Category: Khoa Học – Kỹ Thuật

  • Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Đầu tư tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp-L%E1%BB%9Bn-M%C3%B4n-L%C3%BD-Thuy%E1%BA%BFt-%C3%94-T%C3%B4-T%C3%8DNH-TO%C3%81N-S%E1%BB%A8C-K%C3%89O-C%E1%BB%A6A-%C3%94T%C3%94-CON.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

     

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TÍNH TOÁN SỨC KÉO;

    Tính toán sức kéo ô tô nhằm mục đích xác định các thông số cơ bản của động cơ, của hệ thống truyền lực để đảm bảo chất lượng động lực học cần thiết của chúng trong các điều kiện sử dụng khác nhau, phù hợp với các điều kiện đã cho của ô tô. Từ đó để xác định các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng kéo của ô tô như chỉ tiêu vận tốc lớn nhất, góc dốc lớn nhất của đường mà ô tô có thể khắc phục được, gia tốc lớn nhất của ô tô, quãng đường và thời gian tăng tốc ngắn nhất khi đạt vận tốc là lớn nhất . Các chỉ tiêu trên có thể tìm được khi giải phương trình chuyển động của ô tô bằng phương pháp đồ thị hoặc phương pháp giải tích.

    Tài liệu tính toán sức kéo ô tô có thể làm tài liệu nghiên cứu cho nhiều đối tượng khác nhau như: Sinh viên cơ khí, thợ sửa chữa ô tô trong các gara cũng như những người có nhu cầu khác…

    Vì kiến thức còn hạn chế vì vậy tài liệu không thể không có những sai xót vì vậy mong nhận được những đóng góp của thầy giáo cũng như các bạn để tài liệu ngày càng được hoàn thiện.

     

     

    Phần I

    Xây dựng đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ

    I . Xác định trọng lượng và sự phân bố trọng lượng

    1. Trọng lượng xe thiết kế :
      G = Go + n. A + n.Gh

    Trong đó :  

                                 Go : Trọng lượng bản thân của xe

                                  Gh: Trọng lượng của hành lý

                                  A : Trọng lượng của 1 người

                                  n : Số chỗ ngồi trong xe

                                   G : Trọng lượng toàn bộ của ô tô (kG)

    Vậy ta có: G = 1450+ 5*60+5*25 = 1875 (kG)

              2 .Phân bố tải trọng lên các cầu.

    Với xe du lịch :  theo số liệu cho trước ta có:

    +Tải trọng phân bố cầu trước:

                 Z1 = 0,42*G =  0,42* 1875= 787.5(kG) 

    +Tải trọng phân bố cầu sau:

                 Z2 = 0.58*G= 0.58* 1775=1087.5(kG)

    1. Chọn lốp

    – Lốp có kí hiệu 195/60Z14

    Þ Bán kính thiết kế của bánh xe :

    r0 = 195+  *25,4 = 372.8 (mm)= 0.3782(m)

         Bán kính động và động lực học bánh xe : rb = rk = l. r0

         Chọn lốp có áp suất cao,hệ số biến dạng  = 0,95

               rk = l. r0 =  0,95*0.3782  = 0.35 (m)    

     

    II. Xây dựng đường đặc tính ngoài của động cơ

     

    – Các đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ là những đường cong biểu diễn sự phụ của các đại lượng công suất , mô men và suất tiêu hao nhiên liệu của động cơ theo số vòng quay của trục khuỷu động cơ. Các đường đặc tính này gồm :

              + Đường công suất Ne = f(ne)

              + Đường mô men xoắn Me = f(ne)

              + Đường xuất tiêu hao nhiên liệu của động cơ ge = f(ne)

     

    1. Xác định công suất của động cơ theo điều kiện cản chuyển động

                           ; (W)

            -Trong dó  : G – tổng trọng lượng của ô tô = 1875 KG

                                vmax – vận tốc lớn nhất của ô tô 309 (km/h)

                            K- hệ số cản khí động học, chọn K = 0,025  (kG.s2/m4)

                 F – diện tích cản chính diện. F = B.H0 =0.8*1.6*1.5 = 1.92(m2)

                  – hiệu suất của hệ thống truyền lực: chọn = 0,93

                               f : là hệ số cản lăn của đường (chọn f0 =0,018 với đường nhựa tốt ).

     Vậy ta có f  = f0 (1 + )= 0.1164 Vì v = 309 > 80( km/h.)

    Vậy ta có :

    Nv= ( mã lực)

    Error! No bookmark name given.

     

     

       2 . Xác định công suất cực đại của động cơ

    Công suất lớn nhất của động cơ:   Nemax=        (kW)

    Trong đó  a,b,c  là các hệ số thực nghiệm ,với động cơ xăng 4 kỳ:

      a= b=c =1

                         l ==1.1

         Chọn  n=5000v/p  : số vòng quay của trục khuỷu động cơ ứng với Nemax= 719 ( mã lực)

    Với động cơ xăng chọn =1.1

    3 . Xây dựng đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ.

         -Tính công suất động cơ ở số vòng quay khác nhau :

          Sử dụng công thức  Lây-Đec-Man:

                  (mã lực)

    Trong đó Ne max và Nn là công suất cực đại và số vòng quay tương ứng.

    Ne và ne công suất và số vòng quay ở 1 thời điểm trên đường đặc tính ngoài của động cơ.

    • Tính mô men xoắn của trục khuỷu động cơ ứng với vòng quay

         ne khác nhau :   Me = (kG.m)

    λ| =  là các đại lượng ne và nn đã biết ( với λ| = 0,2; 0,4 … 0,9;1: 1,1)

    λ

    0.2

    0.3

    0.5

    0.6

    0.8

    0.9

    1

    1.1

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    Ne(PS)

    167

    261

    449

    535

    667

    704

    719.

    703.9

    Me(KG.m)

    119.6

    124.6

    128.6

    127.7

    119.4

    112

    103

    91.7

     

    Đồ thị đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ.

                                                ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

             Nhận xét :

             Trị số công suất Nemax­ ở trên chỉ là phần công suất động cơ dùng để khắc phục các lực cản chuyển động. Để chọn động cơ đặt trên ô tô, cần tăng thêm phần công khắc phục các sức cản phụ, quạt gió, máy nén khí,… Vì vậy phải chọn công suất lớn nhất là:

            Nemax = 1,1*Nemax = 1.1*704=719(mã lực)

      –  Hệ số thích ứng của động cơ theo mô men xoắn:

          k==1,2   Memax=k*MN=1.2*103 = 123.6 (KG.m)

    III. Xác định tỷ số truyền của truyền lực chính

      Tỷ số truyền của hệ thống truyền lực chính trong trường hợp tổng quát được xác định theo công thức :

                  it = ih . if . io

         Trong đó : ih là tỷ số truyền lực chính

                          if là tỷ số truyền của hộp số phụ

                          i­o là tỷ số truyền của truyền lực chính

    1. Xác định tỷ số truyền của truyền lực chính.

              i0 được xác định trên cơ sở đảm bảo tốc độ chuyển động cực đại của ô tô ở số truyền cao nhất trong hộp số.

          i0 =             

          rb= 0,35 m     : bán kính động lực học của bánh xe (m).

          ihn = 1 : tỷ số truyền của tay số cao nhất

               vmax  : vận tốc lớn nhất của ô tô  309( km/h).

               nv : số vòng quay của động cơ khi ô tô đạt tốc độ lớn nhất

               ipc =1.3

                                      i0 =  0.377.=1.8

    1. Xác định tỷ số truyền của hộp số

        2.1.Xác định tỷ số truyền của tay số 1

    • Tỷ số truyền của tay số 1 được xác định trên cơ sở đảm bảo khắc phục được sức cản lớn nhất của mặt đường mà bánh xe chủ động không bị trượt quay trong mọi điều kiện chuyển động.
    • Theo ĐK chuyển động ta có :

                 Pkmax  P +Pw

       Pkmax : lực kéo lớn nhất của động cơ phát ra ở bánh xe chủ  động.

       P: lực cản tổng cộng của đường .

       Pw     : lực cản không khí .

    Khi ô tô chuyển động ở tay số I ,vận tốc của ôtô nhỏ nên bỏ qua Pw

    Vậy :  Pkmax  P=.G

                         .G         

     suy ra :       iI     

    f = 0,018

    α : góc dốc cực đại của đường =10o

    Ψmax là hệ số cản tổng cộng lớn nhất của đường

    Ψmax = f + tgαmax = 0.1164+ tg10o = 0.29

    • ih1 ≥ =15 (1)

    -Mặt khác Pkmax còn bị giới hạn bởi điều kiện bám giữa bánh xe với mặt đường:  

            Pkmax   P=mk.G

                mk.G 

             Theo điều kiện bám ta có :

                  ihI  

                  G  : trọng lượng phân bố ở cầu chủ động

              = 0,8  : hệ số bám của mặt đường tốt.  

             rb : bán kính làm việc trung bình của bánh xe .

                 ih1 ≤     = 1.84(2)

               Từ (1) và (2) ta chọn lấy  ih1= 1.50

     

    2.Xác định tỷ số truyền của các tay số trung gian 

    • Chọn hệ thống tỷ số truyền của các cấp số trong hộp số theo cấp số nhân. 

         Công bội được xác định theo biểu thức;

     

    Trong đ: n – số cấp trong hộp số; n= 6

                  – tỷ sổ truyền tay số 1, ih1 = 1.50

                  – tỷ số truyền tay số cuối cùng trong hộp số. ih6 =1

     

    Tỷ số truyền tay số thứ i được xác định theo công thức sau:

     

    Trong đó: –  – tỷ số truyền tay số thứ i trong hộp số (i=2,…,n-1)

     

    Từ hai công thức trên ta sẽ xác định được tỷ số truyền ở các tay số:

      +Tỷ số truyền của tay số II

                         =

      +Tỷ số truyền của tay số III là :ih3 =

      +Tỷ số truyền của tay số IVlà :ih4 = 1.19

     + Tỷ số truyền tay số 5 là : ih5 =1.10

    + Tỷ số truyền tay số 6 là :1

    -Tỷ số truyền tay số lùi : i1= 1,2.ihi= 1,2* 1.50=1.8

    Kiểm tra tỷ số truyền tay số lùi theo điều kiện bám Pkl   P=G

                 G 

             Theo điều kiện bám ta phải có :

                   ihI ≤     = 1.84

      Vậy il  1.8 < 1.84  là thỏa mãn điều kiện.        

       Tỷ số truyền tương ứng với từng tay số :

     

        Bảng 2: bảng tỷ số truyền của các tay số

    Tay số

    I

    II

    III

    IV

    V

    VI

    Số lùi

    Tỷ số truyền

    1.5

    1.39

    1.29

    1.19

    1.1

    1

    1.8

    3 ) Lập bảng xác định vận tốc của ô tô tương ứng với từng số truyền.

                  Vm = 0.377

     

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309

     

    PHẦN II

    XÂY DỰNG ĐỒ THỊ CÁC CHỈ TIÊU ĐỘNG LỰC HỌC CỦA Ô TÔ

     

    I. Cân bằng công suất của ô tô

    1. Phương trình cân bằng công suất

    Phương trình cân bằng công suất tại bánh xe chủ động

    Nk = Nf  N i N +Nw

    Công suất của động cơ phát ra tại bánh xe chủ động

    Nk = Ne – Nr = Ne . = Ne .

    Nr công suất tiêu hao cho tổn thất cơ khí trong hệ thống truyền lực

    = 0,89 hiệu suất truyền lực.

    Nf  công suất tiêu hao cho lực cản lăn.

         Nf =  G.f.cos. 

    • Công suất tiêu hao cho lực cản của không khí

    Nw =

    – Nj   Công suất tiêu hao cho lực cản quán tính  khi tăng tốc .

    N= .

    Trong đó :     j : gia tốc của ôtô.

                          v : vận tốc chuyển động của ôtô.

                     : hệ số kể đến ảnh hưởng của các khối lượng quay.

                     g : gia tốc trọng trường.

    Tuy nhiên trong phương trình chỉ cần xác định thanh phần Nk ,Nf,Nw

    Ta thấy đường biểu diễn Nf là đường bậc nhất qua gôc tọa độ nên chỉ cần xác định 2 điểm.

    Nf0 = 0 và

    • Đương biểu diễn đồ thị Nw là đường cong
    • Các đồ thị Nk-v theo các số truyền .

    Bảng 4: Tính công suất của động cơ

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    Ne(PS)

    167

    261

    449

    535

    667

    704

    719.

    703.9

    Nk

    155.31

    242.73

    417.57

    497.55

    620.31

    654.72

    668.67

    654.63

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

                       

    –  Xét ô tô chuyển động trên đường bằng : Nc = Nf + Nw

    • Ta có bảng tính sau :

    Bảng 5: Tính công cản của động cơ  

    V(km/h)

    0

    40

    60

    86

    100

    120

    f

    0

    0.018

    0.018

    0.02

    0.03

    0.035

    Nf

    0

    4.92

    7.39

    11.76

    20.52

    28.72

    Nw

    0

    0.88

    2.96

    8.72

    13.71

    23.70

    Nw+Nf

    0

    5.8

    10.35

    20.48

    34.23

    52.42

     

    V(km/h)

    150

    180

    220

    250

    280

    309

    f

    0.045

    0.055

    0.07

    0.085

    0.097

    0.1164

    Nf

    46.16

    67.71

    105.32

    145.33

    185.75

    245.98

    Nw

    46.29

    79.98

    146.03

    214.29

    301.06

    404.62

    Nw+Nf

    92.45

    147.69

    251.35

    359.62

    486.81

    650.60

     

    1. Đồ thị cân bằng công suất (vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

    Nhận xét:

    Trên đồ thị, đoạn nằm giữa Nk và (Nf + Nw) là công suất dư. Công suất dư này để khắc phục các công cản công lên dốc, công suất cản tăng tốc.

    II.Xác định chỉ tiêu về  lực kéo của ô tô:

    1. Phương trình cân bằng lực kéo:

        Pki = Pf  Pi P + Pw

    Pk : Lực kéo tiếp tuyến ở bánh xe chủ động,    Pki =    ( kG ).

    • Pf : Lực cản lăn, Pf =f.G.cos.
    • Pi : Lực cản lên dốc . Pi =G.sin.
    • Pw : Lực cản không khí, Pw=.
    • P: Lực cản quán tính (xuất hiện khi xe chuyển động không ổn định),

                                                 Pj =  .

      : Góc dốc của đường .

    • i=tg:Độ dốc của đường .
    • f : Hệ số cản lăn của đường .

    Bảng 6: Tính lực kéo PK theo tốc độ ô tô

    Me(KG.m)

    119.6

    124.6

    128.6

    127.7

    119.4

    112

    103

    91.7

    Pk1

    858.04

    893.92

    922.61

    916.16

    856.61

    803.51

    738.95

    657.88

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    Pk2

    795.12

    828.36

    854.95

    848.97

    793.79

    744.60

    684.76

    609.64

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    Pk3

    737.92

    768.77

    793.45

    787.89

    736.68

    691.03

    635.50

    565.78

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    Pk4

    680.72

    709.17

    731.94

    726.82

    697.58

    637.46

    586.23

    521.92

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

          260.62

    Pk5

    629.23

    655.54

    676.58

    671.85

    628.18

    589.23

    541.90

    482.45

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    Pk6

    572.03

    595.94

    615.08

    610.77

    571.07

    535.68

    492.63

    438.59

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

     Bảng 7:Tính các loại lực cản theo tốc độ của ô tô

    V(km/h)

    0

    40

    60

    86

    100

    120

    f

    0

    0.018

    0.018

    0.02

    0.03

    0.035

    Pw

    0

    5.91

    13.29

    27.31

    36.92

    53.17

    Pf

    0

    32.24

    32.24

    36.93

    55.40

    64.63

    Pf+Pw

    0

    38.15

    45.53

    64.24

    92.32

    117.80

    V(km/h)

    150

    180

    220

    250

    280

    309

    f

    0.045

    0.055

    0.07

    0.085

    0.097

    0.1164

    Pw

    83.08

    119.63

    178.71

    230.77

    289.48

    352.55

    Pf

    83.09

    101.56

    129.26

    156.95

    179.11

    214.93

    Pf+Pw

    166.17

    221.19

    307.97

    387.72

    468.59

    567.48

    +)   Pki =  

        Trong đó :     pki :lực kéo tương ứng ở cấp số i

                                 ii   : tỷ số truyền của cấp số i

                                  i0  :tỷ số truyền lực chính.

                                 Vi  : vận tốc chuyển động của ô tô theo số vòng quay                                              của trục khuỷu động cơ khi ôtô chuyển động ở cấp số i .

    Lực cản lăn Pf được xác định như sau :

    Với v ≤ 80 km/h thì f = fo = 0,018

    Pf = G.f đồ thị là đường thẳng song song với trục hoành.

    Với v ≥ 80km/h thì f = 0,018 (1+) đồ thị có dạng đường cong bậc 2

    1. Đồ thị cân bằng lực kéo của ô tô (vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

    Nhận xét:

    Trục tung biểu diễn lực Pk, Pf, Pw. Trục hoành biểu diễn vận tốc của ô tô theo km/h.

    * Đường PK6 (lực kéo khi xe chạy ở số truyền 6) cắt nhau với đường biểu diễn lực cản (Pf, Pw) tại A dóng xuống ta được Vmax =309  km/h

    Đồ thị Pf là đường thẳng // với trục hoành khi V < 80km/h và là đường cong bậc 2 khi V > 80km/h.

    Khoảng cách từ Pf + Pw đến Pki là lực kéo dư để khắc phục các lực cản khác.

     

    1. Giới hạn của đồ thị D theo điều kiện bám

              Ψ ≤ D ≤ Dφ

       Trong đó Ψ = f ± tgα

     D ≥ Ψ là điều kiện cần thiết khi ô tô chuyển động ở vận tốc của các số truyền khác nhau ( trường hợp không tăng tốc )

    • Điều kiện D ≤ Dφ là giới hạn của nhân tố động lực học D theo điều kiện bám. Dφ được xác định theo biểu thức :
    • Dφ = = –

     

    PHẦN III

    XÂY DỰNG ĐỒ THỊ DX

     

    1.Biểu thức xác định Dx

    -Trong thực tế ô tô có thể làm việc với tải trọng thay đổi khi đó ta có biểu thức xác định nhân tố động lực học như sau :

    Dx =  (1)

    mặt khác ta có      D  = (2)

    từ 1 và 2 suy ra : Dx.Gx = D.G

    = = tgα1

              -Trong đó : α1 là góc nghiêng biểu thị tỷ số giữa tải trọng của xe đang tính với khối lượng toàn bộ của xe

        – Gx : Khối lượng của ô tô ở tảI trọng đang tính Gx = Go + Gex

        – Khối lượng của ô tô ở trạng tháI không tải

         – Gex : Tải trọng của ô tô ở trạng thái đang tính

         – Trị số của α1 được biểu diễn theo các góc thứ nguyên ( 00) khi :

              Gx < G suy ra tgα1 < 1 , α1<450 ( non tải)

              Gx = G suy ra tgα1 =1 , α1= 450 ( đầy tải)

              Gx > G suy ra tgα1 >1 , α1> 450 ( quá tải)

              -Đồ thị nhân tố động lực học Dx (cũn gọi là đồ thị tia) được biểu diễn kết hợp với đồ thị D.Phần bên phải là đồ thị D khi ô tô chở đầy tải ,phần bên trái là đồ thị biểu diễn nhân tố động lực học khi xe chở tải thay đổi Dx hoặc φx ( trục hoành ) , trục tung biểu thị nhân tố động lực học D khi đầy tải.

    -Lập bảng giá trị nhân tố động lực học ;

    – Ta có Di = =( Pki – ).  

