Category: Kiến Trúc – Xây Dựng

  • Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-kh%C3%A1ch-s%E1%BA%A1n-TCVN-5065-1990.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiêu chuẩn thiết kế khách sạn TCVN 5065:1990

    TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

    TCVN 5065:1990

    KHÁCH SẠN – TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ
    Hotel – Design standard

    Nhóm H

     

    Tiêu chuẩn này áp dụng để thiết kế xây dựng mới hoặc cải tạo các khách sạn.

    Khách sạn là cơ sở kinh doanh phục vụ khách nước ngoài và trong nước lưu trú trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu về các mặt ăn uống, nghỉ ngơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác.

    Tiêu chuẩn này thay thế 20 TCVN 54: 1972 “Khách sạn quốc tế – tiêu chuẩn thiết kế”. Giới hạn của tiêu chuẩn:

    1. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các cơ sở ăn nghỉ du lịch khác như: Biệt thự du lịch, camping bungalow, làng du lịch…
    2. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho các khách sạn nội địa, nhà nghỉ phục vụ cán bộ, công nhân viên, xã viên…
    3. Khi thiết kế khách sạn có yêu cầu đặc biệt, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1. Quy định chung

    1.1. Căn cứ vào chức năng sử dụng, khách sạn là nơi đón tiếp và phục vụ du lịch, thăm quan, công tác, giao dịch, thương mại, thăm viếng và nghỉ ngơi.

    1.2. Khi thiết kế khách sạn, phải áp dụng TCV N 439 1: 1986 “Khách sạn du lịch- Xếp hạng”.

    Khách sạn thường được thiết kế với các quy mô từ 50 đến 500 giường.

    Chú thích:

    1) Quy mô khách sạn tính theo số giường, một giường đôi tính như hai giường một (đơn).

    2) Trong trường hợp dặc biệt, có thề xây dựng khách sạn có quy mô trên 500 giường, theo luận chứng kinh tế kĩ thuật riêng.

    1.3. Các công trình khách sạn được thiết kế với cấp công trình I, có yêu cầu.

    – Chất lượng sử dụng: Bậc I (đáp ứng yêu cầu cao trang thiết bị hiện đại).

    – Chất lượng xây dựng: có độ bền vững bậc I (Niên hạn sử dụng trên 100 năm) và  bậc chịu lửa I.

    Chú thích: Các ngôi nhà phụ của khách sạn như: Nhà để xe ôtô, nhà kho, xưởng sửa chữa, khi thiết kế nếu tách khỏi ngôi nhà chính phải thiết kề với cấp công trình thấp hơn.

    2. Yêu cầu về khu đất xây dựng

    2.1. Khách sạn phải được xây dựng trên khu đất tại nơi có nhu cầu đón tiếp khách như: Thành phố, thị xã, thị trấn, các điểm trên tuyến du lịch, các khu du lịch…

    Khi chọn đất xây dựng khách sạn phải tuân theo các quy định trong TCVN 4491: 1987 “Quy hoạch xây dựng đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế”.

    1. a) Thuận tiện cho việc đi lại đồng thời cần xét đến tác dụng về đô thị của công trình khách sạn trong việc tổ chức trung tâm công cộng, quảng trường thành phố hay điểm dân cư.
    2. b) Có khí hậu tốt, thiên nhiên và cảnh quan phong phú, không bị ô nhiễm môi trường
    3. c) Tiết kiệm đất xây dựng.

    2.2. Khu đất xây dựng khách sạn phải có bãi để xe ôtô ngoài trời và sân phục vụ. Diện tích bãi để xe tính 25m2 cho một xe nhỏ và 50m2 cho một xe lớn. Số lượng xe tính theo luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    2.3. Khối ngủ của khách sạn cần đặt cách xa chỉ giới xây dựng, không nhỏ hơn 10m tính từ mặt ngoài ngôi nhà.

    2.4. Diện tích đất xây dụng khách sạn tính từ 15 đến 20m2 cho một giường.

    3. Nội dung công trình và những yêu cầu về giải pháp kiến trúc

    3.1. Khách sạn quốc tế có 3 khối sau:

    1. a) Khối ngủ
    2. b) Khối công cộng
    3. c) Khối hành chính quản trị.

    3.2. Các khối trong khách sạn phải được bồ trí theo dây chuyền hoạt động và theo sơ đồ vận chuyển bên trong khách sạn thuận tiện, hợp lí và ngắn nhất. Đồng thời phải đảm bảo sự cách li về mặt bằng và không gian, không ảnh hưởng lẫn nhau về trật tự vệ sinh và mĩ quan.

    Chú thích: Lối đi nội bộ của nhân viên phục vụ, đường vận chuyển hàng hoá. thực phẩm, dụng cụ, rác, phế liệu… phải riêng biệt với đường đi của khách.

    3.3. Các phòng ngủ của khách sạn được bố trí từ tầng hai trở lên, trong trường hợp phải đặt ở tầng một, cần có biện pháp chống ồn và bảo vệ cho các phòng ngủ.

    Các kho để hành lí xách tay, một số phòng phục vụ công cộng… được phép đặt ở tầng chân tường.

    3.4. Các phòng thuộc khu bếp, các phòng đặt máy móc, thiết bị, các phòng thang máy, ống đứng và ngăn dẫn rác và thải bụi tập trung, không cho phép đặt trực tiếp trên và dưới các buồng ngủ, cũng như xen kẽ những giữa các phòng ngủ của khách. Nếu đặt phải có biện pháp xử lí cách âm, cách nhiệt tuyệt đối.

    3.5. Khi xây dựng thang máy, ống đựng thải rác và thải bụi tập trung, máy bơm nước và mô tơ cần phải được cách âm và chống truyền chấn động đến các phòng ngủ, phòng ăn và các phòng công cộng khác.

    3.6. Buồng ngủ của khách sạn chia làm bốn hạng theo quy định tại bảng 1.

    Bảng 1- Các hạng buồng ngủ và diện tích

    Hạng buồng ngủ của khách sạn

    Số phòng trong buồng

    Số giường trong buồng

    Diện tích (m2)

    Buồng ngủ

    Khu vệ sinh

    Đặc biệt

    2

    2

    24 – 28

    5 – 6

    3

    2

    36 – 42

    I

    1

    1

    12 – 14

    4 – 5

    1

    2

    16 – 20

    II

    1

    1

    10 – 12

    3,5 – 4,5

    1

    2

    14 – 18

    III

    1

    2

    18 – 24

    3 -4,5

    1-2

    4

    24 – 28

    3.7. Các khách sạn phải có sảnh đón tiếp, sảnh tầng và buồng ngủ phải có phòng đệm.

    3.8. Mỗi tầng của khối ngủ phải có phòng trực của nhân viên gồm có phòng ngủ, tủ để đồ vải sạch, chỗ là quần áo, kho để đồ vải bẩn, kho để dụng cụ vệ sinh, diện tích tính từ 24- 32m2. Nếu tầng ngủ có trên 20 buồng cần bố trí hai phòng trực.

    3.9. Nội dung và diện tích các bộ phận của khối công cộng quy định trong bảng 2 (đơn vị tính bằng m2).

    Bảng 2

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    150 giường

    300 giường

    500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm sảnh

           

    – Sảnh tiếp đón

    1,00

    0,08

    0,60

     

    – Sảnh tầng

    0,40

    0,35

    0,30

     

    – Các phòng tiếp khách và sinh hoạt chung

    0,30

    0,25

    0,20

     

    – Nơi tiếp đón

    0,20

    0,16

    0,12

     

    – Nơi gửi tiền, đồ vật

    0,12

    0,10

    0,08

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Nơi đổi tiền

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

     

    – Cửa hàng bách hoá mĩ nghệ

    0,40

    0,40

    0,30

    Tính theo số giường

    – Cắt tóc nam

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Uốn tóc nữ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    8 m2/chỗ

    nt

    – Phòng y tế

    12 m2

    24 m2

    24 m2

    nt

    – Quầy bưu điện

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    5 m2/chỗ

    Tính theo luận chứng KTKT

    – Tổng đài điện thoại

    12 m2

    12 m2

    18 m2

    nt

    – Buồng điện thoại

    1 m2

    1 m2

    1 m2

    nt

    – Quầy sách báo

    16 m2

    16 m2

    24 m2

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng hội nghị

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    1,8 m2/chỗ

    nt

    Nhóm ăn uống

           

    – Phòng ăn

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 70-100 số giường

    – Phòng trực

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    1,5 m2/chỗ

    Tính 10 – 20% số giường

    – Phòng ăn đặc sản

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bar giải khát

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Tính 20% số giường

    – Tiệm cà phê

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Sàn nhảy, có bar đêm

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    nt

    Nhóm bếp

           

    – Kho các loại lương thực thực phẩm, lạnh, dụng cụ nhà bếp, phục vụ rau quả rượu bia, nước ngọt, nhiên liệu, phế liệu…

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,6 m2/chỗ

    Tính theo số chỗ trong phòng ăn, giải khát

    – Bộ phận gia công (gia công thô, kĩ, nấu hấp cơm, bánh, nấu thức ăn, pha chế,rửa đĩa, xoong nồi…)

    1,2 m2/chỗ

    1 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    nt

    – Nơi soạn và phục vụ nhà bàn

    0,5 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    – Các phòng quản lí sinh hoạt. (Nơi làm việc của bếp trưởng, kiểm nghiệm thức ăn, kế toán, thay quần áo nghỉ của nhân viên…)

    0,4 m2/chỗ

    0,3 m2/chỗ

    0,2 m2/chỗ

    nt

    Nhóm giải trí thể thao

           

    – Phòng chiếu phim Video

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    0,8 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng đọc sách báo

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    1,2 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Bóng bàn

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    45 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    – Cờ, bi-a

    – Bể bơi

    – Sân bóng các loại

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    20 m2/chỗ

    Theo luận chứng KTKT

    Bảng 3

    Tên các bộ phận

    Khách sạn có quy mô

    Ghi chú

    Dưới 150 giường

    Dưới 300 giường

    Dưới 500 giường

    1

    2

    3

    4

    5

    Nhóm hành chính quản trị

           

    – Phòng làm việc của chủ nhiệm khách sạn

    18

    24

    24

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng làm việc của phó chủ nhiệm khách sạn

    16

    16

    20

     

    – Phòng tiếp khách

    – Phòng ăn của nhân viên khách sạn

    24

    24

    24

    36

    36

    54

     

    – Phòng nghỉ

    – Phòng nghỉ trực ban của chủ nhiệm khách sạn

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    4 m2/chỗ

    12

    Theo luận chứng KTKT

    – Phòng tài chính kế toán

    – Phòng nghiệp vụ kĩ thuật

    – Phòng hành chính quản trị

    – Phòng tổ chức cán bộ

    – Phòng các đoàn thể

    – Phòng trực, bảo vệ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    12

    8

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    4 m2 /chỗ

    16

    12

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    4 m2/chỗ

    20

    16

    nt

    nt

    nt

    Theo luận chứng KTKT

    Nhóm kho

    – Kho đồ vải, chăn màn

    – Kho đồ gỗ

    – Kho đồ sứ thuỷ tinh

    – Kho vật tư thiết bị

    0,4

    0,4

    0,3

    0,3

    0,3

    0,25

    0,25

    0,2

    0,25

    0,20

    0,20

    0,1

    Theo số giường

    nt

    nt

    nt

    Nhóm phục vụ

    – Xưởng sửa chữa

    – Nhà để xe ô tô của khách

    – Kho xăng dầu

    – Nhà để xe đạp, xe máy

    – Chỗ nghỉ cho công nhân viên phục vụ, lái xe

    24

    25 m2/chỗ

    16

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    54

    25 m2/chỗ

    20

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    60

    25 m2/chỗ

    24

    0,9 m2/xe

    4 m2/chỗ

    Theo luận chứng

    KTKT

    nt

    nt

    nt

    – Trạm sửa chữa giày dép

    – Phòng giặt và phơi sấy

    – Phòng may vá

    – Phòng cho thuê xe, thuê dụng cụ thể thao

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    6 m2/chỗ

    nt

    nt

    nt

    – Trạm bơm áp lực

    – Trạm cung cấp nước

    – Điều hoà trung tâm và nơi đặt các thiết bị điều hoà

    – Phòng điện

    Các phòng phục vụ khác

         

    nt

    nt

    nt

    3.10. Chiều cao các phòng tuân theo quy định trong TCVN 3905: 1984 “Nhà và công trình công cộng – Thông số hình học”.

    1. a) Từ 3,0 đến 3,3 cho các phòng ngủ, phòng tiếp khách, phòng làm việc.
    2. b) Từ 3,6 đến 4,5m cho các phòng ăn, phòng tiệc, sảnh, bếp, trong trường hợp bếp hoặc các phòng của khối công cộng cần có tầng lửng, chiều cao có thể thông 2 tầng.
    3. c) Chiều cao tầng hầm tối thiểu phải là 2,2m.

    4. Yên cầu về chiến sáng tự nhiên chiếu sáng nhân tạo và thiết bị điện

    4.1. Các phòng ngủ của khách. Các phòng sinh hoạt công cộng cần được chiếu sáng tự nhiên.

    4.2. Thiết kế chiếu sáng tự nhiên các buồng trong phòng khách sạn phải áp dụng TCXD 29 “ Tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế chiếu sáng tự nhiên trong công trình kiến trúc”

    4.3. Khi thiết kế hành lang giữa:

    1. a) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ một đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 20m.
    2. b) Nếu chiếu sáng tự nhiên trực tiếp từ hai đầu hồi thì chiều dài hành lang không quá 40m.
    3. c) Khi chiều dài hành lang quá những quy định trên cần phải có chiếu sáng tự nhiên bổ sung bằng cách thiết kế các khoang lấy ánh sáng, mỗi khoang có chiều rộng lớn hơn 1/2 bề sâu (bề sâu của kho ang tự nhiên tường ngoài tới mép hành lang).

    Khoảng cách giữa hai khoang lấy ánh sáng không được quá 20m. Khoảng cách giữa khoang lấy ánh sáng ngoài cùng tới đầu hồi không dài quá 30m.

    Chú thích: Các buồng thang hở cũng được coi như khoang lấy ánh sáng.

    4.4. Thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài và bên trong khách sạn tuân theo TCXD 95:

    1983 “Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công trình xây dựng dân dụng” và tcxd 16: 1986”. Chiếu sáng nhân tạo trong công trình dân dụng”

    4.5. Trong khách sạn phải có đủ các hệ thống và thiết bị điện như sau:

    – Hệ thống và thiết bị điện dùng cho sản xuất và thang máy.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng.

    – Hệ thống thiết bị điện yếu.

    – Hệ thống và thiết bị điện chiếu sáng sự cố

    – Hệ thống máy phất điện dự phòng

    – Hệ thống đóng ngắt điện tự động.

    4.6. Việc lắp đặt các thiết bị điện và đường dây dẫn điện trong khách sạn áp dụng tiêu chuẩn hiện hành.

    4.7. Khi thiết kế mạng lưới điện trong khách sạn phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    1. a) Hệ thống chiếu sáng độc lập với hệ thống điện máy và thiết bị điện.
    2. b) Phải dùng dây dẫn ruột đồng. Không dùng dây dẫn ruột nhôm.
    3. c) Mạng điện ngoài nhà phải đặt cáp ngầm.
    4. d) Phải nối đất cho các thiết bị, máy móc, dụng cụ chiếu sáng và sinh hoạt.

    4.8. Phải thiết kế hệ thống điện nhẹ: Điện thoại nội bộ, hệ thống chuông báo phòng ngủ và cả khu vệ sinh hệ thống telex và telefax.

    4.9. Phải thiết kế hệ thống ăng ten vô tuyến và truyền hình.

    4.10. Thiết kế chống sét áp dụng TCXD 46: 1984 “Chống sét cho nhà và công trình”.

    5. Yêu cầu về thiết bị vệ sinh, cấp thoát nước và điều hoà không khí

    5.1. Thiết bị vệ sinh của khách sạn áp dụng TCVN 4391: 1986 “Khách sạn du lịch – Xếp hạng”.

    5.2. Thiết kế khách sạn phải có đầy đủ hệ thống cấp nước lạnh, cấp nước nóng, thoát nước, thông gió, hệ thống thải rác và phế liệu.

    5.3. Về cấp nước phải đảm bảo đầy đủ suốt ngày đêm cho về sinh, sinh hoạt và phòng chữa cháy.

    Đối với các khách sạn cha có hệ thống cấp nước công cộng, phải có thiết bị lọc đảm bảo chất lượng nước dùng quy định. ‘

    Các khách sạn đã có cấp nước nhng không ổn định phải có hệ thống bể nước dự trữ bơm.

    5.4. Thời gian cấp nước nóng phục vụ trong khách sạn phải đảm bảo yêu cầu sử dụng, theo TCVN 4391: 1986.

    5.5. Thiết kế cấp nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành:

    Cấp nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 33: 1985.

    Thoát nước – Mạng lưới bên ngoài và công trình – Tiêu chuẩn thiết kế TCXD 51: 1984.

    5.6. Thiết kế thoát nước, áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành.

    5.7. Những phòng hành chính của khách sạn phải đảm bảo thông gió tự nhiên. Tuỳ theo nhu cầu các buồng phòng cần có hệ thống thông gió cưỡng bức, hệ thống hút hơi và điều hoà không khí.

    5.8. Các thiết bị điều hoà không khí trong khách sạn thiết kế theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    6. Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy

    6.1. Thiết kế về phòng cháy và chữa cháy của khách sạn áp dựng theo TCVN 2622:1978 “Phòng cháy và chữa cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế”.

    6.2. Phải có thiết bị báo cháy tự động đặt trong các khách sạn.

    6.3. Các đường xe ra vào phục vụ cho khách sạn có bề ngang trên 18m, phải có đường hoặc lối vào cho xe chữa cháy tiếp cận được với mọi vị trí quanh ngôi nhà.

    Chú thích:

    1) Khi ngôi nhà có sân trong khép kín, cần bố trí lối đi thuận tiện để kéo vòi chữa cháy từ phía ngoài nhà vào phía trong sân dễ dàng.

    2) Đường cho xe chữa cháy xuyên qua ngôi nhà, qua cổng hay hành lang phải có chiều rộng thông thuỷ ít nhất là 3,5m và chiều cao thông thuỷ ít nhất là 4,5m.

    6.4. Các cửa đi, lối đi, hành lang và cầu thang trong ngôi nhà phải kết hợp làm lối đi và đường thoát khi có cháy xẩy ra. Không thiết kế cầu thang xoáy ốc và bậc thang hình rẻ quạt trên đường thoát nạn.

    Chú thích: Chiều rộng tổng cộng cửa thoát nạn ra ngoài, cửa về thang hay là đường thoát nạn phải tính theo số người ở tầng đông nhất không kể tầng một và được quy định như sau:

    – Nhà 1 – 2 tầng: tính 0,8m cho 100 người

    – Nhà 3 tầng trở lên: tính 1m cho 100 người.

    – Phòng khán giả tính 0,55m cho 100 người.

    6.5. Trong mỗi ngôi nhà, ít nhất phải có 2 lối thoát nạn ra khỏi nhà, các lối đi phải bố trí hợp lí để phân tán người nhanh nhất.

    6.6. Trong khách sạn, khoảng cách xa nhất từ các phòng có người ở đến lối đi gần nhất quy định như sau:

    – 40m từ những gian phòng ở giữa hai buồng thang hay 2 lối thoát nạn

    – 25m từ những phòng có lối ra hành lang cụt hay lối thoát duy nhất.

    6.7. Cửa đi trên đường thoát nạn phải mở ra phía ngoài nhà, không cho phép theo chiều ngang hay chiều thẳng đứng trên đường thoát nạn.

    6.8. Các ngôi nhà cao trên 10m tính từ mép vỉa hè đến mép dưới máng nước bố trí thang chữa cháy bằng sắt ở bên ngoài nhà. Khi mái nhà có độ cao thì phải có thang chữa cháy nối các phần mái đó, số lượng, chiều rộng của thang theo quy định của TCVN 2622: 1978.

    6.9. Không bố trí các nồi hơi, trạm điện, các kho chứa chất cháy, chất ngủ hay dưới các phòng thường xuyên có tới 50 người. Các phòng bố trí riêng biệt, có lối ra ngoài trực tiếp và tuân theo các quy định an toàn phòng cháy, phòng nổ.

    6.10. Trong khách sạn cao từ 10 tầng trở lên, phải thiết kế buồng thang và đảm bảo không

    tụ khói khi cháy. Để thoát khói từ hành lang giữa hai sảnh phải có hệ thống thông gió và van mở ở tường của từng hệ thống và van này phải mở tự động khi có cháy.

    6.11. Khách sạn cao trên 10 tầng, không cho phép đặt cầu thang liên hệ trực tiếp giữa các tầng có khách ở với tầng chân tường, tầng hầm.

    6.12. Trong khách sạn, ngoài hệ thống cấp nước chữa cháy cần trang bị các bình chữa cháy cầm thay bằng hoá chất (như bình CO2, bình bọt…) bố trí ở các tầng nhà và các khu vực cần thiết khác, vị trí và cách đặt bình phải đảm bảo các yêu cầu thẩm mĩ và thuận tiện khi sử dụng.

    7. Yêu cầu về công tác hoàn thiện

    7.1. Khách sạn phải được thiết kế hoàn chỉnh các bộ phận bên trong và bên ngoài nhà.

    Chú thích: Trong trường hợp phải thiết kế và thi công từng phần cần lập hồ sơ thiết kế toàn bộ đến giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công.

    7.2. Các bộ phận bên ngoài công trình chính như: Công trình kĩ thuật hạ tầng, cổng, tường rào, bãi để xe, sân vườn, đường nội bộ, cây xanh… phải được thiết kế đồng bộ theo nội dung của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

    7.3. Thiết bị bên trong và trang trí nội thất phải theo quy định trong TCVN 4391: 1986.

    Việc sử dụng vật liệu để thiết kế ốp lát và trang trí quy định như sau:

    Các khách sạn ở cấp công trình I, sử dụng vật liệu cao cấp để ốp lát, trang trí hoàn thiện bên trong và bên ngoài theo yêu cầu sử dụng và thẩm mĩ.

    Các công trình khác sử dụng vật liệu theo yêu cầu của luận chứng kinh tế kĩ thuật.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng phương pháp địa thống kê trong dự báo các thông số địa cơ học và ứng dụng mô hình Sandpit3D trong dự báo sinh cát cho giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn

    Ứng dụng phương pháp địa thống kê trong dự báo các thông số địa cơ học và ứng dụng mô hình Sandpit3D trong dự báo sinh cát cho giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn

    Ứng dụng phương pháp địa thống kê trong dự báo các thông số địa cơ học và ứng dụng mô hình Sandpit3D trong dự báo sinh cát cho giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIẾN BỘ TRONG XÚC TÁC CỦA QUÁ TRÌNH REFORMING METHANE – GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG ĐỂ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN KHÍ THIÊN NHIÊN CÓ HÀM LƯỢNG CO2 CAO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%8Ba-th%E1%BB%91ng-k%C3%AA-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-c%C3%A1c-th%C3%B4ng-s%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Ba-c%C6%A1-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%A5ng-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Sandpit3D-trong-d%E1%BB%B1-b%C3%A1o-sinh-c%C3%A1t-cho-gi%E1%BA%BFng-khai-th%C3%A1c-%E1%BB%9F-b%E1%BB%83-Nam-C%C3%B4n-S%C6%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng phương pháp địa thống kê trong dự báo các thông số địa cơ học và ứng dụng mô hình Sandpit3D trong dự báo sinh cát cho giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn

    PETROVIETNAM

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 39 – 50

     

    ISSN-0866-854X

     

    ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊA THỐNG KÊ TRONG DỰ BÁO

    CÁC THÔNG SỐ ĐỊA CƠ HỌC VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SANDPIT3D TRONG DỰ BÁO SINH CÁT CHO GIẾNG KHAI THÁC Ở BỂ NAM CÔN SƠN

     

    Tạ Quốc Dũng1, Lê Thế Hà2, Nguyễn Tiến Đạt1

    1Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

    2Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

    Email: [email protected]; [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Bài báo ứng dụng phương pháp địa thống kê trong việc dự báo các thông số địa cơ học cho 1 giếng khai thác ở bể Nam Côn Sơn. Kết quả thu được của mô hình địa cơ học sẽ được sử dụng để đánh giá khả năng sinh cát của giếng theo mô hình tính toán ứng suất cắt của S.M.Wilson dựa trên tiêu chuẩn Mohr-Coulomb. Áp suất đáy giếng tới hạn ứng với mỗi áp suất vỉa tại từng thời điểm khác nhau cũng được tính toán nhằm đưa ra chế độ khai thác hợp lý trong quá trình quản lý mỏ.

     

    Từ khóa: Địa thống kê, variogram, kriging, mô hình địa cơ, sandpit3D, bể Nam Côn Sơn.

     

    1. Giới thiệu

     

    Nguồn tài nguyên dầu khí trong khu vực bể Nam Côn Sơn chủ yếu được chứa trong đá trầm tích. Các giếng đang trong giai đoạn đầu của quá trình khai thác nên chưa xảy ra hiện tượng sinh cát.

     

    Tuy nhiên, sau một thời gian khai thác, hiện tượng sinh cát có thể xuất hiện do áp suất vỉa giảm, xuất hiện nước trong giếng khai thác.

     

    Hiện tượng sinh cát gây khó khăn cho quá trình khai thác, ăn mòn các thiết bị hoặc làm tắc nghẽn đường ống, gây thiệt hại lớn về kinh tế… do đó cần nghiên cứu dự báo sớm.

     

    Dữ liệu cần thiết của giếng sẽ được nội suy từ các giếng lân cận đã khoan trước đó. Việc dự đoán các thuộc tính địa cơ học, các thông số vỉa, độ bền thành hệ cho các khu vực lân cận chỉ có thể thực hiện nhờ vào địa thống kê.

     

    Lĩnh vực này bao gồm các quá trình: thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu thô, thiết lập thuật toán, mô phỏng, kết quả cuối cùng là đưa ra mô hình của giếng lân cận.

     

    Ngày nhận bài: 19/3/2019. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 19/3 – 9/4/2019.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 9/5/2019.

     

    2. Phương pháp địa thống kê và dự báo khả năng sinh cát của giếng

     

    2.1. Phương pháp địa thống kê

     

    2.1.1. Variogram

     

    Variogram được sử dụng trong kỹ thuật địa thống kê để mô tả mối quan hệ không gian. Variogram được định nghĩa như là một nửa kỳ vọng toán học của biến ngẫu nhiên [Zx – Zx+h]2, nghĩa là [1, 2]:

    (  ) =

    1

    [  

    ] =

    1

    ∫[  

    +  ]2

    (1)

     

    2

    2

                 

    Trong đó: Zx, Zx+h: 2 đại lượng ở 2 điểm nghiên cứu cách nhau một đoạn h. Variogram thực nghiệm được xác định [1, 2]:

    (  ) =

       

    1

    =1( )[

    +  ]2

    (2)

     

    2

    (  )

               

    2.1.2. Covariance

     

    Nếu 2 biến ngẫu nhiên Zx và Zx+h cách nhau một đoạn “h” có phương sai, chúng cũng có 1 covariance và được diễn đạt

     

    [1, 2]:

    (  ) =   {[   −   ][  +   −   ]}

    (3)

    Với m là kỳ vọng toán học của hàm C(h) thực nghiệm được tính [1, 2]:

    (  ) =

    1

     

    ( )

    {[

    −   ][  +   −   ]}

    (4)

         

    = 1

    ( )

                   

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    39

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    2.1.3. Kriging

     

    Tùy vào ứng dụng thực tế, các thuật toán khác nhau sẽ sử dụng cho mục đích khác nhau.

     

    Simple Kriging (SK): Đơn giản nhất nhưng không phù hợp với thực tiễn.

     

    Ordinary Kriging (OK): Sử dụng phổ biến nhất, linh hoạt hơn Simple Kriging và cho phép các biến thay đổi cục bộ.

     

    CoKriging (Co-K): Cho phép ước tính 1 biến dựa trên thông tin không gian của các biến khác liên quan. Đặc biệt hữu ích khi có 1 biến được lấy mẫu rộng rãi và 1 biến được lấy mẫu thưa thớt và chúng có tương quan không gian.

     

    Universal Kriging (UK): Dùng khi dữ liệu mẫu biểu hiện theo 1 phương và giả thiết ổn định có thể không hợp lệ.

     

    Do tính phổ biến và ứng dụng linh hoạt hơn các phương pháp khác nên nhóm tác giả sẽ sử dụng phương pháp Ordinary Kriging cho việc tính toán.

     

    Ordinary Kriging:

     

    Trong thuật toán SK, giả thiết rằng giá trị trung bình m(u) được biết. Bằng giả thiết ổn định bậc 1, m(u) giảm thành m. Phải biết giá trị m trước khi sử dụng 1 biểu thức SK. Trong thực tiễn, giá trị trung bình thực toàn cục rất hiếm khi được biết nếu không giả thiết trị trung bình mẫu bằng trị trung bình toàn cục. Ngoài ra, trị trung bình cục bộ trong vùng nghiên cứu lân cận có thể thay đổi trên khu vực quan tâm, do đó giả thiết ổn định có thể không hoàn toàn hợp lệ. Thủ tục OK sẽ khắc phục vấn đề này bằng cách xác định phương trình ước tính.

     

    Xét phương trình [1, 2]:

    0 ) =  0 + = 1    ×  (  )

    (5)

    Với điều kiện không lệch, yêu cầu thỏa mãn điều kiện phương sai cực tiểu. Cực tiểu hóa phương sai với ràng buộc thu được kết quả:

     

    2.2. Hiện tượng sinh cát trong các giếng khai thác

     

    2.2.1. Khái niệm sinh cát

     

    Sinh cát là hiện tượng xuất hiện số lượng nhỏ hay lớn về thành phần hạt rắn đi cùng với dung dịch chất lưu trong vỉa. Số lượng có thể khác nhau từ vài gam hoặc ít hơn trên một tấn dung dịch. Khi lượng cát sinh ra lớn hơn một giới hạn sinh cát nào đó (giới hạn này phụ thuộc vào điều kiện mỏ quy định) thì cần phải áp dụng các biện pháp khống chế cát [3].

     

    Sinh cát phụ thuộc vào 3 thành phần chính:

     

    • Độ bền của đá và các tính chất cơ học khác của đá.
    • Các ứng suất tác dụng xung quanh giếng hoặc lỗ bắn mở vỉa.
    • Tải trọng cục bộ tác dụng lên giếng hoặc lỗ bắn mở vỉa do sự hiện diện của dòng chảy, áp suất lỗ rỗng suy giảm, sự hiện diện của nước.

    Nếu không thể kiểm soát được lượng cát sinh ra sẽ gây ra thiệt hại rất lớn, có thể sụp lở trong thành hệ, làm bào mòn các thiết bị hoặc làm nghẽn đường ống.

     

    Độ bền của thành hệ cát kết được kiểm soát bởi các yếu tố [3]:

     

    • Số lượng và loại của xi măng dùng để giữ các hạt riêng lẻ lại với nhau.
    • Lực ma sát giữa các hạt.
    • Áp suất chất lưu trong các lỗ rỗng của đá.
    • Lực ép mao dẫn.

    = 1,   ) +   =   (  ,  0 )   = 1, … ,

    (6)

    2.2.2. Đồ thị đường log UCS – TWC

     

    Với μ là thông số Lagrange và C đại diện cho hiệp phương sai.

     

    Phương trình có thể được viết dưới dạng ma trận [1, 2]:

    (

    1,

    1 )

    (

    1 ,

    2 ) …..

    (

    1,

    ) 1

       

    [

    1

     

    (

    1 ,

    0 )

    (

    2,

    1 )

    (

    2 ,

    2 ) .….

    (

    2 ,

    ) 1

       

    2

     

    2 ,

    0 )

    [ (

    . .

       

    . .

    .….

     

    . .

       

    ×

    . .

    [

    =

     

    . .

    (7)

           

    [

     

    0 )[

    ,

    1 )

    (

    ,

    2 ) .….

