Cách thức giáo dục của mỗi quốc gia quy định đặc trưng của nguồn lao động, nguồn nhân lực của chính quốc gia ấy. Chính vì vậy, có thể lấy sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục Châu Á và Châu Âu để lí giải cho sự khác biệt giữa lực lượng lao động từ các nước phương Tây với lực lượng lao động từ các nước phương Đông. Giáo dục phương Tây thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy ở mỗi cá nhân khả năng bàn luận, phê phán và sáng tạo, từ đó phát hiện và khuyến khích người học nâng cao năng lực vốn có của mình. Chính vì vậy, trong quá trình làm việc, người phương Tây luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong việc xử lý các tình huống thực tế với ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Trong khi đó, do giáo dục phương Đông chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên những con người được đào tạo trong hệ thống giáo dục ấy nổi bật về đức tính cần cù, chịu khó và đối với họ, những kiến thức được truyền đạt từ người thầy luôn được đề cao, trân trọng (“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”). Điều này giải thích tại sao lao động ở các nước phương Đông luôn được đánh giá cao ở khả năng đương đầu với những khó khăn trong công việc; khả năng thích nghi khi tiếp cận với những phương pháp làm việc mới; đặc biệt, họ rất phù hợp với những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tính công phu, tỉ mỉ.

    Có thể thấy, giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Hơn nữa, trình độ học vấn mà nền giáo dục mang lại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    2.5. Tôn giáo

    8

    Tôn giáo là nơi con người tìm đến để cứu rỗi linh hồn và xoa dịu những bất lực và bế tắc trong cuộc sống. Tìm đến tôn giáo đồng nghĩa với việc tìm đến một đức tin. Đức tin ấy có sức mạnh đặc biệt đến mức nó có khả năng chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người.

    Schaefer Richard T, trong cuốn Xã hội học đã nhận định: Tôn giáo, dẫu đó Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho con người ta ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ. Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau [8]. Phát biểu trên cho thấy, mỗi tôn giáo có những đặc trưng riêng, do đó, tín đồ của các giáo phái khác nhau có những quan điểm sống và tuân theo những nghi lễ thờ cúng không giống nhau. Cho nên, đức tin là thứ tôn chỉ tối thượng, có giá trị như động lực của những hành động, suy nghĩ của các tín đồ.

    Tôn giáo ở Châu Âu như Đạo tin lành xem nhiệm vụ của giáo dân là làm rạng danh Chúa bằng cách làm việc chăm chỉ và cần kiệm. Vì thế họ không cho phép mình được lười biếng, coi thái độ làm việc như một phẩm chất đạo đức của con người. Tôn giáo Châu Á như Ấn Độ giáo chú trọng đến tinh thần “làm việc thiện” bởi sự chi phối của niềm tin về một cõi “vĩnh hằng” hay sự tồn tại của “quả báo”. Phật giáo luôn nhắc nhở chúng sinh không được “tham lam” mới có thể thoát khỏi “bể khổ cuộc đời”.

    Xét về hệ thống lễ nghi, nếu đạo Shinto ở Nhật Bản giản đơn về hệ thống giáo lí cũng như nghi lễ bao nhiêu thì Hồi giáo có những quy định phức tạp bấy nhiêu. Chẳng hạn, các tín đồ Hồi giáo phải cầu kinh ngày năm lần, hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng, theo đó các tín đồ không được ăn uống khi còn ánh sáng Mặt trời. Ngoài ra còn rất nhiều điều cấm kị. Nhiều nước ở Châu Phi và Mỹ Latin coi Đạo Tâm Linh là Tôn giáo chính. Người theo đạo này luôn tin vào sự tồn tại của người chết trên dương gian và họ cho rằng, những linh hồn này sẽ rất hài lòng nếu người sống làm theo tổ tiên mình. Vì vậy sự đổi mới là khó được chấp nhận đối với những công dân theo đạo này. Có thể nói, đối với sản xuất kinh doanh,

    9

    sự phức tạp về hệ thống lễ nghi, quan niệm có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ cũng như kế hoạch sản xuất. Nếu không cùng chia sẻ, tôn trọng các giá trị tinh thần ấy hay không có sự linh hoạt trong điều phối kinh doanh giữa các đối tác có tôn giáo khác nhau, những trở ngại trong hợp tác là điều khó tránh khỏi.

    2.6. Thái độ và giá trị

    Theo quan điểm của nhà Xã hội học Macionis và J. John, giá trị là thước đo, là thang đánh giá được các thành viên của một nền văn hóa sử dụng để phân biệt tốt/ xấu, đẹp/ xấu, đáng mong muốn/ không mong muốn v.v. nhằm xây dựng cho mình hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan phù hợp. Còn thái độ là sự phản ánh của những suy nghĩ, tình cảm biểu hiện qua sắc thái hay hành động trước một sự vật hay hiện tượng nào đó.

    Từ quan niệm trên, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa giá trị và thái độ. Một khi một giá trị được hình thành, tức là hệ thống quan điểm của các thành viên trong một cộng đồng xã hội được xác lập thì cùng lúc đó, phản ứng tương ứng xuất phát từ quan điểm ấy được định hình. Nói cách khác, thái độ là hệ quả của giá trị. Chẳng hạn, có một thời gian, người Nhật Bản quan niệm việc tiêu dùng hàng ngoại là không yêu nước. Trong trường hợp này, tiêu chí để xác định giá trị của lòng yêu nước là không dùng hàng ngoại; cho nên, giá trị này đã gây ra một thái độ tương ứng ở những người ủng hộ cho quan điểm ấy là bài trừ toàn bộ hàng hóa có xuất xứ ngoại quốc trên thị trường Nhật Bản.

    Từ đây, có thể suy ra rằng, việc xây dựng hệ thống giá trị theo hướng có lợi cho hoạt động hợp tác – đầu tư để tạo ra những phản ứng tích cực giữa các đối tác có ý nghĩa như hộp cộng hưởng, góp phần thúc đẩy kinh doanh phát triển.

    1. Mô hình của Geert Hofstede

    Bất kì một sự so sánh nào cũng cần căn cứ vào một hệ thống các tiêu chí có giá trị xác lập ranh giói giữa các đối tượng được so sánh. Đối với một khái niệm trừu tượng như văn hóa, việc chỉ ra sự khác biệt của đối tượng này giữa các dân tộc càng đòi hỏi phải có những căn cứ xác đáng. Mô hình năm chiều văn hóa do giáo sư

    10

    Geert Hofstede nghiên cứu là công trình nổi tiếng đầu tiên trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh quốc tế. Đây được xem là những chiều văn hóa cơ bản, góp phần làm giảm sự cảm tính trong việc đánh giá những khác biệt giữa các nền văn hóa và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Năm chiều văn hóa ấy được xác định như sau:

    Khoảng cách quyền lực: Thước đo văn hóa này đánh giá mức độ bình đẳng giữa những người có địa vị khác nhau trong xã hội. Ở những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao thì sự bất bình đẳng này được chấp nhận và duy trì, biểu hiện cụ thể là dù đúng hay sai, cấp dưới phải luôn tuân lệnh cấp trên, con cái luôn vâng lời bố mẹ bởi họ coi đó là bổn phận, là điều đương nhiên. Ngược lại, trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, nhân viên có thể trao đổi ý kiến một cách bình thường với lãnh đạo, con cái được phép bày tỏ quan điểm của mình với bố mẹ; ở đây, bình đẳng được xem như mục đích chung của xã hội. Ví dụ: Úc, Bắc Âu, Mỹ, Anh, v.v. là các quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp; còn Malaysia, Slovakia, Việt Nam, v.v. là những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao.

    Chủ nghĩa cá nhân: Đây là tiêu chí có ý nghĩa xác định tính tập thể hay tính cá nhân mà xã hội hướng tới. Một quốc gia có điểm chủ nghĩa cá nhân cao có nghĩa là mỗi cá nhân và các quyền của họ được tôn trọng; họ có thể tham gia vào bất cứ cộng đồng nào và từ bỏ nếu cảm thấy không cần thiết và phù hợp nữa, họ cũng đồng thời không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ cộng đồng. Ngoài gia đình và người thân, mối quan hệ giữa các cá nhân khá lỏng lẻo, họ sống độc lập và luôn chủ động trong cuộc sống riêng của mình. Các nước có nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân cao nhất là Anh, Mỹ, Úc. Trái lại với những nền văn hóa này là những nền văn hóa mang tính tập thể với điểm chủ nghĩa cá nhân thấp. Ở đó, con người từ khi sinh ra đã phải hòa nhập vào một cộng đồng rộng lớn. Họ luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết, trung thành với ý chí của cộng đồng và luôn gánh trên vai trách nhiệm đối với cộng đồng. Đổi lại, mỗi cá nhân sẽ nhận được sự hỗ trợ của tập thể khi họ gặp khó khăn. Châu Mỹ Latin là khu vực có tính tập thể mạnh nhất.

    11

    Tránh rủi ro: Thước đo này nói lên mức chấp nhận những thay đổi của một cộng đồng. Một quốc gia có điểm tránh rủi ro thấp sẽ sẵn sàng chấp nhận thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Họ thường không quan tâm nhiều đến những nguy cơ có thể xảy ra, tư tưởng đổi mới và sự tự tin vào cuộc sống khiến họ không ngại ngần tiếp nhận những điều mới lạ. Trong những xã hội như thế, các giá trị truyền thống có khuynh hướng thay đổi thường xuyên, con người không bị gò bó bởi những giá trị đã có trước đó. Còn ở những quốc gia có chỉ số này cao, các thành viên trong xã hội không sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi. Họ sống bằng truyền thống, kế thừa những tư tưởng của người xưa. Vì vậy các tư tưởng mới khó có thể xâm nhập vào xã hội này. Châu Mỹ Latin, đứng đầu là Hy Lạp, có điểm số tránh rủi ro cao nhất, tiếp theo là các nước Châu Á tiêu biểu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

    Nam tính: Chiều văn hóa này phản ánh mức độ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Một nước có điểm nam tính cao thì vai trò của người đàn ông là rất lớn, thể hiện ở chỗ, họ có xu hướng thống trị trong cấu trúc quyền lực gia đình cũng như xã hội. Còn trong môi trường nữ tính, tức là điểm nam tính thấp, người phụ nữ được đối xử bình đẳng trên mọi phương diện so với người đàn ông. Nước có điểm nam tính thấp nhất là Thụy Điển và Na Uy, các nước Châu Á có điểm số này rất khác nhau, cao nhất là Nhật Bản, đến Philippines, Hồng Kông.

    Định hướng dài hạn: Đây là thước đo được giáo sư Hofstede bổ sung thêm vào công trình của mình sau khi nghiên cứu công trình của Michael Harris Bond với nội dung tương tự được tiến hành sau đó. Thước đo này là thành quả của quá trình nghiên cứu về khác biệt văn hóa trên lập trường văn các nước Châu Á, thay vì dưới góc nhìn của văn hóa Châu Âu như công trình của Giáo sư. Ông nhận thấy đây là điểm giúp phân biệt sự khác nhau giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, cần được bổ sung để khắc phục những thiếu sót vốn tồn tại trong mô hình trước đó.

    Trong xã hội có điểm định hướng dài hạn cao, con người có xu hướng quý trọng sự bền bỉ, đánh giá cao sự tiết kiệm và luôn cố gắng sắp xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã hội; đặc biệt, họ rất coi trọng danh dự. Nói cách khác, xã hội định hướng dài hạn luôn lo lắng về tương lai của mình về sau, trông

    12

    đợi vào thành quả tương lai từ sự kiên nhẫn, tiết kiệm của ngày hôm nay. Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Á đạt điểm rất cao ở thước đo này. Ngược lại, xã hội định hướng dài hạn thấp thường thích hưởng thụ hơn là dành dụm. Họ nghĩ đến kết quả tức thời thay vì trông đợi vào sự dài lâu. Quan hệ xã hội vì thế mà mang tính sòng phẳng, ngang hàng, không phụ thuộc vào thân phận hay đẳng cấp. Mỹ và các nước Châu Âu là những nền văn hóa có điểm Định hướng dài hạn thấp nhất.

    Năm chiều văn hóa đưa ra trong mô hình của giáo sư Hofstede đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cho các nhà kinh doanh những khác biệt căn bản về văn hóa khi tiến hành xâm nhập vào một thị trường mới. Những hiểu biết này giúp họ đưa ra quyết định phù hợp để tránh những cản trở trong quá trình kinh doanh. Ví dụ: ở một nền văn hóa có khoảng cách quyền lực cao, thái độ trên dưới rõ ràng là điều hết sức quan trọng, hay trong nền văn hóa đề cao nam tính, việc đề bạt nữ giới lên quản lý là một điều không nên. Tương tự đối với quốc gia có tính rủi ro cao, cần cân nhắc kĩ lưỡng và có những lý do thuyết phục nếu muốn đưa những quy định hay cách thức kinh doanh mới mẻ. Tuy còn một số hạn chế, mô hình này vẫn được xem là bước khởi đầu cho các nhà kinh doanh quốc tế trong việc tìm hiểu văn hóa của thị trường mới mà họ quyết định đầu tư.

    II. Tổng quan về đầu tƣ nƣớc ngoài

     1. Khái niệm

     

    1.1. Đầu tƣ

    Hiện nay, đầu tư đã trở thành một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế của mọi quốc gia. PTS Vũ Chí Lộc đã định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội [4,5]. Như vậy, thông qua việc cung cấp các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư đã góp phần mang đến những lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội.

    13

    Tương tự với quan điểm này Giáo trình Đầu tư nước ngoài Trường Đại học Ngoại Thương có định nghĩa về đầu tư như sau: Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội [11]. Như vậy, không chỉ dừng lại ở mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, khái niệm này đã phát biểu một cách toàn diện hơn mục đích của hoạt động đầu tư đó là thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

    Nếu phân loại theo nguồn vốn thì đầu tư bao gồm hai bộ phận chính, đó là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng hai bộ phận này trong tổng giá trị đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.

    1.2. Đầu tƣ nƣớc ngoài

    Nếu nói thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan của sự phát triển thì đầu tư nước ngoài là một yếu tố chính trong dòng chảy ấy. Sự khác biệt giữa các quốc gia về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn; mức độ phù hợp và tiềm năng thị trường; các lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như chính trị, xã hội là những điều kiện cần thiết, thúc đẩy việc tạo dựng cho đầu tư nước ngoài một vị trí trọng yếu trong định hướng phát triển của mỗi một nền kinh tế.

    Vậy đầu tư nước ngoài là gì?

    Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường Đại học Ngoại Thương đã chỉ rõ: Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội [11].

    Nói cách khác, đầu tư nước ngoài chính là quá trình trong đó nhà đầu tư tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận trên đất nước khác bằng chính tài sản vốn có của mình. Từ đây, có thể suy ra rằng, về mặt bản chất, đầu tư nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản. Hình thức này, trong tương quan với hình thức xuất khẩu hàng hóa, đang không ngừng phát triển, chiếm ưu thế và ngày càng hỗ trợ mạnh mẽ hình thức xuất khẩu hàng hóa.

    14

    Thực tế cho thấy, việc tiến hành đầu tư sang một quốc gia khác diễn ra trong sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên – bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế như hiện nay, có thể ví sự hợp tác này như „những đợt sóng ngầm‟ bởi bên trong nó luôn tiềm ẩn một sự cạnh tranh gay gắt. Thách thức này đòi hỏi hai bên phải biết cách dung hòa lợi ích để vừa đảm bảo lợi nhuận cho chủ đầu tư, vừa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân nước nhận đầu tư.

    2.                 Đặc điểm đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Vốn đầu tƣ

    Vốn đầu tư bao gồm tiền, đất đai, máy móc, nhà xưởng, bằng phát minh sáng chế v.v. có thể được dùng để huy động và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự di chuyển nguồn vốn (hoặc vận hành trong nước, hoặc ra khỏi biên giới quốc gia) làm nên điểm khác biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Vận động này đồng thời mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ, trình độ quản lý cũng như cải thiện cơ sở vật chất của mình.

    2.2. Tính sinh lợi

    Đầu tư nước ngoài mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho nước nhận đầu tư. Đây chính là nguyên nhân sâu xa và là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư giữa các quốc gia.

    2.3. Tính mạo hiểm

    Cũng như các hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư có thể khác so với dự tính ban đầu, lợi nhuận thu được có thể ít hơn chỉ tiêu đặt ra hoặc thậm chí là thua lỗ. Thậm chí, đầu tư nước ngoài còn chịu nhiều áp lực hơn so với đầu tư trong nước. Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư khi kinh doanh ngoài biên giới quốc gia phải đối mặt với những bất lợi không chỉ do khoảng cách địa lý, khác biệt về pháp luật v.v. mang lại mà thường trực hơn cả là do những bất đồng về văn hóa như ngôn ngữ, cách thức làm việc, thị hiếu tiêu dùng v.v. gây ra. Dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất

    15

    bại, do đó, trở thành một trong những “phẩm chất” của những nhà đầu tư ra nước ngoài.

    3. Phân loại đầu tƣ nƣớc ngoài

    Dựa trên tiêu chí phương thức sử dụng vốn, đầu tư nước ngoài được phân thành hai loại là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

    3.1. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Theo điều 3 Luật đầu tư Việt Nam thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006, hoạt động Đầu tư gián tiếp được định nghĩa như sau: Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo cách hiểu này, hoạt động đầu tư gián tiếp do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện được tiến hành thông qua các hình thức sau:

    • Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính.
    • Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.

    Về cơ bản, có thể thấy, quan điểm trên rất gần với định nghĩa sau của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một Công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài.

    Từ đây, có thể khái quát về hai đặc trưng chính của FII như sau:

    • Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán.

    16

    • Nhà đầu tư không kèm cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài, FII là hoạt động tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.

    Những đặc trưng trên tạo nên các ưu điểm cho hình thức đầu tư gián tiếp như sau: tăng khả năng tự chủ về vốn kinh doanh cho bên tiếp nhận đầu tư và giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư khi kinh doanh gặp sự cố (vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu). Tuy nhiên, nhược điểm lớn của hình thức này là việc khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa của bên chủ đầu tư làm giảm khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ từ nước ngoài. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng vốn theo hình thức này thường thấp do phía nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư.

    3.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI)

    FDI phân biệt với FII ở quyền kiểm soát đối với đối tượng mà nhà đầu tư bỏ vốn. Theo IMF, FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp . Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường đại học Ngoại Thương cũng thống nhất cách với hiểu này khi cho rằng: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn số vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Như vậy, với số vốn nhất định được bỏ ra, nhà đầu tư được quyền tự mình điều hành việc sản xuất kinh doanh và chấp nhận mọi rủi ro xảy ra trong quá trình điều hành ấy; nói cách khác, trong trường hợp này, quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụng vốn. Từ đây, có thể khái quát một số đặc điểm của FDI như sau:

    Mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư tiến hành đưa vốn sang một thị trường khác với mong muốn tận dụng được những lợi thế của nơi tiếp nhận vốn để nâng cao hiệu quả và tỉ suất lợi nhuận của khoản đầu tư. Nước tiếp nhận vốn FDI này cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh

    17

    để dung hòa lợi ích của cả hai bên, hướng FDI vào việc phát triển kinh tế, xã hội của nước mình.

    Để dành được quyền kiểm soát, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định pháp luật từng nước. Theo luật Mỹ, tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%. Tỷ lệ vốn góp của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ cũng như sự phân chia lợi nhuận của mỗi bên.

    Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh nên họ sẽ lựa chọn phương án có lợi nhất cho việc đầu tư, tạo cơ hội cho nước nhận đầu tư tiếp thu công nghệ, máy móc thiết bị, bí quyết kĩ thuật, trình độ quản lý v.v. do vậy mức độ khả thi của dự án là khá cao. Việc nắm quyền kiểm soát và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi khiến dự án ít bị ràng buộc về chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

    4. Vai trò của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với nền kinh tế quốc gia

    Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra trên cơ sở hợp tác giữa hai bên vì mục tiêu cùng có lợi, vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp đến cả nước nhận đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, hoạt động này không chỉ tác động đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính trị, xã hội của các bên.

    4.1. Từ góc độ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ

    Có thể nói rằng, dòng vốn đầu tư nước ngoài mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho quốc gia tiếp nhận.

    Đầu tiên phải nói đến là việc giải quyết vấn đề thiếu vốn đặc biệt ở các nước chậm phát triển. Với mức tích lũy nội bộ thấp, tình trạng thiếu vốn thường xuyên ở các nước này gây hạn chế quy mô đầu tư, giảm năng lực đổi mới kĩ thuật, mất cân bằng cán cân xuất nhập khẩu v.v. Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp cần thiết giúp các quốc gia này giải quyết những khó khăn trên.

    18

    Đầu tư nước ngoài mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của phía chủ đầu tư. ở các nước kém phát triển, phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được là kết quả của các kênh viện trợ, trao đổi công nghệ và đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Ngay cả một quốc gia giàu mạnh như Mỹ, việc thu hút đầu tư từ Nhật Bản và các nước tiên tiến khác nhằm mục đích chuyển giao công nghệ cũng rất được chú trọng.

    Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần mức đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào tổng giá trị nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo của quốc gia như công nghiệp điện, công nghiệp phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế tạo v.v. Đây là những ngành có quy mô lớn, đòi hỏi vốn và trình độ kĩ thuật cao, vì thế, nguồn lực huy động được từ nước ngoài là vô cùng cần thiết.

    Hơn nữa, sự có mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa còn được coi là nguồn động lực thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cải tiến mọi mặt để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

    Bên cạnh những tác động đến kinh tế, đầu tư nước ngoài cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực về mặt xã hội.

    Như một điều tất yếu, khi nguồn vốn nước ngoài đổ vào nền kinh tế, các ngành sản xuất mà nó hướng tới sẽ có sự mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, kéo theo đó là sự gia tăng nhu cầu nhân lực, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Hơn nữa, nhờ sự tiếp xúc với trình độ kỹ thuật tiên tiến mà chủ đầu tư mang lại, lao động nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội được đào tạo và nâng cao tay nghề, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng lao động.

    Thực tế cho thấy, người lao động làm việc cho các công ty, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường nhận được mức lương cao hơn, môi trường làm việc tốt hơn, các chế độ đãi ngộ cũng như phúc lợi xã hội cũng được quan tâm hơn so với các doanh nghiệp địa phương. Nhờ đó, chất lượng cuộc sống của người lao động

    19

    nhìn chung được nâng cao. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu lớn mà các quốc gia hướng tới khi tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    Không những thế, sự thừa hưởng các giá trị từ nền công nghệ tiên tiến và cách thức quản lý hiệu quả của các chủ đầu tư nước ngoài giúp cải thiện phần nào các vấn đề về môi trường ở nước tiếp nhận đầu tư. Cụ thể là, ở những nước chậm phát triển, tình trạng khai thác bất hợp lý và việc sử dụng kĩ thuật lạc hậu đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường. Chính sự tiếp thu công nghệ mới và việc vận dụng có hiệu quả cách thức quản lý đã tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững ở các quốc gia này.

    Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Nhận thức được những lợi ích kinh tế, xã hội mà các dự án đầu tư mang lại, các quốc gia không ngừng tạo điều kiện để thu hút đầu tư. Đến lượt mình, các dự án đầu tư cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước; thúc đẩy hội nhập, tự do hóa toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều khối nước, các tổ chức thế giới ra đời vì lợi ích chung và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Có thể coi đó là minh chứng của quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia.

    4.2. Từ góc độ nƣớc chủ đầu tƣ

    Kinh doanh ở nước ngoài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, thế nhưng trên thực tế, trên thế giới, hình thức kinh doanh này đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà đầu tư tìm thấy ở những các thị trường nước ngoài tiềm năng lớn để kinh doanh, đó là những yếu tố về độ lớn thị trường, giá cả lao động, sự phong phú về tài nguyên, các chính sách ưu đãi của Nhà nước v.v. Những thuận lợi này khiến họ bất chấp khó khăn và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình.

    Phần lớn những nước đi đầu tư là những nước công nghiệp phát triển. Thông qua việc đầu tư, họ có thể giải quyết được tình trạng dư thừa tương đối của tư bản

    20

    trong nước, kéo dài vòng đời sản phẩm, từ đó tận dụng triệt để hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Họ có thể tìm thấy những thị trường ổn định để cung cấp nguyên vật liệu với giá cả có lợi; chẳng hạn, các nước chậm phát triển – nơi công nghệ còn lạc hậu, tích lũy thấp gây cản trở việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có có thể trở thành thị trường tiềm năng của các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài giúp chủ đầu tư tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín trên thị trường. Việc các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy sản xuất ở nước ngoài trong hoạt động đầu tư có thể giúp họ vừa mở rộng được thị trường tiêu thụ, vừa tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước. Đối với những dự án cho vay vốn ở quy mô lớn với lãi suất ưu đãi, các chủ đầu tư có thể có những lợi ích nhất định về chính trị cũng như khả năng chi phối các nước nhận đầu tư.

    III. Lý luận về rào cản văn hóa

    1. Khái niệm rào cản và rào cản văn hóa

    Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: với tư cách là những động từ, rào có nghĩa là ngăn hẳn lối đi, thường là để bảo vệ một khu vực, không cho ra vào tự do [7,792]; còn cản ngăn giữ lại, không cho tiếp tục vận động hoặc hoạt động theo một hướng nào đó [7,105]. Hai thành tố trên kết hợp với nhau tạo ra từ ghép rào cản. Tuy từ ghép này không có mặt trong từ điển nhưng có thể hiểu nghĩa của đơn vị từ vựng này từ nghĩa hợp thành của hai thành tố trên, hoặc có thể thấy sự tương đương về mặt ý nghĩa của nó với từ cản trở, nghĩa là gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng [7,105], có thể dùng như một động từ hoặc một danh từ.

    Với tư cách là một thuật ngữ dùng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, rào cản được dùng để chỉ những trở ngại làm cho một hoạt động kinh doanh nào đó không được tiến hành một cách suôn sẻ, thuận lợi. Trở ngại này có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Nếu đặt hoạt động kinh doanh trong điều kiện giao lưu kinh tế sôi động như hiện nay, những trở ngại do sự khác biệt về văn hóa luôn đặt các nhà đầu tư trước những thách thức lớn. Vậy rào cản văn hóa là gì?

    21

    Trước hết, cần khẳng định rằng, rào cản văn hóa là những khó khăn, cản trở gây ra bởi sự khác biệt về văn hóa, nhất là khi có sự tiếp xúc, va chạm giữa những nền văn hóa khác nhau. Những khó khăn này nảy sinh từ sự bất đồng về cách tư duy, phong tục, tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo, quan điểm thẩm mĩ, v.v. dẫn đến việc hiểu lầm hay không hiểu, làm đôi bên thấy bối rối, khó chịu, thậm chí còn thấy bị xúc phạm. Đây rõ ràng là những điều nằm ngoài ý muốn của các bên, có tác động tiêu cực đến việc xây dựng các mối quan hệ, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy vậy, sự phong phú và phức tạp của phạm trù văn hóa giữa các quốc gia khiến cho những bất đồng này trở nên ngày càng phổ biến. Do đó, việc tìm hiểu văn hóa nước sở tại là điều nhà đầu tư không thể coi nhẹ khi thâm nhập vào một thị trường mới.

    2. Rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài thường gặp phải những rào cản văn hóa do khác biệt về các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, cách tư duy, thị hiếu thị trường, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Các rào cản này ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài trên hai khía cạnh:

    Về công tác quản lý: Bao gồm tất cả quá trình quản lý như cách thức tổ chức phân công trách nhiệm và giải quyết công việc, quá trình lên kế hoạch và chiến lược phát triển, quản lý nhân sự ở các khâu: tuyển dụng, chế độ lương thưởng và phúc lợi xã hội…

    Về hoạt động kinh doanh: Bao gồm tất cả quá trình từ lựa chọn thị trường, lựa chọn hình thức đầu tư, đàm phán kí kết hợp đồng, đưa dự án vào hoạt động, các chiến lược marketing…

    2.1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa những con người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Là một phương tiện giao tiếp trọng yếu, ngôn ngữ luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên bởi các đối tác sử dụng các thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau. Thực tế đã ghi nhận không ít bất đồng xảy ra trong quá trình trao đổi, tiếp xúc khi

    22

    với cùng một lời nói hay cử chỉ nhưng ở các nước khác nhau người ta có những cách lý giải khác nhau.

    Hiện nay trên thế giới có đến hàng nghìn ngôn ngữ chính thức được sử dụng. Không chỉ ở các quốc gia khác nhau mà ngay cả trong cùng một quốc gia cũng tồn tại nhiều thứ tiếng khác nhau. Bất đồng ngôn ngữ này khiến cho việc truyền tải thông tin giữa các chủ thể bị cản trở đáng kể. Các quốc gia nói tiếng Anh có lợi thế lớn bởi gần 2 tỉ người trên Thế giới hiểu ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, ngay cả người Anh và người Mỹ cũng không tránh khỏi những bất đồng dù cùng sử dụng một ngôn ngữ chung. Bên cạnh sự khác biệt về hệ thống từ ngữ do tiếng nói quy định, cách thức giao tiếp cũng là một vấn đề trong các cuộc giao tiếp xuyên văn hóa. Người Latin coi việc cắt ngang lời đối phương là một cách thể hiện sự thích thú của mình đối với những gì người kia đang nói, nhưng điều này lại bị coi là bất lịch sự đối với một số dân tộc. Tương tự, kiểu giao tiếp im lặng của người phương Đông thường khiến người phương Tây khó chịu, vì họ coi khoảnh khắc im lặng là một thất bại trong giao tiếp. Với ngữ điệu lên xuống, người Latin cảm thấy mình đang tỏ ra tâm huyết với vấn đề. Trong khi đó, xã hội phương Đông lại có xu hướng giữ nguyên âm điệu để kìm chế cảm xúc và thể hiện sự tôn trọng với người nghe.

    Chẳng hạn, cử chỉ giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện hay hành động trao, nhận danh thiếp được các cộng đồng ngôn ngữ quy ước theo những cách khác nhau. Nếu người Phần Lan và người Pháp coi việc nhìn thẳng vào mắt đối tác là biểu hiện của sự chân thật thì người Nhật và người Hàn Quốc lại cho đó là một cử chỉ suồng sã, bất lịch sự. Ở Châu Phi cũng như các nước Mỹ Latin, người có địa vị thấp hơn nhìn thẳng vào mắt của người có địa vị cao hơn sẽ bị cho là bất kính. Còn trong trường hợp trao và nhận danh thiếp, người Mỹ cho rằng, người tặng danh thiếp quan trọng hơn tấm danh thiếp, nên khi nhận, họ sẽ chỉ nhìn lướt qua danh thiếp được tặng hoặc thậm chí không nhìn trước khi cất đi hay bỏ vào túi. Tuy nhiên hành động này sẽ khiến người Nhật cho là thiếu tôn trọng bởi họ xem danh thiếp cũng giống như là sự hiện diện của bản thân, trao và nhận danh thiếp phải bằng hai tay, nhận rồi

    23

    thì phải đọc qua chứ không được cất ngay và hành động gấp lại hay làm nhàu tấm danh thiếp sẽ không khác gì một sự sỉ nhục.

    Tặng quà cũng là một thông điệp đặc biệt của ngôn ngữ. Tuy nhiên không phải món quà nào, thời điểm tặng nào cũng nhận được sự hoan nghênh. Ví dụ: ở Anh, người ta hiếm khi tặng quần áo vì họ cho rằng quần áo là một điều gì đó rất riêng tư; người Trung Quốc và Đài Loan lại ít tặng nhau đồng hồ báo thức vì đồng hồ phát ra âm giống như từ “chấm dứt” với ý nghĩa “kết thúc tất cả” hay “đi đến chỗ chết”. Còn ở Ý, Thái Lan hay Brazil, người ta không bao giờ tặng khăn mùi xoa vì theo họ, đó là vật lau nước mắt, việc tặng khăn là một điềm báo báo hiệu một thảm kịch nào đó sắp xảy ra với người nhận. Các nước Châu Âu thường tặng quà chỉ sau một vài lần hợp tác với nhau và chỉ khi mối quan hệ đã được phát triển. Trong khi đó, Nhật Bản lại chú trọng đến việc tặng quà ngay lần gặp đầu tiên. Ở những nước có nạn tham nhũng lớn như Malaysia và Paraguay, những món quà có thể bị hiểu nhầm là hối lộ.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đối với công tác quản lý: Rào cản do khác biệt ngôn ngữ làm giảm hiệu quả công tác quản lý. Cụ thể như sau:

    Ngôn ngữ là chiếc cầu nối để tiếp cận các nền văn hóa khác nhau. Một khi có sự bất đồng về ngôn ngữ thì khoảng cách do khác biệt văn hóa trở nên khó rút ngắn hơn. Điều này cản trở các nhà quản lý trong việc tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp ngoại quốc của mình.

    Khi có sự bất đồng về ngôn ngữ, khả năng trao đổi thông tin giữa các bên trở nên hạn chế. Nhân viên không hiểu hết hoặc có thể hiểu nhầm mệnh lệnh của ông chủ, ngược lại, ông chủ không thể nắm bắt được vấn đề của nhân viên. Tình trạng này gây ra sự phối hợp thiếu ăn ý trong nội bộ doanh nghiệp, trầm trọng hơn có thể gây trì trệ hoạt động của doanh nghiệp đó.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đến hoạt động kinh doanh

    24

    Kinh doanh ở một môi trường khác biệt về ngôn ngữ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Sự khác biệt này có thể là rào cản đối với hầu hết các hoạt động kinh doanh, từ giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, đến tiến hành hoạt động marketing cho sản phẩm.

    Quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi hay không không chỉ phụ thuộc vào khả năng thuyết phục, thương lượng của người đàm phán mà còn tùy thuộc vào mức độ am hiểu ngôn ngữ đối phương. Trong đàm phán, dùng từ ngữ chính xác là điều rất quan trọng. Bất đồng ngôn ngữ dễ dẫn đến tình trạng dùng sai từ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả đàm phán. Việc hiểu sai hoặc không hiểu ngôn ngữ không lời của đối tác cũng dẫn đến những kết quả không mong đợi.

    Trong trường hợp bản hợp đồng được diễn giải bằng một ngôn ngữ chung cho hai bên thì cũng không thể chắc chắn đôi bên sẽ cùng chung một cách hiểu. Khác biệt ngôn ngữ có thể dẫn đến những cách lý giải khác nhau, là nguyên nhân của những tranh chấp sau này.

    Bất đồng ngôn ngữ gây khó khăn cho việc hoạch định chiến lược marketing ngay từ khâu điều tra thị trường. Nhà quản lý không chỉ khó khăn trong việc soạn thảo một bảng câu hỏi và dịch sang các thứ tiếng sao cho chuẩn xác, mà còn mất nhiều công sức để luận ý các câu trả lời. Tương tự, khâu quảng cáo giới thiệu về sản phẩm cũng gặp nhiều trở ngại vì những bất đồng ngôn ngữ. Cùng một cụm từ, nhưng mỗi nền văn hóa khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Về mặt lí thuyết, tư duy mang tính phổ quát cho toàn nhân loại. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhìn nhận tư duy ở sự khác biệt được thể hiện trong các nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt này thường tạo ra những bất đồng trong cách suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề đặc trưng cho từng dân tộc ở hai nền văn hóa Đông, Tây.

    Tư duy phương Tây tuân thủ các nguyên tắc logic. Ví dụ: nếu ta có 2 nhóm A và B, thì chắc chắn, một vật sẽ không thể vừa thuộc nhóm A, vừa thuộc nhóm B vì như vậy là phản logic, không có ích lợi cho tư duy khoa học. Có thể nói, tư duy

    25

    phương Tây là tư duy kiểu “trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám” (Theo cuốn “The Geography of Thought” của giáo sư Richard Nisbet) [17]. Kiểu tư duy này khá cứng nhắc và dễ dẫn đến những hành động cực đoan bởi nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Điều này giải thích tại sao người phương Tây có xu hướng đi thẳng vào vấn đề khi đàm phán, sẵn sàng trả lời “không”, rất coi trọng giá trị của hợp đồng và không ngại kiện ra tòa nếu đối tác vi phạm. Trong khi đó, truyền thống tư duy của phương Đông lại cho rằng bản chất của thực tại là luôn thay đổi và mọi vật không tồn tại bất biến mà luôn trong quá trình chuyển hóa thành một trạng thái khác tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Do đó, người phương Đông có xu hướng tìm cách dung hòa xung đột, trong cách nói năng thường ít bộc lộ rõ ràng ý kiến. Với họ, bản hợp đồng không phải là duy nhất và hiển nhiên có thể thay đổi khi cần và sự can thiệp của pháp luật chỉ được tính đến khi mọi nỗ lực thương lượng không phát huy tác dụng.

    Cách tư duy về thời gian cũng rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, Hà Lan, thời gian được nhận thức là trôi qua theo một đường thẳng, một tiếp nối của những sự kiện riêng rẽ. Còn ở một số nền văn hóa khác thì thời gian giống như một vòng quay, quá khứ, hiện tại và tương lai có mối quan hệ chặt chẽ. Điều này tạo nên sự khác biệt đáng kể trong việc lên kế hoạch hay chiến lược đầu tư của từng nền văn hóa.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến công tác quản lý

    Bất đồng về cách tư duy dẫn đến những khác biệt về cách nói cũng như hành động, cản trở quá trình giao tiếp từ đó ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cá nhân. Tư duy kiểu phương Tây quy định cách suy nghĩ đơn giản, rõ ràng, thẳng thắn, vì thế, cách nói của họ cũng mang nét đặc trưng này. Người Châu Á lại có lối tư duy mềm dẻo hơn nên họ tin rằng luôn có cách ổn thỏa để giải quyết vấn đề, trong giao tiếp họ giữ gìn hòa khí và đề cao sự ý tứ. Vì thế, lối nói của người phương Tây khiến họ thấy thiếu tế nhị, đôi khi quá thẳng thắn thành ra thô lỗ.

    26

    Cách tư duy khác nhau về thời gian tạo nên sự khác biệt trong việc lên kế hoạch dài hạn. Người Mỹ tư duy thời gian như một chuỗi các sự kiện liên tục, dài hạn đối với họ chỉ là mấy tháng, nhiều nhất là 2 năm. Trong khi đó, các quốc gia coi thời gian là một vòng luân hồi giữa quá khứ, hiện tại, tương lai thì lập kế hoạch cho 10,20, thậm chí hàng trăm năm.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến hoạt động kinh doanh

    Quá trình đàm phán, thương lượng diễn ra giữa đối tác người phương Tây và phương Đông chịu ảnh hưởng đáng kể do khác biệt tư duy. Người phương Tây sẽ gây khó chịu cho đối tác Châu Á nếu họ giữ thái độ tranh thủ thời gian mọi lúc mọi nơi để tiếp cận vấn đề, sẵn sàng nói “không” khi cảm thấy chưa thỏa mãn và không ngần ngại kiện ra tòa nếu bị xâm phạm quyền lợi. Người Châu Á thường bỏ qua vấn đề thời gian chỉ để tìm hiểu đối tác của mình. Nếu không đồng ý, họ thường diễn đạt vòng vo, rườm rà thay vì nói thẳng là “không”. Nếu có tranh chấp xảy ra, họ tìm cách để hòa giải, tòa án chỉ được lưu ý đến khi nỗ lực thương lượng không phát huy hiệu quả.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Một sản phẩm muốn được thị trường tiếp nhận thì nhất thiết phải thỏa mãn sở thích, phong cách hay mong muốn của người tiêu dùng ở thị trường đó. Nắm được các tiêu chí này cũng là một thách thức lớn đối với nhà sản xuất bởi thị hiếu tiêu dùng luôn biến đổi dưới sự chi phối của các nền văn hóa khác nhau. Nhà đầu tư không còn cách nào khác phải đa dạng hóa sản phẩm của mình sao cho phù hợp với mỗi thị trường đầu tư. Ví dụ như sản phẩm ô tô Nhật Bản. Theo đặc điểm văn hóa mỗi nước, các chức năng ban đầu của sản phẩm phải có những thay đổi cần thiết về màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng, bao bì.

    • Về màu sắc, màu đen là màu sang trọng ở nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ nhưng lại là màu tang tóc ở Nhật Bản; màu xanh lá cây lại bị coi là màu ốm yếu ở Malaysia.

    27

    • Về kích cỡ, hãng Toyota năm 1991 đã phải tăng kích cỡ ô tô Camry của mình thêm 3 inch khi thâm nhập vào thị trường Mỹ để cạnh tranh với hãng Ford và General Motors hiện có ở đất nước này.
    • Về kiểu dáng, nhiều hãng ô tô Nhật Bản, Bắc Mỹ và Tây Âu đã phải chuyển đổi hệ thống tay lái từ bên phải sang bên trái khi thâm nhập vào Việt Nam và nhiều nước thuộc hệ thống chủ nghĩa xã hội (cũ).

    Sự thay đổi trên là một nỗ lực của hãng Toyota trong chiến lược toàn cầu hóa sản phẩm của mình. Nhà sản xuất phải bỏ ra không ít công sức, tiền của để tìm hiểu thị trường, thiết kế lại mẫu mã, thậm chí đầu tư thêm dây chuyền sản xuất để có được sự điều chỉnh đúng đắn đó.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt thị hiếu tiêu dùng đối với hoạt động kinh

    doanh

    Rào cản này ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những khác biệt về thị hiếu của người tiêu dùng ở các nền văn hóa khác nhau gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc nghiên cứu thị trường, xác định điều chỉnh sản phẩm sao cho phù hợp. Bởi công việc này đòi hỏi chi phí lớn về cả công sức, thời gian và tiền của.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mình.

    Những khác biệt về văn hóa kinh doanh được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư đến từ các nền văn hóa khác nhau. Hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các thành viên tham gia phải làm việc trong những môi trường mới với vô số những khác biệt về cách thức kinh doanh, thái độ đối với việc phát triển quan hệ kinh doanh, quan niệm về giá trị nghề nghiệp, thái độ đối với sự đúng giờ giấc hay cách đàm phán, kể cả phong tục tặng quà, cách thức ăn mặc, ý

    28

    nghĩa về màu sắc và con số, quan niệm về tước hiệu, v.v. Tất cả những yếu tố này góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh đặc thù mà bản thân nhà quản lý cũng như nhân viên của họ vừa là những chủ thể quyết định cũng vừa là chủ thể bị chi phối.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt văn hóa kinh doanh đến công tác quản lý

    Khác biệt văn hóa kinh doanh gây khó khăn trong việc xây dựng một mô hình quản lý doanh nghiệp. Một nhà đầu tư đến từ Mỹ sẽ gặp rất nhiều cản trở khi làm việc ở một công ty Nhật. Bởi mô hình văn hóa kinh doanh của họ rất khác nhau. Người Mỹ có cách quản lý phân quyền rõ ràng, các cấp bậc cao thể hiện chức năng điều hành cấp bậc thấp hơn, nhân viên tuân lệnh ông chủ và mối quan hệ giữa họ chỉ dừng lại ở mức độ công việc. Người Nhật lại có cách quản lý công ty theo kiểu “gia đình”. Người lãnh đạo được xem như là người cha, nắm giữ quyền lực theo hướng ôn hòa, không có tính đe dọa. Các thành viên gắn bó thân thiết với nhau, sự hài lòng trong các mối quan hệ gia đình tạo ra động cơ làm việc, năng suất lao động cao và giải quyết các mâu thuẫn.

    Khác biệt văn hóa kinh doanh còn gây khó khăn cho nhà quản lý trong việc quản lý nhân sự. Đầu tiên là khâu tuyển dụng. Mô hình văn hóa theo hướng gia đình đặc biệt coi trọng mối quan hệ. Những cá nhân có quan hệ họ hàng hoặc gắn bó thân thiết với thành viên nào đó trong công ty sẽ được ưu tiên. Vấn đề năng lực không phải là quan trọng nhất như ở mô hình văn hóa kinh doanh phân bậc rõ ràng. Tiếp đến là việc khen thưởng, tăng lương cho nhân viên. Ở các nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, việc áp dụng phương pháp trả lương theo hiệu quả công việc có thể phát huy hiệu quả. Thế nhưng, phương pháp này lại không mang đến kết quả tương tự, thậm chí còn thất bại thảm hại ở các nền văn hóa giàu tính cộng đồng hơn.

    2.5. Rào cản do khác biệt văn hóa ngƣời lao động

    Văn hóa người lao động là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến cách thức làm việc, chất lượng công việc, mối quan hệ giữa người lao động với nhau và người lao động với người quản lý nói chung. Tổng thể ấy bao gồm trình độ, kỹ năng của

    29

    người lao động, hay là thói quen, quan niệm của họ đối với công việc cũng như thái độ đối với cấp trên và những người xung quanh.

    Mỗi nền văn hóa khác nhau tất yếu có những nét khác nhau về văn hóa người lao động và sự hòa hợp giữa những khác biệt này là điều rất cần thiết để duy trì một mối quan hệ tốt đẹp giữa những đồng nghiệp với nhau. Điều này sẽ quyết định sự thống nhất trong hoạt động của một tập thể bao gồm những cá nhân đến từ các nền văn hóa khác nhau với cùng mục đích là làm việc vì một sự thịnh vượng chung.

    Ảnh hưởng của rào cản đối với công tác quản lý

    Chênh lệch trình độ lao động là một cản trở đối với nhà đầu tư trong việc tuyển dụng nhân sự. Để tìm được một cá nhân đáp ứng được nhu cầu công việc, nhà quản lý phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ cho công tác tuyển dụng này. Ở các quốc gia nghèo, giáo dục chưa được đầu tư thích đáng, vấn đề về kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng của lao động là một thách thức đối với các nhà đầu tư.

    30

    CHƢƠNG II

    NHỮNG RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Tổng quan về hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Trong vòng hơn hai mươi năm trở lại đây, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những chuyển biến không ngừng. Trong khi FDI đã trải qua những mốc thăng trầm lịch sử thì FII vẫn còn khá mới mẻ đối với nước ta. Tuy nhiên, cả hai hoạt động đầu tư này đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, hứa hẹn những bước tiến mới trong những năm tới khi mà vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang ngày càng được khẳng định.

    1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

    1.1. Tình hình vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài từ năm 1988 đến nay

    (Theo số liệu của Tổng Cục thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Trong 3 năm 1988-1990: Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam mới được ban hành không lâu nên hiệu quả thu hút FDI chưa có gì đáng kể, con số dự án FDI vẫn còn rất khiêm tốn (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD).

    Thời kỳ 1991-1996: Đây được coi là thời kỳ bùng nổ FDI tại Việt Nam với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký 28.3 tỷ USD. Con số này chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh tại nước ta đã bắt đầu lôi cuốn nhà đầu tư bởi những điểm hấp dẫn như nhân lực dồi dào, giá rẻ, thị trường mới… Nguồn vốn FDI mang lại đã ảnh hưởng lan rộng đến các thành phần kinh tế, đóng góp đáng kể cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đất nước.

    Thời kỳ 1997-1999: Có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD. Như vậy FDI cũng trên đà tăng trưởng tuy các dự án này chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, vốn đăng ký năm sau ít hơn năm trước và cũng có nhiều dự án được cấp phép phải tạm dừng triển khai do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông).

    Thời kỳ 2000-2005: Nguồn vốn FDI thu được trong giai đoạn này là 20,8 tỷ USD, vượt 73% kế hoạch đưa ra tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001

    31

    của Chính phủ. Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2 lần năm 1990, GDP giai đoạn này đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%).

    Thời kỳ 2006-2007: Dòng vốn FDI tiếp tục gia tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án có quy mô lớn, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch dịch vụ cao cấp…). Sự gia tăng này cũng góp phần làm tăng GDP các năm. Năm 2006, GDP đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,29%). Năm 2007, GDP đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,6%).

    Năm 2008: Nếu đến năm 2007, tổng vốn FDI đạt 21,3 tỷ USD đã được coi là đạt kỷ lục cho đến thời điểm đó thì năm 2008 có thể xem là điểm nhấn đánh dấu thành công lớn nhất của dòng FDI. Tính đến 19/12, tổng vốn đăng ký đã đạt hơn 64 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007 và gấp 2 lần con số của hai năm 2006, 2007 cộng lại. Những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá, điển hình là dự án Khu liên hợp Thép Cà Ná tại Ninh Thuận với tổng vốn đăng kí đạt tới 20,3 tỷ USD. Theo quan điểm của ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì chỉ tiêu này chứng tỏ “sự nhìn nhận lạc quan của quốc tế đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn”.

    Năm 2009 đến nay: Đặt trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế Thế giới và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế do các điểm yếu cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, vốn đăng ký FDI năm 2009 chỉ đạt 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008. Tuy vậy, dòng vốn này có dấu hiệu phục hồi trong những tháng đầu năm

    1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân 4 tháng đầu năm lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ 2009.

    1.2. Hình thức đầu tƣ

    32

    Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp FDI thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 6.685 dự án, tổng vốn đăng ký 21,2 tỷ USD. Tiếp theo là hình thức liên doanh với 1.619 dự án, tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD, số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư được thống kê như sau:

    FDI theo hình thức đầu tư 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    Hình thức đầu tƣ Số dự án Vốn đầu tƣ Vốn điều lệ   ĐT thực
      hiện
             
    100% vốn nước ngoài 77.65% 61.65% 59.84%   38.74%
               
    Liên doanh 18.89% 28.89% 25.89%   38.12%
               
    Hợp đồng hợp tác KD 2.60% 5.38% 11.50%   19.36%
               
    Hợp đồng BOT,BT,BTO 0.09% 2.01% 1.27%   2.49%
               
    Công ty cổ phần 0.76% 1.95% 1.26%   1.24%
               
    Công ty Mẹ – Con 0.01% 0.12% 0.23%   0.05%
               
    Tổng số 100.00% 100.00% 100.00%   100.00%
               
    Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư  

    1.3. Lĩnh vực đầu tƣ

    Đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất trên tổng các lĩnh vực đầu tư với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm tỉ lệ về số dự án, tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện lần lượt là 67,1%; 60,44%; 68,57%. Sang năm 2008, vốn FDI vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực này. Các dự án như thăm dò khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện tử và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may… đang giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ. Thông qua các dự án này, FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, đặc biệt

    33

    là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD cho dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech…)

    Không chỉ dừng lại ở đó, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1.982 tỷ USD năm 2008 và giá trị xuất khẩu đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, được xem là một kỷ lục của FDI. Sang năm 2009, lĩnh vực đầu tư có phần đổi mới. Dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài, tiếp đến là lĩnh vực bất động sản và sau đó là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.4. Địa bàn đầu tƣ

    Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhất trong cả nước. Với môi trường kinh doanh năng động, hệ thống giao thông khá thuận lợi, trình độ lao động nhìn chung cao, thị trường rộng lớn, nhiều khu công nghiệp tập trung đã và đang được xây dựng… khiến cho FDI của Thành phố lớn mạnh không ngừng và đang thực sự trở thành nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển của cả nước. Tính đến hết năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 27,63% về số dự án, 21,71% về vốn thực hiện, tiếp đến là Hà Nội với 11,64% về số dự án và 12,28% về vốn thực hiện. Bình Dương cũng là một địa phương có mức FDI cao, chiếm 18,21% về số dự án và 7,11% về vốn thực hiện, sau đó là các địa bàn khác như Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Dương…

    FDI theo địa phương năm 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

            Đơnvị: tỷ USD
             
    Địa phương Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ Vốn thực hiện
             
    TP Hồ Chí Minh 2399 17,013 7,100 6,347
             
    Hà Nội 1011 12,664 5.661 3,589
             
    Đồng Nai 917 11,665 4,655 4,152
             
    Bình Dương 1581 8,516 3,452 2,078
             
    Hải Phòng 270 2,729 1,148 1,273
             

    34

    Bà Rịa-Vũng Tàu 159 6,111 2,397 1,267
             
    Hải Dương 278 1,830 0,703 0,439
             
    Vĩnh Phúc 151 2,034 0,647 0,438
             

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Năm 2009, Bà Rịa-Vũng Tàu lại là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô đăng ký vốn lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    1.5. Đối tác đầu tƣ

    Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong vòng 20 năm kể từ năm 1988 đến 2007, đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, Châu Âu chiếm 24%, Châu Mỹ chiếm 5%. Các chủ đầu tư Châu Á vẫn giữ vị trí chủ đạo cho đến hết năm 2008. Trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, Malaysia đứng đầu bảng với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7% về số dự án và 24% về vốn đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2, có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, Nhật Bản xếp thứ 3 với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2009 bộ mặt các nhà đầu tư có phần thay đổi so với trước. Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ (tổng vốn đăng ký 9,8 tỷ USD chiếm 45,6%), Cayman Islands đứng thứ 2 (tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%), thứ 3 là Samoa (vốn đăng ký là 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%), Hàn Quốc đứng thứ 4 (vốn đăng ký là 1,66 tỷ USD, chiếm 7,7%).

    Nguồn vốn FDI không những đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn tạo nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1.615 triệu việc làm được tạo ra của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1.467 triệu người. Tuy vậy, vẫn rất cần những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước để hạn chế những bất cập của dòng vốn này như sự mất cân đối về ngành nghề và

    35

    địa bàn đầu tư, bất cập trong chuyển giao công nghệ không đạt tiêu chuẩn hay tranh chấp lao động phát sinh trong khu vực có vốn FDI…

    2. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một kênh dẫn vốn cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhân tố chính tác động mạnh mẽ đến hoạt động này là: chất lượng các loại chứng khoán, sự vận hành của các định chế tài chính trung gian (Quỹ đầu tư, công ty đầu tư tài chính các loại), hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, việc gia tăng cổ phần hóa các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả trong nước…Hơn 20 năm kể từ khi xuất hiện, dòng vốn FII Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy những gì dòng vốn này mang lại còn khá khiêm tốn nhưng đã có những ảnh hưởng tích cực đến thị trường tài chính còn khá non trẻ của Việt Nam. Có thể nhìn nhận sự đổi thay của dòng vốn FII vào nước ta qua các giai đoạn như sau:

    Giai đoạn 1988-1997: Dòng vốn FII bắt đầu có những bước phát triển kể từ những chính sách đổi mới để thu hút đầu tư vào Việt Nam, kết quả sau mười năm là sự thành lập của 7 Quỹ đầu tư nước ngoài. Đây được xem là làn sóng FII thứ nhất vào Việt Nam.

    Giai đoạn 1998-2002: Thời kỳ này dòng vốn FII vào nước ta có sự suy giảm đáng kể, 5 quỹ đầu tư thành lập ở giai đoạn đầu rút lui,1 quỹ thu hẹp trên 90% quy mô, chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự giảm sút này, trong đó nổi trội nhất vẫn là do sự thiếu đồng bộ cũng như bất cập trong chính sách kinh tế đối ngoại nước ta, thêm vào đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á diễn ra năm 1997 làm cho dòng vốn đầu tư đổ vào Châu Á nói chung bị chững lại.

    Giai đoạn 2003-2005: Làn sóng thứ hai khởi động với sự xuất hiện của Mekong Enterprise Fund, ngay sau đó là VinaCapital và một số công ty quản lý khác với việc công bố thành lập các quỹ mới và hướng mục tiêu đầu tư vào nhiều

    36

    lĩnh vực đa dạng. Tuy vậy, hoạt động đầu tư của các quỹ này khá thầm lặng do tâm lý còn e ngại của các nhà đầu tư. Họ chỉ đưa vào thị trường những khoản đầu tư nhỏ với mục đích thăm dò là chính. Theo bài nghiên cứu tổng hợp về tình hình Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đăng trên website Bộ Ngoại Giao ngày 06-03-2010 thì sau khủng hoảng 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam tăng lên nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ hạn chế. Một số quỹ hoạt động ở Việt Nam từ năm 2001 (quy mô vốn bình quân từ 5 triệu USD đến 20 triệu USD mỗi quỹ) chiếm 1,2% vốn FDI năm 2001, tăng lên 3,7% vốn FDI vào năm 2004, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ này còn quá thấp (FDI/FII trong khoảng 30-40%). Cho đến năm 2005, nguồn vốn này mới chỉ đạt khoảng 1% so với FDI.

    Giai đoạn 2006-2007: Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán năm 2006, làn sóng FII vào Việt Nam giai đoạn này được hình thành và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bộ Tài Chính cho biết, vốn FII được công bố qua các quỹ đầu tư chính thức vào khoảng 2 tỷ USD, cao điểm là vào giữa năm 2006 khi công ty quản lý quỹ VinaCapital khai trương quỹ bất động sản Vinaland với số tiền đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài lên tới 65 triệu USD, vượt qua mức dự kiến ban đầu là 15 triệu USD. Theo nhận định của nhiều quỹ đầu tư nước ngoài tại Hội nghị “Funds World Vietnam 2007” diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 4-5 tỷ USD vốn FII đang chờ để vào thị trường Việt Nam, phần lớn là đổ vào các đợt IPO của những doanh nghiệp lớn như: Vietcombank, BIDV, MHB, Incombank, MobiFone…Ngoài ra, các quỹ đầu tư vào địa ốc và thị trường chứng khoán cũng ngày càng gia tăng đưa số vốn FII lên tới 6,3 tỷ USD năm 2007 (Thông tin từ Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    Năm 2008 đến nay: Ngược lại với những thuận lợi trong năm 2007, năm 2008 chứng kiến sự sụt giảm đáng kể của dòng FII vào Việt Nam. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội đã nhận định con số giảm sút là 587 triệu USD. Tình hình cũng không mấy khả quan vào năm 2009 khi lượng vốn đầu tư gián tiếp này đã rút khoảng 500 triệu USD.

    37

    Có thể nói rằng, việc phát triển thị trường vốn FII vào Việt Nam sẽ mang lại cơ hội mới cho các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này là nguy cơ làm tăng mức nhạy cảm và bất ổn về kinh tế do nguồn vốn đầu tư được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy nên chủ đầu tư có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn của mình về nước hay chuyển sang đầu tư ở lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, nguy cơ các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán bị mua lại, sát nhập, khống chế hay tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế cũng là một mối đe dọa thị trường Việt Nam. Như vậy, việc chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý kinh tế theo nguyên tắc thị trường của Chính phủ và các cơ quan Trung ương là hết sức cần thiết để vừa hạn chế những nguy cơ này, vừa đảm bảo thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn FII.

    II. Vài nét về văn hóa Việt Nam

    1. Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam

    Sự hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam gắn liền với lịch sử dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh với thiên nhiên, chống xâm lược ngoại bang và xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập. Cùng với chiều dài lịch sử, nền văn hóa Việt đã chứng kiến không ít đổi thay và đang ngày càng trở nên đặc sắc, phong phú, mang đậm dấu ấn riêng của mình.

    Văn hóa thời Tiền sử: Là nền văn hóa đặc trưng cho thời đại đá cũ và hậu đá cũ thô sơ, thời kì nguyên đá mới và đá mới, thời kì hậu đá mới. Khởi đầu của thời kì này là những di vật tìm thấy cách đây hàng chục vạn năm của người nguyên thủy ở núi Đọ (Thanh Hóa), tiếp đến là nền văn hóa Sơn Vi (Vĩnh Phú) với những nhóm cư dân sinh sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Thời kỳ nguyên đá mới và đá mới cách đây trên dưới một vạn năm của nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn bắt đầu đánh dấu bước tiến quan trọng của con người với việc trồng trọt. Từ nền tảng này, nền văn minh lúa nước kết hợp với chăn nuôi và các nghề thủ công phát triển ở thời kỳ hậu đá mới (cách đây 4-5 nghìn năm) đã dần đưa cuộc sống con người vào giai đoạn ổn định hơn với những xóm làng định cư dựa trên quan hệ thị tộc mẫu hệ.

    38

    Văn hóa thời Sơ sử: Ba trung tâm lớn trên ba miền Bắc, Trung, Nam tương ứng với các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

    Nền văn hóa Đông Sơn khu vực sông Hồng, sông Cả, sông Mã gắn với việc tìm thấy vật liệu đồng thau đã tác động lớn lao đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Những dấu ấn sâu đậm thời kì này để lại là các sản phẩm tinh xảo đã trở thành biểu tượng văn hóa dân tộc như chiếc trống đồng Đông Sơn, ngoài ra còn nhiều loại nhạc cụ độc đáo, những huyền thoại, thần thoại mang tính sử thi…Người dân bấy giờ còn biết thờ thần Mặt trời nhằm cầu may cho mùa màng tốt tươi để đời sống được no ấm.

    Văn hóa Sa Huỳnh kéo dài từ Bình Trị Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai lại không lấy đồng làm nguyên liệu chính như văn hóa Đông Sơn mà thay vào đó, họ lấy sắt làm nguyên liệu chủ yếu để phục vụ hiệu quả việc sản xuất nông nghiệp. Cư dân Sa Huỳnh còn biết dệt vải, đúc đồ gốm, làm trang sức bằng các vật liệu thiên nhiên, tạo ra một nền văn hóa tiến bộ.

    Văn hóa Đồng Nai đặc trưng cho cư dân vùng Nam Bộ vốn gắn với sông nước và những miệt vườn. Nền văn hóa này coi đá là nguyên liệu chính để chế tác ra những công cụ sản xuất và cả đồ trang sức. Đời sống tín ngưỡng tuy chỉ dừng lại ở cấp độ “Bái vật giáo”, nhưng người dân vẫn tin vào thế giới khác ngoài thế giới hiện thực của con người. Họ sống vô tư, phóng khoáng, thẳng thắn và ít suy tư như các vùng miền khác.

    Văn hóa Bắc thuộc: Sau 10 thế kỷ mất nước (179 trước CN-938), nhân dân ta dành lại độc lập mà vẫn không bị đồng hóa dân tộc. Thành công này có được là bởi sự cố kết cộng đồng bền chặt thành một thực thể quốc gia đạt đến trình độ văn minh, biết gìn giữ và phát huy vốn văn hóa cổ truyền đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa bên ngoài. Trong suốt thời kỳ này, Nho giáo, Đạo giáo, chữ Hán, nghề làm giấy, một số kỹ thuật nông nghiệp từ Trung Quốc cũng như Phật giáo và các kỹ thuật chế biến thủy tinh, hương liệu từ Ấn Độ đã truyền vào Việt Nam, góp phần đa dạng và phong phú hơn nền văn hóa dân tộc.

    39

    Văn hóa Thăng Long: Đất nước bắt đầu thời kỳ độc lập, phát triển, nền văn hóa dân tộc cũng bước vào thời kỳ phục hưng với những thành tựu rực rỡ. Trong giai đoạn này, các di sản văn hóa cổ truyền được kế thừa và nâng cao một cách sáng tạo, điển hình là những hoạt động văn hóa dân gian như múa rối, đua thuyền, chọi vật, hát tuồng, hát chèo… đều phát triển mạnh mẽ. Giáo dục được chú trọng hơn, đặc biệt là sự ra đời của chữ Nôm đã để lại nhiều tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhiều danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.

    Thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX : Thời kỳ này Nho giáo vẫn được các vương triều coi là hệ tư tưởng chính thống nhưng Phật giáo cũng có phần phục hưng và Kito giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nét đặc sắc văn hóa giai đoạn này là sự trỗi dậy của văn hóa dân gian trong văn học, nghệ thuật và sinh hoạt làng xã. Tranh dân gian được coi là một sáng tạo độc đáo và nghệ thuật kiến trúc tạo hình cũng đóng góp cho di sản văn hóa dân tộc nhiều công trình giá trị. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ.

    Thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân: Nửa sau thế kỷ XIX, thực dân Pháp chính thức thống trị nước ta. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Tây đã khiến bản sắc văn hóa Việt Nam có phần phai nhạt, đặc biệt là ở khu vực thành thị.

    Năm 1945, cách mạng Tháng 8 thành công: Sự kiện này đã đánh dấu một mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước vào kỷ nguyên xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng đến năm 1955, đất nước bị chia cắt hai miền Nam- Bắc, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống lại Đế quốc Mỹ, văn hóa miền Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi lối sống của văn hóa phương Tây.

    Năm 1975 đến nay: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cùng phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước vẫn kiên định mục tiêu “Xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Xu hướng hội nhập toàn cầu ngày càng rõ nét

    40

    cùng với sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia đang đặt đất nước trước thách thức giữ gìn và tiếp thu có chọn lọc nền văn minh của các nước bạn [6].

    2.                 Đặc trƣng văn hóa Việt Nam

     

    1. Tín ngƣỡng – Tôn giáo

    Nói đến tín ngưỡng của người Việt Nam, đầu tiên phải kể đến đạo thờ cúng tổ tiên được hình thành từ rất lâu đời và càng thêm sâu sắc sau 1000 năm Bắc thuộc. Tuy vậy, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt không mang tính huyết thống như người Hán mà thể hiện việc ghi nhớ ơn nghĩa của người xưa, đúng như tinh thần của câu tục ngữ: “uống nước nhớ nguồn” từ bao đời nay ông cha vẫn thường nhắc nhở. Nét đặc biệt của tín ngưỡng này được thể hiện ở chỗ, mỗi làng Việt đều có đình Thờ Thành Hoàng để thờ các Thiên thần (các hiện tượng tự nhiên liên quan đến nông nghiệp như mây, mưa, đất nước…) và Nhân thần (những người anh hùng dân tộc, có công khai cơ lập ấp).