                      

    Bảng 8: Tính đồ thị nhân tố D theo tay số

     

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    Pk1

    858.04

    893.92

    922.61

    916.16

    856.61

    803.51

    738.95

    657.88

    Pw1

    5.22

    11.74

    32.61

    46.96

    83.49

    105.67

    130.45

    157.85

    D1

    0.455

    0.470

    0.475

    0.464

    0.412

    0.372

    0.325

    0.267

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    Pk2

    795.12

    828.36

    854.95

    848.97

    793.79

    744.60

    684.76

    609.64

    Pw2

    6.08

    13.67

    37.98

    54.69

    97.22

    123.04

    151.92

    183.81

    D2

    0.421

    0.435

    0.436

    0.424

    0.372

    0.331

    0.284

    0.227

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    Pk3

    737.92

    768.77

    793.45

    787.89

    736.68

    691.03

    635.50

    565.78

    Pw3

    7.05

    15.87

    44.09

    63.50

    112.88

    142.87

    176.38

    213.42

    D3

    0.390

    0.402

    0.400

    0.386

    0.333

    0.292

    0.245

    0.188

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    Pk4

    680.72

    709.17

    731.94

    726.82

    697.58

    637.46

    586.23

    521.92

    Pw4

    8.29

    18.65

    51.81

    74.63

    132.65

    167.89

    207.27

    250.79

    D4

    0.359

    0.368

    0.363

    0.348

    0.301

    0.250

    0.202

    0.145

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    Pk5

    629.23

    655.54

    676.58

    671.85

    628.18

    589.23

    541.90

    482.45

    Pw5

    9.7

    21.83

    60.65

    87.33

    155.24

    196.48

    242.57

    310.39

    D5

    0.330

    0.338

    0.328

    0.312

    0.252

    0.209

    0.160

    0.092

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    Pk6

    572.03

    595.94

    615.08

    610.77

    571.07

    535.68

    492.63

    438.59

    Pw6

    11.74

    26.41

    73.38

    105.67

    187.85

    237.74

    293.50

    352.55

    D6

    0.299

    0.304

    0.289

    0.269

    0.204

    0.159

    0.106

    0.046

     

     

     

    1. Đồ thị nhân tố động lực học Dx khi tải trọng thay đổi

                                         (vẽ trên giấy Ao kẻ ly).

     

    PHẦN IV

    XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TĂNG TỐC CỦA Ô TÔ

    I.Xác định gia tốc của ô tô :

    1.Biểu thức xác định gia tốc

    J =­ *g

     -Khi ô tô chuyển động trên đường bằng ( α = 0 ) suy ra:

                Jm = * g

    Trong đó

    • m chỉ số tương ứng với tỷ số truyền đang tính m = 1 .. – D là nhân tố động học của ô tô khi chở đủ tải.

    – djm hệ số kể đến ảnh hưởng của các khối lượng quay được tính theo công thức sau:      djm = 1,05+ 0,05.i2hm

     

     

    Bảng 10: Tính giá trị của gia tốc theo tỷ số truyền và vận tốc

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    D1

    0.455

    0.470

    0.475

    0.464

    0.412

    0.372

    0.325

    0.267

    f

    0.018

    0.018

    0.027

    0.033

    0.045

    0.051

    0.058

    0.066

    j1

    2.25

    2.38

    2.34

    2.20

    1.64

    1.25

    0.78

    0.21

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    D2

    0.421

    0.435

    0.436

    0.424

    0.372

    0.331

    0.284

    0.227

    f

    0.018

    0.018

    0.030

    0.035

    0.049

    0.056

    0.064

    0.071

    j2

    1.95

    2.07

    1.98

    1.83

    1.26

    0.85

    0.38

    0.18

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    D3

    0.390

    0.402

    0.400

    0.386

    0.333

    0.292

    0.245

    0.188

    f

    0.018

    0.018

    0.032

    0.038

    0.053

    0.062

    0.069

    0.080

    j3

    1.73

    1.84

    1.70

    1.52

    0.92

    0.63

    0.20

    0.12

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    D4

    0.359

    0.368

    0.363

    0.348

    0.301

    0.250

    0.202

    0.145

    f

    0.018

    0.018

    0.034

    0.042

    0.059

    0.067

    0.078

    0.088

    j4

    1.47

    1.55

    1.36

    1.16

    0.59

    0.35

    0.17

    0.07

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    D5

    0.330

    0.338

    0.328

    0.312

    0.252

    0.209

    0.160

    0.092

    f

    0.018

    0.018

    0.037

    0.046

    0.065

    0.075

    0.086

    0.10

    j5

    1.21

    1.28

    1.02

    0.80

    0.42

    0.24

    0.14

    0.03

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    D6

    0.299

    0.304

    0.289

    0.269

    0.204

    0.159

    0.106

    0.046

    f

    0.018

    0.020

    0.041

    0.051

    0.072

    0.085

    0.097

    0.1164

    j6

    0.95

    0.98

    0.65

    0.38

    0.29

    0.15

    0.09

    0

     

    – Đồ thị gia tốc(vẽ trên giấy Ao kẻ ly).

        2.Lập đồ thị xác định gia tốc của ô tô

    Nhận xét:  Vmax =  309 km/h

    – Ở tốc độ của ô tô Jvmax = 0 vì xe không còn khả năng tăng tốc.

    – Do ảnh hưởng của hệ số di1 nên j2 (gia tốc ở tay số 2) > j1 (gia tốc ở tay số 1).

    II. Xác định thời gian tăng tốc và quãng đường tăng tốc.

    1. Biểu thức xác định thời gian tăng tốc

              – Từ CT : j =  suy ra dt =

         – Suy ra:Khoảng thời gian tăng tốc từ v1 v2 của ô tô là:

    t1,2=.dv

    – Bảng giá trị gia tốc ngược

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    j1

    2.25

    2.38

    2.34

    2.20

    1.64

    1.25

    0.78

    0.21

    1/j1

    0.44

    0.42

    0.43

    0.45

    0.61

    0.8

    1.28

    4.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    j2

    1.95

    2.07

    1.98

    1.83

    1.26

    0.85

    0.38

    0.18

    1/j2

    0.51

    0.48

    0.51

    0.55

    0.79

    1.18

    2.63

    5.55

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    j3

    1.73

    1.84

    1.70

    1.52

    0.92

    0.63

    0.20

    0.12

    1/j3

    0.59

    0.54

    0.59

    0.66

    1.09

    1.59

    5.00

    8.33

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    j4

    1.47

    1.55

    1.36

    1.16

    0.59

    0.35

    0.17

    0.07

    1/j4

    0.68

    0.65

    0.74

    0.86

    1.69

    2.86

    5.88

    14.28

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    j5

    1.21

    1.28

    1.02

    0.80

    0.42

    0.24

    0.14

    0.03

    1/j5

    0.83

    0.78

    0.98

    1.25

    2.38

    4.17

    7.14

    33.33

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    j6

    0.95

    0.98

    0.65

    0.38

    0.29

    0.15

    0.09

    0

    1/j6

    1.05

    1.02

    1.53

    2.63

    3.45

    6.67

    11.11

     

    -Đồ thị gia tốc ngược  ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly ).

     

     

     

     

    1. Thời gian tăng tốc của ô tô.

    Áp dụng phương pháp tính gần đúng chia đồ thị 1/j thành k phần với :

    : là thời gian tăng tốc từ

    Với

    Suy ra thời gian tăng tốc toàn bộ

     : là số khoảng chia vận tốc từ

     là vận tốc trung bình thứ i

     : là vận tốc tại thời điểm i ( km/h)

     là vận tốc tại thời điểm i-1 ( km/h)

     

              4.Quãng đường tăng tốc của ô tô

    1. Biểu thức tính quãng đường tăng tốc

    Áp dụng công thức tính quãng đường :

     

    Từ phương pháp tính gần đúng ta có :

    Chia vận tốc từ  thành n khoảng ta có :

     

    Trong đó :

     là quãng đường tăng tốc được trong khoảng thời gian

     : giá trị trung bình của vận tốc tại thời điểm thứ i

    Tổng quãng đường tăng tốc :       

         Bảng 12: Tính giá trị thời gian và quãng đường tăng tốc

    tay số 1

    Vi-1- Vi

    037.59

    37.5956.39

    56.3993.98

     
     

    Jtb

    1.13

    2.32

    2.36

     
     

    ∆t

    9.24

    2.25

    4.42

     
               
     

    ∆s

    173.67

    105.73

    332.32

     
               

    tay số 2

    Vi-1- Vi

    93.98101.42

    101.42162.27

    162.27 202.84

     
     

    Jtb

    2.16

    1.62

    0.82

     
     

    ∆t

    0.96

    10.43

    13.74

     
               
     

    ∆s

    93.79

    1375.14

    2508.31

     
               

    tay số 3

    Vi-1- Vi

    202.84218.56

       
     

    Jtb

    0.29

       
     

    ∆t

    15.06

       
             
     

    ∆s

    3173.14

       
             

    tay số 4

    Vi-1- Vi

    218.56236.93

       
     

    Jtb

    0.19

       
     

    ∆t

    26.86

       
             
     

    ∆s

    6117.23

       
             

    tay số 5

    Vi-1- Vi

    236.93 256.31

     
     

    Jtb

    0.16

     
     

    ∆t

    33.65

     
           
     

    ∆s

    8298.76

     
           

    tay số 6

    Vi-1- Vi

    256.31281.94

    281.94309.

     
     

    Jtb

    0.12

    0.05

     
     

    ∆t

    59.33

    150.33

     
             
     

    ∆s

    15967.19

    44418

     
             
                   

     37.6 (s);  5413(m)
    5. Đồ thị thời gian tăng tốc và quáng đường tăng tốc
    ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly ).

     

    Nhận xét:

    Vì trong quá trình tính toán còn có cả thời gian và quãng đường sang số. Nên trong quá trình vẽ đồ thị ta nên bỏ qua các thời gian va quãng đường đó.

     

     

    KẾT LUẬN

        Việc tính toán động lực kéo của ô tô chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết do tính tương đối của các phép tính,và sự lựa chọn các hệ số trong quá trình tính toán không chính xác so với thực tế.Trong thực tế ,việc nghiên cứu đánh giá chất lượng kéo của ô tô  được thực hiện trên đường hoặc trên các bệ thử chuyên dùng.

    ***************************************************************

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Mô hình hệ thống quản lý mạng tập trung Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương

    Luận văn tốt nghiệp Mô hình hệ thống quản lý mạng tập trung Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương

    Luận văn tốt nghiệp Mô hình hệ thống quản lý mạng tập trung Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận Phân tích SWOT về thị trường viễn thông Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%C3%B4-h%C3%ACnh-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-m%E1%BA%A1ng-t%E1%BA%ADp-trung-M%E1%BA%A1ng-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-th%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-sau-C%E1%BB%A5c-B%C6%B0u-%C4%91i%E1%BB%87n-Trung-%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Mô hình hệ thống quản lý mạng tập trung Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương

     

    Luận văn tốt nghiệp

     MÔ HÌNH HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG TẬP TRUNG MẠNG VIỄN THÔNG THẾ HỆ SAU CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG
    MỞ ĐẦU

     

    Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu Điện Trung ương được biết dưới tên gọi “Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước”, hiện nay dự án xây dựng mạng đã được Đảng, Nhà nước và các cơ quan có chức năng phê duyệt và được Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Cục Bưu Điện Trung ương gấp rút triển khai. Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương có phạm vi rất rộng, phủ kín tất cả các tỉnh thành trong cả nước do đó vấn đề đặt ra sau khi xây dựng xong là phải quản lý mạng đó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.

    Hệ thống quản lý mạng là khối óc của mạng viễn thông. Với một hệ thống quản lý tốt, mạng sẽ hoạt động hiệu quả, giảm thiểu sự cố và tăng lợi nhuận, uy tín của nhà khai thác.

    Trên cơ sở dự án mạng viễn thông thế hệ sau của Cục Bưu Điện Trung ương, đề tài đã đưa ra mô hình hệ thống quản lý mạng tập trung có khả năng quản lý mạng trên phạm vi toàn quốc.

     

    CHƯƠNG 1

    GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MẠNG THẾ HỆ SAU CỦA CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

     

    1.1.      SƠ LƯỢC VỀ CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

    Cục Bưu điện Trung ương là một đơn vị thành viên của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam được giao nhiệm vụ phục vụ thông tin cho các cơ quan Đảng, Nhà nước. Mạng Viễn thông Cục BĐTW hiện đang được triển khai ở Hà Nội (CP16) , Hồ Chí Minh (BĐT78) và 11 tỉnh Quảng Ninh, Hải phòng, Đà Nẵng, Thừa thiên – Huế, Cần Thơ và Bà Rịa – Vũng Tàu, Lai Châu, Điện Biên, Đắc Lắc, Kon Tum, Hậu Giang. Tại các điểm trên được lắp đặt các tổng đài đa dịch vụ băng hẹp (N-ISDN) phục vụ thông tin cho các cơ quan Trung ương và cơ quan Đảng, chính quyền địa phương.

    Từ năm 2002, Cục Bưu điện Trung ương được Đảng, Nhà nước và Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam giao nhiệm vụ xây dựng dự án “Xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước”, tiền đề để xây dựng mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương.

    Chương này sẽ giới thiệu một cái nhìn tổng quan  về mạng viễn thông thế hệ sau mà Cục Bưu điện Trung ương đang xây dựng.

    1.2.      TỔNG QUAN MẠNG VIỄN THÔNG THẾ HỆ SAU CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

    1.2.1.  MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI CỦA MẠNG VIỄN THÔNG THẾ HỆ SAU CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

    Mạng viễn thông thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương được xây dựng dựa trên dự án “Xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước” với mục tiêu nhằm xây dựng một mạng đường trục truyền số liệu chuyên dùng thống nhất cho mạng tin học diện rộng cũng như cung cấp một số cổng thoại cho các cơ quan Đảng và Nhà nước. Mạng được xây dựng phải có tốc độ cao, dung lượng lớn, dựa trên công nghệ IP, có kết nối với Internet.

     

    • Mục tiêu:

    Mục tiêu cụ thể và các yêu cầu đạt được thể hiện trên các mặt sau :

    • Xây dựng mạng kết nối từ trung ương đến các tỉnh/thành và đến tận cấp quận, huyện, sở, ban, ngành; cung cấp các cổng kết nối tới mạng tin học của các cơ quan Đảng, Nhà nước tại các cấp với tốc độ cao, công  nghệ mở, hiện đại, trực tuyến đặc biệt đồng nhất về giao diện; từ xã, phường có thể truy nhập vào mạng diện rộng của các cơ quan Đảng, Nhà nước thông qua  mạng công cộng đến thiết bị truy nhập đặt tại nút mạng tỉnh/thành phố.
    • Trên cơ sở hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng sẽ triển khai đa dịch vụ viễn thông (thoại, truyền số liệu – liên kết mạng diện rộng và một số dịch vụ khác tùy theo yêu cầu từ các cơ quan Đảng, Nhà nước cũng như xu hướng phát triển của công nghệ).
    • Tạo thành các kết nối chiều dọc theo kiến trúc phân cấp của các cơ quan hành chính Nhà nước cũng như tích hợp theo chiều ngang mạng thông tin diện rộng của Đảng với mạng thông tin diện rộng của Chính phủ, Quốc hội.
    • Mạng đường trục đảm bảo thông suốt, tin cậy và an toàn.
      • Phạm vi:

    Trên phương diện về phân bố hành chính của các cơ quan Đảng, Nhà nước, phạm vi của mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương bao gồm :

    • Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước phục vụ việc kết nối mạng diện rộng của Đảng, Nhà nước trên phạm vi toàn quốc, từ cấp trung ương đến cấp tỉnh, thành phố và sở, ban, ngành, quận, huyện.
    • Mạng cung cấp các cổng kết nối ra Internet tốc độ cao tại Hà Nội và Hồ Chí Minh.
    • Mạng cung cấp các dịch vụ thoại, video cho các cơ quan Đảng, Nhà nước trên phạm vi toàn quốc, từ cấp trung ương đến cấp tỉnh, thành phố và sở, ban, ngành, quận, huyện..
      • Đối tượng sử dụng dịch vụ:

    Các cơ quan dưới đây là đối tượng được sử dụng các cổng kết nối của mạng truyền số liệu chuyên dùng cũng như các dịch vụ gia tăng được triển khai trên nền mạng chuyên dùng (thoại, video, Internet, ….) :

    • Các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội cấp trung ương.
    • Văn phòng tỉnh, thành ủy (VPTU), ủy ban nhân dân (UBND), hội đồng nhân dân (HĐND), các sở, ban, ngành tại các tỉnh/thành trên toàn quốc.
    • Văn phòng huyện/thị/thành ủy (VPHU, VPTU), ủy ban nhân dân huyện/thị/thành (VP UBND huyện/thị/thành) trên toàn quốc.
      • Các hạng mục cần thực hiện

    Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước bao gồm các hạng mục sau :

    • Các nút mạng cho mạng truyền số liệu đường trục: ba nút tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
    • Xây dựng các nút mạng kết nối từ mạng truyền số liệu đường trục tới các tỉnh, thành phố.
    • Xây dựng các nút mạng tại các quận, huyện, sở, ban, ngành kết nối về nút mạng tại tỉnh, thành phố.
    • Xây dựng cổng kết nối Internet tại Hà Nội và Hồ Chí Minh.
    • Triển khai dịch vụ điện thoại hệ trung ương (tại một số tỉnh chưa có tổng đài điện thoại mã 80) trên nền mạng truyền số liệu chuyên dùng.
    • Xây dựng hệ thống bảo mật đường truyền.
    • Xây dựng mới một số tuyến cáp quang/đồng, cải tạo nhà trạm (tại những nơi không tận dụng được cơ sở hạ tầng hiện có).
    • Xây dựng hệ thống quản lý mạng đường truyền số liệu chuyên dùng tập trung tại Hà Nội.

    Trong các hạng mục trên, hạng mục cuối cùng chính là nội dung đề tài cần nghiên cứu.

    • Cấu trúc mạng
    • Mạng đường trục (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) đạt 155 Mbps. Từ nút mạng đường trục vềcác tỉnh/thành phố tối thiểu đạt 2Mbps. Từ tỉnh/thành phố về quận, huyện, sở, ban, ngành tối thiểu đạt 64Kbps.
    • Tại các tỉnh/thành phố các cổng kết nối vào mạng LAN của VPTU và UBND được tách riêng và chạy trên các đuờng cáp quang riêng nhưng có thể truy nhập lẫn nhau để khai thác số liệu khi lãnh đạo có thẩm quyền yêu cầu.
    • Đối với các tỉnh/thành phố chưa có tổng đài hệ I, mạng truyền số liệu chuyên dùng sẽ cung cấp thêm một số cổng điện thoại cho phép các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tại tỉnh/thành và trung ương có thể liên lạc với nhau trong mạng riêng (hệ 5 số).
    • Mạng được xây dựng cho phép phương thức kết nối qua quay số (analog, ISDN) vẫn được tiếp tục sử dụng đối với các cơ quan mà mạng chuyên dùng chưa vươn tới được hay những người không ngồi tại phòng làm việc có thể đăng nhập vào mạng nội bộ qua các kênh truy nhập dành riêng.
    • Cục Bưu điện Trung ương được ưu tiên kết nối vào chuyển mạch lõi của VDC với tốc độ cao trên cáp quang tại Hà Nội và Hồ Chí Minh để phục vụ nhu cầu truy nhập Internet của các cơ quan Đảng, Nhà nước tại hai điểm này.
      • Công nghệ

    Mạng viễn thông thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương được xây dựng dựa trên công nghệ IP, hỗ trợ đa phương thức kết nối (cáp quang, cáp đồng) và băng thông linh hoạt  (trực tiếp: xDSL, n 64Kbps, n E1, STM1, Fast Ethernet, Giga Ethernet thông qua giao diện kết nối đồng nhất là cổng Ethernet; gián tiếp: quay số qua mạng điện thoại analog, ISDN).

    • Sử dụng các công nghệ tiên tiến như MPLS, VLAN,…. để tách riêng các mạng diện rộng của các cơ quan Đảng, Nhà nước tùy theo chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này.
    • Hỗ trợ đa dịch vụ viễn thông trên nền IP (thoại, truyền số liệu, Internet , EMail, và các dịch vụ khác) trên cơ sở tương thích với mạng điện thoại chuyên dùng (mạng điện thoại hệ trung ương mã 80) hiện có.
    • Quản lý tập trung từ một trung tâm quản lý mạng duy nhất tại Hà Nội cho toàn bộ mạng đường truyền số liệu, đảm bảo độ thông suốt, an toàn, tin cậy của mạng đường truyền số liệu chuyên dùng.
    • Sử dụng các công nghệ mã hóa đường truyền tiên tiến để đảm bảo an toàn cho đường truyền số liệu, dữ liệu trên đường truyền, chống mọi khả năng có sự truy nhập trái phép vào hệ thống đường truyền.
    • Việc sử dụng các kênh vật lý riêng (tách từ kênh truyền dẫn liên tỉnh, nội tỉnh của mạng công cộng) dành cho mạng đường trục đảm bảo tính ưu tiên cao có tính đến đường truyền dự phòng (tính vu hồi), đảm bảo truyền dữ liệu truyền trong mạng chuyên dùng, tránh khỏi bất cứ sự tắc nghẽn, gián đoạn thông tin nào đồng thời vẫn đảm bảo tiết kiệm đầu tư ở mức cao nhất.
    • Triển khai hai cổng ra Internet tại Hà Nội và Hồ Chí Minh: hai cổng ra Internet này phục vụ nhu cầu kết nối Internet của các cơ quan Đảng, Nhà nước cấp trung ương tại Hà Nội và Hồ Chí Minh. Từ các cơ quan cấp địa phương (tỉnh, thành phố) có thể kết nối ra Internet thông qua các PoP Internet của mạng công cộng tại địa phương.
      • Cấu trúc phân lớp:

    Mô hình mạng diện rộng của các cơ quan Đảng và Nhà nước được mô tả trên hình 1.1.

