Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C3%A1nh-thu%E1%BA%BF-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đánh thuế bất động sản

    Đánh thuế bất động sản

    Thông tin tổng quan chi tiết về thủ tục đánh thuế bất động sản?

      Văn Phòng Định Giá Viên Thành Định Giá Viên ước tính giá trị thị trường của bất động sản dựa trên các đặc
      Phố Minneapolis Xác Định Giá Trị điểm có ảnh hưởng tới giá trị thị trường như kích thước, tuổi, và tình trạng
      và Phân Loại Tài Sản Cá Nhân và hoàn thiện của tầng hầm, cùng với các tiện nghi đặc biệt khác như lò sưởi,
      Bất Động Sản phòng tắm thêm, bao lơn và các yếu tố khác.
      Theo luật tiểu bang, giá trị và hạng Các Định Giá Viên tiến hành phân tích chi tiết về các giao dịch bán bất
      mục của bất động sản được thiết lập động sản trong mỗi cộng đồng để tìm hiểu về xu hướng thị trường địa
      kể từ ngày 2 tháng Một và ngày 1 phương, trong đó bao gồm cả các giao dịch bán bất động sản được ghi nhận
      tháng Mười Hai hàng năm. Văn trong khu vực khác. Ban Phụ Trách Doanh Thu Tiểu Bang xem xét thông
      Phòng Định Giá Viên làm việc cả tin về các giao dịch bán bất động sản để bảo đảm rằng giá trị bất động sản
      năm để ước tính giá trị thị trường được xác định một cách công bằng và bình đẳng.
      của mỗi bất động sản cho ngày 2  
      tháng Một của năm kế tiếp. Kết quả Thành Phố Minneapolis có nhiệm vụ tiến hành một cuộc kiểm tra ở bên
      định giá được thiết lập vào ngày 2 trong và bên ngoài bất động sản của quý vị nếu quý vị vừa mới cho xây,
      tháng Một trở thành căn cứ để tính hoặc đã cho tu bổ hay sửa chữa, hoặc tiến hành kiểm tra ít nhất 5 năm một
      các mức thuế của năm kế tiếp. lần. Ngay cả khi Định Giá Viên không kiểm tra bất động sản của quý vị
        hàng năm, giá trị của bất động sản hoặc giá trị ước tính mà bất động sản
        của quý vị có thể bán được trên thị trường tự do có thể được điều chỉnh
        theo hoạt động trên thị trường địa phương.
         
        Định Giá Viên căn cứ vào cách thức bất động sản của quý vị được sử dụng
        trong năm trước đó (thí dụ như gia cư, cơ sở thương mại, nhà ở, không phải
        là nhà ở, chung cư, trang trại, v.v…) để phân loại hạng mục bất động sản
        theo tiêu chí của tiểu bang.
         
      Tất cả các chủ sở hữu bất động sản Định Giá Viên gửi cho quý vị Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất
      đều nhận được Value Notice Động Sản) trễ nhất là cuối tháng Ba hàng năm, trong đó có ghi giá trị và
      (Thông Báo về Giá Trị Bất Động hạng mục của bất động sản của quý vị để tính mức thuế bất động sản mà
      Sản) trước tháng Ba hàng năm. quý vị sẽ trả cho năm kế tiếp và đồng thời cũng ghi cả giá trị của bất động
        sản trong năm trước đó.
         

    Tất cả các ch ủ sở hữ u bất động sản đều nên XEM Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) và xác định xem họ đồng ý hay là không đồng ý với giá trị bất động sản đã ghi trong đó.

    Nếu quý vị không đồng ý với thông tin ghi trong Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản)

    Hãy bắt đầu b ằng việc gọi vào số điện thoại của định giá viên của quý vị ghi trong bản thông báo đó và bàn th ảo v ề các mố i lo ngại củ a quý vị với họ. H ọ có thể giải thích về cách thứ c xác định giá tr ị và hạng mục của bất động sản cho năm tính thuế mới và về các lựa chọn của quý vị. Nếu quý vị tin rằng đ ã có sai sót, quý vị có thể yêu cầu định giá viên xem xét lại mọi thông tin để bảo đảm rằng họ đã sử dụng thông tin thích hợp khi định giá.

    Lựa chọ n khác là tham dự một trong Các Buổi Họp Sổ Sách Công Khai của Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis được tổ chức vào tháng Ba hàng năm để kháng cáo, bàn thảo và tìm hiểu cách xác định giá trị và h ạng mục cho n ăm tính thuế mới. Nếu quý vị cảm thấy đã có sai sót, quý vị có thể thu xếp một buổi họp để xem xét các thông tin đã được sử dụng trong quá trình định giá.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nếu quý vị tin rằng mình không thể bán bất động sản ở mức giá mà Định Giá Viên đã ước tính, quý vị có thể kháng cáo theo những cách khác.

    Ví dụ, quý vị có thể thuê một định giá viên bất động sản tư để hoàn tất thủ tục định giá bất động sản của quý vị và nộp kết quả cho Thành Phố để xem xét.

    Quý vị cũng có thể kháng cáo với Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota).

    Bước tiếp theo là tất cả các cơ quan chính quyền địa phương thiết lập ngân sách – bao gồm các khoản tiền cần thiết cho khu học chánh, Thành Phố Minneapolis và các đặc khu khác có đánh thuế, thí dụ như Metropolitan Council (Hội Đồng Thành Phố).

        Theo luật, các chính quyền địa Các cơ quan chính quyền địa phương như khu học chánh và Thành Phố
        phương phải tổ chức một buổi họp Minneapolis – thiết lập ngân sách cho năm kế tiếp vào mùa xuân và mùa
        công khai và thông báo mức tăng của năm trước đó.
        thuế bất động sản tối đa mà họ dự  
        định sẽ phê chuẩn cho năm kế tiếp. Nếu quý vị quan tâm tới vấn đề ngân sách chính quyền địa phương hoặc
        Các buổi bàn thảo này thường diễn cách thức chi dùng tiền đóng thuế của quý vị, quý vị có thể xem ngày, giờ
        và địa điểm tổ chức các buổi điều trần và buổi họp công khai và liên lạc với
        ra vào cuối tháng Tám hoặc đầu các cơ quan đánh thuế để tham gia tiến trình lập ngân sách. Ngoài ra, quý vị
        tháng Chín, vì các chính quyền địa cũng nên tham dự một buổi hội thảo về ngân sách hoặc buổi lập kế hoạch
        phương phải bỏ phiếu và xác định ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương.
        mức tăng thuế tối đa trước trung  
        tuần tháng Chín.  
        Mức thuế áp dụng cuối cùng có thể  
        thấp hơn nhưng không thể cao hơn  
        mức công bố.  
           
        Sau khi các cơ quan địa phương Mỗi ngân sách của các cơ quan chính quyền địa phương sẽ bao gồm một
        hoàn tất các buổi điều trần về ngân mục qui định một phần chi phí hoạt động (cung cấp các chương trình và
        sách, các yêu cầu ngân sách được đề dịch vụ cho cư dân) lấy từ thuế đánh vào bất động sản, hoặc quy định tổng
        nghị sẽ được đệ trình để giải quyết. số tiền mà cơ quan chính phủ đó cần từ những người đóng thuế để đài thọ
          cho các hoạt động của cơ quan này trong năm kế tiếp.
           

    Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố chuẩn bị một bản tính toán các khoả n thuế bất động sản ước tính cho mỗi bất động s ản tại Thành Phố Minneapolis cho năm kế tiếp. Việc ước tính các khoản tiền này không dựa trên ch ủ quan. Các khoản tiền đó được tính toán theo các công thức toán học được máy điện toán và nhân viên có kinh nghiệm thực hiện và kiểm tra lại.

    Khi tất cả các đề án ngân sách cho

    mỗi cơ quan chính quyền địa

    phương đã được hoàn tất, Proposed

    Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) hay thường gọi là các bản kê khai đóng thuế Truth-In–Taxation được in ra và gửi qua đường bưu điện trong khoảng thời gian từ ngày 10 tới ngày 25 tháng Mười Một cho mỗi

    Proposed Tax Statement (Các Bản Kê Khai Thuế Được Đề Nghị) không

    phải là hóa đơn; mà đó là thông báo về những thay đổi đối với các khoản

    thuế bất động sản của quý vị nếu tất cả các cơ quan đánh thuế tại địa

    phương thông qua các thay đổi về mức thuế bất động sản mà họ hiện đang

    xem xét. Bản kê khai này liệt kê các khoản thuế cho năm hiện tại và các

    khoản thuế đề nghị để phân tích. Các bản kê khai này cũng ghi ngày, giờ và

    địa điểm tổ chức các cuộc họp “Truth in Taxation”. Các buổi họp này được

    chính quyền địa phương tổ chức hàng năm để cung cấp một kênh khác cho

    công chúng đóng góp ý kiến về các khoản thuế bất động sản được đề nghị.

    Các buổi họp Truth in Taxation hàng năm là cơ hội cuối cùng để quý vị tác

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    chủ sở hữu bất động sản tại Thành Phố Minneapolis.

    động tới quyết định của các viên chức chính quyền địa phương về các đề án ngân sách của họ cho năm k ế tiếp, trong đó bao gồm cả khoả n tiền lấy từ thuế bất động sản mà họ tin là cần thiết để cung cấp các dịch vụ và chương trình.

    Các bước cuối cùng trong thủ tục lập ngân sách sẽ diễn ra trong vòng vài ngày gần ngày 20 tháng Mười Hai hàng

    năm. Các chính quyền địa phương phải phê chuẩn ngân sách chính thức của mình cho năm kế tiếp vào tháng

    Mười Hai và thông báo về thông tin qui định tài chính sẽ được sử dụng khi chuẩn bị tính toán mức thuế bất động

    sản chính thức.

        Property Tax Statement (Các Bản   Lưu ý: Các bản kê khai cho nhà lắp ghép thường được gửi qua đường bưu
        Kê Khai Thuế Bất Động Sản)   điện trước tháng Năm.
        “thực tế” – không còn là “đề nghị”      
        nữa – được gửi qua đường bưu điện      
        tới mỗi chủ sở hữu bất động sản trễ      
        nhất là cuối tháng Ba để thông      
        báo về các khoản thuế phải trả      
        cho năm đó.      
                 
        Đa số các chủ sở hữu bất động sản     Các cư dân Quận Hennepin có thể trả thuế bất động sản theo nhiều phương
        phải trả thuế bất động sản thành hai     thức. Xin sử dụng đường liên kết này để tìm hiểu thêm về các lựa chọn này:
        lần mỗi năm, một lần trước ngày 15     http://www.co.hennepin.mn.us/
        tháng Năm và lần thứ hai trước        
        ngày 15 tháng Mười.     Các ngày trả thuế khác: Xem bản kê khai thuế bất động sản của quý vị
              để biết ngày hết hạn ghi trong Property Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế
              Bất Động Sản), đối với bất động sản dùng cho mục đích nông nghiệp, quý
              vị có thể trả nửa thứ hai của số tiền thuế trước ngày 15 tháng Mười Một.
              Các khoản thuế bất động sản cho nhà lắp ghép thường hết hạn vào ngày 31
              tháng Tám và ngày 15 tháng Mười Một.
                 

    Trang mạng điện toán của chính quyền Quận Hennepin cũng cung cấp nhiều thông tin về giá trị bất động sản, các loại h ạng mục và thu ế bất động sản. Các đường liên kết trong nội dung nói trên sẽ chuyển quý vị tới thẳng các mục thích hợp. Quý vị có thể truy cập trang mạng điện toán của Quận Hennepin tại: http://www.co.hennepin.mn.us/

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Khiếu Nại Mức Thuế Bất Động Sản của Quý Vị

    Tôi có những lựa chọn gì nếu không đồng ý với mức thuế bất động sản của tôi?

    Sau khi quý vị xem Value Notice (Thông báo về Giá Trị Bất Động Sản) mà quý vị nhận được vào tháng Ba hàng năm và nếu quý vị không đồng ý với mức giá trị bất động sản hoặc hạng mục bất động sản, quý vị có thể kháng cáo theo một số cách thức có sẵn. Những cách thức kháng cáo được trình bày tóm lược dưới đây.

    Bàn thảo về các vấn đề lo ngại của quý vị với Nhân Viên Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis

    • Xem xét các phương thức và các thông số tính toán được sử dụng để xác định giá trị bất động sản của quý vị
    • Xem xét các đặc điểm của bất động sản đó và bất kỳ thay đổi nào trong năm vừa qua
    • Xem xét các giao dịch bán bất động sản trong vùng của quý vị và các xu hướng trên thị trường hiện tại
    • Bàn thảo về các lựa chọn và các bước tiếp theo với nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên
    • Nếu quý vị và nhân viên Văn Phòng Định Giá Viên vẫn không đồng ý, sau đây là các lựa chọn mà quý vị có thể áp dụng để tiếp tục thủ tục kháng cáo
    Lựa Chọn Kháng Cáo Trực Tiếp    
      Ba Cấp Xem Xét để Giải Quyết Một Lựa Chọn Kháng Cáo
    với Tax Court (Tòa Án Thuế)    
     
         

    Khiếu Nại với City of Minneapolis of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Thành Phố Minneapolis)

    • Ủy Ban này họp vào tháng Tư hoặc tháng Năm, xin gọi văn phòng Thư Ký Thành Phố Minneapolis để lấy đơn xin và thu xếp hẹn
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Hennepin County Board of Equalization (Ủy Ban Bình Quyền của Hennepin)

    Khiếu Nại với Hennepin County Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận Hennepin)

    • Trước hết quý vị phải kháng cáo với Minneapolis Board of Appeal (Ủy Ban Kháng Cáo Thành Phố Minneapolis)
    • Ủy ban này họp vào tháng Sáu, xin gọi Hennepin County Taxpayers Services (Cơ Quan Dịch Vụ Trợ Giúp Người Đóng Thuế Quận Hennepin) để lấy đơn xin và lấy hẹn.
    • Đích thân tới kháng cáo, kháng cáo qua thư hoặc qua người đại diện được ủy quyền
    • Nếu quý vị vẫn cảm thấy rằng các mối lo ngại của mình không được giải quyết thỏa đáng, quý vị có thể kháng cáo lên cấp tiếp theo là Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu bang Minnesota

    Kháng Cáo tại Minnesota Tax Court (Tòa Án Thuế Tiểu Bang Minnesota)

    • Có thể kháng cáo tới ngày 30 tháng Tư của năm phải trả các khoản thuế đó.
    • Có thể liên lạc với Clerk of Tax Court (Lục Sự Tòa Án Thuế) tại số 651-296-2806. Họ sẽ gửi tập thông tin về Tòa Án Thuế và các mẫu điền cần thiết cho việc nộp đơn kháng cáo. Phải trả lệ phí nộp đơn.
    • Không bắt buộc phải thuê luật sư nhưng quý vị nên cân nhắc hoàn cảnh của mình để quyết định
    Ban Thường Trực   Ban Giải Quyết Các Vụ Kiện Có Qui Mô Nhỏ
    Có thể sử dụng cho bất kỳ dạng bất động sản   Tất cả các dạng bất động sản là Nhà Ở, với điều kiện là
      nào     mỗi một đơn kiện liên quan đến một lô đất có một căn
    Phải sử dụng cho bất động sản được xác định   hộ trên đó.
      giá trị hơn $300,000   Bất động sản không phải là nhà ở có giá trị chưa tới
    Nên thuê luật sư   $300,000
    Có thể kháng cáo quyết định với Supreme   Không cần phải thuê luật sư
      Court (Tối Cao Pháp Viện)   Các quyết định đều có giá trị cuối cùng
             

    Dùng Bất Động Sản Làm Nhà Ở

     

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Tại sao người ta lại xin đăng ký theo hạng mục nhà ở?

    Thuế nhà ở (homestead) là một chương trình giảm thuế bất động sản dành cho Các Cư Dân Minnesota. Tiểu Bang Minnesota khuyến khích cư dân sở hữu nhà bằng cách giảm thu ế bất động sản cho các bất động sản có chủ nhân cư ngụ. Thí dụ, một bất động sản nếu thuộc hạng mục nhà ở có thể được giảm thuế tới $304 một năm.

    Quyền sở hữu có nghĩa là gì?

    Quý vị phải có khế ước hoặc hợp đồng khế ước hợp lệ cho phép quý vị có quyền sở hữu đối với căn hộ đó để làm bằng chứng về quyền sở hữu b ất động sản. Để được coi là khế ước hợp lệ, b ản khế ước đó phải được đăng ký với Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước Quận Hennepin (Hennepin County Registrar of Deed).

    Ai được hưởng quyền lợi này?

    Nếu quý vị sở hữu b ất động sản và quý vị hoặc một người thân hộ i đủ điều kiện cư ngụ trong bất động sản đó trước ngày 1 tháng Mười Hai, quý vị có thể nộp đơn xin theo diện nhà ở.

    Tình trạng cư ngụ có nghĩa là gì?

    Quý vị và tất cả nh ững người sở hữu khác phải sử dụ ng bất động sản đó làm nơi cư ngụ chính – hay nói cách khác, quý vị phải sống ở đó. Tình trạng cư ngụ tạm thời và chiếu lệ không được coi là th ỏa đ áng để được x ếp vào diện nhà ở. Nếu có hơn một người sở hữu bất độ ng sản đó và bất kỳ người nào trong số các chủ sở hữ u không cư ngụ tại bất động sản đó, thì bất động sản đó có thể được xếp vào hạng mục nhà ở một phần hoặc theo tỷ lệ.

    Khi nào tôi cần nộp đơn xin?

    Quý vị nên nộp đơn xin càng sớm càng tốt sau khi mua và chuyển tới ở trong căn nhà của quý vị. Nếu quý vị mua và cư ngụ trong một bất động sản không phải là nhà ở trước ngày 1 tháng Mười Hai, và xin nộp thuế theo diện nhà ở trước ngày 15 tháng Mười Hai, thì mức thuế theo diện nhà ở sẽ bắt đầu được tính từ năm k ế tiếp. Sau khi được chấp thuận là thuộ c h ạng mục nhà ở, mức thuế nhà ở vẫn s ẽ tiế p tục được áp dụng cho bất động sản đó cho tới khi có thay đổi về quyền sở hữu, tình trạng cư ngụ hoặc bất động sản đó được bán.

    Nếu tôi bán bất động sản đó thì sao?

    Nếu vào bất kỳ lúc nào bất động sản đó được bán hoặc quý vị thay đổi n ơi cư ngụ chính, luật tiểu bang yêu cầu quý vị phải thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố trong vòng 30 ngày. Nếu quý vị không thông báo cho định giá viên trong vòng 30 ngày, quý vị sẽ phải đóng thuế cho bất động sản đó theo hạng mục bất động sản thích hợp, cộng với một khoản tiền phạt.

    Một người thân có thể cư ngụ tại một bất động sản thay cho tôi không?

    Có, nh ững người thân hội đủ điều kiện có thể cư ngụ thay thế cho chủ sở hữu bất động sản đó. Những người thân hội đủ điều kiện được định nghĩa là người thân theo quan hệ ru ột thịt, quan hệ con nuôi hợp pháp, hoặc hôn nhân. Định nghĩa “người thân của chủ sở hữu” bao gồm con, con của chồng (vợ) kế, con dâu, con rể, cha (mẹ), cha (mẹ) kế, cha mẹ chồng (vợ), cháu nội (ngoại), ông (bà), anh (em) trai, anh (em) rể , chị (em) gái, chị (em) dâu, cô (gì), chú (bác), cháu trai hoặc cháu gái, các thành viên trong nông trại gia đình và các nông trại là công ty hợp danh.

    Các Giới Hạn:

    1. Quyền lợi thuế nhà ở áp dụng cho một bất động sản có người thân cư ngụ không được vượt quá mức quyền lợi mà chủ sở hữu sẽ được hưởng với tư cách là người cư ngụ.
    2. Bất động sản hiện được phân loại là giải trí theo thời vụ phải là nơi cư ngụ của người thân đó trong bốn năm thì mới được xếp vào hạng mục nhà ở.
    1. Chủ sở hữu và người thân cư ngụ tại bất động sản đó đều không được xin hoàn thuế bất động sản cho một bất

    động sản là nhà ở, trừ khi người thân cư ngụ đó là chủ sở hữu một phần của bất động sản đó.

    Nếu tôi không tuân theo luật về bất động sản là nhà ở hoặc khai man bất động sản là nhà ở thì sao?

    Hành động khai man bất động sản là nhà ở sẽ bị phạt tù tới tối đa một năm hoặc trả tiền phạt tới tối đa $3,000, hoặc cả hai.

    Nếu định giá viên KHÔNG được thông báo trong vòng 30 ngày về việc bất động sản đó đã được bán hoặc không còn được sử dụng là nơi cư ngụ chính nữa, bất động sản đó sẽ không còn được coi là thuộc hạng mục nhà ở và thành phố sẽ áp dụng các mức phạt.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Làm thế nào để nộp đơn xin đóng thuế theo diện bất động sản là nhà ở?

    Các vị chủ nhà mới tại Thành Phố Minneapolis có thể nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở qua đường bưu điện, fax, hoặc đích thân tới văn phòng sau khi đã chuyển tới nhà mới. Thông báo cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố biết là quý vị sở hữu bất động sản và quý v ị, hoặc người thân hội đủ điều kiện đang cư ngụ tại bất động sản đó. Nộp cho Văn phòng Định Giá Viên Thành Phố giấy tờ bằng chứng để chứng minh cho luận điểm của quý vị. Quý vị có thể nộp đơn xin qua fax, đường bưu điện hoặc đích thân tới nộp.

    Xin Đóng Thuế Bất động sản Theo Diện Nhà Ở bằng cách Đích Thân tới Văn

    Phòng, qua Đường Bưu Điện hoặc qua Fax:

    Địa Chỉ Bưu Tín và Địa Chỉ Đường Phố:

    City of Lakes Building

    309 2nd Av S Room 100

    Minneapolis, MN 55401-2234

    Or By Fax: 612 673-3538

    Với tư cách là chủ sở hữu bất động sản, quý vị sẽ cần phải cung cấp bản sao của các giấy tờ sau đây:

    • Khế ước bảo đảm, hợp đồng khế ước, hoặc giấy chứng nhận về quyền sở hữu Torrens, v.v để làm bằng chứng cho quyền sở hữu bất động sản
    • Bản sao của Certificate of Real Estate Value-CRV (Giấy Chứng Nhận Giá Trị Bất Động Sản), để chứng minh rằng quý vị đã nộp các giấy tờ này cho Registrar-of-Deeds (Văn Phòng Đăng Ký Khế Ước)
    • Số An Sinh Xã Hội của tất các chủ sở hữu hoặc số Individual Taxpayer Identification Number- ITIN (ID Đóng Thuế Cá Nhân) của mỗi chủ sở hữu hoặc người thân hội đủ điều kiện theo qui định của luật tiểu bang
    • Yêu cầu về hạng mục đóng thuế theo diện nhà ở là ngày thực tế mà các cư dân chuyển tới sống tại bất động sản đó.
    • Các số điện thoại liên lạc vào ban ngày hoặc địa chỉ liên lạc trong trường hợp chúng tôi có thắc mắc khi giải quyết đơn xin của quý vị

    Nếu quý vị là Người Thân Hội Đủ Điều Kiện xin đóng thuế theo diện nơi ở cho bất động sản đó, quý vị cần nộp các thông tin trên cộng với mẫu đơn xin liên quan và các giấy tờ bổ sung sau đây:

    • Bản sao của các giấy khai sinh, trong đó cho biết mối quan hệ của người cư ngụ đối với chủ sở hữu. Giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ nhận con nuôi, lệnh của tòa án hoặc các giấy tờ khác chứng minh mối quan hệ giữa người thân hiện đang cư ngụ và chủ sở hữu
    • Bằng lái xe hoặc thẻ căn cước hợp lệ do Tiểu Bang cấp của người thân hiện đang cư ngụ, trong đó có ghi địa chỉ của bất động sản được dùng làm nhà ở
    • Khi có yêu cầu, bất kỳ giấy tờ nào khác được thấy là cần thiết

    Sau khi chúng tôi nhận được các giấy tờ cần thiết để giải quyết đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nhà ở của quý v ị, chúng tôi sẽ lập đơn xin đóng thuế theo diện nhà ở và gửi qua đường bưu điện tới cho quý v ị. Sau khi nhận được đơn xin, xin kiểm tra xác nhận rằng các thông tin ghi trong đơn xin là đúng, sau đó mỗi người cư ngụ là chủ sở hữu phải ký tên vào đơn xin đ ó. Ph ải nộp đơn xin có chữ ký cho Văn Phòng Định Giá Viên của Thành Phố trước ngày 15 tháng Mười Hai của năm đánh thuế.

    Nếu không ký tên và gửi lại đơn xin trước ngày 15 tháng Mười Hai, bất động sản của quý vị sẽ không được đưa vào hạng mục nhà ở.

    Tại sao tôi phải cung cấp số An Sinh Xã Hội?

    Mặc dù số An Sinh Xã Hội là thông tin kín đáo, theo luật Tiểu Bang Minnesota, các thông tin này phải được cung cấp thì chúng tôi mới chấp thu ận coi bất động sản của quý vị là nhà ở. Các số An Sinh Xã Hội sẽ được sử dụng để xác định xem chủ sở hữu hoặc người thân của chủ sở hữu có xin đóng thuế bất động sản cho nhiều hơn một nhà ở tại tiểu bang đó hay không.

    Tôi sở hữu một tòa nhà chung cư; tòa nhà đó có được coi là nhà ở hay không?

    Các tòa nhà chung cư có từ bốn căn hộ trở lên và các dạng bất động sản khác thường ít khi được xếp vào hạng mục nhà ở một phần dựa trên mức phần trăm diện tích cư ngụ trong tòa nhà chủ sở hữu đó sử dụng.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Nhà lắp ghép có được miễn trừ theo diện nhà ở không?

    Có, ch ỉ có chủ nhân (người giữ quyền sở hữu)/người cư ngụ mới được xin theo diện này. Phải nộp các giấy tờ yêu cầu và một bản sao của Certificate of Title (Giấy Chứng Nhận Quyền Sở Hữu).

    “Life Estates” (Di Sản Cả Đời) có hội đủ điều kiện được coi là nhà ở không?

    Có, miễn là quyền lợi về di sản cả đời đó được ghi trong khế ước và người nắm giữ di sản cả đời hội đủ tất cả các điều kiện về nhà ở.

    Vậy còn việc coi bất động thuộc sở hữu của hợp đồng tín thác là nhà ở thì sao?

    Đa số các hợp đồng tín thác đều hộ i đủ điều kiện để được đóng thu ế theo diện nhà ở. Certificate of Trust (Chứng Nhận về Tín Thác) phải được hoàn tất và có sự chấp thuận của văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, hoặc phải nộp giấy chứng nhận Tín Thác đó cho Văn phòng Định Giá Viên để xem xét. Xin liên lạc với Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis, 612-673-2382 để biết thêm chi tiết.

    Có hạng mục nhà ở “đặc biệt” không?

    Có, dành cho những người mù lòa, tàn tật, cựu chiến binh bị liệt hai chân, và một số người phục vụ quân đội. Đây chỉ là phần giới thiệu tóm lược về hạng mục nhà ở cho người tàn tật 1b. Để biết thêm chi tiết, hoặc để giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọ i Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenue (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota) tại số:(651) 556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6 -6109. Những người sử d ụng TDD/TTY: xin gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Hạng Mục Nhà Ở Đặc Biệt – Người Mù Lòa, Tàn Tật, và Liệt Hai Chân

    Tiểu Bang Minnesota có các hạng mục nhà ở đặc biệt đối với bất động sản là nhà ở của bất cứ người nào:

    1. mù lòa, bản thân hoặc người phối ngẫu của họ bị mù hoặc
    1. những người bị tàn tật hoàn toàn và vĩnh viễn và có chứng nhận của cơ quan chính phủ hoặc nguồn cung cấp lợi tức rằng người cư ngụ đó hội đủ các điều kiện về tình trạng tàn tật.

    Hạng mục nhà ở theo diện tàn tật 1b không giống như các hạng mụ c nhà ở khác, trong đó tiêu chuẩn hội đủ điều kiệ n chỉ liên quan đến người đó và tình trạng tàn tật của họ. Điều này khác với hạng mục nhà ở thông thường, trong đó hạng mục này được công nhận dự a trên việc sử dụng bất động sản đó. MN Department of Revenew (Do đó Ban Thu ế Vụ MN) khuyến cáo rằng h ạng mục tàn tật sẽ được áp dụng cho bản thân người tàn tật đó, không phụ thuộc vào việc người này chuyển chỗ ở từ bất động sản này sang bất động sản khác.

    Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota quản lý ch ương trình hạng mục nhà theo diện tàn tật 1b. Nh ững người muốn xin đóng thuế theo diện hạng mục nhà ở đặc biệt cho người tàn tật phải nộp đơn xin cho Ban Thuế Vụ MN trước ngày 1 tháng M ười để được áp dụng mức thuế bất động sản đó cho năm lịch kế tiếp. Để nộp đơn xin hoặc để tìm hiểu thêm, xin liên lạc với Ban Thuế Vụ Tiểu Bang MN tại số (651) 556-6087. Bản Kê Khai Truth in Taxation và Tax Statement (Bản Kê Khai Thuế) sẽ ghi hạng mục nhà ở thích hợp.

    Tax Reduction Programs (Các Chương Trình Giảm Thuế) và Tax Deferral Programs (Các Chương Trình Trì Hoãn Thuế)

    Tôi gần như không thể có khả năng trả thuế, có cách nào để xin giảm thuế không?

    Tiểu Bang Minnesota có hai chương trình giảm thuế bất động sản cho những người đóng thuế có mức thuế tăng

    đáng kể hoặc mức thuế bất động sản không phù hợp với mức lợi tức của họ. Ban Thuế Vụ Tiểu Bang Minnesota

    quản lý cả hai chương trình này. Quý vị có thể lấy mẫu đơn bằng cách gọi số 651-296-4444 hoặc truy cập trên mạng

    Internet của Ban Thuế Vụ tại www.taxes.state.mn.us. Quý vị cũng có thể gọi số 651-296-3781 để tìm hiểu thêm. Họ

    cũng có thể là

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Income Adjusted Homestead Credit (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh) là gì?

    Mục đích của “Income Adjusted Homestead Credit” (Chiết Khấu Nơi Ở Được Điều Chỉnh Dựa Trên Lợi

    Tức) là để bảo đảm rằng mức thuế không bất cân xứng với mức lợi tức của người đóng thuế. Chương trình này

    có đặt ra nhiều điều kiện. Nghị viện năm 2001, cùng với các thay đổi toàn diện khác về thuế bất động sản đã

    tăng mức hoàn thuế tối đa của chương trình này tới mức $1,590. Có mức tiêu chuẩn về lợi tức đối với chương

    trình này.

    • Đối với các hộ không có người phụ thuộc, mức giới hạn này là $85,210. Mức giới hạn về lợi tức tăng lên nếu số người trong gia đình tăng lên, tới mức tối đa là $101,690 cho các gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.
    • Các chủ nhà là người cao niên hoặc người tàn tật: tới $104,740 cho các hộ gia đình có năm người phụ thuộc hoặc hơn.

    Targeting là gì?

    Chương trình thứ hai là “Targeting”. Chương trình này có hoàn thu ế nếu mức thuế tăng hơn 12% và mức thuế tăng cao hơn ít nhất $100 so với mức thuế phải trả trong năm 2005. Đa số các chủ nhà tại Thành Phố

    Minneapolis đều hội đủ điều kiện được hoàn thuế theo chương trình này.

    Chương trình Trì Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) là gì?

    Các điều kiện căn bản là (các) chủ sở hữu ph ải từ 65 tuổ i trở lên và gia đình có lợi tức ch ưa tới $60,000. Đ ây là chương trình trì hoãn thuế chứ không phải là giảm thuế. Thuế tích luỹ cùng với lãi suất ở mức không vượt qúa 5% và một khoản tịch thu thế chấp được gắn liền với bất động sản đó.

    Đây chỉ là phần trình bày tóm lược về chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Các Cư Dân Cao Niên). Để lấy đơn xin hoặc giải đáp các thắc mắc cụ thể, xin gọi Property Tax Division of the Minnesota Department of Revenew (Ban Thuế Bất Động Sản của Ban Thuế Vụ Thành Ph ố Minnesota) tại số: 651-556-6109 hoặc số 1-800-627-9094, số máy phụ 6-6109, những người sử dụng TDD/TTY: gọi Minnesota Relay Services (Dịch Vụ Chuyển Tiếp Minnesota) tại số 1-800-627-3529; nhờ gọi số 800-652-9094, số máy phụ 6-0335

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Chương trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên) hoạt động như thế nào?

    Đây không phả i là chương trình miễn thuế – mà đây là một khoản vay từ chính quyền tiểu bang. Khoản thuế được trì hoãn sẽ được tiểu bang tr ả cho quận của quý vị. Khoản vay này sẽ bị tính lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh hàng năm, nhưng sẽ không vượt quá 5 phần trăm. Sẽ có một khoản tịch thu thế nợ gắn liền với bất động sản của quý vị.

    Trong thời gian tham gia chương trình này, quý vị sẽ dùng tối đa 3 phần trăm lợi tứ c gia đình để trả thuế bất động sản hàng năm, cho dù thuế bất động sả n củ a quý vị thực sự cao tới mức nào đi nữa. Tiểu bang sẽ trả phần còn lại. Quý vị, hoặc những người thừa kế của quý vị sẽ cần phải hoàn trả số tiền thuế được trì hoãn thì mới được chuyển nhượng quyền sở hữu bất động sản đó.

    Trong lần xin trì hoãn thuế lần đầu, quý vị sẽ phải cung cấp (với chi phí do quý vị tự trả) – một bản báo cáo ghi chi tiết các khoản vay tài trợ địa ốc, các khoản thế ch ấp nợ, các phán quyết của tòa án hoặc các kho ản thuế bất động sản chư a trả cho bất động sản đó. Nếu không có, quý v ị vẫn sẽ phải cung cấp bản báo cáo xác nhận về vấn đề này. Bản báo cáo đó phải đề ngày tháng trong vòng 30 ngày kể từ ngày quý vị nộp đơn xin.

    Việc tham gia vào chương trình trì hoãn thuế này là tự nguyện. Nếu quý vị tham gia, một kho ản thế chấp nợ thuế sẽ được áp dụng cho bất động sản củ a quý vị. Quý vị phải trả hết kho ản thế chấp nợ này thì mới được bán bất động sản. Trong trường hợp quý vị qua đời, những người thừa kế của quý vị ph ải trả hết khoản th ế chấp nợ đó thì mới được quyền sở hữu bất động sản đó. Quý vị nên hỏi ý kiến luật sư, chuyên viên lập kế hoạch quản lý di sản hoặc người nhà trước khi ghi danh tham gia.

    Ai hội đủ điều kiện tham gia Chương Trình Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Để được tham gia chương trình này, quý vị phải hội đủ tất cả các điều kiện sau đây:

    1. Bất động sản đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của một người từ 65 tuổi trở lên. Trong trường hợp là vợ chồng đã kết hôn, cả hai phải ít nhất 65 tuổi vào thời điểm được trì hoãn thuế lần đầu tiên. (Nhà ở đó có thể được phân loại là gia cư hoặc trang trại, hoặc có thể là một phần của một tòa nhà có nhiều căn hộ.)
    1. Tổng mức lợi tức của gia đình không được vượt quá $60,000 cho năm lịch trước năm nộp đơn xin lần đầu tiên.
    2. Căn nhà đó phải thuộc quyền sở hữu và là nơi cư ngụ của ít nhất một trong các chủ sở hữu căn nhà trong ít nhất 15 năm trước năm nộp đơn xin lần đầu.
    1. Bất động sản đó không được có tình trạng bị giữ quyền sở hữu để thế nợ theo lệnh của tòa án hoặc giữ quyền sở hữu để trả nợ thuế liên bang.
    1. Tổng số tiền nợ còn lại chưa trả được bảo đảm bởi các khoản vay tài trợ địa ốc và các khoản tịch thu giữ quyền sở hữu bất động sản để thế nợ khác đối với bất động sản đó không được vượt quá 75 phần trăm giá trị ước tính trên thị trường của bất động sản đó.

    Làm thế nào để xin Senior Citizen Property Tax Deferral (Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên)?

    Quý vị có thể lấy đơn xin tại văn phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis và trên trang mạng điện toán củ a Ban Thuế Vụ Minnesota tại: www.taxes.state.mn.us. Tất cả các đơn xin phải nộp trước ngày 1 tháng Bảy để xin trì hoãn một phần thuế của năm kế tiếp. Quý vị có thể nộp đơn xin vào năm mà quý vị tròn 65 tuổi, nhưng sẽ không được trì hoãn thuế cho tới năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Giảm Thuế do Gặp Thảm Họa là gì?

    Hình thức giảm thuế này được áp dụ ng cho mỗi bất động s ản do ngẫu nhiên hoặc không cố ý bị h ư hỏng với thiệt hại về cấu trúc từ 50% trở lên và bất động sản không th ể ở hoặc không th ể sử dụng được. Chủ sở hữu bất động sản là nhà ở hoặc không phải là nhà ở có thể xin giảm thuế bất động sản phải trả cho năm xảy ra thiệt hại đó.

    Số tiền giảm thuế được tính dựa trên số tháng trọn v ẹn mà bất động sản đó không thể ở hoặc không thể sử dụ ng được. Sau đó người ta nhân mức giá trị áp dụng cho bất động sản đó với mức thuế thuần. Cuối cùng, phân số (toàn bộ các tháng mà bất động sản đó không thể ở được chia cho 12) được nhân với kết quả.

    Ví dụ : Một căn nhà có mức giá ước tính trên thị trường là $100,000 và mức thuế thuần là $3,000 bị thiệt hại do hỏa hoạn vào ngày 10 tháng Bảy, 2003 và có thể sử dụng để ở được vào ngày 7 tháng Mười Một, 2003. Giá trị của căn nhà đó là $75,000 và tạ o ra tỷ lệ 75%. Tỷ lệ này nhân với mức thuế thuầ n là $3,000. Do đó, mức thuế áp dụng cho căn nhà đó sẽ là $ 2,250. Số ti ền này nhân với tỷ lệ 3/12, là số tháng trọn vẹn mà người trả thuế không thể cư ngụ trong căn nhà đó, do đó chủ nhà sẽ được giảm $562.50 tiền thuế.

    Làm thế nào để xin giảm thuế do gặp thảm họa?

    Trước hết, xin gọi Văn Phòng Định Giá Viên Thành Phố Minneapolis để thông báo cho họ biết về tình trạng nhà hư hỏng. Để tham gia chương trình Hennepin County’s Individual Disaster Credit (Giảm Thuế Cá Nhân Do Gặp Th ảm Họa của Quận Hennepin), quý vị phải hoàn tất đơn xin và n ộp cho Văn phòng Định Giá Viên Minneapolis. Quý vị cần làm việc này càng sớm càng tốt sau khi xảy ra thiệt hại. Ngoài ra, quý vị cần ph ải có một bả n sao báo cáo thiệt hại của hãng bảo hiểm của quý vị khi có bả n báo cáo này. Cuố i cùng, quý vị sẽ cần phải liên lạc với Văn Phòng Định Giá Thành Phố Minneapolis khi hoàn tất công việc tu bổ để biến bất động sản đó trở thành nơi có thể cư ngụ được hoặc khi bán bất động sản đó.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese

    Các Ngày Quan Trọng Liên Quan tới Thuế Bất Động Sản

    Tháng Giêng Ngày 2 tháng Giêng – Ngày xác định giá trị và hạng mục bất động sản cho các
        mục đích đánh thuế.
         
    Tháng Hai Value Notice (Thông Báo về Giá Trị Bất Động Sản) được gửi qua đường bưu điện
        vào tháng Hai hoặc tháng Ba
         
    Tháng Ba Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) được gửi qua
        đường bưu điện trước khi kết thúc tháng Ba.
      •    Thành Phố Minneapolis tổ chức các buổi họp Open Book (Sổ Sách Công Khai).
    Tháng Tư Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với City of
        Minneapolis Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình
        Quyền Thành Phố Minneapolis), xin gọi để lấy hẹn.
      Ngày 30 tháng Tư là hạn chót nộp khiếu nại với Tòa Án Thuế Tiểu Bang
        Minnesota.
    Tháng Năm Ngày 15 tháng Năm – Hạn nộp nửa đầu tiên của số tiền thuế cho năm hiện tại.
      •    Nếu quý vị muốn khiếu nại về giá trị bất động sản của mình với Hennepin County
        of Board of Appeal and Equalization (Ủy Ban Kháng Cáo và Bình Quyền Quận
        Hennepin), xin gọi để lấy hẹn.
      •    Các bản kê khai được gửi cho nhà lắp ghép qua đường bưu điện.
    Tháng Bảy Ngày 1 tháng Bảy – Hạn chót nộp đơn xin tham gia chương trình Senior Citizen
        Tax Deferral (Trì Hoãn Thuế Bất Động Sản cho Cư Dân Cao Niên).
    Tháng Tám Ngày 31 tháng Tám – Hạn chót nộp nửa đầu tiên của khoản thuế cho năm hiện tại
        đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Chín    
         
    Tháng Mười Ngày 1 tháng Mười – Hạn chót nộp đơn xin đóng thuế bất động sản theo diện nơi ở
        dành cho các hạng mục đặc biệt liên quan tới người mù lòa, tàn tật và liệt hai chân
        cho MN Department of Revenew (Ban Thuế Vụ MN)
      •    Ngày 15 tháng Mười– Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế áp dụng cho năm
        hiện tại.
    Tháng Mười Một Property Tax Statements (Các Bản Kê Khai Thuế Bất Động Sản) hoặc Các Bản Kê
        Khai Truth in Taxation được gửi qua đường bưu điện.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với bất động sả n là trang trại.
      •    Ngày 15 tháng Mười Một – Hạn chót nộp nửa thứ hai của khoản thuế cho năm
        hiện tại đối với Nhà Lắp Ghép.
         
    Tháng Mười Hai Các cơ quan chính phủ địa phương phê chuẩn ngân sách chính thức của mình.
      •    Ngày 1 tháng Mười Hai – Cần phải nắm quyền sở hữu và cư ngụ để hội đủ điều
        kiện được xếp vào diện bất động sản là nhà ở để tính thuế cho năm kế tiếp.
      •    Ngày 15 tháng Mười Hai – hạn chót nộp đơn xin đóng thuế theo hạng mục
        Homestead Classification (Bất Động Sản Là Nhà Ở) cho năm kế tiếp.

    Minneapolis Assessor – Vietnamese


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-S%E1%BB%90-05-B%E1%BA%A4T-%C4%90%E1%BB%98NG-S%E1%BA%A2N-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    CHUẨN M ỰC SỐ 05

    BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Quy định chung

    1. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với bất động sản đầu tư, gồm: Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu, chuyển đổi mục đích sử dụng, thanh lý bất động sản đầu tư và một số quy định khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán bất động sản đầu tư, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác cho phép áp dụng phương pháp kế toán khác cho bất động sản đầu tư.
    1. Chuẩn mực này cũng quy định phương pháp xác định và ghi nhận giá trị bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính của bên đi thuê theo hợp đồng thuê tài chính và phương pháp xác định giá trị bất động sản đầu tư cho thuê trong báo cáo tài chính của bên cho thuê theo hợp đồng thuê hoạt động.

    Chuẩn mực này không áp dụng đối với các nội dung đã được quy định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”, bao gồm:

    • Phân loại tài sản thuê thành tài sản thuê tài chính hoặc tài sản thuê hoạt động;
    • Ghi nhận doanh thu cho thuê bất động sản đầu tư (Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”);
    • Xác định giá trị bất động sản thuê hoạt động trong báo cáo tài chính của bên đi thuê;
    • Xác định giá trị bất động sản thuê tài chính trong báo cáo tài chính của bên cho thuê;
    • Kế toán đối với các giao dịch bán và thuê lại;
    • Thuyết minh về thuê tài chính và thuê hoạt động trong báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này không áp dụng đối với:
    • Những tài sản liên quan đến cây trồng, vật nuôi gắn liền với đất đai phục vụ cho hoạt động nông nghiệp; và
    • Quyền khai thác khoáng sản, hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu mỏ, khí tự nhiên và những tài nguyên không tái sinh tương tự.
    1. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

    Bất động sản đầu tư: Là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

    1. Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc

     

    1. Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    Bất động sản chủ sở hữu sử dụng: Là bất động sản do người chủ sở hữu hoặc ngườ i đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý.

     

    Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền hoặc tương đươ ng tiền mà doanh nghiệ p phải bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản đưa ra để trao đổi nhằm có được bất động s ản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

    Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao luỹ kế của bất động sản đầu tư đó.

    1. Ví dụ bất động sản đầu tư:

    (a). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;

    (b). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;

    (c). Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (d). Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (e). Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    1. Ví dụ bất động sản không phải là bất động sản đầu tư:
    • Bất động sản mua để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”);
    • Bất động sản được xây dựng cho bên thứ ba (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 15 “Hợp đồng xây dựng”);
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình”), bao gồm bất động sản nắm giữ để sử dụng trong tương lai như tài sản chủ sở hữu sử dụng, tài sản nắm giữ để cải tạo, nâng cấp và sử dụng sau này trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường như bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản cho nhân viên sử dụng (Cho dù nhân viên có trả tiền thuê tài sản theo giá thị trường hay không) và bất động sản chủ sở hữu sử dụng chờ thanh lý;
    • Bất động sản đang trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản đầu tư.
    1. Đối với những bất động sản mà doanh nghiệp nắm giữ một phần nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán các phần tài sản này một cách riêng rẽ. Trường hợp các phần tài sản này không thể bán riêng rẽ, thì chỉ coi là bất động sản đầu tư khi phần được nắm giữ để phục vụ cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc phục vụ cho mục đích quản lý là phần không đáng kể.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần không đáng kể trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho thuê văn phòng đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh cho những người thuê văn phòng.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần đáng kể thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản đó là bất động sản chủ sở hữu sử dụng. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu và quản lý một khách sạn, dịch vụ cung cấp cho khách hàng chiếm một phần quan trọng trong toàn bộ thoả thuận, thì khách sạn đó được hạch toán là bất động sản chủ sở hữu sử dụng.
    1. Trường hợp khó xác định là bất động sản đầu tư, hay là bất động sản chủ sở hữu sử dụng, doanh nghiệp cần xác định trên cơ sở những đặc điểm cụ thể để có thể thực hiện phù hợp với định nghĩa bất động sản đầu tư và các quy định có liên quan trong các đoạn 06,07,08,09,10 và thuyết minh rõ trên báo cáo tài chính theo quy định tại đoạn 31 (d).
    1. Trường hợp, một doanh nghiệp cho công ty mẹ hoặc công ty con khác thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó không được coi là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn, nhưng doanh nghiệp sở hữu bất động sản đó được coi là bất động sản đầu tư nếu nó thỏa mãn định nghĩa bất động sản đầu tư và được trình bày trong báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp sở hữu bất động sản.

    Nội dung chuẩn mực

    Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư

    1. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
      • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; và

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

     

    1. Khi xác định một bất động sản đầu tư có thỏa mãn điều kiện thứ nhất để được ghi nhận là tài sản hay không, doanh nghiệp cần phải đánh giá mức độ chắc chắn gắn liền với việc thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai mà chúng có thể mang lại trên cơ sở những thông tin hiện có tại thời điểm ghi nhận. Điều kiện thứ hai để ghi nhận một bất động sản đầu tư là tài sản thường dễ được thoả mãn vì giao dịch mua bán, trao đổi chứng minh cho việc hình thành bất động sản đã xác định giá trị của bất động sản đầu tư.

    Xác định giá trị ban đầu

    1. Một bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban

    đầu.

    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: Phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…
    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng. Từ khi bắt đầu xây dựng cho đến ngày hoàn thành công việc xây dựng doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình” và Chuẩn mực

    kế toán số 04 “Tài sản cố định vô hình”. Tại ngày tài sản trở thành bất động sản đầu tư thì áp dụng chuẩn mực này (xem đoạn 23 (e)).

    1. Nguyên giá của một bất động sản đầu tư không bao gồm các chi phí sau:
    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    1. Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16 “Chi phí đi vay”.

    Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu

    1. Chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.
    1. Việc hạch toán các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu phụ thuộc vào từng trường hợp có xem xét đến việc đánh giá và ghi nhận ban đầu của khoản đầu tư liên quan. Chẳng hạn, trường hợp giá mua tài sản bao gồm nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì chi phí đó cũng được tính vào nguyên giá. Ví dụ: Mua một ngôi nhà với yêu cầu phải nâng cấp thì chi phí nâng cấp phát sinh được ghi tăng nguyên giá của bất động sản

    đầu tư.

    Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu

    1. Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

    Chuyển đổi mục đích sử dụng

    1. Việc chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư hoặc từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:
    1. Bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    2. Bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai cho mục đích bán;

     

    1. Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;

     

    1. Hàng tồn kho chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    2. Bất động sản xây dựng chuyển thành bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (Trong giai đoạn xây dựng phải kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “ Tài sản cố định hữu hình”).
    1. Theo yêu cầu của đoạn 23b, doanh nghiệp chuyển một bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng, bằng chứng là sự bắt đầu của việc triển khai cho mục đích bán. Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn nâng cấp thì doanh nghiệp đó phải tiếp tục coi bất động sản đó là một bất động sản đầu tư cho tới khi nó được bán (không còn được trình bày trên Bảng cân đối kế toán) và không được hạch toán tài sản đó là hàng tồn kho. Tương tự, nếu doanh nghiệp bắt đầu nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư hiện có với mục đích tiếp tục sử dụng bất động sản đó trong tương lai như một bất động sản đầu tư, thì bất động sản đó vẫn là một bất động sản đầu tư và không được phân loại lại như một bất động sản chủ sở hữu sử dụng trong quá trình nâng cấp cải tạo.
    1. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển đổi và không làm thay đổi nguyên giá của bất động sản trong việc xác định giá trị hay để lập báo cáo tài chính.

    Thanh lý

    1. Một bất động sản đầu tư không còn được trình bày trong Bảng cân đối kế toán sau khi đã bán hoặc sau khi bất động sản đầu tư không còn được nắm giữ lâu dài và xét thấy không thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc thanh lý bất động sản đầu tư đó.
    1. Việc thanh lý một bất động sản đầu tư có thể xảy ra sau khi bán hoặc sau khi ký hợp đồng cho thuê tài chính. Để xác định thời điểm bán bất động sản đầu tư và ghi nhận doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”. Việc bán bất động sản cho thuê tài chính hoặc giao dịch bán và thuê lại bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”.
    1. Các khoản lãi hoặc lỗ phát sinh từ việc bán bất động sản đầu tư được xác định bằng số chênh lệch giữa doanh thu với chi phí bán và giá trị còn lại của bất động sản đầu tư. Số lãi hoặc lỗ này được ghi nhận là thu nhập hay chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ (Trường hợp bán và thuê lại tài sản là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”).
    1. Khoản doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận theo giá trị hợp lý. Trường hợp bán theo phương thức trả chậm, thì khoản doanh thu này được xác định ban đầu bằng giá bán trả ngay. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá bán trả ngay được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”.

    Trình bày báo cáo tài chính

    1. Nội dung trình bày báo cáo tài chính quy định trong chuẩn mực này được áp dụng cùng với những qui định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”. Đối với

    bên cho thuê phải trình bày nội dung cho thuê hoạt động. Đối với bên đi thuê phải trình bày nội dung thuê tài chính.

    1. Doanh nghiệp cần trình bày trên báo cáo tài chính những nội dung sau:
    • Phương pháp khấu hao sử dụng;
    • Thời gian sử dụng hữu ích của bất động sản đầu tư hoặc tỷ lệ khấu hao sử dụng;
    • Nguyên giá và khấu hao luỹ kế tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ;
    • Tiêu chuẩn cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng trong trường hợp gặp khó khăn khi phân loại bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng và với tài sản giữ để bán trong hoạt động kinh doanh thông thường;

     

    • Các chỉ tiêu thu nhập, chi phí liên quan đến cho thuê bất động sản, gồm:

     

    • Thu nhập từ việc cho thuê;

     

    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo;
    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư không liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo.

     

    • Lý do và mức độ ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư;

     

    • Nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng mua, xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoặc bảo dưỡng, sửa chữa bất động sản đầu tư;

     

    • Trình bày những nội dung sau (không yêu cầu thông tin so sánh):

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng thêm, trong đó: Tăng do mua bất động sản và tăng do vốn hoá những chi phí sau ghi nhận ban đầu;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng do sáp nhập doanh nghiệp;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư thanh lý;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho và ngược lại.

     

    • Giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán, lập báo cáo tài chính. Khi doanh nghiệp không thể xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư thì doanh nghiệp phải thuyết minh:

     

    • Danh mục bất động sản đầu tư;

     

    • Lý do không xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư.

     

    • * *

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Để tồn tại và phát triển thích ứng với một nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn phải tìm cách đối phó với những cạnh tranh khốc liệt từ phía các doanh nghiệp khác, nhất là khi nền kinh tế thị trường Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, do vậy nhu cầu thông tin cho quản lý quá trình kinh doanh hiện nay là điều không thể thiếu. Kế toán – một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế – tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với tài chính Nhà nước mà còn vô cùng cần thiết đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp.

     

    Gần đây nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong tiến trình ®æi mới, mở cửa và hội nhập, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành và công bố nhiều chuẩn mực kế toán của Việt Nam cùng với các thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế trong cả nước.

     

    Kế toán bất động sản đầu tư là một phần hành kế toán tương đối mới, vừa được hướng dẫn thực hiện theo thông tư số 23/2005/TT-BTC ra ngày 30 tháng 3 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Đó cũng chính là đề tài mà tôi đã lựa chọn khi viết đề án môn học chuyên ngành kế toán tổng hợp của mình bởi lẽ nó sẽ giúp tôi có cơ hội tìm hiểu về những thay đổi của hệ thống kế toán Việt Nam.

     

    Sau một thời gian nghiên cứu bằng vốn kiến thức đã tích lũy được qua 3 năm theo học tại Khoa Kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tới nay đề tài của tôi đã hoàn tất với hy vọng được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện công tác hạch toán kế toán nói chung và kế toán bất động sản đầu tư nói riêng. Mong muốn thì nhiều, song với tầm hiểu biết còn hạn hẹp bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ cùng những ý kiến quý báu từ phía thầy cô và các bạn sinh viên trong và ngoài khoa Kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và tất cả những người quan tâm tới đề tài này để bài viết có

     

    1

     

    thể trở thành một tài liệu tham khảo thực sự có ích cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập nghiên cứu.

     

    Qua đề tài này tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Trí Tuệ – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Kế toán và các bạn sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu nghiên cứu.

     

    Hà nội, ngày 12 tháng 10 năm 2005

     

    Người viết

     

    Trịnh Thị Hải Yến

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    I.Cơ sở lý luận chung về bất động sản đầu tư

     

    1.     Khái niệm bất động sản đầu tư

     

    Bất động sản (BĐS) đầu tư là bất động sản, gồm: Quyền sử dụng đất; Nhà, hoặc

     

    một phần của nhà, hoặc cả nhà và đất; Cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính, nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

     

    • Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc:
    • Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    2.                 Các trường hợp được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;
    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;
    • Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    Các trường hợp đặc biệt được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Đối với những bất động sản mà một phần doanh nghiệp nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán phần tài sản dùng để cho thuê hoặc chờ tăng giá là bất động sản đầu tư còn phần tài sản dùng cho sản xuất và quản lý được hạch toán là TSCĐ hữu hình hoặc TSCĐ vô hình.

    Trường hợp bất động sản không bán được riêng rẽ và phần sử dụng cho kinh doanh hoặc cho quản lý là không đáng kể thì hạch toán là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp có một toà nhà có 80% diện tích chuyên cho thuê hoạt động và 20% diện tích sử dụng làm văn phòng công ty thì toà nhà đó được hạch toán là bất động sản đầu tư.

     

    3

     

    • Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là một phần tương đối nhỏ trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho các đơn vị khác thuê làm văn phòng (cho thuê hoạt động) đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh đối với toà nhà cho thuê này.
    • Trường hợp, một công ty con cho công ty mẹ hoặc công ty con khác trong cùng một công ty mẹ thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó được hạch toán là bất động sản đầu tư trên báo cáo tài chính riêng của công ty con có bất động sản đó hoặc báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ nếu công ty mẹ cho các công ty con thuê (nếu nó thoả mãn định nghĩa bất động sản đầu tư), nhưng không được phản ánh là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất.

    3. Tính giá bất động sản đầu tư.

     

    3.1.Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

     

    Tuỳ thuộc vào từng trường hợp, nguyên giá của bất động sản đầu tư được xác định như sau:

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí

    liên quan trực tiếp đến việc mua, như: phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…

    • Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16- “Chi phí đi vay”;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng;
    • Trường hợp bất động sản thuê tài chính với mục đích để cho thuê hoạt động thoả mãn tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư thì nguyên giá của bất động sản

     

    4

     

    đầu tư đó tại thời điểm khởi đầu thuê được thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 – “Thuê tài sản”.

     

    Các chi phí sau không được tính vào nguyên giá của bất động sản đầu tư:

     

    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư vào trạng thái sẵn sàng sử dụng);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.

    3.2. Hao mòn bất động sản đầu tư: Trong quá trình nắm giữ để chờ tăng giá, hoÆc cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư bị giảm giá trị vì thế phải trích khấu hao. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ.

    3.3. Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao lũy kế của bất động sản đầu tư đó.

    II.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    1. Một số quy định khi hạch toán bất động sản đầu tư

     

    1- Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:

    • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

    2- Bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu.

    3- Các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.

     

    4- Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ, cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

     

    5- Việc chuyển từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho và ngược lại chỉ được thực hiện khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:

     

    5

     

    • Bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    • Bất động sản đầu tư chuyển sang hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai các công việc sửa chữa, cải tạo nâng cấp cần thiết cho mục đích bán;
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;
    • Hàng tồn kho chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    • Bất động sản xây dựng chuyển sang bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (trong giai đoạn xây dựng phải tuân theo Chuẩn mực kế toán số 03 – “Tài sản cố định hữu hình”).

    6- Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn sữa chữa, cải tạo nâng cấp thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục ghi nhận là bất động sản đầu tư cho đến khi bất động sản đầu tư đó được bán mà không chuyển thành hàng tồn kho.

     

    7- Doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận là toàn bộ giá bán (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế).

    Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm thì doanh thu được xác định theo giá bán trả ngay (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế). Khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm và giá bán trả ngay và thuế GTGT được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”.