    (

    ,

    ) 1

       

    [

    (

    ,

     

    1

       

    1

       

    1

    0

                 

    1

     

    Biểu đồ log UCS – TWC giúp dự báo các khoảng độ sâu mà thành hệ có khả năng bị phá hủy và sinh cát, từ đó đưa ra quyết định bắn mở vỉa ở khoảng độ sâu phù hợp và kế hoạch hoàn thiện giếng tốt nhất.

     

    Để xây dựng được biểu đồ này, cần chú ý đến các giá trị như Dt – Wave Transit time (đơn vị μs/ft) và giá trị độ rỗng ф.

     

    Khi λi được tính, giá trị ước tính z*(uo) sẽ thu được từ phương

    Đối với giá trị Dt, trong quá trình đo địa vật

     

    trình. Ước tính hiệp phương sai [1, 2]:

       
       

    lý các bộ phát sóng âm của thiết bị truyền các tia

     

    2

    =   (  0 ,  0 ) − = 1

    ,  0 ) −

    (8)

    sóng gặp thành hệ và phản hồi về các đầu thu.

     
     

    40       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

     

    Thay (15) vào (17) ta có mối quan hệ cho CBHFP như

    (12)

    sau [5]:

     

    Giá trị UCS trong khoảng 300 và 52.000psi và độ rỗng ф bé hơn 0,3 [4]:

    PETROVIETNAM

     

    Ứng với mỗi thành hệ cũng như mỗi tập khác nhau thì giá trị thu về sẽ khác nhau, thông qua minh giải sẽ được một giá trị là Dt, từ đó xác định được lần lượt giá trị UCS và TWC.

     

    Đối với giá trị độ rỗng ф, log mật độ là phương pháp dùng để xác định độ rỗng, thông qua việc đo mật độ electron trong vỉa. Nó có thể giúp các nhà địa chất: xác định được các khoáng vật lắng đọng từ sự bốc hơi của các dung dịch, đánh giá các đới chứa khí, xác định hàm lượng hydrocarbon, đánh giá độ sét trong đá chứa dạng cát pha và một số đặc điểm thạch học. Dụng cụ đo mật độ gồm nguồn phát ra năng lượng tia gamma sao cho các tia gamma đi vào bên trong vỉa. Nguồn gamma có thể là Co-60 (Cobalt) hay Ce-137 (Cesium).

     

    Khi biết các giá trị Dt và ф có thể tính UCS (psi) theo công thức sau:

     

    Mô hình của McNally (1987) [4]:

     

     = 40165 − 10              (9)

     

    cả giếng thân trần và giếng hoàn thiện ống chống, bắn mở vỉa. Các ứng suất cục bộ được biểu diễn như Hình 1. Sự định hướng của giếng khoan được thể hiện trong tính toán của các ứng suất tiếp σ1, σ2 với σ1 > σ 2 (hay còn gọi là ứng suất vòng) từ các ứng suất chính tại vị trí đó (σH, σh). Các ứng suất tiếp trên bề mặt của thành giếng được xác định bởi [5]:

     

    1 = 3   −

    (1 −

    ) −

    (14)

    2 = 3   −

    (1 −

    ) −

    (15)

    Trong đó:

     

    pwf: Áp suất đáy giếng;

     

    pr: Áp suất vỉa;

     

    A: Hệ số poro-elastic được tính theo công thức sau [5]:

     

    (1− 2

    )

    (16)

     
         

    =  (1−

    )

       
             

    Với ν là hệ số Poisson và α là hệ số Biot’s

     

     = 36830(1 − 2,7)2

     

    Thành hệ cát kết đã cố kết với độ rỗng ф < 0,3 [4]:

     = 80,87650,58

    Sự phá hủy xảy ra khi các giá trị ứng suất tiếp tuyến bị thay đổi, mặc dù các giá trị ứng suất khác cũng đóng vai

     

    • trò vào việc gây ra sự phá hủy, tuy nhiên không đáng kể. Để tránh việc cát xuất hiện thì giá trị ứng suất tiếp tuyến hiệu dụng lớn nhất tại vị trí đang xét (σt2 – Pwf ) phải nhỏ hơn độ bền hiệu dụng U của thành hệ, như vậy ta có quan
    • hệ [5]:

     

     

    Giá trị TWC (psi) được xác định từ UCS như sau (áp dụng cho hầu hết vỉa cát kết trên thế giới) [4]:

     

     = 20,62− 3,54

     

    Ngoài ra còn có thể xác định TWC theo giá trị độ rỗng ф ở thành hệ cát kết yếu [4]:

     

    1 =                                                                                  3   −  − (1 − ) −      (13)

     

    Mô hình dựa trên việc tính toán UCS và TWC theo độ sâu, vẽ được đường cong tích lũy để xác định được giá trị ứng suất P (% đất đá thành hệ có độ bền nhỏ hơn, các điểm có giá trị TWC nhỏ hơn thì thành hệ tại đó yếu nhất) là điểm ứng suất tới hạn cho sự phá hủy cát và sinh cát từ việc áp dụng xác suất cho giếng, khoảng đường cong TWC nào có giá trị nhỏ hơn đường P thì tại đó có khả năng sinh cát nhất.

     

    2.2.3. Mô hình áp suất phá hủy thành hệ (SandPit3D)

     

    Mô hình sau đây được xây dựng để bắt đầu tính toán sinh cát, tức là tính toán áp suất dòng chảy đáy giếng tới hạn dẫn đến sinh cát, CBHFP. Mô hình có thể áp dụng cho

    (2 ) ≤               (17)

     

    =

    3   −

     

       

    (18)

    2 −

       

    2−

               

     

     

    Hình 1. Các ứng suất tại thành giếng [5]

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    41

     

     

    Hình 3 cho thấy việc xác định các ứng suất mới sẽ phụ

    thuộc vào các góc nghiêng i và góc giữa hướng giếng

    (19)

    khoan với phương của ứng suất ngang lớn nhất θ. Các giá trị ứng suất mới sẽ được tính toán theo các công thức dưới đây [6]:

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Với: pwf: Áp suất đáy giếng (psi);

     

    CBHFP (psi): Áp suất đáy giếng tới hạn để thành hệ không bị phá hủy;

     

    pr: Áp suất vỉa (psi);

     

    A: Hệ số poro-elastic;

     

    U: Độ bền hiệu dụng thành hệ (psi).

     

    Độ giảm áp tới hạn-Critical Drawdown Pressure (CDP) được định nghĩa là độ giảm áp từ áp suất vỉa tới giá trị áp suất tại đó gây ra sự phá hủy thành hệ. Khi đó, áp suất đáy giếng được xác định [5]:

     =  −

     

    Từ (18) và (19) ta có biểu thức tính sau [5]:

    = 2

    − A

    2

    − (3

    −−

       
       

    1

     

    [

       

    )]

    (20)

               

    Áp suất vỉa tới hạn (Critical Reservoir Pressure, CRP), là giá trị áp suất vỉa mà tại đó vỉa bị phá hủy dưới bất kỳ độ giảm áp nào. Với CDP = 0 ta có công thức tính CRP [5]:

     

    phá hủy đơn giản cho các giếng thẳng đứng với các số liệu đầu vào tương ứng. Tuy nhiên, các giếng được hoàn thiện chủ yếu đều có độ nghiêng, do đó cần phải hiệu chỉnh các giá trị ứng suất cho phù hợp. Cách đơn giản nhất là sử dụng phương pháp dời trục tọa độ để tính lại các giá trị ứng suất mới (Hình 2) [6]:

     

    Việc dời trục sẽ cho các giá trị ứng suất mới. Do đó cần phải tính toán lại các giá trị này theo các giá trị ứng suất cũ kết hợp với góc nghiêng và góc phương vị tương ứng tại vị trí giếng.

     

    =

    2

    2

    +

     

    2

    2

    +

    2

    (23)

     

    =

       

    2

    +

    2

       

    (24)

                 

    =

    2

    2

    +

     

    2

    2

    +

    2

    (25)

       

    =

    3

    (21)

    Trong đó, với giếng hoàn thiện ống chống, bắn mở

     
                 

    vỉa thì góc nghiêng i sẽ là góc ψperf (góc nghiêng của lỗ

     
           

    2

       
                   
                   

    bắn mở vỉa) và góc θ sẽ là góc βperf (góc giữa hướng bắn

     

    Độ bền hiệu dụng của thành hệ U, được xác định dựa

    vỉa với ứng suất ngang lớn nhất). Các đại lượng được tính

     

    vào thí nghiệm mẫu trục thành dày (TWC) với tỷ số đường

    theo công thức sau [7]:

             

    kính ngoài và đường kính trong nằm trong khoảng từ 3 –

    = 90 −

    (

    )

    (26)

     

    3,8. Với giá trị bf dựa vào thí nghiệm để hiệu chỉnh [5]:

     
     

    er   =

    + 90

    (

    )

    (27)

     
     

    =

     

    × 1,55 ×

       

    (22)

           

    =

    + 90 −

     

    (28)

     
                       

    Với: bf = 1,6 đối với giếng thân trần;

     

    Trong đó:

             

    b

    = 2 đối với giếng ống chống bắn mở vỉa.

     

    фperf: Góc bắn mở vỉa;

             

    f

                               

    Chuyển đổi tọa độ:

           

    λperf: Góc phương vị của lỗ bắn mở vỉa;

       

    Từ các thông số như trên có thể xây dựng 1 mô hình

     

     

     

    Hình 2. Phương pháp đổi trục tọa độ [6]                                      Hình 3. Các thông số hình học mới của giếng [6]

     

     

    42       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    βperf = 0 nếu ψperf = 0.

     

    Như các biểu thức đã nêu trên, thông qua công thức liên hệ (19) và tính các thông số liên quan như CRP, hệ số A, TWC, độ bền hiệu dụng U… ta tính được CDP theo từng giá trị áp suất vỉa thay đổi, dựa vào công thức (19) tính được CBHFP áp suất đáy giếng tới hạn để thành hệ không bị phá hủy và sinh cát. Từ đó vẽ được đồ thị giữa CBHFP và áp suất vỉa sẽ được mô hình phá hủy thành hệ.

     

    3. Dự báo các thông số địa cơ học cho giếng P

     

    Từ dữ liệu của các giếng ban đầu là giếng 5, giếng 9 và giếng 11. Tiến hành dự báo các thông số địa cơ học cho giếng P lân cận.

     

    3.1. Xác định thêm các thông số địa cơ học của các giếng đầu vào

     

    • Độ rỗng đá

    Độ rỗng của đá được tính dựa vào công thức thực nghiệm, dựa vào UCS đã cho tính được độ rỗng theo mô hình Venik (1993) với thành hệ cát kết có độ rỗng nhỏ hơn 0,3:

     

     

    1 −

         

    =

    36830

     
     
     

    2,7

     
       
    • Độ bền nén một trục UCS

    Để xác định đồ thị log UCS dọc theo độ sâu của thành hệ một cách chính xác, lấy kết quả thí nghiệm nén 1 trục UCS ở các độ sâu khác nhau để hiệu chỉnh với mô hình phù hợp cho mỗi thành hệ với các dữ liệu well logs như thời gian truyền sóng, độ rỗng, neuron, thể tích sét… Để xác định đường log UCS từ dữ liệu well log cho toàn thân giếng dùng công thức thực nghiệm của McNally (1987):

     = 105(− 0,037)

     

    Vì trong bài báo này các thông số UCS và các giá trị ứng suất đã được tính trước từ mô hình địa cơ nên tác giả sẽ không tính lại UCS từ đường log sonic.

     

    • Độ bền TWC (mẫu trục thành dày)

    Các thí nghiệm TWC thường được sử dụng trong các dự báo về sinh cát, phân tích và lưu lượng cát. Trong các thí nghiệm này, một mẫu hình trụ rỗng được đặt quanh buồng nén, bên

     

    trong dưới sự gia tăng của áp lực thủy tĩnh, tăng đều áp lực theo chiều dọc và chiều ngang cho đến khi sự sập lở xảy ra trong mẫu. Nhóm tác giả xây dựng đường TWC từ tương quan thực nghiệm với đường log UCS theo công thức áp dụng cho các vỉa cát kết:

     

    TWC = 80,8765UCS0,58

     

    Từ các thông số trên, xây dựng được các thông số địa cơ học cho từng giếng.

     

     

     

    Hình 4. Các thông số địa cơ học của giếng 5

     

     

     

    Hình 5. Các thông số địa cơ học của giếng 9

     

     

     

    Hình 6. Các thông số địa cơ học của giếng 11

     

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    43

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    3.2. Nội suy Kriging giá trị UCS

     

    Từ các số liệu đầu vào từ giếng 5, giếng 9, giếng 11 và các đường log xây dựng được trên IP, tiến hành nội suy các thông số địa chất cho giếng P. Xây dựng mô hình nội suy Kriging cho 3 giếng theo mặt cắt 2D. Mặt cắt theo phương TVD (y) và Bắc – Nam (x).

     

    Tiến hành chạy mô hình Variogram với mẫu là độ bền nén một trục UCS để kiểm tra dữ liệu và chọn mô hình phù hợp cho việc nội suy Kriging.

     

    Từ kết quả Hình 8 và 9 thu được kết quả mô hình Variogram của UCS chung cho 3 giếng là mô hình cầu (Spherical). Các thông số khác cũng được thể hiện trên Hình 9 như: bán kính ảnh hưởng (A), giá trị Sill, hệ số tương quan r2.

     

    Một cách đơn giản mô hình Variogram là hàm biểu hiện mối quan hệ không gian giữa các dữ liệu. Mô hình

     

     

     

    Hình 7. Mặt cắt của giếng khoan 5, giếng 9 và giếng 11 theo phương TVD – Bắc

     

     

     

    Hình 8. Kết quả tính toán mô hình Variogram của UCS theo phương TVD – Bắc

     

    được lựa chọn là mô hình cầu và cũng là loại mô hình phổ biến nhất thường được sử dụng. Vì các loại như mô hình Gaussian, mô hình mũ thì yêu cầu về tính đồng nhất địa chất, yêu cầu về bán kính nên có tính liên tục kém và thường ít sử dụng.

     

    Mô hình có giá trị Sill đạt được là 1.664.000 và bán kính ảnh hưởng là 832m. Sill là ngưỡng phương sai khi giá

     

     

    Hình 9. Thông số mô hình Variogram của UCS

     

     

     

    Hình 10. Cross Validation của UCS

     

     

     

    Hình 11. Nội suy Kriging giá trị UCS của 3 giếng cho khu vực nghiên cứu

     

     

    44       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

     

     

     

    Hình 12. Mô phỏng giá trị UCS cho khu vực nghiên cứu

     

     

     

    Hình 13. Thông số mô hình Variogram

     

     

     

    Hình 14. Kiểm định mô hình của TWC

     

    trị h (separation distance) càng tăng thì đồ thị sẽ đạt đến Sill. Giá trị Sill càng cao thì sai số của bộ dữ liệu càng lớn. Bán kính ảnh hưởng càng lớn thì càng làm giảm phương sai của Kriging.

     

    Có được mô hình Variogram phù hợp, tiến hành nội suy Kriging nhưng trước hết cần kiểm tra hệ số hồi quy của dữ liệu (Hình 10).

     

    Từ kết quả cho thấy dữ liệu đầu vào là rất tốt, bởi hệ số tương quan giữa điểm mẫu và điểm ước tính là r2 = 0,923 và hệ số hồi quy là 1,013 gần bằng 1. Tức là ứng với mỗi điểm giá trị thực ta có, dựa vào Kriging có thể nội suy ra giá trị ước tính gần như chính xác (các điểm nằm quy tụ gần đường thẳng).

     

    3.3. Nội suy Kriging giá trị TWC

     

    Cũng tương tự như quá trình nội suy của UCS, đầu tiên tiến hành chạy mô hình Variogram để kiểm tra sự liên quan giữa các giá trị và tìm ra mô hình phù hợp cho cả 3 giếng, dùng cho nội suy Kriging.

     

    Từ kết quả chạy mô hình Variogram (Hình 13), mô hình được lựa chọn là mô hình cầu (Spherical). Giá trị ngưỡng Sill là 4.197.000 và bán kính ảnh hưởng là 834m. Để biết tính chính xác của mô hình nội suy ta cần kiểm định mô hình (Cross validation) dựa trên bộ số liệu có sẵn.

     

    Kiểm định cho thấy giá trị hồi quy rất tốt là 1,009 và hệ số tương quan giữa các điểm mẫu và điểm ước tính là 0,943 (Hình 14). Hai hệ số này nằm trong khoảng cho phép để nội suy dữ liệu.

     

    Tương tự như việc nội suy cho độ bền thành hệ UCS và TWC, còn nội suy các thông số địa cơ học khác như: độ rỗng, ứng suất ngang nhỏ nhất, ứng suất ngang lớn nhất, ứng suất thẳng đứng, áp suất lỗ rỗng… để cung cấp đầy đủ các thông số trong việc dự báo sinh cát. Kết quả thu được là đáng tin cậy với hệ số hồi quy ban đầu cao.

     

    4. Dự báo sinh cát cho giếng P

     

    Từ các dữ liệu nội suy được ở phần trước cho giếng P, nhóm tác giả sẽ xây dựng biểu đồ đường log UCS – TWC cho giếng, tính toán khoảng bắn và không nên bắn mở vỉa. Từ đó sẽ khảo sát độ nhạy sinh cát bằng mô hình Sandpit3D ở một độ sâu nhất định, thay đổi theo góc bắn mở vỉa khác

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    45

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

     

     

     

    Hình 15. Nội suy Kriging giá trị TWC của 3 giếng cho khu vực nghiên cứu

     

     

     

    Hình 16. Mô phỏng giá trị TWC cho khu vực giếng nghiên cứu

     

     

     

    Hình 19. Biểu đồ Histogram và phần trăm tích lũy của giá trị TWC

     

     

    Strength (psi)

     

    0

    5000

    10000

    15000

     

    1000

           
             
     

    1500

           

    Depth(m)

    2000

           

    2500

           
             
     

    3000

           
     

    3500

           
     

    4000

     

    UCS

    TWC

     
       
         
                 

    Hình 17. Biểu đồ log UCS_TWC cho toàn bộ thân giếng P

     

    100%

     

    90%

     

    80%

     

    70%

     

    60%

       

    50%

    TWC

       

    40%

    UCS

    30%

       

    P20% TWC

     
       

    20%

       
       

    10%

     

    0

    0       5000    10000  15000

     

    Hình 18. Biểu đồ tích lũy của UCS và TWC

     

    nhau. Cuối cùng là xây dựng đường áp suất khai thác dự kiến cho giếng P.

     

    4.1. Xác định khoảng bắn mở vỉa

     

    Nhóm tác giả lựa chọn vỉa để khảo sát sinh cát cho nghiên cứu. Vỉa LMH10 độ sâu từ 3.458 – 3.542m, LMH20 độ sâu từ 3.542 – 3.667m, LMH30 độ sâu từ 3.667 – 3.771m.

     

    • Xác định bằng đường P20

    Tùy theo tính chất thành hệ của mỗi khu vực khác nhau và các yếu tố khách quan về dữ liệu để xây dựng các tiêu chuẩn ứng suất tới hạn có thể là P10, P20, P30. Giá trị P20 (20% đất đá thành hệ có độ bền nhỏ hơn, những điểm có giá trị TWC nhỏ

     

    46       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

     

     

     

     

    Hình 20. Mô hình phân bố UCS – TWC và đường ứng suất tới hạn P20

     

    0           5000      10000      15000     20000     25000

    3400

     

    3450

     

    3500

     

    3550

     

    3600

     

    3650

     

    3700

     

    3750

     

    3800

    CDD                 DD

     

    Hình 21. Đồ thị đánh giá nguy cơ sinh cát khi áp suất vỉa ban đầu pr = 10.362psi

     

    0         2000       4000         6000        8000    10000

    3400

     

    3450

     

    3500

     

    3550

     

    3600

     

    3650

     

    3700

     

    3750

     

    3800

    CDD

    DD

     

    Hình 22. Đồ thị đánh giá nguy cơ sinh cát khi áp suất vỉa suy giảm đi 6.000psi

     

    hơn thì thành hệ tại đó yếu nhất) là điểm ứng suất tới hạn cho sự phá hủy cát và sinh cát từ việc áp dụng xác suất cho giếng, khoảng đường cong TWC nào có giá trị nhỏ hơn đường P20 thì tại đó có khả năng sinh cát nhất.

     

    Từ Hình 18 có thể ngoại suy theo cách thông thường để có được P20 hoặc có thể tính theo các giá trị lớn hơn P20% và nhỏ hơn P20% để nội suy P20%. Nhóm tác giả cũng có thể hiệu chỉnh các khoảng chia ứng suất để đạt giá trị P20% mà không cần ngoại suy theo hình hay nội suy theo số liệu tính, tuy nhiên vẫn có cách khác dễ hơn đó là sử dụng biểu đồ Histogram.

     

    Vùng tô đậm màu vàng ở Hình 19 cho thấy giá trị P20 của TWC nằm trong khoảng từ 9271,19 – 9472,39psi. Theo đó có thể tìm được P20 = 9350,98psi dựa vào công thức nội suy tuyến tính (ô màu xanh).

     

    Từ Hình 20 xác định được những khoảng độ sâu có độ bền TWC nhỏ hơn đường P20, những khoảng không nên thực hiện bắn mở vỉa đó là 3.425 – 3.465m, 3.550 – 3.580m và 3.670 – 3.700m.

     

    • Xác định bằng đồ thị CDD [8]

    Như vậy khi áp suất vỉa pr suy giảm đi 6.000psi, áp suất vỉa lúc này là 4.264psi. Nếu tiếp tục khai thác với áp suất chênh lệch là 1.500psi từ vỉa vào giếng thì lúc này xuất hiện các vùng sinh cát ở các khoảng độ sâu 3.425

     

    • 465m, 3.550 – 3.580m và 3.670 – 3.700m. Đây là các khoảng độ sâu dự báo không nên bắn mở vỉa.

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    47

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    4.2. Dự báo sinh cát khi khai thác tại một độ sâu

     

    Từ các dữ liệu đầu vào và các giá trị được nội suy cho giếng P, tiến hành chạy mô hình SandPit3D trên phần mềm IP. Kết quả như Hình 23.

     

    Hình 23 cho thấy giá trị áp suất vỉa tới hạn (CRP) từ khoảng 1.200 – 1.600psi thay đổi từ góc bắn mở vỉa 0 – 90o. Thay đổi góc bắn mở vỉa từ 0 – 90o, cho thấy góc bắn mở vỉa càng cao thì vùng an toàn càng lớn (vùng sinh cát càng nhỏ) và giá trị áp suất vỉa tới hạn CRP cũng nhỏ theo và ngược lại.

     

    Qua mô hình áp suất sinh cát trên Hình 24, nhóm tác giả rút ra kết luận sau:

     

    Nhận xét cụ thể tại Hình 24 cho thấy, giả sử giếng P này rơi vào trường hợp 1 và 2, cả 2 giếng đều có chung áp suất vỉa lúc này là 2.200psi, tuy nhiên giếng trong trường hợp 1 là an toàn và không sinh cát, còn giếng trong trường hợp 2 nằm trong vùng sinh cát vì có cùng áp suất vỉa nhưng áp suất đáy giếng lại khác nhau. Điều này cho thấy,

     

    • cùng điều kiện vỉa (cùng áp suất vỉa) nếu khai thác với độ chênh áp lớn như trường hợp 2 sẽ có nguy cơ sinh cát cao hơn và ngược lại.

    Tương tự khi giếng này rơi vào trường hợp 3 và 4, tuy cùng áp suất đáy giếng nhưng áp suất vỉa khác nhau và trường hợp giếng 3 nằm trong vùng an toàn, giếng 4 nằm trong vùng sinh cát. Như vậy, áp suất vỉa là một thông số ảnh hưởng rất lớn đến nguy cơ sinh cát. Trong quá trình khai thác, nếu áp suất vỉa giảm thì nguy cơ sinh cát càng cao. Chính vì vậy, giải pháp duy trì áp suất vỉa bằng biện pháp bơm ép nước sẽ có tác dụng hạn chế nguy cơ sinh cát.

     

    • Khảo sát khi độ bền TWC nhỏ nhất

    Khi mô hình đạt TWC (min), lúc này ứng suất thành hệ thấp nhất nên mô hình có vùng an toàn nhỏ hơn, vùng sinh cát lớn hơn so với các hình khảo sát trước đó. Nếu bắn mở vỉa ở vùng có TWC (min) này khai thác sẽ có nguy cơ sinh cát cao hơn, cụ thể là khi khai thác rơi vào thời điểm tại áp suất

     

     

     

    Hình 23. Mô hình áp suất sinh cát theo các góc bắn mở vỉa khác nhau

     

     

     

    Hình 24. Phân tích vùng sinh cát và vùng không sinh cát theo góc bắn mở vỉa 30o

     

     

     

    Hình 25. Khảo sát mô hình áp suất sinh cát khi TWC_Min

     

     

    48       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

     

     

     

    Hình 26. Mô hình áp suất sinh cát khi TWC_Max (Clip curves)

     

    Bảng 1. Số liệu vòng đời mỏ theo chu kỳ 5 năm

     

    Năm

    Áp su t v a (psi)

    BHFP (psi)

    0

    9.162

    7.162

    5

    7.762

    5.762

    10

    6.362

    4.362

    15

    4.962

    2.962

    20

    3.562

    1.562

    25

    2.162

    162

         
         

    Hình 27. Vòng đời khai thác của giếng P

     

    vỉa nhỏ hơn từ 6.000psi và có áp suất đáy giếng tới hạn nhỏ hơn trong khoảng 2.800 – 3.300psi thì giếng sẽ sinh cát.

     

    • Khi độ bền TWC cực đại

    Mô hình đang khai thác hoàn toàn nằm trong vùng an toàn và không sinh cát dù khai thác ở bất kỳ áp suất hay góc bắn mở vỉa nào do độ bền TWC rất lớn (13.900psi).

     

    4.3. Dự báo sinh cát cho giếng P sau khoảng thời gian khai thác

     

    Nhóm tác giả mô phỏng biểu đồ sinh cát cho giếng P (Bảng 1), với áp suất khi bắt đầu khai thác là 9.162psi, độ giảm áp từ vỉa vào giếng của mỗi năm là 2.000psi và sự sụt giảm áp suất vỉa theo chu kỳ mỗi 5 năm là 1.400psi.

     

    Hình 27 cho thấy chỉ trong 5 năm cuối, khi áp suất vỉa giảm sâu, giếng P hoàn toàn nằm trong vùng có khả năng sinh cát cao, dù bất kỳ góc bắn mở vỉa nào giếng cũng đều có khả năng sinh cát.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả nội suy Kriging cho thấy số liệu nội suy. Kết quả cho thấy mô hình Variogram được lựa chọn cho bộ dữ liệu của UCS và TWC đều là mô hình cầu (Spherical).

     

    Nghiên cứu đã xây dựng mô hình áp suất sinh cát thay đổi theo từng góc bắn mở vỉa từ 0 – 90o trên phần mềm IP. Các kết quả được tổng hợp như sau:

     

    Sinh cát sẽ xảy ra khi áp suất vỉa nhỏ hơn khoảng 2.500 – 3.500psi, tùy vào từng góc bắn mở vỉa khác nhau.

     

    Khi góc bắn mở vỉa từ 0 – 30o, vùng sinh cát dao động khi áp suất vỉa nhỏ hơn 3.500psi và áp suất đáy giếng nhỏ hơn

     

    1.600psi. Khi góc bắn mở vỉa từ 60 – 90o, cho thấy vùng có khả năng sinh cát nhỏ hơn, dao động ở vùng có áp suất vỉa nhỏ hơn khoảng 3.000psi và áp suất đáy giếng nhỏ hơn khoảng 1.300psi.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Trương Xuân Luận. Lý thuyết địa thống kê. Đại học Mỏ – Địa chất.
    1. Mohan Kelkar, GodofredoPerez. Applied geostatistics for reservoir characterization. Society of Petroleum 2002.
    1. Completion technology for unconsolidated formations. Rev. 2. 1995.

     

    1. Abbas Khaksar,  Philip  Geoffrey

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    49

     

    THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ

     

    Taylor, Zhi Fang, Toby John Kayes, Abraham Salazar, Khalil Rahman. Rock strength from core and logs: Where we stand and ways to go. Europec/Eage Conference and Exhibition, Amsterdam, Netherlands. 8 – 11 June, 2009.

     

    1. S.M.Willson, Z.A.Moschovidis, J.R.Cameron, I.D.Palmer. New model for predicting the rate of sand production. SPE/ISRM Rock Mechanics Conference, Irving Texas. 20 – 23 October 2002.
    1. Erling Fjaer, R.M.Holt, P.Horsrud, A.M.Raaen, R.Risnes. Petroleum related rock mechanics (2nd edition). Developments in Petroleum Science. 2008.
    1. Khalil Rahman, Abbas Khaksar, Toby Kayes. An integrated geomechanical and passive sand-control approach to minimizing sanding risk from openhole and cased-and-perforated wells. SPE Drilling & Completion. 2010; 25(2): p.155 – 167.
    1. Gbenga Folorunso Oluyemi, M.Babs Oyeneyin. Analytical critical drawdown (CDD) failure model for real time sanding potential prediction based on hoek and brown failure criterion. Journal of Petroleum and Gas Engineering. 2010; 1(2): p. 16 – 27.
    1. Michael J.Economides, Tony Martin. Modern fracturing – enhancing natural gas production. Energy Tribune Publishing. 2007.
    1. Colin McPhee, Rick Lemanczyk, Lynne Morgan, Philip McCurdy, Derek Littlejohn, Gill Daniels, Juan Carlos Chavez. Appendix 1: Geomechanical models methods and procedures. 2007.
    1. Jonathan Bellarby. Well completion design. Developments in Petroleum Science. 2009.
    1. Michael J.Pyrcz, Clayton V.Deutsch. Geostatistical reservoir modeling. Oxford University Press. 2014.

    APPLYING GEOSTATISTICAL APPROACH TO PREDICT GEOMECHANIC PARAMETERS AND APPLYING SANDPIT3D MODEL TO PREDICT SAND PRODUCTION FOR A PRODUCTION WELL IN NAM CON SON BASIN

     

    Ta Quoc Dung1, Le The Ha2, Nguyen Tien Dat1

    1Ho Chi Minh City University of Technology (HCMUT)

    2Vietnam Oil and Gas Group

    Email: [email protected], [email protected]

     

    Summary

     

    The paper applies the geostatistical approach to predict geomechanical parameters for a production well in the Nam Con Son basin. The results of the geomechanical model will be used to evaluate the sand production ability of the well according to the shear stress calculation model of S. M. Wilson based on the Mohr-Coulomb standard. The critical well bottom pressure for each reservoir pressure at different times is also calculated to provide a reasonable production regime in the reservoir management process.

     

    Key words: Geostatistics, Variogram, Kriging, geomechanical model, Sandpit3D, Nam Con Son basin.

     

     

     

    50       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Thuyết minh thi công

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/thuyet_minh_thi_cong_duong_ky_anh_6306.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thuyết minh thi công

                       Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                                 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

                                                                             Hà Nội, ngày 01  tháng 12 năm 2013

     

    THUYẾT MINH THI CÔNG

     

    Công trình: Thi công tuyến cống đoạn Km 587-Km 592.

    Dự án : Đầu tư xây dựng công trình mở rộng quốc lộ 1

    Gói thầu số 07 : Km 587+00 – Km597+549

    Địa điểm: Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    Nhà thầu phụ :

    I – Các căn cứ.

    – Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của dự án đã được duyệt

    – Yêu cầu kỹ thuật của dự án.

    – Các qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam hiện hành

    – Giá ca máy thi công  và nhân công theo giá thực tế tại địa bàn Xã Kỳ Nam – Huyện Kỳ Anh – Tỉnh Hà Tĩnh

    – Khối lượng thi công dự kiến theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo nghiệm thu tại hiện trường

    – Kết quả kiểm tra thực tế mặt bằng hiện tại công trình

    – Năng lực thực tế về con người và thiết bị của  Công ty CP thiết bị và phát triển hạ tầng và Công ty TNHH xây dựng Thiên Long.