    Hình 1.1. Mô hình mạng diện rộng của Đảng, Nhà nước

    Trong đó:

    • Mức A : Cấp Trung ương.
    • Mức B : Cấp Bộ, Tỉnh.
    • Mức C : Cấp Sở, Ban, Ngành, quận, huyện, thị hoặc Cục, Vụ, đơn vị trực thuộc Bộ.
    • Mức D : Cấp xã, phường.

    Cấu trúc phân lớp của mạng thệ hệ sau Cục Bưu điện Trung ương như hình 1.2.

    Hình 1.2. Mô hình mạng theo cấu trúc phân cấp

    Trong đó:

    • Lớp chuyển mạch lõi: Đặt tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng để làm nút tập trung lưu lượng cho các tỉnh trong vùng đó, được kết nối với tốc độ STM-1 (155Mbps). Các nút chuyển mạch ở lớp này được đấu với nhau cấu trúc 2 hướng chọn (1+1) để đảm  bảo an toàn.
    • Lớp truy nhập: Kết nối về lớp chuyển mạch lõi qua các cổng n x E1, Fast Ethernet (100 Mbps) hoặc STM-1 (tùy theo lưu lượng dữ liệu và khả năng bố trí kênh truyền dẫn).
    • Lớp đầu cuối: Bao gồm các đầu cuối đặt tại phía mạng của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kết nối về lớp truy nhập thông qua kênh n xE1, xDSL, STM-1, FastEthernet hay Giga Ethernet khi có yêu cầu. Lớp đầu cuối cung cấp các giao diện để kết nối thẳng vào HUB, LAN Switch của mạng LAN của các cơ quan Đảng, Nhà nước với tốc độ 10 Mbps, 100 Mbps hay 1000 Mbps (GE)
    • .
    • Lớp Extranet (cung cấp cổng ra Internet từ mạng nội bộ): việc cung cấp kết nối ra Internet do 02 PoP đặt tại Hà Nội và Hồ Chí Minh đảm nhiệm.
    • Hệ thống quản lý giám sát mạng (NMS): đặt tại Hà Nội có khả năng giám sát, vận hành, tính cước, …. toàn mạng truyền số liệu nội bộ và mạng cung cấp cổng kết nối Internet, bên cạnh đó hệ thống quản lý mạng cũng phải hỗ trợ khả năng giám sát, vận hành từ xa cho các trạm tại các nút mạng mức B, C theo mô hình không sử dụng người trực thường xuyên. Đây chính là mục tiêu của luận văn.
      • Cấu trúc mạng đường trục (lớp A)

    Mạng đường trục bao gồm các trung tâm  Hà Nội, Hồ Chí Minh Đà Nẵng bao gồm:

    1. Thiết bị chuyển mạch :
    1. Là các chuyển mạch nhiều lớp hỗ trợ các giao tiếp 10/100/1000 Mbps, chuyển mạch đa tầng 2/3/4 và chính sách lưu lượng để hỗ trợ tốt nhất cho các dịch vụ trung tâm dữ liệu .
    2. Đảm nhiệm chức năng chuyển mạch lưu lượng ở mức cao, đồng thời cung cấp các cổng kết nối cho các trung tâm dữ liệu của các cơ quan Đảng, Nhà nước (hosting), đấu trực tiếp vào lớp mạng B của khu vực Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
    3. Bộ định tuyến đường trục ( Backbone-Router ):
    1. Cung cấp khả năng kết nối giữa các nút mạng trung tâm với nhau (đấu chéo 1+1), kết nối về lớp mạng B.
    2. Tạo thành một backbone giữa các nút mạng trung tâm (chuyển mạch IP lớp lõi ), tốc độ kết nối là STM-1 trở nên.
    3. Định tuyến ở mức đường trục.

    Hình 1.3. Mô hình mạng đường trục

    • Cấu trúc mạng lớp truy nhập (lớp B)

    Như mô tả ở trên, lớp truy nhập sẽ bao gồm các thiết bị để đảm nhiệm các chức năng sau :

    • Kết nối về lớp mạng đường trục.
    • Chuyển mạch nội bộ của khu vực (tỉnh/thành sở tại).
    • Cung cấp một số cổng điện thoại.
    • Cung cấp các giao tiếp kết nối đến lớp mạng C.
    1. Lớp mạng B tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

    Lớp mạng B tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng được phân tích ở đây là thuộc mạng Cục BĐTW nhằm phục vụ kết nối cho các cơ quan cấp trung ương để phân biệt với phần mạng phục vụ cho các cơ quan cấp tỉnh/thành, …

    Có một số điểm khác biệt so với mạng lớp B tại các tỉnh/thành khác là:

    • Mạng tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng dựa trên cấu trúc vòng RING cáp quang hiện có của Cục Bưu điện Trung ương để phục vụ nhu cầu kết nối của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội đóng tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
    • Cung cấp các cổng kết nối về mạng tại các tỉnh/thành (ở đây lớp mạng B của Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đảm nhiệm một phần chức năng của lớp lõi nhằm phân chia tải xử lý trên mạng).
    • Đấu trực tiếp vào thiết bị chuyển mạch của lớp lõi thông qua cổng 100/1000 Mbps.

    Trong đó:

    Trung kế kết nối từ Access Router đến tổng đài tại Hà Nội và Hồ Chí Minh gồm 2 nhóm :

    • Nhóm 1: kết nối cho phép các cuộc điện thoại vào/ra từ mạng điện thoại bên ngoài (PSTN, các máy hệ 5 số Cục BĐTW của tổng đài MD110 hiện có) với các máy điện thoại hệ 5 số do mạng truyền số liệu nội bộ cung cấp.
    • Nhóm 2: để cho các kết nối vào mạng truyền số nội bộ qua truy nhập gián tiếp (analog/ISDN). Các kết nối này có thể được áp dụng đối với cơ quan có mạng LAN nhỏ hay chưa kịp chuyển sang sử dụng kết nối mới cũng như cho người dùng đi công tác sang địa phương khác có thể truy nhập về mạng LAN của mình.

    Hình 1.4. Mô hình kết nối mạng lớp B tại Hà Nội, Hồ Chí Minh

    1. Lớp mạng B tỉnh/thành phố khác

    Từ hình 1.5, có thể liệt kê các thiết bị thuộc lớp mạng này như sau:

    Bộ định tuyến (Uplink/Access Router): Định tuyến cho khu vực, kết nối về lớp mạng trên. Tốc độ kết nối có thể là nxE1, E3, Fast Ethernet, STM-1. Đồng thời là Router truy nhập, cung cấp khả năng kết nối đến lớp mạng C, cũng như cho phép các kết nối thông qua cổng analog vào mạng truyền số liệu nội bộ.

    Chuyển mạch LAN (LAN switch): Đảm nhiệm nhiệm vụ chuyển mạch cho phân mạng, cung cấp các dịch vụ trung tâm dữ liệu cũng như hỗ trợ các cổng kết nối tốc độ cao (FE/GE).

    Thiết bị truy nhập:

    • Thiết bị DSLAM : cung cấp các cổng xDSL.
    • Thiết bị IP-MUX : cung cấp các cổng nx 64Kbps, 2 Mbps cho kết nối về các nút mạng xa thông qua truyền dẫn nội tỉnh.
    • Thiết bị cung cấp các cổng điện thoại analog.

    Tốc độ kết nối từ nút mạng thuộc lớp mạng này (lớp B) về lớp đường trục tại thời điểm ban đầu là n x E1, tuy nhiên tùy theo yêu cầu về băng thông của  mạng máy tính các cơ quan Đảng, Nhà nước cũng như khả năng bố trí kênh truyền dẫn của Ngành, có thể nâng cấp lên tốc độ cao hơn (E3, STM-1, …) mà không cần phải thay thế bất cứ thiết bị nào (chỉ cần thay đổi bảng mạch giao tiếp kết nối có khả năng hỗ trợ tốc độ cao hơn).

    • Cấu hình mạng truyền số liệu tại lớp C

    Tại các nút mạng lớp C có một số phương thức kết nối sau :

    1. Để kết nối vào các mạng LAN lớn ( VPCP, VPTW, VPQH hay UBND-HĐND/VPTU của các tỉnh/thành,… ) sử dụng kết nối trên cáp quang tốc độ cao ( nếu chưa có tuyến cáp quang thì xây dựng mới ), các thiết bị đầu cuối sử dụng các thiết bị chuyển đổi quang /điện như Gigabit Interface Converter hay Fast Ethernet Converter.
    2. Với các sở, ban, ngành, quận, huyện nội thị hay khoảng cách phù hợp và có thể bố trí được đôi cáp đồng thì dùng các thiết bị xDSL để kết nối.
    3. Với các điểm mạng lớp C ở xa nút mạng lớp B hay phải sử dụng kênh truyền dẫn nội tỉnh tốc độ n x 64 – 2Mbps thì dùng các thiết bị kết cuối mạng (NTU) để kết nối.

    Hình 1.5. Mô hình kết nối mạng lớp B tại các tỉnh/thành khác

    Một số giao diện hỗ trợ các kết nối thông qua cổng quay số điện thoại (analog/ISDN) để truy nhập vào mạng nội bộ, giao diện này được dùng cho các cơ quan chưa kịp chuyển sang sử dụng hạ tầng truyền thông mới hay cho những người dùng di động ( ví dụ đi công tác xa cơ quan), có thể kết nối về mạng máy tính của cơ quan mình thông qua các cổng truy nhập sử dụng quay số điện thoại. Sau khi kết nối thành công vào mạng truyền số liệu nội bộ, mạng sẽ tạo ra một kênh kết nối ảo đến mạng diện rộng của cơ quan tương ứng (của VPTW hoặc VPCP ) và từ đó người dùng phải nhập tiếp các thông tin xác thực để thực sự kết nối vào mạng máy tính của cơ quan mình ).

    • Kết luận

    Như đã trình bày ở trên, ta có thể khái quát về mạng viễn thông thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương như sau:

    Công nghệ:

    • Giao thức: TCP/IP.
    • Công nghệ cho mạng đường trục: công nghệ MPLS.
    • Công nghệ cho mạng truy nhập:
    • Qua cáp quang FE/FO tốc độ 100/1000 Mbps đối với VPCP, VPTW, VPQH, các bộ, cơ quan ngang bộ, tỉnh/thành ủy, UBND tỉnh/thành phố.
    • Qua modem xDSL tốc độ 2Mbps đối với các Sở, Ban, Ngành.
    • Qua WAN (NTU) tốc độ nx64 Kbps tới các quận, huyện.
    • Giao diện kết nối đều là Ethernet.

    Hình 1.6. Mô hình kết nối mạng lớp C

    Kỹ thuật:

    • Mạng đường trục gồm 3 nút mạng tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Tại Hà Nội và Hồ Chí Minh còn có thêm các tổng đài chuyển mạch mềm cung cấp kết nối thoại/video và tại đây cũng cung cấp thêm các kết nối Internet phục vụ hành chính công.
    • Mạng truy nhập tại các tỉnh, thành kết nối về các core PoP tại các miền tương ứng.
    • Mạng kết cuối: Cung cấp kết nối đến người sử dụng.

    1.2.2.  CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG THẾ HỆ SAU CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

    Mục tiêu của luận văn là xây dựng được hệ thống quản lý mạng thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương trên nguyên tắc quản lý tập trung từ một trung tâm duy nhất. Các yêu cầu về hệ thống quản lý mạng này như sau:

    • Quản lý sự cố: quan tâm đến các sự kiện mạng lưới như là các cảnh báo và các quá trình cần thiết để xử lý chúng.
    • Quản lý tài nguyên: quản lý cấu trúc của tất cả các các lớp của mạng khi có thay đổi các tài nguyên thiết bị và các phần mềm.
    • Quản lý cấu hình: sắp đặt các tìa nguyên lên toàn bộ mạng lưới và quản lý sự cung cấp, di chuyển, thay đổi, định tuyến lại khi có hỏng hóc hay tắc nghẽn…
    • Quản lý truy cập và an toàn: kiểm soát sự truy cập vào mạng lưới đối với các đối tượng được phép.
    • Lưu trữ, sao lưu dữ liệu: đảm bảo sự an toàn dữ liệu.

    Vì mạng thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương được xây dựng trên nền tảng công nghệ IP/MPLS nên trong các chương tiếp theo sẽ trình bày rõ về các công nghệ này cũng như các công nghệ quản lý trong mạng IP/MPLS.

    CHƯƠNG 2

    TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG TMN

     

    2.1. CÁC NGUYÊN LÝ QUẢN LÝ MẠNG VIỄN THÔNG

    Mạng viễn thông ngày càng trở nên đa dạng và được phổ biến rộng rãi. Trong suốt những năm 90 người ta đã trông đợi mạng viễn thông cùng với hệ thống phần mềm cơ sở sử dụng hàng ngàn phần tử mạng thông minh sẽ tiến triển tăng theo các dịch vụ mà lại giảm được giá thành để duy trì hoạt động và quản lý mạng. Từ năm 1988 ITU-T đã công bố một số khuyến nghị về những thủ tục, cấu trúc, giao diện tiêu chuẩn tập hợp thành bộ khuyến nghị M.3000 – đó chính là mạng quản lý viễn thông TMN, một giải pháp đã và đang được triển khai rộng rãi.

    TMN cung cấp những thông tin và chức năng quản lý mạng như: điều khiển hoạt động, quản lý, vận hành trong môi trường đa phương tiện, phức tạp của mạng viễn thông. Chức năng của TMN có thể được chia ra làm hai loại chính là chức năng cơ bản và chức năng mở rộng.

    Phần này sẽ đề cập tới mối quan hệ giữa TMN và mạng viễn thông; cấu trúc, các giao diện chuẩn và phân bố của TMN.

    Chương hai sẽ xem xét về hệ thống quản lý mạng TMN và đánh giá xem hệ thống quản lý mạng TMN có thích hợp với việc xây dựng hệ thống quản lý mạng cho mạng thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương hay không. Trong mỗi mục đều có các so sánh và đánh giá về sự phù hợp đó.

    2.1.1.

    QUAN HỆ GIỮA TMN VÀ MẠNG VIỄN THÔNG

    TMN có thể ở dạng rất đơn giản là một kết nối giữa hệ điều hành (Operating System) tới một thiết bị viễn thông nào đó, hoặc ở dạng rất phức tạp là mạng kết nối nhiều hệ điều hành với nhiều hệ thống với các thiết bị đầu cuối khác nhau. Trên hình 2.1 biểu diễn mối quan hệ giữa một mạng TMN với mạng viễn thông TN mà nó quản lý.

    Một mạng quản lý có thể cung cấp các chức năng quản lý và sự liên lạc giữa hệ điều hành (OS) và các phần khác nhau của mạng viễn thông. TMN cũng cung cấp  chức năng quản lý và liên lạc tới các TMN khác hay các thực thể tương đương TMN để hỗ trợ khả năng quản lý mạng toàn quốc hoặc quốc tế. Mạng viễn thông bao gồm các loại thiết bị tương tự, số như thiết bị tổng đài, truyền dẫn, thiết bị đầu cuối, thiết bị kiểm tra bảo dưỡng,… trong mạng quản lý các thiết bị này đều được xem là phần tử mạng (NE – Network Element).

    Một cách tổng quát, TMN là một mạng riêng độc lập về mặt logic với được quản lý, giao tiếp với mạng viễn thông ở một số điểm để nhận hay gửi thông tin để điều khiển hoạt động của nó. TMN sử dụng các thành phần của mạng viễn thông để cung cấp các thông tin của mạng.

    Hình 2.1: Quan hệ giữa TMN và mạng viễn thông

    2.1.2. CÁC LĨNH VỰC ỨNG DỤNG CỦA TMN

    Theo khuyến nghị M.3010, sau đây là một số ví dụ về các mạng, các dịch vụ viễn thông và một số thiết bị chính có thể quản lý bởi TMN:

    • Các mạng công cộng và mạng riêng bao gồm các mạng đa dịch vụ ISDN băng rộng và băng hẹp (bao gồm cả ATM), các mạng thông tin di động, các mạng thoại riêng, các mạng riêng ảo và các mạng thông minh.
    • Bản thân TMN.
    • Các thiết bị truyền dẫn (các bộ ghép kênh, các bộ phối luồng, thiết bị chuyển kênh SDH…)
    • Các hệ thống truyền dẫn số và tương tự (cáp kim loại, cáp sợi quang, vô tuyến, vệ tinh…)
    • Các hệ thống lưu trữ.
    • Các hệ điều hành và thiết bị ngoại vi của chúng.
    • Các bộ điều khiển nhóm, máy chủ, các bộ xử lý phụ cận, các máy tính lớn.
    • Các tổng đài số và tương tự.
    • Các mạng WAN, LAN, MAN.
    • Các mạng chuyển mạch gói và chuyển mạch.
    • Các hệ thống và thiết bị đầu cuối báo hiệu bao gồm các điểm chuyển tín hiệu (STP – Signal Transfer Point) và cơ sở dữ liệu thời gian thực.
    • Các dịch vụ viễn thông và các dịch vụ kèm theo.
    • PBXs, truy nhập PBX và đầu cuối người sử dụng (khách hàng).
    • Các đầu cuối người sử dụng ISDN.
    • Phần mềm được cung cấp bởi các dịch vụ viễn thông hoặc liên quan với các dịch vụ viễn thông, phần mềm chuyển mạch, đường dẫn,cơ sở dữ liệu báo hiệu.
    • Phần mềm ứng dụng hoạt động trong các máy tính lớn (siêu máy tính)… bao gồm cả các ứng dụng cung cấp cho TMN.
    • Các hệ thống liên quan (các module đo kiểm tra, các hệ thống nguồn, điều hòa nhiệt độ, các hệ thống cảnh báo của một toà nhà,…)

    Như vậy, căn cứ vào các ứng dụng của TMN ta thấy rằng TMN phù hợp với việc xây dựng hệ thống quản lý mạng của Cục Bưu điện Trung ương. Tuy nhiên, để xem xét xem có thể áp dụng hay không cần phải nghiên cứu các đặc trưng khác của mạng quản lý viễn thông TMN.

    2.1.3 MỤC TIÊU CƠ BẢN CỦA TMN

    Mục tiêu cơ bản của của TMN là cung cấp một cơ cấu tổ chức cho quản lý viễn thông. Ngoài ra các mục tiêu để xây dựng TMN là:

    • Từ một hoặc một vài hệ thống quản lý, người điều hành có thể quản lý nhiều mặt các loại thiết bị, mạng, dịch vụ phân bố rộng rãi.
    • Các cơ chế bảo mật và toàn vẹn dữ liệu ở nhiều mức như quản lý hệ thống, các chức năng liên lạc bởi vì TMN có thể cho phép truy cập và điều khiển từ các nguồn được coi là bên ngoài TMN.
    • Tương thích với các ứng dụng cơ bản của mô hình OSI.
    • Dùng kỹ thuật xử lý phân bố hướng đối tượng (ODP) với nhân là các đối tượng để quản lý các tài nguyên trong môi trường TMN bởi môi trường quản lý viễn thông phân bố.

    2.1.4. LỢI ÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG TMN

    Việc triển khai mạng quản lý viễn thông TMN mang lại các ích lợi sau đây cho các nhà khai thác, cho khách hàng và cả đối với các nhà sản xuất cung cấp thiết bị:

    2.1.4.1.Các lợi ích chiến lược:

    • Liên kết các nhà sản xuất, cung cấp thiết bị.
    • Tác động lớn đến các hoạch định về chính sách trong kinh doanh.
    • Thực hiện tốt các chức năng bảo vệ, bảo mật cho mạng.
    • Cung cấp khả năng điều chỉnh kế hoạch khai thác và kinh doanh.

    2.1.4.2.Các dịch vụ cho khách hàng được cải thiện:

    • Chất lượng dịch vụ được nâng cao.
    • Chuyển giao sản phẩm nhanh hơn.
    • Theo dõi và đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng.
    • Khách hàng có thể tham gia vào việc quản lý dịch vụ.