    Tôn giáo ở Việt Nam khá phong phú. Ngoài ba Tôn giáo chính là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, ở Việt Nam còn có một số giáo phái khác như Công giáo Rôma, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Hồi giáo. Đặc điểm của Tôn giáo ở Việt Nam có khác so với ở các nước khác. Những vị Thần hay Phật mà người Việt thờ cúng không ở cao xa như một “lý trí tuyệt đối” siêu nhiên sinh ra loài người, cứu vớt loài người mà “sống” bên cạnh con người, làm nhiệm vụ “hộ quốc”, “bảo dân”. Người ta thờ Thần, thờ Phật trước hết vì cuộc sống trước mắt chứ không phải để cứu vớt linh hồn lên với chúa trời hay chính là vì hiện thế chứ không phải vì lai thế.

    Người Việt không cuồng tín Tôn giáo như ở các nước khác. Các lớp tôn giáo và tín ngưỡng của gia đình, dòng họ cũng như làng xã, quốc gia hòa hợp nhau. Trường hợp một người hay một gia đình thờ tổ tiên, Thành Hoàng, cả Phật, Khổng Tử là không hiếm. Đây là điểm thể hiện sự hòa nhập Tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng tôn giáo người Việt xưa và nay, là sắc thái riêng chứng tỏ sự tiếp thu có chọn lọc của văn hóa dân tộc dưới tác động của các nền văn hóa nước ngoài.

    2.2. Ngôn ngữ

    41

    Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp trọng yếu của người Việt kể từ thời kì dựng nước. Có thể nói, sự phát triển của tiếng Việt đã phản ánh một cách trung thực các thời kì lịch sử Việt Nam với những biến đổi về cả ba phương diện ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Tiếng Việt ngày nay vẫn không ngừng biến đổi nhằm thích ứng với sự phát triển của thời đại mới. Có thể thấy rõ điều này qua ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Những thuật ngữ về khoa học – công nghệ ngày càng được sử dụng một cách phổ biến, phản ánh sự hòa nhịp của thế hệ trẻ với những đổi thay trong thời hiện đại.

    Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Trong mối quan hệ này, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt, còn tư duy là cái được biểu đạt. Cho nên, trong giao tiếp với người Việt, nếu người ngoại quốc không hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt (phản ánh tư duy của người Việt) thì chắc chắn sẽ gặp những khó khăn rất lớn để hiểu đúng và đầy đủ vấn đề nêu ra thông qua cái biểu đạt là tiếng Việt ấy. Văn hóa giao tiếp của người Việt có những đặc điểm sau:

    Người Việt thích giao tiếp và coi trọng việc giao tiếp: Đặc điểm này hình thành từ chính văn hóa nông nghiệp của nước ta. Cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên đã gắn bó các thành viên trong cộng đồng, khiến họ luôn có ý thức quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Họ hỏi han nhau khi gặp gỡ và lúc rảnh rỗi thì đến thăm nhau với sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp nghĩa tình. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với người lạ, nhất là người nước ngoài, người Việt thường dè dặt, giữ kẽ hơn. Điều này có thể quy cho nếp sống khép kín trong cộng đồng, quen gắn bó với làng xã và những người thân quen từ xưa đến nay của người Việt.

    Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Trong các mối quan hệ xã hội, người Việt Nam thường rất coi trọng hai chữ “tình nghĩa”, sống có trước có sau. Đối với người Việt, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, cho nên, trong công việc, yếu tố tình cảm thường có khả năng chi phối mạnh mẽ. Đây là một điểm khó thích nghi đối với những đồng nghiệp người nước ngoài, đặc biệt là người phương Tây vì họ vốn quen sống tách bạch tình cảm và công việc.

    42

    Người Việt vốn trọng danh dự. Đối với người Việt, danh dự là kim chỉ nam của mọi hành động: “đói cho sạch, rách cho thơm”. Tuy nhiên, việc quá coi trọng danh dự có thể khiến người Việt trở nên “sĩ diện”, không dám thừa nhận sự thiếu sót của mình và đặc biệt, rất sợ dư luận xã hội. Vì thế, sự thẳng thắn của người phương Tây nhiều khi khiến người Việt cảm thấy không thoải mái, thậm chí còn bị coi như một sự xúc phạm nếu những góp ý thẳng thừng đe dọa thể diện của họ trước những người khác. Hơn nữa, người Việt vốn ý tứ và tế nhị trong giao tiếp, cộng thêm tâm lý ưa hòa thuận nên thường nhường nhịn, đôi khi vì thế mà thiếu tính quyết đoán.

    2.3. Nghệ thuật

    Người Việt Nam từ xưa đã quen với lối sống cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và luôn xem mình như một phần không thể tách rời của tự nhiên. Cách suy nghĩ này đã ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Việt Nam, từ ẩm thực đến kiến trúc hay âm nhạc.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú, không chỉ thay đổi theo mùa mà mỗi vùng cũng có những hương vị đặc trưng riêng. Nguyên liệu chế biến là các sản phẩm từ nông nghiệp trong đó rau quả chiếm vị trí ưu tiên nhất. Hương vị món ăn Việt khá hài hòa, không quá cay nóng như món ăn Thái, cũng không cầu kỳ như món ăn Trung Hoa. Việc phối hợp các loại gia vị và bố trí bữa ăn gia đình ấm cúng theo nguyên lý âm dương không chỉ tạo cảm giác ngon miệng mà còn ảnh hưởng tốt đến sức khỏe của mỗi người. Đây cũng là nét thú vị đối với người nước ngoài khi sang Việt Nam, tìm hiểu và thưởng thức những món ăn Việt với hương vị hòa quyện trong sự ấm áp của tình người.

    Các công trình kiến trúc Việt Nam từ vật liệu đến phong cách, đều thể hiện sự thống nhất về triết lý hòa hợp với thiên nhiên. Những vật liệu sẵn có của tự nhiên như mây, tre, nứa, gỗ, đá… đã làm nên những nếp nhà dân gian mộc mạc, những cung đình đẹp đẽ hay các công trình tín ngưỡng tâm linh. Kiến trúc Việt không đồ sộ, nguy nga như các công trình kiến trúc Trung Hoa, cũng không phải là kiểu kiến trúc đóng như ở các nước phương Tây mà khiêm tốn, chừng mực – lối kiến trúc mở,

    43

    ưa sự thông thoáng, hòa lẫn với cây xanh, mặt nước, hướng đến sự cân bằng sinh thái khoa học. Trong kiến trúc Việt Nam, phong thủy được đặc biệt coi trọng. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước, long mạch… Vì thế mà khi xây nhà ở, người Việt luôn chú ý về mặt địa lý, địa thế, thường chọn hướng nam thoáng mát, tránh hướng tây nóng, bắc lạnh. Các ngôi nhà thôn quê thường có vườn cây, ao nước hay hàng cau trước nhà. Các công trình lớn như đền, chùa, lăng tẩm…thì thường được đặt ở những nơi có đồi, núi, sông, hồ, cao trên thấp dưới, nhiều tầng sinh thái, là nơi hội tụ khí thiêng đất trời. Còn biểu trưng của làng quê Việt là những Đình làng thì bao giờ cũng được đặt ở những vị trí thoáng rộng, với cây đa, bến nước, sân đình, tiêu biểu cho lối sống cộng đồng hòa hợp thiên nhiên vốn đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam.

    2.4. Phong tục tập quán

    • dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam cấu thành nên một nền văn hóa đa dạng với những phong tục tập quán đặc sắc. Những phong tục tập quán này hiện diện ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người, từ giao thiệp

    đến lễ tết, cưới hỏi, tang lễ, cúng giỗ…

    Người Việt rất coi trọng những phong tục tập quán của mình. Thái độ “kính trên nhường dưới” là một phép tắc lớn được chú trọng trong giao tiếp của người Việt. Các sự kiện lớn của đời người như cưới hỏi, ma chay luôn được tổ chức trang trọng theo những thể thức có từ ngàn xưa. Một thời điểm nữa rất quan trọng trong năm đó là Tết Nguyên Đán. Đây là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, là dịp để mọi người Việt Nam đoàn tụ gia đình, tri âm tổ tiên, thăm hỏi bạn bè khắp nơi để thắt chặt thêm tình cảm… Ngoài ra còn rất nhiều ngày lễ, hội khác làm nên sự phong phú trong đời sống tinh thần người Việt Nam.

    Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần hiểu nét phong tục này để có sự thông cảm và sắp xếp hợp lý, sao cho không ảnh hưởng đến công việc kinh doanh đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa Việt.

    2.5. Giáo dục

    44

    Một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và thịnh vượng của một quốc gia chính là ở tiềm lực con người mà yếu tố quyết định tiềm lực ấy chính là giáo dục – giáo dục của gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Việt Nam được nhiều người biết đến với một nguồn nhân lực dồi dào, có tinh thần ham học và tư chất thông minh. Điều đáng mừng là đa phần các bậc phụ huynh đều nhận thức được sự quan trọng của việc nâng cao kiến thức cho con em mình, họ luôn nỗ lực để đem đến cho con em mình những điều kiện học tập tốt nhất. Không ít học sinh, sinh viên Việt Nam đạt được những thành tích xuất sắc ở các trường trong nước cũng như ở nước ngoài. Đó là một thực tế đáng tự hào.

    Tuy vậy, những vấn đề bất cập trong giáo dục Việt Nam đang trở thành tâm điểm của xã hội những năm gần đây. Các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đã gặp không ít thách thức trong việc tìm kiếm những lao động có kiến thức và kĩ năng

    • đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc. Thực tế này khiến người ta không khỏi nghĩ đến phương pháp đào tạo của Giáo dục Việt Nam. Hiện nay, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đang không tìm được việc làm. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho biết: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”, theo ý kiến của bà Lệ, chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt là các kỹ năng mềm như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc nhóm…[19]. Điều này giải thích tại sao các nhà tuyển dụng ở Việt Nam phải bỏ ra không ít thời gian và công sức để tìm lao động thích hợp và đào tạo họ mọi mặt về chuyên môn.

    III. Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Nhìn nhận chung về ảnh hƣởng của văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Để có những kết luận chính xác về những ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cần nhìn nhận vấn đề này từ cả hai góc độ: các nhà đầu từ nước ngoài và những người Việt có kinh nghiệm làm việc với các nhà

    45

    đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Qua quá trình khảo sát, người viết đề xuất một số đánh giá chung về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:

    1.1. Từ góc độ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều nhìn nhận rằng Việt Nam là một thị trường tiềm năng, hứa hẹn mang lại những cơ hội đầu tư lớn. Tuy vậy, họ cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều nhân tố gây cản trở quá trình đầu tư, trong đó những bất đồng về văn hóa là một rào cản đáng kể bên cạnh những khó khăn về cơ sở hạ tầng hay hệ thống pháp luật.

    Trong số những trở ngại về văn hóa thì ngôn ngữ được xem là yếu tố gây nhiều khó khăn nhất, đặc biệt là với những nhà đầu tư Châu Á như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Do người lao động Việt Nam chưa có trang bị tốt về tiếng Hàn cũng như tiếng Nhật, trong khi đó các nhà đầu tư đến từ các quốc gia này lại không thành thạo tiếng Anh và hầu như không biết tiếng Việt nên việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn. Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ trung gian giữa người Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng do cả hai bên đều chưa “hoàn toàn làm chủ” ngôn ngữ thứ hai này nên những bất đồng, gây nên sự hiểu lầm hay không hiểu là điều khó tránh.

    Sau rào cản về ngôn ngữ là những cản trở đáng kể về khác biệt văn hóa doanh nghiệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và lối tư duy. Một số nhà đầu tư Hàn Quốc phàn nàn về thái độ làm việc thiếu nhiệt tình, thiếu nhất quán của lao động Việt, cũng có nhà đầu tư phương Tây gặp khó khăn vì lao động thiếu sự sáng tạo và khả năng làm việc độc lập, tính trọng mối quan hệ trong công việc cũng là một thách thức đối với họ.

    1.2. Từ góc độ ngƣời Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Người viết đã tiến hành điều tra ý kiến của 40 cá nhân có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài trên cả ba miền đất nước và nhận được 73% câu

    46

    trả lời xác nhận sự có mặt của rào cản này văn hóa trong số các rào cản thường gặp khác đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện đang làm việc tại Việt Nam. Tuy số lượng điều tra không nhiều, nhưng những thông tin thu thập được cũng phần nào khẳng định được tác động của những khác biệt văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế ở Việt Nam.[Phụ lục]

    Cũng từ khảo sát này, người viết thu được ý kiến đánh giá về các yếu tố rào cản văn hóa, trong đó yếu tố rào cản do khác biệt về tư duy được đề cập đến nhiều nhất, tiếp đến là rào cản do khác biệt về văn hóa doanh nghi

    ệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và ngôn ngữ.

    Møc ¶nh h-ëng cña mét sè rµo c¶n

    v¨n hãa ViÖt Nam

    90.00%

    80.00%

    70.00%

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    Rµo c¶n vÒ ng«n

    ng÷

    Rµo c¶n vÒ t- duy

    Rµo c¶n vÒ thÞ hiÕu Rµo c¶n vÒ v¨n hãa Rµo c¶n vÒ v¨n hãa

    tiªu dïng              doanh nghiÖp      ng-êi lao ®éng

    Trong những năm gần đây, các công ty Việt Nam thường đưa ra tiêu chí tuyển dụng khắt khe, yêu cầu ứng viên phải sử dụng tiếng Anh để viết đơn xin việc, thông tin bản thân và trả lời các cuộc phỏng vấn. Vì thế, người lao động ý thức cao hơn về vai trò của việc học ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ nhìn chung cũng được cải thiện. Điều này lý giải tại sao trên quan điểm người Việt Nam, rào cản ngôn ngữ không phải là cản trở lớn nhất. Theo điều tra này, cách tư duy mới là trở ngại đáng kể. Cách tư duy là yếu tố khó thay đổi và khác nhau sẽ dẫn đến những hành động khác nhau.

    Các đối tượng điều tra có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư đến từ Châu Á (chiếm đa số – 83.8%), Châu Âu (40.5%), Châu Mỹ (37.8%) và một số Châu lục

    47

    khác (2.7%). Một điều ngạc nhiên là đến 72.2% trong số đối tượng điều tra cho biết họ thực sự thích làm việc với các đối tác đến từ Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm 58.3% trong khi Châu Á chỉ chiếm 27.8%%. Phần lớn người được hỏi đều đưa ra lý do là những đối tác Châu Âu và Châu Mỹ thường cởi mở, lịch sự, môi trường làm việc thông thoáng, chuyên nghiệp và chế độ đãi ngộ tốt. Một số thích làm việc với người Châu Á vì sự cách biệt văn hóa có phần ít hơn, do đó, họ biết thông cảm hơn cho các đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng nghiệp nữ.

    2.Một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Bất đồng ngôn ngữ lời nói

    Khó khăn trong sử dụng từ ngữ: Tiếng Anh là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp giữa người Việt Nam và các đối tác nước ngoài hiện nay.Bên cạnh đó, tiếng Nhật, Trung, Hàn cũng đang ngày càng phổ biến. Phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều gặp những khó khăn trong việc trao đổi thông tin với người Việt do không hiểu tiếng nói của nhau. Trong một cuộc hội đàm về chính sách giữa Bộ Thông Tin và Truyền thông với các doanh nghiệp Công nghệ thông tin hai nước Việt Nam – Nhật Bản diễn ra cuối năm 2007, đông đảo đại diện các doanh nghiệp nhận định tiềm năng hợp tác Công nghệ thông tin Việt – Nhật là rất lớn nhưng các doanh nghiệp lại đang trong tình trạng khan hiếm về nhân lực biết ngoại ngữ. Tổng Giám đốc công ty FCG Việt Nam cho rằng, có tới 80% nhân lực gia công phần mềm Nhật Bản là người Trung Quốc, ngay cả khi đang hoạt động tại Việt Nam [20].

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân đầu tiên là do trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn khá thấp. Trong khi đó, các quốc gia sử dụng tiếng Anh lại có xu hướng không học thêm một ngoại ngữ nào khác.

    Bên cạnh tiếng Anh, trình độ tiếng Nhật, Trung, Hàn và các thứ tiếng khác của lao động Việt Nam cũng chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Giao dịch bằng

    48

    tiếng Anh với nhà đầu tư Nhật Bản và Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn vì họ ít sử dụng tiếng Anh, thường đòi hỏi nhân viên phải biết sử dụng ngôn ngữ quốc gia mình.

    Khác biệt về phong cách giao tiếp: Không chỉ ngôn ngữ bất đồng vản trở giao tiếp mà những khác biệt về phong cách giao tiếp cũng gây ra những hiểu lầm. Người Việt thường cho rằng người phương Tây nói nhiều trong khi đó người phương Tây lại thấy người Việt quá kín đáo, như thể đang che dấu điều gì. Nhiều trường hợp người Việt làm họ ngạc nhiên và khó hiểu với kiểu nói một đường nhưng lại nghĩ hay làm một nẻo. Người phương Tây đưa ra một số lý giải từ kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt như sau: Khi người Việt Nam nói “Thật là một ý tưởng thú vị”, thì nên nghĩ câu này có nghĩa “Tôi không đồng tình lắm”/ “Chúng ta cần thảo luận thêm”/ “Bạn nhầm rồi”/ “Tôi không thích ý tưởng này lắm”. Hoặc khi nghe câu “Lời đề nghị này xứng đáng được xem xét kĩ hơn” thì phải hiểu là “Xin hãy đưa ra một đề nghị khác”/ “Tôi là một chuyên gia về lĩnh vực này nhưng vì lịch sự mà tôi không nói ra thôi” [16].

    Nguyên nhân:

    Việt Nam được xếp vào nhóm những nền văn hóa “Ngữ cảnh cao” [15], là nền văn hóa mà ở đó, con người thường chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm người đối diện hay hoàn cảnh diễn ra giao tiếp) hơn là những từ ngữ trực tiếp và rõ ràng để truyền đạt thông tin. Vì vậy phần lớn nội dung muốn diễn đạt thường ẩn sau lời nói và thái độ chứ không phải thuần túy ở từ ngữ như ở các nước phương Tây vốn thuộc nền văn hóa “Ngữ cảnh thấp”.

    Bất đồng trong cách thể hiện tình cảm và phép lịch sự: Người Việt thường tỏ ra nghi ngại sự thật lòng của người Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc bởi họ luôn sẵn sàng lời khen ngợi cũng như câu nói “xin lỗi” và “cảm ơn”, Trong khi đó, nhiều trường hợp người phương Tây đánh giá người Việt bất lịch sự vì hiếm khi họ khen ngợi điều gì hay nói lời “Cảm ơn” hay “Xin lỗi”.

    Nguyên nhân:

    49

    Lý do đầu tiên là người phương Tây được giáo dục từ nhỏ về cách thể hiện tình cảm và thái độ lịch sự qua lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”. Đối với họ, khen ngợi là một cách bày tỏ sự quan tâm của mình đến người được khen.

    Thứ hai, người Việt Nam coi trọng sự tế nhị trong giao tiếp và ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng. Thay vì nói lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”, họ biểu hiện bằng ngôn ngữ không lời như ánh mắt, nụ cười. Họ e dè khi khen ngợi để tránh trường hợp đối phương hiểu lầm ý tốt của mình.

    Khác biệt trong chào hỏi và đưa ra lời khuyên: Văn hóa mỗi vùng miền thể hiện trong từng cử chỉ giao tiếp hàng ngày, từ lời chào đến câu khuyên nhủ. Người Việt hay chào nhau bằng những câu như “Anh đi đâu đấy”, “Chị ăn cơm chưa”. Nếu mối quan hệ thân thiết họ thường dặn dò nhau “Nhớ ăn uống cẩn thận, đi chơi về sớm”, “Đừng…” hay “Nên…”. Trong khi đó, người phương Tây thường chào hỏi bằng những câu rất chung như “chào buổi sáng” “chúc ngủ ngon” và đưa ra lời khuyên trong sự giả định “Nếu là tôi thì tôi sẽ…”, “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu…”. Cách chào của người Việt khiến người phương Tây cảm thấy như đang bị xâm phạm đời tư và những lời khuyên có thể được hiểu thành sự ép buộc, tệ hơn có thể mang nghĩa “giáo huấn” hay “lên lớp”.

    Nguyên nhân:

    Người Việt Nam có nếp sống tập thể, gắn bó cộng đồng, vì vậy họ thường thể hiện sự quan tâm đến nhau bằng những câu hỏi hay dặn dò thân mật. Nhiều trường hợp câu hỏi chỉ đơn giản là một lời chào, không cần câu trả lời của đối phương.

    Trái lại, người phương Tây coi trọng chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề riêng tư của họ là bất khả xâm phạm. Những câu chào của người Việt chỉ thuần túy xã giao thế nhưng người phương Tây coi đó là những câu hỏi, vì thế họ rất không thoải mái khi phải trả lời.

    Bất đồng ngôn ngữ không lời

    Hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ của người Việt rất phong phú và ý nghĩa của nó thay đổi theo ngữ cảnh người thể hiện. Nhiều người nước ngoài đến

    50

    Việt Nam đã không thể lý giải nổi sự đa nghĩa của hệ thống ngôn ngữ đặc biệt này. Neil Jamieson trong cuốn “Understanding Vietnam” đã kể một câu chuyện như sau: Một nhà quản lý người Mỹ đang quát mắng một lao động Việt Nam vì anh ta đã gây ra một lỗi lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Người lao động này im lặng và lắng nghe một cách kiên nhẫn. Khi người quản lý kết thúc, anh ấy đã mỉm cười thật tươi. Hành động này khiến người quản lý hết sức sửng sốt. Ông ta mong đợi một lời thừa nhận lỗi lầm hoặc một sự phản kháng, bào chữa nào đó chứ không phải là sự im lặng tuyệt đối và nụ cười này. Ông không kìm được cơn giận và quay đi với suy nghĩ rằng người lao động kia đang chế giễu ông, coi thường ông [17,90].

    Nguyên nhân:

    • Việt Nam, một nụ cười có thể mang rất nhiều ý nghĩa. Nụ cười thể hiện sự đồng ý, đôi khi thay cho lời chào, câu xin lỗi hay lời cảm ơn, cũng có khi để che đậy sự

    bối rối, mất tự tin và cũng có trường hợp thể hiện sự không đồng tình hoặc nhằm dấu đi sự giận dữ… Trong khi đó, với đa số các nước phương Tây thì nó chỉ là cách thể hiện niềm vui, sự hài lòng, đôi khi là sự giễu cợt. Chính sự khác biệt này đã dẫn đến hiểu lầm trong câu truyện trên. Nụ cười của người lao động là nụ cười che dấu sự bối rối, biết lỗi, và chấp nhận sửa lỗi, hoàn toàn không có ý giễu cợt hay coi thường người quản lý.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Khác biệt trong cách giải quyết vấn đề: Cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lối tư duy. Nhiều người nước ngoài cho rằng, cách giải quyết vấn đề của người Việt nhiều khi rất phiến diện, chỉ dựa vào cảm giác hay đánh giá chủ quan cũng có thể đưa ra quyết định, dẫn đến không tránh khỏi sai lầm. Người Việt lại cho rằng cách ứng xử của người phương Tây quá cứng nhắc, nhiều khi không cân nhắc đến hoàn cảnh riêng của các đồng nghiệp Việt Nam.

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân lý giải sự khác biệt trong cách suy nghĩ, hành động này chính là lối tư duy. Tư duy phương Tây là lối tư duy logic, các đánh giá đều dựa trên số liệu

    51

    khách quan hoặc những nghiên cứu khoa học thực tiễn, ít khi cân nhắc đến tình cảm cá nhân.

    Ngược lại, tư duy truyền thống Việt Nam lại coi trọng tình cảm. Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh, chữ “tình” bao giờ cũng được đặt lên trên hết. Nếu như ở phương Tây, “tình” phải phục tùng “lý” hoặc ít nhất cũng không thể trái ngược với “lý”, thì đối với người Việt, đặc biệt trong mối quan hệ đối tác làm ăn với nhau, “lý” sẽ không đủ tin hay chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa nữa nếu tiêu chuẩn “tình” không được đảm bảo.

    Bất đồng do lối tư duy nông nghiệp: Người Việt có tầm nhìn ngắn hạn, đôi khi chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không có những hoạch định lâu dài, thích ổn định và rất e ngại rủi ro. Điều này cũng được phản ánh qua chỉ số về tính cẩn trọng cao trong mô hình nghiên cứu của Hofstede. Đây là một trở ngại đáng kể trong việc lên những kế hoạch hoặc sách lược lâu dài cho một dự án kinh doanh.

    Nguyên nhân:

    Lối tư duy nông nghiệp này bắt nguồn từ truyền thống nông nghiệp từ lâu đời cùng với lối sống định canh định cư của người Việt Nam. Cuộc sống của họ phụ thuộc các mùa vụ, được sắp xếp theo trình tự thời gian. Nếu trời cho “mưa nắng thuận hòa” thì cuộc sống sẽ được no ấm. Chính bởi cuộc sống phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, nên người Việt có tâm lý “được đến đâu hay đến đấy”, ít khi có kế hoạch cho tương lai lâu dài. Lối sống định cư khiến người Việt quen với sự ổn định, rất e ngại thay đổi và sợ rủi ro.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Khó khăn do thị hiếu thị trương đa dạng: Sự phong phú về thị hiếu tiêu dùng giữa các bộ phận dân cư ở Việt Nam khiến cho các nhà đầu tư phải không ngừng cập nhật thị trường và điều chỉnh các chính sách sản phẩm sao cho phù hợp từng địa phương và từng thời kì để chinh phục thị trường đa dạng và dễ thay đổi về thị hiếu tiêu dùng này.

    52

    Công ty nghiên cứu thị trường Neilsen Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt vùng miền của người tiêu dùng miền Bắc (tiêu điểm là Hà Nội) và người tiêu dùng miền Nam (tiêu điểm là Tp Hồ Chí Minh). Kết quả được đưa ra trong cuộc hội thảo diễn ra ngày 19-06-2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự có mặt của gần 350 đại diện các doanh nghiệp đã cho thấy rằng, văn hóa khác nhau cùng với một số yếu tố riêng về lịch sử và kinh tế đã gây ra sự khác biệt trong thái độ đối với thương hiệu, thói quen, phong cách và sự tự tin trong tiêu dùng của người dân ở hai miền, từ đó quyết định hành vi tiêu dùng của họ [23].

    Nghiên cứu của Nielsen thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 2009 ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam đã chỉ ra đặc tính chi phối thị hiếu tiêu dùng chủ yếu ở hai miền đó là Tính cá nhân – cái Tôi và Tính tập thể – chúng ta. Thiên hướng „Tôi” chiếm đa số ở Tp Hồ Chí Minh, thể hiện ở việc quyết định tiêu dùng dựa trên nhu cầu và mong muốn của bản thân và ít bị tác động bởi ý kiến của người khác, không chạy theo số đông. Ngược lại, xu hướng “chúng ta” lại chiếm đa số ở Hà Nội. Người tiêu dùng ở thị trường này thường lắng nghe ý kiến của bạn bè và những người xung quanh, định kiến xã hội cũng chi phối họ trong việc đưa ra quyết định tiêu dùng. Tuy vậy, họ lại là đối tượng khá phức tạp, vừa muốn gây sự chú ý và nổi bật giữa đám đông, vừa không muốn phá vỡ những quy tắc chuẩn mực xã hội. Một nét khác biệt đáng kể nữa là quan điểm đối với nguồn chi tiêu của người dân hai miền. Người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh có thể tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được, và để đắp bù cho khoản vượt trội này, họ sẵn sàng vay mượn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Họ là những người sống cho hiện tại và ít lo cho tương lai. Trong khi đó, 57% người Hà Nội cho biết họ sẽ không đi vay ở tổ chức tài chính nào cho mục đích chi tiêu của mình, đa số họ coi việc vay mượn tiền hay bị phụ thuộc tài chính là một sự “mất mặt”. Tuy nhiên, một điều gần như là trái ngược với tư tưởng tiết kiệm này là sở thích sắm hàng hiệu, hàng cao cấp chủ yếu là các mặt hàng như điện thoại di động hay mỹ phẩm. Phần đông người Hà Nội cho rằng những sản phẩm này sẽ có tính bền cao hơn chứ không chỉ để khẳng định đẳng cấp của người dùng. Điểm này lại khác với xu hướng “tiêu dùng nhanh” của người dân Tp Hồ Chí Minh, họ sẽ mua cái họ thấy cần lúc đó và dù họ vẫn thích hàng cao cấp

    53

    nhưng đến 48% cho rằng những thứ đó chỉ dành cho người thích khoe khoang và gây sự chú ý. Với họ, việc mua những thứ cần mới là điều quan trọng.

    Nguyên nhân:

    Với điều kiện kinh tế nghèo nàn trước đây, người dân Việt Nam rất đề cao lối sống tiết kiệm và tư tưởng “ăn chắc, mặc bền”, dẫn đến yêu cầu về mẫu mã hàng hóa đơn giản, chi tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu lớn nhất là ăn, tiếp đến mới là mặc và ở, việc đi lại và các nhu cầu khác hầu như không được chú ý tới. Thị trường Việt Nam thời gian này không phải là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhưng trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, điều kiện vật chất được cải thiện khiến cho nhu cầu cũng như thị hiếu tiêu dùng của người dân thay đổi đáng kể. Thêm vào đó là sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với xã hội bên ngoài đã hình thành những nét mới trong phong cách cũng như sở thích tiêu dùng của người dân.

    Người Việt lại có tâm lý cộng đồng, đa phần quyết định của họ bị chi phối bởi ý kiến của người xung quanh. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa hai thành phố lớn lại có nhiều điểm khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, địa lý…từ đó quy định những nét đặc trưng về con người mỗi địa phương.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Bất đồng về phong cách kinh doanh: Một trong những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh Việt Nam là sự coi trọng các mối quan hệ, đặc điểm này khá tương đồng với các nước Châu Á khác nhưng lại là một bất đồng đối với các nước phương Tây. Một cuộc điều tra về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh tiến hành trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số B99-21 đã đưa ra số liệu thống kê như sau: có đến 53% doanh nghiệp chọn cách làm quen đối tác qua sự giới thiệu của bên thứ ba, 51,22% qua phòng Thương mại, sau đó là các hình thức khác như qua Hội chợ triển lãm, quảng cáo, thương vụ, internet. Nhưng thứ tự này ngược lại ở Mỹ, hình thức qua phòng Thương mại chiếm 76,19% còn qua người thứ ba chỉ chiếm 57,14% [1,122].

    Nguyên nhân:

    54

    Người Việt có lối sống cộng đồng, rất coi trọng mối quan hệ. Tâm lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách cư xử hàng ngày cũng như trong công việc của người Việt Nam. Nếu không có được sự tin tưởng lẫn nhau thì họ khó đi đến việc hợp tác làm ăn. Vì vậy,sự giới thiệu của một bên thứ ba nào đó sẽ giúp họ loại bỏ những lo ngại về đối tác.

    Rào cản văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công: Nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục, xin giấy phép cho dự án do hệ thống thủ tục giấy tờ rườm rà, phức tạp, thêm vào đó là thái độ thiếu hợp tác của nhân viên.

    Báo Đại Đoàn kết số ra ngày 25-12-2009 đã trích lời ông Ichikawa Kazuya, Giám đốc công ty Chubu-Rika bức xúc: “Việc khai thuế hải quan mất nhiều thời gian, nhanh nhất là 2 ngày, nếu có sự cố gì thì hàng hóa của chúng tôi phải chôn chân hơn 1 tuần. So với chính sách thủ tục hải quan của Singapore thì Việt Nam cần phải đơn giản hóa thủ tục rất nhiều, vì Singapore làm thủ tục hải quan chỉ mất 10 phút”. Chỉ đơn cử là việc xin giấy phép, mỗi lĩnh vực có quy định những loại giấy phép riêng, có lĩnh vực phải xin 4 – 5 giấy phép khác nhau từ các cơ quan khác nhau, nhà đầu tư phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi. Nhiều dự án kinh doanh bị hủy bỏ vì vướng mắc trong khâu thủ tục này.

    Nguyên nhân:

    Có thể nói rằng, hệ thống thủ tục hành chính của Việt Nam còn quá rườm rà so với các nước trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, nhiều địa phương tự đặt ra những loại giấy phép không thực sự cần thiết khiến cho quy trình hành chính trở nên phức tạp hơn.

    Bên cạnh đó, chất lượng nhân sự khu vực hành chính còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra thủ tục, cấp phép cũng chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, khâu xử lý còn chậm.

    Khác biệt về văn hóa đàm phán: Nhiều đối tác phương Tây cho rằng, trong đàm phán, người Việt Nam hay rườm rà, vòng vo, khó hiểu, ít đi thẳng vào vấn đề, chậm đưa ra quyết định và thường che dấu cảm xúc. Người Việt Nam thì nhận xét, các đối tác phương Tây đôi khi thiếu tế nhị, luôn muốn đi thẳng vào vấn đề và thường tỏ ra thiếu kiên nhẫn.

    55

    Người Việt Nam rất cẩn trọng khi nói “có” hoặc “không”. Một số người nước ngoài có kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt đã nhận định rằng: khi người Việt nói “vâng” thì chỉ nên hiểu là “vâng, tôi đang nghe”, đừng nhầm tưởng đó là sự đồng ý. Và họ hiếm khi nói “không” mà thay vào đó là các câu kiểu như “vấn đề này khá phức tạp” hay “việc này hơi khó”, “chúng tôi sẽ cân nhắc vấn đề này”. Một điểm khác biệt nữa là người Âu – Mỹ thường không ngại bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài trong khi người Việt có xu hướng kiềm chế cảm xúc, che dấu sự bối rối hay không hài lòng của mình bằng các cử chỉ im lặng hay cười. Một thương nhân Việt Nam có kinh nghiệm lâu năm trong đàm phán thương mại quốc tế đã đưa ra những đặc điểm khác biệt cơ bản trong đàm phán giữa người Việt Nam và người phương Tây như sau [17,118]:

    Người Việt Nam Người phương Tây
       
    Chú trọng mối quan hệ Chú trọng các quy tắc, điều luật
    Hợp đồng có thể thay đổi Hợp đồng có tính luật pháp bắt buộc
    Tin tưởng vào đối tác và mong đợi vào Tin tưởng vào hợp đồng hoặc lời nói
    sự thay đổi thỏa thuận khi cần của đối phương
    Có nhiều quan điểm trên một vấn đề Chỉ có một sự thật duy nhất
    Quyết định mang tính tập thể Quyết định mang tính cá nhân
    Đưa ra quyết định được đưa ra bởi tổ Quyết định được đưa ra ngay lập tức
    chức hay một người khác  
    Thành tích là của tập thể Thành tích là của cá nhân
    Các cá nhân không thể hiện suy nghĩ Các cá nhân bày tỏ suy nghĩ và cảm
    hay cảm xúc của mình xúc bằng ngôn ngữ lời hoặc không lời
    Chỉ thể hiện sự căng thẳng qua thái độ Dễ dàng tỏ ra căng thẳng
    một cách vô tình Những cuộc thảo luận sôi nổi hoặc
    Cảm xúc được kiềm chế nóng nảy là bình thường
    Xã hội ngữ cảnh cao Xã hội ngữ cảnh thấp
    Tính cẩn trọng cao Tính cẩn trọng thấp
    Hệ thống pháp luật thiếu ổn định, không Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng
    rõ ràng  
       

    56

    Nguyên nhân:

    Người Việt coi trọng mối quan hệ, họ sẽ chỉ đi đến thỏa thuận khi có niềm tin vào đối tác. Trong khi đó đối tác phương Tây coi hiệu quả công việc mới là điều quan trọng. Tình cảm riêng tư không có chỗ trong công việc.

    Một lý do nữa đó là sự ưa chuộng hòa khí trong lối sống của người Việt. Họ luôn tránh nói những từ mang nghĩa phủ định hay từ chối thẳng thừng vì sợ làm đối phương mất mặt, cuộc tiếp xúc có thể trở nên căng thẳng. Do vậy, họ lựa chọn lối nói vòng vo và biểu hiện nhiều qua ngôn ngữ không lời. Trái lại, người phương Tây tư duy thẳng, nghĩ sao nói vậy, ít che đậy cảm xúc. Nhiều khi họ ít quan tâm đến thái độ người đối diện và gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa ngôn ngữ không lời đó.

    Đặc điểm về cách quản lý của người Việt cũng có nhiều khác biệt. Đại diện được cử đi đàm phán bên phía Việt Nam thường không nắm toàn quyền quyết định, vì thế, họ phải thông báo cho người quản lý để xin ý kiến cuối cùng. Ngược lại, phía đối tác nước ngoài một khi đã cử đại diện đàm phán thì họ cũng giao cho người đó toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan.

    Bất đồng trong quan niệm về giờ giấc: Người Việt Nam thường đến chậm trong các cuộc hẹn, giờ làm, và cả trong việc giao hàng. Trong khi đó, người nước ngoài thường đến đúng giờ.

    Nguyên nhân:

    Đầu tiên là do cách tư duy khác nhau: Người Việt coi giờ hẹn là giờ xuất phát còn người nước ngoài coi giờ hẹn là giờ đến nơi.

    Bên cạnh sự khác nhau về tư duy, tác phong làm việc của có nhiều điểm khác biệt: Người Việt có tác phong nông nghiệp còn người nước ngoài có tác phong công nghiệp.

    2.5. Rào cản do khác biệt về văn hóa ngƣời lao động

    57

    Khó khăn do trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn của người lao động Việt Nam hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực, khả năng sáng tạo và độc lập trong công việc cũng có nhiều hạn chế. Đặc biệt, các kỹ năng mềm như thuyết trình, làm việc nhóm của người lao động Việt Nam rất kém. Nhiều ý kiến cho rằng, người Việt làm việc một mình thì hiệu quả, hai người thì bắt đầu kém hiệu quả và ba người thì hỏng việc. Trong khi đó, nhiều công việc hiện nay yêu cầu sự hợp tác rất cao. Các cá nhân hoạt động riêng rẽ tốt nhưng hợp tác kém hiệu quả thì rất khó để hoàn thành tốt công việc.

    Nguyên nhân:

    Chương trình giáo dục Việt Nam hiện nay chưa thực sự chú trọng phát triển kỹ năng nghiệp vụ cho học viên. Số lượng các trường đại học được trang bị tốt về điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy còn rất ít ỏi.

    Thêm vào đó, mức sống của người dân trên cả nước đã được cải thiện nhưng chưa thật đồng đều. Một bộ phận lớn người dân còn nghèo, đã hạn chế cơ hội được học tập tốt của thế hệ trẻ trong những gia đình đó.

    Thái độ làm việc chưa đúng đắn: Tâm lý “nhảy việc” phổ biến trong lao động trẻ hiện nay đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả khảo sát của Báo Người Lao động triển khai từ tháng 4 năm 2008 với sự tham gia của 655 người đang đi tìm việc, trong đó có 445 ứng viên đã từng đi làm cho thấy, 35 % trong 445 ứng viên nghỉ việc chuyển đổi nơi làm chỉ sau dưới một năm, 39% nghỉ việc sau từ một đến hai năm và 26% sau ba năm.

    Nguyên nhân:

    Do môi trường làm việc của doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu người lao động (lương, thưởng, các chế độ phúc lợi xã hội) khiến cho họ có xu hướng đi tìm một việc làm mới sau một thời gian ngắn.

    Hơn nữa, khá nhiều người lao động trẻ hiện nay chưa có định hướng nghề nghiệp đúng đắn ngay từ đầu, chưa tìm thấy điểm mạnh của mình để phát huy, họ

    58

    muốn đi làm nhanh chóng để có thu nhập nên nhiều khi lựa chọn công việc không phù hợp.

    Một nguyên nhân sâu xa nữa là vấn đề nhận thức của người lao động. Họ vẫn chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với công việc cũng như cộng đồng mà họ đang gắn bó. Tâm lý sẵn sàng đổi việc vì thế cũng rất phổ biến.

    Tình cảm chi phối công việc: Người lao động Việt Nam nhiều khi vì tình cảm mà họ che dấu sai phạm của nhau,“chín bỏ làm mười” và rất ít người có ý thức phê bình và tự phê bình. Ngay cả khi người quản lý khuyến khích phát biểu ý kiến thì cũng phần đông họ vẫn dấu những khúc mắc hay không đồng tình trong lòng, vì lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tình cảm nội bộ cũng như quyền lợi riêng tư. Vẫn còn nhiều trường hợp phân chia, phe cánh trong nội bộ nhân viên khiến cho sự phối hợp công việc gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn bị trì trệ.

    Nguyên nhân:

    Lối sống quá coi trọng tình cảm khiến cho họ e ngại nói ra những khiếm khuyết của đồng nghiệp. Và lòng tự trọng cao cũng hạn chế sự tự phê của mỗi người. Điều này giải thích vì sao người Việt ít hỏi, ngay cả khi không hiểu hoặc mơ hồ về một vấn đề nào đó.

    Phong cách làm việc chưa chuyên nghiệp cũng là một yếu tố chi phối hiệu quả công việc của lao động Việt Nam.

    IV. Một số trƣờng hợp khó khăn và thất bại của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam do rào cản văn hóa gây ra

    1. Bất đồng ngôn ngữ giữa quản lý ngƣời Hàn Quốc và công nhân Việt Nam

    Như đã phân tích ở trên, bất đồng ngôn ngữ là một rào cản lớn trong quá trình giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau. Người ta có thể khắc phục rào cản này bằng việc học ngoại ngữ hoặc sử dụng người phiên dịch. Ở các nhà máy xí nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trình độ ngoại ngữ của công nhân còn rất hạn chế, các đốc công hay quản lý dây chuyền là người nước ngoài hầu như không thạo tiếng Việt và người phiên dịch thì lại không túc trực ở đó. Vì vậy, khi có vấn đề nảy sinh

    59

    giữa quản lý và công nhân thì rất khó để hai bên có thể trao đổi, bày tỏ ý kiến với nhau, dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc.

    Về vấn đề này, người viết đưa ra một sự việc có thật diễn ra ở nhà máy sửa chữa tàu biển Hyundai Vinashin (Khánh Hòa). Ông Choi Gyu Ha, người Hàn Quốc, giữ chức Phó phòng Tổng vụ, đã quyết định sa thải 2 công nhân vì lý do thiếu nghiêm túc trong quá trình làm việc. Thực tế sự việc này diễn ra như sau. Trong quá trình làm việc, nhận thấy máy bị hỏng, 4 công nhân phải ngưng làm và chờ sửa chữa. Trong thời gian này, họ đã trao đổi qua lại và cười với nhau. Người quản lý Hàn Quốc coi đó là hành động không nghiêm chỉnh trong giờ làm việc, kết hợp với việc 2 công nhân trong số đó đã từng bị khiển trách năm trước vì ngủ trưa dậy muộn

    • phút (dù sau đó họ đã rút kinh nghiệm và phấn đấu được loại A về kỉ luật làm việc) và đi đến quyết định sa thải 2 người này. Xét trong nền văn hóa Việt Nam thì việc nói, cười trong trường hợp này là hoàn toàn bình thường thế nhưng sẽ bị coi là không nghiêm túc đối với một nền văn hóa khá nghiêm khắc trong công việc như

    Hàn Quốc. Thêm vào đó, hai bên lại không hiểu tiếng nói nhau nên lại càng khoét sâu hơn sự bất đồng. Người công nhân không thể giải thích cho quản lý Hàn Quốc hiểu sự tình và người quản lý cũng không thể thông cảm được khi họ đứng trên quan điểm văn hóa nước họ. Quyết định này của người quản lý đã dẫn đến sự khiếu nại của công nhân.

    Từ ví dụ này có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa có thể rất nhỏ nhưng hậu quả thì nhiều khi không thể lường được. Nếu người quản lý Hàn Quốc hiểu được văn hóa giao tiếp đơn giản này của người Việt thì ông sẽ không đưa ra hình thức phạt nặng như thế. Ngược lại, nếu người công nhân Việt Nam có chút hiểu biết về văn hóa làm việc cũng như ngôn ngữcủa người Hàn Quốc thì nhiều khả năng họ có thể giải thích cho người quản lý hiểu vấn đề và tránh được sự hiểu nhầm không đáng có này.

    2. Thất bại của sản phẩm dầu gội Feather thuộc Tập đoàn Kao

    Như một quy luật từ xưa đến nay, khi một sản phẩm mới ra mắt thị trường muốn chiếm được sự hưởng ứng của khách hàng thì phải có được những đặc tính

    60

    phù hợp với tâm lý thị trường đó. Đó có thể là thói quen tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng cũng như nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Thế giới đã ghi nhận không ít thất bại của nhà đầu tư do không nghiên cứu kĩ thị trường trước khi tung ra sản phẩm. Dầu gội Feather của tập đoàn Kao là một ví dụ.

    Nói đến tập đoàn Kao là nói đến một tập đoàn hóa mỹ phẩm Nhật Bản có danh tiếng ở Châu Á, bao phủ đến cả các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 2007, doanh thu của Kao trên toàn cầu lên đến 1,3 tỷ Yên cho dù phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của không ít hãng mỹ phẩm lớn khác trên thế giới như P&G và Unilever. Sản phẩm của Kao ở Việt Nam gắn liền với những nhãn hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Biore, Laurier… nhưng thành công đã không mỉm cười với dầu gội Feather. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của sản phẩm này ở Việt Nam, trong đó, việc không am hiểu thị trường đóng vai trò chủ yếu nhất. Điều này lý giải tại sao sản phẩm vẫn dành được thành công ở những thị trường khác.

    Năm 2004, nhãn hiệu dầu gội Feather được tung vào thị trường Việt Nam, với niềm tin gần như tuyệt đối của ban quản trị Tập đoàn về sự thành công của nó. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng sản phẩm đã không đánh trúng tâm lý người tiêu dùng để khẳng định vị trí của mình trên thị trường Việt Nam so với các dòng sản phẩm cùng loại của những “đại gia” khác như Sunsilk, Pantene hay Clear… Theo ý kiến của các chuyên gia marketing, nếu một thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường thì phải tạo ra được những lý do thuyết phục người tiêu dùng chấp nhận nó – bao gồm cả lý do cảm tính và lý do lý tính. Nếu cả hai lý do này không cùng mạnh thì một trong hai phải đủ sức vượt lên nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của khách hàng. Feather đã không đáp ứng được cả hai lý do này. Feather được định vị là dầu gội chức năng với công dụng giúp tóc bóng mượt, trong khi đó trên thị trường đã có quá nhiều loại dầu gội cùng được định vị như thế. Vì vậy ấn tượng cảm tính mà sản phẩm mang lại hoàn toàn không có gì đặc biệt. Trong khi đó, đã có rất nhiều nhãn hiệu mang dấu ấn đậm nét trong lòng người tiêu dùng như Enchanteur được nhắc đến với mùi hương quyến rũ, Dove giúp dưỡng ẩm cho tóc hư tổn hay Sunsilk đặc tính trị gàu… Vậy lý do lý tính mà Feather mang lại có đủ

    61

    sức cứu vãn hình ảnh của nó ? Thông điệp mà Feather gửi đến khách hàng là: Nguyên liệu được chiết xuất từ nha đam và hoa đậu biếc. Có thể nói rằng với người tiêu dùng Việt Nam, khái niệm về hoa đậu biếc là hoàn toàn rất lạ lẫm, không mấy ai biết về loài cây này, còn Nha đam giúp tóc bóng mượt và khỏe cũng không đáng tin cậy. Từ xa xưa, người Việt đã biết về một loại cây có chức năng làm tóc khỏe và mượt đó là bồ kết. Đối thủ cạnh tranh của Feather là Sunsilk đã sử dụng hình ảnh loại cây này và hoàn toàn chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Còn Pantene thì đánh vào tâm lý dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến những người xung quanh của người Việt nên đã trưng ra bằng chứng có bao nhiêu người phụ nữ tin dùng sản phẩm của họ. Đây thực sự là những chiêu thức có tác dụng đối với tâm lý thị trường Việt Nam. Tuy vậy, vẫn chưa phải là hết phương cách để lấy lại sự quan tâm của người tiêu dùng đối với Feather. Ông Nguyễn Nam Trung – Chủ tịch công ty Stormeye nhận định rằng: “Khi lý do cảm tính và lý tính không đủ mạnh so với đối thủ, điều cuối cùng thương hiệu có thể cạnh tranh chính là giá”. Vậy nhưng đáng tiếc là Feather đã không chú ý đến phương cách này. Sản phẩm được định giá ngang ngửa so với hai thương hiệu Sunsilk và Pantene đã được thị trường chấp nhận trước đó, điều này không những khiến khách hàng khó lựa chọn và có xu hướng chọn sản phẩm quen thuộc do đặc điểm Tính cẩn trọng cao, mà còn bỏ qua tâm lý “tiền nào của nấy” của đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.

    Ví dụ trên đã cho thấy, khi nhà đầu tư không có những hiểu biết nhất định về thị trường hướng đến thì những khác biệt về thị hiếu tiêu dùng hay tập quán, thói quen của thị trường đó sẽ trở thành rào cản đối với nhà đầu tư. Họ sẽ gặp khó khăn và thậm chí là thất bại trong chiến lược mở rộng kinh doanh của mình.

    3. Khó khăn do bất đồng văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công

    Một rào cản đáng kể trong văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công của Việt Nam đó là sự rườm rà, chậm trễ, cứng nhắc về thủ tục và thái độ chưa đúng mực của nhân viên. Những câu chuyện liên quan đến vấn đề này có vô vàn, người viết xin đưa ra một số trường hợp gần đây nhất để phần nào hình dung được một trong những khó khăn lớn mà các nhà đầu tư vào Việt Nam đang gặp phải.

    62

    Đó là câu chuyện về công ty may mặc Two J Vina (Hàn Quốc), trụ sở tại Đồng Nai, được đăng trên báo TuoitreOnline số ra ngày 26-3-2009. Trong một cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Tỉnh Đồng Nai với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào giữa tháng 3 năm 2009, phó Chủ tịch công ty là ông Dean Park đã phát biểu như kêu cứu rằng: “Xin cấp giấy phép kịp thời để chúng tôi không sa thải thêm công nhân”. Theo chia sẻ của ông Dean Park, công ty được cấp giấy phép thành lập năm 2006 tại xã Suối Tre, Long Khánh, Đồng Nai, chuyên may túi xách, balô để xuất khẩu. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm gần đây đã đặt công ty trước muôn vàn thách thức, có nguy cơ phải thu hẹp sản xuất và sa thải hàng trăm nhân công. Nhà máy có sức chứa trên 600 công nhân của công ty giờ trở nên trống vắng, hai dây chuyền may không có bóng một công nhân nào. Nhưng thật may mắn là công ty đã tìm được đối tác nhập khẩu mới ở Nhật Bản, đặt mua các loại mũ nón. Tuy nhiên, theo giấy phép cũ thì Two J Vina không có chức năng làm mũ nón xuất khẩu nên tháng 9-2008, công ty đã làm đơn xin tăng vốn đầu tư mở rộng thêm chức năng này với hy vọng sẽ cải thiện đáng kể tình hình khó khăn của công ty. Nhưng thật trớ trêu, Sở KH-ĐT Đồng Nai đã không chấp nhận đơn và đề nghị chờ hướng dẫn của Bộ KH-ĐT. Cho đến tận tháng 3 năm 2009, công ty vẫn không nhận được thông tin nào từ Sở, ông Dean Park không khỏi lo âu “Do thị trường túi xách suy giảm, hàng hóa không bán được, chúng tôi đã dự định sa thải công nhân nhưng nhờ hợp đồng mới, hơn 100 công nhân sẽ được chuyển sang dây chuyền sản xuất mũ nón nên chúng tôi phải nấn ná duy trì. Tuy nhiên, đợi giấy phép lâu quá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty, chưa kể phía đối tác dọa bỏ hợp đồng”.

    Trao đổi với phóng viên báo Tuổi trẻ ngày 24-3 [24], bà Bồ Ngọc Thu – Giám đốc Sở KH-ĐT xác nhận lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã đồng ý chủ trương cho Two J Vina được bổ sung chức năng may mũ nón xuất khẩu: “Tỉnh vừa ký quyết định và công văn đang trên đường gửi tới doanh nghiệp” nhưng đại diện Công ty cho biết vẫn chưa nhận được quyết định bổ sung giấy phép. Bà Ngọc Thu không cho rằng Sở KH-ĐT Đồng Nai làm khó doanh nghiệp và giải thích: “Theo nghị định

    • năm 2006, tất cả những nhà đầu tư được cấp giấy phép theo Luật đầu tư nước ngoài cũ đều phải đăng ký lại hoạt động. Nếu không đăng ký lại sẽ không được bổ

    63

    sung chức năng mới. Two J Vina đã không đăng ký lại trước cuối tháng 6-2008 – thời điểm hết hạn đăng ký – nên việc xin bổ sung chức năng luật không cho phép”. Bà Thu còn cho rằng, việc Tỉnh giải quyết cho Two J Vina được bổ sung chức năng là cách làm linh động để giúp doanh nghiệp, giúp người lao động trong lúc khó khăn chung. Tuy nhiên, trường hợp công ty Two J Vina không phải là duy nhất, trên thực tế nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương đều từng vướng quy định này, một số nhà đầu tư đã mất cơ hội kinh doanh vì thời hạn đăng ký lại để mở rộng chức năng đã hết. Rõ ràng quy định này là quá cứng nhắc, bởi vì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể lường trước được sự thay đổi tình hình kinh doanh trong khoảng thời hạn đăng ký để kịp thời đăng ký. Ông Dean Park chia sẻ rằng, doanh nghiệp đã mải lo chuyện làm ăn nên không để ý đến thời điểm hết hạn. Mặt khác, thời điểm đó doanh nghiệp không có nhu cầu mở rộng thêm chức năng vì hoạt động xuất khẩu rất tốt. Đến 50% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn không đăng kí lại, và tính riêng Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp trên tổng hơn 6000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cấp phép thành lập trước năm 2007 tiến hành đăng ký lại (Thống kê của Cục đầu Tư nước ngoài Thành phố năm 2008). Ông Phạm Mạnh Dũng, vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ KH-ĐT đã thừa nhận sự bất cập này và cho biết “Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi cho phù hợp với thực tế, tức là bỏ quy định này không áp dụng nữa”. Nhưng thực sự từ đây cho đến lúc có quyết định, không biết còn bao nhiêu doanh nghiệp phải bỏ lỡ cơ hội đầu tư và đứng trước bờ vực phá sản vì điều kiện kinh tế khó khăn này.

    Cũng trong cuộc gặp gỡ cùng ngày giữa gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn Cần Thơ, bà Nguyễn Mỹ Thuận – tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cần Thơ phản ánh về thái độ làm việc của nhân viên Nhà nước với nhiều bức xúc như sau. Hiện hầu hết các sở ngành ở Thành phố Cần Thơ đều có những website trên cổng thông tin điện tử Thành phố để hướng dẫn các thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khi làm đúng theo hướng dẫn thủ tục trên website nhưng khi nộp lên các sở thì các nhân viên thừa hành lại từ chối vì cho rằng doanh nghiệp

    64

    chưa thực hiện đủ bộ hồ sơ và chứng từ. Đến khi doanh nghiệp trưng ra các nội dung phổ biến có trên website và phản hồi lại thì họ lại nói là do website chưa được cập nhật. “Hệ quả của vấn đề trên làm cho doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian, chi phí và làm giảm sự hài lòng về cách đối xử của nhân viên nhà nước”. Đóng góp thêm vào vấn đề này là rất nhiều kiến nghị của các kiều bào Việt Nam ở nước ngoài

    • Rất nhiều người muốn về quê hương đầu tư nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác tìm hiểu về những thủ tục, chính sách, đến công sở hỏi thì không được hướng dẫn tận tình “Thay vì các viên chức hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thì ngược lại, họ lại làm cho doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức hơn” – ý kiến của ông Nguyễn Đức Ấn, Giám đốc công ty Kim cương Kita tại Tp Hồ Chí Minh. Còn theo ông Hiroshi Hồ, ở nước ngoài, cơ quan hành chính là nơi cung cấp dịch vụ, chứ không phải là nơi để xin – cho. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhiều công chức cho mình là “bề trên” và có quyền “ban phát” cho những người đến liên hệ. Họ làm rất mệnh lệnh, hành chính. Chính sách của Chính phủ thì rất tốt nhưng một số người thực hiện lại lệch lạc.

    Có thể thấy rằng, văn hóa kinh doanh ở bộ phận hành chính công của nước ta thực sự cần phải có những thay đổi. Tình trạng như trên đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây nhiều bức xúc cho các doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước ở Việt Nam. Thủ tục rườm rà, thái độ nhân viên thiếu hợp tác đã làm trì hoãn biết bao dự án đầu tư, không những tiêu tốn thời gian, tiền của, công sức của nhà đầu tư mà còn hạn chế cơ hội tiếp nhận dự án đầu tư của đất nước.

    V. Đánh giá về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Qua quá trình phân tích những ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của các rào cản văn hóa Việt Nam đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, người viết xin đưa ra một số ý kiến đánh giá như sau:

    Có thể nói rằng, ngôn ngữ chính là phương tiện, là chiếc cầu nối để rút ngắn khoảng cách giữa các nền văn hóa khác nhau. Bằng ngôn ngữ, con người tiến hành trao đổi thông tin, truyền đạt những ý tưởng hay tình cảm của mình, từ đó mối quan

    65

    hệ giữa người với người trở nên gần gũi hơn. Trong môi trường kinh doanh quốc tế, sự am hiểu ngôn ngữ địa phương sẽ là chất dầu bôi trơn những mắt xích của quá trình kinh doanh, khiến cho hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi, từ khâu quản lý đến khâu tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức được vai trò quan trọng của ngôn ngữ, người viết cho rằng, bất đồng ngôn ngữ là rào cản lớn nhất trong các rào cản về văn hóa, cản trở sự thâm nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi không có những hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, các nhà đầu tư sẽ gặp một trở ngại đáng trong việc tìm hiểu đặc điểm thị trường. Hiếm có một tài nào về văn hóa địa phương toàn diện hơn tài liệu viết nên từ những con người thật, những câu chuyện thật được thu thập và lưu giữ bằng chính ngôn ngữ của địa phương đó. Nhà đầu tư hiểu được ngôn ngữ của thị trường mình hướng đến nghĩa là đã bước được một bước đến thành công.

    Ngôn ngữ là một yếu tố rất phức tạp nên những rào cản của nó đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng vô cùng phong phú. Trong giới hạn của khóa luận này, người viết chỉ đưa ra một số rào cản tiêu biểu thuộc rào cản ngôn ngữ, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cũng như hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong xu thế phát triển hiện nay, những rào cản về ngôn ngữ đang có xu hướng giảm dần thông qua việc toàn cầu hóa một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Với chiếc cầu nối ngôn ngữ này, những người đến từ các nền văn hóa khác nhau sẽ có cơ hội hiểu biết nhau hơn, từ đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ bản địa cũng dễ dàng hơn. Các nhà đầu tư nước ngoài cần trau dồi vốn ngoại ngữ của mình để có nhiều cơ hội hơn khi thâm nhập một thị trường mới.

    Nếu như ngôn ngữ là sự biểu hiện bên ngoài của những suy nghĩ, hành động, thì tư duy chính là động cơ bên trong dẫn đến những suy nghĩ, hành động này. Tư duy là yếu tố tương đối tĩnh, khó thay đổi, nên một khi đã có sự khác biệt giữa cách tư duy của các nền văn hóa thì con người chỉ còn cách tìm hiểu và chấp nhận sự khác biệt đó mà thôi. Vì vậy, rào cản do khác biệt tư duy cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động đầu tư quốc tế về phương diện quản lý cũng như kinh doanh.

    66

    Môi trường văn hóa kinh doanh là nơi nhà đầu tư có nhiều va chạm văn hóa, ảnh hưởng đến cách quản lý công việc kinh doanh của họ. Làm sao để có cách quản lý phù hợp là băn khoăn lớn của các nhà lãnh đạo trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay. Hiện nay, những bất cập trong khu vực hành chính công đang được Nhà nước phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tiến hành rà soát và cắt giảm những thủ tục không cần thiết. Những kế hoạch cắt giảm này đang cho thấy những hiệu quả đáng khích lệ.

    Dù là công việc kinh doanh gì và trong hoàn cảnh nào thì nguồn nhân lực cũng luôn đóng một vai trò quan trọng. Chất lượng nhân lực sẽ quyết định đáng kể sự thành bại của một tổ chức kinh doanh. Do đó, khác biệt về văn hóa người lao động cũng là một thách thức không nhỏ đối với các nhà đầu tư.

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu thị trường sẽ hạn chế khả năng thích nghi của sản phẩm ở thị trường đó. Rào cản này bao gồm toàn bộ những yếu tố thuộc nhu cầu thị trường. Do đó, có một chiến lược sâu sát, kĩ lưỡng từ những nghiên cứu thị trường đáng tin cậy sẽ giúp nhà đầu tư vượt qua cản trở này.

    Tổng hợp những ảnh hưởng của các rào cản đã phân tích, người viết đưa ra bảng tổng kết tác động của các rào cản văn hóa đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

      Rào cản văn hóa Công tác quản lý Hoạt động kinh doanh
         
             
    Khác   Ngôn ngữ lời nói Phối hợp công việc thiếu Cản trở tìm hiểu thị
    biệt   (từ ngữ,cách nói,lịch ăn ý trường
    ngôn   sự, tình cảm) Hạn chế xây dựng mối Chi phối các chiến lược
    ngữ     quan hệ tốt đẹp với nhau sản phẩm
             
        Ngôn ngữ không lời Cản trở việc xây dựng Ít nhiÒu ¶nh h-ëng ®Õn
        (một cử chỉ có nhiều mối quan hệ tốt đẹp với chiÕn l-îc s¶n phÈm
        ý nghĩa) nhau  
             

    67

    Khác Cách giải quyết vấn Khó khăn để đưa ra cách Quảng cáo sản phẩm
    biệt tư đề (lí tính-cảm tính) quản lý mềm dẻo dựa vào tư duy cảm tính
    duy      
           
      Tư duy nông nghiệp Khó khăn trong việc
        hoạch định chiến lược dài
         
        hạn  
           
    Khác Thị hiếu thị trường Khó khăn trong việc
    biệt thị đa dạng   nắm bắt thị trường
    hiếu tiêu     Chi phí điều chỉnh sản
    dùng     phẩm cao
           
    Khác Bất đồng về phong Khó khăn để quản lý mềm
    biệt văn cách kinh doanh dẻo  
    hóa kinh (mối quan hệ-năng Quản lý nhân lực (tuyển  
    doanh lực) dụng, lương thưởng)  
           
      Rào cản văn hóa Khó khăn trong quá
      khu vực hành chính   trình làm thủ tục, giấy
      công   phép
           
      Khác biệt về văn hóa Hạn chế hiệu quả đảm
      đàm phán (mối quan   phán
      hệ-hiệu quả)    
           
      Bất đồng trong quan Ảnh h-ëng tiÕn tr×nh c«ng C¶n trë c«ng viÖc kinh
      niệm giờ giấc(giờ viÖc chung doanh do giao hµng
      xuất phát-giờ đến   muén
      nơi)    
           
    Khác Khó khăn do trình Khó khăn trong tuyển
    biệt văn độ chuyên môn dụng  
    hóa   Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶  
    người   c«ng viÖc  
           

    68

    lao động Thái độ làm việc Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      chưa đúng đắn (tâm c«ng viÖc  
      lý nhảy việc)    
           
      Tình cảm chi phối Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      công việc c«ng viÖc (thiÕu ý thøc  
        x©y dùng tËp thÓ, néi bé  
        bÊt hßa)  
           

    69

    CHƢƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Triển vọng đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam trong những năm tới

    1. Đánh giá triển vọng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam năm 2010

    Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và sự phát triển kinh tế toàn cầu nói chung. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia quốc tế thì kinh tế Thế giới đang dần hồi phục, kéo theo đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cho rằng, đầu tư quốc tế giai đoạn 2009-2011 sẽ được phục hồi với tốc độ chậm vào năm 2010 và sẽ tăng mạnh vào năm 2011. Cụ thể là ở mức 1200 tỷ USD năm 2009 lên 1400 tỷ USD năm 2010 và đạt mức 1800 tỷ USD năm 2011 ( theo “Triển vọng đầu tư toàn cầu 2009-2012” của WIPS). Tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào việc khôi phục sự tín nhiệm và ổn định hệ thống tài chính thông qua các giải pháp ứng phó với cuộc khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Các chuyên gia cũng nhìn nhận 4 nhân tố được xem là nền tảng cho cuộc khôi phục này đó là: Suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ chấm dứt vào năm 2010; Môi trường đầu tư toàn cầu sẽ được cải thiện dần qua các năm, biểu hiện qua sự tăng lên của mức tin tưởng vào đầu tư nước ngoài từ 22% (2009) lên 33% (2010) và 50% (2011); Hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ bị hạn chế do giá cổ phiếu giữ ở mức thấp; Xu hướng quốc tế hóa các công ty chỉ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn trung hạn về các mặt như số lượng sản xuất, số lượng việc làm, đầu tư và bán hàng ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia… Các nhân tố này được xem là chất xúc tác cho sự phục hồi hoàn toàn dòng vốn đầu tư nước ngoài vào năm 2011 [27].

