THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

0
9295
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
QUẢNG CÁO
Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm


THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

(Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

Đề cương liên quan: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY


Mục Lục

Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

ThS. Nguyễn Thị Minh Hiền1

TÓM TẮT

Trường đại học Hồng Đức là một trường đại học đa ngành đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo thì mỗi giờ lên lớp của giảng viên phải là những giờ học có hiệu quả. Hình thức làm việc nhóm đang được các giảng viên vận dụng trong mỗi tiết dạy của mình. Với một hình thức học tập mang tính tập thể và tính hợp tác cao, mỗi sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết để có thể lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trên thực tế sinh viên của trường Đại học Hồng Đức đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất còn lúng túng và chưa được trang bị các kỹ năng làm việc nhóm cần thiết.

Từ khoá: Kỹ năng, rèn luyện kỹ năng, làm việc nhóm.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động làm việc nhóm đang là xu thế chung của con nguời: từ hoạt động nhóm trong học tập đến nhóm nghiên cứu khoa học, nhóm kinh doanh, nhóm lao động. Để huy động đƣợc tối đa tiềm năng của nhóm, một trong những cách thức quản lý nhóm là nâng cao sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhóm sinh viên, bởi ý nghĩa kép của nó. Tổ chức UNESCO đã nêu ra 3 nhóm tiềm năng mà nhà trƣờng cần phải tạo ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp trong thế kỷ XXI là: các tiềm năng để học tập – nghiên cứu, các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội, các kỹ năng làm việc nhóm. Trƣờng Đại học Hồng Đức là một trƣờng đại học đa ngành, đào tạo theo học chế tín chỉ. Chính vì vậy, để nâng cao chất lƣợng đào tạo thì mỗi giờ lên lớp của giảng viên phải là những giờ học có hiệu quả. Hình thức làm việc nhóm đang đƣợc các giảng viên vận dụng trong mỗi tiết dạy của mình. Với một hình thức học tập mang tính tập thể và tính hợp tác cao, mỗi sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết để có thể lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trên thực tế sinh viên của trƣờng Đại học Hồng Đức đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất còn lúng túng và chƣa đƣợc trang bị những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết. Chính vì vậy việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên năm thứ nhất

  • trƣờng Đại học Hồng Đức là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lƣợng dạy học ở bậc học này.

2.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên năm thứ nhất trƣờng ĐH Hồng Đức nhằm ba mục đích:

  • Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

18

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

  • Đánh giá nhận thức, thái độ của GV về kỹ năng làm việc nhóm, mức độ mà họ sử dụng nó trong thực tiễn.
  • Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hƣởng đến hiệu quả của các kỹ năng làm việc nhóm.
  • Các kết quả khảo sát sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên.

Để thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp dự giờ quan sát hoạt động của GV và sinh viên của năm khoa: khoa Kinh tế quản trị kinh doanh, khoa Tâm lý – giáo dục, khoa Sƣ phạm mầm non, khoa Khoa học tự nhiên và khoa Khoa học xã hội. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi, tổng kết kinh nghiệm giáo dục. Số lƣợng điều tra cụ thể nhƣ sau:

  • Giảng viên : 56
  • Sinh viên: 140

Qua xử lý phiếu điều tra đã cho thấy kết quả nhƣ sau:

2.1. Nhận thức và thái độ của giảng viên về bản chất của quá trình làm việc nhóm

Ý kiến của các GV về vấn đề này đƣợc thể hiện ở Bảng 1

Bảng 1: Nhận thức của GV về bản chất của quá trình làm việc nhóm

TT

Nội dung của học tập theo nhóm

SL

Tỉ lệ (%)

1

Xếp chỗ ngồi cho SV cùng bàn để SV làm việc độc lập

0

0

2

Một SV học khá sau khi đã đƣợc GV hƣớng dẫn có nhiệm

2

3,6

vụ giúp đỡ các SV khác.

3

SV trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm

47

83,9

vụ học tập

4

SV liên kết và phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện

7

12,5

nhiệm vụ học tập chung của nhóm.