     

    8- Đối với các đơn vị chuyên kinh doanh bất động sản thì được kế toán theo các trường hợp sau:

    • Đối với các bất động sản khi mua về đã xác định rõ mục đích để bán trong kỳ được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”;
    • Đối với bất động sản khi mua về chưa xác định rõ được mục đích sử dụng trong tương lai hoặc mua về để chuyên cho thuê hoạt động (thoả mãn điều kiện ghi nhận BĐS đầu tư) thì được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 05 “Bất động sản đầu tư”.

    9- Riêng đối với các doanh nghiệp là ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác, việc kế toán BĐS đầu tư được hướng dẫn trong một văn bản riêng.

     

    6

     

    2.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    2.1. Tài khoản kế toán sử dụng – TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm bất động sản đầu tư của doanh nghiệp theo nguyên giá.

     

    2.1.1.Một số quy định khi hạch toán TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    • Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị bất động sản đủ tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư. Không phản ánh vào tài khoản này giá trị bất động sản mua về để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần, bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản

    đầu tư.

     

    • Bất động sản đầu tư được ghi nhận trên tài khoản này theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.
    • Trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, hoặc cho thuê hoạt động phải tiến hành trích khấu hao bất động sản đầu tư. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp có thể dựa vào các bất động sản chủ sở hữu sử dụng cùng loại để ước tính thời gian sử dụng hữu ích và xác định phương pháp khấu hao của bất động sản đầu tư.
    • Đối với những bất động sản đầu tư được mua vào nhưng phải tiến hành xây dựng, cải tạo, nâng cấp trước khi sử dụng cho mục đích đầu tư thì giá trị BĐS, chi phí mua sắm và chi phí cho quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp bất động sản đầu tư được phản ánh trên TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Khi quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoàn thành phải xác định nguyên giá bất động sản đầu tư hoàn thành để kết chuyển vào TK 217 “Bất động sản đầu tư”.
    • Ghi giảm bất động sản đầu tư trong các trường hợp:
    • Chuyển đổi mục đích sử dụng từ bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho hoặc bất động sản chủ sở hữu sử dụng;
    • Bán bất động sản đầu tư ;
    • Thanh lý bất động sản đầu tư ;
    • Hết thời hạn thuê tài chính trả lại BĐS đầu tư cho người cho thuê.

     

    7

     

    • Bất động sản đầu tư được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi bất động sản đầu tư trong “Sổ theo dõi bất động sản đầu tư” tương tự như TSCĐ.

    2.1.2.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 217 – Bất động sản đầu tư Bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng trong kỳ.

     

    Bên Có: Nguyên giá bất động sản đầu tư giảm trong kỳ.

     

    Số dư bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư của doanh nghiệp cuối kỳ

     

    2.2. Hạch toán biến động bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.Kế toán các trường hợp tăng bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.1.Hạch toán các nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả tiền ngay

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331.

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112…

     

    2.2.1.2. Hạch toán nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm

     

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay chưa

    có thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay và thuế GTGT đầu vào).

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay đã có

    thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay đã có thuế GTGT)

     

    Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

     

    8

     

    • Hàng kỳ, tính và phân bổ số lãi phải trả về việc mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, ghi:

    Nợ TK 635 – Chi phí tài chính

     

    Có TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn.

     

    • Khi thanh toán tiền cho người bán, ghi:

    Nợ TK 331 – Phải trả cho người bán

     

    Có TK 515 – Doanh thu tài chính (Phần chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán trước thời hạn – nếu có)

    Có các TK 111, 112,…

     

    2.2.1.3. Trường hợp bất động sản đầu tư hình thành do xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao:

     

    • Khi mua bất động sản về đưa vào xây dựng cơ bản, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331,…

     

    • Khi phát sinh các chi phí đầu tư xây dựng bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 142, 141, 242, 331,…

     

    • Khi quá trình xây dựng cơ bản bất động sản đầu tư hoàn thành bàn giao, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nếu đủ điều kiện là BĐS đầu tư) Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567- Hàng hoá BĐS)

    (Nếu không đủ điều kiện để hình thành BĐS đầu tư) Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    • Kế toán các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư sau ghi nhận ban đầu:
    • Khi phát sinh chi phí liên quan đến BĐS đầu tư sau ghi nhận ban đầu, nếu xét thấy chi phí đó không chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc không bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi nhận vào chi phí kinh doanh BĐS đầu tư trong kỳ, chi phí trả trước dài hạn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư), hoÆc Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Nếu chi phí có giá trị lớn)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 334,…

     

    9

     

    • Khi phát sinh chi phí nâng cấp, cải tạo mà xét thấy chi phí đó có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư:
      • Tập hợp chi phí nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư thực tế phát sinh, ghi:

    Nợ TK 241 – XDCB dở dang

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 331,…

     

    • Khi kết thúc hoạt động nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư, bàn giao ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    2.2.1.4. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    • Khi chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Có TK 213 – TSCĐ vô hình.

    • Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế (Đối với những bất động sản chủ sở hữu sử dụng đã trích khấu hao), ghi:

    Nợ TK 2141, hoặc 2143

     

    Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    2.2.1.5. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển hàng tồn kho thành BDS đầu tư: Khi chuyển từ hàng tồn kho thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 156 – Hàng hoá (1567 – Hàng hoá bất động sản).

     

    2.2.1.6. Bất động sản đầu tư tăng do thuê tài chính.

     

    • Khi đi thuê tài chính với mục đích để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động, nếu tài sản thuê đó thoả mãn tiêu chuẩn là bất động sản đầu tư, căn cứ vào hợp đồng thuê tài chính và các chứng từ liên quan, ghi:

    10

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112, 315, 342.

     

    – Kế toán thanh toán tiền thuê khi nhận hóa đơn thuê tài chính

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về thuê tài chính xác định theo giá mua chưa có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua Bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
    • Nếu trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 315:        Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có TK 111, 112

     

    + Nếu chưa trả tiền ngay:

     

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ

     

    Có TK 315: Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
    • Khi xuất tiền trả nợ gốc, tiền lãi thuê và thuế GTGT cho đơn vị cho thuê, ghi: Nợ TK 635: Chi phí thuê tài chính

    Nợ TK 315:   Nợ dài hạn đến hạn trả

     

    Nợ TK 632: (Số thuế GTGT trả kỳ này) Có TK 111, 112

     

    • Nếu chưa trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 632:      (Số thuế GTGT trả kỳ này)

     

    Có TK 315:  Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về cho thuê tài chính xác định theo giá mua có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Khi trả tiền nợ gốc và tiền lãi thuê tài sản cho đơn vị tho thuê, ghi:

    Nợ TK 635:       Chi phí thuê tài chính

     

    Nợ TK 315: Nợ dài hạn phải trả (Nợ gốc phải trả kỳ này có cả thuế GTGT) Có TK 111, 112…..

     

    • Khi nhận được hóa đơn thanh toán tiền thuê tài chính nhưng doanh nghiệp chưa trả tiền ngay.

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính

     

    Có TK 315: Tiền lãi thuê phải trả kỳ này

     

    11

     

    • Căn cứ vào hóa đơn thanh toán tiền thuê phản ánh số thuế GTGT phải thanh toán cho bên thuê trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 133, hoặc

     

    Nợ TK 632: Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Có TK 138: Phải thu khác

     

    • Định kỳ trích khấu hao bất động sản đầu tư:

    Nợ TK 632

    Khấu hao bất động sản đầu tư trích trong kỳ

     

    Có TK 2147

       

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp t¨ng bÊt ®éng s¶n ®Çu t−

     

     

    TK111,112,331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ tiÒn

     

    TK331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ chËm

     

     

    TK152,334,338

    TK217

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK133

     

    ThuÕ GTGT ®−îc

     

    khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK242

     

    PhÇn l·i tr¶ chËm

     

    TK241

     

     

           

    Chi phÝ ®Çu t− x©y dùng B§S

     

    B§S ®Çu t− h×nh thμnh qua

           

    TK211,213

     

    ChuyÓn B§S chñ së h÷u sö dông thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK156(1567)

     

    ChuyÓn hμng tån kho thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK111,112,315,342

     

    B§S ®Çu t− t¨ng do thuª tμi chÝnh

     

     

    12

     

    2.2.2. Kế toán các trường hợp giảm bất động sản đầu tư

     

    2.2.2.1. Bất động sản đầu tư giảm khi hết hạn thuê tài chính

     

    • Nếu trả lại BĐS thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

     

    (Số chênh lệch giữa nguyên giá BĐS đầu tư thuê và số khấu hao luỹ kế) Có TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá).

    • Nếu mua lại bất động sản đầu tư thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư để tiếp tục đầu tư, ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư số phải trả thêm, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112,…

    • Nếu mua lại bất động sản thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Nợ TK 213 – TSCĐ vô hình

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112 (Số tiền phải trả thêm). Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    2.2.2.2. Bất động sản đầu tư giảm do thanh lý, nhượng bán

     

    • Ph¶n ¸nh doanh thu tõ ho¹t ®éng thanh lý nh−îng b¸n nÕu thu tiÒn ngay.

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ, ghi Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư (Giá bán chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3331 – Thuế GTGT (33311- Thuế GTGT đầu ra).

     

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, trả góp:

    * Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ:

     

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm,

    13

     

    trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT ghi vào tài khoản “Doanh thu chưa thực hiện”, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    (Số chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT)

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331 – thuế GTGT)

     

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    • Khi thực thu tiền bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay, ghi:

    Nợ các TK 111, 112.

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    * Đối với BĐS đầu tư bán trả chậm, trả góp không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp:

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay (có cả thuế GTGT) ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện, ghi:

    Nợ các TK 111, 112, 131

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay có cả thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    • Cuối kỳ, xác định số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (TK 3331-Thuế GTGT phải nộp)

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    14

     

    • Khi thực thu tiền bán hàng trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    • Kế toán giảm nguyên giá và giá trị còn lại của BĐS đầu tư bán, thanh lý, ghi:

    Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ (2147- Hao mòn BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Giá trị còn lại của BĐS đầu tư)

     

    Có TK 217- BĐS đầu tư (Nguyên giá của BĐS đầu tư)

     

    • Các chi phí bán (thanh lý) BĐS đầu tư phát sinh, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331.

     

    2.2.2.3. Kế toán chuyển bất động sản đầu tư thành hàng tồn kho

     

    Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển và không làm thay đổi nguyên giá của BĐS đầu tư trong việc xác định giá trị ghi sổ hay lập báo cáo tài chính.

    Trường hợp bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu có quyết định sửa chữa, cải tạo nâng cấp để bán:

     

    • Khi có quyết định sửa chữa, cải tạo, nâng cấp BĐS đầu tư để bán kế toán tiến hành kết chuyển giá trị còn lại của bất động sản đầu tư vào TK 156 “Hàng hoá”, ghi:

    Nợ TK 156 (TK 1567- Hàng hoá BĐS): Giá trị còn lại của BĐS đầu tư Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ (2147): Số khấu hao luỹ kế

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư: Nguyên giá

     

    • Khi phát sinh các chi phí sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán: Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có) Có các TK 111, 112, 152, 334, 331,…

    • Khi kết thúc giai đoạn sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán, kết chuyển toàn bộ chi phí ghi tăng giá gốc hàng hoá bất động sản chờ bán, ghi:

    Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567 )

     

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

     

     

    15

     

    2.2.2.4. Kế toán chuyển B§S đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng

     

    Khi chuyển bất động sản đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 211 hoặc 213

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư; Đồng thời, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp gi¶m B§S ®Çu t−

     

     

    TK217

     

    B§S ®Çu t− gi¶m khi hÕt

     

    h¹n thuª tμi chÝnh, khi thanh lý nh−îng b¸n

     

     

    B§S ®Çu t− gi¶m do

     

    chuyÓn thμnh hμng tån

     

    kho

     

    TK2147

     

    Hao mßn B§S ®Çu t− (tæng sè khÊu hao ®· trÝch)

     

    TK632

     

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     

    (gi¸ trÞ cßn l¹i)

     

    TK1567

     

    Gi¸ trÞ cßn l¹i cña B§S ®Çu t−

     

    TK2147

     

    Hao mßn luü kÕ

     

    TK217

     

     

    ChuyÓn B§S ®Çu t− thμnh B§S chñ së h÷u sö dông

     

    2.3. Kế toán khấu hao bất động sản đầu tư

     

    2.3.1.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 2147 – Hao mòn BDS đầu tư

     

    Tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn bất động sản đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động của doanh nghiệp. Bên Nợ: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư giảm.

     

    Bên Có: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư tăng do trích khấu hao hoặc do chuyển số khấu hao lũy kế của bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    Số dư bên Có: Giá trị hao mòn của bất động sản đầu tư hiện có của doanh nghiệp.

     

    16

     

    2.3.2.Kế toán trích khấu hao bất động sản đầu tư

     

    • Định kỳ tính, trích khấu hao bất động sản đầu tư đang nắm giữ chờ tăng giá, đang cho thuê hoạt động, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    • Trường hợp giảm giá B§S đầu tư thì đồng thời với việc ghi giảm nguyên giá bất động sản đầu tư phải ghi giảm giá trị hao mòn luỹ kế của bất động sản đầu tư.

    2.4 Kế toán cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    2.4.1. Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ 2.4.1.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều kỳ, ghi:

    Nợ TK 111, 112 (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (giá chưa có thuế GTGT) Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331).

    • Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thực hiện, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán tiếp sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    (Doanh thu của kỳ kế toán).

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Giá chưa có thuế GTGT) Nợ TK 531 – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu

    trong kỳ theo giá chưa có thuế GTGT)

     

     

    17

     

    Nợ TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp (Số tiền thuế GTGT của hoạt động cho thuê tài sản không được thực hiện)

     

    Có TK 111, 112, 331… (Tổng số tiền trả lại).

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn thanh toán tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

    – Khi thu được tiền, ghi: Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    2.4.1.2. Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.1.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi:

     

    • Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động:

    – Cho thuê hoạt động là bên cho thuê không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu bất động sản cho thuê. Bên cho thuê vẫn ghi nhận bất động sản cho thuê hoạt động trên bảng cân đối kế toán theo cách phân loại của doanh nghiệp cho thuê.

     

    – Doanh thu cho thuê tài sản từ cho thuê hoạt động phải được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời hạn cho thuê mà không phụ thuộc vào phương thưc thanh toán, trừ khi áp dụng tính khác hợp lý hơn.

     

    18

     

    • Chi phí cho thuê hoạt động trong kỳ bao gồm khoản khấu hao tài sản cho thuê hoạt động và số chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhận ngay hoặc phân bổ dần cho suốt thời hạn cho thuê phù hợp với việc ghi nhận doanh thu.
    • Khấu hao bất động sản cho thuê hoạt động được trích theo quy định của chuẩn mực kế toán tài sản cố định hữu hình hoặc chuẩn mực kế toán tài sản cố định vô hình phù hợp với chính sách khấu hao của doanh nghiệp.

    2.4.2.Đối với đơn vị tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp:

     

    2.4.2.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều , ghi:

    Nợ các TK 111, 112… (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Tổng số tiền nhận được).

     

    Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thu tiền, ghi:

     

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Cuối mỗi kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ về cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Nợ TK 531  – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu trong kỳ)

     

    Có các TK 111, 112…. (Tổng số tiền trả lại).

     

    19

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư. – Khi thu được tiền, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    • Cuối kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    2.4.2.2.Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.2.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động BDS đầu tư, ghi:

     

    – Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

     

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động.

     

     

     

     

    20

     

    S¬ ®å kÕ to¸n cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn tr−íc cho nhiÒu kú cho thuª

    TK5117

       

    TK3387

               

    TK111,112

     

    KÕt chuyÓn doanh thu cña kú

    Doanh thu ch−a thuÕ GTGT

           
     

    kÕ to¸n vμ c¸c kú sau ®ã

                           
         

    Doanh thu

                   

    Tæng sè tiÒn

     
                           
               

    TK3331

             
         

    ch−a thùc

           

    nhËn ®−îc

     
                   
                                 
                                 

    TK111,112

    hiÖn

           

    ThuÕ GTGT

           
                       

    ThuÕ GTGT (nÕu cã)

    ph¶i nép (nÕu

           
                 
                             
     

    Tæng sè tiÒn tr¶ l¹i

                               
                                 
                                 
                                   
     

    nÕu kh«ng thùc hiÖn

             

    TK531

             
     

    hîp ®ång cho thuª

                     
           

    Hμng b¸n bÞ tr¶ l¹i

                   
                                     
                                     
                                     

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn cho thuª theo tõng kú

    j   TK5117

     

    TK131

     

    TK111,112

                         
       

    Doanh thu kinh

                 
       

    doanh B§S ®Çu t−

                 
                     
           

    Tæng gi¸

     

    Khi thu ®−îc tiÒn

     
           
                       
     

    TK3331

     

    thanh to¸n

           
                   
       

    ThuÕ GTGT ph¶i

                 
       

    nép (NÕu cã)

                 
                     
                         
                         
                         

     

     

    21

     

    • Þnh kú trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− cho thuª ho¹t ®éng

    TK 2147                                                                                                                  TK 622

     

    Sè khÊu hao ph¶i trÝch trong kú

     

     

    • C¸c chi phÝ ph¸t sinh (nÕu nhá) liªn quan tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

    TK

     

    TK 632

           

    111,112,331,334…

           
         

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     
     

    C¸c chi phÝ ph¸t sinh liªn quan

         
           
       

    TK 133

           
     

    tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu

     
     

    ThuÕ GTGT ®−îc khÊu

     
           
         

    trõ (nÕu cã)

     
               

     

    • Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong c¸c doanh nghiÖp ë ViÖt Nam.
    1. C«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− tr−íc chuÈn mùc sè 05

     

    Tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 – B§S ®Çu t− ra ®êi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®−îc xem lμ ho¹t ®éng tμi chÝnh. Tμi kho¶n sö dông ®Ó h¹ch to¸n lμ tμi kho¶n

     

    228 (chi tiÕt kinh doanh B§S) cã kÕt cÊu nh− sau: Bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− t¨ng trong kú Bªn Cã: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− gi¶m trong kú

     

    Sè d− bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− hiÖn cßn ë doanh nghiÖp Ph−¬ng ph¸p h¹ch to¸n:

     

    • Khi mua B§S ®Çu t− nÕu ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB, c¨n cø vμo gi¸ mua thùc tÕ vμ phÝ tæn khi mua:

    Nî TK 228: Gi¸ vèn B§S ®Çu t−

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Cã TK 111, 112, 331, 341: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

     

    22

     

    • NÕu mua ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB: + Khi mua B§S ®Çu t−:

     

    Nî TK 241: XDCB dë dang

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 331: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    + Chi phÝ ®Çu t− XBCB ph¸t sinh: Nî TK 241: XDCB dë dang

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 152, 331, 334

    + Khi kÕt thóc qu¸ tr×nh ®Çu t− XDCB:

     

    Nî TK 228: B§S ®Çu t− hoμn thμnh qua XDCB Cã TK 241: XDCB dë dang

     

    • Khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S: – Ph¶n ¸nh doanh thu:

    Nî TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Cã TK 515: Doanh thu ho¹t ®éng tμi chÝnh Cã TK 3331: ThuÕ GTGT ph¶i nép (nÕu cã)

     

    – Ph¶n ¸nh gi¸ vèn:

     

    Nî TK 635

    Gi¸ vèn cña B§S ®Çu t−

    Cã TK 228

     
     
    • Chi phÝ ph¸t sinh khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S ®Çu t−: Nî TK 635: Chi phÝ tμi chÝnh

    Cã TK 111,112

     

    1. Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− theo chuÈn mùc sè 05:

    Nh− vËy so víi c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 ra ®êi viÖc h¹ch to¸n theo chÕ ®é hiÖn nay cã nh÷ng −u ®iÓm râ rÖt:

     

    Tr−íc hÕt, viÖc sö dông TK 217 ®Ó h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong doanh nghiÖp ®· thÓ hiÖn ®óng b¶n chÊt cña B§S ®Çu t− ®ã lμ tμi s¶n tho¶ m·n 2 ®iÒu kiÖn: ch¾c ch¾n thu ®−îc lîi Ých trong t−¬ng lai vμ nguyªn gi¸ ®−îc x¸c ®Þnh mét c¸ch ®¸ng tin cËy.

     

    Thø hai, ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®Çu t− ®−îc t¸ch riªng khái ho¹t ®éng tμi chÝnh cña doanh nghiÖp víi viÖc ghi nhËn daonh thu vμo TK5117, gi¸ vèn vμo

     

     

    23

     

    TK 632 vμ viÖc trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− trªn TK2147 lμ hoμn toμn phï hîp. ViÖc h¹ch to¸n theo chuÈn mùc nμy sÏ cã t¸c dông rÊt lín trong giai ®o¹n hiÖn nay khi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ngμy mét ph¸t triÓn, ®Æc biÖt khi n−íc ta s¾p gia nhËp c¸c tæ chøc th−¬ng m¹i quèc tÕ vμ khu vùc.

     

    Thø ba, viÖc h¹ch to¸n riªng ho¹t ®éng B§S ®Çu t− sÏ gióp c«ng t¸c kÕ to¸n cã chuyªn m«n s©u h¬n, ®ång thêi còng cung cÊp th«ng tin ®Çy ®ñ kÞp thêi, chÝnh x¸c h¬n cho nh÷ng ng−êi quan t©m ®Õn t×nh h×nh tμi chÝnh cña doanh nghiÖp gãp phÇn n©ng cao hiÖu qu¶ ®Çu t− vμ hiÖu qu¶ hiÖu n¨ng qu¶n lý.

     

    Tuy nhiªn c«ng t¸c kÕ to¸n theo chÕ ®é míi còng gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n: Thø nhÊt, ®iÒu kiÖn ¸p dông chuÈn mùc sè 05 “B§S ®Çu t−” trong c¸c doanh nghiÖp ë n−íc ta hiÖn nay ch−a thuËn lîi do thiÕu c¬ së vËt chÊt, do

     

    thiÕu th«ng tin hay nhiÒu nguyªn nh©n kh¸c.

     

    Thø hai, ®èi víi c¸c ®¬n vÞ chuyªn kinh doanh B§S viÖc x¸c ®Þnh râ rμng B§S ®Çu t− mua vÒ lμ ®Ó b¸n trong kú hay chê t¨ng gi¸ lμ ®iÒu rÊt khã cho c«ng t¸c kÕ to¸n. Khi ph©n lo¹i B§S ®Çu t− míi B§S chñ së h÷u sö dông vμ víi tμi s¶n gi÷ ®Ó b¸n trong ho¹t ®éng kinh doanh th«ng th−êng doanh nghiÖp gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n do ®ã cÇn ph¶i cã nh÷ng tiªu chuÈn cô thÓ.

     

    Thø ba, ®èi víi c¸c doanh nghiÖp h¹ng ®Æc biÖt nh− c¸c tæ chøc tÝn dông, ng©n hμng th× viÖc h¹ch to¸n bÊt ®éng s¶n ®Çu t− kh«ng theo th«ng t− 23 mμ ®−îc h−íng dÉn thùc hiÖn trong c¸c v¨n b¶n riªng ®ßi hái ng−êi lμm c«ng t¸c kÕ to¸n ph¶i cã chuyªn m«n vμ n¾m b¾t th«ng tin kÞp thêi.

     

    Thø t−, khi doanh nghiÖp kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− t¹i thêi ®iÓm kÕt thóc niªn ®é kÕ to¸n th× doanh nghiÖp ph¶i thuyÕt minh danh môc B§S ®Çu t− vμ c¸c lý do kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− trªn b¸o c¸o tμi chÝnh.

     

    1. Vài nét so sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên.

    Gần đây với sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam và việc nước ta chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRs) trước đây gọi là hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vào hệ thống các quy

     

    24

     

    định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập và hiện đại hóa nền kinh tế.

     

    D−íi ®©y lμ vài nét so sánh giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên (IAS 40).

     

    Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 05) ban hành theo Quyết định số 243/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của bộ trưởng Bộ Tài chính và được hương dẫn thực hiện tại thông tư số 23/2005/TT- BTC ngày 30/03/2005.

    Chuẩn mực kế toán quốc tế số 40 (IAS 40) được ban hành thay cho IAS 25, được sửa đổi tháng 3/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005.

     

    Hai chuẩn mực này hoàn toàn giống nhau ở những điểm sau:

     

    • Phạm vi chuẩn mực
    • Xác định giá ban đầu (Đoạn 18, VAS 05 và đoạn 20, IAS 40): theo nguyên giá của bất động sản đầu tư các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu, nhưng không bao gồm các chi phí phát sinh ban đầu, chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt đến trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến, các chi phí không bình thường trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    • Điều kiện và thủ tục thanh lý bất động sản đầu tư.

    Điểm khác biệt chính giữa VAS 05 và IAS 40 là VAS 05 quy định áp dụng phương pháp nguyên giá khi xác định giá trị và ghi nhận bất động sản đầu tư, còn IAS 40 cho phép áp dụng phương pháp giá thực tế hoặc phương pháp nguyên giá.

     

    • Phương pháp giá thực tế là phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách thức tài sản được mua bán trao đối trên cơ sở các bên tham gia có những hiểu biết không bị mâu thuẫn về lợi ích và khách quan trong giao dịch (trích IASB, 2004, trang 2012).
    • Phương pháp giá gốc là phương pháp xác định giá trị tài sản bằng giá trị thanh toán cộng các chi phí thực tế phát sinh khác để mua được tài sản đó khi việc xác định và ghi nhận giá trị ban đầu của tài sản tuân thủ các quy định của các chuẩn mực IFRS khác (trích IASB, 2004, trang 2011).

     

    25

     

    Khác nhau giữa VAS 05 và IAS 40 về bất động sản đầu tư.

     

    Các vấn đề kế

    VAS 05

     

    IAS 40

     

    Thuyết minh thêm về

     

    toán

     

    Bất động sản đầu tư

    Bất động sản đầu tư

    những khác biệt

    Định nghĩa bất

    Bao gồm:

    Bao gồm:

       

    Theo luật đất đai 2003,

    động sản đầu tư

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ trong

    đất đai thuộc sở

    hữu

    Ví dụ bất động

    trong thời gian dài để chờ

    thời gian dài để chờ

    của

    nhà

    nước.

     

    Nhà

    sản đầu tư

     

    tăng giá.

    tăng giá.

         

    nước chuyển quyền sử

         

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ  mà

    dụng đất cho dân theo

         

    mà  chưa  rõ  mục  đích  sử

    chưa rõ mục đích sử

    03 cách: giao, thuê và

         

    dụng trong tương lai.

    dụng trong tương lai.

    cho  (sở  hữu).  Tuy

         

    – Nhà do doanh nghiệp sở

    Nhà

    do  doanh

    nhiên,  luật  chưa  cắt

         

    hữu cho thuê

    nghiệp  sở  hữu  cho

    nghĩa rõ ràng “Quyền

         

    – Nhà đang giữ để cho thuê

    thuê

         

    sử dụng đất” là gì?

     
         

    – Kết cấu hạ tầng đang giữ

    – Nhà đang giữ để

             
         

    để cho thuê (đoạn 6, VAS

    cho  thuê  (đoạn  8,

    Theo IFRS, không có

         

    05)

    IAS 40)

         

    khái niệm “Quyền sử

                     

    dụng đất”.

         

    Xác định giá trị

    Áp   dụng   phương   pháp

    Có thể lựa chọn áp

    Hiện  tại,  VAS  nhất

    sau khi ghi nhận

    nguyên giá

    dụng

    trong

    hai

    quán quy định áp dụng

    ban đầu

       

    phương pháp:

     

    phương  pháp  nguyên

           

    Theo

    giá

    thị

    giá khi xác định giá trị

           

    trường.

         

    tài sản. Theo Điều 7,

           

    – Theo nguyên giá

    Luật  kế

    toán

    2003,

                     

    phần  “nguyên  tắc  kế

                     

    toán” quy định không

                     

    được phép điều chỉnh

                     

    giá trị tài sản trừ khi

                     

    luật quy định khác.

     

    Trình

    bày

    trên

    Trong trường hợp đánh giá

    thể

     

    thông

    tin

    Ban Vật giá Chính phủ

    báo

    cáo

    tài

    bất động sản đầu tư theo giá

    khoảng  ước  lượng

    là cơ quan giám sát và

    chính

       

    trị thực tế không thực hiện

    giá trị thực tế của bất

    quy định các mức giá

         

    được thì doanh nghiệp phải

    động  sản

    khả

    trần hoặc giá sàn cho

         

    trình bày:

    năng nhất.

       

    một số mặt hàng quan

         

    – Bảng kê loại bất động sản

             

    trọng trong nền kinh tế

         

    đầu tư

             

    quốc  dân.  Việc  trình

         

    – Giải thích lý do không thể

             

    bày bảng kê loại bất

         

    xác định giá trị bất động sản

             

    động sản đầu tư có thể

         

    theo giá thực tế.

             

    giúp

    cho

    người

    sử

                     

    dụng báo cáo tài chính

                     

    ước lượng được giá thị

                     

    trường  của  bất

    động

                     

    sản dựa trên khung giá

                     

    trần và giá sàn do ban

                     

    Vật giá Chinh phủ quy

                     

    định.

           

     

     

    26

     

    KẾT LUẬN

     

    Những cải cách trong ngành kế toán vẫn đang tiếp tục diễn ra trong khi Việt Nam vẫn đang từng bước cải cách nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những thông tin tài chính chính xác và đúng thời điểm không những giúp các nhà quản lý, các nhà đầu tư có được những quyết định sáng suốt mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư nước ngoài.

     

    Với sự ra đời của luật kế toán Việt Nam 2003 và việc Việt Nam chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) vào hệ thống các quy định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế và xây dựng một nền kinh tế mới.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì việc tăng cường hiệu năng và hiệu quả hoạt động của bộ phận kế toán luôn giữ vai trò tối quan trọng. Theo đó, mặc dù không phải là tất cả, song tổ chức tốt công tác kế toán bất động sản đầu tư được xem là một trong những mắt xích quan trọng của bộ phận kế toán doanh nghiệp.

     

    Để công tác hạch toán Bất động sản đầu tư có hiệu quả đòi hỏi người làm công tác kế toán phải nắm vững chế độ kế toán tμi chính và pháp luật hiện hành và vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu quản lý của đơn vị.

     

    Việc nghiên cứu đề tài này thực sự có ý nghĩa đối với bản thân tôi bởi lẽ nó giúp tôi mở rộng vốn kiến thức còn hạn chế của mình đồng thời nó cũng giúp tôi có thêm hiểu biết về xu thế phát triển của kế toán Việt Nam. Những kinh nghiệm và hiểu biết này sẽ là bạn đồng hành của tôi trên con đường tiếp cận với công việc của người kế toán tương lai – một nghề mà tôi đã lựa chọn.

     

     

     

    27

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư”
    1. Thông tư 89/2003/ TT-BTC ngày 09/10/2002
    1. Thông tư 105/ 2003/ TT- BTC ngày 04/11/2003
    1. Thông tư 23/TT- BTC ngày 30/03/2005
    1. Hội nhập với các nguyên tắc kế toán và kiểm toán quốc tế. Tác giả: Hugh. A. Adams, BBA, MBA; Đỗ Thùy Linh, BEc, MSc

    Nhà xuất bản chính trị quốc gia tháng 7/2005

     

    1. Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán.

    Chủ biên: PGS-TS Nguyễn Thị Đông

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

    1. Giáo trình kế toán tài chính.

    Chủ biên : PGS-TS Đặng Thị Loan

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    28

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về thị trường bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Quy-tr%C3%ACnh-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án

    Kinh doanh bất động sản

    Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi (Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11 ngày 29/06/2006). Dự án kinh doanh bất động sản được trong phân tích dưới đây được hiểu là hoạt động bỏ vốn đầu tư nhằm thiết lập mô hình kinh doanh trên một khu đất để cung cấp dịch vụ bất động sản, chúng bao gồm:

    – Dự án đầu tư kinh doanh cao ốc văn phòng;
    – Dự án căn hộ cho thuê;
    – Dự án trung tâm thương mại;
    – Dự án khách sạn, nhà hàng;
    – Dự án về dịch vụ nhà ở;
    – Dự án hạ tầng khu công nghiệp;
    – Dự án kết hợp cung cấp các loại hình dịch vụ trên;
    – Các loại mô hình khác (không thuộc các dự án đã kể trên).

    Trên một khu đất, nhà đầu đứng trước bài toán lựa chọn mô hình đầu tư tối ưu trong số các mô hình trên. Để thành công trong quyết định lựa chọn mô hình đầu tư và quản lý khai thác hiệu quả, nhà đầu tư cần phải thực hiện phân tích lựa chọn theo quy trình sau:

    Bước 1: Tìm kiếm đất và khẳng định đất phù hợp:

    Tìm kiếm khu đất để đầu tư là việc làm thường xuyên của nhà đầu tư bất động sản. Khu đất kinh doanh bất động sản có hai dạng: thứ nhất là đất thuê lại từ đối tác kinh doanh khác hoặc thuê đất thuộc quỹ quản lý của nhà nước; thứ hai là mua đất từ đối tác khác. Nhà đầu tư thường tính đến việc mua khu đất ở đâu, giá bao nhiêu, khi nào mua… dựa trên sự phù hợp của khu đất.

    Khu đất phụ hợp là khu đất tọa lạc tại những vị trí chiến lược có thể phát triển kinh doanh một hoặc nhiều hơn một loại hình dịch vụ nào đó (các loại hình dịch vụ như định nghĩa trên) và khả thi về mặt pháp lý. Một khu đất được xem là khả thi về mặt pháp lý nếu khu đất đó thuộc diện được phép đầu tư khai thác kinh doanh bởi chính quyền địa phương. Hơn nữa, bất kỳ một khu đất nào hiện nay trên Việt Nam đều thuộc diện khống chế quy hoạch để sử dụng vào mục đích nhất định nào đó (quy hoạch cho mục đích kinh doanh, hoăc quy hoạch cho mục đich công, hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật trong quy hoạch), vì thế đòi hỏi nhà đầu tư phải kiểm tra tính phù hợp của thông số quy hoạch với mục đích kinh doanh của họ (với những thông số quy hoạch đó có mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không). Để biết được thông tin quy hoạch khu đất, nhà đầu tư có thể tìm đến cơ quan quản lý quy hoạch của tỉnh như sở quy hoạch xây dựng, sở tài nguyên & môi trường hoặc nhứng chuyên viên phụ trách quy hoạch của UBND tỉnh nới quản lý khu đất. Trong trường hợp khu đất chưa có ý đồ quy hoạch từ UBND tỉnh thì nhà đầu tư phải gửi công văn đề nghị xin chủ trương quy hoạch theo ý đồ của họ.

    Kết quả của bước tìm kiếm và khẳng định sự phù hợp của khu đất là nhà đầu tư phải ký được hợp đồng thuê, mua đất từ đối tác kinh doanh khác và chấp thuận chủ trương quy hoạch của UBND tỉnh nơi quản lý hành chính của khu đất hoặc hợp đồng thuê đất với UBND tỉnh (nếu thuộc khu đất do nhà nước quản lý).

    Bước 2: Ý tưởng kinh doanh

    Như trình bày ở bước 1, khu đất thông thường đều thuộc diện khống chế quy hoạch cho mục đích kinh tế hay mục địch xã hội. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến khu đất quy hoạch cho mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, câu hỏi cần trả lời ở đây là kinh doanh theo mô hình nào? Nhà đầu tư phải dựa vào kinh nghiệm và tầm nhìn của họ để đề xuất ý tưởng kinh doanh. Dù kinh nghiệm và tầm nhìn của những nhà đầu có sự khác nhau nhưng họ đều căn cứ trên một cơ sở chung là dựa vào thị trường. Khi đưa ra quyết định đầu tư trong điều kiện thiếu dữ liệu chắc chắn về thị trường đó ra quyết định trong môi trường có rủi ro. Nhà đầu tư thận trọng họ sẽ thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi đưa ra quyết định.

     

    Bước 3: Nghiên cứu thị trường

    Việc nghiên cứu thị trường để kiểm định lại ý tưởng kinh doanh là việc chuyển từ quyết định trong môi trường có rủi ro sang ra quyết định trong môi trường chắn chắn. Các loại thị trường cần nghiên cứu bao gồm các thị trường cao ốc văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại, hạ tầng công nghiệp, dịch vụ nhà ở…. Nghiên cứu thị trường phải dự báo được triển vọng và dung lượng của từng loại thị trường dịch vụ. Nghiên cứu thị trường sẽ kiểm định tính khả thi của ý tưởng kinh doanh và khuyến nghị các hướng phát triển dự án.

    Bước 4: Thiết kế ý tưởng

    Thiết kế ý tưởng dự án được căn cứ trên các tiêu chí sau:

    • Xác lập mô hình kinh doanh có hiệu quả;
    • Thiết kế ý tưởng kiến trúc có phong cách đặc trưng, ấn tượng, có tính hiệu dụng cao, có cảnh quan đẹp.
    • Chứng minh được hiệu quả đầu tư;
    • Đảm bảo chất lượng, tiến độ và ngân sách của quá trình xây dựng;
    • Đảm bảo nguồn thu và lợi nhuân.

    Dựa trên những tiêu chí trên, ý tưởng dự án phải thể hiện đầy đủ nội dung sau:

    • Mô hình kinh doanh cung cấp dịch vụ gì, tính vượt trội của các dịch vụ do dự án cung cấp so với các dịch vụ hiện hữu trên thị trường hiện nay;
    • Ý tưởng kiến trúc như thế nào, sự độc đáo của kiến trúc;
    • Các đặc điểm kỹ thuật;
    • Thị trường mục tiêu;
    • Quản lý đầu tư và khác thác như thế nào?

    Bước 5: Phân tích tài chính

    Phân tích tài chính nhằm xác định khả năng sinh lời của dự án, bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    • Ước tính toàn bộ chi phí dự án
    • Dự kiến phương án hợp tác kinh doanh;
    • Ước tính nguồn vốn vay;
    • Thiết lập mô hình phân tích dựa trên những giả định cơ bản về dự án;
    • Phân tích dòng tiền cho toàn bộ dòng đời của dự án bao gồm chi phí đầu tư, nguồn vốn đầu tư, doanh thu, chi phí hoạt động, vốn vay, lợi nhuận, các chỉ số tài chính như NPV, IRR, thời gian hoàn vốn…
    • Phân tích độ nhạy với các biến thiên về suất đầu tư và giá thuê dự kiến.

    (Phân phân tích tài chính cho dự án kinh doanh bất động sản, tác giả sẽ trình bày một bài viết tiếp theo).

    Bước 6: Tìm nguồn tài chính tài trợ cho dự án và lập hồ sơ dự án, xin cấp phép, vay vốn và triển khai dự án.

    Theo thiết kế cơ cấu nguồn vốn dự án, chủ đầu tư cân đối nguồn vốn của mình và quyết định huy động vốn tài trợ cho dự án. Trên thị trường tài chính hiện nay đã mở ra nhiều cơ hội huy động vốn qua các kênh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty hoặc vay. Tuy nhiên, với các kênh huy động đó chỉ khả thi khi dự án đã được cấp phép, phê duyệt hoặc đã chi tiết được các hạng mục đầu tư. Để đạt sự cấp phép chủ đầu tư phải chứng minh được năng lực tài chính nên dòi hỏi phải tiến hành huy động vốn trước. Việc huy động vốn trong giai đoạn này, chủ đầu tư tìm đối tác tham gia hợp tác đầu tư thông qua ký kết biên bản thỏa thuận (MOU) hợp tác đầu tư với các nội dung sau:

    • Thỏa thuận về chi phí;
    • Thỏa thuận về thời gian;
    • Thỏa thuận về nhân lực;
    • Thỏa thuận về cách làm;

    Sau khi các bên tham gia góp vốn ký kết văn bản hợp tác đầu tư (MOU), họ tiến hành lập hồ sơ dự án, bao gồm nội dung sau:

    • Các đánh giá rải rác;
    • Đánh giá tiền khả thi;
    • Các tài liệu, văn bản ghi nhận trao đổi nội bộ với đối tác;
    • Báo cáo khả thi xây dựng xác với dự án hoàn chỉnh.

    Nhà đầu sử dụng hồ sơ dự án để thực hiện các hoạt động xin phép đầu tư, thiết kế chi tiết, vay vốn để bắt đầu triển khai dự án.

    Bước 7: Triển khai dự án

    Triển khai dự án gồm các công việc sau:

    • Thiết kế chi tiết;
    • Đấu thầu và chọn thầu xây dựng;
    • Vay vốn và giải ngân vốn chủ sở hữu;
    • Phương án tổ chức giám sát, quản lý;

    Phương án tổ chức gám sát, quản lý và khai thác dự án có thể do chủ đầu tư tự thực hiện. Nếu dự án có tính phức tạp cao trong khi nhân lực của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư không đủ khả năng quản lý thù sử dụng đến dich vụ tư vấn thực hiện các công việc sau:

    • Đại diện khách hàng (Lập kế hoạch xây dựng & quản lý chất lượng);
    • Bán & tiếp thị;
    • Tư vấn và quản lý tài sản.

    Trên đây quy trình phát triển một dự án kinh doanh bất động sản. Mỗi loại dự án đều có đặc thu riêng, không có gì áp dụng chung cho mọi trường hợp. Tất cả chỉ là phương pháp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Nguyên tắc định giá bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Nh%E1%BB%AFng-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-gi%C3%A1-quy%E1%BB%81n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BA%A5t.-Li%C3%AAn-h%E1%BB%87-v%E1%BB%9Bi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Thị trường bất động sản ở Việt Nam đã được hình thành và đang trong quá trình phát triển bước đầu được mở rộng. Đến nay các tác nhân tham gia thị trường này bắt đầu hoạt động có hiệu quả tạo cơ sở cho tính ưu việt của thị trường này hoạt động. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hoá quan trọng của thị trường đó. Vì thế giá quyền sử dụng đất hay nói ngắn gọn là giá đất có một vị trí đặc biệt trong thị trường bất động sản, thu hút được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng. Đất đai là một nhu cầu thiết yếu của mỗi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bởi vì đất đai là điểm tựa để sinh hoạt, lao động, sản xuất… Tất cả mọi người đều có nhu cầu có chỗ ở, tất cả mọi xã hội đều cần đất đai để phát triển…Có thể nói không có đất không có sự tồn tại của xã hội loài người. Đặc biệt, đối với cá nhân, hộ gia đình đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng vì nhu cầu có chỗ ở là nhu cầu thiết yếu của con người, hay như các cụ ta thường nói “ an cư mới lạc nghiệp”. Tuy nhiên, đất đai lại không thể được sản xuất đại trà như các loại hàng hoá khác bởi những đặc trưng của nó vì thế đất đai ngày càng trở nên khan hiếm. Mà đất càng khan hiếm thì giá của nó ngày càng cao. Sự thực hiển nhiên đó giải thích vì sao khi đi mua đất quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người không phân biệt giàu, nghèo chính là giá đất. Thực tế hiện nay giá đất cũng gây rất nhiều bức xúc cho cả cơ quan có thẩm quyền và người dân bởi vì giá đất quá cao, có thông tin cho rằng giá đất ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn cao hơn giá đất ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản. Ngoài ra giá đất trong bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi cũng còn nhiều bất cập gây tình trạng lôn xộn như trong thời gian qua. Chính vì những bất hợp lý về giá đất hiện nay mà tôi quan tâm đến giá đất. Để tìm hiểu kỹ hơn những vấn đề liên quan đến giá đất, thực trạng những gì đang diễn ra liên quan đến giá đất đặc biệt tôi quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng đến giá quyền sử dụng đất. Liên hệ với thị trường bất động sản ở Việt Nam”. Đồng thời tìm hiểu vấn đề này tôi cũng bổ sung được kiến thức các môn học trong nhà trường và chắc chắn sẽ có ích cho công việc trong tương lai.

    Để nghiên cứu được đề tài này tôi đã sử dụng kiến thức của các môn: kinh tế tài nguyên đất, Nguyên lý thị trường bất động sản, Định giá bất động sản. Để có cái nhìn đúng đắn về những vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, điều tra, phân tích.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    2

    Đề án môn học

    Kết cấu của đề tài này như sau:

    Chương I: Cơ sở lý luận về giá đất

    1. Khái niệm, quan điểm về đất đai. 1.Khái niệm

    2.Các quan điểm về giá đất.

    1. Sự cần thiết phải xác định giá đất.

    III. Cơ sở hình thành giá đất.

    1. Bản chất của giá đất
    1. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.
    1. Các phương pháp định giá đất hiện nay.
    1. Phương pháp so sánh trực tiếp.
    1. Phương pháp thu nhập
    1. Phương pháp đầu tư

    Chương II: Những nhân tố ảnh hưởng đến giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất đai.
    1. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    1. Quá trình đô thị hoá.
    1. Yếu tố cạnh tranh.
    1. Chính sách tiền tệ
    1. Chính sách pháp luật

    Do thời gian và trình độ có hạn, đề tài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý vị để đề tài này hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trung tâm đào tạo Địa chính và Kinh doanh bất động sản đặc biệt là Ths. Vũ Thị Thảo đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    3

    Đề án môn học

    Chươ ng I.

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ ĐẤT

    I.                   KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤT ĐAI.

    1.Khái niệm về đất đai

    Luật Đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam khẳng định:” Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”. Như vậy đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cũng như trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong tiến trình lịch sử của loài người, con người và đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đất đai là nguồn của cải vô tận của con người, dựa vào đất đai con người tạo nên được những sản phẩm để duy trì sự tồn tại của mình. Khi dân số ngày càng đông thì đất đai vẫn có khả năng tạo ra một lượng sản phẩm lớn hơn lượng sản phẩm đủ để duy trì sự sống của người lao động. Ngược lại, con người cùng với những tác động tích cực hay tiêu cực đến đất đai nhằm phục vụ đời sống của mình. Đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, là một trong những tài nguyên vô cùng quan trọng của con người. Có thể nói không có đất đai không thể có sự tồn tại của xã hội loài người.

    Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, vận tải, thuỷ lợi… Đất đai còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng như: gạch ngói, gốm sứ…cho các ngành công nghiệp chế biến, cao su, cà phê…ngoài ra đất đai con tham gia vào các ngành sản xuất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân đất đai cũng giữ vai trò khác nhau. Đặc biệt trong nông nghiệp đất đai là yếu tố hàng đầu của đó là yếu tố đầu vào cần thiết và không thể thiếu được. Đối với nước ta- một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì đất đai càng quan trọng. Đất đai cũng là cơ sở để sản xuất ra tất cả các vật phẩm phục vụ cuộc sống của con người. Bởi vậy Wiliam Petis đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là mẹ của của cải”.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    4

    Đề án môn học

    Khi xã hội càng phát triển vai trò của đất đai ngày càng trở nên quan trọng. Do những yêu cầu của thực tiễn đất đai trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Dân số nước ta ngày càng tăng lên, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, mà tổng cung về đất đai coi như không đổi nên đất đai trở nên khan hiếm. Nhu cầu về đất đai tăng nhanh bởi vậy giá trị của nó được quan tâm nhiều hơn.

    Đất đai là nguồn của cải, là thước đo sự giàu có của mỗi quốc gia. Nó cũng là một trong những bộ phận lãnh thổ của đất nước. Tôn trọng chủ quyền của một quốc gia trước hết phải tôn trọng lãnh thổ của quốc gia đó. Như vậy, đất đai không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có một ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với an ninh quốc gia. Với những gì đất đai mang lại cho con người, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Trong bất cứ một giai đoạn nào của lịch sử, trong bất cứ hoàn cảnh nào đất đai cũng là nơi cư trú của con người, là nguyên liệu, là cơ sở cho mọi lĩnh vực sản xuất vật chất.

    Đất đai theo khía cạnh địa lý được hiểu một cách cụ thể như sau: Đất đai là sản phẩm của tự nhiên qua quá trình phong hoá đá mẹ hình thành nên nhiều loại đất khác nhau. Mặt khác, đất đai là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống loài người, là môi trường để con người hoạt động gắn bó chặt chẽ với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định. Trong tiến trình lịch sử của xã hội loài người, con người và đất đai có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào đó để nuôi sống mình. Đất đai luôn luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động nào của con người và cũng không thể tồn tại xã hội loài người.

    Về môi trường, đất đai thường gắn liền với khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và yếu tố không gian và được phân bố rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cũng như trên từng vùng, từng miền lãnh thổ. Đất đai là yếu tố hình thành nên môi trường và chịu tác động của môi trường. Do đó đất đai và môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các tác động tích cực của con người vào đất đai, môi trường sẽ được bảo vệ như là trên đất dốc, đất đồi núi trọc khi trồng cây gây rừng làm giảm độ xói mòn, bảo vệ được mạch nước ngầm, điều hoà không khí…Ngược lại, đất đai nằm ở cạnh các khu công nghiệp không xử lý triệt để nước thải thì môi trường đất cũng sẽ bị ô nhiễm.

    2.                 Các quan điểm về giá đất.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    5

    Đề án môn học

    Giá đất là một phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với quá trình trao đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế…Trong quá trình sử dụng đất luôn luôn có lao động kết tinh trong đất nên đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Khi hai giá trị này đươck thể hiện qua quan hệ trao đổi tức là có người mua và người bán thì đất đai trở thành hàng hoá. Giá đất được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ, hiệu quả của quá trình sử dụng đất. Đây là một vấn đề rất phức tạp mà hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Trong đó có các quan điểm nổi bật sau:

    Có quan điểm cho rằng với mục đích xác định giá đất như hiện nay cần phải giả quyết, điều hoà hai lợi ích luôn đối lập nhau: Xác định giá đất để tính nguồn thu ngân sách Nhà nước như: tính thuế, tính tiền giao đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…Xác định giá đất để bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, khi thế chấp, khi đấu giá quyền sử dụng đất, để trả nợ và thi hành án…Đó là hai mặt đối lập nhau về lợi ích. Thực chất quan điểm này là đi giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước và các bên liên quan trong quan hệ giao dịch dân sự. Để giả quyết lợi ích của người bị Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích công cộng, quốc phòng an ninh sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thu hồi đất. Đất đai, tài sản bị thu hồi mặc dù được bồi thường nhưng các hộ trong diện phải di dời sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu không có khu tái định cư họ phải tự đi tìm nơi ở mới. Đặc biệt đối với những hộ có vị trí đất tốt đang tiến hành kinh doanh có hiệu quả mà phải di dời đến vị trí khác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu của họ. Trong trường hợp đó việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trước mắt của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức. Mặt khác, người Việt Nam còn có tâm lý gắn bó với nơi mình sinh sống, không muốn chuyển đi nơi khác với những mối quan hệ khác. Vì thế để giải quyết lợi ích của người bị thu hồi đất đồng thời thuyết phục được tâm lý ấy, Nhà nước phải đặt ra giá bồi thường hợp lý để không làm tổn hại đến lợi ích của họ.

    Bên cạnh đó còn có quan điểm cho rằng cần phải giải quyết đầu tiên vấn đề hai giá đối với cùng một thửa đất, với hai nội dung là: Một là, giá đất do Nhà nước xác định khi thu hồi đất cần lấy theo giá đất khi chưa chuyển mục đích sử dụng, chưa có đầu tư, do đó giá thấp ( ví dụ là giá đất nông nghiệp); nhưng sau khi chuyển mục đích sử dụng để giao, để cho người khác thuê, thì giá đất cao ( ví dụ là giá đất ở tại đô thị). Hai là, xem xét giá đất do Nhà nước xác định và giá chuyển nhượng thực tế

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    6

    Đề án môn học

    trên thị trường. Thực tế có hai loại giá đất được áp dụng đó là giá thị trường và giá chuẩn. Giá thị trường của đất là giá hiện thực áp dụng trong mua bán quyền sử dụng đất, giá này tự điều chỉnh lên xuống tuỳ theo nhu cầu sử dụng đất và chính sách của Nhà nước về đất đai. Giá chuẩn là giá do Nhà nước xây dựng dựa trên các yếu tố: giá cả thị trường, mức thu nhập của người tiêu dùng, sức mua của đồng tiền. Thông thường giá chuẩn được xây dựng thành khung giá, là giá tối đa, tối thiểu do Nhà nước quy định để quản lý giá đất và kiểm soát sự biến động của thị trường đất phục vụ cho mục tiêu quản lý Nhà nước về đất đai. Với 4 lần thay đổi khung giá đất của Chính phủ, với khoảng vài năm một lần thay đổi khung giá của các UBND tỉnh, với sự biến động kinh tế, xã hội rất khác nhau của 64 tỉnh, thành phố làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất đã làm cho khoảng cách giữa giá đất của Nhà nước và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế quá cách biệt, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước tạo ra nhiều mâu thuẫn trong xã hội.

    Quan điểm của Nhà nước về giá đất theo văn bản mới nhất là Luật đất đai 2003 là: “ Giá đất được hình thành trong các trường hợp:

    Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

    Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.

    Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quỳên chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất” ( Điều 55).

    Giá đất do Nhà nước quy định cần phải đảm bảo các nguyên tắc theo Điều 56 Luật đất đai 2003.

    II.               SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT.

     

    Giá đất là phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với các quá trình trao đổi,

    chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, góp vốn… và có liên quan đến lợi ích của các đối tượng liên quan. Thông thường, trước khi tài sản nhà đất tham gia các giao dịch cho các mục đích khác nhau đều cần phải xác định giá đất.

    Chúng ta biết rằng giá đất được xác định thông qua luồng thu nhập do mảnh đất đó mang lại nên giá đất để đánh giá tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Nếu người sử dụng đất biết khai thác những lợi thế của mảnh đất thì sẽ đánh giá mảnh đất đó có giá cao hơn những người không thấy được lợi thế đó. Vì thế đất đai càng được sử dụng có hiệu quả thì giá của nó sẽ càng cao. Đặc biệt, đối với bất kỳ một sự trao đổi, mua bán của một loại hàng hoá nào đều cần phải có yếu tố giá cả.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    7

    Đề án môn học

    Quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất là một hàng hoá đặc biệt. Nó không được bày bán trên thị trường như các hàng hoá khác. Người mua và người bán không có cơ hội và đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn. Mặt khác, đất đai thường có giá trị lớn, số lần mua bán ít do đó thiếu kinh nghiệm. Vì những lý do đó nên xác định giá đất cần phải có các nhà chuyên môn có kinh nghiệm. Như vậy, các loại giao dịch trên thị trường bất động sản liên quan đến quyền sử dụng đất đều cần phải xác định giá đất. Ngoài ra, giá đất theo khung giá của Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện để sở hữu toàn dân về đất đai được hoà nhập vào cơ chế thị trường. Khung giá đất ban hành theo loại đường phố, theo vị trí. Hệ thống khung giá này còn bao gồm bảng giá của các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo từng năm. Các giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất đều dựa trên cơ sở của khung giá này để định giá cho thửa đất. Hiện nay, giá trong khung giá mới theo Nghị định 188 đã cao hơn rất nhiều so với khung giá cũ, chẳng hạn ở Hà Nội, giá cao nhất là 67.2triệu đồng/ m2, thấp nhất là 500 nghìn đồng/ m2.. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng đất tham gia công khai vào thị trường quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung. Mặc dù khung giá đất đã nâng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, vì vậy nảy sinh các hoạt động giao dịch “ngầm” vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước.

    Đặc biệt, đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là một chính sách để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng. Từ trước đến nay có lẽ những vướng mắc nhiều nhất liên quan đến đất đai là giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích công cộng, quốc phòng an ninh…Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là điều tất yếu trong đó chủ yếu là đất xây dựng khu công nghiệp, khu chung cư, đường giao thông…Để làm được điều đó Nhà nước ta buộc phải thu hồi đất nhưng để đảm bảo lợi ích của người đang sử dụng đất Nhà nước phải bồi thường. Tuy nhiên, giá bồi thường thường thấp hơn giá thị trường từ 3 đến 5 lần thậm chí có nơi lên tới 10 lần dù các địa phương đã áp dụng giá bồi thường được phép tăng lên 20% so với khung giá đất của Nhà nước. Đó là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng khiếu kiện liên miên đồng thời không có mặt bằng xây dựng. Đứng trước thực tế trên Nhà nước phải có biện pháp nghiên cứu xác định giá đất hợp lý hơn, gần với giá thị trường hơn.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    8

    Đề án môn học

    Qua nội dung trình bày ở trên ta thấy giá đất thực sự cần thiết trong rất nhiều lĩnh vực. Vì thế phải xác định giá đất chính xác, hợp lý để đảm bảo tính công bằng, giải quyết hài hoà lợi ích của các bên tham gia: người mua- người bán, người thế chấp – Ngân hàng, người bị thu hồi đất – Nhà nước.

    III. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIÁ ĐẤT.

    Đất đai được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài. Ban đầu đất đai chỉ đơn thuần là sản phẩm của tự nhiên, nhưng do sự phát triển của xã hội đất đai trở thành sản phẩm của xã hội. Vì vậy, giá đất được hình thành trên cơ sở yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội.

    1.     Bản chất của giá đất.

    Mua đất là mua quyền thu địa tô, nên giá đất căn cứ vào khả năng sinh lời của đất, mà địa tô là hình thái theo đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế tức là đem lại thu nhập cho người sở hữu ruộng đất đó. Địa tô xuất hiện khi có sự tách rời giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Người sở hữu ruộng đất đó có quyền sử dụng ruộng đất theo ý muốn của họ: Trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê. Trong trường hợp cho thuê quyền sở hữu ruộng đất và quyền dụng đó tách rời, người thuê đất phải trả cho người chủ đất một khoản tiền nhất định theo hợp đồng. Quan hệ địa tô trong sử dụng đất thực chất là phân chia lợi ích giữa người sử dụng và người sở hữu ruộng đất. Bởi vậy nó gắn liền với chế độ tư hữu đất đai. Theo tiến trình lịch sử, địa tô được biểu hiện dưới các hình thức: địa tô lao dịch, địa tô hiện vật và địa tô bằng tiền. Trong đó địa tô bằng tiền là hình thức biểu hiện cao nhất và phát triển của địa tô tư bản chủ nghĩa. Các hình thái cơ bản của địa tô là: địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối. Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch do việc sử dụng các thửa đất có điều kiện khác nhau về vị trí và độ phì. Phần này nhà tư bản sử dụng ruộng đất phải trả cho chủ đất.

    Địa tô chênh lệch I có được do việc sử dụng đất đai có điều kiện thuận lợi hơn về vị trí và độ phì. Mặt khác, trong quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất, người sử dụng ruộng đất ( có khi là người sở hữu đất) đã có những đầu tư vào đất làm cho độ phì nhiêu của đất tăng lên, đó là những đầu tư lâu dài hoặc ngắn hạn để làm tăng sản lượng ruộng đất. Những khoản chi phí ấy đều làm tăng sản lượng ruộng đất, và biến ruộng đất từ chỗ vật chất đơn thuần thành ruộng đất tư bản. “Tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau, nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn hơn

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    9

    Đề án môn học

    một đám đất bỏ hoang” ( Mác – Enghen toàn tập). Địa tô có được nhờ vào việc đầu tư khác nhau vào những đám đất như nhau do đó có được những năng suất khác nhau. Đó là địa tô chênh lệch II. Như vậy, địa tô chênh lệch II có được do đầu tư tư bản liên tiếp trên cùng một loại đất, tức là do trình độ thâm canh quyết định.