    2.1.4.3.Giá thành các dịch vụ và thiết bị được giảm đi:

    • Các thiết bị được chuẩn hoá.
    • Phân chia lại cơ sở hạ tầng.
    • Kiểm tra và thiết kế chi tiết.

    2.1.4.4.Tăng lợi nhuận kinh doanh:

    • Quản lý chặt chẽ mạng khách hàng.
    • Bán lại các hệ thống.
    • Các giá trị được tái cải thiện.

    Việc đáp ứng các tiêu chuẩn để đạt được các lợi ích trên phụ thuộc vào:

    • Tính năng và đặc điểm của các phương tiện được cung cấp trong hệ thống quản lý.
    • Khả năng giám sát, kiểm soát các bộ phận của mạng quản lý.
    • Cơ cấu tổ chức và phương thức điều hành được xây dựng để khai thác việc quản lý mạng.

    2.1.5. CẤU TRÚC MẠNG TMN

    2.1.5.1. Các yêu cầu về cấu trúc TMN:

    • Tối thiểu hoá thời gian hoạt động quản lý đối với các sự cố trên mạng.
    • Khả năng điều khiển theo các hướng của việc vận hành mạng.
    • Cung cấp cơ cấu cô lập để tối thiểu hoá ảnh hưởng nguy hại đối với việc bảo mật.
    • Xác định vị trí, nguyên nhân và nội dung của các lỗi mạng.
    • Cung cấp dịch vụ hỗ trợ và sự liên kết với khách hàng.

    2.1.5.2. Cấu trúc của TMN:

    Đối với cấu trúc tổng quan của TMN – khi lập kế hoạch và thiết kế – có 3 xu hướng cấu trúc sau đây được nghiên cứu xem xét, đó là:

    • Cấu trúc chức năng TMN: phân bố các chức năng trong TMN cho phép khởi tạo các khối chức năng mà từ đó một TMN sẽ được tạo thành từ tổ hợp các khối chức năng này. Định nghĩa về các khối chức năng và các điểm liên quan giữa các khối chức năng sẽ dẫn tới các yêu cầu đối với các tính năng giao diện được khuyến nghị đối với TMN.
    • Cấu trúc thông tin TMN: Dựa trên cơ sở đối tượng là nguyên nhân cơ bản để áp dụng kết nối hệ thống mở OSI. OSI và nguyên lý X500 là cơ sở để đưa ra nguyên tắc TMN và được mở rộng để thích hợp với môi trường TMN khi cần thiết.
    • Cấu trúc vật lý TMN: trình bày các giao diện thực và các ví dụ về các thành phần vật lý đối với TMN.

    2.1.5.3. Cấu trúc chức năng TMN:

    TMN cung cấp các phương tiện để truyền tải và xử lý thông tin liên quan đến việc quản lý các mạng viễn thông. Cấu trúc chức năng của TMN được dựa trên một số khối chức năng của TMN. Các khối chức năng cung cấp cho TMN các chức năng giúp cho việc thực hiện các chức năng quản lý TMN. Chức năng truyền thông dữ liệu DCF được sử dụng để chuyển đổi thông tin giữa các khối chức năng TMN. Các khối chức năng khác nhau điển hình có thể là mức độ giới hạn về phạm vi thực hiện tại cùng điểm chuẩn. Chức năng được cung cấp bởi các khối chức năng của TMN sẽ được trình bày chi tiết hơn trong các bộ phận chức năng cấu thành TMN. Các khối chức năng của TMN được minh hoạ như hình 2.2.

     
       

    Hình 2.2: Các khối chức năng TMN

    Trong đó:

    OSF:   Operation Systems Function – Chức năng hệ thống vận hành

    MF:     Media Funtion: Chức năng trung gian

    WSF: Work Station Function – Chức năng trạm làm việc

    NEF:   Network Element Function – Chức năng phần tử  mạng

    QAF:   Q Adaptor Function – Chức năng tương thích Q

    ——:  Đường biên chức năng TMN.

    2.1.5.4. Các khối chức năng

    * Khối chức năng điều hành (OSF):

    OSF cung cấp chức năng lập kế hoạch và quản lý cho mạng TMN. OSF xử lý thông tin liên quan đến việc quản lý viễn thông nhằm giám sát/phối hợp và có thể điều khiển các chức năng viễn thông. Hiện tại có rất nhiều OSF cần thiết cho việc hoạt động của TMN, các tổ chức chuẩn hoá đang cố gắng để định ra các loại OSF có thể được thực hiện bởi các hệ thống vật lý. Theo tiêu chuẩn M.3010 của ITU thì có 4 loại OSF để cung cấp chức năng quản lý các lớp: lớp kinh doanh BML, lớp dịch vụ SML, lớp mạng NML và lớp quản lý các thành phần mạng NEML.

    * Khối chức năng phần tử mạng (NEF):

    • NEF là một khối chức năng thông tin với TMN nhằm mục đích được giám sát và/hoặc được điều khiển. NEF cung cấp các chức năng viễn thông và hỗ trợ được yêu cầu bởi mạng viễn thông đang được quản lý.
    • NEF gồm các chức năng viễn thông đó là các vấn đề quản lý. Các chức năng này không phải là một phần của TMN nhưng đại diện cho TMN thông qua NEF. Phần của NEF cung cấp sự biểu thị này trong việc hỗ trợ TMN là một phần bản thân TMN trong khi đó bản thân các chức năng viễn thông là nằm ngoài NEF.

    * Khối chức năng trạm làm việc (WSF):

    WSF cung cấp phương tiện để diễn giải thông tin TMN cho người sử dụng và ngược lại. WSF chịu trách nhiệm chuyển đổi thông tin giữa điểm chuẩn TMN và điểm chuẩn không thuộc TMN đóng vi trò như một “cổng” giao tiếp, do vậy một phần của khối chức năng này nằm ngoài đường biên.

    * Khối chức năng trung gian (MF):

    Khối MF cho phép các khối chức năng khác trong TMN trao đổi thông tin với nhau khi giao diện và điểm tham chiếu giữa chúng không giống nhau. Nói cách khác MF có nhiệm vụ như các cổng làm nhiệm vụ chuyển tiếp. Theo các tiêu chuẩn M30/3010 của ITU khối MF còn có nhiệm vụ xử lý và trao đổi thông tin qua lại giữa OSF và NEF (hay QAF) để đảm bảo sự tương thích của thông tin giữa các khối chức năng gắn với MF. Một số ví dụ về chức năng của MF.

    • Truyền tải thông tin
      • Chuyển đổi các thủ tục
      • Chuyển đổi các bản tin và tín hiệu
      • Phiên dịch địa chỉ
      • Định tuyến
      • Làm bộ tập trung
    • Xử lý thông tin
      • Thực hiện lệnh
      • Lưu trữ, sửa chữa, lọc, đặt ngưỡng và điều chỉnh lại thông tin

    * Khối chức năng tiếp hợp Q (QAF):

    Khối QAF được sử dụng để kết nối bộ phận của TMN (như NEF hoặc OSF) với bên ngoài không thuộc TMN. Nhiệm vụ của QAF là chuyển đổi thông tin giữa điểm chuẩn TMN với điểm chuẩn không thuộc TMN, do vậy một phần của khối chức năng này nằm ngoài đường biên.

    2.1.5.5. Các bộ phận chức năng TMN:

    Một số bộ phận chức năng đã được xác định là phần tử tạo nên các khối chức năng của TMN và được  xác định trong mục này. Bảng 2.1 chỉ ra bằng cách nào các bộ phận chức năng này được tổ hợp thành các khối chức năng khác nhau. Bảng 2.2 chỉ ra mối quan hệ của các bộ phận chức năng với các khối chức năng.

    * Chức năng áp dụng quản lý (MAF):

    MAF diễn tả phần chức năng của một hoặc nhiều dịch vụ quản lý TMN như đã trình bày trong khuyến nghị M 3020 và được tổng quát hoá trong khuyến nghị M.3200. MAF có thể được đặc tính hoá bởi các kiểu khối chức năng của nó, ví dụ MF-MAF, OSF-MAF, NEF-MAF và QAF-MAF.

    Để điều khiển các dịch vụ quản lý TMN hay phối hợp tương tác giữa MAF trong các khối chức năng khác nhau thì cần có sự giúp đỡ các bộ phận chức năng khác. Mỗi tác động qua lại được biết là chức năng quản lý TMN liên quan đến một hoặc nhiều cặp MAF phối hợp. Chức năng quản lý TMN liên quan được nhóm lại thành tập hợp chức năng quản lý TMN và được trình bày trong khuyến nghị M.3400.Tập hợp chức năng quản lý TMN này có thể cấu thành tất cả các chức năng quản lý TMN được cung cấp bởi một MAF riêng biệt.

    • Chức năng hệ thống vận hành – Chức năng ứng dụng quản lý (OSF-MAF): Các chức năng ứng dụng quản lý này rất quan trọng và là một phần của OSF. Chúng có dải chức năng từ đơn giản đến phức tạp như  là:
    • Trợ giúp vai trò của quản lý và Agent trong việc truy nhập đến thông tin đối tượng được quản lý.
    • Cộng thêm giá trị vào thông tin ban đầu, ví dụ tập trung dữ liệu, sửa lỗi cảnh báo, phân tích chỉ tiêu chất lượng, thống kê…
    • Tương tác với thông tin đến, ví dụ tái cấu hình tự động, bám lỗi…
    • Các chức năng khác (đang tiếp tục nghiên cứu).
    • Chức năng phần tử mạng- Chức năng ứng dụng quản lý (NEF- MAF): Các chức năng ứng dụng quản lý này trình bày trong QAF, chủ yếu hỗ trợ vai trò nhà quản lý và tác nhân (Agent) của nó. Các khía cạnh khác vẫn đang tiếp tục nghiên cứu.
    • Chức năng tương thích Q – Chức năng ứng dụng quản lý (QAF-MAF): Các chức năng ứng dụng quản lý này trình bày trong QAF,chủ yếu hỗ trợ vai trò nhà quản lý và tác nhân của nó.Các khía cạnh khác vẫn đang tiếp tục nghiên cứu.
    • Chức năng trung gian – Chức năng ứng dụng quản lý (MF-MAF): Các ứng dụng quản lý này được biểu thị ở MF trong việc hỗ trợ chức năng chuyển đổi thông tin. Ví dụ về các chức năng như vậy là:
    • Đảm bảo tổ hợp dữ liệu thông qua thủ tục trung gian,
    • Tập trung, tái định dạng và tính hiệu lực của dữ liệu,
    • Tạo ngưỡng giới hạn, định tuyến/tái định tuyến dữ liệu,
    • Đảm bảo rằng chức năng chuyển đổi thông tin được thực hiện phù hợp với đặc quyền truy nhập của các đối tượng sử dụng TMN
    * Chức năng chuyển đổi thông tin (ICF):

    ICF được sử dụng giữa các hệ thống trung gian nhằm cung cấp cơ chế chuyển đổi thông tin giữa các mô hình thông tin với các giao thức tại cả hai giao diện. Các mô hình thông tin này có thể hoặc không thể được định hướng đối tượng.

    * Chức năng trợ giúp trạm công tác (WSSF):

    WSSF hỗ trợ cho khối chức năng (WSF) bao gồm cả truy nhập dữ liệu và thao tác, dẫn chứng và khẳng định hoạt động, truyền dẫn thông báo và che dấu sự tồn tại của NEF và OSF khác đối với đối tượng sử dụng WSF truyền thông với OSF riêng. WSSF cũng  có thể hỗ trợ trong việc điều hành WSF và truy nhập đối với việc điều hành OSF.

    * Chức năng trợ giúp giao diện đối tượng sử dụng (UISF):

    UISF chuyển đổi thông tin trong mô hình thông tin TMN tới định dạng có thể hiển thị đối với giao diện người – máy và chuyển đổi lối vào đối tượng sử dụng đến mô hình thông tin TMN. UISF chịu trách nhiệm về tổ hợp thông tin từ một hoặc nhiều đoạn có một hoặc nhiều OSF, đồng thời UISF còn có thể cung cấp chức năng tương tự như  MAF và ICF.

    * Chức năng hệ thống thư mục (DSF):

    Bộ phận chức năng DSF đưa ra một hệ thống thư mục phân bố khả dụng toàn cầu hoặc nội hạt.Thuật ngữ “thư mục” được sử dụng ở đây trong một ý nghĩa chung.Nó không ngụ ý cho một trường hợp riêng nào về thực hiện cấu trúc dữ liệu kết hợp với thông tin này.Chức năng yêu cầu có thể thực hiện với cơ sở dữ liệu lưu  trữ đối tượng được quản lý ,đối tượng trong thư mục…

    * Chức năng truy nhập thư mục(DAF):

    Bộ phận chức năng của DAF được kết hợp với tất cả các khối chức năng cần thiết để truy nhập tới thư mục. Nó được sử dụng để truy nhập tới và/ hoặc duy trì thông tin liên quan TMN biểu thị thông qua các chức năng hệ thống thư mục (DSF).

    * Chức năng bảo mật (SF):

    Bộ phận chức năng bảo mật cung cấp các dịch vụ an toàn cần thiết cho các khối chức năng để thoả mãn chính sách bảo mật và/hoặc yêu cầu của người sử dụng. Tất cả dịch vụ bảo mật mà khối chức năng có thể được phân thành 5 dịch vụ cơ bản: Xác nhận, điều khiển truy nhập, độ tin cậy dữ liệu, tổ hợp dữ liệu và an toàn như trình bày trong khuyến nghị X.800.

    * Khối chức năng truyền thông báo (MCF):

    MCF được kết hợp với tất cả các khối chức năng có giao diện vật lý. Nó được  sử dụng và được giới hạn, cho sự thay đổi thông tin quản lý chứa đựng thông báo tương xứng với nó. MCF hợp thành ngăn giao thức cho phép kết nối các khối chức năng tới chức năng thông tin dữ liêụ DCF. MCF có thể cung cấp các chức năng hội tụ giao thức cho giao diện ở đó không phải tất cả 7 lớp OSI để được trợ giúp. Phụ thuộc ngăn giao thức được trợ giúp ở điểm tham chiếu, các loại MCF khác sẽ tồn tại. Khi một khối chức năng được kết nối ở hai loại giao diện cần có hai loại MCF để cung cấp sự chuyển đổi giao thức.

    Khối chức năng Các bộ phận chức năng
    OSF d) OSF-MAF (A/M), WSSF, ICF, DSF, DAF, SF
    WSF UISF, DAF, SF
    NEF­­q3  a) NEF-MAF (A), DSF, DAF, SF
    NEFqx a) NEF-MAF (A), DSF, DAF, SF
    MF d) MF-MAF (A/M), ICF, WSSF, DSF, DAF, SF
    QAFq3 b) d) QAF-MAF (A/M), ICF, DSF, DAF, SF
    QAF qx c) QAF-MAF (A/M), ICF, DSF, DAF, SF

    Bảng 2.1 – Mối quan hệ giữa các khối chức năng với bộ phận chức năng

    A/M   Agent/Manager : Tác nhân/Quản lý

    DAF  Directory Access Function : Chức năng truy cập thư mục

    DSF   Directory System Function : Chức năng hệ thống thư mục

    ICF    Information Conversation Function : Chức năng chuyển đổi thông tin

    MCF  Message Communication Function : Chức năng truyền thông điệp

    MAF Management Application Function : Chức năng ứng dụng quản lý

    SF     Security Function : Chức năng bảo mật

    UISF User Interface Support Function : Chức năng hỗ trợ giao diện người sử dụng

    WSSF WorkStation Support Function : Chức năng hỗ trợ trạm làm việc

    1. a) NEF cũng bao gồm các nguồn viễn thông và hỗ trợ bên ngoài TMN
    2. b) Khi QAF q3 được sử dụng trong vai trò quản lý, các điểm tham chiếu q3 nằm giữa QAF và OSF
    3. c) Việc sử dụng QAF qx trong vai trò quản lý là để nghiên cứu sâu hơn
    4. d) MAF(A/M) nghĩa là chức năng ứng dụng quản lý trong vai trò tác nhân hoặc quản lý.

    Khối

    Chức năng

    Các bộ phận chức năng

     

    MAF

    Chú ý 1

    ICF

    WSSF

    UISF

    DSF

    DAF

    SF

    OSF

    M

    O

    O

    O

    O

    O

    WSF

    Chú ý 2

    Chú ý 2

    M

    O

    O

    NEF q3

    M

    O

    O

    O

    NEF qx

    O

    O

    O

    O

    MF

    O

    M

    O

    O

    O

    O

    QAF q3

    O

    M

    O

    O

    O

    QAF qx

    O

    M

    O

    O

    O

    Bảng 1.2 Tuỳ chọn bộ phận chức năng đối với các khối chức năng

    M: Mandatory :Bắt buộc

    O : Optional:Tuỳ chọn

    –  : Không cho phép

    Chú ý 1 : MAF được xem xét để thêm vào các hoạt động tác nhân hoặc quản lý và có thể mâu thuẫn với các định nghĩa ISO

    Chú ý 2 : Các chức năng này có thể xem là một phần của UISF

    Như ở trên ta thấy về mặt chức năng TMN

    2.1.5.6. Chức năng thông tin dữ liệu DCF của TMN

    Các khối chức năng TMN sẽ sử dụng chức năng truyền thông dữ liệu (DCF) để chuyển đổi thông tin. Vai trò chủ yếu của DCF là cung cấp các cơ chế chuyển đổi thông tin. DCF có thể cung cấp các chức năng định tuyến, chuyển tiếp và phối hợp hoạt động. DCF có thể cung cấp phương tiện để chuyển tải thông tin liên quan đến quản lý viễn thông giữa các khối chức năng quản lý. DCF cung cấp các lớp 1 đến 3 trong mô hình chuẩn OSI.

     
       

    Hình 2.3. Chức năng TMN

    2.1.5.6. Mô hình quản lý TMN

    CHƯƠNG 2

    SƠ LƯỢC VỀ CÔNG NGHỆ IP VÀ MPLS

     

    2.1. GIỚI THIỆU

    Như đã nói ở chương trước, mạng thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương dựa trên nền tảng công nghệ IP và MPLS do đó trong chương này giới thiệu về các công nghệ tiềm năng như IP, MPLS.

    Tìm hiểu kiến trúc IP về tổng thể là hiểu rõ nền tảng của cơ chế chuyển tiếp và định tuyến, điều này tạo nên một cơ sở sâu hơn để có thể hiểu rõ làm sao các bộ định tuyến (Router) chuyển tiếp các gói dữ liệu thông qua mạng IP và cách thức mà chúng sử dụng các địa chỉ.

    Trong chương này cũng sẽ trình bày tương đối kỹ về kiến trúc MPLS và so sánh nó với kiến trúc IP, bởi vì đây là một công nghệ khá mới. Thành phần điều khiển giao tiếp với các Router khác để tạo ra các đường liên kết giữa các router trong mạng. Các đường liên kết này được phân biệt với nhau bởi một nhãn. Thành phần chuyển tiếp đọc các nhãn ở trong tiếp đầu của gói tin MPLS và chuyển gói tin đó đến các đường liên kết tương ứng.

    2.2. SƠ LƯỢC VỀ KIẾN TRÚC IP

    Phần này miêu tả  về kiến trúc phân lớp IP khi so sánh với mô hình bảy lớp OSI – như trong hình 2-1. Các thành phần của lớp ứng dụng trong mô hình TCP/IP (Application layer) sẽ được miêu tả trong hình 2-2.

    Hình 2-1: So sánh giữa mô hình bảy lớp OSI và kiến trúc ngăn xếp IP

    Mạng Internet (và cả ARPANET) được phát triển trước khi có mô hình OSI và các kinh nghiệm thu được khi xây dựng các mạng này đã có ảnh hưởng quan trọng đến mô hình OSI.

    Bởi vì kiến trúc tiếp đầu của gói tin IP đã được chuẩn hóa vào cuối thế kỷ trước, rất nhiều dịch vụ mới đã được phát triển cho nền tảng này. Hình 1-2 đưa ra miêu tả về kiến trúc của gói tin chuyển mạch IP.

    Hình 2-2: Kiến trúc IP với vị trí của thông tin SNMP và ICMP

    Khi xem xét các ứng dụng ở hình trên có thể thấy có một số liên quan đến một lớp thấp hơn lớp ứng dụng, ví dụ như Ping, điều này lý giải tại sao lớp ứng dụng của mô hình TCP/IP lại mở rộng, như trong hình 2-1.