    Trong xu hướng đi lên của Thế giới, Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực về môi trường đầu tư 2010, hứa hẹn nhiều bước tiến mới về mọi mặt của nền kinh tế. Một số tổ chức Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 ở mức khá cao. Dự báo của IMF và ADB lần lượt là 6% và 6,5%. HSBC

    70

    cũng đưa ra dự báo khả quan với mức tăng trưởng 6,8%. Thậm chí, Goldmen Sachs còn cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng đến 8,2% năm 2010. Viện nghiên cứu kinh tế LG (LGERI) Hàn Quốc đã công bố bản báo cáo về triển vọng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam với nhận xét: “Việt Nam chắc chắn là mảnh đất nhiều cơ hội với tài nguyên thiên nhiên giàu có và tiềm năng phát triển lớn”. Những dấu hiệu tốt về kinh tế Việt Nam còn thể hiện khá rõ qua tâm lý người tiêu dùng. Theo khảo sát của Tập đoàn quốc tế MasterCard tiến hành tháng 10-11 năm 2009, trên 24 nền kinh tế toàn cầu (14 nước châu Á-Thái Bình Dương, 6 nước Trung Đông, 4 nước châu Phi) thì chỉ số niềm tin tiêu dùng (ICC) của Việt Nam dẫn đầu trong 24 quốc gia với mức 90%, bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Cụ thể, ICC ở Hà Nội là 94,6% và Tp Hồ Chí Minh là 85,4%.Những đánh giá đầy lạc quan này đã chứng tỏ hình ảnh Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Khủng hoảng là một thách thức nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam tiến lên gặt hái những thành công.

    Các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng có những nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư Việt Nam thời gian sau khủng hoảng và dự báo phát triển những năm tới. Họ tin tưởng rằng, với những kinh nghiệm giải quyết hậu quả hai cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, đất nước đang kỳ vọng vào sự điều hành của Chính phủ năm 2010 sẽ có nhiều bước phát triển đầy khởi sắc. Những dự báo này dựa trên một số cơ sở là: Sự ổn định về chính trị – xã hội và triển vọng kinh tế tăng trưởng 6,5%; Chênh lệch giữa vốn cam kết và vốn thực hiện sẽ được rút ngắn, các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh thực hiện các dự án đã cam kết, đồng thời các doanh nghiệp FDI sẽ mở rộng hoạt động với nhiều dự án mới; Việc thực hiện cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, AFTA và hướng tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015 cùng với quan hệ song phương với một số nước đã nâng tầm chiến lược, tạo ra thế và lực mới của đất nước trong khu vực và trên Thế giới [12]. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có những thuận lợi đang chờ đón Việt Nam mà cũng phải nhìn vào thực tế là quốc gia vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết, đòi hỏi sự phối hợp một cách chủ động và hiệu quả giữa các đoàn thể, tổ chức và cả cá nhân doanh nghiệp để không bỏ lỡ thời cơ đang đến này.

    71

    2. Mục tiêu và định hƣớng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài trong thời gian tới

    Căn cứ vào những số liệu về nền kinh tế năm 2008 và 2009 cũng như tình hình trong nước và Thế giới gần đây, Hội nghị ngành diễn ra vào tháng 11 năm 2009 đã đề ra những mục tiêu và định hướng kinh tế nói chung và lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài nói riên vào những năm tới như sau.

    Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2010:

    Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP. Chủ trương đối với khu vực Đầu tư nước ngoài là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu về Đầu tư nước ngoài như sau:

    Về thu hút vốn đầu tư vào (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) đạt từ 22-

    • tỷ USD, tăng 10% sơ với thực hiện năm 2009 với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD và vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD.

    Về vốn thực hiện năm 2010 dự kiến sẽ tăng hơn năm 2009 do dòng vốn đăng ký của các năm trước đều ở mức cao và trong điều kiện nền kinh tế Thế giới có xu hướng phục hồi. Dự kiến vốn thực hiện sẽ đạt ở mức 10-11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong đó, vốn của phía nước ngoài dự kiến là 8-9 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009.

    Định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

    Định hướng ngành:

    Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đến năm 2010 và định hướng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: Thúc đẩy

    72

    chuyển giao công nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; gia tăng xuất khẩu, tạo việc lam, phát triển công nghiệp phụ trợ, các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Cụ thể như sau:

    Ngành công nghiệp-xây dựng: Khuyến khích đầu tư về công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…Chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Công nghiệp phụ trợ cũng là lĩnh vực cần quan tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.

    Ngành dịch vụ: Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác như dịch vụ ngân hàng, tài chính, vận tải, bưu chính-viễn thông, y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo…

    Ngành Nông-lâm-ngư nghiệp: Khuyến khích các dự án đầu tư về công nghệ sinh học tạo giống cây trồng, công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sau thu hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật như các công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống giao thông nội đồng…

    Định hướng vùng:

    Trong những năm tới, dự báo vốn FDI vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Cần tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước. Tập trung thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt, góp phần đẩy nhanh thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

    Định hướng đối tác:

    Chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) theo hai hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, phát triển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

    73

    Ba đối tác chính đó là Nhật Bản, Hoa Kỳ, các nước EU. Một số đối tác truyền thống là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore…

    II.               Giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Về phía Nhà nƣớc

    Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm thích đáng đến văn hóa dân tộc. Việc xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, đậm đà bản sắc trở thành mục tiêu lớn mà đất nước theo đuổi bấy lâu. Tuy vậy, trong một nền văn hóa, không chỉ có những điều tốt đẹp có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế mà song song với những điều tốt đẹp ấy là cả những yếu tố tiêu cực, có thể trở thành rào cản đối với sự đi lên của quốc gia. Nhận thức được những yếu tố này và hạn chế nó là một điều không dễ dàng nhưng cũng không phải là không làm được nếu có sự chỉ đạo sáng suốt từ phía Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân. Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, đưa ra các chiến lược và chính sách phát triển cho cả đất nước theo từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy, vai trò của Nhà nước phải được nhắc đến đầu tiên trong việc hạn chế các rào cản văn hóa đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

    Thứ nhất, chú trọng công tác giới thiệu văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Qua quá trình phân tích một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, người viết nhận thấy rằng, những khó khăn mà nhà đầu tư gặp phải chủ yếu do họ chưa hiểu về Việt Nam, chưa có những kiến thức về văn hóa và con người Việt Nam. Chính vì vậy, điều quan trọng nhất là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tư, để họ có thể ý thức được sự khác biệt và có cách để hòa hợp sự khác biệt ấy. Công tác giới thiệu này có thể tiến hành bằng cách:

    Xây dựng một số trung tâm trên các vùng miền, địa phương, chuyên nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ với hoạt động kinh doanh quốc tế. Đây sẽ là nơi thu thập, cập nhật và lưu giữ những tài liệu liên quan đến văn hóa, con

    74

    người, pháp luật, các chủ trương chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam được dịch sang nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Nhà đầu tư đến đây sẽ có cơ hội được tư vấn và hỗ trợ các thông tin liên quan đến môi trường cũng như cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các trung tâm này có thể tồn tại độc lập hoặc trực thuộc các ban ngành liên quan.

    Khuyến khích ra đời các ấn phẩm giới thiệu về văn hóa Việt Nam trên mọi miền đất nước, được dịch sang các thứ tiếng thông dụng và quảng bá trên các trang website liên quan đến hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư không chỉ tìm hiểu thông tin trên các website này mà còn được đưa ý kiến đóng góp, thắc mắc về những điều chưa hiểu về văn hóa Việt Nam.

    Phối hợp với các địa phương tổ chức những buổi giao lưu, học hỏi giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp trên địa bàn, mở rộng cơ hội để họ tiếp xúc và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhau. Những thông tin chi tiết về các cuôc giao lưu này sẽ được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Thứ hai, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

    Hiện nay, Nhà nước đã có nhiều chương trình cải cách thủ tục hành chính trên khắp các địa phương và kết quả đạt được cũng rất khả quan. Những chương trình, kế hoạch tương tự cần được đẩy mạnh hơn nữa, triệt để hơn nữa để sớm cải thiện tình hình bất cập về thủ tục hành chính như hiện nay. Nhà nước cũng cần khuyến khích các địa phương độc lập trong quá trình cải cách thủ tục này bằng cách cho phép họ tự cắt bỏ những thủ tục họ cho là không cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh từng nơi.

    Công tác giám sát kết quả cuộc cải cách này cần được tiến hành minh bạch, thường xuyên, cho phép sự tham gia của giới truyền thông để hạn chế tối đa những bất cập có thể phát sinh như bệnh thành tích, hoặc việc gây khó dễ của cơ quan, cá nhân liên quan.

    75

    Thứ ba, đào tạo những cán bộ, lãnh đạo có khả năng tham gia vào các hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài

    Tăng cường tuyển chọn một cách lành mạnh những cá nhân có năng lực trong kinh doanh quốc tế nói riêng và kinh doanh nói chung để tham gia vào các cơ quan ban ngành liên quan.

    Đẩy mạnh đào tạo các khả năng mềm cho lãnh đạo cũng như nhân viên trong các cơ quan, ban ngành liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Các kỹ năng quan trọng về ngoại ngữ, tin học, đặc biệt là đàm phán, thương lượng.

    Thứ tư, quan tâm hơn đến công tác đào tạo kiến thức và kỹ năng mềm cho lớp trẻ để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay

    Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát hiện và định hướng điểm mạnh của những học viên. Từ đó đào tạo họ để những thế mạnh đó ngày càng phát huy. Muốn thực hiện được điều này, cần có sự cải cách về nội dung cũng như phương pháp dạy học. Mô hình học tín chỉ như hiện nay là một trong những cách làm thiết thực, nhưng cần nhân rộng mô hình này hơn nữa, để sinh viên có cơ hội phát hiện và bồi dưỡng năng lực bản thân mình

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng hơn cho việc giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp học. Điều quan trọng là giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, sau đó là tạo điều kiện để các em có thể học tập tốt bằng việc đầu tư chất lượng giáo trình, giáo viên và phương tiện học tập.

    Các cấp học hiện nay cũng cần bắt đầu đưa vào nội dung giảng dạy các kỹ năng mềm, đặc biệt là cấp đại học. Sinh viên cần có những kiến thức về thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế… Đó là những kỹ năng đang thiếu hụt trầm trọng ở những người lao động Việt Nam hiện nay.

    Thứ năm, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

    Hiện nay công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa thực sự gặt hái được hiệu quả. Bằng chứng là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng giá trị hợp đồng được ký kết, tình trạng soạn thảo hợp đồng còn nhiều bất cập, nhiều vụ

    76

    kiện tụng xảy ra và người thua cuộc đa phần là phía Việt Nam. Việc tuyên truyền pháp luật có thể thực hiện bằng cách:

    Thông qua các kênh thông tin đại chúng như sách, tạp chí, báo chí, các kênh truyền hình để đưa dẫn chứng về những thiệt hại trong kinh doanh do không có kiến thức về pháp luật. Trích dẫn trực tiếp những điều luật thông dụng liên quan đến kinh doanh để người dân, đặc biệt là giới kinh doanh ý thức được tầm quan trọng của luật pháp và hiểu hơn về luật pháp.

    Đưa vào chương trình giảng dạy một cách bài bản hơn cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, có biện pháp để thúc đẩy ý thức tự tìm hiểu của sinh viên bằng cách đưa ra các tình huống bắt buộc học sinh phải tự tìm hiểu qua các tạp chí pháp luật và các địa chỉ cung cấp thông tin về pháp luật Việt Nam cũng như nước ngoài.

    Khuyến khích tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về luật pháp cho giới trẻ, nhằm tuyên truyền cũng như bổ sung kiến thức về luật pháp cho người tham gia.

    2. Về phía doanh nghiệp

    Giải pháp chung cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài là phải ý thức về sự khác biệt văn hóa, tôn trọng sự khác biệt văn hóahòa hợp với sự khác biệt văn hóa đó.

    Bất đồng văn hóa là một thực tế khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc liên văn hóa. Vì vậy, ý thức tìm hiểu về những nét văn hóa đặc trưng của đối tác nước ngoài trước khi gặp gỡ là điều vô cùng quan trọng. Cũng cần nhận thức được rằng, những thông tin tìm được không phải là tất cả nên cần phải đặt mình trong tình trạng cảnh báo về những hành động khó hiểu có thể có ở đối phương, điều này cũng đồng nghĩa với việc chuẩn bị tâm lý trước cho đôi bên trong những tình huống không thể lường trước được. Sau khi ý thức được điều này, cần có thái độ tôn trọng thay vì cảm thấy khó chịu hay lảng tránh. Bởi nếu ở vị trí của đối tác thì những hành động của bản thân mình cũng có thể là điều kì lạ, cần chấp nhận thực tế rằng những nền văn hóa khác nhau sẽ có những cách suy nghĩ và hành động không giống nhau. Tinh thần học hỏi và tôn trọng là những bước cần thiết cho sự phát triển khả năng trau

    77

    dồi vốn văn hóa, vậy nhưng hai yếu tố này vẫn là chưa đủ, cần có sự hòa hợp những khác biệt văn hóa để giải quyết các tình huống khó xử của đôi bên. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phân tích xem trong tình huống đó, ở góc nhìn của nền văn hóa nước bạn thì hành động ấy có nghĩa là gì thay vì vội vàng đánh giá điều đó một cách tiêu cực theo quan điểm của cá nhân mình.

    2.1. Doanh nghiệp Việt Nam

    Thứ nhất, chú trọng việc đào tạo cho người lao động kiến thức về văn hóa kinh doanh các nước đối tác

    Tổ chức các buổi tìm hiểu về văn hóa kinh doanh các nước bạn hàng để có những điều chỉnh nhất định về cách thức kinh doanh với từng đối tượng sao cho thích hợp.Những hiểu về văn hóa con người và thị trường đối tác càng nhiều thì khả năng thành công càng nhân lên.

    Đặc biệt, trước những cuộc gặp gỡ đối tác nước ngoài, phải nghiên cứu kĩ về văn hóa của họ để có sự chuẩn bị về tinh thần cũng như vật chất cho cuộc gặp gỡ. Đó là những đặc điểm đặc trưng nhất về con người, cách suy nghĩ, cách ứng xử, những điều cấm kị, sở thích, thị hiếu, những mối quan tâm… Nếu không sử dụng tốt ngôn ngữ đối tác thì phải tìm một phiên dịch thích hợp, có sự am hiểu về văn hóa đôi bên, nên trao đổi trước với người này nội dung sắp tới để họ chuẩn bị vốn từ cũng như cách ứng xử phù hợp.

    Khuyến khích người lao động mở rộng kiến thức chuyên môn cũng như những hiểu biết văn hóa thông qua các chuyến công tác hay học tập ngắn ngày ở nước ngoài.

    Tích cực tham gia các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hóa do các cơ quan, đoàn thể tổ chức. Bản thân doanh nghiệp cũng có thể đứng ra tổ chức và kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp khác trên địa bàn.

    Thứ hai, nâng cao kiến thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật ở các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

    78

    Tổ chức những khóa học ngắn hạn trong nội bộ doanh nghiệp để người lao động ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững luật pháp, từ đó, chủ động củng cố kiến thức cho bản thân mình.

    Phổ biến những kiến thức pháp luật có được vào môi trường làm việc, để các cá nhân quen với phong cách làm việc theo pháp luật. Nhất là ở khâu soạn thảo hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giải quyết những tranh chấp có thể phát sinh.

    Thứ ba, xây dựng văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp

    Không nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có được những quan điểm đúng đắn về văn hóa kinh doanh. Đa phần doanh nhân không ý thức được rằng, xây dựng cho mình một nét văn hóa riêng bền vững cũng đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Một nền văn hóa kinh doanh đặc thù, tiên tiến sẽ củng cố niềm tin cho đối tác và góp phần làm giảm những rào cản văn hóa khi có sự hợp tác với nước ngoài. Có thể xây dựng văn hóa kinh doanh bằng cách:

    Cá nhân người lãnh đạo phải xây dựng cho mình nét văn hóa riêng. Nét văn hóa này hội tụ tất cả các yếu tố thuộc năng lực, đạo đức kinh doanh, tư tưởng kinh doanh, phong cách quản lý, thái độ đối với đồng nghiệp, cách xây dựng mối quan hệ… Nét văn hóa này quyết định văn hóa chung của cả doanh nghiệp.

    Mỗi thành viên trong doanh nghiệp cần đoàn kết, tích cực hợp lực để xây dựng văn hóa riêng cho doanh nghiệp mình. Đầu tiên là phải trau dồi kiến thức cần thiết cho chuyên môn. Sau đó phải định hướng tư tưởng đúng đắn về công việc, xác định phong cách làm việc, cách trao đổi và xây dựng mối quan hệ với nhau. Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra những chương trình, kế hoạch hoạt động chung trong đó ghi rõ vai trò, nhiệm vụ của các thành viên. Đặc biệt, định hướng quan điểm kinh doanh rõ ràng để cả tập thể cùng hướng tới.

    2.2. Doanh nghiệp nƣớc ngoài

    Thứ nhất, tìm hiểu về văn hóa Việt:

    Điều đầu tiên nhà đầu tư nước ngoài phải làm sau khi quyết định đầu tư sang Việt Nam là dành thời gian tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Đây là một việc rất cần

    79

    thiết, quyết định phần lớn công việc kinh doanh của họ ở nước ngoài. Họ có thể nghiên cứu về con người, những phong tục tập quán, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động hay những sở thích và cả những điều kiêng kị qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, phim ảnh, website.

    Tham khảo ý kiến của những người có hiều biết về văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, nếu có những người bạn có kinh nghiệm sống và làm việc ở đây thì lời khuyên của họ là những điều thực sự quý giá. Bởi đó là những người đã trải qua thành công hay thất bại ở đất nước này, họ hiểu hơn ai hết nền văn hóa của họ và sự khác biệt giữa nền văn hóa đó với nền văn hóa của đất nước họ đang sống.

    Thứ hai, những lưu ý khi đàm phán với người Việt Nam

    Cũng như phía Việt Nam, nhà đầu tư cần chuẩn bị kĩ các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong đàm phán của người Việt. Đó là cách họ đàm phán, ý nghĩa của những ngôn ngữ không lời, quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng. Những hiểu biết này sẽ giúp nhà đầu tư tránh được những bất đồng văn hóa có thể nảy sinh.

    Dù có kiến thức về ngôn ngữ Việt, nhà đầu tư vẫn nên tìm một người phiên dịch am hiểu cả ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam để đảm bảo sự chính xác trong quá trình phiên dịch.

    Thứ ba, học tiếng Việt hiểu biết hơn về văn hóa Việt Nam

    Dành thời gian tiếp xúc với người Việt và học cách họ nói với nhau từ những từ ngữ đơn giản nhất. Đôi khi, chỉ một chào bằng tiếng Việt cũng có thể khiến cho khoảng cách khác biệt văn hóa được rút ngắn.

    Kết bạn với những người Việt Nam là cơ hội nâng cao trình độ tiếng Việt cũng như những hiểu biết quý giá về văn hóa địa phương.

    3. Về phía ngƣời lao động

    Thứ nhất, sớm phát hiện năng lực của bản thân để có định hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực đó ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Định hướng này giúp người lao động đưa ra quyết định đúng đắn cho công việc tương lai của mình,

    80

    mở rộng cơ hội thành công và hạn chế được phần nào tình trạng nhảy việc đang diễn ra phổ biến hiện nay.

    Thứ hai, nâng cao trình độ ngoại ngữ và những kỹ năng mềm

    Cần ý thức được vai trò của ngoại ngữ trong thời đại hiện nay để có những động cơ học tập đúng đắn, nghiêm túc, mang lại hiệu quả trong học tập.

    Chủ động tìm hiểu về văn hóa của quốc gia sử dụng ngoại ngữ đó để hiểu sâu hơn và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ đang học. Cần ý thức được rằng, ngôn ngữ là sự biểu hiện của văn hóa, văn hóa chi phối ngôn ngữ, học một ngôn ngữ đòi hỏi phải học cả văn hóa quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó.

    Rèn luyện những kỹ năng mềm cho bản thân như thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế, trên tinh thần tự giác, chủ động.

    Thứ ba, có thái độ đúng đắn đối với công việc

    Người lao động cần ý thức được vai trò của mình trong tập thể. Nếu cả công ty là một dây chuyền thì mỗi cá nhân là một mắt xích trong dây chuyền đó. Mỗi người đảm nhận một chức năng, nhiệm vụ riêng, có những đóng góp nhất định cho tập thể. Với vai trò này, họ phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng công việc mình đang làm cũng như đóng góp của những người xung quanh.

    Người lao động cần phát huy cao tinh thần xây dựng đối với bản thân cũng như tập thể. Thẳng thắn nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, bền vững, từ đó bảo đảm được lợi ích cho từng cá nhân.

    81

    KẾT LUẬN

    Rào cản văn hóa là những cản trở khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc giữa những nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là trong thời kì hội nhập đang ngày càng mở rộng như hiện nay. Khắc phục những cản trở này không phải là chuyện một sớm một chiều, mà là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự chủ động hợp tác giữa cả hai phía – phía Việt Nam cũng như các đối tác đến từ quốc gia khác. Một khi cả hai bên đều xây dựng ý thức về những khác biệt này và có sự tôn trọng, hòa hợp sự khác biệt thì những bất đồng văn hóa sẽ giảm đi và việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác đôi bên không còn là vấn đề quá khó khăn nữa. Cũng phải thừa nhận rằng, đồng hành với việc hạn chế những rào cản về văn hóa này, Việt Nam đang tiếp thu những nét đẹp văn hóa của các nước bên ngoài và khắc phục dần những vấn đề chưa tốt của bản thân, các nước cũng nhìn nhận được những điểm đáng trân trọng của văn hóa, con người Việt Nam – những truyền thống tích cực đáng được gìn giữ và phát huy trong thời đại toàn cầu hóa này.

    82

    PHỤ LỤC

    PHIẾU ĐIỀU TRA

    Về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Dành cho người Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Phiếu điều tra này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong một công trình nghiên cứu của trường Đại học Ngoại Thương, ngoài ra không dùng cho bất cứ mục đích nào khác. Chúng tôi rất mong các bạn bớt chút thời gian để trả lời một số câu hỏi sau đây. Sự hợp tác của các bạn sẽ giúp chúng rồi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn.

    Họ và tên ngƣời trả lời:

    Nơi công tác hiện nay tại Việt Nam:

    Xin vui lòng chọn phương án mà bạn cho là thích hợp.

    Câu hỏi 1. Bạn có kinh nghiệm làm việc với các đối tác nƣớc ngoài trong thời gian:

    <= 1 năm                                        > 1 năm,< 2 năm                                      > 2 năm

    Câu hỏi 2. Đối tác của bạn phần lớn là ngƣời thuộc Châu lục:

     

    Châu Á

    Châu Âu

    Châu Mỹ

    Khác ( vui lòng ghi

    rõ)

    Câu hỏi 3. Bạn thực sự muốn làm việc với đối tác nƣớc ngoài đến từ Châu lục nào sau đây:

    Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Khác ( vui lòng ghi rõ )

    83

    Câu hỏi 4.Xin vui lòng cho biết lý do khiến bạn muốn làm việc với họ:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Câu hỏi 5. Theo bạn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sang Việt Nam thƣờng gặp những khó khăn do:

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Khác (xin vui lòng nêu rõ)

    Câu hỏi 6. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (xin vui lòng nêu rõ).

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Câu hỏi 7. Nếu xét riêng về rào cản văn hóa, theo bạn có thể có những yếu tố nào thuộc văn hóa có thể là rào cản khi đầu tƣ sang Việt Nam

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    84

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Câu hỏi 8. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Câu hỏi 9. Bạn có biết trƣờng hợp thất bại nào của nhà đầu tƣ khi đầu tƣ sang Việt Nam do rào cản văn hóa gây nên? Xin hãy chia sẻ với chúng tôi

    Không

    Có (xin vui lòng cho biết thông tin ngắn gọn về dự án đó)

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    Câu hỏi 10.Từ kinh nghiệm thực tiễn và bản thân, bạn có cách khắc phục nào để hạn chế tối đa sự ảnh hƣởng do rào cản văn hóa Việt Nam gây ra? Xin vui lòng ghi rõ

    ……………………………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ……………………………………………………………………………………….

    85

    Xin chân thành cảm ơn bạn đã hợp tác với chúng tôi hoàn thành phiếu điều tra này

    Questionnaire on Vietnamese cultural barriers that impact on foreign investors (For Foreign investors in Vietnam)

    This questionnaire is part of research project monitored by the Hanoi Foreign Trade University. It is designed to investigate how aspects of Vietnamese culture impact on foreign investments in this country. I would be very grateful if you could spend some time to complete this questionnaire. Your cooperation is very much appreciated. All responses will remain confidential.

    Company’s Country of origin:

    Location in Vietnam:

    Kind of business:

    Please answer these questions and feel free to add any comments if appropriate.

    Q1. How long have you been doing business in Vietnam?

    <= 1 year                              > 1 year                             < 2 years                          > 2 years

    Q2. Apart from Vietnam, is your company represented in any other foreign country?

    Yes                                            No

    If yes, please specify:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q3. What do you believe were the main factors that attracted your company to Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    86

    87

    Q4. Please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult: (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3-sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Local administration

    Cultural differences

    Availability of suitable human resources

    Local infrastructure

    Local legal system

    Others (please give details)

    Q5. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q6. In terms of specific cultural differences, please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult:

    (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3- sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Language

    Dealing with problems

    Local consumer tastes

    Business culture

    Employees working culture

    Others (please give details)

    Q7. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    88

    Q8. Are you aware of any unsuccessful investments in Vietnam which could be directly attributed to problems of cross-cultural barriers?

    No

    Yes (Please share briefly some details about that project – no names necessary)

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q9. What would you suggest are the three most important things that foreign investors should be aware of before setting up business in Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Thank you

    89

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tiếng Việt

    • Nguyễn Hoàng Ánh – Luận án tiến sĩ, 2004, Vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế và vẫn đề xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, Tr.120
    • PTS Ngô Xuân Dân, PTS Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Quan hệ kinh tế Quốc tế, NXB Hà Nội.
    • Fons Trompenaars with Charles Hampden-Tuner, 2009, Chinh phục các đợt sóng văn hóa, Công ty sách Anpha.
    • Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục.
    • Hồ Chí Minh, 1995, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
    • Trần Nhâm (chủ biên), 1995, Có một Việt Nam như thế – Such is Vietnam, NXB Chính trị Quốc gia (Việt Nam) – Công ty Truyền thông và xuất bản Ishou (Singapore).
    • Hoàng Phê (chủ biên), 1997, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
    • Schaefer Richard T, 2005, Xã hội học, NXB Thống kê.
    • Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, 1995, sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐH TH TP Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Thị Ngọc Thủy, 2007, Những tác động của môi trường văn hóa đến Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Ngoại Thương.
    • Giáo trình Đầu tư nước ngoài, 2006, Trường Đại học Ngoại Thương.
    • Vũ Quang Tuấn, Bộ KH-ĐT, 2010, Kỳ vọng đổi mới và những vấn đề cần lưu ý, Tạp chí Tài chính.
    • Trần Quốc Vượng,2008, sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục.

    Văn bản pháp luật

    • Luật Đầu tư nước ngoài năm 2005.
    • Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005.

    Tài liệu tiếng Anh

    90

    • Hall And Hall, 1996, Understanding Cultural Difference.
    • Ashwill with Thai Ngoc Diep, 2005, Vietnam Today – A Guide to a Nation at a Crossroads, A Nicholas Btraley Publishing Company.
    • The Peace Corps – Cross-Culture workbook, Culture Matters, US Government printing office, Tr. 242

    Websites

    [19]http://vietbao.vn/Giao-duc/37-sinh-vien-tot-nghiep-khong-tim-duoc-viec/10972914/202/

    [20]http://www.amnet.com.vn/tin-tuc/gia-cong/Gia-cong-phan-mem-tai-thi-truong-Nhat-Ban-Rao-can-lon-nhat-la-nhan-luc-ngon-ngu.aspx,

    [21]http://www.marketingchienluoc.com/index.php?option=com_content&task=vie w&id=1760

     

    [25]http://www.tinmoi.vn/DN-kieu-bao-lsquochun-tayrsquo-vi-thu-tuc-hanh-chinh-

    1177879.html

    [26]http://danluan.org/node/267

    [27]http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30066 &cn_id=393467#m3twggaZcDNM

    [29]http://fia.mpi.gov.vn/Default.aspx?ctl=Article2&TabID=4&mID=274&aID=84

    7

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-nhi%E1%BB%81u-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Lời nói đầu

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loại, những cống hiến và những phát minh vĩ đại của các bậc thế hệ đi trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đi trước. Khi đó đầu tư nước ngoài có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoài, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    em chọn đề tài: Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    – – 1

    NôI dung

    I Một số vấn đề về cơ sở lí luận.

    1.                 Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai

    hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái tăng tính lệ thuộc với bên ngoài.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên

    – – 2

    doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3.Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    4.Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

     

     

     

    • – 3

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoài đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

    phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp

    hoá – hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoài tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.

    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng

    đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều

    – – 4

    kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    5.Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước

    – – 5

    ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI ở Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    – – 6

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    ở Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác

    – – 7

    trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực. Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh

    trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    1. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước. Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho

    CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng

    – – 8

    kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    II. Thực trạng và GiảI pháp

    1/ Thực trạng:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo

    nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ

    – – 9

    những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chính phủ quan tâm và chỉ đạo.

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu

    và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.

    1. Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công
    • -10

    nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để

    phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế

    – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát

    triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực
        TriệuUSD hiện
          Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
        – -11  
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức

    – -12

    100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai

    – -13

    thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng Tỷ lệ
    T   án số %vốn án số vốn %vốn
          vốn        
                   
    1 Công nghiệp chế biến 285 2328 39,6 1291 13008 40,5
                   
    2 Công nghiệp khai thác 25 1124 19,1 79 2184 6,8
                   
    3 Xây dựng 14 16 0,3 259 8228 25,6
                   
    4 Khách sạn và du lịch 86 1276 21,8 161 3650 11,4
                   
    5 Giao  thông  và  bưu 34 456 7,8 102 1465 4,6
      đIện            
                   
    6 Nông –lâm nghiệp 81 239 4,1 54 316 1,0
                   
    7 Ngư nghiệp 32 90 1,5 47 206 0,6
                   
    8 Các nghành khác 68 336 5,8 327 3045 9,5
                   
      Tông cộng 625 5865 100 2320 32102  
                   

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là

    – -14

    nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án   Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ       đầu tư (%) (%)
               
    Singapore 181   9,4 6447 20
               
    đàI loan 309   16 4268 13,3
               
    Hồng công 184   9,5 3734 11,6
               
    Nhật bản 213   11 3500 11,4
               
    Hàn quốc 191   9,9 3154 9,8
               
      -15    
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn

    1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3      Khó khăn và thách thức

    – -16

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu

    vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đại đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    – -17

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    2.                 giảI pháp cụ thể nhằm thu hút vốn đầu tư.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình

    – -18

    trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành: luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dài hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoài nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đại bàn, dài hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo điều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phải quản lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơi vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến

    – -19

    chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lại vốn vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất

    – -20

    lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển

    – -21

    những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    • -22

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    – -23

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)    Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    – -24

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoài

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi

    – -25

    của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    – -26

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với

    những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp

    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của

    bên Viêt Nam.

    – -27

    phần C: kết luận

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ điểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phải thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cải thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phải thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoài vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    – -28

    Đầu tư nước ngoài tự nó chưa phải là giải pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoại là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoài (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoài cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đi lại , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãi… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoài. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoại giao, kinh tế – kỉ thuật, điều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môi trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giải pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua môi trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phải tập trung giải quyết các giải pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giải pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dài. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    – -29

    – -30

    TàI liệu tham khảo.

    • Những giải pháp chính trị- kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.(1996)
    1. Lê nin toàn tập : Tập 29- chượng II
    1. Những vấn đề về hội nhập kinh tế.
    1. Kinh tế châu á – Thái bình dương (số 1. 2-2002)
    1. Kinh tế và dự báo số (2/2003) số 3/2001,số 9/2003
    1. TàI chính số 8/2001
    1. Thương mạI số 40/2000
    1. Tạp chí xây dựng số 7/ 2001
    1. Kinh nghiệm huy động cho phát triển cao của Nhật Bản.
    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: kết quả và giải pháp thúc đẩy( số 10-2000)

     

    1. Văn kiện Đại hội Đảng VII.VIII
    1. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
    1. Phát triển kinh tế.
    1. Nghiên cứu – lý luận số 4/ 1999.

    – -31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Quy định về thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế không chỉ đem lại nguồn lợi rất lớn cho các nước đầu tư mà còn đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì Việt Nam không thể không nhờ đến sự đầu tư về vốn cũng như công nghệ kỹ thuật, tổ chức quản lý tiên tiến của các nước trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ. Như vậy, đầu tư nước ngoài có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Để làm rõ ta đi phân tích tác động của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt nam.

     

    NỘI DUNG

    Kinh tế xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tiêu cực của kinh tế thế giới cộng với những hạn chế của nội tại nền kinh tế dẫn đến những bất ổn của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các bộ, ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nền kinh tế nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì mức tăng trưởng khá. Khu vực đầu tư nước ngoài với tỷ trọng chủ yếu là phần vốn FDI vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan, thể hiện trên các mặt sau:

    • Thứ nhất, vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD đã đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011. Trong bối cảnh thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ, đầu tư của khu vực nhà nước tiếp tục suy giảm, thì đây là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển.
    • Thứ hai, mặc dù vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt 14,7 tỷ USD, nhưng vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đã cấp phép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD). Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư tại Việt Nam vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
    • Thứ ba, cơ cấu vốn đăng ký đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng thu hút FDI, đó là tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng – chiếm 76,4% (cao hơn so với năm 2010 là 54,1%); kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 5,8% vốn đăng ký (so với năm 2010 là 34,3%).
    • Thứ tư, xuất khẩu đạt tăng trưởng khá, ước đạt 54,46 tỷ USD (kể cả dầu thô), chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tăng 39,3% so với năm 2010) – cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước (26,1%). Chính sự tăng trưởng cao của xuất khẩu khu vực FDI đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2011 của cả nước lên mức 33,3% và góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010.
    • Thứ năm, thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) cũng có sự tăng trưởng, ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm trên 19% tổng thu nội địa (tăng 15% so với năm 2010). Riêng thu từ dầu thô ước đạt 4,8 tỷ USD, vượt dự toán năm gần 44%.

    1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam giai đoạn 2001 – 2011

    1.1 Vốn và số dự án đăng ký, thực hiện

    Từ khi nước ta thực hiện chủ trương đổi mới (từ năm 1986 đến nay) đã trên 20 năm, với chính sách mở cửa hội nhập, đẩy mạnh giao lưu kinh tế, hợp tác giữa với các quốc gia, khu vực trên thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và thu hút vốn đầu tư nhiều hơn. Việc gia nhập WTO thành công là một cơ hội lớn để nước ta có thể thu hút lượng vốn đầu tư lớn, hội nhập kinh tế thế giới dễ dàng hơn.

    Nhịp độ thu hút FDI nhìn chung có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 2008 trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của các quốc gia lớn, nhỏ trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Kết quả tổng vốn đăng ký năm 2009 đã giảm đi nhiều so với năm 2008 và có xu hướng giảm đến năm 2011.

    Tình hình vốn FDI thực hiện có xu hướng tăng lên về số lượng. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần đánh giá tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký để có thể biết được mức độ đóng góp thực tế của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế. Tức là qua tỷ lệ này cho biết các dự án đầu tư được thực hiện trong thực tế là bao nhiêu, sự đóng góp của chúng vào nền kinh tế của Việt Nam. Hay nói khác đi điều này sẽ phản ánh chất lượng, mức độ triển khai dự án.

     

    Biểu 01: Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký (2001-2011)

    Năm Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) Tổng số vốn
    thực hiện
    (Triệu đô la Mỹ)
    Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký
    2001 555 3142.8 2450.5 77.97
    2002 808 2998.8 2591.0 86.40
    2003 791 3191.2 2650.0 83.04
    2004 811 4547.6 2852.5 62.73
    2005 970 6839.8 3308.8 48.38
    2006 987 12004.0 4100.1 34.16
    2007 1544 21347.8 8030.0 37.62
    2008 1557 71726.0 11500.0 16.03
    2009 1208 23107.3 10000.0 43.28
    2010 1237 19886.1 11000.0 55.32
    2011 1186 15598.1 11000.0 70.52

    Qua các năm tỷ lệ số vốn đầu tư trực tiếp thực hiện so với số vốn đầu tư trực tiếp đăng ký có xu hướng tăng. Trong các năm 2001 đến 2004, tỷ lệ vốn thực hiện là khá cao, cho thấy hiệu quả triển khai các dự án khá tốt. Đến năm 2005 – 2008 tỷ lệ vốn thực hiện giảm dần, năm 2008 tỷ lệ vốn thực hiện thấp nhất, chỉ đạt 16,03%. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được tương tự như đối với tình hình tăng giảm số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Năm 2008, không chỉ có tổng số vốn đầu tư đăng ký giảm mà tỷ lệ thực hiện các dự án cũng giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Từ năm 2009 đến 2011, tổng vốn đăng ký có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký lại tăng lên đáng kể. Nguyên nhân có thể do các dự án đầu tư khả thi hơn, có thể thực hiện trong điều kiện nền kinh tế trong nước và thế giới đang dần phục hồi sau khủng hoảng, hiệu quả của các chính sách kinh tế mà Việt Nam sử dụng (2 gói kích cầu năm 2009).

     

    1.2 Cơ cấu vốn đầu tư

    1.2.1 Các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    Biểu 02: Tình hình vốn đầu tư của các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    (tính đến 31/12/2011)

    TT Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*)
    1 Nhật Bản 1555 24381,7
    2 Hàn Quốc 2960 23695,9
    3 Đài Loan 2223 23638,5
    4 Xin-ga-po 1008 22960,2
    5 Quần đảo Vigin thuộc Anh 503 15456,0
    6 Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 658 11311,1
    7 Ma-lai-xi-a 398 11074,7
    8 Hoa Kỳ 609 10431,6
    9 Quần đảo Cay men 53 7501,8
    10 Thái Lan 274 5853,3

     

    (*) Gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Theo số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp Nhật Bản đạt 4,68 tỷ USD, tương đương hơn 49% tổng FDI của cả nước. Kết quả này đã đưa Nhật trở thành nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam hiện nay.

    Theo số liệu của Cơ quan Xúc tiến ngoại thương Nhật (Jetro), kể từ sau cú đột phá năm 2008, lượng dự án của doanh nghiệp nước này  được cấp phép tại Việt Nam tăng liên tục từ 77 (2009) lên 208 (2011). Kể từ 2010, giá trị FDI hằng năm được đưa từ Nhật vào Việt Nam hầu như đều đạt trên 1,85 tỷ USD, trong khi suốt giai đoạn 1992 – 2009 (ngoại trừ 2008), con số này thường xuyên ở dưới mốc 500 triệu USD. Các doanh nghiệp Nhật cũng được xem là “người đi đầu” trong việc đưa vốn vào lĩnh vực chế biến – chế tạo, vốn đang được Chính phủ Việt Nam khuyến khích. Theo đó, trong tổng số hơn 1.700 dự án FDI của Nhật tại Việt Nam hiện nay, có tới hơn 990 trường hợp thuộc lĩnh vực này, với tổng vốn ước khoảng 23,3 tỷ USD (tương đương hơn 81%). Sau Nhật Bản là Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan là 3 nhà đầu tư lớn vào Việt Nam với số vốn xấp xỉ so với Nhật (trên 20 triệu Đôla Mỹ).

    1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    Một nội dung khác phản ánh cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp trong nền kinh tế đó là cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế. Dựa trên số liệu về số dự án và vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011 ta có thể dễ dàng tính toán số vốn bình quân 1 dự án trong biểu 03. Số liệu trong bảng được sắp xếp theo số dự án của các ngành theo thứ tự từ cao đến thấp.

    Biểu 03: Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011)

    TT Ngành Số dự án Vốn đăng ký                   (Triệu USD) (*) Vốn bình quân 1 dự án (Triệu USD)
      Tổng số 13440 199078.9  
    1 Công nghiệp chế biến, chế tạo 7661 94675.8 12.358
    2 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 1162 976.1 0.840
    3 Xây dựng 852 10324.1 12.117
    4 Thông tin và truyền thông 736 5709.5 7.757
    5 Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 690 2119.1 3.071
    6 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 495 3264.5 6.595
    7 Hoạt động kinh doanh bất động sản 377 48155.9 127.734
    8 Vận tải, kho bãi 321 3256.8 10.146
    9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 319 10523.3 32.988
    10 Giáo dục và đào tạo 154 359.2 2.332
    11 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 131 3602.6 27.501
    12 Hoạt động khác 114 711.5 6.241
    13 Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 107 188.0 1.757
    14 Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 76 1081.9 14.236
    15 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 75 1321.6 17.621
    16 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí 72 7391.6 102.661
    17 Khai khoáng 71 3015.5 42.472
    18 Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 27 2401.9 88.959

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Qua biểu ta thấy ngành công nghiệp chế tạo thu hút được số vốn đăng ký cao nhất trong các ngành kinh tế với 7661 dự án, tổng số vốn lên tới 94675,8 triệu USD, tiếp đến là hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ với 1162 dự án nhưng vốn kinh doanh chỉ chiếm 976,1 triệu USD. Trong khi đó xây dựng có số dự án là 852 nhưng vốn đầu tư gấp gần 10 lần so với hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ.

    Có thể thấy số vốn bình quân của các dự án thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ rất thấp và thấp nhất trong số tất cả các ngành. Điều này có vẻ như là một dấu hiệu không tốt đối với sự phát triển bền vững lâu dài của nền kinh tế. Bởi chỉ khi nắm trong tay những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, những phương thức sản xuất hiện đại, có nghiên cứu đào sâu chuyên môn thì việc phát triển kinh tế bền vững mới thực hiện được. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản nổi bật với số dự án hạn chế (chỉ xếp thứ 7 trong các ngành kinh tế) nhưng số vốn đầu tư thì rất lớn và cũng do vậy số vốn bình quân 1 dự án cũng rất lớn chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo địa phương

    Từ số liệu của Tổng cục thống kê về cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương năm 2011 ta có thể đưa ra tỷ trọng vốn đầu tư của 6 vùng kinh tế của nước ta minh họa trong đồ thị dưới đây:

    Đồ thị 03

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Nhìn vào đồ thị có thể thấy vốn đầu tư cho vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm tỷ trọng chủ yếu. Các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có ít vốn đầu tư. Đặc biệt khu vực Tây Nguyên tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 0,08% so với tổng số vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Nguyên nhân chính do các vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường có điều kiện cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó có thể phát triển kinh tế, không hấp dẫn các nhà đầu tư. Mặc dù vậy chính những vùng kinh tế này rất cần vốn đầu tư để có thể phát triển. Đất nước ta đã và đang cố gắng phát triển các chính sách nhằm giúp phát triển kinh tế ở các vùng này.

    2. Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt nam

              Đầu tư gián tiếp nước ngoài FII (Foreign Indirect Investment) là các khoản vốn đầu tư nước ngoài thực hiện qua các định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực tiếp vào cổ phần, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhất định) hoặc sự an toàn của các chứng khoán họ đầu tư (với một mức lợi tức nhất định). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao vai trò quản ký của nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.

    Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt nam với sàn giao dịch đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000 và sàn giao dịch Hà Nội vào tháng 3 năm 2005 cùng với sự phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đã giúp Việt nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy trong 3 năm (2002-2005) và 10 tháng đầu năm 2006 đã có khoảng 23 quỹ có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập mới ở Việt nam với tổng số vốn trên 1,6 tỷ USD, nâng tổng số vốn FII trên 2,4 tỷ USD. Mặc dù tăng trưởng một cách đáng kể nhưng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn 4,5% trên GDP Việt nam và chỉ bằng 42,1% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2005.

    • Năm 2006 đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng đổ vào Việt nam đạt 1,3 tỷ USD, tăng mạnh so với mức 861 triệu USD của năm 2005 do quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp đã thông thoáng theo hướng nâng cao tỷ lệ tham gia đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài lên 49% và sự kiện Việt nam tham gia vào WTO đã mở ra một cơ hội lớn cho Việt nam trong phát triển kinh tế.
    • Năm 2007, các nhà tài trợ quốc tế đã đưa ra mức tài trợ lớn chưa từng có cho Việt nam, tới trên 4,5 tỷ USD. Qua đó đã làm thị trường chứng khoán nóng lên. Tuy nhiên chưa có dấu hiệu nào cho thấy vốn đầu tư gián tiếp ngăn hạn của nước ngoài vào nhiều, tỷ lệ đó chỉ khoảng 1% là không đáng kể.
    • Năm 2008, do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra tác động đến thị trường chứng khoán do tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư, dòng vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán giảm khiến FII ròng giảm mạnh so với năm 2007.
    • Năm 2009, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến FII vào Việt nam. Vốn FII rút ra khỏi Việt nam trong 10 tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và đạt khoảng 600 triệu USD (tương đương dòng vốn rút ra năm 2008).
    • Trong năm 2010, mặc dù có nhiều biến động trong năm nhưng khác với những năm trước lượng vốn thường được rút ra khỏi Việt nam thì cả năm 2010 tổng mức vốn thuần vào Việt nam khoảng 1,1 tỷ USD.

    3. Tác động của đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với nền kinh tế Việt nam

    3.1 Tác động tích cực

    – Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế

    Công thức tính GNP theo phương pháp luồng sản phẩm như sau:

    GNP = GDP ± NIA

    = C + I + G + NX ± NIA

    Trong đó

    C: Tiêu dùng cá nhân về hàng hóa, dịch vụ

    I: Tổng đầu tư trong nước

    G: Chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ

    NX: Xuất khẩu ròng

    NIA: Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài

    Từ công thức tính GNP có thể thấy ngày được đóng góp của bộ phận I (đầu tư) vào sự tăng trưởng của thu nhập quốc dân của một quốc gia. Trong đó có sự đóng góp của đầu tư nước ngoài. Như vậy tốc độ tăng trưởng của GNP cũng có thể được sử dụng như một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế. Cụ thể, tại Việt Nam,theo số liệu thống kê từ năm 1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Cùng với sự tăng lên của GNP này là sự tăng lên của vốn đầu tư nước ngoài qua các năm như đã phân tích ở trên.

    – Đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm

    Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005. Đặc biệt,  một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ này đạt đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.

    Giá trị sản xuất xây dựng năm 2011 theo giá thực tế cả nước ước tính đạt 676,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 119,6 nghìn tỷ đồng; khu vực ngoài nhà nước đạt 529,4 nghìn tỷ đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 27,4 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 và bằng 34,6% GDP (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện năm 2011 bằng 90,6% năm 2010), bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 309,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%.

    ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…

    – Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào Ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô: Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005 – 2010. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc.

    3.2 Tác động tiêu cực

    Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng hoạt động ĐTNN tại Việt Nam còn những mặt hạn chế như sau:

    – Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ:

    Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài. VD: Đầu tư cho lĩnh vực chuyên môn, khoa học công nghệ, dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản…

    Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất. Trong khi đó, các tỉnh miềm núi, vùng sâu, vùng xa như khu vực Tây Nguyên và khu vực vùng núi phía Bắc – những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm.

    Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án ĐTNN, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp.

    Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN.

    – Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời.

    Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.

    – Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ

    Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta.

    Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.

     

    KẾT LUẬN

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Hơn mười năm qua, đầu tư nước ngoài là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, bổ sung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội.

    Sau hàng loạt bất ổn mang tính cơ cấu được phát hiện, nền kinh tế Việt Nam đang đi những bước đầu tiên, nhưng căn bản để thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, trong lúc này, nguồn lực đầu tư trong nước lại bị giới hạn do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài, đòi hỏi sự tham gia tích cực và hiệu quả của các dòng vốn từ bên ngoài, đặc biệt là vốn FDI.

    Như vậy, việc thay đổi định hướng thu hút FDI thế nào, đặt lại vị trí của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn tới ra sao… cần phải có những nghiên cứu thấu đáo, những quy hoạch cụ thể giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế; cần quan tâm nhiều hơn đến các chủ đầu tư lớn vào Việt nam. Đặc biệt, cần phải có chiến lược rõ ràng để dẫn hướng cho từng bộ phận của nền kinh tế, từ các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương trong xây dựng chính sách để lựa chọn và tiếp nhận dòng vốn quan trọng này, đảm bảo đúng tín hiệu thị trường và mục tiêu của nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-V%E1%BA%ACN-D%E1%BB%A4NG-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-TH%E1%BB%90NG-K%C3%8A-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-V%C3%80O-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mở đầu

    Cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, là một trong các nhân tố giúp nước ta nhanh chóng ttực hiện thành công sự nghiệp công nghiệo hoá – hiện đại hoá đất nước, đồng thời nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới của nước ta diễn ra một cách khẩn trương hơn.

    Trong hơn mười năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, kết quả đem lại là rất lớn và đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên để có thể đánh giá được toàn diện kết quả của đầu tư nước ngoài cần phải có một thời gian dài, hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác và phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan ban ngành. Trong nội dung chuyên đề này, em còng xin góp một phần rất nhỏ vào những đánh giá đó qua việc vận dụng các phương pháp thống kê đã lĩnh hội được trong thời gian học tại trường.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề này gồm phần chính :

    Phần I : một số vấn đề lý luận chung về các phương pháp thống kê.

              Phần II :thực trạng đầu tư nước ngoài vào  Việt nam thời gian qua.

    Phần III : vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt nam.

    Đề tài này hoàn thành với sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của TS. Trần Kim Thu cùng các thầy cô giáo khoa Thống kê và các bác, các cô công tác tại vụ Xây dùng – Giao thông – Bưu điện Tổng cục Thống Kê. Cho phép em lời cảm ơn vì tất cả những gíup đỡ và chỉ bảo đó.

    CHƯƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ.

     

    Thống kê học chính là môn khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm, thời gian cụ thể. Các hiện tượng kinh tế – xã hội luôn có hai mặt chất và lượng không tách rời nhau. Mặt chất Èn sâu bên trong, còn mặt lượng là những biểu hiện bên ngoài, bề mặt của hiện tượng, nhưng mặt chất là cốt lõi, bản chất của hiện tượng. Nhiệm vụ của phân tích thống kê là phải thông qua con số (mặt lượng của sự vật) để tìm ra cốt lõi bên trong (mặt chất của hiện tượng) bằng các phương pháp khoa học. Trong chương một của chuyên đề này xin giới thiệu một số phương pháp thống kê thông dụng hay được sử dụng trong phân tích thống kê.

    I.      PHÂN TỔ THỐNG KÊ.

    Phân tổ thống kê có rất nhiều ý nghĩa trong nghiên cứu thống kê, nó là phương pháp cơ bản, tiền đề để tiến hành phân tích và vận dụng các phương pháp thống kê khác.

    1.Phân tổ thống kê.

    a.Khái niện, vai trò của phân tổ thống kê.

    Khái niệm phân tổ thống kê :là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau.

    Khi phân tổ thống kê, các đơn vị được tập hợp lại thành một số tổ, trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị chỉ giống nhau theo tiêu thức ngiên cứu (tiêu thức phân tổ) giữa các tổ có sự khác nhau theo tiêu thức phân tổ. Chẳng hạn khi phân tổ dân cư theo tiêu thức trình độ văn hoá thì những nhóm dân cư trong cùng mét  tổ sẽ có trình độ văn hoá bằng nhau nhưng sẽ khác nhau theo các tiêu thức khác như giới tính, ngề ngiệp…

    Từ khái niệm trên ta có thể rót ra một số vai trò cơ bản của phân tổ thống kê sau :

    -Phân chia các loại hình kinh tế – xã hội của hiện tượng nghiên cứu. Dùa vào lý luận kinh tế xã hội, phân tổ thống kê phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất và tồn tại khách quan trong nội bộ hiện tượng.

    -Biểu hiện kết cấu của hiện tượng ngiên cứu. Muốn biểu hiện được kết cấu của hiện tượg ngiên cứu phân tổ thống kê phải xác định chính xác các bộ phận khác nhau trong tổng thể, sau đó tính toán tỷ trọng.

    Trong quá trình phân tổ thống kê, một nhiệm vụ quan trọng là phải xác định số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    b.Số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    *Số tổ : việc phân chia tổng thể ngiên cứu thành bao nhiêu tổ và xác định số tổ cần thiết là một việc khó, đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ và kinh nghiệm. Thông thường việc xác định số tổ cần thiết tuỳ thuộc vào tiêu thức ngiên cứu.

    -Nếu là tiêu thức thuộc tính : các tổ được hình thành do các loại hình khác nhau. Một số trường hợp phân tổ dễ dàng vì các loại hình Ýt thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ, chẳng hạn như phân tổ nhân khẩu theo giới tính… Trong trường hợp phức tạp thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ chẳng hạn như phân tổ hàng hoá theo giá trị sử dụng.

    -Nếu là tiêu thức số lượng : tuỳ thuộc lượng biến của tiêu thức nhiều hay Ýt mà phân nhiều tổ hay Ýt tổ. Trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên Ýt như bậc thợ, số người trong một hộ gia đình thì tương ứng với lượng biến là một tổ. Trong trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên nhiều thì phải chú ý đến quan hệ lượng chất để phân tổ cho hợp lý.

    *Khoảng cách tổ : mỗi tổ sẽ bao gồm một phạm vi lượng biến có hai giới hạn : giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để hình thành tổ đó, giới hạn trên là lượng biến mà nếu quá nó thì chất đổi và hình thành một tổ mới.

    Nếu có khoảng cách tổ đều nhau, thì trị số khoảng cách tổ h sẽ là :           h= Xmax – Xmin

    Xmax : lượng biến lớn nhất.

    Xmin : lượng biến nhỏ nhất.

    n     : số tổ định chia.

    Trong phân tổ thống kê, có ba loại hình phân tổ chính sau :

    c.Phân tổ thống kê – các loại hình phân tổ.

    * Phân tổ theo một tiêu thức : là xây dựng tần số phân bố của tổng thể ngiên cứu theo một tiêu thức. Đây là cách phân tổ đơn giảm nhất và cũng thương được áp dụng nhất.

    Tuy nhiên khi ngiên cứu mối liên hệ của nhiều tiêu thức thì không thể sử dụng hình thức phân tổ trên, mà phải sử dụng một trong hai loại sau:

    * Phân tổ kết hợp : đầu tiên ta phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai. đây là hình thức phân tổ phổ biến khi ngiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức.

    *Phân tổ nhiều chiều : trong phân tổ nhiều chiều, các tiêu thức nguyên nhân đồng thời là tiêu thức hân tổ, vì vậy người ta phải đưa các tiêu thức phân tổ về dạng một têu thức tổng hợp rồi căn cứ vào tiêu thức tổng hợp này để tiến hành phân tổ theo một tiêu thức.

    Các bước tiến hành :

    – Các lượng biến của tiêu thức được ký hiệu Xij (i=1,n ;j =1.k) trong đó i là thứ tự của lượng biến, j là thứ tự của tiêu thức.

    – Tiêu thức tổng hợp : nhằm đưa các lượng biến vốn khác nhau về dạng tỷ lệ bằng cách lấy các lượng biến chia cho sè trung bình của các  lượng biến đó   Pij =

    cộng các Pij có cùng thứ tự của tiêu thức ta được åPij hoặc lấy                      ta có thể coi hoặc là tiêu thức phân tổ.

    Đây là một hình thức phân tổ phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành nhiều bước và tương đối khó so với phân tổ kết hợp, song trong nhiều trường hợp ta buộc phải dùng chúng vì chúng có vai trò to lớn sau :

    Nghiên cứu kết cấu của tổng thể theo một tiêu thức cơ bản có mối liên hệ với nhau.

    • Dùng phân tổ nhiều chiều để nghiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thứckhi dùmg phân tổ kết hợp không giải quyết được.

    -Dùng để xác định lại tài liệu đồng nhất của tài liêu ban đầu nhằm vận dụng các phương pháp thống kê toán.

    Kết quả của quá trình phân tổ thống kê thương được đưa ra dưới dạng một bảng thống kê. Vậy bảng thống kê là gì, có vai trò như thế nào?

    2.Bảng thống kê.

    Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng ngiên cứu.

    Bảng thống kê có nhiều tác dụng trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế – xã hội. Các tài liệu trong bảng thống kê đã được xắp sếp một cách khoa học, giúp cho chóng ta dễ ràng so sánh đối chiếu, phân tích đối tượng theo các hướng khác nhau, nhằm nêu lên một cách sâu sắc bản chất của hiện tượng ngiên cứu.

    a.Cấu thành của bảng thống kê.

    Bất kỳ một bảng thống kê nào cũng phải có đủ hai thành phần : là hình thức bảng và nội dung bảng.

    -Về mặt hình thức: bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu. Hàng và cột phản ánh quy mô của mỗi bảng, còn tiêu đề phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trong bảng, số liệu được ghi vào trong  các ô của bảng, mỗi con số phản ánh đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu.

    -Về mặt nôi dung: bảng thống kê gồm phần chủ từ và phần giải thích. Phần chủ từ nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng, phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu.

    Trong nghiên cứu thống kê, bảng thống kê được sử dụng rất rộng rãi với nhiều loại bảng khác nhau. Tuy nhiên căn cứ vào một số tiêu thức quan trọng ta có thể phân chia các loại bảng này thành một số dạng sau:

    a.Các loại bảng thống kê.

    Căn cứ vào chủ đề của bảng có thể phân thành 3 loại bảng: bảng giản đơn, bảng phân tổ, bảng kết hợp.

    -Bảng giản đơn: là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ xắp xếp các đơn vị tổng thể theo tên gọi.

    -Bảng phân tổ: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó.

    -Bảng kết hợp: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ đề được phân tổ theo 2 hoặc 3 tiêu thức kết hợp với nhau. Thường được dùng để biểu hiện kết qủa của việc phân tổ theo nhiều tiêu thức.

    Để dùng bảng thống kê đạt kết quả cao, giúp cho người theo dõi dễ nắm bắt, dễ hiểu nội dung của bảng. Quá trình xây dựng bảng phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

    b.Các nguyê tắc phải tuân theo khi xây dựng bảng thống kê.

    -Quy mô bảng không nên quá lớn( không  quá nhiều tổ và chỉ

    tiêu ).

    -Các tiêu đề và đề mục cần ghi chính xác, rõ ràng, đầy đủ.

    • Các hàng ngang và cột dọc nên ký hiệu bằng chữ hoặc số.
    • Cách ghi chép chỉ tiêu cần được xắp xếp theo thứ tự hợp lý, các ký hiệu phải tuân theo nguyên tắc chung. Phải chỉ rõ đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu.

    Trong nghiên cứu thống kê, để biểu hiện bằng hình ảnh mối liên hệ giữa các tiêu thức ta sử dụng phương pháp đồ thi thống kê. Phần tiếp theo xin trình bày sơ lược về phương pháp đồ thi trong thống kê.

    3.Đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê. Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số liệu của hiện tượng.

    Với những đặc điểm đặc biệt này đồ thị thống kê có những vai trò quan trọng sau:

    • Biểu hiện kết hợp kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến đổi của kết cấu.
    • Biểu hiện sự phát triển của hiện tượng theo thời gian.
    • Biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng và quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng.

    Đồ thị thống kê là phương pháp có sức hấp dẫn và sinh động, tính quần chúng cao làm cho người hiểu biết Ýt về thống kê  vẫn lĩnh hội được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng.

    a.Phân loại đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê gồm rất nhiều loại, thông thường người ta căn cứ vào các tiêu thức sau để phân loại:

    • Căn cứ vào nội dung phản ánh, người ta chia đồ thị thống kê thành các loại sau: đồ thị kết cấu, đồ thị phát triển, đồ thị liên hệ so sánh.
    • Căn cứ vào hình thức biểu hiện có thể phân chia thành các loại sau: biểu đồ hình cột, biểu đồ tượng hình, biểu đồ diện tích…

    Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễ hiểu và đảm bảo tính chính xác. Muốn vậy khi xây dựng đồ thị thống kê phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

    b.Nguyên tắc xây dựng đồ thị thống kê .

    • Xác định quy mô đồ thị cho vừa phải đảm bảo quan hệ giữa đồ thị và các phần khác.
    • Lùa chọn các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ cho phù hợp vì mỗi hình có khả năng diễn tả một ý riêng.
    • Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác.

    II.HỒI QUY TƯƠNG QUAN.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thế giới vật chất là một thể thống nhất, trong đó các hiện tượng có liên quan hữu cơ với nhau, tác động và ràng buộc lẫn nhau,các hiện tượng kinh tế –-xã hội cũng phát sinh và phát triển theo nguyên lý đó.

    Do tính chất phức tạp của các hiện tượng kinh tế – xã hội, các mối liên hệ giữa các hiện tượng tồn tại rất phong phú và nhiều vẻ, tính chất và hình thức khác nhau. Ta có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa hai hiện tượng hoặc giữa nhiều hiện tượng. Để nghiên cứu các hiện tượng kinh tế – xã hội, thống kê thường sử dụng các phương pháp như: Phân tổ thống kê, dẫy số thời gian, chỉ số và hồi quy tương quan cũng là một công cụ sắc bén hay được sử dụng.

    1. Thế nào là hồi quy tương quan.

    a.Khái niệm hồi quy tương quan.

    Hồi quy và tương quan là các phương pháp toán học, được vận dụng trong thống kê học để biểu hiện và phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế – xã hội. Đây là hai phương pháp khác nhau nhưng quan hệ rất chặt chẽ với nhau.

    Phân tích tương quan là đo lường mức độ kết hợp giữa hai biến, chẳng hạn như quan hệ giữa nghiện thuốc là và ung thư phổi. Phân tích hồi quy là ước lượng và dự báo một biến trên cơ sở biến đã cho. Hai phương pháp này có quan hệ rất chặt chẽ và bổ chợ cho nhau lên người ta thường sử dụng kèm chúng với nhau.

    Vận dụng phương pháp hồi quy tương quan vào phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội, ta phải giải quyết được hai vấn đề sau:

    b.Nhiệm vụ của phân tích hồi quy tương quan.

    Một là: Xác định tính chất và hình thức của mối liên hệ, có nghĩa là xem xét mối liên hệ giữa các tiêu thức nghiên cứu có thể biểu hiện dưới dạng mô hình nào (liên hệ tuyến tính, phi tuyến tính). Nhiệm vụ cụ thể là:

    • Dùa trên cơ sở phân tích lý luận giải thích sự tồn tại thực tế và bản chất của mối liện hệ bằng phân tích lý luận. Bước này được thực hiện nhằm tránh hiện tượng hồi quy tương quan giả (tức là hiện tượng không tồn tại liên hệ nhưng vẫn xây dựng mô hình hồi quy) và xác định tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả.
    • Lập phương trình hồi quy để biểu hiện mối liên hệ đó. Muốn lập đúng phương trình, căn cứ vào số tiêu thức được chọn, hình thức và chiều hướng của mối liên hệ.
    • Tính và giải thích ý nghĩa của các hàm số trong phương trình.

    Hai là: Đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ nghiên cứu qua các chỉ tiêu: Hệ số tương quan, tỷ số tương quan. Đây là nhiệm vụ quan trọng của việc phân tích tương quan vì căn cứ vào chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ và vai trò của tiêu thức.

    Phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội bằng phương pháp hồi quy tương quan được thể hiện qua việc phân tích phương trình hồi quy. Vì vậy việc quan trọng trước tiên là phải xây dựng được một phương trình chính xác phù hợp với lý thuyết kinh tế.

    2. Phương trình hồi quy.

    Phương trình hồi quy gồm có nhiều loại, nhưng có thể kể ra các dạng chính sau đây: Phương trình hồi quy tuyến tính đơn, phương trình hồi quy tuyến tính bội, phương trình hồi quy phi tuyến tính đơn và bội.

    Thông thường người ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn để phân tích các hiệ tượng kinh tế – xã hội, bởi vì quá trình tính toán sẽ đơn giản hơn mà kết quả cũng khá chính xác.

    a.Phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    • Phương trình hồi quy tuyến tính đơn mô tả quan hệ tương quan giữa hai tiêu thức số lượng, với dạng phương trình sau :

    x  = a +bx

    trong đó : x là tiêu thức nguyên nhân.

    x : trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y theo mối quan hệ với x.

    a,b là các tham số của phương trình.