    Khi nghiên cứu địa tô chênh lệch, chúng ta đã xuất phát từ giả thuyết giá cả sản xuất chung ngang bằng với giá cả sản xuất cá biệt trên loại đất xấu xã hội cần thiết. Nói cách khác, giá cả sản xuất có tác dụng điều tiết thị trường ngang với giá cả cá biệt trên đất xấu nhất xã hội cần thiết. Khi đó chỉ có những mảnh đất nào có giá cả sản xuất cá biệt thấp hơn giá cả sản xuất cá biệt xã hội cần thiết thì mới có lợi nhuận siêu ngạch- cái sẽ chuyển hoá thành địa tô chênh lệch. Địa tô đó có cơ sở là sự chênh lệch về độ phì tự nhiên hoặc là kết quả chênh lệch giữa các lần đầu tư liên tiếp trên cùng một thửa đất hoặc là kết quả chênh lệch giữa các mức đầu tư khác nhau trong một lần đầu tư trên cùng một thửa đất. Tuy nhiên, theo giả thiết đó thì các chủ tư bản kinh doanh trên đất xấu nhất xã hội cần thiết sẽ không phải nộp địa tô cho chủ đất vì giá cả sản phẩm trên thị trường do giá cả sản xuất trên loại đất xấu đó quyết định và chủ đất loại đất xấu nhất cũng không thu được một địa tô nào cả. Trên thực tế không phải như vậy. Ngay cả loại đất đó cũng đem lại địa tô. Đó chính là địa tô tuyệt đối. Địa tô tuyệt đối là những giá trị thặng dư khác nhau trong việc sử dụng đất đai ứng với tỷ suất giá trị thặng dư như nhau trong những ngành sản xuất khác nhau do có cấu tạo hữu cơ tư bản khác nhau.

    Vì vậy, địa tô là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá đất. Trên cơ sở địa tô cách tính giá đất cần dựa vào các tiêu thức: Mức địa tô thu được hàng năm trên một diện tích đất đai, tỷ suất lợi tức tiền gửi ngân hàng trong năm, ưu thế đất đai về vị trí, chất đất, quan hệ cung cầu về đất đai ở từng thời điểm.

    2. Các quyền và quyền lợi đối với đất đai.

    Đất đai gắn liền với lãnh thổ của một quốc gia vì thế nó liên quan đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia. Đó chính là lý do để hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định đất đai thuộc quyền sở hữu tối cao của Nhà nước. Ở Việt Nam, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ( Luật Đất đai 1993) còn theo văn bản pháp luật mới nhất về đất đai thì “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Quy định này nhằm đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất đồng thời cũng bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước không trực tiếp sử dụng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    10

    Đề án môn học

    đất đai mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất. Nhà nước quản lý việc sử dụng đất ở tầm vĩ mô như: quy hoạch sử dụng các loại đất nông nghiệp, phi nông nghiệp; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng…Khi người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì họ sẽ có các quyền lợi sau đối với thửa đất của mình:

    Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất mang lại.

    Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại.

    Được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo và bồi bổ đất.

    Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi.

    Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất và kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất.

    Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

    Song song với những quyền lợi đó người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ đối với đất đai:

    Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các yêu cầu khác đã được quy định khi giao đất.

    Thực hiện các biện pháp để bảo vệ và là tăng khả năng sinh lợi của đất.

    Tuân theo những quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    Nộp thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ…

    Giao lại đất cho Nhà nước có quyết định thu hồi.

    Người sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sẽ có những quyền lợi nhất định, đặc biệt họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi vì khi đó họ được pháp luật bảo hộ về quyền sử dụng đất hợp pháp. Ngoài ra họ còn được hưởng lợi từ những công trình công cộng bảo vệ, cải tạo đất mang lại. Chẳng hạn một thửa đất trồng lúa nước, nếu Nhà nước đầu tư cho khu vực đó một hệ thống thuỷ lợi thì người sử dụng thửa đất đo nghiễm nhiên sẽ có được nguồn nước tốt cho

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    11

    Đề án môn học

    ruộng lúa của mình mà không phải mất gì. Còn đối với quy định về quyền được chuyển đổi mục đích sử dụng thì Luật đất đai 2003 đã co quy định cụ thể, có những trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng không phải xin phép cơ quan có thẩm quyền nhưng vẫn phải đăng ký để quản lý, cũng có những trường hợp bắt buộc khi chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan có thẩm quỳên…Ngược lại, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng lãng phí đất, huỷ hoại đất. Người sử dụng đất phải tôn trọng các quy định về nghĩa vụ vì chỉ có như vậy chúng ta mới đảm bảo sử dụng đất một cách bền vững.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    12

    Đề án môn học

    IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ ĐẤT HIỆN NAY.

    1. Phương pháp so sánh trực tiếp

    Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Trong quá trình sử dụng có thể được kết hợp với các phương pháp khác. Việc định giá theo phương pháp này là xác định mức giá thông qua việc tiến hành phân tích các mức giá thực tế đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường của loại đất tương tự (về loại đất, diện tích đất, thửa đất, hạng đất, loại đô thị, loại đường phố và vị trí) để so sánh, xác định giá đất của thửa đất, loại đất cần định giá. Có thể nói phương pháp này quan tâm đến sự nhận biết và đo lường tác động của sự hiện hữu hay thiếu vắng một số đặc tính có trong giá cả, tiền thuê của các tài sản có thể so sánh được. Tuy nhiên phương pháp chỉ áp dụng cho các tài sản có tính đồng nhất, các loại đất trồng, các loại đất có khu vực gần nhau và gần giống nhau. Nếu sử dụng phương pháp này để tính giá đất đòi hỏi phải có thông tin rõ ràng về mảnh đất cần được định giá. Nhưng thực tế những thông tin này luôn bị lạc hậu (chỉ cần trong thời gian ngắn). Do đó không thể đảm bảo phương pháp này sẽ tính được giá đất phản ánh đúng giá trị thực tế. Đây là phương pháp có vẻ đơn giản và trực tiếp nhưng lại dễ mắc sai lầm. Khi sử dụng phương pháp này, người định giá muốn so sánh những bất động sản có giá trị ngang nhau trong một vùng hoặc dựa vào các giao dịch được thực hiện trong thời gian trước đó. Để sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp cần thực hiện qua bốn bước sau:

    Thứ nhất là thu thập thông tin về bất động sản đã thực hiện giao dịch trước đó. Trong quá trình thu thập chú ý phải thu thập các bất động sản có điểm tương đồng như: căn hộ cùng loại, cùng khu vực, cùng mục đích sử dụng…

    Thứ hai kiểm tra lại các yếu tố của bất động sản để thấy được khả năng so sánh giữa các bất động sản thu thập được với bất động sản mục tiêu.

    Thứ ba là quyết định lựa chon những bất động sản thích hợp nhất để đưa vào làm các bất động sản tham chiếu cho quá trình so sánh. Căn cứ vào các đặc tính, điều kiện mà bất động sản đó có thể so sánh được.

    Thứ tư là so sánh trực tiếp từng yếu tố của bất động sản mục tiêu với các bất động sản tham chiếu để tìm ra các sai lệch giữa bất động sản mục tiêu và bất động sản tham chiếu.

    Thứ năm là xác định các cơ sở để đánh giá sự thay đổi giữa các tiêu thức so sánh để tìm ra các yếu tố tiến hành điều chỉnh bao gồm:

    +Tính chất ảnh hưởng: ảnh hưởng ít hay nhiều.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    13

    Đề án môn học

    +Đánh giá cảm quan về mức độ xấu- tốt.

    Thứ sáu là tổng hợp tất cả các yếu tố ảnh hưởng sẽ có được giá xác định cho bất động sản mục tiêu, từ đó có được khoảng giá bất động sản mục tiêu.

    2. Phương pháp thu nhập.

    Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá tính bằng thương số giữa mức lợi nhuận thuần tuý thu được hàng năm trên một diện tích đất so với lãi suất của tiền gửi ngân hàng quốc doanh có mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ cao nhất kỳ hạn 1 năm trên địa bàn. Những khoản lợi nhuận đó nói chung ở dạng tiền cho thuê hoặc giá trị của vốn cho thu hồi trong tương lai. Đây là phương pháp xây dựng trên cơ sở tài chính, là phương pháp mang tính khoa học hơn cả nhưng tài sản nhà đất không hoàn toàn giống các dạng đầu tư tài chính khác. Do đó cần có hiểu biết kỹ lưỡng và có tài liệu chính xác. Phương pháp này được thực hiện theo các bước như sau:

    Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm do bất động sản cần định giá mang lại.

    Bước 2: Tính tổng chi phí phải chi ra hình thành tổng thu nhập và các khoản phải nộp theo luật định.

    Bước 3: Xác định thu nhập thuần tuý hàng năm theo công thức sau:

    Thu nhập                            Tổng thu nhập                       Tổng chi phí

    thuần tuý      =               hàng năm tính     –            đã tính ở

    hàng năm                             được ở bước 1                          bước 2

    Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:

        Thu nhập thuần tuý hàng năm thu được  
    Giá đất   từ đất  
    ước tính =    
    Lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng  
       

    3. Phương pháp đầu tư.

    Phương pháp đầu tư dựa trên nguyên lý là giá trị hàng năm và giá trị của vốn có mối quan hệ với nhau. Và khi biết trước thu nhập hay giá trị hàng năm do bất động sản tạo ra ta có thể đễ dàng tính ra giá trị vốn ban đầu của bất động sản. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi khi bất động sản tạo ra thu nhập được bán cho người mua với mục đích đầu tư. Nó được xác định dựa trên quan niệm nhà đầu tư

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    14

    Đề án môn học

    có thể đo lường được thu nhập bằng lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế. Giá trị bất động sản được xác định bằng công thức:

    Giá trị bất động sản = Thu nhập x Hệ số vốn hoá.

    Trình tự được thực hiện như sau:

    Bước 1: Ước tính tổng luồng thu thập bất động sản mang lại

    Bước 2: Phải tính đến các khoản chi phí, đầu tư để duy trì, vận hành bất động sản đó.

    Bước 3: Xác định hệ số vốn hoá: xác định tỷ suất sinh lợi của tiền vốn đầu tư được xác định bằng mức sinh lợi của các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động tương tự, có khả năng thay thế.

    Ngoài các phương pháp cơ bản trên các nhà định giá bất động sản còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thặng dư, phương pháp lợi nhuận.

    Nhờ các phương pháp này chúng ta có thể xác định được tương đối chính xác giá bất động sản nói chung và giá đất nói riêng.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    15

    Đề án môn học

    Chương II

    NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ ĐẤT.

    Trong quá trình phát triển của xã hội, loài người dựa vào đất đai và khai thác, sử dụng đất đai để phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Xã hội ngày càng phát triển, của cải làm ra ngày càng nhiều nảy sinh quan hệ mua bán, trao đổi. Nền kinh tế hàng hoá ra đời và ngày càng phát triển đỉnh cao là xuất hiện cơ chế thị trường. Ngày nay, hoạt động kinh tế chịu tác động của cơ chế thị trường. Đất đai cũng không nằm ngoài sự tác động đó, nó trở thành đối tượng trao đổi mua bán, chuyển nhượng và thực sự hình thành thị trường đất đai. Vì vậy chúng ta không thể phủ nhận vài trò quan trọng của giá đất. Nhưng giá đất được xác định như thế nào, độ chính xác ra sao thì có thể dựa vào những phương pháp định giá vừa trình bày ở trên nhưng trước hết chúng ta cần nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nên giá đất.

    1. Đặc điểm vật lý của đất.

    Thứ nhất, tôi muốn đề cập đến là tính hai mặt của đất đai đó là đặc tính không thể sản sinh và không thể tái tạo. Đất đai bị giới hạn về diện tích và không gian nhưng có tính vô hạn về thời gian sử dụng. Đất đai được tạo ra do quá trình lịch sử lâu dài của tự nhiên nên được coi là không thể sản sinh được tạo nên đặc tính cơ bản nhất của đất đai. Cũng vì thế mà đất đai có tính khan hiếm và trở thành một loại hàng hoá đặc biệt. Đất đai là sản phẩm tự nhiên, có tính cố định không di dời được và có hạn trên phạm vi toàn cầu và trong phạm vi mỗi quốc gia. Chính vị trí đã quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian của đất đai. Đó cũng là một trong những cơ sở để xác định địa tô- tức là lợi ích mảnh đất đó mang lại. Vị trí đất đai cũng có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng đất. Vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử dụng đất. Chẳng hạn như các đô thị gần các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị, gần các đầu mối giao thông thì được khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả hơn so với vùng nông thôn hay những vùng xa xôi, điều kiện giao lưu kinh tế, đi lại khó khăn và do đó giá trị và giá trị sử dụng lớn hơn. Đất đai không thể sản sinh tuy nhiên nó có khả năng tái tạo. Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính là khả năng phục hồi và tái

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    16

    Đề án môn học

    tạo độ phì thông qua tự nhiên hay do hoạt động của con người. Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước…cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Lợi dụng khả năng tái tạo của đất mà trong lịch sử con người đã có những hình thức canh tác như: chế độ bỏ hoang, chế độ bỏ hoá, chế độ luân phiên cây trồng. Ngày nay con người cải tạo, bồi dưỡng đất bằng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ và tái sử dụng đất đai. Tính hai mặt của đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình sử dụng đất. Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất. Mặt khác phải chú ý ứng dụng khoa học công nghệ để tăng khả năng phục hồi và tái tạo của đất.

    Các đặc tính vật lý khác nhau làm phân biệt đất đai với các tư liệu sản xuất khác như: đất không di chuyển, đất không thuần nhất ( chỉ tính riêng về mặt địa điểm), đất không bị phá huỷ ( không tính đến đầu tư và tài sản trên đất đó). Vì vậy nó có đặc thù riêng về mặt giá trị như sau:

    -Đất đai cố định về mặt số lượng cung cấp…Một yếu tố quan trọng cần biết là trong khi đất đai coi như không đổi về tổng cung thì đất đai cho một chức năng sử dụng xác định lại biến thiên… có nghĩa là sự cung cấp không hoàn toàn bất biến. Ví dụ, Nhà nước khuyến khích xây dựng nhà ở chung cư, nhà cao tầng sẽ giảm bớt sức ép về đất ở cũng sẽ làm thay đổi giá đất ở.

    • Giá trị của đất phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường. Cung đất có thể coi là ổn định, việc sử dụng đất được định hướng bởi nhu cầu của thị trường. Nhu cầu sử dụng loại đất nào tăng lên thì thị trường đáp ứng loại đất tại đó. Ví dụ đất ở tại đô thị khác đất ở tại nông thôn và phụ thuộc vào mức độ phát triển của khu dân cư theo quy hoạch. Điều này thể hiện rất rõ trong khung giá của Nhà nước.

    Bảng: Khung giá đất ở tại nông thôn (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)

    Loại đô   Xó đồng bằng Xó trung du Xó miền nỳi
    thị  
                 
    Mức giỏ   Giá tối thiểu 3,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 2,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 0,5; Giá tối đa
      90,0   850,0     24,0
               
          Bảng: Khung giá đất ở tại đô thị (Đơn vị tính: nghỡn đồng/m2)
                     
    Loại đô   Đặc biệt   I     II
    thị        
                 
    Mức giỏ Giá tối thiểu 1.500,0; Giá tối đa   Giá tối thiểu 400,0; Giá tối đa     Giá tối thiểu 150,0; Giá tối đa
        67.500,0   42.500,0     30.000,0
                     
                     
    Loại đô     III   IV   V
    thị        
                   
                     
    Nguyễn Tiến Dũng       Lớp Địa chính K44

     

    17

            Đề án môn học  
               
      Mức giỏ Giỏ tối thiểu 120,0; Giỏ tối đa Giá tối thiểu 50,0; Giá tối đa Giá tối thiểu 30,0; Giá tối đa  
      19.500,0 13.350,0 6.700,0  
         

    Nhìn vào bảng trên ta thấy ở xã đồng bằng giá cao nhất là 90000đồng/m2 còn đất ở tại đô thị mức cao nhất là 67.5 triệu đồng/ m2. Đó là sự so sánh rất khập khiễng nhưng để thấy rằng sự phát triển ảnh hưởng như thế nào đến giá đất đai.

    Ngoài ra, các tính chất vật lý khác của đất đai như: vị trí, độ phì nhiêu, độ ẩm, tính bền vững… của đất cũng góp phần hình thành giá đất. Chẳng hạn những loại đất có độ phì cao, độ ẩm, độ xốp lớn thì sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp là rất tốt nên trong loại đất nông nghiệp giá đất đó phải cao hơn những loại đất có điều kiện kém hơn. Đối với đất nông nghiệp giá sẽ chủ yếu phụ thuộc vào chất đất (độ phì của đất) vì đó là yếu tố quan trọng nhất đối với cây trồng.

    Những yếu tố vật lý có tác động không nhỏ đến giá đất: Nếu một mảnh đất ở ở trên nền một đất ao do mới vượt lên chắc chắn sẽ không bền vững bằng một mảnh đất trên nền đất đồi và giá cua hai mảnh đất đó sẽ khác nhau dù các yếu tố khác tương tự. Đối với đất ở đô thị, giá đất phụ thuộc chủ yếu vào vị trí mảnh đất, độ bền vững của đất.

    2. Nhân tố về khả năng đầu tư cơ sở hạ tầng.

    Cơ sở hạ tầng gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật ( đường giao thông. hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống thông tin liên lạc…) và cơ sở hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí…). Mật độ phát triển của kết cấu hạ tầng có tác động rất lớn đến giá đất. Kết cấu hạ tầng có tính đặc trưng khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Có thể thấy cơ sở hạ tầng ở đô thị có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá đất hơn so với cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng có thể làm thay đổi công dụng và giá trị của đất đai hiện có. Việc phát triển kết cấu hạ tầng được thể hiện thông qua sự phát triển của hệ thống đường giao thông đồng bộ, hệ thống dịch vụ cấp thoát nước, hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng, hệ thống dịch vụ thông tin liên lạc, hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống an toàn lao động…Việc giá đất tăng ở những khu vực có đầu tư kết cấu hạ tầng tốt chủ yếu là do tâm lý của người sử dụng đất. Khi đi mua nhà, đất bất kỳ ai cũng chú ý đến hệ thống cơ sở hạ tầng: đường giao thông ở đó được hoàn chỉnh đến mức nào? hệ thống dịch vụ cấp thoát nước được xây dựng ra sao? hệ thống dịch vụ điện sinh hoạt và chiếu sáng được lắp đặt với quy mô gì? hệ thống thông tin liên lạc đang

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    18

    Đề án môn học

    được trang bị hiện đại đến khả năng nào?… Đó sẽ là các nhân tố tác động trực tiếp đến nhiều giá trị sử dụng của vị trí đất đai của khu vực đó.

    Nhờ có sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng mà điều kiện tiếp cận của đất đai trở nên dễ dàng hơn, nó có thể đáp ứng và thoả mãn được những yêu cầu khác nhau của người sử dụng đất.

    Nhờ đó mà đất đai có thể tham gia vào thị trường bất động sản một cách dễ dàng hơn. Một khu đất không có kết cấu hạ tầng thì nhu cầu sử dụng đất đó không cao nên giá đất ở khu vực đó thấp là điều dễ hiểu. Ngược lại, cũng khu vực đó nếu được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, khả năng tiếp cận dễ dàng thuận tiện thì đó là nguồn cung rất có ý nghĩa đối với thị trường bất động sản, nhu cầu sử dụng đất khu vực đó chắc chắn tăng lên lập tức kéo giá đất khu vực đó tăng cao. Một ví dụ về sự thay đổi giá đất sau khi có đầu tư cơ sở hạ tầng là: Tại Khu 19 phường Bình Hàn, Thành phố Hải Dương khi chưa có con đường Chợ Mát thì giá đất ở đó là 1.5 triệu đồng/m2, nhưng từ khi UBND tỉnh đầu tư mở rộng đường Chợ Mát và đường vành đai thành phố thì giá tăng lên 5 triệu đồng/m2. Hay như dự án quốc lộ 10 qua các tỉnh Hải phòng, Hải Dương, Thái Bình làm cho giá đất hai bên đường tăng lên từ 7 đến 9 lần. Qua những ví dụ trên ta thấy rằng việc đầu tư cơ sở hạ tầng có tác động to lớn đến giá đất.

    3.Nhân tố về khả năng phân loại đô thị theo quy mô và vị trí địa lý.

    Trong mỗi loại đô thị, được chia làm 04 loại đường phố, bao gồm:

    • Đường phố loại 1
    • Đường phố loại 2
    • Đường phố loại 3
    • Đường phố loại 4

    Mỗi loại đường phố được thể hiện tính đặc trưng và khả năng đáp ứng cao nhất đối với các yêu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán, sinh hoạt, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Như vậy, khả năng phân loại đô thị theo quy mô trước hết là dựa vào quy mô của đô thị đó. Quy mô của đô thị không chỉ là quy mô về diện tích mà còn phải xem xét đô thị đó phát triển đến mức nào. Tại mỗi loại đô thị giá trị thực tế của đất ở sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mỗi loại đường phố trong mỗi loại đô thị đó. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta xác định được một cách cụ thể về giá đất cho từng khu vực trong đô thị. Giá trị thực tế của đất ở tại đường phố loại 1 đương nhiên phải cao hơn tại đường phố loại 2 ít nhất là một bậc, và cách xác định giá trị

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    19

    Đề án môn học

    thực tế của đất ở tại các loại đường phố còn lại cũng tương tự như vậy. Đó cũng là sự phân chia hợp lý và công bằng.

    Trong mỗi loại đường phố đã được phân loại chính xác, vị trí đất cũng góp phần quyết định giá trị thực tế của đất ở. Chẳng hạn cùng đường phố loại 1 như nhau, nếu diện tích đất ở nằm tại vị trí mặt đường phố sẽ có giá trị thực tế cao hơn khi nó

    • vị trí xa mặt đường phố hoặc ở trong ngõ, trong hẻm ví dụ tại Quận Thanh Xuân

    đường Trường Chinh, đoạn đường từ Ngã Tư Sở đến ngã ba Tôn Thất Tùng: Vị trí 1: 23 triệu đồng/m2

    Vị trí 2: 13.3 triệu đồng/m2

    Vị trí 3: 11.2 triệu đồng/m2

    Vị trí 4: 10 triệu đồng/m2

    Mặt khác, diện tích đất ở đặt tại đầu phố gần trung tâm buôn bán, khu vui chơi giải trí…sẽ có giá trị thực tế cao hơn hẳn so với ở vị trí cuối phố xa các trung tâm trên (cùng đặt tại mặt đường phố). Ngược lại, nếu tại vị trí đặt diện tích đất ở tại các khu sản xuất và thải các chất độc hại thì giá trị thực tế của diện tích đất đó sẽ giảm mạnh so với diện tích đất đặt ở xa khu vực đó (cùng đặt tại mặt đường phố). Các diện tích đất ở tại các vị trí khác trên cùng một đường phố của cùng một loại đô thị và khác nhau về các điều kiện như trên thì sẽ có sự thay đổi giá trị thực tế của đất ở cũng tương tự. Cơ sở khoa học này sẽ giúp chúng ta khắc phục được tình trạng thiếu căn cứ trong quá trình xác định giá trị thực tế của đất một cách cụ thể cho từng diện tích đất trong từng loại đường phố của cùng một loại đô thị.

    Nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền tại các địa phương là xác định một cách cụ thể và chính xác thứ tự các loại đường phố. Có như vậy khi xác định giá đất cho cùng loại đường phố trong từng đô thị mới phản ánh đúng giá trị thực tế của đất ở tại đó.

    Sự phân loại đô thị theo quy mô sẽ tạo nên khả năng thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị. Giá trị sử dụng của đất cũng biến đổi theo quy mô phát triển của đô thị đặc biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với đô thị nếu đô thị nào phát triển, giao thông thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng lớn thì chắc chắn giá đất ở đô thị đó cũng cao lên. Ngày nay xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ nên việc mở rộng các đô thị và sự “ bành trướng” của đô thị ra vùng lân cận cũng làm thay đổi giá đất đai đặc biệt giá đất các vùng lân cận sẽ tăng lên.

    4. Quá trình đô thị hoá.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    20

    Đề án môn học

    Đô thị hoá là quá trình tất yếu trên con đường phát triển của các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ và đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết: dân số đô thị tăng nhanh, vấn đề an ninh xã hội, vấn đề môi trường, việc làm…Hiện nay, vấn đề đất đô thị và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến giá cả đất đai đang là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu lý luận.

    Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị tạo ra sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá đất nước, làm biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành thị. Đó là một quá trình diễn ra một cách khách quan gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, nó còn gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của ngành nghề mới. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, truyền thống văn hoá và phương pháp tổ chức đời sống xã hội. Như vậy đô thị hoá về hình thức là quá trình mở rộng diện tích và ưuy mô của đô thị trên cơ sở sát nhập các điểm dân cư nông thôn hoặc sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị. Đất đô thị là phần diện tích đất giới hạn được sử dụng để xây dựng các công trình đô thị như nhà ở, trụ sở các cơ quan hành chính, kinh tế, tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở sản xuất xã hội, kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như: đường giao thông, mạng lưới chiếu sáng, lưới điện sinh hoạt, điện sản xuất, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp cấp thoat nước…phục vụ các nhu cầu lợi ích, công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác. Phần diện tích đất có giới hạn đó theo các quy mô khác nhau kết hợp với một số yếu tố cơ cấu dân số và cơ cấu kinh tế được Nhà nước quy định phân loại thành đô thị loại I đến loại V. Quá trình đô thị hoá đặt ra nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng lên trong khi khả năng cung về diện tích đất đô thị là hữu hạn. Chính vì vậy việc khai thác sử dụng đất đô thị cho hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao là yêu cầu rất quan trọng. Để giải quyết vấn đề này thực chất là đi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước( lợi ích của cộng đồng) và lợi ích của cá nhân; giữa mục tiêu quản lý và mục đích sử dụng. Xét về khía cạnh kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất dùng để xây dựng và phát triể đô thị, đó là loại đất có giá trị lớn và có sức sản xuất cao, có giá trị sử

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    21

    Đề án môn học

    dụng lớn. Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị có liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội. Nếu tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai nằm trong tay của một bộ phận giai cấp thống trị xã hội nắm quyền phân phối sản phẩm xã hội, thì đất đô thị là hàng hoá đặc biệt mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho chủ sở hữu là giai cấp thống trị. Còn nếu đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thì lợi ích do đất đai mang lại sẽ phục vụ cho lợi ích cộng đồng mà đại diện là Nhà nước, đối tượng được hưởng là nhân dân. Từ năm 1975 đến nay, đất nước thống nhất, việc đầu tư cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng vốn ngân sách. Chính nhờ có sự đầu tư này mà đất đô thị ngày càng có giá trị hơn. Giá đất đô thị cao hơn giá đất nông thôn, miền núi là vì đất đai có những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào. Chẳng hạn: đất đai là nguồn tài nguyên có những hạn chế về số lượng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong không gian và không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Ông cha ta từng nói: “ Tấc đất tấc vàng”- câu nói này đặc biệt đúng với đất đô thị, càng đúng hơn khi tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.

    Khi nói về đất đô thị, Mác cho rằng: “Thật ra, người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ với sự phân tán của thủ công nghiệp và chính đại công nghiệp đã làm như vậy”, và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “ việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai”. Cũng giống như diện tích đất được sử dụng vào đất nông nghiệp, đất được sử dụng vào mục đích xây dựng đô thị có những ưu thế mà những công cụ sản xuất khác (như máy móc chẳng hạn) không có

    • “ưu thế của đất là những khoản đầu tư liên tiếp có thể đem lại lợi nhuận mà không làm thiệt hại đến những khoản đầu tư trước, ưu thế đó cũng đồng thời bao hàm cả khả năng có những sự chênh lệch trong sản phẩm của những khoản đầu tư liên tiếp ấy”. Đó cũng chính là khoản địa tô mà đất đô thị đem lại cho chủ đất. Vì thế, quá trình đô thị hoá diễn ra càng mạnh mẽ thì giá đất ở khu vực đô thị hoá tăng cao là điều tất yếu. Từ thực tế ta thấy rõ điều này, đô thị hoá đến đâu đất ở đó tăng giá đến đó.
      • nước ta, Hiến pháp và Luật đất đai đã khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Với việc quy định cụ thể trong những đạo luật cơ bản nhất về quyền sở hữu tối cao đối với đất đai thuộc về nhân dân, việc khai

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    22

    Đề án môn học

    thác, sử dụng nguồn lực đất đai phục vụ cho yêu cầu phát triển đất nước sẽ thuận lợi hơn rất nhiều, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai cũng tham gia vào thị trường với tính chất là một hàng hoá đặc biệt ( Tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được).

    Hiện nay, một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và phát triển đô thị ở nước ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị, đó là công việc liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Chính phủ đã có Nghị định số 87/NĐ/CP ngày 17/8/1994 mới nhất là Nghị định 188/NĐ/CP quy định khung giá các loại đất; các tỉnh, thành phố đã có quyết định về giá các loại đất trên từng địa bàn cụ thể. Tuy nhiên khung giá đó không hoàn toàn hợp lý khiến người dân không đồng tình dẫn đến tình trạng khiếu kiện liên miên. Đó là một trong những khó khăn về giá mà Nhà nước ta cần phải giải quyết.

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy rằng quá trình đô thị hoá có ảnh hưởng rất lớn tới giá đất mà xu hướng là giá đất sẽ tăng lên. Đó là xu thế tất yếu của các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam.

    5. Yếu tố cạnh tranh.

    Để tìm hiểu sự ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh đến giá đất trước tiên cần nghiên cứu về mối quan hệ cung cầu để thấy được mức giá cần xác định. Khi phân tích quan hệ cung và cầu ta thường coi cung và cầu là hàm số của giá. Cung, cầu có thể cân bằng ở bất cứ điểm nào, khi đó chúng ta sẽ có giá cân bằng. Nếu các yếu tố khác không đổi, một sự tăng lên của cầu hay giảm xuống của cung sẽ làm giá tăng lên và ngược lại sự giảm xuống của cầu hoặc tăng thêm của cung sẽ làm giá giảm xuống. Do đó trong thị trường cạnh tranh giá cả điều tiết lượng cung và cầu. Đó là quy luật chung của các loại hàng hoá thông thường nhưng đất đai lại có những điểm khác biệt. Cầu về đất đai ngày càng tăng nhưng cung về đất đai lại gần như không đổi do tính giới hạn về không gian của đất đai nên giá khó dịch chuyển về điểm cân bằng. Đối với đất đai, khi cầu giảm thì giá đất cũng sẽ không giảm mà thường “chững lại”.

    Ảnh hưởng đến giá đất gồm có các yếu tố cạnh tranh về cầu, cung và trong nội bộ cung, cầu. Cầu về đất đai nói chung luôn luôn tăng vì vậy giá đất nói chung cũng tăng lên. Chẳng hạn cầu về đất xây dựng biệt thự, đất phân lô tăng như thời gian vừa qua do thu nhập của người dân tăng lên và tâm lý người tiêu dùng muốn có một căn nhà riêng sẽ làm cho giá của loại đất này tăng lên ( chủ yếu là qua đấu

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    23

    Đề án môn học

    giá) trong khi cung về loại đất này có tăng nhưng chậm, không đáp ứng nổi cầu. Hiện nay giá của loại đất này rất cao, mới đây ở Huyện Đông Anh ( Hà Nội) đấu giá lô đất mà giá cao nhất lên tới 86 triệu đồng/ m2.

    Đối với cung đất đai: về tổng cung có thể coi là không đổi nhưng trong nội bộ cung đất đai vẫn có sự chuyển đổi như: chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp sẽ làm cung đất phi nông nghiệp tăng, thu hồi đất cho phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp thì cung đất khu công nghiệp tăng…Nguồn cung đất cũng có thể tăng lên do khai hoang, phục hoá. Chúng ta có thể thấy rằng hiện nay cung đất xây nhà chung cư có xu hướng tăng lên. theo quy luật cung cầu, khi cung tăng lên thì giá giảm đi nhưng điều đó không hoàn toàn đúng với hàng hoá đặc biệt là đất đai. Mặc dù cung về đất xây nhà chung cư tăng nhưng thực tế giá không hề giảm mà giá đất sẽ chững lại hoặc có giảm nhưng không đáng kể. Việc giá đất chững lại chính là biểu hiện thị trường “đóng băng” như thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay. Một biểu hiện nữa của sự cạnh tranh về cung là: hai nguồn cung khác nhau về đất ở, khu vực nào có cơ sở hạ tầng tốt hơn, môi trường trong sạch hơn chắc chắn giá đất ở đó sẽ cao hơn. Vì thế diễn ra sự cạnh tranh trong nội bộ cung một loại đất, ai đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Yếu tố cạnh tranh thực chất chính là quan hệ cung cầu. Đối với các loại hàng hoá thông thường sẽ tuân theo đúng quy luật đó nhưng đất đai thì không, giá cả của nó có phản ứng với sự thay đổi cung, cầu, tính cạnh tranh theo một cách khá đặc biệt. Trong điều kiện thị trường phát triển bình thường, sự thay đổi về cung hay cầu không làm giá đất biến động mạnh, nó sẽ giữ nguyên.Cung cầu về đất sẽ có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến giá khi thị trường có sự tăng đột biến về cung hay cầu nhưng chủ yếu là cầu tạo nên những cơn “sốt giá’ như ở nước ta những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX.

    6. Chính sách tiền tệ.

    Giá cả đất đai là biểu hiện bằng tiền của giá trị của đất đai, là số tiền thoả thuận giữa người mua và người bán tại một thời điểm xác định. Ở các thời điểm khác nhau giá cả đất đai cũng thay đổi theo chiều hướng khác nhau tăng hay giảm. Mặt khác, đất đai có giá trị rất lớn, đối với một quốc gia nó chiếm khoảng 3/4 tổng tài sản của quốc gia còn đối với một cá nhân, gia đình đất đai là tài sản quan trọng nhất. Vì thế, những biến động về tiền tệ, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng rất lớn đến giá đất. Giá đất phụ thuộc vào sự ổn định của đồng tiền, nếu sức mua của đồng

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    24

    Đề án môn học

    tiền tăng giá đất giảm, ngược lại nếu sức mua của đồng tiền giảm giá đất tăng. Khi sức mua của đồng tiền tăng tức là cùng một lượng tiền mua được một lượng hàng hoá lớn hơn, trong xu hướng giá đồng tiền đang tăng các giao dịch liên quan đến đất đai sẽ “chững” lại vì người có ý định bán sẽ có tâm lý “ chờ” giá vì người ta cho rằng giá còn tiếp tục tăng

    Giá vàng lên xuống thất thường đang khiến các giao dịch nhà đất chững lại

    giữa tháng 5 /2004 giá vàng tăng thêm 70.000 đồng/lượng để ở mức 7,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 7,49 triệu đồng/lượng (bán ra). Nếu so với mức thấp nhất từ đầu năm (7,39 triệu đồng/lượng ngày 10-5-2004) thì gía vàng tăng 100.000 đồng/lượng; cũng với mức cao nhất (8,01 triệu đồng/lượng ngày 1-1-2004) giảm đến 520.000 đồng/lượng. Giá vàng tăng giảm thất thường, diễn biến chậm với khoảng cách chênh lệch lớn càng khiến tình hình khó dự báo. Do vậy, trên thị trường nhà đất, các giao dịch về đất đai vào thế “co cụm” . Cả người mua, người bán đều không muốn mạo hiểm với tài sản của mình.

    Thật ra thị trường nhà đất không chỉ bị tác động bởi giá vàng mà còn nhiều yếu tố khác liên quan như quy hoạch, khung giá đất, thuế, vật tư xây dựng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ….Tuy nhiên việc định gía nhà đất bằng vàng đã trở thành

    “truyền thống” từ bao đời nay nên giá vàng vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nhà đất. Giá tăng, cả bên mua, bên bán đều dừng lại để chờ giá tiếp tục tăng. Giám đốc một trung tâm giao dịch nhà đất cho biết, giá vàng ổn định, trong một tuần có thể mua bán 4 – 5 căn nhà (khoảng hơn 300 cây/căn) là chuyện bình thường. Còn hiện tại, thử đến các trung tâm sẽ thấy rõ sự thưa thớt. Đơn giản là với mức chênh lệch tăng giảm 100.000 đồng/ lượng người ta có thể mất đi hàng trăm triệu đến cả tỷ đồng với những căn nhà có gía trị lớn, vài trăm đến vài nghìn cây vàng

    7. Yếu tố pháp lý.

    Đất đai là tài sản quý giá của quốc gia, thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vì vậy Nhà nước nắm quyền quản lý tuyệt đối với đất đai trong phạm vi toàn lãnh thổ. Nhà nước phải đảm bảo sử dụng đất theo nguyên tắc: đầy đủ, tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó Nhà nước cần quản lý chặt chẽ quỹ đất của mình thông qua các chính sách pháp luật. Bởi thế nên đất đai rất “nhạy cảm” với sự thay đổi của các yếu tố pháp lý. Đất đai là đối tượng trực tiếp điều chỉnh của các văn bản pháp quy liên quan đến đất đai: Hiến

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    25

    Đề án môn học

    pháp, Luật đất đai, các Nghị định, quyết định, Thông tư… Nhà nước ta có các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai nhưng Nhà nước không trưc tiếp sử dụng đất đai mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng dưới các hình thức: giao đất, cho thuê đất… Họ được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng đó bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đó ta thấy đất đai có mối quan hệ không thể tách rời. Đó cũng chính là lý do để nói rằng yếu tố pháp lý có ảnh hưởng đến giá đất. Ta sẽ thấy rõ điều đó qua các ví dụ sau:

    Mỗi thửa đất được sử dụng hợp pháp đều được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- đó là giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sử dụng hợp pháp thửa đất đó. Vì vậy nó vô cùng quan trọng đối với người sử dụng đất. Nếu hai thửa đất tương tự nhau nhưng một thửa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn một thửa chưa có thì điều chắc chắn thửa đất chưa có giấy chứng nhận sẽ có giá thấp hơn rất nhiều vì nếu mua mảnh đất đó quyền sử dụng của họ không được đảm bảo.

    Một chính sách nữa của Nhà nước là khuyến khích phát triển mô hình trang trại. Trước đây, khi chưa có chính sách này giá đất trang trại rất rẻ nhưng từ khi Nhà nước khuyến khích mô hình này người ta đã đổ xô đi mua đất trang trại khiến cho giá loại đất này tăng lên rất nhanh. Vì thế ta có thể khẳng định chính sách của Nhà nước đã có tác động tới giá cả đất đai.

    Một ví dụ tiếp theo sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của chính sách pháp luật liên quan tới giá đất. Xuất phát từ quá trình đô thị hoá, từ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội mà các loại đô thị cũng tăng lên: ở nông thôn xuất hiện nhiều thị trấn, thị xã; ở thành thị sẽ chuyển xã thành phường, quận thành huyện. Việc Nhà nước quyết định thành lập mộ thị trấn, một thị xã, một phường, một quận hay một thành phố đều có ảnh hưởng rất mạnh tới giá đất các khu vực đó. Chẳng hạn khi Nhà nước quyết định thành lập quận Hoàng Mai, quận Long Biên (Hà Nội) đã làm chuyển biến đáng kể đời sống xã hội những khu vực đó, nhiều làng lên phố và nhiều nông dân đã trở thành tỷ phú. Đó không còn là điều lạ lẫm ở Việt Nam vì khi nông thôn đã trở thành đô thị giá đất ở đó sẽ tăng lên “chóng mặt”, có thể nói là tăng từng ngày. Vì thế không có lý do gì để nói rằng việc quyết định của Nhà nước không ảnh hưởng tới giá đát.

    Trên đây là một vài minh chứng để chúng ta thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý hay nói rõ hơn là chủ trương, chính sách của Nhà nước có tác động không nhỏ tới giá đất. Vì vậy khi xác định giá đất cần đặc biệt chú ý đến tính pháp lý của thửa đất đó và các chính sách của Nhà nước tại thời điểm đó.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    26

    Đề án môn học

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    27

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Qua việc nghiên cứu trên, chúng ta càng có thể khẳng định được vai trò to lớn của đất đai trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.. Đất đai tham gia vào mọi hoạt động đời sống kinh tế, xã hội, không có đất đai thì không có bất kỳ một hoạt động sản xuất nào có thể diễn ra được. Đất đai không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và khai thác mà còn đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Tuy nhiên do diện tích đất đai bị giới hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất đai lại tăng lên. Chính vì vậy giá đất lại có xu hướng ngày càng tăng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đi đôi với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thì quá trình đô thị hoá ngày càng được mở rộng và tác động mạnh mẽ đến giá đất. Xã hội ngày càng phát triển làm nảy sinh nhiều mối quan hệ về đất đai do đó nhu cầu xác định giá đất cũng ngày càng tăng. Để xác định giá đất một cách chính xác cần phải sử dụng các phương pháp xác định giá đất như phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp đầu tư, phương pháp thu nhập… Tuy nhiên khi xác định giá đất còn phải dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất. Các nhân tố đó có tác động rất lớn đến giá đất, có nhân tố đã làm thay đổi hẳn giá trị của mảnh đất như nhân tố chính sách pháp luật hay quá trình đô thị hoá. Tôi hy vọng rằng với việc nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về các nhân tố ảnh hưởng đến giá đất sẽ là cơ sở quan trọng để các nhà định giá xác định giá đất chính xác, hợp lý hơn.

    Hiện nay có nhiều quan điểm về giá đất nhưng tóm lại giá đất về bản chất phản ánh nguồn lợi ích mang lại từ mảnh đất đó, nó được đo lường bằng giá trị mảnh đất đó tại một thời điểm nhất định. Nhà nước đã ban hành nhiều khung giá đất: Nghị định 80/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/1993; Nghị định 87/NĐ-CP ban hành ngày 17/8/1994; Nghị định 17/1998/NĐ-CP và Nghị định 188/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16/11/2004. Lấy khung giá các loại đất của Chính phủ làm cơ sở, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có quy định bảng giá về các loại đất cho phù hợp với địa phương mình. Song nhìn chung sự điều chỉnh giá đất của Nhà nước chưa theo kịp với giá đất thực tế, nó thường thấp hơn giá đất thực tế có nơi từ 8-10 lần. Sự chênh lệch đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn, tình trạng khiếu kiện vượt cấp kéo dài. Để khắc phục tình trạng này cần phải hoàn thiện pháp luật về giá đất, trước mắt

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    28

    Đề án môn học

    cần tập trung vào hoàn chỉnh các nội dung cơ bản sau: Về cơ chế quản lý giá (phải thừa nhận tính dịch vụ của hoạt động giá); về hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về giá ( chuyên trách, độc lập, đa mục đích, vừa quản lý hành chính vừa hoạt động dịch vụ); về phương pháp, nguyên tắc xác định giá; về đào tạo nhân sự cho hoạt động định giá và thẩm định giá; về hoàn thiện cơ sở pháp lý cho từng đơn vị bất động sản như tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tập trung đất đai, gắn liền bất động sản thành một khối ( như nhà- đất- tài sản gắn liền trên đất); thực hiện trước một bước công tác đăng ký quyền sử dụng đất ( đăng ký ban đầu và đăng ký biến động), thống nhất đăng ký quyền sở hữu nhà ở, đất ở, thống nhất một hệ thống cơ quan đăng ký tài sản theo tính kinh tế, dịch vụ là chủ yếu, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế chung đặc biệt là để phát triển thị trường bất động sản.

    Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Thị Thảo đẫ tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.

    Nguyễn Tiến Dũng                                                                                                           Lớp Địa chính K44

     

    29

    Đề án môn học

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý thị trường bất động sản. Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất.
    1. Tạp chí địa chính
    1. Tạp chí Bất động sản
    1. Đặc san tạp chí Luật học 2003
    1. Nghị định 87, 188 Thông tư 114
    2. Các trang Web: na.gov.vn www.mof.gov.vn www.vnexpress.com www.hn.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Những lời khuyên đầu tư bất động sản thành công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-v%C3%A0-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-s%C3%A0n-giao-d%E1%BB%8Bch-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    CHUYÊN ĐỀ 1

    TỔ CHỨC QUẢN LÝ SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

    1.     Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản

    Thực ra khái niệm về sàn giao d ịch bất động sản mới được thừa nhận qua Luật kinh doanh bất động sản nă m 2006. Để hiểu được ý nghĩa, mục đích và vai trò của sàn giao dịch bất động, nhà nước đang xây dựng mô hình sàn giao dị ch chuẩn để từ đó đưa các ho ạt động giao dịch vào sàn nhằm mục đích phát triển và lành mạnh hoá thị trường bất động sản.

    Vậy có thể hiểu “Sàn giao dịch bất động s ản là nơi diễn ra các giao dịch bất động sản và cung cấp dịch vụ về bất động sản” Còn các tiêu chí hoạt động của sàn, qui chế của sàn, trách nhiệm và quyền hạn của sàn như thế nào thì theo qui định của nhà nước.

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.

    Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản thực hiện giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản để bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi của các bên. (Điều 59 Luật KDBĐS).

    1.1 Tại sao cần sàn giao dịch BĐS.

    • Đáp ứng những nhu cầu ngày càng phức tạp trong các hoạt động giao dịch BĐS của thị trường.
    • Thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, khó tính của khách hàng, nhà đầu tư.
    • Khẳng định đẳng cấp, thương hiệu của chủ đẩu tư, đơn vị phân phối, tiếp thị dự án BĐS.
    • Minh bạch hoá thị trường BĐS.
    • Thống kê, báo cáo, tham mưu cho ban lãnh đạo doanh nghiệp các diễn biến của thị trường nhằm đưa ra các chiến lược và chính sách đầu tư phù hợp.
    • Sân chơi chung cho các lĩnh vực tài chính pháp lý, bảo hiểm tham gia thị trường BĐS.
      1  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nơi cung cấp Thông tin, tiếp thị, quảng bá các dự án, sản phẩm BĐS tập trung, hiệu quả.
    • Nơi cung cấp các dịch vụ để thuê chỗ giao dịch.

    1.2 Công cụ của sàn giao dịch BĐS.

    • Sàn giao dịch truyền thống
    • Hệ thống các giao diện bán hàng tại trụ sở, các văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện và văn phòng bán hàng tại dự án.
    • Các đối tượng tham gia giao dịch trực tiếp.
    • Sàn giao dịch điện tử.
    • Cung cấp thông tin sản phẩm, thị trường BĐS qua các phương tiện điện tử, internet, các thiết bị số tích hợp internet.
    • Sàn giao dịch này chỉ mang ý nghĩa trao đổi thông tin, mọi giao dịch cuối đều phải thông qua sàn giao dịch truyền thống.

    1.3 Cơ hội gì từ hoạt động sàn giao dịch BĐS.

    • Đối với đầu tư.
    • Cơ hội tiếp cận nguồn sản phẩm đầu tư đa dạng, phong phú
    • Cơ hội tiếp cận các chuyên viên tư vấn đông đảo, lành nghề, am hiểu thị trường, phục vụ chu đáo, tận tình chuyên nghiệp.
    • Cơ hội các dịch vụ đầu tư thuận lợi: Dịch vụ tài chính, dịch vụ pháp lý, thiết kế xây dựng.
    • Cơ hội mở rộng quan hệ đầu tư thông qua các hoạt động của sàn giao dịch.
    • Tạo ra bộ mặt chuyên nghiệp trước khách hàng, các nhà đầu tư.
    • Giới thiệu tư vấn sản phẩm tập trung phong phú cho khách hàng.
    • Sức mạnh tổng hợp từ các bộ phận hỗ trợ kinh doanh phục vụ cho các hoạt động giao dịch tại sàn giao dịch.
    • Đối với quảng cáo
    • Cơ hội tiếp cận nguồn thông tin khách hàng, nhà đầu tư đa dạng, phong phú, cập nhật.
      2  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xây dựng các chương trình bán hàng tập trung, hiệu quả.
    • Cộng hưởng các dự án tại sàn cho việc quảng cáo, tiếp thị các dự án mới.
    • Cơ hội triển khai các công cụ quảng cáo, tiếp thị hiện đại tại sàn: Film, video, internet…

    2.                 Vai trò của sàn giao dịch bất động sản trong thị trường bất động sản

    • Tất cả các giao dịch bất động sản qua sàn sẽ giúp cho nhà nước quản lý được các giao dịch bất động sản từ đó nhà nước có những chính sách kịp thời và chính xác để điều tiết thị trường.
    • Nhà nước hạn chế tối đa thất thu thuế do việc chuyển nhượng, mua bán ngầm bên ngoài.
    • Giảm đáng kể số lượng bất động sản và tần suất bất động sản tham gia giao dịch từ đó giá cả sẽ bình ổn hơn. Vì khi một bất động sản được giao dịch nhiều lần sẽ đẩy giá lên rất cao, người có tiền đầu tư nhiều sản phẩm nay sẽ hạn chế rất nhiều do giá cả bình ổn, họ thấy không có lời và sẽ không đầu tư trục lợi.
    • Giảm đáng kể số lượng người tham gia đầu tư với mục đích kiếm lợi làm khan hiếm thị trường tạo cơn sốt. Cơn sốt bất động sản làm cho mọi người dân phải tìm mọi cách để đầu tư kiếm lợi và làm cho thị trường càng sốt hơn, giá cả ngất ngưỡng. Một khi giao dịch được qua sàn người đầu tư chịu một khoản thuế chênh lệch giữa giá bán và giá mua lên tới 25%, phải chi phí khoản hoa hồng, chi phí chuyển nhượng, lãi xuất vay vv… và từ đó họ cảm thấy không có hiệu quả so với số vốn bỏ ra chưa kể rủi ro nên sẽ hạn chế tham gia và giá cả sẽ bình ổn với giá trị thực của thị trường.
    • Một khi giao dịch được qua sàn giá cả được công khai, nhiều loại sản phẩm được giới thiệu, thông tin đầy đủ sẽ tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên giao dịch từ đó làm lành mạnh hoá thị trường bất động sản.
    • Về vĩ mô sàn giao dịch bất động sản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển hoạt động bất động sản nói riêng. Vì nếu giá cả thị trường cao hơn giá trị thật của thị trường dẫn tới mọi người, mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh bất động sản kiếm lời và sao lãng hoạt động kinh doanh của mình làm ảnh hưởng tới phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội. Giá bất động sản cao dẫn tới chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ cao và giá thành tăng cao dẫn đến lạm phát tăng.
      3  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Giá b ất động sản cao làm mất lợi thế cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài giảm do giá bất động sản cao.

    • Vai trò của sàn giao dịch bất động sản cũng góp phần phát triển hoạt động của thị trường bất động sản thông qua việc các hoạt động dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp hơn tạo được giá trị gia tăng cho chủ đầu tư như nghiên cứu thị trường, tư vấn lập dự án, thiết kế sản phẩm, dịch vụ tiếp thị, chăm sóc khách hàng và quản lý bất động sản. Tạo ra nhiều loại hình dịch vụ bất động sản đang bỏ ngỏ chưa đưa vào hoạt động như đấu giá, quảng cáo, dịch vụ pháp lý, ngân hàng, bảo hiểm vv…Tất cả dịch vụ này sẽ đẩy mạnh hoạt động bất động sản tạo giá trị thặng dư cho xã hội và lợi ích cho chủ đầu tư và người đầu tư.

    Như vậy sàn giao dịch bất động sản có những vai trò cơ bản sau:

    • Cầu nối giữa người mua và người bán.
    • Minh bạch thông tin, tạo cơ hội tiếp cận hàng hoá bất động sản như nhau cho mọi người, góp phần lành mạnh thị trường bất động sản.
    • Chuyên nghiệp hoá giao dịch, Tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên tham gia giao dịch.
    • Hoàn thiện cơ cấu của thị trưòng và hỗ trợ thị trường phát triển.
    • Đầu mối nghiên cứu thị trường.
    • Hỗ trợ quản lý và thu ngân sách.

    3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Sàn giao dịch bất động sản

    1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản (BĐS) được thành lập Sàn giao dịch (SGD) BĐS hoặc thuê SGD BĐS của tổ chức, cá nhân khác để thực hiện cho hoạt động kinh doanh BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải là pháp nhân. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập SGD BĐS thì sàn giao dịch đó phải có tư cách
      4  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    pháp nhân hoặc sử dụng tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS để hoạt động.

    1. Hoạt động của SGD BĐS phải công khai, minh bạch, và tuân thủ pháp luật.
    1. Sàn giao dịch BĐS, doanh nghịêp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập sàn giao dịch BĐS phải chịu trách nhiệm về hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải có tên, địa chỉ, biển hiệu và phải thông báo về việc thành lập trên phương tiện thông tin đại chúng; trước khi hoạt động phải thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương.

    4.Điều kiện thành lập sàn giao dịch BĐS

    Theo quy định tại Điều 57 của Luật Kinh doanh bất động sản thì để thành lập sàn giao dịch bất động sản, các tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện:

    4.1. Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Kinh doanh bất động sản;

    • Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    • Có quy chế hoạt động của sàn giao dịch bất động sản;

    4.2. Phải cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch BĐS và có mặt bằng theo qui định tối thiểu của nhà nước về diện tích mặt bằng của sàn giao dịch bất động sản.

    4.3. Người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS phải đáp ứng các điều kiện của người lãnh đạo doanh nghiệp, phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản.

      5  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    4.4. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch. Giám đốc sàn giao dịch bất động sản phải có giấy chứng nhận đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản của đơn vị đào tạo được nhà nước công nhận. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu

    • (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    4.5. Như vậy sàn giao dịch bất động sản đáp ứng các yêu cầu:

    1. Phải là pháp nhân (khác văn phòng môi giới), phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm.
    1. Có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    1. Phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.
    1. Có Quy chế hoạt động với nội dung theo quy định (nêu tại phần
    1. Có nhân sự phù hợp ( 2 chuyên gia môi giới có chứng chỉ, Giám đốc sàn qua đào tạo quản lý sàn)
    1. Báo cáo Sở Xây dựng trước khi hoạt động. Sở XD báo cáo Bộ XD, đưa lên Website Mạng các sàn giao dịch BĐS Việt Nam.

    (không đòi hỏi vốn pháp định, không cấp phép).

    4.6. Hồ sơ báo cáo sở Xây dựng gồm:

    1. Công văn
    1. Đăng ký kinh doanh (có chức năng kinh doanh dịch vụ BĐS)
    1. Quy chế hoạt động.
      6  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Hồ sơ chúng minh cơ sở vật chất phù hợp (50m2 + 20 m2…)
    1. Giấy chứng nhận đã qua đào tạo của Giám đốc sàn và chứng chỉ của 2 chuyên gia môi giới.

    5.Qui chÕ hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    Theo quy định của Thông tư 13/2008/TT-BXD, Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;
    1. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.Mô hình tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    6.1. Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thành lập sàn giao dịch bất động sản thỡ sàn giao dịch đó phải có tư cách pháp nhân riêng hoặc sử dụng tư cách phỏp nhõn của doanh nghiệp đó để hoạt động.

    6.2. Sàn giao dịch bất động sản ngoài việc thực hiện các dịch vụ về giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua và môi giới bất động sản còn được phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ sau:

    6.2.1. Định giá bất động sản;

    6.2.2. Tư vấn bất động sản;

    6.2.3. Quảng cáo bất động sản;

    6.2.4. Đấu giá bất động sản;

      7  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.2.5. Quản lý bất động sản.

    6.3. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch.

    6.4. Người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

    6.5. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    6.6. Sàn giao dịch bất động sản phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.

    6.7. Sàn giao dịch bất động sản phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm (12 tháng). Nếu có sự thay đổi về địa điểm giao dịch phải thông báo tới cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và khách hàng đang giao dịch biết. Trước khi tiến hành hoạt động, sàn giao dịch bất động sản phải gửi hồ sơ bao gồm đăng ký kinh doanh và quy chế hoạt động về Sở Xây dựng địa phương. Sở Xây dựng địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Xây dựng để thống nhất quản lý và đưa lên website của Mạng các sàn giao dịch bất động sản Việt Nam.

    6.8. Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    6.8.1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.2. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.3. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.4. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;

    6.8.5. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.9. Bất động sản khi đưa ra giới thiệu, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 6, Điều 7 Luật Kinh doanh bất động sản và phải kê khai đầy đủ nội dung thông tin về bất động sản theo quy định tại Thông tư 13/2008/TT-BXD.

      8  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.10. Các hoạt động dịch vụ của sàn giao dịch bất động sản phải được thực hiện thông qua hợp đồng.

    6.11. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch bất động sản thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản.

    6.12. Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải có chứng chỉ môi giới bất động sản và phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.

    7. Thông tin về bất động sản

    Nội dung thông tin về hàng hoá bất động sản phải đầy đủ theo các nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 11 Luật kinh doanh bất động sản gồm:

    7.1. Loại Bất động sản

    Phải ghi rõ loại hàng hoá bất động sản cụ thể:

    7.1.1. Đối với nhà ở phải nêu rõ là nhà ở riêng lẻ hay căn hộ chung cư. Nếu là nhà ở riêng lẻ thì nêu rõ là biệt thự, nhà liền kề hay nhà vườn..;

    7.1.2. Đối với bất động sản dịch vụ phải nêu rõ là văn phòng, cửa hàng, siêu thị, chợ, khách sạn, nhà nghỉ hay nhà trọ..;

    7.1.3. Đối với bất động sản công nghiệp phải nêu rõ là hạ tầng khu công nghiệp hay nhà xưởng, nhà máy, kho, bãi..;

    7.1.4. Đối với quyền sử dụng đất phải nêu rõ là loại đất phi nông nghiệp (đất ở, đất KCN, đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh…), loại đất nông nghiệp hay các loại đất khác (nếu có).

    7.2. Vị trí bất động sản

    7.2.1. Đối với bất động sản tại khu vực đô thị đã xác định được địa chỉ cụ thể, phải nêu rõ số nhà, ngách, ngõ (hẻm), đường phố, quận (huyện), thành phố (tỉnh). Đối với nhà chung cư thì nêu cụ thể số phòng, tầng, dãy (lô) chung cư. Đối với khu vực nông thôn nêu rõ địa chỉ của bất động sản theo tên xóm, thôn, xã, huyện, tỉnh;

    7.2.2. Đối với bất động sản chưa xác định được địa chỉ cụ thể (chưa thành lập được đơn vị hành chính) thì nêu tên dự án, ký hiệu lô đất (đối với các lô đất xây dựng nhà ở riêng lẻ hoặc công trình xây dựng khác), ký hiệu từng căn hộ (đối với nhà chung cư).