    II – Biện pháp thi công thực tế

            Toàn bộ tuyến cống trải dài từ Km587 đễn Km 592, các cống bản khẩu độ lớn có dòng nước chảy xiết và lưu lượng lớn. Công trình vừa thi công vừa phải đảm bảo giao thông an toàn trên quốc lộ1. Tiến độ thi công rất ngắn, yêu cầu kỹ thuật cao.

          Trên cơ sở hồ sơ thiết kế và thực tế hiện trường hai Nhà thầu phụ đề xuất phương án thi công tuyến cống như sau :

          Để đáp ứng tiến độ chung, toàn bộ tuyến cống do hai đơn vị  thầu phụ chia làm hai mũi cùng thi công là

         Nhà thầu chính triển khai công tác chuẩn bị cho công trình, chịu trách nhiệm làm việc trực tiếp với Chủ Đầu Tư và Tư Vấn Giám Sát và chính quyền địa phương về mọi vấn đề của dự án. Hai nhà thầu phụ chính thức bắt đầu thi công sau khi công tác chuẩn bị đã xong và có yêu cầu chính thức của nhà thầu chính.

    1-Công tác chuẩn bị

         Sau khi ký hợp đồng, Nhà thầu phụ sẽ tập kết nhân lực và thiết bị thi công. Nhà cho công nhân và kho chứa thiết bị thi công nhỏ sẽ do Nhà thầu chính cung cấp. Dự kiến bố trí hai khu lán trại tạm cho 2 đội thi công cống, từ Km587 đến Km 589 bộ trí 1 khu lán trại, từ Km 590 đến Km 592 bố trí 1 khu lán trại. Mỗi khu lán trại đảm bảo chỗ ở cho 20 người. Tại các vị trí thi công cống có tập kết vật tư Nhà thầu phụ sẽ bố trí bảo vệ ban đêm. Cống sẽ được thi công dứt điểm cuốn chiếu từng cái một.

         Nguồn điện và nước thi công Nhà thầu phụ sẽ tự cung cấp, tuy vậy Nhà thầu chính sẽ cố gắng tối đa để có nguồn điện lưới 3 pha nhằm giảm giá thành chung. Bãi đúc cấu kiện sẽ do Nhà thầu chính chuẩn bị và giao cho Nhà thầu phụ thi công. Nhà thầu phụ sẽ tính toán yêu cầu vật tư chi tiết cho từng vị trí cống để Nhà thầu chính cung cấp. Công tác đảm bảo an toàn trên tuyến quốc lộ 1, công tác thí nghiệm vật liệu đầu vào, công tác đo đạc định vị công trình do Nhà thầu chính đảm nhiệm. Dự kiến có hai đội thi công cống đồng thời, công tác đúc sẵn tiến hành song song với công tác thi công cống.

    2-thiết bị thi công:

    Nhà thầu phụ sẽ sử dụng các loại thiết bị sau:

    + Máy đào……………………… 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Ôtô vận chuyển……………. 01 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Đầm cóc……………………… 02 cái ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Cần cẩu bánh lốp 10 T…..01 cáI ( Nhà thầu chính cung cấp )

    + Máy bơm nước…………….. 02 cái

    + Máy hàn …………………….. 02 cái

    + Máy trộn bê tông 250l….. 02 cái

    + Nhân công ………………….. 20 người

    + Máy phát điện………………. 01 bộ

    + Đầm bàn + dầm dùi………04 bộ

    + Búa căn khí nén…………..01 bộ

    + Máy nén khí ……………..01 bộ

    + Máy phát điện…………….01 bộ

    + Các dụng cụ cầm tay khác như máy khoan bê tông, máy mài

     

    3- Trình tự thi công chung:

         Công tác giải phóng mặt bằng của cống nào xong sẽ  thi công ngay. Thi công thành hai mũi song song với công tác đúc sẵn tại bãi đúc. Thi công dứt điểm từng cống để phục vụ công tác đắp đất.

    a – Chuẩn bị thi công: Các ống cống và đế cống được mua tại các nhà cung cấp chuyên nghiệp và vận chuyển về tập kết tại từng vị trí thi công cống.

    b – Đúc các tấm đan cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác tại bãi đúc công trường

    c – Đảm bảo giao thông trên tuyến bằng cọc tiêu có phản quang. Định vị vị trí cống trên tuyến đường.

    d – Thi công cọc lasen chống sụt lở làn đường đang lưu thông

    e – Phá dỡ các tường cánh, sân cống cũ bằng búa căn khí nén kết hợp nhân lực

    f – Đào đất nền móng cống bằng máy đào kết hợp thủ công đào san sửa hố móng.

    g – Thi công đê vây và lắp ống nhựa D 200 thoát nước tạm để hướng dòng và bơm khô nước hố móng.

    h – Thi công móng cống, lắp đặt đế cống. Thi công tường cống bản

    i – Cẩu lắp đốt cống và thi công mối nối. Thi công bê tông tại chỗ cống hộp

    k – Lấp đất mang cống. Cẩu lắp tấm đan, đắp đất sau cống, thi công bản giảm tải cống bản

    l – Thi công thượng, hạ lưu cống.

    m – Thanh thải đê vây, tháo ống nhựa D 200 cống tạm. Hoàn trả dòng chảy. Nhổ cọc ván thép và hoàn trả mặt bằng để đắp đất khu vực cống.

    4- Biện pháp thi công chi tiết.

    –        Công tác đúc sẵn :

        Công tác đúc sẵn các dầm bản cống bản và các cấu kiện đúc sẵn khác đước tiến hành tại bãi đúc. Tại đây bố trí máy trộn bê tông 250 l và các thiết bị khác đảm bảo dây chuyền đúc sẵn. Bãi đúc được lu lèn và láng vữa xi măng để đảm bảo độ phẳng theo yêu cầu.

    –        Thi công cọc lasen chống sụt đất:

           Sau khi định vị chính xác vị trí cống  tiến hành thi công đóng cọc lasen L=6m bằng búa rung 45 KW hoặc máy ép cọc ván thủy lực không tiếng ồn. Công việc này Nhà thầu chính làm.

    –        Công tác phá dỡ kết cấu cũ và đào đất.

    Phá dỡ kết cấu cũ bằng búa căn khí nén. Vật liệu thải được chở đi tập kết tại vị

    trí đổ thải qui định bằng ô tô 12 T. Đào đất bằng máy đào gầu 0,6 m3, đất thải tập kết tại vị trí đổ thải bằng ô tô 12 T. Nhân lực đào san sửa kết hợp với máy đào. Phần đào đất bằng máy đào do nhà thầu chính làm.

    –        Đắp đê quai dẫn dòng:

        Đắp đê quai, dẫn dòng hợp lý bằng cống tạm bằng ống nhựa D 200 đối với các cống đang phục vụ tưới tiêu, thoát nước ngang. Tùy theo lưu lượng nước chảy của từng cống để đặt 1 hoặc nhiều ống thoát nước tạm D 200. Vị trí tim đê quai cách mép ngoài công trình thượng hạ lưu tối thiểu 3 m. Bơm khô nước, đào san sửa hố móng đạt cao độ và kích thước yêu cầu, định vị chính xác vị trí cống  để thi công móng cống. Khi hố móng được  TVGS kết luận là đạt tiêu chuẩn về kích thước hình học, cao độ, độ bằng phẳng, địa chất ổn định … thì tiến hành vệ sinh sạch sẽ đáy móng cống. Tiến hành nghiệm thu kích thước hình học của đáy hố móng.

    –        Thi công móng cống, tường cống bản

         Móng cống được thi công khi hố đào được nghiệm thu kích thước hình học. Thi công lớp đá dăm lót và bê tông lót M 100 có chiều dày 10cm dưới ống cống và đệm sân cống. Ván khuôn để đổ bê tông được lắp ghép đúng yêu cầu kỹ thuật, được chống ngang đảm bảo độ vững chắc, kích thước hình học. Bề mặt ván khuôn phẳng nhẵn. Tiến hành đổ bê tông móng phạm vi tường đầu, tường cánh, chân khay. Bê tông móng cống M150 và bê tông tường cống bản được trộn bằng máy trộn 250L, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn, không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Thực hiện bảo dưỡng bê tông trong 7 ngày. Các mặt ngoài của bê tông được tưới nước và giữ độ ẩm muộn nhất là bắt đầu từ 10-12 tiếng sau khi đổ bê tông xong. Phần móng cống BTCT M200 nằm trong phạm vi ống cống được thi công ở xưởng đúc và lắp ghép nhờ cẩu 10T. Tiến hành nghiệm thu móng bê tông đổ tại chỗ và lắp ghép trước khi lắp đặt ống cống.

    –        Thi công lắp đặt ống cống và đổ bê tông tại chỗ cống hộp

         Định vị lại chính xác vị trí cống: Bằng máy cao đạc và kinh vĩ, chuyển sang các mốc phụ ở hai đầu cống để tiện cho việc thi công cũng như kiểm tra. Được phép của TVGS và Chủ Đầu Tư, hạ chỉnh ống cống bằng cẩu 10T vào vị trí, kết hợp với máy cao đạc và máy kinh vĩ để đảm bảo độ chính xác và kích thước hình học, độ dốc dọc… theo yêu cầu. Thi công mối nối ống cống bằng vữa XM M100, đệm và chèn vữa bê tông. Thi công mối nối ống cống giữa hai đốt cống bằng mối nối xi măng. ống được đặt cẩn thận, ống nối ngoài ở trên, gờ đầu ống được đưa toàn bộ vào ống nối ngoài bên cạnh. Trước khi đặt các ống tiếp theo nửa dưới của ống nối ngoài của đoạn trước được trát bằng xi măng vào bên ngoài. Với dộ dày thích hợp đem lại bề mặt trong của ống tiếp giáp bằng phẳng và đều đặn. Đồng thời nửa trên của gờ đầu ống của ống tiếp theo được trát bằng vữa để tạo đường vân quanh mối nối. Bên trong mối nối được hoàn thiện nhẵn, được bảo dưỡng bằng bao tải và giữ độ ẩm để tránh cho các mối nối bị khô, dẫn đến hiện tượng nứt khe nối thấm qua khe nối làm ảnh hưởng đến chất lượng của cống.

         Thi công tường đầu, tường cánh, bê tông cống hộp tại chỗ, sân cống bằng bê tông xi măng mác 150, đá hộc xây vữa xi măng M 100 đổ tại chỗ. Thi công móng cống và sân cống: Đá dăm làm lớp đệm móng cống, sân cống được vận chuyển về vị trí thi công bằng xe tự đổ 12T. Lớp đá dăm đệm được san xuống hố móng bằng thủ công theo từng lớp dày 10cm – 15cm, kích thước theo đúng hồ sơ thiết kế, tưới nước đảm bảo độ ẩm theo qui định và dùng đầm cóc, đầm bàn chặt tới độ chặt yêu cầu. Lớp đệm móng bảo đảm đúng kích thước, cao độ độ chặt thiết kế, bề mặt nhẵn phẳng, đồng đều.

        – Đắp đất quanh thân cống và hai bên cống:

         Đắp đất thành từng lớp có chiều dày 15 – 20 cm sau đó dùng đầm cóc kết hợp nhân công đầm chặt  đến K=0,95. Các lớp đất đắp được thi công song song ở hai bên mang cống. Đặc biệt quan tâm đến kỹ thuật lu lèn vật liệu đắp bù dưới lớp vòm cống. Đắp đất mang tường cánh, đầu cống chỉ được tiến hành khi kết cấu cống bê tông và khối xây đã đủ cường độ cho phép .

          Cẩu lắp dầm bản cống bản bằng cần cẩu 10 T. Sau khi thi công xong thanh chống phía dưới và lắp xong dầm bản tiến hành đắp đất sau mố cống bản và đổ bê tông bản quá độ.

    –        Thi công hoàn chỉnh thượng, hạ lưu cống:

          Cao độ, kết cấu của tường đầu, tường cánh cống được xác định chính xác bằng các loại máy cao đạc, bằng hồ sơ thiết kế và bản vẽ thi công đã lập. Chi tiết các kết cấu được xác định riêng cho từng cống. Đổ đá dăm đệm, xây đá hộc vữa XM 100, lát khan đã hộc và hoàn thiện thượng, hạ lưu cống theo đúng yêu cầu thiết kế.

    – Hoàn thiện cống và nghiệm thu công trình.

         Tiến hành thanh thải đê quai, thông dòng, tháo dỡ cống tạm, đắp trả lu lèn K95 theo bản vẽ thiết kế. Nhổ cọc ván thép lasen, thanh thải mặt bằng. Tiến hành vệ sinh xung quang cống. Nghiệm thu cống để đắp đất nền đường.

     

    5- Kỹ thuật thi công chi tiết

      a- Công tác ván khuôn – đà giáo

         Ván khuôn dùng cho đổ bê tông là ván khuôn thép được chế tạo sẵn. Các bản vẽ ván khuôn – đà giáo bằng thép dùng để đổ bê tông cống được Nhà thầu chính  trình lên  TVGS phê duyệt. Các kết cấu   đảm bảo vững chắc, ổn định, thuận tiện cho việc tháo lắp và sử dụng luân chuyển được nhiều lần.

          Trước khi đưa vào đổ bê tông kiểm tra kỹ bề mặt, đảm bảo bề mặt ván khuôn thép phẳng nhẵn, đảm bảo kín khít và không bị mất nước trong quá trình đổ bê tông.

          Các độ võng, độ lún của đà giáo và ván khuôn được tính trước và được chỉ ra trong bản vẽ, các thông số này phù hợp và đảm bảo yêu cầu cho phép.

          Khi lắp dựng xong ván khuôn, tiến hành nghiệm thu việc gia công lắp đặt với Kỹ sư TVGS nhà thầu chính, khi được chấp thuận mới được chuyển các công việc tiếp theo.

          Ván khuôn và đà giáo khi tháo dỡ được bắt đầu khi bê tông đã thành hình và đạt được cường độ cho phép như Quy trình ký thuật của Dự án và được sự chấp thuận của Kỹ sư Tư vấn giám sát.

    1. Công tác gia công lắp dựng cốt thép

          Căn cứ vào hồ sơ thiết kế nhà thầu sẽ gia công các loại cốt thép tại xưởng ngoài công trường, trước khi xuất xưởng sẽ sắp xếp cốt thép của từng lô theo chủng loại riêng biệt để phân biệt cho dễ.

          Các loại cốt thép mua về đều được sự chấp thuận của Kỹ sư TVGS cho phép sử dụng loại thép đó mới tiến hành tập kết về công trường và gia công.

          Cốt thép được lưu giữ và bảo quản trong nhà kho kín, tránh tiếp xúc với ánh sáng và thời tiết bên ngoài gây rỉ sét.

          Cấu kiện cốt thép được gia công xong, khi chưa sử dụng tới được bảo quản kỹ càng và cẩn thận tại kho có nền cao ráo, không bị ngập nước, không bị ẩm ướt, có mái che chắn để không bị mưa gió làm ảnh hưởng đến chất lượng cốt thép.

          Việc lắp dựng cốt thép sẽ tuân thủ theo đúng bản vẽ thiết kế, các bộ phận nào lắp trước, bộ phận nào lắp sau. Công tác cốt thép được thực hiện bởi công nhân có tay nghề cao dưới sự giám sát của kỹ sư hiện trường.

         Độ chính xác của việc gia công và lắp đặt cốt thép tuân thủ và đảm bảo đúng các quy định trong quy trình thi công cầu cống hiện hành.

    Kết thúc công tác cốt thép có biên bản nghiệm thu mới được tiến hành đổ bê tông.

    1. Công tác bê tông

           Bê tông được trộn bằng máy trộn 250L ngay, mỗi mẻ trộn đều được ghi lại các số liệu vật tư dùng trộn bê tông, so sánh với số liệu của mẫu thiết kế. Máy trộn được kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ nhất là bên trong thùng trộn , không để các vật liệu khác lẫn vào.

          Trước khi đổ bê tông, ván khuôn được làm sạch bôi trơn, chống dính và làm nhẵn bề mặt khi ván khuôn tiếp xúc với bê tông.

         Trước khi trộn cần lấy mẫu cốt liệu để kiểm tra độ ẩm thực tế nhằm khống chế lượng nước một cách thích hợp.

          Thực hiện đổ bê tông bằng máng rót và đầm bằng đầm dùi. Dùng thủ công gõ cạnh ván khuôn để đảm bảo độ nhẵn mịn phía ngoài thành. Bê tông được đổ vào máng từ phễu trộn đảm bảo độ rơi tự do không quá 1,00m.

         Trong điều kiện có mưa, việc đổ bê tông tạm dừng lại trừ khi có các biện pháp thích hợp như che bạt.

    1. Công tác xây đá hộc

           Đá hộc sử dụng xây trong công tác phải có nguồn gốc rõ ràng, đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định của Dự án và được TVGS đồng ý, cho phép sử dụng. Làm sạch tất cả các viên đá một cách kỹ lưỡng và làm ẩm trước khi xây. Vệ sinh bề mặt thi công sạch sẽ. Chiều dày vữa nền và mạch xây giữa các viên đá được tuân theo đúng  quy định kỹ thuật của Dự án. Đặt các viên đá phải được sao cho chúng tạo nên đường song song theo từng lớp. Các viên đá được xếp sao cho bề mặt lộ ra ngoài phải tuơng đối bằng phẳng.

          Trong quá trình thi công chú ý bịt các mối nối với các kết cấu liền kề để tránh hiện tượng xói và tạo thoát nước. Tại các nơi phải bố trí các mối nối xiên, đổ thẳng vữa vào các mối lộ và nền đến chiều sâu yêu cầu. Làm sạch bề mặt đá hộc xây khi vữa còn ướt.

    III – Thuyết minh tính toán đơn giá

        Khối lượng chào thầu theo đúng khối lượng trong bản vẽ thiết kế đã được duyệt, khối lượng thanh toán theo khối lượng nghiệm thu tại hiện trường.

            Đơn giá chào thầu được lập trên cơ sở định mức dự toán hiện hành có tham khảo đơn giá thực tế khoán nhân công và máy hiện nay trong ngành xây dựng cầu đường.

       Đơn giá chào thầu chỉ bao gồm chi phí nhân công và máy ( Chi phí trực tiếp ) không có chi phí vật tư chính và vật tư phụ và chưa có thuế VAT 10 %.

    • Đơn giá đắp đất, cẩu lắp cấu kiện: Nhà thầu chính cung cấp đầm cóc và cần cẩu 10 T nên trong đơn giá không tính chi phí máy.
    • Đơn giá gia công thép tròn : Nhà thầu chính cấp thép tròn, que hàn, giây buộc.
    • Công tác đào đất bằng máy do nhà thầu chính thực hiện, Nhà thầu phụ chỉ đào san sửa thủ công và chịu trách nhiệm đắp đê vây, lắp ống nhựa D 200 dẫn dòng và bơm nước, nhà thầu chính cấp ống nhựa D 200.
    • Trong công tác đổ bê tông nhà thầu phụ chịu trách nhiệm máy trộn, máy hàn, máy đầm, máy cắt uốn thép và ván khuôn.
    • Trong quá trình thi công Nhà thầu chính có yêu cầu bổ sung khối lượng hai bên sẽ thống nhất đơn giá bổ sung bằng phụ lục hợp đồng trước khi thi công.
    • Đơn giá nhân công công nhật cho công việc giản đơn sử dụng thợ phụ ( Bậc 3/7 ) là : 220.000 đ/ ngày.
    • Đơn giá bốc vật tư lên xuống ô tô từ kho : 120.000 đ/ tấn
    • Chi phí bảo vệ hiện trường tại vị trí thi công cống Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm.
    • Lán trại thi công của mình do Nhà thầu phụ chịu trách nhiệm. Nhà thầu phụ tự chịu trách nhiệm tổ chức bếp ăn tập thể và sinh hoạt hàng ngày.
    • Chi phí chuyển quân, thiết bị do nhà thầu phụ lo.
    • Bãi đúc cấu kiện do Nhà thầu chính cấp vật tư và thuê nhà thầu phụ thi công.
    • Nhà thầu chính giao mặt bằng, cấp hồ sơ kỹ thuật, đo đạc định vị công trình. Nhà thầu chính cho nhà thầu phụ mượn máy thủy bình tự kiểm tra cao độ trong quá trình thi công.
    • Hồ sơ công trình, thí nghiệm vật liệu…vv do Nhà thầu chính làm, Nhà thầu phụ chỉ có trách nhiệm triển khai thi công trên cơ sở hồ sơ thiết kế, nghiệm thu công việc với Kỹ sư của Nhà thầu chính, Nhà thầu chính có trách nhiệm nghiệm thu với tư vấn giám sát và ban A và chịu các chi phí quan hệ khác.
    • Ngoài công việc của mình, Kỹ sư của nhà thầu phụ sẽ hỗ trợ tối đa các công việc khác trên hiện trường cũng như nội nghiệp theo yêu cầu của Nhà thầu chính. Hai bên sẽ kết hợp tối ưu trong công việc nhằm phục vụ công việc chung của Dự án.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-K%E1%BA%BET-C%E1%BA%A4U-V%C3%80-V%E1%BA%ACT-LI%E1%BB%86U-T%E1%BA%A0O-T%E1%BA%A4M-H%E1%BA%A4P-PH%E1%BB%A4-%C4%90%E1%BA%BEN-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-NHI%E1%BB%86T-C%E1%BB%A6A-B%E1%BB%98-THU-N%C4%82NG-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-M%E1%BA%B6T-TR%E1%BB%9CI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT CẤU VÀ VẬT LIỆU TẠO TẤM HẤP PHỤ ĐẾN THÔNG SỐ NHIỆT CỦA BỘ THU NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

     

    Đỗ Minh Cường*, Nguyễn Thị Ngọc, Trần Đức Hạnh, Đặng Duy Phước Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

     

    Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu khả năng nâng nhiệt của bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời với kết cấu và vật liệu khác nhau là hết sức quan trọng để có cơ sở khoa học tính toán lựa chọn vật liệu và kết cấu bộ thu hợp lý cho các thiết bị ứng dụng nhiệt năng lượng mặt trời. Với mục đích này, ba thí nghiệm đã được thiết lập: thí nghiệm 1 xác định ảnh hưởng các góc nghiêng (20, 30 và 40o); thí nghiệm 2 xác định ảnh hưởng các vật liệu (tôn sống V sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn); và thí nghiệm 3 xác định ảnh hưởng độ cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu năng lượng mặt trời. Các dụng cụ đo được sử dụng để xác định sự biến thiên nhiệt độ tại các vị trí xác định khi kết cấu và vật liệu thay đổi. Kết quả chỉ ra rằng trong bộ thu nhiệt không khí đối lưu tự nhiên, với cùng một diện tích thu nhiệt, kết cấu và vật liệu khác nhau cho khả năng thu nhiệt khác nhau: nhiệt độ không khí sau bộ thu tăng 3oC khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu tăng từ 20o đến 40 o; Nhiệt độ không khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là vật liệu tôn sống V sơn đen và tấm fibro sơn đen sai khác nhau không lớn và luôn cao hơn trường hợp sử dụng tấm fibro không sơn đen đến 17oC; Khả năng nâng nhiệt không khí của bộ thu tăng khi tăng chiều cao lắp đặt. Những kết quả này cần được chú ý khi ứng dụng các bộ thu nhiệt phẳng năng lượng mặt trời.

     

    Từ khóa: Bộ thu nhiệt, tấm fibro, năng lượng mặt trời, tôn sơn đen.

     

    Nhận bài: 18/03/2019        Hoàn thành phản biện:  26/03/2019                    Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Năng lượng mặt trời (NLMT) là nguồn năng lượng sạch, miễn phí và vô tận. Nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Sản xuất và ứng dụng nguồn nhiệt từ NLMT đã được ứng dụng từ lâu và đang là kỹ thuật đầy hứa hẹn nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng trên thế giới trong khi các nguồn năng lượng nhiệt khác đang ngày càng cạn kiệt.

     

    Hiện tại, đã có nhiều bộ thu nhiệt NLMT được nghiên cứu lắp đặt với nhiều lĩnh vực ứng dụng như bộ thu nhiệt cho hệ thống sấy hay sưởi ấm, bộ gia nhiệt nước nóng… trong đó bộ thu phẳng được ứng dụng rộng rãi bởi nó có cấu tạo đơn giản, tuy nhiên hiệu suất thu nhiệt thấp, được ứng dụng trong trường hợp cần nhiệt độ trung bình hoặc thấp, năng lượng từ bức xạ mặt trời làm nóng dòng khí hoặc dung dịch lỏng qua bộ thu được đưa đến các bộ trao đổi nhiệt khác (Garg và Adhikari, 1999; Belusko và cs., 2007).

     

    Nhiều nghiên cứu đã triển khai để nâng cao hiệu suất bộ thu như thay đổi vật liệu hấp thụ, tăng diện tích truyền nhiệt (Yeh và Ting, 1986; Khawagianh và cs., 2011; Goldstein và Sparrow, 1976; Gao và cs., 2000; Chaube và cs., 2005), thay đổi chiều dòng khí và sử dụng nhiều vách ngăn (Yeh và cs., 2000), hay thay đổi số kênh dẫn khí (Naphon, 2005); thay đổi vật liệu tấm hấp thụ (Singh và cs., 1982) để đo lường các thông số nhiệt, đặc biệt là nhiệt độ dòng khí sau bộ thu.

     

    1209

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    Hiện nay ở vùng nông thôn Việt Nam, tấm lợp fibro ximăng đang được sử dụng phổ biến bởi đây là tấm lợp có nhiều ưu điểm như bền với môi trường kiềm và axit, chịu mưa nắng tốt, không bắt cháy, không ồn và giá thành rất rẻ… Trong nghiên cứu này, tấm fibro ximăng được sử dụng để làm tấm hấp thụ trong bộ thu nhiệt, để so sánh với vật liệu tấm hấp thụ khác; kết cấu bộ thu cũng được thay đổi để đánh giá khả năng nâng nhiệt của nó, kết quả được phân tích, so sánh và đánh giá bằng thực nghiệm.

     

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Vật liệu nghiên cứu

    Ba bộ thu nhiệt (kích thước 1,0 x 0,5 x 0,1m) được chế tạo và lắp đặt để tiến hành thí nghiệm. Vật liệu chế tạo bộ thu gồm khung thép V liên kết hàn; cách nhiệt sử dụng xốp dày 0,05m; vật liệu tấm hấp thụ sử dụng tôn sống V sơn đen, tấm fibro sơn đen và không sơn; tấm đậy trong suốt sử dụng kính xây dựng dày 5mm. Mô hình thí nghiệm thể hiện trên hình 1a.

     

     

     

    Hình 1. Hệ thống thí nghiệm: a) Hình ảnh mô hình thí nghiệm; b) Các thiết bị đo lường.

     

    1. Tấm hấp thụ; 2. Tấm đậy trong suốt là kính xây dựng.

    2.2. Bố trí thí nghiệm

     

    Các thí nghiệm được tiến hành tại Trường Đại học Nông Lâm Huế, toạ độ địa lý là 107°31′ – 107°38′ kinh Ðông và 16°30′-16°24′ vĩ Bắc; Thời gian bắt đầu thí nghiệm vào lúc 9h00 đến 16h30 từ ngày 22 – 24 tháng 8 năm 2018.

     

    Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của góc nghiêng đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức ứng với 3 góc nghiêng (20, 30 và 40o) và 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các vật liệu khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 loại vật liệu (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và tấm fibro ximăng màu xám không sơn) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

    Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng các chiều cao khác nhau đến các thông số nhiệt. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 nghiệm thức ứng với 3 chiều cao (0,2; 0,6 và 1,0m) với 3 lần lặp lại (3 bộ thu nhiệt).

     

    1210

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Bộ thu được đặt nghiêng theo hướng Nam. Khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; Sử dụng thiết bị đo nhiệt độ để đo nhiệt độ không khí đầu ra của bộ thu, nhiệt độ mặt kính và nhiệt độ mặt tấm hấp thụ, đo cường độ bức xạ mặt trời khi kết cấu và vật liệu của bộ thu được thay đổi.

     

    Trong quá trình thí nghiệm, cường độ bức xạ mặt trời, nhiệt độ, tốc độ không khí được xác định sử dụng các thiết bị (hình 1b) để đo cường độ bức xạ mặt trời Tenmars TN-206 – Đài Loan (độ chính xác 0,1 W.m-2); Thiết bị đo vi khí hậu EN100 – Đài Loan (độ chính xác 1,2oC); Thiết bị đo đa năng ADD81 để đo nhiệt độ qua cảm biến nhiệt (độ chính xác 0,1oC); Thiết bị đo nhiệt độ lazer Sealey VS905 – Anh (độ chính xác 0,1oC).

    2.3. Xử lý số liệu

     

    Số liệu thu thập được xử lý và thể hiện trên các biểu đồ sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2013, các kết quả được phân tích, so sánh, đánh giá.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1 Ảnh hưởng của góc nghiêng lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Các thí nghiệm được bắt đầu vào lúc 9h00 đến 16h30, khoảng thời gian mỗi lần đo là 30 phút; nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, trời nắng. Kết quả biến thiên nhiệt độ theo kết cấu bộ thu và cường độ bức xạ mặt trời thể hiện trên Hình 2, 3, 4.

     

     

    Hình 2. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ không khí sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 2 cho thấy, cường độ bức xạ mặt trời tăng liên tục và nhanh từ 9h00 đến 12h30 và bắt đầu giảm dần từ 13h00 đến 16h30, cường độ bức xạ đạt cao nhất là 945W/m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy biến thiên nhiệt độ không khí thu được sau bộ thu phụ thuộc vào góc nghiêng lắp đặt: góc nghiêng lắp đặt là 30o cho nhiệt độ cao nhất xác định từ 9h00 đến 11h30, tuy nhiên từ 12h00 đến chiều, nhiệt độ không khí sau bộ thu đạt cao nhất ở bộ thu có góc nghiêng lắp đặt là 40o; nhiệt độ không khí sau bộ thu thấp nhất (cả ngày) cho bộ thu có góc nghiêng là 20o so sánh với 30 và 40o nghiêng của bộ thu.

     

    Nhiệt độ không khí tự nhiên đo được cũng cho thấy tăng từ 9h00 đến 13h00, giảm từ 13h30 đến 16h30, trung bình cả ngày khoảng 30oC. Tốc độ gió tự nhiên rất thấp và thay đổi liên tục, tốc độ trung bình là 0,2 m/s.

     

    Nhiệt độ đo được tại mặt kính cũng biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời trong ngày (Hình 3). Kết quả cho thấy nhiệt độ mặt kính cao nhất khi góc nghiêng lắp đặt bộ thu là 20o và giảm dần khi góc lắp đặt tăng. Tuy nhiên sự sai khác này là không lớn, đặc biệt là lúc sáng sớm và chiều muộn.

     

    1211

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

     

     

    Hình 3. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    Thí nghiệm cũng tiến hành đo nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nhiệt. Kết quả cho thấy nhiệt độ cao nhất đo được là 78,2oC, cao hơn nhiệt độ không khí tự nhiên đến hơn 45oC. Có sự sai khác nhiệt độ giữa các tấm hấp thụ, tuy nhiên không lớn (khoảng 5oC) xác định tại thời điểm 12h30 và sự sai khác này giảm dần khi cường độ bức xạ giảm dần. Nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ của bộ thu nghiêng 20o cao nhất và thấp nhất với bộ thu có góc nghiêng 40o. Điều này chỉ ra rằng, khi có sự trao đổi nhiệt lớn hơn giữa dòng khí và bề mặt tấm hấp thụ do tốc độ đối lưu tự nhiên lớn hơn (bộ thu có góc nghiêng 40o) thì thu được nhiệt độ dòng khí cao hơn làm cho nhiệt độ tấm hấp thụ giảm; đối với bộ thu có góc nghiêng lắp đặt 20o cho nhiệt độ tấm hấp thụ cao hơn bởi tốc độ dòng khí đối lưu tự nhiên thấp dẫn đến sự trao đổi nhiệt giữa không khí và tấm hấp thụ hạn chế. Sự sai khác này không đáng kể khi sáng sớm và chiều muộn.