Số liệu ở Bảng 1 cho thấy giảng viên đã có nhận thức tƣơng đối đúng về bản chất của quá trình làm việc nhóm trong học tập. Một số ít giảng viên quan niệm đơn giản là làm việc nhóm là xếp cho sinh viên ngồi cạnh nhau trong một không gian, hoặc một sinh viên khá sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ có trách nhiệm giúp đỡ sinh viên khác ít và hầu nhƣ không có. Tuy nhiên, đa phần GV chỉ dừng lại ở quan điểm truyền thống: Làm việc nhóm là quá trình SV trao đổi, thảo luận và giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Điều này là đúng nhƣng chƣa đủ. Theo quan điểm dạy học hiện đại thì làm việc nhóm phải tạo ra sự phụ thuộc tích cực buộc SV phải có sự liên kết và phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện nhiệm vụ học tập chung trên cơ sở có sự tích cực,

19

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

chủ động của mỗi thành viên. Số GV có quan niệm nhƣ vậy còn tƣơng đối ít. Thực trạng này cho thấy để đƣa hình thức làm việc nhóm vào dạy học và phát huy hết tác dụng của nó cần nâng cao hiểu biết của GV về bản chất của quá trình làm việc nhóm.

* Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm.

Đánh giá về hiệu quả mà các kỹ năng làm vệc nhóm mang lại, các GV ở trƣờng ĐH Hồng Đức cho rằng, các kỹ năng làm việc nhóm sẽ tạo điều kiện để hình thành các phẩm chất và năng lực sau đây cho sinh viên:

Bảng 2: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm

TT

Tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm

SL

Tỉ lệ (%)

1

Làm tăng hiệu quả lĩnh hội kiến thức

122

87,54

2

Làm cho năng lực của SV bộc lộ và phát triển

102

72,35

3

Làm tăng động cơ học tập của mỗi cá nhân

120

86,23

4

Phát triển kỹ năng phân tích, tổng hợp

87

62,12

5

Phát triển kỹ năng sáng tạo

94

67,58

6

Phát triển kỹ năng giao tiếp

125

89,63

7

Phát triển tính chủ động, tự tin

113

81,27

8

Phát triển tinh thần trách nhiệm của cá nhân đối với tập thể

104

74,43

9

Học cách đƣơng đầu với nhƣng khó khăn để  thực hiện

109

78,36

nhiệm vụ chung

Ngoài ra một số GV còn cho rằng, kỹ năng làm việc nhóm sẽ góp phần nâng cao năng lực tự học, giúp cho SV hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức. Nhƣ vậy, nhìn chung GV đều đánh giá cao hiệu quả của các kỹ năng làm việc nhóm. Đây là điều kiện thuận lợi để rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho SV hiệu quả hơn.

Bảng 3: Thái độ của GV đối với các kỹ năng làm việc nhóm cho SV

Do nhận thức tƣơng đối đúng đắn và đầy đủ về nội dung, ý nghĩa của kỹ năng làm việc nhóm trong thực tiễn nên các GV rất ủng hộ cho việc trang bị các kỹ năng này trong quá trình thực tiễn dạy học trên lớp của SV.

Mức độ

Rất cần thiết

Cần thiết

Bình thƣờng

Không cần thiết

Số lƣợng

127

13

0

0

Tỉ lệ (%)

91

9

0

0

Các số liệu trên cho thấy, các GV rất nhiệt tình và tích cực hƣởng ứng việc trang bị và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho các em SV năm thứ nhất.

2.2. Đánh giá thực trạng kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trƣờng ĐH Hồng Đức.

20

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Sử dụng câu hỏi 4 trong phiếu điều tra. Cho điểm 1, 2, 3, 4, 5 là các mức độ đánh giá của GV về SV và SV cũng tự đánh giá kỹ năng hiện có của mình.

(Mức độ 1: Thể hiện kém, mức độ 2: Thể hiện mức TB, mức độ 3: Thể hiện mức

khá, mức độ 4: Thể hiện tốt, mức độ 5: Thể hiện rất tốt).