      9  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.2.3. Sơ đồ vị trí: vẽ vị trí bất động sản, khoảng cánh đến các công trình lân cận và lối đi tới đờng chính. Nếu sử dụng ảnh vệ tinh thì đánh dấu vị trí bất động sản và chỉ dẫn lối đi ra đường chính.

    7.3. Thông tin về quy hoạch có liên quan đến bất động sản

    Tại vị trí bất động sản hay lân cận đã có quy hoạch đựơc duyệt ảnh hưởng đến bất động sản như mở đường, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội, dự án sản xuất kinh doanh…

    7.4. Quy mô, diện tích bất động sản

    7.4.1. Đối với nhà ở: ghi diện tích đất, diện tích xây dựng, số tầng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích ban công, lô gia. Riêng nhà chung c ghi số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.2. Đối với bất động sản khác: ghi diện tích đất, số tầng, số phòng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, diện tích sử dụng chung, công suất (nếu có).

    7.4.3. Đối với hạ tầng khu công nghiệp: ghi diện tích đất, mật độ xây dựng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.4. Bản vẽ tổng mặt bằng, mặt bằng các tầng, mặt cắt công trình. Đối với bất động sản có nhiều hạng mục thì mỗi hạng mục phải có đủ mặt bằng, mặt cắt.

    7.4.5. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu.

    7.5. Thông tin về đặc điểm, tính chất, công năng sử dụng, chất lượng của bất động sản

    7.5.1. Về đặc điểm, tính chất nêu rõ kết cấu công trình, móng, khung, tường, sàn, mái;

    7.5.2. Công năng sử dụng bất động sản thông tin theo thiết kế ban đầu;

    7.5.3. Chất lượng bất động sản nêu cụ thể năm xây dựng, cấp, hạng công

    trình;

    7.5.4. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu (nếu có).

    7.5.5. Thời điểm xây dựng, các sửa chữa lớn đã thực hiện và tình trạng kỹ thuật hiện tại.

      10  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.6. Thực trạng các công trình hạ tầng, các dịch vụ về kỹ thuật và xã hội có liên quan đến bất động sản

    7.6.1. Hạ tầng kỹ thuật về điện, cấp nước, thoát nước, nơi xả rác, nơi để xe, đường giao thông…

    7.6.2. Hạ tầng xã hội ghi các hạ tầng xã hội thiết yếu gần nhất như nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, siêu thị, bến xe, công viên, rạp chiếu phim, nhà hát…

    7.7. Tình trạng pháp lý của bất động sản

    Bao gồm hồ sơ, giấy tờ về quyền sở hữu, quiyền sử dụng và các giấy tờ có liên quan khác đến việc tạo lập bất động sản, lịch sử sở hữu bất động sản..

    7.8. Các hạn chế về quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản

     

    Phần sở hữu chung, phần sở hữu riêng. Phần sử dụng chung, phần sử dụng riêng..

    7.9. Giá bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản Giá có thể ghi theo đơn giá hoặc tổng giá.

    Gía ghi theo loại tiền đồng hoặc vàng hoặc loại tiền khác. Nếu ghi bằng loại tiền khác thì phải mở ngoặc ghi thêm quy đổi ra tiền đồng.

    Có thể ghi thời gian có hiệu lực của giá.

    7.10. Quyền và lợi ích của người thứ ba có liên quan

    Về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền hưởng lợi ích, tình trạng đang cho thuê, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ…(nếu có).

    7.11. Các thông tin khác

    Thông tin khác về bất động sản do các bên thoả thuận hoặc do chuyên gia khảo sát thu thập thông tin thực tế ghi để thấy rõ lợi ích hoặc các hạn chế khác của bất động sản.

    8.Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    8. 1. Điều kiện của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh BĐS thì người quản lý,

      11  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây :

    • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù;
    • Có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản;
    • Không bị cấm hành nghề theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    8.2 Quyền của người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Quản lý, điều hành hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin có liên quan đến BĐS theo quy định của pháp luật.
    1. Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu về BĐS được đưa lên sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm BĐS được đưa lên sàn giao dịch phải có đủ điều kiện để đưa vào kinh doanh.
    1. Cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu liên quan đến BĐS và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu do mình cung cấp.
    1. Cung cấp các dịch vụ về BĐS tai sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm cơ sỏ vật chất, kỹ thuật và điều kiện hoạt động của sàn giao dịch

    BĐS

    8.3 Nghĩa vụ của người quản lý điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Bảo đảm để sàn giao dịch BĐS hoạt động đúng nội dung đã đăng ký, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện các nghĩa vụ về thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. . Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    9.Quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS.

     

    9.1. Quyền của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

     

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có quyền sau đây.
      12  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến BĐS.
    1. Yêu cầu cung cấp các dịch vụ về BĐS.
    1. Yêu cầu sàn giao dịch BĐS bồi thường thiệt hại do lỗi của sàn giao dịch BĐS gây ra.
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    9.2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có các nghĩa vụ sau đây:
    1. Thực hiện quy chế hoạt động của sàn giao dịch BĐS
    1. Trả tiền dịch vụ cho sàn giao dịch BĐS.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    10. Hướng dẫn về giao dịch bất động sản qua sàn

    Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải thực hiện việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản (trừ các dự án nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở) theo quy định sau:

    1. Bất động sản phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới được đem bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua;
    1. Chủ đầu tư có thể tự thành lập sàn giao dịch hoặc lựa chọn sàn giao dịch bất động sản do đơn vị khác thành lập để giới thiệu bất động sản và thực hiện các giao dịch bất động sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản phải công khai các thông tin (theo quy định tại Điểm 2 phần IV của Thông tư này) về bất động sản cần bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua tại sàn giao dịch để khách hàng biết và đăng ký giao dịch. Thời gian thực hiện công khai tối thiểu 07 (bảy) ngày tại Sàn giao dịch. Trong thời hạn nêu trên, thông tin về tên dự án, loại, số lượng bất động sản, địa điểm và thời gian tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải được đăng tải tối thiểu 03 (ba) số liờn tiếp trên một tờ báo phát hành tại địa phương, tối thiểu 01 (một) lần trên đài truyền hình địa phương nơi có dự án và trên trang web (nếu có) của Sàn giao dịch bất động sản. Chi phí đăng tải thông tin do chủ đầu tư (hoặc chủ sở hữu) chi trả;
    1. Khi hết thời hạn công khai theo quy định tại Điểm 3 Phần này, chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) được tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản đã công khai. Trường hợp cùng một loại bất động sản có từ 2 (hai) khách hàng đăng ký trở lên hoặc số khách hàng đăng ký
      13  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    nhiều hơn số lượng bất động sản thì chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) phải thực hiện việc lựa chọn khách hàng theo phương thức bốc thăm hoặc đấu giá. Việc đặt cọc trước khi triển khai bốc thăm hoặc đấu giá bất động sản do các bên thoả thuận theo quy định của pháp luật;

    1. Việc đấu giá bất động sản tại sàn giao dịch thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản có trách nhiệm xác nhận bất động sản của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản được giao dịch qua sàn (theo mẫu tại phụ lục 4) để xác nhận bất động sản đã được giao dịch theo đúng quy định của pháp luật;
    1. Đối với bất động sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản mà giao dịch qua Sàn giao dịch bất động sản thì không bắt buộc phải công khai thông tin theo quy định tại Điểm 3 của Phần này.

    11.Quy định về công khai, minh bạch thông tin trên thị trường bất động

    sản

     

    • Các thông tin về thị trường bất động sản phải đợc công khai tại trụ sở và

    trên Website của sở Xây dựng. Riêng thông tin về quy hoạch tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải được công khai tại trụ sở và trên Website của Sở Quy hoạch – Kiến trúc; thông tin về các dự án kêu gọi đầu tư và tình hình triển khai các dự án về phát triển nhà ở, khu đô thị mới, các dự án phát triển hạ tầng đô thị, cụm công nghiệp, khu công nghiệp phải được công khai tại trụ sở và trên Website của sở Kế hoạch và Đầu tư.

    11.2. Các chủ đầu tư có dự án đựơc duyệt phải công khai quy hoạch chi tiết 1/500 của dự án và phương án tiêu thụ sản phẩm tại trụ sở cấp xã nơi có dự án.

    11.3. Nội dung thông tin trên thị trường bất động sản phải đảm bảo đầy đủ, rõ ràng theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải bao gồm các nội dung: bản vẽ quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500 (nếu có) và các chỉ số quy hoạch cơ bản;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch (nếu có), các điều kiện, các yêu cầu, thời gian, nội dung đăng ký, nơi nhận hồ sơ;
    3. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao
      14  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch, chủ đầu tư, tiến độ thực hiện, kết quả thực hiện thực tế cập nhật theo quý, thời điểm dự kiến tiêu thụ sản phẩm.

    1. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản của các tổ chức cá nhân kinh doanh bất động sản phải gồm các nội dung theo quy định tại Mục 4 Phần 5;
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh gồm: tên công ty hoặc trung tâm, địa chỉ, lĩnh vực đào tạo, địa chỉ đào tạo, ngày đăng ký hoạt động, danh sách giảng viên. Đồng thời phải có thông tin về các trung tâm bị đình chỉ hoạt động xem chi tiết tại (phụ lục 18)
    2. Thông tin về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh gồm họ và tên, năm sinh, nơi đào tạo, số chứng chỉ, ngày cấp, nơi cấp, ngày đăng ký hoạt động. Đồng thời phải có thông tin về việc thu hồi chứng chỉ hoặc thôi hoạt động của các chuyên gia môi giới, định giá xem chi tiết tại (phụ lục 19 ).
    3. Thông tin về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn bao gồm tên trung tâm, địa chỉ, các hoạt động dịch vụ, tên giám đốc, số điện tại liên lạc, website (nếu có) xem chi tiết tại (phụ lục 20 )
    4. . Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn gồm các nội dung: Số lượng giao dịch, tổng giá trị giao dịch, giá cả giao dịch.

    11.4. Thời gian đưa thông tin trên thị trường bất động sản phải từ bắt đầu cho đến khi sự việc kết thúc theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải được công bố từ khi quy hoạch được phê duyệt đến khi quy hoạch đó đã được thực thi hoàn chỉnh trên thực tế;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án đã lựa chọn được chủ đầu tư thực hiện dự án;
    1. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án được hoàn thành đưa vào sử dụng hoàn toàn;
    2. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản phải duy trì từ lúc giới thiệu đến khi tổ chức giao dịch xong;
      15  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh; về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh; về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh phải liên tục và cập nhật;
    1. Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn phải cập nhật hàng tháng, hàng quý và hàng năm.

    12.Tổ chức các dịch vụ tại sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ bất động sản như :

    • Giao dịch mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.
    • Môi giới bất động sản.
    • Định giá bất động sản.
    • Tư vấn bất động sản.
    • Quảng cáo bất động sản.
    • Đấu giá bất động sản.
    • Quản lý bất động sản.
    1. Tư vấn bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này.
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản bao gồm :
    • Tư vấn pháp lý về bất động sản;
    • Tư vấn về đầu tư tạo lập, kinh doanh bất động sản;
    • Tư vấn về tài chính bất động sản;
    • Tư vấn về giá bất động sản;
      16  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tư vấn về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS;
    • Tư vấn về các nội dung khác liên quan đến bất động sản.
    • Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình cung cấp và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Đấu giá bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 64 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Đấu giá BĐS phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên;
    • Hình thức đấu giá bất động sản bao gồm :
    • Trực tiếp bằng lời nói
    • Bỏ phiếu
    • Hình thức khác do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải công bố công khai, đầy đủ, chính xác thông tin về bất động sản trong bản niêm yết đấu giá do tổ chức, cá nhân bán, chuyển nhượng bất động sản cung cấp.
    • Hình thức, nội dung đấu giá bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ đấu giá bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Quảng cáo bất động sản
      17  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Theo quy định tại Điều 65 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Quảng cáo BĐS được thực hiện thông qua sàn giao dịch BĐS, trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương tiện khác;
    • Hình thức, nội dung quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quảng cáo bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng;
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    • Việc quảng cáo bất động sản phải theo quy định của Luật này và pháp luật về quảng cáo.
    1. Quản lý bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 66 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản bao gồm :
    • Bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản;
    • Cung cấp các dịch vụ bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của bất động

    sản;

    • Thực hiện bảo trì, sửa chữa bất động sản;
    • Quản lý, giám sát việc khai thác, sử dụng bất động sản của khách hàng theo đúng công năng, thiết kế và hợp đồng;
    • Thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với khách hàng, với Nhà nước theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản.
      18  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nội dung, phạm vi quản lý bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quản lý bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, nhiệm quản lý bất gây ra.

    cá nhân kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản chịu trách động sản theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình

      19  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    CHUYÊN ĐỀ 2

    QUY TRÌNH VÀ KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Thu thập thông tin về cung cầu bất động sản

    1/Nguồn cung bất động sản

    • Các dạng cung:

    +Bán.

    • Cho thuê, cho thuê lại.
    • Đầu tư liên doanh liên kết.
    • Khai hoang, khai phá: bán đất chưa sử dụng thành sử dụng được
    • Thông tin nguồn cung
    • Văn phòng môi giới
    • Từ khách hàng.
    • Từ các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Các công ty đầu tư kinh doanh xây dựng, các dự án.
    • Các cơ quan đấu giá đất và bất động sản, nguồn hàng pháy mãi.
    • Các cơ quan quản lý: địa chính, tnmt. sở kiến trúc, sở quy hoạch.
    • Từ thực tế : những nhà bỏ trống, khu đất trống, những bất động sản mới phát triển, từ dân cư địa phương.

    +MLS: hệ thống niêm yết đa chiều.

    2Thông tin về bất động sản

    • Kinh tế kỹ thuật:
    • Vị trí: môi trường xung quanh.
    • Loại, kích thước, hình thể, không gian, hướng.
    • Trang thiết bị: cơ sở vật chất kỹ thuật
    • Tình trạng kỹ thuật: xem tổng thể nhue thế nào, chi tiết, chất liệu, thời gian sử dụng, kiến trúc, bảo dưỡng…
    • Hạ tầng kỹ thuật : đường, điện, nước,
      20  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giá cả toàn bộ và từng phần của bất động sản.
    • Pháp lý:
    • Giấy tờ xác nhận quyền năng đối với bất động sản: sổ đỏ, sổ hồng. quyết định giao đất, giấy phép xây dựng, phân chia tài sản,,,
    • Quy hoạch: sử dụng đất, không gian, các công trình liên quan khác.
    • Các giấy tờ liên quan đến tranh chấp: uỷ ban nhân dân.
    • Quyền năng và sự hạn chế về quyền năng: ví dụ: hạn chế độ cao…
    • Xã hội, lịch sử:
    • Thời gian sử dụng, người sử dụng, xây dựng và quá trình phát triển cảu bất động sản.
    • Môi trường xã hội, dân cư: có bị ô nhiễm không…
    • Phong thuỷ và các yếu tố đặc biệt khác: ví dụ trước đây có tai biến gì không….
    • Nguồn thông tin và phương pháp thu thập:
    • Tìm hiểu từ chủ sở hữu: giấy tờ pháp lý liên quan đến bất động sản, các loại hoá đơn.
    • Cơ quan quản lý nhà nước: phòng quản lý nhà đất, sở quy hoạch, nhà đất. Ví dụ : Sở quy hoạch: xem quy hoạch hiện tại và xu hướng trong tương lai.
    • Tổ dân phố và hàng xóm.
    • Tự điều tra và thăm dò.
    • Cơ sở dữ liệu cá nhân và kinh nghiệm kiến thức.
    • Bản đồ: ví dụ bản đồ quy hoạch đất đai, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, bản đồ điện tử.
    • Các đề tài nghiên cứu, hội thảo…. ví dụ: ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường đời sống dân cư.
    • Trao đổi kinh nghiệm: giữa các nhà môi giới -> rất quan trọng.

    3 Thông tin về cầu bất động sản

    3.1 Phân loại đối tượng cầu bất động sản

    – Người mua:

      21  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Để tiêu dùng: nhà ở, sản xuất nhà xưởng, kinh doanh dịch vụ.
    • Để đầu tư: những người kinh doanh bất động sản, đầu cơ tiền nhàn rỗi/
    • Để bảo toàn vốn.
    • Phân loại cầu bất động sản để biết mục tiêu của khách hàng -> đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Người thuê:
    • Văn phòng, chi nhánh, phòng giao dịch.
    • Để kinh doanh dịch vụ.
    • Để sản xuất kinh doanh thuê mặt bằng.
    • Nhà ở: đối với sinh viên, người ngoại tỉnh, người nước ngoài, nhà công

    vụ.

    • Tín dụng, thế chấp và bảo hiểm: cầu gián tiếp

    3.2 Phương pháp thu thập thông tin về cầu bất động sản

    • Chủ động:
    • Tìm kiếm qua các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Gửi thư trực tiếp tới khách hàng: chủ yếu là khách hàng tiền năng (người thuê), khách hàng của các văn phòng môi giới khác, khách sạn, văn phòng, công sở, thương mại điện tử, sân bay, du lịch, cá nhân hoặc nhóm khách hàng mục tiêu.
    • Tiếp cận tận nơi: đón hoặc gọi điện
    • Khách hàng cũ: hồ sơ cũ, giới thiệu khách hàng, đón trước nhu cầu.
    • Thụ động:
    • Đón tại văn phòng.
    • Phụ thuộc quảng cáo
    • Thời gian đầu: chủ động, sau – thụ động.
    • Xác định đối tượng và các bên tham gia trong thương vụ môi giới

    a.Người cung:

    + Lí do nguyện vọng của họ ; nhanh hay chậm

      22  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nắm được thông tin về bất động sản như thế nào.
    • Các điều kiện kèm theo.
    • Khung gi¸ có phù hợp, các điều kiện về kinh tế ( thuế hoặc phí).
    • Năng lực bán của khách hàng: có đủ điều kiện pháp lý.
    • Người cho thuê:
    • Đầu tư.
    • Sinh lợi: để thu nhập hàng tháng không quan tâm giá bất động sản.
    • Trông coi: để bảo vệ.
    • Lí do: ví dụ: cho thuê để người đi thuê đàu tư trang thiết bị cho bất động

    sản.

    • Người bán:
    • Tự nguyện.
    • Bị ép buộc.

    b. Người cầu:

    • Người mua:
    • Quan tâm đến đặc tính của bất động sản.
    • Gía cả bất động sản: xác định khả năng tài chính.
    • Mục tiêu của người mua.
    • Các ràng buộc khác: ví dụ đối với người nước ngoài: vấn đề mua nhà…
    • Người thuê:
    • Cụ thể chính xác ngay ban đầu.
    • Rất nhanh gọn.
    • Chú ý tính ổn định bất động sản.
    • Chủ sở hữu quan tâm đến người thuê: quan tâm thu nhập người thuê, hoàn cảnh người thuê, độ ổn định…

    Xác định các bên tham gia thương vụ:

    • Phân loại khách hàng
    • Hiểu mục tiêu của việc mua bán phải rõ ràng.
    • Tìm hiểu độ tuổi của khách hàng: vì ảnh hưởng đến tâm sinh lý
      23  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Ví dụ: già – đắn đo; trung tuổi – táo bạo;

    • Nghề nghiệp.
    • Thu nhập: sở thích của họ, tiềm năng.
    • Xác định các bên tham gia:
    • Thông tin cá nhân, tổ chức đó.
    • Mục tiêu tham gia thương vụ.
    • Các kỳ vọng: mua để ở, để chờ tăng giá, gần trường…
    • Mức độ sãn sàng.
    • Điều kiện pháp lý.

    III. Lập hồ sơ thương vụ môi giới

    • Thông tin cá nhân.
    • Giấy tờ liên quan đến bất động sản.
    • Giấy tờ khác liên quan đến thương vụ như thoả thuận cọc, đăng ký bán, thuê, cho thuê, thuê mua vv…
    • Hợp đồng dịch vụ môi giới.
    • Những ghi chép về khách hàng: đưa ra nhận xét về khách hàng -> phục vụ tôt hơn.

    Chú ý: Không nhận bản gốc giấy tờ của khách hàng, chỉ dùng để photo. Trong suốt quá trình diễn ra thương vụ phải tiếp tục thu thập giấy tờ liên quan.

    • Dạng hồ sơ: văn bản, file văn bản
    1. Thời hạn và những bước thực hiện thương vụ môi giới

    Bước 1: Tìm thông tin chung

    • Thông tin mua, bán, cho thuê -> thông tinnguồn cung, cầu.
    • Phải xem xét bất động sản bán một cách tỉ mỷ, cẩn thận và đầy đủ.
    • Điếu tra phân tích môi trường, hạ tầng xung quanh, tình trạng kỹ thuật của bất động sản.
    • Tình trạng pháp lý của bất động sản.
      24  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chia sẻ cung cấp cho chủ sở hữu những thông tin về giấy tờ cần thiết cho việc bán.
    • Tìm khách hàng mua.

    Bước 2: Xử lý thông tin

    • Xác định được giá của chủ sở hữu muốn bán: phải tư vấn cho khách hàng xem giá có hợp lý không. Phải biết khu vực đó giá bất động sản bao nhiêu, loại bất động sản đó giá bao nhiêu.
    • Phải tập trung ghi chép miêu tả bất động sản, chú ý đến đặc tính của bất động sản đó: bất động sản nằm trong khu vực đó, có bất động sản nổi trội hơn làm giảm giá bất động sản đó.
    • Soạn thảo thông tin để quảng cáo.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng cho bất động sản đó.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng về khách hàng mua, bán
    • Tìm hiểu phân tích cụ thể, chính xác nhu cầu của khách hàng mua cũng như điều kiện liên quan đến thương vụ.
    • Tận dụng những thông tin phản hồi của người mua: động cơ họ mua hàng…
    • Chia sẻ và cung cấp cho các bên tham gia những thông tin cần thiết về khía cạnh pháp lý: thuế , phí…

    Bước 3: Giao dịch với khách hàng

    • Thoả thuận với chủ sở hữu những điều khoản về dịch vụ môi giới -> ký kết hợp đồng.
    • Lên kế hoạch hành động.
    • Giới thiệu cho khách hàng mua nbất động sản phù hợp với họ.
    • Giúp đỡ tạo điều kiện cho các bên trong quá trình đàm phán.
    • Dẫn dắt các bên ký kết hợp đồng khởi điểm.
    • Hỗ trợ các bên trong việc hoàn chỉnh hồ sơ và chuẩn bị ký kết hợp đồng chính thức.
    • Tham gia thực hiện các hoạt động thoả thuận trong hợp đồng khởi điểm.
    • Thực hiện các công việc liên quan đến thương vụ.
      25  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tham gia vào quá trình thanh toán tổ chức các lần chi trả giao tiền.
    • Phải hỗ trợ cho các vấn đề liên quan: ví dụ

    Bước 4: Kết thúc thương vụ:

    • Giao nhận bất động sản: vì có thể có sự sai lệch lúc giao nhận
    • Kết thúc thương vụ và nhận tiền hoa hồng: ví dụ: ở nước ngoài khi đến một bước nào đấy của thương vụ, nhận 80 % hoa hồng. Kết thúc thì nhận phần còn lại.
    • Giải quyết các vấn đề sau thương vụ: Chuyển tiền sổ đỏ, ….. gửi thư cảm ơn đến khách hàng và đưa hồ sơ của họ vào hồ sơ khách hàng.
    • Họ tên, thường trú, hộ khẩu, cmt, ngày cấp, nơi cấp, tỉnh, tình trạng hôn nhân.
    • Địa điểm nơi thực hiện hợp đồng.
    • Gía bất động sản, lượng tiền đặt cọc, thông thường 10 % giá trị hợp đồng.
    • Miêu tả bất động sản.
    • Các quyền bất động sản: ví dụ: đất giãn dân, thổ cư, thừa kế.
    • Các trang thiết bị trong bất động sản mà chủ nhà để lại.
    • Những thoả thuận điều khoản chuẩn bị trong hopự đồng chính thức.
    • Xác định thời gian ký hợp đồng chính thức.
    • Ghi rõ giấy tờ nào còn đang thiếu cần bổ sung.
    • Ghi rõ bên nào trả loại tiền gì.
    • Phải cân nhắc về các mốc thời gian: giao nhận tiền (thường 3 đợt: thời gian giao nhận bất động sản, thời gian cắt hộ khẩu, thời gian di chuyển đồ đạc.).
    • Hình thức giao nhận tiền: tiềm mặt, chuyển khoản.
    • Hợp đồng chính thức
    • Gồm các giấy tờ cần thiết để ký kết hợp đồng công chứng.
    • Báo phí trả cho công chứng: ai trả, hình thức trả.
      26  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Kỹ năng môi giới bất động sản

    a. Môi giới mua.

     

    • Tạo sự hứng thú cho người mua.

    +    Kỹ năng gợi mở dịch vụ: Khi chưa biết có dịch vụ -> phải gợi mở

    .    Chìa khóa để tạo hứng thú cho người mua là giành được niềm tin của họ.

    Khi đó mọi sự tranh cãi và phản kháng sẽ biến mất.

    . Cố thuyết phục họ đến xem bất động sản: nhiều người có tiền nhưng chưa biết đầu tư vào đâu, vì thế khi họ xem họ sẽ xuất hiện nhu cầu mua.

    . Hiểu động lực của người mua: khi đó ta sẽ làm cho họ hào hứng với việc mua của họ.

    . Phảo trả lời được câu hỏi mà người mua cho là quan trọng. Điều này đòi hỏi phải hiểu biết rộng.

    . Đưa ra những lời khuyên hướng dẫn thích hợp với từng người mua để họ nhanh chóng quyết định mua.

    . Cung cấp bất động sản có chọn lọc: đỡ mất thời gian của hai bên và tránh làm rối trí khách hàng.

    • Giúp họ mặc cả giá ( trả giá bất động sản) với người bán.
    • Thích hợp nhất là tại văn phòng bất động sản: ngày nay thường họ uỷ quyền cho người Môi giới Có thể trả gía qua văn bản, qua thư…
    • Trả giá bằng văn bản cho người bán: người bán có thời gian suy nghĩ kỹ càng, khuyên người mua lên mang văn bản trả gía đó cho luật sư đề luật sư xem xét. Vì Môi giới không thể sâu rộng bằng luật sư. Luật sư có lời khuyên hữu ích.
    • Gía cả giao dịch vào khoảng 90 đến 93 % giá cả ban đầu (qua thống kê).
    • Trong tâm lý của người mua, người bán thường lấy mức trung bình của hai bên.
    • Dịch vụ hậu mãi,
    • Giúp khách hàng các thủ tục như điện thoại, nước, hộ khẩu…
      27  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ kỹ thuật: người mua thường thích thay đổi theo ý mình như thay

    đổi đồ đạc, nội thất

    • Giúp phát triển ý tưởng, tư vấn sử dụng; ví dụ nhà chật nên xin cấp phép mở rộng hay nên có thêm gác xép….
    • Quan tâm và tham hỏi đến khách hàng. Môi giới bán bất động sản.

    Bất động sản Nhà ở

    • Trước khi bán
    • Làm cho bất động sản tươi mới, ấm áp, gọi mời.
    • Tạo hình ảnh dễ nhận thấy, dễ nhớ.
    • Gửi trẻ nhỏ đi nơi khác.
    • Chuẩn bị giấy tờ pháp lý.
    • Cân nhắc những vấn đề sau:
    • Gía cả:
    • Thời gian: dự tính bán cho khách hàng.
    • Tình trạng kỹ thuật;
    • Sửa chữa: nhỏ hay lớn. khuyến cáo chủ sở hữu nên sửa chữa lớn hay nhỏ.
    • Đầu tư: nên đầu tư thêm cài gỉ?
    • Xem xét khu vực: khu vực tác động đến thay đổi bất động sản

    Dù đầu tư; thì giá bán tăng cao nhất từ 10 đêns 12 % giá ban đầu.

    • Chủ nhà tự sửa sang hay thuê thợ.
    • Những tính toán về kinh tế cho chủ sở hữu.
    • Giới thiệu căn nhà:
    • Nguyên tắc giới thiệu:

    . Nhấn mạnh mọi ưu điểm cña bÊt ®éng s¶n

    . Sắp xếp một chuyến du lịch nhỏ đi thăm că nhà như thế nào cho tiết kiệm thời gian.

    . Hãy để thời gian cho họ xem xét căn nhà.

      28  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    . Hãy hỏi họ về cảm giác nếu chưa vừa lòng thì taị sao? Không nên đưa quá nhiều câu hỏi.

    .    Không mặc cả ngôi nhà.

    .  Tỏ ra ngoan đạo thân thiện, đừng cố chấp hiếu thắng.

    .  Trả lời câu hỏi một cách chắc chắn để thấy am hiểu.

    .  Tỏ ra tôn trọng khách hàng.

    . Gợi mở ưu điểm của khuyết điêm khi khách hàng phát hiện ra nó.

    . Kiến thức: của khách hàng và kiễn thức của môi giới khác nhau -> giúp có hình ảnh đẹp trong mắt người mua.

    • Chỉ xem nhà sau khi đã hẹn rõ ràng. Để không bị động hi căn nhà chưa được chuẩn bị chu đáo.
    • Cất vật đắt tiền, vật nhọn vì nảy sinh phạm tội hay đề phòng tai nạn những

    vật sắt,      điện …

    • Phải có sự kiểm tra theo dõi họ một cách tế nhị nhưng đừng nôn nóng dục khách hàng mua.
    • Chỉ để một cửa ra vào để kiểm soát hành vi của khách hàng.
    • Phải cảnh gi¸c víi dụ: hỏi vấn đề bảo mật, lịch làm việc của chủ sở hữu -> không nên cho kh¸ch hàng biết nhiều hệ thống bảo mật, camera, b¸o động của

    căn nhà.

    • Mời kh¸ch hàng đến xem một lần nữ
    • Những đặc điểm cần chó ý khi tư vấn cho người bán.
    • Quan trọng nhất là sự gän ghÏ bỏ đi những thứ kh«ng cần thiết
    • Ấn tượng đầu tiªn rất quan trọng nhất là đối với nhà ở: nhiều người xem bên ngoài rồi mới vào bªn trong.
    • Sạch sẽ chỉnh trang
    • Nới rộng căn nhà: 2 yếu tố làm thước đo: thay đổi và diện tích sử dụng cho một căn nhà tăng diện tích bằng cách bỏ bớt đồ đạc, và dùng ánh sáng..
    • Sắp xếp đồ đạc lại
    • Bếp: gọn gàng, sach sẽ ,không có mùi…
      29  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nhà tắm, toa lét…..

    Bán nhà chung cư

    • Động cơ:

     

    • Cần tiền mặt, lợi nhuận, tình hình sức khoẻ, quan hệ đối tác, nhà quản lý, người chủ sở hữu di cư, chuyển đổi sang bất động sản khác, tuổi gìa, ly dị, do chết,
    • Quy trình phân tích
    • Phân tích đặc điểm của bất động sản: Vùng, tầng, …
    • Đánh giá mức giá có thể của căn hộ chung cư đó, chất lượng môi trường xung quanh, chất lượng của bất động sản có thể qua người thuê, người ở chung cư đó, -> khảo sát 3 đến 5 toà nhà xung quanh.
    • Xác định số lượng bất động sản trong tà nhà trong khu vực .
    • Xác định tuổi của bất động sản.
    • Xem xét bãi đỗ xe.
    • Kết cấu xây dựng: Nhà khung xây bằng vữa gạch hay bê tông.
    • Đặc điểm tiện nghi của căn hộ chung cư.
    • Chi phí để duy trì hoạt động của toà nhà.
    • Xác định thu nhập có thể của căn hộ

    Có thể đánh giá bằng hai cách:

    + Chấm điểm: Từ 1 đến 10

    +Theo 3 mức: Tốt, Trung bình, kém

    Bán bất động sản thương mại và công nghiệp

    • Đánh giá người mua: Xem xét tài chính, xem xét mục đích mua, tâm lý, xem xét yếu tố pháp lý:

    .Bất động sản đầu tư lớn

    • Sẽ tốn nhiều thời gian với các luật sư, kế toán, người quản lý bất động sản,…để giải quyết các sự kiện và con số

     

    • Người mua thường làm việc với các tư vấn chuyên nghiệp….
      30  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Phải xác định có những bất động sản, xảy ra tình trạng chuyên gia làm việc với chuyên gia.

     

    • Người mua thường là các tổ chức lớn, cá nhân giàu có -> tiếp cận người mua

     

    • các kênh khác.
    • Phải chuẩn bị một lượng tiền đáng kể vì chi phí bán cao.

     

    • Khi bán Bất động sản đầu tư lớn phải chú ý đến điều kiện kinh tế tổng hợp của địa phương, xác định thời điểm tối ưu để bán bất động sản. Vì có những Bất động sản chỉ nên bán theo mùa.

     

    Bất động sản chỉ dùng cho mục đích công nghiệp và thương mại

     

    • Phải tiến hành thanh tra Bất động sản.
    • Phải hoàn thành các mảng thông tin về Bất động sản, phải tiến hành chụp ảnh ở nhiều góc độ khác nhau.
    • Phải quảng cáo trên các tạp chí, vùng địa phương.
    • Thời gian, may mắn và lỗ lực makerting đúng hướng trong một giai đoạn dài sẽ mang nhiều thành công.

    Khu đất sử dụng cho mục đích thương mại và công nghiệp mà chưa có công trình

    • Cần khẳng định ngay những Bất động sản này chắc chắn sẽ bán.
    • Phải chú ý đến hạ tầng xung quanh.
    • Có thể yêu cầu chủ sở hữu cùng chịu chi phí trong việc bán với nhà mua

    giới.

    • Phải chú ý vẽ sơ đồ mảnh đất chụp ảnh không gian, địa hình, chi phí và thời gian lắp đặt tiện nghi.
    • Phải xem xét sử dụng trong quá khứ -> Để xác địng xem khả năng chất thải ra môi trường như thế nào?
    • Đặt ngay trên quảng cáo ở từng khu đất ngoài những cách quảng cáo khác.
    • Phải hướng đến nhóm đối tượng khách hàng có kinh phí quảng cáo trong thời gian dài.
      31  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định khách hàng là ai -> Quảng cáo trên tạp chí, truyền hình quốc gia chứ không chỉ trong tầm địa phương -> Chi phí cao, khả năng thu hút khách hàng lớn.

    Môi giới cho nhà đầu tư.

    • Hấp dẫn hơn Môi giới cho người sử dụng vì họ thoáng hơn và vòng quay nhanh: ngoài hoa hồng người Môi giới còn được % của lợi nhuận của nhà đầu tư vì Môi giới là người tư vấn cho họ sử dụng tiền mang lại lợi nhuận cho họ.
    • Nhưng đề Môi giới cho nhà đầu tư phải có mạng lưới khách hàng rộng, có độ tin cậy.

    Yêu cầu: Phải là người có kinh nghiệm lâu năm, có kiến thức sâu rộng và có uy tín.

    Có nhiều lợi ích khác nhau không thể hiện bằng tiền; giới thiệu khách hàng

    • Các dạng nhà đầu tư:
    • Để sử dụng: tránh lạm phát
    • Đầu tư ngắn hạn: thu nhập từ việc bán.
    • Đầu tư dài hạn: Tính mục tiêu đầu tư là có thu nhập thường xuyên làm vốn sống
    • Người cho vay để đầu tư bất động sản:
    • Môi giới cần :

     

    • Nhìn nhận khả năng tài chính của nhà đầu tư.
    • Dung hoà được mục đích của khách hàng với lợi thế của bất động sản.
    • Phải chuẩn bị rất kỹ để chuẩn bị giới thiệu cho khách hàng.
    • Phải chú trọng đến việc phân tích tài chính hơn là phân tích vật lý (khác người sử dụng).
    • Thu nhập ở các góc độ:
    • Thu nhập ròng trước khấu hao.
    • Thu nhập ròng sau khấu hao.
    • Thu nhập ròng trước thuế thu nhập.
    • Thu nhập ròng sau thuế thu nhập.
      32  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thu nhật ròng trước, sau lãi vay.
    • Thu nhập vốn tăng thêm.
    • Tiền: VĐT tự có, vốn đầu tư ban đầu, khoản vay thế chấp, vốn tăng thêm, giá cả thị trường của bất động sản.

    Vậy với tỷ suất lợi nhuận = TN/Vốn có thể nói lên nhiều vấn đề khác nhau

    trong góc độ thu nhập và vốn khác nhau.

    *) Tính quay vòng

    • Nhà Môi giới giup nhà tăng lên (kinh nghiệm kiến

    đầu tư trong tất cả các khâu này => Hiệu quả đầu tư thức và thông tin).

    1. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng.
    2. Mục đích dịch vụ môi giới

     

    • Là hợp đồng giữa nhà môi giới với khách hàng nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong hợp đồng nêu rõ: quyền lợi của nhà môi giới với khách hàng.

    1.1 Kỹ năng và yêu cầu

    • Hợp đồng dịch vụ môi giới là bản quy định phạm vi, trách nhiệm của nhà môi giới và khách hàng. Là minh chứng cho vị trí thống nhất cảu hai hay nhiều bên trong đó có các quy định thống nhất giữa các bên.
    • Các dạng hợp đồng.
    • Tự soạn thảo.
    • Tình huống: mua- bán; thuê –cho thuê.
    • Độc quyền: việt nam không có: chỉ nhà môi giới ký hợp đồng khách hàng mới được bán bất động sản
    • Người bán ký hợp đồng độc quyền.
    • Ký với người có uy tín, năng lực,
    • Phải tin tưởng vào nhà môi giới.
    • Chỉ trả tiền môi giới cho nhà môi
    • Yêu cầu:
    • Xem bất động sản.

    quan hệ rộng.

    giới mà mình ký hợp đồng dịch vụ.

      33  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ai là người ký trực tiếp hợp đồng môi giới đó.
    • Tuân thủ những điều khoản của hợp đồng.
    • Thiết lập dưới dạng văn bản.
    • Ghi số thẻ.
    • Tiêu chuẩn đạo đức: không được cài những khoản hợp đồng không được phép.
    • Bảo hiểm nghề nghiệp cho người môi giới.
    • Bảo đảm lợi ích của bản thân.
    • Thống nhất với khách hàng nguyên tắc làm việc.
    • Giúp khách hàng hiểu được các đièu khoản của bản hợp đồng.
    • Phạm vi hoạt động: không có giới hạn
    • Nhà môi giới có quyền lựa chọn ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân.
    • Điều khoản:
    • Xác định rõ các bên tham gia.
    • Xác định các điều khoản làm hợp đồng trên vô hiệu.
    • Bảo đảm lợi ích cho xã hội.
    • Xác định quan hệ của khách hàng voíư quyền bất động sản.
    • Ghi giá bất động sản vào hợp đồng, nếu có sự thay đổi giá phải sửa toàn

    bộ,

    • Soạn thảo nguyên tắc thu phí hoa hồng.
    • Thông báo cho khách hàng là có thể người môi giới cho bên thứ 2 (người mua).
    • Cam kết sử dụng thông tin cá nhân cảu khách hàng ở mực độ nào.

    Cân nhắc cẩn thận giai đọan mà nhà môi giới cho là quan trọng nhất . Soạn thảo hợp đồng sao cho tất cả các bên công nhận.

    Lưu ý: Cân nhắc cẩn thận các quy định mà môi giới cho là quan trọng.

    1.2 Hợp đồng giao dịch

    Hợp đồng giữa người mua – bán.

      34  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nguyên tắc cơ bản: Điều gì không có trong hợp đồng thì nó không tồn tại (để tránh tranh cãi).
    • Nhà môi giới phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản sau khi làm hợp đồng.
    • Xác định thời gian và giá cả.
    • Xác định người bán và người mua: đảm bảo 100% người bán là chủ sở hữu ( khẳng định quyền sở hữu của người bán từ khi nào).
    • Xác định bất động sản bán: xác định rõ người mua, họ mua cái gì?
    • Xác nhận của người bán: người bán phải xác nhận rõ bất động sản hoàn toàn sạch, không bị vướng vấn đề pháp lý, không có lỗi về vật lý, không bị vướng vào nợ nần…
    • Xác nhận của người mua: người mua có đủ khả năng tài chính.
    • Giấy tờ: phải tận mắt nhìn thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở….
    • Xác định các thời hạn: thời hạn ký hợp đồng chính thức, giao nhà, hộ khẩu..
    • Chi trả
    • Xác định tiền đặt cọc và tiền trả trước:
    • Đối với nhà hoặc căn hộ mới: phải có các điều khoản sau:
    • Xác nhận quyền sử dụng đất của chủ đất: chủ đất có được quyết định giao đất hay không (quyết định gíao đất của cơ quan nhà nước).
    • Bảo đảm không có khoản nợ nào: bản thân căn hộ không chịu khoản nợ

    nào : ví dụ: góp vốn, các khoản thuế, vay thế chấp.

    • Xác định vị trí toà nhà có căn hộ bán: địa chỉ hoặc trên bản đồ.
    • Vị trí căn hộ: gần cầu thàng, đầu hồi…

    +Gía bất động sản ghi chính xác: ( Hiện nay có 2 cách chi trả áp dụng: theo tiến độ xây dựng, theo trái phiếu bất động sản).

    • Xác định thời hạn kết thúc xây dựng: cần chính xác (Vì hiện nay hầu hết các công ty không đúng thời hạn cam kết.)
      35  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định điều khoản phạt tiền khi chậm tiến độ (%), do huỷ hợp đồng (thường 5% giá trị hợp đồng).
    • Xác định ngày chính thức sang tên hợp đồng cho người mua – hợp đồng kinh tế.

    Hợp đồng góp vốn đến hợp đồng kinh tế: tính chất pháp lý cao, ngân hàng chấp nhận thế chấp để cho vay dù nhà chưa xây xong. Vì khi có hợp đồng kinh tế thì chắc chắn vay được tiền.

    • Ví dụ: Công ty sẽ chuyển quyền sở hữu căn hộ sau 3 tháng ngay sau khi công ty nhận được giấy giao đất -> rất mập mờ -> phải xác định rõ cụ thể:

    d. Kỹ năng thu thập thông tin.

    1. Thu thập thông tin về bất động sản

     

    • Thông tin
    • Ngay từ khi có ý định.
    • Xếp theo danh mục: về đất, về dự án, chủng loại (biệt thự, nhà liền kề, thổ cư…).
    • Cuối mỗi ngày ghi lại thông tin thu thập được.
    • Điều tra thực địa hoặc các cuộc nghiên cứu: đến tận nơi -> mang lại khách hàng tiềm năng.
    • Phải mua thông tin, số liệu của các tổ chức khác (sự đầu tư): phải cân nhắc có nên mua hay không? Có mang lại hiệu quả không?
    • Tham gia hội thảo về bất động sản hoặc thị trường bất động sản.
    • Trực tiếp xem xét:
    • Ghi chép cảu bản thân bức tranh toàn cảnh cua thị trường bất động sản, đánh giá giá trị của bất động sản.
    • Xác định tính cách của chủ sở hữu.
    • Đưa ra những câu hỏi cụ thể về bất động sản, đồng thời xem giấy tờ liên

    quan.

    • Để không rơi vào thế bị động khi người mua hỏi đã xem bất động sản

    chưa?.

      36  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Yêu cầu:
    • Xây dựng phong cách tiếp cận và xử lý vấn đề riêng.
    • Nền tảng kiến thức về tâm lý, năng lực ứng xử và giao tiếp.
    • Nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin.
    • Khéo léo đối thoại hướng chủ đề cần tìm hiểu.
    • Chú ý trong khi nói chuyện với nhà môi giới.
    • Cách nhìn thẳng và sâu vào mắt người đối thoại. Vì đây là cánh nhìn nhận thông tin thật hay giả.
    • Chú ý:
    • Đôi khi phải nhờ sự giúp đỡ của luật sư, hoặc các nhà địa chất
    • Nhất thân nhì quen – quan trọng trong thu thập thông tin – Xây dựng mối quan hệ.
    • Tìm hiểu các thông tin mang tính tâm linh.: phong thuỷ -> tìm hiểu qua hàng xóm.
    1. Thu thập thông tin từ khách hàng. – Khách hàng cần.

     

    • Những thông tin cơ bản: họ và tên .., ngày… tháng…
    • Khả năng tài chính: khă năng thanh toán đến đâu? thanh toán như thế nào?,,…..
    • Thương vụ liên quan.
    • Gíơi hạn về thời gian.
    • Liên lạc, cách thức liên lạc.
    • Xem xét bất động sản.
    • Trong khi nói chuyện với khách hàng, có sổ khi ghi chép thông tin chú ý về khách hàng.
    • Phải cập nhật thông tin bất động sản bán chưa.
    • Thông tin phản hồi cần nhiều thời gian và chú ý thông tin phản hồi này để đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Kỹ năng lựa chọn khách hàng cầu.
      37  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Hỏi khách hàng nếu hôm nay tìm được khách hàng thích hợp : Ông đã sẵn sàng ký ngay hợp đồng chưa -> biết ý định của khách hàng, xác định mức giá max, giới hạn địa điểm.
    • Không bao giờ đưa ra cùng một lúc trên 6 bất động sản để khách hàng lựa chọn. Không bao giờ đưa ra cái tiếp theo khi chưa hiểu vì sao không chọn cái đó.
    • Đưa ra nhiều câu hỏi, dựa trên những câu hỏi trước đó để tiếp tục đưa ra các câu hỏi tiếp theo, phải xem xét thái độ của khách hàng -> ghi chép ý kiến của khách hàng.
    • Mọi người thường không biết mình muốn gì? hay không hiểu những cái họ muốn -> cho họ nắm tốt vùng địa phương và mức độ giá cả.
    • Người mua không hiểu rõ quá trình mua và các tình huống có thể xảy ra và quá trình khả năng của thương vụ -> người môi giới giúp họ hiểu được.
    • Người mua thường dựa và hình thức chứ không đánh giá tiềm năng -> môi giới tư vấn cho họ tiềm năng phát triển của bất động sản.
    • Người mua thường phản ứng khác nhau, đối lập nhau -> phải số hoá người

    mua.

    • Người mua có xu hướng đến thăm bất động sản không báo trước cho môi giới -> giải pháp
    • Người mua rất hay gặp khó khăn trong việc đọc các điều khoản của hợp đồng. Môi giới giúp khách hàng.

    +Chỉ giành cho khách hàng thời gian hợp lý.

    • Biết cách lọc khách hàng tránh mất thời gian.
    • Chuẩn bị tinh thần cho khách hàng.
    • Phải thuyết phục khách hàng lý do tại sao họ cần sự giúp đỡ nhà môi giới chuyên nghiệp.
    • Giúp đỡ khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính, xác định mốc thời gian.
      38  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ khách hàng đưa ra các quyết định : nên mua bất động sản như thế nào ? sống ở vùng nào?
    • Giúp đỡ khách hàng phát triển ý tưởng về bất động sản: ví dụ gần chợ: mở cửa hàng.. dựa trên sự thích thú của khách hàng phát triển ý tưởng được uy tín.
    • Thời gian đầu rất dài nhưng sau sẽ ngắn.
    1. Kỹ năng quản lý và xử lý thông tin.

     

    • Dữ liệu thô -> phân tích -> dữ liệu được xử lý -> sự suy luận diến giải.-> thông tin.
    • Sử dụng triệt để lợi thế tuyệt đối về thông tin.
    • Thông tin là nền tảng của suy luận loại trừ.
    • Là kiến thức được nhận thức.
    • Phân loại thông tin:
    • Thông tin về bất động sản: dự án, theo vùng, dạng bất động sản, công năng, theo mức giá trị.
    • Thông tin về khách hàng: khách hàng quá khứ, hiện taị, tiềm năng.
    • MLS: hệ thống thông tin đa chiều.
    • Theo thị trường: trong nước và quốc tế.
    • Quản lý thông tin:
    • Nguyên tắc bảo mật: Không tiết lộ thông tin của khách hàng, không sư dụng thông tin đó để thu lợi cho bản thân hoặc cho bên thứ ba. Trừ trường hợp khách hàng đồng ý công khai thông tin.
    • Nhà môi giới phải sử dụng triệt để thông tin: đặt pass, lưu trữ thông tin, yêu cầu nhân viên cam kết không đẻ lộ thông tin ra ngoài…

    e. Kỹ năng giao dịch với khách hàng.

    1. Giao dịch trực tiếp: gặp mặt

     

    • Tầm quan trọng của việc giao dich trực tiếp: cảm nhận về con người sau 30 phút gặp mặt
    • Trong vòng 30 phút phải thể hiện ưu điểm lớn của bản thân: lời nói, thân thể, hành động…
      39  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ngôn ngữ thân thể: tự tin, nhận biết các dạng người khác nhau. Môi giới phải giữ 70 % thời gian đối thoại, nhìn thẳng mặt bằng ngôn ngữ Gây thiện cảm…
    • Lời nói: ánh mắt, nội dung nói cần phải cân nhắc
    • Quy tắc nắm bắt thông tin tốt từ khách hàng.
    • Khảo tra: thông tin của môi giới và thông tin của khách hàng
    1. Kỹ năng thư thoại:

    Thường xuyên gửi email.

    • Muốn truyền đạt điều gì với xã hội.
    • Nhấn mạnh vấn đề cơ bản để tập trung sự chú ý của người nhận.
    • Sử dụng những câu ngắn gọn và đơn giản.
    • Viết những câu khả quan và lạc quan. “viết những câu tránh…”
    • Tránh dùng những từ ngữ đặc trưng mà chỉ ai chuyên môn mới hiểu.
    • Thể hiện thế chủ động chứ không bị động.
    • Ví dụ: Tôi sẽ cố gắng hết sức….. thay vì “Nếu tôi…”
    1. Nghệ thuật thu hút khách hàng.

     

    • Nguồn cung khách hàng:
    • Quan hệ:
    • Sự quen biết cá nhân mang đế 33% khách hàng.
    • Sự khác biệt của công ty mang đến 20% khách hàng.
    • Sự chợt nhớ đến: 12%
    • Vị trí của văn phòng: 5%
    • Phương tiện:
    • Biển quảng cáo: 15%
    • Sự tiện lợi, thuận lợi: 6%
    • quảng cáo trên internet & báo chí: 9%
    • Thuyết phục khách hàng cã nhu cÇu muèn b¸n
    • Việc bán rất mất thời gian ,nên sử dụng dịch vụ của v¨n phßng m«i giíi

    B§S

      40  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nếu tự bán thì sẽ gặp những khó khăn về tài chính. Vì họ không biết mặc cả, lập hợp đồng & lập các mốc thời gian thanh toán đúng thời hạn đầy đủ.
    • Gặp khó khăn về mặt pháp lý.
    • Không biết quy trình thực hiện của những kỹ năng như kỹ năng để thực hiện các bước đó như thế nào?
    • Thu hút khách hàng mua.
    • Làm chủ được quá trình và thấu hiểu khách hàng.
    • Phải tìm hiểu rõ ràng nhu cầu của họ là gì.

    . Nhu cầu về vật chất: cảm giác về sự thuận tiện, thoải mái an toàn, riêng tư, bảo vệ sức khoẻ.

    . Nhu cầu về xã hội: ngoài thuận tiện cho bản thân phải đảm bảo điều kiện sống cho gia đình, con cái…

    . Thoả mãn bản thân: nhu cầu được xã hội thừa nhận, khả năng năng lực.

    . Nhu cầu về tâm linh: được thể hiện rõ khi 3 nhu cầu trên được đáp ứng sẽ đến nhu cầu tâm linh và nhu cầu này khó xác định nhất. Cách tiếp cận khác:

    . Nhu cầu thực tế: không khí trong lành rộng rãi.

    . Nhu cầu đầy đủ và đa dạng: không cần biết như thế nào chỉ cần đầy đủ và đa dạng.

    . Nhu cầu phi thực tế:

    . Những thú vui nho nhỏ: thích được ở gần hồ…

    • Bất động sản đó đáp ứng được yêu cầu của họ ( Tạo khách hàng cảm giác họ mua đúng nguồn, đúng người ) Để họ đắn đo suy nghĩ.
    • Thuyết phục và giá cả phải chăng:
    • Tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng.
    • Chuẩn bị cho khách hàng về mặt tinh thần: vì mua hay bán đều liên quan đến khoản tiền lớn đều gây cảm xúc khác nhau.
    • Giúp khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính.
      41  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp xác định mốc thời gian.
    • Giúp đưa ra quyết định.
    • Giúp phát triển ý tưởng về nơi họ sống.
    • Giải quyết tốt vấn đề này sẽ mang lại uy tín cao..
    • Kết luận:
    • Ổn định mối quan hệ cá nhân là quan trọng nhất đối với nhà Môi giới, mang lại lợi ích rất lớn về sau.
    • Chìa khóa trong vấn đề thu hút khách hàng là sự đầu tư chuyên sâu phù hợp. Nhà Môi giới phải thuyết phục được khách hàng? Nên sử dụng dịch vụ của họ và họ mới là người phù hợp.
    • Khả năng gợi mở nhu cầu dịch vụ cho khách hàng -> giúp thu hút khách hàng.

    f.                   Xây dựng nhà Môi giới chuyên nghiệp

    1. Quản lý bản thân. a). Đặc tính công việc.

     

    • Không bị quản lý chặt về thời gian
    • Linh hoạt cao: xử lý nhanh.
    • Không có cấp trên.
    • Thời gian của nhà Môi giới giành cho việc trao đổi, nói chuyện với khách hàng tiềm năng.
    • Để chuẩn bị thời gian trao đổi với khách hàng, soạn thảo quảng cáo và hợp đồng.
    • Cho các hoạt động nghề nghiệp khác: ví dụ: thời gian đi đên điểm hẹn, thời gian để viết thư, tham gia các cuộc họp nghề nghiệp, chuẩn bị sắp xếp tào liệu.
    • Giành thời gian cho công việc những thể loại mà không liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp; đi thăm thú khu đất mới…
    • Thời gian để xem xét các khách hàng trong ngày.
    • Công việc văn phòng.
      42  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đọc qua báo chí và những thông tin liên quan đến thị trường bất động sản.
    • Đọc internet và mail.
    • Liên lạc với Môi giới khác để trao đổi các mối khác.
    • Sắp xếp tài liệu quảng cáo khách hàng thuê, mua.
    • Kiểm tra danh sách các cuộc điện thoại cần gọi.
    • Xem xét hồ sơ tài liệu, công việc đang thực hiện.
    • Kiểm tra các công việc đang thực hiện.
    • Gọi điện đến khách hàng tiềm năng.
    • Kiểm tra tính thời sự của thông tin quảng cáo.

    b). Quản lý thời gian

    • Thực địa:
    • Kiểm tra tại hiện trường về nguồn quảng cáo.
    • Nhà Môi giới phải đi đến các cuộc hẹn.
    • Làm việc với cơ quan nhà nước, công chứng, lấy giấy chứng nhận.
    • Tham khảo thăm các văn phòng khác.
    • Thời gian rỗi:
    • Kiểm tra các dự án mới trong khu vực hoạt động của mình.
    • Tham quan các địa điểm mới của thị trường bất động sản.
    • Xem xét các văn bản pháp luật mới có liên quan đến thị trường bất động

    sản.

    • Gọi điện cho khách hàng để thông báo tiến trình thương vụ.
    • Chuẩn bị các công việc cho ngày hôm sau.
    • Tham quan những địa điểm tiềm năng chưa được khai thác của thị trường và cơ sở dữ liệu kinh doanh, tràn trí nội thất, côngty.
    • Thêm vào danh sách các công ty kinh doanh bất động sản mới.
    • Gửi lời chúc sức khoẻ và cảm ơn tới khách hàng và thương vụ đã hoàn thành.
    • Phương pháp thực hiện:
      43  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định mục tiêu: là bước đầu tiên để quản lý thời gian một cách hiệu

    quả.

    • Nhà Môi giới phải có ý thức: kiểm soát từng phút trong ngày.
    • Lập thời gian biểu: là sức mạnh của nhà Môi giới phải có cách điều chỉnh thời gian biểu để hoạt động ngày hôm đó là nhanh nhất.
    • Phải liệt kê ra giấy: cần bao nhiêu thời gian cho việc cho việc tìm khách hàng mới?đi xem nhà?giải quyết hợp đồng ? đi công chứng?
    • Phải biết cách phân chia thời gian thích hợp: không phân chia theo kiểu phải tìm bằng được khách hàng mà instead “ ta có 4 tuần để tìm khách hàng”
    • Trả lời câu hỏi “người ta muốn gì?tại sao mua? Mua như thế nào? Đã có phương pháp làm việc tốt?.
    1. Chuyên nghiệp hoá công việc

     

    • Yêu cầu:
    • Để trở thành nhà Môi giới chuyên nghiệp đầu tiên phải có khả năng chịu đựng: sự ức chế, bức xúc… những việc này luôn luôn xảy ra khi tiếp xúc khách hàng phải biết chịu đựng, nhẫn nại. phải tìm được lối thoát khi xảy ra các tình trạng trên.
    • Phải biết cách đối xử, ứng xử với nhiều loại người khác nhau.
    • Phải rèn luyện tính kiên nhẫn, phải hoà đồng, đọc chính xác những tín hiệu của khách hàng, phải học cách chai lỳ trước những cái dễ làm tổn thương, phải học cách nhanh chóng đứng lên sau thất bại.

    +Phải có kỹ năng tạo bầu không khí thân thiện.

    • Liên tục rèn luyện thực hành tinh thần, khả năng nắm bắt tâm lý và rèn luyện thân thể.
    • Nguyên tắc: để cho các bên dễ đi đến thoả thuận.
    • Xác định thiện cảm ngay lần gặp đầu tiên.
    • Cố gắng thực hiện những lời đã hứa với khách hàng, thậm chí thực hiện nhiều hơn những lời đã hứa một cách tỉ mỉ và cẩn thận. Đồng thời thông báo thường xuyên tiến trình sự việc với khách hàng.
      44  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giải quyết các người Môi giới của fairplay”.

    công việc giữa các bên mua và bán theo hướng bạn là hai bên, cần xử công bằng với hai bên theo nguyên tắc “

    • Hình ảnh lý tưởng của nhà Môi giới chyên nghiệp.
    • Đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn: bắt buộc sự dấn thân của mình vào vòng quay của bất động sản là sự nghiệp chứ không phải là công việc để kiếm sống. Tính chuyên môn sâu và động lực nghề nghiệp sẽ liên hiệp các nhà Môi giới lại….
    • Sự kiên nhẫn: chân thành với khách hàng, biết lắng nghe kể cả không liên quan trực tiếp.
    • Trong quá trình giao tiếp quan hệ với khách hàng cần gây niềm hứng khởi cho khách hàng.
    • Tinh thần trách nhiệm:

    Nhận trách nhiệm về mình và có ý thức tỉnh táo thực hiện trách nhiệm đó. Nghề Môi giới không thích hợp với người thiếu năng lực, láu cá, không tôn

    trọng luật chơi

    • Tính chuyên nghiệp:
    • Chuyên môn nghề nghiệp cao; cần hiểu biết những ngõ ngách, vùng tối trong nghề nghiệp,biết cách xử lý những tình huống nhạy cảm.
    • Có khả năng soạn thảo hợp đồng khác nhau trên thị trường quốc gia và quốc tế
    • Đạo đức nghề nghiệp:
    • Người Môi giới làm việc dưới sức ép của dư luận xã hội, báo chí ->cần xác định.