     

    Mặt khác góc nghiêng lắp đặt bộ thu có ảnh hưởng đến góc tới tia tới trực xạ BXMT đến bề mặt bộ thu, làm ảnh hưởng đến các thông số nhiệt của bộ thu.

     

     

    Hình 4. Ảnh hưởng góc nghiêng bộ thu đến nhiệt độ mặt tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    3.2 Ảnh hưởng của vật liệu chế tạo tấm hấp thụ đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Thí nghiệm được tiến hành với 03 bộ thu có vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (tôn sống

     

    • sơn đen, tấm fibro ximăng sơn đen và không sơn), cùng góc nghiêng là 30o, cường độ BXMT cao nhất đạt 980 W.m-2, nhiệt độ không khí tự nhiên khoảng 30oC, tốc độ gió tự nhiên thấp và thay đổi liên tục. Kết quả thấy rằng nhiệt độ không khí sau bộ thu đo được biến thiên theo cường độ bức xạ mặt trời, có sự sai khác rõ rệt nhiệt độ không khí sau bộ thu khi vật liệu tấm hấp thụ khác nhau (hình 5). Đối với bộ thu sử dụng tấm hấp thụ là tôn sống V sơn đen và tấm

    1212

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    fibro ximăng sơn đen, sự sai khác nhiệt độ không khí sau bộ thu không lớn (4o) trong khi chênh lệch nhiệt độ không khí sau bộ thu giữa tấm hấp thụ fibro ximăng sơn đen (hay tôn sơn đen) và tấm fibro không sơn đen là rõ rệt (8oC). Kết quả cũng cho thấy sau 13h00, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu sử dụng tấm hấp thụ tấm fibro ximăng sơn đen cao hơn tôn sống V, chỉ ra rằng khả năng lưu nhiệt của tấm fibro ximăng. Những kết quả này khẳng định rằng tấm lợp fibro ximăng có thể được ứng dụng trong chế tạo bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời, đặc biệt vật liệu này luôn có sẵn, giá thành rẻ, bền khi sử dụng với bức xạ mặt trời.

     

     

    Hình 5. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Khi đo nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày (hình 6), với bộ thu sử dụng tấm fibro ximăng sơn đen cho thấy nhiệt độ kính cao nhất và nhiệt độ thấp nhất khi tấm hấp thụ là fibro ximăng không sơn. Tuy nhiên, sự sai khác này là không lớn (4oC).

     

     

    Hình 6. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian trong ngày.

     

    Trong khi đó, chênh lệch khá lớn nhiệt độ mặt tấm hấp thụ cũng biến thiên theo thời gian trong ngày (hình 7) khi thay đổi vật liệu chế tạo tấm hấp thụ. Nhiệt độ cao nhất với tấm hấp thụ tôn sống V sơn đen (78oC) và thấp nhất với tấm fibro không sơn (57 oC). Khi cường độ bức xạ mặt trời giảm nhanh, nhiệt độ tấm fibro sơn đen cao hơn tôn sống V sơn đen và tấm fibro không sơn, điều này là bởi vì tấm fibro có thể lưu nhiệt lâu hơn tôn kẽm, kết quả này có thể phải được chú ý khi sử dụng bộ thu tấm fibro ximăng cho các thiết bị gia nhiệt không khí (thiết bị sấy), thời gian gia nhiệt (thời gian sấy) có thể được kéo dài khi mà cường độ bức xạ mặt trời giảm dần.

     

    1213

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

     

    Hình 7. Ảnh hưởng của vật liệu hấp thụ đến nhiệt độ mặt hấp thụ theo thời gian.

     

    3.3 Ảnh hưởng của chiều cao lắp đặt đến các thông số nhiệt của bộ thu

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ dòng khí sau bộ thu, nhiệt độ mặt kính và mặt tấm hấp thụ được xác định. Kết quả thể hiện trên hình 8, 9 10.

     

     

    Hình 8. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ không khí tại sau bộ thu theo thời gian.

     

    Hình 8 cho thấy rằng khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu, nhiệt độ không khí sau bộ thu thay đổi theo. Tuy nhiên, sự thay đổi này không lớn khi sáng sớm và chiều muộn. Nhiệt độ không khí cao nhất thu được sau bộ thu khi chiều cao lắp đặt bộ thu 1,0m, và thấp nhất khi chiều cao lắp đặt bộ thu 0,2m. Trong thực tiễn, chiều cao lắp đặt bộ thu thường chi hai nhóm: nhóm bộ thu lắp đặt thấp dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu tự nhiên, để giảm chiều cao thiết bị; và nhóm bộ thu lắp đặt cao ở trên thiết bị (thường lớn hơn 1,0 m) dùng cho các thiết bị sử dụng nhiệt BXMT kiểu đối lưu cưỡng bức. Nghiên cứu này chỉ ra tăng chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt cho nhiệt độ dòng khí sau bộ thu cao hơn. Kết quả này cần được chú ý khi thiết kế, chế tạo và lắp đặt hệ thống bộ thu nhiệt năng lượng mặt trời.

     

     

    Hình 9. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ mặt kính theo thời gian.

     

    1214

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Nhiệt độ tại mặt kính khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu chênh lệch không lớn, nhiệt độ cao nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt 0,2m, trong khi sự sai khác nhiệt độ tại mặt kính trong trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m không rõ rệt.

     

     

    Hình 10. Ảnh hưởng của chiều cao đặt đến nhiệt độ tấm hấp thụ theo thời gian.

     

    Khi xác định nhiệt độ tại mặt tấm hấp thụ cho thấy rằng nhiệt độ thấp nhất quan sát được khi chiều cao lắp đặt bộ thu là 0,2m, trong khi nhiệt độ cao nhất ở trường hợp chiều cao lắp đặt bộ thu là 1,0m, sự sai khác nhiệt độ giữa trường hợp chiều cao lắp đặt 0,6 và 1,0m là không đáng kể.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Trong giới hạn hệ thống thí nghiệm đã được thiết lập, nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của góc nghiêng, vật liệu chế tạo và chiều cao lắp đặt bộ thu đến các thông số nhiệt độ của bộ thu. Kết quả chỉ ra rằng, khi thay đổi góc nghiêng bộ thu, nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tăng khi góc nghiêng tăng, tuy nhiên nhiệt độ tấm hấp thụ có chiều hướng ngược lại. Trong khi nhiệt độ tại mặt kính sai khác nhau không lớn. Tốc độ dòng khí không ổn định do tốc độ dòng khí tự nhiên không ổn định.

     

    Khi thay đổi vật liệu tấm hấp thụ, cho thấy rằng nhiệt độ không khí đo được sau bộ thu tôn kẽm cao nhất trong khi bộ thu tấm fibro xi măng không sơn có nhiệt độ không khí thấp nhất. Nhiệt độ tại mặt tôn tương tự, tuy nhiên nhiệt độ tại mặt kính đo được cho thấy nhiệt độ thấp nhất cho trường hợp bộ thu fibro xi măng không sơn đen. Thời gian lưu nhiệt của mặt hấp thụ tấm fibro ximăng lâu hơn.

     

    Khi thay đổi chiều cao lắp đặt bộ thu nhiệt, cho thấy nhiệt độ không khí sau bộ thu cao hơn khi tăng chiều cao lắp đặt bộ thu. Nhiệt độ kính sai khác nhau không lớn trong khi nhiệt độ mặt hấp thụ thấp nhất khi chiều cao lắp đặt thấp nhất.

     

    Có thể kết luận, đối với các bộ thu nhiệt không khí kiểu đối lưu tự nhiên, nên tăng góc nghiêng lắp đặt bộ thu (40o, theo kết quả trong nghiên cứu), tăng chiều cao lắp đặt và cần sơn đen tấm hấp thụ để nâng cao hiệu suất thu nhiệt của bộ thu; kết quả cũng chỉ ra có thể sử dụng tấm fibro xi măng là vật liệu hấp thụ trong các bộ thu nhiệt không khí. Những kết quả này phải được chú ý khi thiết kế, chế tạo bộ thu nhiệt không khí ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

     

     

    1215

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGYISSN 2588-1256

    Vol. 3(2) – 2019

       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Belusko M., Saman W. and Bruno F. (2008). Performance of jet impingement in unglazed air collectors. Solar Energy, 82, 389-398. doi: 10.1016/j.solener.2007.10.005

     

    Chaube A., Sahoo P. K. and Solanki S. C. (2006). Analysis of Heat Transfer Augmentation and Flow Characteristics Due to Rib Roughness over Absorber. Renewable Energy, 31, 317-331. doi:10.1016/j.renene.2005.01.012.

     

    El-khawajah M. F., Aldabbagh L. B. Y., Egelioglu F. (2011). The effect of using transverse fins on a double pass flow solar air heater using wire mesh as an absorber. Solar Energy, 85, 1479-1487. doi: org/10.1016/j.solener.2011.04.004.

     

    Gao W. F., Lin W. X. and Lu E. R. (2000). Numerical Study on Natural Convection Inside the Channel between the Flat-Plate Cover and Sine-Wave Absorber of a Cross-Corrugated Solar Air-Heater. Energy Conversation Management, 41, 145-151. doi: 10.1016/S0196-8904(99)00098-9.

     

    Garg H. P. and Adhikari R. S. (1999). Performance evaluation of a single solar air heater with n-subcollectors connected in different combinations. International Journal of Energy Research, 23, 403-414. doi:10.1002/(SICI)1099-114X(199904)23:5 <403::AID-ER488>3.0.CO;2-F

     

    Heat-Exchanger Configuration. ASME Journal of Heat Transfer, 98, 26-34. doi: 10.1115/1.3450464

     

    Naphon P. (2005). On the Performance and Entropy Generation of the Double-Pass Solar Air Heater with Longitudinal Fins. Renewable Energy, 30, 1345- 1357. doi: 10.1016/j.renene.2004.10.014

     

    Singh D., Bharadwaj S. S., and Bansal N. K. (1982). Thermal performance of a matrix air heater, 6, 103-110. doi: org/10.1002/er.4440060202

     

    Yeh H. M. and Ting Y. C. (1986). Effects of Free Convection on Collector Efficiencies of Solar Air Heaters. Applied Energy, 22(2), 145-155. doi: 10.1016/0306-2619(86)90078-4

     

    Yeh H. M., Ho C. D. and Lin C. Y. (2000). Effect of Collector Aspect Ratio on the Collector Efficiency of Upward Type Baffled Solar Air Heaters, Energy Conversation and Management, 41(9), 971- 981. doi:10.1016/S0196-8904(99)00148-X.

     

    EFFECTS OF STRUCTURE AND ABSORBER PLATE MATERIALS TO THERMAL PARAMETERS OF SOLAR AIR COLLECTOR

     

    Do Minh Cuong*, Nguyen Thi Ngoc, Tran Duc Hanh, Dang Duy Phuoc Hue University – University of Agriculture and Forestry

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Study on thermal parameters of air solar collectors with different structures and materials is very important to have a scientific basis for design solar devices. For these purposes, an experimental system has been set up, measuring devices are used to determine the temperature variation at certain locations in collector when structures and materials were changed. The results show that with the same air collector area, changing structure and materials of solar collector can be effected to the thermal parameter of solar collector as hot air temperature, glass temperature and absorber plate temperature. The results also show black fibro sheet can be used as good absorber material in design of the solar air collector. These results should be taken into account when applying air flat solar heat collectors.

     

    Key words: Solar air collector, fibro sheet, solar energy, black iron tole

     

    Received: 18th March 2019              Reviewed: 26th March 2019                    Accepted: 30th March 2019

     

    1216

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%B3m-t%E1%BA%AFt-Lu%E1%BA%ADn-%C3%A1n-ti%E1%BA%BFn-s%C4%A9-Kinh-t%E1%BA%BF-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BB%99-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-Nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    1

     

    MỞ ĐẦU

     

    1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

     

    Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp thay đổi theo hướng công nghiệp hóa của ngành, khoa học công nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,21% (Tổng cục Thống kê, 2016). Việc phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế đặt ra yêu cầu ngày càng sâu và rộng về mặt cơ sở hạ tầng xét trên cả khía cạnh về chất lượng và số lượng, trong đó hệ thống giao thông là một trong những khía cạnh được quan tâm lớn nhất khi nói đến hệ thống cơ sở hạ tầng.

     

    Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành Giao thông vận tải đã đề ra những chính sách, chiến lược phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông về mặt số lượng bên cạnh đó là nâng cao chất lượng các công trình giao thông trên toàn lãnh thổ. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải đã tập trung giải quyết các vấn đề như tái cơ cấu, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo cơ chế thuận lợi thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải…

     

    Thành quả thu được từ những nỗ lực đó là hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm ra đời, tạo ra nền tảng và đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của các ngành khác, cụ thể như tính đến hết năm 2016, tổng chiều dài đường bộ nước ta vào khoảng 417204 km (Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó chiều dài đường quốc lộ khoảng 22660 km và chiều dài cao tốc khoảng 114146km. Tuy nhiên, với đặc điểm đầu tư phát triển giao thông vận tải nói riêng, đầu tư phát triển trong các lĩnh vực khác nói chung, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, các công trình được xây dựng chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các dự án, công trình công cộng… Thêm vào đó, các dự án này với nhu cầu vốn lớn cộng thêm thời gian thực hiện dài, khả năng rủi ro của các dự án là không tránh khỏi, chính vì vậy việc huy động và sử dụng vốn là một vấn đề được quan tâm của không chỉ với

    2

     

    các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ngoài ra, việc thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển trong lĩnh vực giao thông vận tải như thế nào cũng là một câu hỏi cần những câu trả lời cho cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu.

     

    Để đạt được những kết quả tích cực cho hoạt động đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này có vị trí tương đối quan trọng. Có các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như các nhân tố về vốn đầu tư, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các nhân tố thuộc về các đơn vị liên quan thực hiện dự án (chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thi công…), các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chính vì vậy, cần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt được những kết quả đầu ra theo mong muốn.

     

    Thực tế đã chứng minh vị trí và vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, mảng vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu. Cụ thể,

     

    Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến việc huy động và sử dụng sao cho hiệu quả các nguồn lực, trong khi đó các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm trù đầu tư này, với những mảng kiến thức khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được lựa chọn để có thể tìm ra những quy luật cho vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét đến khía cạnh đầu tư phát triển. Về đầu tư phát triển có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hệ thống những lý luận, những chỉ tiêu nền tảng khi nghiên cứu về đầu tư phát triển theo ngành, theo lĩnh vực như nghiên cứu của tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013), đến những nghiên cứu cụ thể trong từng lĩnh vực như trong đầu tư phát triển cảng biển của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013), hay xem xét đến việc quản lý hoạt động đầu

     

    3

     

    tư xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) khi nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải.

     

    Tuy nhiên, những nghiên cứu đang dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển nhưMức độ ảnh hưởng của các nhân tố như thế nào đến quyết định đầu tư, kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước?

     

    Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát trin kết cu h tng giao thông đường b s dng vn ngân sách Nhà nước Vit Nam” theo tác giả là cần thiết.

     

    2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nướcở Việt Nam. Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau:

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam?
    • Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước?

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân

    sách Nhà nước ở Việt Nam?

     

    3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

     

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    4

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

     

    Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012- đến năm2016

     

    Phạm vi không gian:

     

    • Nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
    • Nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ từ vốn Trung ương

     

    Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xem xét đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    4. Phương pháp nghiên cứu

     

    4.1. Cách tiếp cận

     

    Nghiên cứu sinh thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước, sau đó, với những dự án đã được quyết định đầu tư, nghiên cứu sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước. Sử dụng hàm sản xuất cobb-douglas làm cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, bất cứ hoạt động sản xuất để đảm bảo cho hoạt động sản xuất phát triển cũng cần có những yếu tố cơ bản như: vốn (máy móc, thiết bị, vốn đầu tư…), lao động (số lượng lao động, trình độ lao động…), và trình độ khoa học kỹ thuật & khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước (Yếu tố tổng hợp)

     

    Đầu ra của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh hay kết quả của quá trình chuẩn bị đầu tư là có được quyết định đầu tư, sau khi có quyết định đầu tư bắt đầu thực hiện đầu tư phát triển kết quả đầu ra là kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước.

     

    Chính vì vậy, hai mô hình nghiên cứu cụ thể NCS sử dụng trong luận án:

     

    5

     

    Mô hình 1: Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Mô hình 2: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    4.2.1. Phương pháp thu thp d liu th cp

     

    Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như: số liệu thống kê của các cấp, các báo cáo về tình hình thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư của Bộ Giao thông vận tải, báo cáo tổng kết năm và phương hướng hoạt động của Bộ Giao thông vận tải,… Ngoài ra, các báo cáo khoa học, tạp chí, các văn bản pháp quy…, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập.

     

    4.2.2. Phương pháp thu thp d liu sơ cp

     

    Thông qua phỏng vấn các cá nhân am hiểu về hoạt động đầu tư tại các cơ quan trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, các Sở Giao thông vận tải và các đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển của ngành giao thông, tác giả thực hiện phỏng vấn các cá nhân để xem xét đánh giá của các cá nhân đó về mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố đến hoạt động đầu tư phát triển trong ngành giao thông ở Việt Nam.

     

    Đối với phân tích hồi quy đa biến: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo

     

    công thức là: 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)

     

    Như vậy, số lượng mẫu tối thiểu cho nghiên cứu của tác giả là 205 mẫu, tác giả thực hiện phỏng vấn 300 quan sát sau đó kết quả thu được sẽ được làm sạch và được xử lý dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0

     

    Sau khi thu thập dữ liệu, có 50 phiếu khảo sát không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của phiếu khảo sát: Thiếu thông tin trả lời trong phiếu khảo sát. Tác giả thực hiện loại bỏ những phiếu khảo sát này và sử dụng 250 quan sát đạt yêu cầu thực hiện phân tích các phép toán thống kê.

     

    +) Quy trình thiết kế bảng hỏi

    6

     

    Bước 1: Tác giả kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trước đó khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển và xây dựng bảng hỏi các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

     

    Bước 2: Tác giả sử dụng bảng câu hỏi đã được xây dựng để khảo sát thử với 10 cán bộ làm việc trực tiếp trong hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, những cán bộ này làm việc tại các ban quản lý dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước như Ban quản lý dự án Cửu Long, cán bộ quản lý thuộc Bộ Giao thông vận tải, cán bộ thuộc ban quản lý dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi… Căn cứ vào kết quả khảo sát thử, tác giả điều chỉnh những chi tiết bất hợp lý để lập bảng hỏi chính thức và thực hiện việc thu thập dữ liệu toàn bộ.

     

    +) Phương pháp điều tra mẫu

     

    Tác giả sử dụng phiếu điều tra đã được chuẩn hóa để gửi đi phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm việc tại các đơn vị, cơ quan liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nếu không gặp được trực tiếp được các cán bộ này tác giả lựa chọn các phương án thay thế: Gửi email phiếu điều tra để chờ phúc đáp hoặc gửi lại phiếu điều tra tại cơ quan và sẽ đến nhận lại phiếu sau 10 ngày.

     

    Sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu sơ cấp, tác giả làm sạch số liệu và tiến hành việc phân tích số liệu.

     

    Số lượng quan sát là 250 đáp ứng yêu cầu số lượng mẫu tối thiểu thực hiện các phép phân tích thống kê.

     

    Thời gian khảo sát: Tác giả thực hiện khảo sát thu thập số liệu sơ cấp từ ngày 10 tháng 12 năm 2016 đến ngày 9 tháng 3 năm 2017.

     

    *) Phương pháp phỏng vấn sâu

     

    Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện nhằm có dữ liệu phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn sau khi phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam. Cụ thể, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các 04 cán bộ quản lý Nhà nước trong đó có: 01 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và 02 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc

    7

     

    Bộ Xây dựng, 01 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Bộ Tài chính, các cán bộ này có hiểu biết sâu sắc về hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Đồng thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu 03 cán bộ, trong đó 02 cán bộ thuộc đơn vị thi công và 01 cán bộ đơn vị giám sát dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 6 năm 2017, tác giả xin lịch hẹn với các đối tượng được phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn tại văn phòng với các cán bộ quản lý Nhà nước và tại công trường với các cá nhân là cán bộ đơn vị thi công và cán bộ giám sát.

     

    Phỏng vấn sâu được thực hiện tập trung vào khía cạnh xem xét đánh giá của các đối tượng được phỏng vấn về mức độ quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, thực tế các vấn đề phát sinh tại các dự án đầu tư.

     

    Kết quả phỏng vấn sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tác giả về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông bộ ở Việt Nam.

     

    4.3. Phương pháp phân tích số liệu

     

    Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích theo dãy số thời gian, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp hồi quy binary logistic, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy đa biến được tác giả sử dụng trong nghiên cứu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

     

    1. Kết cấu của luận án

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:

    8

     

    Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

     

    Chương 2: Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Chương 3: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Chương 4: Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Đầu tư phát triển đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách, nguồn vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư phát triển khá đa dạng: Nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Đầu tư phát triển được thực hiện theo các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thực hiện có những đặc thù riêng nhưng vẫn mang những điểm chung nhất về đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư phát triển có thể thực hiện theo dự án, theo hạng mục công trình hoặc các phương thức thực hiện khác (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013)

     

    1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và ảnh hưởng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế

     

    Tiếp cận theo khía cạnh xem xét về kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số quốc gia khác nhau qua việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tác giả Bernard Myers và Thomas Laursen (2008) đã tổng kết lại kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước thành viên EU, dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2000 đến hết năm 2006, chủ yếu tập trung vào việc khảo sát kinh nghiệm quản lý trong khoản mục đầu tư này ở nước Anh và một số nước có nền kinh tế

     

    9

     

    phát triển. Trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả, các nước thuộc khối EU là các nước có nợ công thuộc vào nhóm các nước có nợ công lớn của thế giới, đây cũng có thể là bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó có thể tránh được phần nào nợ công tăng mạnh và không có khả năng kiểm soát.

     

    1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    1.3.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Để hoạt động đầu tư phát triển nói chung đạt được những kết quả nhất định cả về mặt tài chính và những ảnh hưởng lan tỏa khác, các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cần đảm bảo các quyết định đầu tư chính xác.

     

    Theo quan điểm của Robbins và Coulter (1996) để ra quyết định đầu tư, quy trình ra quyết định gồm bảy bước: (i)xác định vấn đề,(ii) đưa ra các tiêu chuẩn của quyết định, (iii) lượng hóa các tiêu chuẩn, (iv) xây dựng phương án,

     

    • đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu, (vi) tổ chức thực hiện phương án và cuối cùng là (vii) đánh giá hiệu quả của quyếtđịnh. Với mỗi đơn vị đầu tư, quyết định đầu tư chính là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực.

    Gilomre và cộng sự (2003) cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến quyết địnhđầutư: (1) Quan điểm của Chính phủ và các khuyến khích tài chính – Nếu Chính phủ của nước chủ nhà hoạt động tích cực để thu hút đầu tư, thì quốc gia/địa phương hoặc khu vực đó sẽ hấp dẫn hơn so với một nơi mà một nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian và thủ tục để dự án đầu tư được phêduyệt. (2) Lạm phát, chính sách kinh tế, mức thuế suất và cơ cấu thuế – là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầutư. (3) Giao thông vận tải, vật liệu và chi phí lao động – Đây là các chi phí quan trọng mà các công ty/đơn vị đầu tư đi vào xem xét khi tiến hành đầutư. (4) Công nghệ – Công nghệ được coi là một

    10

     

    trong những nhân tố quan trọng nhất liên quan đến quyết định đầu tư. (5) Sự ổn định chính trị là nhân tố mang lại sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

     

    1.3.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Với các dự án, sau khi đã có quyết định đầu tư, quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư sao cho hiệu quả nhất cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau:

     

    Theo quan điểm của Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự (2011), Esfahani và Ramirez (2003), Haque và Kneller (2008), Flyvbjerg (2003), kết quả nghiên cứu cho thấy có sự đồng nhất tương đối lớn về các nhân tố cũng như chiều tác động của các nhân tố tới hoạt động đầu tư công ở các quốc gia – là địa bàn nghiên cứu được các tác giả lựa chọn nghiên cứu. Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng các nhân tố như: Thể chế, mức độ quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, việc lựa chọn các dự án đầu tư, chi phí đầu tư,… có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận đầu tư cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư.

     

    1.4. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu

     

    Tóm lại, đầu tư phát triển đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ góp phần tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, từ đó góp phần tạo lợi thế trong các hoạt động thu hút vốn, nền tảng cho việc lưu thông hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế chung của không chỉ các địa phương mà còn của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh vị trí quan trọng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, các nghiên cứu về mặt lý luận đã được thực hiện, tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung cho ngành giao thông, hoặc đầu tư phát triển cho các lĩnh vực khác. Trong khi đó, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước có đạt được kết quả tốt hay không, đáp ứng được các mục tiêu đề ra hay không lại phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng từ quyết định đầu tư đến quá trình thực hiện đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước.

     

    Chính vì vậy, việc tác giả thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố

     

    11

     

    ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” là việc làm cần thiết và vẫn đảm bảo tính mới trên cơ sở kế thừa nghiên cứu trước đó, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, dữ liệu tác giả sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu đa dạng từ dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị tham gia vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước; Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát những cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước dựa vào bảng hỏi được chuẩn hóa- kết quả thu thập dữ liệu được phân tích sẽ cho tác giả cái nhìn tổng quan hơn về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộtừ các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình này.

     

    Thứ hai, nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng nhằm phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, việc phân tích này nhằm chỉ ra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư.

     

    Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định sự khác biệt giữa một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước giữa hai nhóm dự án: Có đầu tư và Không đầu tư.

     

    Với những dự án đã được quyết định đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nghiên cứu tiếp tục phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, mô hình phân tích hồi quy đa biến và phân tích nhân tố sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này. Đồng thời, tác giả sử dụng mô hình lượng hóa để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcphần lớn được thực hiện theo các dự án, với nghiên cứu này tác giả sẽ xem xét các dự án đã và đang được thực hiện, các cán bộ được tác giả lựa chọn phỏng vấn cho nghiên cứu này là những cán bộ thực hiện các dự án hoặc tham gia vào một chu trình của dự án đầu tư phát triển bên cạnh các cán bộ quản lý Nhà nước. Kết quả của nghiên cứu sẽ chỉ ra được về mặt định lượng

    12

     

    mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộsử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó làm căn cứ đề xuất các kiến nghị góp phần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn sâu cũng sẽ được nghiên cứu sử dụng nhằm bổ trợ và lý giải rõ ràng hơn cho những con số từ kết quả định lượng.

     

    Thêm vào đó, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ phân tích thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam để thấy được sự biến động về đầu tư phát triển, những kết quả đạt được và hạn chế của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    CHƯƠNG 2

     

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

     

    2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: “Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra một cách bình thường”.

     

    Theo Luật giao thông đường bộ Việt Nam (2008) quy định: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ”. Như vậy có thể thấy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả hai hình thái vật chất và hình thái phi vật chất.

     

    13

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận của đầu tư phát triển, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như xây dựng công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ, nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra thêm các tài sản vật chất, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.

     

    Đối với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khả năng tài chính của Nhà nước, các nguồn lực để có thể khai thác hoặc sử dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    2.2. Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển kinh tế

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển xã hội

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    quản lý Nhà nước

     

    2.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển trong ngành thường được thể hiện thông qua ba chỉ tiêu: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện; Tài sản cố định huy động hay Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.

     

    Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013). Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kĩ thuật… Theo phạm vi tác động của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội.

    14

     

    Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi quản lý tài chính. Hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Theo cách tính toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.

     

    2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    2.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    • Điều kiện kinh tế xã hội
    • Điều kiện tự nhiên
    • Kết quả dự kiến của dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    2.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    • Nhân tố điều kiện tự nhiên
    • Nhân tố về kinh tế
    • Nhân tố về chính trị, văn hóa, xã hội
    • Nhân tố về quản lý nhà nước
    • Nhân tố về đơn vị thực hiện

    2.5. Kinh nghiệm của một số nước về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và bài học cho Việt Nam

     

    Trên thế giới cả các nước phát triển và đang phát triển đều có những quá trình phát triển hệ thống giao thông đường bộ với những cơ chế, chính sách và điều kiện khác nhau, tất cả đều là những bài học quý giá cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh đã sử dụng bài học của Nhật Bản, bài học của Trung Quốc, bài học của Hàn Quốc và bài học của Singapore trong đầu tư hệ thống giao thông đường bộ, từ đó đề xuất bài học cho Việt Nam

     

    15

     

    CHƯƠNG 3

     

    NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCỞ VIỆT NAM

     

    3.1. Thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam

    Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 380000 tỷ đồng, tăng bình quân 38%/năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước và có tính chất ngân sách Nhà nước144 nghìn tỷ đồng (chiếm 38%); Trái phiếu Chính phủ 113 nghìn tỷ đồng (30%); Còn lại huy động ngoài ngoài ngân sách khoảng 121 nghìn tỷ đồng (32%).

     

    Bảng 3.6: Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

     

    giai đoạn 2011-2015

     

    Đơn vtính: Nghìn tỷ đồng

     

                 

    Tổng

    Tăng

     

    TT

    Nguồn vốn

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2011-

    cấu

    trưởng

     
                 

    2015

    (%)

    (%)

     
                         

    I

    NSNN

    13,545

    23,666

    29,98

    34,13

    42,88

    144,201

    38,0

    33,4

     
                         

    1

    ODA

    11,385

    20,127

    21,768

    31,5

    33,164

    117,944

    31,1

    30,6

     
                         

    2

    NSNN

    2,16

    3,539

    8,212

    2,63

    9,716

    26,257

    6,9

    45,6

     
                         

    II

    Trái phiếu CP

    11,078

    16,038

    14,768

    35,545

    36,376

    113,806

    30,0

    34,6

     
                         

    III

    Ngoài  NSNN

    8,787

    8,005

    21,761

    41,3

    41,98

    121,833

    32,1

    47,8

     

    (BOT, PPP)

                       
                         
     

    Tổng số

    33,411

    47,709

    66,509

    110,975

    121,236

    379,84

    100

    38,0

     
                         

    Ngun: V Kế hoch Đầu tư -B Giao thông vn ti

     

    Trong giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có xu hướng tăng dần trong kỳ nghiên cứu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, cụ thể năm 2011 vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

    16

     

    giao thông đường bộ khoảng 13,545 nghìn tỷ đồng thì con số này đã tăng lên khoảng hơn 33% trong giai đoạn nghiên cứu với mức đầu tư khoảng 42,88 nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có từ hai nguồn vốn cơ bản chính là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trong đó nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức có đóng góp khá lớn trong các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 với khoảng 31% tổng số vốn đầu tư.

     

    3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Nghiên cứu sử dụng hồi quy Binary Logistic nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Bảng 3.13: Các tham số hồi quy Variables in the Equation

         

    B

     

    S.E.

     

    Wald

     

    df

     

    Sig.