Bảng 4: GV đánh giá kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của SV

STT

Mức độ

1

2

3

4

5

X

TB

 

Các KN

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

Kỹ năng diễn đạt,

 

1

trình bày một vấn

6

10,71

9

16,07

26

46,43

8

14,29

7

12,5

3,02

2

 

đề

 

Kỹ

năng

lắng

 

2

nghe,

tiếp

nhận

5

8,93

9

16,07

22

39,29

11

19,64

9

16,07

3,18

1

 

thông tin

 

3

Kỹ năng phản hồi

9

16,07

9

16,07

23

42,7

7

12,5

8

14,29

2,93

5

 

tích cực

 

4

Kỹ

năng

đánh

8

14,29

7

12,5

24

42,86

9

16,07

8

14,29

3,04

4

 

giá, tự đánh giá

 

5

Kỹ năng làm việc

4

7,14

13

23,21

22

39,29

9

16,07

8

14,29

3,07

3

 

độc lập

 

6

Kỹ năng sáng tạo

6

10,71

7

12,5

29

51,79

6

10,71

8

14,29

3,05

4

 

Kỹ năng liên kết,

 

7

phối

hợp

các

8

14,29

13

23,21

20

35,71

8

14,29

7

12,5

2,88

6

 

thành

viên

trong

 

nhóm

 

8

Kỹ năng ra quyết

6

10,71

8

14,29

26

46,43

7

12,5

9

16,07

3,09

2

 

định

 

Bảng 5: SV tự đánh giá kỹ năng làm việc nhóm của chính bản thân mình

 

STT

Mức độ

1

2

3

4

5

X

TB

Các KN

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1

Kỹ  năng  diễn  đạt,

21

14,62

45

32,31

44

31,54

21

15,38

9

6,15

2,66

3

trình bày một vấn đề

2

Kỹ năng lắng nghe,

13

9,23

45

32,31

52

36,92

19

13,85

11

7,69

2,78

2

tiếp nhận thông tin

3

Kỹ năng phản  hồi

27

19,23

52

36,92

40

28,46

13

9,23

8

6,15

2,46

5

tích cực

21

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

4

Kỹ năng đánh giá,

22

15,38

48

34,62

47

33,85

13

9,23

10

6,92

2,58

4

tự đánh giá

5

Kỹ  năng  làm  việc

10

6,92

45

32,31

48

34,62

25

17,69

12

8,46

2,88

1

độc lập

6

Kỹ năng sáng tạo

27

19,23

52

36,92

41

29,23

12

8,46

8

6,15

2,45

4

Kỹ  năng  liên  kết,

7

phối hợp các thành

34

24,62

55

39,23

34

24,62

10

6,92

7

4,62

2,28

7

viên trong nhóm

8

Kỹ  năng  ra  quyết

19

13,85

48

34,62

40

30,77

18

12,85

12

8,57

2,42

6

định

Ý kiến đánh giá của GV

Kết quả điều tra ở Bảng 4 và qua trò chuyện với một số GV dạy các khoa ở các học phần và quan sát biểu hiện của SV trong quá trình làm việc nhóm trong các giờ học cho thấy:

Chủ yếu SV thể hiện kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ khá, tỉ lệ GV đánh giá là hơn 40% . Tỉ lệ đánh giá cao nhất ở mức độ khá là 51,79% ở kỹ năng sáng tạo và thấp nhất là kỹ năng liên kết, phối hợp các thành viên trong nhóm ở mức độ khá là 35,71% đƣợc GV đánh giá.

SV thể hiện kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ tốt và rất tốt đạt đƣợc ở tất cả các kỹ năng nhƣng chiếm tỉ lệ không cao.

Vẫn còn một số sinh viên có kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ kém. Thấp nhất là kỹ năng phản hồi tích cực có 16,07% GV đánh giá, kỹ năng tổ chức, phối hợp các thành viên trong nhóm ở mức thể hiện kém có 14,29 % GV đánh giá.