    2.2.1. TỔNG QUAN VỀ BỘ ĐỊNH TUYẾN

    Chuyển tiếp các gói tin tới các địa chỉ đích khác nhau có lẽ là phần cốt yếu nhất của mạng Internet, trong khi đó định tuyến là hành động chuyển các thông tin qua một liên mạng (internetwork) từ một nguồn tới một đích. Theo cách này, ít nhất là truyền trong một mạng cục bộ, còn lại các gói tin thường được truyền từ mạng này qua mạng khác. Tiến trình thu nhận các gói tin qua các mạng khác nhau được thực hiện bởi các Router.

    Một Router có thể được xác định như là một tập các thiết bị mà được dùng để liên kết các mạng dữ liệu khác nhau. Trong những năm vừa qua Router  đã được bổ xung thêm nhiều tính năng mới. Chúng có thể có thêm các chức năng cao cấp như giám sát lưu lượng, mà có thể được đọc bằng cách sử dụng giao thức SNMP.

    Router xác định điểm mạng kế tiếp mà gói tin cần đi qua để chuyển tiếp gói tin đến đích của nó. Router phải được kết nối với ít nhất là hai mạng khác nhau và xác định  địa chỉ đích nào để định tuyến một gói tin bằng cách đọc địa chỉ của gói tin. Điều này lý giải tại sao router được đặt ở cổng ra (gateway) của mạng.

    Để các Router có thể liên hệ với nhau, IETF đã đưa ra chuẩn RIP (Routing Information Protocol) để chia xẻ thông tin định tuyến giữa các router với nhau. Giao thức RIP yêu cầu router gửi toàn bộ bảng định tuyến của nó tới router lân cận theo chu kỳ 30 giây. Tất cả các router có thể được định nghĩa để chia xẻ các thông thin này và tất cả chúng cập nhật bên trong vùng quản lý của chúng cũng theo chu kỳ 30 giây.

    2.2.2. ĐỊNH TUYẾN VÀ CHUYỂN TIẾP IP

    Định tuyến và chuyển tiếp có sự khác nhau. Chuyển tiếp là quá trình lấy gói tin từ một giao diện và gửi nó ra trên một đầu ra xác định, trong khi đó định tuyến là quá trình xây dựng lên các bảng mà cho phép các đầu ra đúng của gói tin có thể được xác định.

    Có hai phương pháp định tuyến là định tuyến trực tiếpđịnh tuyến gián tiếp. Định tuyến gián tiếp là khi các máy chủ phải gửi dữ liệu thông qua một router tới một mạng khác, trong khi đó định tuyến trực tiếp là khi các máy chủ trong cùng một mạng gửi dữ liệu cho nhau. Chúng ta cũng có định tuyến tĩnhđịnh tuyến động. Định tuyến tĩnh là khi nhà khai thác mạng cấu hình các bảng chuyển tiếp của router nhân công. Định tuyến động là khi các router tính toán số mạng từ phần tiêu đề của gói tin và tìm ra đúng router kế tiếp để gửi gói tin tới. Phương án này chủ yếu được dùng nếu các máy chủ có các địa chỉ IP ngẫu nhiên.

    Để hiểu công việc định tuyến và chuyển tiếp được thực hiện như thế nào, hãy xem xét mô hình có ba máy tính trong một mạng LAN nhỏ, tất cả đều nằm ở một phân đoạn địa chỉ IP. Chúng có địa chỉ thuộc lớp C: 128.39.202.*, và do đó có thể cho phép tới 254 nút trên mạng. Dấu sao * là một số bất kỳ từ 0 đến 254. Mỗi một giao diện mạng đều có địa chỉ MAC riêng của nó (48 bit) , ví dụ :4A-CE-87-44-4C-2A.

    Hình 2-3: Một mạng máy tính điển hình

    Ở hình 2-3, ta xem xét một mạng có 3 máy chủ (host). Nếu  máy A muốn gửi một gói tin IP tới máy tính C thông qua Ethernet, A cần phải biết địa chỉ IP của máy C. Giao thức ARP ( Address Resolution Protocol ) được sử dụng để khám phá động các địa chỉ này.

    Định tuyến trực tiếp là khi các gói tin được gửi trong cùng một mạng bằng cách sử dụng ARP. Mục đính của ARP là cho phép mỗi máy chủ trên một mạng tạo ra một bảng ánh xạ giữa các địa chỉ IP và địa chỉ MAC. Nói cách khác ARP giữ một bảng địa chỉ IP nội bộ và các địa chỉ Ethernet tương ứng. Nếu module ARP không biết địa chỉ IP của máy C thì nó sẽ phát quảng bá gói tin trên mạng và C sẽ đáp ứng lại A với địa chỉ IP của nó, ARP sẽ cập nhật bảng dữ liệu và bắt đầu gửi gói tin đến địa chỉ IP đó.

    Định tuyến gián tiếp được sử dụng khi có một Router tại cổng ra (gateway) giữa các mạng. Chú ý rằng từ gateway có thể có các ý nghĩa khác nhưng trong luận văn này nói miêu tả Router như một cánh cửa để đi vào một mạng khác. Bằng cách thêm vào một Router, điều này được môt tả trong hình 2-4.

    Hình 2-4: Hai mạng máy tính với một Router

    Router R ở trong hình 2-4 chuyển tiếp các gói tin giữa các mạng. Để làm điều này, nó cần hai giao tiếp mạng, mỗi giao diện sẽ “nghe” (listening) trên mỗi mạng. Nếu A muốn gửi một gói tin tới C, đầu tiên nó cần gửi gói tin tới R, và tới lượt mình R sẽ chuyển tiếp gói tin tới C. Điều này được thực hiện bằng cách làm cho A sử dụng địa chỉ Ethernet của R  mà có thể thu được bằng cách sử dụng ARP và quan trọng hơn và địa chỉ IP của C.

    Sử dụng bảng định tuyến được cấu hình nhân công gọi là Định tuyến tĩnh, tuy nhiên nó yêu cầu rằng các giao tiếp mạng có các địa chỉ IP được cấu hình tĩnh và nó cũng yêu cầu các giao tiếp mạng không được chuyển khỏi mạng ban đầu. Nếu phải chuyển một máy tính ra khỏi mạng thì bảng định tuyến cần phải được cập nhập nhân công.

    Định tuyến động sử dụng các giao thức thông tin định tuyến đặc biệt để tự động cập nhật bảng định tuyến với các router khác trong mạng mà có cấu hình để chia xẻ thông tin với nhau. Các giao thức này được nhóm lại với nhau thành nhóm các giao thức IGP (Interior Gateway Protocol) hoặc EGP (Exterior Gateway Protocol). Các giao thức IGP được sử dụng để phân bố thông tin định tuyến bên trong một vùng quản lý (MD- Management Domain). Một vùng quản lý là một tập các router bên trong một vùng được quản trị bởi một người có thẩm quyền. Các ví dụ của giao thức IGP là OSPF  (Open Shortest Path First) và RIP.

    Định tuyến tĩnh có một số ưu điểm khi so sánh với định tuyến động. Ưu điểm cơ bản là khả năng dự đoán được trước. Bởi vì nhà khai thác mạng tính toán được bảng định tuyến, và đường đi của gói tin giữa hai điểm đích luôn luôn được biết một cách chính xác và do đó có thể được điều khiển một cách chính xác,  hơn nữa bởi vì không có giao thức định tuyến động nào được sử dụng, định tuyến tĩnh không bắt các router hoặc các liên kết mạng chịu thêm bất kỳ một tải nào nữa, nhưng đối với mạng có kích thước lớn, băng tần giành cho việc cập nhật số liệu định tuyến tăng lên một cách nhanh chóng. Tổng kết lại định tuyến tĩnh dễ dàng triển khai với các mạng có kích thước nhỏ. Nhà khai thác mạng đơn giản chỉ cần “nói” với mỗi Router làm sao để liên kết với tất cả các phân đoạn mạng khác mà nó không kết trực tiếp.

    2.2.3. MẶT NẠ MẠNG

    Bằng cách sử dụng phép toán logic AND giữa mặt nạ mạng (netmask) và địa chỉ IP, giao thức IP có thể tính toán xem liệu địa chỉ đích có thể được gửi tới mạng nội bộ hoặc thông qua một gateway. Mỗi khi thiết lập một địa chỉ IP cho một giao tiếp mạng thì cũng cần phải chỉ ra netmask. Ví dụ, trong Windows 2000địa chỉ netmask mặc định là 255.255.255.0. Chúng ta sẽ không đi vào chi tiết việc này được thực hiện thế nào và làm sao số hiệu mạng và số hiệu của các máy chủ tương ứng với địa chỉ IP được tìm thấy.

    Hình 2-5: Ba mạng được kết nối với nhau

    Hn = Host, Rn = Router

    Trong hình 2-5 miêu tả ba mạng được kết nối với nhau sử dụng các kiểu đường kết nối khác nhau, như Ethernet (ETH), Giao tiếp dữ liệu quang phân bố (FDDI) và điểm -điểm (PPP). Các router chuyển tiếp các gói dữ liệu TCP từ H1 tới H8 như miêu tả ở trong hình 2-6. Như ta thấy các gói tin IP có thể được gửi trên các dạng liên kết khác nhau và do đó là độc lập với lớp liên kết.

    Hình 2-6 : Miêu tả giao thức nào mà các lớp sử dụng để kết nối giữa H1 tới H8 trong hình 2-5. Ba router tương ứng ba bước nhảy từ H1 tới H8.

    Chú ý rằng tất cả tất cả các gói tin IP bao gồm đủ các thông tin để cho mạng chuyển tiếp gói tin tới đích của nó và việc tìm kiếm các địa chỉ sẽ được thực hiện tại tất cả các router. Tuy nhiên, do nó không có một cơ chế thiết lập để thông báo cho mạng phải làm gì khi có gói tin đến. Một máy chủ gửi các gói tin và mạng sẽ cố gắng ở mức cao nhất (best-effort) để chuyển chúng tới đích mong muốn. Thuật ngữ “best-effort” có nghĩa rằng nếu có lỗi gì xảy ra và gói tin bị mất, mạng sẽ không làm gì cả – vì nó đã làm hết sức. Các gói tin có thể đến không đúng theo trật tự, hoặc chúng có thể được truyền nhiều lần, điều này làm cho các giao thức ở lớp cao hơn phải làm thêm một số công việc. Giữ cho các router càng đơn giản càng tốt là một trong những mục tiêu chính của mạng IP.

    2.2.4. CHUYỂN TIẾP KHUNG DỮ LIỆU

    Một khung dữ liệu được gửi từ một máy chủ nguồn tới một máy chủ đích, có thể thông qua một vài router trên quãng đường truyền đưa. Bất kỳ một node nào dù là máy chủ hay router, đầu tiên cố gắng thiết lập xem liệu nó có được kết nối tới cùng mạng vật lý của máy đích. Nó thực hiện điều này bằng cách sử dụng phép toán AND giữa netmask và địa chỉ IP. Nếu nút của địa chỉ đích không được nối với mạng nội bộ, nó cần phải gửi khung dữ liệu tới router. Nói chunng, mỗi nút sẽ có sự lựa chọn trong vài tuyến, và sau đó nó chọn cái tốt nhất hay ít nhất là cơ hội có thể để chuyển gói tin tới gần địa chỉ đích hơn. Các router tìm đúng “hop” kế tiếp bằng cách tham khảo trong bảng chuyển tiếp của nó. Bảng chuyển tiếp về mặt khái niệm là một danh sách các cặp <Số_hiệu_mạng, Hop_kế_tiếp> như miêu tả trong bảng 2-1.

    NetworkNum NextHop
    1 R3
    2 R1

    Bảng 2-1: Ví dụ về bảng chuyển tiếp cho Router R2 trong hình 2-5.

    Trong hình 2-5 chúng ta có một ví dụ về bảng chuyển tiếp của Router R2. Các router tìm kiếm số hiệu mạng ở trong tiếp đầu gói tin, tìm kiếm nó trong bảng chuyển tiếp và gửi gói tin đến “hop” kế tiếp. Để giảm khối lượng thông tin, IP đưa ra hệ thống hai cấp với các mạng ở cấp trên và các nút ở cấp dưới của bảng.

    2.2.5. CÁC MỞ RỘNG CỦA IPv6

    IPv6 có một định dạng tiếp đầu đơn giản hơn so với IPv4. Rất nhiều chức năng không cần thiết ở trong tiếp đầu của IPv4 đã được bỏ đi đối với IPv6. Điều này dẫn tới kết quả là hiệu năng của Router được tăng lên. Điểm khác nhau căn bản giữa hai phiên bản IP là 16 byte địa chỉ nguồn và đích và các trường tùy chọn ở trong phần tiếp đầu của IPv4 đã được chuyển đặt vào phần tiếp đầu mở rộng trong IPv6. Ngoài ra cũng có thể có rất nhiều tiếp đầu mở rộng khác trong IPv6. Các tiếp đầy này khi có mặt trong IPv6 thì phải được đặt theo một trật tự nhất định. Một sự đơn giản hóa khác của IPv6 so với IPv4 là phần tiếp đầu của nó luôn luôn có độ dài cố định.

    Cả phần tiếp đầu chính (main-header) và phần tiếp đầu mở rông của IPv6 đều có trường NextHeader. Trường này bao gồm một thẻ nhận dạng kiểu của tiếp đầu mở rộng kế tiếp. Sau phần tiếp đầu mở rộng cuối cùng là một tiếp đầu của lớp chuyển vận (transport-layer) (ví dụ: TCP) và trường NextHeader sẽ bao gồm một thẻ nhận dạng cho giao thức của lớp cao hơn đó.

    Có sáu kiểu tiếp đầu mở rộng trong IPv6 đó là:

    • Hop-by-Hop Options
    • Routing
    • Fragment
    • Destination Options
    • Authentication
    • Encapsulating Security Payload

    2.3. KIẾN TRÚC MPLS VÀ CƠ CHẾ CHUYỂN TIẾP CỦA NÓ

    2.3.1. KIẾN TRÚC MPLS

    MPLS là viết tắt của thuật ngữ Chuyển mạch nhãn đa giao thức (Multi-Protocol Label Switching) trong đó từ multi-protocol có ý nghĩa rằng phương pháp chuyển mạch này áp dụng được cho tất cả các giao thức lớp mạng chứ không phải là chỉ riêng IP. MPLS có tác dụng gắn kết chuyển mạch phi kết nối IP (connectionless IP) tới các mạng hướng kết nối (connection-oriented networks). MPLS cũng sẽ hoạt động ảo trên mọi giao thức của lớp liên kết. Nguyên lý của MPLS là tất cả các tin được chỉ định một nhãn (label) và các gói tin được chuyển tiếp dọc theo một Đường chuyển mạch nhãn (Label Switched Path-LSP) trong đó mỗi router trên đường đi của gói tin thực hiện các quyết định chuyển tiếp gói tin dựa trên nội dung của nhãn gắn trên gói tin. Các router có bảng chuyển tiếp của mình, các bảng này được chỉ mục hóa theo giá trị của nhãn đầu vào (incoming label) . Đây là điểm khác biệt so với cơ chế chuyển tiếp IP.

    Công nghệ MPLS đóng góp một sự đa dạng các tính chất mới cho kiến trúc mạng ở các lớp thấp. Ví dụ như là đảm bảo hiệu năng ở một cấp độ nhất định để định tuyến trong một mạng bị nghẽn hoặc để tạo các đường hầm IPcho các mạng riêng ảo dựa trên một mạng (network-based VPN). MPLS có khả năng tạo các kênh xuyên suốt (end-to-end) tương tự như các kênh ảo (Virtual Circuit -VC) như trong ATM. MPLS cũng cung cấp các đặc tính xác định về hiệu năng như  xử lý lưu lượng (traffic engineering) trên bất kỳ một hạ tầng truyền thông nào. Các khả năng này cho phép giảm sự cần thiết của các mạng overlay và các cơ chế điều khiển lớp 2.

    Thông thường chúng ta thường có nhiều kinh nghiệm về giao thức lớp liên kết của Ethernet nhưng đối với các giao thức khác như ATM, FrameRelay thì lại có ít hiểu biết hơn. Thực sự  là không cần thiết để đi sâu phân tích tất cả cá giao thức lớp liên kết mà MPLS tương thích bởi vì trong luận văn này chúng ta chủ yếu tập trung vào Ethernet, để diễn giải thêm về khả năng của MPLS tôi sẽ điểm sơ lược về thực hiện MPLS trên ATM.

    Lớp mạng cung cấp cho chúng ta ít lựa chọn hơn. Hiện tại hầu như chỉ có các tài liệu về IP/MPLS, mặc dù MPLS có thể áp dụng cho tất cả các giao thức lớp mạng khác nhau nhưng trong luận văn này chỉ miêu tả công nghệ này trên khía cạnh tương ứng với IP. Lý do là các tiêu chuẩn quốc tế cũng như các sản phẩm thương mại của các nhà cung cấp thiết bị hầu như chỉ giải quyết các giải pháp dựa trên giao thức này.

    Kiến trúc của MPLS được chỉ ra trong IETF RFC 3031. MPLS được tham khảo đến như một “Lớp chêm” (“shim” layer). “Lớp chêm”  này có ý nghĩa rằng như trong hình 1-7 thì MPLS nằm giữa lớp 2 và lớp 3 khi quy chiếu với mô hình OSI và về thực chất MPLS chỉ có tác dụng làm cho các lớp này gắn kết nhuần nhuyễn với nhau hơn.

    Hình 2-7: So sánh giữa mô hình OSI với TCP/IP và MPLS

    Khái niệm cơ bản của chuyển mạch nhãn thực sự rất đơn giản. Hãy lấy một ví dụ về việc gửi một bức thư điện tử từ một người dùng đến một người khác, trong các mạng sử dụng cấp độ dịch vụ “best-effort” như IP, thì phương pháp để gửi bức thư này đến đích hoàn toàn tương đương như việc gửi một bức thư qua Bưu chính với giả thiết là không sử dụng mã ZIP của Bưu cục nhận và bức thư này có địa chỉ nhận là duy nhất. Công việc ở đây là xác định địa chỉ đích và đưa ra phương án làm sao để gửi bức thư đến người nhận cuối cùng.

    Đối với chuyển mạch nhãn thì sự việc có khác. Thay vì việc dùng toàn bộ địa chỉ đích để cung cấp đầu vào cho các router đưa ra quyết định chuyển tiếp thì chỉ có một nhãn được gắn vào gói tin. Tương tự như trong dịch vụ Bưu chính thì giá trị của nhãn được đặt vào giống như mã ZIP của Bưu cục nhận và phần sau đó của địa chỉ nhận được sử dụng bởi Bưu cục nhận để chuyển lá thư tới người nhận. Trong các mạng máy tính nhãn được đặt ở phần tiếp đầu của gói tin và toàn bộ gói tin IP trở thành payload. Các bộ định tuyến bây giờ chỉ sử dụng nhãn thay vì sử dụng địa chỉ IP để định hướng lưu lượng về phía địa chỉ đích (xem hình 1-8).

    Hình 2-8: Hoạt động của MPLS

    Các router có hỗ trợ MPLS được gọi là Router chuyển mạch nhãn (Label Switch Routers-LSRs). LSR đầu vào (ingress LSR) là nơi mà gói tin đi vào mạng MPLS. Nó thêm tiếp đầu MPLS vào gói tin IP và gắn thêm một nhãn. LSR đầu ra (egress LSR) là nơi mà gói tin IP rời khỏi mạng MPLS và tiếp đầu MPLS được loại bỏ khỏi gói tin. Cả LSR đầu vào và LSR đầu ra là các nút biên (edge nodes) kết nối mạng MPLS với các mạng khác. Các LSR quá giang  (transit LSRs) cũng còn được gọi là LSR bên trong nhận gói tin từ các MPLS biên và sử dụng tiếp đầu MPLS để để tạo ra các quyết định chuyển tiếp. Nó cũng thực hiện việc tráo đổi  nhãn đảo (label swapping).

    Có hai cơ chế định tuyến MPLS là : định tuyến từng chặng (hop by hop) và định tuyến thẳng. Trong cơ chế định tuyến từng chặng, các LSR tạo ra các đường chuyển mạch nhãn (Label Switch Paths-LSPs) từ LSR đầu vào  tới LSR đầu ra bằng cách trao đổi thông tin với nhau một cách ngang hàng. Các thông tin  trao đổi này được lưu trong bảng định tuyến của LSR. Theo phương pháp này các LSR tạo ra một đường đi hợp lý nhất. Trong khi đó định tuyến thẳng có sự khác biệt nhỏ ở chỗ  toàn bộ đường đi hay một phần đường đi mà các LSR sử dụng để đi ngang qua mạng từ biên bên này tới bên kia được định nghĩa thẳng bởi LSR đầu vào và các LSR sẽ được xây dựng dựa trên tuyến có sẵn này.