    Các tham số này được xác định sao  cho đường hồi quy lý thuyết mô tả gần đúng nhất mối liên hệ với thực tế. Giá trị của tham sè a,b được xác định bằng phươg pháp bình phương nhỏ nhất,sao cho :

    å(y-x)2 = min­­­­

    để thoả mãn yêu cầu này a, b phải thoả mãn hệ phương trình sau :

    åy =na + bå x

    å xy =aå x  + bå

    hoặc được xác định trực tiếp qua công thức :

    b =

    a =

    a : là mức độ xuất phát đầu tiên của đường hồi quy lý thuyết, đây là tham số tự do, nó nói lên ảnh hưởng của các nhân tố ngoài x tới y.

    b : là mức độ quy định độ dốc của đường hồi quy lý thuyết, được gọi là hệ số hồi quy, nó nói lên ảnh hưởng của tiêu thức nguyên nhân tới tiêu thức kết quả. Dấu của b thể hiện chiều của mối liên hệ giữa x và y.

    Phân tích hồi quy tương quan phải tính được hệ số tương quan r để đánh giá trình dé chặt chẽ của mối liên hệ giữa x và y.

    Hệ số hồi quy r là hệ số tương đối ( biểu hiện bằng đơn vị lần) dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa hai thức số lượng.

    Hệ số tương quan r được tính từ các công thức :

    r =   ;  =…

    Giá trị của r thuộc đoạn –1 đến 1 (-1£ r £ 1) và dấu của nó trùng với dấu của b.

    • Khi r mang dấu dương (+) thì mối liên hệ tương quan giữa x và y là tương quan thuận, và ngược lại khi r mang dấu âm thì liên hệ giữa x và y là tương quan ngịch.
    • Khi r = 0 thì giữa x và y không có liên hệ tương quan.

    Để đánh giá tốc độ biến thiên của các tiêu thức ta có thể tính độ co giãn.

    Hệ sè co giãn E­(x)

    công thức:

    Ex = b.

    E(x) có một số ý nghĩa sau :

    – Nếu ½E(x)½ > 1 : biến thiên của y nhanh hơn biến thiên của x, và ngược lại.

    – Nếu  ½E(x)½ = 1 : biến thiên của y trùng với biến thiên của x.

    Như đã trình bày ở trên, khi nghiên cứu mối liên hệ giữa hai tiêu thức số lượng phát sinh trong các hiện tượng của quá trình kinh tế -xã

    hội, người ta thường sử dụng tương quan tuyến tính, nhưng trong thực tế có mối liên hệ không phải tương quan tuyến tính. Chẳng hạn mối liên hệ giữa tổng chi phí sản xuất và khỗi lượng sản phẩm ( có dạng y= ao +a1x +a2+ a3) vì vậy người ta phải sử dụng các mô hình liên hệ phi tuyến tính để biểu diễn những mối liên hệ này.

    • Phương trình hồi quy phi tuyến tính.

    Phương trình hồi quy phi tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng có rất nhiều dạng, ở đây xin giới thiệu một số dạng cơ bản.

    Phương trình Parabol bậc hai :

    y = a          y = a0 + a1.x + a2. x2

    • Phương trình Hyperbol :
    • Phương trình hàm mò :

    Trong các phương trình hồi quy trên, các tham sè a,b cũng được xáa định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất.

    Với phương trình Parabol bậc hai : y = a0 + a1.x + a2. x2

    Xác định a0 , a1, a2 bằng hệ phương trình

    Phương trình Parapol thường được sử dụng khi các trị số của tiêu thức kết quả tăng (hoặc giảm) và việc tăng (hoặc giảm) đạt đến trị số cực trị rồi sau đó tăng hoặc giảm.

    Với phương trình Heperpol :

    Các tham sè a, b thoả mãn hệ

    Mô hình này thường được sử dụng biểu diễn những mối liên hệ có dạng khi trị số của tiêu thức nguyên nhân tăng lên thì trị số của tiêu thức kết quả giảm và đến giới hạn nào đó ( x =a) thì hầu như không  giảm.

    Phương trình mò :

    Các  tham sè a,b phải thoả mãn hệ phương trình :

    Phương trình mũ được vận dụng khi cùng với sự tăng lên của tiêu thức nguyên nhân thì các trị số của tiêu thức kết quả thay đổi theo cấp số nhân, nghiã là tốc độ phát triển sấp xỉ bằng nhau.

    Trên đây là ba dạng phương trình hồi quy phi tuyến tính tiêu biểu, để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan phi tuyến tính, người ta sử dụng tỷ số tương quan h.

    Tỷ số tương quan h

    Tỷ số tương quan h là một số tương đối (biểu hiện bằng lần) được dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan, h được tính theo công thức:

    h có giá trị trong đoạn  [ 0;1 ]

    Tính chất của h : khi n= 0 thì không tồn tại quan hệ tương quan giữa x và y, khi h = 1 x và y có liên hệ hàm sè, h càng gần tới 1 thì hệ số tương quan càng chặt chẽ.

    Trên đây là các mô hình tuyến tính và phi tuyến tính biểu diễn mối liên hệ giữa hai tiêu thức, được gọi là mô hình tuyến tính đơn. Để biểu diễn mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức, trong đó có một tiêu thức kết quả và Ýt nhất là hai tiêu thức nguyên nhân người ta sử dụng các phương trình hồi quy bội.

    b.Phương trình hồi quy bội

    Mô hình hồi quy bội cũng có nhiều dạng, trong phạm vi chuyên đề này chỉ giới thiệu về mô hình hồi quy bội tuyến tính

    Dạng tổng quát : x1,x2,…xn  = a0 + a1x1 + a2x2 +  …  +  anxn

    Trong đó : x1, x… xn là các tiêu thức nguyên nhân

                                x1,x2,…xn  là trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y.

            Các tham sè ai được xác định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, sao cho các ai  thoả mãn hệ:

    Trong liên hệ hồi quy tương quan bội, người ta sử dụng hệ số hồi quy bội R để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ.

    Công thức xác định R:

    Tính chất của hệ số tương quan bội R cũng giống hệ số tương quan r. nhưng khoảng phân bố hẹp hơn ( 0;1).

    III.PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN .

    1.Khái niện về dãy số thời gian.

    Mặt lượng của hiện tượng kinh tế – xã hội không ngừng biến đổi qua thời gian. Để thông qua sự biến đổi của mặt lượng ta có thể vạch ra xu hướng và quy luật của sự phát triển, đồng thời có thể dự đoán được các mức độ của hiện tượng trong tương lai người ta sử dụng phương pháp dãy số thời gian, vậy phương pháp dãy số thời gian là gì?

    a.Khái niện, thành phần của dãy số thời gian.

    Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê xắp xếp theo thứ tự thời gian.

    Một dãy số thời gian gồm hai thành phần : thời gian và chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu. Thời gian có thể là ngày, tháng, quý, năm …Độ dài giữa hai thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian. Trị số của chỉ tiêu nghiên cứu được gọi là mức độ của dãy số thời gian. Cả hai thành phần này cùng biến đổi tạo ra sự biến động của hiện tượng qua thời gian.

    Dãy số thời gian có hai loại :  dãy số thời điểm và dãy số thời kỳ.

    -Dãy số thời kỳ biểu hiện quy mô của hiện tượng trong từng khoảng thời gian nhất định.

    -Dãy số thời điểm : biểu hiện quy mô của hiện tượng tại những thời điểm nhất định.

    2.Các chỉ tiêu của dãy số thời gian.

    Để phản ánh đặc điểm biến động qua thời gian của hiện tượng, người thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

    a.Mức độ trung bình qua thời gian.

    Chỉ tiêu này phản ánh  mức độ đại biểu của mức độ tuyệt đối trong một dãy số thời gian. Tuỳ theo dãy thời kỳ hay dãy số thời điểm ta có công thức tính sau:

    – Đối với dãy số thời kỳ, công thức tính là :

    =

    – Đối với dãy số thời điểm, công thức tính tương ứng với hai trường hợp :  + trường hợp mét : có khoảng cách thời gian bằng nhau :

    + Trường hợp hai : có khoảng cách thời gian không bằng nhau :

    b.Lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Chỉ tiêu này phản ánh sù  thay đổi về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian ngiên cứu. Tuỳ theo mục đích ngiên cứu, ta có các chỉ tiêu về lượng tăng giảm tuyệt đối sau :

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của kỳ đứng liền trước (yi-1).

    di = yi – yi-1

    -Lượng tăng ( giảm) tuyệt đối định gốc : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của một kỳ nào đó được chọn làm gốc thường là mức độ đầu tiên (y1)

    Di = y– y1

    Mối liên giữa Di và di là : Di  = å

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối trung bình là trung bình cộng của các lượng tăng ( giảm) tuyệt đối liên hoàn.

    id

    d.Tốc độ phát triển.

    Tốc độ phát triển là một số tương đối biểu hiện bằng lần hoặc % phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng qua thời gian. Tốc độ phát triển  có ba chỉ tiêu :

    -Tốc độ phát triển liên hoàn phản ánh sự biến động của hiện tượng giữa hai thời gian liền nhau :

    Trong đó ti là tốc độ phát triển liên hoàn của cả thời gian (i) so với thời gian (i-1).

    -Tốc độ phát triển định gốc phản ánh sự biến động  của hiện tượng trong những khoảng thời gian dài:

    (i= 2,3,…n)

    Mối liên hệ giữa Ti  và ti  : Ti =  Pti

    -Tốc độ phát triển trung bình là mức độ đại biểu cho các tốc độ phát triển liên hoàn

    e.T ốc độ tăng hoặc giảm

    Chỉ tiêu này phản ánh mức độ của hiện tượng ngiên cứu giữa hai thời kỳ đã tăng hoặc giảm bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu %. Ta có ba chỉ tiêu sau :

    -Tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên hoàn .

    -Tốc độ tăng hoặc giảm định gốc ; là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm định gốc với mức độ kỳ gốc cố định:

    -Tốc độ tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân : là chỉ tiêu tương đối nói lên nhịp điệu tăng hoặc giảm đại diện trong một thời kỳ nhất định .

    e.Giá trị tuyệt đối của 1% tăng hoặc giảm.

    Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1% tăng  hoặc giảm của tốc độ tăng liên hoàn thì tương ứng với một số tương đối là bao nhiêu?

    Chỉ tiêu chỉ tính với tốc độ biến động  liên hoàn chứ không tính với định gốc vì kết quả luôn bằng y1\ 100.

    Sự biến động của hiện tượng qua thời gian chịu sự tác sự tấc động của nhiều nhân tố, ngoài các nhân tố chủ yếu, cơ bản quyết định xu hướng biến động  của hiện tượng, còn những yếu tố ngẫu nhiên gây ra hiện tượng biến động sai lệch khỏi xu hướng. Vì vậy  cần sử dụng các phương pháp thích hợp để trong một trừng mực nhất định nào đó loại bỏ tác động của những nhân tố ngẫu nhiên nêu lên xu hướng và tính quy luật của sự biến động  của hiện tượng.

    3.Phương pháp biểu diễn xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng.

    a.Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian.

    Phương pháp này được sử dụng khi một dãy số thời kỳ có khoảng cách thời gian tương đối ngắn và có nhiều mức độ mà qua đó chưa phản ánh được xu hướng biến động của hiện tượng.

    Cách làm : ghép một số thời gian liền nhau vào thành một khoảng hời gian dài hơn. ví dụ ghép 3 tháng thành một quý.

    b.Phương pháp số trung bình trượt.

    Sè trung bình trượt là số trung bình cộng của một nhóm nhất định các mức độ của dãy số được tính bằng cách loại dần các mức độ đầu, đồng thời thêm vào các mức độ tiếp theo, sao cho tổng giá trị các mức độ tham gia tính số trung bình trượt không thay đổi.

    Khi sử dụng phương pháp này, việc lùa chọn nhóm bao nhiêu mức độ để tính trung bình trượt đòi hỏi phải dùa vào đặc điểm biến động của hiện tượng và số lượng các  mức độ của dãy thời gian.

    c.Phương pháp hồi quy.

    Trên cơ sở dãy số thời gian, người ta tìm một hàm số gọi là hàm hồi quy phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời gian, có dạng tổng quát :

    Trong đó :

    : mức độ lý thuyết

    a1, a0, ,….an : các tham sè.

    t : thứ tự thời gian.

    Để xây dựng được một phương trình hồi quy phản ánh xu hướng biến động của hiện tượng phải dùa trên cơ sở phân tích đặc điểm của hiện tượng qua thời gian đồng thời kết hựop với các phương pháp khác.

    d.Phương pháp biến động thời vụ.

    Sự biến động của một số hiện tượng kinh tế – xã hội thường có tính thời vụ, nghĩa là hàng năm, trong từng thời gian nhất định sẽ biến động lặp đi lặp lại. Ví dụ các sản phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm như bánh kẹo thường tăng số lượng vào các dịp lễ tết,..biến động thời vụ làm cho hoạt động của một số ngành khi thì căng thẳng, khi thì nhàn rỗi,.. vì vật nhiệm vụ của nghiên cứu thống kê biến động thời vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động thời vụ với sản xuất và sản xuất và sinh hoạt xã hội.

    Nghiên cứu biến động thời vụ ta phải tìm ra chỉ số thời vụ thông qua số liệu của nhiều năm (tối thiểu là 3 năm).

    Trường hợp sự biến động không có gì đặc biệt, ta xác định hệ số biến động thời vụ theo công thức :

    Trong đó :

    : sè trung bình của tất cả các mức độ của thời gian cùng tên i

    : sè trung bình của tất cả các mức độ trong dãy số.

    Ii : chỉ số biến động thời vụ của thời gian i

    Trường hợp có sự không ổn định trong biến động, thì chỉ số thời vụ được tính theo công thức :

    yij : mức độ thực tế ở thời gian i của năm j

    : mức độ tính toán (có thể là số trung bình trượt hoặc dùa vào phương trình hồi quy ở thời gian i của năm thứ j)

    IV.PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ.

    Muốn so sánh được hai đại lượng, trước hết phải đo lường được chung, và muốn có được kết quả đo lường chính xác ta phải hết sức chú ý đến đợn vị đo lường, thông thường người ta sử dụng đơn vị đo lường chung để đo lường trong sè so sánh các đại lượng với nhau. Chương này sẽ giới thiệu đến việc so sánh các hiện tượng bằng phương pháp chỉ số.

    1.Khái niệm chỉ số.

    Chỉ sè trong thống kê là phương pháp biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng kinh tế. Chỉ số trong thống kê là một khái niệm khá rộng rãi. Trong công tác thực tế, đối tượng chuy yếu của phương pháp chỉ số thường là các hiện tượng kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị, nhiều phần tử có tính chất khác nhau.

    Khi vận dụng phương pháp chỉ số, phải chú ý đến một số đặc điểm sau của phương pháp này :

    -Trước hết ta phải chuyển các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhau thành dạng giống nhau để có thể so sánh được.

    -Khi có nhiều nhân tố cùng tham gia vào tính chỉ số, phải giả định có một nhân tố thay đổi, còn các nhân tố khác không thay đổi. Việc giả định này để loại trừ khả năng ảnh hưởng của nhân tố không nghiên cứu đối với kết quả so sánh.

    Trong phân tích thống kê, phương pháp chỉ số có những vai trò đặc

    Biệt quan trọng sau :

    – Biểu hiện biến động của hiện tưong qua thời gian- chỉ số phát triển, qua những điều kiện không gian- chỉ số không gian.

    – Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch- chỉ số kế hoạch.

    – Phân tích vai trò ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với biến động của toàn bộ hiện tượng kinh tế phức tạp.

    Trong nghiên cứu chỉ số, người ta căn cứ vào phạm vi tính toán và tính chất của chỉ tiêu để phân chia thành các loại chỉ số cơ bản.

    – Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu, người ta chia chỉ số thành hai loại :

    +Chỉ số chỉ tiêu chất lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : giá cả, giá thành, năng suất lao động,…

    +Chỉ số chỉ tiêu khối lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : sản lượng, lượng hàng hoá tiêu thụ,…

    – Căn cứ vào phạm vị tính, người ta chia thành hai loại :

    +Chỉ số cá thể : nói lên biến động của từng đơn vị, từng phần tử cá biệt trong hiện tượng phức tạp.

    +Chỉ sè chung : nói lên biến động của tất cả các đơn vị, các phần tử của hiện tượng nghiên cứu. Nó được sử dụng nhiều trong phân tích thống kê.

    Sau đây xin giới thiệu một số loại chỉ số chủ yếu :

    2.Chỉ số đơn.

    Chỉ số đơn được dùng để so sánh các trị số của hiện tượng nào đó ở một thời kỳ nào đó được lấy làm gốc. Chẳng hạn so sánh giá mặt hàng A ở thời điểm 1995 so với 1990.

    Công thức là : i95/90  =  P95/P90

    Chỉ số đơn có một số có một số đặc điểm chủ yếu sau :

    Tính nghịch đảo : nếu ta hoán vị kỳ gốc và kỳ ngiên cứu ta sẽ thu được giá trị ngịch đảo của trị số cũ.

    Tức là :

    Tính liên hoàn : tích của các chỉ số liên hoàn hoặc tích của các chỉ số định gốc liên tiếp, bằng chỉ số định gốc tương đối.

    Tính thay đổi gốc : ta có thể suy ra chỉ số gốc năm x0 từ các chỉ số gốc năm x1 và x2, bằng cách nhân hai chỉ số gốc x0  cho chỉ số x1/x0 của chỉ số gốc x0 .

    3.Chỉ số tổng hợp giá cả

    Theo các cách chọn quyền số khác nhau, ta có hai chỉ số tổng hợp giá cả.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ q0, ta có chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu q1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Trong hai chỉ số trên, thì chỉ số Paaches tính hiện thực cao hơn, tuy nhiên việc tính toán nó phức tạp hơn.

    Nhà thống kê học Fishes đã đề nghị dùng một loại chỉ số tổng hợp giá cả có công thức sau :

    Vì nó có thể khắc phục được nhược điểm không có tính chất ngịch đảo và liên hoàn của hai chỉ số trên.

    4.Chỉ số tổng hợp khối lượng.

    Cũng giống như  chỉ số tổng hợp giá cả, tương ứng với cách chọn quyền số ta có các chỉ số sau.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc P0 , ta có chỉ số chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu P1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Và ta cũng có chỉ số tổng hợp khối lượng Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số tổng hợp khối lương trên.

    5.Hệ thống chỉ số.

    Các chỉ số đơn, chỉ số tổng hợp chỉ có thể đánh giá ảnh hưởng riêng lẻ của từng yếu tố tới hiện tượng kinh tế mà ta nghiên cứu, vì vậy cần phải có một phương pháp nào đó mà có thể nêu lên ảnh hưởng của từng nhân tố cũng như ảnh hưởng của tổng hợp của các nhân tố tới hiện tượng nghiên cứu.

    a.Hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Ta có giá trị của hàng hoá = giá cả * sè lượng

    Từ đó ta có : chỉ số giá trị = chỉ số giá * chỉ số lượng.

    Hệ thống chỉ số được hình thành trên cơ sở một tập hợp các chỉ số có liên hệ với nhau.

    Trong thống kê, người ta xây dựng được hệ thống chỉ số thích hợp và đơn giản sau :

    Ipq   =   Ip         *     Iq

    Trong công thức trên, chỉ số tổng hợp giá cả là của Paaches, còn chỉ số tổng hợp khối lượng là của Laspeyres.

    Trong phân tích kinh tế, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số vì nó có những tác dụng sau đây :

    -Phân tích mối liên hệ giữa các hiên tượngtrong quá trình biến động, xác định vai trò ảnh hưởng biến động của mỗi nhân tố đối với biến động của hiện tượng gồm nhiều nhân tố, tìm ra nguyên nhân chủ yếu.

    -Trong nhiều trường hợp, có thể tính một chỉ số khi đã biết các chỉ số khác trong thống kê.

    b.Hệ thống chỉ số trung bình.

    Trong sự biến của động tổng thể nghiên cứu, sự biến động của từng bộ phận cấu thành tổng thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biến động chung. Để đánh giá được biến động chung và ảnh hưởng của từng bộ phận, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Chẳng hạn khi tỷ trọng công nhân có năng suất lao động cao trong doanh ngiệp tăng lên, thì năng suất lao động bình quân trong doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên.

    Hệ thống chỉ số

    (a)                 (b)                  (c)

    a: chỉ số năng suất lao động trung bình.

    b: chỉ số năng suất lao động đã loại trừ thay đổi kết cấu.

    c: chỉ số nêu lên ảnh hưởng thay đổi kết cấu đến năng suất lao động trung bình

    V. PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THỐNG KÊ NGẮN HẠN.

    Ngày nay, dự đoán được sử dụng nhiều trong mọi lĩnh vực, khoa học -kỹ thuật, kinh tế – chính trị – xã hội với nhiều loại và phương pháp khác nhau.

    1.Khái niệm về dự đoán thống kê ngắn hạn.

    Dự đoán thống kê ngắn hạn là việc dự đoán quá trình tiếp theo của hiện tượng trong những khoảng thời gian tương đối ngắn nối tiếp với hiện tại bằng việc sử dụng các thông tin thống kê và các phương pháp thích hợp.

    Sau đây xin giới thiệu một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn

    hạn thường gặp.

    2.Mét số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn.

    a.Dự đoán dùa vào dãy số thời gian.

    Trong một dãy số thời gian, ta có thể tính được một số chỉ tiêu biểu hiện của dãy số như : tốc độ phát triển bình quân, lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân… và dùa vàođó để dự đoán cho một số mức độ trong thời gian gần.

    b.Dựa vào lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Người ta xây dựng được mô hình :

    Trong đó :

    là lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân.

    yn là mức độ cuối cùng của dãy số thời gian.

    h : là tầm xa dự báo.

    : là mức  độ dự báo.

    Phương pháp này chỉ nên áp dụng khi các lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối xấp xỉ băng nhau.

    c.Dựa vào tốc độ phát triển bình quân.

    Ta có mô hình :

    Với :

    : là tốc độ phát triển bình quân

    d.Dự báo dùa vào phân tích  hồi quy.

    Bản chất của phương ttrình này là dùa vào mối quan hệ tương quan để ngoại suy cho tương lai.

    Mô hình hồi quy tổng quát của hồi quy bội

    Y= f (x1,x2,....xn/ a0,a1,…an)

    y-biến phụ thuộc hay tiêu thức kết quả

    xi-các  tiêu thức nguyên nhân

    ai – các tham số hồi quy

    Dự đoán bằng phương pháp hồi quy bội ta phải chọn quan sát sao cho đủ lớn để quy luật số lớn phát huy tác dụng. Người ta thương áp dụng tiêu chuẩn “ khi xây dựng mô hình hồi quy thì số quan sát phải lớn hơn số các nhân tố khoảng 8 lần”.

     

     

    d.Dự đoán bằng phương pháp san bằng mũ.

    Giả sử thời gian t, ta có mức độ thực tế là yt và mức độ dự đoán là ,    Dù đoán mức độ ở thời gian kế tiếp theo là , tức là t+1, ta có thể viết :

    ®Æt

    Từ mô hình trên cho ta thấy một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dự đoán là việc lùa chọn giá trị tham sè san a. Nếu a được chọn càng lớn thì nhân tố cũ yt càng Ýt được chú ý, và ngược lại nếu a càng nhỏ thì các yếu  cò càng được đánh giá cao. Dùa vào kinh ngiệm thực tế người ta cho rằng nên lấy a trong khoảng (0.1; 0.4).

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.

     

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP  NƯỚC NGOÀI (FDI).

    1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư theo nghĩa chung nhất là một quá trình bỏ vốn ra hay hy sinh một nguồn lực hiện tại nhằm thu về một kết quả cao hơn trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiệ từ khá lâu, tuy rằng không có nhiều tranh luạn xung quanh khái niện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) song đến nay cũng chưa có một khái niện nào được coi là hoàn chỉnh. Khía niện được chấp nhận rộng rãi hơn cả là khái niệm do quỹ tiền tệ thế giới IMF đưa ra, nó được định nghĩa như sau : “ đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi Ých lâu dài trong mét doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế nước khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là việc dành được tiến nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”.

    Ta có thể hiểu một cách khái quát khái niện trực tiếp trên như sau  Đầu tư trực tiếp nước là hoạt động đầu tư với những đặc điểm  :

    -Có sự thiết lập quyền sử dụng vốn và tài sản của người nước này ở một nước khác.

    -Chủ đầu tư chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý dự án và hiệu quả của vốn đầu tư.

    -Thường do các cá nhân hoặc do các công  ty đặc biệt là các công ty đa quốc gia tiến hành thông qua việc thành lập mới hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có.

    Một hình thức đàu tư  nước ngoài khác tồn tại song song với đầu tư trực tiếp là đầu tư gián tiếp. Khác với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (ODA) thườn do các chính phủ hay các tổ chức tài chính quốc tế cho một nước khác (thường là các nước đang phát triển) vay vốn, theo hình thức đầu tư này bên nhận vốn trở  thành con nợ nhưng có toàn quyền quyết định sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả cao nhất, còn bên cho vay không tham gia vào quá trình dụng và quản lý vốn cũng như hoàn toàn không chịu trách nhiệm về rủi ro và hiệu quả của vốn cho vay. Loại hình đầu tư này thường đi kèm theo các điều kiên ràng buộc về kinh tế hay chính trị bất lợi cho nước nhận vốn vay.

    So với ODA, FDI có một số lợi thế hơn hẳn. Đối với các nước đang phát triển, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất lớn, trong lóc kinh mgiệm quản lý còn yếu kém nên hiệu quả vốn đầu tư thấp, do vậy các nước này vay vốn sẽ có nhiều rủi ro, khả năng thu hồi vốn thấp. Trong hòan cảnh đó đầu tư trực tiếp là tốt nhất bởi vì kèm theo vốn là công nghệ tiên tiến, kinh ngiệm sản xuất nên hiệu quả vốn sẽ cao hơn, mặt khác nữa là FDI không đưa đến gánh nặng nợ nần, không bị ràng buộc về kinh tế, chính trị bất lợi cho đất nước. Tuy thế nó cũng có một số hạn chế là nếu nước tiếp nhận đầu tư không có định hướng rõ ràng, không quản lý tốt sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân đối trong phát triển, tạo ra một cơ cấu đầu tư và kinh tế không hợp lý.

    2. Lịch sử phát triển  quan hệ đầu tư nước trên thế giới.

    Trong lịch sử kinh tế thế giới, FDI xuất hiện ngay từ thời tiền tư bản .

    Thế kỷ XVII các công ty của Anh, Hà lan, Tây ba nha là các công ty đi đầu trong trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước Châu á để khai thác đồn điền và vcùng với nó là những ngành khoáng sản nhằm cung cấp nguyên liêu các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn mới thì hoạt độn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có quy mô to lớn hơn.

    Ngay từ những năm 1871, đầu tư ra nước ngoài của Anh đã đạt giá trị 800 triệu Bảng . Năm 1875 lên tới 2.1 tỷ Bảng. Đến năm 1913 quy mô đầu tư FDI của Anh đã đạt 3.5 tỷ Bảng, trong đó khoảng một nửa đầu tư vào các nước thuộc địa và khối liên hiệp Anh. Sau Anh thời kỳ này Mỹ là nước có quy mô FDI lớn thứ hai : năm 1889, Mỹ đầu tư ra nước ngoài khoảng 500 triệu USD/ năm, năm 1909 là 2 tỷ USD. Mỹ đầu tư chủ yếu vào các nước Mỹ latinh. Việc xuất khẩu tư bản của Đức cũng có quy mô ngày càng lớn. Nó mở đầu ngay từ những năm 70-80 của thế kỷ XIX nhưng quy mô chưa đáng kể do tình trạng lạc hậu chung của nền kinh tế Đức. Vào cuối thế kỷ XIX việc xuất khẩu tư bản của Đức bắt đàu mở rộng, Pháp cũng là nước có số tư bản đầu tư ra nước ngoài tương đối lớn, 10 tỷ Phrăng năm 1869, 20 tỷ Phrăng 1890…

    3.Tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    1. Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là việc xuất “hiện tư bản thừa” trong các nước phát triển, ở các nước tư bản phát triển khi quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một trình độ nhất định thì xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài do sự xuất hiện của một lượng vốn nhàn rỗi. Mặt khác taị các nước kém phát triển đang rất cần lượng vốn này để phát triển nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu của mình. Theo Lênin thì “ xuất khẩu tư bản” là một trong các đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản các nước tư bản thực hiện việc bóc lột các nước lạc hậu mà thườn là thuộc địa của nó. Nhưng chính Lênin đã nói người cộng sản phải biết lợi dụng khoa học kỹ thuật và những thành tựu kinh tế của chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm này nhiều nước chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, như vậy còn có thể nhanh hơn là tự vận động hay đi vay vốn để mau các kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
    2. Theo học thuyết kinh tế học của D.Ricardo, mỗi nước có một lợi thế riêng về các yếu tố sản xuất mà ông vẫn gọi là lợi thế so sánh, ở các nước phát triển đó là lợi thế về vốn, công nghệ, kinh ngiệm sản xuất, còn ở các nước đang phát triển đó là nguồn lao động mạt dẻ mạt, tài nguyên phong phú, thị trương sơ khai. Chi phí sản xuất ở các nước phát triển thường cao nên họ thường tìm cách đưa vốn sang các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh của mội nước, bằng cách đó họ nâng cao được lợi nhận trên chi phí biên.

    c.Các nước đi đầu tư thường có trình độ công nghệ cao hoặc tương đối cao so với nước nhận đầu tư. sau một thời gian hoạt động tại nước mình các công nghệ đó sẽ tương đối cũ và hỏi phảicó sự thay thế. Do đó các nước đi đầu tư sẽ chuyển giao công ngệ này một mặt sẽ bù đắp được phần nào chi phí cho sù thay thế công nghệ, mặt khác nó giúp cho việc kéo dài vòng đời công nghệ và nâng cao hiẹu quả sử dụng công nghệ ra nó thì vẫn còn mới và phát huy tác dụng đối với các nước phát triển vốn rất lạc hậu về công nghệ.

    d.Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và các vùng lãnh thổ từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó, chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. Mét  quốc gia, vùng lãnh thổ khó tách biệt được thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã lôi kéo con người ở khắp nơi trên thế giới xích lại gần nhau hơn, và dưới những tác động quốc tế khác buộc các nước phải mở cửa với bên ngoài.

    Trong những thập kỷ gần đây, hoạt động đầu tư nước ngoài có những su hướng khác nhau. Chẳng hạn việc các nước NIC đầu tư sang khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu, việc các nước đang phát triển không chỉ là nhà tiếp nhận đầu tư mà cũng đi đầu tư sang các nước khác…nên việc giải thích cho câu hỏi tại sao lại có hoạt động đầu tư nước ngoài là rất khó trả lời và chưa có một học thuyết nào giải thích được đầy đủ các lý do cho hiện tượng kinh tế này. Trong nội dung chuyên đề này, do thời gian có hạn và trình độ hàn chế nên chỉ xin nêu ra một số nguyên nhân chính như trên.

    4.Tính tất yếu của hoạt động đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt nam và sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.

    Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước Đại hội Đảng lần thứ VI, mọi hoạt động kinh tế của đất nước đều do nước trực tiếp quản lý, nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước cấp phát, khu vực tư nhân bị cấm hoạt động. Do vậy trong một thời kỳ dài nền kinh tế bị kìm hãm, không có tích luỹ nội bộ. Sau đại hội Đảng lần thư VI, nền kinh tế được cởi trãi, thoát khỏi cơ chế quản lý cũ, mọi nguồn lực đều được huy động để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp nên nguồn vốn đầu tư tư nội bộ nền kinh tế rất hạn chế, các nguồn viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu cũng bị cắt giảm nhiều, vì ậy chúng ta phải tìm ra những nguồn lực mới để tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Mặt khác, nước ta lại nằm trong khu vực Đông Nam á, khu vực phát triển kinh tế sôi động nhất trên thế giới. Các nước trong khu vực rất thành công trongviệc huy động các nguồn vốn nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế. Tiếp thu kinh nghiệm đó, chúng ta mạnh rạn mở cửa hợp tác kinh tế với nước ngoài, chủ động kêu gọi các cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam.

    Nhằm làm cho các nhà đầu tư thực sự tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước và mạnh dạn bỏ vốn vào làm ăn tại Việt nam, chóng ta đã cụ thể hoá chủ trương này bằng việc cho ra đời Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam vào năm 1987.

    5.Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) với sự phát triển kinh tế nước ta.

    Vai trò của FDI với sù  phát triển kinh tế nước ta được thể hiệ trên một số mặt sau :

    a.Đối với nước ta, FDI không  những đóng vai trò như một cú huých mà còn là chất xúc tác thu hót các nguồn tài chính khác. Việc các nhà đầu tư tư nhân đến Việt nam ngày càng nhiều, việc có mặt một số công ty đa quốc gia của Nhật Bản, Mỹ, Hàn quốc,Pháp,Đức…đã giúp cho các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế tin tưởng hơn vào chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, và do đó họ dành cho ta những khoản vốn ODA lớn.         b.Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần rót  ngắn khoảng cách giữa các sản phẩm Việt nam và thị ường quốc tế, giúp các doanh nghiệp Việt nam tiếp cận với thị trường quốc tế nhanh hơn, thuận lơi hơn.
    b.§Çu t­ trùc tiÕp n­íc ngoµi gãp phÇn rót  ng¾n kho¶ng c¸ch gi÷a c¸c s¶n phÈm ViÖt nam vµ thÞ ­êng quèc tÕ, gióp c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam tiÕp cËn víi thÞ tr­êng quèc tÕ nhanh h¬n, thuËn l¬i h¬n.

    c.Đầu tư nước ngoài với công nghệ và kỹ năng quả lý hiện đại đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nước ta trong nhiều ngành ngề, nhiều lĩnh vực : công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, hàng không, khai thác dầu khí …các liên doanh với nước đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trường Việt nam, giúp các doanh nghiệp Việt nam đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đào tạo một đội ngò các bộ doanh nghiệp và công nhân có trình kỹ thuật cao,có sự say mê công việc, kỷ luật cao…

    II.THỰC TRẠNG THU HÓT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam được quốc hội thông qua ngày 29/12/1987, cho đến nay đã hơn 10 năm thực hiện, dòng FDI vào Việt nam ngày càng sôi động, tuy giai đoạn hiện nay có dấu hiệu giảm sút. Đầu những năm 90, tốc độ FDI vào Việt nam tăng rất nhanh với cả số vốn đăng ký và số dự án cấp giấy phép.

    Năm 1988, năm bắt đầu thực hiện luật đầu tư nước ngoài, nước ta mới chỉ thu hót được 37 dự án với 366 triệu USD thì đến năm 1992 đã có 192 dự án với 2.2 tỷ USD và năm 1996 con số đó là 368 với số vốn đăng ký trên 6 tỷ USD. Từ năm 1997 lại đây có trững lại và giảm sút đáng kể. Tính tới nay Bộ kế hoạch và đầu tư đã cấp phép cho 2806 dự với số vốn đăng ký  là 36609 triệu USD.

    Trong hơn mười năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, ta có thể chia ra làm ba giai đoạn sau :

    1.Giai đoạn khởi động :1988-1990.

    Giai đoạn này, chúng ta mới bước đầu tiếp cận với lĩnh vực này, vừa chưa có kinh nghiệm là vừa thiếu mạnh rạn trong quyết định, người nước ngoài thì đến với nước ta như đến với một miền đất mới, vừa hấp dẫn, vừa xa lạ, họ thận trọng không dám mạo hiểm, chỉ làm thử để thăm dò cơ hội nên số lượng dự án nhiều, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư chậm.

    Trong giai đoạn này vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào hia lĩnh vực là thăm dò dầu khí và viễn thông, còn các lĩnh vực khác hầu như mới chỉ có một Ýt dự án và phần đa là chưqa triển khai. Các đối tác đầu tư nước ngoài chủ yếu là các công ty nhỏ thậm chí có cả công ty môi giới, quy mô bình quân một dự án còn nhỏ, các khoản nép ngân sách Ýt, sè lao động trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều. Do vậy chưa thực sự thu hót được sự quan tâm và chú ý của các cơ quan trung ương cũng như địa phương. Thái độ  của chúng ta là “trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nước ngoài” kể cả những nhà đầu tư thực và rởm nên hoạt động đầu tư gặp không Ýt khó khăn cả khi xin cấp giấy phép đầu tư cho đến khi triển khai thực hiện dự án.

    Năm Số dự án

    Số vốn đăng ký

    (triệu USD)

    88 37 367
    89 69 581
    90 108 635
    Tổng 214 1583

     

     

     

    2.Giai đoạn tăng trưởng nhanh : 1991-1995.

    Đây là giai đoạn tăng trưởng nhanh và thay đổi về chất lượng trong hoạt động đầu tư nước ngoài. Tháng 3 năm 1991 một diễn đàn quốc tế về hoạt động đầu tư nước ngoài có quy mô lớn với sự tham gia của hơn 650 khách nước ngoài và đại diện của nhiều tổ chức quốc tế như UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP đã được tổ chức thành công tại TP Hồ Chí  Minh. Đó là một sự kiện quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta, mở đầu thời kỳ mới trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới.       §©y lµ giai ®o¹n t¨ng tr­ëng nhanh vµ thay ®æi vÒ chÊt l­îng trong ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi. Th¸ng 3 n¨m 1991 mét diÔn ®µn quèc tÕ vÒ ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi cã quy m« lín víi sù tham gia cña h¬n 650 kh¸ch n­íc ngoµi vµ ®¹i diÖn cña nhiÒu tæ chøc quèc tÕ nh­ UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP ®· ®­îc tæ chøc thµnh c«ng t¹i TP Hå ChÝ  Minh. §ã lµ mét sù kiÖn quan träng trong ho¹t ®éng kinh tÕ ®èi ngo¹i cña n­íc ta, më ®Çu thêi kú míi trong qu¸ tr×nh héi nhËp víi kinh tÕ thÕ giíi.

    Số vốn đăng ký trong giai đoạn này là 16.245 triệu USD với 1397 dự án, năm 1991 là 1.294 triệu USD gần bằng cả nước trong ba năm trước cộng lại, tốc độ tăng trưởng bình quân cao và khá ổn định trong cả giai đoạn. Các dự án trong giai đoạn này được phân bố tương đối đều, ổn định và hợp lý. Nhiều ngành công nghiệp mới như công nghiệp điện tử, chế tạo lắp ráp ôtô, xe máy… đã ra đời. Nhiều dự án có quy mô hàng trăm triệu USD được triển khai, một số khu công nghiệp, khu chế xuất bắt đầu được xây dựng. Kết quả của một số dự án thăm dò dầu khí đã tạo cơ sở để phát triển ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu của nước ta. Nét nổi bật trong giai đoạn này là hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài đã được thể hiện ngày càng rõ.

    Số vốn thực hiện trong 5 đạt trên 6 tỷ USD, nếu đem so với tổng số vốn đầu tư của cả nước trong giai đoạn này là trên 16 tỷ USD thì nó chiếm trên dươí 40% điều này đã phần nào nói lên tính quan trọng  của đầu tư nước ngoài.

    Doanh số và kim ngạch xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ngoài tăng dần và tăng với tốc độ ngày càng nhanh vào cuối giai đoạn này. Doanh thu 149 triệu USD năm 1991 tăng lên 1387 triệu USD năm 1995, còn kim ngạch xuất khẩu từ 52 triệu USD năm 1991 lên 440 triệu USD 1995.

    Các khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước ở cuối giai đoạn này tăng lên đáng kể mặc dù phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang trong thời gian miễn thếu và giảm thuế nhập khẩu đối với vật tư máy móc, nhập khẩu để tạo tài sản cố định, vật tư nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và chưa kể đến những đóng góp của lĩnh vực dầu khí. Các khoản nép ngân sách năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1995 là 195 triệu USD.

    Hàng chục vạn người có việc làm ổn định và nhiều vạn người cũng có việc làm gián tiếp nhờ có hoạt động đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân tương đối cao so với thu nhập trung bình của xã hội.

    Tuy nhiên vào cuối của giai đoạn này đã xuất hiện nhiều vấn đề về quan điểm, nhận thức, về quản lý vĩ mô cũng như vi mô và nhiều vấn đề cụ thể khác, do vậy môi trường đã giảm bớt tính hấp dẫn. Đã xuất hiện đòi hỏi phải thay đổi thuế nhập khẩu, đặc biệt là không miện thuế nhập khẩu ôtô đối với xí ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một số cơ quan quản lý Nhà nước ở cả trung ương và địa phương ban hành thêm nhiều quy định về thủ tục hành chính tạo thêm những phức tạp đối với các nhà đầu tư, đã xuất hiện đòi hỏi của một số địa phương về việc phân cấp quyền hạn cấp giấy phép đầu tư. Ở cấp trung ương đx xuất hiện nhiều vấn đề liên ngành, trong đó một số vấn đề tồn tại khá lâu nhưng vẫn không giải quyết được như thủ tục miễn thuế có quan hệ đến Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Hải quan…vì vậy đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cơ chế, chính sách nhằm làm giảm bớt phiền phức cho nhà đầu tư.

    Năm Số dự án Số vốn đăng ký

     

    (triệu USD)

    91 151 1275
    92 197 2027
    93 274 2589
    94 364 3746
    95 408 6608
    Tổng 1397 16245

    3.Giai đọan1996 đến nay.

    Bèn  năm gần đây, cũng như tình trạng suy giảm chung của nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng xuất hiện những dấu hiệu suy giảm. Theo con số thống kê số vốn đăng ký của năm 1996 là 8.667 triệu USD, tăng 31% so với năm 1995 (6.616 triệu USD) thì có lẽ tình hình vẫn khả quan. Tuy vậy cần lưu ý rằng những ngày cuối năm 1996 đã có hai dự án xây dựng đô thị với số vốn lên tới hơn 3 tỷ $, có lẽ rất khó thực hiện mà cũng chẳng ai bá ra chõng Êy vốn một lúc, mà chỉ cần bỏ khoảng 10-15% vốn ban đầu sau đó quay vòng. Do vậy nếu hai dự án này được thực hiện thì cũng chỉ nên tính khoảng 400-500 triệu $ vào tổng vốn đầu tư mà thôi. Cách tiếp cận như vậy nhằm làm rõ và đánh giá đúng tình hình đầu tư nước ngoài trong năm 1996. Năm 1997, vốn đăng ký là 4.649 triệu $, năm 1998 là 3.897 triệu $ thấp hơn rất nhiều so với hai năm trước đó, năm 1999 là 1.562 triệu $ thì ta thấy tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt nam giảm sút rất mạnh. Trong những năm gần đây không chỉ vốn đăng ký giảm sút, mà cả số khách nước ngoài vào tìm kiếm cơ hội đầu tư cũng Ýt đi, tỷ lệ thuê phòng trong các khách sạn khá thấp, một số công ty lớn đã cắt giảm số nhân viên, và cả những tuyên bố công khai của một số nhà đầu tư lớn và môi trường đầu tư đã trở lên không thuận lợi ở nước ta.

    Tuy nhiên, nếu xét vốn đầu tư thực hiện trong các năm gần đây, năm 1996, 1997, 1998 trên 8 tỷ $ doanh thu khoảng gần 10 tỷ $, xuất khẩu 4 tỷ $,… thì sẽ thấy được vai trò ngày càng to lớn của đầu tư nước ngoài. Nhưng đó là kết quả của những năm trước, bây giê mới khai triển. Do vậy điều đáng lo ngại là sự giảm sút trong vốn đăng ký hiện nay chính là đối với sự tăng trưởng của những năm tới.

    Cần lưu ý hai sự kiện quan trọng có tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Đó là việc bộ Luật đầu tư nước ngoài mới được sửa đổi và ban hành vào năm 1996 được coi là khá thông thoáng, kèm theo thay đổi một số chính sách như thuế nhập khẩu vật tư, phương tiện vận tải. Việc ngân hàng Nhà nước ban hành chủ chương mới vệ ngoại tệ đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc phân cấp quyền cấp giấy phép đầu tư. Đó là việc thay đổi tổ chức quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư : sát nhập Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước về hợp tác và đầu tư với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thành Bộ Kế hoạch đầu tư, tiếp đó là thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư, ban quản ý khu chế xuất, khu công nghiệp. Những cải cách này đã giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư, tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.

    III.NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hót vả dụng vốn FDI là chủ trương đúng đắn cảu Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Mười năm qua FDI là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, FDI bổ xung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế Việt nam.

    Những đóng góp cụ thể của FDI vào nền kinh tế Việt nam thời gian qua là rất lớn, mặt được là chủ yếu, những thiếu sót, nhược điểm, sơ hở và thua thiệt diễn ra chủ yếu trong khâu thực hiện và nằm trong phạm vi doanh nghiệp, không phải trên những vấn đề có tính chất nguyên tắc, chủ trương và có thể khắc phục được.

     

     

    1.Những đóng góp của FDI vào phát triển kinh tế xã hội.

    a.Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế.

    Trong những năm đầu tiên bắt đầu công cuộc đổi mới, nguồn viện trợ nước ngoài (chủ yếu là từ Liên Xô và Đông Âu) bị cắt giảm đột ngột và nguồn vốn nội lực từ nền kinh tế còn rất hạn chế, thì chủ trương thu hót vốn FDI với việc ra đời Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là đúng đắn và kịp thời, đã bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.

    Với số vốn đầu tư đã thực hiện trên 17 tỷ USD, các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể vào vốn đầu tư toàn xã hội. Trong thời kỳ 1991-1995, phần vốn đầu tư nước ngoài đưa vào nước là trên 6 tỷ USD, trong khi vốn đầu tư toàn xã hội là trên 18 tỷ USD thì vốn đầu tư FDI chiếm trên dưới 30%. Năm 1996 tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 6.3tỷ USD thì FDI thực hiện đạt 2.2 tỷ USD chiếm trên 30%, năm 1997 vốn đầu tư thực hiện đạt trên 2.95 tỷ USD (trong đó vốn góp của bên nước ngoài là 2.5 tỷ USD) cũmg chiếm trên 30% vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 1.7 lần vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước và bằng 1.6 lần vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước. Trong sự phát triển kinh tế thời kỳ 1991-1995 FDI đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng 8.5%, và điều quan trọng là nhờ nguồn vốn FDI nhiều nguồn lợc trong nước đã được khai thác và phát huy tác dụng.

    Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP tăng dần qua các năm, 1992 là 2%, 1993 là 3.6%, 1996là 8.2% đến năm 1997 kể cả xây dựng cơ bản và dịch vụ khác là trên 10%.

    Khu vực FDI đã cung cấp cho thị trường một khối lượng hàng hoá lớn. Đến hết năm 1995 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã sản xuất được: trên một triệu tấn dầu thô, 60 vạn tấn thép, 50.000 tấn dầu nhờn, sản xuất và lắp ráp được 70.000 xe ôtô các loại, 30.000 cọc sợi, 35 triệu mét vải các loại, một triệu bóng đèn hình mầu, trông 13.500 ha  rừng, xây dựng 2500 phòng khách sạn đủ tiêu chuẩn quốc tế … các doanh nghiệp có vốn FDI đã góp phần tạo cho thị trường nước ta một khối lượng hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lượng tốt, đã góp phần bình ổn giá cả thị trường.

    Khu vực FDI đã góp một lượng vốn lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày một tăng, tạo khả năng giảm thu bội chi, chủ động hơn trong cân đối ngân sách. Nguồn vốn FDI đưa vào Việt nam là của tư nhân do phía Nhà nước ngoài tự cân đối ngoại tệ và bảo lãnh là chính nên không ảnh hưởng đến nợ chính phủ. Mặt khác thế mạnh của FDI trong xuất khẩu cộng đóng góp tiềm năng vào lĩnh vực thu ngoại tệ khác đã góp phần cải thiện cán cân vãng lai. Trong thời kỳ đầu tuy  nhập khẩu của khu vực FDI lớn hơn xuất khẩu, nhưng việc nhập khẩu này là tích cực vì tạo tài sản cố định và tiềm lực phát triển công nghệ, khi hoạt động của FDI đã đi vào ổn định thì khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ được thu hẹp lại và về lâu dài FDI sẽ có tác động tốt với cán cân thương mại.

    b.Nguồn vốn FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    FDI chủ yếu đầu tư vào khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, góp phần nâng cao tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Đặc biệt là, nhờ hoạt động FDI nhiều ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế đã xuất hiện như thăm dò, khai thác dầu khí, lắp dáp sản xuất ôtô xe máy,  viễn thông quốc tế và nội hạt…

    Hiện nay, khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu khí; 53,8% cán thép; 24% xi măng, trong công nghiệp điện tử, vốn FDI chiếm trên 50%, trong đó 100% về các sản phẩm phẩm như tụ điện, mạch trong, máy thu băng, đầu  video, 70% về đèn hình các loại. Trong công nghiệp dệt may, vốn FDI chiếm 100% về năng lực sản xuất sợi PE,PES , 55% năng lực kéo sợi, 39,3 năng lực may, 32% sản xuất giầy dép. Ngoài ra khu vực FDI còn chiếm 18% chế biến thực phẩm, 14% sản phẩm hoá chất. Với năng suất lao động cao và khả năng tạo ra 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng 21-24%/năm, khu vực FDI có tác động ngày càng lớn đến nền kinh tế.

    Khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của nền sản xuất nước ta. Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào nước ta như thiết kế, chế tạo máy biến thế, dây truyền tự động lắp dáp hàng điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ thuật số, công nghệ sản xuất cáp điện, cáp thông tin…nhìn chung các thiết bị là đồng bộ, có trình độ cao bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến trong nước và thuộc loại phổ biến ở các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp, chất lượng tiêu chuẩn Việt nam, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    c.Khu vực có vốnFDI đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực

    Cho đến nay khu vực FDI đã thu hót được vạn 30 vạn lao động trực tiếp, nếu tính cả gián tiếp (xây dựng, dịch vô …) ước tính lên tới gần 40 vạn người, với mức lương trung bình 70USD/ tháng, ước tính thu nhập hàng năm lên tới trên 300 triệu USD.  Qua hợp tác đầu tư người lao động Việt nam có điệu kiên nâng cao tay ngề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ và kinh ngiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao đông công nghiệp ..

    d.Đầu tư nước ngoài giúp sản phẩm Việt nam gia nhập thị trường quốc tế nhanh hơn, giúp các nhà sản xuất Việt nam nhanh chóng tiếp thu trình độ và phương pháp quản lý tiên tiến. đầu tư nước ngoài tạo ra một sức cạnh tranh mới cho thị trường Việt nam, buộc các nhà sản xuất Việt nam phải năng động, tiếp thu công nghệ tiên tiến…

    e.Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng hợp tác với nước ngoài theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt nam vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay có trên 60 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt nam, trong đó có nhiều tập đoàn, công ty lớn có nhiều tiềm năng về công nghệ và tài chính như P&G, tập đoàn ôtô FORD, TOYOTA,…điều đó đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho Việt nam tham gia ASEAN, ký hiệp định kkhung với Châu Âu bình thương hoá quan hệ với Mỹ, phá thế bao vây cấm vận và nâng vị thế của Việt nam tại khu vực và trên thế giới.

    Bên cạnh những mặt tích cực trên, trong hoạt động đầu tư nước ngoài cũng còn một số hạn chế, yếu kém gây cản trở tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội.

    2.Mét số mặt chưa được trong quan hệ đầu tư nước ngoài.

    a.Mức nép ngân sách Nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của nó. Nguyên nhân chính là do nhiều doanh nghiệp còn bị thua lỗ hay đang trong thời kỳ miên giảm thuế.

    b.Tốc độ triển khai dãy sè  còn chậm so với dự kiến ban đầu, do các thủ tục sau khi cấp giấy phép phức tạp, kéo dài, đặc biệt là các vấn đề đất đai, nhập  khẩu thiết bị đã qua sử dụng.

    c.Vấn đề lao động và tiền lương : các địa phương chưa chú trọng đến công tác đào tạo lao đọgn cung cấp cho các doanh nghiệp mà việc này là  phần  lớn các doanh nghiệp phải tự tổ chức nên hiệu quả không như mong muốn, có nhiều trường hợp làm trái với quy định của Nhà nước. Các cơ quan làm nhiệm vụ cung cấp lao động thường không chịu trách nhiệm về chất lượng của người lao động, dẫn đến việc đưa cả người không lương thiện vào làm việc, gây mất an ninh trong doanh nghiệp.

    Về tiền lương, hiện nay vẫn còn tình trạng cố tình vận dụng sai chính sách quy định để giảm tiền lương của người lao động. Theo quy định, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trả lương công nhân bằng ngoại tệ do vậy ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngoại tệ của doanh nghiệp, gầm đây Bộ Lao động thương binh và xã hội đã đề nghị Chính phủ cho phép các doanh nghiệp trả lương công nhân bằng nội tệ nhưng không được chấp nhận.

    d.Vấn đề môi trường : đây là vấn đề quan trọng nhưng chưa được chú ý đúng mức. Nhiều dừ án đã đi vào sản xuất nhưng chưa có công trình sử lý nước thải, đặc biệt là chất rắn, gây ô nhiễm môi trường, nhiều dự án xây dựng xong mới báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    e.Cơ sở hạ tầng : hiện nay các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ là những ngành có rủi ro thấp mà thu hồi vốn nhanh mà Ýt dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng do vậy cơ sở hạ tầng nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    Trên đây là một số hạn chế của hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta đã nhìn nhận thấy từ lâu và cố gắng khắc phục, tuy nhiên có nhiềi vấn đề động đến lợi Ých của nhà đầu tư nên không thể giải quyết trong một chốc lát mà phải làm từ từ và có sự cộng tác chặt chẽ với nhà đầu tư mới hy vọng giải quyết triệt để được.

    IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÓT VỐN ĐÂU  TƯ  NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có được thực hiện hay không, điều đó tuỳ thuộc vào cả hai phía, bên đi đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư vì vậy để thu hót và sử dụng có hiệu quả FDI cần thiết phải kết hợp được hài hoà lợi Ých giữa hai bên. Trong điều kiện hiện nay hoạt động đầu tư nước ngoài  gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng  của cuộc khung hoảng tài chính trong khu vực, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp không Ýt khó khăn. Để gây được lòng tin của nhà đầu tư chúng ta cần có những biện pháp giúp đỡ các doanh nghiệp đang hoạt động tháo gỡ khó khăn và giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà đối với các nhà đầu tư tạo điều kiện cho họ giảm bít  được chi phí đầu tư và nhanh chóng đưa dự án đi vào hoạt động.

    Hơn nữa, hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước thu hót vốn đầu tư  nước ngoài. các quốc gia như Trung Quốc, Ên Độ …luôn cải cách các thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trương đầu tư để tăng cường thu hót vốn FDI. Việt Nam muốn thu hót  được nhiều hơn nữa vốn FDI cũng buộc phải có những cải cách thực sự.

    Để tăng cường thu hót vốn đàu tư  nước ngoài hơn nữa, trong thời gian tơí, chúng cần tập chung giải quyết một số việc sau :

    1.Tập trung cao độ công tác quản lý, điều hành tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các dự án đang hoạt động

    Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, các cơ quan quản lý Nhà  nước các cấp phải có thái độ thực sự chia sẻ, coi các khó khăn của họ là khó khăn của mình, từ đó tập trung chỉ đạo và điều hành xử lý các vấn đề phát sinh, tạo điều kiện cho họ vượt qua tác động của cuộc khủng hoảng, an tâm tiếp tục đầu tư, hết sức để tránh xẩy ra đổ vỡ và họ rót  lui. Đó cũng là cách làm có tính thuyết phục cao để gây dựng lòng tin với các nhà đầu tư đang hoạt động và để thu hót các nhà đầu tư mới, các dự án mới. Tại cuộc gặp và làm việc với các công ty dầu khí  nước ngoài tại Hà nội ngày 7/7/1998, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh “ chính phủ sẽ chia sẻ rủi ro, thiệt hại với các nhà đầu tư. Việt Nam làm ăn với  nước ngoài luôn có trước có sau, chúng tôi không muốn ai vào Việt Nam mà về tay không. chính phủ sẽ có gắngd tháo gỡ, ngiên cớu chính sách, để sửa đổi một cách nhanh chóng theo định hướng tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, vì điều này có lợi cho các nhà đầu tư  nước ngoài và có lợi cho Việt Nam, nghĩa là hai bên chúng ta cùng có thắng”.

    Trên tinh thần đó đề nghị các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các địa phương nhanh chóng rà soát tất cả các dự án trên địa bàn để có biện pháp sử lý, hỗ trợ thích hợp.

    a.Đối với các dự án đang làm thủ tục hành chính hoặc đang xây dựng cơ bản, chưa đi  vào hoạt động cần tiến hành các biện pháp sau :

    – Kiểm tra tình hình triển khai các dự án để tìm hiểu kỹ các nguyên nhân, tập chung tháo gỡ các thủ tục hành chính gây phiền hà cản trở tiến độ triển khai dự án, xử lý các hiện tượng gây phiền hà sách nhiễu đói với nhà đầu tư, bãi bỏ các thủ tục giấy tờ không cần thiết, công bố rõ quy trình, trách nhiệm và thời  gian sử lý các thủ tục quy định. Cố gắng tập trung các đầu mối về sở kế hoạch và Đầu tư, tránh phân quyền cho quá nhiều cơ quan làm phức tạp quá trình xử lý gây phiền hà.

    – Kiến nghị  Nhà  nước cho phép một số doanh ngiệp có vốn FDI có nhu cầu thực sự và khả năng trả nợ vay vốn  tại các ngân hàng Việt Nam. Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước phối hợp ban hành các quy chế về cầm cố, thế chấp để doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài có thể vay vốn của các ngân hàng trong và ngoài  nước, của các tổ chức tài  chính quốc tế.

    -Chỉ đạo thực hiện nhanh chóng việc đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã cấp giấy phép. Kiến ngị Bộ Tài chính khả năng đưa chi phí đền bù vào giá tiền thuê đất, đảm bảo tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong  nước về giá tiền thuê đất. Hoãn hoặc miễn tiền thuê đất đối với các dự án xin dừng hoặc giãn tiến độ triển khai vì gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực.

    b.Đối với các dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cho các dự án  đã  cấp giấy phép đầu tư hưởng ngay những ưu đãi của quy định về thuế lợi tức, giá thuê đất mới, xem xét miễn giảm thuế đất đối với các doanh nghiệp thực sự lỗ vốn …hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp đang thực sự khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực, xuất khẩu  bị thu hẹp.

    -Cho phép các dự án sản xuất hàng xuất khẩu  đang gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu được điều chỉnh tỷ lệ tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm mà trong  nước vẫn nhập khẩu, thị trường trong  nước có nhu cầu hoặc chuyển đổi mặt hàng kinh doanh. Khuyến khích đối đa các doanh nghiệp xuất khẩu , các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trung gian phục vô  xuất khẩu, tạo mọi thủ tục nhanh chóng dễ  dàng thuận tiện cho xuất khẩu  sản phẩm.

    – Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp áp dụng chế độ kế toán thống kê thông dụng quốc tế, xem xét lai thời hạn bắt buộc tất cả các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán Việt Nam, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính doanh nghiệp FDI nhằm khắc phục sơ  hở gây thiệt hại đến lợi Ých Nhà nước Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam. Cần sớm có luật về kiểm soát bán phá giá và chống độc quyền, luật kinh doanh bất động sản…

    Cho phép chuyển một số liên doanh làm ăn thua lỗ nặng mà  phía Việt Nam không có  khả năng cùng gánh chịu thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Ngừng việc cấp giấy phép xây dựng mới và giãn tiến độ xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất để tập trung vào các khu công ngiệp hiện có. Đối với các khu công nghiệp đã cấp giấy phép nhưng chưa triển khai xây dựng thì tạm ngừng triển khai xây dựng, đối với các khu công nghiệp đang bắt đầu đầu tư thì giãn tiến độ đầu tư. Các khu công nghiệp phải chuyển trọng tâm và hoạt động vận động đầu tư để lấp đầy đủ diện  tích cho thuê.

    2.Tăng cường quán triệt đầy đủ, nhất quán Nghị quyết Đại hội trung ương Đảng lần thứ IV về phát huy nội lực, thực hiện nhất quán chính sách thu hót các nguồn lực bên ngoài.

    Để tăng cường thu hót vốn đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới, chúng ta phải đổi mới công tác vân động đầu tư theo hướng gắn liền với các dự án, chương trình cụ thể, các cơ  quan hữu quan phải có trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn các chủ đầu tư trong quá trình tìm hiểu, chuẩn bị dự án. soạn thảo phổ biến chính sách tài liệu bằng các thứ tiếng thông dụng, sử dụng Iternet trong công tác tuyên truyền vận động đầu tư.

    3. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam.

    Để cải thiên mạnh mẽ môi trường đầu tư, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến FDI : nghị định 12/CP ; nghị định 08/1/98 NĐ-CP. Các bộ, ban , ngành đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện các nghị định, chỉ thị nêu  trên.

    4.Bè trí cán bộ có năng lực, phẩm chất vào vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp liên doanh.Bồi dưỡng đào tạo lại cán bộ đang làm việc tại gần một ngìn liên danh, xây dựng và phát huy vai trò của tổ chức Đảng, công đoàn.

    Trên đây là một số giải pháp tình thế trước mắt nhằm giảm bớt các khó khăn cho các doanh nghiệp có vốn FDI và xây dựng lòng tin với các nhà đầu tư. Về lâu về dài chúng ta phải đưa ra những biện pháp có tính chiến lược như sau :

    5.Thiết lập hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất.

    Nước ta vẫn được các nhà đầu tư đánh giá là  nước có thể chế chính trị ổn định. Tuy nhiên, họ cũng rất băn khoăn về tình trạng thiếu tính hệ thống của pháp luật, tạo nhiều lỗ hổng về mặt pháp lý, đặc biệt các nhà đầu tư kêu ca về tình trạng thay đổi quá nhanh và đôi khi tuỳ tiện một số quy định về mức thuế, thời hạn áp dụng. Do vậy việc hoàn chỉnh hệ thốngpháp luật được coi là nhiệm vụ quan trọng và cần phải được quan tâm giải quyết.

    6.Cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư .

    Đối với các nhà đầu tư “ thời gian là vàng” chỉ cần chậm chân có khi chỉ một vài ngày là đã mất cơ hội làm ăn. Trong khi đó thủ tục hành chính của  nước ta vẫn còn rất nhiều điều gây phiền hà, mất thời gian cho các nhà đầu tư. Một số không  Ýt công chức Nhà nước quá lạm dụng quyền hạn của mình mà quên mất trách nhiệm hướng dẫn taọ điều kiện cho nhà đầu tư. Vì vậy một trong các nhiệm không thể chậm chễ là phải cải cách hành chính ở tất cả các khâu một cách tối ưu.

    7.Lập quy hoạch chi tiết vùng lãnh thổ, chuẩn bị những điều kiện cần thết cho quá trình chuẩn bị đầu tư.

    Trong công tác quy hoạch vùng chúng ta còn nhiều bất cập, vì vậy dẫn đến hiện tượng vốn FDI tập trung quá nhiều vào các vùng có điều kiện thuận lợi, để tạo thuận lợi cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng, chúng ta phải lập được quy hoạch chi tiết về vùng lãnh thổ.

    Chương III

    Vận dông một số phương pháp thống kê vào phân tích thực trạng đầu tư  nước ngoài vào Việt nam thời gian qua.

     Thu hót  đầu tư nước ngoài là một trong các chính sách kinh tế quan trọng nó góp phần không nhỏ vào phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đọan hiện nay.

    Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của các cô chú trên vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện, em đã có được một số tài liệu phản ánh thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ  1988 – 1999 bao gồm các số liệu cụ thể sau:

    Số liệu về số dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đầu tư, số vốn đầu tư thực hiện. Các số liệu trên được phân theo năm, theo nghành kinh tế và theo đối tác đầu tư. Với nguồn số liệu này cho phép phân tích tình hình thu hót và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua, phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo nghành kinh tế, cơ cấu theo vùng kinh tế, theo đối tác đầu tư và biến động cơ cấu theo tiêu trên.

    Số liệu về một số kết quả mà hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại như : sè liệu về doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, về tình hình xuất nhập khẩu của bộ phận có vốn đầu tư nước ngoài, về nép ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm  cho người lao động.  Với các số liệu này cho phép em phân tích một số chỉ tiêu kết quả do hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại và mối liên hệ giữa các chỉ tieeu trên với chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện.

    Dưới đây xin trình bày cụ thể kết quả  phân tích các chỉ tiêu trên qua các phương pháp thống kê thông dụng.

    I . VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.TỪ 1988 –1999.

    Để nghiên cứu thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt nam, ta có thể ngiên cứu qua một số chỉ tiêu chủ yếu như : sè vốn đăng ký ,sè  dự án được cấp giấy phép, số vốn thực hiện, một số chỉ tiêu kết quả chủ yếu… Đây là các chỉ tiêu chình, thường được sử dụng trong việc đánh giá hoạt động đầu tư nước ngoài.

    1.Ngiên cứu biến động của : sè dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đăng ký, số vốn thực hiện  và quy mô bình quân một dự án.

    a.Số vốn đăng ký

    Trong hơn 10 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã thu được một kết quả rất lớn được thể hiện trong bảng sau đây.