Ý kiến đánh giá của SV

Kết quả ở Bảng 5 cho thấy, SV tự đánh giá các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của mình ở mức độ khác nhau. Vì là sinh viên năm thứ nhất nên SV đánh giá kỹ năng ở mức cao nhất với điểm trung bình là 2,88 (chƣa đạt đến mức độ khá) là kỹ năng làm việc độc lập với mức thể hiện tốt và rất tốt là 37 SV. Tỉ lệ SV biểu hiện trung bình là 32,31%, kém là 6,92 %. Tiếp đó, là kỹ năng lắng nghe, tiếp nhận thông tin với điểm trung bình là 2,46 và tỉ lệ SV trung bình là 32,31%, kém là 9,23%.

Kỹ năng phản hồi tích cực với điểm trung bình là 2,46. Thấp nhất là kỹ năng tổ chức, phối hợp các thành viên trong nhóm với điểm trung bình là 2,28.

22

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

2.3. Các nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm

Để tìm hiểu nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm, chúng tôi đã sử dụng phƣơng pháp điều tra và phỏng vấn trực tiếp các GV. Kết quả đƣợc thể hiện ở Bảng 6.

Bảng 6: Các nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm của SV

TT

Nguyên nhân

SL

Tỉ lệ (%)

1

Do cơ sở vật chất không đầy đủ

45

80,4

2

Số lƣợng SV trong lớp quá đông

50

89,3

3

Nội dung học phần khó có thể tổ chức giờ thảo luận nhóm.

32

57,1

4

Năng lực sƣ phạm của GV còn yếu

25

44,6

5

SV chƣa có kỹ năng làm việc nhóm

51

91,1

6

Chƣa có 1 quy trình tổ chức làm việc nhóm hợp lý

52

92,9

7

Không đủ thời gian cho phép

12

21,4

8

Các nguyên nhân khác

5

8,9

Chúng tôi chia ra hai nhóm nguyên nhân chủ yếu

  • Nguyên nhân chủ quan

Số liệu ở Bảng 6 cho thấy, nguyên nhân cơ bản nhất ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm trong học tập của SV là do năng lực sƣ phạm của GV còn non yếu chiếm 44,6%. Đây chính là một sự thật khách quan mà GV cần nhìn vào để khắc phục hạn chế. Phải chăng GV cũng đang còn cảm thấy chƣa hài lòng, chƣa tự tin khi tổ chức mỗi giờ làm việc nhóm cho SV mà khiến cho SV cảm thấy thực sự hứng thú và bổ ích. Một số GV chƣa biết cách hƣớng dẫn và điều khiển cho SV làm việc nhóm có hiệu quả trong các tiết dạy. Một số GV sau khi giao nhiệm vụ cho SV thì phó mặc cho họ tự làm việc nhóm và nhƣ vậy giờ học trôi qua một cách lãng phí và SV cũng chẳng thu đƣợc mấy kiến thức trong giờ làm việc nhóm này.

Nguyên nhân chủ quan thứ hai thuộc về SV. Tỉ lệ đánh giá của GV đối với nguyên nhân này là cao nhất chiếm 91,1%. Lao động tập thể đòi hỏi SV phải biết cách phối hợp và liên kết hoạt động với nhau, hay nói cách khác SV phải có kỹ năng làm việc nhóm. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy kỹ năng này đƣợc thể hiện chƣa tốt. SV lúng túng khi phân chia các công việc cho từng thành viên, SV chƣa có khả năng điều phối quá trình làm việc nhóm có hiệu quả. Một bộ phận không nhỏ SV ỉ lại, thu động, không tự tin nên dẫn đến quá trình làm việc nhóm chỉ tập trung ở một số SV khá, giỏi. Kết quả là không khách quan khi cho điểm từng nhóm. Đây cũng chính là hạn chế của hình thức làm việc nhóm ở trƣờng đại học.