    Khi các LSR thực hiện việc chuyển tiếp các gói tin, nó tách lấy nhãn hiện tại của gói tin MPLS tại mỗi một hop và sử dụng nó như một chỉ mục để tìm trong trong bảng chuyển tiếp của nó. Khi tìm thấy một chỉ mục đầu vào tương ứng trong bảng thì LSR áp dụng nhãn đầu ra cho chỉ mục này đối với gói tin MPLS. Sau đó gói tin được gửi qua giao tiếp đã được xác định trong bảng chuyển tiếp của LSR. Các gói tin MPLS thuộc về một LSP sẽ được chuyển tiếp theo cùng một cách bởi tất cả các router trên LSP đó. Một cách đơn giản việc chuyển tiếp và chỉ mục hóa dựa trên các bảng chuyển tiếp sẽ làm tăng tốc độ xử lý chuyển tiếp bên trong mạng MPLS và do đó cải thiện được các đặc tính trễ và trượt của lưu lượng.

    MPLS cho phép một hệ thống cấp bậc các nhãn được biết đến như là một ngăn xếp nhãn (label stack). Và do đó nó có khả năng có các LSPs khác nhau tại các cấp khác nhau của ngăn xếp nhãn. Tính năng này làm tăng khả năng mở rộng của LSP. Nó cũng có thể cho phép đặt các LSP nhỏ các LSP lớn hơn. Đối với các nhãn theo hệ thống cấp bậc trường ngăn xếp (stack-field) của tiếp đầu MPLS (được trình bày ở phần sau) được đặt là “1” nếu nhãn ở dưới cùng , và được đặt là “0” nếu không phải là ở dưới cùng. Hình 2-9 giải thích rõ hơn về hệ thống cấp bậc của nhãn.

    Hình 2-9: Một ví dụ về cấp bậc của nhãn trong MPLS

    Các router R1 và R5 thuộc về hai LSP khác nhau. Các số 1 và 2 là độ sâu của ngăn xếp. R1 và R5 là các router biên và R2, R3, R4 là các router trong. Với mục đích là chuyển tiếp nhãn thì R1 và R5 là ngang hành tại cấp biên và R2, R3, R4 là ngang hàng tại cấp độ nội bộ. Khi R1 nhận được một gói tin với nhãn có độ sâu là 1 chỉ tới R5, nó sẽ tráo đổi nhãn của gói tin bởi một nhãn tương ứng mà sẽ được sử dụng bởi R5. Cũng bởi vì gói tin này phải đi qua R2, R3, R4 cho nên R1 sẽ đẩy vào gói tin thêm một nhãn mới và do vậy độ sâu của ngăn xếp bây giờ là 2. Chính vì thế chúng ta thấy đã có hai LSP, một tại cấp độ 1 từ R1 tới R5 và LSP thứ 2 từ R2 tới R4.

    Tiếp đầu MPLS được đặt giữa tiếp đâu lớp 2 và tiếp đầu lớp 3. Một ví dụ về tiếp đầu lớp 2 và lớp 3 là Ethernet và IP. vị trí của tiếp đầu MPLS và định dạng của nó như trong hình 2-10.

    Hình 2-10: Vị trí và định dạng của tiếp đầu MPLS.

    Tiếp đầu MPLS dài 32 bít và có bốn trường. Tiếp đầu MPLS được chỉ ra ở hình 11 và bao gồm các trường sau :

    • Trường nhãn có độ dài 20-bits chứa giá trị thực của nhãn MPLS. Các giá trị từ 0 đến 15 được dành cho các chức năng đặc biệt nhưng chỉ một số giá trị đã được định nghĩa:
    • IPv4 Explicit NULL Label (value 0).
    • Router Alert Label (value 1).
    • IPv6 Explicit NULL Label (value 2).
    • Implicit NULL Label (value 3).
    • OAM Alert Label (value 14)
    • Trường Exp/QoS có độ dài 3-bits là bản chất là một trường được đưa ra dựa trên thực tế để giải quyết các thuật toán cho xếp hàng và hủy bỏ gói tin khi nó được truyền qua mạng.
    • Trường ngăn xếp có độ dài 1-bit (trường S) xác định đáy của ngăn xếp khi ngăn xếp được dùng. S là “0” khi nhãn không phải ở đáy của ngăn xếp và là “1” khi nó ở đáy của ngăn xếp.
    • Trường thời gian sống dài 8 bit (time-to-live: T) là một sao chép của trường TTL trong tiếp đầu của gói tin IP nó được tăng lên khi gói tin đi qua mỗi chặng.

    Phương án “Lớp chêm ” như nêu ở phần trên được sử dụng cho các công nghệ lớp 2 mà các công nghệ này không thể đưa các nhãn vào trong phần tiếp đầu của mình. Các công nghệ lớp 2 này chủ yếu là để chỉ kiểu kết nối ngoại trừ đối với ATM và FrameRelay. Đối với ATM và Frame Relay, các nhãn được chứa trong tiếp đầu lớp liên kết của chúng. Trong ATM, nhãn có thể được chứa trong trường VCI (virtual circuit identifier) hoặc trường VPI (virtual path identifier). Cũng như thế, đối với Frame Relay, nhãn có thể được chứa trong trường DLCI (Data Link Connection Identifiers) của tiếp đầu Frame Relay.

    2.3.2. THỰC HIỆN MPLS TRÊN ATM

    Chúng ta sẽ xem xét việc thực hiện của MPLS trên ATM, nhưng trước hết hãy tìm hiểu sơ lược về ATM.

    Các tế bào ATM bao gồm một tiếp đầu có độ dài 5 bytes và tải có độ dài 48 bytes. Để truyền một thông tin có độ dài lớn hơn 48 bytes được chuyển xuống từ các lớp trên, IP chẳng hạn, thông thường ATM chia các thông tin này thành các phần nhỏ hơn, công việc này gọi là phân mảnh. Việc phân mảnh thông tin được thực hiện bởi lớp AAL (ATM Adaptation Layer ), lớp này nằm ở giữa lớp 2 và lớp 3. Tiếp đầu AAL bao gồm các thông tin cần thiết để nơi đến của các gói tin có thể lắp ráp lại các thông tin đã bị phân mảnh.

    Một đơn vị dữ liệu theo giao thức AAL5 (PDU) sẽ được chia ra thành các phần có độ dài 48 byte và các đoạn 48 bytes này cùng với một tiếp đầu ATM để tạo thành một tế bào ATM. Khi tất cả các tế bào ATM thuộc về một PDU đã đến đích hoặc đến điểm cuối của mạng ATM thì chúng sẽ hợp lại với nhau thành một PDU như ở đầu vào.

    Hình 2-11: Đóng gói các gói tinđược gắn nhãn trên liên kết ATM

    Khi muốn sử dụng đóng gói các gói tin được gắn nhãn của MPLS trên ATM, toàn bộ ngăn xếp nhãn sẽ được chứa trong AAL5 và nhãn ở mức trên cùng sẽ được chưa trong trường VCI/VPI của tiếp đầu ATM  (xem hình 12). Lý do của việc chưa các nhãn trong cả AAL5 PDU và tiếp đầu ATM chủ yếu là do độ sâu tùy ý của ngăn xếp. Khi các tế bào ATM đến cuối của LSP chúng sẽ được ráp lại. Nếu có nhiều nhãn hơn ở trong ngăn xếp nhãn thì AAL5 PDU sẽ lại được phân mảnh và nhãn mà ở trên cùng của ngăn xếp nhãn sẽ được đặt vào trong trường VCI/VPI của tiếp đầu ATM.

    Cho đến thời điểm này chúng ta thường sử dụng thuật ngữ bảng định tuyến và bảng chuyển tiếp (forwarding tables and routing tables) để chỉ các bảng chưa các thông tin tương ứng cho việc định tuyến và chuyển tiếp gói tin. Kiến trúc MPLS sử dụng các tên khác cho các bảng này: Cơ sở thông tin chuyển tiếp nhãn (Label Forwarding Information Base- LFIB) và Cơ sở thông tin nhãn (Label Information Base-LIB). LIB bao gồm tất cả các thông tin nhãn mà LSR cần phải thu thập được từ các LSR lân cận của nó, theo khía cạnh về hướng đi của các khung thì LFIB sử dụng một tập con các nhãn chứa trong LIB để cho chuyển tiếp gói tin hiện tại.

    Là cần thiết để xác định một cách chính xác các gói tin nào được ánh xạ tới mỗi LSP. Điều này được thực hiện bởi xác định FEC (Forwarding Equivalency Class) cho mỗi LSP. FEC chỉ ra tập các gói tin IP mà được ánh xạ tới LSP đó. Mỗi một FEC được xác định bởi một tập của một hay nhiều thành phần FEC, trong đó mỗi thành phần xác định một tập các gói tin có thể được ánh xạ tới LSP tương ứng. Có một vài kiểu FEC thành phần được định nghĩa ; thành phần FEC địa chỉ tiếp đầu là tiếp đầu địa chỉ có độ dài từ 0 tới toàn bộ độ dài của địa chỉ. Một địa chỉ IP phù hợp với tiếp đầu địa chỉ trong FEC là địa chỉ IP có phần đầu giống tiếp đầu đó. Một FEC thành phần khác là địa chỉ máy chủ (Host Address). Thành phần này là địa chỉ đầy đủ của máy chủ. Các nhãn sẽ được gắn cho FEC trên toàn bộ LSP. Nhãn này không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào FEC mà còn có thể biểu diễn cho tổ hợp các gói tin FEC và các gói tin thứ hạng ưu tiên hoặc cấp độ dịch vụ (CoS).

    2.3.4. THÀNH PHẦN ĐIỀU KHIỂN

    Thành phần điều khiển có nhiệm vụ phân phối các thông tin định tuyến giữa các LSR và các thủ tục mà các router này sử dụng để chuyển các thông tin này thành các bản tin định dạng LFIB. Các bản tin LFIB sẽ được sử dụng bởi các thành phần chuyển tiếp khi tiến hành chuyển tiếp các khung tin MPLS.

    Có một sự tương đương khá lớn giữa thành phần điều khiển của kiến trúc định tuyến trước đây và thành phần điều khiển của chuyển mạch nhãn. Thành phần điều khiển của MPLS bao gồm tất cả các tính năng kế thừa từ các giao thức định tuyến được dùng trong thành phần điều khiển trước đây như OSPF, BGP và PIM. Theo nghĩa này các thành phần điều khiển này tạo thành một tập con của thành phần điều khiển MPLS. Để thêm vào các thủ tục cần thiết còn thiếu một LSR có thể :

    • Tạo các liên kết giữa các nhãn và FEC.
    • Thông báo tới các LSR khác về liên kết mà mà nó tạo ra.
    • Tận dụng cả hai cơ chế ở trên để xây dựng và duy trì các LFIB.

    Để thực hiện việc liên kết giữa các nhãn và các FEC có hai phương pháp. Kiểu liên kết thứ nhất được biết đến như là phương pháp liên kết cục bộ và chỉ xảy ra khi router tạo ra liên kết cho nhãn đầu vào (incoming label) một cách cục bộ. Kiểu liên kết thứ hai là liên kết xa, khi router nhận được thông tin liên kết nhãn từ một LSR khác về liên kết nhãn được tạo bởi LSR đó.

    Thành phần điều khiển chuyển mạch nhãn dùng cả hai phương pháp liên kết cục bộ và liên kết xa để định vị bảng LFIB của nó với các nhãn đi vào và đi ra. Để thực hiện được công việc trên có hai cách trái ngược nhau:

    • Các nhãn từ liên kết cục bộ trở thành nhãn đi vào (ingoing labels) và các nhãn từ liên kết xa được sử dụng như các nhãn đi ra – Đây là liên kết nhãn theo dòng đi xuống (downstream label binding).
    • Các nhãn từ liên kết xa trở thành nhãn đi vào và các nhãn từ liên kết nội bộ được dùng như là các nhãn đi ra – Đây là liên kết nhãn theo dòng đi lên (upstream label binding).

    Để giải thích thêm về các liên kết này, cần phải hiểu rõ thuật ngữ dòng đi xuống (downstream) dòng đi lên (upstream) . Luồng các gói tin được gửi từ LSR tải lên (upstream LSR) về phía LSR tải xuống (downstream LSR) – Xem hình 2-12.

    Hình 2-12: Liên kết nhãn dòng đi xuống và đi lên.

    Hai phương pháp liên kết nhãn khác nhau được gọi tên tương ứng với các LSR thực hiện công việc tải lên hay tải xuống. Một sự liên kết nhãn là ánh xạ giưa một nhãn chưa trong gói tin và một FEC cụ thể mà gói tin đó thuộc về. Hình 2-12 có minh hoạ hai kiểu liên kết nhãn. Trong kiểu liên kết nhãn dòng tải xuống, các nhãn đầu ra trong bảng chuyển tiếp được tạo bởi LSR tải xuống, với kiểu liên kết nhãn thứ hai, việc liên kể được thực hiện bởi LSR tải lên và do đó gọi là liên kết nhãn theo dòng tải lên, nhãn này trở thành nhãn đầu vào trong bảng chuyển tiếp.

    Giao thức phân tán nhãn (Label Distribution Protocol-LDP)là một cơ chế được biết đến nhiều nhất để cho phép các LSR phân tán các liên kết FEC tới các LDP ngang hàng của nó. Nhưng cũng có một số giao thức khác cho phép phân tán nhãn như BGP, PIM và RSVP. Trước khi hai LSR có thể thực hiện một kết nối LDP, chúng cần phải thực hiện việc xác định các LSR lân cận. Việc này được làm theo cách LSR sẽ phát theo chu kỳ một tin phát dạng : Hello Message tới cổng UDP tới tất cả các router trên subnet mà thuộc về nhóm multicast. Tất cả các LSR nghe trên cổng UDP này và nhờ việc nhận được tin phát Hello Message nó nhận biết được các LSR lận cận của nó. Khi một LSR đã biết được địa chỉ của một LSR khác nhờ cơ chế này, nó thiết lập một kết nối TCP tới LSR đó. Tại thời điểm này một phiên làm việc LDP song phương đã được thiết lập giữa hai LSR.

    Trước khi có thể trao đổi các nhãn, thì có một phiên khởi tại LDP mà các LSR ngang hàng thỏa thuận mới nhau chế độ trao đổi nào được dùng. Có một số chế độ cho việc trao đổi các liên kết nhãn FEC. Hai chế độ lựa chọn chủ yếu là tải xuống theo nhu cầu (downstream-on-demand) và đối ngược lại là tải xuống tư nguyện. Tải xuống theo yêu cầu là khi LSR phát tán một liên kết nhãn FEC để đáp ứng lại một yêu cầu xác định từ một LSR khác, trong khi đó tải xuống tự nguyện là phát tán các liên kết nhãn mà không cần phải có yêu cầu xác định từ bất kỳ từ một LSR nào.

    Một bản tin LR (Label Request Message) được sử dụng bởi một LSR tải lên như kết quả của việc phát hiện một FEC mới, để xác định một cách rõ ràng nó yêu cầu LSR tải xuống chỉ định và báo lại cho biết một nhãn cho FEC này. LSR tải xuống luôn luôn phải thực hiện việc liên kết này cho các kết nối tải lên. FEC được truyền tới LSR tải xuống trong LRM.  LSR nhận được bản tin LR phải đáp ứng lại với bản tin LM (Label Mapping Message) với một nhãn xạ ánh cho nhãn được yêu cầu hoặc với một bản tin  thông báo xác định rằng tại sao nó không thể đáp ứng được yêu cầu này. Các nhãn này chỉ có ý nghĩa một cách cục bộ, có nghĩa rằng nhãn này chỉ có ích và có liên quan trên một liên kết đơn lẻ, giữa các LSR liền kề. LSR ngang hàng tới lượt mình lại gửi một bản tin LR tới LSR ngang hàng của nó nếu nó chưa có một ánh xạ nào trong LIB của nó để xác định đường đi tới chặng kế tiếp. Chặng kế tiếp (next hop) là một trường trong LFIB miêu tả router kế tiếp để chuyển tiếp các gói tin đã được gắn nhãn về phía LSR đầu ra (egress LSR). Các router này được xác định theo thuâth toán tìm đường đi ngắn nhất hoặc đường đi có chi phí thấp nhất . Bằng cách nêu trên LFIB được chuyển tới các LSR trên mạng.

    Việc thiết lập một LSP mà được trình bày ở phần trên hoàn toàn độc lập với việc thiết lập điều khiển LSP. Trong phương pháp thứ hai, để thiết lập một điều khiển LSP, LSR đầu vào và đầu ra khởi tạo việc cài đặt LSP. Việc chỉ định nhãn được điều khiển theo một cách có thứ tự từ LSR đầu ra tới LSR đầu vào của LSP. Đó là một bản tin LR phải được gửi tới mỗi LSR dọc theo đường đi của gói tin từ LSR tải lên của LSP đó. Không có một liên kết nhãn nào có thể được chỉ định trước kh bản tin này đến được LSR đầu ra. Bản tin LM bây giờ có thể được gửi theo đường đã được dành sẵn về phía LSR đầu vào. Với mỗi LSR trên đường đi liên kết nhãn được chỉ định và được thêm vào LFIB của nó.

    Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu LIB được phát tán trên MPLS như thế nào. Như đã nêu ở trên LIB bao gồm tất cả các thông tin nhãn mà LSR cần phải học từ các LSR tải xuống lân cận của nó cả theo yêu cầu và tự nguyện . Thông tin này có thể là tiếp đầu địa chỉ FEC (FEC Address Prefix), Nhận dạng LSR lân cận (Neighbor LSR Identifier), địa chỉ IP của các LSR lân cận và các liên kết các FEC tới nhãn. Bởi vì LIB cũng bao gồm thông tin không bắt buộc, vì vậy sẽ có các mục chứa các đường đi không phải là tốt nhất và sẽ không được dùng cho việc chuyển tiếp gói in. LIB không được dùng để ánh xạ nhãn đầu vào tới nhãn đầu ra.

    Các phương pháp được trình bày ở trên đầy là các thành phần điều khiển mà cho phép sự thiết lập trạng thái chuyển tiếp dữ liệu giữa các LSR liền kề chỉ dựa trên thông tin trong bảng định tuyến hoặc từ một hệ thống điều khiển. Nhưng các phương pháp này không có khả năng thiết lập trạng thái chuyển tiếp dữ liệu tới tất các LSRs dọc theo một tuyến xác định và khả năng dự trữ tài nguyên dọc theo một tuyến. Các điều này và một số tính chất khác tạo thành nền tảng của định tuyến cưỡng bức. Có hai phương pháp để đạt được các LSP dựa trên cưỡng bức là : RSVP xắp đặt lưu lượng (RSVP Traffic Engineering :RSVP-TE) và LDP định tuyến cưỡng bức (CR-LDP). Các giao thức báo hiệu này cho phép MPLS điều khiển đường đi của một gói tin  bằng cách xác định rõ ràng các router trung gian và tuyến truyền được tính toán tại một thời điểm tại một điểm ở biên của mạng. Các công việc theo cách này được thực hiện khá giống nhau trong cả hai cơ chế vì vậy sau đây sẽ chỉ trình bầy thêm về phương pháp CR-LDP.

    CR-LDP sử dụng bản tin LR trong LDP để thiết lập việc định tuyến cưỡng bức, trong đó LDP đã được mở rộng với các giá trị độ dài kiểu (Type-length-values :TLVs) mới thêm vào so với các LDP TLVs chung. TLV là một bản miêu tả đối tượng được dùng trong một vài giao thức. các TLV cho LDP mới này được gọi là các TLV định tuyến cưỡng bức (Constrained-based Routing TLVs :CR-TLV). Khi một LSR muốn tạo một CR-LSP, bản tin LR phải chưa ít nhất là LSPID TLV và cũng có thể chứa một hoặc nhiều CR-TLV trong trường các giá trị tùy chọn của nó. LSPID TLV cung cấp cho CR-LDP một đặc tính xác địn mà có thể được sử dụng để sửa đổi LSP. Khi sử dụng CR-LDP nó có thể xác định một cách rõ ràng việc định tuyến và tài nguyên nào sẽ được cấp khi LSP được thiết lập.