     

    Exp(B)

     
                                 
     

    Quy_hoach

     

    ,899

     

    ,351

     

    6,570

     

    1

     

    ,010

     

    2,457

     
     

    Hodan_anhhuo

                             
       

    ,611

     

    ,335

     

    3,322

     

    1

     

    ,068

     

    1,843

     
                   
     

    ng

                 
                               
     

    Step 1a  DKTN

     

    ,873

             

    1

             
                   
         

    ,359

     

    5,912

       

    ,015

     

    2,394

     
     

    LN_LUU_LUO

     

    ,560

     

    ,301

     

    3,450

     

    1

     

    ,063

     

    1,750

     
     

    NG

                 
                               
     

    Constant

     

    -12,193

     

    2,080

     

    34,371

     

    1

     

    ,000

     

    ,000

     
                                 
    1. Variable(s) entered on step 1: NNDT, Hodan_anhhuong, Danh_gia_GT, LN_LUU_LUONG.

    Ngun: Kết qu tính toán ca tác gi

     

    Từ kết quả phâ tích hồi quy Logistic, phương trình tương quan Logistric như sau:

     

    Ln [(P(Y=1)/ P(Y=0)] = -12,193 + 0,899*(Quy_hoach) + 0,611*(Hodan_anhhuong) + 0,873*(DKTN) + 0,56*9LN_Luu_luong)

     

    17

     

    3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Kế thừa các các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu có sự điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    3.2.1. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện tự nhiên, nhân tố này có 2 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình cụ thể như sau:

     

    FACĐKTN = 0.847 ĐKTN1 + 0.847 ĐKTN2

     

    3.2.2. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến kết quả đầu tư phát

     

    triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện kinh tế, nhân tố này có 7 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình:

     

    FAC_ĐKKT = 0.532 ĐKKT1 + 0.838 ĐKKT2 + 0.656 ĐKKT3 + 0.865 ĐKKT4 + 0.775 ĐKKT5 + 0.681 ĐKKT6 + 0.751 ĐKKT7

     

    3.2.3. Phân tích ảnh hưởng của chính trị, văn hóa, xã hội đến kết quả đầu tư

     

    phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, nhân tố này có 3 thang đo quan sát được trích thành một nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình nhân tố cụ thể như sau:

     

    FAC_VHXH = 0.746 VHXH1 + 0.754 VHXH2 + 0.491 VHXH3

     

    Với hệ số của thang đo VHXH2: Sự ủng hộ của người dân với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng với hệ số điểm là 0.754 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng lớn nhất, thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố về văn hóa, lịch sử, tập quán của người dân với hệ số điểm ảnh hưởng là 0.491.

     

    3.2.4. Phân tích ảnh hưởng của cơ quan quản lý Nhà nước tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    18

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_QLNN = 0.819 QLNN1+ 0.872 QLNN2 + 0.644 QLNN3 + 0.604 QLNN4

     

    Nhóm nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, với hệ số điểm của thang đo QLNN2: Trình độ chuyên môn của cán bộ Nhà nước liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là 0.872, đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất tới nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhóm nhân tố có ảnh hưởng thấp nhất là nhân tố kế hoạch giải ngân của các dự án.

     

    3.2.5. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố chủ đầu tư đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chủ đầu tư, nhân tố này có 8 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_CĐT = 0.290 CĐT1 + 0.672 CĐT2 + 0.738 CĐT3 + 0.897 CĐT4 + 0.846 CĐT5 + 0.551 CĐT6 + 0.646 CĐT7 + 0.525 CĐT8

     

    Với hệ số của thang đo CĐT4: Năng lực đấu thầu của cán bộ QLDA là 0.897, đây là thang đo có hệ số điểm ảnh hưởng lớn nhất, thang đo năng lực quản lý của chủ đầu tư có hệ số điểm là 0.29 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất theo quan điểm của đối tượng được khảo sát.

     

    3.2.6. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố nhà thầu đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố nhà thầu, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_NT = 0.692 NT1 + 0.934 NT2 + 0.700 NT3 + 0.907 NT4

     

    Với hệ số của thang đo NT2: Kinh nghiệm thi công của nhà thầu là 0.934 – đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất đến nhân tố, thang đo có ảnh hưởng thấp nhất là năng lực quản lý của nhà thầu với điểm số ảnh hưởng là 0.692.

    3.2.7. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố khác đến kết quả đầu tư phát triển

     

    kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố khác, nhân tố này có 6 thang đo

     

    quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    19

     

    FAC_K = 0.183 K1 + 0.477 K2 + 0.419 K3 + 0.809 K4 + K5 + 0.646 K6

     

    3.2.8. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Từ số liệu thu thập qua quá trình khảo sát các cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, kết hợp với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ:

     

    Bảng 3.51: Kết quả hồi quy mô hình

     

    Coefficientsa

       

    Unstandardized

    Standardized

       

    Model

     

    Coefficients

     

    Coefficients

    t

    Sig.

             
       

    B

     

    Std.

    Beta

       
         

    Error

       
                 
                   
     

    (Constant)

    1.011E-16

     

    .041

     

    .000

    1.000

                   
     

    FAC_ĐKKT

    .664

     

    .056

    .664

    11.874

    .000

                   
     

    FAC_VHXH

    .254

     

    .052

    .254

    4.900

    .000

                   

    1

    FAC_CĐT

    .387

     

    .052

    .387

    7.443

    .000

                   
     

    FAC_NT

    -.239

     

    .047

    -.239

    -5.078

    .000

                   
     

    FAC_K

    -.073

     

    .042

    -.073

    -1.742

    .083

                   
     

    FAC1_ĐKTN

    -.267

     

    .059

    -.267

    -4.522

    .000

                   

    Ngun: Tng hp ca tác gi t kết qu nghiên cu

     

    Từ bảng kết quả cho thấy, tất cả các biến trong nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê với sai số là 0,1, các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ với các mức độ khác nhau

     

    3.3. Kiểm định sự khác biệt về một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    20

     

    (1) Tiêu chí vn đầu tư ca Nhà nước

     

    Kết quả nghiên cứu có thể cho thấy rằng tiêu chí vốn đầu tư của Nhà nướccó sự khác biệt giữa hai nhóm quyết định đầu tư và không đầu tư, kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có quy mô vốn đầu tư của Nhà nước lớn hơn 3820.438 tỷ đồng so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (2) Tiêu chí phù hp vi quy hoch phát trin kinh tế – xã hi

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềtiêu chí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,562 > 0,05 nên sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig (kiểm định

    1. = 0,000 < 0,05;
    • nh hưởng ca dán vmt xã hi

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềảnh hưởng của dự án về mặt xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,777 > 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05. Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.594 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (4) Chiu dài ca d án

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềchiều dài dự kiến của cácdự án do kiểm định F có hệ số Sig = 0,025 <0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có chiều dài của thực hiện của các dự án có quyết định đầu tư ngắn hơn khoảng 18.063 km so với nhóm không được duyệt đầu tư

     

    (5) Lưu lượng xe di chuyn d kiến

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về tiêu chí lưu lượng xe di chuyển dự kiến do kiểm định F có hệ số Sig = 0,000 < 0,05 nên ta

     

    21

     

    sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có lưu lượng xe di chuyển dự kiến là 8270.313 PCU/ ngày đêm lớn hơn so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (6) nh hưởng ca d án đến các h dân

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về ảnh hưởng mặt xã hội của dự ándo kiểm định F có hệ số Sig = 0,001< 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.406 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    CHƯƠNG 4

     

    GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC TỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

     

    4.1. Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô ở Việt Nam đến năm 2030

     

    4.2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đến năm 2030

     

    4.3. Một số giải pháp

     

    4.3.1. Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách

     

    nhà nước có ý nghĩa lớn, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy

    22

     

    phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nếu việc quyết định đầu tư các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ không chính xác sẽ dẫn đến vốn đầu tư không được sử dụng hiệu quả, vô hình chung ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có định hướng và lựa chọn chính xác các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô sử dụng ngân sách Nhà nước, đảm bảo các dự án được đầu tư đúng và trúng, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời, các đơn vị thực hiện có liên quan cần có sự chuẩn bị chi tiết cho các báo cáo tiền khả thi trước khi trình biểu quyết quyết định đầu tư đối với dự án

     

    4.3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    4.3.2.1. Giải pháp về nguồn nhân lực

     

    Nguồn lực con người là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ quản lý đầu tư đến thực hiện hoạt động đầu tư trong đó bao gồm cả cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị thực hiện.

     

    Mục tiêu của giải pháp này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn của các cán bộ tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện các hoạt động đầu tư từ chuẩn bị đầu tư đến thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Nếu chất lượng của đội ngũ cán bộ chuyên môn tốt sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho hoạt động đầu tư và ngược lại.

     

    4.3.2.2. Giải pháp về đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho công việc

     

    Đây là giải pháp được đề xuất cho các đơn vị thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các dự án được triển khai có được kết quả như dự kiến hay không phụ thuộc vào năng lực của các đơn vị thực hiện trong đó có năng lực về kỹ thuật (máy móc thiết bị, công nghệ) phục vụ cho thực hiện dự án. Nếu các đơn vị thực hiện có máy móc thiết bị, công nghệ triển khai hiện đại sẽ góp phần đảm bảo tiến độ, tránh rủi ro cho các dự án, ngược lại nếu các đơn vị thực hiện máy móc thiết bị không đáp

     

    23

     

    ứng được yêu cầu tối thiểu, máy móc thường xuyên hư hỏng có thể ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án.

     

    4.3.2.3. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp về tạo vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát sử dụng nguồn vốn đầu tư

     

    4.3.2.4. Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một trong những thang đo quan trọng của điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư cũng như kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch nhằm đảm bảo các dự án được thực hiện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    KẾT LUẬN

     

    Đầu tư phát triển, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcđã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được tác giả tổng hợp, so sánh và phân tích để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu.

     

    Kế thừa nghiên cứu trước đó, tác giả đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcở Việt Nam

     

    24

     

    Dựa trên cơ sở khung lý thuyếtvà tổng quan các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu cho luận án, những chỉ tiêu phân tích đã được tác giả trình bày để thực hiện nghiên cứu

     

    Từ những dữ liệu được thu thập được từ báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết giai đoạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, những mặt đạt được, những mặt hạn chế của hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích thông qua những biến động về lượng vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu, quy trình và thực trạng quản lý hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    Tác giả cũng sử dụng dữ liệu khảo sát để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Những nhân tố nào có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích cụ thể trong nghiên cứu.

     

    Trên cơ sở những phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

     

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

     

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

     

    STT

    HỌ VÀ TÊN

    MSSV

    1

    LÊ HẢI HẬU( NT)

    41201037

    2

    HOÀNG HẢI TRIỀU

    21304310

    3

    TRƢƠNG QUỐC TUẤN

    61104030

    4

    PHẠM HOÀNG TRUNG

    31003674

    5

    LÊ HOÀNG QUÂN

    31303209

    6

    ĐÀO ĐỨC THẮNG

    20902537

     

     

    ĐỀ TÀI :

     

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

     

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

     

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

     

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

     

    Câu 1:

     

    ·        Cơ sở lý thuyết:

     

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     (

    )

       

    ( )

    (  )

       

    (

    (

    )

    (  ))

             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

     

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

     

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

     

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

     

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

     

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

     

    ( ku ) ‘ = ku

     

    x ‘ =1

     

    (uv ) ‘ = uv + uv

     

    æ 1

    ö

    v

    ç

     

    ÷

    = –

       
     

    v

    2

    è v

    ø

       

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

     

    æ u ö

    u v uv

    ç

     

    ÷

    =

       
     

    v

    2

    è v ø

       

    N , n >1)

     

    ( v ¹ 0)

     

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

     

    Đạo hàm cấp cao:

     

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

     

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

     

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

     

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

     

    ·        VÍ DỤ:

     

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

     

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

     

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2

    f

    = 30 x – 20 y

     

    xx

     
       

    f yy  = 12 y -10

    f

     

    = 4

         

    xz

     

    f zz  = 18 z + 4 y

    f yz

    = 4z

    f

    = -20x

         
     

    xy

           

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx

    = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20

    f

    = -20 ´ 0 = 0

     
             

    xy

       

    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2

    = 4

     
             

    fxz

     

    f

    = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22

    f

    = 4 ´ 1 = 4

     

    zz

             
             

    yz

       

    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   (

    ) dưới

    dạng ma trận vuông là:

         
     

    é -20

    0

    2 ù

         

    A = ê

    0

    2

    2 ú

         
     

    ê

       

    ú

         
     

    ê

    2

    2

    22ú

         
     

    ë

       

    û

         

    · CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 2:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

     

    2.         Định nghĩa:

     

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

     

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

     

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

     

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

     

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

     

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

     

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

     

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

     

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

     

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

     

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

     

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có:

    f

    +

    f

    ×

    y

    = 0 (3)

                 

    x

    y

    x

                 
                         

    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có:

    g

    +

    g

    ×

    y

    = 0 (4)

     

    x

    y

    x

                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

     

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

     

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

     

     

    æ

    f

     

    g ö

    æ

    f

     

    g ö

       

    ứng của (3), ta được:

    ç

     

    + g

     

    ÷

    + ç

     

    + g

     

    ÷

    = 0

    (5)

           
     

    è

    x

     

    x ø

    è

    y

     

    y ø

       

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

     

    æ

    f

    + g

    g ö

    = 0

     

    ç

       

    ÷

    (6)

    y

     

    Nghĩa là: è

     

    y ø

     

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

     

    ì

    f

     

    ï

       

    x

     

    ï

    f

     

    ï

    hệ phương trình: í

       

    y

     

    ï

    ïïg (x , y)

    î

     

    +

    g

    g

    =

    0

       

    x

       
               

    +

    g

    g

    =

    0

    (I)

     

    y

               
         

    =

    0

       

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

     

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

     

    ìF

    =

    f

    +

    g

    g

    = 0

     
         

    ï

    x

       

    x

       

    y

       

    ï

                 
         

    f

       

    g

       

    ï

    =

     

    +

    g

    = 0

     

    íFy

         

    (II)

     

    y

    y

    ï

                 
                     

    ïF

     

    =

    g (x , y)

       

    = 0

     

    ï

    g

                   

    î

                     

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

     

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

     

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

     

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

     

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

     

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

     

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

     

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

     

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

     

    Khi đó xét: D = –

    0

    D

    E

       

    D

    A

    B

       
     

    E

    B

    C

       

    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại (

    )

    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại (

    )

    ·        VÍ DỤ:

     

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

     

    Ta có x2 – y2 = 1

    x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)

    Thay (*) vào f(x,y) ta được:

    f(y) = y2 + y (y

    R)

    Tập xác định: D = R

    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0

    (

     

    )

         

    (

    )

       
           
                   
                   

    Xét

    (

     

    )

           
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

     

    ·        CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

     

     

     

     

     

    CÂU 3:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

     

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

     

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

     

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

     

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

     

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

     

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

     

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

     

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

     

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV

    V

    V1

    V2

    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

     

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

     

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

     

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

     

     

    éj 2

    ( x , y )

    ù

    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê

    ò

    f ( x, y , z )dz ú dxdy

    V

    ë 1

     

    û

    ê j ( x , y )

    ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

     

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

     

     

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

     

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

     

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

     

     

     

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

     

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

     

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

     

    ì x

    ï

     

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

     

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

     

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:

    ·

           

    ; z = 0; y = x;

     

    ;

               

       
                     

    ·

    (

    )  ∫

                                   
                                   
                                   
                             
         

     

     

           

                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
             

    ∫∫ (

    )

         

    ·

             

    (

                                     

    )

                                                   
                                           
                                           
         

    ·

                                                         
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2

    ·

                                     

                                                         
               

                         

       
                                     

    ·

                               

                                                         
                                     

    (

     

    )

                       
               

                                     
                           

    ·

                                                                                       
                         

    (

       

    )

                                                     

                                                                             
                                                         
                                                                             

    ·

                                                                                 

    (

     

    )

                                                                                   

                                       

                           

           
                                                           
                                                               

    ·

                                                                                             
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                     

    )

                                                   

             

    (

                                                               
                                                                       
                                                       
                                                                     

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                         

    (

             

    )

                               

    (

         

    )

                                                                     
                                       
                   

    ·

               

    (

                           

    )

                                                   
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

             

    (

                 

    )

                                                   
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                             

    (

             

    )

                             

    (

         

    )

                                                                                 
                                                             
                                               

    ·

         

    (

                                   

    )

                                                     
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3

    ·

           

             

    (

                     

    )

                                   
                                                 
                                                         

    ·

                                                                                             
                                                                                             
                                                                                             

    ·

     

    (

         

    )

                                       

    (

               

    )

       

    (

         

    )

                                                                   
                                                               
                                         

    ·

           

    (

           

    )

             

    (

           

    )

               
                                                   
                                         
    • Suy ra

    ·

    (

       

    )

       

    (

       

    )

       

                   

    (

           

    )

     

           

    (

     

    )

         

         
                             
                           
     

    (

         

    )

         

    (

         

    )

     
                                                                                                                               
                                                           
         

    (

     

    )

     

    (

     

    )

         
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               

    ·

    (

           

    )

     

    (

               

    )

         

    (

             

    )

           

    (

     

    )

                             

               
                                                                         
                             
                                                                                                                           
     

    (

             

    (

         

    )

     
           

    )

                           
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-C%C3%94NG-TR%C3%8CNH-TR%C3%8AN-N%E1%BB%80N-%C4%90%E1%BA%A4T-Y%E1%BA%BEU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    CHƯƠNG IV:     XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

     

    ß1.     KHÁI NIỆM

    1.1.     Khái niệm về nền đất yếu

     

    Nền đất yếu là nền đất không đủ sức ch ịu tải, không đủ độ bền và biến dạng nhiều, do vậy không thể làm nền thiên nhiên cho công trình xây dựng.

     

    Khi xây dựng các công trình dân dụng, cầu đường, thường gặp các loại n ền đất yếu, tùy thuộc vào tính chất của lớp đất yếu, đặc điểm cấu tạo của công trình mà người ta dùng phương pháp xử lý nền móng cho phù hợp để tăng sức chịu tải của nền đất, giảm độ lún, đảm bảo điều kiện khai thác bình thường cho công trình.

     

    Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng trên nền đất yếu do không có những biện pháp xử lý phù hợp, không đ ánh giá chính xác được các tính chất cơ lý của n ền đất. Do vậy việc đánh giá chính xác và chặt chẽ các tính chất cơ lý củ a nền đất yếu (chủ yếu b ằng các thí nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù hợp là một v ấn đề hết sức khó kh ăn, nó đòi hỏi sự k ết hợ p chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và kinh nghiệm th ực tế để giải quyết, giảm được tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu.

     

    1.2. Một số đặc điểm của nền đất yếu

    Thu ộc lo ại nền đất yếu thường là đất sét có lẫn nhiều hữu cơ; Sức chịu tải bé (0,5 – 1kG/cm2);

    Đất có tính nén lún lớn (a> 0,1 cm2/kG);

     

    Hệ sô rỗng e lớn (e > 1,0);

    Độ sệt lớn ( B > 1);

    Mo đun biến dạng bé (E< 50kG/cm2);

    Khả năng chống cắt bé (ϕ, c bé), khả năng thấm nước bé;

     

    Hàm lượng nước trong đất cao, độ bão hòa nước G> 0,8, dung trọng bé;

    1.3. Các loại nền đất yếu thường gặp

    • Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái bão hòa nước, có cường độ thấp;
    • Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200µm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực;
    • Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%);
    • Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể. Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy.
    • Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc diểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập.

    1.4 . Xử lý nền đất yếu

     

    Với các đặc điểm của đất yếu như trên, muốn đặt móng xây dựng công trình trên nền đất này thì phải có các biện pháp kỹ thuật để cải tạo tính năng xây dựng của nó. Nền đất sau khi xử lý gọi là nền nhân tạo.

    Việc xử lý khi xây dựng công trình trên nền đất yếu phụ thuộc vào nhiều điều kiện như: Đặc điểm công trình, đặc điểm của nền đất.v.v. Với từng điều kiện cụ thể mà

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 136

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    người thiết kế đư a ra biện pháp xử lý hợp lý. Trong phạm vi chương này sẽ đề cập đến các biện pháp xử lý cụ thể khi gặp nền đất yếu như:

     

    • Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình;
    • Các biện pháp xử lý về móng;
    • Các biện pháp xử lý nền.

    ß2.     CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VỀ KẾT CẤU CÔNG TRÌNH

     

    K ết cấu công trình có thể bị phá hỏng cục b ộ ho ặc toàn b ộ do các điều kiện biến dạng không thõa mãn: Lún hoặc lún lệch quá lớn làm cho công trình bị nghiêng, lệch, đổ…hoặc do áp lực tác dụng lên mặt nền quá lớn trong khi nền đất yếu, sức chịu tải bé.

     

    Các biện pháp về Kết cấu công trình nhằm làm giảm áp lực tác dụng lên mặt nền hặc làm tăng khả năng chịu lực của kết cấu công trình. Người ta thường dùng các biện pháp sau:

     

    • Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ;
    • Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình;
    • Làm tăng cường độ cho kết cấu công trình.

    2.1. Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ Mục đích: Làm giảm trọng lượng bản

    thân công trình, giảm được tĩnh tải tác dụng lên móng.

     

    Biện pháp: Có thể sử dụng các loại vật liệu nhẹ, kết cấu thanh mảnh, nhưng phải đảm bảo cường độ công trình.

     

    2.2. Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình

     

    Mục đích: Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình kể cả móng để khử được ứng suất phụ thêm phát sinh trong kết cấu khi xảy ra lún lệch hoặc lún không đều.

     

    Biện pháp: Dùng kết cấu tĩnh định hoặc phân cắt các bộ phận của công trình bằng các khe lún.

     

    2.3. Tăng thêm cường độ cho kết cấu công trình

     

    Mục đích: Làm tăng cường độ cho kết cấu công trình để đủ sức ch ịu các ứng lực sinh ra do lún lệch và lún không đều.

    Biện pháp: Người ta dùng các đai bê tông cốt thép để tăng khả năng chịu ứng suất kéo khi chịu uốn, đồng thời có thể gia cố tại các vị trí dự đoán xuất hiện ứng suất cục bộ lớn.

     

    Khe luïn

     

    Hình 4.1: Bố trí khe lún

     

     

    Hình 4.2: Bố trí đai BTCT

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 137

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    ß3.     CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VỀ MÓNG

     

    Khi xây dựng công trình trên nền đất yếu, ta có thể sử dụng một số phương pháp xử lý về móng thường dùng như sau:

     

    • Thay đổi chiều sâu chôn móng;
    • Thay đổi kích thước móng;
    • Thay đổi loại móng và độ cứng của móng.

    3.1. Thay đổi chiều sâu chôn móng

     

    Dùng biện pháp thay đổi chiều sâu chôn móng có thể giải quyết về mặt lún và khả năng chịu tải của nền.

     

    Khi tăng chiều sâu chôn móng sẽ làm tăng trị số sức chịu tải của nền. Trị số tăng của áp lực tiêu chuẩn ∆R khi tăng chiều sâu chôn móng có thể tính theo công thức:

     

    R = 1 +

     

             

    π

         

    (4.1)

         

    .γ .∆h = B.γ .∆h

     

    π

     

    cot gϕϕ +

         

    2

         
           

    Trong đó:

     

    • – Dung trọng của đất nền;

    ∆h – Độ tăng thêm chiều sâu chôn móng;

     

    B = f(ϕ) tra bảng;

     

    Ngoài ra khi tăng độ sâu chôn móng thì sẽ giảm được ứng suất gây lún cho móng nên giảm được độ lún của móng;

     

    σ gl  = σ tbd γ (h + ∆h)

    (4.2)

    Đồ ng th ời tăng độ sâu chôn móng có thể đặt móng xuố ng các tầng đất phía dưới chặt hơn, ổn định h ơn. Tuy nhiên việc tăng chiều sâu chôn móng phải cân nhắc giữa hai yếu tố kinh tế và kỹ thuật.

     

    Một số trường hợp để giảm bớt độ chênh lệch lún giữa cao trình đặt móng thiết kế với cao trình đáy móng sau khi lún ổn định, thường phải nâng cao trình đặt móng lên một trị số dự phòng.

     

    Sdp

    =

    1

    (S + Stc )

    (4.3)

     

    2

             

    Trong đó:

    S – Độ lún ổn định tính toán;

    Stc – Độ lún xảy ra khi thi công (với công trình dân dụng Sdp =0,7S).

     

    Trường hợp nền đất y ếu có chiều dày thay đổi nhiều, để giảm chênh lệch lún có thể đặt móng ở nhiều cao trình khác nhau (Hình 4.3).

    3.2. Biện pháp thay đổi kích thước móng

     

    Âáút yãúu

     

    Hình 4.3

     

    Thay đổi kích thước và hình dáng móng sẽ có tác d ụng thay đổi trực tiếp áp lực tác dụng lên mặt n ền, và do đó cũng cải thiện được điều kiện chịu tải cũng như điều kiện biến dạng của nền.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 138

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    Khi tăng diện tích đáy móng thường làm giảm được áp lực tác dụ ng lên mặt nền và làm giảm độ lún củ a công trình. Tuy nhiên với đất có tính nén lún tăng dần theo chiều sâu thì biện pháp này không tốt.

     

    Nếu  tầng  đất  yếu  chịu  nén  có

    chiều dày khác nhau, có thể dùng biện

    pháp thay đổi chiều rộng móng để cân

    bằng ứng suất cho toàn bộ công trình

    (Hình 4.5).

     

    3.3. Thay đổi loại móng và độ cứng của

    móng

    Khi thiết kế tùy sự phân bố tải

       

    Âáút yãúu

    trọng tác dụng lên móng và điều kiện địa

         

    chất mà chon kết cấu móng cho phù hợp.

       

    Thay âäøi bãö räüngmoïng

    Với nền đất yếu, khi dùng móng

         

    đơn, độ lún chênh lệch sẽ lớn, do vậy để

    b1

    b2

    b3

    giảm ảnh hưởng của lún lệch ta có thể

         

    thay thế bằng móng băng, móng băng

         

    giao thoa, móng bè hoặc móng hộp.

     

    Hình 4.5

     

    Trường hợp sử dụng móng băng

       

    mà biến dạng vẫn lớn thì cần tăng thêm

    cường độ cho móng. Độ cứ ng của móng bản, móng băng càng lớn thì biến dạng bé và độ lún lệch sẽ bé. Ta có th ể sử d ụng các biện pháp như: Tăng chiều dày móng, tăng cốt thép dọc ch ịu lực, tăng độ cứng kết cấu bên trên, bố trí các sườn tăng cường khi móng bản có kích thước lớn.

     

    ß4. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 4.1. Mục đích

     

    Xử lý nền đất yếu nhằm mục đích làm tăng sức chịu tải của nền đất, cải thiện một số tính chất cơ lý của n ền đất yếu như: Giảm hệ số rỗng, giảm tính nén lún, tăng độ chặt, tăng trị số moduynh biến dạng, tăng cường độ chống cắt của đất .v.v.

     

    Đối với công trình thủy lợi, việc xử lý nền đất yếu còn làm giảm tính thấm của đất, đảm bảo ổn định cho khối đất đắp.

     

    Các biện pháp xử lý nền thông thường:

    • Các biện pháp cơ học: Bao gồm các phương pháp làm chặt bằng đầm, đầm chấn động, phương pháp làm chặt bằng các loại cọc (cọc cát, cọc đất, cọc balat, cọc vôi…), phương pháp thay đất, phương pháp nén trước…
    • Các biện phap vật lý: Gồm các phương pháp hạ mực nước ngầm, phương pháp dùng giếng cát, bấc thấm, điện thấm…
    • Các biện pháp hóa học: Gồm các phương pháp keo kết đất bằng xi măng, vữa
    • măng, phương pháp silicat hóa, phương pháp điện hóa…

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 139

     

     

    Âáút âàõp

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.2. Phương pháp xử lý nền bằng đệm cát

     

    L ớp đệm cát sử dụng hiệu quả cho các lớp đất yếu ở trạng thái bão hòa nước (sét nhão, sét pha nhão, cát pha, bùn, than bùn…) và chiều dày các lớp đất yếu nhỏ hơn 3m.

     

    N

    M

     

    Q

     

    Biện pháp tiến hành: Đào bỏ

    α

    α

    hd

    một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu

       
         

    (trường hợp lớp đất yếu có chiều dày

       

    Låïp âãûm caït

    bé) và thay vào đó bằng cát hạt

         

    trung, hạt thô đầm chặt.

    yếu

       

    Âáút yãúu

    Việc  thay  thế

    lớp  đất

         

    bằng tầng đệm cát

    có những

    tác

         

    dụng chủ yếu sau:

             

    + Lớp đệm cát thay thế lớp

    σbt

    σp

     

    đất  yếu  nằm  trực  tiếp  dưới  đáy

         

    móng, đệm cát đóng vai trò như một

    Hình 4.6: Sơ đồ bố trí đệm cát

     
       
                   

    lớp chịu tải, tiếp thu tải trọng công

    trình và truyền tải trọng đó các lớp đất yếu bên dưới.

    • Giảm được độ lún và chênh lệch lún của công trình vì có sự phân bố lại ứng suất do tải trọng ngoài gây ra trong nền đất dưới tầng đệm cát.
    • Giảm được chiều sâu chôn móng nên giảm được khối lượng vật liệu làm

    móng.

    • Giảm được áp lực công trình truyền xuống đến trị số mà nền đất yếu có thể tiếp nhận được.
    • Làm tăng khả năng ổn định của công trình, kể cả khi có tải trọng ngang tác dụng, vì cát được nén chặt làm tăng lực ma sát và sức chống trượt.

    Tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền, do vậy làm tăng nhanh khả năng chịu tải của nền và tăng nhanh thời gian ổn định về lún cho công trình.

     

    • Về mặt thi công đơn giản, không đòi hỏi thiết bị phức tạp nên được sử dụng tương đối rộng rãi.

    Phạm vi áp dụng tốt nhất khi lớp đất yếu có chiều dày bé hơn 3m. Không nên sử dụng phương pháp này khi nền đất có mực nước ngầm cao và nước có áp vì sẽ tốn kém về việc hạ mực nước ngầm và đệm cát sẽ kém ổn định.

     

    4.2. Xác định kích thước đệm cát

     

    Việc xác định kích thước lớp đệm cát một cách chính xác là một bài toán phức tạp vì tính chất của đệm cát và lớp đất yếu hoàn toàn khác nhau. Để tính toán, ta xem đệm cát như một bộ phận của đất nền, tức là đồng nhất và biến dạng tuyến tính.

     

    4.2.1. Kiểm tra ổn định và áp lực tại mặt tiếp xúc giữa đệm cát và lớp đất yếu

     

    Để đảm bảo cho đệm cát ổn định và biến dạng trong giới hạn cho phép thì phải đảm bảo điều kiện sau:

     

    σ1 + σ 2

    Rdy

    (4.4)

    Trong đó:

       

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 140

         

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    σ1 – Ứng suất do trọng lượng bản thân đất trên cốt đáy mặt tiếp xúc giữa đệm cát và lớp đất yếu:

    σ1 = γ.hm + γđ.hđ

         

    Với:  γ, γđ  là dung trọng

     

    N

    M

    của đất và của cát đệm.

       

    hm , hđ  – Chiều sâu

     

    Q

     

    chôn móng và chiều dày

         

    của lớp cát đệm.

         

    σ2 – Ứng suất do tải

         

    trọng  công  trình  gây  ra,

         

    truyền lên mặt lớp đất yếu

    α

     

    b

    dưới tầng đệm cát.

         

    móng và của đệm cát trên

     

    (4.5)

     

    Âáút âàõp

    γ

    hm

    α

    γd

    hd

       

    σ

    2

    = K

    o

    (σ tcγ .h )  (4.6)

       

    o

    m

    Với: Ko = f(a/b,2z/b) tra bảng (Xem trong sách Cơ học đất – Lê Xuân Mai – Đỗ Hữu Đạo).

     

    a, b – Cạnh dài và

    σ      σ             Låïp âãûm aïtc

    bd

    Âáút yãúu

     

    Hình 4.7: Sơ đồ tính toán lớp đệm cát

     

    rộng của móng, z độ sâu của điểm tính ứng suất.

       

    σ otc

    – Ứng suất trung bình tiêu chuẩn dưới đáy móng.