    Không nên nghĩ rằng khách hàng biết tự bảo vệ mìh và pháp luật bảo vệ họ. Không nên nghĩ khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào Môi giới.

    • Phải tuyệt đối tuân theo đạo đức chung:
    • Độ tin cậy:
      45  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thông tin: việc trao đổi thông tin giữa các nhà Môi giới là vấn đề cơ bản nhất. Ở Việt Nam vẫn là vùng trắng, cần hỗ trợ các cơ quan điều tra cỏ bản cung cấp thông tin cơ bản về thị trường bất động sản.
    • Năng lực: Có thông tin đầy đủ lĩnh vực liên quan, khả năng vận dụng vào thực tế, biết cách tư vấn…
    • Phong cách: nhanh nhẹn, phong cách riêng.
    • Sự nhanh nhẹn: công việc luôn yêu cầu sự nhanh nhẹn. di chuyển tranh thủ thời gian. Nhanh nhẹn cả về vật lý và tâm lý.
    • Luôn sẵn sàng phục vụ: hoạt động trong mọi hoàn cảnh, thời gian không phải của chính họ mà phụ thuộc và khách hàng.bản thân và gia đình phải chấp nhận.
    • Óc quan sát: Kết nối sự việc, có trí nhớ tốt, cần nhớ mặt họ tên sở thích của khách hàng.
    • Văn hoá cá nhân: Cần chứng tỏ là người có văn hoá cá nhân cao, thể hiện trong quan hệ với khách hàng, văn hoá ứng xử trong công việc
    • Diện mạo bên ngoài:
    • Ấn tượng đầu tiên: Khách hàng ngay đầu tiên đã để ý đến nhà Môi giới , khoảng 30 đến 60 giây đầu tiên có thể nhận diện mức độ trung thực , trình độ văn hoá, tính cách, công việc của họ có thuận lợi hay không.
    • Hình thức quan trọng hơn nội dung: ấn tượng đầu tiên tạo nên bởi hình thức 50 %, 38 % ngôn ngữ cơ thể, nội dung câu chuyện 7 %. đầu tư cho hình thức bên ngoài có thể làm tăng thu nhập cho nhà Môi giới
    • Con người của thành đạt: hình thức cũng thể hiện con người thành đạt – phải chứng tỏ thành công đối với khách hàng ngay cả khi thực tế ngựơc lại.
    • Vệ sinh cá nhân: thường xuyên phải tiếp xúc khách hàng phải giữ gìn vệ sinh tốt và vệ sinh văn phòng Môi giới.
    • Tôn trọng thời gian của khách hàng.
    • Ý nghĩa của kỹ thuật mới: người già không thích hợp, người trẻ năng động

    tiếp cận kỹ thuật mới: vi tính…

      46  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điện thoại di động:
    • Tránh ra ý nghĩa tiêu cực: tránh gây tâm lý thất bại trong môi trường..
    • Quyết đoán và trung thực: cần quyết đoán và hành động theo nhóm.
    • Sự hài lòng về tiền bạc: cảm giác tự hào tiền thù lao xứng đáng
    • Tính hiểu biết về chu kỳ: Kinh doanh bất động sản có tính chu kỳ, có những lúc đóng băng, lúc “nóng”, nhà Môi giới cần nghỉ ngơi làm việc đúng lúc, không nên làm việc liên tục dẫn đến căng thẳng kiệt sức.

    VI. MARKETING BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Chiến lược sản phẩm và dịch vụ

    – Đa dạng hoá hàng hoá

    –  Khác biệt hoá

     

    –  Đổi mới thiết kế

     

    – Xây dựng thương hiệu – Dịch vụ sau bán hàng – Doanh số.

     

    3.                 Chiến lược giá cả Bất động sản.

    • Gía cả là số tiền khách hàng phải trả cho khi mua hoặc sử dụng dịch vụ bất động sản.
    • Nội dung:
    • Lựa chọn chính sách giá và định giá.
    • Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh để định giá.
    • Nghiên cứu giá cả sản phẩm, dịch vụ Bất động sản cùng loại trên thị trưòng.
    • Nghiên cứu cung cầu, sức mua, thị hiếu của khách hàng để có những quyết định về giá cả.
    • Chính sách bù lỗ hợp lý
      47  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường.

    3. Chiến lược phân phối

    – Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng hai dạng: phân phối trực tiếp và qua các kênh phân phối.

    –  Nội dung:

    • Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối.
    • Thiết kế mạng lưới phân phối.
    • Xác định lượng dự trữ Bất động sản.
    • Tổ chức hoạt động bán hàng.
    • Các dịch vụ sau bán hàng: pháp lý, bảo dưỡng, bảo hành…
    • Trả lương cho nhân viên bán hàng.
    • Trưng bày giới thiệu hàng hoá.

    4. Yểm trợ bán hàng.

    • Là tập hợp những hoạt động mang tính thị trường nhằm gây ấn tượng đối với người mua.
    • Được thực hiện thông qua các hình thức: quảng cáo, chào hàng, triển lãm, tuyên truyền, cổ động, quan hệ quần chúng, khuyến mãi…

    4.                 Các nhân tố ảnh hưởng đến Marketing Bất động sản.

     

    1. Uy tín và thương hiệu
    1. Tình huống thị trường.
    1. Vòng đời sản phẩm
    1. Tính chất Bất động sản và dịch vụ.

    VII. Kü n¨ng giao tiÕp vμ ®μm ph¸n trong giao dÞch bÊt

    ®éng s¶n

    1. GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH.
    1. Khái niệm về giao tiếp trong kinh doanh

    –    Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người với người nhằm mục đích nào đó.

      48  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giao tiếp trong kinh doanh là sự tiếp xúc giữa những người kinh doanh (lãnh đạo, cán bộ nhân viên…), đối tác với khách hàng, với những người liên quan

    nhằm phục vụ mục đích kinh doanh.

    1. Đặc điểm của giao tiếp trong kinh doanh.
    • Giao tiếp phản ánh mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa người với người trong xã hội.
    • Giao tiếp nhằm thu thập, chuyển tải, trao đổi thông tin.
    • Giao tiếp là một quá trình bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và ý chí giữa các cá thể giao tiếp.
    • Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh là nhằm phục vụ kinh doanh, nêu lý do quan trọng trong các thông tin giao tiếp.
    1. Các phương tịên giao tiếp Phương tiện phi ngôn ngữ

    –  Những tín hiệu phi ngôn ngữ

     

    • Giọng nói.
    • Nụ cười, khuôn mặt, ánh mắt.
    • Qua sự vận động của cơ thể.
    • Vận động của đầu.
    • Vận động của tay.
    • Tư thế.
    • Trang phục.
    • Không gian giao tiếp.

    Phương tiện ngôn ngữ

    • Lời nói.
    • Ngôn ngữ

    Trong giao tiếp cần chú ý kết hợp cả chức năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

      49  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    B.TỔNG QUAN VỀ ĐÀM PHÁN

    1. Bản chất
    • Là một hình thức giao tiếp để tạo ra thoả thuận giữa các bên về một vấn đề nào đó mà các bên quan tâm.
    • Đàm phán là một hành vi và qúa trình trong đó các bên trao đổi, thảo luận, 0có một mối quan tâm chung và có những điểm bất đồng. Qua trao đổi thoả thuận để đi đến thoả thuận thống nhất.
    • Đàm phán kinh doanh Bất động sản là sự thoả thuận giữa các bên nhằm tạo sự thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch kinh doanh.
    1. Các kiểu đàm phán.
    1. Dựa trên kết quả của đàm phán.
    • Nếu chỉ có hai bên các kết quả có thể đạt được (thành công). + Có người thắng, người thua.

    + Cả hai bên cùng thua. + Cả hai bên cùng thắng.

    Không phải mọi cuộc đàm phán là một cuộc chiến, do vậy mục tiêu các bên không phải là tiêu diệt đối tác.

    Dựa trên kết quả trên

    • Thắng – thua: nên đàm phán như một trận chiến, chỉ một bên thắng (đạt đựơc mục đích.
    • Thua – thua: Không đạt được kết quả cho cả hai bên, mà còn mất thời gian chi phí.
    • Thắng – thắng: Các bên cùng quan tâm lợi ích của nhau với tinh thấn hợp tác và đều thu được lợi ích. Đây là kiểu đaà phán thành công nhất.
    1. Theo phong cách và mô hình. Kiểu “ mặc cả lập trường”.

     

    – Đàm phán kiểu mềm: Tránh xung đột, dễ dàng nhượng bộ, coi trọng quan hệ, coi đối tác như là bạn bè.

      50  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đàm phán kiểu cứng: Đối tác đưa ra lập trường cứng rắn, ép đối phương phải nhượng bộ.
      • Tuỳ theo đối tác và hoàn cảnh đàm phán mà áp dụng kiểu đàm phán.
    • Với những đối tác mạnh ta nên áp dụng kiểu đàm phán cứng.
    • Đàm phán kiểu nguyên tắc:
    • Nguyên tắc 1: Đừng bám vào lập trường mà hãy tìm hiểu lợi ích thực sự của nhau.
    • Nguyên tắc 2: Hãy đưa ra nhiều phương án thay thế khác nhau.
    • Nguyên tắc 3: Hãy cứng về lợi ích, mèm về quan hệ.
    • Nguyên tắc 4: Có TCKQ để chứng minh các yêu cầu.
    1. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

     

    1. Chuẩn bị đàm phán

     

    1. Chuẩn bị ngôn ngữ đàm phán b. Chuẩn bị thông tin đàm phán

     

    –  Thông tin về hàng hoá dịch vụ giao dịch.

     

    – Thông tin thị trường: thông tin cung, cầu, giá cả của thị trường có liên quan đến loại hàng hoá đó để so sánh, nắm bắt xu hướng.

    – Thông tin về đối tác: tư cách pháp nhân, tiềm lực kinh tế, tài chính, uy tín, hệ thống bộ máy quản lý, người lãnh đạo…

     

    – Thông tin về đàm phán: sơ lược về tiểu sử: giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, quá khứ, hiện taị, gia đình, thu nhập, năng lực phẩm chất…

    1. Chuẩn bị năng lực đàm phán
    • Tổ chức đoàn đàm phán: thành phần, cơ cấu.
    • Lựa chọn chuyên gia, người trong đoàn đàm phán về tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất, kỹ năng đàm phán và các phương tịên kỹ thuật hỗ trợ.
    1. Chuẩn bị thời gian và địa điểm đàm phán.
    • Cần chú ý đến “điểm chết” – là thời hạn cuối cùng của để cuộc đàm phán đi đến kết quả.
      51  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Địa điểm tốt nhất là “sân nhà” – là nơi chuẩn bị được tài liệu và số liệu nhanh nhất. Nếu không chọn được sân nhà thì cuộc đàm phán nên chọn “sân trung gian”.
    • Vị trí đàm phán:
    1. Thiết lập mục tiêu đàm phán
    • Chỉ rõ mục tiêu cần đạt được: mục tiêu tối đa, mục tiêu tối thiểu cần hướng

    tới.

    • Xác định giới hạn của sự thoả thuận: giới hạn cuối cùng giải pháp tốt nhất của các bên khi không đạt được sự thoả thuận.
    1. Đánh giá lại đối tác và điểm mạnh điểm yếu của mình.
    1. Lập phương án kinh doanh.
    1. Xác định chiến lược đàm phán và đàm phán thử.
    1. Qúa trình đàm phán: Mở đầu đàm phán.

    –  Chào hỏi, giới thiệu các thành phần trong đoàn

    – Bên yêu cầu, đưa ra đề nghị đàm phánthì bên đó sẽ mở đầu cuộc đàm phán. – Có rất nhiều kỹ năng mở đầu

    +  Tạo tiếng cười vui vẻ.

    + Bằng một câu chuyện liên quan đến vấn đề dàm phán: Bằng một thí dụ, một đoạn sách báo có sẵn.

    + Bằng lời khen ngợi có thiện cảm -> cách này dễ bị người khác “nắn mình”, tuy nhiên nên chuẩn bị bằng lời không khen không chê.

    1. Lắng nghe

    –  Để lĩnh hội toàn bộ thông tin mà đối tác truyền đạt.

    – Là sự thể hiện tôn trọng đối phương, thoả mãn nhu cầu tự trọng của đối phương, để biết đối phương đã thực sự hiểu lời nói chủ đích của ta hay chưa, đồng thời biết được bối cảnh thời gian, quyền lợi và nhu cầu của đối phương để đưa ra những quyết định có lợi nhất.

      52  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Lắng nghe phải có chủ đích, tập trung vào những vấn đề trọng yếu nhất. Vừa nghe vừa tìm hiểu, thăm dò, quan sát… đối phương. -. Tích hội những thông điệp cần thiết nhất.
    1. Nghệ thuật đặt câu hỏi.
    • Câu hỏi đóng: Không cho người khác sang tạo thêm mà chỉ để cho họ lựa chọn phương án.
    • Câu hỏi mở: Cho phép người trả lời tự do theo suy nghĩ của họ.
    • Câu hỏi gián tiếp
    • Câu hỏi nhằm chuyển chủ đề.
    • Câu hỏi thăm dò ý kiến người khác.
    • Câu hỏi có định hướng: Đưa ra hướng trả lời câu hỏi cho đối tác.
    • Câu hỏi không định hướng: Để tìm ra những suy nghĩ mới của đối tác.
    • Câu hỏi trình bày thông tin.
    • Câu hỏi kết thúc suy nghĩ.
    • Câu hỏi khuyến khích được ra quyết định..
    • Câu hỏi mập mờ:
    • Câu hỏi dẫn dắt: mang tính định hướng.
    • Câu hỏi tu từ: Kỹ thuật vận dụng ngôn từ.
    • Câu hỏi thật: đi thẳng vào vấn đề.
    • Câu hỏi kết luận: Rút ngắn cuộc đàm phán.
    1. Trả lời câu hỏi:
    • Trong trường hợp bình thường: phải tuân thủ nguyên tắc: chính xác, đầy đủ kịp thời.
    • Cần chú ý: Không nên hấp tấp, vội vàng, để có thời gian suy nghĩ.
    • Khi chưa rõ câu hỏi phải yêu cầu đối tác nói rõ lại câu hỏi.
    • Hiểu câu hỏi nhưng chưa rõ câu trả lời, cần bình tĩnh kéo dài thời gian trả

    lời.

    • Chỉ trả lời những gì mà đối phương hỏi.
      53  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Âm lượng vừa nghe rõ rang, lưu loát, dứt khoát.
    • Những câu trả lời có kèm theo chứng cứ, số liệu thực tế thường có sức thuyết phục.
    • Trả lời câu hỏi khi bế tắc.

    . Kéo dài thời gian bằng việc không trả lời ngay, lái câu chuyện sang hướng khác hoặc trả lời vòng vo.

    .     Trả lời mập mờ, chung chung.

    .       Đặt lại câu hỏi đó với chính người trả lời.

    .     Có thể đánh trống lảng hoặc trả lời phần không quan trọng của câu hỏi.

    1. Đặt giá và trả giá. – Chú ý khi đặt giá

    + Nếu uy tín hàng hóa cao, khan hiếm trên thị trường lên đặt giá cao hơn giá thị trường 15 đến 20 %.

    + Nếu uy tín hàng hoá, khan hiếm không cao, nên đặt giá cao hơn khoảng từ 10 đến 15 %.

     

    +  Uy tín thấp, khan hiếm thấp, đặt giá cao 5 đến 10 %.

     

    + Không có uy tín, cung lớn hơn cầu -> Đặt đúng giá bán. – Phương pháp trả giá

    + Nếu người bán đặt giá cao, ta tìm cách trả thấp: tìm những điểm bắt bí buộc họ phải hạ giá.

     

    +  Nếu đối tác đặt sát giá -> Ta nên đặt sát giá.

     

    1. Khắc phục bế tắc trong đàm phán.
    • Khi đàm phán bị bế tắc cần tỉnh táo phân tích sự việc, nhìn lại mình và đối tác. Xem mục tiêu của các bên và tính hợp lý của chúng, xem quan điểm, lập trường, tình cảm, tình huống, ngoại cảnh… nó ảnh hưởng đến việc đàm phán bí tắc, từ đó tìm hướng giải quyết. Nếu vẫn bí tắc có thể sử dụng một trong các cách sau.

    + Thống nhất lại những vấn đề đã đạt được, gác lại hoặc gạt bỏ những vấn đề bất đồng.

      54  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chọn giải pháp đường vòng: giải quyết những vấn đề có thể thống nhất được trước, sau đó còn lại mới vào vấn đề bế tắc
    • Tạm thời đình chỉ đàm phán để có thời gian cùng suy nghĩ, và dự kiến tái đàm phán vào dịp sau đó.
    1. Kết thúc đàm phán.

    – Thống nhất khẳng định những vấn đề đã thoả thuận. – Chuẩn bị sãn sang hợp đồng ký kết.

    D.MỘT SỐ LƯU Ý KHI ĐÀM PHÁN

    1. Kiểm soát tiến độ đàm phán.
    • Sử dụng thời gian, thời hạn đàm phán hợp lý, biết cách trì hoãn , gây trở ngại nếu nó có lợi cho mình.
    • Không để đối phương đưa cuộc đàm phán diễn ra quá nhanh hay điều khiển hoặc cuốn hút mình.
    • Nếu đối phương muốn chậm tiến độ, cần hiểu rõ nguyên nhân và gây sức ép.
    • Cách kiểm soát tốc độ:
    • Không nên chấp nhận một lời đề nghị nào đó ngay
    • Chưa nên quyết định ngay
    • Không đàm phán nhanh.
    1. Khai thác yếu tố con người.
    • Tranh thủ tối đa quan hệ tình cảm, tâm lý.
    • Luôn tỏ ra mình có ưu thế và đánh vào long tham, tính ích kỷ của đối phương.
    • Nên đưa ra nhiều tình huống quyết định. Do đó phải biết chia nhỏ mục tiêu.
    • Tạo vẻ chính thắng vớí chứng cứ (chứng cứ đôi khi có thể là giả).
    • Phải có mục đích cao và nhẫn nại.
    • Im lặng là vàng.
    • Ai cũng thích được tặng quà -> chú ý đến khuyến mại.
    • Nhớ một nguyên lý: “ông rút chân bà thò nậm rượu” -> Hai bên cùng có lợi.
      55  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nên đưa ra phương án đơn giản để đối phương lựa chọn.
    1. Xây dựng các giải pháp linh hoạt và chủ động.
    • Xác định mục tiêu chính của đàm phán từ nhiều góc độ.
    • Biết cân nhắc lợi ích lâu dài với hạn chế trước mắt.
    • Phải linh hoạt với nhiều mức độ khác nhau.
    • Đôi lúc phải biết giả thua.
    • Phải phân biệt những vấn đề nhỏ với vấn đề lớn, sẵn sàng linh hoạt nhân nhượng vấn đề nhỏ, nhưng đòi hỏi đối phương nhân nhượng vấn đề lớn
    • Phải biết giả thua: đưa ra yêu cầu cao, đối phương đòi nhân nhượng. Ta giảm yêu cầu tuy nhiên vẫn là người đạt được mục tiêu.
    1. Chú ý tính kỹ thuật tính kế hoạch.
    • Lường trước những câu trả lời, vấn đề cơ bản cần phải phản ứng, và những phương án mang tính nhượng bộ cho đối phương.
    • Lường trước cách trình bày: đảm bảo tính thuyết phục và côn bằng, tài liệu và tư liệu là bí quyết để hỗ trợ cho đàm phán mang tính chính thống.
    • Quan tâm tới sổ đàm phán: sổ ghi chép những thông tin tình tiết, nhượng bộ trong đàm phán.
    • Chú ý chiến lược trong đàm phán.
    • Phải thể hiện mình là người có quyết tâm nhất, trả giá cao nhất.
    • Vừa đấm, vừa xoa.
    • Người nói nhiều, người nói ít phải phân định rõ ràng.
    1. Một số tình huống đặc biệt.
    1. Chiến thuật và biện pháp đàm phán.
    • Có thể doạ nạt, kích động để lọc ra những cơ hội mới.
    • Phải kiên nhẫn, không nên sớm nhượng bộ, cũng không nên căng thẳng quá.
    • Cố gắng chèo kéo thêm (tiểu xảo xin thêm).
    • Ngôn ngữ đàm phán cần để hướng mở cho lần sau.
    • Phải cộng lại chiến thuật: “ Chỉ có một sự lựa chọn”.
      56  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Đàm phán với người khó làm việc.
    • Với người thích doạ nạt: không cần căng thẳng, cần giữ vững lập trường không bị áp đảo trước lời doạ nạt của đối phương.

    +  Không nhất thiết phải đối đầu hãy mềm dẻo.

    +  Thận trọng để không bị sai lầm, tranh thủ sự mất cảnh giác của đối phương.

    1. Với những người huyênh hoang: Cần đến sự giúp đỡ của đối phương: để họ tự đánh giá.
    1. Những người thiếu quyết đoán: – Phải từ từ và nhẫn nại.

     

    – Hãy tâng bốc họ trước đồng nghiệp của họ -> làm họ mất cảnh giác. – Phải hạn chế nhượng bộ, phải quyết liệt.

     

    – Ví dụ: Nên hỏi: Trong bao phương án, tôi chọn phương án này ông có đồng ý không ? Không nên hỏi để họ lựa chọn.

    –   Cương quyết khi cần thiết: Khi cứng rắn cần chú ý:

     

    + Thể hiện rõ quan điểm, không giải thích, nhượng bộ phải chăng, đặt mục tiêu cao.

     

    + Những điều nên làm: Phải tin vào sự mach bảo của trực giác: khi tiếp xúc quan sát nảy sinh về độ tin cậy.

    +  Hãy thương lượng theo kiểu của mình.

     

    + Không để lộ điểm yếu, không để cố vấn nói nhiều, tỉnh táo trước những tình huống giả.

    MỘT SỐ TIỂU XẢO TRONG ĐÀM PHÁN

    1. Tiểu xảo chê bai: Bám vào cái hạn chế để chê bai.
    1. Tiểu xảo vờ bỏ đi: Vờ bỏ đi để khách hàng quay lại
    1. Tiểu xảo ăn vạ: Dựac vào một cớ nào đó để ăn vạ.
    1. Tiểu xảo cạnh tranh công kênh:Dùng giá của đối tác thứ 3, 4 nào đó để làm hạ giá đối phương, tạo cú huých
    2. Tiểu xảo “hỏi ý kiến cấp trên”
      57  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Tiểu xảo xin thêm.
    1. Tiểu xảo cưa đôi chênh lệch
    1. Tiểu xảo siết ốc.
    1. Tiểu xảo liên tưởng
    1. Tiểu xảo đưa ra bằng chứng về số liệu thống kê.
    1. Tiểu xảo đưa ra các thông lệ.
    1. Tiểu xảo bắt chẹt
    1. Chiến lược chia cắt đối phương để chinh phục.
    1. Tiểu xảo “gây nóng giận”
    1. Tiểu xảo đẩy vấn đề vào việc đã rồi.
    1. Tiểu xảo “mời đối tác tham quan công ty cảu mình”.
    1. Tiểu xảo vừa đàm phán vừa đánh.
    1. Tiểu xảo đánh trống lảng khi bị chất vấn.
    1. Tiểu xảo bong bàn.
    1. Tiểu xảo câu giờ.

    VIII.  Tổ chức và quản lý văn phòng môi giới bất động sản

    1. Xác định chiến lược hoạt động. – Tìm hiểu khách hàng tiềm năng. – Đối thủ cạnh tranh.

    –  Gía cả

     

    – Xác định các hoạt động marketing: xác định phương pháp quảng cáo, xúc tiến bán hàng.

     

    –  Loại hình doanh nghiệp; kinh doanh cá thể, doanh nghiệp thương mại….

     

    • dựa trên khả năng tài chính.
    • Trình độ quản lý của người sáng lập.
    • Xác định được năng lực kiểm soát.
    • Trách nhiệm đối với tài sản.
      58  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    2/ ChuÈn bÞ cho v¨n phßng m«i giíi ra ®ời

    1. Hình thành văn phòng Môi giới.
    1. Chọn vị trí văn phòng Môi giới.
    1. Trang bị cho văn phòng; không cần đòi hỏi nhiều về trang bị.
    1. Thông tin quảng cáo cho văn phòng
    • Tên văn phòng.
    • Chương trình quảng cáo phù hợp. Vấn đề nhân sự: số lượng, cơ cấu.
    • Chọn nhân viên có năng lực để: tăng cao chất lượng cho khách hàng, tăng chất lượng sống cho người Môi giới.
    • Các dạng nhân viên

    . Điều phối viên và niêm yết (MLS)

    . Nhân viên về thế chấp.

    . Điều phối viên thực địa.

    . Nhân viên tìm kiếm khách hàng.

    • Cơ sở bố trí nhân viên và tìm kiếm nhân viên
    • Lên danh sách trách nhiệm của từng bộ phận. Liệt kê công việc của từng bộ phận phải làm.
    • Xác định cần bao nhiêu người trong từng bộ phận?có trình độ chuyên môn? Tính cách như thế nào?.
    • Xem xét trách nhiệm công việc của từng người để tìm ra mức hợp lý.
    • Khi chọn nhân sự cần chú ý:
    • Chọn đúng người và đặt đúng chỗ.
    • Gây dựng lòng tin.
    • Tạo được hình ảnh, sự kính trọng của nhân viên bằng sự chân thành dựa vào tài năng và đạp đức nghề nghiệp.
    • Phải công bằng khích lệ nhân viên -> tạo sức mạnh đoàn kết.
    • Dựa vào tài đức của nhân viên hơn là sự thân quen.
      59  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    3/ Quản lý văn phòng Môi giới.

    • Ba công việc mà nhà Môi giới phải đảm nhiệm:
    • Vạch mục tiêu và khách hàng kinh doanh.
    • Tổ chức và lãnh đạo thực hiện công việc.
    • Đánh giá và động viên nhân viên văn phòng.

    Lập kế hoạch hoạt động :

    • Xem xét một số vấn đề cơ bản sau:
    • Số lượng thương vụ bao nhiêu để đạt mức lợi nhuận mong muốn.
    • Xem chương trình quảng cáo như thế nào?
    • Cần làm gì để đạt mức bán theo yêu cầu đó.
    • Kế hoạch ngân sách hoạt động cho văn phòng gồm:
    • Quảng cáo.
    • Chi phí liên quan.
    • Chi phí bưu phẩm, điện thoại.
    • Tiền lương nhân viên.
    • Chi phí điện nước.
    • Chi phí bảo hiểm.
    • Khấu hao trang thiết bị văn phòng.
    • Tiền thuê văn phòng.
    • Thuế thu nhập.
    • Chi phí khác.

    -Quản trị tài chính.

    -Quản trị nhân sự.

    • Lập khách hàng nhân sự.
    • Tuyển nhân viên:
    • Xác định năng lực chuyên môn của nhân viên.
    • Động cơ của nhân viên: cách kiểm tra, trắc nghiệm, viết, phỏng vấn.
    • Hình thức đào tạo của nhân viên trước kia.
      60  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thời gian thử việc của nhân viên.
    • Lựa chọn người quản lý văn phòng: có năng lực tổ chức…
    • Đào tạo nhân viên
    • Đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên.
    • Đưa ra mức lương thưởng hợp lý.
    • Trả lương dựa trên đóng góp cho doanh nghiệp.
    • Gĩư được tính cạnh tranh trên thị trường.
    • Đảm bảo sự công bằng trong đóng góp và hưởng thụ.
    • Mức lương đó phải động viên được nhân viên.
    • Phảo phù hợp với đièu kiện tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của văn phòng.
    • Chính sách trả lương theo phần cứng và phần mềm.
    • Lợi nhuận/tổng doanh thu : Mức độ lợi nhuận so với khách hàng từng giai đoạn để từ đó có biện pháp phù hợp.
    • Lợi nhuận/ lao động: cho phép ngừô quản lý đánh giá năng suất lao động của các nhân viên giữa các thời kỳ trong năm hoặc so sánh với cùng kỳ trước.
    • Lợi nhuận/ mỗi giao dịch: -> Tìm quy mô giao dịch -> Tìm kiếm các giao dịch lớn và bố trí giao nhiệm vụ cho từng nhân viên phù hợp với năng lực của từng nhân viên.
      61  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-chuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Lời mở đầu

    Thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thời gian qua các công ty đa quốc gia đã góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và góp phần thu ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực thì mục tiêu của các tập đoàn kinh tế này vẫn là tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc hình thành mối quan hệ giữa các công ty mẹ và công ty con, giữa các công ty con với nhau và định giá chuyển giao là chính sách được hầu hết các công ty đa quốc gia sử dụng. Các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện mọi biện pháp để làm sao cho giá trị thu về công ty mẹ có lợi nhất. Và việc dựa vào những yếu điểm của các nước tiếp nhận đầu tư, các tập đòan đa quốc gia đã thực hiện các phương pháp chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận đạt được và tối thiểu hóa số thuế phải nộp của mình.

    Hiện nay, thực trạng này đang diễn ra tại Việt Nam, và chính phủ Việt Nam đang phải đối đầu với việc trốn thuế của các tập đoàn đa quốc gia, ngoài ra việc chuyển giá cũng trực tiếp làm thiệt hại cho phía Việt Nam trong liên doanh. Chính vì tính chất quan trọng của vấn đề này, nhóm 11 đã cố gắng thu thập số liệu về thực trạng chuyển giá trong các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc chuyển giá để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc tìm hiểu và phân tích trong đề tài, nhưng do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nhóm chỉ đề cập một số vấn đề mang tính chất tổng thể.

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa đã truyền đạt những kiến thức quý báu giúp chúng tôi hoàn thành tiểu luận này. Với lượng kiến thức hạn chế sẽ còn gặp nhiều thiếu sót, nhóm tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để bài viết sau hoàn chỉnh hơn.

    Trân trọng.

     

    1. Hồ Chí Minh, tháng 03/2008

     

    Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

    1. 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài & hoạt động của công ty đa quốc gia

    1. 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ vốn sỡ hữu sẽ đứng ra trực tiếp quản lý điều hành sử dụng nguồn vốn đầu tư này. Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó mới tới đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc về các chính phủ và tổ chức quốc tế khác. Hiện nay FDI được xem là một giải pháp hỗ trợ vốn cho các nước nghèo, và là thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế kinh tế hiện đại. FDI không những được sử dụng như một hình thức hợp tác kinh tế mà còn được xem như là phương tiện quyết định cho sự phát triển của kinh tế thế giới.

    Khác với các loại hình đầu tư khác, FDI có các đặc trưng:

    FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực Marketing, kinh nghiệm quản lý… thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ.

    Việc tiếp nhận FDI tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Các công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển hạn chế tại nước của họ, sản phẩm bán ra giảm một cách đáng kể. Nguyên nhân của vấn đề này có thể là do sự cạnh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất khác hay do sự thay đổi thị hiếu của con người. Như vậy việc đầu tư sản xuất ra nước ngoài là giải pháp khả thi.

    Sử dụng nguyên liệu nước ngoài rẻ tiền thay vì nhập khẩu nguồn nguyên liệu với chi phí cao hơn rất nhiều lần, những nước chủ nhà có lực lượng lao động dồi dào, nguồn la động rẻ, lao động có tay nghề.

    FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp và nâng cao đời sống của người dân.

    FDI góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước của các quốc gia đang pháp triển không đủ khả năng cung ứng.

    FDI biểu hiện qua các hình thức:

    100% vốn thành lập doanh nghiệp mới: đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp toàn

    hoàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

    Tham gia các hợp đồng kinh doanh: đây là hợp đồng ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước tiếp nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nghiệm và phân phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân nào mới.

    Mua lại một phần hay toàn bộ doanh nghiệp của nước chủ nhà đang hoạt động.

    Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.

    Xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) và các hinh thức tương tự khác BTO, BT…

    là một loại hình đầu tư được nhà nước sử dụng để khuyến khích xây dựng các công trình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng, công trình cung cấp năng lượng… trong khi nhà nước có khó khăn về nguồn tài chính. Trong hình thức BOT nhà đầu tư tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây

    dựng công trình, tự khai thác kinh doanh công trình trong một thời gian nhất định để thu hồi và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển cho nhà nước.

    1. 2 Công ty đa quốc gia và nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC

    Khái niệm, vai trò của các MNC trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Chủ thể của FDI là các công ty đa quốc gia

    Liên hợp quốc định nghĩa: “MNC là một công ty tổ chức và kiểm soát sản xuất và các hoạt động liên quan tại hai quốc gia trở lên”. . Hay nói cụ thể hơn, MNC là hãng rất lớn có trụ sở chính (Công ty mẹ) ở môt quốc gia và một số chi nhánh (Công ty con) ở các quốc gia khác. Hoạt động sản xuất quốc tế của các MNC ám chỉ khả năng lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau theo các mục tiêu và chiến lược của các trụ sở chính.

    Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation – MNC) là công ty có sở hữu hay có quyền kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một quốc gia mà công ty đó có trụ sở chính.

    Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các MNC là nguyên nhân trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

    Các MNC phát triển rất nhanh và có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh tế thế giới, sản xuất ra khoảng từ 20% đến 25% tổng sản lượng của toàn thế giới và chiếm 90% tổng khối lượng đầu tư nước ngoài trên toàn cầu.

    Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hay nhiều công ty con (subsidiary) hoặc chi nhánh (afficiate) ở nước ngoài.

    Aûnh hưởng của MNC thông qua FDI tại các nước tiếp nhận đầu tư:

    • Số liệu thống kê cho thấy hơn 90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do các công ty đa quốc gia – MNC’s (multinational Copration) cung cấp, với Việt Nam cũng không phải là

    ngoại lệ khi chúng ta thấy có sự hiển diện của các MNC như Coca Cola, Pespi, Nestle, Unilever, Ford, Mercedes Benz,… Cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi của chính quốc (home Country) bằng nguồn vốn FDI, các MNC’s sẽ tạo ra một mạng lưới các công ty con (Subsidaries) trên phạm vi toàn thế giới mà lẽ đương nhiên là giữa các công ty còn này với

    nhau và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có các mối ràng buộc về nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về mặt kinh tế là quan trong và rõ ràng nhất nhằm phục vụ cho mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của toàn bộ các MNC.

    • Các lý thuyết quan trọng về các MNC đều chỉ ra rằng sự phát triển của các MNC đều dựa trên lợi thế riêng biệt, độc quyền mà có. Rõ ràng khi các MNC đã bành trướng hoạt động ra

    ngoài biên giới địa lý của các quốc gia thì các giao dịch trong nội bộ của một MNC sẽ tốn kém ít chi phí hơn là khi giao dịch trên thị trường tự do. Điều này đạt được là do các giao dịch nội bộ có tính chuyên môn cao, ít rủi ro trong khi tại thị trường tự do tồn tại sự khác biệt giữa các

    quốc gia về các lĩnh vực như thuế, kiểm soát ngoại tệ, thuế TNDN, hàng rào thuế quan và rất nhiều các quy định ràng buộc khác, tất yếu dẫn đến sự thiếu hoàn hảo của thị trường làm cho các giao dịch trở nên tốn kém và rủi ro cao.

    Chính bản thân công ty mẹ (parent company) ở chính quốc và các công ty con được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới sẽ tạo nên vô vàn những giao dịch phức tạp qua lại, mối quan hệ ràng buộc, cùng với tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong bản thân nội bộ của từng MNCù.

    Những đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia

    • Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất thế giới.
    • Các MNC là những công ty có tầm cỡ quốc tế, thiết lập hệ thống chi nhánh hoặc công ty con ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng thế lực quốc tế.
    • Các MNC hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tịch của một nước và vốn sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà tư bản của nước đó. Vốn được xuất khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi nhánh hoặc công ty con.
    • Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hoặc nhiều công ty con hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Với cơ cấu tổ chức này, cho dù những công ty con có tồn tại dưới hình thức này hoặc hình thức khác thì quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những công ty mẹ.

    1.1.3 Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC

    Do quy mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia với nhiều chính sách, phong tục tập quán kinh doanh khác nhau mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC là rất đa dạng và khó kiểm soát. Tuy nhiên, ta cũng có thể nhận dạng một số nghiệp vụ chuyển giao nội bộ qua các dịch chuyển về tài sản hữu hình và vô hình, dịch chuyển nguồn vốn

    bằng cách thức đi vay hay cho vay, sự cung cấp các dịch vụ tư vấn quản lý hay các nghiệp vụ, dịch vụ tài chính khác. … Vì tính chất quan trọng liên quan đến chiến lược hoạt động của cả MNC, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này có tính bảo mật và tập trung cao mà các cơ quan thuế rất khó có thể đưa ra được bằng chứng về hành vi chuyển giá của MNC.

    Nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thực chất là các nghiệp vụ mua bán, trao đổi, giao dịch được thực hiện giữa công ty mẹ với các công ty con và ngược lại, hoặc giữa các công ty con với nhau.

    1. 2 Định giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia

    1.2.1. Khái niệm

    Các MNC theo đuổi chiến lược toàn cầu hóa đã ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư và kinh doanh ra nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới. Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế tại một số nước, một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ ba, tất cả sẽ được lắp rắp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ được bán rộng rãi trên toàn cầu. Vấn đề này làm phát sinh các nghiệp vụ nội bộ công ty rất phong phú và đa dạng. Giá mà tại đó hàng hóa và dịch vụ được chuyển giao gọi là giá chuyển giao

    • price transfering. Như vậy, khi thực hiện một nghiệp vụ chuyển giao qua lại giữa các MNC, phải tính toán giá chuyển giao giữa các bộ phận. Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là định giá chuyển giao (price transfering ).

    Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt động. Với mức giá xác định cao hay thấp trong từng giao dịch lại tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nộp thuế cho các quốc gia và sự di chuyển ngoại tệ giữa các nước.

    Ví dụ sản phẩm điện tử tivi Sony (Nhật Bản), sản xuất bóng đèn hình do công ty con của Sony tại Thái Lan sản xuất theo đơn đặt hàng từ Nhật Bản, các linh kiện khác được thực hiện theo đơn đặt hàng tại Singapore và công đoạn sản xuất hoàn chỉnh tại Công ty điện tử Sony Việt Nam. Tivi Sony này có thể tiêu thụ tại Việt Nam hay xuất khẩu sang thị trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào hợp đồng đã ký kết của Sony Nhật Bản hoặc do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này. Chính vì các công đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tách rời mà giữa các công ty con và công ty mẹ của một MNC bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ. Đây chính là nguyên nhân hình thành các hoạt động định giá chuyển giao.

    Để đảm bảo nguyên tắc thương mại công bằng – cơ sở quan trọng nhất cho việc trao đổi mua bán và lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa tất cả quốc gia, tránh các thiệt hại phát sinh do các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ gây ra, một nguyên tắc chung đã được tất cả các quốc gia thống nhất áp dụng. Đó là nguyên tắc xác định giá trị của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC dựa trên căn bản giá thị trường (The Arm’s Length Principle – ALP).

    1.2.2. Nguyên tắc dựa trên giá thị trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ (Arm’s

    Length Principle – ALP)

    Nguyên tắc căn bản giá thị trường là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD) đưa ra nhằm đề cập tới giá cả của hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập – không có sự liên kết. Khi các công ty hoàn toàn độc lập có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng, …) đều được định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường. Ngược lại, khi các công ty có liên kết thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, các tác động thị trường không nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản thương mại và tài chính của hợp đồng và do đó chắc chắn sẽ có sự sai lệch, thiếu khách quan trong quan hệ chuyển giao này.

    Do tính khách quan của căn bản thị trường phản ánh đúng bản chất của thị trường và các quy luật giá trị, quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ, quy luật cạnh tranh, do đó tất cả các thành viên của OECD đều nhất trí sử dụng căn bản giá thị trường làm cơ sở để tính toán trong khi xác định giá chuyển giao và các vấn đề liên quan đến các loại thuế.

    Tuy nhiên, trong thực tế các hoạt động mua bán diễn ra rất phức tạp và có rất nhiều các yếu tố kinh tế và phi kinh tế khác cùng tham gia vào các quá trình này làm cho rất khó xác định được các nghiệp vụ chuyển giao tương đương có thể so sánh được trong các điều kiện nhất định tương ứng. Chẳng hạn như ALP thực sự khó có thể áp dụng cho sự chuyển giao diễn ra trong một MNC gồm nhiều công ty liên kết thực hiện một dây chuyền công nghệ sản xuất khép kín và sản phẩm của nó lại có tính đặc thù rất cao, liên quan tới giá trị tài sản vô hình đặc biệt nào đó.

    Chính vì thế trong một số trường hợp nhất định, ALP có thể trở thành gánh nặng về quản lý cho cả phía các MNC và cho cả cơ quan thuế khi phải đối diện với các giao dịch trao đổi, mua bán xuyên quốc gia. Mặc dù công nghệ thông tin và mạng internet đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, nhưng còn lâu thì các MNC và các cơ quan thuế mới tìm được đầy đủ thông tin phục vụ cho việc áp dụng nguyên tắc căn bản giá thị trường.

    Tuy có những hạn chế trên nhưng cho đến nay OECD và các thành viên vẫn tiếp tục công nhận sự đúng đắn của nguyên tắc ALP trong việc xác định giá chuyển giao giữa các công ty liên kết và các cơ quan thuế vẫn tiếp tục thừa nhận sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc ALP trong các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ đặc biệt là khi các giao dịch vượt qua ranh giới địa lý của một quốc gia. Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong định giá chuyển giao các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có thể tạo nên rủi ro cho MNC là phải chịu đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập.

    Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thực sự lên các chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so sánh giá chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các chuyển giao có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều kiện tương ứng. Tuy vậy trong thực tế hầu hết như chúng ta không tìm ra

    được các chuyển giao tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP, do đó chúng ta phải tìm ra những cách tiếp cận khác mang tính gián tiếp để vẫn có thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ MNC. Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp (hay lãi ròng) trong nhiều trường hợp chúng ta có thể xác định các chuyển giao đang đề cập có thể tuân thủ nguyên tắc ALP hay không ?

    1. 3 Vấn đề chuyển giá ở các công ty đa quốc gia

    1.3.1. Khái niệm về chuyển giá

    Định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị doanh nghiệp nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá.

    Chuyển giá (transfer pricing) là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu.

    Chuyển giá là một kỹ thuật mà các MNC tận dụng từ những ưu đãi khác nhau của các quốc gia trên toàn thế giới về các chính sách thuế, lãi suất để nâng giá đầu vào với các tài sản góp vốn, chi phí nguyên vật liệu, chi phí gián tiếp, … và các yếu tố đầu ra thì kê khai thấp hơn giá bán thực tế trên thị trường sao cho có lợi nhất. Đây là một kỹ thuật mà hầu như bất kỳ MNC nào cũng phải tận dụng để giảm tối đa số thuế phải nộp hoặc chiếm được thị phần lớn hơn cho các sản phẩm, dịch vụ của bản thân MNC và nhằm tối đa các rủi ro có thể gặp phải, bất chấp các quan hệ cung cầu của thị trường và tính cạnh tranh hợp pháp mà luật pháp của các quốc gia đều quy định. Như vậy, giữa hai khái niệm định giá chuyển giao và chuyển giá là hai mặt của một vấn đề. Chúng có cùng nội dung nếu xét về một khía cạnh nào đó, nhưng khái niệm định giá chuyển giao mang hàm ý tích cực về một chính sách của MNC thực hiện đối với các quốc gia tiếp nhận đầu tư và với quốc gia đi đầu tư và khái niệm chuyển giá là việc công ty mẹ áp đặt giá cả lên công ty con hay các công ty có mối liên kết (related parties) với mục đích chủ yếu trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Chuyển giá – một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận hiện nay trong các giao dịch quốc tế. Trong các hoạt động chuyển giá, các MNC đã không cần phải có bất kỳ nỗ lực nào trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất, phấn đấu giảm giá thành, tạo thêm giá trị gia tăng trong sự cạnh tranh cân bằng mà chỉ đơn giản phù phép trên sổ sách kế toán mà thu được những khoản lãi kếch xù.

    1.3.2.  Các yếu tố thúc đẩy các MNC sử dụng hành vi chuyển giá

     

    1. 3.2.1 Các động cơ bên ngoài MNC

    Khi thực hiện các giao dịch xuyên biên giới quốc gia, những điểm khác nhau trong chính sách của các nước sẽ trở thành động cơ cho các MNC cố gắng tối thiểu hóa chi phí bằng thủ thuật chuyển giá cho công ty mẹ chỉ định.

    Tối thiểu hóa thuế thu nhập

    Khi có sự chêch lệch về thuế suất thuế TNDN, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và chính sách thuế quan giữa hai quốc gia. Với mục tiêu tối thiểu hóa thuế TNDN hay các loại thuế phải nộp, các MNC sẽ tiến hành tối đa hóa chi phí ở nước có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập tại nước có thuế suất thấp. Mục tiêu này sẽ được thực hiện bằng hành vi chuyển giá với thủ thuật phổ biến là định giá cao ở các đầu vào nhập khẩu và định giá thấp ở đầu ra xuất khẩu đối với những công ty con đóng ở các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao. Bằng cách này các MNC đã dịch chuyển thu nhập từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp mà trong ví dụ của chúng ta là từ chính quốc sang nước chủ nhà khi thuế suất thuế TNDN tương ứng là 5% và 20% và cơ quan thuế của chính quốc bị mất đi nguồn thu từ thuế mà họ lẽ ra đã thu được nếu không có hành vi chuyển giá.

    Nếu thuế suất ở trong nước và nước ngoài bằng nhau thì công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp thuế là 28.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty con giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 28.000 USD, đây chính là khoản mà nhà nước ta bị thất thu. Trường hợp thuế suất nước ngoài nhỏ hơn ở Việt Nam thì sao ? Chẳng hạn thuế thu nhập doanh nghiệp ở Đài Loan là 20% và Việt Nam là 28% thì chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hóa và dịch vụ cho chi nhánh ở Việt Nam. Nếu khoảng nâng giá là 100.000 USD thì lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000 USD và thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD. Đồng thời lợi nhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD, tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD. Như vậy thông qua chuyển giá công ty này đã tiết kiệm được 8.000 USD.

    Kiểm soát ngoại hối và các rủi ro

    Sự không chuyển đổi được của đồng tiền, sự không ổn định của tỷ giá, các yêu cầu về cân đối ngoại tệ, các hạn chế trong việc tiếp cận nguồn ngoại tệ, … đã làm gia tăng các rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại nước chủ nhà. Rủi ro về ngoại hối cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng kích thích các MNC sử dụng cơ chế định giá chuyển giao để chuyển lợi nhuận từ đồng tiền yếu sang đồng tiền mạnh.

    Các MNC sẽ đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán là trong tương lai đồng tiền của quốc gia đó sẽ mạnh lên và ngay lập tức họ sẽ rút vốn khi dự đoán trong tương lai đồng tiền của nước chủ nhà sẽ yếu đi.

    Ta lấy ví dụ như sau : giả sử một MNC đầu tư vào Việt Nam vào tháng 12 năm 2006 số tiền là 100 triệu USD. Tỷ giá VND/USD là VND 16.000/USD, như vậy tại thời điểm tháng 12/2006 số tiền mà MNC bỏ ra là 1.600 tỷ VND. Giả sử sau 5 năm MNC rút vốn về nước với tình trạng hòa vốn trong kinh doanh. Có 3 khả năng có thể xảy ra đối với lợi nhuận mà MNC thu được từ Việt Nam từ chêch lệch tỷ giá.

    Tỷ giá VND/USD vẫn giữ nguyên là VND 16.000/1USD như vậy MNC vẫn rút được về đúng số vốn mà họ đã đầu tư vào Việt Nam là 100 triệu USD. Do đó tỷ suất lợi nhuận là 0%.

    Nếu đồng Việt Nam lên giá 10%, lúc này số tiền Việt Nam quy đổi ra USD sẽ gần bằng 110 triệu USD. Tỷ suất lợi nhuận lúc này bằng đúng tỷ lệ lên giá của VND và là 10%.

    Ngược lại, nếu đồng Việt Nam xuống giá 10% thì MNC sẽ chỉ thu về gần được 90 triệu USD và bị thua lỗ 10 triệu USD. Tỷ suất lỗ trong trường hợp này đúng bằng tỷ lệ mất giá của đồng tiền nước chủ nhà là 10%.

    Lạm phát

    Lạm phát tại nước chủ nhà làm giảm khoản lợi nhuận thu được từ đầu tư, vì thế các MNC chuyển dịch lợi nhuận đến các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp.

    Các bất ổn về chính trị và xã hội

    Sự bất ổn về chính trị và xã hội ở nước chủ nhà hàm chứa một rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư. Rủi ro cao có thể dẫn đến các MNC cố gắng thu lợi nhuận đầu tư càng sớm càng an toàn thông qua cơ chế định giá chuyển giao

    Các chính sách kinh doanh của MNC

    Khi mới thâm nhập thị trường hoặc mong muốn gia tăng thị phần tại một thị trường nào đó nhằm tiến tới độc quyền một số sản phẩm, các MNC có thể quyết định tạm thời định giá các sản phẩm của họ thấp hơn giá các sản phẩm cùng loại trên thị trường.

    1. 3.2.2 Các động cơ bên trong MNC

    Bên cạnh các động cơ bên ngoài MNC mà chúng ta vừa đề cập còn có các động cơ bên trong nội bộ của các MNC làm cho các hành vi chuyển giá càng trở nên đa dạng hơn và tinh vi hơn. Động cơ đó là :

    Các MNC bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh vì nhiều lý do khác nhau như : sai lầm trong thay đổi, lựa chọn sản phẩm, chi phí quảng cáo cao mà thiếu hiệu quả, … để giành thị phần tại các quốc gia khác nhau thì hành vi chuyển giá chính là cách cứu cho MNC qua việc lấy thu nhập nơi này san sẻ cho thua lỗ nơi khác mà kết quả là tạo nên các kết quả sản xuất kinh doanh giả tạo, không mang tính thị trường và vi phạm pháp luật của các quốc gia.

    Hoặc các sản phẩm được chuyển giao có độc quyền cao đặc biệt trong các ngành như dược phẩm, công nghệ tin học, sinh học, dầu khí, … thì chuyển giá cũng là phương thức chống rủi ro mà các MNC sử dụng.

    Các MNC ý thức được tầm quan trọng của việc chiếm thị phần là quan trọng hơn so với lợi nhuận trong ngắn hạn và vì vậy các MNC không ngần ngại bằng mọi cách tranh đoạt thị phần, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khi cần thiết phải thâm nhập vào một thị trường tiêu thụ mới thì chuyển giá cũng là một chiêu thức quen thuộc mà các MNC sử dụng nhằm chiếm thị phần một cách bất hợp pháp. Bằng cách định giá thấp các sản phẩm đầu ra được bán ra trong thị trường của nước tiếp nhận đầu tư (nước chủ nhà) mà các MNC với tiềm lực tài chính mạnh, sẵn sàng chấp nhận thua lỗ trong một thời gian phù hợp để đánh bật các đối thủ cạnh tranh trong nước có tiềm lực nhỏ bé hơn và khi đã chiếm được thị phần thì các MNC sẽ độc quyền nâng giá sản phẩm để bù lại phần thua lỗ trong thời kỳ đầu mới gia nhập thị trường.

    1.3.3.  Những ảnh hưởng của hoạt động chuyển giá

    1. 3.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư.

    Hành vi chuyển giá của các MNC qua việc định giá thật cao các nguồn lực đầu vào đã tạo ra sự sai lệch đáng kể trong cơ cấu về vốn của cả nền kinh tế quốc dân và phản ánh sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, cao hơn nửa là ảnh hưởng đến GDP của quốc gia tiếp nhận đầu tư.

    Từ việc giá thành sản phẩm đầu ra dưới mức giá thị trường tại một công ty con hay công ty liên kết có mức thuế suất thuế thu nhập cao hơn, một MNC có thể tối thiểu số thuế phải nộp ghi trên nước đó. Điều này dẫn đến một hệ quả chắc chắn rằng là các nước tiếp nhận đầu tư sẽ bị thất thu thuế nghiêm trọng.

    Chính việc nới lỏng chính sách thuế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư đã khuyến khích các MNC thực hiện chuyển giá. Nếu về lâu dài thì chính sự nới lỏng này sẽ buộc các quốc gia này gánh chịu những hậu quả, rõ nét nhất là nền kinh tế của nước chủ nhà sẽ không đủ sức mạnh để có thể đương đầu với những thay đổi của của thị trường, do việc thất thu thuế.

    Các MNC tạo được thế độc quyền về nhãn hiệu sản phẩm của mình bằng chính sách hạ giá bán sản phẩm đầu ra, thông qua các hình thức quảng cáo, khuyến mãi, hậu mãi dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư cùng ngành đi đến bờ phá sản hoặc chuyển sang kinh doanh

    • lĩnh vực khác, từ đó các MNC sẽ dễ dàng thao túng thị trường nước chủ nhà. Như vậy trong trường hợp này chính phủ của nước chủ nhà, nước tiếp nhận đầu tư không thể thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển theo định hướng như ban đầu.

    Mặt khác, một biến tướng của sự độc quyền nữa xảy ra khi các MNC cùng liên doanh với công ty nội địa của nước chủ nhà, chính sách chuyển giá sẽ dẫn đến thua lỗ kéo dài ở các liên doanh công ty con, dẫn đến phía đối tác ở nước chủ nhà giảm bị giảm vốn dần, có thể dẫn đến tình trạng mất vốn, và mất quyền kiểm soát từ đó bị các MNC mẹ thôn tính hoàn toàn, chuyển sang

    công ty 100% vốn nước ngoài với quyền sở hữu hoàn toàn thuộc về MN. Đây là quá trình thôn tính đối tác trong nước của các MNC thông qua chính sách chuyển giá.

    1. 3.3.2 Đối với các nước xuất khẩu đầu tư.

    Không chỉ có nước tiếp nhận đầu tư bị thiệt hại do hành vi chuyển giá của MNC mà cả nước xuất khẩu đầu tư cũng gặp khó khăn. Giả sử việc chuyển giá thực hiện khi có sự khác biệt của thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia, không xét đến các yếu tố khác, thì dường như ta cảm giác quốc gia nào có thuế suất thấp hơn sẽ được lợi từ việc chuyển giá, và quốc gia nào có thuế suất cao sẽ thất thu nghiêm trọng nhưng thật ra phần thất thu này sẽ chảy vào ngân sách của các MNC, một phần ít chảy là ngân sách của quốc gia có thuế suất thấp. Như vậy, quốc gia xuất khẩu đầu tư sẽ bị thất thu nghiêm trọng trong trường hợp quốc này có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn.

    • Tóm lại: Định giá chuyển giao là công cụ để các MNC dịch chuyển vốn trên quy mô toàn cầu nhằm phục vụ các mục tiêu của bản thân MNC. Còn chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan của MNC nhằm tìm cách tối thiểu hóa số thuế phải nộp thông qua việc xác định các giá trị chuyển giao trong các giao dịch nội bộ của MNC không theo đúng giá thị trường, qua đó chủ động lựa chọn quốc gia để khai báo thuế với các thuế suất có lợi nhất cho MNC mà không quan tâm đến quyền lợi của quốc gia có liên quan.

    Động cơ cũng như các thủ thuật chuyển giá của các MNC ngày càng phức tạp và tinh vi – đây là vấn đề làm đau đầu cơ quan thuế và làm cho chính phủ mất khả năng quản lý nền kinh tế theo định hướng đã đề ra. Lý do là chưa tìm ra được phương pháp tiếp cận chính xác và cụ thể cũng như sự phối hợp toàn diện trên quy mô toàn cầu.

    CHƯƠNG 2  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CÁC DOANH

    NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

    2.1.     Đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    2.1.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Theo số liệu Phòng Quản lý đầu tư nước ngoài (Cục thuế TPHCM) công bố FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Hiện có trên 8.590 dự án của 81 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động có tổng vốn đầu tư trên 83,1 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 29,2 tỷ USD. Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Trong số các nước

    và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 1.837 dự án với tổng vốn đầu tư 13,5 tỉ USD.

    Trong khi đó FDI vào Trung Quốc mỗi năm sẽ đạt khoảng 87 tỉ USD , tỷ lệ vốn FDI của Nhật Bản chỉ chiếm 2,5% GDP của Nhật Bản, thuộc hàng thấp nhất thế giới, FDI vào Ấn Độ đang tăng mạnh, từ mức 6,7 tỉ USD năm 2005 lến đến 17,5 tỉ năm 2006

    Năm 2007 đang dần khép lại với con số thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả năm đầy ấn tượng: 20,3 tỷ USD.

    Doanh thu của DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Quy mô vốn đầu tư trung bình của mỗi dự án thời gian qua đạt gần 11 triệu USD. Có các dự án như: dự án nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư 1,7 tỷ USD, Kiên Giang c bị mặt bằng cho dự án Hòn ngọc châu Á tại Phú Quốc với quy mô 2 tỷ Euro của Tập đoàn uỷ thác Trustee Suisse, Tp.HCM đã ký biên bản ghi nhớ với nhà đầu tư Berjaya Land Berhad, Malaysia xây dựng dự án Khu đô thị đại học quốc tế có quy mô vốn 3,5 tỷ USD

    Theo WB: Trong năm 2007 cả nước đã thu hút 350 lượt dự án, 52 địa phương thu hút vốn FDI, tăng vốn với số vốn trên 3,2 tỉ USD vốn đầu tư tăng thêm của các dự án cũ. Tỷ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9/2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Điểm nhấn trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 là việc phân cấp

    mạnh mẽ về cho các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đã cấp 410 giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư ước 2,5 tỷ USD

    Tuy nước ta còn ở trình độ phát triển thấp, độ mở của nền kinh tế cao và đang trên đà phát triển nhanh, nên rất “đói” vốn đầu tư, tạo ra những cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới mới công bố cho thấy, với xấp xỉ 85 triệu dân, xếp hạng thứ 13 thế giới nhưng chỉ trong tháng 5.2007, các DN có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã góp vốn đầu tư thực hiện ước đạt 390 triệu USD, đưa tổng vốn thực hiện trong 5 tháng qua đạt 1,8 tỉ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ. Doanh thu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài trong 5 tháng đầu năm là 11 tỉ USD, tăng 13,1, trong đó giá trị xuất khẩu đạt khoảng 7,3 tỉ USD, tăng 35%, giải quyết việc làm mới cho 46 nghìn lao động.