    Biểu số 1:vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam thơig kỳ 1988-1999

    Năm Số dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Quy mô bình quân của dự án
    88 37 367 9,9
    89 69 581 8,4
    90 108 635 5,9
    91 151 1275 8,4
    92 197 2027 10,3
    93 274 2589 9,4
    94 367 3746 10,2
    95 408 6608 16,2
    96 265 8640 32,6
    97 346 4654 13,4
    98 275 3925 14,2
    99 309 1562 5,0
    Tổng 2,806 36609 13,1

    Như vậy, kể từ khi đưa luật đầu tư nước ngoài vào thực hiện đến nay cả nước ta đã thu hót được 2806 dự án với số vốn đăng ký là 36609 triệu USD, nhìn vào biểu trên ta thấy trong cả thời kỳ trên có thể chia ra làm ba giai đoạn sau căn cứ vào xu hướng biến động riêng của từng giai đoạn

    Giai đoạn mét :1988-1990 giai đoạn “khởi đầu”, sau một thời kỳ dài nền kinh tế bị trãi buộc dưới cơ chế quản lý tập trung, đất nước ta rơi vào một cuộc khủng hoảng kéo dài. Tại Đại Hội Đảng lần thứ VI năm 1987 Đảng và Nhà nước ta quyết định chuyển hướng nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước  đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế kêu gọi các nhầ đầu tư quốc tế đầu tư vào Việt nam, Luật Đầu Tư Nước Ngoài được ban hành cuối năm 19887 là sự cụ thể hoá chủ trương này

    Giai đoạn này, cả nước thu hót được 214 dự án, với số vốn đăng ký là 1583 triệu USD, tốc độ phát triển của số dự án và vốn đăng ký là khá cao  bình quân 170% với dự án và 162% với vốn đăng ký, nhưng lượng tăng tuyệt đối thì khá nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do cả phía ta và nhà đầu tư. Về phía ta, do đây là buổi ban đầu nên chúng ta cũng chưa thật sự tin tưởng, điều này được thể hiện qua bộ luật đầu tư bn hành năm 1987 còn khá chặt chẽ với các nhà đầu tư. Về phía các nhà đầu tư họ chưa quen với thị trương Việt nam nên cũng rất thận trọng trong các bước đi.
    Nguyªn nh©n chñ yÕu do c¶ phÝa ta vµ nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa ta, do ®©y lµ buæi ban ®Çu nªn chóng ta còng ch­a thËt sù tin t­ëng, ®iÒu nµy ®­îc thÓ hiÖn qua bé luËt ®Çu t­ bn hµnh n¨m 1987 cßn kh¸ chÆt chÏ víi c¸c nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa c¸c nhµ ®Çu t­ hä ch­a quen víi thÞ tr­¬ng ViÖt nam nªn còng rÊt thËn träng trong c¸c b­íc ®i.

    Giai đoạn hai :1990-1995 “giai đoạn tăng trưởng nhanh”

    Giai đoạn này cả nước thu  hót được 1397 dự án, với số vốn đăng ký là 16245 triệu USD, sự tăng trưởng trong giai đoạn này là khá nhanh, tốc độ phát triển bình quân của dự án là : 130% của sè  vốn đăng ký là : 150%, lượng tăng tuyệt đối bình quân : dù án là 75 dự án/năm, số vốn đăng ký là 2882 là triệu USD/ năm, so với thời kỳ trước số dự án gấp 6,5 lần số vốn đăng ký gấp 10,26 lần.

    Đạt được kết quả này là do chóng ta đã mạnh dạn tin tưởng vào vào đường lối đề ra, Luật đầu tư  nước ngoài hai lần được sửa đổi bổ xung vào các năm 1990 và1992 nhằm làm cho môi trường đầu tư thông thoáng hơn và phù hợp với tình hình, về phía các nhà đầu tư họ đã mạnh dạn đầu tư vào Việt nam vì nước ta là một nước với thị trường rộng mở, lao động rẻ, tài nguyên phong phú và nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới.

    Giai đoạn 1996-1999

    Trong cả giai đoạn này cả nước thu hót được 1195 dự án với số vốn đăng ký là 19389 triệu USD, so với giai đoạn trước số vốn mới cấp tăng 120%. Điều đáng nhắc đến trong giai đoạn này là với nỗ lực rất lớn của Chính phủ Việt nam thể hiện bằng việc năm 1996 bộ luật đầu tư mới được ban hành được coi là rất thông thoáng thì lượng vốn đăng ký ngày càng giảm dần : trung bình 30% năm. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã ảnh hưởng mạnh tới các nhà đầu tư lớn vào Việt nam như ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc. Một lý do khác nữa là môi trường đầu tư nước ta còn nhiều khó khăn trở ngại cho nhà đầu tư,

    Về quy mô dự án : nhìn chung quy mô dự án tăng dần theo thời gian  giai đoạn 1988-1990 quy mô trung bình một dự án là 7,4 triệu USD, giai đoạn 1991-1995 là 11,6 triệu USD một dự án, giai đoạn 1996-1999 là 16,25 triệu USD một dự án. Qua quy mô dự án ta thấy phần nào sự chuyển hướng trong đầu tư.

    So với kế hoạch đề ra phải thu hót được từ 35-40 tỷ USD vốn đầu tư giai đoạn 1991-2000 thì kết quả như trên đã là đạt mục tiêu đề, tuy nhiên kết quả yếu kém trong thời gian gần đây sẽ là một khó khăn lớn trong việc thực hiện kế hoạch của giai đoạn tới.

     

     

     
    Vốn đầu tư đăng ký theo thơi gian

    b.Vốn đầu tư thực hiện.

    Trong hoạt động đầu tư nước ngoài, việc thu hót được nhiều dự án và vốn đăng ký là việc rất quan trọng tạo ra cơ sở nền tảng cần thiết, nhưng một việc không kém phần quan trọng là đưa số dự án được cấp giấy phép và vốn đăng ký vào hoạt động. Đây là một việc phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan nhà đầu tư, vai trò của chúng ta là phải làm sao cho họ thật sự tin tưởng, mạnh dạn bỏ vốn cũng như hỗ trợ họ trong quá trình thực hiện đầu tư.

    Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ năm 1988, nhưng vốn đầu tư thực sự đưa vào Việt nam nhiều kể từ 1991 sau khi  các dự án hoàn tất các thủ tục đầu tư vào các nhà đầu tư thật sự tin tưởng vào chính sách thu hót vốn FDI của Việt nam, số liệu thực hiện vốn đầu tư từ 1988 đến 1999.

     
    Biểu sè 2: Vốn đầu tư thực hiện từ 1991 đến 31/12/1999
    Năm Vốn ĐT thực hiện(triệuUSD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển%
    Liên hoàn Định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 477      
    92 536 59 59 120 120
    93 1090 554 643 203 243
    94 2204 1114 1757 202 493
    95 2720 516 2273 123 608
    96 2836 116 3173 104 643
    97 3620 784 1687 127 809
    98 2134 -1486 1079 58 477
    99 1526 -608 1049 71 341
    Tổng 15015        

    Nhìn vào biểu trên ta thấy, lượng vốn tăng mạnh từ năn 1991 đến 1997, tốc độ tăng trong giai đoạn này là khá cao bình quân là 141% năn, lượng tăng tuyệt đối bình  quân là 628,6 triệu USD năn, tổng vốn đầu tư thực hiện trong cả thời kỳ này là 15015 riệu USD, Tuy nhiên cùng với sự suy giảm chung của nền kinh tế đất nước, vốn đầu tư thực hiện trong hai năm gần đây liên tục giảm : năm 1998 giảm so với 1997 là 42% tức 1486 triệu USD, năm 1999 giảm so với 1998 là 29% tức 608 triệu USD.

    So với vốn đăng ký, tỷ lệ vốn đưa vào thực hiện đạt trung bình là 41%, tỷ lệ này so với các nước trong khu vực là tương đối thấp. Ta thấy có một hiện tượng là nếu những năm liền trước có nhiều vốn đăng ký thì năm

    sau vốn thực hiện cũng cao. Tức là có hiện tượng “trễ” so với vốn đăng ký, vốn thực hiện năm nay thường là kết quả của vốn đăng ký những năm liền trước, vì vậy năm 1997 trong khi vốn đăng ký giảm so với vốn thực hiện là

    46% thì vốn thực hiện lại tăng 127%, do vậy kết quả yếu kém trong thu hót vốn đầu tư những năm gần đây sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch trong những năm đầu của thập kỷ này.

    Vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    c.Vốn đầu tư thực hiện và tương quan với vốn đầu tư toàn xã hội.

    Trong cả thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế, mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu, hàng năm vốn đầu tư luôn ở mức rất cao, lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau.

    Vốn đầu tư FDI và vôn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1990- 1999

    Năm Vốn đầu tư toàn xã hội (A) Tốc độ phát triển của A (%) Vốn FDI (B) Tốc độ phát triển của B
    90 7581 990
    91 13470 177 1926 194
    92 24736 183 5185 269
    93 42176 170 10621 204
    94 54296 128 16500 155
    95 68047 125 22000 133
    96 79367 116 22700 103
    97 96870 122 30300 133
    98 96400 99 24300 80
    99 103900 106 18900 77
    Tổng 586840   158820  

    Trong cả thời kỳ vừa qua, vốn đầu tư toàn xã hội là 586840 tỷ đồng, trong đó vốn FDI là 158820 tỷ, chiếm 27%, để huy động được lượng vốn khổng lồ này. Nhà nước ta phải huy động từ rất nhiều nguồn : từ NSNN, vốn vay trong dân( qua các loại công trái ), vay nước ngoài (vay các chính phủ và các tổ chức tài chính thế giới). Trong các nguồn trên ta thấy có hai nguồn là : từ vay trong dân và vốn FDI là hai nguồn có tiềm năng nhất, do đó việc khai thác tốt hai nguồn này sẽ tạo ra động lực rất lớn cho việc phát triển. Nguồn vốn từ trong dân có thể coi là nội lực, còn nguồn FDI được coi là “cú huých”, tất cả các nước đang phát triển trong đó có Việt nam nguồn vốn này vai trò của nó rất quan trọng.

    Qua biểu trên ta thấy : so với tốc độ biến động của vốn đầu tư toàn xã hội tốc độ biến động của vốn FDI biến động nhanh hơn : giai đoạn đầu vốn FDI tăng rất nhanh : 194% năm 1991; 269% năm 1992; 204% năm 1994 và 155% năm 1995. Sau đó tốc độ tăng chững lại và giảm dần từ năm 1997 trong khi vốn đầu tư toàn xã hội vẫn tiếp tục tăng , điều này phần nào thể hiện sự giảm dần tính hấp dẫn trong môi trườn đầu tư nước ta.

    2.Phân tích FDI theo biến động  cơ cấu .

    a.Biến động cơ cấu kinh tế

    Cơ cấu vốn đầu tư trong cả thời kỳ 88-99

    Trong một thời kỳ dài trước đây trước đây chúng ta chủ trương xây dựng đất nước theo hướng “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và nông ngiệp” có thể thấy đây là một nhận thức giáo điều, dập khuôn theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Từ khi mở cửa nền kinh tế đất nước quan điểm của chúng ta còng thay đổi với chủ trương “phát triển nông lâm ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tăng cường phát triển công ngihệp nhẹ và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển có chọn lọc một số ngành công ngiệp nặng mòi nhọn”

    Xuất phát từ quan điểm này chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế với cơ cấu ngành theo hướng của một nc công nghiệp phát triển với các chỉ tiêu cụ thể sau đây : ngành nông ngiệp chiếm từ 19-20% GDP, ngành công nghiệp chiếm từ 35-40% GDP, ngành dịch vụ chiếm khoảng 40% GDP.

    Trong quan hệ hợp tác đầu tư với nước ngoài, chúng ta cũng định hướng thu hót vốn và các dự án theo hướng chú trọng vào phát triển công nghiệp trọng điểm, công nghiệp chế biến để làm ngòi nổ cho các ngành khác phát triển.

    Biểu sè 4: Cơ cấu vốn đầu tư  phân theo ngành kinh tế từ 1988-1999

    Ngành Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK (%) Vốn TH/Dự án (triệu USD)
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    N.N 363 12,3 1361 3,7 1123 6,2 82,5 3,09
    C.N 187 62,9 18978 52,0 9795 57,2 51,6 4,95
    D.V 742 24,8 16269 44,3 6420 37,6 39,4 8,65
    Tổng 2806 100,0 36609 100,0 17184 100,0 0,47 6,12

    Số dự án được cấp giấy phép đầu tư phân theo nghành kinh tế

    Ta thấy ngành công ngiệp là ngành có nhiều dự án đầu tư nhất với 1823 dự án chiếm 62,9% tổng số, tiếp đến là ngành dich vụ với 720 dự án và sau đó là ngành nông ngiệp chỉ với 352 dự án,

     

    Trong nội bộ ngành công nghiệp nghành công nghiệp chế tạo máy móc thu hót được 535 dự án chiếm gần 30%, ngành công nghiệp nhẹ và công ngiệp chế biến thu hót được 958 dự án chiếm trên 50%.

     
    Số dự án phân theo ngành  kinh tế
     

    So với ngành nông nghiệp và dịch vụ, công nghiệp thu hót được nhiều vốn nhất với 18.956 triệu USD chiếm 52%, ngành dịch vụ có 16250 triệu USD chiếm 44,3%, ngành nông ngiệp chỉ có 1.360 triêu USD chiếm 3,7% tổng số vốn đầu tư. Về quy mô bình quân một dự án thì ngành công nghiệp là 10,4 triệu USD /một dự án, ngành dịch vụ là 22,5 triệu USD lớn hơn công ngiệp rất nhiều, có hiện tượng này là các dự án đầu tư vào xây dựng khu đô thị được tính vào ngành dịch vụ.

    Nhìn vào biểu tên ta thấy, ngành công nghiệp là ngàng có vốn đầu tư thực hiện cao nhất với 9498 triệu USD chiếm 55,2%, tiếp đến là ngành dịch vụ có 6420 triệu USD triệu USD chiếm 37,6% tổng số, ngành nông ngiệp chỉ với 1420 triệu USD bằng 8,2% có tỷ trọng nhỏ nhất.

    Ngành công ngiệp có vốn đầu tư  lớn vì : so với ngành dịch vụ và ngành nông ngiệp thì vốn đầu tư cho một dự án thuộc lĩnh vực công ngiệp cần phải có lượng vốn đầu tư lớn hơn, có dù  án vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD như VIETSOVPETRO, dự án trương trình dầu khí Nam Côn Sơn  và các dự khác trong lĩnh vực chế tạo ôtô, xe máy…hơn nữa là đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công ngiệp thực phẩm vòng quay của vốn rất nhanh lại rễ đạt được lợi nhuận cao nên có nhiều dù  án được thực hiện, lĩnh vực dầu khí là lĩnh vực mà các nhà đầu tư tham gia đầu tư là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh nên khả năng thực hiện cũng rất cao.

     
     
    Vèn ®Çu t­ thùc hiÖn ph©n theo ngµnh kinh tÕ

     

    Biểu sè 5: Tỷ trọng trong GDP của một sè  nước Châu á năm 1990         đơn vị %

    Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Hàn Quốc 6 43 51
    Đài Loan 4,2 42,3 53,5
    Malaixia 13,5 42,2 44,3

    So sánh với các nước trên, là các quốc gia tương đối phát triển trong khu vực, ta thấy vốn FDI đầu tư vào nước ta cũng đi theo hướng của một nước công nghiệp phát triển như chủ trương mà chúng ta đã đề ra từ đầu.Biến động cơ cấu theo thời gian

    Biến động  cơ cấu vốn đầu tư theo theo thời gian.

     

    Biểu sè 6: Biến động vốn đầu tư đăng ký

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 314,5 20 752 47,5 518 32,5
    91-95 670,4 4,1 8852,8 54,5 6721 41,2
    96-99 376 2 9081,6 48,5 9296 49,5

    Nhìn vào biểu trên cho ta thấy : ngành công nghiệp có lượng vốn đầu tư tương đối ổn định, nhành dịch vụ có lượng vốn đầu tư vào liên tục tăng, nguyên nhân chính là hai ngành mới được đầu tư với số vốn đăng ký đến là ngành xây dựng khu công nghiệp- khu chế xuất, và ngành xây dựng khu đô thị thuộc lĩnh vực dịch vụ. Ngành nông nghiệp có tỷ trọng vốn đầu tư liên tục giảm, nhưng điều đáng mừng là những dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp phần nhiều thuộc lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng và chế biến nông sản.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư đăng ký theo thời gian

    Biểu sè 7: biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian 88-99

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 25 5,8 752,0 47,5 245 46,7
    91-95 430 5,9 8852,8 54,5 2979 39,6
    96-99 695 7,1 9081,6 69,5 3196 23,4
    Chung 1150 4,4 18686,4 71,2 6420 24,4

    Qua biểu trên ta thấy, vốn đầu tư thực hiện có xu hướng tăng rõ rệt trong ngành công nghiệp, nếu giai đoạn trước (1991-1995) nó chiếm tỷ trọng là 45,5% thì trong giai đoạn này tăng lên là 61,4%, Ngành nông nghiệp cũng tăng nhẹ (do tốc độ chậm nên tỷ trọng giảm từ 9,7 xuống còn 7,1%), riêng ngành dịch vụ giảm xuống từ 47,8% còn 31,5%.

    Như vậy ta thấy có xu hướng chuyển dịch vốn đầu tư từ các lĩnh vực dịch vụ sang lĩnh vực sản xuất, đây là một sự chuyển dịch hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    1. Cơ cấu lãnh thổ.

    Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu phát triển của chúng ta là mang đến sự phồn vinh cho tất cả mọi cá nhân trong xã hội, xây dựng một nền kinh tế phát triển cân đối giữa các vùng các địa phương trong cả nước. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp, vốn đầu tư cho phát triển có hạn do đó không thể đầu tư dàn trải mà phải có trọng điểm nên phần nào đã làm mất cân đối giữa các vùng trong cả nước. Hơn nữa các nhà đầu tư luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên họ luôn tìm nơi có điều kiện thuận lợi, chi phí đầu tư thấp để bỏ vốn, do đó để thực hiện mục tiêu phát triển cân đối ngày càng trở nên khó thực hiện.

    Nghiên cứu vốn đầu tư theo lãnh thổ ta chia cả nước thành ba miền : miên Bắc – miền Nam – miền Trung, và hai vùng : đồng bằng và miền núi.

    Biểu sè 8 vốn đầu tư phân theo lãnh thổ giai đoạn 88-99
    Miền Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    Bắc 792 28,2 12659 34,6 5057,7 30 39,9 6,4
    Trung 210 7,5 3832 10,5 772,5 4,5 20,2 3,6
    Nam 1803 64,3 20122 55,1 11353,8 65,5 56,42 6,3
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Về vốn đầu tư đăng ký

    Nhìn vào hai biểu trên cho ta nhận định vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam với 1577 dự án chiếm 64,3% và 18662triệu USD chiếm 55,1% số vốn đăng ký. Tiếp theo là các tỉnh phía Bắc với 692 dự án chiếm 28,2% và 11743 triệu USD chiếm 34,6% vốn đăng ký, miền Trung chỉ có 184 dự án với số vốn đăng ký là 3554 triệu USD. Trong hai miền trên vốn đầu tư cũng chỉ tập chung ở hai trng tâm kinh tế lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.

    Vốn đầu tư cũng tập trung rất Ýt ở các tỉnh miền núi, trong hơn 10 năm các tỉnh miền núi chỉ thu hót được 125 dự án (5% số dự án ) và 1632triệu USD vốn đăng ký.

    Vốn đầu tư tập trung ở hai khu vực tên tuy đã góp phần xây dựng nên hai trung tâm kinh tế lớn là :TP Hồ Chí Minh- Vũng Tàu và Hà Nội- Hải Phòng –Quảng Ninh, nâng cao đáng kể thu nhập của dân cư ở các trung tâm này nhưng nó cũng đồng thời tạo ra sự mất cân đối lớn giữa các vùng lãnh thổ, không tạo ra nguồn lực để phát huy thế mạnh ở các tỉnh không thuộc hai trung tâm này đồng thời cũng không cải thiện được thu nhập của phần đông dân cư tập trung ở nông thôn và miền núi.

     

    Nhận biết được điều này ,Chính phủ đã có nhiều biện pháp kích thích đầu tư vào các tỉnh miền núi và có điều kiện khó khăn như tăng thời hạn miễn thuế, giảm thuế, tăng tỷ lệ tiêu thụ nội địa cho các doanh ngiệp đầu tư vào các tỉnh trên nhưng kết quả cũng không được như mong muốn.

    Vốn đầu tư đăng ký theo lãnh thổ

                        Về vốn đầu tư thực hiện

    Cũng như vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện tập trung chủ yếu ở miền Bắc với 3432,2 triệu USD chiếm 30% và niềm Nam với 7805 triệu USD chiếm 65,5. Hai trung tâm lớn là Hà nội  và TP Hồ Chí Minh có 5168 triệu USD chiếm 44%, Ngoài các yếu tố về lợi thế thương mại, cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại thì yếu tố quản lý cũng là một yếu tố khiến vốn tập trung ở hai vùng này cao. Niềm Nam vốn tập trung cao còn do các  khu công ngiệp, khu chế xuất tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, đây có thể dường như là một mất cân bằng trong quy hoạch vùng của chúng ta

     

    Vốn đầu tư thực hiện phân theo vùng lãnh thổ

    1. Cơ cấu đầu tư theo đối tác

    Cho đến nay đã có 66 quốc gia và vũng lãnh thổ tham gia đầu tư vào Việt nam, trong số các nước này ta có thể phân ra thành 4 nhóm sau :

    Nhóm mét : các nước vùng Đông Bắc Á bao gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông.

    Nhóm hai : các nước công nghiệp hàng đầu châu Âu và Bắc Mỹ bao gồm : Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Canada.

    Nhóm ba gồm các nước ASEAN.

    Nhóm bốn :các nước còn lại.

    Biểu sè9 : vốn đầu tư phân theo đối tác đầu tư 1988-1999
    Khu vực Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lương Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    ASEAN 516 20 8493 23,3 3082 18 36,3 5,9
    Đông Bắc Á 4131 51 14790 40,4 7963 46,3 53,8 5,56
    Châu Âu+Bắc Mỹ 420 15 8237 22,5 3713 21 45,8 8,98
    Các nước khác 392 14 5418 13,8 2426 14,7 44,77 6,2
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Dẫn đầu trong các nhà đầu tư vào Việt nam là các nước và vũng lãnh thổ Châu Á, nếu gộp cả hai nhóm nước ASAEN và Đông Bắc Á thì hai nhóm này chiếm 70% số dự án (1774 dự án ) và 63,7% số vốn đăng ký (22639 triệu USD). Đây là nhóm các nước bị ảnh hưởng nặng nhất của cuộc khủng hoảng vừa qua nên qua đây ta cũng phần nào thấy được nguyên nhân dẫn đến tình hình đầu tư vào nước ta thời gian gần đây suy giảm.

    Hiện nay tham gia đầu tư vào Việt nam đã có các công ty hàng đầu của Châu á như : Toyota, Sony, Huyndai, Samum…và một số công ty hàng đầu của Mỹ và Châu Âu. Tuy vậy số đến từ Châu Âu và Mỹ là các công ty xuyên quốc gia và các tập đoàn lớn chưa nhiều, theo  một số thì Việt nam không phải là lùa chọn số một của họ, trong thời gian gần đây chúng ta chủ trương sang thu hót vốn đầu tư từ Châu Âu và Mỹ vì đây là những nước luôn đi đầu trong cung cấp vốn FDI nên chúng ta phải tăng cường hơn nữa việc vận động đầu tư đối vơí các nhà đầu tư của hai khu vực này.

    Cơ cấu vốn đầu tư  đăng ký theo đối tác đầu tư
     
     
     

    Về cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác, ta thấy dẫn đầu cũng là các nước vùng Đông bắc Á chiếm 46,3%, tiếp đến là các nước hàng đầu Châu Âu và Bắc Mỹ chiếm 21%, các nước ASEAN đứng ở vị trí tiếp theo với 18%. Ta thấycó sự chuyển dịch vị trí so với vốn đăng ký, các nước Châu Âu và Bắc Mỹ đã nhẩy lên vị trí thứ hai về vốn đầu tư thực hiện vị trí mà các nước ASEAN chiếm giữ trong vốn đầu tư đăng ký. Qua đó ta  thấy được khả năng đưa dự án vào thực hiện của các nước Châu Âu và Bắc Mỹ là 45,8% cao hơn so với các nước ASEAN 36,3%, phải chăng ngoài tiềm lực tài chính mạch hơn các nhà đầu tư ASEAN các nhà đầu tư Châu Âu và Bắc Mỹ luôn ngiên cứu kỹ cơ hội hơn khi quyết định đăng ký đầu tư nên các dự án đầu tư của họ tính khả thi cao hơn.

     

     

     

     

     

     

    Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác

     

     

     

     

     

     

     

     

    3.Vận dụng phương pháp dãy số thời gian phân tích một số chỉ tiêu kết quả.

    a.Chỉ tiêu doanh thu.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất với hoạt động của một doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài cũng phần nào căn cứ vào chỉ tiêu này để đánh giá tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta.

    Biểu sè10 doanh thu của bộ phận FDI trong thơig kỳ 91-99

    Năm Doanh thu (triệu USD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển (%)
    Liên hoàn định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 149  
    92 208 59 59 139 139
    93 449 241 300 215 301
    94 952 503 803 212 639
    95 1872 920 1723 196 1256
    96 2583 711 2434 138 1733
    97 3605 1133 3456 139 2419
    98 3823 218 3674 106 2565
    99 4600 777 4451 120 3087
    Tổng 18241        
     

    Ta thấy tổng doanh thu trong hơn mười năm hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI đạt 18241 triệu USD, Năm 1991 mới đạt khoảng 149 triệu USD thì đến năm 1999 đã tăng lên là 4600 triệu USD gấp khoảng 30 lần, tốc độ tăng bình quân của tổng doanh thu là 153% ( khoảng 556 triệu USD\năm ) đặc biệt các năm 1992 và 1993 doanh thu tăng  bình quân là  trên  200%  năm.

    Doanh thu của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài

    Về lợi nhuận : theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống Kê, có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn có lãi, năm 1994 tổng lợi nhuận của các doanh ngiệp có vốn FDI là 452,2 triệu USD, năm 1995 là 494,2 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1996 là 289,5 triệu USD. Đây là lợi nhuận sau khi đã bù trừ đi phần thua lỗ của các doanh ngiệp làm ăn chưa gặp thuận lợi và chịu thua lỗ. Các con số này tuy chưa phải là nhiều nhưng cũng phần nào khẳng định tính hiệu quả trong làm ăn ở Việt nam.

    Về thua lỗ : năm 1994 có 197 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 54,3 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1997 có 342 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 96 triệu USD. Nguyên nhân thua lỗ chủ yếu là do các doanh ngiệp đưa toàn bộ chi phí hình thành doanh nghiệp vào giá thành những năm đầu và một yếu tố nữa là khấu hao tài sản quá lớn. Phải chăng ở đây có vấn đề giá thành máy móc thiết bị đưa vào liên doanh quá cao so với thực tế và phía nước ngoài muốn nhanh chóng thu hồi vốn về quá nhanh mà Nhà nước chưa kiểm soát được.

    b.Kim ngạch xuất khẩu

     Các doanh nghiệp có vốn FDI tham gia hoạt động trong nên kinh tế Việt nam đã xuất khẩu được một khối lượng hàng hoá đáng kể, thể hiện qua bảng sau:

    Biểu sè 11: kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời kỳ 91-98

    Năm Tổng KNXK triệu USD (A) Xuất khẩu FDI triệu USD (B) B/A (%) Tốc độ phát triển của A (%) Tốc độ phát triển của  (B)
    91 2087 52 2,5
    92 2580 112 4,3 124 215
    93 2985 257 8,6 116 229
    94 4054 352 8,7 136 113
    95 5448 440 8,08 134 125
    96 7255 786 10,83 133 179
    97 9185 1786 19,48 127 228
    98 9361 1982 21,17 102 110
    Tổng 42957 5771 13,4    

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn FDI trong giai đoạn từ 1991-1995 đạt 5771 triệu USD, tốc độ phát triển bình quân của chỉ tiêu này là 168% năm, đây là một tốc độ phát triển khá cao, vì vậy sau 8 năm quy mô xuất khẩu tăng lên 38 lần. Năm 1997 được coi là một mốc son trong tiến trình này đánh dấu con số trên 1 tỷ USD trong kim ngạch xuất khẩu (1786 triệu USD) và tốc độ phát triển so với 1996 là 228%.

    Với giá trị 5771 triệu USD trong cả giai đoạn này, so với cả nước là 42957 triệu USD chỉ bằng 13%, tuy vậy kết quả đạt được là ở chỗ tỷ trọng của bộ phận này liên tục tăng, năm 1991chỉ chiếm 2,5% thì đến năm 1998 đã đạt trên 20%. Một kết quả nữa là xuất khẩu của khu vực này đã khắc phục được khá nhiều nhược điểm  xuất khẩu của Việt nam như mặt hàng chưa qua chế biến hoặc giá trị gia công thấp chiếm tỷ trọng cao, xuất khẩu của khu vực FDI hầu hết các sản phẩm đã qua chế biến (trừ dầu thô) và Ýt trường hợp xuất khẩu qua nước trung gian.

     
     
     

    Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 91-98

    c.Đóng góp vào nền kinh tế đất nước.

    Đóng góp vào nền kinh tế đất nước của khu vực FDI được thể hiện qua hai chỉ tiêu là : Nép NSNN và đóng góp vào GDP.

     

    Biểu sè 12 : Đóng góp vào nền kinh tế quốc dân

    Năm Nép NSNN triệu USD (A) Tốc độ phát triển của (A) Tỷ trọng trong GDP (%)
    91    
    92 91(*) 2
    93 120 3,6
    94 128 107 6,1
    95 195 152 6,3
    96 263 135 9,1
    97 315 120 10,1
    98 317 101  
    99      
    Tổng      
     

    Nép NSNN của khu vực FDI trong thời kỳ vừa qua đạt 1492 triệu USD, mặc dù còn nhiều doanh nghiệp đang trong giai đoạn miễn và giảm thuế, tuy nhiên tỷ lệ đóng góp vào NSNN đạt 6 -7% tổng thu, nếu tính cả các khoản thu từ dầu khí thì tỷ lệ này khoảng trên 20%. So với các khu vực khác nép NSNN từ khu vực FDI bằng 63% từ khu vực kinh tế Nhà nước và băng 200% các khoản thu từ các khu vực tư nhân và cá thể.

    Nép  ngân sách Nhà nước từ 92-98

     

     d.Giải quyết việc làm cho người lao động

    Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động trong thời gian qua của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện qua biểu dưới đây

    Biểu số13:giải quyết việc làm cho người lao động 94-99
    Năm 94 95 96 97 98 99
    Tính đến 31/12 hàng năm 88000 139000 173000 250000 270000 296000
    Tăng hàng năm 51000 34000 77000 20000 26000

    Tính đến nay, các doanh nghiệp có vốn FDI đã giải quyết việc làm cho gần 300 nghìn lao động (đây là theo cách tính của Việt nam , còn theo cách tính của ngân hàng thế giới WB thì con số này là gần một triệu người). So với trên 40 triệu lao động con số này chưa phải là lớn, tuy nhiên nhưng cái được mà nhờ hoạt động đầu tư nước ngoài là lao động Việt nam đã học hỏi được, điều đó lại không nằm trên những con số cụ thể như : những lao động Việt nam làm việc trong các doang nghiệp này có điều kiện tiếp xúc với công nghệ mới, cách thức quản lý tiên tiến, được đào tạo qua thực tế thành những người lao động có trình độ cao và kỷ luật tốt, điều này càng có tác dụng lớn hơn khi nó tạo được hiệu ứng lan toả sang các bộ phận khác trong toàn nền kinh tế.

    Một điều nữa là thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn các khối khác, theo kết quả điều tra năm 1996 thì thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong các doanh nghiệp có vốn FDI là 94USD\ tháng, đây cũng là một yếu tố kích thích sự cạnh tranh giữa những người lao động, buộc họ phải chăm chỉ học hỏi nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.

     
     
     

     

    II. PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU KẾT QUẢ.

    Vốn đầu tư thực hiện là số vốn thực tế đã đi vào sản xuất kinh doanh hoặc đang trong quá trình xây dựng lắp  đặt để chuẩn bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn đầu tư thực hiện có thể coi là đầu vào của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, muốn thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều cần thiết và tất yếu là phải có một lượng vốn nhất định.

    Một số chỉ tiêu kết quả ở đây như là : doanh thu, kim ngạch xuất khẩu, nép ngân sách Nhà nước …đây có thể coi là đầu ra của hoạt động đầu tư.

    Như vậy thực chất của mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và một số chỉ tiêu kết quả trên là mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình đầu tư. Trong mối liên hệ này, các chỉ tiêu kết quả là tiêu thức phụ thuộc, còn vốn đầu tư thực hiện là tiêu thưcá nguyên nhân.       .

     

     

    1.Mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện – doanh thu.

    Từ kết quả thực tiễn của hoạt động đầu tư thời gian vừa qua, cho ta một nhận định là : khi vốn đầu tư thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu của bộ phận FDI cũng tăng lên, nhưng tốc độ tăng của hai tiêu thức này không cùng một tỷ lệ, mà với tốc độ khác nhau. Do đó tồn tại mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và doanh thu, nhưng đây không phải là mối liên hệ hoàn toàn chặt chẽ mà là liên hệ tương quan vì nói chung là khi vốn thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu cũng tăng lên, nhưng doanh thu không chỉ phụ thuộc vào vốn đầu tư thực hiện mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như giá cả, sức mua của thị trường.

    Để phản ánh mối liên hệ này ta sử dụng phương trình hồi quy thị tuyến tính đơn. Mô hình có tổng quát dạng sau :  xn.a +b.x

    đơn vị: tỷ  USD

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Doanh thu (y) x.y x2
    91 0,213 0,149 0,031 0,045
    92 0,394 0,208 0,081 0,155
    93 1,099 0,449 0,493 1,207
    94 1,946 0,952 1,852 3,786
    95 2,671 1,872 5,000 7,134
    96 2,646 2,583 6,834 7,001
    97 3,250 3,605 11,716 10,562
    98 1,956 3,505 6,855 3,825
    Tổng 13,800 13,323 32,866 33,825

    Các tham sè a, b được tìm từ hệ sau :

    x = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay các trị tính được từ bảng vào ta có hệ

    13,323 = 8.a+ 13,8.b

    32,866 = 13,8 +33,825.b

    Giải hệ phương trình trên cho ta kết quả a= 0.036 ; b =0.986

    đây là phương trình hồi quy phản ánh mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện (x) và doanh thu (y) trong hoạt động đầu tư trực tiếp  nước ngoài thời gian vừa qua.

    Trong phương trình này, giá trị của tham sè a= 0.036 có thể xem là ảnh hưởng của các nguyên nhân khác đến doanh thu như sự biến động của giá cả thị trường…b= 0.986 nói lên ảnh hưởng cảu vốn đầu tư thực hiện đến doanh thu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiên tăng thêm một đơn vị thì doanh thu tăng bình quân là 0.986 đơn vị.

    Hệ số tương quan :

    = =0,886

    r= 0.886 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa daonh thu và vốn đầu tư thực hiên là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Độ co giãn E(x) =  b.0,986  =  =1,021

    êE(x)ê  = 1.021 >  1   nên biến thiên của doanh thu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

     
       

    2.Mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu.

    Vốn đầu tư thực hiện là yếu tố tiền đề của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Khi vốn đầu tư được vận hành nó sẽ tạo ra các sản phẩm hàng hoá, quy mô của nền sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và quy mô của nền sản xuất quyết định khối lượng hàn hoá nó tạ ra. Khi vốn đầu tư tăng lên thì quy mô của nền sản xuất sẽ tăng và khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất cũng tăng. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam đều phải cam kết một tỷ lệ nhất định sản phẩm do họ sản xuất ra sẽ được xuất khẩu và vì vậy khi khối lượng sản phẩm họ sản xuất ra tăng lên thì khối lượng sản phẩm xuất khẩu cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ giữa tiêu thức vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu (của các doanh nghiệp có vôn đầu tư nước ngoài). Đây là mối liên hệ tương quan, bởi vì ta thấy vốn đầu tư thực hiện có quan hệ với kim ngạch xuất khẩu nhưng không có tính chất quyết định hoàn toàn, kim ngạch xuất khẩu còn phụ thuộc vào thị trường, vào giá cả quốc tế…

    Để biểu diễn mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    Mô hình tổng quát :  xn.a +  b.x

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Kim ngạch xuất khẩu (y) x.y .x2
    91 0,213 0,052 0,011 0,045
    92 0,394 0,112 0,044 0,155
    93 1,099 0,257 0,282 1,207
    94 1,946 0,352 0,684 3,786
    95 2,671 0,440 1,175 7,134
    96 2,646 0,786 2,079 7,001
    97 3,250 1,790 5,817 10,562
    98 1,956 1,982 3,876 3,825
    Chung 13,800 5,177 13,968 33,825

    Các tham sè a, b được xác định từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay số vào ta được          5,177=8.a +13.8.b

    13,968 = 13,8.a +33,825.b                                  13,968 = 13,8.a +33,825.b

    giải hệ phương trình cho ta kết quả : a=-0,231;  b = 0,508

    Trị số của tham sè a= – 0.231 nói lên ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài vốn đầu tư thực hiện như giá cả trên thị trường quốc tế …tới kim ngạch xuất khẩu. Có thể giải thích dấu âm (-) ở đây là khi bắt đầu quá trình  đầu tư, lúc này chưa thể có sản phẩm để xuất khẩu mà còn phải nhập  khẩu nên kim ngạch xuất khẩu sẽ âm.

    Trị số của tham sè b= 0.508 nói lên ảnh hưởng của vốn đầu tư thực hiện tới kim ngạch xuất khẩu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiện tăng thêm một đơn vị thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng bình quân là 0.508 đơn vị.

    Hệ số tương quan

    = = 0.861

    =1,725 ; 1,665 ; =4,108

    dX = 1,307 ;    dY =1,343

    r= 0.861 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Hệ số co giãn E(x) : EX = b.=0,508. =1,35

     

    çE(x)ê =1.354 >  1  nên cho ta nhận định là tốc độ tăng của kim ngách xuất khẩu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

    3.Mối liên hệ giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng. Khi quy mô sản xuất của các doanh nghiệp tăng lên thì doanh thu cũng có su hướng tăng lên, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp họ đều phải đóng góp cho Nhà nước thông qua các khoản thúc và các khoản đóng góp cũng tăng lên khi quy mô sản xuất tăng lên.

    Dùa vào kết quả hoạt động của hoạt động đầu tư nước ngoài ta thấy rằng, khi mà doanh thu tăng lên thì đóng góp vào ngân sách Nhà nước cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ tương quan giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước đây chỉ là mối liên hệ tương quan bởi vì doanh thu quyết định nhưng không quyết định hoàn toàn mức nép ngân sách Nhà nước vì mức đóng góp vào ngân sách còn do mức thuế suất, lợi nhuận của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …

    Để biểu biểu diễn mối quan hệ này ta dùng mô hình hồi quy tuyến tính dơn có dạng tổng quát sau đây :

    Mô hình tổng quát : x =n.a +b.x

    Năm Doanh thu Nép ngân sách Nhà nước x.y X2
    93 499 120 53880 14400
    94 952 128 121856 16384
    95 1872 195 365040 38025
    96 2583 263 679329 69169
    97 3605 315 1135575 99225
    98 3823 317 1211891 100489
    Tổng 13284 1338 3567282 337692

    Tìm tham sè a,b từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    Thay các giá trị từ bảng trên vào hệ phương trình :

    1338= 6a +13284b

    3567282= 138284 + 337692.b

    = 2,69 +0.2 x

    Từ hệ trên ta có giá trị của a,b là: a= 2,69 ; b= 0,2.

    Từ kết  quả trên cho ta mô hình cụ thể sau

    a= 2,69 cho ta biết các nhân tố khác bên ngoài doanh thu ảnh hưởng tới nép ngân sách Nhà nước của khu vực FDI.   a= 2,69 cho ta biÕt c¸c nh©n tè kh¸c bªn ngoµi doanh thu ¶nh h­ëng tíi nép ng©n s¸ch Nhµ n­íc cña khu vùc FDI.

    b= 0.2 cho ta nhận định rằng khi mà doanh thu tăng lên 1 đơn vị thì nép ngân sách Nhà nước tăng bình quân là 0.2 đơn vị.

    Hệ số hồi quy    HÖ sè håi quy

    x=2214; =223; =594547

    dX = 1257,3 ;    dY = 80,97

    =

    r = 0,88 cho ta rót ra nhận xét là: mối quan hệ giữadoanh thu và nép ngân sách Nhà nước là mối quan hệ thuận và rất chặt chẽ, cụ thể là mức tăng lên của nép ngân sách Nhà nước do doanh thu quyết định 98%

    E      EX = b. =

    êE(x)ç =1,985 > 1 cho ta nhận định là tốc độ tăng của doanh thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chậm hơn tốc độ nép ngân sách Nhà nước.

     
       

    I.      MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

    Đầu tư nước ngoài là một vấn đề rất rộng, có liên quan hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. phạm vi hoạt động của đầu tư nước ngoài cũng rất rộng, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có sự tham gia hoạt động của đầu tư nước ngoài, ngoài ra đầu tư nước ngoài còn hoạt động ở ngoài  thềm lục địa.

    Hơn nữa, đầu tư nước ngoài còn là một lĩnh vực mới, do đó thống kê hoạt động đầu tư nước ngoài là một việc làm phức tạp, có liên quan đến nhiều cấp, ngành, địa phương trong cả nước. Trong hơn 10 năm hoạt động của đầu tư nước ngoài công tác thống kê đầu tư nước ngoài cũng trưởng thành dần và ngày càng khăngr định vai trò của mình trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động này, tuy nhiên do tính chất phức tạp của công việc, nên cũng tồn tại khá nhiều vấn đề trong thực tế hoạt động mà công tác thống kê chưa giải quyết được.

    Dưới đây xin nên nêu một số kiến nghị nhá :

    Sự thiếu thốn nhất trong số liệu về đầu tư nước ngoài.Trong thực tế hiện nay, tồn tại khá nhiều nguồn số liệu về đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là : nhiều cơ quan Nhà nước vì yêu cầu công việc nên tổ chức thu thập và xử lý thông tin về đầu tư nước ngoài theo yêu câù và mục đích sử dụng thông tin của mình. các nguồn số liệu này lại không thống nhất với nhau.

    Chẳng hạn, số liệu về đầu tư nước ngoài do Bộ Kế hoạch và đầu tư cung cấp và do Tổng cục Thống kê cung cấp thường có sự chênh lệch nhau. Một nguyên nhân nữa dẫn đến hiện tượng này là quan điểm của các cơ quan thu thập số liệu cũng có sự khác nhau. Theo quan điểm của Bộ Tài chính vốn đầu tư thực hiện có tính đến cả diện tích mặt đất, mặt biển,….được đưa vào sử dụng trong quá trình đầu tư, theo quan điểm của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà hai bên hoặc các bên đưa vào hoạt động, còn theo quan điểm của WB thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào hoạt động.

    Chính vì những nguyên nhân trên nên số liệu đầu tư nước ngoài thường không thống nhất với nhau đẫn đến khó khăn cho người sử dông . do đó, để hoàn thiện công tác thống kê chúng ta phải thống nhất tổ chức thu thập và xử lý thông tin trong toàn quốc.

    KẾT LUẬN

    “Non sông Việt nam có trở nên vẻ vang hay không,dân téc Việt nam có sánh vai được với các cường quốc nam châu hay không, đó chính nhõ phần lớn vào công học tập của các cháu”

    Noi theo lời dạy của Bác, bao thế hệ cha anh chóng ta đãkhông quản hy sinh vất vả để xây dựng một nước Việt nam tươi đẹp như ngày.

    Tuy nhiên so với bạn bề trên thế giới chúng ta còn phải làm rất nhiều việc, tiếp nối thế hệ cha anh, tôi và các bạn phải chung laòng gánh vác sự nghiệp đó, để Việt nam có thể trử thành một nước công nghiệp phát triển trong tương lai, để khi nhắc tới Việt nam bên cạnh những chiến tích lịch sử hoà hùng, bạn bè quốc tế còn phải nghĩ tới một nước “giầu về kinh tế, coa về trí tuệ, đẹp về văn hoá” và đi đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học quan trọng.

    Để những mong muốn trên sớm trở thành hiên thực, phát triển kinh tế là một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu tạo ra tiền đề về vật chất kỹ thuật cho sự phát triển lâu dài và ổn đĩnh xuất phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế và tiếp thu kinh nghiệp của các nước trong khu vực trong, chóng ta đã mạnh dạn mở cửa làm ăn với nước ngoài.

    Trong quá trình mở cửa và hội nhập có những mặt được và cũng tông tại những mặt chưa được , nhiện vụ của các nhà thống kê là phải phản ánh chính xác kịp thời hiện tượng, giúp các nhà cơ quan quản lý Nhà nước có những thông tin đúng về tình hình kinh tế xã hội nhằm giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn kịp thời. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc chúng ta ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phải hết sức chăm chỉ học hành nâng cao kiến thứcvà rèn luyện đạo đức tốt.

    Cuối cùng xin cảm ơn TS . Trần Kim Thu và các thầy cô giáo cùng các cô các chú công tác tại Vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện đã giíup êm hoàn thành giai đoạn thực tập tốt nghịêp và chuyên đề này.

    Hà nội  6- 2000.

    (*) Tæng nép ng©n s¸ch cho ®Õn n¨m 1991


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Vi%E1%BB%87t-Nam-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-g%C3%B3c-%C4%91%E1%BB%99-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Đầu tư trực tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trong của nguồn vốn này hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giớ đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA. Tuy nhiên đây lại phụ thuộc vào chính sách phát triển và khả năng phát triển của mỗi nước. Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa của Đảng và nhà nước, nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức. Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã khẳng định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những chủ trương hàng đầu, góp phần khai thác nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. tạo nên sức mạnh phục vụ cho Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, phất triển đất nước.

    Để bắt kịp với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho Việt Nam, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm đã nghiên cứu chọn đề tài: “Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2013- 2014”

    Nội dung

     

    I.                   Tổng quan về môi trường đầu tư

    1.     Khái niệm môi trường đầu tư

    Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào quốc gia đó.

    2.     Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư

    • Các yếu tố kinh tế
      • Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
      • Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán, thu chi ngân sách quốc gia
      • Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành, giảm thuế, trợ cấp…
      • Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
    • Các yếu tố Thể Chế – Luật Pháp
      • Sự bình ổn: Xem xét sự bình ổn của các yếu tố chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Sự bình ổn cao sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh và ngược lại.
      • Chính sách thuế: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ, thuế thu nhập…
      • Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá…
      • Chính sách: Các chính sách thương mại, chinh sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chinh sách điều tiết cạnh tranh,bảo vệ người tiêu dùng.
    • Các yếu tố văn hóa xã hội

    Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dung tại các khu vực đó.

    Các yếu tố xã hội thì mang tính quyết định khi các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, bởi đây là yếu tố sẽ chia cộng đồng thành những nhóm khách hàng có đặc điểm, tâm lý,thu nhập khác nhau.

    • Yếu tố công nghệ
    • Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới,vật liệu mới
    • Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
    • Khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

    2.5      Yếu tố hội nhập

    • Chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ
    • Các rào cản thương mại mà các nhà đầu tư phải vượt qua khi muốn gia nhập thị trường
    • Mức độ tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng như ký kết các hiệp ước quốc tế
    • Độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế…

    II.               Đánh giá tình hình môi trường quốc tế của Việt Nam hiện nay dưới góc độ của nhà đầu tư nước ngoài

    1.     Thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam năm 2013-2014

    Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch đầu tư) cho biết đến hết năm 2013, Việt Nam thu hút được gần 22 tỷ đôla vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gồm cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm. Dòng vốn FDI được đánh giá là thay đổi tích cực cả về chất và lượng, đặc biệt là giải tỏa bớt khó khăn cho nền kinh tế về mặt vốn đầu tư trong bối cảnh 2013 không phải là một năm khả quan.Theo số liệu thống kế, vốn FDI thực hiện trong năm 2013 đạt mức cao nhất kể từ năm 2008 và chất lượng vốn đầu tư cũng được xem là từng bước cải thiện, chẳng hạn, tỷ lệ đầu tư vào các dự án có quy mô lớn với hàm lượng công nghệ cao, công nghệ chế biến và chế tạo đều tăng.

    Theo báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 2/2014 mà Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư) vừa công bố, tính đến ngày 20/2/2014 cả nước có tổng cộng 122 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 830,87 triệu USD. Con số này chỉ bằng 80,7% so với cùng kỳ năm 2013.

    Với 41 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, tổng vốn đăng ký tăng thêm ở mức 708,79 triệu USD, vỏn vẹn bằng 3% so với cùng kỳ năm 2013. Như vậy, tính chung trong 2 tháng đầu năm 2014, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm vào Việt Nam đạt mức 1,54 tỷ USD, giảm 62,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tuy vậy, vốn giải ngân ước đạt 1,12 tỷ USD, vẫn tăng 6,7% với cùng kỳ năm 2013.

    Báo cáo cũng cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2014, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 14 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 62 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 1,18 tỷ USD, chiếm 76,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 2 tháng.

    Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm ở mức 278,33 triệu USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư. Và kế đến là vận tải kho bãi với 9 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 21,75 triệu USD.

    Trong tổng số 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Hàn Quốc đang chiếm vị trí dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 468,98 triệu USD, chiếm 30,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 264,55 triệu USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư. Trong tháng 2/2014, Nhật Bản chỉ đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 263,36 triệu USD, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư.

    Hiện tại, trong cán cân thương mại của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn chiếm vị trí “áp đảo” với con số 65,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 2 tháng đầu năm. Xuất khẩu của khu vực này (kể cả dầu thô) dự kiến đạt 13,86 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Nhập khẩu đạt 11,86 tỷ USD, tăng 17,1% so cùng kỳ và chiếm 56,48% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 2 tháng, khối doanh nghiệp này đã xuất siêu trên 2 tỷ USD.

    2.     Vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng môi trường đầu tư năm 2013

    • Bảng xếp hạng khu vực

    Dựa theo bản báo cáo “Asia Pacific Investment Climate Index 2013” của Vriens & Partners, chúng ta có các số liệu chính phân tích chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013.

     

     

     

     

     

     

    Chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013

    Thứ hạng

     

    tổng kết

    Quốc Gia Xếp hạng quy định pháp luật Xếp hạng mức độ mở cửa  KTQT Xếp hạng ổn định chính trị Xếp hạng mức  áp thuế Xếp hạng mức độ tham nhũng Xếp hạng quản trị tài chính tiền tệ Tổng điểm
    1 Singapore 2 2 2 2 2 1 89.8
    2 Hong Kong 4 1 5 1 4 3 87.0
    3 New Zeland 1 3 1 3 1 6 86.9
    4 Australia 3 4 4 10 3 4 81.1
    5 Brunei 8 10 3 4 7 2 73.8
    6 Đài Loan 6 5 7 7 6 7 73.0
    7 Nhật Bản 5 8 6 11 5 11 72.2
    8 Hàn Quốc 9 7 8 6 8 5 69.9
    9 Malaysia 7 6 9 5 9 9 66.8
    10 Thái Lan 10 9 12 9 10 10 57.9
    11 Trung Quốc 11 15 10 15 11 8 54.1
    12 Philippines 13 11 14 14 13 13 50.0
    13 Indonesia 16 12 18 12 16 12 47.7
    14 Campuchia 17 14 15 8 17 15 46.3
    15 Việt Nam 15 17 11 16 15 16 45.8
    16 Sri Lanka 14 13 16 19 12 19 45.1
    17 Ấn Độ 12 17 17 18 13 17 44.8
    18 Lào 18 20 13 17 19 14 40.8
    19 Myanmar 19 16 19 20 18 18 37.9
    20 Bangladesh 20 19 20 13 20 20 35.9

     

    So sánh chỉ số này giữa các năm:

    Nguồn:  Vriens & Partners

    Năm 2013, Việt Nam chỉ xếp hạng thứ 15 (tụt 3 hạng so với năm 2012) về tổng điểm đánh giá môi trường đầu tư trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bảng phân tích này đưa ra xếp hạng về các chỉ số: quy định pháp luật, mức độ mở cửa kinh tế quốc tế, mức độ ổn định chính trị, mức áp thuế, mức độ tham nhũng và mức độ quản lý tài chính tiền tệ.

    Về tổng điểm,Việt Nam chỉ xếp trên các nước Sri Lanka, Ấn Độ, Lào, Myanmar và Bangladesh. Còn trong các chỉ số đầu tư, chỉ số được đánh giá cao nhất của Việt Nam là mức độ ổn định chính trị (hạng 11/20) và chỉ số bị đánh giá thấp nhất lại chính là mức độ mở cửa kinh tế quốc tế (hạng 17/20).

    • Bảng xếp hạng thế giới

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2012

    Nguồn:  A.T.Kearney Foreign Direct Investment Confidence Index 2012

    Theo nghiên cứu về chí số tin tưởng FDI năm 2012 của A.T.Kearney, Việt Nam đứng thứ 14/25 và mặc dù tuột 2 hạng so với năm 2010 thì Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường đầu tư quốc tế có mức tin tưởng cao, vượt trên cả các nước Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản ….

     

     

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2013

    Tuy nhiên tới năm 2013, chỉ có duy nhất Việt Nam đã tuột khỏi bảng xếp hạng này trong khi các quốc gia Châu Á khác vẫn trụ lại. Điều này chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam đang dần mất đi tính cạnh tranh và giảm mạnh sự thu hút đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Còn trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu Best countries for business 2013 của Global Finance,Việt Nam xếp hạng thứ 99 về mức độ thuận lợi trong kinh doanh trên tổng số 185 nước nghiên cứu (tụt 1 hạng so với năm 2012) và chỉ xếp hạng thứ 108/ 185 (tụt 5 hạng so với năm 2012) về mức độ thuận lợi khi bắt đầu kinh doanh – bao gồm các yếu tố thủ tục, thời gian, chi phí để đăng ký kinh doanh.

    Nguồn: Global Finance

    Theo báo cáo thường niên về Môi trường Kinh doanh thế giới 2013 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 29/10/2013, đây là năm thứ 8 liên tiếp, Singapore giữ vị trí đầu bảng xếp hạng của WB. Góp mặt trong top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất còn có sự hiện diện của Malaysia với vị trí thứ 6,Thái Lan vị trí thứ 18. Trái ngược với đà bứt phá mạnh mẽ của các nước láng giềng, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn bị đánh giá là chưa có biến chuyển tích cực nào.

    Điều đáng nói là trong số 10 chỉ tiêu đánh giá của WB, có tới 7 chỉ tiêu bị rớt điểm. Trong đó, riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138 trên 183 quốc gia, xuống vị trí 149 trên 189 quốc gia. Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác lại bị đánh giá ở mức cực kỳ thấp, thậm chí là gần như đội sổ toàn cầu. Ví dụ: tiêu chí xếp thành lập doanh nghiệp xếp hạng thứ 109/189, tiêu chí về cấp điện xếp hạng 156/189, tiêu chí về bảo vệ đầu tư đứng thứ 157/189, và tiêu chí xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đứng thứ 149/189… Chi tiết xếp hạng các chỉ số:

    Các tiêu chí đánh giá Năm 2013

     

    (trên 189 nước)

    Năm 2012

     

    (trên 183 nước)

    Mức độ thuận lợi kinh doanh 99 99
    1. Thành lập doanh nghiệp 109 108
    2. Cấp phép xây dựng 29 28
    3. Tiếp cận điện năng 156 155
    4. Đăng kí tài sản 51 48
    5. Vay vốn tín dụng 42 40
    6. Bảo vệ nhà đầu tư 157 169
    7. Nộp thuế 149 138
    8. Thương mại quốc tế 65 74
    9. Thực thi hợp đồng 46 44
    10. Xử lí doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 149 149

    Nguồn: World Bank

    2.     Thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về chính trị: Môi trường chính trị Việt Nam được đánh giá là tương đối ổn định. Theo báo cáo Chỉ số Hòa Bình toàn cầu năm 2013 của Viện Kinh tế và Hòa Bình, Việt Nam xếp hạng thứ 41/158 nước và vùng lãnh thổ và được đánh giá cao về ổn định chính trị.
    • Về pháp luật:
    • Bên cạnh việc ban hành những văn bản Luật doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, Luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và đặc biệt xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng môi trường. Mới đây, vào ngày 19/2/2014, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến về Luật Đầu tư sửa đổi nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, minh bạch để thu hút đầu tư; tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư; giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp.
    • Các cổng thông tin và cổng đăng ký trực tuyến về đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp được phát triển giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hành chính và được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch hơn.Ngày 14/3/2014, Bộ Ngoại giao, Bộ thông tin truyền thông phối hợp với Văn phòng đại diện Ngân hàng thế giới tại Việt Nam chính thức đưa vào sử dụng hệ thống quản lý cấp thị thực trực tuyến từ nguồn vốn ODA của World Bank.
    • Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 32% (1997) cho đến 25% (2009) và gần đây nhất là 22%(hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực 01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn.
    • Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá…nhằm thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến các lĩnh vực này.
    • Luật thuế XNK cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời những hiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế.
    • Về văn hóa – xã hội: Theo nhìn nhận của một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Việt Nam là nước có lực lượng lao động dồi dào và ngày càng được nâng cao chuyên môn tay nghề. Hơn nữa, các nhà đầu tư Nhật Bản còn đánh giá, nhân lực Việt Nam không những dồi dào (63% dân số dưới tuổi 35), lương thuê công nhân rẻ (thu nhập bình quân 100 USD/tháng đối với lao động phổ thông, khoảng 210 USD/tháng với lao động có bằng cấp), giá nhân công Việt Nam đang thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực.và áp lực tăng lương không cao, bước đầu tạo thuận lợi cho những nhà đầu tư mới.
    • Về môi trường kinh tế:
    • Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ [1] , ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế[2]
    • Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.
    • Lần đầu tiên, Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất trong số các nước ứng cử; được đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) niên khóa 2013-2014, tiếp đó là được bầu vào Uỷ ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO nhiệm kỳ 2014-2017. Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị Liên Nghị viện IPU vào năm 2015. Lần thứ hai trong APEC, Việt Nam đươc tín nhiệm giao đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017, và hiện nay đang tích cực triển khai cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, ứng cử lần thứ hai vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, ứng cử vào Ủy ban Kinh tế – Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018).
    • Về khoa học – công nghệ
    • Hiên nay, Việt Nam đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học. thêm vào đó là khoảng hơn 2 triệu công nhân kĩ thuật, trong ssos có hơn 34 nghìn người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực Khoa học – công nhệ thuộc khu vực nhà nước.
    • Hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ được tạo lập và ngày càng hoàn thiện với 8 đạo luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, Nhà nước cũng ban hành 6 bộ luật về khoa học – công nghệ, trong đó có Luật Năng lượng nguyên tử và công nghệ cao được xem là đầu tiên trên thế giới.
    • Việt Nam xây dựng được một mạng lưới các tổ chức Khoa học – công nghệ với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức nước ngoài, 197 trường đại học và cao đẳng, hạ tầng của các Viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin Khoa học – công nghệ, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    3.     Các hạn chế của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về yếu tố kinh tế: Trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2013, Việt Nam được 31 điểm, và nằm trong số 69% các quốc gia có điểm số dưới 50. Điều này phản ánh tình trạng “tham nhũng nghiêm trọng” trong giới công chức.

    Bảng: Xếp hạng mức độ tự do kinh tế 2014

    • Về xếp hạng mức độ tự do kinh tế tính tới đầu năm 2014 của Quỹ Di Sản và nhật báo phố Wall, Việt Nam xếp thứ 147 trên tổng số 186 nước trên thế giới. Nhìn vào bảng xếp hạng dưới đây, với số điểm là 50,8 chứng tỏ mức độ tự do kinh tế ở Việt Nam còn thấp.
    • Các hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư, xúc tiến đầu tư tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu.Hệ thống các công ty tư vấn dịch vụ đầu tư chưa được kiện toàn tăng cường về tổ chức, cán bộ. Phần lớn các công ty này mới tập trung làm các dịch vụ đầu tư thông thường như tổ chức, hướng dẫn đoàn khảo sát, làm thị thực … chứ chưa đi sâu tư vấn dịch vụ các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng dự án và thực hiện dự án sau giấy phép.
    • Về Thể Chế – Luật Pháp:
    • Về việc chấp hành thủ tục hải quan ở Việt Nam vẫn còn chưa được rõ ràng, minh bạch. Nhiều thương vụ đã không tuân thủ làm đúng theo thủ tục của hải quan như trốn tránh làm thủ tục để lách thuế, xuất nhập khẩu các mặt hàng trái với quy định của pháp luật. các hàng hóa bị quốc cấm vẫn được xuất khẩu hay nhập khẩu vào Việt Nam. Về phía ngoài nước, làm giảm uy tín của Việt Nam trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Bên trong không chỉ làm rối loạn sự kiểm soát nền kinh tế trong nước, làm mất cân bằng xuất nhập khẩu mà còn gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội.
    • Việc kiểm soát biên giới Việt Nam với các nước lân cận cũng chưa có hiệu quả. Nhất là phía bên biên giới giáp Trung Quốc còn nhiều sơ hở để các hàng hóa “lậu” phía bên trung quốc đẩy sang tràn ngập. Hàng hóa Trung Quốc đánh bật các hàng hóa trong nước. Khi các sản phẩm ấy vào trong nước nhiều quá thì nhu cầu về loại hàng hóa đó được đáp ứng tại Việt Nam, nhưng đồng thời nó lại làm mất đi tính năng thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài về các sản phẩm đó. Làm giảm thu chỉ số đầu tư nước ngoài ở trong nước.
    • Một số luật và quy định khác về kinh doanh liên quan nhiều đến đầu tư nước ngoài chưa được ban hành như luật lao động, kinh doanh bất động sản, khai mỏ… Một số chính sách chưa được xác định rõ nên chưa thể chế hoá hoặc đã có chính sách làm cơ sở nhưng văn bản pháp quy ban hành chậm; có tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa một số văn bản.
    • Về văn hóa – xã hội: Đối với lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay, tác phong làm việc vẫn là một vấn đề nan trải và cần được thay đôi trong nhận thức của từng cá nhân. Có nhiều ý kiến bên các công ty nước ngoài cho thấy, công nhân Việt Nam còn chưa có ý thức làm việc tốt, mặc dù có năng lực làm việc nhưng tinh thần kỷ luật lại chưa cao. Nhiều công ty nước ngoài tuyển lực lượng lao động Việt Nam nhưng không hài lòng về phong cách làm việc với hầu hết là các nguyên do:
    • Đi làm không đúng giờ
    • Không có ý thức bảo vệ tài sản hàng hóa của công ty
    • Thường xuyên làm những việc cản trở sự hoạt động của công ty như: bãi công, biểu tình.
    • Về khoa học – công nghệ:
      • Số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển của Việt Nam dù đã gia tăng nhưng còn rất khiêm tốn so với các nước như Hoa Kỳ (hơn 1,4 triệu người), Trung Quốc (1,2 triệu người), Nhật Bản (656 nghìn người), Nga (442 nghìn người), Đức (327 nghìn người), Hàn Quốc (264 nghìn người ), Pháp (234 nghìn người).
      • Về chỉ số cạnh tranh toàn cầu, năm 2013, Việt Nam xếp thứ 70/148 quốc gia; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 76/141 quốc gia. Trong khi Singapore ở tốp 3 thế giới và các nước Malaysia, Thái Lan đều đứng trên Việt Nam.
      • Tỷ lệ kết quả nghiên cứu trong nước được thương mại hóa và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rất thấp.

    III.            Các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam

    • Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

    Theo đó, nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp bối cảnh mới; rà soát tổng thể hệ thống luật pháp hiện hành liên quan đến đầu tư, kinh doanh theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư; quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài…

    • Điều chỉnh việc quản lý và phân cấp đầu tư theo hướng phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo quản lý thống nhất của trung ương.

    Theo đó, cơ quan cấp GCNĐT chủ trì thẩm tra theo quy định hiện hành, trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo thẩm tra đồng thời gửi Bộ Kế hoạch – Đầu tư để thẩm định độc lập. Trên cơ sở hồ sơ và báo cáo thẩm tra, bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học… thẩm định dự án: ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế – xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu…); khả năng huy động vốn…

    • Khắc phục tình trạng chồng chéo, kém hiệu quả trong hoạt động xúc tiến đầu tư: Bộ Kế hoạch – Đầu tư cần hàng năm và từng thời kỳ dựa trên nhu cầu thực tế ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư.

    Đặc biệt, coi trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ, tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp GCNĐT để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư để giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    • Về chính sách ưu đãi đầu tư, cần được sửa đổi bảo đảm tính hệ thống từ ưu đãi thuế, ưu đãi tài chính đến ưu đãi phi tài chính; thống nhất giữa chính sách thuế và chính sách đầu tư; thực hiện ưu đãi đầu tư có chọn lọc phù hợp với định hướng mới đối với thu hút FDI.