       

    tc

     

    Notc

    (4.7)

     

    σ o

    = γ tb .hm +

       

    F

           
               

    Trường hợp móng chịu tải trọng lệch tâm:

     

    tc

    = γ tb .hm +

    Notc

     

    M otc

    (4.8)

    σ o

     

    ±

     

    F

    W

    Với:      ∑ Notc – Tổng tải trọng thẳng đứng tiêu chuẩn của công trình tác dụng lên móng;

     

    • M otc – Tổng momen tiêu chuẩn do tải trọng công trình tác dụng lên móng;

    F – Diện tích đáy móng F = axb;

     

    W – Mo men chống uốn của tiết diện đáy móng;

    γtb – Dung trọng trung bình của móng và đất đắp trên móng;

    Rđy – Cường độ tiêu chuẩn của lớp đất yếu dưới đáy đệm:

    R dy  =

    m1 .m 2

    (A.b yII  + B.H yII  + D.cIItc )

    (4.9)

     
     

    K tc

     

    Trong đó: Các hệ số m1, m2, Ktc, A, B, B đã gới thiệu chi tiết trong chương 2. cIItc – Lực dính đơn vị của đất nền dưới tầng đệm cát;

     

    • II – Dung trọng trung bình của đất yếu dưới tầng đệm cát;
    • II – Dung trọng trung bình của đất từ đáy tầng đệm cát trở lên; By – Chiều rộng của móng khối quy ước.
    • Đối với móng băng:

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 141

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    by  =

    Notc

    (4.10)

     

    σ 2

    .b

         

    + Đối với móng chữ nhật:

     

     

    by  =

     

    2 + Fy  − ∆

           

    (4.11)

     

    ∆ =

    a b

               

    (4.12)

               
           

    2

                 
     

    Fy  =

    Notc

             

    (4.13)

       

    σ 2

           
                     

    Hy – Chiều cao của móng quy ước:

             
           

    Hy = hm + hđ

    (1.14)

    R1/R2

         

    Với: hm – Chiều sâu chôn móng

           
     

    6,0

         

    hđ – Chiều dày của lớp đệm cát, chiều dày hđ

         
           

    có thể tự chọn rồi kiểm tra (1.5-2.5m) hoặc có

    5,0

         

    thể xác định theo công thức gần đúng sau đây:

         
       

    a/b=1

     

    hđ = K.b

    (1.15)

       
             

    Trong đó: K – Hệ số phụ thuộc vào tỷ số a/b và

    4,0

         

    R1/R2 tra trên biểu đồ (Hình 4.8).

           

    a/b=2

    Với:

    R1 – Cường độ tính toán của đệm cát,

    3,0

         

    xác định bằng thí nghiệm nén tĩnh ngoài hiện

           

    trường hoặc theo quy phạm.

     

    2,0

         
     

    R2 – Cường độ tính toán của lớp đất

     

    a/b=x

         

    yếu dưới lớp đệm cát, xác định bằng thí nghiệm

    1,0

       

    K

    nén tĩnh ngoài hiện trường hoặc tính toán theo

       

    0

    0,5

    1,0

    1,5

    quy phạm.

             

    Hình 4.8: Toán đồ xác định hệ số K

    4.2.2. Xác định chiều rộng của đệm cát

     
     

    bđ

    = b + 2hđ.tgα

    (4.16)

           

    Với: α – Góc truyền lực, thường lấy bằng góc nội ma sát của cát hoặc có thể lấy trong giới hạn 30-45o.

     

    4.2.3. Kiểm tra độ lún của đệm cát và nền

    Sau khi xác định kích thước đệm, cần phải kiểm tra lại điều kiện (4.4) và kiểm tra độ lún toàn bộ của nền S:

     

    S = S1 + S2 ≤ Sgh

    (4.17)

    Với:

    S1

    – Độ lún của đệm cát;

     
     

    S2

    – Độ lún của đất yếu dưới tầng đệm cát;

     

    Sgh – Độ lún giới hạn cho phép.

    4.3. Thi công và kiểm tra lớp đệm cát

    Thi công đệm cát phải đảm bảo độ chặt cần thiết (thông thường độ chặt của đệm cát phải đạt D = 0,65-0,7 và không làm phá hoại nền đất thiên nhiên dưới đáy tầng đệm cát.

     

    Sau khi đ ào b ỏ mộ t phần lớp đất yếu, tiến hành đổ cát thành từng lớp có chiều dày 20-25cm và đầm chặt bằng đầm lăn và đầm xung kích.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 142

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    Trường hợp mực nướ c ngầm cao có thể hạ mực nước ngầm hoặc dùng biện pháp thi công trong nước (lắc xỉa cát trong nước…).

    4.3. Phương pháp đầm chặt lớp đất mặt

    Khi gặp trường h ợp nền đất y ếu nhưng có độ ẩm nhỏ (G<0,7) thì có thể sử dụng phươ ng pháp đầm chặt lớp đất mặt để làm tăng cường độ chống cắt của đất và làm giảm tính nén lún.

     

    Lớ p đất mặt sau khi được đầm chặt sẽ có tác d ụng như một tầng đệm đất, không những ưu đ iểm nh ư phương pháp đệm cát mà còn có ưu điểm là tận dụng được nền đất thiên nhiên để đặt móng, giảm được khối lượng đào đắp.

     

    Để đầm chặt lớp đất mặt, người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau, thường hay dùng nh ất là phương pháp đầm xung kích: Theo phương pháp này quả đầm trọng lượ ng 1- 4 tấn (có khi 5- 7tấn) và đườ ng kính không nhỏ hơn 1m. Để hiệu qu ả tốt, khi chọn quả đầm nên đảm bảo áp lự c tĩnh do quả đầm gây ra không nhỏ hơn 0,2kG/cm2 với đất loại sét và 0,15kG/cm2 với đất loại cát.

     

    Trong quá trình đầm, quả đầm được kéo lên 4- 6m bởi cần trục và để rơi tự do. Theo dõi độ chối (độ lún do một nhát đầm gây ra) để kết thúc quá trình đầm. Đối với đất lọai sét thì độ chối e này không nhỏ hơn 1-2cm, đối với đất loại cát thì e không nhỏ hơn 0,5-1cm.

     

    Mụ c đích của việc đầm là tạo nên lớp đất có độ ch ặt lớn, dày từ 1,5 – 3,5m. Tùy thuộc vào trọng lượng, kích thước, chiều cao và số lần đầm. Chiều dày của lớp mặt được đầm chặt có thể tính theo công thức:

     

    h = K.D

    (4.18)

    Với:    D –  Đường kính mặt đáy quả đầm;

    • – Hệ số, lấy bằng 1,55 với đất cát, K=1,45 đối với đất á sét, K=1,2 với đất loại sét và K=1 đối với đất sét.

    Độ hạ thấp mặt đất sau khi đầm:

     

    h =

    eo − 0,5(em + etk )

    .h

    (4.19)

    1 + eo

    Với:     eo – Hệ số rỗng tự nhiên;

    em – Hệ số rỗng sau khi đầm;

    etk – Hệ số rỗng thiết kế ở đáy lớp đệm đất mặt (ở độ sâu h).

     

     

    Hæåïngdëch

     

    chuyãøn

     

    Quaí âáöm

     

    4-5m

    Màût âáút træåïc

    Màût âáút sau

    khi âáöm

    khi âáöm

     

    Hình 4.9: Sơ đồ bố trí đầm xung kích

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 143

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.4. Phương pháp xử lý nền bằng cọc cát

     

    4.4.1. Đặc đ iểm và phạm vi áp dụng Khác với các loại cọc cứng khác (bê tông, bê tông cốt thép, cọc

     

    gỗ, cọc tre…) là một bộ ph ận của kết cấu móng, làm nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng xuống đất nền, mạng lưới cọc cát làm nhiệm vụ gia cố nền đất yếu nên còn gọi là nền cọc cát.

     

    Việc sử dụng cọc cát để gia cố nền có những ưu điểm nổi bật sau:

     

    • Cọc cát làm nhiệm vụ như giếng cát, giúp nước lỗ rỗng thoát ta nhanh, làm tăng nhanh quá trình cố kết và độ lún ổn định diễn ra nhanh hơn.

    N

    M

     

    Q

     

    Âáút àpâ

     

    Låïp âãûm aïtc

     

    Coüc caït

     

    + Nền đất được ép chặt do

    Hình 4.10: Sơ đồ bố trí cọc cát

    ống thép tạo lỗ, sau đó lèn chặt đất

     

    vào lỗ làm cho đất đượ c nén chặt thêm, n ước trong đất bị ép thoát vào cọc cát, do vậy làm tăng cường độ cho nền đất sau khi xử lý.

     

    • Cọc cát thi công đơn giản, vật liệu rẻ tiền (cát) nên giá thành rẻ hơn so với dùng các loại vật liệu khác.

    Cọc cát thường được dùng để gia cố nền đất yếu có chiều dày > 3m.

     

    4.3.2. Thiết kế nền cọc cát

     

    Khi thiết kế sơ bộ có thể chấp nhận giả thiết rằng cọc cát chỉ nén chặt vùng đất, thể tích nén chặt đúng bằng thể tích cọc.

     

    Dụng cụ: Ống thép hay cọc gỗ đóng hạ đến độ sâu thiết kế.

    Vật liệu: Thường dùng cát vàng, hạt trung, hạy thô, lúc đầu đổ từ 1/2- 2/3 chiều dài ống rồi rung hay đầm chặt, đồng thời kéo dần ống lên, và (đầm) rung đến khi hoàn thành cọc cát.

     

    Trước khi thiết kế cọc cát, cần biết hệ số rỗng tự nhiên eo của lớp đất yếu. Sau khi nén chặt bằng cọc cát thì đất có hệ số rỗng nén chặt là enc.

    Đối với nền đất cát, sau khi gia cố thì phải đạt enc = 0,65 – 0,75.

    Đối với nền đất dính được nén chặt bằng cọc cát thì:

     

    enc  = ∆(Wd  + 0,5φ) (với φ = Wnh Wd )

    (4.21)

    Diện tích cần nén chặt Fnc rộng hơn đáy móng, theo kinh nghiệm diện tích cần nén chặt rộng hơn đáy móng ≥ 0,2b (b – Bề rộng móng) về các phía:

    Fnc = 1,4b(a+0,4b)

    (4.22)

    Trong đó: a,b – Là cạnh dài và rộng của đáy móng.

    Tỷ lệ diện tích tiết diện của tất cả các cọc cát Fc đối với diện tích đất nền được nén chặt

    Fnc được xác định như sau:

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 144

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    F

    = Ω =

    eo enc

    (4.23)

    F

     
     

    1 + e

    o

     

    nc

         

    Số lượng cọc cát cần thiết để nén chặt nền đất yếu dưới đáy móng:

     

    n =

    Ω.Fnc

    (4.24)

     

    fc

         

    Trong đó: fc – Diện tích tiết diện ngang của mỗi cọc cát (lấy bằng diện tích tiết diện ống khi tạo lỗ).

     

    Cọc cát thường đượ c bố trí theo lưới tam giác đều, đây là sơ đồ bố trí hợp lý nhất để đảm bảo cho đất được nén chặt đều trong khoảng cách giữa các cọc cát.

    Khoảng cách giữa các cọc cát đối với đất

    dính:

     

    0,2b

    b

    0,2b

    0,2b

         

    a

    F

     

    Fnc

     

    0,2b

    Hình 4.11: Bố trí cọc cát và phạm vi nén chặt đất nền

     

    L = 0,95d

    γ nc

    (4.25)

    γ nc γ o

    Đối với đất rời:

     

    L = 0,95d

    1 + eo

    (4.26)

    eo enc

    Trong đó: d – Đường kính cọc cát (400-500mm);

    γ nc  =

       

    (1

    + 0,01W )

    (4.27)

     
         

    1

    + enc

             

    W – độ ẩm tự nhiên của đất;

    γo – Dung trọng tự nhiên của đất;

     

    ∆ – Tỷ trọng của đất;

     

    • Trọng lượng cần thiết của cát cho mỗi mét dài của cọc.

    G = fc .c  (1 + 0,01W )

    1 + enc

     

    d

    L

     

    Hình 4.12: Bố trí cọc cát theo sơ đồ tam giác

     

    (4.27)

     

    Với: ∆c – Tỷ trọng của cát trong cọc;

    W1 – Độ ẩm của cát khi thi công cọc;

    • Chiều sâu nén chặt bằng chiều dài của cọc:
    • Với móng chữ nhật : lc ≥ 2b;
    • Với móng bản: lc ≥ 4b;

    Khi b> 10m thì: lc ≥ 9m + 0,15b (nền sét);

    lc ≥ 6m + 0,10b (nền cát);

     

    Theo kinh nghiệm chiều dài của cọc cát thường lấy đến độ sâu của nền dưới đáy móng được xem là hết lún (tại độ sâu có σ gl ≤ 0,2σ bt ).

     

    4.3.3. Thi công và kiểm tra nền cọc cát

     

    Việc thi công đóng cọc cát bằng các máy chuyên dụng. N ếu là móng công trình cần phải đào thì đào chừa lại 1m để sau khi thi công thì vét đi vì đất ở vị trí này không

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 145

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    được chặt. Việc thi công đóng cọc nhờ bộ phận chấn

           

    động, máy rung ấn ống thép (đường kính 40-60cm)  a)

         

    b)

    vào lòng đất đến cao độ thiết kế. Sau khi đóng xuống

           

    đất, ống thép có đàu đóng lại (hình 4.13a). Sau đó

           

    người ta nhấc bộ phận chấn động ra. Nhồi cát vào rồi

           
           
           

    đặt máy chấn động vào rung khoảng 15 – 20 giây. Tiếp

           
           
           

    theo bỏ máy chấn động ra rồi rút ống lên chừng 0,5m

           
           
           

    rồi đặt máy rung vào rung 10 – 15 giây cho đầu cọc

           
           
           

    mở ra (hình 4.13b) để cát tụt xuống. Sau đó rút ống lên

           
           

    dần đều, vừa rút ống vừa rung cho cát được chặt.

           
           

    •  Kiểm tra nền cọc cát:

           
           

    Sau khi thi công cần kiểm tra lại nền cọc cát bằng

           
           

    các phương pháp sau:

         

    Hình 4.13

    – Khoan lấy mẫu đất giữa các cọc để xác định

         
           

    γnc, enc, c, ϕ sau khi nén chặt từ đó tính ra cường độ đất sau nén chặt.

     

    – Dùng xuyên tiêu chuẩn để kiểm tra độ chặt của cát trong cọc và đất giữa các

    cọc.

    • Thí nghiệm bàn nén tĩnh tải tại hiện trường trên mặt nền cọc cát. Diện tích bàn nén yêu cầu phải lớn (≥ 4m2) để chùm ít nhất là 3 cọc để thí nghiệm.

    4.5. Xử lý nền bằng cọc vôi và cọc đất – xi măng

    4.5.1. Đặc điểm và phạm vi áp dụng Cọc vôi thường được

     

    dùng để xử lý, nén chặt các lớp đất yếu như: Than bùn, bùn, sét và sét pha ở trạng

    thái dẻo nhão.

    Cáön khoan

     

    Việc sử dụng cọc vôi có

       

    những tác dụng sau:

    ÄÚng dáùn

     

    –  Sau  khi  cọc  vôi

     
       

    được đầm chặt, đường kính

       

    cọc vôi sẽ tăng lên 20% làm

       

    cho  đất  xung  quanh  nén

    Maïy iãöuâ khiãøn

    Xilä

    chặt lại.

       

    – Khi vôi được tôi

       

    trong lỗ khoan thì nó tỏa ra

    1

    2

    một  nhiệt  lượng  lớn  làm

       

    cho nước lỗ rỗng bốc hơi

       

    làm giảm độ ẩm và tăng

       

    nhanh quá trình nén chặt.

       

    Sau khi x ử lý bằng

    Hình 4.14: Sơ đồ máy thi công cọc đất – vôi

    cọc vôi nền đất được cải

       

    thiện đáng kể:

    • Độ ẩm của đất giảm 5-8%;
    • Lực dính tăng lên khoảng 1,5 –3 lần;

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 146

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    • Modun biến dạng tăng lên 3-4 lần;
    • Cường độ của đất giữa các cọc vôi có thể tăng lên đến 2 lần;

    V ới những ưu đ iểm như trên cho thấy rằng xử lý nền đất yếu bằng cọ c vôi có hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên khi gặp các nền đất quá nhão, yếu (đất có B> 1) thì hiệu quả nén chặt của cọc vôi bị hạn chế. Với các lo ại bùn gốc sét nhão yếu thì hiệu quả nén chặt càng ít vì vôi tôi và đất sét đều thấm nước yếu nên việc ép thoát nước lỗ rỗng khó, kém hiệu quả.

    4.4.2. Thiết kế và thi công cọc vôi

    Việc tính toán và thiết kế cọc vôi tương tự như cọ c cát, tuy nhiên cần chú ý khả năng thoát nước của chúng khác nhau. V ới cọc cát thì kh ả năng thoát nướ c đều và trong thời gian dài còn với cọc vôi thì khả năng thoát nước nhanh trong thời gian đầu và sau đó giảm đi nhiều.

     

    Thi công cọc vôi : Để thi công cọc vôi trước hết phải khoan tạo lỗ , lỗ khoan từ 240 -400mm, nếu thành lỗ khoan bị sạt lở thì hạ ống thép, sau đó cho từng lớp vôi sống dày khoảng 1m xuống lỗ khoan và đầm chặt từng lớp cho đến hết chiều sâu. Kết hợp vừa đầm vừa rút ống lên. Hiệu quả nén chặt của cọt vôi phụ thuộc vào chất lương đầm chặt và thành phần hóa học của vôi.

     

    Độ chặt và cường độ của nền cọc vôi có thể kiểm tra như đối với nền cọc cát.

     

    4.5.1. Cọc đất – vôi

    1. Chế tạo cọc đất – vôi

    Việc chế tạo cọc đất – vôi khá phức tạp và phải sử dụng các máy chuyên dụng (Hình 4.14). Cấu tạo máy gồ m hai bộ phận: Phần máy điều khiển và xi lô đựng vôi bột. (máy Alimak của Thụy Điển sản suất)

    Hoạt động của máy như sau:

         

    Lưỡi khoan có đường kính

    b/4

    b

    b/4

    khoảng 500mm có tác dụng tạo lỗ và

    làm cho đất tơi ra tại chỗ, chiều sâu

       

    Coüc väiâáút-

    khoan có thể đạt tới 20m, khi khoan

       
         

    đến độ sâu thiết kế thì bắt đầu quá

         

    trình phun vôi. Vôi bột được chứa

         

    trong xi lô dung tích 2,5m3. Khi máy

         

    vận hành, một bộ phận máy nén khí

         

    tạo nên một áp lực trong xilô và áp

         

    lực đó đẩy vôi bột từ xi lô vào ống

         

    cao su dẫn qua cần khoan vào lỗ

         

    khoan  và  chui  ra  một  lỗ  nhỏ

         

    φ=30mm ở dưới lưỡi khoan và phun

         

    vào đất vôi bột tác dụng với nước lỗ

         

    rỗng tạo nên liên kết ximăng và các

         

    liên kết này gắn kết các hạt khoáng

         

    vật trong đất lại và làm cho đất cứng

         

    hơn.

     

     

    Hình 4.15: Xử lý nền đất yếu bằng cọc vôi – đất

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 147

         

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    1. Hiệu quả và ứng dụng

    Khi tạo cọc vôi đất thì cường độ của cọc này phụ thuộc vào lượng vôi và thời

    gian.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng vôi càng nhiều thì độ cứng của cọc càng tăng nhanh.

     

    • nước ta với đất yếu có độ ẩm tự nhiên từ 40-70% thì dùng hàm lựợng vôi từ 6-12% là hợp lý. Với tỷ lệ đó thì cường độ cọc đạt 50% sau 1 tháng và 70 – 80% sau 3 tháng.

    Cọc đất – vôi xử lý làm tăng cường độ chống cắt của đất lên hàng 10 lần, có thể sử dụng cọc đất vôi này làm tường cừ hoặc làm nền cho công trình. Khoảng cách giữa các cọc vôi tùy thuộc đặc điểm nền và tải trọng, theo kinh nghiệm lấy bằng 0,75m, chiều dài cọc phải vượt chiều sâu chịu nén của đất, lưới cọc trùm ra diện tích đáy móng là b/4 với b là bề rộng móng.

    Việc kiểm tra sức chịu tải của nền khi xử lý cần xác định bằng thí nghiệm nén tĩnh tại hiện trường, với kích thước bàn nén là 100x100cm.

     

    4.5.4. Cọc đất – ximăng

     

    Việc chế tạo cọc đất – xi măng cũng giống như đối với cọc đất – vôi, ở đây xi lô chứa xi măng và phun vào đất với tỷ lệ định trước. Lưu ý sàn ximăng trước khi đổ vào xilô để đảm bảo ximăng không bị vón cục và các hạt ximăng có kích thước đều <0,2mm, để không bị tắc ống phun.

    Hàm lượng ximăng có thể từ 7 – 15% và kết quả cho thấy gia cố đất bằng ximăng tốt hơn vôi và đất bùn gốc cát thì hiệu quả cao hơn đất bùn gốc sét.

     

    Qua kết quả thí nghiệm xuyên cho thấy sức kháng xuyên của đất nền tăng lên từ 4-5 lần so với khi chưa gia cố.

     

    • nước ta đã sử dụng loại cọc đất – ximăng này để xử lý gia cố một số công trình và hiện nay triển vọng sử dụng loại cọc đất – ximăng này để gia cố nền là rất tốt.

    4.6. Phương pháp gia tải nén trước

    4.6.1. Đặc điểm và phạm vi áp dụng

     

    Phương pháp này có thể sử dụng để xử lý khi gặp nền đất yếu như than bùn, bùn sét và sét pha dẻo nhão, cát pha bão hòa nước.

     

    Dùng phương pháp này có các ưu điểm sau:

     

    • Tăng sức chịu tải của nền đất;
    • Tăng nhanh thời gian cố kết, tăng nhanh độ lún ổn định theo thời gian.

    Các biện pháp thực hiện:

    • Chất tải trọng (cát, sỏi, gạch, đá…) bằng hoặc lớn hơn tải trọng công trình dự kiến thiết kế trên nền đất yếu, để cho nền chịu tải trước và lún trước khi xây dựng công trình.
    • Dùng giếng cát hoặc bấc thấm để thoát nước ra khỏi lỗ rỗng, tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền, tăng nhanh tốc độ lún theo thời gian.

    Tùy yêu cầu cụ thể của công trình, điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn của nơi xây dựng mà dùng biện pháp xử lý thích hợp, có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp cả hai biện pháp trên.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 148

     

     

    Hình b

     

    Hình a

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.6.2. Phương pháp nén trước không dùng giếng thoát nước a. Điều kiện địa chất công trình

     

    Để đạt được mục đích làm cho đất chặt, ép thoát nước ra khỏi lỗ rỗng thì những trường hợp sau thích hợp cho phương pháp gia tải nén trước.

    a1. Cấu tạo địa tầng như hình 4.16a Trên cùng là lớp đất trồng trọt, giữa

     

    là lớp đất yếu cần gia cố , dưới cùng là lớp cát tự nhiên. Khi chịu tải trọng nén trước q thì nước lỗ rỗ ng của đất yếu sẽ bị ép thoát vào lớp cát tự nhiên.

     

    a2. Cấu tạo địa tầng nh ư hình 4.16b Trên cùng là lớp cát tự nhiên, ở giữa

     

    là lớp đất yếu cần xử lý. Dưới cùng là lớp cát tự nhiên. Khi chịu tải trọng nén trước q, nước lỗ rỗng rỗng trong lớp bị ép thoát ra theo cả hai chiều lên và xuống vào hai lớp cát tự nhiên.

     

    a3. Cấu tạo địa tầng như hình 4.16c Trường hợp này khi chịu tải trọng

     

    nén q, n ước thoát ra theo chiều lên vào tầng cát, trường hợp nếu không có lớp cát tự nhiên thì có thể làm một lớp đệm cát nhân tạo sau đó tác dụng tải trọng nén trước.

    b.Tính toán tải trọng nén trước

    Độ lớn của áp lực nén trước được lựa chọn như sau:

     

    • Dùng tải trọng nén trước đúng bằng tải trọng công trình sẽ xây dựng.

    Dùng tải trọng nén trước lớn hơn tải trọng công trình sẽ xây dự ng (lớn hơn kho ảng 20%) để tăng nhanh quá trình cố kết, rút ngắn th ời gian gia tải, tuy nhiên cũng không lớn quá dễ gây phá hoại nền đất yếu.

     

    Độ lún dự kiến được xác định theo công thức kinh nghiệm sau:

     

    St

    = S

     

    t

    (4.29)

    Hình c

     
       

    Hình 4.16

     

    α + t

         

    Trong đó: S t – Độ lún dự tính ở thời gian t, với t là thời gian nén trước.

     

    • – Hệ số kinh nghiệm;

     

     

    q

     

     

     

    Âáút träöng troüt

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     

    Caït

     

     

     

     

    q

     

     

    Caït

     

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     

    Caït

     

     

     

     

     

    q

     

     

     Caït

     

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     Seïtkhäng tháúm

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 149

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    α =

    S

    .t1t1

    (4.30)

     
     

    St1

     

    Với:

    S – Độ lún ổn định trong quá trình nén trước, xác định theo tài liệu quan trắc

    thực tế.

     

    t2

    t1

     

    (4.31)

     

    t2

    t1

     
         
     

    St 2

    St1

       
           

    St1, St2 – Độ lún quan trắc ứng với thời gian t1, t2 ; c. Biện pháp thi công

     

    Để thi công gia tải nén trước ta có thể dùng hai cách sau:

     

    Cách 1:

    Chất tải trọng nén trướ c lên mặt đất tại v ị trí xây móng, đợi một thời gian theo yêu cầu thiết kế để độ lún đạt ổn định để đạt độ lún ổn định rồi dỡ tải để đào hố móng và thi công móng (với chiều sâu chôn móng h ≤ 1m). N ếu chiều sâu chôn móng lớn thì đào hố móng đến độ sâu bé hơn cốt đáy móng 50cm rồi chất tải trọng nén.

    Cách 2:

     

    Có th ể xây dựng móng trước, sau đó chất tải lên móng để móng lún đến trị số ổn định, sau đó dỡ tải và xây dựng kết cấu bên trên.

     

    Trong hai biện pháp trên, tùy theo điều kiện cụ thể mà chọn biện pháp thích

    hợp.

    Tải trọ ng nén trước phải đượ c tăng dần từng cấp, mỗi cấp tươ ng đương tải trọ ng một tầng nhà hoặc bằng kho ảng 15 – 20% tổng tải trọng công trình. Cần bố trí mốc để quan trắc lún trong suốt thời gian gia tải.

     

    4.6.3. Phương pháp nén tr ước có bố trí đường thấm thẳng đứng a. Điều kiện địa chất công trình

     

    Khi chiều dày nền đất y ếu rất dày hoặc khi độ thấm củ a đất rất nhỏ thì có thể bố trí các đường thấm thẳng đứng để tăng tốc độ cố kết. Phương pháp này thường dùng để xử lý nền đường đắp trên nền đất yếu.

     

    Có hai loại đường thấm thẳng đứng: Giếng cát (SW) và bấc thấm (PVD). Tác dụng của đường thấm thẳng đứng là để tăng nhanh quá trình thoát nước trong các lỗ rỗng của đất yếu, làm giảm độ rỗng, độ ẩm, tăng dung trọng. Kết qu ả là làm tăng nhanh quá trình cố kết của nền đất y ếu, tăng sức chịu tải và làm cho nền đất đạt độ lún quy định trong thời gian cho phép.

    Để tăng nhanh tố c độ cố kết, ta thường k ết hợp biện pháp x ử lý bằng bấc thấm, giếng cát vớ i biện pháp gia tải tạm th ời, tức là đắp cao thêm nền đường so v ới chiều dày thiết kế 2-3m trong vài tháng rồ i sẽ lấy phần gia tải đó đi ở thời điểm t mà nền đường đạt được độ lún cuối cùng như trường hợp nền đắp không gia tải.

    *Cấu tạo chung của nền đường đắp trên đất yếu có sử dụng thiết bị thoát nước thẳng đứng (bấc thấm hoặc giếng cát) (Hình 4.17).

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 150

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

     

    Thiãút bë quantràõc

       
     

    chuyãøn vëngang

    Hgt

     

    Hgt

    2m

    2m

    3m

       

    Thiãút bë quan

           

    Âáút àõpâ

       

    :n

     

    tràõc luïn

       

    1

     
     

    hd

       

    Âãûm caït

     

    Âáút ãúyu

    Lpvd

     

    PVD/giãúngcaït

     

    Låïp áútâ cæïng

    Hình 4.17

    b. Tính toán, thiết kế

     

    Thiãút bë quan tràõc

     

    chuyãøn vë ngan

     

    3m      2m     2m

    1

    :n

     

    hd

    Vi ÂKT

     

    Âáút yãúu

     

    Nội dung thiết kế h ệ thố ng giếng cát, bấc thấm gồm có việc xác định đường kính giếng cát hoặc đường kính tương đương của bấc thấm khi đã biết các đặc trưng của đất y ếu và thời gian cần thiết để đạt độ cố kết cho trước (tức là tính toán độ lún theo thời gian trong trường hợp có bố trí đường thấm thẳng đứng.

     

    Trình tự tính toán như sau:

    • Chọn hình thức bố trí hệ thống giếng cát hoặc bấc thấm theo mạng lưới tam giác hoặc chữ nhật, xác định đường kính d và khoảng cách giữa các giếng cát hoặc bấc thấm L.

    – Đối với giếng cát, d chính là đường kính của giếng cát; – Đối với bấc thấm PVD thì d tính như sau:

     

    Theo Hansbo (1979) thì d = a + b

    π

    Theo Hansbo (1987) thì d = a + b

    2

     

    Với :  a – Chiều dày của PVD, thường từ 3-5mm (cá biệt a=10mm);l

    • – Chiều rộng của PVD, hiện nay b=100mm;
    • Tính bán kính ảnh hưởng D của SW hoặc PVD.

    (4.31)

     

    (4.32)

     

    D = α.L

    (4.33)

    Với: L – Kho ảng cách từ tâm đến tâm của PVD hoặc SW, chính tà chiều dài của cạnh tam giác đều n ếu b ố trí theo lưới tam giác đều hoặc là chiều dài của cạnh hình vuông nếu bố trí theo lưới hình vuông.

     

    • = 1,05 – Nếu bố trí PVD hoặc SW theo lưới tam giác đều;
    • = 1,13 – Nếu bố trí PVD hoặc SW theo lưới hình vuông.
    • Tính nhân tố thời gian

    Nr  =

    Cr .t

     

    (4.34)

    D2

     
         

    Với:  Cr – Là hệ số cố kết hướng tâm, t – thời gian cố kết;

     

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 151

           

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    • Tra toán đồ hình (4.18) để xác định độ cố kết hướng tâm Ur theo Nr và n;
    • Tính nhân tố thời gian Nz và độ cố kết thẳng đứng Uz (tra toán đồ 4.18):
      • .t

    N=  hz2

     

    • Tính độ cố kết chung theo công thức:

    1 − U = (1 − Ur ).(1 − U v )

     

    (4.35)

     

    (4.36)

     

    Âäü cäúkãút Ur,Uz

    0

                     

    10

                     

    20

                     

    30

             

    n

       
                   
               

    =

     
                   

    1

     

    40

                 

    0

     
     

    n

     

    n

     

    n

    0

     
         

    =

     

    =

     
       

    =

     

    2

     

    4

     

    50

     

    1n

     

    0

     

    0

     
     

    n

    0=

           
         

    1

         
     

    n

    =

     

    5

         

    60

    7

               

    =

                 

    5

                 

    70

                     

    80

                     

    90

                     

    100

    23   4  5  6 7  8 910-1

         

    2

     

    3   4  5  6 7  8 910-1

    23

    4  5  6 7 8 910-2

           

    Nhán täú thåìi gian Nr,Nz

    Hình 4.18: Toán đồ xác định độ cố

     

    kết Ur, Uz theo Nr và Nz

     

    và n=D/d

     

     

    1. Trình tự các bước thi công:
    • đây giới thiệu trình tự các bước thi công trong trường hợp xử lý bằng bấc thấm: – Định vị trí chân ta luy nền đường;

    – Đào bỏ một phần đất yếu theo thiết kế, thường từ 0,5-0,8m;

    – Rải vải địa kỹ thuật, nên rải vuông góc với tim đường, mép vải chồng lên nhau 15-20cm;

    – Đặt thiết bị quan trắc lún thẳng đứng;

    – Đắp lớp đệm cát đến cao độ thiết kế và tạo phẳng;

    – Đặt thiết bị quan trắc chuyển vị ngang để quan trắc chuyển vị ngang của nền đường; – Tiến hành cắm bấc thấm (cắm PVD – Phabricatied Vertical Drainage), việc cắm bấc thấm thực hiện bằng các máy cắm bấc chuyên dụng. Sau khi cắm, bấc phải cao hơn bề mặt lớp cát đệm từ 15-20cm.