    Tất cả những điều nói trên có nghĩa là nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế còn ở trình độ phát triển rất thấp, nhưng đang phát triển nhanh theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu và xuất khẩu dựa trên cơ sở đẩy mạnh nhập khẩu. Nói cách khác, tiềm năng mở rộng thị trường của nước ta hiện nay còn rất lớn và tự chúng ta không đủ vốn để khai thác, do đó tạo ra cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đó không chỉ là những cơ hội trong đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, mà còn là những cơ hội trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất những nguyên phụ liệu phải nhập khẩu với quy mô ngày càng lớn, cũng như những cơ hội đầu tư sản xuất có quy mô dân số đứng thứ hai trong khu vực.

    Bên cạnh đó, theo đánh giá mới đây nhất của Hội nghị thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD), Việt Nam được xếp vào nhóm nước có tiềm năng FDI thấp nhưng hiệu quả hoạt động của khu vực FDI cao. Đây chắc chắn là một liều thuốc kích thích các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh trong bối cảnh nước ta trở thành thành viên WTO. Việc có trên 1.200 đại biểu dự Hội nghị thượng đỉnh các tổng giám đốc APEC vừa qua đủ cho thấy điều đó.

    Tháng 7 năm 1997 xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, các nước chịu tác động lớn nhất là Thái Lan, Philippines, Indonesia và Malaysia,…, nước ta nằm ngoài “tâm bão”, đây chính là thời cơ cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế khi mà các nước khác trong khu vực đang phải đối phó với “trận cuồng phong kinh tế”. Đáng tiếc là do môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn từ khi sửa Luật năm 1996, lại không có được một đối sách thích hợp để chủ động đối phó nên nước ta đã gánh chịu hậu quả nặng nề, giảm sút rõ rệt tăng trưởng kinh tế và thu hút FDI quốc tế trong nhiều năm liên tiếp.

    2.1.2. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    • Đầu tư nước ngoài góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam như làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển. Cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch và đầu tư) đánh giá là “… Có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh doanh khác”. Cụ thể, đóng góp của khu vực này vào GDP từ 7.4% năm 1996 lên 12.2% năm 1999, 13.3% năm 2001, 13% năm 2002 và năm 2004 đã tăng lên 14.3%. Riêng năm 2005, doanh thu của khu vực này đạt 16 tỷ USD, tăng hơn 30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xuất khẩu đạt 6.3 tỷ USD, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ những kết quả trên nên khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14.3% GDP cả nước.
    • Lãi của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 2002 đạt 29.342 tỷ đồng năm 2005 lên 37.040 tỷ đồng, bằng 50.6% tổng lãi toàn bộ doanh nghiệp. Sở dĩ khu vực này có mức lãi cao chủ yếu là đóng góp của ngành khai thác dầu khí (66%).
    • Làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương
    • Kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển
    • Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH & ĐT): 20,3 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký bao gồm cả cấp mới và tăng vốn, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước
    • Tổng vốn thực hiện là 4,6 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2006, vượt 2,2% so với kế hoạch 4,5 tỷ USD). Vốn thực hiện của các doanh nghiệp FDI vượt kế hoạch 2,2%, doanh thu của các DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu cũng đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) của đầu tư nước ngoài tăng nhanh, trong đó thời kỳ 1991 – 1995 đạt trên 1.12 tỷ USD, thời kỳ 1996 – 2000 đạt trên 10.6 tỷ USD, tăng

    hơn 8 lần so với 5 năm trước và chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong các năm 2004 và 2005, kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đạt giá trị tương ứng 3.67 tỷ USD và 4.5 tỷ USD, chiếm trung bình hơn 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (42% mặt hàng giày dép, 25% hàng may mặc, 48% hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện).

    • Đặc biệt, chính sách khuyến khích ĐTNN vào các KCN, KCX đã góp phần quan trọng vào việc phân bố hợp lý các vùng kinh tế, tạo điều kiện thu hẹp sự phát triển vùng, đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa. Đến nay, đã có 76 KCN, KCX được thành lập chiếm khoảng 23% của toàn khu vực ĐTNN.
    • Thông qua nguồn vốn này, nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đồng thời nhà nước cũng chủ động hơn trong bố trí vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đặc biệt đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Với tỷ trọng vốn thực hiện nhanh qua các năm, đầu tư nước ngoài đã bổ sung một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Cụ thể, thời kỳ 1991 – 1995, vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25%, thời kỳ 1996 – 2000 chiếm 24%, gấp trên 1.8 lần thời kỳ 1991 – 1995, riêng từ năm 2001 – 2004 chiếm 21.4% tổng vốn đầu tư xã hội (308 nghìn tỷ đồng
    • Tạo công ăn việc làm cho người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp đến năm 2005, trên 4.000 doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm ổn định cho khoảng 691 ngàn lao động trong nước
    • ĐTNN đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện để Việt Nam chủ động hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2001 thu hút 69 ngàn lao động tăng 19%, năm 2002 có thêm 175 ngàn tăng 39%. Những năm gần đây số lao động trong khu vực ĐTNN ngành công nghiệp chế biến tăng nhanh. Bên cạnh tạo công ăn việc làm cho người dân, người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp. ĐTNN cũng đem lại thu nhập cho bộ phận đáng kể người lao động, thu nhập thấp nhấp là 790.000 – 810.000 đồng/tháng, cao hơn thu nhập các thành phần kinh tế khác.

    2.1.3.  Thực trạng chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI

    Theo số liệu của Phòng Quản lý Đầu tư nước ngoài (Cục Thuế TP.HCM) tháng 7/2005 công bố, trong 1.450 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP.HCM, chỉ có hơn 190 doanh nghiệp (tương đương 13%) báo cáo làm ăn có lãi. 1.260 doanh nghiệp còn lại (tương đương 87%) hạch toán thua lỗ hoặc đang trong giai đoạn triển khai dự án, chưa sinh lợi. Tính đến tháng 12 năm 2005 có tới 116 liên doanh với tổng số vốn 1.3 tỷ USD chuyển sang loại hình công ty 100% vốn nước ngoài do bị mua lại, hầu hết số liên doanh này đều bị lỗ. Đánh giá của

    cơ quan chức năng cho thấy, tình trạng doanh nghiệp kê khai hạch toán thua lỗ liên tục nhiều năm khá phổ biến. Đó là chưa kể nhiều doanh nghiệp FDI kê khai chưa đầy đủ các khoản thu nhập của các cá nhân chịu thuế, không thực hiện đảm bảo chế độ kế toán hoặc thường xuyên thay đổi chế độ kế toán, …

    Cục thuế TPHCM đã tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp có vốn FDI và phát hiện nhiều doanh nghiệp khai man lợi nhuận trước thuế, xác định được số thuế truy thu là gần 60 tỷ đồng.

    So sánh tỷ lệ khai báo lỗ ở các loại

    hình DN tại TP HCM

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    Series1

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    DNNN          DN dân         DN FDI

    doanh

    Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2005 của Cục thống kê TPHCM cho thấy doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ doanh nhiệp lỗ cao hơn doanh nghiệp nhà nước nhưng thấp hơn tỷ lệ lỗ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Doanh nghiệp nhà nước lỗ chỉ chiếm 8.3% của khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân là 36.1% và doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm tới 54.6%.

    Đáng chú ý là hiện nay có tới trên 50% DN khai lỗ để xin miễn giảm thuế. Những năm vừa qua, trong khu vực DN vốn ĐTNN đã xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp FDI báo cáo với ngành thuế hoạt động thua lỗ nhưng hầu hết các doanh nghiệp lỗ này đều có doanh thu tăng đều đặn và tiếp tục mở rộng sản xuất

    Khi tình trạng thua lỗ ảo của liên doanh kéo dài, những doanh nghiệp VN trong liên doanh sẽ không thể trụ nổi, đành ôm nợ, xin rút! Lúc đó, công ty liên doanh sẽ bị thôn tính thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tại VN, cty con cứ báo lỗ. Tại bản xứ, cty mẹ cứ ung dung hưởng

    lợi. Tình trạng trên đang là thách thức đối với các cơ quan chức năng VN. Tại Mỹ và Nhật Bản, trong quá khứ hai quốc gia này đã từng xử phạt rất nặng một số tập đoàn đa quốc gia của nước khác gian lận qua chuyển giá.

    Vấn đề mà các nhà nghiên cứu đặt ra là sự nghi ngờ tại sao các doanh nghiệp FDI với sức mạnh về tài chính, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng lại kinh doanh kém hiệu quả đến như vậy và Bộ tài chính cũng ghi nhận. “Nhưng đâu là lỗ giả do hành vi gian lận thương mại, đâu là lỗ thật thì chưa được làm rõ, dẫn đến phía vốn của Việt Nam bị mất, ta sẽ bị phía đối tác nước ngoài thôn tính”. Mặc dù vậy, cho đến nay cơ quan thuế ta vẫn chưa tiến hành một nghiệp vụ điều chỉnh giá chuyển giao nào. Như vậy, các doanh nghiệp này có sử dụng định giá chuyển giao nội bộ để tránh thuế hay không vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của ngành thuế.

    Một số hình thức chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

    Cho đến thời điểm này, chưa có sự xác nhận chính thức nào từ phía cơ quan nhà nước về bất kỳ một trường hợp chuyển giá nhưng trong một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực này cũng đã dẫn ra nhiều trường hợp có dấu hiệu chuyển giá. Dựa vào các dấu hiệu này,phân chia thành nhóm biểu hiện như sau :

    Nâng giá tài sản góp vốn

    Các công ty liên doanh thường cố tình khai báo tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu.

    • Công ty liên doanh gia cầm Việt Thái, phía Thái Lan góp vốn bằng dây chuyền giết mổ trị giá 400.000 USD nhưng đã kê khống thành 600.000 USD.
    • Một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty du lịch Sài Gòn và Vina Group đã quyết định trị giá thiết bị vật tư của công ty Vina đưa vào liên doanh là 4.340.000 USD nhưng theo công ty giám định quốc tế thì chỉ có 2.990.000 USD, ta thiệt 1.350.000 USD.

    Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động làm tăng chi phí đầu vào.

    Lấy ví dụ, khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 100 USD và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% như hiện nay, nhà nước sẽ thất thu 28 USD.

    Vừa mới đây, được sự ủy nhiệm của chính phủ, công ty kiểm định quốc tế SGS đã tiến hành giám định thí điểm ở 12 đơn vị FDI thì có tới 6 đơn vị có chêch lệch giá mua vật tư thiết bị nhập khẩu, con số chêch lệch là 14 triệu USD.

    Những giao dịch có dấu hiệu chuyển giá thường được thực hiện ở những công ty liên doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài. Điều đó cũng chứng tỏ rằng bên Việt Nam trong các liên doanh đã thua ngay trên sân nhà. Vì sao ta trở nên bất lợi như vậy ?

    Trong giai đoạn đầu mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, các MNC mới chân ướt chân ráo bước vào nước ta, họ ưa chuộng hình thức liên doanh để tận dụng thị trường có sẵn, kinh nghiệm của đối tác nội địa và ngay cả bản thân ta có chính sách khuyến khích thực hiện theo hình thức liên doanh thường là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Bởi vì trong thời gian đầu hội nhập, chính phủ Việt Nam còn e dè trước sức mạnh của tư bản, liên doanh là hình thức được lựa chọn nhiều để Việt Nam có thể kiểm soát tốt hơn. Hơn nữa đây là cơ hội tốt cho Việt Nam học hỏi cách quản lý của nước ngoài và đồng thời hy vọng sẽ được chia lợi nhuận từ việc liên doanh. Trong giai đoạn 1991 – 1998 các liên doanh chiếm đến 60.85% nguồn vốn FDI, hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 21.52% còn lại là các hình thức khác. Thực tế sau một thời gian chúng ta lại thấy rằng hoạt động của các liên doanh không như chính phủ dự tính, tỷ lệ khai báo lỗ của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN là trên 70%.

    Trong hầu hết các liên doanh, phía đối tác góp vốn bằng tài sản còn Việt Nam thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều này đã có lợi cho phía liên doanh do không tốn tiền đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp, tiền thuê đất. Nhưng phía đối tác chơi không đẹp, họ tìm mọi cách để nâng giá trị máy móc, thiết bị, công nghệ, … để làm tăng phần vốn góp. Bởi vì phía Việt Nam không có năng lực kiểm soát vấn đề này và hơn nữa Luật pháp Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ ngăn chặn hay có biện pháp chế tài nào. Chúng ta có thể gọi đây là một hành vi không đẹp nhưng nó lại hoàn toàn đúng với thuật ngữ kinh doanh “thương trường là chiến trường”.

    Rất nhiều liên doanh vì thua lỗ nặng nề, phía Việt Nam không chịu nổi nên đành chấp nhận bán phần vốn góp luôn cho phía nước ngoài. Một làn sóng mới trong khu vực công ty liên doanh, hàng loạt công ty đã chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài như Công ty liên doanh Coca Cola, Chương Dương, Công ty Unilever Việt Nam, Công ty Colgate – Palmolive, … Rất nhiều công ty liên doanh chuyển hình thức đầu tư thành 100% vốn nước ngoài và gần đây là chuyển đổi hình thức đầu tư của Công ty TNHH Sản Phẩm Tiêu Dùng Toshiba Việt Nam từ doanh nghiệp liên doanh thành tổ chức kinh tế theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường

    Thủ thuật định giá chuyển giao của các MNC chia làm nhiều cách khác nhau, trước tiên là định giá cao nguyên vật liệu nhập khẩu. Thứ hai là ấn định giá bán sản phẩm thấp trong khi vẫn định giá cao yếu tố đầu vào do công ty mẹ cung cấp làm liên doanh lỗ, dẫn đến việc phải tăng vốn để loại bỏ đối tác trong nước và chiếm lĩnh thị trường. Cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền.

    Các MNC đã thực hiện chiến lược bán phá giá và sử dụng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ để giành thị trường nhằm thôn tính các doanh nghiệp nội địa theo kiểu cá lớn nuốt cá bé. Họ làm được điều này là do khả năng tài chính dồi dào từ công ty mẹ mà các công ty nhỏ tại nước chủ nhà sẽ không đủ lực về tài chính để lao vào các cuộc cạnh tranh mà biết rằng cuộc cạnh

    tranh đó hoàn toàn bất lợi cho mình. Chẳng hạn như cuộc đấu tranh giành thị trường giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa là các công ty giải khát tại TPHCM như Công ty Coca Cola và Công ty Pepsi Cola với các công ty nội địa như Tribeco, Hòa Bình, Chương Dương, … không đủ sức trong cuộc cạnh tranh và đành phải bỏ cuộc. Riêng công ty nước giải khát Tribeco nhờ có sự thay đổi chiến lược kinh doanh (sản xuất thức uống xanh và sữa đậu nành) nên vẫn còn tồn tại.

    Phần vốn góp của phía Việt Nam là 40% nhưng ta không có quyền quyết định về giá cả, chiến lược sản xuất kinh doanh, tiếp thị, … mà tất cả là chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ Coca Cola tại Mỹ. Mặc dù doanh số bán ra của liên doanh tại Việt Nam là luôn tăng và tăng cao nhất tới 53% trong năm 1998 nhưng ngược lại giá bán trên một đơn vị sản phẩm thì lại giảm dần và giảm cao nhất là 23% trong cùng năm 1998.

    Cụ thể như sau: một lon Coca Cola ở thị trường Mỹ là 75 cents (tương đương khoảng 10.500 đồng) trong khi một lon Coca Cola bán tại thị trường Việt Nam bình quân một lon giá 5.000 – 7.000 đồng (tương đương khoảng 40 – 50 cents) thấp hơn giá bình quân trên thị trường Mỹ là 25 cents (tỷ giá tạm tính 14.000 VND/USD). Đây phải chăng là hiện tượng bán phá giá của Công ty Coca Cola Chương Dương được điều phối từ công ty mẹ thông qua chiến lược bán hàng và chính sách mua nguyên liệu từ công ty con ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra Công ty Coca Cola Chương Dương đã xâm chiếm thị phần của các đối thủ bằng con đường bán phá giá (đặc biệt trong hai tháng 3 và tháng 4 năm 1998) Coca Cola đã bán phá giá kỷ lục là 30%) trong khi liên doanh này không hề có sự chuyển biến rõ rệt về công nghệ, về năng suất lao động và hiệu quả trong các khâu khác.

    Thậm chí trong đợt khuyến mãi Cúp bóng đá thế giới 98, bất chấp sự không đồng ý của phía đối tác Việt Nam, công ty đã chi 1.8 tỷ đồng để tăng dung tích chai nước ngọt Coca Cola lên tới 50% mà giá bán vẫn không đổi (đây là hình thức bán phá giá), đã làm cho công ty càng lỗ nặng, tính đến tháng 3 – 4 năm 1998 công ty đã lỗ tới 20 tỷ đồng.

    Theo số liệu của Cục thuế TPHCM thì Công ty Coca Cola Chương Dương bị lỗ trong 3 năm liên tiếp từ năm 1996 và đến 1999 đã chuyển thành 100% vốn nước ngoài.

    Bằng những chiêu thức như vậy, các MNC lộ rõ tham vọng thao túng toàn bộ thị trường nội địa, loại khỏi sân chơi các công ty cùng ngành nội địa để chiếm thị phần lớn hơn.

    Và cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền. Một số liên doanh sau khi trở thành công ty 100% vốn nước ngoài, đã có sự tăng trưởng cao mà có thể Coca Cola là điển hình.

    Các liên doanh sau khi trở thành các công ty 100% vốn nước ngoài hầu hết đều làm ăn có lãi và riêng Coca Cola năm 1999 đã nộp ngân sách 3 tỷ đồng tiền thuế và đạt mức tăng trưởng ngay trong năm 1999 là 30%.

    Chuyển giá dựa trên sự chêch lệch về thuế suất

     

    Thuế thu nhập doanh nghiệp về mặt nguyên tắc là có thể không đổi mặc dù trong thực tế sẽ thay đổi theo chiều hướng có lợi cho chủ đầu tư vì họ có thể đưa thêm các loại chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí quảng cáo vào tổng chi phí của công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam. Như vậy rõ ràng chỉ bằng cách thành lập thêm một công ty con chuyên về tiêu thụ sản phẩm và thực hiện việc chuyển giá một cách hợp pháp trong nội bộ MNC mà chủ đầu tư của Foster’s đã tiết kiệm được tới 16% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp nhờ vào sự chêch lệch giữa giá bán cho công ty con và giá bán cho đại lý. Chủ đầu tư có thể tăng giá bán bia ở khâu tiêu thụ mà chỉ phải chịu thuế suất VAT 5% nhằm thực hiện việc kiểm soát giá cả trên thị trường, hưởng thêm lợi nhuận nhờ thủ thuật chuyển giá còn cơ quan thuế thì bó tay. Theo các chuyên gia tài chính và các chuyên gia thuế thì mặc dù nhận ra đây là hành vi lách luật để thực hiện chuyển giá nội bộ nhưng do luật pháp Việt Nam không đủ chặt chẽ và không đề cập tới sự chế tài đối với hành vi trên do đó các cơ quan chức năng không thể bắt bẻ về thủ thuật tách rời khâu sản xuất và thương mại. Việc làm của Foster’s Việt Nam đã tạo ra sự thiếu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng bia. Bộ tài chính cần nghiên cứu ban hành một thông tư quy định cụ thể việc ấn định giá tính thuế theo giá bán tối thiểu đối với các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mà đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh rượu bia nhằm ngăn chặn khả năng chuyển giá nội bộ tương tự như trường hợp của Foster’s Việt Nam. Tuy nhiên thông tư này nếu có cũng chỉ là giải pháp tình thế trước mắt chứ không phải là biện pháp khả thi lâu dài.

    Nói chung, các hành động trên của doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhằm đạt được bốn mục tiêu : chủ động hạch toán thua lỗ nhiều năm liên tục để bên Việt Nam trong liên doanh phải rút lui, giảm xuống mức thấp nhất thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, công ty mẹ ở nước ngoài được hưởng lợi nhờ gian lận qua chuyển giá và cuối cùng là đè bẹp các thương hiệu hàng đầu Việt Nam nhờ chi phí tiếp thị quảng cáo khổng lồ và liên tục hạ thấp giá đầu ra.

    Chúng ta hãy xem cách thức mà Foster’s Việt Nam sử dụng để né tránh thuế tiêu thụ đặc biệt và chiếu theo các điều luật hiện hành vào giai đoạn đó thì Foster’s Việt Nam có vi phạm quy định về chuyển giá hay không ?

    Giá bia Foster’s mà Foster’s Việt Nam bán cho các đại lý là 164.000 VND/két (chưa gồm thuế

    Vat) và với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho mặt hàng bia chai là 75% thì với mỗi két bia

    Foster’s Việt Nam phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Giá tính thuế TTĐB = Giá bán đã có thuế TTĐB/(1 + thuế suất) = 164.000/(1 + 75%) = 93.714

    VND

    Thuế tiêu thụ đặc biệt = 93.714 * 75% = 70.286 VND

    Chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam thành lập thêm Công ty TNHH Foster’s Việt Nam chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của hai nhà máy sản xuất bia Foster’s đã có. Giá mỗi két bia mà các nhà máy bia Foster’s bán cho Công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam chỉ là 137.500 VND (chưa VAT 5%) và chỉ chịu khoản thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Như vậy, thuế TTĐB mà chủ đầu tư phải nộp cho mỗi két bia là 93.714 VND

    Mức tiết kiệm được thuế đầu ra so với trước khi thành lập công ty TNHH Foster’s Việt Nam chuyên về tiêu thụ là :70286-58929= 11.357 tương ứng 16%

    Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp của các quốc gia khác

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài khi các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%). Hiện nay: Singapore: từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã giảm từ 33% xuống còn 25%, Hồng Kơng 15%… các nước ASEAN là 20 -25%

    Biểu thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước có đầu tư vào Việt Nam

      Country Rate (% )   Country Rate (% )  
                 
      ÂẤn Độ(1) 42.2        
      Nhật bản (2) 40.7   Indonesia (9) 30  
         
      Mỹ (3) 40   Thailand (10) 30  
         
         
      Đức (4) 38.4   Úc 30  
         
         
      Philippines (5) 35   Malaysia 27  
         
         
      Pháp (6) 33.3   Hàn Quốc (11) 27.5  
         
         
      New Zealand 33   Đài Loan (12) 25  
         
         
      Trung Quốc (7) 33   Singapore (13) 20  
         
         
      Anh (8) 30     17.5  
           
        Hong Kong SAR  
                 

    Nguồn: PricewaterhouseCoopers, 2007 Worldwide Tax Summaries,

    Như vậy xét các quốc gia như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore trong đó Singapore là nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất đã có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Việt Nam nhiều nên rất dễ dàng tạo điều kiện cho các nước này thực hiện hành vi chuyển giá về đất nước họ.

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính cho biết, tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hầu hết các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối

    cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%).

    Tuy nhiên, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt hơn, cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp được các nước trên thế giới và các nước trong khu vực quan tâm nhiều hơn. Xu hướng gần đây cho thấy nhiều nước đã giảm mức thuế suất nói trên nhằm thực hiện ưu đãi diện rộng cho cả nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư.

    Nghiên cứu thông tin quốc tế cho thấy mức thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (28%) là cao hơn các nước trong khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Ngay cả Singapore – nơi có môi trường đầu tư thuận lợi, đã quyết định hạ thuế này từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. Và mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã quyết định giảm từ 33% xuống còn 25% để cạnh tranh với các nước trong thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Trong tờ trình Chính phủ, Bộ Tài chính đưa ra đề xuất xem xét giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành từ 28% xuống 25%. Theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh này xuất phát từ mục đích tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng bảo đảm tăng tính cạnh tranh với thế giới và khu vực.

    Và để khuyến khích doanh nghiệp có nguồn lực để chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị…, hàng năm doanh nghiệp được dành tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

    2.2.     Nhận dạng các hình thức chuyển giá khác

    2.2.1. Nâng chi phí cho các dịch vụ hành chính và quản lý

    Công ty thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia, các chuyên gia tư vấn là những công ty thành viên hay có mối quan hệ về sở hữu. Nếu công ty tư vấn là trong một những tập đoàn thì đây chỉ là hình thức chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, trong trường hợp này chúng ta phải xem xét đến hệ thống luật nhà thầu để có thể khắc phục. Nếu tư vấn thật sự thì có thể công việc của nhà tư vấn là giúp cho công ty mẹ nhưng chi phí sẽ được trả tại Việt Nam.

    Hiện tượng này hiện nay xảy ra khá phổ biến, thể hiện ở đặc điểm chi phí quản lý của các doanh nghiệp FDI thường rất cao. Một số công ty liên doanh còn ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng không có hiệu quả, do các chuyên gia này là những nhân viên lâu năm của tập đoàn và đã bị dôi ra tại công ty mẹ, mà vì những lý do nào đó được chuyển sang Việt Nam làm chuyên gia và liên doanh tại Việt Nam phải gánh chịu chi phí. Đây cũng là hình thức chuyển giá.

    2.2.2.  Nâng chi phí bản quyền và các chi phí khác cho các tài sản vô hình

    Tài sản vô hình như chi phí bản quyền, goodwill, thương hiệu, … các công ty nước ngoài thường hay chuyển cho doanh nghiệp FDI Việt Nam một phần chi phí vô hình trên, có thể dưới dạng vốn góp, hay là hợp đồng chuyển giao. Các loại chi phí này vì có tính chất vô hình nên phía nước ngoài thường nâng lên rất cao và do không có một chuẩn mực nào để kiểm định nên thường chúng ta phải chấp nhận và các loại chi phí này thường do các nhân viên nước ngoài phụ trách. Vậy chúng ta phải nhanh chóng ban hành những chuẩn mực để định giá các loại tài sản và chi phí này.

    2.2.3.  Nâng giá hoặc giảm giá hàng mua đi bán lại

    Với các mặt hàng nhập khẩu có thuế suất cao, hợp đồng nhập khẩu sẽ được ký với giá hạ để tránh thuế nhập khẩu, sau đó sẽ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng những hợp đồng tư vấn và các loại chi phi khác. Nếu thuế xuất thuế nhập khẩu không cao, thường họ sẽ nâng giá bán lên cao nhằm tránh thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây có thể nói là hình thức chuyển giá được áp dụng thông dụng nhất và rất khó phát hiện.

    2.2.4.  Các giao dịch tài trợ

    Đối với các giao dịch tài trợ dưới dạng vật chất hữu hình như các sản phẩm của công ty, biện pháp thông thường là nâng giá để chuyển giá. Nếu là sản phẩm nhập khẩu tình trạng này vẫn giống như việc nâng giá bán. Đối với việc tài trợ bằng kỹ thuật, dịch vụ tư vấn chuyên gia thì là môi trường lý tưởng cho việc chuyển giá. Đặc biệt chúng ta cần lưu ý đến các hợp đồng viện trợ có hoàn lại và ngay cả những hợp đồng viện trợ không hoàn lại.

    Cần thấy rằng vốn ODA (hỗ trợ và phát triển chính thức) và viện trợ không hoàn lại là thiện chí của các nước phát triển nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển có nguồn vốn giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế xã hội. Tuy nhiên, phía cho vay không phải là không có lợi. Trước tiên là sử dụng vốn thặng dư trong nước đầu tư ra nước ngoài, vừa tăng cường hợp tác đầu tư vừa sinh lợi từ lãi suất cho vay (tuy thấp nhưng rất an toàn). Hơn thế nữa, họ còn thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc bán vật liệu, máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ để thực hiện dự án hoặc là xử lý được những công nghệ lạc hậu, tạo thị trường tiêu thụ cho hàng hóa sản xuất trong nước. Phần vốn “viện trợ không hoàn lại” cũng không phải là phần cho không. Chi phí cho mỗi dự án nghiên cứu kỹ thuật được tính như sau : 30% tổng vốn dành để trả lương cho các chuyên viên viện trợ sang nghiên cứu dự án, 20% vốn dành mua máy móc, thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác nghiên cứu, mua phương tiện đi lại, thuê chỗ ở và sinh hoạt phí cho chuyên gia trong quá trình làm việc, 40% vốn là phần dành cho các cuộc hội thảo, nghiệm thu dự án được tổ chức tại hai quốc gia như trả nhuận bút viết báo cáo cho chuyên gia nước ngoài, tổ chức cho cán bộ của hai nước qua lại dự hội thảo, …

    Còn với các dự án ODA, phía đối tác nước ngoài chỉ cung cấp 85% tổng giá trị dự án, còn lại 15% vốn Việt Nam. Cuối cùng chúng ta chỉ được một phần nhỏ trong tổng số rất lớn vốn của dự án.

    Nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng với lãi suất từ 0.75 – 2%/năm và số năm ân hạn rất dài (có thể lên đến 10 năm).

    2.2.5.  Tài trợ bằng nguồn vốn vay từ công ty mẹ

    Bằng thủ thuật tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vay ngắn hạn từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như chi phí chêch lệch tỷ giá, chi phí lãi vay, … và chuyển một phần lợi nhuận dưới dạng lãi vay về nước tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chêch lệch tỷ giá về sau.

    Với hình thức này, cần lưu ý rằng ngay cả khi doanh nghiệp vay của một ngân hàng nước ngoài do công ty mẹ bảo lãnh thì vẫn có thể xảy ra tình trạng chuyển giá. Do một số giao dịch giữa công ty mẹ và ngân hàng hải ngoại diễn ra tại hải ngoại sẽ được tính với giá (lãi suất, tỷ giá hối đoái, …) rất thấp, phần bù đắp sẽ được gởi vào phần lãi vay (bằng cách nâng lãi suất cho vay cao hơn bình thường) thu từ hoạt động cho vay của công ty trong nước với ngân hàng này.

    2.3.     Nguyên nhân tạo nên những đặc trưng của hoạt động chuyển giá ở Việt Nam

    2.3.1. Môi trường pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề chống chuyển giá hiện nay

    Từ năm 1987, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Mặc dù Luật ĐTNN đã qua hai lần sửa đổi vào tháng 11/1996 và tháng 06/2000 nhưng vẫn chưa đề cập đến vấn đề chống chuyển giá một cách cụ thể và đầy đủ.

    Vấn đề chống chuyển giá đã được nêu ra trong các thông tư do Bộ tài chính ban hành để hướng dẫn thực hiện về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật ĐTNN, đó là thông tư số 74/TC/TCT ngày 20/10/1997 sau đó được thay thế bằng thông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16/07/1999. Tuy nhiên điều đáng chú ý nhất là các văn bản hướng dẫn sau vẫn giữ nguyên và hầu như không thay đổi bổ sung nội dun g các biện pháp chống chuyển giá trong văn bản ban hành trước đây. Tính đến thời điểm này thì thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 là cơ sở pháp lý về hướng dẫn các biện pháp chống chuyển giá và là cơ sở hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.

    Bên cạnh đó, để thực hiện kế hoạch cải cách thuế theo hướng bình đẳng cho các thành phần kinh tế và các hình thức đầu tư giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17/06/2003 để thống nhất nghĩa vụ nộp thuế cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Chính sách này đã được cụ thể hóa thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003.

    2.3.2. Trình độ quản lý của các cơ quan hữu quan

    Do các cơ quan ban ngành ở nước ta không có khả năng kiểm soát do thiếu thông tin, trình độ quản lý, kiểm soát, kinh nghiệm, chuyên môn cần thiết và cũng có một phần do thiếu trách nhiệm để tính toán mức giá thích hợp giữa các công ty con của các MNC trong cuộc chơi chuyển giá nội bộ của họ.

    Chính vì thế mà các MNC tại Việt Nam lợi dụng các yếu kém này của nước chủ nhà thực hiện việc nâng giá tài sản góp vốn khi tham gia liên doanh, thực hiện việc nâng giá đầu vào của các nguyên vật liệu mua từ công ty mẹ ở chính quốc và việc nâng cao chi phí quảng cáo khuyến mãi và các chi phí khác nhằm phục vụ cho việc quảng cáo thương hiệu mình cộng với việc hạ giá sản phẩm bán ra gây lỗ nghiêm trọng cho liên doanh (mặc dù công ty mẹ vẫn có lãi do bán nguyên vật liệu độc quyền với giá cao và thu được chi phí khấu hao tài sản cố định khi tăng giá), như vậy các MNC đã làm cho nước tiếp nhận không nhận được một khoản thu thuế thu nhập nào, đây cũng là mục tiêu chuyển giá của các MNC nhằm trốn thuế ở quốc gia nào có thuế suất cao.

    Các thông tin do cơ quan thuế yêu cầu để xác định việc định giá chuyển giao của các MNC thường có tính bảo mật thương mại hoặc có ở các nước khác, làm cho các thông tin đó khó hoặc không lấy được và đây là một nguyên nhân để các MNC thực hiện hành vi chuyển giá của mình.

    Các cơ quan thuế tại các địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ với nhau, hoạt động cục bộ trong phạm vi của mình trong khi các MNC hoạt động toàn cầu và tại các địa phương khác nhau. Có trường hợp đã phát hiện bất hợp lý về giá nhưng không có điều kiện áp dụng biện pháp xác định giá thị trường, cơ quan thuế áp dụng biện pháp yêu cầu doanh nghiệp cam đoan bằng văn bản tính hợp pháp của chứng từ đã cung cấp. Việc này không mang tính cưỡng chế mà còn lệ thuộc chủ yếu vào doanh nghiệp, vì doanh nghiệp sẵn sàng làm văn bản cam đoan, do công ty con không có quyền trong việc xác định giá hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp mẹ cung ứng.

    2.4.  Thực tế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam và những vấn đề tồn tại

    Như đã phân tích, các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam là chưa có gì cụ thể ngoài một số văn bản, nghị định do Bộ tài chính ban hành và thường là mang tính chất đối phó, chạy theo

    các sự kiện đã xảy ra mà không có tính răn đe, chế tài đối với các công ty đa quốc gia. Bắt đầu là nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 của chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài làm nền móng pháp lý cho công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp có vốn FDI. Tiếp theo là thông tư 74/TCT và thông tư 89/1999/TT-BTC đã đề cập đến vấn đề chống chuyển giá. Gần đây nhất là thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 trong đó có cụm từ chống chuyển giá.

    Các biện pháp chống chuyển giá ở đây nói cách khác là các phương pháp xác định giá thị trường ở Việt Nam. Việc xác định giá thị trường với mục tiêu đảm bảo xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra báo cáo thuế của doanh nghiệp, nếu phát hiện có vấn đề bất hợp lý về giá hoặc tỷ suất lợi nhuận trong giao dịch giữa các công ty liên kết, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    Quá trình phân tích, đánh giá sẽ chỉ ra phương thức xác định giá thị trường nào là phù hợp nhất. Khác với các quy định trước đây, chỉ có 3 phương pháp được áp dụng, không đủ để bao quát hết các khả năng phải xác định giá, trong lần quy định này, thông tư 117/2005/TT-BTC đó đưa ra 5 phương pháp định giá chuyển giao. Đó là:

    • Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập: dựa vào đơn giá sản phẩm được vận dụng trong

    trường hợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá bán lại: áp dụng trong trường hợp không có giao dịch mua tương đương, thuộc khâu cung ứng hoặc có thêm giai đoạn gia công, chế biến, lắp ráp… làm gia tăng giá trị

     

    hàng hóa, nên phải sử dụng giá bán lại của sản phẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá vốn cộng lãùi: được lựa chọn khi giao dịch liên kết thuộc khâu sản xuất khép kín để bán cho bên liên kết hoặc cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra cho bên liên kết. Phương pháp này xác định giá dựa vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm để xác định giá bán ra của sản phẩm đú cho bờn liờn kết.
    • Phương pháp so sánh lợi nhuận: để thực hiện phương pháp này phải dựa trên tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch độc lập được chọn. Phương pháp này không cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế TNDN. Đây được xem là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán lại và giá vốn cộng lói, nờn cú thể ỏp dụng đối chiếu trong trường hợp có những điều kiện tương tự.

     

    • Phương pháp tách lợi nhuận: được áp dụng trong trường hợp nhiều bên liên kết cựng thực hiện một giao dịch liờn kết tổng hợp chẳng hạn như cùïng tham gia nghiêøn cứu phát triển sản phẩm mới, hoặc sản phẩm là tài sản vụ hàng độc quyền, kinh doanh chuyển tiếp từ khâu đầu đến khâu cuối gắn với quyền sở hữu trí tuệ. Việc tách lợi nhuận của từng bên liên kết trong giao dịch dựa trên cách mà các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương. Trường hợp do tính đặc thù hoặc duy nhất của giao dịch liên kết mà không có có giao dịch độc lập tương đương để chọn một trong các phương pháp trên so sánh thỡ cú thể sử dụng biện pháp tổng hợp (như mở rộng phạm vi lựa chọn sang phân ngành khác, xác định biên độ giá thị trường thích hợp bằng các phương pháp tổng hợp…) hoặc vận dụng các số liệu giữa kỳ (để tính mức giá sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận…).

    Kết luận chương 2

    Thực trạng vấn đề chuyển giá tại Việt Nam chỉ mới được nhìn thấy qua các biểu hiện tương đối rời rạc, không điển hình nhưng chuyển giá không còn là vấn đề mới mẻ nữa và đang gặp không ít khó khăn.

    Thiết nghĩ sự chêch lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu chưa phải là động cơ thực sự của hành vi chuyển giá tại Việt Nam, động cơ chính của chuyển giá tại Việt Nam nằm trong chiến lược thôn tính các liên doanh, đẩy phía đối tác ra ngoài cuộc chơi sau khi đã sử dụng phía đối tác Việt Nam làm bàn đạp thâm nhập thị trường, nhằm mục tiêu thống nhất sự quản lý điều hành theo hướng chuyên nghiệp hơn. Một động cơ nữa của hành vi chuyển giá tại Việt Nam theo các nhà đầu tư nước ngoài là rủi ro về chêch lệch tỷ giá khi cho rằng đồng tiền VND được định giá quá cao và sớm muộn gì cũng phải định giá thấp xuống. Rủi ro này thúc đẩy các nhà đầu tư dùng hoạt động chuyển giá nhằm thu hồi sớm vốn đầu tư. Có thể nói chính phủ Việt Nam đã rất chậm trễ trong việc đưa ra các quy định chống chuyển giá. Điều này có nguyên nhân từ việc còn thiếu kinh nghiệm quản lý nền kinh tế khi Việt Nam bước từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường với những tư duy hoàn toàn mới về sản xuất kinh doanh. Chính phủ Việt nam đã quá chậm đưa ra các biện pháp xử lý. Bộ tài chính có hướng dẫn thực hiện các quy định về chống chuyển giá như khái niệm doanh nghiệp liên kết và đưa ra các biện pháp xác định giá thị trường nhưng lại không thể đưa ra được hướng dẫn áp dụng cho các nhân viên thuế vụ cũng như các yêu

    cầu của cơ quan thuế Việt Nam về hồ sơ, chứng từ đối với các MNC làm cho các quy định chống chuyển giá không thể áp dụng vào thực tế.

    CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

    3.1. Sơ lược kinh nghiệm một số nước:

    3.4.1. Kinh nghiệm của OECD:

    • Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các cơng ty

    đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ” dựa trên nguyên tắc “định giá cơng bằng”. hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế cĩ thể thống nhất cách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần. Khi đĩ, mỗi bên sẽ được chia một phần lợi nhuận, chứ khơng cĩ chuyện một nước gánh tồn bộ chi phí, cịn nước kia được hưởng tồn bộ lợi nhuận.

    • Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đĩ phương pháp phân chia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, xác định lãi gộp

    để phân chia giữa các cơng ty liên kết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và được phản ánh trong hợp đồng ký kết giữa các bên.

    3.4.2. Kinh nghiệm của Mỹ:

    • Quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ từ thời điểm

    chiến tranh thế giới lần thứ nhất giá chuyển giao tài sản hữu hình và vơ hình giữa các chi nhánh của một doanh nghiệp ở các nước khác nhau phải được xác định tương đương với giá cung cấp cho bên thứ ba.

    • Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị nhiều phương pháp: hai phương pháp nhằm

    thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập, yêu cầu giá chuyển giao tài sản vơ hình phải được xác định theo một trong bốn phương pháp: CUT, CPM, chiết tách lợi nhuận, các phương pháp khác khơng định rõ.

    • Về hình thức xử phạt, số tiền phạt vi phạm về giá chuyển giao dao dộng từ 20-40% số

    thuế khai thiếu.

    3.4.3. Kinh nghiệm của Thái Lan:

    • Để đối phĩ với hiện tượng chuyển giá, năm 2004, Thái Lan thiết lập cơ sở dữ liệu thơng

    tin về các cơng ty đang là mục tiêu để tiến hành kiểm tra sổ sách và điều tra – cụ thể là các cơng ty cĩ các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tục hơn 2 năm; tổng số lợi nhuận âm; khơng nộp thuế trong một giai đoạn; cĩ các giao dịch đáng kể của cùng nhĩm liên quan; và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủ cạnh tranh.

    • Cơ quan thuế của Thái Lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác, tất cả cần hợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệu cập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ của nhĩm

    các cơng ty, bao gồm tính chất của mỗi một kinh doanh, ngân sách của nĩ, kế hoạch kinh doanh và các chiến lược tài chính. Cùng với đĩ là tài liệu giải thích doanh số của cơng ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của cơng ty với các tổ chức kinh doanh liên kết.

    • Các chính sách giá, khả năng sinh lãi của mỗi một sản phẩm và thơng tin thị trường, sự

    đĩng gĩp lợi nhuận của mỗi bên nhận các chức năng thực hiện, các tài sản đã sử dụng, và sự rủi ro tất cả phải được đưa vào tính tốn và cĩ khả năng sử dụng cho việc khảo sát

    tường tận.

    3.2. Kiến nghị một số giải pháp ở Việt Nam:

    3.4.1. Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.1.1  Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật:

    Các luật thuế là công cụ chủ yếu để kiểm tra và giám sát tài chính các doanh nghiệp FDI và do đó nó cũng phản ánh được nội dung chống chuyển giá. Các cơ quan thuế cần phải sử dụng thuế như một công cụ hữu hiệu để chống lại hoạt động chuyển giá, thông qua việc so sánh đối chiếu về giá, chi phí và lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI để ngăn chặn hiện tượng “lỗ ảo” nhằm mục đích trốn tránh thuế. Bên cạnh đó, cần tiến hành song song việc kiểm soát và giám sát các khoản về chi phí lãi tiền vay, tiền quảng cáo, tiền lương cho người nước ngoài, bởi vì đây là những khoản chi phí rất dễ bị lợi dụng cho việc thực hiện hoạt động chuyển giá. Cần tiến hành rà soát lại các quy định về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác như thuế nhà thầu nước ngoài sao cho hợp lý để vừa thực hiện được mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài lại vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách. Gần đây chính phủ đã loại bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài làm giảm bớt động cơ của hoạt động chuyển giá, nhưng loại hình thuế nhà thầu khác như thuế chuyển tiền lãi vay, chuyển giao công nghệ, thương hiệu, … gọi chung là thuế nhà thầu với mức thuế suất từ 1% – 10% như hiện nay có thể là hơi thấp.

    Sớm ban hành các quy chế, quy định dưới dạng văn bản có tính pháp lý cao, cụ thể, xác thực và chặt chẽ về việc sử dụng vốn ODA và các dự án dưới hình thức BOT, … để ngăn chặn tình trạng chuyển giá gây hậu quả nghiêm trọng đến các công trình trọng điểm như xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu đường, y tế, văn hóa, giáo dục, dầu khí, … Do mỗi ngành có những đặc tính kỹ thuật đặc thù nên chúng ta rất dễ bị qua mặt trong vấn đề chuyển giá. Cần hoàn chỉnh các quy trình để có thể kiểm soát thật chặt chẽ các dự án ODA.

    Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia khác nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại với các nước và làm giảm gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư, qua đó cũng giảm bớt động cơ chuyển giá của các MNC.

    Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhắm vào các loại thu nhập : cổ tức, tiền trả lãi vay, thu nhập bản quyền. Đồng thời, còn làm tăng cường sự hợp tác lẫn nhau giữa các cơ quan thuế của các quốc gia, một điều hết sức cần thiết nhưng cũng cực kỳ khó đạt được trong sự phối hợp chống chuyển giá trên toàn cầu. Chỉ sau khi ký hiệp định thì các cơ quan thuế mới có quyền cung cấp cho nhau các thông tin liên quan đến các vấn đề về thuế như giá cả, lợi nhuận, chính sách của các MNC

    tại các quốc gia khác nhau. Theo xu hướng chung của các nước phát triển, Việt Nam ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần trên nguồn gốc thu nhập để tạo nên sự chắc chắn cần thiết về mặt tài chính và để thuận lợi trong thu hút vốn FDI.

    Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nhất là xây dựng Luật chống chuyển giá là một trong những nội dung trọng tâm hàng đầu để hạn chế hành vi chuyển giá của các MNC. Muốn thế chúng ta phải xây dựng một quy trình có tính hệ thống, mang tính nhất quán và có định hướng rõ ràng, bình đẳng, phù hợp với mục tiêu đặt ra từng thời kỳ.

    Ban hành các văn bản dưới luật đúng lúc, kịp thời, tránh tình trạng Nghị định đã có nhưng thông tư hướng dẫn của Bộ, Ngành chưa được ban hành triển khai gây khó khăn đối với các Doanh nghiệp trong vấn đề thực thi, giải quyết các vấn đề phát sinh, đồng thời những phát sinh vướng mắc phải được giải quyết nhanh chóng thông qua hệ thống văn bản nhà nước.

    Hoàn thiện các chính sách tài chính thông qua việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản pháp quy, các phương pháp kiểm tra và giám sát tài chính, quản lý ngoại hối đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, cần sớm xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán phù hợp với quy định pháp luật trong nước và quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp FDI.

    Ban hành các quy chế để quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu các thiết bị, xây dựng cơ chế giám sát kỹ thuật và công nghệ, thẩm định giá các máy móc thiết bị nhập khẩu đặc biệt là những máy móc thiết bị mà đối tác nước ngoài góp vốn trong liên doanh.

    Nhà nước ta cần nghiên cứu một cách nghiêm túc thực tế của hoạt động chuyển giá tại các nước phát triển để rút ra được kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam, tránh tư tưởng vừa làm vừa sửa, sai đến đâu sửa đến đó.

    Việc thu hút đầu tư nước ngoài là mối quan tâm lớn của chính phủ, do đó các biện pháp chống chuyển giá cần phải cân nhắc, đảm bảo cho được tính cụ thể, chi tiết và khả năng thực thi, tránh tình trạng nửa vời gây ảnh hưởng không tốt cho môi trường sản xuất kinh doanh và tạo ức chế cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc hoàn thiện hệ thống luật pháp về hạn chế hành vi chuyển giá còn bao gồm nội dung sau tuân thủ thông tư 117/2005/TT-BTC, khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào cơ chế thỏa thuận định giá trước (Advance Pricing Agreement – APA). Cơ chế thỏa thuận định giá trước sẽ tạo ra một môi trường làm việc mang tính hợp tác giữa cơ quan thuế và các doanh nghiệp vì các lợi ích sau đây :

    1. Đảm bảo quyền lợi trước mắt cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền chủ động lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường phù hợp, lâu dài và ổn định đối với hoạt động của chính hoạt động của doanh nghiệp mà không bị áp đặt từ phía cơ quan thuế.
    1. Doanh nghiệp sẽ tự thực hiện việc kê khai các giá trị giao dịch với các doanh nghiệp có liên kết khác và có điều kiện để chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ chứng từ để cơ quan thuế xác minh khi cần thiết, do đó sẽ làm giảm đáng kể chi phí lưu giữ, tìm kiếm thông tin.
    1. Doanh nghiệp có thể lên kế hoạch về nghĩa vụ đối với cơ quan thuế và kế hoạch sản xuất kinh doanh chính xác hơn vì xác định được chi phí bỏ ra. Về phía cơ quan thuế có thể tối thiểu hóa công việc kiểm tra hồ sơ chứng từ cho các nghiệp vụ chuyển giao, hạn chế kiện tụng giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp.
    2. Trong trường hợp các doanh nghiệp được áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì việc áp dụng cơ chế thỏa thuận định giá trước – APA sẽ giúp cho doanh nghiệp tối thiểu

    hóa được số thuế phải nộp và tránh rủi ro bị đánh thuế trùng.

    3.2.1.2  Ổn định đồng tiền Việt Nam

    Theo phân tích phần trên về ảnh hưởng của sự mất giá tiền đồng Việt Nam so với các đồng tiền mạnh khác là điều lo ngại của các nhà đầu tư nước ngoài và là động cơ thúc đẩy các MNC thực hiện thủ thuật chuyển giá khi đầu tư vào Việt Nam. Do đó, giải pháp ổn định tiền tệ cũng sẽ góp phần hạn chế động lực chuyển giá đồng thời sẽ có tác dụng thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài.

    3.4.2. Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý trong lĩnh vực

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài:

    Có thể nói rằng hoạt động chuyển giá có đạt được kết quả hay không, ngoài các giải pháp đã đề cập thì yếu tố chủ chốt vẫn là con người mà cụ thể là cán bộ thuế, hải quan và các cán bộ Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp FDI.

    Các cán bộ chủ chốt cần phải thấy rằng : muốn hạch toán sai lệch để biến lãi thành lỗ, các công ty này phải sử dụng chứng từ không đúng với nghiệp vụ phát sinh như có sự sai lệch về giá, vì vậy các cán bộ này cần phải nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thông qua các khóa huấn luyện nghiệp vụ trong và ngoài nước nhằm thích ứng kịp thời với những yêu cầu ngày càng phức tạp của công việc. Ngoài ra, cần thông thạo ngoại ngữ, sử dụng tốt các phương tiện làm việc như máy tính và các phần mềm chuyên dụng khác để phối hợp cùng các nhân viên thuế vụ của nước bạn tăng cường quản lý chặt chẽ hành vi chống chuyển giá.

    Khi làm luật liên quan đến vấn đề này, cần phải có những quy định rõ ràng về chế độ khen thưởng, đãi ngộ cho các cán bộ nếu họ phát hiện những hành vi chuyển giá. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh nếu có hành vi tiếp tay để chuyển giá.

    Nhà nước cần đào tạo một bộ phận chuyên trách thuộc ngành thuế chuyên theo dõi thu nhập của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nhằm phát hiện hành vi chuyển giá của các MNC, có thể thành lập mới Cục thu nhập như của Thái Lan hoặc giao nhiệm vụ cụ thể chuyên trách theo dõi vấn đề này cho một bộ phận hiện hành nào đó trong Bộ.

    3.4.3. Nhóm giải pháp liên quan đến các cơ quan, ban, ngành khác:

    Tăng cường sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan thuế, hải quan và các cơ quan chức năng khác như cơ quan tài chính vật giá, công ty kiểm toán, cơ quan thống kê, cơ quan kiểm định chất lượng để phân công chức năng, trách nhiệm cụ thể trong việc trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý. Đặc biệt là giám sát chi phí trong hợp đồng ký kết với các đối tác nước ngoài một

    cách hợp lý, logic, tránh hiện tượng chồng chéo, dẫm chân lên nhau vừa tốn kém mà số liệu lại không chính xác không thể sử dụng vào mục đích quản lý chung của quốc gia.

    3.3. Nhóm giải pháp mang tính chất kỹ thuật:

    Khi xem xét về giá giao dịch giữa các bên liên kết đặc biệt là trong nội bộ tập đoàn, việc phân loại các giao dịch là rất quan trọng đối với việc nhận diện các phương thức và yếu tố thường sử dụng vào mục đích gian lận về giá giao dịch. Thông thường các loại giao dịch trong nội bộ tập đoàn thường được phân thành bốn loại chính : mua bán hàng hóa, chuyển giao kỹ thuật và nhãn hiệu, cung cấp dịch vụ và các hoạt động tài chính (cho vay).

    Chúng ta sẽ xây dựng giá giao dịch dựa trên cơ sở nào ? Theo quan điểm của OECD (lấy giá bán theo căn bản giá thị trường – ALP làm cơ sở cho việc tính toán giá chuyển giao trong nội bộ MNC) hay quan điểm của Mỹ (lấy lợi nhuận làm căn bản để đánh giá các hoạt động chuyển giao) ? Thật ra, hai quan điểm đó chỉ là hai phương pháp để đi đến một mục đích là hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình chuyển giá, do đó các phương pháp chống chuyển giá của Việt Nam có thể cùng lúc dung hòa hai quan điểm trên với mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả cao nhất.

    Các phương pháp định giá chuyển giao được đề xuất dưới đây là các phương pháp cơ bản mà OECD đề xuất sử dụng và thực tế đã được nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng mang lại tính hợp lý và hiệu quả. Vì vậy, trước mắt chỉ nên tìm xem những phương pháp định giá chuyển giao nào do OECD đề xuất là phù hợp với thực tế Việt Nam để áp dụng và bổ sung vào các giải pháp hỗ trợ cho công tác chống chuyển giá của chính phủ Việt Nam.

    3.4.1. Phương pháp so sánh giá thị trường tự do

    Nội dung của phương pháp này là so sánh giá đã được ghi nhận trong các giao dịch nội bộ với giá thị trường tự do. Để thực hiện so sánh, chúng ta cần có nguồn cơ sở dữ liệu về giá thị trường quốc tế tương đối đầy đủ. Trước mắt, chúng ta cần có giá cả của các nguyên liệu thường xuyên nhập khẩu vào Việt Nam và từng bước bổ sung, mở rộng ra các mặt hàng khác. Điểm đáng chú ý là hoạt động kiểm tra, định giá lại được thực hiện sau khi giao dịch đã xảy ra, do đó nguồn cơ sở dữ liệu cũng xây dựng và lưu trữ theo giá từng thời điểm để tránh sai sót do biến động của thị trường khi áp dụng. Khi sử dụng phương pháp này, chúng ta có thể phát hiện được những chi phí phát sinh bất hợp lý thông qua việc so sánh với các doanh nghiệp tương tự trong những nghiệp vụ chuyển giao có thể so sánh được. Cụ thể, khi xem xét giá vốn hàng bán và chi phí về nguyên vật liệu một công ty liên doanh tại TPHCM, chúng ta thấy giá vốn hàng hóa bán ra chiếm một tỷ lệ hơn 61% trên doanh thu và chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ khoảng 51% trên doanh thu. Nếu so sánh với một công ty khác cùng ngành nghề và quy mô hoạt động thì tỷ lệ giá vốn hàng hóa trên doanh thu là 53% và tỷ lệ về chi phí nguyên vật liệu là 45% trên doanh thu, như vậy rõ ràng các khoản chi phí của công ty liên doanh đã có vấn đề cần phải xem xét lại. Tương tự, chi phí về quảng cáo của công ty A là 8% trên giá bán thì tại công ty B khác, chi phí này là 5%. Điều này cho thấy, công ty liên doanh đã sử dụng chiến thuật giành thị trường tiêu thụ nên sẵn sàng nâng khoản chi phí quảng cáo tiếp thị lên và làm lỗ thêm

    cho liên doanh. Nếu cơ quan thuế sử dụng phương pháp so sánh với công ty B thì có thể ngăn chặn những khoản chi này.

    3.4.2. Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào

    Phương pháp này được áp dụng thay cho phương pháp giá thị trường tự do và đặc biệt thích hợp cho ngành thương mại.

    Điểm chính của phương pháp này là phải xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu để tính khoản khấu trừ hợp lý. Do hoạt động kinh doanh bao gồm rất nhiều loại hình phong phú và đa dạng, ngay cả đối với một loại sản phẩm cùng loại có thể có những quy cách và phẩm chất khác nhau, do đó, khi xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, chúng ta cần lưu ý :

    • Xây dựng một tỷ suất lợi nhuận bình quân cho từng mặt hàng hoặc từng ngành kinh doanh.
    • Điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

    Ví dụ : Một công ty Nhật chuyên sản xuất dụng cụ y tế. Công ty này tiến hành bán sản phẩm của mình cho một số đại lý tại Việt Nam. Để xác định giá mua vào đối với những sản phẩm mà các đại lý Việt Nam đã nhận của công ty mẹ, cơ quan thuế Việt Nam sẽ xác định : Giá bán các dụng cụ y tế cho những cửa hàng độc lập với công ty (đặt tại Việt Nam). Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của các cửa hàng độc lập đó : tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của ngành kinh doanh dụng cụ y tế là 16%. Tuy nhiên, do những dụng cụ y tế mà công ty trên cung cấp là loại đặc biệt, tác dụng điều trị đặc thù nên tỷ suất lợi nhuận dự kiến sẽ tăng thêm 3% so với các dụng cụ y tế thông thường. Do đó có thể xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của các cửa hàng độc lập là 19% để làm cơ sở xác định giá mua vào.

    3.4.3. Phương pháp giá phí cộng thêm

    Phương pháp giá phí cộng thêm rất phù hợp với những loại hình doanh nghiệp sản xuất, gia công hoặc các cơ sở làm dịch vụ khi đó giá chuyển giao được xác định bằng cách cộng thêm một khoản nâng giá thích ứng vào chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ. Khoản chi phí cộng thêm về nguyên tắc sẽ bao gồm các chi phí bán hàng, chi phí quản lý tương ứng và phần lợi nhuận theo tỷ lệ lợi nhuận bình quân cho ngành kinh doanh. Do trong phương pháp này các chi phí giao dịch và quản lý được tách riêng để tính toán do đó cần lưu ý kỹ đến việc phân bổ các chi phí này sao cho chính xác phù hợp với doanh số chuyển giao.

    Ví dụ : Một công ty chuyên sản xuất mặt hàng trang trí nội thất điều hành toàn bộ hoạt động nghiên cứu và triển khai sản xuất tại Hàn Quốc. Sau khi sản xuất và qua khâu chế biến thành gỗ ocan, sẽ được chuyển giao đến một chi nhánh tại Việt Nam. Tại đây, gỗ ocan sẽ được gia công thành các sản phẩm trang trí nội thất như bàn, ghế, giường, tủ, … và được chuyển ngược về Hàn Quốc để bán trên thị trường Hàn Quốc. Trong trường hợp này, công ty ở Việt Nam là một công ty chuyên sản xuất theo hợp đồng, thực hiện các hoạt động sản xuất có tính chất giới hạn, không làm công việc điều độ sản xuất, không mua nguyên vật liệu và cũng không chịu rủi ro về vật liệu cung ứng và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm trang trí nội thất sẽ mang nhãn

    hiệu của công ty Hàn Quốc, hoàn toàn không có tên của công ty Việt Nam. Do công ty Hàn Quốc chỉ thực hiện hợp đồng sản xuất với công ty Việt Nam nên không thể sử dụng phương pháp CUP để xác định giá chuyển giao trong nội bộ công ty này. Tuy nhiên, do công ty con ở Việt Nam không chỉ thực hiện nhiệm vụ gia công cho công ty mẹ ở Hàn Quốc mà còn có thể gia công sản xuất cho các công ty không liên kết khác, những mặt hàng trang trí nội thất tương tự, do đó, khoản nâng giá mà công ty Việt Nam khi làm dịch vụ cho các công ty không liên kết khác sẽ là những thông tin có thể so sánh được dùng để áp dụng phương pháp giá phí cộng thêm khi định giá cho các nghiệp vụ chuyển giao của công ty Hàn Quốc có liên kết.