    Bổ sung ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp. Bỏ bớt các hạn chế không cần thiết và cho phép tham gia nhiều hơn vào các thị trường vốn, thị trường tài chính trên nguyên tắc hiệu quả nhưng chặt chẽ. Bổ sung tiêu chí để xét ưu đãi đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dự án có giá trị gia tăng cao, dự án sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước và dự án cam kết chuyển giao công nghệ tiên tiến…

    • Về chính sách khuyến khích, Luật Công nghệ cao sửa đổi sẽ bổ sung quy định về tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, có tính đến nhóm dự án có quy mô lớn, doanh thu hàng năm lớn, sử dụng nhiều lao động chất lượng cao…
    • Về đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc tiếp cận đất đai; sửa đổi Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhằm điều chỉnh giãn lộ trình tăng giá đất, quy định cụ thể hệ số hỗ trợ thu hồi đất; sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung quy định về hình thức góp vốn bằng quyền phát triển dự án.
    • Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI đào tạo nghề cho người lao động; tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.
    • Đẩy mạnh đầu tư phát triển và nghiên cứu công nghệ bằng cách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và có cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai một số dự án khoa học và công nghệ quy mô lớn. Đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ và các trường đại học; xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong các trường đại học.

     

    Kết luận

    Có thể thấy rằng chúng ta thu hút đầu tư vào tất cả các lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến lĩnh vực giáo dục, công ngiệp, nông nghiệp, dịch vụ…và chúng ta gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể qua những con số về trình độ dân trí, về lượng FDI và ODA vào Việt Nam, về những công trình xây dựng đã và đang được đầu tư và phát triển., về những dự án đang được đầu tư tại Việt Nam…đó là kết quả của quá trình mở cửa, hội nhập, là kết quả của Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để cải thiện cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó có cả từ phía quản lý nhà nước. Theo đó, mặc dù có sự hoàn thiện dần về hành lang pháp lý đối với hoạt động đầu tư  nước ngoài, song thể chế chính sách chưa thực sự hoàn chỉnh, thường đi chậm so với thực tế, do đó chưa phát huy tác động một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động này. Việc quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn nhiều bất cập, từ khâu quản lý tiền đầu tư đến khâu hậu kiểm. Việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, trong khi đó, lại chưa có các chế tài xử lý việc nhà đầu tư không thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo.

    Hy vọng rằng với, những thay đổi đáng kể trong môi trường kinh doanh, Việt Nam sẽ sớm được công nhận là một đất nước có nền kinh tế thị trường hoàn toàn với môi trường đầy cạnh tranh và hấp dẫn.

    [1]  Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

    [2]   Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-nh%E1%BA%B1m-gia-t%C4%83ng-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bài bản PDF tại đây: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

           I.            Những hiểu biết về môi trường đầu tư :

    1.      Khái niệm :

    Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    2.      Kết cấu :

    • Môi trường chính trị và pháp luật.
    • Môi trường văn hóa
    • Môi trường kinh tế và tài nguyên
    • Môi trường tài chính
    • Môi trường cơ sở hạ tầng
    • Môi trường lao động.

       II.            Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư :

    1.      Đối với những người quản lý nhà nước :

    Theo nhóm em, những người quản lý nhà nước khi nghiên cứu môi trường đầu tư sẽ hoàn thiện về những văn bản luật (Luật Đầu Tư,Luật Doanh nghiệp …) tạo nhiều điều kiện, chính sách ưu đãi hơn để thu hút vốn đầu tư.Cải thiện tình trạng cơ sở hạ tầng,giao thông.Ngoài ra còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước khác.Tăng khả năng phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh tế Thế giới.Tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế của các nước khác, phát huy lợi thế.

    2.      Đối với các nhà đầu tư :

    Khi họ nghiên cứu môi trường đầu tư thì sẽ biết những ngành(nghề),lĩnh vực hoặc sản phẩm mà họ muốn đầu tư hoặc kinh doanh.

    Họ sẽ biết được những thuận lợi và khó khăn ở môi trường đầu tư đó để có những kế hoạch hoạt động hoặc có những quyết định có nên đầu tư (tiếp tục đầu tư) hay ko?

    III.            Thứ hạng về môi trường đầu tư của Việt Nam :

     

    Việt nam và các nước trong khu vực.

     

    Nền kinh tế Xếp hạng “Dễ dàng thực hiện kinh doanh” Bắt đầu kinh doanh Đăng ký giấy phép Tuyển nhân viên Đăng ký tài sản
    Viet nam 104 97 25 104 34
    Thailand 18 28 3 46 18
    Malaysia 25 71 137 38 66
    Philippines 126 108 113 118 98
    Indonesia 135 161 131 140 120
    Campuchia 143 159 159 124 100
     Lao PDR 159 73 130 71 148
    Timor 174 160 173 115 172

    (Nguồn của Bộ Tài Chính)

    Để biết rõ chi tiết về thứ hạng môi trường kinh doanh ở Việt Nam, ta hãy xem bảng sau :

    Vietnam
    Region: East Asia & Pacific
    Income category: Low income
    Population: 82,966,000
    GNI per capita (US$): 620.00
    Country laws: see our Law Library
     
    Ease of… 2006 rank 2005 rank Change in rank
    Doing Business 104 98 -6
    Starting a Business 97 89 -8
    Dealing with Licenses 25 28 +3
    Employing Workers 104 137 +33
    Registering Property 34 30 -4
    Getting Credit 83 76 -7
    Protecting Investors(bảo vệ cho nhà  đầu tư) 170 170 0
    Paying Taxes 120 116 -4
    Trading Across Borders(buôn bán qua biên giới) 75 68 -7
    Enforcing Contracts(hiệu lực của những hợp đồng) 94 90 -4
    Closing a Business(đóng cửa doanh nghiệp) 116 105 -11

    Starting a Business (2006)

    The challenges of launching a business are shown below. Included are: the number of steps entrepreneurs can expect to go through to launch, the time it takes on average, and the cost and minimum capital required as a percentage of gross national income (GNI) per capita.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 11 8.2 6.2
    Time (days) 50 46.3 16.6
    Cost (% of income per capita) 44.5 42.8 5.3
    Min. capital (% of income per capita) 0.0 60.3 36.1
    • Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 44,5% thu nhập bình quân đầu người. Các con số tương ứng trong khu vực là 8,2 bước thủ tục, 46,3 ngày và 42,8% thu nhập bình quân. Ưu điểm của Việt Nam trong tiêu chí này là không đòi hỏi mức vốn tối thiểu cần có khi thành lập doanh nghiệp

    Dealing with Licenses (2006)

    Shown below are the procedures, time, and costs to build a warehouse, including obtaining necessary licenses and permits, completing required notifications and inspections, and obtaining utility connections.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 14 17.6 14.0
    Time (days) 133 147.4 149.5
    Cost (% of income per capita) 56.4 207.2 72.0
    • Giải quyết giấy phép :Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tương đối gọn nhẹ so với khu vực nhờ những nỗ lực cải cách hành chính liên tục trong lĩnh vực kinh doanh. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 133 ngày và 56% thu nhập bình quân đầu người; trong khi mức bình quân toàn khu vực là 17,6 bước thủ tục, 147,4 ngày và 207,2% mức thu nhập bình quân. Việc thực hiện tiêu chí này ở Việt Nam thậm chí còn tốt hơn các nước phát triển trong khối OECD và đã tăng ba bậc, từ hạng 28 lên hạng 25

    Employing Workers (2006)

    The difficulties that employers face in hiring and firing workers are shown below. Each index assigns values between 0 and 100, with higher values representing more rigid regulations. The Rigidity of Employment Index is an average of the three indices.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Difficulty of Hiring Index 0 23.7 27.0
    Rigidity of Hours Index 40 25.2 45.2
    Difficulty of Firing Index 70 19.6 27.4
    Rigidity of Employment Index 37 23.0 33.3
    Nonwage labor cost (% of salary) 17.0 9.4 21.4
    Firing costs (weeks of wages) 86.7 41.7 31.3
    • Thuê mướn nhân công :Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở sáu yếu tố:độ khó khi thuê người, tính cứng nhắc của giờ giấc làm việc, độ khó khi sa thải, độ linh hoạt của việc sử dụng lao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồi hoàn). So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam là nơi dễ tuyển lao động nhất, nhưng năm yếu tố còn lại đều khó khăn hơn. Ví dụ độ khó trong việc sa thải lao động ở các nước trong khu vực là 19,6% trong khi ở Việt Nam là 70%, chi phí sa thải lao động tương đương 41,7 tuần lương trong khi ở Việt Nam là 86,7 tuần lương. Tuy nhiên, so với năm ngoái tiêu chí này đã tăng 33 bậc, từ hạng 137 lên 104.

    Registering Property (2006)

    The ease with which businesses can secure rights to property is shown below. Included are the number of steps, time, and cost involved in registering property.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 4 4.2 4.7
    Time (days) 67 85.8 31.8
    Cost (% of property value) 1.2 4.0 4.3
    • Đăng ký tài sản :Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam doanh nghiệp cần trải qua bốn bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảo đảm này. Các chỉ số này tốt hơn so với mức bình quân khu vực (4,2 bước thủ tục, 85,5 ngày và 4% giá trị tài sản) nhưng tiêu tốn nhiều thời gian hơn các nước phát triển.

    Getting Credit (2006)

    Measures on credit information sharing and the legal rights of borrowers and lenders are shown below. The Legal Rights Index ranges from 0-10, with higher scores indicating that those laws are better designed to expand access to credit. The Credit Information Index measures the scope, access and quality of credit information available through public registries or private bureaus. It ranges from 0-6, with higher values indicating that more credit information is available from a public registry or private bureau.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Legal Rights Index 4 5.0 6.3
    Credit Information Index 3 1.9 5.0
    Public registry coverage (% adults) 2.7 3.2 8.4
    Private bureau coverage (% adults) 0.0 10.1 60.8
    • Đi vay :Tiêu chí này xem xét các biện pháp chia sẻ thông tin tín dụng, quyền lợi hợp pháp của người vay và người cho vay. Ở Việt Nam, quyền lợi hợp pháp này chỉ được đánh giá ở mức điểm 4/10, nghĩa là sự tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn bị hạn chế trong khi mức bình quân của khu vực là 5/10 và ở các nước OECD là 6,3/10. Doanh nghiệp khó thu nhận được thông tin về quy mô, cách tiếp cận và chất lượng của tín dụng thông qua các văn phòng đăng ký công cộng. Chỉ số thông tin tín dụng ở Việt Nam là 3/6; cao so với khu vực (1,9/6) nhưng rất thấp so với khối OECD (5/6). Văn phòng tư nhân trong lĩnh vực thông tin tín dụng gần như không tồn tại.

    Protecting Investors (2006)

    The indicators below describe three dimensions of investor protection: transparency of transactions (Extent of Disclosure Index), liability for self-dealing (Extent of Director Liability Index), shareholders’ ability to sue officers and directors for misconduct (Ease of Shareholder Suits Index) and Strength of Investor Protection Index. The indexes vary between 0 and 10, with higher values indicating greater disclosure, greater liability of directors, greater powers of shareholders to challenge the transaction, and better investor protection.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Disclosure Index 4 5.2 6.3
    Director Liability Index 0 4.4 5.0
    Shareholder Suits Index 2 6.1 6.6
    Investor Protection Index 2.0 5.2 6.0
    • Bảo vệ nhà đầu tư :Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2/10 trong khi khu vực là 5,2/10 và khối OECD là 6/10. Yếu kém nhất là chỉ số về trách nhiệm của giám đốc (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 4/10). So với năm ngoái, thứ hạng của tiêu chí này không thay đổi.

    Paying Taxes (2006)

    The data below shows the tax that a medium-size company must pay or withhold in a given year, as well as measures of the administrative burden in paying taxes. These measures include the number of payments an entrepreneur must make; the number of hours spent preparing, filing, and paying; and the percentage of their profits they must pay in taxes.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Payments (number) 32 29.8 15.3
    Time (hours) 1,050 290.4 202.9
    Profit tax (%) 21.6 19.7 20.7
    Labor tax and contributions (%) 19.7 10.9 23.7
    Other taxes (%) 0.2 11.6 3.5
    Total tax rate (% profit) 41.6 42.2 47.8
    • Thuế khóa :Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam không nặng, mức chính thức là 28% nhưng tính ra doanh nghiệp phải chi đến 41,6% lợi nhuận cho thuế thu nhập doanh nghiệp, có thể vì ngành thuế không chấp nhận nhiều khoản chi phí khấu trừ. Mức này chưa bằng mức 42,2% của khu vực và 47,8% ở các nước OECD. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở các nước trong khu vực là 29,7 lần nộp và 290,4 giờ làm việc. So với năm ngoái giảm bốn bậc, từ 116 xuống 120.

    Trading Across Borders (2006)

    The costs and procedures involved in importing and exporting a standardized shipment of goods are detailed under this topic. Every official procedure involved is recorded – starting from the final contractual agreement between the two parties, and ending with the delivery of the goods.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Documents for export (number) 6 6.9 4.8
    Time for export (days) 35 23.9 10.5
    Cost to export (US$ per container) 701 885 811
    Documents for import (number) 9 9.3 5.9
    Time for import (days) 36 25.9 12.2
    Cost to import (US$ per container) 887 1,037 883
    • Buôn bán xuyên biên giới :Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 35 ngày và tốn 701 đô la. Con số này ở các nước trong khu vực là 6,9 loại hồ sơ, 23,9 ngày và 885 đô la. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có chín loại hồ sơ, mất 36 ngày và 887 đô la. Con số tương tự ở khu vực là 9,3 loại hồ sơ, 25,9 ngày và 1.037 đô la.

    Enforcing Contracts (2006)

    The ease or difficulty of enforcing commercial contracts in is measured below. This is determined by following the evolution of a payment dispute and tracking the time, cost, and number of procedures involved from the moment a plaintiff files the lawsuit until actual payment.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 37 31.5 22.2
    Time (days) 295 477.3 351.2
    Cost (% of debt) 31.0 52.7 11.2
    • Thực hiện hợp đồng :Ở Việt Nam, việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng thương mại tương đối thuận lợi. Doanh nghiệp chỉ phải trải qua 37 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị món nợ là hợp đồng được thi hành, trong khi ở khu vực bình quân phải qua 31,5 bước thủ tục, tốn 477,3 ngày và 52% giá trị khoản nợ.

    Closing a Business (2006)

    The time and cost required to resolve bankruptcies (phá sản) is shown below. The data identifies weaknesses in existing bankruptcy law and the main procedural (thủ tục) and administrative bottlenecks (tắc nghẽn) in the bankruptcy process. The recovery rate, expressed in terms of how many cents on the dollar claimants recover from the insolvent firm, is also shown.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Time (years) 5.0 2.4 1.4
    Cost (% of estate) 14.5 23.2 7.1
    Recovery rate (cents on the dollar) 18.0 27.5 74.0

    (Theo nguồn của World Bank)

    • Đóng cửa doanh nghiệp :Việc phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiêu khê. Thủ tục phá sản phải mất ít nhất năm năm, tốn kém đến 14,5% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì cứ 1 đồng tiền đầu tư chỉ thu hồi được 18 xu. Ở các nước, thủ tục phá sản chỉ cần 2,4 năm, chi tiêu 23,2% giá trị tài sản doanh nghiệp và thu hồi được 27,5 xu cho mỗi đồng đầu tư.

     IV.            Những thành công và những hạn chế trong môi trường đầu tư ở Việt Nam :

    1.      Thành công :

    • Việt Nam đã tổ chức thành công APEC, gia nhập WTO và được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận trao Quy chế quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR). Những thành quả này đã thúc đẩy những tiến bộ của môi trường thương mại và đầu tư Việt Nam, được minh chứng do những kết quả xuất sắc về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), số lượng dự án ODA và tăng trưởng thương mại quốc tế.
    • GDP (danh nghĩa) : ước khoảng 60 tỷ USD,tức là khỏang 974 ngàn tỷ đồng tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%.
    • Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006: đạt : 8.17%.
    • VN cải thiện 3 bậc trong bảng xếp hạng về tham nhũng.
    • VN đã đạt điểm tiến bộ hơn khi từ hạng 13 năm ngoái (7,91 điểm) nhảy lên hạng 10 (7,54 điểm, với điểm 0 là tốt nhất và điểm 10 là tham nhũng nhất), theo kết quả xếp hạng mức độ tham nhũng của Trung tâm Tư vấn rủi ro về chính trị và kinh tế (PERC, trụ sở tại Hong Kong) công bố ngày 13-3.

    Dưới đây là xếp hạng về tham nhũng của 13 nền kinh tế châu Á:

    (Theo nguồn www.tuoitre.com.vn ngày 14/03/2007)

    Nước Xếp hạng
    Singapore 1
    Hong Kong 2
    Nhật Bản 3
    Ma Cau 4
    Đài Loan 5
    Malaysia 6
    Trung Quốc 7
    Hàn Quốc 8
    Ấn Độ 9
    Việt Nam 10
    Indonesia 11
    Thái Lan 12
    Philippines 13
    • Hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là cảng biển, đường hàng không, đường bộ tại Việt Nam đang được cải thiện và mở rộng tới nhiều trung tâm kinh tế trong khu vực.
    • Tăng trưởng kinh tế mạnh, quá trình công nghiêp hóa nhanh, chính trị ổn định.
    • Xếp hạng rủi ro kinh tế, chính trị: VN xếp thứ 7/12 nền kinh tế châu Á : Theo báo cáo so sánh độ rủi ro các quốc gia năm 2007 (CCRR) vừa được Tổ chức Tư vấn rủi ro kinh tế và chính trị (PERC) công bố, VN là một trong những nước châu Á có độ rủi ro về kinh tế, chính trị và xã hội ở mức thấp. Đây là kết quả khảo sát do PERC thực hiện trên gần 1.500 doanh nghiệp tại 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, cùng với Mỹ và Úc.
    • dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2007 đã tăng thêm 3 tỷ USD, đạt mức 15 tỷ USD”.

    2.      Hạn chế :

    • Việc thực hiện các chính sách đều hành vĩ mô đối với môi trường kinh doanh còn yếu kém, làm mất nhiều thời gian của các nhà kinh doanh .
    • Nạn tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ, tính minh bạch và có thể dự báo của hệ thống pháp luật, chất lượng hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng.
    • Vẫn còn nạn thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
    • Tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông đang là vấn đề cấp bách nhưng chưa được giải quyết triệt để
    • Chưa giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam .

        V.            Những giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư :

    • Chính phủ tăng cường hỗ trợ thông tin về thương mại, tài chính, công nghệ cho doanh nghiệp thông qua cho phép hình thành Trung tâm Thông tin độc lập ứng dụng công nghệ truyền thông đa phương tiện để doanh nghiệp có thể nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhất, nhằm đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
    • Việt Nam cần phải cải thiện hệ thống giáo dục vì giáo dục trực tiếp ảnh hưởng đến các chọn lựa và tiềm năng của thế hệ tương lai.
    • Nâng cao bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
    • Sớm có các qui định hướng dẫn thực hiện luật.
    • Nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng,và hiệu quả làm việc của hệ thống hành chính.
    • Cải thiện tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông và giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam, để nhằm biến Việt Nam thành một điểm đến đầu tư thân thiện và hấp dẫn hơn.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-h%E1%BB%99-c%C3%A1c-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    PHÁP LUẬT KINH TẾ

     

             —-***—-

     

    Đề tài:        Tại sao phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài? Theo em Nhà nước Việt Nam nên có những quy định như thế nào để vừa thui hút được vốn nước ngoài, vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo vốn cạnh tranh?

    Bài làm:

    Hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu của quan hệ kinh tế thế giới. Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, là một trong những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển ngoại thương, thực hiện tốt chương trình hàng xuất khẩu thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt, là lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

    Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn vốn đầu tư ngày càng khan hiếm, cuộc cạnh tranh để thu hút vốn ngày càng trở nên gay gắt, các nước đều nhận thức được vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và luôn có những quyết sách thích hợp để cải thiện môi trường đầu tư. Các biện pháp khuyến khích đầu tư ngày càng mở rộng phong phú hơn, cùng với nền tảng bảo hộ pháp chế chắc chắn tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

    Việt Nam, sau hơn 10 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), đã có những đổi mới căn bản trong nhận thức và đường lối, chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đạt được thành tựu đáng khích lệ, nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đã bước đầu được thu hút, tốc độ tăng

    trưởng kinh tế được thúc đẩy theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng chững lại, gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút đầu tư  nước ngoài vào Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sao cho thoáng hơn nữa nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để có thể cạnh tranh với các nhà đầu tư trên thế giới. Đặc biệt, đó là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    1. Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tưu nước ngoài:

    Trước hết chúng ta phải khẳng định là: Đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam:
    1. Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh tế:

    Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển. Vì vậy mà chúng ta rất cần nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế,xây dựng đất nước. Nhưng  hiện tại đất nước rất thiếu vốn, đầu tư trong nước không đủ nên ta phải đi huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Việc huy động, thu hút vốn từ nước ngoài sẽ giúp nước ta có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, tận dụng và khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,…
    2 Khi thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta còn có thể thu hút được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới.

    Điều đó góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế trong nước.. Thu hút được các chuyên gia nước ngoài vào làm việc, từ đó tạo điều kiện cho đội ngũ kỹ sư trong nước Có điều kiện học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm tiến tới làm chủ công nghệ.

    Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
    3. Tạo  công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các vùng kinh tế còn kém phát triển.

              Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân, tránh lãng phí nguồn lực lao động(nước ta lại là nước có cơ cấu dân số trẻ có nguồn lực lao động dồi dào). Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

           Ở Việt Nam,  bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người. Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động gián tiếp trong 6 năm qua.
    4. Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước:

               Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006

    FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam. FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện. Đóng góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005.
    5. Học tập được kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo điều hành doanh nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn. Từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
    6. Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

    Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    1. Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước.

    Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, ….FDI đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ.

    Trong những năm gần đây, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/8, tổng số dự án đăng ký cấp mới đã đạt con số 658 với trị giá 10,79 tỷ USD, giảm khoảng 10% về số dự án nhưng tăng 41% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2009.
    Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường vốn cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, nhất là khi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam là chưa cao. FDI có nhiều tác động tích cực, nhưng tác động đó không tự nhiên xảy ra.

    Vì vậy, bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước ta cũng phải xem xét những chính sách bảo hộ cho nhà đầu tư trong nước, và điều chỉnh theo bối cảnh nền kinh tế.

    1. Những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất:

    Về ngắn hạn, các chính phủ cần khuyến khích các nhà đầu tư bằng những chính sách trợ cấp hoặc miễn thuế. Tuy nhiên về lâu dài, những chính sách như vậy lại có thể làm giảm năng suất của các khoản đầu tư.  

    Các mức thuế thấp hơn dẫn đến việc cắt giảm các dịch vụ công cộng (gồm giáo dục khoa học và kỹ thuật, cơ sở hạ tầng), khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và những mối lợi từ FDI sẽ giảm sút.

    Trong một báo cáo mới đây, tổ chức Conference Board của Canada chuyên nghiên cứu và phân tích xu hướng kinh tế thế giới đã đưa ra 10 kết luận về những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất.

    Báo cáo nêu rõ muốn thu hút các nhà đầu tư ở khắp nơi trên thế giới, quốc gia sở tại cần hội tụ các yếu tố cần như cơ sở hạ tầng vững mạnh, sự bảo vệ pháp lý đáng tin cậy, lực lượng lao động được đào tạo tốt, những chính sách hỗ trợ tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế thực.

    Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những lợi ích kinh tế ròng cho nước đầu tư lẫn nước nhận đầu tư.

    Qua nghiên cứu, tổ chức Conference Board đã tổng kết những thông lệ chính sách tốt nhất để thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Theo đó, các chính phủ trước hết cần khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm một chế độ pháp lý minh bạch và đáng tin cậy, có lực lượng lao động chuyên môn lành nghề, cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông tốt và một môi trường khuyến khích sáng tạo nhằm cải thiện sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc tập trung hoạt động kinh tế ở địa phương cũng có thể khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cần có chính sách hợp lý và cơ quan công quyền hiệu quả, đáng tin cậy. Đầu tư trực tiếp hướng ngoại cũng có thể làm lợi cho nước đi đầu tư vì nó giúp mang lại những kỹ năng và tri thức chuyên ngành từ các dự án đầu tư.

    Các cơ quan xúc tiến đầu tư nên tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài về những lợi thế của một địa phương và giảm bớt tệ quan liêu đang làm tăng chi phí cũng như rủi ro đối với các nhà đầu tư.

    Việc buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải mua nguyên vật liệu của các nhà cung cấp địa phương hoặc phải liên doanh với các đối tác địa phương không giúp tăng cường lợi ích từ các khoản đầu tư nước ngoài, thậm chí còn cản trở FDI.

    Như vậy, các thông lệ FDI tốt nhất bao gồm những chính sách khung, giúp tăng cường khả năng sản xuất của nền kinh tế quốc gia hay địa phương, cải thiện hiệu quả làm việc của chính quyền, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cũng như tăng cường khả năng sáng tạo.

    III. Chính sách bảo hộ các nhà đầu tư  của Việt Nam:

    Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Nhà đầu tư được nhà nước Việt Nam đảm bảo các nội dung sau:

    1. Bảo đảm về vốn và tài sản

    – Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

    – Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng.

    Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

    – Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài.

    – Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật.

    1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    1. Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

    Để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài các quy định sau đây:

    – Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;

    – Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

    + Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;

    + Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

    + Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;

    + Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;

    + Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;

    + Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;

    + Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể.

    1. Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài

    – Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:

    + Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

    + Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;

    + Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;

    + Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

    + Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.

    – Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.

    – Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn.

    –  Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

    1. Áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất

    Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát.

    1. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:

    + Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;

    + Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;

    + Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;

    + Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    – Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư.

    1. Giải quyết tranh chấp

    – Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.

    – Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.

    – Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:

    + Toà án Việt Nam;

    + Trọng tài Việt Nam;

    + Trọng tài nước ngoài;

    + Trọng tài quốc tế;

    + Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập.

    – Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    So với pháp Luật về bảo đảm đầu tư trước đây, Luật đầu tư quy định cụ thể hơn các nguyên tắc và nội dung bảo đảm đầu tư của Nhà nước. Đó là: Việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được quyền chuyển ra nước ngoài; Khẳng định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước kiểm soát.

    Đặc biệt, trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, Luật quy định nhà đầu tư được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây: Tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi; Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án; được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    Ngoài ra Việt Nam cần có những quy định nhằm bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài có thể được xem xét ở một số khía cạnh nhất định. Các khía cạnh này bao gồm:

    – Quy định các lĩnh vực cấm đầu tư, hạn chế đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư hoặc quy định mức góp vốn trong các dự án quan trọng chỉ ở một tỷ lệ nhất định.

    – Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và thông thường phương châm được quán triệt là “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”.

    – Quy định cơ cấu nhân sự và nguyên tắc nhất trí của hội đồng quản trị. Nếu tổng giám đốc là người nước ngoài thì phó tổng giám đốc thứ nhất là người trong nước. Đây là việc quy định một cơ cấu điều hành và quyền lực lãnh đạo doanh nghiệp có sự chế ước song hoặc đa phương.

    – Quy định không quốc hữu hoá, trưng dụng, tịch thu hoặc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài để tránh tình trạng rút vốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài gây đổ bể dự án. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc “không hồi tố” đối với trường hợp chính sách có sự thay đổi bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

    – Quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài như tranh chấp được giải quyết công khai nếu các bên không tự giải quyết bằng thương lượng và hoà giải.

    – Các hiệp định song phương và đa phương được soạn thảo và ký kết về đầu tư nước ngoài để tạo ra sự bảo đảm quốc tế đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu những mâu thuẫn và xung đột về lợi ích của các bên đối tác trong các dự án phát sinh không giải quyết được, đòi hỏi sự tham gia của chính phủ các bên có liên quan.

    – Các cam kết về góp vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình hoặc dịch vụ, quy định về thời hạn, quy định về việc tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán… nhằm bảo đảm lợi ích thoả đáng cho các bên.

    – Các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở… là những địa điểm chịu sự chi phối rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài.

    – Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể các thông tin kinh tế – xã hội cơ bản bị tiết lộ, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về thói quen, tập quán, nhận thức… Thậm chí có thể xuất hiện những vụ bạo động do các phần tử quá khích hoặc các thế lực phản động quốc tế lợi dụng việc nghiên cứu cơ hội đầu tư nước ngoài để thực hiện “diễn biến hoà bình”, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn vào công việc nội bộ về kinh tế như chi phối thị trường, chi phối quá trình hoạch định chính sách, lũng đoạn thị trường…

    1. Các giải pháp bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá đầu tư đang gia tăng, chính sách đầu tư trong nước được coi trọng sửa đổi, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, nhiều cơ hội mở ra và đồng thời rất nhiều thách thức vừa ngấm ngầm, vừa lộ rõ đang ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh việc bảo đảm an ninh cho nhà đầu tư nước ngoài, việc coi trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, địa phương, doanh nghiệp, người lao động… cần được quan tâm hữu hiệu. Việt Nam là một nước chủ yếu coi trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc chú trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và người dân là hoàn toàn cần thiết.

    F Để bảo đảm anh ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài từ góc độ của nước tiếp nhận, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau:

    Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với quan niệm truyền thống, an ninh được hiểu là sự độc lập hoàn toàn trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài. An ninh quốc tế ngày nay cần được hiểu là sự chế ước lẫn nhau giữa các lực lượng trong nền kinh tế toàn cầu. An ninh kinh tế đang ngày càng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống an ninh quốc tế khi xu hướng hợp tác, sự phụ thuộc lẫn nhau và toàn cầu hoá kinh tế ngày càng nổi trội. An ninh là một khái niệm đa nghĩa, một quan niệm có tính chất “động” và đang ngày càng phản ánh khả năng tăng ảnh hưởng lẫn nhau, tăng tính chất đối trọng trong việc ra quyết định giữa Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch đầu tư nước ngoài. Do đó, việc thực hiện theo chiều rộng và chiều sâu chính sách đối ngoại hợp tác, rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá sẽ tạo cơ hội cho việc khai thác tác động nhiều chiều của các lực lượng khác nhau trong nền kinh tế toàn cầu, hình thành thế trận an ninh theo cách tiếp cận mới đặc biệt là cách tiếp cận chi phí- lợi ích và cần quán triệt nguyên tắc đôi bên cũng có lợi, đôi bên cùng an toàn trong đầu tư .

    Thứ hai, cần có cơ chế theo dõi, giám sát hợp lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài để giảm thiểu những tác động bất lợi của hoạt động thu hút đầu tư đến an ninh quốc gia. Cơ chế giám sát này, cần bảo đảm nguyên tắc tôn trọng lợi ích và những quyền kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư, thiện chí hợp tác và làm ăn lâu dài và cần có chế độ cảnh báo sớm những thua thiệt về lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động trong thu hút đầu tư nước ngoài để có đối sách thích hợp. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư theo các cam kết của Việt Nam trong WTO cần cân nhắc các loại lợi ích của các đối tượng có liên quan, trong đó có khía cạnh về an ninh.

    Thứ ba, các chính sách, quy định ban hành trong thu hút đầu tư nước ngoài cần tính đến lợi ích về an ninh lâu dài của bên Việt Nam, tránh làm tổn hại về an ninh của quốc gia, ngành, doanh nghiệp, người lao động. Cách hiểu an ninh cần toàn diện và các biện pháp áp dụng càng mềm dẻo và sâu sắc hơn. Đặc biệt, cần có giải pháp thích hợp để bảo đảm an ninh cho doanh nghiệp và người lao động khi xuất hiện làn sóng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam có khả năng bùng phát trong thời gian tới. Chính sách an sinh xã hội, cơ chế bảo hiểm đầu tư, chính sách trợ cấp việc làm, trợ cấp thất nghiệp… cần được hoàn thiện để phù hợp với những biến động mới của thị trường đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, cần đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài để đội ngũ này trở thành những nơi quan sát hữu hiệu hoạt động nhà đầu tư nước ngoài, một mặt, học tập cách thức lãnh đạo, điều hành hoạt động doanh nghiệp; mặt khác, có những đối sách phù hợp để đấu tranh bảo vệ an ninh việc làm cho người lao động, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững trong thu hút đầu tư nước ngoài. Nghĩa là cả các khía cạnh hợp tác và đấu tranh cần được hiểu biết sâu sắc và được “thẩm thấu” trong đội ngũ cán bộ và được khai thác một cách hợp lý nhất.

    Thứ năm, cần phát triển học thuyết về xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế làm sao cho mỗi người dân trở thành một chiến sỹ an ninh đáng tin cậy, mỗi doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế là một trụ cột về an ninh kinh tế… và gắn với các tác động quốc tế. Học thuyết này, cần lấy nền tảng là lực lượng quần chúng nhân dân gắn với việc xây dựng lực lượng an ninh tinh nhuệ và chuyên nghiệp, khai thác triệt để cơ hội và sự tương tác lẫn nhau giữa các lực lượng an ninh quốc tế và giảm thiểu tối đa những thách thức về an ninh trong đầu tư nước ngoài. Điều đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về chiến lược an ninh nhân dân cho mỗi người dân, từng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các cán bộ quản lý nhà nước, các doanh nhân… Tạo được sự đồng thuận cao trong mọi tầng lớn nhân dân về ý thức bảo vệ an ninh, lợi ích đất nước, dân tộc, doanh nghiệp, tập đoàn, con người… trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Kết luận

    Như vậy, để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo có cạnh tranh thì Nhà nước ta cần: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, trong đó có các giải pháp: Rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường và các điều ước quốc tế; Hoàn thiện các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều chỉnh việc xây dựng quy hoạch, mở rộng lĩnh vực ưu đãi đầu tư; Hoàn thiện các ưu đãi về thuế; Hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai; Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hi vọng rằng, bằng những quy định sáng suốt và hợp lý nền kinh tế của Việt Nam sẽ từng bước phát triển hội nhập với nền kinh tế thế giới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%81u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

     

    Câu hỏi:

    Nguyên nhân của việc luân chuyển vốn đầu tư từ nước này sang nước khác và những chỉ tiêu đánh giá về hiểu quả đầu tư quốc tế trên quan điểm vĩ mô, dưới góc độ của nước nhận đầu tư.

     

    1. Các khái niệm:

    1.1. Đầu tư quốc tế:

    Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội, tạo ra sự di chuyển vốn qua khỏi biên giới các quốc gia.

    Các loại hình đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    1.2. Luân chuyển vốn quốc tế:

    – Luân chuyển vốn quốc tế là sự vận động của vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tìm nơi đầu tư có lợi.

    Đặc điểm:

    – Tiền tệ và các tài sản khác giữa các quốc gia sẽ vận động để điều chỉnh tỷ lệ kết hợp giữa các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích tối đa.

    – Quá trình di chuyển vốn quốc tế làm hình thành 2 dòng chảy của vốn đối với từng quốc gia: dòng vốn chảy vào và dòng vốn chảy ra. Những dòng chảy này sẽ đưa vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác, làm cho vốn sinh sôi nhanh hơn.

    2. Nguyên nhân của luân chuyển vốn:

    2.1. Nguyên nhân chung:

    2.1.1. Tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu tạo ra việc luân chuyển vốn:

      Đây là nguyên nhân hết sức quan trọng gây nên tình trạng luân chuyển vốn một cách thường xuyên và liên tục giữa các quốc gia trên thế giới. Khi nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái toàn cầu thì làm cho nguồn vồn thay đổi dòng chảy một cách mạnh mẽ, nguồn vốn sẽ di chuyển ra khỏi những nước có nền tài chính đang bị khủng hoảng và sẽ tập trung đến những nước vẫn có nền tài chính ổn định. Bên cạnh đó khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn làm cho nguồn vốn quốc tế ở các quốc gia nhận đầu tư giảm sút tầm trọng và xu hướng là nguồn vốn đó sẽ quay trở lại nước đầu tư, làm cho nguồn vốn ở các nước đầu tư đột ngột tăng mạnh. Bởi vì lúc đó các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh việc chuyển lợi nhuận về nước, cùng với đó là vốn tài trợ của công ty mẹ ở bản quốc cho các công ty con ở nước nhận đầu tư giảm sút nghiêm trọng. lúc này, các nước phát triển thay vì đầu tư ra nước ngoài, đã quay lại ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước. Chính vì sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà đã tạo nên làn sóng bảo hộ trong nước, điều đó tạo nên sự bất lợi cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài co lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), FDI vào các nước đang phát triển đạt khoảng 500 tỉ USD (năm 2008), giảm xuống chỉ còn khoảng 400 tỉ USD (năm 2009). Theo Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA), FDI cho các nước đang phát triển giảm 30% trong 2009, chỉ đạt khoảng 385.000 triệu đôla. Các nước đang phát triển sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn vào năm 2010. Do vậy, tăng trưởng của các nền kinh tế dựa vào FDI sẽ bị ảnh hưởng. Các nước có nợ nước ngoài lớn sẽ phải đối mặt với khả năng trả nợ giảm. Lãi suất cao tại Mỹ sẽ hút nguồn vốn USD trên toàn thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước từng thu hút lượng lớn FDI như Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng.

    Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho tình hình kinh doanh quốc tế xấu nghiêm trọng, mức độ rủi ro cao, thiếu vốn nên nhiều tập đoàn phải điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh, điều chỉnh địa bàn và các dịnh hướng đầu tư dẫn đến thu hẹp phạm vi đầu tư, đồng thời cắt giảm vốn nhằm giảm thiểu rủi ro kinh doanh.

    Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ngày càng tác động mạnh đến kế hoạch đầu tư của các công ty xuyên quốc gia TNCs (Transnational Corporations). Lợi nhuận suy giảm do khối lượng buôn bán giảm sút đã làm hạn chế xu hướng đầu tư. Đây chính là tác động của “khủng hoảng kinh tế” (economic crisis). Mặt khác, chi phí kinh tế tăng và khả năng tiếp cận tín dụng giảm làm cho các công ty khó có khả năng tiếp cận được với nguồn tài chính bên ngoài để đầu tư cho các dự án mới (bao gồm cả các dự án sáp nhập và mua lại M&A và các dự án môi trường xanh (greenfield). Đây được coi là tác động của “đổ vỡ tín dụng và khủng hoảng tài chính” (financial crisis and credit crunch). Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nhiều công ty do dự trong việc chọn lựa xu hướng đầu tư và thường thiên về chọn lựa các chiến lược đầu tư ít rủi ro, có số lượng vốn đầu tư không nhiều.

    2.1.2. Sự thay đổi bối cảnh kinh tế của một quốc gia:

    Dòng vốn quốc tế luôn có sự di chuyển đến những nơi mà phần thưởng đối với nó là cao nhất. Những nước có tiềm lực phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp chính sách về ĐTQT hoàn chỉnh, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng cho hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư Quốc tế sẽ là nơi nguồn vốn tập trung nhiều nhất. đồng thời các nhà đầu tư cũng tranh xa những nước có sự bảo hộ của nhà nước và môi trường đầu tư xấu. Theo Báo cáo tổng quan triển vọng đầu tư thế giới WIPS (World Investment Prospects Survey) các nền kinh tế mới nổi nhờ có tiềm lực tài chính tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư quốc tế và các công ty xuyên quốc gia TNCs. Từ đó sẽ làm cho lượng vốn chuyển từ các nước đã phát triển lâu dài và đang có xu hướng chững lại sang các nước có nền kinh tế mới nổi.

    Điển hình như FDI của Hàn Quốc trong 7 tháng đầu năm 2009 tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Hàn Quốc đang tiếp tục tạo dựng môi trường “ngoại thương thân thiện” thông qua nhiều biện pháp khuyên khích đầu tư nước ngoài. Cụ thể, chính phủ miễn hoàn toàn thuế thuê đất cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất vật liệu và phụ tùng máy móc. Trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm tới 4, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Từ năm 2007 đến nay, FDI vào Trung Quốc mỗi năm đạt khoảng 87 tỷ USD và chiếm khoảng 6% tổng FDI toàn cầu. Trong cuộc khảo sát về triển vọng đầu tư do Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) công bố ngày 7/2009, có 240 công ty đa quốc gia TNCs khẳng định Trung Quốc vẫn là điểm đến hàng đầu cho FDI đứng trên cả Mỹ, Brazil và Nga.

    Dưới đây là Top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong năm 2010 theo báo cáo của A.T. Kearney:

     

    1. 1. Trung Quốc

    Xếp hạng: 1 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Không thay đổi)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 89

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 108,3 tỷ USD

    GDP 2009: 4.900 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 3.680 USD

    Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, các nhà đầu tư nước ngoài từ mọi ngành công nghiệp lớn khắp nơi trên thế giới bị hấp dẫn bởi thị trường khổng lồ của nước này. Nhu cầu nội địa tại Trung Quốc tăng và sự dịch chuyển hướng tới một lực lượng lao động chất lượng cao hơn là những yếu tố mà các doanh nghiệp FDI đánh giá cao hơn thị trường này. Tuy nhiên, lạm phát tiền lương lại đang là một mối lo ngại gia tăng tại các công ty nước ngoài làm ăn tại Trung Quốc.

    1. Mỹ

    Xếp hạng: 2 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 4

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 316,1 tỷ USD

    GDP 2009: 14.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.460 USD

    Bất chấp khủng hoảng và suy thoái, nước Mỹ vẫn tăng một bậc về Chỉ số niềm tin FDI trong báo cáo năm nay của A.T. Kearney. Điều này cho thấy giới đầu tư toàn cầu muốn tìm nhiều hơn đến với những điểm đến có độ an toàn cao. Với môi trường kinh doanh tương đối thông thoáng và mức giá gần đây đã xuống thấp cho các thương vụ mua bán và sáp nhập, đặc biệt là trong ngành tài chính, nước Mỹ đã tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các lĩnh vực khác có sức hút cao ở Mỹ là dược phẩm và năng lượng xanh.

    1. Ấn Độ

    Xếp hạng: 3 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 133

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 41,6 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 1.100 USD

    Mặc dù lần này Ấn Độ tụt một bậc so với báo cáo trước, nước này vẫn là một điểm đến được giới đầu tư đánh giá cao. Thế mạnh của quốc gia châu Á này trong mắt giới đầu tư nước ngoài là các ngành dịch vụ phi tài chính, tài chính, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên, điểm yếu của Ấn Độ là môi trường kinh doanh có độ cởi mở còn thấp so với nhiều nước khác.

    1. Brazil

    Xếp hạng: 4 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 2 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 129

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 45,1 tỷ USD

    GDP 2009: 1.500 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.940 USD

    Sự phục hồi mạnh của kinh tế Brazil trong năm 2009 và tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển là những yếu tố hút vốn FDI hàng đầu ở Brazil hiện nay. Ngoài ra, Brazil đã nổi lên là một lựa chọn hàng đầu cho các công ty châu Âu và Mỹ muốn đầu tư ở các thị trường gần “sân nhà”.

    1. Đức

    Xếp hạng: 5 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 25

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 24,9 tỷ USD

    GDP 2009: 3.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.800 USD

    Là điểm đến FDI hàng đầu tại châu Âu năm nay, Đức được giới đầu tư xem trọng trong các lĩnh vực dịch vụ phi tài chính và tài chính. Những dự án vốn FDI lớn vào Đức thường đến từ các nền kinh tế phát triển khác như Mỹ, Anh và Nhật Bản.

    1. Ba Lan

    Xếp hạng: 6 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 16 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 72

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 16,5 tỷ USD

    GDP 2009: 441,9 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 11.580 USD

    Sự vươn lên mạnh mẽ của Ba Lan trong Chỉ số niềm tin FDI chủ yếu là do thành công của nước này trong việc vượt khủng hoảng kinh tế, đặc biệt nếu so sánh với các nước láng giềng ở Đông Âu. Các nhà đầu tư nước ngoài bị hút tới Ba Lan bởi mức lương thấp, cơ hội đầu tư ở nhiều lĩnh vực và chương trình tư nhân hóa mạnh mẽ của Chính phủ nước này.

    1. Australia

    Xếp hạng: 7 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 4 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 9

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 46,8 tỷ USD

    GDP 2009: 996,1 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.860 USD

    Sự tiếp cận dễ dàng với các nguồn tài nguyên và môi trường kinh doanh hấp dẫn là những lý do đưa Australia vào vị trí thứ 7 trong xếp hạng. Các nhà đầu tư nước ngoài xem Australia là điểm đến hấp dẫn thứ ba đối với các khoản đầu tư vào tài nguyên. Điều này càng nhấn mạnh thêm sức hút của Australia ở sự dồi dào tài nguyên thiên nhiên và vị trí cửa ngõ vào các thị trường lớn khác trong khu vực châu Á của nước này.

    1. Mexico

    Xếp hạng: 8 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 11 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 51

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 22,9 tỷ USD

    GDP 2009: 868,3 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.810 USD

    Mexico là một điểm đến được giới đầu tư công nghiệp nhẹ đánh giá cao. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi của khủng hoảng kinh tế, Mexico vẫn được lợi từ chiến lược đầu tư gần của các công ty Mỹ và Canada.

    1. Canada

    Xếp hạng: 9 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 8

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 44,7 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.890 USD

    Các nhà đầu tư FDI tiếp tục dành cho Canada sự tin tưởng lớn. Việc Canada sở hữu trữ lượng dầu khí thứ hai thế giới sau Saudi Arabia lý giải vì sao quốc gia này được giới đầu tư khai thác tài nguyên đánh giá cao. Các ưu điểm khác của Canada bao gồm mức độ ổn định cao và một nền kinh tế khá vững vàng sau khủng hoảng.

    1. Anh

    Xếp hạng: 10 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 6 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 5

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 96,9 tỷ USD

    GDP 2009: 2.200 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 35.630 USD

    Nguyên nhân tụt hạng của Anh chủ yếu là do nước này chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, sự đi xuống của giá địa ốc ở xứ sở sương mù đang thu hút sự trở lại của giới đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ lợi ích quốc gia. Mặc dù ngành tài chính của Anh vừa trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ, sự đa dạng của nền kinh tế này vẫn đem đến cho các nhà đầu tư nước ngoại vô số cơ hội, đặc biệt là với chi phí khá phải chăng hiện nay.

    Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business Ranking). Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và Singapore (vị trí 24).

    2.1.3. Tác động của tình hình chính trị – xã hội và an ninh của một quốc gia làm luân chuyển vốn quốc tế:

    Dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển từ các nước có tình hình chính trị bất ổn, nơi thường xảy ra các cuộc biểu tình của nhân dân và thường xuyên xảy ra những cuộc đảo chính bất ngờ. Những quốc gia có nguy cơ khủng bố cao cũng bị các nhà đầu tư dần dần rút vốn ra để tập trung đầu tư vào những nước có tình hình chính trị –  xã hội và an ninh quốc gia được đảm bảo.

    Tình hình chính trị – xã hội và an ninh của Thái Lan bất bình ổn từ cuối năm 2008 khiến cho dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển ra khỏi Thái Lan. Điển hình là ngành công nghiệp du lịch, chiếm tới gần 7% GDP và cũng là ngành sử dụng nhiều nhân công ở Thái Lan, bị thiệt hại mạnh. Thái Lan đang phải trải qua đợt suy giảm mạnh nhất của ngành du lịch trong gần 5 thập kỷ qua. Năm 2009, ngành du lịch Thái Lan thất thu hơn 200 tỷ Baht do bất ổn chính trị và con số này được dự báo sẽ không khả quan trong năm 2010. Để khắc phục tình trạng này, ngành du lịch Thái Lan đang nỗ lực thúc đẩy du lịch nội địa để bù đắp sự sụt giảm du khách quốc tế. Các doanh nhân nước ngoài đang làm ăn tại Thái Lan lo ngại bất ổn chính trị tại Thái Lan sẽ bùng phát trở lại và có khả năng kéo dài, làm ảnh hưởng đến kế hoạch làm ăn. Và nếu các cuộc biểu tình dẫn tới đối đầu với quân đội và cảnh sát và xung đột leo thang thì sẽ dẫn tới những hậu quả khó lường. Đây cũng chính là nhân tố khiến các nhà đầu tư chuyển hướng đầu tư từ Thái Lan sang các nước có tình hình chính trị – xã hội ổn định hơn, như Việt Nam.

    Với nền chính trị ổn định, Singapore đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngòai và cũng lập kỷ lục mới khi lượng FDI đổ vào khoảng 37 tỷ USD

    2.2. Nguyên nhân nguồn vốn vào và ra đối với Việt Nam:

    2.2.1. Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN):

    Thứ nhất là việc thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong năm qua, hàng loạt sự kiện quan trọng đã diễn ra, đó là: thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X với việc khẳng định chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường thu hút ĐTNN. Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổ chức thành công Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội, tiếp theo là việc Hoa Kỳ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam.

    Thứ hai nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và mức sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện đã góp phần mở rộng dung lượng thị trường trong nước. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường tiêu thụ được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.

    Thứ ba là sự ổn định về chính trị – xã hội cùng với sự đảm bảo về an ninh đã làm cho nước ta được cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn.

    Thứ tư là hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đã tiếp tục được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng hơn cho hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong năm qua Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu thầu, đồng thời tiếp tục chỉnh sửa nhiều chính sách liên quan đến đầu tư. Nhiều luật mới cũng đã được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hơn, như Luật Chứng khoán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ Luật Lao động liên quan đến đình công.

    Thứ năm là hoạt động xúc tiến đầu tư đã được triển khai tích cực ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng. Đặc biệt việc tổ chức các Hội thảo, Diễn đàn đầu tư trong khuôn khổ các chuyến thăm các nước của Lãnh đạo Chính phủ ta đã thu hút mối quan tâm của hàng trăm tập đoàn, công ty lớn của nước ngoài.

    Thứ sáu là cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư được tăng cường thông qua nhiều diễn đàn, nhất là Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ đã tạo thêm lòng tin của các nhà đầu tư đối với Chính phủ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương.

    2.2.2. Nguồn vốn ra khỏi Việt Nam:

    2.2.2.1. Các nhà ĐTNN rút vốn:

    Môi trường đầu tư tại Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn.

    – Tư duy kinh tế chậm đổi mới. Chưa tạo lập đồng bộ các loại thị trường theo nguyên tắc thị trường. Nhận thức về chung về ĐTNN đều thống nhất như các chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước là coi ĐTNN là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, thực tế xử lý các vấn đề cụ thể ở nhiều Bộ, ngành và địa phương vẫn còn phân biệt rất khác nhau giữa đầu tư trong nước và ĐTNN, chưa thực sự coi ĐTNN là thành phần kinh tế của Việt Nam. Điều đó thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động, đất đai, vốn…) cũng chưa thực sự cho phép ĐTNN tham gia. Việc xử lý tranh chấp kinh tế giữa các bên cũng thiên về bảo vệ quyền lợi cho phía Việt Nam. Trong những thời điểm khó khăn, ta tranh thủ vốn ĐTNN nhưng khi điều kiện thuận lợi lại có xu hướng không khuyến khích ĐTNN mà để trong nước tự làm; những biểu hiện này có tác động làm  nản lòng nhà ĐTNN.

    – Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán. Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của Chính phủ.

    – Môi trường đầu tư – kinh doanh nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt.

    – Định hướng chiến lược thu hút vốn ĐTNN hướng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một số sản phẩm xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp. Nhiều tập đoàn công nghiệp định hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam.

    – Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng về xu hướng bảo hộ sả n xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế.

    – Nước ta có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ chưa phát triển; trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách, biện pháp để khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế.

    – Sự phối hợp trong quản lý hoạt động ĐTNN giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Đánh giá tình hình ĐTNN vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất lượng, còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.

    – Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, không loại trừ một số yếu kém về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh nghiệp, làm  ảnh hưởng xấu đến môI trường đầu tư-kinh doanh.

    Khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã làm cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong năm 2009 giảm đáng kể.

    Theo báo cáo mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng vốn đầu tư đăng ký gồm cả cấp mới và tăng thêm trong năm 2009 chỉ bằng 30% của 2008.

    Yếu tố chủ quan từ phía nhà đầu tư.

    Có nhiều dự án chậm triển khai, hết thời hạn giấy phép, công ty mẹ ở nước ngoài bị phá sản. Không những thế, hàng loạt dự án tỷ USD được cấp phép rầm rộ vào vài năm trước với khá nhiều kỳ vọng về sự “đổi đời” cho nhiều vùng đất, vẫn tiếp tục im hơi lặng tiếng…

    2.2.2.2. Đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam:

    Đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao nâng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới

    Tính đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động ĐTRNN.

     

    Bảng số liệu Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2007.

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI THEO NĂM

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính những dự án còn hiệu lực)

    STT Năm Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 1991 3 4,000,000 2,000,000
    2 1992 3 5,282,051 1,300,000
    3 1993 5 690,831
    4 1994 3 1,306,811
    5 1998 2 1,850,000 1,500,000
    6 1999 10 12,337,793 138,752
    7 2000 15 7,165,370 1,231,142
    8 2001 13 7,696,452 2,622,000
    9 2002 15 191,459,576 37,618,572
    10 2003 24 62,390,970 8,743,252
    11 2004 17 12,463,114 4,761,752
    12 2005 37 437,905,179 4,853,946
    13 2006 36 349,106,156
    14 2007 80 911,819,885 110,000
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO NƯỚC

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    STT Nước tiếp nhận Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 Lào 98 1,040,310,380 7,511,733
    2 Angieri 1 243,000,000 35,000,000
    3 Nadagasca 1 117,360,000
    4 Malaysia 4 112,736,615 6,576,840
    5 Irắc 1 100,000,000
    6 Campuchia 28 89,399,869 1,394,014
    7 Liên Bang Nga 12 78,067,407 2,010,000
    8 Hoa Kỳ 30 68,182,754 1,100,000
    9 Cuba 1 44,520,000
    10 Singapore 17 27,565,473 2,460,000
    11 CH liên bang Đức 5 11,542,372 100,000
    12 Thái Lan 4 10,405,200
    13 Indonesia 2 9,400,000 3,240,000
    14 Trung Quốc 5 3,704,150
    15 Tajkistan 2 3,465,272 2,222,000
    16 Angola 4 3,432,387
    17 Ukraina 4 3,357,286 957,286
    18 Myanmar 1 2,314,760
    19 Nhật Bản 6 2,306,050 422,885
    20 Hàn Quốc 6 1,961,000
    21 Cộng Hoà Séc 2 1,935,900 912,000
    22 Hồng Công 6 1,881,513 394,558
    23 Ba Lan 2 1,810,000
    24 Ustrailia 5 1,237,200 378,100
    25 Bỉ 2 1,052,000
    26 Cô oét 1 999,700
    27 Nam Phi 1 950,000
    28 Bristish Virgin Islands 1 900,000
    29 Braxin 1 800,000
    30 Vương quốc Anh 3 500,000
    31 Đài Loan 2 468,000
    32 Italia 1 350,000
    33 CH Uzbekistan 2 850,000 200,000
    34 Bungari 1 152,280
    35 Ấn Độ 1 150,000
    36 Pháp 1
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

    3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    3.1. Khái niệm:

    Đối với các nước nhận đầu tư, có 3 hình thức đầu tư chính là ODA, FDI và FPI.

    ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA – viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.

    FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, viết tắt của cụm từ Foreign Direct Investment) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (theo tổ chức Thương mại thế giới).

    FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI – viết tắt của cụm từ Foreign Portfolio Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Mục đích đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Để xác định khả năng đem lại lợi ích của vốn đầu tư từ nước ngoài, từ đó đưa ra những giải pháp nếu hiệu quả đầu tư còn thấp, hay giữ vững và phát huy khi hiệu quả đầu tư cao.

    3.2.1. Hệ số ICOR:

    3.2.1.1. Khái niệm:

    ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. Đây là tập hợp các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Incremental Capital Output Rate. Trong tiếng Việt, ICOR còn được gọi là hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm.

    3.2.1.2. Phương pháp tính:

     

    ICOR = I/∆ GDP

    (∆ GDP = GDPt – GDPt-1)

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư.

    Hệ số ICOR càng lớn sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư, vì lúc này để tăng 1 đồng GDP phải bỏ ra nhiều đồng vốn đầu tư hơn.

    Công thức trên có thể được phát triển thành:

    ICOR = k/g

    với k=I/GDP, g= ∆GDP/GDP

    Trong đó:       ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu t­ư và tăng tr­ưởng kinh tế;

    I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế­; I = ID+IF

    DGDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội

    k: tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội

    g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng 1% đòi hỏi tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP phải đạt bao nhiêu %.

    Hệ số ICOR càng cao sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư. Vì ICOR nghịch biến với g, nếu ICOR tăng thì g giảm tương đối, mang‎ ý nghĩa mức độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp lượng vốn đầu tư.

    Ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn cốn đầu tư. Điều này ví như một học sinh trung bình phấn đấu trở thành học sinh khá thì dễ hơn một học sinh khá phấn đấu trở thành học sinh giỏi.

    3.2.1.3. Tình hình về hệ số ICOR ở Việt Nam trong những năm gần đây:

    Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%. Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 – 8.5%, và đến năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

    ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.

    Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam.

    Ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã phân tích trên Tuần Việt Nam: chỗ yếu của nền kinh tế nước ta là tăng trưởng kém chất lượng. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.

     

    Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Đông Á

     

    Quốc gia Giai đoạn GDP (%) Đầu tư/GDP ICOR
    Hàn Quốc 1961-1980 7.9 23.3 3.0
    Đài Loan 1961-1980 9.7 26.2 2.7
    Indonesia 1981-1995 6.9 25.7 3.7
    Thái Lan 1981-1995 8.1 33.3 4.1
    Trung Quốc 2001-2006 9.7 38.8 4.0
    Việt Nam 2001-2006 7.6 39.9 5.3

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Ông Nguyên chỉ rõ, năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là 10%.

    Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008, chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính toán của Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao nhất từ trước tới nay.

    Cho rằng chỉ số ICOR tuyệt đối chỉ mang tính tham khảo, vì có thể có sự khác nhau trong cách tính, tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương, chuyên gia kinh tế độc lập, quan ngại, chỉ so với năm 2008, hệ số ICOR năm 2009 đã tăng 17,5%. “Những nỗ lực của chúng ta trong việc nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn khiến tình hình kém hơn”.

    Điều này đồng nghĩa với việc trong cuộc “so găng” với các đối thủ trong khu vực, với thể trạng kinh tế yếu như hiện nay, nếu các nước chỉ cần một lần có thể nhấc được mục tiêu, thì Việt Nam phải tốn sức gấp đôi, thậm chí gấp ba.

    Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.

    Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam, cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.

    Ông Chương nêu cụ thể: “Danh chính, ngôn thuận thì mọi việc làm mới thuận. Việt Nam nói là kích cầu, nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên. Cầu có thật thì cung mới có thật. Trong bối cảnh khủng hoảng, các doanh nghiệp co cụm, kích cung chỉ có thể mang lại hiệu quả giới hạn. Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi”.

    Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối các doanh nghiệp nước ngoài, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia Việt Nam.

    Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, tổng số vốn rót ra cho đầu tư công đã tương đương với cả năm ngoái 2008. Theo báo cáo của Chính phủ gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội mới đây, tổng vốn đầu tư phát triển cho cả năm chiếm gần 43% GDP. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 161 ngàn tỉ đồng, tăng tới 63% so với thực hiện năm 2008 và tăng 42,7% so với kế hoạch năm.

    Trong khi đó, Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia cho hay, doanh thu sản xuất thuần được tạo ra bởi 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài thấp. Trong năm 2006 cứ 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài tạo ra được 0,61 VNĐ doanh thu, chưa bằng một nửa của doanh nghiệp tư nhân trong nước, chỉ bằng 2/3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lực lượng lao động do doanh nghiệp nước ngoài sử dụng chỉ bằng khoảng 28,4% tổng số lao động của các doanh nghiệp trong khi đó doanh nghiệp tư nhân thu hút 50%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 21,4%.

    Đầu tư công cũng chính là khu vực mà cách đây một năm, Nhà nước quyết tâm siết chặt, rà soát lại, để tăng cường hiệu quả. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, khu vực này lại được tái đầu tư với một số lượng tiền khổng lồ.

    Hơn nữa, hệ thống ngân hàng của Việt Nam được xếp hạng sức khỏe thấp nhất châu Á, chỉ trên Pakistan, thế nhưng, trong điều kiện suy thoái, các ngân hàng đều báo cáo đạt mức lợi nhuận kỷ lục. Liệu trong phần lợi nhuận đó, có bao nhiêu phần thu lợi từ việc kích cầu của chính phủ, và bao nhiêu phần đóng góp cho việc tăng hệ số ICOR của Việt Nam?

    Hướng rót vốn như vậy, nên việc hệ số ICOR tăng không có gì khó hiểu, ông Chương bình luận. Và gắn với hệ số cao ấy, là nguy cơ lạm phát trở lại. Năm 2009, khi nền kinh tế Việt Nam chậm lại, nguy cơ đó chưa rõ ràng, nhưng năm tới, khi kinh tế phục hồi, nếu không có giải pháp sớm, cơ thể kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với đợt sốt mới.

    Ông Chương cảnh báo, với những gì Việt Nam đang làm, nếu kinh tế thế giới không cải thiện sớm và mạnh mẽ trong năm 2010, Việt Nam khó có thể vượt qua được những yếu kém của mình. Vẫn còn một xác suất khá cao là Mỹ và các nước Tây Âu phải cần nhiều năm để vượt qua giai đoạn suy thoái, đi vào phục hồi ổn định. Trong tình huống này, tình hình kinh tế Việt Nam sẽ còn nguy kịch hơn cả đầu năm 2009, bởi khi bệnh, nền kinh tế Việt Nam đã không được uống thuốc đúng khiến cho thể trạng đi xuống, trong đó có cả tác dụng những phản ứng phụ của liều thuốc “kích cầu” vừa qua.

    Lúc này, việc thay đổi nếp sống kinh tế thường nhật, để rèn và nâng cao thể lực của nền kinh tế là cần thiết. Nói cách khác, việc tái cấu trúc cần được đẩy mạnh một cách quyết liệt hơn nữa. Đáng tiếc, yêu cầu này còn bị kìm giữ bởi việc thiếu ý chí đủ mạnh và tập quán “nước tới cổ mới bơi, chứ không chỉ nước tới chân mới nhảy”, ông Chương quan ngại. Việt Nam vẫn còn lờ đờ bước, trong khi những nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao hơn, hiệu quả đầu tư lớn hơn đã tăng tốc tái cấu trúc.

    3.2.2. Hệ số TFP:

    3.2.2.1. Khái niệm:

    TFP (Total Factor Productivity –  Hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp) là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất và được đo lường bằng tỷ số giữa đầu ra (được tính theo giá so sánh) với mức kết hợp có quyền số giữa các đầu vào. TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất. Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết…

    3.2.2.2. Phương pháp tính:

    GA = GGDP ßKGK  ßLGL

    Trong đó:

    GA: Tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp.

    GGDP: Tốc độ tăng trưởng GDP.

    ßK: Tỷ trong của thặng dư sản xuất trong GDP.

                         ßL: Tỷ trọng của thù lao lao động trong GDP.

                         GK: Tốc độ tăng trưởng của vốn.

    GL: Tốc độ tăng trưởng của lao động.

    Khi biết GGDP, ßKGK  ßLGL có thể tính được đóng góp của công nghệ và quản l‎ý GA hoặc ngược lại có thể ước lượng tốc độ tăng trưởng GDP.

    3.2.2.3. Tình hình về hệ số FTP của Việt Nam qua các thời kỳ:

    HỆ SỐ FTP CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

      GDP NN Tư nhân FDI K NN Tư nhân FDI L NN Tư nhân FDI TFP NN Tư nhân FDI
    2000-2009 88,5 71,9 88,9 149,8 54,3 46,2 61,1 65,7 14,0 11,6 11,8 242,3 20,2 14,1 16,0 -158,2
    %         61% 69% 64% 44% 16% 16% 13% 162% 23% 20% 18% -106%
    2004-2009 42,3 28,7 45,8 76,4 30,5 20,7 38,0 48,7 5,2 -0,5 4,8 45,3 6,7 8,6 3,1 -17,6
    %         72% 72% 83% 64% 12% -2% 10% 59% 16% 30% 7% -23%

    Nguồn: chuyên gia kinh tế Bùi Trinh

    Tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên sự đóng góp ngày càng nhiều của vốn và sự giảm dần mức độ đóng góp của lao động. Trong đó, cơ cấu tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước – khu vực tập trung nhiều vốn nhất của nền kinh tế – đã cho thấy sự chuyển dịch, đặc biệt về mật công nghệ trong 5 năm trở lại đây, lao động àm việc trong khu vực này giảm, trong khi nguồn vốn hút về vẫn tăng.

    Tuy nhiên, xét theo quy mô vốn sử dụng thì rõ ràng hiệu quả kinh tế cao nhất vẫn thuộc doanh nghiệp các khối tư nhân. Đây là khu vực sử dụng nhiều lao động nhất nhưng dường như vốn đầu tư vẫn chưa đạt mức tương xứng. FDI là khu vực đóng góp ít nhất cho tăng trưởng kinh tế.