     

    – Đắp đất: Đất được đắp thành từng lớp với chiều dày mỗi lớp 15, 20, hoặc 25cm. Tốc độ đắp tuân thủ theo thiết kế, kết hợp quan trắc lún để xử lý kịp thời trong trường hợp lún nhanh quá tốc độ thiết kế.

     

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-n%E1%BB%81n-m%C3%B3ng-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%C3%B3ng-c%E1%BB%8Dc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    THUYẾT MINH ĐỒ ÁN

    THIẾT KẾ MÓNG CỌC

    *******

    I.Số liệu:

    1. Đặc điểm kết cấu: Kết cấu khung BTCT có tường chèn       

       Tải trọng tính toán tác dụng dưới chân công trình tại cốt mặt đất:

               Móng  M1 : Cột trục B Ntt0 = 516T ;    Mtt0 = 135T.m;   Qtt0 = 81T

               Móng M2  : Cột trục D Ntt0 = 436T ;    Mtt0 = 123T.m;   Qtt0 = 81T

    • Tải trọng tiêu chuẩn dưới chân cột: Trục B

    , ,

    (n: hệ số vượt tải có thể lấy chung từ 1,1 – 1,2, ở đây ta chọn n= 1,15)

    Loại

    Vị trí

    N(T)

    M(T.m)

    Q (T)

    Tải trọng
    tiêu chuẩn

    Ptc

    C1

    448,7

    117,39

    70,43

    C2

    379,1

    107

    70,43

    Tải trọng
    tính toán

    Ptt

    C1

    516

    135

    81

    C2

    436

    123

    81

    1. Khu vực xây dựng , nền đất gồm 5 lớp:

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày  

    Chiều sâu mực nước ngầm :   Hnn = 9 (m)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 516 T

    M0tt= 135 T.m

    Q0tt= 81 T

    A.Số liệu tính toán

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày

    Mực nước ngầm ở độ sâu -9,0 (m) kể từ mặt đất khi khảo sát.

    Bảng giá trị tính toán

    Móng

    Cột Trục

    (T)

    (Tm)

     

    (T)

     

    M1

    B

    516

    135

    81

            M2

              D

             436

    123

              81

     

    Bảng chỉ tiêu cơ học ,vật lý của các lớp đất

    TT

    Tên lớp đất

    Chiều dày

    (m)

         γ  (kN/m3)

    γs

    (kN/m3)

    W

    (%)

    WL (%)

    W(%)

     

    CII

    (kPa)

     N30

    E

    (kPa)

    Cu (kPa)

    1

    Sét pha

    2,4

    17,9

    26,9

    36

    41

    24,5

    17

    20

    7

    6800

    45

    2

    Sét

    4,7

    17,6

    27

    40

    46

    28,0

    16

    25

    5

    6300

    34

    3

    Cát pha

    5,4

    18,1

    26,7

    28

    30

    24,0

    21

    7

    8

    6500

    41

    4

    Cát nhỏ

    6,0

    18,5

    26,6

    24

    _

    _

    30

    _

    22

    12000

    _

      5

    Cát vừa

    Rất dày

        18

       26,4

      18

       _

        _

       35

        _

     35

    25000

        _

    I.Đánh giá điều kiện địa chất công trình,địa chất thủy văn

    a.Đều kiện địa chất công trình

    * Trục địa chất  

     

    TRỤC ĐỊA CHẤT

     

     

     

     

    MẶT BẰNG CÔNG TRÌNH

    * Đánh giá điều kiện địa chất công trình

    – Để có thể lựa chọn giả pháp nền và móng cho công trình một cách hợp lý ta cần phải đánh giá điều kiện địa chất thủy văn của khu đất xây dựng công trình ta cần phải xét các chỉ số sau:

    – Hệ số rỗng [e]

     

    – Độ sệt [ IL]

                             =B

     

    – Trọng lượng đẩy nổi của đất [ đn ]

                     đn  với =10(kN/m3)

    – Đánh giá sơ bộ về địa chất của khu đất xây dựng công trình như sau:

     

     Lớp 1 : Sét pha

    +Độ rỗng : e0 = = =1,04

    +Chỉ số dẻo A= 41% – 24,5%=16,5%    17% đất thuộc loại sét  pha

     +Độ sệt trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ tiêu độ dẻo đất thuộc loại sét pha, có eo= 1,04 >1

        Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm

    Kết Luận :Đây là lớp đất yếu không thể làm nền cho công trình

    Lớp2:   Sét

               +Độ rỗng : e0 = = =1,14>1

    +Chỉ số dẻo A= 46% – 28%=18%    17% đất thuộc loại sét 

          +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ số dẻo,hệ số rỗng >1

        Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp đất dẻo không thể làm nền cho công trình

    Lớp3Cát pha

         +Độ rỗng : e0 = = >0,85 thuộc loại cát rời

    +Chỉ số dẻo A= 30% – 24%=6%    7% đất thuộc loại  pha cát

          +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ số dẻo đất thuộc loại pha cát, đất rời.

     Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp vẫn chưa  có thể đặt mũi cọc  chịu lực cho công trình

    Lớp4:   Cát nhỏ

    +Độ rỗng : e0 = = =0,78

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

      Đây là lớp đất TB có thể  làm móng cho công trình

    Lớp5:   Cát vừa

     +Độ rỗng : e0 = = =0,73<0,75 thuộc loại đất cát nhỏ chặt vừa

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Với các chỉ tiêu tinh toán trên ta nhận thấy lớp đất thứ 1 và lớp 2 thuộc loại mềm yếu,lớp đất 3 và lớp đất 4,thuộc cát pha  ,lớp 5 lớp đất chặt và có  độ sâu khá dầy , ta cần  đặt mũi cọc vào lớp thứ 5 này.

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

     * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

         -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

         – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

       + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

       + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng

    Cột trục

         

    M1

    B

    516

    135

    81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn                        

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

           +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

     + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

          + : góc ma sát trong

         NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

     

                                                    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)                                          

    Rb=9000 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

          => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

      1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

     MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

       Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

     

    Lớp đất

    Loại đất

    Li (m)

    Zi (m)

    fi (Kpa)

    mfi,li, fi (KN/m)

    ∑ mfi,li, fi

    (KN/m)

    Lớp 1

    Sét pha

    IL= 0,69

    1,2

    2,3

    7,3

    8,76

     

    578,844

    Lớp 2

    Sét

    IL = 0,67

    2

    3,9

    8,9

    17,8

    2

    5,9

    10

    20

    0,7

    7,25

    10

    7

    Lớp 3

    Cát pha

    IL= 0,67

    2

    8,6

    10

    20

    2

    10,6

    10,12

    20,24

    1,4

    12,3

    10,46

    14,644

    Lớp 4

    Cát nhỏ

     

    2

    14

    49,5

    99

    2

    16

    52

    104

    2

    18

    54,7

    109,4

    Lớp5

    Cát vừa

    2

    20

    79

    158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=  

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

      – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

     

            Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

                                                N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

                                                Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

                                                Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

                                                u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

     

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

     

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

     

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

     

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2= 7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 5160 +194,304 = 5354,304 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1350 +810×1,3= 2403 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 713KN

    Pttmin =179 KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 713 + 44,105=757KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =179KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

                           Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

                              q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

     

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để  

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :  

     

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

     

     

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

     F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

                                     Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

     

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

              Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

     

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

     tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 7,96/5,26=1,513

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

     

    Điểm

    Z

    (m)

    2z/b

    l/b

    Ko

    (Kpa)

    (Kpa)

     

    (Kpa)

    Si

    (m)

    0

    0

    0

     

    1,000

    111,58

    370,42

    0,3

    0

    0

    1

    1,315

    0,5

    0,9315

    103,937

    394,09

    0,264

    25000

    0,0007

    2

    2,63

    1

    0,7355

    82,067

    417,76

    0,196

    25000

    0,0006

    3

    3,945

    1,5

    0,5282

    58,937

    441,43

    0,134

    25000

    0,0005

    4

    5,26

    2

    0,3434

    38,317

    465,1

    0,082

    25000

    0,0003

    5

    6,575

    2,5

    0,2734

    30,506

    488,77

    0,062

    25000

    0,0002

    6

    7,89

    3

    0,2053

    22,907

    512,44

    0,045

    25000

    0,00018

    7

    9,205

    3,5

    0,1580

    17,630

    536,11

    0,033

    25000

    0,00014

    8

    10,52

    4

    0,1113

    12,419

    559,78

    0,022

    25000

    0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

     thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,3m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m         

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m         

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 713 K N  

     

    M1 =( 3x713x1)+(3x535x0,1)= 2299,5 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 179 KN

    P4  = Pttmax = 713 KN

    P3  = 535 KN

    M2 =(179 +713 )x1,15+ (357 +535) x 0,25= 1249 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 80,054cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 45,81cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

     

    MẶT CẮT C-C

     

     

     

    II. THIẾT KẾ MÓNG M2 ( D)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 436 T

    M0tt= 123 T.m

    Q0tt= 81 T

    Địa chất dưới móng M2 (D) giống như địa chất dưới móng M1 (B).

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

     * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

         -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

         – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

       + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

       + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng

    Cột trục

         

    M1

    B

    436

    132

    81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn                        

     

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

           +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

     + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

          + : góc ma sát trong

         NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

     

                                                    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)                                          

    Rb=14500 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

          => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

      1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

     MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

       Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

     

    Lớp đất

    Loại đất

    Li (m)

    Zi (m)

    fi (Kpa)

    mfi,li, fi (KN/m)

    ∑ mfi,li, fi

    (KN/m)

    Lớp 1

    Sét pha

    IL= 0,69

    1,2

    2,3

    7,3

    8,76

    578,844

    Lớp 2

    Sét

    IL = 0,67

    2

    3,9

    8,9

    17,8

    2

    5,9

    10

    20

    0,7

    7,25

    10

    7

    Lớp 3

    Cát pha

    IL= 0,67

    2

    8,6

    10

    20

    2

    10,6

    10,12

    20,24

    1,4

    12,3

    10,46

    14,644

    Lớp 4

    Cát nhỏ

     

    2

    14

    49,5

    99

    2

    16

    52

    104

    2

    18

    54,7

    109,4

    Lớp5

    Cát vừa

    2

    20

    79

    158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=  

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

      – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

     

            Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

                                                N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

                                                Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

                                                Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

                                                u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

     

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

     

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

     

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

     

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2=7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 4360 +275,264 = 4635,264 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1230 +810×1,3= 2283 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 640KN

    Pttmin =132KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 640 + 44,105=684,105KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =132KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

                           Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

                              q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

     

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để  

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :  

     

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

     

     

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

     F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

                                     Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

     

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

              Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

     

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

     tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 6,16/5,26=1,171

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

    Điểm

    Z

    (m)

    2z/b

    l/b

    Ko

    (Kpa)

    (Kpa)

     

    (Kpa)

    Si

    (m)

    0

    0

    0

     

    1,000

    111,58

    370,42

    0,3

    0

    0

    1

    1,315

    0,5

    0,9315

    103,937

    394,09

    0,264

    25000

    0,0007

    2

    2,63

    1

    0,7355

    82,067

    417,76

    0,196

    25000

    0,0006

    3

    3,945

    1,5

    0,5282

    58,937

    441,43

    0,134

    25000

    0,0005

    4

    5,26

    2

    0,3434

    38,317

    465,1

    0,082

    25000

    0,0003

    5

    6,575

    2,5

    0,2734

    30,506

    488,77

    0,062

    25000

    0,0002

    6

    7,89

    3

    0,2053

    22,907

    512,44

    0,045

    25000

    0,00018

    7

    9,205

    3,5

    0,1580

    17,630

    536,11

    0,033

    25000

    0,00014

    8

    10,52

    4

    0,1113

    12,419

    559,78

    0,022

    25000

    0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

     thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,75m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m         

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m         

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 640K N  

     

    M1 =( 3x640x1)+(3x471x0,1)= 2061 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 132 KN

    P4  = Pttmax = 640 KN

    P3  = 471 KN

    M2 =(132 +640 )x1,15+ (302 +471) x 0,25= 1081 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 73,635cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 38,175cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

     

    MẶT CẮT C-C


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-thi-c%C3%B4ng-t%E1%BB%AB-m%C3%B3ng-%C4%91%E1%BA%BFn-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-nh%C3%A0-d%C3%A2n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A0-x%C6%B0%E1%BB%9Fng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện

    nhà dân dụng, nhà xưởng

    Để các bạn hiểu rõ hơn tính chất quan trọng của công trình, tôi xin trình bày toàn bộ từng chi tiết một của một công trình thi công như thế nào và vấn đề pháp lý làm sao sẽ được trình bày hết trong bài viết này mong mọi người tìm hiểu, đóng góp và cho ý kiến.
    1. Huy động thiết bị phục vụ thi công:
    + Công tác thi công đất:
    Thi công cơ giới kết hợp thủ công. Dự kiến huy động xe máy các loại sau:

    Xe đào bành hơi hiệu SAMSUNG, SOLAR (KOREA).

    Xe xúc đất hiệu KOMATSU.

    Máy bơm nước.

    Máy đầm bàn, đầm dùi.
    +Công tác bê tông:

    Dùng bê tông tươi, được chở từ nhà máy sản xuất bê tông đến khi gọi điện đặt hàng, loại xe bê tông có dung tích 6m3.

    Máy đầm dùi, bàn, máy cắt uốn sắt, khoan.

    Máy làm mặt bê tông.
    + Công tác coffa – cốt thép:

    Sử dụng các thiết bị sau:

    Hệ thống coffa gỗ kết hợp coffa thép định hình.

    Dùng puli cẩu lắp .

    Máy cắt, uốn cốt thép.

    Máy hàn điện.

    Máy cưa khoan (BOSCH).

    Thiết bị cầm tay (bắt vít, bắn đinh) bằng hơi và bằng điện

    Ván khuôn và giằng chống phải đảm bảo: ổn định không biến hình, cứng và bền. Chịu được trọng lực và áp lực ở mặt bên của bê tông mới đổ cũng như các lực xuất hiện trong quá trình thi công. Đảm bảo kích thước và hình dáng chính xác, đảm bảo đúng vị trí so với các bộ phận của công trình đang thực hiện.
    + Công tác hoàn thiện:

    Máy trộn vữa.

    Máy Nivo.

    Máy cưa, mài hiệu BOSCH.

    Máy phun sơn.

    Máy cắt gạch đá (khô, nước) hiệu HITACHI.

    Máy đánh bóng nền.
    +Công tác mộc, ván khuôn gỗ:

    Máy liên hợp.

    Máy bào tay.

    Máy cưa tay.
    + Công tác điện nước:

    Khoan điện cầm tay, máy đo điện trở đất.
    +Thiết bị trắc đạc, kiểm tra chất lượng công trình:

    Thiết bị thí nghiệm tại hiện trường.

    Bộ dụng cụ kiểm tra độ sụt bê tông.

    Dụng cụ đo độ ẩm của cát.

    Thùng hay vật liệu khác để cất giữ các mẫu cốt liệu, cement.

    Ống đo 100ml, nhiệt kế.

    1 máy kinh vĩ Leica TC600 (Thụy Sỹ), 1 máy kinh vĩ NIKON (Nhật), 1 máy thủy bình LeiCa 820 (Thụy Sỹ), máy thủy chuẩn, súng bắn bê tông.

    Khuôn lấy mẫu bê tông theo tiêu chuẩn.

    Thiết bị kiểm tra cường độ thép, bê tông, mác vữa tại phòng thí nghiệm.
    2. Công tác chuẩn bị thi công:

    Để đi đến gia đoạn thi công của công trình thì việc chuẩn bị các số liệu về kĩ thuật, xã hội là một công tác rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và đời sống của cán bộ, công nhân thi công công trường sau này.
    + Các công việc cần chuẩn bị:

    Mặt cắt địa chất công trình, tình chất cơ lý của các lớp đất, đá của nền và địa chất thủy văn.

    Khả năng vận chuyển thiết bị máy móc cơ giới đến công trường sao cho an toàn và kinh tế nhất.

    Các nguồn vật tư cung cấp cho công trình.

    Nguồn điện nước phục vụ cho thi công và phục vụ cho sinh hoạt của cán bộ, công nhân thi công công trình.

    Những qui định chung nơi công trình xây dựng.
    Chuẩn bị hồ sơ pháp lý:
    Sau khi có thông báo trúng thầu sẽ tiến hành ngay các thủ tục pháp lý:
    + Thương thảo đi đến ký kết hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp.
    + Nhận bàn giao mặt bằng, cột mốc, cao độ chuẩn.
    + Liên hệ với chính quyền địa phương làm thủ tục cần thiết đưa công nhân, thiết bị thi công, vật tư đến công trường. Mặt khác, kết hợp với địa phương trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường.
    + Ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán cung cấp vật tư và nhanh chóng tập kết tại công trường.
    Nghiên cứu kỹ hồ sơ:
    Nghiên cứu lại toàn bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật. So sánh các biện pháp tổ chức thi công sao cho tiết kiệm thời gian và đạt hiệu quả, đảm bảo chất lượng công trình hợp lý nhất và tiến hành làm bảng tiến độ thi công chi tiết từng hạng mục công trình cụ thể, bố trí cán bộ, công nhân phù hợp để thi công liên tục. Cũng trong thời gian này chúng ta sẽ chuẩn bị ký kết các hợp đồng cung cấp vật tư thiết bị cần thiết.
    3. Mặt bằng tổ chức thi công:
    – Mặt bằng công trình nằm trên đường Đình Phong Phú, do đó vật liệu, máy móc thiết bị được vận chuyển chủ yếu trên tuyến đường này.
    – Hiện tại xung quanh khu vực mật độ xây dựng chưa cao, xung quanh c ông trình tương đối trống và có đường giao thông nội bộ đi ngang công trình.
    – Các công tác gia công lắp dựng như thép, ván khuôn được thực hiện ngay cạnh công trường. Tận dụng phần đất trống của công trình.
    – Các bãi chứa vật liệu sắt thép nằm ở góc công trình, coffa gỗ, coffa nhựa được phân theo chủng loại riêng chứa từng bãi riêng biệt.
    – Nguồn điện phục vụ thi công cho công trình được sử dụng từ trạm được lắp đặt trên công trình.
    – Nguồn nước phục vụ thi công công trình sử dụng nguồn nước hiện có ở địa phương.
    4. Sơ đồ tổ chức thi công:
    – Sơ đồ tổ chức thi công được bố trí phù hợp với đặc điểm công trình trình độ của cán bộ nhằm đảm bảo cho công trình thi công đùng tiến độ, đạt chất lượng.
    – Sơ đồ tổ chức hiện trường thi công gồm 3 bộ phận:
    + Bộ phận chỉ huy chung tại trụ sở.

    + Bộ phận chỉ huy tại công trình.
    + Bộ phận thi công trực tiếp.
    Mối quan hệ giữa trụ sở chính và việc quản lý tại công trường:
    Bộ phận chỉ huy tại trụ sở và sở chỉ huy tại hiện trường thường xuyên chỉ đạo, bàn bạc, trao đổi tổ chức thi công tại công trường bằng các buổi họp giao ban hàng tuần tại hiện trường. Các phòng ban tại trụ sở chính thường xuyên kiểm tra và giúp ban chỉ huy công trường giải quyết mọi vướng mắc về khối lượng, vật tư, máy móc, thiết bị.
    Vai trò của ban chỉ huy công trường:
    + Tổ chức tại công trường bao gồm : 01 chỉ huy trưởng công trình và 01 chỉ huy phó tại công trình, chỉ huy trưởng là người trực tiếp điều hành thi công chung tại hiện trường và chỉ huy phó là người thay thế khi chỉ huy trưởng vắng mặt.
    + Ban chỉ huy công trường toàn quyền giải quyết mọi vấn đề trên công trường và chịu trách nhiệm trước Công ty về mọi quyết định của mình. Các trưởng bộ phận phải chịu trách nhiệm trước ban chỉ huy công trường về mọi vấn đề của bộp hận mình phụ trách và nhận lệnh trực tiếp từ ban chỉ huy công trường
    +Ban chỉ huy công trường của công ty được giao toàn quyền quản lý, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến công tác vệ sinh môi trường và thực hiện các thủ tục pháp lý với các cơ quan chính quyền sở tại, với ban quản lý bên A và với người lao động.
    +Ban chỉ huy công trường lập ra các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường nơi thi công và khu vực lân cận, như biện pháp che chắn, chống bụi, chống khói, chống ồn, gây ô nhiểm, sử dụng máy móc, thiết bị phù hợp, tuân theo các qui định của Nhà nước về chỉ số tiếng ồn, khói……
    +Ban chỉ huy công trường sẽ tổ chức cho một nhóm lao động phục vụ cho công tác vệ sinh môi trường. Bộ phận này sẽ trực tiếp thực hiện các công việc như quét dọn vệ sinh công trường và khu vực lân cận, tưới nước chống bụi, thu gom rác trong thi công……
    +Ban chỉ huy công trường có nhiệm vụ giáo dục ý thức chấp hành các qui định về vệ sinh, bảo vệ môi trường cho lực lượng cán bộ, nhân viên, công nhân tham gia tại công trường thông qua các hoạt động sinh hoạt, lao động hàng ngày, các cuộc họp giao ban giữa ban chỉ huy với đội trưởng thi công.
    Vai trò giám sát kỹ thuật tại công trường:
    + Bộ phận giám sát kỹ thuật có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ của công ty đã được thành lập và hoạt động rất có hiệu quả trong việc quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm xây dựng. Bộ phận giám sát kỹ thuật này được bố trí ngay tại hiện trường từ khi công trình bắt đầu thi công.
    + Bộ phận này có quyền và trách nhiệm kiểm tra chất lượng vật liệu, chất lượng bán thành phẩm, chất lượng thi công công trình theo đúng quy trình thí nghiệm kiểm tra. Mọi công tác đều được bộ phận này kiểm tra, nghiệm thu trước khi mời giám sàt kỹ thuật nghiệm thu. Bộ phận này có quyền từ chối mọi vật liệu không đạt yêu cầu về chất lượng chủng loại.
    Các bộ phận xây dựng công trình:
    + Các bộ phận phục vụ: kỹ thuật của các đơn vị thi công, vật tư, hành chính, an toàn lao động, trắc đạt, kho được điều hành trực tiếp bởi chỉ huy trưởng và chỉ huy phó công trình.
    + Các đội thi công gồm: đội cốt thép, đội coffa, đội bê tông, đội hoàn thiện, đội điện, đội nước, đội phục vụ thi công trực tiếp tại công trường được lãnh đạo bởi những kỹ sư giàu kinh nghiệm chịu trách nhiệm tổ chức thi công theo chức năng được giao của đội dưới sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng công trình.

    1. Công tác trắc đạc:
      + Định vị công trình xây dựng trong phạm vi khu đất:
      * Công trình là nhà ở chung cư cho các sơ. Sự liên quan giữa các cấu kiện các bộ phận rất chặt chẽ nên công tác trắc đạc cực kỳ quan trọng. Công tác trắc đạc giúp việc thi công được chính xác về mặt kích thước của công trình, đảm bảo độ thẳng đứng, độ nằm ngang của kết cấu, xác định đúng vị trí cấu kiện, hệ thống kỹ thuật……nó loại trừ đến mức tối thiểu các sai số về tim cốt, vị trí trong thi công.
      *Căn cứ theo các mốc bàn giao của đơn vị thiết kế. Dựa vào các lưới trục chuẩn trên mặt bằng neo vào các vật cố định. Các mốc này được bảo quản gồm tất cả các công việc xác định, cao độ cho từng hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công tác hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình.
      + Lập lưới trục toạ độ trắc đạc:
      * Luới trắc đạc được lập dựa vào các trục của công trình theo thiết kế. Đây là công tác quan trọng, đảm bảo công trình được bố trí, kích thước và thẳng đứng. Các lưới trục của tầng trên được lập trên cơ sở lưới xuất phát từ tầng trệt, các điểm này được chuyển lên các tầng trên theo phương pháp chuyển thẳng đứng.
      + Chuyển độ cao lên tầng bằng thước thép đo trực tiếp theo mép tường, mép cột với độ sai lệch là ± 3mm, sử dụng máy thủy bình tự động trong thi công để thống nhất và thuận lợi cho việc thi công các cấu kiện, chi tiết trên từng cao độ được dịch +1000 so với cao độ hoàn thiện được định lại bằng sơn tại tường, vách, cột.
      + Lập lưới quan sát:
      + Các bước của công tác trắc đạc và các yêu cầu kỹ thuật sẽ được công ty tuân thủ theo qui định tiêu chuẩn Việt Nam 3972-85 cụ thể như sau: khi nhận được tim mốc của chủ đầu tư, sẽ xác định tim mốc trên mặt bằng. Vị trí các tim mốc được bảo vệ bằng cách đổ bê tông có rào chắn đảm bảo không bị mờ, bị mất trong quá trình thi công.
      + Lưới khống chế thi công được bố trí thuận tiện theo các trục trên bản vẽ đảm bảo cho việc thi công được bảo vệ lâu dài đảm bảo độ chính xác cao.
      + Các mốc đo lún được bố trí ở khoảng cách đảm bảo ổn định và bảo vệ trong suốt quá trình thi công. Khoảng cách các mốc quan trắc lún sẽ được thực hiện một tuần trên một lần có chú ý đến điểm gia tải như đổ thêm sàn, xong phần xây… các báo cáo kết quả quan trắc sẽ được thực hiện ở dạng biểu đồ và hoàn thành ngay trong ngày đó. Báo cáo được lập thành 02 bộ gồm các thông tin sau:
      + Thời gian quan trắc.
      + Tên người thực hiện quan trắc và ghi số liệu.
      + Lý lịch thiết bị đo.
      + Mặt bằng vị trí các quan trắc.
      + Các số liệu sau khi quan trắc tại các mốc.
      + Các ghi chú (nếu có) của nhân viên đo đạc.
      + Chử ký của người thực hiện quan trắc, đại diện đơn vị thi công, BQLDA.
      Toàn bộ kết quả sẽ được trình cho Tư vấn giám sát và lưu giữ trong hồ sơ nghiệm thu các giai đoạn thi công, hoàn thành công trình.
      + Công ty sẽ tiến hành trắc đạc một cách hệ thống, kết hợp chặt chẽ đồng bộ với tiến độ thi công. Công tác đo đạc được tiến hành thường xuyên trên công trường, bao gồm tất cả các công việc xác định vị trí, cao độ cho các hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công việc hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình.
      + Dụng cụ quan trắc gồm các máy thuộc tài sản công ty. Tất cả đều ở trong tình trạng hoạt động tốt cụ thể gồm:
      + Máy kinh vĩ theo 10B của Đức.
      + Máy thủy bình của Đức.
      PHẦN MÓNG
      + Do công trình là chung cư nên phần móng cần phải được tình toán kỹ cẩn thận trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu liên quan về địa chất của đất và sức chịu tải công trình.
      + Qua tính toán, nghiên cứu số liệu công trình đã đưa ra giải pháp móng bê tông cốt thép cho công trình là một phương án hợp lý.
      + Móng bê tông cốt thép được gia công thép, đổ ngay tại công trường.
      + Móng được chế tạo gồm hai loại móng băng và móng đơn. Ván khuôn đổ bê tông móng dùng ván khuôn gỗ đã gia công và lắp dựng.
      + Vị trí các móng được xác định và trình bày trên bản vẽ được đánh dấu trên mặt bằng công trình.
      + Để trành lưu lượng nước ngầm, trời mưa làm cản trở quá trình thi công nên bố trí những mương nhỏ,hố thu nước, máy bơm quanh chu vi hố móng để thoát nước làm sạch hố móng.
      + Đào móng từng khu vực của từng khối thành một hố móng chung. Sau khi đào đất xong sẽ tiến hành đầm nén đáy móng và đổ bê tông lót móng.
      + Cấu tạo móng gồm hai phần đài móng và đà móng.
      Theo cấu tạo trên phân khối móng thành 02 đợt thi công:
      Đợt 1: thi công bê tông móng:
      + Đổ bê tông lót móng đá 4×6, mác 100, dày 100, rộng hơn đế móng theo mổi phương là 100.
      + Đổ bằng thủ công, dùng đầm bàn kỹ, xác định tim móng.
      + Thép dùng làm vĩ móng là thép Þ12a150 được buộc thành lưới để sẵn ở ngoài, khi đổ bê tông móng thì đem vào lắp đặt.
      + Mối nối giữa thép cổ móng và thép vĩ móng phải đảm bảo đủ 30d. Buộc các viên kê vào cốt thép theo yêu cầu lớp bảo vệ.
      + Cân chỉnh cốt thép theo tim móng và cố định.
      + Làm thép đài móng, đà móng.
      + Lắp và hiệu chỉnh cốt thép đài móng, đà móng.
      + Lắp ván thành móng, đài móng, đà móng.
      + Đổ bê tông đài móng đà móng.
      + Đổ bê tông móng mác # 250.
      + Làm vệ sinh lớp cốt thép, coffa và phần bê tông lót móng.
      + Bê tông được trộn bằng máy trộn quả lê.
      + Tiến hành đổ bê tông bằng thủ công đến đáy đà kiềng.
      + Dùng đầm dùi đầm kỹ bê tông.
      – Bảo dưỡng bê tông móng sau khi đổ.
      + Tiến hành bảo dưỡng sau khi đổ 1 buổi.
      + Cho người tưới nước ngày 4 lần trong một tuần.
      + Phủ kín mặt móng bằng bao tải để đảm bảo độ ẩm cho móng.
      + Tháo dỡ ván khuôn móng.
      + Sau khi đổ bê tông 01 ngày, tiến hành tháo ván khuôn móng và cổ móng.
      Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện.
      Đợt 2: Công tác dầm giằng móng:
      Dầm giằng móng BTCT mác 200, có các tiết diện sau: DK1(200 x 500); DK1a(200 x 300); DK2(200 x 300); DK3(100 x 300).
      + Gia công lắp dựng cốt thép
      + Cốt dọc và cốt đai được gia công ở xưởng theo kích thước thiết kế.
      + Thép được buộc thành khung và lắp vào vị trí.
      + Buộc các viên kê dày 30mm vào cốt thép để đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép.
      + Gia công lắp dựng ván khuôn gỗ.
      + Ván khuôn được gia công và đóng thành hộp tập kết lại.
      + Đặt ván khuôn vào vị trí và điều chỉnh cho đúng vị trí thiết kế.
      + Sau khi điều chỉnh xong cố định ván khuôn bằng cây gỗ 3×5.
      + Đổ bê tông mác 200.
      + Làm vệ sinh ván khuôn, cốt thép.
      + Tiến hành nghiệm thu ván khuôn và cốt thép dầm giằng móng.
      + Tiến hành trộn và đổbê tông.
      + Đầm kỹ bằng đầm dùi.
      + Tháo dỡ ván khuôn
      + Sau khi đổ bê tông được 01 ngày tiến hành tháo ván khuôn dầm giằng móng.
      + Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện.