    2.3.5. THÀNH PHẦN CHUYỂN TIẾP

    Hình 2-13: Cấu trúc của LFIB

    Thành phần chuyển tiếp liệt  kê các mục của LFIB để tìm ra cách làm sao chuyển tiếp các khung MPLS đi vào tới LSR kế tiếp. LFIB như đã miêu tả ở phần trên đã được phát tán bở thành phần điều khiển.

    LFIB của một LSR bao gồm các mục theo tuần từ, trong đó mỗi mục bao gồm một nhãn đầu vào và một hoặc nhiều mục con. Mỗi mục con bao gồm một nhãn đầu ra, một giao diện đầu ra và địa chỉ chăng kế tiếp (xem hình 2-14). Các mục con khác nhau trong một mục chính lại có thể có nhiều hơn một mục con nữa để điều khiển việc chuyển tiếp tới nhiều địa chỉ. Hơn nữa đối với thông tin để điều khiển gói tin sẽ được chuyển tiếp tới đâu, một mục trong bảng chuyển tiếp có thể bao gồm thông tin liên quan tới các tài nguyên nào mà gói tin có thể được sử dụng. Thông tin này ví dụ như là hàng đợi đầu ra đặc biệt nào mà gói tin được xếp vào.

    Một LSR có thể chỉ duy trì một bảng chuyển tiếp đơn hay cho mỗi giao tiếp của mình nó lại có một bảng chuyển tiếp riêng. Với khả năng thứ nhất, việc điểu khiển một gói tin được xác định đơn thuần chỉ bởi nhãn được chưa trong gói tin đó. Trong khi đó với lựa chọn thứ hai, điều khiển gói tin được xác định bởi không chỉ bởi nhãn chứa trong gói tinmà còn bởi giao tiếp mà trên đó gói tin đã tới . Một LSR có thể sử dụng lựa chọn một hoặc hai hoặc một tổ hợp cả hai.

    Một tính chất quan trọng của thuật toán chuyển tiếp được dùng bởi chuyển mạch nhãn là một LSR có thể nhận được tất cả các thông tin cần thiết để chuyển tiếp gói tin cũng như để quyết định xemtài nguyên nào mà gói tin có thể dùng chỉ trong một lần truy nhập bộ nhớ duy nhất, bởi vì các lý do sau :

    1. Một mục dữ liệu trong bảng chuyển tiếp bao gồm tất cả các thông tin cần để chuyển tiếp gói tin cũng như quyết định tài nguyên nào mà gói tin được dùng.
    2. Nhãn được chứa trong gói tin cung cấp chỉ mục để tìm mục dữ liệu tương ứng trong bảng chuyển tiếp sử dụng cho việc chuyển tiếp gói tin này.

    Khả năng nhận được cả thông tin để chuyển tiếp và thông tin về tài nguyên dành cho gói tin trong một lần truy nhập bộ nhớ đã làm cho chuyển mạch nhãn trở thành một công nghệ có tốc độ chuyển tiếp dữ liệu cao so với các công nghệ trước nó.

    2.3.6. VÍ DỤ VỀ ĐỊNH TUYẾN TRONG MPLS

    Một ví dụ về định tuyến dữ liệu trong MPLS minh họa hoạt động cơ bản của MPLS khi định tuyến. Bằng cách sử dụng các giao thức định tuyến IP quy ước và LDP các LSR tạo nên các bảng định tuyến được bổ xung thêm với các nhãn được gọi là các LIBs . Trong hình 2-14 các nút mạng A, B, C, và D là các máy chủ không được cấu hình với MPLS, LSR1 là LSR đầu vào, LSR2 là LSR quá giang và LSR3 là LSR đầu ra.

    Hình 2-14: Tráo đổi nhãn và chuyển tiếp trong MPLS

    LSR1 trong hình 2-14 nhận một gói tin IP từ nút A trên giao tiếp 0,được xác định địa chỉ gửi đến là nút C . LSR1 là LSR đầu vào và nó thực hiện việc tìm kiếm mục phù hợp có độ dài nhất giữa địa chỉ đích trong gói tin Ip và các tiếp đầu trong trong LIB của nó. Các thủ tục liên kết FEC tới nhãn trong LIB của nó cũng được thực hiện. Theo cách này nhãn ban đầu cho gói tin IP được tìm thấy và tiếp đầu của nhãn được đóng gói vào gói tin IP. Các đặc tính chuyển tiếp khác như router chặng tiếp theo và giao tiếp đi ra được tìm trong LFIB của LSR1. Gói tin đã được gắn nhãn sẽ đwocj chuyển với nhãn 3 tới LSR chặng tiếp theo (là LSR2) trên giao tiếp

    đầu ra số 2.

    Khi LSR2 nhận được gói tin nó chỉ xử lý phần tiếp đầu nhãn. Nó tách lấy nhãn và sử dụng giá trị lấy được để tìm kiếm chỉ mục theo cột nhãn vào (label IN column) trong LFIB của nó. Nó tìm thấy nhãn đầu ra tương ứng cho nhãn đầu vào 3 là “7” và nó thực hiện thay thế nhãn đầu vào này bằng giá trị của nhãn đầu ra trong phần tiếp đầu nhãn sau đó chuyển tiếp gói tin tới LSR3 trên giao tiếp 2. Đây chính là việc chuyển mạch nhãn .

    LSR đầu ra cũng chỉ thực hiện việc xử lý đối với tiếp đầu nhãn và tìm kiếm nhãn đầu vào ở trong LFIB của nó. LSR3 phát hiện rằng nó là đầu ra của LSP vì router chặng kế tiếp lại chính là nó vì vậy nó bỏ tiếp đầu nhãn ra khỏi gói tin đến. Phần còn lại của gói tin chính là gói tin đầu vào của LSR1 đã nhận và được chuyển tiếp đế nút  C qua giao tiếp 2.

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ MẠNG ÁP DỤNG TRONG MẠNG IP VÀ MPLS

     

    3.1. GIỚI THIỆU

    Trong chương này chúng ta sẽ đi sâu phân loại một số chức năng về vận hành và bảo dưỡng (Operation And Management – OAM) đã có hoặc được đề xuất cho IP và MPLS.

    Trước hết, chúng ta sẽ mô tả về một cơ chế quản lý mạng có thể được sử dụng cho cả các mạng IP và MPLS. Về định nghĩa quản lý mạng là một giải pháp để giám sát và kiểm tra mạng lưới để phát hiện lỗi. Giao thức quản lý mạng đơn giản (Simple Network Management Protocol – SNMP) đã được phát triển cho mục đích này . SNMP được dùng để nhận các thông tin từ các Router bằng cách truy nhập vào các MIB (Management Information Bases) khác nhau của chúng ở các nút trên mạng.

    Tiếp theo, một sự phân loại các cơ chế OAM cho IP và MPLS sẽ được trình bày. Bản thân IP không có một cơ chế nào kiểu như vậy, nhưng các mở rộng của IP như ICMP (Internet Control Message Protocol), Ping, Traceroute và MIBs là các chức năng chính được sử dụng cho công nghệ này. Ngược lại MPLS có các phương án cho rất nhiều cơ chế OAM khác nhau.Cơ chế xác minh kết nối LSP cho phép phát hiện các lỗi khác nhau trên các LSP và đề xuất một số các định dạng gói tin khác nhau. MPLS ping, Traceroute và phát hiện nút lỗi – RSVP  là các phương pháp khác để phát hiện lỗi. Chuyển mạch bảo vệ và tái định tuyến nhanh cho phép việc truyền đưa gói tin qua mạng một các tin cậy, trong khi đó xử lý lưu lượng MPLS và MPLS SNMP MIB là các cơ chế thay thế khác cho phép giám sát mạng một cách hiệu quả.

    3.2. QUẢN LÝ MẠNG

    3.2.1. KIẾN TRÚC QUẢN LÝ MẠNG

    Trong một hệ thống quản lý mạng có hai thành phần chính là máy chủ quản lý (Manager) và các tác nhân (Agents). Máy chủ quản lý có hai chức năng chính: thu thập và hiển thị trực quan thông tin. Nó thu thập thông tin từ các tác nhân và sử dụng các cơ chế khác nhau để xắp xếp và nhặt ra các dữ liệu có liên quan. Các tác nhân có trách nhiệm truyền đưa thông tin về phần cứng hoặc phần mềm. Một cách tổng thể, các tác nhân được dùng cho mục đích làm tác vụ như giám sát sử dụng lưu lượng, tình trạng của các thành phần được nối vào mạng và các hoạt động tương tự.

    Hình 3.1. Kiến trúc một hệ thống quản lý mạng

    Như ở hình 3.1, hệ thống quản lý mạng NMS (Network Management System) liên hệ với các thiết bị khác nhau trên mạng và nhận các thông tin MIB (Management Information Bases) từ các tác nhân SNMP của các thiết bị này.

    3.2.2. SNMP

    Được phát triển từ năm 1998,  SNMP đã trở thành phương án chung cho việc giám sát các mạng IP. SNMP có khả năng mở rộng, cho phép các nhà cung cấp thiết bị khác nhau dễ dàng thêm các chức năng quản lý mạng vào trong các thiết bị hiện có của họ. SNMP chạy ở trên cùng của giao thức UDP.

    Chiến lược ngầm ở trong SNMP là giám sát các trạng thái của mạng tại bất kỳ một cấp độ có ý nghĩa nào về mặt chi tiết  bằng cách kiểm soát theo kiểu xoay vòng để tìm kiếm các thông tin đúng để ra được các giải pháp quản lý tốt nhất có thể. Một số lượng giới hạn các bản tin được phát đi một cách chủ động (traps) để xác định thời điểm và tiêu điểm của việc kiểm soát xoay vòng. Việc giới hạn số lượng các bản tin chủ động phát đi nhằm nhất quán mục tiêu làm đơn giản và tối thiểu hoá lưu lượng truyền trên mạng tạo ra bởi các chức năng quản lý mạng.

    Nói một cách khác SNMP là một tập các các quy tắc mà làm cho các thiết bị phần cứng như là máy tính và router có thể dò theo theo các thống kê khác nhau để cho phép đo các đặc điểm quan trọng như số gói tin đã nhận trên một giao tiếp. Các thông tin khác nhau mà SNMP nhận được được lưu trong các cơ sở dữ liệu khác nhau, được gọi là MIB (Management Information Base). SNMP là một giao thức lớp ứng dụng và được dùng gần như chỉ dành riêng cho các mạng TCP/IP.

    3.2.2.1. Kiến trúc MIB

    Có tương đối nhiều các dạng MIB khác nhau, cho rất nhiều các khía cạnh khác nhau của việc vận hành mạng cũng như để thể hiện các loại thiết bị khác nhau. Khi sử dụng SNMP có thể kết nối tới các MIB này, định vị các biến của MIB và gọi ra các giá này cũng như sửa đổi chúng. các biến của MIB được định nghĩa bởi một thẻ xác định đối tượng (Object Identifier-OID) mà thực ra là một  hệ thống địa chỉ có cấp bậc, như một hệ thống dịch vụ tên vùng DNS (Domain Name Service) . OID sử dung một hệ thống các số, trong đó số đầu tiên là gốc của hệ thống cấp bậc và số thứ hai là nhánh, v..v.. . Hãy xem ví dụ dưới đây, địa chỉ của MIB sysDescr là 1.3.6.1.2.1.1.1. Diễn dịch ra như sau :

     .iso(1).org(3).dod(6).internet(1).mgmt(2).mib(1).system(1).sysDescr(1).

    Ta có thể thấy gốc ở đây là ISO và các đối tượng con được xác định theo đường số của nó. Hình 3.2 mô tả rõ hơn về vấn đề này:

    Hình 3.2. Cây OID

    Ngày nay SNMP trên các thiết bị mạng đang trở thành một yêu cầu gần như bắt buộc. Internet là một trong những ứng dụng đơn lẻ sử dụng SNMP. SNMP qua UDP/IP được xác định như là một giao thức của tiêu chuẩn Internet (“Internet Standard” protocol). Do đó, để có thể được vận hành qua Internet và để quản lý được thì một thiết bị phải hỗ trợ SNMP qua UDP/IP.

    3.2.2.2. An ninh mạng

    Để truy nhập tới các tác nhân SNMP, SNMP sử dụng phương thức Yêu cầu lấy” (Get-Request) và sẽ được chấp nhận hoặc bị từ chối tùy theo mật khẩu mà nó dùng để truy nhập đúng hay sai. Mật khẩu này được định nghĩa như là một chuỗi nhóm chỉ đọc (Read-only Community String). Thông thường, mật khẩu mặc định là công cộng. Các nhà khai thác thường thay đổi mật khẩu mặc định thành chuỗi nhóm chỉ đọc để giữ các thông tin này chỉ riêng cho các nhà vận hành mạng. Ta cũng có thể định nghĩa bộ lọc IP, đối với một số thiết bị, cho kết nối SNM để cải thiện an toàn cho mạng.

    Ngoài ra SNMP cũng dùng phương thức yêu cầu thiết lập (Set-Request) để thiết lập hoặc thay thế một số biến của MIB thành một giá trị xác định. Các yêu cầu thiết lập này được bảo vệ bởi chuỗi nhóm chỉ viết (Write Community String).

    SNMP cũng định nghĩa bẫy lỗi SNMP, nó là một ngắt từ một thiết bị tới một bàn giao tiếp SNMP về trạng thái của thiết bị. Các bẫy lỗi có thể xác định đường liên kết tốt/xấu và thông báo về tình trạng của nguồn cung cấp. Các bẫy lỗi này cải thiện khả năng thu nhận số liệu của SNMP, bởi vì một số bẫy lỗi không được phát hiện khi hệ thống NMS gửi yêu cầu SNMP theo một chu kỳ nhất định.

    3.2.3. OAM TRÊN IP

    Để cung cấp chức năng OAM trên IP nhà khai thác hệ thống có thể sử dụng các phần mềm khác nhau hoặc các kịch bản dựng sẵn để giám sát mạng. Các giải pháp về phần mềm yêu cầu thông tin từ các router và các switch bằng cách sử dụng các lệnh ping, traceroute và SNMP. SNMP có thể kết nối tới các loại MIB khác nhau mà bao gồm các thông tin như tải của bộ xử lý, tải lưu lượng, v..v…

    Hình 3.3. OAM trên IP

    Máy tính ở trên hình 3.3 thu thập các thông tin và lưu trữ các thông tin này theo một chu kỳ nhất định. Các thông tin này là đầu vào cho các tiến trình xử lý để phát hiện lỗi hoặc các bất thường trên mạng.

    3.2.3.1. Ping và ICMP

    Một cơ chế phổ dụng nhất được sử dụng để xác định xem các router hoặc các nút trên mạng có thể kết nối được không là sử dụng lệnh Ping. Ping đo trễ hai chiều giữa nguồn và đích.Ta cũng có thể xác định thời gian đáp ứng của các hệ thống khác nhau bằng cách sử dụng chương trình nhỏ này. Nó sử dụng các trường ICMP để xác định các giá trị lỗi tương ứng:

    Một số trường ICMP
    Kiểu

     

    3

    0 = Mạng không tới được

    1 = Host không tới được;

    2 = Giao thức không tới được;

    3 = Cổng không tới được;

    5 = Tuyến nguồn bị lỗi.

    Kiểu

     

    8 cho bản tin echo;

    0 cho bản tin đáp ứng echo.

    0

    Bảng 3.1: Bản tin ICMP không tới được đích (type3) và bản tin ICMP Echo (Reply Message)

    ICMP là một giao thức điều khiên bản tin và báo cáo lỗi mà hoạt động giữa thiết bị mạng và cổng vào. Nó sử dụng các khung tin và thực tế nó là một phần của gói tin IP (xem hình 2.2). Các bản tin được gửi lại máy chủ có yêu cầu, và không được điều chỉnh bởi các routers. Đó là cách tốt nhất để xem liệu các thiết bị trên mạng có on-line hay không.

    ICMP có rất nhiều các bản tin lỗi mà có thể xác định được máy đích là :

    • Không thể kết nối tới được(có thể bởi vì kết nối bị lỗi).
    • Quá trình ghép lại các gói tin bị lỗi.
    • Thời gian sống của gói tin (TTL) đạt giá trị 0.
    • Tổng kiểm tra tiếp đầu IP bị lỗi.
    • …..

    Có một số kiểu bản tin ICMP là :

    0          –           Echo Reply.

    3          –           Destination Unreachable

    4          –           Source Quench.

    5          –           Redirect.

    8          –           Echo

    11        –           Time Exceeded

    12        –           Parameter Problem

    13        –           Timestamp)

    14        –           Timestamp Reply

    15        –           Information Request

    16        –           Information Reply

    Tất cả chúng đều có chức năng xác định để xác định các lỗi và số lần đáp ứng.

    3.2.3.2. IP MIB

    Bởi vì các nút mạng mà chúng ta cần phải dò theo để xác định trạng thái được phân tán, tùy chọn duy nhất của chúng ta là sử dụng mạng để quản lý mạng. Điều này có nghĩa là chúng ta cần một giao thức cho phép chúng ta đọc và cả viết các thông tin trạng thái trên các nút mạng khác nhau.

    Các biến MIB thông thường chỉ duy trì các thông tin về phần cứng xác định cho một thiết bị theo yêu cầu. Các hãng sản xuất có một lọat các thông tin mà có thể được giám sát cho các thiết bị của họ.

    Một số biến MIB tiêu biểu là:

    • sysUpTime : biến hệ thống chứa thời gian kể từ lần hệ thống được khởi động lại lần cuối cùng.
    • ifNumber : biến giao tiếp chứa số giao diện mạng.
    • ipDefaultTTL : biến IP chứa giá trị thời gian sống mặc định .
    • ipInReceives: số gói tin đã nhận được.

    3.2.3.3. Các chức năng OAM mới trong IPv6

    Trong IPv6 hỗ trợ cho việc tự động cấu hình địa chỉ các máy chủ và các routers. Có hai kiểu tự động cấu hình địa chỉ : phi trạng thái (Stateless) and có trạng thái (stateful). Phương pháp phi trạng thái được sử dụng khi một site không quan hệ đặc biệt với chính xác các địa chỉ các máy chủ được dùng, và vì vậy chúng là duy nhất và có khả năng định tuyến đúng. Phương pháp định tuyến có trạng thái được dùng khi một site yêu cầu sự điều khiển chặt chẽ hơn thông qua các sự chỉ định địa chỉ chính xác. cả hai phương thức tự động cấu hình địa chỉ trên có thể được sử dụng đồng thời.

    Tự động cấu hình phi trạng thái không yêu cầu bất kỳ một sự cấu hình nhân công các máy chủ nào, tối thiểu (nếu có) sự cấu hình các router. Cơ chế phi trạng thái cho phép máy chủ tạo ra các địa chỉ của riêng nó bằng cách sử dụng một tổ hợp thông tin cục bộ và thông tin được cung cấp bởi các router. Các router cung cấp các tiếp đầu để xác định các subnet liên kết với một kết nối, trong khi đó máy chủ tạo ra một “Thẻ nhận dạng giao tiếp”, thẻ này là nhận dạng duy nhất cho một giao tiếp trên một. Một địa chỉ được tạo ra trên cơ sở tổ hợp cả hai. Nhưng trước khi một địa chỉ cục bộ mới được sử dụng, máy chủ phải đảm chắc rằng không có máy chủ nào khác đang sử dụng địa chỉ này.

    Trong mô hình tự động cấu hình có trạng thái, các máy chủ nhận các địa chỉ của các giao tiếp và/hoặc thông tin cấu hình và các tham số từ một máy phục vụ khác . Các máy phục vụ duy trì một cơ sở dữ liệu bám theo các địa chỉ đã được cấp cho các máy chủ.

    3.2.4. OAM TRÊN MPLS

    3.2.4.1    Tổng quan các công việc hiện tại

    Công việc đang được triển khai về OAM trên MPLS mới chỉ dùng chủ yếu ở mức bản thảo chứ chưa phải là các khuyến nghị hoặc các tiêu chuẩn. ITU-T đã xuất bản bản dự thảo Các yêu cầu về chức năng OAM cho các mạng MPLS cung cấp các yề nền tảng chức năng OAM người dùng trong mạng MPLS. Nền tảng người dùng tham chiếu đến tập các thành phần chuyển tiếp lưu lượng qua các dòng lưu lượng. Sự thúc đẩy chính cho công việc này đã là sự cần thiết theo yêu cầu của các nhà khai thácvề chức năng của OAM để đảm bảo độ tin cậy và hiệu năng của các LSP MPLS.

    3.2.4.2. Kết nối LSP

    MPLS đưa ra một kiến trúc mạng mới và do đó sẽ có các cách thức lỗi mới mà chỉ liên quan tới lớp MPLS. Và vì vậy các lớp trên hoặc dưới lớp MPLS sẽ không thể sử dụng các chức năng OAM của MPLS.