    Trên đây là một số các phương pháp cụ thể để thực hiện chống chuyển giá ở Việt Nam. Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy ba phương pháp đã nêu có thể sẽ không áp dụng được trong một số tình huống cụ thể.

    3.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ

    3.4.1. Đẩy mạnh việc thực hiện các giao dịch thông qua ngân hàng

    Đẩy mạnh việc thanh toán qua ngân hàng nhằm kiểm soát các giao dịch đang phát sinh trong toàn bộ nền kinh tế. Các chứng từ ngân hàng giúp cho cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát được các giao dịch cũng như các chủ thể tham gia vào các giao dịch đó.

    Tăng cường kiểm soát hoạt động doanh nghiệp thông qua tín dụng, cần tổ chức chặt chẽ việc thẩm định cho vay và sau khi cho vay về hiệu quả của dự án, cách thức sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ và nguồn để trả nợ.

    Thực hiện tốt điều này không những làm lành mạnh môi trường tín dụng, kinh doanh mà còn có thông tin chuẩn xác về các tỷ lệ chi phí, tỷ lệ lãi hay các chỉ tiêu tài chính kinh tế khác trong nhiều ngành để làm chuẩn so sánh khi xác định giá chuyển giao tiêu chuẩn, hoặc xác nhận mức thu nhập chịu thuế để nhận biết có hiện tượng chuyển giá hay không. Nếu hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, nó sẽ là nơi cung cấp thông tin, số liệu về mức chi phí hiệu quả, về giá mua bán, về tỷ lệ lợi nhuận từng doanh nghiệp, từng ngành rất chính xác. Từ đó, có thể tập hợp để tính chỉ số bình quân ngành, phát hành tài liệu phục vụ cho cơ quan chống chuyển giá khi xác định giá tiêu chuẩn chuyển giao như các phương pháp giá tự do có thể so sánh được, lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao, … để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    3.4.2. Cần có các quy định thống nhất về thủ tục và điều chỉnh các mức giá kê khai

    cho phù hợp với giá thị trường:

    Khi có nghi ngờ về hiện tượng chuyển giá ở một doanh nghiệp FDI, cơ quan thuế có thể thực hiện các bước kiểm tra như sau :

    1. Thông báo cho các doanh nghiệp để được cung cấp các chứng từ về những thông tin có liên quan đến đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.
    2. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp những thông tin đã được cơ quan thuế yêu cầu trong thời gian hạn định. Những tài liệu và thông tin cung cấp có thể bao gồm :
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để cung cấp tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
    • Tình hình thực hiện doanh thu bán hàng và các hóa đơn xuất giao hàng, đặc biệt là các hóa đơn xuất giao hàng cho các liên kết.
    • Các hóa đơn chứng minh cho các khoản chi phí đã thực chi.
    • Báo cáo về tài sản, nguồn tài trợ và các khoản chi cho việc sử dụng vốn, đặc biệt là các khoản chi cho nguồn tài trợ tín dụng.
    • Hợp đồng chuyển giao công nghệ và bí quyết công nghệ, các thông tin chứng minh tính hợp lý về tiền bản quyền, chi phí nhãn hiệu thương mại, …
    • Thời điểm lập tờ khai thuế.
    • Chứng minh được phương pháp định giá và khả năng xác định hàng hóa, dịch vụ là hợp lý.
    1. Cơ quan thuế căn cứ vào các tài liệu và thông tin do các doanh nghiệp cung cấp và các quy định chính sách của cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài xác minh lại tính chính xác của các mức giá kê khai. Trường hợp các mức giá kê khai của doanh nghiệp cách biệt quá lớn so với

    giá thị trường, các cơ quan quản lý thuế sẽ tiến hành điều chỉnh và sẽ thông báo bằng văn bản xác định bản chất và số tiền được điều chỉnh cho doanh nghiệp

    1. Nếu doanh nghiệp không thống nhất với những kết luận của cơ quan thuế, doanh nghiệp có

    thể yêu cầu được giải thích và nếu cần có thể khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền.

    3.4.3. Các biện pháp phạt:

    Để tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp FDI, cơ quan tài chính và thuế cần ban hành những chế độ phạt cụ thể trong những

    trường hợp phát hiện có hiện tượng chuyển giá.

    Theo kinh nghiệm của các nước OECD và đặc biệt là Mỹ, các hình phạt có thể đóng một vài trò chính đáng trong việc cải thiện chế độ chấp hành chính sách thuế trong lĩnh vực định giá

    chuyển giao. Việc thi hành hệ thống các hình phạt này nhằm đảm bảo sự công bằng và không tạo ra sự phiền nhiễu cho người nộp thuế.

    Đối với Việt Nam, việc thực hiện các quy tắc phạt có thể áp dụng phân biệt theo hai trường hợp sau :

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao truyền thống, nếu phát hiện có sự sai biệt

    giữa giá doanh nghiệp kê khai với giá thị trường thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản chêch lệch (cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường). Tỷ lệ này ở Mỹ có hai mức là 20% và 40% tùy theo mức độ sai biệt nhỏ hay lớn.

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao dựa trên căn bản lợi nhuận, nếu phát sinh mức độ sai biệt giữa lợi nhuận báo cáo với lợi nhuận so sánh ở các doanh nghiệp tương tự thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản lợi nhuận chêch lệch đó.

    Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể tránh được những hình phạt nói trên nếu như xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh cho các khoản chêch lệch hợp lý.

    Sau đây là một số đề xuất về khung hình phạt tại Việt Nam:

    • Xây dựng, ban hành biểu thuế suất cụ thể ứng với từng mức độ vi pham khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng).
    • Doanh nghiệp đầàu tư nước ngoài cố ý kê khai giảm thu nhập so với thu nhập thực tế nếu bị phát hiện sẽ chịu phạt 3 đến 5 lần thuế áp dụng tại thời điểm phát hiện kê khai thấp hơn, tùy theo số lần bị phát hiện và mức độ nghiêm trọng mà áp dụng mức độ nặng nhẹ khác nhau.
    • Xét theo mức độ nặng nhẹ căn cứ vào nhiều yếu tố. Trong đó, đặc biệt quan tâm đối tượng nộp thuế cố ý không tuân thủ các quy định về chuyển giá gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia.
    • Phát hiện mức thuế trốn càng cao áp dụng hình thức phạt càng cao.
    • Thực hiện việc truy thu thuế từ 5 đến 10 năm trở về trước. Aùp dụng mức lãi suất phạt

    truy thu thuế. Mức lãi suất đó tính theo lãi suất cho vay hiện hành hiện hành của Ngân hàng tại thời điểm áp dụng quyết định truy thu.

    Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay Việt Nam cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc

    đẩy phát triển đất nước là mục tiêu của chính phủ. Vì vậy, các nhà làm luật khi xây dựng khung

    hình phạt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện việc chuyển giá cần

    phải cân nhắc giữa lợi ích đạt được và thiệt hại mất đi để linh hoạt có hướng xử lý một cách

    hiệu quả nhất, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước.

    Tóm lại thực hiện tốt các giải pháp trên đây sẽ làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, hạn chế và khắc phục tình trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, tăng thu cho tài chính quốc gia. Chính phủ cần phải ban hành các hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực nhằm thực hiện một cách đồng bộ hoạt động chuyển giá. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp. Vì vậy, để thực hiện được các giải pháp trên, đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ của nhiều cơ quan và phải có sự chỉ đạo chặt chẽ và kịp thời của chính phủ, trong đó nhiệm vụ chủ yếu thuộc về cơ quan chịu trách nhiệm thu ngân sách nhà nước là Bộ tài chính.

    KẾT LUẬN

    Nhìn chung, vấn đề định giá chuyển giao của Việt Nam cũng đã được đặt ra thông qua một số văn bản pháp quy của Nhà nước hướng dẫn các quy định về thuế đối với DN có vốn ĐTNN. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà quản lý thì những quy định trong văn bản này chưa đủ sức để có thể kiểm soát được các hoạt động định giá chuyển giao. Hệ quả là đã có một số trường hợp DN cố tình khai tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu, tăng cao các chi phí nhập khẩu nguyên liệu…

    Trên thực tế, số liệu ngành thuế TP.HCM cho thấy, đã có trường hợp một DN FDI hoạt động theo hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 40%- nước ngoài 60%, DN khai lỗ kể từ khi bắt đầu hoạt động và 3 năm thì chuyển sang DN 100% vốn nước ngoài. Trong khoảng thời gian 3 năm liên doanh, giá bán sản phẩm giảm liên tục khoảng 3%/năm, làm cho mức lỗ năm sau cao hơn năm trước. Mức lỗ được phân tích là do chi phí nguyên vật liệu và tiền lương quá cao. Trong khi đó, thông tin so sánh của các công ty con khác trong cùng một tập đoàn cho thấy các chỉ số tài chính phản ánh chi phí đầu vào ở Việt Nam nguyên vật liệu trên doanh thu thuần cao gấp 2-3 lần, giá vốn bán hàng trên doanh thu thuần cao gấp 0,2-0,3 lần. Các bằng chứng trên đã cho thấy, vấn đề định giá chuyển giao tại Việt Nam có sự phức tạp và đa số nằm ngoài tầm kiểm soát của một số ngành chức năng, đặc biệt là ngành thuế.

    Như vậy, khi các hành lang pháp lý phục vụ cho việc định giá chuyển giao tại Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện thì việc tạo ra các kẽ hở là điều khó tránh khỏi. Chính vì thế, các nhà quản lý, làm luật cần tính toán kỹ hơn trong việc nhanh chóng hoàn thiện bổ sung thêm các khung pháp lý liên quan để việc định giá chuyển giao có thể được kiểm soát một cách chặt chẽ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phần Tiếng Việt
    • Cục thuế TP.Hồ Chí Minh (2005), Báo cáo tình hình 10 năm thực hiện chính sách thuế trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Phan Hiển Minh (2002), Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách thuế của Việt Nam, Luận văn tiến sỹ kinh tế, Học viện tài chính.

     

    • Ngô Trần Kim Ngân (2005), Một số giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở TP.Hồ Chí Minh, NXB tài chính.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (1999), Hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia: tác động tiêu cực và giải pháp khắc phục, Tạp chí tài chính số 421, trang 18- 21, 11/1999.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Hoàng Dũng (2001), Định giá chuyển giao và thủ thuật chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam, NXB tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Trí Thành (2004), Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh.
    • Tài liệu tham khảo từ các website:
    1. dpi.hochiminhcity.gov.vn

     

    1. mof.gov.vn

     

    1. mpi.gov.vn

     

    1. gso.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/LU%E1%BA%ACN-V%C4%82N-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Lời mở đầu

    Bên cạnh vốn trong nước thì vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng với phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nhận thức được điều này, trong những năm gần đây thu hút đầu tư nước ngoài đã được các cấp lãnh đạo Cao Bằng quan tâm đặc biệt. Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng chủ yếu gồm hai loại: ODA, FDI. Vốn ODA đã được tỉnh sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, các chương trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp điện nước… Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông rất bất lợi, nên khả năng thu hút FDI của Cao Bằng còn hạn chế. Tỉnh đã dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn song vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng.

    Sau một thời gian thực tập tại sở Kế hoạch và Đầu tư Cao Bằng, qua tìm hiểu tình hìnhthực tế em nhận thấy trong điều kiện Cao Bằng hiên nay tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết, làm tốt công tác này sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng” cho chuyên đề thực tập của mình.

    Kết cấu của chuyên đề:

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

     

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung.

    I. Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển.

    1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển.

    Đầu tư : Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động có mục đích nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên; là thời gian, sức lao động trí tuệ.

    Kết quả đem lại có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền), tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Những kết quả đó có vai trò quan trọng trong mọi trường hợp, không chỉ với nhà đầu tư mà còn với cả nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.

    Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn vật chất, nguồn lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    Qua định nghĩa về đầu tư và đầu tư phát triển cho thấy với bất cứ sự phát triển nào cũng gắn với hoạt động đầu tư, bởi vậy đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhà ở cũng chung mục đích đem lại cho tương lai một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển.

    2.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.

    – Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.

    • Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế, chiếm khoảng 24 – 28% trong cơ cấu tổng cầu. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cả của các cầu vào tăng theo.

     

     

    • Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản lợng tăng giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    – Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

    Khi tăng đầu tư cầu của các yếu tố đầu vào tăng vừa làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng, đến một mức nào đó dẫn đến lạm phát. Lạm phát làm kinh tế phát triển chậm lại, mặt khác khi tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội, tạo điều kiện cho

    sự phát triển nền kinh tế. Khi giảm đầu tư cũng tác động đến hai mặt, nhng theo chiều h-ướng ngược lại.

    – Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

    Muốn giữ tốc độ tăng trởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.

    Vốn đầu tư

    ICOR =

    Mức tăng GDP

    Vốn đầu tư

    Mức tăng GDP =

    ICOR

    Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc vào vốn đầu tư.

    – Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

    Chính sách đầu tư quyết định qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.

    Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.

    – Đầu tư với việc tăng cường khả năng KH & CN của đất nước.

    Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay.

    Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Dù tự nghiên cứu hay nhập khẩu từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.

    2.2. Đối với phát triển vùng lãnh thổ.

    Vùng lãnh thổ trên một bình diện nào đó là một nền kinh tế thu nhỏ nên hoạt động đầu tư trên phạm vi vùng lãnh thổ cũng có vai trò như là hoạt động đầu tư trên phạm vi quốc gia: tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá; đến sự ổn định của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Nét khác biệt giữa vùng lãnh thổ và quốc gia là vùng lãnh thổ có điều kiện về tự nhiên và xã hội tư-ơng đối đồng nhất trong khi trên phạm vi quốc gia có sự khác biệt giữa các vùng do vậy trong chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ vừa chịu sự ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô của Nhà nước, vừa thể hiện sự sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện cụ thể trong khi chính sách đầu tư của quốc gia thực hiện sự linh hoạt giữa các vùng khác nhau.

    2.3. Trên giác độ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.

    Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển nhanh của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời bất kỳ cơ sở sản xuất kinh doanh nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt máy móc… Các hoạt động này là các hoạt động đầu tư. Sau một thời gian các máy móc này bị hỏng hoặc hao mòn. Để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục cần phải đầu tư kinh phí để sửa chữa và bảo hành. Chứng tỏ đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô.

    3. Các nguồn vốn đầu tư.

    Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư bao gồm:

    3.1. Nguồn vốn trong nước.

    Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của nền kinh tế. Nó không những có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất kinh doanh trong nội bộ nền kinh tế mà còn có ảnh hưởng to lớn đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn tích luỹ trong nước tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút và tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đồng thời giữ thế chủ động không phụ thuộc vào nước ngoài.

    Nguồn vốn trong nước được hình thành từ hai nguồn chính: Đó là nguồn vốn Nhà nước và nguồn vốn tư nhân.

    Vốn của Nhà nước bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách, vốn tín dụng đầu tư và vốn của doanh nghiệp Nhà nước. ở nước ta, các nguồn vốn này thờng đợc Nhà nước đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Nguồn vốn từ ngân sách chiếm khoảng 21% tổng vốn đầu tư xã hội đợc sử dụng đầu tư cho xây dựng cơ bản, hạ tầng kinh tế xã hội và các công trình công cộng không có khả năng thu hồi vốn; nguồn vốn tín dụng đầu tư chiếm khoảng 6% tổng số vốn đầu tư và đợc sử dụng tập trung cho các dự án sản xuất kinh doanh theo hướng ưu tiên của kế hoạch Nhà nước và dự án công trình công cộng có khả năng thu hồi vốn như bưu điện, bưu chính viễn thông… Vốn của doanh nghiệp Nhà nước đầu tư chiếm trên 13% tổng số vốn đầu tư. Từng bước điều chình mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước một cách hợp lý hơn, nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp Nhà nư-ớc trong sản xuất kinh doanh.

    Nguồn vốn của tư nhân bao gồm tích luỹ của các doanh nghiệp tư nhân và tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận. Thời gian qua nguồn vốn này chiếm khoảng trên 30% tổng vốn và góp phần rất quan trọng vào việc tăng trởng kinh tế và ổn định đời sống dân cư, nhất là tạo công ăn việc làm cho cả nông thôn và thành thị.

    3.2. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài.

    Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, còn đang ở trong tình trạng thiếu vốn gay gắt. Nhờ có nguồn vốn này tạo nên một động lực lớn giúp các nƯớc này giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội to lớn, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng lao động… nhanh chóng công nghiệp hoá hiện đại hoá đa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài đƯợc chia thành: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign direct Investment) và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA: Offical Development Assitance).

    Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

    Đầu tư nước ngoài là sự chuyển dịch tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu .

    Đầu tư trực tiếp : nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý vốn

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay của người Việt Nam ở nước ngoài.

    Mục đích của đầu tư nước ngoài là thu về lợi nhuận do vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh, những lĩnh vực ít rủi ro. Bởi vậy nước tiếp nhận đầu tư nếu không biết điều chỉnh sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (vốn ODA).

     

    Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance, viết tắt là ODA) được ngân hàng thế giới định nghĩa: “ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, hoặc tín dụng u đãi của các tổ chức Chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển”.

    ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA cho vay u đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% giá trị khoản vay.

    Thời gian vay nợ khá dài thờng từ 30 – 40 năm (kể cả thời gian ân hạn). Ngoài khoản viện trợ không hoàn lại thì nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp (0-5% /năm).

    Mục tiêu tổng quát là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện chơng trình phát triển và tăng phúc lợi của mình. Tuy nhiên tính ưu đãi thường kèm theo các điều kiện ràng buộc t-ơng đối khắt khe như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vố và thanh toán… Đôi khi ODA được cung cấp từ Chính phủ còn gắn với những ràng buộc về mặt chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự.

    Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ nước ngoài mà nư-ớc đi vay phải thanh toán trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể nếu không việc tiếp nhận viện trợ sẽ trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài đối với mỗi quốc gia.

    II. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    1. Vai trò.

    Chuyển giao công nghệ :

    Đa số các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến. Họ có thể sẵn sàng chuyển giao công nghệ đó cho chủ nhà nếu chuyên gia địa phương có thể tiếp cận công nghệ sau khi huấn luyện.

    Tạo công ăn việc làm :

    Hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động địa phương, đặc biệt là các nghành sử dụng nhiều lao động giản đơn như dệt may, da giày…

    Kích thích các doanh nghiệp địa phương:

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kích thích các doanh nghiệp địa phương tham gia manh mẽ vào việc cung cấp nguyên vật liệu, các linh kiện rời và các dịch vụ cho họ…

    Kinh nghiệm quản lý :

    Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang theo kinh nghiệm quản lý và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành các nhà quản trị tại chỗ nhằm bổ xung vào đội ngũ quản trị của họ.

    2.  Các

    nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài.

    Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu tố: tình hình chính trị, chính sách-pháp luật, vị trí địa lí-điều kiện tự nhiên, trình độ kinh tế,

    đặc điểm văn hóa-xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.

    Tình hình chính trị:

    Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm được rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước không thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.

    Chính sách pháp luật:

    Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lý hợp lý và ổn định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, qui định đối với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.

    Trình độ phát triển kinh tế:

     

    Trình độ phát triển kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà. Những nước có trình độ quản lý vĩ mô kém thường dẫn đến tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng … Cơ sở hạ tầng cứng bao gồm các yếu tố như sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễn thông, còn cơ sở hạ tầng mềm bao gồm chất lượng lao động, dịch vụ công nghệ, hệ thống tài chính. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.

    Đặc điểm văn hóa xã hội:

    Đặc điểm phát triển văn hóa-xã hội của nước chủ nhà được coi là hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôn giáo, các phong tục tập quán đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đặc điểm này không chỉ giảm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào cộng đồng nước sở tại.

    III. Các hình thức đầu tư nước ngoài ( ODA và FDI).

     

     

     

    1.     ODA.

    1.1. Khái niệm.

    ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nứoc đang và chậm phát triển.

    1.2. Đặc điểm.

    Vốn ODA mang tính ưu đãi : Vốn ODA có thời gian cho vay dài, có thời gian án hạn dài. Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho các nứoc vay vốn. Vốn ODA của WB.ADB. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản- Japan Bank for intenational Cooperation JBIC , co’ thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian án hạn là 10 năm.

    Vốn ODA mang tính rằng buộc :

    ODA có thể rằng buộc nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những rằng buộc khác và nhiều khi các rằng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận.

    ODA là vốn có khả năng gây nợ :

    Khi tiếp nhận sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đàu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó trong khi hoạch định chính sách sư dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

    1.1.1.3. Phân loại ODA

    * Theo tính chất:

    Viện trợ không hoàn lại: Các khoản cho không, không phải trả lại.

    Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện mềm)

    • Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại).

    * Theo mục đích

    • Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
    • Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực doanh nghiệp dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư. Phát triển thể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.

    * Theo điều kiện:

    • ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
    • ODA có ràng buộc nước nhận
    • Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá. Trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

    Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể:

    • ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi
    • bất cứ nơi nào.

    * Theo đối tượng sử dụng:

    Hỗ trợ dự án; Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.

    • Hỗ trợ phi dự án: Bao gồm các loại hình như sau:
    • Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.

    Hỗ trợ trả nợ

    Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

    2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).

     

    2.1. khái niệm : Là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trự tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế.

    2.2 Đặc điểm.

    Một là: các chủ đầu tư phải góp một số vốntối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , khi liên doanh, số vốn góp của bên nứoc ngoài phải lớn hơn hoạc bằng 30% vốn pháp định.

    Hai là: quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức góp vốn của các bên tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì người nước ngoài toàn quyền quản lý doanh nghiệp.

    Ba là: lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.

    Bốn là: đầu tư trự tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanh hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.

    Năm là: đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.

    Sáu là: đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.

    1.3. Phân loại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia FDIv thành các loại: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh doanh nghiệp

    100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có thêm các hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao kinh doanh (BTO) xây dựng chuyển giao (BT). Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức pháp nhân mới và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại: đầu tư tập trung trong khu công nghiệp khu chế xuất và đầu tư phân tán. Mỗi loại đầu tư có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ cấu công nghiệp của từng quốc gia.

    Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…

    Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào

    Việt Nam gồm bốn hình thức sau:

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh
    • Doanh nghiệp liên doanh
    • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
    • BOT

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    I. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Cao Bằng có ảnh hưởng đến việc

    thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

    Cao Bằng là một tỉnh vùng cao biên giới phía đông bắc nước Việt Nam. Nhân dân các dân tộc giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Cao Bằng là miền đất địa đầu Tổ quốc, có từ thời kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỷ II trước công nguyên. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá rất đáng tự hào và trân trọng. Lịch sử truyền thống của Cao Bằng gắn liền lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu đầu tiên của nhân dân Âu Lạc bảo vệ Tổ Quốc, trong đó có nhân dân Cao Bằng chống quân xâm lược nhà Tần do Thục Phán đứng đầu dành thắng lợi.

    Ngày nay nhân dân các dân tộc Cao Bằng đang cùng nhau thực hiện Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh g-ơng mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nh trớc đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.

    Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển và tăng trởng khá,GDP tăng bình quân 9-10%/ năm; nhng nhìn chung kinh tế của tỉnh so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để thực hiện sự nghiệp CNH-HDH, Cao Bằng cần tận dụng mọi khả năng và nguồn lực sẵn có để hoà nhập vào tiến trình phát triển của cả nước; do đó Cao Bằng rất cần sự hơp tác, giúp đỡ của Chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức trong và ngoài nước.

    1. Điều kiện tự nhiên.

     

    Cao Bằng có tiềm năng về đất đai, khí hậu để phát triển các trang trại, vùng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Cao Bằng có thế mạnh và những đặc sản độc đáo nh: Hạt dẻ, lê, cam quýt, hồng, thuốc lá sợi vàng, đậu tơng, chè đắng trúc sào, hồi…

    Thiên nhiên cũng u đãi cho Cao Bằng một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng như: Quặng sắt; quặng mangan, quặng thiếc, quặng bô xít, ngoài ra còn có kẽm, niken, vàng, ăngtimon, quặng uranium…, có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp khoáng sản. đặc biệt sản phẩm gang đúc của Cao Bằng đã đợc trao Huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm ” Hàng Công nghiệp Việt Nam” năm 2000.

    Cao Bằng có cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán với nước bạnTrung Quốc. Tiềm năng du lịch Cao Bằng rất phong phú và đa dạng; Cao Bằng nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử nh Pác Bó, Khu rừng Trần Hưng đạo, di tích Chiến thắng đông Khê, Thành Nà lữ…, cùng với những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp nh Thác Bản Giốc, động Ngờn Ngao, Hồ Thang Hen và nhiều lễ hội văn hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc, tất cả đã tạo nên một tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch Cao Bằng.

    Cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm phát triển; thông tin liên lạc thuận tiện nhanh chóng; điện lưới quốc gia đã đến các huyện thị trong tỉnh; các tuyến đường trong tỉnh được đầu tư nâng cấp. Một số cơ sở công nghiệp hoạt động đạt kết quả như: Xí nghiệp Luyện gang; Nhà máy đường, Nhà máy gạch Tuy Nen; Nhà máy Xi Măng…, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như vùng nguyên liệu mía, vùng thuốc lá, vùng trồng trúc…

    Cao Bằng tuy có tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH nhng do là tỉnh miền núi, xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, nền kinh tế đợc xây dựng từ xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh; do đó để tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển Cao Bằng cần mở rộng, chào đón các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trong và ngoài nước đến với Cao Bằng và tạo mọi điều kiện ưu đãi trên cơ sở bình đẳng, hợp tác hữu nghị, cùng phát triển.

    2. Vị trí địa lí.

     

    Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông bắc nước ta. Hai mặt bắc và đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều bắc – nam 80 km, từ 23007’12” – 22021’21” vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông – tây 170 km, từ 105016’15” – 106050’25” kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).

    Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên dới 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 m so với mặt nớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Hình thành 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

    Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế. Cao Bằng có khí hậu ôn đới. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 25 -28 độ C, mùa đông là 16 – 17độ C. Một số vùng núi cao như Trùng Khánh, Trà Lĩnh về mùa đông có tuyết rơi.

    Nhìn chung khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại cú nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch. Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272 km .

    3. Dân số và lao động.

    Toàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện thị và có 189 xã, phường thị trấn. : Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng khánh, Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Hòa, Hạ Lang, Thạch An.

    Bao gồm các Dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông, Việt (Kinh), Hoa, Sán Chay…

    Dân số: (01/04/1999): 491.055 người.

    II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999 – 2003.

    1.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên điạ bàn tỉnh thời kỳ 1999-

    2003.

    Bảng 1: tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh ( 1999-2003).

    đơn vị: tỷ đồng.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    TVĐT của tỉnh 209.2 185.5 238.5 428.9 441
               
    TVĐT nước ngoài 52 38 106.1 54 193.5
               
    trong đó          
               
    ODA 52 38 98.6 54 85
               
    FDI     7.5   108.5
               
    Tỷ trọng VĐTNN/TVĐT 24.85 20.49 44.49 12.59 43.88
               
    Tỷ trọng vốn ODA/VĐTNN 100 100 92.93 100 43.93
               
    Tỷ trọng vốn FDI/VĐTNN 0 0 7.07 0 56.07
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Cao Bằng thời kỳ 1999-2003.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    Tổng VĐTNN 100 73.1 279.2 50.9 358.3
               
    ODA 100 73.1 259.5 54.8 157.4
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    2.Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI của tỉnh.

    Năm 2001 , tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư cho dự án “ Công ty KOHKL Việt Nam “, 100% vốn Nước ngoài, sản xuất nấm xuất khẩu, với số vốn 500.000 USD.

    Đến ngày 1/9/2003 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép đầu tư cho công ty liên doanh Minh Châu Cao Bằng, kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, vui chơi, giải trí có thưởng tại của khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa với số vốn đầu tư trên 7 triệu USD, hiện nay đang thực hiện dự án.

    3.Tình hình thu hút vốn đầu tư ODA của tỉnh.

    Tình hình thực hiện oda giai đoạn 1993- 2003 và định hướng sử dụng oda tới năm

    2010

    3.1.Khái quát tình hình vận động và thu hút ODA của Cao Bằng.

    Việc thu hút nguồn vốn ODA tại Cao Bằng chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1995 bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC) đầu tư cho khôi phục đường giao thông. Nguồn vốn này tiếp tục được khai thác đầu tư cho các lĩnh vực giao thông và phát triển lưới điện. Bên cạnh đó các nguồn ODA khá cũng dần được khai thông cả về số lượng dự án và qui mô. Đó là dự án phát triển nông thôn Cao Bằng- Bắc Cạn, sử dụng viện trợ không hoàn lại của EU; Các tiểu dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn vốn ADB và

    AFD; Dự án phát triển các trường tiểu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật bản.

    Những nguồn vốn ODA này là rất quan trọng đối với Cao bằng trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương, điều này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với Cao bằng một tỉnh còn rất nghèo trong cả nước.

    3.2. Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Cao bằng.

    Dự án cơ sở hạ tầng nông thôn (vốn ADB và AFI): Thời gian thực hiện 1998-2003, tổng vốn 85 tỷ đồng. Đến nay đã thực hiện được khoảng 65 tỷ đồng. Dự án đầu tư cho các lĩnh vực thủy lợi, cấp nước sinh hoạt và giao thông nông thôn.

    Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn Cao Bằng được chia làm 3 giai đoạn

    • Giai đoạn I: Tổng vốn đầu tư là 38,5 tỷ đồng
    • Giai đoạn II: Tổng vốn đầu tư là 38,1 tỷ đồng
    • Giai đoạn III: Sau khi triển khai thực hiện giai đoạn I và II. Vốn kết dư còn lại

    Dự án phát triển Nông thông Cao Bằng- Bắc Cạn (EU): Dự án do liên minh Châu Âu viện trợ không hoàn lại cho 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn với số vốn 19,5 triệu EURO, trong đó Cao Bằng được hưởng 2/3 tổng số vốn. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 1999 và sẽ kết thúc năm 2004. Dự án gồm 5 hợp phần: Khuyến nông; phát triển nông nghiệp; giao thông nông thôn; thủy lợi và cấp nước sinh hoạt nông thôn.

    Phát triển lưới điện nông thôn đầu tư bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC), với số vốn là 7,95 tỷ đồng, thực hiện các dự án từ năm 1998- 2002

    Nguồn vốn JBIC tài khóa 2000 (15 tỷ đồng): đầu tư cho các dự án giao thông và điện. Tỉnh đã tiếp tục xây dựng các dự án đăng ký sử dụng vốn JBIC và được JBIC chấp nhận 54, 502 tỷ đồng cho các dự án điện và giao thông (theo hiệp định ký kết giữa 2 Chính phủ ngày 31/3/2003).

    Nguồn vốn phi dự án Nhật Bản: Năm 2002 được ghi chỉ tiêu 8 tỷ đồng cho dự án Giao thông

    Dự án cải tạo, mở rộng hệ thống cấp nước Thị xã Cao Bằng: Từ năm 1997 đến 1999 đã thực hiện xong, công suất 12.000m3/ngày đêm, sử dụng ODA Pháp, với số vốn 17 triệu Fran Pháp.

    Dự án hỗ trợ y tế quốc gia (WB): Do Bộ Y Tế làm chủ quản đầu tư, hô trợ đầu tư cho lĩnh vực y tế, thực hiện từ 1999 đến 2003, với tổng mức đầu tư trên 36 tỷ đồng.

    Cao Bằng cũng được hưởng thụ dự án vốn WB từ năm 2001 do Công ty Điện lực 1 làm chủ đầu tư.

    Ngoài ra còn có các dự án đang thực hiện nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh như

    sau :

    Năm 2003: Bộ tài chính thông báo tỉnh Cao Bằng được sử dụng ODA ITALYA 380.000 EURO cho thiết bị cấp nước.

    Tỉnh Cao Bằng đã được chính phủ phê duyệt vào danh mục sử dụng vốn ODA Phần Lan, dự kiến vốn ODA là 3,5 triệu USD đầu tư cho trang thiết bị y tế.

    Tỉnh Cao Bằng đẫ đăng ký sử dụng ODA Đức cho chương trình phòng chống HIV-AIDS ngày 7/5/2003.

    Năm 2000-2001 tỉnh Cao Bằng được thụ hưởng dự án hỗ trợ các trường tiêu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật Bản cho 17 điểm trường, với tổng sơ vốn hơn 54,75 tỷ đồng.

    Tổng cộng từ các doanh nghiệp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp đã tham gia tích cực vào phát triển sản xuất và cải thiện cở sở hạ tầng. Do đó trong những năm tới cần vận động các doanh nghiệp đóng góp vốn để phát triến sản xuất kinh doanh cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên việc huy động phải linh hoạt phù hợ với đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp băng cách tổ chức liên doanh kết nghĩa doanh nghiệp với huuyện tỉnh để đầu tư phát triển một số lĩnh vực tỉnh, huyện đang cần đầu tư.

    4. Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    4.1. Kết quả đạt được.

    Đầu tư đầu tư nước ngoài thời gian qua đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng tr-ưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá và mở rộng thị trường của tỉnh. Thu hút được nhiều lao động và không ngừng tăng thu cho ngân sách, nâng cao trình độ công nghệ, tạo điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao mức sống dân cư.

    Nhiều công trình, chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt, đặc biệt tạo ra một không khí sôi động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, số dự án tăng nhanh qua các năm, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn ra để kinh doanh, đầu tư công nghệ vào sản xuất.

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm sống động môi trường đầu tư của tỉnh. Nhiều dự án đã và đang đi vào hoạt động mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cải thiến và nâng cao đời sống của nhân dân, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

    Những thành quả trên là kết quả của sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh Cao Bằng trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh nhằm thu hút ngày một nhiều hơn đầu tư nước ngoài vào tỉnh. Những nỗ lực đáng được ghi nhận có thể kể ra đó là:

    Tỉnh đã ban hành Quy định về quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn.

    Tỉnh đã chủ động đẩy mạnh việc vận động ODA.

    Đã phê duyệt Quy trình cấp, điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

    4.2. Tồn tại.

    Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một tỉnh nào đó, nơi nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như : cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước phát triển, các doanh nghiệp ngoài nước thường chọn nước nào, khu vực nào, tỉnh nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu tư trước. Còn khi đầu tư vào các nước, tỉnh lạc hậu, chưa có điều kiện tối thiểu cho việc tiếp nhận đầu tư cũng phải dành một phần vốn cho việc xây dựng hệ thống cơ sơ

    Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông bất lợi so với các tỉnh bạn nên đã ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút vốn FDI còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù luật đầu tư nước ngoài dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhưng vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng trong thời gian qua vẫn chủ yếu là các dự án hỗ trợ phát triển ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh vẫn rất khiêm tốn, tới năm 2001 mới có một dự án được cấp giấy phép và tới năm 2003 mới được thêm một dự án.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

    I. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-2010 tại Cao Bằng.

    1. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo.

    Tiếp tục duy trì phương hướng phát triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo mọi điều kiện chuyển dịch nhanh nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần .Chủ động vươn lên phát huy đầy đủ và khai thác triệt để những nguồn nội lực như tiềm năng đất đai nông lâm nghiệp, tài nguyên rừng, khoáng sản, cửa khẩu, lao động , truyền thống và cơ sở kĩ thuật, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế có hiệu quả để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình phát triển chung của vùng đông bắc và cả nước, tránh tụt hậu xa về kinh tế . Có chương trình hội nhập kinh tế khu vực, nhất là khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc.

    Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới toàn diện mà trước hết là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch . . .

    Phát triển kinh tế phải gần với giải quyết tốt vấn đề xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.

    Từ 2000 đến 2010 cần tập trung đầu tư để tạo bước chuyển biến tích cực. Tạo ra những tiền đề cho các năm tiếp theo phát triển nhanh hơn. Trước hết tập trung nâng cấp các trục giao thông chính và phát triển giao thông nông thôn, cấp nước, điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục. . .

    • Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân để thực hiện phát triển nhanh kinh tế xã hội.

    2. Kế hoạch huy động và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-

    2010.

    Tổng mức đầu tư cần thiết để đạt mục tiêu:

    Qua tính toán, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi năm tăng trên 10% giai đoạn 2006-2010, nhu cầu cần khoảng 3.500 tỷ đồng.

    Trong đó:

    Nhu cầu cho lĩnh vực công nghiệp- XD-GTVT khoảng: 1.383 tỷ đồng.

    Nhu cầu cho lĩnh vực nông nghiêp. khoảng : 752 tỷ

    Nhu cầu cho lĩnh vực dịch vụ khoảng 1365 tỷ

    Nguồn huy động đầu tư : Để đáp ứng nhu cầu vốn đàu tư phát triển, nhoài việc tăng cường tích lũy từ nội bộ kinh tế xong còn phải chủ trương biện pháp huy động hữu hiệu từ các nguồn đầu tư nước ngoài ODA và FDI.

    II. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (2005-2010).

    Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành một phương thức hữu hiệu nhất, một yếu tố quan trọng nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển, một hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế…

    Hoạt động đầu tư nước ngoài ở Cao Bằng đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian qua song có thể nói, cho đến nay hoạt động này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các giải pháp đề ra là nhằm tháo gỡ những khó khăn tồn tại cho cơ chế đầu tư , tiếp tục khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước mạnh dạn hơn nữa bỏ vốn ra đầu tư. Các giải pháp một mặt phải dựa trên cơ sở pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước, mặt khác phải vận dụng vào điều kiện, tình hình cụ thể của Cao Bằng. Do vậy, để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần thực hiện một số giải pháp theo hướng sau đây:

    Thứ nhất, xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm đa ra những cơ chế chính sách sát thực phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và có tính khả thi cao để tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thông thoáng thúc đẩy phát huy đợc nội lực từ bên trong và tăng cường hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài.

    Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính để dự án nhanh đi vào thực tiễn bằng việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các quy trình thủ tục, thiết lập cơ chế phối hợp và cơ chế “một cửa ” liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư trong đó đặc biệt chú trọng đến khâu thụ lý hồ sơ dự án cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba, từng bước thực hiện việc đầu tư nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng đến hệ thống giao thông trong địa bàn tỉnh , giữa tỉnh với các tỉnh khác và hệ thống giao thông tới các cửa khẩu.

    Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại, yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư

    Thứ sáu, một số giải pháp khác.

    Các giải pháp cụ thể là:

    1. Xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách.

    Tỉnh Cao Bằng đã có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, các cấp nhưng còn thiếu nhiều quy hoạch chi tiết. Cần xác định rõ chiến lược đầu tư và tiến hành lập các dự án quy hoạch chi tiết để đầu tư phát triển. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, quy hoạch các cụm công nghiệp nhỏ và danh mục các dự án đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng mang tính đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Cao Bằng nhằm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài.

    Việc cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài cần tiến hành với những nội dung chính sau đây:

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Mục tiêu: Khuyến khích và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh.

    Nội dung: Soát xét lại giá cho thuê đất, miễn giảm tiền cho thuê đất trong một vài năm đầu cho một số khu vực ưu tiên đầu tư. Cần áp dụng một số chính sách ưu đãi để tận dụng tối đa diện tích đất cho thuê như giảm giá thuê đất, giá kinh doanh hạ tầng (điện, nước, dịch vụ viễn thông), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp đợc thuận lợi, nhanh chóng… Giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng gây ách tắc đối với việc triển khai dự án. Cần sớm chấm dứt cơ chế các doanh nghiệp góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất.

    Bổ sung các chính sách ưu đãi có sức hấp dẫn cao đối với những lĩnh vực, địa bàn và dự án cần thu hút đầu tư nước ngoài như: công nghệ cao, xuất khẩu lớn, đầu tư vào nông thôn miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; nông lâm trồng rừng bảo vệ môi trờng; các dự án phát triển hạ tầng xã hội.

    Thứ hai, tổ chức thẩm định, phê duyệt dự án nhanh chóng, đảm bảo tính thời gian, chất lượng và thủ tục đơn giản trong qúa trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba là cơ chế chính sách vận động viện trợ và gọi vốn đầu tư trực tiếp nước

    ngoài.

    Mục tiêu: Khuyến khích các ngành, các cấp chủ động và năng động tổ chức vận động viện trợ và khuyến khích các doanh nghiệp năng động tìm kiếm đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư.

    Nội dung: Tạo nguồn kinh phí để lập dự án, tổ chức kêu gọi vốn viện trợ tìm kiếm đối tác đầu tư; quy định chế độ ưu đãi khi nhà đầu tư đang thực hiện dự án đầu tư tại tỉnh mà vận động về cho tỉnh thêm dự án đầu tư khác; quy định chế độ đãi ngộ cho người có công vận động được dự án ODA hoặc giới thiệu được đối tác nớc ngoài có dự án đầu tư vào tỉnh Cao Bằng.

    2. Hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính Nhà nước.

    Nhằm tạo môi trường thông thoáng trong việc thụ lý hồ sơ dự án trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư, thẩm định dự án để cấp đăng ký kinh doanh, thẩm định để cấp giấy phép đầu tư, triển khai các thủ tục hành chính để thực hiện dự án. Tỉnh Cao Bằng cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính với những mục tiêu sau:

    • Thiết lập chế độ “một cửa” trong công tác quản lý các dự án và các nguồn vốn đầu tư trong việc giải quyết các thủ tục hành chính từ khâu hình thành dự án đến khâu thực hiện dự án.
    • Xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý và quy trình thụ lý hồ sơ dự án.
    • Tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu

    tư.

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Để quy trình quản lý và xử lý công việc đi vào hiện thực và đảm bảo tính thời gian theo quy định và hoàn thành trách nhiệm trong công việc ở từng công đoạn, cần thiết lập chế độ “một cửa” xử lý từng công việc ở từng cơ quan đơn vị. Tránh những thủ tục hành chính rờm rà, phải qua nhiều cửa, nhiều cơ quan để xin làm thủ tục thuê đất, thành lập doanh nghiệp… cũng cần tránh hiện tượng “một cửa” mà lại nhiều “khoá”. Yêu cầu chế độ

    “một cửa” ở đây là từng cơ quan chức năng liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể theo chức năng quản lý của cơ quan mình cần bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn đảm đơng nhiệm vụ đầu mối trong cơ quan mình. Đích danh cán bộ là đầu mối chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ công việc, giúp lãnh đạo của mình tổ chức triển khai giải quyết công việc và bàn giao công việc cho các cơ quan liên quan đúng thời hạn quy định.

    Thứ hai, là việc xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý, thụ lý hồ sơ dự án:

    Trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước và các văn bản cụ thể hoá công tác quản lý và phân giao trách nhiệm của tỉnh về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từng ngành chức năng và các cấp liên quan tiến hành việc rà soát lại chức năng nhiệm vụ được giao; tiến hành việc xây dựng đầy đủ các quy trình thủ tục hành chính cho việc thực hiện các loại công việc như lập dự án, thẩm định dự án, thẩm định thiết bị công nghệ, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trờng, thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán, cấp đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng, cấp quyền sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao đất cho chủ dự án, triển khai các thủ tục hành chính thực hiện dự án đầu tư, giải ngân cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tư, thanh tra kiểm tra cấp giấy phép lao động, giới thiệu nhân sự tham gia quản lý liên doanh. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc xử lý từng công việc cụ thể.

    Thứ ba, là tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư:

    Để tăng cờng công tác quản lý đầu tư cần phải có những điều kiện sau đây:

    Phải có cơ chế quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài thích ứng và linh hoạt. Cơ chế quản lý thể hiện ở những hình thức tổ chức quản lý và phương thức quản lý. Cơ chế quản lý phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm xác định đầu mối rõ ràng, thống nhất về quản lý đầu tư và có những phương pháp

    quản lý hữu hiệu. Một mặt cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài phải phù hợp và thông thoáng, cởi mở nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Tăng cường công tác bồi dưỡng và đào tạo lại trình độ chuyên môn và trình độ quản lý dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Đặc biệt đối với lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, cần chú trọng nâng cao năng lực và hiệu lực công tác của cơ quan đầu mối trực tiếp tham mưu về kinh tế đối ngoại của tỉnh như bố trí đủ cán bộ có năng lực cả chuyên môn và ngoại ngữ trang bị đầy đủ phơng tiện hoạt động, cài đặt phần mềm vi tính quản lý dự án kể cả nối mạng với các Bộ TW nếu thấy cần thiết.

    Các công cụ quản lý hoạt động đầu tư phải đủ mạnh và hiệu quả. Các công cụ quản lý đầu tư bao gồm: hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư, các chính sách và đòn bẩy kinh tế, các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư, các tài liệu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư, các thông tin về tình hình cung cầu, giá cả; kinh nghiệm quản lý, các phơng tiện quản lý, các phương tiện quản lý hoạt động đầu tư như hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin, hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc. Các công cụ này được nhà quản lý sử dụng để tác động trực tiếp đến đối tượng bị quản lý là hoạt động đầu tư vì thế nó có ý nghĩa quan trọng để làm tăng hiệu quả quản lý.

    3. Cải thiện điều kiện hấp thụ dự án đầu tư.

     

    Để cải thiện môi trờng hấp thụ dự án đầu tư, cần tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau đây:

    • Tập trung một nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư và nâng cấp một số công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ trọng điểm và quan trọng mang tính then chốt ở Cao Bằng nhằm cải thiện môt bước về cơ sở hạ tầng và dịch vụ ở tỉnh.
    • Cân đối đủ nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và cho các dự án đầu tư trong nước cần vốn đối ứng, dành một lượng vốn để hỗ trợ đầu tư theo phơng châm “Nhà nước hỗ trợ dân làm là chính” nhằm huy động mạnh vốn đầu tư từ dân.
    • Thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư ngoài nước.

    Thứ nhất, tập trung đầu tư nâng cấp một số cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    • Đầu tư nâng cấp tỉnh : đầu tư một số công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm của tỉnh như nâng cấp đường và lát vỉa hè; đầu tư điện chiếu sáng, cải tạo hệ thống biển báo thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải…
    • Nâng cấp khách sạn Cao Bằng đạt tiêu chuẩn khách sạn có sao đủ điều kiện đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho sự phát triển , hệ thống trường học, bệnh xá, dịch vụ thương mại, khu chung cư…

    Thứ hai, tăng cường nguồn lực tài chính để kích thích đầu tư và hấp thụ dự án đầu tư nước ngoài: Ngân sách tỉnh hàng năm đảm bảo cân đối đủ nguồn vốn đối ứng để

    thực hiện các dự án ODA đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng, đầu tư phát triển hoặc các dự án vay vốn thương mại nước ngoài cần thiết; cân đối nguốn vốn hỗ trợ dân đầu tư.

    Thứ ba , chuẩn bị tốt điều kiện đất đai để thực hiện dự án đầu tư:

    – Quy hoạch sẵn và công khai quỹ đất dành cho các dự án đầu tư xây dựng nhà x-ưởng mới để các nhà đầu tư lựa chọn; áp dụng giá thuê ưu đãi nhất và chế độ miễn giảm tối đa (áp dụng mức giá thấp nhất trong khung quy định của Chính phủ hoặc có thể miễn hoàn toàn). Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng và giao đất cho chủ đầu tư một cách nhanh chóng, đúng tiến độ.

    • Phát triển thêm một số cụm công nghiệp xung quanh thi xã, hoặc ở những nơi có vùng nguyên liệu tập trung để có đất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập.

    Thứ tư, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin và thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

    • Cần hình thành tổ chức làm dịch vụ tư vấn cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư có được những thông tin và các kỹ năng cần thiết từ khâu lập dự án đến khâu thực hiện dự án đầu tư, các thông tin về thị trường, thông tin về thiết bị công nghệ.
    • Lập danh mục các dự án ưu tiên đầu tư để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Giới thiệu tiềm năng và các cơ hội đầu tư của tỉnh.

    4. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

     

    Việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư để sử dụng các nguồn vốn đầu tư đúng mục tiêu là giải pháp tích cực và hiệu quả nhất trong tình hình mà nguồn vốn còn nhiều hạn chế. H-ớng điều chỉnh tập trung vào các lĩnh vực sau:

    Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu nông lâm sản, sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; chú ý phát triển những ngành công nghệ ít vốn thu hút nhiều lao động. Phát triển những ngành truyền thống, có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và đảm bảo được hiệu quả, tiện khai thác và chế biến theo hướng chiều sâu là chính để cải tạo các cơ sở có hiệu quả và phát triển một số cơ sở mới.

    Phát triển mạnh một số loại hình dịch vụ như bưu chính, viễn thông dịch vụ du lịch, vận tải thương mại, dịch vụ khoa học công nghệ theo hớng vừa phát triển thị trường nội địa vừa nhanh chóng vươn ra thị trường bên ngoài.

    Đối với những nhóm mặt hàng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng nội địa, trong nước và quốc tế, kiên quyết không đầu tư mới các cơ sở sản xuất với công nghệ, thiết bị lạc hậu, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh kém. Tập trung cải tạo công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đáp ứng kịp thời thị hiếu của người tiêu dùng, hạ giá thành sản phẩm.

    5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư.

    Cùng với thực hiện các giải pháp mang tính trực tiếp để thu hút vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển thì nâng cao hiệu quả đầu tư là một giải pháp mang tính gián tiếp có tác động kích thích qúa trình tái đầu tư. Hiệu quả đầu tư cao là tín hiệu để thu hút, huy động các nguồn vốn trực tiếp ngược lại việc đẩy mạnh đầu tư luôn luôn phải đi đôi với nâng cao hiệu quả đầu tư thì hoạt động đẩy mạnh đầu tư đó mới có ý nghĩa, vừa tiết kiệm đươc nguồn vốn đầu tư vừa không tạo ra gánh nặng cho tương lai.

    6. Một số giải pháp khác.

    Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và đầu tư phát triển nguồn nhân lực là 2 nội dung của hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất hỗ trợ cho qúa trình thu hút vốn đầu tư. Trong thời điểm hiện nay và trong tương lai, 2 nhân tố này được xác định là 2 nhân tố quan trọng nhất của nền kinh tế, quyết định đến tốc độ tăng trởng và qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.

    6.1. Đầu tư phát triển công nghệ.

    Tăng cường năng lực công nghệ sẽ có tác động tốt đến qúa trình sản xuất kinh doanh: giảm chi phí nhân công, nguyên vật liệu; tăng doanh thu, lợi nhuận; tăng khả năng cạnh tranh, vị thế của sản phẩm từ đó dẫn đến tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, doanh nghiệp. Nguồn tích luỹ này sẽ bổ sung cho hoạt động đầu tư phát triển.

    Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định nguồn công nghệ ngoài việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài thì thời gian tới tỉnh cần tích cực đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ theo hướng sau:

    Về lĩnh vực nông nghiệp: Tăng cường đầu tư cho những mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhân rộng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Đa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất tiến tới làm chủ công nghệ sản xuất giống, từng bước cơ khí hoá trong sản xuất, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến, sản xuất thực phẩm sạch.

    Đối với lĩnh vực công nghiệp: Cần có cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư đổi mới công nghệ thông qua hỗ trợ từ khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng có được thêm do đổi mới công nghệ. Có chế độ thưởng cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hỗ

    trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm mới; bảo vệ nhãn mác, thương hiệu của những sản phẩm có uy tín chống hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái.

    6.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp từ ngoài tỉnh vào các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng “chất xám” cao Tiếp nhận và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, những sinh viên có thành tích nghiên cứu, học tập xuất sắc từ các trường đại học trong và ngoài tỉnh.

    Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân

    Trong điều kiện nguồn đầu tư có hạn, muốn phát triển Kinh tế xã hội nhanh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, giảm bớt khoảng cách, tránh tụt hậu xa về kinh tế so với mức trung bình của cả nước thì phải lựa chọn trọng điểm đầu tư tạo ra khâu đột phá đưa kinh tế bứt lên.

    Sau khi nghiên cứu các trọng điểm đầu tư đã lựa chọn của quy hoạch trước và qua thự hiện quy hoạch một số năm, với những phân tích qua khảo sát tình hình thực tế tranh thủ ý kiến các chuyên gia,.. nên tâp. trung đầu tư vào các lĩnh vực sau đây :

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Nâng cấp và phát triển giao thông trực chính, giao thông nông thôn, giao thông vùng tập trung tài nguyên, giải quyết điện nước.

    Kết luận

    Đầu tư phát triển đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và trong những thập niên tới là con đường hữu hiệu nhất, là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội địa phương. Cao

    Bằng đã có một số tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế có tiềm năng về tự nhiên đa dạng phong phú, có lích sử phát triển lâu đời. Nhưng làm thế nào để phát huy tối đa những tiềm năng đó, Cao Bằng cần huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho phát triển kinh tế. Cần có những biện pháp xúc tiến đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần có sự phối hợp giải quyết đồng bộ của các ngành, các cấp và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, địa phương về các vấn đề như: xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giao thông vận tải, xây dựng hệ thống thị trường trong và ngoài nước, xoá bỏ sự phân cách giữa thành thị và nông thôn, miền núi, phát triển khoa học kỹ thuật và văn hoá giáo dục…Có như vậy thì việc mở rộng đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát triển cao bằng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá mới mang lại những hiệu quả thiết thực.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Liệu có nên cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ hay không?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

     

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động chiếm vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam. Đây được coi là đòn bẩy nhằm giúp đất nước thoát khỏi “cái vòng luẩn quẩn” về kinh tế. Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua vốn FDI đã và đang là một kênh bổ sung vốn rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế. Những thành tựu đạt được trong việc thu hút nguồn vốn FDI thời gian qua đã tạo cho đất nước nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực cho các ngành công nghiệp như dầu khí, hóa chất, lắp ráp ô tô, công nghệ thông tin…Bên cạnh đó nguồn vốn FDI cũng góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất và đặc biệt là khu công nghệ cao.

    Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực đó, đầu tư nước ngoài có những mặt hạn chế gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, nổi cộm là vấn đề chuyển giá. Hiện có nhiều doanh nghiệp FDI đang tận dụng việc chuyển giá để làm cho kết quả kinh doanh của họ tại Việt Nam bị lỗ. Mục đích của việc chuyển giá này nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp để đóng thuế ít hơn. Cách làm này của các doanh nghiệp đã gây thất thoát nguồn thu thuế trong nước.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm 3 đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến quý 3/2012” với mong muốn nhìn nhận lại một cách rõ nét và chi tiết tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đánh giá những mặt được và chưa được nhằm đưa ra định hướng, giải pháp để tăng cường thu hút vốn FDI trong thời gian tới, nâng cao hiệu quả và lợi ích của việc thu hút vốn FDI để phát triển nền kinh tế Việt Nam bền vững.

    Nội dung đề tài bao gồm 3 phần:

    Phần mở đầu

    Phần nội dung chính: Bao gồm 3 chương

    • Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
    • Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
    • Chương 3: Giải pháp nâng cao đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

    Kết luận

    1. Mục tiêu nghiên cứu
    2.  
    3.  

    2.1 Mục tiêu chung

    Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ 2008 đến quý 3/2012, từ đó đưa ra giải pháp giải pháp khắc phục những yếu kém hiện tại song song đó đưa ra các giải pháp tăng cường việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2.2Mục tiêu cụ thể

    – Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.

    – Đánh giá thực trạng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    – Đưa ra giải pháp khắc phục yếu kém và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp thu thập số liệu: dữ liệu thứ cấp được thu thập website tổng cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước, niên giám thống kê…

    Phương pháp phân tích số liệu:

    • Phương pháp so sánh số tương đối. So sánh số liệu giữa các năm bằng cách tính phần trăm, năm sau bằng bao nhiêu năm trước từ đó so sánh đưa ra nhận định tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm.

    So sánh hai số liệu cùng khác năm: % thay đổi = x 100%

    Xác định năm sau so với năm trước tăng hay giảm nhiêu phần trăm từ đó đưa ra nhận xét.

    • Phương pháp so sánh số tuyệt đối để phân tích số liệu cần nghiên cứu.

    DY = Y1 – Y2

    Tính tăng hay giảm cụ thể là con số bao nhiêu rồi đưa ra nhận xét.

    1. Phạm vi nghiên cứu

    4.1. Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Việt Nam.

    4.2. Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng cho đề tài này được thực hiện từ 2008 đến tháng 11/2012.

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu: Lĩnh vực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    1.1.         KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    Đầu tư là sự hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để được kết quả đó.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    Về bản chất đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau, trong chiến lược chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn hiện nay, đặc biệt là các công ty đa quốc gia. Đối với họ việc buôn bán hàng hóa ở nước khác là một bước đi thăm dò thị trường, luật lệ và cơ hội để đưa ra một quyết định đầu tư. Nó như một chiếc chìa khóa vàng mở cửa cho lợi nhuận chảy vào túi của nhà tư bản, khi họ được khai thác nguồn tài nguyên phong phú, và xuất khẩu một khối lượng lớn máy móc và trang thiết bị cho các nước đó. Còn đối với nước sở tại, việc chấp nhận đầu tư nước ngoài cũng là tạo cơ hội mới cho mình trong việc phát triển nền kinh tế. Đó là điều kiện tốt để các nước này tận dụng tốt nguồn vốn nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ lao động – phát triển được một số ngành cơ sở. Bên cạnh đó cũng thu được một khoản lợi nhuận từ các nhà đầu tư nước ngoài.

    Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài.

    1.2 . CÁC HÌNH THỨC FDI

                1.2.1 Các hình thức phân theo bản chất đầu tư

                1.2.1.1.  Đầu tư phương tiện hoạt động

    Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.1.2  Mua lại và sát nhập

    Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.2 Các hình thức đầu tư phân theo tính chất dòng vốn

                1.2.2.1 Vốn chứng khoán

    Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

                1.2.2.2  Vốn tái đầu tư

    Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

                1.2.2.3  Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

    Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

    1.2.3 Các hình thức đầu tư phân theo cách thức tổ chức quản lý:

                1.2.3.1  Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên. Đây là hình thức đầu tư dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.