    THI CÔNG ĐẮP ĐẤT TÔN NỀN
    Đất được vận chuyển từ điểm đổ đến vị trí gần mặt bằng móng.
    Làm sàn công tác đi qua hệ giằng móng.
    Dùng xe rùa vận chuyển lấp hố móng từ ngoài vào trong.
    Tưới nước đầm kỹ.
    PHẦN KHUNG
    I. CÔNG TÁC COFFA
    + Công tác coffa là một trong những khâu quan trọng quyết định đến chất lượng bê tông, hình dạng và kích thước của kết cấu. Coffa sử dụng cho các công tác ở phần thân là coffa thép và coffa gỗ, coffa được phân loại và tập kết riêng tại các bãi trên công trường. Trước khi đưa vào sử dụng coffa được vệ sinh sạch sẽ và phủ lên một lớp chống dính. Đối với coffa gỗ cần hết sức cẩn thận trong cưa xẻ tránh lãng phí vô ích.
    + Coffa được gia công, lắp dựng ngay tại công trường.
    + Trước khi tháo coffa, bên B mời giám sát kỹ thuật bên A đến nghiệm thu bề mặt của cấu kiện.
    COFFA CỘT.
    + Coffa được dùng là coffa gỗ.
    + Sử dụng cây chống gỗ tròn. Đường kính cây chống từ 8 – 10cm.
    + Sử dụng những thanh gỗ 5 x 10cm làm giằng ngang và dọc.
    b. COFFA DẦM, SÀN
    + Coffa dầm, sàn bằng gỗ.
    + Cây chống gỗ tròn.
    + Công tác coffa được thực hiện như sau:
    + Chuẩn bị:
    – Bật mực để xác định vị trí coffa.
    – Bố trí nhân lực phú hợp, thực hiện theo đúng nhu cầu công việc.
    – Vệ sinh mặt bằng nơi sẽ lắp dựng coffa.
    + Công tác coffa được thực hiện như sau:
    Cán bộ kỹ thuật trực tiếp chỉ đạo cho các tổ trưởng, chợ chuyên môn thực hiện công tác coffa, đảm bảo thật chính xác theo yêu cầu kỹ thuật. Tránh tình trạng đã lắp dựng xong coffa phải tháo dỡ dựng lại do không đùng yêu cầu kỹ thuật.
    Tiến hành lắp dựng coffa theo bản vẽ chi tiết và chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật.
    Coffa được lắp dựng phải vững chắc, neo chặt vào những điểm cố định, không để cho coffa bị xê dịch biến dạng trong quá trình đổ bê tông.
    Vệ sinh coffa sạch sau khi lắp dựng xong.
    Cán bộ kỹ thuật phải nghiệm thu công tác coffa trước khi tiến hành công tác tiếp theo.
    Coffa phải được tưới nước vệ sinh trước khi đổ bê tông.
    LẮP DỰNG COFFA
    + Bảo dưỡng, bảo vệ công tác coffa.
    Coffa sau khi được lắp dựng xong nếu chưa được đổ bê tông thì sẽ được bảo kỹ để tránh bị xê dịch.
    II. CÔNG TÁC CỐT THÉP:
    + Cốt thép được gia công, lắp dựng ngay tại công trường, được tiến hành theo từng công việc, từng khu vực như bẽ đai, uốn thép, cắt thép, kéo thẳng thép… thép được gia công bằng cả thủ công và bằng máy. Máy móc phục vụ cho công tác cốt thép trên công trường và có nhiều loại như máy uốn, máy cắt, máy kéo thép…
    + Thép đưa về công trình phải đúng yêu cầu thiết kế mới được phép sử dụng. Cốt thép được dùng có hai loại là thép gân và thép trơn. Tiết diện có nhiều loại với đường kính khác nhau như 6, 8 ,10, 12 ,14, 16 ,18…… việc sử dụng thép đúng loại là tuỳ thuộc vào bản vẽ thiết kế kết cấu công trình. Khi gia công thép trơn phải bẽ móc còn thép gân thì không bẻ móc.
    + Cốt thép được gia công là thép đai, thép mũ, lưới thép…
    + Cốt thép trước khi sử dụng phải được sửa thẳng, đánh sạch gỉ thép, có thể dùng búa đập thẳng hoặc dùng máy uốn nắn thẳng. Với thép có đường kính dưới 20mm thì ta có thể cắt uốn bằng tay và nếu đường kính lớn hơn 20mm thì ta phải dùng máy.
    + Thép khi cắt ra uốn phải xác định thêm độ dãn dài của nó, yêu cầu: cốt thép bị uốn giãn ra thêm 0,5d khi uốn góc 450, 1d khi uốn góc 900, 1,5d khi uốn góc 1800. Đoạn neo cốt thép công trường qui định là 30d cốt thép. Nối cốt thép có hai dạng là nối hàn và nối bằng kẽm buộc.
    + Chuẩn bị lắp thép:
    Bộ phận gia công thép sẽ thực hiện đúng bản vẽ dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Thép sau khi gia công sẽ được đánh số theo đúng chủng loại và phân bổ tới nơi cần lắp dựng. Tiến hành vạch mực vị trí lắp thép. Vệ dinh thép, dọn dẹp mặt bằng vị trí lắp thép. Chuẩn bị các phụ kiện, tập hợp sẵn ở vị trí lắp thép như cục kê, kẽm buộc…… đồng thời bố trí nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc.
    + Thực hiện công tác cốt thép:
    Tiến hành lắp thép theo bản vẽ kết cấu dưới sự hướng dẩn của cán bộ kỹ thuật. Cốt thép sau khi lắp dựng phải đảm bảo đúng kích thước, đúng số hiệu thiết kế, đúng vị trí khoảng cách của những thanh thép và điểm nối chiều dài các mối nối. Lưu ý những vị trí tiếp giáp của cột với tường, cột với lam…… phải đặt thép chờ liên kết. Nếu phát hiện ra những sai lệch so với bản vẽ thiết kế cần phải chỉnh sửa lại ngay như lệch sắt, quên hay thiếu thép chờ. Sử dụng có kích thước theo yêu cầu để đảm bảo độ dày của lớp bê tông bảo vệ theo thiết kế nhằm bảo vệ cho thép chống lại sự tác động của môi trường xung quanh. Coffa phải được lắp dựng vững chắc, không để xảy ra tình trạng thép bị xô lệch, chuyển vị trí biến dạng trong quá trình đầm đổ bê tông. Sau khi lắp dựng cốt thép xong phải dọn vệ sing sạch sẽ, tránh không tác động mạnh váo cấu trúc thép đã lắp dựng để đề phòng thép bị xô lệch. Cán bộ kỹ thuật nghiệm thu cốt thép sua khi lắp dựng xong khi đó mới tiến hành công tác tiếp theo.
    Ngoài ra ở công trường còn dùng thép làm hàng rào bảo vệ an toàn cho công nhân làm việc và được hàn vào các cây chống sắt theo các phương làm hệ giằng vững chắc.
    Cốt thép sau khi lắp dựng xong, nếu chưa đổ bê tông phải được bảo vệ kĩ tránh để vật nặng đè lên gây xô lệch không đúng theo hình dạng, kích thước, vị trí thiết kế. Tránh để các chất bẩn như dầu mỡ, bụi bám dính vào thép. Cốt thép sau khi lắp dựng xong phải tiến hành đổ bê tông càng nhanh càng tốt tránh để các điều kiện bên ngoài thâm nhập làm cho thép bị gỉ sét. Sản phẩm bê tông sau khi tháo coffa nhất thiết không được lói thép.
    * Một số lưu ý trong công tác cốt thép:
    + Cốt thép cột:
    Do kích thước, tiết diện của công trình lớn nên cốt thép cột không được gia công sẵn thành khung thép mà được nối từng thanh vào thép chờ cột, sau đó mới lắp dựng thép đai và lắp tạo thành khung ngay tại vị trí cột cần đặt thép. Dưới chân cột dùng hai thanh thép hàn chéo góc nhau với các thanh thép góc của khung thép để cố định vị trí cột, đoạn trên một tí thì dùng thép C móc từ hai cạnh của thép đai ở cả bốn mặt nhờ vậy mà cột được định vị chính xác.
    + Cốt thép dầm:
    Được ghép thành từng thanh theo yêu cầu kết cấu theo nguyên tắc cốt thép phía trên của dầm phụ nằm trên cốt thép dầm chính và cốt thép phía trên của dầm chính nằm trên cốt thép sàn. Lắp dựng cốt thép dầm ở mép trên ván khuôn dầm và khi lắp xong rồi mới hạ xuống.
    + Cốt thép sàn:
    Chú ý đặt thép biện pháp (hàn vào sắt sàn) để sau này buộc dây cáp kéo cột và chống trượt cho cây chống trên sàn. Đặt cục kê bảo đảm lớp bảo vệ sàn.

    III. CÔNG TÁC BÊ TÔNG:
    Cũng như công tác ván khuôn, cốt thép thì công tác đổ bê tông cũng giữ vai trò quan trọng trong thi công. Bê tông sử dụng phải tuạn thủ theo TCVN.
    Bê tông được sử dụng là bê tông thương phẩm được đưa đến công trình bằng xe trộn, được đưa lên sàn bằng cẩu tháp và một xe bơm ngang công suất 80m3/giớ dự phòng. Chất lượng các loại cốt liệu như cát, đá, xi măng, nước……thường xuyên được kiểm nghiệm theo TCVN. Các thí nghiệm sẽ được lưu giữ nộp trình ban quản lý xét duyệt. Bản sao về xi măng sử dụng để trộn xi măng sẽ nộp trình, trong đó nêu rõ loại bê tông đã được kiểm tra phân tích chất lượng tại phòng thí nghiệm có chức năng được ban quản lý chấp thuận, bảo đảm phù hợp với yêu cầu sử dụng của công trình.
    Cấp phối bê tông sử dụng cho công trình sẽ được lập và nộp trình ban quản lý thiết kế phê duyệt. Quy trình đổ bê tông cho từng loại cấu kiện phải được giám sát chặt chẽ đảm bảo đạt chất lượng đổ bê tông cao nhất. Các dụng cụ để che nắng, để tránh mất nước nhanh, che mưa, đầm bê tông phải luôn dự phòng sẵn. Bê tông phải đảm bảo không bị rỗ, không bị phân tầng khi đầm bê tông.
    + Thực hiện công tác đổ bê tông:
    – Tập hợp các số liệu, hồ sơ, lý lịch của cốt liệu sử dụng cho bê tông (cát, đá, xi măng, thép) khi các số liệu đó được tập hợp đầy đủ, đúng yêu cầu thiết kế thí mới được sử dụng, thiết kế cấp phối bê tông theo yêu cầu của kết cấu công trình. Sau khi có thiết kế cấp phối sẽ lấy mẫu thí nghiệm hình lập phương 15 x 15 x 15 bảo dưỡng mẫu theo quy trình kỹ thuật sau đó tiến hành ép mẫu để kiểm tra cường độ bê tông.
    – Cốt thép, coffa phải được nghiệm thu trước khi đổ bê tông, xét đến tất cả các lực tác dụng (do máy móc phục vụ cho việc đổ bê tông gây ra như đầm dùi, ống bơm…) khi đổ bê tông vào thép và coffa phải đảm bảo không làm sai lệch vị trí thép hay gây nở cho coffa làm cho cấu kiện bị biến dạng, sai lệch so với thiết kế đề ra. Trước khi đổ phải kiểm tra kỹ lưỡng, kịp thời bịt kín các khe hở giữa coffa với nhau tránh tình trạng bê tông chảy nước bằng giấy bao thấm nước, băng keo…kiểm tra các cục kê đảm bảo lớp bảo vệ bê tông. Vệ sinh sạch sẽ phần bên trong và bên ngoài cấu kiện đổ bê tông không để sót vật nào trong ngoài cấu kiện vì khi đổ rồi sẽ không lấy ra được.
    – Vạch cốt cao độ, cốt nền của khối đổ theo yêu cầu thiết kế. Chuẩn bị mặt bằng tạo khoảng không thao tác, đường vận chuyển từ nơi trộn đến nơi đổ sao cho thuận lợi nhất, bê tông được vận chuyển tới là đổ liên tục không được gián đoạn nếu không sẽ ảnh hưởng đến cường độ cũng như độ liên kết của bê tông với kết cấu thép.
    – Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị đổ bê tông như đầm bê tông, xẻng để xúc, xô để đựng……nếu cao phải chuẩn bị giàn dáo như khi đổ cột…… trường hợp đổ vào ban đêm phải chuẩn bị hệ thống chiếu sáng phục vụ cho công tác đổ bê tông.
    – Bố trí lực lượng nhân công, giám sát kỹ thuật đủ theo yêu cầu công việc.
    + Tổ chức các nhóm thực hiện bao gồm:
    – Bộ phận hướng dẫn chỉ đạo: gồm cán bộ kỹ thuật, đội trưởng đội thi công. Bộ phận chỉ huy này phải có mặt túc trực khi đổ bê tông, kịp thời phát hiện và xử lý mọi tình huống xảy ra trên công trường.
    – Nhóm kiểm tra: Kiểm tra lại coffa, cốt thép, kẽm buộc…… trước và trong khi đổ.
    – Nhóm vận chuyển, đổ bê tông: bê tông được chuyển tới vị trí đổ bằng bơm bê tông hoặc bằng xe cút kít vận chuyển đến.
    – Nhóm hoàn thiện bề mặt bê tông: đảm bảo sau khi đổ bề mặt bê tông đúng cao độ thiết kế nhẵn phẳng hoặc tạo độ dốc cho bê tông. Trong quá trình đổ bê tông chú ý phải đầm dùi thật kỹ để cho bê tông phân bố đều trong kết cấu (sử dụng đầm dùi máy).
    – Việc đổ bê tông, hoàn thiện bề mặt bê tông sẽ phải thực hiện theo đúng yêu cầu kỹ thuật đưới sự chỉ đạo của bộ phận hướng dẫn.
    + Một số lưu ý trong công tác bê tông:
    – Bê tông cột: bê tông đổ cột dùng bê tông thương phẩm được trộn sẵn mang đến công trường bằng xe trộn. Từ đây bê tông được công nhân xúc và đổ thủ công từng xô bê tông vào cột. Bố trí nhân lực gồm người xúc, người vận chuyển, người chuyền, người đầm dùi và người đổ bê tông. Đổ bê tông trên cột cao thì phải bắt giàn dáo. Đảm bảo phối hợp nhịp nhàng mỗi thành viên thực hiện công việc để cho bê tông đổ vào cột được liên tục. Độ cao đổ bê tông cột phải nhỏ hơn 1,5m do đó, ta phải chừa lỗ đổ trên ván khuôn cột đảm bảo độ rơi của bê tông khi đổ cột. Chú ý đầm dùi kỹ để cho bê tông phân bố đều trong cột và tránh rỗ mặt bê tông. Các tầng trên cao dùng cần trục tháp phân bố bê tông để đổ cột.
    – Bê tông dầm, sàn: do đặt điểm ở Thành phố xe bê tông chỉ có thể vào ban đêm vì vậy công tác đổ bê tông dầm, sàn được tiến hành vào ban đêm cho đến sáng. Dầm, sàn được đổ toàn khối sua khi đã nghiệm thu cốt thép, đường điện âm trong sàn, các vị trí đặt ống nước……xe bê tông được đặt ngoài công trình, được bơm lên sàn bằng vòi bơm. Bố trí đổ bê tông trên sàn gồm hai người điều chỉnh vòi bơm, một nhóm dàn bê tông ra cho đều và đầm dùi. Đổ bê tông tới đâu thì đầm dùi tới đó, đổ bê tông từ trên cao xuống chổ sâu trước sau đó mới đổ chổ cạn. Do sàn rộng nên khi đổ bê tông phải tạo rãnh phân chia một khối bề mặt lớn thành các diện tích nhỏ hơn để đổ. Chú ý đổ bê tông từ giữa ra hai bên.
    Ngoài ra còn đổ bê tông thành bể nước, thành thang máy, cầu thang……
    Khi thi công bê tông cốt thép phải đổ làm nhiều đợt, mạch ngừng giữa các đợt phải xác định trước. Vị trí đặt mạch ngừng sao cho nội lực ở vị trí đó tương đối nhỏ và phải vuông góc với phương truyền lực nén của kết cấu: Đối với cột thì mạch ngừng đặt tại vị trí tiếp giáp giữa đầu cột với mặt dưới của dầm, đối với sàn nấm thì đặt tại chân mũ cột, đối với dầm xiên mạch ngừng đặt tại chân dầm xiên, đối với cầu trục mạch ngừng đặt tại vai cầu trục hay phía trên cầu trục, đối với dầm, sàn mạch ngừng đặt ngay dưới chân bản sàn, sàn không sườn thì mạch ngừng đặt ở bất kỳ vị trí nào miễn sao song song với phương cạnh ngắn, sàn có sườn thì mạch ngừng đặt ở ¼ nhịp sàn nằm về phía bên phải. Chú ý xử lý mạch ngừng phải tạo nhám bề mặt của mạch ngừng.
    + Bảo dưỡng tháo dỡ coffa:
    – Bảo dưỡng bê tông giai đoạn đầu sẽ bắt đầu ngay sau khi bề mặt bê tông đã đủ cứng, không bị vỡ và việc bảo dưỡng phải tiến hành liên tục trong 12 giờ.
    – Bề mặt bê tông phải luôn giữ ẩm bằng cách tưới nước lên hoặc dùng vật liệu giữ nước phủ lên bề mặt để giữ cho bê tông luôn được ẩm.
    – Chỉ được tháo dỡ coffa khi cường độ bê tông đạt yêu cầu theo quy phạm thi công và nghiệm thu. Khi tháo coffa không được làm chấn động và rung ảnh hưởng kết cấu bê tông. Ngay sau khi tháo coffa phải kiểm tra sửa chữa tất cả các khuyết tật như vỡ, nứt, nẻ.

    PHẦN HOÀN THIỆN
    – CÔNG TÁC XÂY:
    + Do tính chất công trình là dang khung bê tông cốt thép chịu lực nên hệ tường chỉ mang tính chất bao che chủ yếu, ít tham gia chịu lực, vật liệu được dùng khi xây tường là gạch. Tuy nhiên, cũng cần phải tuân thủ ba nguyên tắc chính khi xây gạch là:
    + Gạch xây từng hàng phải phẳng mặt, vuông góc với phương của lực tác dụng vào khối xây hoặc góc nghiêng của lực tác dụng vào khối xây và phương vuông góc với khối xây phải <= 170 vì khối xây chịu nén là chính.
    Xây không được trùng mạch do đó các mạch vữa đứng của lớp xây tiếp giáp không được trùng mà phải lệch nhau ít nhất ¼ chiều dài viên gạch cả về phương ngang cũng như phương dọc.
    Các mạch vữa xây theo phương ngang và phương dọc trong một lớp xây phải vuông góc với nhau, không được phép xây các viên gạch vỡ hình thang, hình tam giác ở góc khối xây.
    + Vì vậy, đội ngũ công nhân thực hiện việc xây phải lành nghề, được chia thành tổ và phân công lao động phù hợp với các đoạn công tác trên mặt bằng. Đồng thời giữa các thợ chính, thợ chính với thợ phụ phải có sự phối hợp nhịp nhàng dây chuyền với nhau đảm bảo công việc được thực hiện một cách liên tục, nhịp nhàng không bị ngắt quãng.
    + Công việc xây được tiến hành sau khi hệ khung bê tông cốt thép đã được chình thành được một phần hay toàn bộ và coffa sàn, dầm, cột, hệ giằng chống đã được tháo dỡ, dọn dẹp ở hệ khung tầng dưới thì khi ấy ta có thể bắt đầu công việc xây ở tầng dưới và cứ như thế lên các tầng trên.
    1. Chuẩn bị trước khi xây:
    (Chuẩn bị vật liệu:
    (Để đảm bảo kết dính tốt cho khối xây vữa xi măng được sử dụng là hợp phần của xi măng, cát, nước được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp tạo ra hỗn hợp có cường độ cao chịu được nước và nơi ẩm ướt.
    (Do công trình là nhà ở chung cư nên gạch được sử dụng là gạch chất lượng cao có độ cứng cao, vuông góc thẳng cạnh, không bị nứt nẻ được sản xuất từ đất sét tạo khuôn và đem nung, có giấy chứng nhận của các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm do đó khả năng chống lại ảnh hưởng của thơi tiết cao. Gồm gạch ống 4 lỗ 80 x 80 x 190 và gạch thẻ 40 x 80 x 190.
    (Sử dụng xi măng polăng holcim mác 200 cón trong thời hạn sử dụng và bảo quản trong kho bãi đùng tiêu chuẩn.
    (Cát dùng là cát sạch, mịn không lẫn tạp chất, kích thước đồng đều, đúng yêu cầu trong cấp phối vữa xây. Nếu cát không sạch ta phải tiến hành sàn loại bỏ tạp chất trong cát.
    (Nước sạch phải được lấy từ nguồn nước của khu vực.
    (Cấp phối vữa phải được pha trộn thích hợp, tránh những trường hợp vữa non làm giảm độ liên kết hay vữa già gây lãng phí. Chất lượng của vữa xây tô được kiểm tra thí nghiệm trong phòng và trên hiện trường xây dựng.
    (Chuẩn bị xây:
    Coffa dầm, sàn, cột và hệ giằng chống đã được tháo ra và dọn dẹp gọn gàng đảm bảo không vướng trong quá trình xây, đồng thời tạo ra một mặt bằng thuận lợi cho việc vận chuyển vật liệu xây đến đúng chổ và bố trí vật liệu khi xây như gạch, máng hồ……, khi xây lên cao cần phải bố trí giàn dáo.
    Thợ chính và thợ phụ đầu đủ.
    Dụng cụ xây gồm bay, thước, dây nhợ, bàn chà, nivô.
    Xác định tường xây là loại nào 100, 200 hay lớn hơn để xây hợp lý đúng kỉ thuật.
    Xác định tim mốc, vị trí xây.
    Thợ phụ vận chuyển vật liệu gạch, máng hồ, giàn dáo lại vị trí thợ chính, sắp chúng thích hợp trên mặt bằng xây.
    Nếu xây trên tầng cao thì vật liệu được chuyển lên bằng puli.
    2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi xây:
    – Xây từ dưới lên trên, tường chính xây trước, tường phụ xây sau, xung quanh xây trước, trong xây sau.
    – Nếu gạch khô phải tưới nước để đảm bảo gạch không hút nước của vữa tạo liên kết tốt khi xây.
    – Bề mặt tiếp giáp khối xây phải được trát một lớp hồ dầu để tạo độ liên kết giữa gạch và bề mặt tiếp giáp đó như dầm, cột.
    – Để đảm bảo cho tường thẳng và phẳng thì trong quá trình xây phải giăng dây nhợ và thường xuyên thả quả dọi.
    – Mạch vữa dao động từ 8 – 12mm, mạch vữa phải nằm ngang phải dày hơn mạch vữa dọc, bảo đảm mạch no vữa. Điều chỉnh tăng vữa ở phía vữa thấp nếu tường không ngang phẳng.
    – Có hai cách xây là 3 dọc 1 ngang hay 5 dọc 1 ngang.
    – Chú ý ở vị trí tiếp giáp giữa tường và dầm thì phải xây xiên, xây bằng gạch đinh đồng thời các lỗ trống phải miết hồ kĩ nhằm tránh trường hợp nứt ở mép tiếp giáp của tường với dạ đà.
    – Ở vị trí tiếp giáp của tường với mặt trên của đà cũng được xử lý một lớp hồ dầu khoảng 1cm và xây khoảng 03 hàng gạch đinh để chống nứt.
    – Khi xây chú ý chừa những lỗ trống trên tường để lắp dựng cửa, lam gió, đường điện, ống nước……sau này.
    – Sau khi khối xây vừa xong thì hạn chế các lực va chạm để khối xây đạt cường độ từ từ.
    – Nếu xây tiếp lên tường cũ thì cần phải vệ sinh tưới nước tường cũ trước khi xây tiếp.
    3. Tổ chức làm việc:
    – Để đảm bảo chất lượng vật liệu như xi măng, cát, đá, gạch khi đưa đến công trình được kiểm tra nghiệm thu ngay xem có yêu cầu đã đề ra hay chưa (xi măng, gạch, đúng loại đúng mác…), nếu chưa thìp hải thay đổi ngay. Và sau khi khối xây đã hoàn chỉnh cũng phải kiểm tra nghiệm thu lần nữa cho đến khi công trình hoàn tất. Công việc này do chỉ huy trưởng phối hợp với những kỹ sư khác trên công trường đảm trách. Hỗn hợp vữa phải được pha trộn đúng tiêu chuẩn được kiểm tra chất bằng cách lấy mẩu thí nghiệm ngay tại công trường sau khi đã pha trộn xong về độ dẻo, độ sụt, độ đồng đều của vữa xây.
    – Các tổ đội thực hiện công tác xây có thể là của công ty hoặc ở ngoài có tính chuyên nghiệp được tổ chức làm việc xây chuyền. Mổi tổ xây đứng đầu là một trưởng nhóm, điều hành các thành viên khác trong tổ xây, chịu trách nhiệm về khu vực mình xây. Tổ trưởng xây phải xác định sơ bộ số lượng công nhân mình có sẵn để tìm ra biện
    pháp phân đợt phân đoạn hợp lý, khối lượng trong các phân đợt phân đoạn phải xấp xỉ bằng nhau để tránh gây biến động về nhân lực và đảm bảo cho xây không bị gián đoạn nửa chừng.
    – Người thợ tuyệt đối phải chấp hành các biện pháp an toàn lao động khi xây, nhất là khi đứng trên giàn dáo, làm việc trên cao phải có hành lang bảo vệ, đối với các tường ngoài thì phải có lưới bao che đề phòng vật rơi xuống dưới.
    – Tổ chức mặt bằng thi công phải tiện lợi phù hợp gồm 03 khu: khu vực thao tác xây, khu vực chứa vật liệu và khu vực chuyển tiếp vật liệu. Ba khu vực này không tách rời với nhau được. Đặc biệt là khi làm việc trên giàn dáo thì giàn dáo phải vững, sàn công tác phải chắc chắn để chứa vật liệu và thao tác xây.
    – Thông thường để cho công việc xây được liên tục thì cứ 01 thợ chính thì có 01thợ phụ, nếu kết cấu phức tạp, khối lượng nhiều thì số người phải lớn hơn. Gạch vữa được chuyển lên tầng bằng puli; vữa được trộn bằng máy hoặc thủ công có thể trộn ở dưới đất rồi chuyển lên hoặc chuyển xi măng lên tầng đang xây rồi trộn trên đó. Cần tiến hành trộn khô trước rồi sau đó trộn ướt sau. Thợ phụ phải cung cấp vật liệu ch othợ chính xây một cách đầy đủ nhằm tránh gián đoạn trong thi công gây lãng phí, hiệu suất kém.

     

    1. Công tác chuẩn bị
      a. Nhận mặt bằng công trình, cột mốc công trình (có bản vẽ và dự toán đính kèm theo công trình), cos cao độ công trình (phần này tôi sẽ nói rõ hơn vi là phần quan trọng).
      b. Dọn dẹp mặt bằng (cỏ, cây, các vật dụng…..), đóng lán trại để bỏ vật tư và công nhân nghỉ lại công trình, trường hợp nhà dân dụng hai bên là vách nhà thì sơn trục tim cột vào hai vách nhà mượn để làm chuẩn, trường hợp ở công trình rộng hơn thì đóng gabarie để làm tim chuẩn cho bước cột.
      c. Lấy góc chuẩn cho nhà chuẩn bị xây dựng thường ta áp dụng bình phương hai cạnh huyền nhân cho cạnh còn lại (không biết đúng không nữa) thông thường thì vậy:
      – Lấy một cạnh nhà làm chuẩn sau đó giăng dây nhợ theo phương trục dọc của nhà tại hai điểm này đóng gabarie sẵn, tiếp theo giăng dây nhơ theo trục ngang nhà bắt đầu lấy góc vuông nhà theo cách sau: một trục ta lấy chiều dài của thước đo là 1,9m;3,1m và trục kia ta lấy chiều dài là: 2,5m;4,1m và gióng chéo hai điểm đó lại ta có các kích thước sau : 3m;5m (thông thường lấy góc ta phải bỏ bớt 10cm của thước bởi vì 10cm đầu của thước không chính xác nhiều)
      – Tiếp theo là lấy trục ngang, dọc của công trình theo hai phương đã lấy góc từ đó ta đóng gabarie vào các vị trí, để sau này hoàn thiện ta cũng cần tới nó.
      II. Thi công
      a. Đào đất móng công trình:
      Trong phần này ta cần chuẩn bị những thứ như sau: máy đào, xe vận chuyển đất, công nhân…..
      Trong phần này tôi xin nhắc đến cos cao độ công trình, theo tôi khi đi thi công thì tôi có một số kinh nghiệm như sau:
      – Nếu cos công trình cao hơn mặt đường tự nhiên 0,45m thì ta nên chọn vị trí ngay mép đường (gọi là bó vĩa) là cos -1,450 và dẫn ống nước hoặc bắn thuỷ bình vào đến chân công trình là cos +1,000 từ đó ta lấy cos chuẩn để thi công đào đất và chiều cao của công trình.

    III. Thi công từ móng đến mái

    1. Đào đất móng, hầm tự hoại, bể chửa cháy:

    Phần này tùy theo địa thế của mọi công trình mà theo phương pháp của mổi kỹ sư công trình tính toán để làm sao mọi tổn thất như nhân công, vật tư, ca máy phải theo ê kíp. Cần chú ý khi thi công nhà liền kề cần phải có cọc cừ gia cố hai bên móng liền kề để đảm bảo không gây lún sụt móng nhà kế bên (phải đi hầu tòa mệt lắm đó nha) phương pháp này tôi thường dùng là dùng ván thép định hình đóng xuống nền móng trước khi đào đất, sau đó mới thi công đào đất.

    1. Sản xuất lắp dựng sắt đế móng, sắt cổ cột, sắt đà kiềng.

    Trong phần sản xuất lắp dựng thép các bạn nên chú ý tính toán cẩn thận bởi vì chỉ sai một tí là đi tong cây sắt không làm ăn gì được (bị rồi nên có kinh nghiệm) phần sắt đai thì tính toán cho đúng với tổng số đai cột, dầm

    Ví dụ: Cột có tiết diện là 200 x 300 khoảng cách bước đai là a 200 fi 6 thì ta tính toán như sau: 200 x 300 = 1000cm => cắt thép đai fi 6 là 150 x 250 = 800cm, bởi vì mình phải trừ lớp bê tông sau khi đổ mổi một bên là 2,5cm, sau khi ta có chiều dài để cắt một cây thép đai fi 6 ta nhân số đai lên rồi cho công nhân cắt đai, chú ý phải viết lên bảng cho công nhân làm đúng, về phần thép cấu tạo (thép gân) thì cần chú ý hơn đối với cổ cột tính toán sao cho khi đổ bê tông đà kiềng xong thì phải dư theo D của thép ví dụ thép gân fi 18 x 30D =540 thì ta phải chừa sắt là 600cm từ mép trên của đà kiềng sau này ta còn nối thép cột lên sàn nữa, về phần sắt dầm thì cần chú ý điểm nối sắt tại nhịp thì 1/4l nhịp, tại gối thì 2/3l nhịp.

    Trước khi sang phần bê tông tôi xin nói thêm phần lắp dựng cốt thép dầm (đà), sắt cột, và sắt sàn, thì đến phần coffa (ván khuôn), trong phần ván khuôn ta nên chú ý chọn ván khuôn đúng chủng loại thị trường hiện nay có rất nhiều loại ván khuôn cho bạn lựa chọn (ván ép xài hai nước dụt, ván khuôn nhựa xài vĩnh viển tiền nhiều, ván khuôn thép xài tốt nhưng hay bị cong vênh do va đập) tùy theo mổi công trình mà kỹ sư trưởng công trình lựa chọn, ở công trường tôi hay lựa chọn ván khuôn loại ván ép (hình con rồng) loại này có một đặc điểm là nhẹ dể vận chuyển có thể cắt nối vào đầu cột hay đầu đà được, có nhiều loại cho bạn lựa chọn 20cm x 4m; 25cm x 4m; 30cm x 4m….. Ván sàn thì tôi xài loại bằng sắt 1m x 1m; 50cm x 1m…. Cây găng đà thì xài loại 5 x 5… và xài giàn dáo để chống cho sàn (còn gọi là giàn treo) cái này người Nam hay thi công nhất dể làm mà dể chết cũng nhiều…

    Sơ bộ qua về coffa đến phần bê tông cho cột, dầm, sàn thông thường bê tông cho cột thì có mác (#) bê tông cao bằng sàn, dầm các loại dầm lanh tô, ô văng cũng vậy phương pháp đổ bê tông bằng tay được tính như sau: bê tông #200 có công thức tính như sau : định mức vật tư thao tiêu chuẩn 1,48 m3 cát, 1, 95 m3 đá, 0,7 xi măng, còn ở công trường thì được tính như sau công thức : 4 cát, 6 đá, 1 bao xi, cái này được phân tích như sau: 4 cát có nghĩa là 4 thùng B cát.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]