    3.2.3. Tỷ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn FDI:

    3.2.3.1. Khái niệm:

    Đây là tỷ lệ giữa số lượng hàng hóa xuất khẩu nhờ vào vốn đầu tư FDI/tổng số lượng hàng xuất khẩu của một quốc gia. Tỷ lệ này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

    3.2.3.2. Tình hình về vốn FDI của Việt Nam qua các năm gần đây:

    FDI hàng năm đều tăng, từ 346 triệu USD năm 1988 lên tới hơn 8.199 tỷ USD năm 1996. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, luồng FDI có xu hướng suy giảm. Tổng đầu tư trong hai năm 1997 và 1998 (khoảng 8,8 tỷ) mới bằng năm 1996. Tuy nhiên, từ cuối năm 2000, Chính phủ đã có những cải cách và cố gắng nhằm thúc đẩy đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư vào công nghiệp chế tạo. Đến nay, có thể đánh giá là khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng lên đáng kể cả về số lượng và chất lượng, thực sự trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nước ta. Vốn FDI chiếm từ 20 đến 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tính đến tháng 12.2003 có 5.393 dự án của 74 nước được cấp phép với tổng số vốn đăng ký lên đến 44,7 tỷ USD. Trên thực tế, lẽ ra chúng ta đã có thể thu hút được nhiều FDI hơn nữa trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, nếu không có sự cấm vận của Mỹ kéo dài đến năm 1994.

    Trong giai đoạn đầu FDI vào Việt Nam, xây dựng và dịch vụ là những lĩnh vực chính thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đến năm 2001 các dự án công nghiệp chế tạo đã chiếm 80,7% tổng số dự án được phê duyệt so với 26,3% trong khoảng thời gian 1988-1991; về mặt tỷ trọng vốn, các dự án công nghiệp chế tạo cũng đã tăng từ 22% lên 76,4%. Trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2001, các dự án công nghiệp chế tạo chiếm 53,5% tổng số dự án (3.575 dự án), các ngành sơ chế nông lâm sản chiếm 13,7%, xây dựng cơ bản chiếm 12,3%, khối ngành dịch vụ chiếm 19,2%.

    Một đặc điểm nổi bật trong vấn đề đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là sự phát triển của các liên doanh.  Trong giai đoạn 1988-1994, các liên doanh chiếm trên 70% tổng số dự án được phê duyệt và 75% tổng số vốn đăng ký. Trong đó, đa số các liên doanh có đối tác là các doanh nghiệp nhà nước. Điều này đã mang lạicho các doanh nghiệp nhà nước một sức sống mới. Tuy nhiên từ cuối năm 1996, tỷ lệ đầu tư của các dự án liên doanh giảm sút một cách rõ rệt, thay vào đó là xu hướng gia tăng của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đến năm 2001, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 66,8% tổng số vốn đăng ký, trong khi đó liên doanh chỉ còn chiếm 15,6% tổng số vốn đầu tư. Cùng với sự gia tăng trong đầu tư là xu hướng thôn tính của các tập đoàn nước ngoài đối với các liên doanh.

    Có thể nói, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể vào việc mở rộng xuất khẩu ở Việt Nam. Tỷ trọng (%) của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầu thô) trong tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm: Từ 4% năm 1991 lên 33,8% năm 2000.

    Bảng dưới đây thể hiện sự đóng góp của FDI đối với nền kinh tế nước ta:

    Năm 1991-1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 11/2004
    Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 1.230 920 1.790 1.982 2.590 3.320 3.673 4.602 6.225 7.788
    Nộp ngân sách

     

    (triệu USD)

      263 315 317 271 324 373 459 500 728
    Tỷ trọng trong GDP

     

    (%)

      7,4 9,1 10,0 11,8 12,7 13,1 13,9 14,3  
    Tạo việc làm

     

    (1.000 người)

      220 250 270 296 379 450 590 665 734

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Đến năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 56,8%. Trong giai đoạn 1988-1990, hầu hết FDI trong công nghiệp chế tạo là định hướng sản xuất cho thị trường nội địa, số dự án được phê duyệt có tỷ lệ xuất khẩu trên 50% sản lượng chỉ chiếm dưới 20%. Giai đoạn 1999-2001 đánh dấu một bước tiến mới trong xuất khẩu của các dự án đầu tư có vốn nước ngoài, trên 70% số doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu từ 50% sản lượng trở lên (đa số có tỷ lệ xuất khẩu từ 80 đến 100%).

    Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nước ta. Tỷ trọng của các doanh nghiệp này trong GDP tăng từ 1,4% năm 1991 lên 14,3% năm 2003, và chiếm khoảng 20% trong tổng số gia  tăng GDP thực tế của giai đoạn này. Tổng sản lượng công nghiệp của khu vực này cũng liên tục tăng qua các năm: Từ 25% năm 1995 lên tới 35,5% vào năm 2000.

    Tuy nhiên, sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài vào vấn đề giải quyết việc làm không lớn như đóng góp của nó vào tăng trưởng GDP và sản lượng công nghiệp. Đến năm 2004, tổng số việc làm trong các doanh nghiệp khu vực này khoảng 700.000 người, tức là chỉ đạt khoảng 1% tổng số việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Con số này phản ánh xu hướng sử dụng nhiều vốn và hàm lượng công nghệ trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, FDI đã góp phần tạo được một đội ngũ quản lý, lao động có chất lượng cao, phong cách làm việc công nghiệp. Nếu có kế hoạch sử dụng tốt lực lượng này thì đây sẽ là cơ sở để cải thiện chất lượng đội ngũ lao động của chúng ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và trong nhiều lĩnh vực vì nó mang lại nguồn lợi rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư

    3

    nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó thu hút đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt Nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Tình hình thực tiễn nước ta cho thấy nước ta rất cần công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ

    Nhận thấy vai trò to lớn của đầu tư nước ngoài đối với việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá tôi chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” làm khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế ngoại thương trường Đại học Ngoại thương. Đây là một đề tài tương đối rộng và hấp dẫn. Do giới hạn của khoá luận tôi xin chỉ tập trung chủ yếu phần “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Phần “Hỗ trợ phát triển chính thức” tôi xin được giới thiệu sơ lược.

    Xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Việt Hoa đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

    Hà nội ngày 11-03-2003

    Người thực hiện

    Nguyễn Đình Cẩn

    4

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ TOÀN CẦU HOÁ

    I.Khái niệm và đặc điểm đầu tư, đầu tư nước ngoài

    1.Khái niệm và đặc điểm đầu tư

    Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội.

    Nguồn vốn đầu tư này có thể là những tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, nhà máy, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết

    5

    thương mại… Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền về sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

    Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện đời sống trong tương lai.

    Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản vào một việc mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất-xã hội phát triển.

    2.Khái niệm và đặc điểm đầu tư quốc tế

    Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.

    Đầu tư quốc tế mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung. Tuy nhiên, nó có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với đầu tư nội địa:

    • Chủ đầu tư là người nước ngoài. Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…Nói chung, đây là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước ngoài.

    6

    • Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới. Đặc điểm này có liên quan chủ yếu đến các khía cạnh về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí

    vận chuyển.

    Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ xung và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Đến lượt mình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư nguyên liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà.

    Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu. Sự phát triển của đầu tư quốc tế gắn liền với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các quốc gia và sự phát triển của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển và sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn làm cho đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và rộng khắp.

    II.Phân loại đầu tư nước ngoài

    1.Đầu tư tư nhân

    1.1.Đầu tư trực tiếp :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm sau :

    7

    Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế

    Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỉ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi đó, Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.

    Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…Đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được

    Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

    1.2.Đầu tư chứng khoán :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua chứng khoán của các công ty ở nước sở tại để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp công ty.

    Hình thức đầu tư này có những đặc điểm sau :

    8

    Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong tương lai.

    Số lượng cổ phần mà các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ở mức độ nhất định tuỳ theo từng nước để không có cổ đông nào chi phối doanh nghiệp. Thông thường số cổ phần này dưới 10 đến 20% vốn pháp định.

    Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh. Thu nhập của chủ đầu tư nước ngoài có thể cố định hoặc không cố định tuỳ thuộc vào loại chứng khoán mà họ đầu tư.

    Doanh nghiệp có khả năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp nhưng ngược lại doanh nghiệp được đầu tư không có cơ hội tiếp thu kinh nghiệm quản lí hiện đại và công nghệ kỹ thuật tiên tiến.

    1.3.Tín dụng thương mại :

    Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay.

    Tín dụng thương mại có những đặc điểm sau :

    Vốn đầu tư dưới dạng tiền tệ để chuyển thành các phương tiện đầu tư khác, doanh nghiệp vay vốn toàn quyền sử dụng các khoản vốn vay

    Ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động doanh nghiệp, nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu về thế chấp các khoản vay hoặc bảo lãnh để giảm rủi ro

    Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng theo khế ước vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán.

    9

    2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

    Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ có hoàn lại của chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.

    Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau :

    Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lí sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ

    Hỗ trợ phát triển chính thức chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.

    Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được

    nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ

    Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi.

    Tuy vậy nếu quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có thể để lại gánh

    nặng nợ nần cho tương lai

    Các hình thức cơ bản của ODA :

    2.1.Hỗ trợ dự án : Đây là hình thức đầu tư chủ yếu của vốn ODA. Nó có thể bao gồm những hỗ trợ cơ bản cho các dự án cải thiện, nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ sở hạ tầng và những hỗ trợ về mặt kĩ thuật cho dự án như chuyển giao tri thức, tăng cường lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu lập luận chứng kinh tế – kĩ thuật của dự án, trợ giúp hoạch định chính sách

    2.2. Hỗ trợ phi dự án : Chủ yếu là viện trợ chương trình đạt được sau khi kí các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, không cần xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào

    10

    2.3.Hỗ trợ cán cân thanh toán : Bao gồm các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp bằng tiền hoặc hỗ trợ bằng hiện vật, hoặc hỗ trợ cho nhập khẩu

    2.4. Tín dụng thương mại : Đây là những khoản tín dụng dành cho chính phủ các nước sở tại với các điều khoản ‘mềm” về lãi suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài nhưng có những ràng buộc nhất định. Nguồn vay tín dụng thương mại này có thể từ các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB). Chẳng hạn, Quỹ tiền tệ quốc tế có thể cho vay dưới nhiều hình thức như tín dụng thông thường, tín dụng dài hạn hoặc bổ sung, tín dụng bù đắp thất thu xuất khẩu, tín dụng điều chỉnh cơ cấu.

    III.Đầu tư nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá

    1.Khái niệm và đặc trưng của toàn cầu hoá:

    Toàn cầu hoá là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới, là sự ảnh hưởng, tác động, xâm nhập xuyên biên giới trong các lĩnh vực đời sống, kinh tế xã-hội và phát triển trong một trật tự hệ thống toàn cầu.

    Toàn cầu hoá được thể hiện qua một mạng lưới rất dày đặc các hoạt động kinh tế trên phạm vi quốc tế và các cơ cấu biểu hiện tính tuỳ thuộc lẫn nhau gia tăng.

    Trào lưu này dựa trên quá trình tự do hoá các chính sách kinh tế, dựa trên tiến bộ công nghệ, khoa học kĩ thuật tăng nhanh trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, truyền thông.., đồng thời dựa trên xu hướng quốc tế hoá ngày càng mạnh mẽ trong các hoạt động doanh nghiệp

    Toàn cầu hoá tạo ra sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia, các dân tộc, giữa các lĩnh vực sản xuất khác nhau, giữa các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội khác nhau trong sự phát triển. Toàn cầu hoá là tất yếu, nó thể hiện nhiều mặt, nhiều tầng nấc và nhiều yếu tố cấu trúc

    11

    khác nhau, như mặt nền tảng vật chất kỹ thuật, công nghệ (quá trình sản xuất và sản phẩm làm ra) ngày càng có hàm lượng tri thức cao và có thể do nhiều công ty của nhiều nước hợp tác chế tạo. Mức độ liên kết thị trường thế giới về hàng hoá, về tài chính thành một hệ thống quan hệ tương tác ngày càng tăng; hệ thống thông tin toàn cầu càng kết nối thành mạng lưới chặt chẽ tác động mạnh mẽ đến mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia. Ngoài ra toàn cầu hoá còn thể hiện ở các mặt khác như : toàn cầu hoá về kinh tế kỹ thuật (tự do hoá thương mại toàn cầu, hệ thống phân công lao động quốc tế, hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế) và toàn cầu hoá về mặt thể chế các tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc-UN, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới-WB, Ngân hàng phát triển châu á-ADB) và cả thể chế, đặc thù các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường).

    Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là những nước khác nhau về tiềm lực, khả năng, hoàn cảnh, điều kiện lợi ích và mục tiêu. Hệ quả là tiến trình phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá nhất định bị tác động theo những hướng khác nhau như tính không thống nhất về lợi ích, kéo theo đó là sự phức tạp của các mối quan hệ tác động khác làm cho sự lựa chọn giải pháp hội nhập vào toàn cầu hoá của mỗi quốc gia trở nên khó khăn hơn, mặt khác nó cũng tạo ra những yếu tố cạnh tranh thuận lợi hơn cho mỗi quốc gia.

    2.Xu thế toàn cầu hoá trong những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây quá trình toàn cầu hoá diễn ra với quy mô ngày càng lớn, với một tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như buôn bán, tổ chức sản xuất, nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như cả lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá và lối sống. Điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, giữa chúng có sự tuỳ thuộc lẫn nhau. Quá trình

    12

    toàn cầu hoá này diễn ra ở những cấp độ khác nhau và ngày càng trở nên gay gắt : không những vấn đề lương thực, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề dân số và cả vấn đề nợ nước ngoài. Nhất thể hoá kinh tế được tăng cường với sự nương tựa vào nhau ngày càng nhiều giữa các quốc gia. Xu hướng khu vực hoá thể hiện ở việc hình thành các liên kết khu vực với các hình thức đa dạng: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế châu á – Thái Bình Dương (APEC).

    Xu hướng toàn cầu hoá đặt ra một yêu cầu tất yếu: Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế và khu vực để có được khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển của mình. Nếu quốc gia kém phát triển, đơn thương độc mã, không có bạn hàng lâu dài, không có đối tác thực sự với nền kinh tế yếu kém rất dễ bị tổn thương và dễ trở thành vật hi sinh cho lợi ích của các nước khác. Chỉ lấy việc gia nhập WTO cũng đủ thấy được tầm quan trọng của vấn đề toàn cầu hoá đối với mỗi quốc gia. Một nước chỉ khi gia nhập tổ chức này mới tránh được sự phân biệt đối xử của các nước – cộng đồng quốc tế trong quan hệ thương mại, được hưởng các ưu đãi và miễn trừ theo quy định quốc tế của WTO, trong đó có điều kiện ưu đãi tối huệ quốc và ưu đãi thuế quan phổ cập, hàng hoá của nước đó mới có điều kiện đi vào thị trường rộng lớn và ít gặp trở ngại. Mặt khác, đối với những quốc gia mà trình độ khoa học kỹ thuật còn non yếu, khi gia nhập WTO sẽ tranh thủ được sự trợ giúp kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nhân lực, đồng thời cũng là điều kiện cần để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào nước đó. Như vậy lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại chính là một trong những nguyên nhân đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và làm cho nó diễn ra ngày càng gay gắt.

    3.Tác động của toàn cầu hoá đến đầu tư nước ngoài:

     

    13

    Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang trở thành động lực đưa nền kinh tế các nước liên kết, ảnh hưởng lẫn nhau trên hầu hết các lĩnh vực. Kết quả của quá trình hoà nhập là từng bước làm lu mờ dần những đường biên giới quốc gia trên sa bàn hoạt động của một số công ty xuyên quốc gia lớn trên thế giới. Nhiều công ty loại này đã bỏ vốn đầu tư, tận dụng những lợi thế của nước nhận đầu tư để sản xuất hàng hoá tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường mới, thay vì trước đây họ phải thông qua con đường xuất khẩu hàng hoá chịu nhiều lực cản. Toàn cầu hoá và đầu tư nước ngoài đã tác động, chi phối lẫn nhau một cách đáng kể. Đầu tư nước ngoài thúc đẩy toàn cầu hoá nhanh chóng, ngược lại, toàn cầu hoá là điều kiện quan trọng làm tăng lượng vốn đầu tư của toàn thế giới.

    Trong bối cảnh hiện nay, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng ra tăng. Nền kinh tế dân tộc đều theo xu hướng mở cửa và theo quỹ đạo của kinh tế thị trường. Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất , khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên, mức độ chi phí ở các nước khác nhau, nguồn vốn đầu tư quốc tế với tư cách của loại hàng hoá đặc biệt tất yếu sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn theo tiếng gọi của lợi nhuận cao

    Hiện nay, trình độ chênh lệch phát triển giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ngày càng dãn cách ra, nhưng sự phát triển của một nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước tư bản phát triển không chỉ coi các nước đang phát triển là địa chỉ đầu tư hấp dẫn do chi phí thấp-lợi nhuận cao, thuận lợi cho việc dịch chuyển thiết bị công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Về phần mình

    14

    các nước đang phát triển cũng trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá , khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Như vậy, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy đầu tư quốc tế phát triển đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của cả các nước nước đầu tư và nước nhận đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu.

    4.Tình hình đầu tư nước ngoài của các quốc gia trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá:

    Từ cuối những năm 1980 trở lại đây, sự vận động và các điều kiện của thế giới có những chuyển biến căn bản, sâu sắc với sự tan rã về mặt thể chế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Sự cách biệt giữa hai hệ thống đã giảm dần; nền kinh tế của hầu hết các quốc gia đều theo thể chế thị trường; xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh. Lĩnh vực đầu tư nước ngoài chịu sự tác động mạnh của xu hướng thị trường hoá toàn cầu, trong đó thị trường vốn quốc tế dưới hình thức đầu tư nước ngoài là một trong những địa hạt được giải phóng mạnh mẽ. Tham gia thị trường vốn đầu tư giờ đây không chỉ có những nước theo cơ chế kinh tế thị trường truyền thống, mà các thành viên đã mở rộng hầu như không có ngoại lệ ở phía “cầu” và thêm không ít những thành viên, nhất là các nước công nghiệp mới ở phía “cung”. Điều quan trọng hơn cả của sự gia tăng về số lượng này có lẽ phải nói đến một môi trường cơ chế kinh tế nói chung cũng như không khí kinh doanh tạo dòng di chuyển vốn đầu tư nước ngoài có được những thuận lợi hơn bao giờ hết. Đầu tư nước ngoài đang ngày càng trở thành loại hình hoạt động kinh tế sôi động trên thế giới, và được biểu hiện như sau:

    -Lượng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, trong đó các nước phát triển luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu kể cả lượng vốn đầu tư ra lẫn lượng vốn tiếp nhận vào. Tỷ trọng của các nước phát

    15

    triển trong tổng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới năm thấp nhất cũng chiếm tới 84,9% lượng vốn đầu ra, và 57,9% lượng vốn tiếp nhận vào. (nguồn: Vietnam Economic time, 2002).

    -Trong các nước đang phát triển thì các nước châu A là khu vực thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ở mức cao nhất so với các khu vực khác. Các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản là nhóm nước chủ yếu cung cấp lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng như là địa bàn tiếp nhận phần lớn vốn đầu tư nước ngoài của thế giới.

    -Các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng thể hiện vai trò chi phối mạnh mẽ đối với vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới. Hiện nay, chiến lược chính của các công ty xuyên quốc gia là bành trướng mạnh ra nước ngoài bằng cách đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: lập liên doanh với một hoặc nhiều đối tác ở nước nhận đầu tư, lập chi nhánh với 100% vốn công ty, hợp nhất hoặc mua lại quyền sở hữu của một hãng ở nước nhận đầu tư, liên minh với một hoặc nhiều công ty xuyên quốc gia khác để đầu tư đến địa bàn thích hợp. Nhìn chung lượng vốn FDI trên thế giới hiện nay chủ yếu được xuất phát từ các công ty xuyên quốc gia.

    • Trong thời gian qua đã có sự chuyển hướng căn bản của các nhà đầu tư. Vào những năm 1980, các nhà đầu tư thường tìm kiếm để đầu tư vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên, và các ngành sản xuất vật chất là chủ yếu. Thời gian gần đây các nhà đầu tư lại quan tâm nhiều hơn đến việc đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất có công nghệ cao, các ngành dịch vụ và cơ sở hạ tầng, nhất là ngành viễn thông, điện, nước, giao thông vận tải.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ

     

    16

    I.Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Bối cảnh thế giới tác động đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam :

    Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế giới đang tiến dần đến một chỉnh thể thống nhất. Nó tạo điều kiện cho các nước tham gia vào “sân chơi” chung rộng lớn trên trường quốc tế, giúp cho các nước có điều kiện tốt hơn để tạo ra môi trường kinh tế, chính trị-xã hội thuận lợi cho sự phát triển của mình. Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự gia tăng của các hoạt động đầu tư nước ngoài. Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, chuyển giao khoa học- công nghệ và đặc biệt là hợp tác đầu tư. Các nước công nghiệp phát triển đang ra sức tìm kiếm thị trường đầu tư thuận lợi để đem lại lợi nhuận cao. Trong khi đó, các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là một thị trường đáng chú ý đối với các nhà đầu tư vì đầu tư vào các nước đang phát triển, các nhà đầu tư có thể giảm được chi phí do sử dụng lao động và nguồn tài nguyên rẻ, ngoài ra các nhà đầu tư có thể giải quyết được tình trạng thừa vốn và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở thị trường này. Trong khu vực Đông A- Tây Thái Bình Dương Việt Nam có vị trí địa lý chính trị quan trọng với nhiều ưu thế hấp dẫn các nhà đầu tư. Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của họat động đầu tư quốc tế, nhu cầu đầu tư của các nước công nghiệp phát triển và sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam đã thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2. Nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam:

     

    Từ năm 1986 Việt Nam khủng hoảng , thực hiện

    đã nhận thấy một trong các giải pháp để thoát khỏi thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá

    17

    đất nước, từng bước tham gia quá trình toàn cầu hoá đó là phát triển kinh tế đối ngoại. Trong đó , thu hút đầu tư là vấn đề quan trọng vì nó đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình thực tiễn ở Việt Nam, đó là :

    -Tình hình cụ thể của Việt Nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích luỹ nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước còn nghèo. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ. Điều đó đã hạn chế đến qui mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ. Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về khả năng tích luỹ vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.

    -Công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu, năng suất thấp do trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học ở trong nước còn hạn chế. Việt Nam có rất ít khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến. Mặt khác khả năng tự nhập khẩu công nghệ của Việt Nam cũng rất hạn chế . Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài.

    -Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nền công nghiệp còn nhỏ bé, lực lượng lao động dư thừa còn rất nhiều. Đầu tư quốc tế sẽ giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam. Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô của các đơn vị kinh tế đầu tư quốc tế tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động, bên cạnh đó, đầu tư quốc tế góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

    18

    hoá và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.

    Như vậy, yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quan trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã và đang đòi hỏi Việt Nam cần tới nguồn đầu tư nước ngoài để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế-xã hội trên thế giới. Do đó đầu tư quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi các sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải là ngoại lệ.

    II.Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua

    1.Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua.

    1.1.Vốn và số dự án đăng ký:

    Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ.Tính đến tháng 12 năm 2002 có 4301 dự án FDI hoạt động ở Việt Nam, sử dụng 60 vạn lao động trực tiếp với tổng số vốn đăng ký là 42870 triệu USD. Tính bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 286 dự án với mức 2858 triệu USD vốn đăng ký (theo Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003).

    Bảng 1 “Vốn và số dự án FDI vào Việt Nam” (trang 19) dưới đây cho thấy nhịp độ thu hút FDI của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ năm 1988 đến năm 1995 cả về số dự án cũng như vốn đăng ký. Sở dĩ năm 1996 có lượng vốn tăng vọt là do có hai dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được phê duyệt với qui mô dự án lớn (hơn 3 tỷ USD/2 dự án). Như vậy, nếu xét trong suốt cả thời kỳ 1988-2002 thì năm 1995 có thể được xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam cả về vốn đăng ký cũng như quy mô dự án

    19

    Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam giảm mạnh xuống còn 2189 triệu USD (tính theo vốn thực hiện) vào năm 1998 và khoảng 1933 triệu USD năm 1999 khi Việt Nam bắt đầu phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở châu A. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 1999 là 1,5 tỷ USD, tức là khoảng 40,2% so với mức 3,8 tỷ USD của năm 1998. Khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực đã ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Phần lớn vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%) vào Việt Nam là xuất phát từ các nhà đầu tư châu A (trong đó các nước ASEAN chiếm gần 25 %, các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc A như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan chiếm trên 31%). Khi các nền kinh tế này lâm vào khủng hoảng, các nhà đầu tư ở đây rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, khả năng đầu tư ra nước ngoài bị giảm sút. Sự đột biến về kinh tế theo chiều hướng xấu như vậy đã buộc họ xin hoãn việc thực hiện dự án, hay một số công ty đang trong thời kỳ lập kế hoạch đầu tư ra nước ngoài bị mất đi khả năng thực hiện kế hoạch đã định. Ngoài ra, việc cắt giảm một số ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam cũng là những nguyên nhân làm cho tình hình đầu tư vào Việt Nam trong giai đoạn này bị giảm sút đáng kể. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 2000 là hơn 2 tỷ USD tăng 30 % so với cùng kỳ năm trước. Năm 2001 tổng số vốn đầu tư trực tiếp theo đăng ký là 2,5 tỷ USD nhưng sau đó giảm xuống còn 1,3 tỷ USD vào năm 2002.

    Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời kỳ 1988-2002 là 13,44 triệu USD/dự án. So với một số nước ở thời kỳ đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì quy mô dự án đầu tư vào nước ta bình quân ở thời kỳ này là không thấp. Nhưng, có vấn đề rất đáng quan tâm là quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999

    20

    lại nhỏ đi một cách đột ngột (5,04 triệu USD/dự án). Quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999 chỉ bằng 37,5% quy mô bình quân của thời kỳ 1988-2002 và chỉ bằng 28,5% quy mô dự án bình quân của năm cao nhất (năm 1995). Quy mô vốn bình quân của các dự án mới được cấp phép trong năm 2000 tuy đã tăng lên (bằng 107,5% mức bình quân của năm 1999), nhưng sang năm 2001 mặc dù có thêm một số dự án với quy mô đầu tư lớn (dự án nhà máy điện Phú Mỹ III có số vốn đăng ký 412,9 triệu USD; dự án xây dựng mạng điện thoại di động có số vốn đăng ký 230 triệu USD; dự án chế biến nông sản tại TP Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký 120 triệu USD; dự án máy in phun của công ty trách nhiệm hữu hạn CANON Việt Nam có vốn đăng ký 76,7 triệu USD;..) nhưng quy mô vốn bình quân của các dự án cũng chỉ đạt ở mức bằng 97,4% mức bình quân của năm 2000. Khối lượng đầu tư nước ngoài được cấp phép trong năm 2001 vốn đã không phải là lớn, vậy mà năm 2002 còn đạt thấp hơn năm 2001 là 46% (đó là chưa kể đã có thêm 93 dự án cũ bị giải thể trước thời hạn với tổng vốn đăng ký gần 700 triệu USD). Hơn nữa, với 670 dự án mới cấp phép này mà tổng vốn đăng ký chỉ hơn 1,33 tỷ USD thì quy mô đầu tư mỗi dự án chưa đầy 2 triệu USD và tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, dịch vụ. Điều đó chứng tỏ, năm 2001, 2002 có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là thuộc các dự án quy mô nhỏ.

    Như vậy, từ năm 1988-2002 vốn FDI theo đăng ký tăng lên đến đỉnh điểm là năm 1996 sau đó có xu hướng giảm dần. Trong giai đoạn hiện nay, tuy luồng FDI vào Việt Nam bị suy giảm, nhưng Việt Nam vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực trong thu hút FDI.

    21

    Bảng 1: Số dự án và vốn FDI được cấp giấy phép tại Việt Nam. (chưa kể

    các dự án của VIETSOVPETRO) :              
                       
    Năm Số Vố n đăng Qui Số dự án Vố n đăng Qui
      dự án (triệuUSD so với so  với so với
        (triệuUSD /dự án)   năm   năm trước năm  
            trước. (%) (%)   trước(%)
    1988 37 371,8 10,05              
                       
    1989 68 582,5 8,57   183,78   156,67 85,27  
                       
    1990 108 839,0 7,77   158,82   144,03 90,67  
                       
    1991 151 1322,3 8,76   139,81   157,60 112,74  
                       
    1992 197 2165,0 11,0   130,46   163,73 125,57  
                       
    1993 269 2900,0 10,78   136,55   133,95 98,00  
                       
    1994 343 3765,6 10,98   127,51   129,85 101,85  
                       
    1995 370 6530,8 17,65   107,87   173,43 160,75  
                       
    1996 325 8497,3 26,15   87,84   130,11 148,16  
                       
    1997 345 4649,1 13,48   106,15   54,71 58,23  
                       
    1998 275 3897,0 14,17   79,71   83,83 105,12  
                       
    1999 311 1568,0 5,04   113,09   40,24 35,57  
                       
    2000 371 2012,4 5,42   119,3   128,3 107,5  
                       
    2001 461 2436,0 5,28   124,3   121,0 121,0  
                         
    2002 670 1333,2 1,98   145,3   54,7   37,8  
                         
    Tổng 4301 42870 13,42              
                         

    Nguồn : Niên giám thống kê 2000, NXB Thống kê, Hà nội-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002

    Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003 1.2.Cơ cấu vốn đầu tư :

    22

    1.21.Cơ cấu vốn đầu tư theo chủ đầu tư :

    Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2002 đã có 62 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam : Tính theo vốn đăng ký (cấp mới) thì trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ 1988-2002 có khoảng 66% từ các nước châu A, khoảng 20% từ các nước châu Âu, hơn 13% từ các nước châu Mỹ. Tuy nhiên, số liệu thống kê địa chỉ của các nhà đầu tư như trên cũng chưa thể phản ánh đúng các chủ đích thực sở hữu các nguồn vốn. Trong xu thế phát triển chung hiện nay, nhiều doanh nghiệp, công ty, tập đoàn đã mở rộng mạng lưới đại diện, các công ty con ra nhiều quốc gia khác (có điều kiện thành lập thuận lợi và được hưởng nhiều ưu đãi..). Thông qua hệ thống này họ thực hiện các dự án đầu tư vào Việt Nam, ví dụ : các tập đoàn HSBC Holdings (Anh), ABB (Thụy Điển), Keppel (Singapo), đã thông qua các chi nhánh của họ tại Hồng Kông để đầu tư vào Việt Nam; Công ty Unilever (Anh) thông qua công ty con có trụ sở ở Singapo để đầu tư vào Việt Nam;…

    Trong tổng số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam có 42 nước và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đầu tư (đăng ký) từ 10 triệu USD trở lên, theo thứ tự như sau : (Bảng 2 trang 21)

    23

    Bảng 2 : Chủ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam có tổng số vốn đăng ký hơn 10 triệu USD (tính đến hết tháng 12 năm 2002)

    Th Nước Số Vốn đăng Thứ Nước   Số Vốn  đăng
    ứ tự   dự ký(triệu tự     dự án ký   (triệu
        án USD)         USD)
    1 Singapo 263 7242,42 22 Quần  đảo 12 193,55
              Măng sơ    
    2 Đài Loan 923 5131,34 23 Philipin 19 184,30
    3 Nhật Bản 368 4283,96 24 Đan Mạch 8 113,34
    4 Hàn Quốc 474 3625,66 25 In-đô-nê- 7 107,70
              sia      
    5 Hồng 262 2899,53 26 Bỉ   19 52,03
      kông              
    6 Pháp 126 2098,88 27 Thổ nhĩ 5 51,00
              kỳ      
    7 Quần  đảo 156 1801,11 28 Canađa 30 46,97
      Vigin              
      (Anh)              
    8 Hà Lan 44 1658,27 29 Niu di lân 9 40,53
    9 Nga 40 1507,17 30 Ân Độ   9 36,16
    10 Anh 49 1217,39 31 Cộng hoà 6 36,08
              Séc      
    11 Thái Lan 110 1167,95 32 Luých   11 35,89
              XămBua    
    12 Ma-lai-xia 117 1114,26 33 Na Uy   9 33,73
    13 Mỹ 153 1111,38 34 Y   8 28,37
    14 Thụy Sĩ 23 504,59 35 I Rắc   2 27,10
    15 Uc 76 508,96 36 Ba Lan 3 26,30
    16 Thụy 9 454,35 37 Liechtens- 2 23,90
      Điển       tein      
    17 Quần Đảo 10 451,54 38 Ucraina 6 21,13
      Cai-man              
    18 Trung 196 362,79 39 Ao   7 20,35
      Quốc              
                    24
    19 B.West 3 261,54 40 Mauritius 6 19,85
      Indies            
    20 Bermuda 5 260,32 41 Panama 3 14,73
    21 Đức 42 242,14 42 Lào 4 11,05

    Nguồn: Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Đài Loan, Singapo, Hàn Quốc và Hồng Công là những đối tác đầu tư chính ở Việt Nam. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khu vực châu A, kể cả Malaixia và Thái Lan chiếm khoảng 2/3 luồng FDI vào Việt Nam. Điều này giải thích vì sao tổng số vốn FDI đăng ký ở Việt Nam giảm mạnh từ 8,4 tỷ USD năm 1996 xuống còn 4,6 tỷ USD năm 1997, và xuống còn 3,8 tỷ USD năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lan rộng ở các nước khu vực. Cuộc khủng hoảng đó đã tác động lên FDI , khiến cho tỷ lệ FDI thấp. Những năm gần đây, do sự phục hồi của kinh tế các nước trong khu vực châu A, đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước này đã có xu hướng tăng lên. Đặc biệt tháng 7 năm 2000 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam. Điều này làm tăng thêm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Nhật Bản là nước đang đầu tư trực tiếp với số vốn đầu tư thực tế nhiều nhất vào Việt Nam. Vốn đầu tư thực tế từ năm 1989 là năm Nhật Bản bắt đầu đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đến năm 2001 là 3,2 tỷ USD, ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản trong khu vực Đông Nam A cũng đang đầu tư vào Việt Nam. Trong 5 năm từ năm 1989 đến năm 1993 số lượng đầu tư là

    • dự án. Các nhà sản xuất lớn trên các lĩnh vực như xi măng, đồ điện dân dụng, ô tô , xe máy, máy tính đã tập trung nhiều sang thị trường Việt Nam và tạo nên hiện tượng bùng nổ đầu tư vào Việt Nam trong những năm này. Tuy nhiên, từ năm 1996, do ảnh hưởng của đồng Yên bị mất giá và nền kinh

    25

    tế Nhật Bản bị ngưng trệ, các dự án đầu tư lớn vào Việt Nam bị giảm xuống. Đặc biệt sau năm 1998, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu A đã dẫn đến sự suy giảm kinh tế của Nhật Bản, mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được hoàn thiện nên đầu tư vào Việt Nam bị giảm nhanh chóng. Kinh tế các nước châu A đang phục hồi đã nâng số lượng dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng hơn so với năm 2000. Bước vào năm 2001, để giảm rủi ro của việc tập trung đầu tư nhiều vào Trung Quốc, các doanh nghiệp Nhật Bản đă bắt đầu chú ý đến việc quay trở lại đầu tư vào Việt Nam, những dự án lớn sản xuất lớn đã được quyết định tiếp tục tiến hành, vì vậy so với năm trước đầu tư trực tiếp đã tăng đáng kể. Vào năm 2002 các dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản đang tăng lên chủ yếu là các doanh nghiệp gia công xuất khẩu quy mô nhỏ.

    Nguồn FDI đầy tiềm năng vào Việt Nam là các nhà đầu tư từ Mỹ. sự tham gia hạn chế của các nhà đầu tư Mỹ vì nhiều lý do như : lệnh cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt đối với Việt Nam cho đến năm 1994; Hiệp định thương mại song phương Mỹ-Việt ngày 13-07-2000 được hai chính phủ Việt Nam và Mỹ ký, nhưng đến ngày 06-09-2001 mới được Hạ nghị viện Mỹ thông qua và ngày 03-10-2001 được Thượng viện Mỹ thông qua, cùng nhiều vấn đề khác cần được tiếp tục giải quyết

    Sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận vào tháng 2-1994, các doanh nghiệp Mỹ bắt đầu đầu tư vào Việt Nam. Vào thời điểm tháng 12-2002, Mỹ đứng thứ 13 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam, với 153 dự án, trị giá 1,1 tỷ USD. Đầu tư của Mỹ tăng từ 120 triệu USD năm 1994 lên 392 triệu USD năm 1995. Từ năm 1996, đã giảm dần và xuống tới mức thấp nhất là vào năm 1999 với vốn đăng ký là 96 triệu USD. Năm 2000, 2001, mới có một vài dự án trong ngành dầu khí được duyệt. Các dự án đầu tư của Mỹ với 100% sở hữu của Mỹ chiếm 5,5 % số dự án và 49,5 % tổng số vốn đầu tư. Mặc dù mới có mặt

    26

    • Việt Nam nhưng hoạt động đầu tư của Mỹ tương đối nổi bật nhờ sự góp mặt của một số hãng có tên tuổi trên thế giới.

    1.2.2.Vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực đầu tư :

    Trong những năm từ 1988 đến 1994 hầu hết FDI được đầu tư vào các dự án dầu khí ngoài khơi đó là các dự án ít phải chịu những rủi ro về chính trị và kinh tế, tiếp đến là ngành khách sạn và du lịch, là ngành dễ thực hiện và quản lý. Trong giai đoạn thứ hai (thời gian từ 1995 đến nay), FDI mở rộng sang lĩnh vực sản xuất nhiều hơn. Tính cả thời kỳ 1988-2002, các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dự án lẫn vốn đầu tư, tiếp đến là lĩnh vực khách sạn, du lịch, ngành nông, lâm nghiệp có số dự án lớn nhưng tổng vốn đầu tư thấp hơn (chứng tỏ quy mô dự án ở lĩnh vực này tương đối nhỏ). Đáng chú ý là, lĩnh vực công nghiệp, bao gồm các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp dầu khí (không kể liên doanh dầu khí Việt-Xô, Vietsovpetro, hình thành trước Luật Đầu tư nước ngoài), công nghiệp thực phẩm, xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp-khu chế xuất, chiếm hơn 61% về vốn đăng ký, gần 67% vốn thực hiện, 71% số lao động, khoảng 94% doanh thu và 91% giá trị xuất khẩu của toàn khu vực đầu tư nước ngoài ( không kể dầu thô)

    Bảng 3 : FDI vào Việt Nam theo ngành kinh tế từ 1988 đến hết 2002 (thứ tự theo vốn):

           
    Thứ Ngành kinh tế Vốnđăngký Tỉ lệ (%)
    tự   (triệuUSD)  
    1 Công nghiệp 19229,3 44,8
           
    2 Các ngành dịch vụ khác(*) 7699,9 17,9
           
    3 Khách sạn du lịch 4983,4 11,6
           
    4 Xây dựng (**) 4696,5 10,9
           
    5 Công nghiệp dầu khí 4229,3 9,8
           

    27

    6 Giao thông vận tải, Bưu điện 3673,9 8,5
    7 Nông, lâm nghiệp 1427,8 3,3
    8 Văn hoá, y tế, giáo dục 603,4 1,4
    9 Thủy sản 379,9 0,8
    10 Tài chính, ngân hàng 243,1 0,5

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003

    • Bao gồm cả xây dựng văn phòng và căn hộ (**) Bao gồm cả xây dựng khu chế xuất

    Nhìn chung, trong giai đoạn 1988-2002, FDI (tính theo tổng số vốn thực hiện) tập trung vào những lĩnh vực sau đây: dầu khí (20%); bất động sản (18%); công nghiệp nặng (15%); công nghiệp nhẹ (12%)

    Xét trên bình diện tổng thể, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp hơn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta. Nếu chỉ xem xét đơn thuần trên số liệu thống kê về vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên, có thể dễ dàng nhận thấy sự phù hợp tương đối của các chỉ số này với yêu cầu về cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, công nghiệp hoá: công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Nhưng, trong điều kiện ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và tham gia phân công lao động quốc tế và với đặc trưng của nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt Nam thì tình hình thu hút đầu tư vào lĩnh vực này như hiện nay đang là vấn đề cần suy nghĩ và điều chỉnh. Sở dĩ như vậy là vì đối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có nhiều tiềm năng mà chúng ta chưa có điều kiện để khai thác. Và từ đặc điểm phân bố dân cư, lao động, việc làm như hiện nay thì thành công trong phát triển nông thôn, nông nghiệp là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá,

    28

    hiện đại hoá trong quá trình hội nhập. Thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn, nông nghiệp cũng tức là tạo ra việc làm và thu nhập cho số đông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng kể đến sản xuất và đời sống của đa số dân cư Việt Nam.

    1.2.3.Vốn đầu tư theo hình thức đầu tư:

    Đa số các dự án FDI ở Việt Nam trong cả giai đoạn 1991-2002 là liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước, chiếm 57% trong vốn đăng ký và khoảng 40% số dự án. Các liên doanh với doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 2% do công ty tư nhân chưa phát triển mạnh ở Việt Nam và được phép trở thành đối tác của các nhà đầu tư nước ngoài sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi vào năm 1992. Sở dĩ liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là vì trong thời kỳ đầu các thủ tục để triển khai thực hiện dự án đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc, và rất phức tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế – xã hội và pháp luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư. Trong hoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên đối tác Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp. Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang ngày càng có xu hướng tăng lên. Nếu thời kỳ đầu chỉ có gần 10% số dự án và vốn đăng ký hoạt động theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì đến nay con số đó đã lên tới 55,5% số dự án và 29,4% vốn đăng ký (đến hết năm 2002, có 2615 dự án 100% vốn nước ngoài còn hiệu lực với 15,45 tỷ USD vốn đăng ký). Hình thức đầu tư này gia tăng vì sau một thời gian hoạt động trong môi trường

    29

    đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu A có điều kiện để hiểu biết hơn về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Sự am hiểu của các nhà đầu tư được nâng lên trong điều kiện các thủ tục cấp phép của Việt Nam đang từng bước được cải tiến theo hướng ngày càng đơn giản hơn trước, và cùng với sự xuất hiện các tổ chức tư vấn giúp các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các thủ tục triển khai, tổ chức sản xuất kinh doanh của các dự án tương đối có hiệu quả. Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam để tiến hành các thủ tục, đối với nhà đầu tư nước ngoài đã giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi tham gia liên doanh do khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có đối tác Việt Nam trong hoạt động đầu tư.

    Hình thức nữa của FDI là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Đến nay hình thức này chỉ chiếm 5% số dự án và 10,5% số vốn đầu tư (đến hết năm 2002 có 265 dự án còn hiệu lực với 5,72 tỷ USD vốn đăng ký), chủ yếu trong các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí và dịch vụ viễn thông, in ấn và phát hành báo chí.

    Việt Nam bắt đầu áp dụng hình thức “hợp đồng xây dựng –kinh doanh-chuyển giao” (BOT) từ năm 1993. Hình thức này có đặc điểm là : phần lớn các dự án có phạm vi áp dụng không rộng, điều kiện thực hiện phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm phán, ký kết hợp đồng, hợp đồng mua bán sản phẩm, phương án tài chính, thực hiện giải phóng mặt bằng…Không những thế, đây lại là hình thức mới, phía Việt Nam còn ít kinh nghiệm nên tiến độ triển khai dự án thuộc hình thức này thường chậm hơn các hình thức khác.

    30

    Bảng 4 : FDI tại Việt Nam phân theo hình thức đầu tư (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến 20 tháng 12 năm 2002)

    Hình thức đầu tư Số dự án Vốn đăng ký Vốn thực hiện
        (tỷ USD) (tỷ  USD)
    100% vốn nước ngoài 2615 15,45 7,11
           
    Liên doanh 1694 27,13 10,91
           
    Hợp đồng hợp tác 265 5,72 5,6
    kinh doanh      
    BOT, BT, BTO 7 1,97 0,22
    Tổng số 3663 39,09 20,74
           

    Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003 1.2.4.Vốn đầu tư theo địa bàn đầu tư :

    Tính đến hết năm 2002 đã có 60 tỉnh, thành phố thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do trình độ phát triển hạ tầng kinh tế – kỹ thuật và vị trí kinh tế rất khác nhau nên kết quả thu hút đầu tư nước ngoài giữa các địa bàn chênh lệch nhau rất lớn. Các chỉ số thống kê cho thấy, khoảng 95% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực tập trung vào 3 nhóm sau đây:

    -Nhóm 1 gồm 6 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 1 tỷ USD trở lên là TP Hồ chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-vũng tàu và Hải Phòng.

    -Nhóm 2 gồm 8 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 300 triệu USD đến gần 900 triệu USD là Lâm Đồng, Hải Dương, Thanh Hoá, Long An, Hà Tây, Kiên Giang, Khánh Hoà và Vĩnh Phúc

    -Nhóm 3 gồm 13 địa bàn có số vốn đăng ký từ còn hiệu lực từ gần 100 triệu USD đến gần 300 triệu USD là Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nghệ An, Tây Ninh, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Phú Thọ, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận, Cần Thơ, Tiền Giang và Hưng Yên.

    31

    Bảng 5 :Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo địa bàn

    đầu tư đến 20 tháng 12 năm 2002 (Đơn vị : triệu USD) :

    Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn
    tự đầu tư đăng ký tự đầu tư đăng tự đầu tư đăng ký
                   
    1 TP 10374,79 21 Phú Thọ 136,43 41 Bình. 20,57
      HCM           Phước  
    2 Hà Nội 7524,93 22 Quảng 133,90 42 Nam 18,70
            Nam     Định  
    3 Đồng 5482,5 23 Phú Yên 107,31 43 Vĩnh 15,71
      Nai           Long  
    4 Bình 2952,22 24 Bình 99,06 44 Bắc Cạn 15,24
      Dương     Thuận        
    5 Bà Rịa- 1864,62 25 Cần Thơ 98,21 45 An 15,03
      V.Tàu           Giang  
    6 Hải 1321,28 26 Tiền 95,99 46 Bắc 13,38
      Phòng     Giang     Giang  
    7 Lâm 859,06 27 Hưng 95,27 47 Yên Bái 10,22
      Đồng     Yên        
    8 Hải 486,15 28 Ninh 67,73 48 Đồng 10,18
      Dương     Bình     Tháp  
                    32
    9 Thanh 443,61 29 Thái 54,63 49 Quảng 9,63
      Hoá     Nguyên     Trị  
    10 Long An 429,80 30 Q.Bình 32,33 50 H.Bình 6,11
    11 Hà Tây 414,69 31 L.Sơn 32,00 51 Bến Tre 5,86
    12 K.Giang 393,17 32 B.Định 31,41 52 Cà Mau 5,18
    13 K.Hoà 384,20 33 H.Tĩnh 30,44 53 L.Châu 4,50
    14 V.Phúc 373,97 34 Lào Cai 29,23 54 KonTum 4,40
    15 Q.Ninh 266,28 35 Gia Lai 27,85 55 T.Bình 2,68
    16 Đ.Nẵng 235,52 36 Q.ngãi 26,32 56 TràVinh 1,61
    17 Nghệ An 231,32 37 N.Thuận 25,77 57 S.Trăng 1,14
    18 Tây 217,44 38 Đắc Lắc 24,18 58 Hà Nam 1,00
      Ninh              
    19 Bắc 153,71 39 Bạc Liêu 22,58 59 Tuyên 1,00
      Ninh           Quang  
    20 T.T-Huế 138,50 40 Sơn La 22,57 60 C. Bằng 0,50

    Nguồn : Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Với mong muốn thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng nên Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào “những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn; miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tuy vậy, cho đến nay vốn nước ngoài vẫn được đầu tư tập chung chủ yếu vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (tính theo tổng số vốn đăng ký) vào các vùng lãnh thổ Việt Nam được xếp theo thứ tự như sau:

    Bảng 6: FDI vào các vùng lãnh thổ Việt Nam

    Thứ tự Vùng lãnh thổ So với tổng vốn đăng ký (%)
         
    1 Đông Nam Bộ 53,13%
         
    2 Đồng bằng sông Hồng 29,6%
         
    3 Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64%
         
    4 Đông Bắc 4,46%
         

    33

    5 Đồng bằng sông Cửu Long 2,46%
         
    6 Bắc Trung Bộ 2,38%
         
    7 Tây Nguyên: 0,16%
         
    8 Tây Bắc: 0,15%
         

    Nguồn : tổng hợp Thời báo kinh tế Việt Nam 2002, 2003

    Mức độ trênh lệch giữa các vùng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối lớn. Số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong nước, đạt kết quả chưa cao. Như vậy, đây cũng là một trong những vấn đề cần được chú ý để điều chỉnh hoạt động của Việt Nam đối với lĩnh vực này trong thời gian tới.

    1.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI :

    1.3.1.Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam:

    Kể từ năm Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực (1988) đến nay đã có 4301 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng hơn 42 tỷ USD và vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 24 tỷ USD. Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam kể từ năm 1991 đến năm 2002 được thể hiện như sau:

    Bảng 7 : Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam

    Năm Vốn   thực So với vốn đăng ký Vốn nước ngoài Vốn trong
      hiện mới trong năm (%) góp (triệuUSD) nước góp
      (triệu USD)     (triệuUSD)
    1991 478 37,49 432 46  
               
    1992 542 26,74 478 64  
             
    1993 1097 42,37 871 226  
             
    1994 2213 59,08 1936 277  
             

    34

    1995 2761 41,79 2363 398
           
    1996 28337 32,84 2447 390
           
    1997 3032 62,53 2768 264
           
    1998 2189 56,17 2062 127
           
    1999 1933 123,36 1758 175
           
    2000 2100 105,69 1900 200
           
    2001 2300 94,42 2100 200
           
    2002 2350 176,29 2148 202
           
    Tổng 23832 58,01 21263 2569
             

    Nguồn Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    Đến hết năm 2002, trong tổng số 3663 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang còn hiệu lực hoạt động tại Việt Nam đã có khoảng 1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh có tổng vốn đăng ký khoảng 25 tỷ USD. Đây chính là nền móng cho việc hình thành và phát triển của khu vực doanh nghiệp mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi từ đó tạo ra 2014 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động (trong đó có 1137 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), cùng 1584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào những doanh nghiệp này (nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003)

    Tính đến hết năm 2002 tổng số vốn đã thực hiện bằng 58,01% của tổng số vốn đã đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước

    35

    ngoài còn nhiều biến động, thị trường phát triển chưa đầy đủ…thì tỉ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Cá biệt có những năm (1999, 2000, 2002) số vốn thực hiện của các dự án lại còn lớn hơn cả số vốn đăng ký được phê duyệt trong năm đó. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm, các dự án sau khi được phê duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay (từ năm 1988 đến năm 1990 chưa có vốn thực hiện); do đó, số vốn thực hiện trong năm chủ yếu là của các dự án đã được phê duyệt từ các năm trước đó. Cho nên nếu so sánh số vốn thực hiện của từng năm với số vốn đăng ký còn lại ( tổng vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện) thì tỷ lệ vốn thực hiện diễn biến theo xu hướng thiếu ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến năm 1997 và sau đó giảm dần từ năm 1998 đến 1999, năm 2000, 2001, 2002 đã có biểu hiện của xu hướng tăng lên. Tình trạng này có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân rất đáng được chú ý là một số nhà đầu tư khi lập dự án đã tính toán chưa thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án họ gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính cũng như các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu tư nước ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp phép đầu tư, nhưng do không huy động được vốn đúng như dự kiến, buộc phải triển khai dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.

    Nhìn tổng quát ta thấy, các dự án trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là những dự án hoạt động đạt kết quả tốt nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ các dự án loại này, các nhà đầu tư không phải mất nhiều thời gian giải quyết các thủ tục đất đai, xây dựng…còn về năng lực thì hầu hết các dự án loại này đều do các nhà đầu tư là các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về tài chính và công nghệ. Về loại hình doanh nghiệp,

    36

    các dự án 100% vốn nước ngoài có tiến độ thực hiện nhanh hơn hẳn các doanh nghiệp liên doanh, vì các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài không mất thời gian để đàm phán, thoả thuận với bên đối tác Việt Nam (thông thường những công việc này mất khá nhiều thời gian).

    1.3.2.Tình hình góp vốn của các bên đối tác trong các dự án đầu tư:

    Theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì bên Việt Nam có thể góp vốn tham gia liên doanh bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên, giá trị sử dụng mặt nước, mặt biển, thiết bị máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, các dịch vụ,…Thực tế lâu nay, Việt Nam góp vốn tham gia liên doanh chủ yếu bằng quyền sử dụng đất và giá trị thiết bị, nhà xưởng hiện có. Tất cả những tài sản này thường được góp một lần ngay vào thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện dự án đầu tư. Cũng theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì đối tác nước ngoài có thể góp vốn vào liên doanh bằng tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam, thiết bị máy móc nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. Số vốn thực hiện được thống kê ở bảng 7 (trang 30) là bao gồm cả vốn thực hiện của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và cả số tiền “khai vống giá trị tài sản” của đối tác nước ngoài khi đưa thiết bị vào thực hiện dự án đầu tư. Bên nước ngoài góp vốn chủ yếu bằng tiền mặt và trang thiết bị, do đó trong giai đoạn đầu triển khai dự án, thực hiện các công việc xây dựng cơ bản bị phụ thuộc rất nhiều vào tiến độ góp vốn của bên nước ngoài. Trong giai đoạn xây dựng cơ bản, đối tác nước ngoài gần như nắm quyền điều hành toàn bộ các hoạt động của liên doanh. Do trình độ cán bộ, nên rất ít liên doanh mà trong đó cán bộ của đối tác Việt Nam giành được tiếng nói chi phối các hoạt động này. Đến hết năm 2002, các đối tác nước ngoài đã đưa vốn vào thực hiện các dự án

    37

    đầu tư tại Việt Nam (kể cả vốn của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) là 21263 triệu USD (gấp 8,2 lần số vốn của Việt Nam đã góp).

    Nếu xét trên tổng thể hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam (không phân chia theo hình thức đầu tư) thì tỷ trọng vốn nước ngoài đang chiếm phần lớn (89%) trong tổng sô vốn hoạt động. Không những thế, tỷ trọng vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên, còn tỷ trọng vốn của Việt Nam đã thấp lại đang có xu hướng giảm xuống đáng kể. Với tỷ trọng và xu hướng như vậy cũng là điều đặt ra cần nghiên cứu về khả năng chi phối và lợi ích mà Việt Nam có thể thu được qua hoạt động kinh tế đặc biệt này. Qua thực tế hoạt động có 76 dự án liên doanh đã thực hiện chuyển quyền sở hữu vốn giữa các bên tham gia liên doanh, hay giữa bên đang tham gia liên doanh cho chủ mới. Trong số đó có 59 dự án đã chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (riêng năm 1999 đã có 25 dự án) và 13 dự án chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam. Sự thay đổi sở hữu như vậy là chuyện bình thường, nhưng với số lượng liên doanh chuyển cho chủ nước ngoài đã gấp hơn 4,5 lần số lượng chuyển cho chủ Việt Nam thì quả là điều đáng suy nghĩ. Điều này phần nào chứng tỏ vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào liên doanh đang giảm đi một cách đáng kể.

    “Hợp đồng xây dựng-kinh doanh – chuyển giao” là hình thức nước ta đưa vào áp dụng với mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho hình thức này như : Không thu tiền thuê đất, được hưởng các mức thuế thấp nhất, được chuyển đổi ngoại tệ…nhưng số dự án thuộc hình thức này vẫn còn rất ít. Sở dĩ như vậy là vì giữa hai bên chưa thật sự “gặp nhau” trong các ý tưởng khi thương lượng. Vấn đề rõ nét nhất là nhiều lúc hai bên không thống

    38

    nhất được về cách tính giá cả đầu vào, đầu ra đối với các đối tác cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu và mua sản phẩm.

    1.3.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI theo lĩnh vực kinh tế:

    -Lĩnh vực dầu khí: So với các ngành kinh tế việt Nam thì dầu khí là một trong rất ít ngành thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới đến tham gia đầu tư. Tổng vốn FDI theo đăng ký trong ngành công nghiệp dầu khí từ 1988 đến hết năm 2002 là 4,2 tỷ USD. Đến nay, chúng ta đã cấp 45 giấy phép hoạt động cho các nhà đầu tư tương đối có tiềm lực về mọi mặt thuộc Bắc Mỹ, châu Âu, châu Uc, châu A. Hình thức hoạt động chủ yếu của các nhà đầu tư này là hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), liên doanh (JV). Hiện nay, một số mỏ đã tiến hành khai thác như : Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Bunga, Kekwa, và chuẩn bị khai thác các mỏ khí Lan Đỏ, Lan Tây, Rồng Đôi, Hải Thạch, Emeral….(ngoài các mỏ Bạch Hổ, Rồng do Vietso Petro thực hiện).

    Bảng 8: Tình hình khai thác của một số công ty có vốn FDI trong lĩnh vực dầu khí tại Việt Nam tính đến hết tháng 12 năm 2002:

    Số thứ Công  ty  điều Mỏ Sản lượng dầu Sản lượng khí (tỷ
    tự hành   (triệu tấn/năm) mét khối/năm)
             
    1 Vietsovptro Bạch Hổ 12,77 1,674
      (Nga-Việt Nam)      
             
    2 JVPC (Nhật) Rạng Đông 2,14 0,03
             

    39

    3 Petronas CV Hồng Ngọc 1,03  
      (Malaysia)      
             
    4 Lundin Bunga 0,37  
             

    Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003.

    -Lĩnh vực công nghiệp ô tô và xe máy: Đây cũng là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư thuộc các hãng lớn mà sản phẩm của họ đã trở thành nổi tiếng và có lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thế giới như Toyota, Ford, Honda, Suzuki. Đến nay, chúng ta đã cấp giấy phép hoạt động cho 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô và 4 dự án đầu tư sản xuất xe máy. Số vốn thực hiện của các dự án đầu tư sản xuất ô tô đến nay là

    • triệu USD (bằng 43,12% vốn đăng ký), với số sản phẩm sản xuất bình quân 140.000 xe ôtô/năm. Trong số 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô có 3 dự án không triển khai (Chrysler, Nissan và Vietsin), 1 dự án tuy đã triển khai (đã đầu tư 16 triệu USD) nhưng tạm thời không đầu tư tiếp (dự án Mercedes-Ben) và liên doanh Mê Kông đã ngừng sản xuất. Một đặc điểm tương đối nổi bật nữa của các dự án đầu tư sản xuất ô tô, xe máy là bên cạnh các hoạt động của chính bản thân thì các dự án này có tác động đến việc hình thành các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng tương ứng. Tức là, thường đi cùng với các dự án đầu tư loại này là một loạt các dự án đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bổ trợ, cùng triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu đồng bộ về sản xuất ô tô và xe máy. Các dự án đầu tư dạng vệ tinh này thường là các đối tác truyền thống của các nhà đầu tư hoặc là các doanh nghiệp cơ khí sẵn có của Việt Nam, trong đó có cả những doanh nghiệp đang gặp khó khăn rất lớn trong sản xuất kinh doanh, thậm chí có nguy cơ phá sản.

    Lĩnh vực công nghiệp điện tử : Đây là lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có mặt tương đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư

    40

    và đây là lĩnh vực rất sớm phát huy hiệu quả. Đến nay, đã có 22 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD, trong đó có hơn 60% số vốn đã được thực hiện (379 triệu USD). Số vốn thực hiện trên được tập trung chủ yếu vào thời kỳ 1991-1995. Một trong những yếu tố hơn hẳn so với nhiều lĩnh vực khác là các nhà đầu tư vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các công ty xuyên quốc gia và các hãng điện tử lớn trên thế giới như : Sony, JVC, Toshiba, Philip, Matsushita, Fujitsu, LG, Samsung, Daewoo…

    -Lĩnh vực viễn thông: Đến nay đã có 20 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là trên 2 tỷ USD. Trong số các dự án đầu tư ở lĩnh vực này, có đến 94% số dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông, 6% số dự án đầu tư theo hình thức liên doanh để sản xuất các thiết bị vật tư bưu điện.

    Hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch : Đây là lĩnh vực mà ngay từ đầu có biểu hiện còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nên kể từ khi bước vào thực hiện chính sách đổi mới nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đầu tư vào lĩnh vực này. Và, đây cũng là ngành ngay từ đầu đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài. Cho đến nay đã có tới 237 dự án với 7585 triệu USD vốn đăng ký đầu tư xây dựng khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, phát triển đô thị, trong số đó đã có 33,66% (2553 triệu USD) vốn đã được thực hiện-Đây cũng là lĩnh vực đã xuất hiện tình trạng cung vượt quá cầu ở một số thành phố như TP.Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng.

    -Lĩnh vực công nghiệp hoá chất: Đến hết năm 2000, lĩnh vực này thu hút

    • dự án với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 682 triệu USD; trong đó thời kỳ 1996-2000 cấp phép 163 dự án với 1,7 tỷ USD vốn đăng ký. Năm 1999 tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm tới 26,5% trong tổng giá trị sản xuất của toàn

    41

    ngành Hoá chất Việt Nam. Điều đáng chú ý ở đây là, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong ngành này đã sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao như : một số hoá chất cơ bản, sơn thuốc sát trùng, dầu nhờn, thuốc trừ sâu…

    Lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực này được tập trung chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc, trồng rừng và chế biến gỗ. Phần lớn các dự án loại này thường thực hiện ở những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển kém hơn nhiều vùng khác: Mía đường ở các huyện miền núi Nghệ An, Thanh Hoá, Tây Nguyên, Nam Bộ; trồng chè ở các tỉnh miền núi Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lâm Đồng; trồng rau, hoa ở Hoà Bình, Hải Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng. Đến nay, ta đã cấp phép đầu tư cho

    • dự án với 1,86 tỷ USD vốn đăng ký vào lĩnh vực này. Trong đó, hiện có
    • dự án còn hiệu lực và số vốn đã thực hiện 852 triệu USD.

    -Lĩnh vực dệt, may, giày dép: Đây là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, suất đầu tư cho mỗi lao động thấp, triển khai sản xuất-kinh doanh nhanh; đặc điểm này rất thích hợp với điều kiện kinh tế và trình độ phát triển ở thời kỳ đầu bước vào hội nhập nền kinh tế quốc tế của nước ta. Đến nay, chúng ta đã cấp phép 250 dự án với tổng số 2396 triệu USD vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực này (dệt: 87 dự án với 1649 triệu USD vốn đăng ký; may:118 dự án với 281 triệu USD vốn đăng ký; giày dép:45 dự án với 466 triệu USD vốn đăng ký). Trong số đó, số vốn đã thực hiện là 1079 triệu USD (bằng 45% tổng vốn đăng ký). Đây là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ vốn thực hiện đạt vào loại cao.

    • Đánh giá tác động của FDI đối với Việt Nam

     

    1.Tác động tích cực :

     

    42

    Sau khi đường lối “đổi mới” được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt Nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (1987), hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đó là :

    1.1.Hoạt động FDI đã tạo ra được nguồn vốn đáng kể. Đây là nguồn vốn

    quan trọng và là một trong những điều kiện để nước ta phát triển kinh tế.

    -Từ khi thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài cho đến nay, vốn đầu tư

    nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1737,7 triệu USD/năm. Đối

    với một nền kinh tế có quy mô như của nước ta thì đây là một lượng vốn đầu

    tư không nhỏ, nó   thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến

    không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai

    trò như “chất xúc tác” để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất. Nếu so với

    tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ 1991-2000 thì vốn đầu tư

    xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 24,8%.

    Và, lượng vốn đầu tư này có xu hướng tăng lên qua các năm.

    Bảng 9:Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư xây dựng thực hiện toàn xã hội thời kỳ 1991-2002 tại Việt Nam

    Năm Tổng vốn Vốn Vốn đầu tư trực tiếp của
      đầu tư trong nước nước ngoài
      (tỷ đồng) (tỷ đồng)
         
          Số lượng (tỷ đồng) So với tổng số%

    43

    1991 13471 11545 1926 14,3
             
    1992 24737 19552 5185 21,0
             
    1993 42177 31556 10621 25,2
             
    1994 54296 37796 16500 30,4
             
    1995 68048 46048 22000 32,3
             
    1996 79367 56667 22700 28,6
             
    1997 96870 66570 30300 31,03
             
    1998 97336 73036 24300 31,3
             
    1999 105,200 86300 18900 18.0
             
    2000 120600 98200 21800 18,2
             
    2001 163500 133500 30000 18,3
             
    2002 180400 146400 34000 18,8
             
    Tổng 1045402 807170 238232 22,8
             

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2000-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    -Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (không kể dầu khí) đã thực hiện nộp ngân sách nhà nước (thời kỳ 1994-2002) với số tiền 2472 triệu USD. Có thể nói đây cũng là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng góp phần tích cực trong việc làm cân đối cán cân thanh toán quốc tế. Số tiền nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các năm như sau:

    Bảng 10 : Tình hình nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn FDI (triệu USD)

    Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                       
    Nộp ngân 128 195 263 315 317 271 260 373 350
                       

    44

    sách

    Nguồn : Trang web của Thời báo kinh tế.

    Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối và bền vững : Khi các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư thì Chính phủ ta có thể dành số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những ngành trọng điểm và những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài, cũng như đầu tư vào những địa bàn khó khăn nhằm tạo nên một sự phát triển cân đối, giữa các ngành, các vùng của đất nước.

    Hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư nước ngoài là một trong những động lực gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước. Theo các chuyên gia kinh tế : cứ một đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động sẽ làm cho bốn đồng vốn trong nước hoạt động theo. Như vậy, có thể nói đây là một trong những tác nhân có khả năng làm cho việc hình thành tại Việt Nam một thị trường vốn thực sự có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    1.2.Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo ra phương thức sản xuất kinh doanh mới và sản phẩm mới :

    Trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động theo sự chỉ thị kế hoạch của cấp trên, không cần đầu tư, cải tiến, không cần tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị ; sản phẩm sản xuất ra không bị cạnh tranh…trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giành sự chú ý đáng kể cho công tác nghiên cứu thị trường, tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi. Ngoài ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ hơn, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng hơn các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp trong nước. Để có

    45

    thể tồn tại được các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn con đường duy nhất là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ, phương thức sản xuất kinh doanh, trình độ của người lao động. Như vậy, Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất -kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị trường.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài một mặt, đã tạo ra một loạt các doanh nghiệp có nhiều tiềm lực trên đất Việt Nam, đây là môi trường bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu trong cuộc cạnh tranh để tồn tại và trưởng thành. Mặt khác, chúng còn là lực lượng có khả năng cung ứng cho thị trường nội địa nước ta nhiều hàng hoá, dịch vụ góp phần làm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân cũng như đáp ứng cho thị trường nước ta những hàng hoá trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đây vừa là nguồn bổ xung hàng hoá quan trọng cho thị trường vừa là điều kiện tốt để tiết kiệm được lượng ngoại tệ mà trước đây phải dùng cho việc nhập khẩu hàng hoá.

    1.3. Đầu tư nước ngoài đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá :

    Trong ngành công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những có tỷ trọng cao mà còn có xu hướng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn tạo ra hơn 25% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp ; tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt từ 25,1% (1995) ; 26,73% (1996) ; 28,9% (1997) ; 31,98% (1998) ; 34,73% (1999) ; 35,5% (2000); 34,3% (2001); 35,2% (2002)

    46

    Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có vị trí chủ đạo, với tỷ trọng 79% giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiêu biểu mức tỷ trọng ở một số năm như sau : 77,8%(1995) ; 78%(1996) ; 77,7%(1997) ; lên 81,4%(1998). Đặc biệt, giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thô và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra, với các mức cụ thể như sau : 99,7%(1995) ; 99,7%(1996) ; 99,8%(1997) ; 99,8%(1998). Điều mà chúng ta rất dễ nhận biết là nếu như không có đầu tư nước ngoài thì tin chắc chúng ta chưa thể tiến hành được công tác khai thác dầu thô và khí đốt.

    Trong công nghiệp chế biến, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 22% và có xu hướng ngày càng tăng, từ 18,1% (1995) ; 20,1% (1996) ; 22,9% (1997) lên 25,3% (1998). Trong đó, ở một số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như sau : 71% trong ngành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ ; 44,3% trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da ; 100% trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà không khí, đầu video… ; 67% trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông ; 31% trong ngành sản xuất kim loại ; 22% trong ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử, 20,1% trong ngành sản xuất hoá chất ; 19,1% trong ngành may mặc…

    Nhìn tổng thể tỷ trọng GDP của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP của ngành công nghiệp có sự chuyển biến gần như đồng biến với tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Điều này chứng tỏ rằng, trong số các nhân tố ảnh hưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài không những có vai trò rất quan trọng trong phát triển công nghiệp, mà nó còn có tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng hình thành một cơ cấu kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá

    47

    Bên cạnh những kết quả trên đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông, lâm sản hàng hoá. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản,thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn nuôi, mía đường, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi. Các dự án đầu tư nước ngoài trong nông-lâm-ngư nghiệp đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của đông đảo nhân dân Việt Nam cư trú ở nông thôn ; góp phần đầu tư, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở lạc hậu, yếu kém ở nhiều địa phương, tạo nhiều việc làm cho lao động ở nông thôn, tạo ra khả năng tiếp nhận những công nghệ tiên tiến cho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp.

    1.4. Đầu tư nước ngoài đã giúp Việt Nam tiếp cận nhanh chóng kịp thời công nghệ kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại :

    Thông qua đầu tư của nước ngoài, Việt Nam đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới. Phần lớn thiết bị, công nghệ đưa vào nước ta thuộc loại tiên tiến hơn cái ta hiện có. Cụ thể, các công nghệ đang sử dụng trong lĩnh vực dầu khí, viễn thông, hoá chất đều thuộc loại công nghệ hiện đại và các công nghệ này thực sự đã góp phần tạo nên bước ngoặt tích cực trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Đa số công nghệ sử dụng trong các ngành công nghiệp điện tử, hoá chất, ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng đều là những dây chuyền tự động hoá tương đối hiện đại. Một số sản phẩm điện tử, vi mạch, người máy công nghiệp được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến. Các khách sạn, văn phòng cho thuê đều được trang bị các thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    48

    1.5.Hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam. Tính đến năm 2002 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho người lao động Việt Nam khoảng 600.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng hơn 2 triệu lao động gián tiếp (bao gồm công nhân xây dựng và các ngành sản xuất, dịch vụ phụ trợ có liên quan). Số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài bằng khoảng 39%-40% tổng số lao động bình quân hàng năm trong khu vực nhà nước.

    Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nước. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhất định trên thị trường lao động. Tuy nhiên, lao động trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ cao, kỷ luật lao động nghiêm khắc. Trong một số lĩnh vực còn có yêu cầu đối với lực lượng lao động phải có trình độ cao về tay nghề, học vấn, ngoại ngữ. Sự hấp dẫn về thu nhập cùng với đòi hỏi cao về trình độ là những yếu tố buộc người lao động Việt Nam có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ và tay nghề để có đủ điều kiện được tuyển chọn vào làm việc tại các doanh nghiệp loại này.

    Khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầu hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam những chuyên gia giỏi, đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức kinh doanh hiện đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả. Đây chính là điều kiện tốt một mặt để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, học tập và nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý ; Mặt khác, để liên doanh có thể hoạt động được tốt, nhà đầu tư nước ngoài cũng buộc phải đào

    49

    tạo cán bộ quản lý cũng như lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, công nghệ đang sử dụng trong các dự án. Như vậy, dù không muốn thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam. Đến nay chúng ta có khoảng 6000 cán bộ quản lý, 25000 cán bộ kỹ thuật đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ chủ yếu là những kỹ sư trẻ, có trình độ, có thể cùng các chuyên gia nước ngoài quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả .

    1.6.Đầu tư nước ngoài thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới :

    Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập với thế giới sẽ có tác động chi phối mạnh mẽ đến sự thành công của công cuộc đổi mới, đến kết quả của sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá cũng như đến tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hướng mở cửa và hội nhập tương đối có hiệu quả. Chúng ta biết rằng, Việt Nam triển khai thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp trong bối cảnh quan hệ kinh tế đối ngoại chỉ ở phạm vi rất hẹp. Các quốc gia có quan hệ hợp tác với Việt Nam chủ yếu thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa. Một hệ thống bao gồm các nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Đây là thời kỳ mà Việt Nam ở vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế-xã hội và cũng là thời kỳ cả hệ thống xã hội chủ nghĩa đang lâm vào thoái trào. Việt Nam lúc này đang rất khó khăn lại mất đi nguồn viện trợ, mất đi những bạn hàng truyền thống và dễ tính, những đối tác hợp tác quốc tế có nhiều ưu ái với mình. Bên cạnh đó, cùng với chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ đã làm cho Việt Nam rất khó xác lập được những mối quan hệ kinh tế với các nước khác. Tuy vậy, với chính sách đầu tư nước ngoài được đánh giá là có

    50

    sức hấp dẫn lúc bấy giờ, nhiều nhà đầu tư thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đã tìm đến và chấp nhận làm ăn với Việt nam. Những kết quả mà các nhà đầu tư đạt được trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam cùng với chính sách đối ngoại rộng mở của chính phủ Việt Nam không những xóa đi những mặc cảm, định kiến của một số nước mà còn chính các nhà đầu tư đã tạo ra sức ép đối với một số chính phủ (trong đó có chính phủ Mỹ) trong việc cải thiện quan hệ với Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài cùng với các hoạt động thực hiện dự án đầu tư đã trở thành “cầu nối”, là điều kiện tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ mạnh của thế giới.

    1.7.Đầu tư nước ngoài là một trong những phương thức đưa hàng hoá sản xuất tại Việt Nam xâm nhập thị trường nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

    Hoạt động xuất khẩu những hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam. Đối với nước ta, mặc dù yêu cầu mở rộng thị phần ở nước ngoài là rất lớn và cấp bách, nhưng do hạn chế về năng lực tiếp thị quốc tế, trình độ công nghệ và quản lý nên rất khó khăn khi trực tiếp giải quyết yêu cầu này. Công việc này đối với các nhà đầu tư nước ngoài lại rất có ưu thế vì họ là những người tương đối am hiểu thị trường thế giới, có các cơ sở tiếp thị ở những thị trường quan trọng, có tiềm lực về vốn và công nghệ, có sẵn những mối quan hệ làm ăn cũng như kinh nghiệm buôn bán, có nhiều thủ thuật để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Nếu có các công ty xuyên quốc gia nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng xuất khẩu thì họ sẽ trở thành pháp nhân Việt Nam xuất hiện trên thương trường

    51

    thế giới. Đây là cơ hội tốt cho Việt Nam tiếp cận được với thị trường nước ngoài một cách thuận lợi .

    2.Tác động tiêu cực, những tồn tại và hạn chế của đầu tư nước ngoài :

    2.1. Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài :

    -Bên nước ngoài hầu hết là những công ty, hãng tư nhân, họ là người sở hữu thực sự tài sản mà họ đem góp vào liên doanh. Cho nên từ quan niệm, cách nhìn nhận cho đến cách hành động, hoạt động sản xuất kinh doanh, họ đều thể hiện tính chất tư bản tư nhân. Mục đích tối thượng của họ là lợi nhuận, nên họ bằng mọi cách để đạt được lợi nhuận tối đa. Trong một số trường hợp một số nhà đầu tư đã bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc. Ngoài ra, chủ đầu tư lợi dụng những “khe hở” của luật pháp nước ta và khai thác những mặt yếu kém của các nhà doanh nghiệp trong nước để trục lợi.

    -Đầu tư nước ngoài còn làm cho số lượng các doanh nghiệp trong nước giảm, làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng cao, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt và làm gia tăng hiện tượng chảy máu chất xám. Bên cạnh đó, một số hãng hoặc xí nghiệp nước ngoài tuy đem lại việc làm cho người lao động nhưng lại khai thác sức lao động của công nhân hay nhân viên sở tại một cách quá đáng. Mối quan hệ chủ thợ không bình đẳng, một số người lao động còn bị đối xử ngược đãi.

    -Các chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong ngành khai thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, việc khai thác và chế biến quá mức các loại khoáng sản và tài nguyên của các công ty này đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta.

    2.2. Hạn chế của đầu tư nước ngoài :

     

    52

    -Trong thời gian qua đầu tư nước ngoài được thực hiện chưa được đồng bộ và đầy đủ. Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo ngành kinh tế và vùng lãnh thổ chưa đạt được như mong muốn, nhất là còn tương đối bất cập với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Nước ta đã có các chính sách ưu đãi để hướng dẫn thu hút đầu tư nước ngoài theo chiến lược phát triển kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ. Thế nhưng, các cấp độ ưu đãi chưa tương xứng với mức độ trênh lệch về điều kiện giữa các ngành, các vùng nên đầu tư trực tiếp vẫn tập trung chủ yếu vào những vùng có khả năng đạt hiệu quả cao, những địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông-lâm nghiệp tuy đã có những đóng góp tích cực, làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn, nhưng sự biến động của đầu tư nước ngoài trong khu vực này đang có xu hướng chững lại và giảm dần, vì đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài…Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào nông-lâm-ngư nghiệp liên tục giảm từ 21,6% (thời kỳ 1988-1990), xuống 14,3% ( thời kỳ 1991-1995), và xuống mức chỉ còn gần 3% (thời kỳ 1996-2000). Đối với các lĩnh vực khác, ta thấy số dự án đầu tư nước ngoài vẫn tập trung chủ yếu vào các địa phương có điều kiện thuận lợi-chỉ riêng 10/61 tỉnh, thành phố có điều kiện thuận lợi đã thu hút tới 87,8% tổng số đầu tư nước ngoài vào cả nước.

    -Phần vốn góp của Việt Nam trong liên doanh với nước ngoài còn thấp (thường từ 20-30 % tổng vốn). Vốn góp của Việt Nam chủ yếu là quyền sử dụng đất và một số nhà xưởng đã cũ. Điều này làm quyền hạn của phía Việt Nam trong công ty bị hạn chế và phần lợi nhuận được phân chia không cao. Bên cạnh đó, một số đối tác nước ngoài tham gia liên doanh không phải bằng vốn thực có của mình (hoặc nếu có thì cũng chỉ có ở một tỷ lệ thấp) mà

    53

    chủ yếu góp vào liên doanh bằng vốn vay. Các trường hợp này, khi việc tiến hành vay vốn gặp khó khăn dễ dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc triển khai dự án. Hoặc sau khi vốn vay đã đưa vào thực hiện, nếu trường hợp sản xuất của liên doanh gặp khó khăn (thậm chí đang trong giai đoạn hoạt động bình thường) nhưng vẫn có những đối tác nước ngoài đã thiếu trách nhiệm trong việc cùng đối tác Việt Nam tính toán, thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cá biệt, có những đối tác nước ngoài cố tình dây dưa, lẩn tránh việc thanh toán nợ và sau đó đề nghị ngân hàng “phát mại”…tạo điều kiện để họ có thể thôn tính liên doanh (điển hình cho dạng này là liên doanh Saigon Lodge Hotel)

    -Việc chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài chưa được thực hiện triệt để và chưa được thực hiện với sự tự nguyện hoàn toàn, do đó người tiếp nhận công nghệ gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng công nghệ vào thực tiễn. Các công nghệ được chuyển giao đôi khi không thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Trong mối tương quan giữa vốn thu hút và vốn công nghệ của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tạm thời chúng ta phải chấp nhận thực tế là chưa có thể có điều kiện tự do lựa chọn công nghệ tiên tiến như ý muốn, do đó kỹ thuật, công nghệ và thiết bị đưa vào nước ta phần lớn thuộc loại trung bình trên thế giới. Ngoài ra, do các dự án sử dụng phần lớn công nghệ nước ngoài nên việc nhập khẩu nguyên liệu và tư liệu sản xuất trong nhiều trường hợp trở nên bắt buộc. Vì vậy mức độ phụ thuộc này đôi khi quá lớn và không khỏi gây những trở ngại cho tiến trình xây dựng và khai thác dự án.

    2.Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) :

    2.1.Tình hình thu hút và triển khai ODA tại Việt Nam :

    2.1.1Vốn và giải ngân ODA trong thời gian qua :

    Hiện nay Việt Nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác đó là :

    54

    • Các tổ chức của liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi chính phủ
    • 1 tổ chức liên chính phủ (EU)
    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu A
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB )
    • Các quỹ (IMF, OPEC)

    Giai đoạn 1995-1999, bình quân mỗi năm Việt Nam đã huy động được hơn

    • tỷ USD từ các nguồn tài trợ phát triển chính thức của quốc tế. Đến năm 2000, các hiệp định ODA ký kết vốn đầu tư tăng lên 2,4 tỷ USD, vượt xa so với giai đoạn trước. Năm 2001 tổng vốn ODA cam kết là 2,4 tỷ USD và đến năm 2002 số vốn này đạt 2,5 tỷ USD. Cũng trong năm 2002 số vốn này được giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD, bao gồm 1,2 tỷ USD vốn vay và 320 triệu USD viện trợ không hoàn lại. Như vậy kể từ năm 1993 đến nay, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam lên đến 22,43 tỷ USD, chưa kể phần tài trợ riêng để thực hiện cải cách kinh tế. Trong đó, tính đến hết năm 2002, tổng số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định đạt khoảng 16,5 tỷ USD và tổng số vốn đã được giải ngân đạt khoảng 11,04 tỷ USD. Rõ ràng, vốn giải ngân đạt tỷ lệ chưa cao so với vốn hiệp định và nếu so với vốn cam kết thì còn thấp hơn nữa, mới chỉ đạt 49,2%. Theo “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và công bố tại Văn bản số 2685/VPCP-QHQT ngày 21 tháng 5 năm 2002, thì trong thời kỳ 2001-2005 Việt Nam cần thực hiện số vốn ODA trị giá khoảng 9 tỷ USD ( theo giá năm 2000), bao gồm khoảng 7,5 tỷ USD vốn vay và khoảng 1,5 tỷ USD vốn viện trợ không hoàn lại. Nghĩa là mỗi năm cần thực hiện khoảng 1,8 tỷ USD. Bảng dưới đây

    55

    cũng cho thấy kết quả đạt được trong 2 năm qua còn khá thấp so với yêu cầu đề ra.

    Bảng 11: Cam kết và giải ngân vốn ODA 1993-2002 tại Việt Nam (tỷ USD quy tròn)

    Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                         
    Cam 1,81 1,94 2,26 2,43 2,40 2,20* 2,1** 2,4 2,4 2,5
    kết                    
    Giải 0,41 0,72 0,74 0,90 1,00 1,24 1,35 1,65 1,50 1,53
    ngân                    

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.

    • Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế
    • Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế

    Trong thời gian qua ODA được dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt Nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội là yêu cầu cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng 40%, vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế- xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ

    2.1.2.Cơ cấu vốn và dự án ODA theo nhà tài trợ :

    Hiện nay có hơn 20 nước và tổ chức quốc tế cung cấp ODA cho Việt Nam, nhưng trên 80% tổng giá trị hiệp định tập trung vào 3 nhà tài trợ lớn là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB) và Nhật Bản. Chẳng hạn, trong tổng giá trị hiệp định ký kết năm 2002 là 1.574 triệu USD thì Ngân hàng thế giới chiếm hơn 499,5 triệu USD, Ngân hàng phát triển châu A chiếm hơn 264 triệu USD và Nhật Bản chiếm trên 536 triệu USD. Trong những năm qua rất nhiều công trình quan trọng đã được xây dựng nhờ vốn của ODA, gây dấu ấn đậm nét như :

    -Cầu Mỹ Thuận ( ODA của Australia )

    56

    -Cầu Sông gianh (ODA của Pháp )

    -Nâng cấp quốc lộ 1A (ODA của WB và ADB )

    Trong hơn 10 năm qua Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất. Điều đặc biệt là khối lượng ODA cam kết hàng năm của Nhật Bản cho Việt Nam tăng đều đặn, kể cả trong những năm nền kinh tế Nhật bản gặp khó khăn, buộc phải cắt giảm tài trợ cho các nước khác. Theo thoả thuận giữa hai nước, ODA Nhật Bản tập trung vào 5 lĩnh vực chủ yếu sau đây : phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế, trong đó chú trọng hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường; hỗ trợ xây dựng và cải tạo các công trình điện và giao thông vận tải; hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng

    • nông thôn và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo và y tế; hỗ trợ bảo vệ môi trường.

    Số vốn ODA lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng hơn cả vẫn là các khoản tín dụng ưu đãi. Tính đến nay, Chính phủ Việt nam đã ký với Chính phủ Nhật Bản trên 60 hiệp định vay tín dụng với tổng trị giá trên 600 tỷ Yên, tương đương trên 5 tỷ USD để triển khai thực hiện trên 30 công trình và chương trình phát triển kinh tế lớn của Việt Nam.

    2.1.3.Dự án ODA theo ngành, lĩnh vực :

    -Về năng lượng, có những dự án xây dựng nhiệt điện Phú Mỹ 1, nhiệt điện Phả lại 2 nhiệt điện Ô Môn, thuỷ điện Đại Ninh, cụm thuỷ điện Hàm Thuận-Đa Mi, phục hồi thuỷ điện Đa Nhim và nhiệt điện Cần Thơ, cải tạo và mở rộng nhà máy nhiệt điện Uông Bí…

    -Về giao thông vận tải, có những dự án phục hồi và xây mới các cầu lớn trên quốc lộ 1, nâng cấp cảng Hải Phòng, xây dựng cảng nước sâu Cái Lân, mở rộng cảng Đà Nẵng, nâng cấp quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 18, xây dựng cầu Bính, cầu Thanh Trì, cầu Cần Thơ, thay thế những cầu yếu đường sắt Thống Nhất, xây dựng hầm đường bộ đèo Hải Vân, nâng cấp hệ thống giao

    57

    thông đô thị Hà Nội, xây dựng hạ tầng đô thị Hà Nội, xây dựng đường Đông-Tây Tp. Hồ Chí Minh, xây dựng hệ thống thông tin cứu hộ ven biển, xây dựng hệ thống viễn thông nông thôn 10 tỉnh miền trung, Đài truyền hình trung ương, xây dựng nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất…

    -Về cấp thoát nước, có những dự án xây dựng hệ thống thoát nước Hà Nội, xây dựng hệ thống cấp nước tại tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, thực hiện chương trình phục hồi và nâng cấp đường, cơ sở cấp nước và cơ sở phân phối điện tại các vùng nông thôn…

    -Về nông nghiệp, có 33 dự án với tổng vốn ODA khoảng 700 triệu USD, trong đó có những dự án lớn, như “trương trình di dân và kinh tế mới” (300 triệu USD), phát triển dâu tằm tơ (120 triệu USD). Thuỷ lợi có 41 dự án với khoảng1,5 tỷ USD, trong đó dự án quy mô lớn nhất là Cửa Đạt ở Thanh Hoá (200 triệu USD), Thuỷ lợi Tả Trạch ở Thừa Thiên-Huế (170 triệu USD), hệ thống kênh mương cấp 2 ở Đồng bằng sông Cửu long(120 triệu USD)…Lâm nghiệp có 15 dự án với tổng vốn trên 400 triệu USD. Thuỷ sản có 15 dự án với khoảng 600 triệu USD. Giáo dục – đào tạo có 24 dự án với 400 triệu USD, lớn nhất là trang bị Đại học quốc gia Hà Nội (75 triệu USD).

    -Lĩnh vực y tế – xã hội có 42 dự án với khoảng 1 tỷ USD. Văn hoá thông tin có 11 dự án với khoảng 300 triệu USD, lớn nhất là tháp truyền hình Hà Nội (133 triệu USD). Lĩnh vực khoa học- công nghệ – môi trường có 35 dự án với trên 1,5 tỷ USD, lớn nhất là khu công nghệ cao Hoà lạc (480 triệu USD), xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn, các cơ sở sử lý chất thải (200 triệu USD). Trong bưu chính viễn thông có 5 dự án với khoảng 450 triệu USD, lớn nhất là cáp quang biển trục Bắc-Nam (200 triệu USD), mạng cáp nội hạt các tỉnh(100 triệu USD)…Ngoài ra còn có hàng chục dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các ngành, lĩnh vực, mỗi dự án có vốn đầu tư từ 10 triệu USD trở xuống..

    58

    2.2. Đánh giá kết quả ODA đem lại cho Việt Nam :

    Cùng với nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA là một kênh vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với Việt Nam. Tính đến hết năm 2002 tổng vốn ODA cam kết giành cho Việt Nam là 22,43 tỷ USD. Tổng số vốn cam kết được giải ngân là 49% tương đương 11,04 tỷ USD. Kể từ năm 1993 đến nay đã diễn ra

    • lần Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế. Qua các lần hội nghị, số vốn cam kết giành cho Việt Nam mỗi năm một tăng. Song, điều có ý nghĩa hơn là số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định ký kết giữa đại diện Chính phủ Việt Nam với các đại diện các nhà tài trợ. Đặc biệt Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế diễn ra hồi tháng 12 năm 2002 tại Hà Nội đã cam kết tiếp tục dành cho Việt Nam khoản ODA trị giá 2,5 tỷ USD (bao gồm vốn vay và viện trợ không hoàn lại), được Bộ kế hoạch và đầu tư đánh giá là đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay.

    Trong thời gian qua nguồn vốn ODA không những góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Nhiều dự án đã được thực hiện bằng nguồn vốn ODA như các dự án phát triển ngành năng lượng, giao thông vận tải, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn. Các dự án này đã làm thay đổi đáng kể “bộ mặt“ của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và tạo ra hàng vạn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó công tác đào tạo cán bộ bằng nguồn vốn ODA cũng đạt được những kết quả tốt đẹp. Hàng ngàn cán bộ, chuyên gia của Việt Nam đã được đào tạo, hướng dẫn tiếp thu công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

    59

    CHƯƠNG 3

    CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ.

    I.Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Cơ hội đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, các hoạt động xuất khẩu, liên doanh, đầu tư ra nước ngoài đã trở thành những yếu tố chi phối, quyết định khả năng tồn tại và phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài là một trong những điều kiện chủ yếu để các công ty xuyên quốc gia thực hiện việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ để kéo dài chu kỳ kỹ thuật, chu kỳ sản phẩm nhằm tiếp tục thu được lợi nhuận

    60

    cao nhưng đồng thời vẫn có điều kiện để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả. Do đó hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển có xu hướng tăng lên. Đây là một cơ hội tốt cho nước ta trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Việt Nam bắt đầu thu hút đầu tư nước ngoài muộn hơn các nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ. Như vậy, qua những hoạt động thu hút đầu tư của các nước này nước ta có thể có được những bài học kinh nghiệm cho mình vì nước ta có những nét tương đồng với các nước trong khu vực về văn hoá, địa lý….Và, đây cũng là điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư từ các nước trong khu vực đến đầu tư tại Việt Nam.

    Việt Nam đã tạo ra được một sự ổn định về chính trị, xã hội, giữ vững được nền an ninh quốc phòng, giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài có được tâm lý tin tưởng, yên tâm về sự an toàn trong hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm đất đai, khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Theo đánh giá của các nhà đầu tư, Việt Nam có một vị trí địa-kinh tế khá thuận lợi. Vị trí của Việt Nam nằm trên các đường hàng không và hàng hải quốc tế quan trọng. Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không những cho nền kinh tế Việt Nam mà cả các quốc gia lân cận, đặc biệt là vùng Tây Nam lục địa Trung Hoa. Vị trí địa lý của Việt Nam tạo khả năng phát triển các hoạt động trung chuyển, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hoá qua các khu vực lân cận. Do đó nếu đầu tư vào Việt Nam các nhà đầu tư không những tiếp cận được nhu cầu của một thị trường hơn 80 triệu dân ở nước sở tại mà còn là địa bàn để cung cấp hàng hoá cho một số thị trường của các nước lân cận. Sự thuận lợi về vị trí địa lý là một tài nguyên vô hình và nó cũng là vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm trong việc tìm kiếm thị trường để đầu tư.

    61

    Lực lượng lao động của Việt Nam rất dồi dào, có trình độ học vấn trung bình tương đối cao, có nhiều khả năng tiếp thu kiến thức tiên tiến và có nhiều sáng tạo. Trong điều kiện trình độ của nền sản xuất như hiện nay thì về cơ bản người lao động Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư và giá nhân công tương đối rẻ. Mặt bằng tiền lương của Việt Nam nhìn chung thấp hơn so với các nước trong khu vực. Đây cũng là một trong những lợi thế cạnh tranh của nước ta trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Với đường lối đúng đắn, Việt Nam đã giành được sự thành công nhất định trong việc thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập. Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước phát triển khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Việt Nam cũng đã tạo ra một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế rộng rãi và tương đối có hiệu quả. Vị thế của Việt Nam trên thế giới, ngày càng được củng cố, cải thiện và tăng cường về nhiều mặt. Bên cạnh đó nước ta cũng đã xác định đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thành phần bình đẳng trong tổng thể các thành phần của nền kinh tế Việt Nam. Sự đánh giá cao và nhất quán này là yếu tố tạo thêm sức hấp dẫn về môi trường đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư trên thế giới.

    2.Thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Tiềm lực của Việt Nam được coi là có nguồn nhân lực lớn nhưng chất lượng không cao , không đồng đều. Ngoài ra, thói quen làm ăn manh mún của người Việt Nam vẫn còn, tính kỷ luật chưa cao do đó khó phát huy được lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp nhận khoa học- công nghệ và các nguồn lực khác có sẵn từ bên ngoài để đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nước ta chưa có quy hoạch đào tạo một cách có hệ thống cho hoạt

    62

    động kinh tế đối ngoại-nhất là cho lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó phần đông số cán bộ Việt Nam tham gia quản lý trong các liên doanh còn bất cập về trình độ cũng như năng lực so với yêu cầu của cương vị mà họ đang đảm nhận. Hay nói cách khác, hiện chúng ta đang rất thiếu những nhà doanh nghiệp giỏi (có trình độ, khả năng và kinh nghiệm trong tổ chức quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài) và những công nhân kỹ thuật lành nghề.

    Sức cạnh tranh quốc tế của Việt Nam nhìn chung còn thấp, trong khi đó, Việt Nam phải cạnh tranh ngay từ đầu với các đối thủ mạnh hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn. Trong tình hình cấp thiết về nhu cầu vốn đầu tư hiện nay trên thế giới, nhất là các công trình lớn, kỹ thuật cao, các nước xung quanh đã nhận thức được ngay nguy cơ “đói vốn ”, họ kiên quyết và nhạy bén trong việc thay đổi chính sách, làm thông thoáng môi trường đầu tư, để cạnh tranh gay gắt với các nước đang phát triển khác trong đó có Việt Nam. Các nước cạnh tranh đáng chú ý nhất hiện nay trong khu vực là Trung Quốc, Ân Độ, Thái Lan, Philipin.

    Các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài còn rất thiếu, yếu và lạc hậu. Chẳng hạn, chúng ta đang rất thiếu vốn trong nước để tham gia, đối ứng với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi đó thị trường vốn vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ còn rất lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại. Việt Nam là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người thuộc vào loại thấp trong khu vực. Nhưng giá đất và các dịch vụ sinh hoạt khác thuộc vào loại cao. (ví dụ : Một cú điện thoại gọi từ Hà Nội đi Washington D.C mất khoảng 3 USD/phút, trong khi đó gọi từ Washington D.C về chỉ mất 0,75 USD/phút) Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thu của các Công ty cung ứng dịch vụ Internet mức phí vào loại cao

    63

    nhất thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang tiếp tục có những điều chỉnh giá cả các dịch vụ trên để có thể cạnh tranh với các nước khác trong khu vực.

    Theo thống kê, Việt Nam hiện có hệ thống đường bộ cũ kỹ, với khoảng 105000 km, chỉ một phần tư trong số đó được trải nhựa, nhưng lại không được bảo trì tốt. Hệ thống đường sắt dài khoảng 2600 km cũng cần phải được nâng cấp. Khoảng 87% tổng chiều dài đường sắt có chiều ngang hẹp (1m). Nhiều đầu tầu đã vượt tuổi thọ tối đa. Hệ thống đường thuỷ mà tàu bè có thể chạy được là 17700km. Trong số đó, chỉ có 5149km có thể chạy vào mọi thời điểm bởi tầu bè cần một độ sâu tối thiểu của nước là 1,8 m. Như vậy, điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam so với các nước trong khu vực còn thấp, đây là một trong những bất lợi của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến hệ thống ngân hàng ở nước sở tại. Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam còn trong giai đoạn non trẻ và phải đối mặt với nhiều vấn đề : vốn còn ít, nợ khó đòi, nợ nần nhiều và quản lý kém hiệu lực. Ngoài ra, đồng nội tệ không chuyển đổi được, trong khi số lượng ngoại tệ còn rất hạn chế. Hầu hết mọi giao dịch kinh doanh đều thực hiên bằng tiền mặt, vì thẻ tín dụng chưa được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Việt Nam đã cho phép ấn hành chi phiếu từ năm 1997, nhưng do còn nhiều thủ tục nên nhiều khi chi phiếu không sử dụng được. Một hạn chế nữa là chi phiếu chỉ có giá trị trong vòng 15 ngày. Việc kiểm soát quá mức và tình trạng còn sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã làm khách hàng gặp khó khăn trong việc sử dụng chi phiếu và các dịch vụ ngân hàng để cất gửi số tiền của mình

    -Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là cao so với mức thuế trong khu vực và thế giới. Đối với người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam mà có thu nhập

    64

    hàng năm khoảng 25700USD-43000USD, thì thuế suất thu nhập cá nhân là 40%. Đối với những khoản thu nhập hàng năm vượt quá 43000USD, thuế suất áp dụng là 50%. Trong khi đó ở Thái Lan thuế suất 30% được áp dụng cho mức thu nhập cá nhận từ 25000 USD-102000USD và 37% cho thu nhập trên 102000USD. Hơn nữa, hệ thống thuế ở Thái Lan cho phép khấu trừ thuế theo trợ cấp cá nhân. Thuế suất thu nhập cá nhân của Trung Quốc còn thấp hơn cả Thái Lan

    Nhiều nhà đầu tư lớn cho rằng môi trường đầu tư ở Việt Nam mới bắt đầu khai phá, khả năng làm ăn lớn, nhưng trước mắt, độ rủi ro cao hơn các nước xung quanh do dung lượng thị trường còn hạn chế, thủ tục hành chính còn rườm rà, tệ quan liêu tham nhũng vẫn còn nhiều, luật pháp và chính sách chưa ổn định, các chính sách đôi khi chưa được nhất quán. Bên cạnh đó,chế độ thuế ở Việt Nam còn rắc rối, sân chơi giữa các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp nước ngoài chưa được bình đẳng.

    II.Các giải pháp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

     1.Nhóm giải pháp chung :

    1.1/Đổi mới về quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài:

    Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải luôn giữ vững kỷ cương pháp luật, thực hiện nhất quán các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trước mắt, chính phủ cần phải rà soát và sửa đổi các quy định và trình tự hình thành, thẩm định, phê duyệt dự án (kể cả nội dung, quy trình, thành phần hội đồng thẩm định), trong đó đặc biệt lưu ý và xem xét lại thủ tục cấp đất, xây dựng, thuế theo hướng đơn giản hoá về hành chính, chặt chẽ về luật pháp, rút ngắn thủ tục, thời gian gắn với việc tăng hiệu quả kinh tế-xã hội. Chỉ có quyết tâm cải cách theo hướng này chúng ta mới có thể giành lại các ưu thế và cạnh tranh được với các nước trong khu vực để thu

    65

    hút vốn nước ngoài phục vụ cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

    -Tinh giản bộ máy quản lý, đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Điều này không chỉ là những thủ tục liên quan đến việc cấp phép đầu tư như các loại giấy tờ và thời gian xét duyệt mà bên cạnh đó là cả một hệ thống liên quan đến thuê đất, thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục về thuế và hải quan. Đây là những vấn đề mà đầu tư nước ngoài sẽ gặp phải khi triển khai thực hiện dự án đã được cấp phép. Việc thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp phải theo đúng chức năng, đúng thẩm quyền và đúng luật pháp.

    • Quán triệt cơ chế “một cửa, một dấu”, thực hiện nghiêm túc tinh thần quản lý văn minh hiện đại đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng một quy chế thống nhất để phát huy vai trò quản lý Nhà nước của các cơ quan chức năng, khắc phục một số biểu hiện của tệ chồng chéo, phân tán và kém hiệu lực vẫn còn tồn tại hiện nay. Cần phải kiên quyết loại bỏ những ràng buộc bởi quan niệm cũ, sự quan liêu của bộ máy điều hành. Sự nửa vời, chắp vá sẽ làm mất cơ hội phát triển, và sau nữa là khiến Chính phủ thụ động chạy theo giải quyết những đòi hỏi cục bộ từ phía các doanh nghiệp -Cần có những chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực và địa bàn có điều kiện ưu tiên phát triển, phù hợp với quy hoạch và nhu cầu của nước ta. Mặt khác, cần dứt khoát thống nhất về các chủ trương đầu tư nước ngoài, để phù hợp với các mục tiêu chung của đất nước, xây dựng chiến lược quy hoạch cơ cấu phải do Chính phủ trung ương lãnh đạo điều hành, dù thực hiện phân cấp, phân quyền nhưng vẫn phải đảm bảo mục đích đại cục của chiến lược phát triển quốc gia, chấm dứt hẳn tình trạng cát cứ, phân tán, địa phương, có lúc tuỳ tiện chấp nhận hay không chấp nhận việc xây dựng các xí nghiệp được đầu tư trên địa bàn mình. Điều này là cần

    66

    thiết cho vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thực hiên mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng mạnh về xuất khẩu

    1.2/ Phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh và trong cuộc sống:

    So với các nước trong khu vực, cơ sở hạ tầng của Việt nam chưa phát triển. Như vậy, nâng cấp cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Do đó Việt Nam cần có chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng. Cụ thể đó là: tiến hành nâng cấp hệ thống đường bộ, đường thuỷ và đường sắt, mở rộng thêm các đường bay trực tiếp quốc tế, đảm bảo ổn định nguồn điện, nước cho các đơn vị kinh tế, xây dựng hệ thống kho bãi với số lượng, quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất và phân phối của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, thông tin, bưu điện là nhu cầu không thể thiếu được trong các hoạt động điều hành kinh doanh và trong cuộc sống của các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi thế, việc xây dựng một hệ thống thông tin bưu điện đạt chất lượng cao là một trong những biện pháp ưu tiên phát triển hàng đầu để tăng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi lượng kinh phí rất lớn và thời gian thu hồi vốn đầu tư dài. Vì vậy Nhà nước Việt Nam cần huy động các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nhận viện trợ, vay nợ chính phủ (ODA) hoặc khuyến khích đầu tư tư nhân (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) tham gia dưới hình thức BOT, BT.

    -Tích cực chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai sử dụng trong kinh doanh thuộc khu vực đầu tư nước ngoài. Hiện nay, nhìn chung giá thuê đất của nước ta đã cao hơn các nước xung quanh, đất cho thuê lại chưa được chuẩn bị các điều kiện hạ tầng (đường sá, điện nước, mặt bằng) việc đền bù, giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề nan giải, tốn kém

    67

    thời gian và tiền bạc cho các nhà đầu tư, thậm chí làm cho một số dự án không thể triển khai, thực hiện được hoặc làm các dự án đi lệch khá xa khỏi dự tính ban đầu về kế hoạch sản xuất kinh doanh. Hậu quả của nó là khó quy trách nhiệm của sự thua lỗ hay đình đốn trong điều hành, thực thi các kế hoạch sản xuất kinh doanh về một nguyên nhân, hay đối tượng cụ thể nào. Trong thời gian tới, các vấn đề về đất đai cần phải sớm được khắc phục từ khâu văn bản chỉ đạo, biện pháp quản lý, phối hợp các ngành, phương án di dời dân một cách hiệu quả để các nhà đầu tư có thể nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Uỷ ban nhân dân địa phương cần kiên quyết hơn nữa trong việc tổ chức cưỡng chế thực hiện việc giải phóng mặt bằng các trường hợp đã được đối xử theo đúng chính sách và quy định của Nhà nước nhưng vẫn không chấp hành.

    1.3/ Điều chỉnh lại chế độ thuế cho phù hợp và dễ thực hiện

    Trong thời gian qua Việt Nam đã có những ưu đãi về thuế để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài như miễn thuế nhập khẩu máy móc, nguyên liệu. Tuy nhiên, do chế độ thuế hiện nay của Việt Nam còn rắc rối và việc áp dụng chưa đồng nhất Nhà nước Việt Nam cần cải cách hệ thống thuế cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế, cần áp dụng hệ thống thuế chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sản xuất phụ tùng, linh kiện, cần có một chính sách thuế phù hợp : cho phép các dự án sản xuất nguyên liệu phụ trợ phục vụ hàng xuất khẩu được hưởng ưu đẵi tương tự như các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, ngoài ra cần bảo hộ hợp lý đối với một số sản phẩm quan trọng.

    68

    Hiện nay thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam còn cao so với các nước trong khu vực do đó Việt Nam nên giảm thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài để tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong thu hút đầu tư. Theo các nhà đầu tư thì cần giảm thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước và cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    1.4/ Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài :

    Công tác đào tạo cán bộ kinh tế đối ngoại nói chung và trong lĩnh vực đầu tư phát triển nói riêng trong thời đại kinh tế tri thức phát triển là một nhiệm vụ chủ chốt. Các cơ quan chức năng cần tích cực khuyến khích các hình thức truyền bá kiến thức, công nghệ của nước ngoài ở Việt Nam. Ví dụ bằng cách sử dụng tài trợ khoa học kỹ thuật của các chương trình ODA, có thể tiếp nhận chuyên gia, tổ chức đào tạo ngắn hạn trong, ngoài nước, tổ chức hội thảo để nâng cao trình độ nghiệp vụ của người lao động Việt Nam. Để tăng cường khả năng thu hút đầu tư nước ngoài đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư Nhà nước Việt Nam cần chú trọng tăng cường công tác cán bộ và đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức đối với cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài, cán bộ quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thường xuyên tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ Việt Nam hiện nay đang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổ chức đào tạo công nhân lành nghề làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trước hết là phục vụ cho các khu công nghiệp lớn đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các nhà đầu tư. Ngoài ra Nhà nước cần có những quy định về những điều kiện phải có đối với cán bộ Việt Nam tham

    69

    gia Hội đồng quản trị và quản lý các doanh nghiệp liên doanh, quy định cụ thể tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của những người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam cần thực hiện “chiến lược con người”: tranh thủ đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ trong nước, nhất là nhân lực có trình độ cao, đa dạng hoá, đa kênh hoá các hình thức đào tạo, huy động các nguồn vốn bên ngoài cũng như trong nước, kể cả ngân sách hoặc tín dụng của Nhà nước. Xây dựng văn hoá tổ chức, văn hoá trong hoạt động khoa học, công nghệ để góp phần cho sự thành công của nền kinh tế tri thức trong thời đại mới. Đó là những yếu tố như đầu óc rộng mở cho sự đổi mới và sáng tạo; sự sẵn sàng và kỹ năng hợp tác để đổi mới, sáng tạo và phát triển, đồng thời khắc phục được những đặc điểm bất lợi có tính tiểu nông, cản trở việc hợp tác đầu tư có hiệu quả trong tâm lý của người Việt Nam mà lâu nay nhiều học giả vẫn nói đến.

    1.5/ Đổi mới về nội dung và phương thức vận động xúc tiến đầu tư :

    Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các diễn đàn quốc tế, các hoạt động hợp tác xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ hợp tác AIA, ASEAN, APEC, ASEM, các cuộc hội thảo về đầu tư ở trong và ngoài nước; sử dụng tổng hợp các phương tiện xúc tiến đầu tư qua truyền thông đại chúng, tiếp xúc trực tiếp, mạng Internet.

    Hoàn thiện hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài. Mở rộng tuyên truyền đối ngoại trên cơ sở sử dụng thông tin hiện đại. Đẩy mạnh hoạt động của trang web về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ việc cung cấp thông tin cập nhật về chủ trương, chính sách pháp luật về đầu tư, giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư, biểu dương những dự án thành công….

    70

    Triển khai các chương trình xúc tiến đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tượng cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ nguồn. Căn cứ vào Danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài, chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, lựa chọn, mời trực tiếp một vài tập đoàn lớn trong ngành, lĩnh vực đó vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án.

    Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách đầu tư ra nước ngoài của các nước các tập đoàn và công ty lớn từ đó có chính sách thu hút đầu tư cho phù hợp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần nghiên cứu luật pháp, chính sách, biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực để có đối sách thích hợp tạo khả năng cạnh tranh với các nước này.

    2.Giải pháp riêng đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

    Việt Nam :

    2.1/ Nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển theo đúng định hướng của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể đó là :

    2.1.1.Mở rộng thêm điều kiện chuyển nhượng vốn cho các bên tham gia liên doanh vì theo các nhà đầu tư nước ngoài việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh còn bị hạn chế và điều này gây trở ngại đối với việc đầu tư.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức pháp luật của công ty liên doanh là một công ty trách nhiệm hữu hạn chứ không phải là công ty cổ phần do đó thiếu tự do trong việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh. Để bán toàn bộ hay một phần vốn góp của mình cần phải có ssự

    71

    cho phép trước của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư. Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của các nhà đầu tư và kìm hãm đầu tư. Để khắc phục tình trạng này Nhà nước Việt Nam có thể cho phép việc chuyển nhượng vốn giữa các đối tác nước ngoài không cần phải có giấy phép của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư mà chỉ cần khai báo với cơ quan này và nếu sau một số ngày mà không có ý kiến phản đối thì mặc nhiên được coi như việc chuyển nhượng được chấp nhận.

    2.1.2. Xem xét lại nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh.

    Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Hội đồng quản trị cần phải có sự nhất trí của toàn thể thành viên mới có thể thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo. Điều này làm cho các nhà đầu tư lo ngại vì quyền phủ quyết của mỗi thành viên hội đồng quản trị có thể làm cho công ty liên doanh lâm vào bế tắc. Do đó Việt Nam cần cho phép thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo mà không cần sự nhất trí của toàn thể thành viên hội đồng quản trị.

    2.1.3. Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực thay vì chỉ hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam thì các nhà đầu tư không được thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Như vậy các nhà đầu tư phải thành lập một thực thể pháp luật đối với mỗi dự án do đó việc xin phép đầu tư và chi phí thành lập sẽ phải tăng lên rất nhiều. Bên cạnh đó các dự án đầu tư sẽ bị chậm trễ vì các dự án này chỉ có thể triển khai sau khi có Giấy phép đầu tư. Để giải quyết vấn đề này Chính phủ Việt Nam cần cho phép các nhà đầu tư thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực

    72

    vì điều này sẽ làm giảm chi phí và thời gian cho các nhà đầu tư trong việc thành lập và triển khai các dự án, ngoài ra nó cho phép củng cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể bằng cách lấy phần lợi nhuận ở một số hoạt động để bù đắp về mặt thuế khoá cho phần lỗ ở các hoạt động khác.

    2.2/ Đa dạng hoá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới.

    Thực hiện các hình thức đầu tư như công ty hợp danh, công ty quản lý vốn. Mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cho phép doanh nghiệp có vốn đầu trực tiếp nước ngoài được chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này được đăng ký tại thị trường chứng khoán. Cho phép nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước. Thu hẹp danh mục hàng hoá không thuộc đối tượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài mua để xuất khẩu.

    2.3/ Hoàn thiện chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Tiến hành cải cách chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Ban hành các quy định hướng dẫn các nghị quyết của Chính phủ về đảm bảo vay vốn, cầm cố thế chấp, bảo lãnh đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

    Cải tổ lại hệ thống ngân hàng tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động đầu tư . Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép bán sản phẩm dịch vụ tại thị trường Việt Nam bằng ngoại tệ và được mua ngoại tệ nếu số ngoại tệ này dùng để nhập khẩu nguyên liệu hoặc để chuyển lợi nhuận về nước.

    73

    2.4/ Giải quan trọng để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là cần phải đảm bảo sự ổn định về chính trị-xã hội.

    Giữ vững sự ổn định về chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì nếu chính trị không ổn định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của các mục tiêu, sự thay đổi phương thức để đạt được mục tiêu đó. Các nhà đầu tư nước ngoài thường lấy mức độ ổn định chính trị-xã hội, tính nhất quán và bền vững trong các chính sách của nước nhận đầu tư để xác định hệ số an toàn, cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn mà họ bỏ ra đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đầu tư hoặc nếu đã có các dự án đầu tư, thì họ sẵn sàng rút vốn khỏi các quốc gia có tình hình chính trị không ổn định, các chính sách hay biến động và thiếu nhất quán. Các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư ở những quốc gia có điều kiện để thực hiện các cam kết với độ tin cậy cao.

    2.5. Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí một giá áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước ngoài.

    đầu tư và tiến tới chế độ nước và đầu tư trực tiếp

     

    Nhà nước Việt Nam cần giảm giá đất và các dịch vụ tiện ích để có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực do hiện nay giá đất và các dịch vụ tiện ích

    • Việt Nam cao hơn các nước này. Bên cạnh đó Nhà nước Việt Nam cần tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực Nhà nước, tư nhân và nước ngoài như xoá bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước, tiến hành cơ chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp đều có cơ hội ngang nhau trong hoạt động kinh doanh.

    3.Những bài học kinh nghiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại Việt Nam:

    Nhà tài trợ nước ngoài đòi hỏi vốn ODA của họ phải được sử dụng đúng mục đích, đúng chỗ, đúng người thụ hưởng. Vì vậy muốn dùng được vốn

    74

    của họ thì bản thân nước nhận tài trợ, hoặc ngành, địa phương được thụ hưởng không những cần phải chuẩn bị tốt dự án, các dự án phải đủ tính thuyết phục, có tính khả thi, nhất là có đủ vốn đối ứng cần thiết, mà còn phải tiếp cận và vận dụng được các cơ chế đó, nghĩa là phải hội nhập “luật chơi” của từng nhà tài trợ.

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước, để quản lý có hiệu quả – đó là các vấn đề: chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên, lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán, tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài, giảm tính tự lực và tăng tham nhũng. Do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA, trong năm 2001 Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định 17/2001NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn ODA và Quyết định 64/2001/QĐ-TTg về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Nhờ đó, việc phân cấp thẩm định và phê duyệt các chương trình, dự án ODA đã được mở rộng.

    Đối với Việt Nam trong đầu tư bằng ODA, phải đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, dùng nhiều vốn ưu tiên cao cho việc tạo ra các tài sản cố định, góp phần làm tăng trưởng nhanh GDP. Dùng vốn vay ưu đãi cho công trình cơ sở hạ tầng kinh tế, dùng vốn không hoàn lại cho các công trình hạ tầng phúc lợi công cộng xã hội

    Các quốc gia nhận ODA chủ yếu nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng trong trường hợp cụ thể như ở nước ta, có thể sử dụng ODA cho các công trình cá biệt như điện, phân bón… ODA nên tập trung cho ba vùng kinh tế trọng điểm, trong đó đầu tư các dự án quy mô vừa phải cho các tỉnh nghèo.

    Như vậy, để sử dụng ODA có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu chiến lược, cần chuẩn bị và thông qua định hướng, qui hoạch cũng như chương trình, dự án ưu tiên có sẵn của nhà nước trên cơ sở cân nhắc nhiều mặt. Sau khi được

    75

    các cấp thẩm quyền Nhà nước cao nhất phê duyệt, các văn kiện này là cơ sở chung để các ngành và các địa phương thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    76

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I.Tài liệu bằng tiếng Việt

    1.Lê Thanh Bình: Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hoá. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002

    2.Phùng Xuân Nhạ: Đầu tư quốc tế. Nhà xuất bản Đại học quốc gia. Hà Nội,

    2001

    3.Vũ Chí Lộc: Giáo trình đầu tư nước ngoài. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội,

    1997

    4.Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2001

    5.Các tạp chí như : Ngân hàng, Tài chính từ 2000 đến 2003

    6.Các báo Nhân Dân, Đầu tư, Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn từ 1990 đến 2003

    II.Tài liệu bằng tiếng Anh

    7.Vietnam Economic Time 1999

    8.Vietnam Economic Time 2000

    9.Vietnam Investment Review 2002

    10.Vietnam Investment Review 2003

    77

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-

    78

    xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    79

    80


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B3-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ngu%E1%BB%93n-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mạI diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoàI nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loạI, những cống hiến và những phát minh vĩ đạI của các bậc thế hệ đI trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đI trước. Khi đó đầu tư nước ngoàI có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “ Kinh tế vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoàI, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoàI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước” .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả

    nguồn vốn đầu tư của nước ngoài” . Tôi rất mong đước sự góp ý của thầy cô và bạn bè.

    Lời cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn thầy PHẠM THÀNH đã tận tình hướng dẫn tôi cùng thư viện trường ĐHKQD và cảm ơn đồng nghiệp trong việc giúp tôi hoàn thành đề án này.

    PHẦN A.      PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

    Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tàI chính quốc tế và nhiều công ty đang năm lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư ra nước ngoàI. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước đang thiếu vốn, có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy nhu cầu thu hút vốn đầu tư và sử dụng nguồn vốn dó là một vần đề cấp thiết, quan trọng đối vơínhiều nước trên thế giới dặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có việt nam.

    Đối với nước ta thực hiên mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế –xã hội, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI (FDI) là một vấn đề tấtyếu không thể thiếu được đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, giai đoạn mà chúng ta thực hiện chiến lược công nghiệp hoá – hiện đạI hoá đất nước.

    Trong đIều kiện hiện nay của đất nước, nhìn nhận một cách tổng thể thì nước ta đang còn là một nước nghèo so với bạn bè trong khu vực, đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á, mặc dù chúng ta đã có những tiến bộ vượt bậc so với trước đây, đã có những đường lối, chính sách đổi mới những mà cáI mà chúng ta mong muốn thì chưa đạt được. Vì vậy để đất nước ngày một hưng thịnh phồn vinh thì chúng ta phảI có những bước đI thật đúng đắn, có sự thống nhất từ trung ương đến cơ sở nhằm tạo nên sức mạnh chung phát huy tối đa nguồn lựctong nước cũng như nước ngoàI. Chính vì vậy nghiên cứu những lĩnh vực có liên quanđến vấn đề đất nước đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Những vấn đề đó không thể không nhắc đến cáI tác động trực tiếp lên toàn xã hội đó là vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoàI là một nội dung quan trọng. Nó liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị của đất nước, tác động trực tiếp lên các mặt đời sống của xã hội. Do vậy nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết về nó là vấn đề cần thiết.

    Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trên mọi lĩnh vực, nhờ sự đổi mới đó mà chúng ta thu được những kết quả quan trọng, không những vượt qua khủng hoảng triền miên trong thập kỉ 80 mà còn đạt được những thành tựuto lớn trong phát triển kkinh tế xã hội.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong l5 năm liền (1993-1997) đạt mức 8-9,5 % lạm phát bị đẩy lùi, đời sống đạI bộ phận nhân dân được cảI thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này là nhờ đóng góp lớn của trực tiếp đầu tư nước ngoàI FDI.

    -1-

    Nó đã góp phần mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoạI tạo đIều kiện tăng cường củng cố và tạo ra những thế lực mới cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực.

    II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .

    Bài viết dựa trên những quy luật hiện tượng khách quan. Dựa vào các quy luật của triết học như:

    • phương pháp duy vật biện chứng.
    • phương pháp lịch sử.
    • phương pháp so sánh.
    • phương pháp phân tích tàI liệu.
    • phương pháp tổng hợp đánh giá. Và một số phương pháp khác.

    III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

    Do phạm vi của đề tàI có giới hạn cho nên trong quá trình nghiên cứu, xem xét đánh giá nó phảI có cáI nhìn sâu sắc, nhìn từ nhiều hướng, nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau trên cơ sở đánh giá sâu vấn đề. BàI viết được trình bày dưới dạng một đề án của một môn học và chỉ dừng lạI ở mức độ đề án môn học.

    PHẦN B.  NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     

    1. Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoạI. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
    • 2-

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạI, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tàI nguyên, ô nhiễm môI trường sinh tháI tăng tính lệ thuộc với bên ngoàI.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoàI chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    -3-

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3. Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    Đầu tư thường thúc đẩy tạo đIều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các đIều kiện ưu đãI cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng vốn này thực hiện các dự án có mức đầu tư lớn, thu hút vốn đầu tư dài.

    Đầu tư nước ngoàI có lợi cho cả nước đầu tư và cho cả nước nhận đầu tư, thường dùng các công cụ đầu tư tráI phiếu, cổ phiếu.

    Nhìn chung nguồn vốn đầu tư chính để phục vụ, phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH là nguồn vốn từ bên ngoàI tức là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (FDI).

    II.               CƠ SỞ LÝ LUẬN.

     

    • Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon(Hoa kỳ)

    Trước khi lý thuyết này ra đời có nhận định cho rằng: “hầu như các nước đều phát triển toàn diện”, vì vậy ngườI ta từng ví việc áp dụng lý thuyết này như áp dụng định luật Anhxtanh trong kinh tế.

    Theo lý thuyết nàyVernon đã chứng minh rằng không có nước nào mạnh toàn diện và cũng không có nước nào yếu toàn diện .Nếu chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp có như thế mới có lợi cho tất cả các nước.

    Hàm sản xuất: y=f (K, L)

    -4-

    P.Vernon cho rằng nên tận dụng lợi thế sso sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng cao.

    Như vậy đối với việc đầu tư ra nước ngoàI để khai thác các lợi thế so sánh của nược nhận đầu tư, các chủ đầu tư sẽ đầu tư vào tất cả những nước đang phát triển: công nghệ vốn, mặt hành mang hàm lượng chất xám cao và hàm lương công nghệ lớn. Còn các nước đang phát triển, để phát huy lợi thế so sánh của mình sẽ tiếp nhận công nghệ, vốn các loạI.

    • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith.

    Cơ sở kinh tế của nền kinh tế mở gắn liền với thương mạI quốc tế, tức là mỗi nước khi tiến hành thương mạI quốc tế đều phảI tìm được lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Smit trong thuơng mạI quốc tế phản ánh hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất khẩu thấp nhất so với các nước khác, còn đối với các nước nhập khảu thì hao phí lao, động cao nhất so với các nước khác. Chính vì đIều đó mà tạo lợi cho các nước, kể cả các nước xuất khẩu, nhập khẩu. Các nước xuất khẩu có lợi là thu nhập nến kinh tế lạI tăng lên, việc làm, nhiều hơn nên tỷ lệ thất nghiệp giảm đI, nguồn lực lao động được sử dụng tốt hơn, còn đối với cấc nước nhập khẩu: thì khả năng tiếp cận với hàng hào nhiều hơn, chất lượng hàng háo nhiều hơn, chủng loạI hàng hoá – dịch vụ phong phú hơn, hàng hoá dịch vụ rẻ hơn, đồng thời vì sản xuất trong nước các nước nhập khẩu này có những đIều kiện tốt để phát triển mau chóng nền kinh tế, vì thay vào đó khoảng thời gian sảnxuất trong nước được giảm đI đáng kể , đủ thời gian để tiếp cận mau chóng nền kinh mở.

    III. CƠ SỞ THỰC TẾ.

    1.     Hiểu về vốn đầu tư nước ngoàI.

    Như ta đã biết mọi quá trình sản xuất đều gồm hai yêú tố cơ bản là tư liệu sản xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào, dù là sản xuất tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá. Để có được hai yếu tố đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư. Vồn đầu tư dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm hoặc bổt sung thiết bị, tạo cơ sở vật chuất kỉ thuật, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động. Vốn đó cho dù khác nhau về quy mô hay cơ cấu song là quá trình cần thiết đối với quá trình sản xuất. Một bộ phận vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển đó là vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (viết tắt là FDI)

    FDI là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia, mà nguồn nước trong nước xét tổng thể có ý nghĩa quyết định. FDI không thay thế

    -5-

    các nguồn vốn đầu tư khác, nhưng có thế mạnh riêng. Trước mắt, khi nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn vốn ODA chưa đáng kể thì FDI chiếm một vị trí quan trọng, góp phần cải tiến dần cơ cấu kinh tế quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỉ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế, mở rộng thu hút ngân sách nhà nước, góp phần giả quyết thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh xuất khẩu. FDI là việc tổ chức cá nhân nước ngoàI trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoàI hoặc bất kì tàI sản nào được chính phủ Việt Nam công nhận để hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài… Rõ ràng khác với ODA, FDI không gây ra tình trạng nợ nần chồng chất cho các thế hệ mai sau và không phương hạI đến chủ quyền của đất nước. FDI còn có lợi thế hơn ODA, vì vậy đây là vốn của các công ty và tư nhân của nước ngoàI đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở hai bên cùng có lợi, chủ đầu tư buộc phảI quan tâm làm cho đồng tiền sinh lợi. NgoàI ra,về lâu dài các công trình FDI sẽ thuộc về Việt Nam. Hơn nữa thực tế đã khẳng định, vay nợ nước ngoàI tỏ ra là một nhân tố huỷ hoạI quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới trong thời gian 40 năm qua .Vì thế Việt Nam nên chủ yếu dựa vào thu hút FDI.

    Tuy nhiên trong quá trình thu hút vốn đầ tư cần tránh các quan đIểm:

    • Quan đIểm coi nhẹ, thậm chí lên án FDI như một nhân tố có hạI cho nến kinh tế độc lập tự chủ.
    • Quan đIểm quá đề cao FDI gắn cho nó một vai trò tích cực, bất chấp đIều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắng cảI thiện môI trường đầu tư. Quan đIểm này dẫn tới tình trạng ỷ lạI vào FDI mà không khai thác tốI đa các lợi thế bên trong. FDI tự nó chưa thể quyết định sự thành công của mục tiêu phát triển kinh tế mà nó phảI được kết hợp đồng bộ với các nguồn khác, và quan trọng là tạo ra môI trường khuyến khích mạnh mẽ tiết kiệm trong nước để tàI trợ cho qúa trình phát triển, giảm bớt lệ thuộc vào nguồn vốn của nước ngoàI.

    Ngày nay FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong đIều kiện quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói trong thời đạI ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay bé, dù phát triển theo con đường TBCN hay định hướng xã hội chủ lạI không cần đến nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoàI, và coi đó là một nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hội nhập,vào cộng đồng quốc tế.

    Mặt khác dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế khoa học kỉ thuật như Mỹ, Nhật, cũng như các nước EU cũng không thể tự mình giảI quyết có hiệu quả những vấn đề đã

    -6-

    và đang và tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ và vốn . Do vậy chỉ có con đường hợp tác, trong đó FDI là loạ hình đầu tư hợ tác có hiệu quả. Do dó không có một nước nào bỏ qua hình thức này Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.

    2) Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tạI Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoàI đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoạI và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoàI đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.
    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá – hiện đạI hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoàI tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ
    • 7-

    khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    2.     Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã

    -8-

    đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI

    • Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    -9-

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    • Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực.

    Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này

    -10-

    khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    4. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoàI nước.

    Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    Tuy nhiên mặt tráI của nguồn vốn đầu tư nước ngoàI cũng không nhỏ. Sử dụng nhuồn vốn đầu tư nước ngoàI phảI chấp nhận chịu bóc lột, tàI nguyên bị khai thác, nợ nước ngoàI tăng lên… Do vậy không kì vọng quá lớn nguồn vốn bên ngoàI. Sử dụng nguồn vốn nước ngoàI lầ rất quan trong nhưng phảI cân nhắc trước khi lựa chọn.

    -11-

    -12-

    IV.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    1/ THỰC TRẠNG:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu Á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

     

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

     

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chiính phủ quan tâm và chỉ đạo.

     

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USSD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn

    -13-

    FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.
    1. c) Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu

    -14-

    tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    • Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực hiện
        TriệuUSD Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng

    -15-

    có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức 100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô

    -16-

    thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    • Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự   Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng số Tỷ lệ
    T   án   số %vốn án vốn %vốn
            vốn        
                     
    1 Công nghiệp chế biến 285   2328 39,6 1291 13008 40,5
                     
    2 Công nghiệp khai thác 25   1124 19,1 79 2184 6,8
                     
    3 Xây dựng 14   16 0,3 259 8228 25,6
                     
    4 Khách sạn và du lịch 86   1276 21,8 161 3650 11,4
                     
    5 Giao thông và bưu đIện 34   456 7,8 102 1465 4,6
                     
    6 Nông –lâm nghiệp 81   239 4,1 54 316 1,0
                     
    7 Ngư nghiệp 32   90 1,5 47 206 0,6
                     
    8 Các nghành khác 68   336 5,8 327 3045 9,5
                     
      Tông cộng 625   5865 100 2320 32102  
                     
          -17-        

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    • Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ     đầu tư (%) (%)
             
        -18-    
    Singapore 181 9,4 6447 20
             
    đàI loan 309 16 4268 13,3
             
    Hồng công 184 9,5 3734 11,6
             
    Nhật bản 213 11 3500 11,4
             
    Hàn quốc 191 9,9 3154 9,8
             
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    • Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn 1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.
    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    • Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh

    -19-

    long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3       Khó khăn và thách thức

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu Á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, Ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, Ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đạI đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    -20-

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu Á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    3.     GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    • Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành:

    -21-

    luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dàI hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoàI nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đạI bàn, dàI hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo đIều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoàI. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà Nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phảI qủan lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoàI. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơI vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lạI vốn vay nước ngoàI để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    – Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    -22-

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    -23-

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    -24-

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    • Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    • Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những

    -25-

    TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)     Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    -26-

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường

    -27-

    đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa

    -28-

    các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp
    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của bên Viêt Nam.

    -29-

    -30-

    PHẦN C: KẾT LUẬN

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoàI đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ đIểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phảI thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cảI thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phảI thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoàI có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoàI vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    Đầu tư nước ngoàI tự nó chưa phảI là giảI pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoàI, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoạI là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoàI, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoàI (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoàI cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đI lạI , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãI… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh

    -31-

    mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoàI. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoạI giao, kinh tế – kỉ thuật, đIều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môI trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giảI pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lạI lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoàI thông qua môI trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phảI tập trung giảI quyết các giảI pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giảI pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dàI. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoàI vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    Do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bàI viết không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    -32-


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]