                1.2.3.2 Doanh nghiệp liên doanh

    Là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập  theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư (trong đó hình thức hợp  tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%).

                1.2.3.3  Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước muốn đầu tư. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất  kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Ngoài ra còn có một số hình thức đặc biệt : BTO (Build Transfer Operate), BOT (Build Operate Transfer), BT (Build Transfer).

    1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

                1.3.1 Nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô

    1.3.1.1 Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, chính sách thuế, ưu đãi.

    Chiến lược thu hút vốn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI, chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm như: Mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không? Giai đoạn nào thì nên tập trung nguồn vốn trong nước hay ngoài nước, đối với nguồn vốn ngoài nước thì nên lựa chọn tập trung vào nguồn nào nhưu đi vay thương mại, ODA hay vốn FDI… định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư của nước ngoài.

    1.3.1.2 Độ mở cửa kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận, luật đầu tư:

    Hợp tác cùng tồn tại và phát triển là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới ngày nay. Hợp tác trong kinh tế quốc tế là đem lại lợi ích trước hết cho quốc gia, dân tộc mình nhằm phát triển đất nước mình đồng thời cũng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia mình với quốc gia khác. Tham gia quan hệ kinh tế quốc tế, các nước có cơ hội trao đổi thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học công nghệ… Nhiều quốc gia khi thực hiện mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế của khu vực và quốc tế, hoạt động ngoại thương phát triển nhanh chóng, thu hút đầu tư nước ngoài gia tăng, chất lượng đầu tư nước ngoài được cải thiện đáng kể.

    1.3.1.3 Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa – tiền tệ:

    Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện hết sức quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này sẽ tạo ra những rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư không thể lường trước được. Khi có bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro gia tăng thì các dòng vốn FDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ di chuyển đến những nơi an toàn và có mức sinh lời cao hơn, ngay cả khi đã đầu tư rồi mà có sự bất ổn, nhất là bất ổn về chính trị thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn. Vì vậy muốn thu hút được vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì các nước phải ổn định được môi trường kinh tế vĩ mô trước.

    1.3.1.4. Hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn FDI:

    Luật pháp đóng vai trò hết sức quan trọng, là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Hệ thống pháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư.

    1.3.1.5 Cở sở hạ tầng

    Để có thể thực hiện được các dự án thì đòi hỏi rất nhiều điều kiên. Các nước sở tại phải tiến hành đầu tư xây dựng các khu chế xuất và các khu công nghiệp đặc biệt, và hệ thống đường xá (hệ thống sân bay, bến cảng, cầu cống… ) đây là những yếu tố hết sức quan trọng đến quyết định đầu tư hay không của các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2.1 Môi trường kinh tế thế giới:

    Đây là nhân tố khách quan tác động đến các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước. Khi nền kinh tế thế giới có sự ổn định sẽ tác động tích cực đến sự di chuyển các dòng vốn đầu tư nước ngoài, làm cho quá trình thu hút đầu tư của các nước thuận lợi hơn rất nhiều, ngược lại khi môi trường thế giới không ổn định, suy thoái kinh tế siễn ra nhiều nơi thì sẽ khó khăn cho các nước tiếp nhận đầu tư.

    1.3.2.2 Hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI quốc tế:

    Đây là nhân tố bên ngoài có ý nghĩa quyết định đến khả năng thu hút vốn FDI của quốc gia, mức độ tăng, giảm của việc thu hút vốn FDI chịu sự chi phối vủa xu hướng vận động của các dòng vốn FDI trên thế giới.

    1.3.2.3 Chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài:

    Ngoài các nhân tố trên, các nước còn phải quan tâm đến chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài. Những nhà đầu tư như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ.. có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư quốc tế, có uy tín trong kinh doanh, chiến lược kinh doanh của họ có xu hướng đầu tư vào các ngành công nghệ cao, ngành chế tác, sử dụng lao động có tay nghề và vào các khu vực có triển vọng trong kinh doanh.Đối với các nhà đầu tư như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan.. thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực chế biến, lắp ráp, khai thác tài nguyên… Tùy vào chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài mà các nước có các ưu thế tương ứng có cơ hội để thu hút các nhà đầu tư này.

    1.3.2.4 Tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài:

    Các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh tốt sẽ đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế, tạo ra nhiều tác động lan tỏa tích cực thúc đẩy, lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài khác đầu tư vào nước tiếp nhận.

     

     

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

    Trong chương 1, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Khái niệm, các hình thức đầu tư nước ngoài, và những nhân tố tác động đến đầu tư nước ngoài. Như vậy qua chương 1, nhóm tác giả giúp người đọc có cái nhìn khái quát hơn về lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Trong chương 2, nhóm tác giả sẽ đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2008 đến những tháng cuối năm 2012.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

     

    2.1 PHÂN TÍCH TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

                2.1.1. Số lượng và quy mô dự án

    Biểu đồ 1: Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký qua các năm ở Việt Nam.

                                        Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

            2.1.1.1Năm 2008:

    Việt Nam đồng thời chịu hai cú sốc liên tiếp có chuyên gia gọi là hai cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng thứ nhất là đó là cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép… trên thế giới. Điều đó tác động lớn đến Việt Nam, cùng một lúc với lạm phát, Việt Nam còn bị nhập siêu cao. Trong tình huống đó chính phủ đã chuyển đổi mục tiêu ưu tiên từ ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát. Thực hiện tám nhóm giải pháp, trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ… Nhờ vậy hai vấn đề nóng nhất là lạm phát và nhập siêu được hạ nhiệt. Nhưng hai vấn đề vừa được giải quyết cuộc khủng hoảng địa ốc, cho vay dưới chuẩn ở Mỹ đã có vấn đề từ hơn một năm trước, bùng phát vào giữa tháng 9, đã lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và lan nhanh sang các khu vực, các nước.

    Một nền kinh tế mà tăng trưởng dựa tới gần 60% vào vốn đầu tư, có định hướng xuất khẩu (xuất khẩu so với GDP lên tới 70%), vừa mới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được 2 năm, lại vừa trải qua lạm phát, nhập siêu cao…, nên cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động lớn đến Việt Nam, tuy có chậm hơn một số nước (do độ mở cửa về tài chính chưa rộng, đồng tiền chưa chuyển đổi, do có sự chủ động ứng phó…), nhưng cũng rất lớn và khá rộng. Tưởng chừng điều đó sẽ tác động đến FDI rất lớn vậy mà trong năm 2008 những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tạo nên một góc sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2008, nếu nhìn trên các con số. Với nhiều dự án quy mô vốn đặc biệt lớn, FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm tại Việt Nam năm 2008, tính đến 19/12, đã đạt 64,011 tỷ USD, trong đó vốn thu hút mới là 1.171 dự án với giá trị hơn 60,2 tỷ USD. Số vốn tăng thêm từ các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm nay là 3,74 tỷ USD.  Với một con số quan trọng hơn – vốn giải ngân, thì năm 2008 cũng xác lập kỷ lục. Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã giải ngân số vốn lên tới 11,5 tỷ USD. Quy mô dự án đầu tư bình quân là 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

            2.1.1.2 Năm 2009:

    Ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008. Tính đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 24,6% so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốntrong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.

            2.1.1.3 Năm 2010:

    Uớc tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Các dự án đầu tư nước ngoài triển khai trong năm 2010 đạt được mục tiêu giải ngân đề ra .Tính đến ngày 21 tháng 12 năm 2010 cả nước có 969 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 17,23 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2009. Cũng trong năm nay có 269 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,37 tỷ USD, bằng 23,5% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 12 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD, bằng 82,2% so với cùng kỳ 2009.

    2.1.1.4 Trong năm 2011:

    Tổng vốn đăng ký là 14 tỷ USD và vốn giải ngân đạt gần 11 tỷ USD. Như vậy, vốn đăng ký năm nay giảm tương đối nhiều so với với năm 2010 (khoảng 24%), vốn giải ngân có sụt giảm nhưng không đáng kể. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp đáng kể về thu hút đầu tư với gần 400 dự án có tổng số vốn ước tính 6,5 tỷ USD, chiếm khoảng 47% tổng vốn đầu tư năm 2011.

            1.1.1.5 Tính đến ngày 20/11/2012:

    Cả nước có 980 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 7,25 tỷ USD, bằng 60,4% so với cùng kỳ năm 2011. Trong khi đó, đã có 406 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,92 tỷ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.

    Kết quả này khá lạc quan hơn hẳn so với 10 tháng đầu năm 2011, khi thống kê của 10 tháng đầu năm 2012 ghi nhận lượng vốn đầu tư đăng ký là 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% so với cùng kỳ 2011. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này phải kể đến việc cấp phép tăng vốn cho dự án Samsung tại Bắc Ninh với số vốn tăng thêm đạt 830 triệu USD và dự án xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động Nokia vào tháng 04/2012 với quy mô gần 300 triệu USD (200 triệu Euro). Trong 11 tháng đầu năm 2012, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD,  bằng 99,5 % so với cùng kỳ năm 2011.

    Trong khi đó, xuất khẩu của khu vực FDI trong 11 tháng đầu năm 2012 dự kiến đạt 65,61 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2011 và chiếm 63,09% tổng kim ngạch xuất khẩu. Con số này cũng có sự đóng góp đáng kể từ gần 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Samsung Electronics.

                2.1.2. Lĩnh vực đầu tư

    • Năm 2008:

    Vốn FDI đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    2.1.2.2 Năm 2009:

                Dịch vụ lưu trú và ăn uống là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.

    BẢNG 1 TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH NĂM 2009

                                                                                                                 Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 DV lưu trú và ăn uống 32 4,982.6 8 3,811.7 8,794.2
    2 KD bất động sản 39 7,372.4 4 236.1 7,608.5
    3 CN chế biến,chế tạo 245 2,220.0 131 749.3 2,969.2
    4 Xây dựng 74 388.3 11 99.2 487.4
    5 Khai khoáng 6 397.0 0 0.0 397.0
    6 Nghệ thuật & giải trí 12 291.8 0 0.0 291.8
    7 Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa 115 191.7 14 46.5 238.2
    8 Vận tải kho bãi 26 109.8 5 74.8 184.6
    9 SX,PP điện, khí, nước, điều hòa 16 129.0 1 27.9 156.9
    10 HĐ chuyên môn, KHCN 148 89.0 7 10.9 99.9
    11 Thông tin & TT 63 67.6 17 25.5 93.1
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 16 62.4 8 22.5 84.9
    13 Giáo dục và đào tạo 8 5.2 3 23.7 28.9
    14 Dịch vụ khác 22 14.9 5 7.9 22.7
    15 Cấp nước; xử lý chất thải 5 8.4 0 0.0 8.4
    16 Y tế và trợ giúp XH 6 7.4 1 0.9 8.3
    17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 5 7.9 0 0.0 7.9
    18 Tài chính 1 0.0 0 0.0 0.0
    Tổng số 839 16,345.4 215 5,136.7 12,482.1

    Nguồn: Tổng cục thống kê

    Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm.

    2.1.2.3 Năm 2010:

                Với dự án Khu du lịch tổng hợp cao cấp Mũi Dinh tỉnh Ninh Thuận có quy mô vốn 4,5 tỷ USD, khu nghỉ dưỡng cao cấp phức hợp Nam Hội An do Công ty liên doanh đầu tư Genting VinaCapital tại thành phố Hội An- Quảng Nam vốn đầu tư lên tới 4 tỷ USD, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất. Trong đó có 27 lượt dự án cấp mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,84 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam.

                Trong năm 2010, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực thế mạnh và là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài luôn duy trì ở vị trí cao. Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trong năm 2010. Có 385 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD và 199 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 1 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 5,1 tỷ, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Đứng thứ 3 là lĩnh vực sản xuất phân phối điện, khí nước, điều hòa với 6 dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 2,95 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư đăng ký trong năm 2010.

    2.1.2.4 Đến 20/5/2011

                Thì lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ nhất với 151 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 2,737  tỷ USD, chiếm 58,4% tổng vốn đầu tư đăng ký từ đầu năm đến nay. Trong khi đó, đứng thứ 2 là lĩnh vực Xây dựng với 36 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 352,66 triệu USD, chiếm 7,5%. Tiếp theo là lĩnh vực Dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 350,98 triệu USD.

    2.1.2.5 Tính đến 20 tháng 11 năm 2012

    Về lĩnh vực đầu tư, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 431 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8,5 tỷ USD, chiếm 69,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 11 tháng.

    Bảng 2 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành  từ 01/01/2011 đến 20/05/2011

       Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 CN chế biến, chế tạo 151 2,107.15 86 630.0 2,737.17
    2 Xây dựng 36 211.32 4 141.3 352.66
    3 Dvụ lưu trú và ăn uống 4 142.97 1 208.0 350.98
    4 Cấp nước;xử lý chất thải 1 322.21 0 0.0 322.21
    5 KD bất động sản 6 266.27 1 30.0 296.27
    6 Pp điện, khí, nước,đ.hòa 1 266.00 0 0.0 266.00
    7 Nghệ thuật và giải trí 2 0.16 1 138.2 138.34
    8 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 43 90.75 2 3.5 94.25
    9 HĐ chuyên môn, KHCN 38 49.15 1 3.5 52.65
    10 Y tế và trợ giúp XH 2 40.00 0 0.0 40.00
    11 Thông tin và truyền thông 14 12.40 2 1.8 14.20
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 4 6.77 2 5.0 11.77
    13 Vận tải kho bãi 3 8.00 0 0.0 8.00
    14 Giáo dục và đào tạo 4 2.79 0  0.0 2.79
    15 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0 0.0 0.53
    16 Dịch vụ khác 1 0.05 1 0.3 0.32
    Tổng số 313 3,526.51 101 1,161.6 4,688.13

    Nguồn: Tổng cục thống kê

          Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 9 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,84 tỷ USD, chiếm 15,1%.

          Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 169 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 465,6 triệu USD, chiếm 3,8% và tiếp theo là lĩnh vực thông tin và truyền thông với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 403,4 triệu USD.

     

     

     

    Biểu đồ 2: 6 lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI nhất

    Đơn vị tính: Triệu USD

     
       

                             Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài.

    2.1.3. Vùng đầu tư

    2.1.3.1  Năm 2009:

    Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2009 với có 3 dự án với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, nổi bật với dự án nhà máy thép do Công ty cổ phần China Steel Sumikin Việt Nam, liên doanh  của Tập đoàn China Steel (Đài Loan), Sumitomo Metal Industries và Sumitomo Corporation (Nhật Bản), làm chủ đầu tư. Nhà máy thép có diện tích 109 ha tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A2 (Bà Rịa – Vũng Tàu), có công suất 1,6 triệu tấn/năm, sản xuất sản phẩm thép cao cấp phục vụ công nghiệp đóng tàu, chế tạo máy, sản xuất ôtô xe máy, điện, điện tử… Vốn điều lệ của dự án là 574 triệu USD, gần bằng 1/2 tổng vốn đăng ký (1,148 tỷ  USD).

    Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    2.1.3.2 Năm 2010:

    Quảng Nam vươn lên vị trí dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI với dự án lớn: dự án Công ty TNHH phát triển Nam Hội An (Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An) do nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD. Dragon Beach do nhà đầu tư Dragon Beach Group (liên doanh giữa hai công ty của Hoa Kỳ là Tano Capital LLC và Global D&C INC) làm chủ đầu tư có tổng vốn đăng ký đầu tư 4,15 tỉ USD, triển khai trên diện tích 400ha tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,56 tỷ USD, 2,2 tỷ USD USD, 2 tỷ USD và 1,3 tỷ USD. Trong số các dự án cấp mới trong 12 tháng năm 2010, đáng chú ý có các dự án lớn được cấp phép là: Công ty TNHH điện lực AES-TKV Mông Dương (BOT nhiệt điện Mông Dương 2) xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; Dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam sản xuất phôi thép tại Nghệ An với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ, mục tiêu xây dựng, kinh doanh Khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 902,5 triệu USD.

    2.1.3.3 Năm 2011:

    TP Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 1,274 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Trong tháng này, Hà Nội đã vươn lên đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 446,86 triệu USD. Đà Nẵng đứng thứ 3 với 423,57 triệu USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Tiếp theo là Đồng Nai, Ninh Thuận, Bắc Giang với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 296,29 triệu USD, 266 triệu USD và 254,5 triệu USD.

    Một số dự án lớn được cấp phép trong 5 tháng đầu năm 2011 là: dự án Công ty TNHH sản xuất First Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo do Singapore đầu tư tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD; dự án Công ty TNHH Gamuda Land Việt Nam do Malaysia đầu tư, tổng vốn đầu tư 322,2 triệu USD với mục tiêu thiết kế, xây dựng và lắp đặt các hạng mục công trình xử lý nước thải tại Hà Nội; dự án Công ty TNHH một thành viên Enfinity Ninh thuận với tổng vốn đầu tư 266 triệu USD do Hồng Kông đầu tư với mục tiêu sản xuất điện tại Ninh Thuận; dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam, tổng vốn đầu tư 250 triệu USD do Samoa đầu tư tại Bắc Giang với mục tiêu sản xuất và gia công tấm cảm ứng, thiết bị thể hiện tinh thể lỏng LCD modum; dự án Công ty Bến du thuyền Đà Nẵng của nhà đầu tư BritishVirginIslands với tổng vốn đầu tư 174 triệu USD, dự án Công ty TNHH Whitestone Investmnet Hội An do Síp đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư là 137 triệu USD, đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ du lịch.

     2.1.3.4 Tính đến 8 tháng đầu năm 2012:

    Hai địa phương thu hút được trên 1 tỷ USD vốn ĐTNN là Bình Dương (xếp thứ nhất; 1,85 tỷ USD, chiếm 21,8% tổng vốn ĐTNN) và Hải Phòng (xếp thứ hai; 1,05 tỷ USD; 12,4%). Tổng hợp 20 địa phương thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất trong cả nước 8 tháng đầu năm 2012 như sau:

    Bảng 3: 20 địa phương thu hút FDI nhiều nhất 8 tháng năm 2012

     

    Đơn vị tính: Triệu USD

    STT Tên địa phương Số cấp mới Số tăng thêm Tổng
    Dự án Vống đăng ký Dự án Vống đăng ký
    1 Bình Dương 61 1.462,24 22 387,37 1.849,61
    2 Hải Phòng 20 1.037,51 17 16,85 1.054,36
    3 Đồng Nai 34 591,91 38 380,98 972,89
    4 TP Hồ Chí Minh 211 396,72 49 526,24 922,96
    5 Bắc Giang 10 33,10 3 869,60 902,70
    6 Hà Nội 130 148,82 41 264,30 413,11
    7 Quảng Ninh 4 390,44 1 0,00 390,44
    8 Hưng Yên 14 95,25 10 150,65 245,90
    9 Khánh Hòa 2 180,30 4 18,88 199,18
    10 Ninh Bình 2 186,57 1 4,00 190,57
    11 Tiền Giang 6 158,25 1 20,00 178,25
    12 Bắc Ninh 20 82,49 11 88,50 170,99
    13 Bà Rịa-Vũng Tàu 11 147,27 2 18,00 165,27
    14 Bình Phước 10 60,08 3 22,48 82,56
    15 Đà Nẵng 15 57,16 6 23,92 81,08
    16 Bến Tre 8 74,88 1 1,55 76,43
    17 Long An 30 43,60 10 27,44 71,05
    18 Yên Bái 2 63,94 0 0,00 63,94
    19 Hải Dương 12 27,29 3 25,02 52,31
    20 Đắc Lắc 1 14,70 1 30,00 44,70

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

        

     

    2.1.4. Các đối tác chủ yếu

    Trong năm 2008, có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam trong năm 2008. Malaysia đứng đầu với 55 dự án, vốn đăng ký  hơn 14 tỷ USD. Đài Loan đứng thứ hai, có 12 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, có 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Trong năm 2009: Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Trong năm  2010: Có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore vươn lên dẫu đầu các nhà đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,43 tỷ USD chiếm 23,8 % tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hà Lan đứng  thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm  trên 2,37 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,36 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 2011: Đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,132 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hồng Kông đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 627,03 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư;Trong tháng 5/2011, Hàn Quốc đã vươn lên đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 522,89 triệu USD, chiếm 11,2% tổng vốn đầu tư; Tiếp theo là Malaysia đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 416,08 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 375,73 triệu USD, chiếm 8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 8 tháng đầu năm 2012: Với số vốn đầu tư hơn 4,332 tỷ USD, Nhật Bản đã tạo một khoảng cách khá xa so với các nhà đầu tư khác và trở thành nhà đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam (chiếm hơn 51,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam).

    Dưới đây là 10 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng đầu năm 2012:

    Đơn vị tính: Triệu USD

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

    Bảng 4: 8 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng năm 2012

    STT Nhà đầu tư Số dự án cấp mới Vốn đăng ký Số dự án tăng thêm Vốn đăng ký Tổng
    1 Nhật Bản 174 3.598,49 65 733,65 4.332,14
    2 Samoa 4 19,5 2 870,3 889,8
    3 Hàn Quốc 136 391,81 45 262,91 654,72
    4 Singapore 60 420,67 25 102,62 523,29
    5 BritishVirginIslands 13 30,47 10 484,12 514,59
    6 Hồng Kông 23 418,55 9 88,93 507,48
    7 Trung Quốc 38 197,25 9 29,99 227,24
    8 Đài Loan 31 87,03 29 118,86 205,88

    2.2 ĐÁNH GIÁ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ

    2.2.1 Mặt tích cực

    Khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động.

    2.2.1.1 Về kinh tế

    • ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế.
    • Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn. Năm 2008 tuy 3/4 thời gian thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và 1/4 thời gian bị tác động của khủng hoảng kinh tế thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 189,9 nghìn tỷ đồng tăng 46,9% và chiếm 29,8% tổng vốn đầu tư của xã hội. Trong năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.
    • Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Năm 2008, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,23% (nông lâm ngư nghiệp tăng 3,79%; công nghiệp xây dựng tăng 6,33%, dịch vụ tăng 7,2%). Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng (GDP) 5,32% so với năm 2008 (Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%). Năm 2010, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,78% và năm 2011 đạt 5,89%. Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn nghiêng hướng khoảng 6%.
    • ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
    • Từ năm 1986 đến nay, ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu…
    • Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm.
    • ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.
    • Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, trong tổng số lao động tăng thêm từ 1990 – 2009 (15.634.9 nghìn người): Nhóm nghành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8% tổng số tăng. Nhóm ngành công nghiệp xây dựng đã thu hút thêm 6.079,8 người chiếm 38,9% tổng số tăng. Nhóm ngành dịch vụ thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3 tổng số tăng
    • Do năng suất lao động của nhóm ngành Công nghiệp – Xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và nhóm ngành dịch vụ (46.849 nghìn đồng/người) nên con đường chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, rút bớt lao động nhóm ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản sang làm Công nghiệp – Xây dựng và dịch vụ là con đường nâng cao năng suất lao động chung và cũng là con đường cải thiện mức sống dân cư, giảm tỷ lệ nghèo…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
    • ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy… Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
    • Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
    • Trong Nông – Lâm – Ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.
    • Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế:
    • Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô:
    • Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD (năm 2007 hơn 1,5 tỷ USD), gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005.
    • ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế:
    • Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.
    • Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
    • Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

    2.2.1.2 Về xã hội

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:
    • Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,7 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của World Bank cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên hàng năm. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
    • Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới:
    • ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.

    2.2.1.3 Về môi trường

    • Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa số (chứ không phải toàn bộ) các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước).

    2.2.2 Mặt tiêu cực:

                2.2.2.1 Hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Năm 2009 toàn quốc có 1.358 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI đang hoạt động thì có 56% doanh nghiệp báo cáo làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp này hầu hết có các công ty mẹ tại nước ngoài, 99% hàng sản xuất ra xuất khẩu sang nước thứ ba. Do lỗ nên các doanh nghiệp này không nộp thuế. Ví dụ có doanh nghiệp thuộc quận Bình Tân, TP.HCM năm 2008 lỗ 2.668 tỷ đồng; năm 2009 lỗ 2.654 tỷ đồng. Có điều lạ là lỗ như vậy nhưng doanh nghiệp này vẫn mở rộng sản xuất, năm sau cao hơn năm trước. Có thể khá dễ dàng nhận thấy đây là hình thức chuyển giá để trốn thuế. Cụ thể nguyên liệu đầu vào nhập từ các công ty mẹ với giá cao ngất ngưởng; hàng đầu ra xuất sang các nước có thuế suất thấp nên báo cáo lỗ ở công ty con nhưng lãi cực lớn ở công ty mẹ

    Năm 2010. Một trong những doanh ngiệp FDI lợi dụng chuyển giá đã bị ngành thuế Lâm Đồng phát hiện, và chính từ sự kiện này đã đánh lên hồi chuông cảnh báo về thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây. Tại Lâm Đồng, tổ khảo sát đã khảo sát tất cả các hồ sơ khai thuế, đồng thời sử dụng mọi biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin liên quan… Sau đó sàng lọc, nghiên cứu từng hồ sơ, hợp đồng xuất khẩu, báo cáo kế toán của từng doanh nghiệp FDI để so sánh với các doanh nghiệp trong nước có cùng lĩnh vực kinh doanh. Việc kiểm tra đã phát hiện ra rằng, giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI luôn thấp hơn rất nhiều so với giá thành sản xuất. Một cán bộ thanh tra của ngành thuế tỉnh Lâm Đồng cho biết, sau khi chế biến ra trà thành phẩm, các doanh nghiệp đóng gói xuất sang Đài Loan với giá chỉ từ 2,8 đến 4 USD/kg, trong khi chi phí sản xuất 1 kg trà thành phẩm là 8 – 9 USD/kg. Sau khi chuyển về công ty mẹ, sản phẩm trà được phân nhỏ rồi mới gắn nhãn mác và bán với giá bao nhiêu thì không rõ. Qua điều tra, chính các doanh nghiệp cũng thừa nhận, giá xuất khẩu thực tế là từ 5,5 đến 11,6 USD/kg (gấp 2 – 3 lần so với báo cáo). Với kết quả như vậy, ngành thuế tỉnh đã xác định, từ năm 2005 đến nay, các doanh nghiệp FDI kể trên đã kinh doanh có lãi và năm 2010 là thời điểm hết hạn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (được khấu trừ 50% thuế thu nhập doanh nghiệp theo chính sách ưu đãi cho 4 năm tiếp theo). Các doanh nghiệp này đã chấp nhận và đồng tình thực hiện. Theo Cục Thuế Lâm Đồng, thông qua kiểm tra, hướng dẫn 17 doanh nghiệp FDI trong ngành chè, đã xử lý hết số lỗ lũy kế trong hạn chuyển lỗ đến hết ngày 31/12/2009 là trên 316,5 tỷ đồng, trong đó, Công ty TNHH HaiYih xử lý lỗ lũy kế với số tiền là 63,6 tỷ đồng, Công ty TNHH Trà Kinh Lộ 56,8 tỷ đồng, Công ty TFP Việt Nam 47,9 tỷ đồng… đồng thời các doanh nghiệp này cũng đã kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền gần 8 tỷ đồng

    Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, hiện đến năm 2011 có đến 20- 30% trong tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2- 3 năm, thậm chí 5 năm. Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạng kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp đó sẽ tránh được việc nộp thuế. Dễ dàng để nhận ra đó là chuyển giá nhưng kiểm soát thì lại là một vấn đề khó khăn. Ông Thomas McClelland, chuyên gia thuế của Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam cho biết, khó khăn của cơ quan thuế tại Việt Nam trong việc thực hiện kiểm soát về chuyển giá bắt nguồn từ sự kém hiểu biết về hoạt động chuyển giá và sự thiếu dữ liệu trong những giao dịch chuyển giá của các doanh nghiệp FDI. Mặc dù Thông tư 117/2005/TT- BTC của Bộ Tài chính ban hành vào tháng 12/2005 đã có những quy định cơ bản về thủ thuật chuyển giá và những yêu cầu về mặt cung cấp tài liệu, nhưng ông McClelland cho rằng, nhiều người nộp thuế vẫn lờ đi những yêu cầu này và thậm chí, chỉ nộp những tài liệu bắt buộc đối với việc báo cáo về những giao dịch với các bên liên quan

    2.2.2.2 Chuyển giao công nghệ lạc hậu

    • Do thiếu kinh nghiệm một số tỉnh đã để nhiều nhà đầu tư nước ngoài (chủ yếu là Đài Loan) tranh thủ đưa vào các dự án công nghệ đơn giản, lạc hậu, tận dụng lực lượng lao động giá rẻ tại chỗ (Công ty Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng).
    • Lợi dụng sự chạy đua thu hút vốn  FDI của các địa phương, nhiều DN FDI cố tình nhập khẩu công nghệ lỗi thời về sản xuất ở Việt Nam. Điều này không chỉ khiến chúng ta lạc hậu về khoa học kỹ thuật mà còn gây tác hại lâu dài cho môi trường, điều kiện sống sau này. Chính sự “nhắm mắt làm ngơ”, dễ dãi của các địa phương đối với các DN FDI, đã  khiến Việt Nam trở thành điểm đến cho những dự án “xuất  khẩu” ô nhiễm của các nước phát triển. Do đó, không ít dự án gây ô nhiễm môi trường kéo dài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, môi trường sinh thái và cuộc sống của người dân.
    • FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái. Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho ngành Du lịch Việt Nam thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần đây đã đặt môi trường tự nhiên Việt Nam trước những thách thức lớn. Nguy cơ ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy. Trong khi đó, vấn đề bảo vệ tốt môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay.

                2.2.2.3 Phân cấp quản lý cho các địa phương:

    • Trước hết, phải khẳng định rằng, chủ trương phân cấp quản lý FDI đã có tác động tích cực đến tính chủ động của chính quyền các tỉnh, thành phố trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu phiền hà và tiết kiệm thời gian và chi phí đầu tư cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, quá trình thực hiện cơ chế phân cấp thời gian qua cũng đã nảy sinh nhiều bất cập. Tư duy nhiệm kỳ khiến nhiều địa phương chạy đua thu hút đầu tư bằng mọi giá, gây phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, làm mất cân đối nguồn lực. Chưa kể, việc cấp chứng nhận đầu tư mà không chú ý tới chất lượng, hiệu quả, trong khi lại chưa coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, dẫn đến tình trạng nhiều dự án đã được cấp phép, nhưng không triển khai theo đúng tiến độ, gây lãng phí nguồn lực.
    • Bên cạnh đó, cũng có tình trạng việc tiếp xúc, lựa chọn nhà đầu tư chưa thận trọng, nên một số nhà đầu tư dù không đủ năng lực tài chính, nhưng vẫn được cấp chứng nhận đầu tư dự án hàng trăm triệu USD để bán lại, làm méo mó thị trường, sai lệch thông tin và cản trở cơ hội của các nhà đầu tư chân chính…
    • Lãnh đạo địa phương chưa khai thác tốt lợi thế của từng tỉnh, thành phố gắn với lợi thế từng vùng lãnh thổ, chưa tạo ra sự khác biệt trong cơ cấu vốn FDI. KCN trên địa bàn cả nước hầu như cùng một dạng, cũng may mặc, giày da, chế biến thức ăn gia súc, điện tử, đồ dùng gia đình. Một số địa phương đã ban hành và thực hiện các quy định về ưu đãi đầu tư trái pháp luật làm tổn hại lợi ích chung của đất nước.
    • Năng lực thẩm định của cán bộ một số địa phương đối với dự án FDI lớn rất hạn chế, nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không đảm bảo các điều kiện cần thiết, thậm chí cùng thời gian đã có các dự án xi măng, sắt thép quy mô lớn được nhiều địa phương cấp phép, không phù hợp với quy hoạch ngành và vùng lãnh thổ.

    2.2.2.4  Mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế:

    • FDI thường tập trung vào những ngành có khả năng sinh lợi cao như khai thác tài nguyên khoáng sản, dầu khí, công nghiệp nặng,…. Trong khi những ngành như nông nghiệp lại thu hút được rất ít nguồn FDI. Điều này, dẫn tới sự mất cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, 11 tháng đầu năm 2012 lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 258 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 5,50 tỷ USD, chiếm 68,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.
    • Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,61 tỷ USD, chiếm 20,1% vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 102 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 314,2 triệu USD, chiếm 3,9%. Tiếp theo là lĩnh vực vận tải, kho bãi; y tế và trợ giúp xã hội với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 198,1 triệu và 83,8 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho FDI đổ vào lĩnh vực nông nghiệp hết sức èo uột là do chúng ta chưa có cơ chế hỗ trợ hợp lý, rõ ràng đối với các ngành nông nghiệp để tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó là thời gian thu hồi vốn khi đầu tư vào các ngành này là khá lâu và khả năng thu hồi vốn là khá khó khăn dân đến việc e ngại của các nhà đầu tư.

    2.2.2.5 Tạo áp lực cạnh tranh:

    • Sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh có tác động hai mặt, thứ nhất làm đối thủ cạnh tranh yếu hơn có nguy cơ bị thu hẹp thị phần, giảm sản xuất, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường. Đây là mặt tiêu cực của cạnh tranh.
    • Tuy nhiên, cạnh tranh lại kích thích các đối thủ tự đầu tư đổi mới để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng lực sản xuất được cải thiện. Nhưng chúng ta cũng cần có cái nhìn khách quan là hạn chế này có nguồn gốc xâu xa là do năng lực quản lý, điều hành kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa quá yếu kém, các nhà quản lý chưa vươn được đến tầm quốc tế để có cái nhìn xa hơn mà chỉ thấy được lợi ích trước mắt nên việc bị các doanh nghiệp FDI lợi dụng rồi ”hất cẳng” là chuyện tất yếu. Điển hình như trường hợp Cocacola liên kết với Chương Dương rồi dìm chết Chương Dương cách đây nhiều năm là một ví dụ rõ nét.

    2.2.2.6 Rửa tiền

    • Xuất hiện nguy cơ rửa tiền. Theo cảnh báo của WB thì Việt Nam sẽ bị các tổ chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức còn cao. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên con đường mở cửa kinh tế và được đánh giá là nền kinh tế có tính chất mở hàng đầu thế giới. Việc kiểm soát lỏng lẻo các dòng tiền vào ra đã tạo điều kiện thuận lợi để tội phạm thực hiện hoạt động rửa tiền. Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động rửa tiền. Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động mà nhằm hợp pháp hóa các khoản tiền bất hợp pháp. Điển hình như vụ Nguyễn Đức Chi đầu tư vào các dự án tại Khánh Hòa thông qua Công ty Russaka – Invest để rửa tiền từ hoạt động phạm tội tại Nga, lợi dụng danh nghĩa công ty để lừa đảo, đưa hối lộ; vụ Lê Thị Mai đầu tư tiền từ hoạt động ma túy vào các dự án của Công ty Viet Can Resorts & Plannation; Vụ Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã nhận được email từ một số doanh nhân Nigeria yêu cầu mở tài khoản 28 triệu USD, hứa hẹn sẽ chi lại 15% tổng số tiền…
    • Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam chưa có vụ án rửa tiền nào bị khởi tố điều tra mà hành vi rửa tiền chỉ bị phanh phui, xử lý như một trong tổng thể các hành vi phạm tội của một vụ án. Bởi hoạt động rửa tiền diễn ra hết sức tinh vi, đa dạng, bọn tội phạm sử dụng các hoạt động nghiệp vụ kinh tế như tài chính, kế toán, ngân hàng nên rất khó bị phát hiện. Thêm vào đó là những doanh nghiệp Việt Nam quá ham mê chạy theo mức lợi nhuận “khủng” hứa hẹn sẽ có được mà không biết tỉnh táo suy xét cẩn thận trong quá trình hợp tác, đầu tư.

    2.2.2.7 Mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp với người lao động:

    • Có tới 70% số vụ đình công, bãi công xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp da giày, may mặc.
    • Khảo sát 2011của Viện Công nhân và Công đoàn cho thấy, chỉ có khoảng 60% số hợp đồng làm việc với công ty có vốn FDI trực tiếp là tuân theo đúng luật Việt Nam. Nguyên nhân của các vụ tranh chấp lao động và đình công này đều bắt nguồn từ chế độ lương thưởng của người lao động. Theo Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Mai Đức Chính, số vụ đình công bắt nguồn từ những bất cập trong vấn đề lương thưởng chiếm khoảng 80% số vụ đình công diễn ra trong nửa năm qua. Nhà nước đã đặt ra mức lương tối thiểu nhưng nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng quy định đó để trả lương cho người lao động ở mức thấp.
    • Qua khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn, khu vực doanh nghiệp FDI cũng là khu vực vi phạm pháp luật lao động nhiều nhất. Điển hình làm thêm giờ quá nhiều. Trong khi đó, vai trò của tổ chức công đoàn ở nhiều địa phương và doanh nghiệp còn rất mờ nhạt. Cũng theo kết quả thống kê của Viện công nhân và Công đoàn cách đây 1 năm thì bình quân tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp FDI là 1,82 triệu đồng/tháng, trong khi doanh nghiệp tư nhân là 1,98 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp nhà nước có mức lương cao nhất là 2,25 triệu đồng/tháng. Khảo sát này cũng cho thấy, mức lương của người lao động ở từng vị trí công việc có sự chênh lệch rất lớn, đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp FDI. Trong khi mức lương bình quân phân theo chức danh công việc, cấp quản lý hơn 3,1 triệu đồng/tháng thì người lao động trực tiếp chỉ hơn 1,6 triệu đồng/tháng. Khảo sát chỉ ra rằng, mức độ hài lòng của người lao động về tiền lương hiện tại chỉ chiếm có 3,9%, trong khi mức không hài lòng chiếm tới 50,9%. Về thu nhập, mức độ hài lòng cũng chỉ chiếm 6,3% với việc làm hiện tại và có tới 30,9% người lao động không hài lòng.

    2.2.2.8 Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh có được bằng cái của người khác.

    2.2.2.9 Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp

    • Chi phí của việc thu hút FDI
    • Để thu hút FDI, các nước nhận đầu tư phải áp dụng một số chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư như giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho việc thuê đất, nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan…. Và như vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà, các nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào (như các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư). Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
    • Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
    • Sản xuất hàng hóa không thích hợp:
    • Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv…
    • Những mặt trái khác
    • Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi và xảo quyệt. Trường hợp chính phủ Xanvado Agiende ở Chile bị giật dây lật đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của các công ty xuyên quốc gia ITT (công ty viễn thông và điện tín quốc tế) và chính phủ Mỹ can thiệp công việc nội bộ của Chile.
    • Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị.
    • Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hy vọng vào FDI và cần phải có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại của FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
      KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

    Trong chương 2, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài FDI tại việt nam từ năm 2008 đến cuối năm 2012 qua các chỉ tiêu như: số lượng và quy mô dự án, lĩnh vực đầu tư, vùng nhận đầu tư cũng như các nhà đầu tư chủ yếu. Dựa vào đó, nhóm tác giả tiếp tục đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Việt Nam, môi trường đầu tư hứa hẹn nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp FDI, tuy nhiên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về thể chế pháp luật, chính sách, kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng…nên các doanh nghiệp FDI chưa phát huy hết tiềm năng của mình, nhà nước chưa quản lý hết được những điểm hạn chế từ các doanh nghiệp FDI. Đó là những tiền đề để nhóm tác giả đưa ra những giải pháp góp phần đẩy lùi những hạn chế đồng thời nâng cao chất lượng đầu tư, tăng cường thu hút vốn đầu tư có chọn lọc, và một số kiến nghị đối với cơ quan có thẩm quyền trong chương tiếp theo.

     

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẦU TƯ

    TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

     

    3.1 Dự báo lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013

    Dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 sau khi chững lại vào năm 2008- 2009. Năm 2011, thế giới đã thu hút được khoảng 1.500 tỷ USD. Trong đó, các nước phát triển thu hút 748 tỷ USD, tăng 21% vào năm 2010 và các nước đang phát triển thu hút 684 tỷ USD, chiếm 45% tổng FDI toàn thế giới; các nền kinh tế đang chuyển đổi thu hút 92 tỷ USD, tăng 25% và chiếm 6% FDI toàn cầu. Năm 2012, dự kiến FDI toàn thế giới sẽ đạt khoảng đạt xấp xỉ 1.600 tỷ USD; năm 2013, FDI toàn thế giới sẽ lên tới 1.800 tỷ USD và năm 2014 là 1.900 tỷ USD. Trong đó, các nước Đông Á và Asean vẫn là điểm đến hấp dẫn để thu hút đầu tư.

    Theo đó, xu hướng FDI thế giới trong thời gian tới là đầu tư vào kinh tế xanh, và những ngành công nghiệp sạch sẽ tăng mạnh. Mặt khác, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đóng vai trò quan trọng và là nguồn cung cấp FDI lớn nhất. Tại sao có sự chuyển dịch này, bởi các TNCs có nhu cầu tìm kiếm, mở rộng thị trường và các nguồn lực, sự ổn định về chính trị và những chính sách ưu đãi FDI, ngoài ra khả năng sinh lợi từ nguồn vốn là động lực để TNCs đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.

    Những quốc gia muốn tiếp nhận được nhiều FDI phải tạo ra những điều kiện đáp ứng mục đích kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư. Và quan trọng là, phải có những chính sách thu hút FDI hoàn chỉnh, bao gồm những chính sách đất đai, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, chính sách lao động, chính sách ưu đãi tài chính,…

    Mặc dù dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 và dự báo sẽ tiếp tục tăng vào năm 2012, tuy nhiên ở Việt Nam dòng vốn FDI trong 2 năm qua chưa thấy tăng lên mà lại có chiều hướng giảm dần. Cụ thể, năm 2010, Việt Nam thu hút được 18,59 tỷ USD thấp hơn con số 21,48 tỷ của năm 2009; năm 2011 dù đã đặt ra mục tiêu thu hút khoảng 20-21 tỷ USD vốn FDI, nhưng kết quả cũng chỉ thu hút được 14,7 tỷ. Năm 2012, đặt mục tiêu thu hút 15-17 tỷ USD, nhưng 10 tháng đầu năm Việt Nam mới chỉ thu hút được 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% cùng kỳ 2011.

    Chưa thể khẳng định kết quả này là do chúng ta chậm đổi mới các chính sách thu hút FDI thời gian qua, nhưng nếu nhìn sang các nước lân cận thì thấy rằng, chính sách thu hút FDI của họ đã có nhiều đổi mới, để phù hợp với từng giai đoạn nhất định.

    Với tình hình kinh tế Việt Nam được dự báo trong năm 2013 dần dần phục hồi, tốc độ tăng trưởng GDP khoản 5.9% nên dòng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2013 theo nhóm dự báo Việt Nam sẽ thu hút 16-17 tỷ USD. Tập trung vào một số ngành như công nghiệp chế biến chế tạo, thông tin truyền thông, vận tải kho bãi, xây dụng… Và vẫn tập trung vốn vào một số khu vực có cở sở hạ tầng phát triển như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Bắc Giang…

    3.2.  Giải pháp hạn chế chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Như phần trước đã trình bày, nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là lúc nào cũng có lợi. Bên cạnh đem lại nguồn vốn, việc làm… thì sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Thu hút FDI với mục chuyển giao công nghệ thì về kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng không hoặc ít diễn ra. Và gần đây nhất là thủ thuật chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chuyển giá làm thất thu ngân sách, môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thay vì lợi ích giảm nhập siêu thì chuyển giá lại làm nên những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu. Tìm được nguyên nhân và cách thức mà các doanh nghiệp sử dụng trước hết em xin đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết tình trạng chuyển giá.

    3.2.1. Về phía nhà nước

    • Để khắc phục tồn tại phát sinh trong lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến hoạt động đối ngoại quốc tế cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cần có sự chỉ đạo tích cực từ cấp Trung ương đến từng địa phương. Trước mắt, Nhà nước cần có văn bản quy định nhiệm vụ cụ thể cho các ngành có liên quan như: cơ quan thuế, hải quan, quản lý đầu tư, công an, viện kiểm sát, toà án, ngân hàng thực hiện tốt việc phối hợp theo thẩm quyền về trao đổi, cung cấp thông tin, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giao dịch liên kết và chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Theo đó, cơ quan quản lý thuế được quyền áp dụng những biện pháp tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp khai báo kết quả kinh doanh lỗ quá vốn chủ sở hữu cho đến khi doanh nghiệp khắc phục được tình trạng liên tục kê khai lỗ, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đồng bộ với Bộ Luật Dân sự của Việt Nam quy định về các điều kiện tồn tại pháp nhân kinh tế.

    3.2.2. Về phía doanh nghiệp

    • Buộc doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước. Thực tế, doanh nghiệp thực hiện được hoạt động chuyển giá là nhờ mua nguyên liệu với giá cao, bán sản phẩm cho công ty mẹ ở nước ngoài với giá thấp. Do vậy, buộc doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước (chỉ những nguyên liệu trong nước không có mới được nhập), ít nhất cũng giải quyết được vấn đề tiêu dùng nguyên liệu trong nước, đồng thời giảm nhập siêu. Vấn đề còn lại là cơ quan chức năng kiểm tra chặt chẽ giá đầu ra, nếu doanh nghiệp bán sản phẩm cho duy nhất công ty mẹ với giá thấp thì có biện pháp đối chiếu, xử lý.

    3.2.3. Về phía cục thuế

    • Cần xem xét lại việc ưu đãi thuế GTGT cho doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay. Việc ưu đãi thuế GTGT 0% cho doanh nghiệp xuất khẩu đã là ưu thuế quá lớn đối với những doanh nghiệp trong khu chế xuất. Bởi thực tế, số thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp trong khâu chế xuất nộp rất ít, họ lại được hưởng ưu đãi về đất đai, vị trí, lao động nhân công rẻ, đường xá… Cùng với kiểu chuyển giá, báo cáo lỗ như hiện nay là vấn đề cần xem xét lại để tạo công bằng giữa các doanh nghiệp

    3.3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN

    • Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng trên thực tế gần đây có nhiều bất cập như thủ thuật chuyển giá. Để tăng cường hiệu quả từ nguốn vốn này trước hết phải có giải pháp hạn chế như chuyển giá đã nêu ở trên. Bên cạnh đó phải có các chính sách tăng cường thu hút vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng phát triển của Việt Nam hiện nay nhất là khi Việt Nam đang mở cửa hội nhập quốc tế. Và quan trọng hơn hết là phát huy các lợi ích mà nguồn vốn này mang lại. Dưới đây là một số biện pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài

    3.3.1. Các chính sách kinh tế xã hội

    • Xây dựng các phương thức và chính sách phù hợp để có thể kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam. Áp dụng các giải pháp khuyến khích đầu tư bằng các chính sách về vốn, thuế, tuy nhiên cần có sự hợp lý đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong nước. Một trong những yêu cầu rất quan trọng là chúng ta phải chủ động kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng các dự án công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, tin học, phần mềm, vật liệu mới… Đối với các nhà đầu tư này, chúng ta càng chuẩn bị tốt các điều kiện cho họ bao nhiêu thì tác động, lôi cuốn tới các nhà đầu tư khác sẽ càng tăng bấy nhiêu
    • Cần tích cực đẩy mạnh chương trình đổi mới d, đặc biệt đẩy nhanh doanh nghiệp nhà nước việc cổ phần hoá để thu hút nguồn vốn đầu tư mới từ xã hội thông qua thị trường chứng khoán.

    3.3.2 Chính sách pháp luật

    • Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu nhằm thực hiện đúng tiến độ và bảo đảm được hiệu quả của dự án, đặc biệt rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra giám sát của chủ đầu tư, của các cơ quan quản lý nhà nước để chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, tạo niềm tin cho nhân dân khi tham gia vốn và đầu tư

    3.3.3 Cải cách thủ tục hành chính

    • Cần có sự thống nhất hơn trong các thủ tục hành chính chống gần phiền nhiễu hay những thủ tục rườm rà không đáng có. Đổi mới quan điểm về thủ tục hành chính. Các cơ quan nhà nước cần có tư duy sát thực hơn về hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết đây vừa là lợi ích, vừa là trách nhiệm của họ. Cơ quan quản lý nhà nước phải nhận thức, quán triệt quan điểm phục vụ trong chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trung tâm theo hướng nhận khó khăn về phía mình để tìm cách đơn giản hoá thủ tục hành chính tới mức cao nhất, đem lại thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mọi thủ tục hành chính cần hướng vào việc tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế theo hướng để khi doanh nghiệp thực hiện với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Từ điều này sẽ tìm ra nhiều cách sáng tạo thực hiện.

    3.3.4 Xây dựng cơ cấu hạ tầng

    • Cần có hệ thống đường xá cầu cống ổn định hơn, các tuyến và các trục đường chính tùy theo khu vực trục đường mà mở rộng, sửa chữa đảm bảo thông suốt, hạn chế ùn tắc như hiện nay. Tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    3.4 KIẾN NGHỊ

                3.4.1 Đối với cục thuế

    • Cần có thái độ nghiêm minh với các doanh nghiệp đã vi phạm, nhằm buộc các doanh nghiệp phải kê khai chính xác về giá đối với các hoạt động giao dịch liên kết (phạt về hành vi gian lận thuế, trốn thuế; truy cứu trách nhiệm hình sự; cấm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam…)
    • Cơ quan thuế cần phải có biện pháp thu thập được giá thị trường khách quan, cụ thể thu thập thông tin; phân tích theo từng ngành nghề, lĩnh vực, trao đổi thông tin với phía nước ngoài từ đó dễ dàng nhận diện các trường hợp dùng thủ thuật chuyển giá

    3.4.2 Đối với nhà nước

    • Đưa ra ban hành các văn bản pháp quy quy định cụ thể hơn nữa về chuyển giá, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan thu thuế thực hiện. Cần xây dựng Luật Chống chuyển giá, đồng thời sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Dân sự. Hình thành cơ quan chuyên trách chống chuyển giá ở cấp Trung ương và các tỉnh, thành phố nhằm chỉ đạo thực hiện thông suốt. Có như vậy mới chống được hành vi chuyển giá, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm thu đúng, thu đủ vào ngân sách Nhà nước.

       

     

     KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

    Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ở chương 2, nhóm tác giả đã đưa ra dự báo về lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013 và một số giải pháp chủ yếu như: hạn chế việc chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Về phía nhà nước cần hoàn thiện hệ thống hành lanh pháp lý để phù hợp với thông lệ quốc tê, về phía doanh nghiệp FDI buộc oanh nghiệp FDI phải sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, về phía cục thuế cần xem xét lại việc ưu đãi thếu suất thuế giá trị gia tăng 0% hiện nay. Ngoài việc hạn chế việc chuyển giá thì nhóm tác giả còn đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nhưng có chọn lọc. Cuối cùng là một số kiến nghị đối với cục thuế và đối với nhà nước.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn 20 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nước ta đã có những khởi sắc nhiều so với thời kỳ đầu đổi mới. Sản phẩm của FDI với nhiều mẫu mã và chất lượng cao, phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần xuất khẩu, phần bổ sung vào quỹ hàng hoá xã hội của ta để bớt phần nhập khẩu trực tiếp. Với sự đóng góp khoảng 16-18% GDP trong những năm gần đây, FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo đường hướng mới, được kỳ vọng là động lực quan trọng cho công cuộc đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mang lại thì gần đây, lợi dụng các chính sách ưu đãi của nhà nước các doanh nghiệp FDI sử dụng thủ thuật chuyển giá gây thất thoát một nguồn thuế lớn .Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của FDI, nhận thấy cái xấu cái tốt từ đó đưa ra nâng cao chất lượng của nguồn vốn này phải là một mục tiêu hàng đầu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C4%83ng-k%C3%BD-thay-%C4%91%E1%BB%95i-c%C3%B4ng-ty-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-n%C6%A1i-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-m%E1%BB%9F-t%C3%A0i-kho%E1%BA%A3n-giao-d%E1%BB%8Bch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    BỘ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
    Thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính
    ______________________________
     
     

    Thủ tục: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

     

    – Trình tự thực hiện:

    1. Nộp hồ sơ

    – Nhà đầu tư nước ngoài gửi hồ sơ đề nghị chấp thuận thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch đến Trung tâm Lưu ký Chứng khoán trực tiếp tại trụ sở Trung tâm Lưu ký Chứng khoán hoặc theo đường bưu điện

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ

    2. Thẩm định hồ sơ

    Trung tâm Lưu ký Chứng khoán thẩm định hồ sơ.

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có)

    – Nhà đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (nếu có).

    3. Ra quyết định chấp thuận

    Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán chấp thuận việc thay đổi công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    – Cách thức thực hiện:

    + Gửi Hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Trung tâm LK Chứng khoán

    + Hoặc theo đường bưu điện

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

     

    Thành phần hồ sơ, bao gồm:

     

    +      Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi do đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài ký

    +      Thông báo xác nhận về mặt nguyên tắc việc đóng tài khoản giao dịch tại Công ty chứng khoán cũ

    Lưu ý: Hồ sơ được lập thành hai (02) bộ, một (01) bộ gốc và một (01) bộ sao. Mỗi bộ hồ sơ gồm hai (02) bản, một (01) bản bằng tiếng Việt và một (01) bản bằng tiếng Anh, trong đó các tài liệu tiếng Anh phải được hợp pháp hóa lãnh sự, các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt phải được tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng của Việt Nam. Các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) và được lập tại Việt Nam không cần phải dịch ra tiếng Anh.

     

    Số lượng hồ sơ: 02 bộ (01 bộ gốc, 01 bộ sao); mỗi bộ hồ sơ gồm 02 bản (01 bản tiếng Việt, 01 bản tiếng Anh).

    – Thời hạn giải quyết: 02 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức/Cá nhân

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    + Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Trung tâm LKCK Việt Nam

    + Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Trung tâm LKCK Việt Nam

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấp thuận

    – Lệ phí (nếu có):

    – Tên mẫu đơn, mẫu t khai (nếu có):

    + Phụ lục V: Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

     

    +    Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày 01/01/2007

    +    Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; hiệu lực ngày 18/02/2008

    Phụ lục V/ Appendix 5

     MẪU THÔNG BÁO/ĐỀ NGHỊ CHẤP THUẬN VỀ MỘT SỐ THAY ĐỔI CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI  (NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LẬP)

    (Ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam)

    Tên nhà đầu tư nước ngoài/ Foreign investor’s name:

     

    Mã số giao dịch/ Securities Trading Code Number:

    REGISTRATION APPLICATION FORM FOR …..

    Kính gửi: Trung tâm lưu ký chứng khoán

    To: Vietnam Securities Depository

    1.       Tên / Applicant

     

    (Applicants name shall be same as indicated on supporting identification documents)

    2.       Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Certificate For Business Registration
    3.       Ngày thành lập/Establishment Date:
    4.       Quốc gia nơi thành lập/Country of domicile
    5.       Loại hình tổ chức /Type of Applicant

     

    (Please check applicable box and fill in relevant information, as appropriate)

    □      Quỹ đầu tư / If Applicant is a fund investment manager □     Không phải là quỹ đầu tư/If Applicant

     

    is not a fund investment manager

    Loại hình/Type:

     

    Quỹ dạng pháp nhân/a fund established as a corporation.

    Quỹ dạng hợp đồng/ a trust fund

    Quỹ thành viên/ a fund established as a partnership

    Quỹ hưu trí/ a pension fund

    Quỹ mở (quỹ tương hỗ)/a mutual fund/ open-ended fund

    Quỹ đóng/ a closed-ended fund

    Hợp đồng ủy thác/ an unit trust

    Loại hình khác/ Others__________

     Loại hình/Type:

     

    Ngân hàng thương mại/ a commercial/merchant bank

    Ngân hàng đầu tư /Investment bank

    Công ty bảo hiểm/an insurance company

    Công ty chứng khoán/ a broker firm or a futures commission merchant

    Công ty quản lý quỹ/ a fund (asset) management company

    Loại hình khác/Others ____________[1]

    6.       Mã số Giao dịch/Securities Trading Code
    7.       Nội dung thay đổi (Ghi N/A, nếu không có sự thay đổi phù hợp)

     

    Content to change (Please mark N/A, if such item is not applicable)

    Nội dung cũ

     

    Original Information

    Nội dung mới

     

    New Information

    Tên

     

    Original Name

    Địa chỉ

    Original Address

    Tel/Fax/Email

    Thành viên lưu ký

    Original Custodian

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán

    Securities Company

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp cũ

    Foreign Indirect Investment Account

    Đại diện

    Representative/Agent

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Tên mới (nếu có)

     

    New Name (if any)

    Địa chỉ mới (nếu có)

    New Address (if any)

    Tel/Fax/Email (if any / nếu có)

    Thành viên lưu ký mới (nếu có)

    New Custodian (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán mới (nếu có)

    New Securities Company (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới (nếu có)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới

    New Foreign Indirect Investment Account (if any)

    Đại diện mới (nếu có)

    New Representative/Agent (If any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Đại diện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nếu có)

     

    Representative/Agent in Vietnam (if any)

     
    Người liên lạc:

     

    Contact person

     
    Ngày nộp hồ sơ

     

    Application Date:

     
    Những thay đổi khác như địa vị pháp lý, mô hình tổ chức hoạt động, đại diện có thẩm quyền … (liệt kê chi tiết)

     

    Other changes to type of applicant, Authorized Representative as Chairman of the Board of Director, President or CEO (Please fill in relevant detailed information, as appropriate)

    8.  Cam kết:  (có hiệu lực kể từ ngày ký)

     

    Declaration: (effective from the date this registration from is signed)

    8.1   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên và nội dung của toàn bộ hồ sơ và các tài    liệu kèm       theo là hoàn toàn chính xác, trung thực

    I hereby certify that all the imformation above is correct, the attached documents and the contents therein are true and accurate.

    8.2   Tôi xin cam kết sẽ tuân thủ pháp luật Việt Nam, không có các hành  vi giao dịch trái luật làm ảnh hưởng tới sự công bằng và trật tự thị trường tài chính, thị trường chứng khoán của Việt Nam

    I  hereby undertake to comply to the Vietnamese law and  not knowingly to take such measures to threatening to the stability or order of the Vietnam’s financial/securities market.

    8.3   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên hoàn toàn đúng và hiện nay không bị kết án về bất kì hoạt động tội phạm nào ở nước sở tại cũng như ở nước ngoài (cam kết của nhà đầu tư là cá nhân).

    I hereby certify that I am not and have not been convicted of any criminal offence either inside the country of birth or of permanent resident or of any other country. (applicable for individual investor).

    Hồ sơ kèm theo

     

    Attachments

    1.           Giấy ủy quyền cho đại diện tại Việt Nam

    Power of attorney to agent or letter of appointment to representative.

    2.           Các hồ sơ khác theo quy định

    Documents evidencing that the applicant meets these Guidelines.

    Nhà đầu tư:

     

    Applicant: ____________________________________________

    Tên và chữ ký của đại diện có thẩm quyền

    Name and Signature

    of Authorized Signatory: ___________________________________

    Chức danh

    Title: ________________________________________________

    Ngày thực hiện

    Execution Date: ________________________________________

         

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]