23

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

  • Nguyên nhân khách quan

Chiếm vị trí đầu tiên trong nguyên nhân khách quan đó là do chƣa có một quy trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm hợp lý. Nguyên nhân này đứng đầu tiên với tỉ lệ là 92,9%. Đây là điều dễ hiểu vì sao chất lƣợng các giờ làm việc nhóm chƣa cao, sinh viên còn lúng túng về các kỹ năng làm việc nhóm. Tiếp đến là nguyên nhân là do số lƣợng sinh viên trong lớp học quá đông, tỉ lệ này chiếm 89,3%. Đây chính là hạn chế thƣờng thấy của một giờ thảo luận. Thông thƣờng, để thảo luận hiệu quả GV có thể chia thành các nhóm nhỏ từ 6 – 8 SV một nhóm. Nhƣng do số lƣợng sinh viên quá đông nên GV phải chia thành các nhóm lớn từ 10 -12 em SV trên một nhóm. Bên cạnh đó phòng học cũng nhỏ hẹp nên việc kê bàn ghế, xếp chỗ ngồi cho sinh viên thảo luận “mặt đối mặt” cũng là vấn đề mà nhiều GV quan tâm và chia sẻ. Tiếp theo là do nội dung môn học khó có thể tổ chức giờ thảo luận. Không phải môn học nào, chƣơng bài nào cũng có thể tổ chức tốt giờ làm việc nhóm. Có những môn học mà GV cho rằng, rất khó để xây dựng giờ làm việc nhóm hiệu quả cho các em.

Tóm lại, có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả của quá trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của SV. Để khắc phục những nguyên nhân này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và toàn diện.

Từ sự phân tích những kết quả điều tra, khảo sát chúng tôi rút ra một số kết luận về chƣơng 1 nhƣ sau:

  • Đa số giảng viên đã có nhận thức tƣơng đối chính xác về bản chất cũng nhƣ ý nghĩa, sự cần thiết của việc trang bị các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập cho sinh viên năm thứ nhất.
  • Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản nhất theo chúng tôi là chƣa có một quy trình hợp lý để tổ chức cho sinh viên làm việc nhóm. Đây là vấn đề cơ bản cần giải quyết trong đề tài.

 

3. KẾT LUẬN

Để trang bị các kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên trong học tập đòi hỏi mỗi giảng viên phải có nhận thức đúng đắn về học tập theo nhóm, vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên. Dạy các kỹ năng làm việc nhóm trở thành điều kiện tiên quyết đối với hoạt động lĩnh hội tri thức. Khi sinh viên biết phối hợp hoạt động với ngƣời khác một cách có hiệu quả thì kết quả lĩnh hội tri thức của các em sẽ đƣợc nâng lên rõ rệt. Từ đó mỗi giáo viên phải có những biện pháp cụ thể, tạo môi trƣờng học tập thuận lợi cho sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm. Và một điều quan trọng là mỗi giảng viên phải xác định đây là nhiệm vụ quan trọng cần đạt đƣợc trong quá trình dạy học ở nhà trƣờng đại học.

24

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức (2000), Hoạt động dạy học ở trƣờng THCS- NXB Giáo dục. Hà Nội.
  1. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1996), Giáo dục học, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  1. Nguyễn Kì (1996), Phƣơng pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, NXB Giáo dục.
  1. A. Leccne (1987), Dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục Hà Nội.

REALITY OF TRAINING TEAMWORK SKILLS FOR FIRST-YEAR STUDENTS AT HONG DUC UNIVERSITY

Nguyen Thi Minh Hien

ABSTRACT

Hong Duc University is a multidisciplinary institution with semester-based Credit Training System. In order to improve the training quality, each lesson in class must be effective one. Teamwork activities are widely and frequently used by teachers at Hong Duc University. Taking part in an activity requiring high cooperation, students need to equip themselves with necessary teamwork skills. However, in fact, students of Hong Duc University, especially 1st –year students, have not had such necessary skills in doing teamwork activities.

Keywords: skills, skill development, groupwork.

Ngƣời phản biện: PGS.TS. Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 12/5/2013; Ngày

thông qua phản biện: 12/6/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

25


Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí


LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here