    Các công cụ OAM trên nền tảng người dùng được yêu cầu để kiểm tra rằng các LSP duy trì được kết nối một cách hoàn hảo, cón nghĩa là cho phép truyền đưa dữ liệu người dùng tới các đích theo như cả đảm bảo về độ sẵn sàng và QoS, theo như chỉ định trong các SLA (Service Level Agreements).

    Một số yêu cầu phải được hỗ trợ bở các chức năng OAM MPLS là:

    • Cả hai sự kiểm tả: theo yêu cầu và liên tục đối với các LSP để khẳng định rằng không có lỗi trên các LSP đích.
    • Một sự kiện lỗi đối với một lớp nào đó không được gây ra nhiều cảnh báo đồng thời hoặc tạo ra các hoạt động sửa lỗi không cần thiết ở các lớp khách. Lớp khách là lớp cao hơn trong hệ thống cấp bậc nhãn mà sử dụng lớp hiện tại như lớp phục vụ.
    • Khả năng đo độ sẵn sàng và hiệu năng QoS của một LSP.
    • Ít nhất các lỗi sau của nền tảng ngwofi dùng MPLS có thể được phát hiện:
    • Mất kết nối LSP vì lỗi của lớp phục vụ hoặc lỗi của lớp MPLS.
    • Các dấu vết LSP bị tráo đổi.
    • Bản sao LSP không theo yêu cầu của một lưu lượng LSP vào lưu lượng của một LSP khác.
    • Tự sao chép không theo ý định.

    16 giá trị của một trường nhãn có độ rộng 20 bit đã được dành sẵn trong tiếp đầu nhãn cho các chức năng đặc biệt, nhưng chưa được dùng hết. Một trong những chức năng này là nhãn cảnh báo OAM (OAM Alert Label) và đã được gán giá trị 14.

    Hình 3.4. Gói tin OAM MPLS

    Có các kiểu payload khác nhau phụ thuộc vào chức năng OAM nào mà gói tin chứa. Tại đầu mỗi gói tin đều có một trường “Kiểu chức năng OAM” (OAM Function Type) để chỉ định chức năng của OAM trong payload. Trong mỗi gói tin cũng có các dữ liệu kiểu chức năng OAM xác định và ở cuối của gói tin có trường BIP16 (Bit Interleaved Parity) – là cơ chế phát hiện lỗi. Payload có độ dài tối thiểu là 44 octet bởi vì điều này làm cho thuận tiện trong việc xử lý và để hỗ trợ kích thước gói tin tối thiểu được yêu cầu bởi các công nghệ xử lý lớp 2. Khi cần thiết có thể chèn trường dữ liệu kiểu OAM với các giá trị“0”.

    Các gói tin OAM được làm khác với lưu lượng thông thường bằng cách tăng thêm một  trong độ sâu của ngăn xếp nhãn đối với LSP mà cho được chèn vào. Để đảm bảo rằng các gói tin OAM có một PHB (Per Hop Behavior), cho khả năng bị rớt mạch là nhỏ nhất, ta phải mã hóa trườngEXP theo cách nhất định.

    Hiện tại có 6 kiểu khác nhau của chức năng OAM và chúng có  các giá trị như trong bảng 3.2.

    Giá trị kiểu chức năng OAM

     

    (HEX)

    Octet thứ 2 phần payload gói tin OAM

     

    Kiểu chức năng và mục đích

    00 Dành sẵn.
    01 CV – Kiểm tra kết nối.
    02 P – Hiệu suất.
    03 FDI – Bộ báo lỗi chuyển xuôi.
    04 BDI – Bộ báo lỗi chuyển ngược.
    05 LB-Req – Yêu cầu loop vòng.
    06 LB-Rsp – Đáp ứng loop vòng.
    07 – FF Dành cho tương lai

    Bảng 3.2: Các mã kiểu chức năng OAM

    3.2.4.2. Kiểm tra kết nối (CV)

    Chức năng kiểm tra kết nối được sử dụng để phát hiện và chẩn đoán tất cả các kiểu lỗi kết nối LSP gây ra bởi lớp phía dưới hay lớp MPLS. Dòng CV được tạo ra bởi LSR đầu vào của LSP và được truyền tới LSR đầu ra của LSP. Các gói tin CV là trong suốt đối với các LSR quá giang. Gói tin CV bao gồm thẻ nhận dạng mạng duy nhất TTSI (Trail Termination Source Identifier) và thẻ định dạng này được dùng để phát hiện các lỗi. Điều này được thực hiện bởi LSR đầu ra khi nó kiểm tra các gói tin CV nhận được trên mỗi LSP. Một LSP bị rơi và trạng thá lỗi khi có một trong những giá trị như ở hình 21.

    – Xác định lỗi chuyển xuôi (FDI)

    FDI được tạo bởi LSR đầu ra khi phát hiện ta lỗi. Khi LSR đầu ra phát hiện ra lỗi nói tạo ra một gói tin FDI , bám theo sự chuyển tiếp của nó cũng như lên trên bất kỳ một ngăn xếp LSP nào.

    – Xác định lỗi chuyển ngược (BDI)

    Mục đích của chức năng BDI là báo tới đầu tải lên cuối cùng của một LSP về một lỗi của dòng tải xuống.

    3.2.4.3. MPLS ping

    MPLS ping là một cơ chế đơn giản và hiệu quả được dùng để phát hiện các lỗi lớp dữ liệu tong các LSP , mà không phải luôn luôn được phát hiện bởi các thành phần điều khiển của MPLS.

    3.2.4.4. Phát hiện các nút lỗi  RSVP

    Phần mở rộng ‘Hello’ của RSVP cho phép các nút RSVP phát hiện khi nào một nút lận cận bị mất liên hệ. Cơ chế này cung cấp một sự phát hiện lỗi nút tới nút.

    Phát hiện lỗi của nút lân cận được làm bằng cách thu thập và lưu  giá trị tức thời của lân cận đó. Nếu có một sự thay đổi trong giá trị nhận được hoặc nếu nút lân cận đó không trả lời đúng các giá nội bộ đã được thông báo, thì nút lân cận đó được coi như là đã reset.

    3.2.4.5. Chuyển mạch có bảo vệ

    Chuyển mạch có bảo vệ là một thuật ngữ của ITU-T. Chúng được xác nhận rằng chức năng chuyển mạch có bảo vệ là quan trọng nhằm tăng cường tính sẵn sàng và độ tin cậy của mạng MPLS. Chuyển mạch có bảo vệ ngụ ý là cả việc định tuyến và các tài nguyên được tính toán trước và  cấp cho một LSP được bảo vệ ưu tiên đối với lỗi.

    3.2.4.6. Tái định tuyến nhanh

    Để đáp ứng nhu cầu của các ứng dụng thời gain thực như hội nghị truyền hình và một số dịch vụ khác,  IETF thấy rằng có một yêu cầu rất cao để có thể chuyển hướng lưu lượng vào các đường hần LSP dự phòng trong 10 phần triệu giây. Khi một lỗi xuất hiện ở trên đường liên kết hoặc trên một nút mà lưu lượng đi qua sẽ nhanh chóng chuyển lưu lượng vào phân đoạn dự phòng và đồng thời thông báo cho LSR đầu vào. Nó sẽ phải tính toán một đường đi thay thế cho LSP chính. Lưu lượng bây giờ sẽ được chuyển vào LSP mới thay vì đi vào phân đoạn dự phòng.

    Có hai chiến lược cơ bản cho việc thiết lập các đường hầm dự phòng. Đó là dự phòng một một và dự phòng theo điều kiện cho RSVP-TE và cho CR-LDP theo tương ứng là bảo vệ riêng biệt và bảo vệ chia sẻ băng thông. Lưu lượng sẽ được chuyển sang phân đoạn dự phòng khi có lỗi xuất hiện trên LSP được bảo vệ và sẽ chuyển lại LSP được bảo vệ khi lỗi đã được khắc phục.

    3.2.4.7. MPLS và xắp xếp lưu lượng

    Xắp xếp lưu lượng (Traffic Engineering-TE) được coi như là việc tối ưu hiệu năng của các mạng đang được vận hành. Các khía cạnh được quan tâm của MPLS là đo các thông số và điều khiển. Điều này cho phép các nhà khai thác một sự linh hoạt nhất định trong việc điều khiển các đường đi của các dòng lưu lượng qua các mạng của họ và cho phép áp dụng các biện pháp mà làm tối ưu hoạt động của mạng. Nhưng tất nhiên là một giới hạn về số lượng LSP thực sự cần thiết vì nếu tăng số LSP thì cũng làm tăng lưu lượng điều khiển trên mạng và làm tăng độ phức tạp của mạng.

    Một đường đi từ một nút này tới một nút mạng khác phải được tính toán  sao cho đường đi đó có thể cung cấp QoS theo yêu cầu cho lưu lượng IP và thực hiện được các yêu cầu khác mà lưu lượng đó có thể có. Mỗi khi đường đi đã được tính toán xong, việc xắp xếp lưu lượng, mà nó là một tập con của định tuyến cưỡng bức, có trách  nhiệm thiết lập và duy trì trạng thái  chuyển tiếp dữ liệu dọc theo đường đó.

    Hình 3.5. Ví dụ về việc xắp xếp lưu lượng

    Trong hình 3.5, có hai đường từ router C tới router G. Nếu router chọn một trong các đường này, nó sẽ chuyển tất cả lưu lượng có đích là G theo đường đó. Kết quả là có thể gay nghẽn trên đường truyền này, trong khi đó các đường khác lại đang ở dưới mức tải cho phép. Để tăng tối đa hiệu năng của của toàn mạng có thể dịch một số phân mảnh của dữ liệu sang các liên kết khác.

    CHƯƠNG 4

    TỔNG QUAN HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG

     

    4.1. TỔNG QUAN VỀ TMN

    4.1.1. TỔNG QUAN VỀ TMN

    Mạng quản lý viễn thông (Telecommunications Management Network (TMN)) được ITU-T giới thiệu trong các khuyến nghị M.3000 từ năm 1985 như là một mô hình tham chiếu của hệ thống hỗ trợ vận hành OSS. TMN là kiến trúc hạ tầng kết nối các loại OSS khác nhau với các phần tử mạng. TMN cũng mô tả các thủ tục và chuẩn giao tiếp dùng để trao đổi thông tin giữa các thành phần của OSS với các phần tử mạng cũng như các chức năng cần thiết để quản lý mạng.

    Mô hình TMN gồm có 4 lớp sau:

    • Lớp quản lý kinh doanh: thực hiện các chức năng liên quan đến kinh doanh, phân tích nhu cầu và chất lượng dịch vụ, các chức năng cơ bản liên quan đến tính cước và kế toán.
    • Lớp quản lý dịch vụ: thực hiện chức năng quản lý dịch vụ mạng như: khởi tạo, quản lý, thay đổi dịch vụ.
    • Lớp quản lý mạng: thực hiện chức năng phân bổ tài nguyên mạng: cấu hình, điều khiển và giám sát mạng.
    • Lớp quản lý phần tử mạng: thực hiện chức năng quản lý từng phần tử mạng bao gồm: quản lý cảnh báo, quản lý thông tin, sao lưu, lưu log, bảo dưỡng phần cứng và phần mềm.

    Mặt khác mô hình TMN còn có thể xem xét dưới quan điểm chức năng, bao gồm năm chức năng sau:

    • Quản lý lỗi (Fault): nhận dạng, cô lập, ghi chép và báo cáo lỗi.
    • Quản lý kế toán (Accounting): thu thập, lưu trữ và phân phối các thông tin kế toán.
    • Quản lý lưu lượng (Performance): thu thập, lưu trữ và phân phối các thông tin thống kê về hoạt động mạng để đưa ra các kế hoạch về lưu lượng và tối ưu hóa kênh thông tin.
    • Quản lý cấu hình (Configuration): Cài đặt thiết bị mạng, thiết lập các tham số và trạng thái, cấu hình dung lượng mạng.
    • Quản lý bảo mật: (Sercurity): Quản lý các chức năng về phân quyền truyy nhập, quản lý các tiến trình đồng thời của một OSS, bảo vệ chống lại các truy nhập trái phép.

    Năm chức năng trên là các chức năng cơ bản trong tất cả các hệ thống quản lý mạng bao gồm cả mạng thoại và mạng số liệu.

    Hình 4.1. Mô hình TMN

    4.2. CÁC CHỨC NĂNG CỦA TMN

    4.2.1. QUẢN LÝ CẤU HÌNH:

    Quản lý cấu hình bao gồm việc cung cấp các nguồn tai nguyên mạng (triển khai các nguồn tài nguyên mạng một cách kịp thời nhằm thỏa mãn các nhu cầu dịch vụ), và cung cấp dịch vụ (phân bổ các tính năng và dịch vụ đến người dùng cuối). Nó xác định, điều khiển, thu thập số liệu và cung cấp số liệu cho mạng để chuẩn bị, khởi tạo và bắt đầu hoạt động dịch vụ cũng như chấm dứt dịch vụ. Quản lý cấu hình đề cập đến mạng dịch vụ, mạng logic, mạng khách hàng như mạng điện thoại PSTN, các mạng dùng riêng.

    4.2.2. QUẢN LÝ LỖI:

    Bao gồm quản lý sự cố trong đó quan tâm đến việc sửa chữa và phục hội dịch vụ, phát hiện lỗi, chủ động bảo dưỡng để tạo khả năng tự phục hồi. Quản lý sự cố thực hiện so sánh tương quan giữa cảnh báo với các dịch vụ và nguồn tài nguyên mạng, khởi tạo đo thử kiểm tra, thực hiện phân tích chẩn đoán để tách lỗi vào bộ phận hay linh kiện có thể thay thế được, khôi phục lại các dịch vụ và thực hiện các công việc cần thiết khác để có sửa chữa lỗi đã được chẩn đoán. Bảo dưỡng chủ động sẽ đề cập đến tình trạng gần sử cố mà có thể làm suy giam độ tin cậy của hệ thống và gây ảnh hưởng đến dịch vụ. Để làm được điều này hệ thống có thể phải thực hiện các hoạt động bảo dưỡng định kỳ, khởi tọa đo thử, kiểm tra và sửa chữa lỗi trước khi xảy ra các sự cố dịch vụ.

    4.2.3. QUẢN LÝ HIỆU NĂNG HOẠT ĐỘNG

    Bao gồm các tiến trình bảo đảm cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên mạng một cách hiệu quả nhất đồng thời đáp ứng ácc mục tiêu của người sử dụng ở mức dịch vụ. Nó đánh giá và báo cáo về các nguồn tài nguyên mạng đồng thời đảm bảo hiệu năng hoạt động cao nhất trong việc chuyển phát các dịch vụ mạng, số liệu hay video.

    4.2.4. QUẢN LÝ KẾ TOÁN

    Xử lý và sử dụng các bản ghi về mức độ sử dụng dịch vụ và các nguồn tài nguyên mạng rồi đưa ra hóa đơn dịch vụ cho khác hàng. Hóa đơn này ghi rõ các khoản cước phí sử dụng dịch vụ cũng như các nguồn tài nguyên mạng.

    4.2.4. QUẢN LÝ AN NINH, AN TOÀN

    Điều khiển truy cập mạng, bảo vệ mạng cũng như hệ thống quản lý mạng khỏi các truy nhập trái phép hay mất liên lạc. Các cơ chế an ninh phải đảm bảo linh hoạt để có thể cho phép một phạm vi điều khiển rộng cũng như các đặc quyền hỗ trợ nhóm khách hàng, nhóm nhà cung cấp dịch vụ, hệ thống khai thác có nhu cầu quản trị độc lập.

    4.2.5. CÁC CHỨC NĂNG KHÁC

    • Lập kế hoạch: bao gồm một tập hợp các tiến trình cho phép lắp đặt các nguồn tài nguyên mạng một cách kịp thời để phát triển và triển khai các dịch vụ mạng phù hợp với dự báo và yêu cầu của khách hàng.
    • Quản lý nguồn nhân lực: lập kế hoạch và điều khiển các hoạt động của lực lượng nhân sự khai thác. Quan lý nguồn nhân lực liên quan đến việc bố trí nhân sự, khối lượng công việc, các công cụ sử dụng trong quản lý mạng. Việc này cũng bao gồm: sửa chữa (quản lý lỗi), tách cáp và lắp đặt thiết bị mạng (cung cấp tài nguyên), các nhân viên kỹ thuật ở văn phòng cũng như ở ngoài hiện trường.
    • Quản lý vật tư: bao gồm các công việc mua, phân phối và lưu trữ thiết bị linh kiện phục vụ cho việc lắp đặt và sửa chữa mạng. Để có được vật tư cần tiến hành các bước: tìm kiếm, lựa chọn, cam kết cung cấp thiết bị từ nhà cung cấp có uy tín.

    4.3. CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG NMS

    Trong mạng riêng kỹ thuật và công nghệ NMS cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tăng khả năng  kiểm soát các hoạt động mạng. Nhờ có hệ thống NMS, các nhà cung cấp dịch vụ có thể tự động thi hành các tác vụ theo kiểu end-to-end (đầu cuối đến đầu cuối) trên mạng của họ. Ví dụ để quản lý các VLAN, hệ thống NMS cung cấp các giao diện đồ họa về các VLAN bao gồm các thông tin về các cổng, địa chỉ MAC, VLAN ID…Hệ thống NMS cũng cho phép dễ dàng thêm bớt, thay đổi các cổng cũng như cung cấp khả năng quản lý lỗi khi nó xảy ra. Trong trường hợp sử dụng ATM hoặc kênh ảo FR để chuyển tải lưu lượng mạng, hệ thống quản lý mạng cho phép tạo, xóa, thay đổi hoặc quan sát tình trạng của các kênh ảo (bao gồm các nút mạng, các kết nối, các giao tiếp). Ngoài ra các công nghệ ứng dụng trong NMS cho phép nó có khả năng quản lý việc lưu trữ (bao gồm cả các hệ thống SAN), quản lý các thiết bị đàm thoại audio/video…Ở mạng riêng các dịch vụ mạng tăng lên không ngừng và khả năng quản lý của các hệ thống NMS cũng phải tăng theo.

    Về cơ bản, các thành phần của một hệ thống quản lý mạng như sau:

    Hình 4.2. Các thành phần của một hệ thống NMS

    Hình 4.2 mô tả một hệ thống quản lý mạng bao gồm các máy chủ trung tâm, hệ cơ sở dữ liệu quan hệ và một số máy trạm.

    Mạng được quản lý bao gồm các bộ định tuyến, các bộ chuyển mạch (ATM. IP, MPLS), các bộ tập trung thuê bao xDSL, các đầu cuối xDSL, IP phone….

    NMS bao gồm tập hợp các máy chủ với các chức năng khác nhau tạo thành tập hợp các chức năng của hệ thống. NMS giao tiếp trực tiếp với các phần tử mạng để lấy thông tin hoặc thiết lập chức năng cho các phần tử mạng. Hệ cơ sở dữ liệu thường sử dụng cơ sở dữ liệu quan hệ để lưu trữ thông tin về cấu hình, tổ chức đấu nối, cảnh báo…

    Máy trạm truy cập thông tin cần quản lý thông qua NMS, ví dụ quan sát lỗi, giám sát, quản lý truy cập…

    CHƯƠNG 5

    XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG THẾ HỆ SAU CỦA CỤC BƯU ĐIỆN

    TRUNG ƯƠNG

    Như đã trình bày ở các chương trước, mạng thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương có các đặc điểm sau:

    • Là mạng riêng.
    • Trải rộng về mặt địa lý (trên phạm vi toàn quốc).
    • Số lượng thuê bao gần như cố định, ít biến đổi với khoảng 6000 cổng Ethernet và 20.000 cổng thoại.

    Với các đặc điểm trên, mô hình hệ thống quản lý mạng thế hệ sau Cục Bưu điện trung ương không thể hoàn toàn giống với mô hình hệ thống quản lý mạng của các mạng công cộng khác.

    Mục đích của đề tài là

    • Đưa ra được mô hình của hệ thống quản lý mạng thế hệ sau của Cục Bưu điện Trung ương
    • Chức năng chi tiết của từng khối.

    Các mục tiêu cần đạt được:

    • Hệ thống quản lý mạng phải có khả năng quản lý, giám sát đến tất cả các nút mạng.
    • Hệ thống phải được xây dựng tập trung với một trung tâm đặt tại Hà Nội và hệ thống các máy tính trạm được phân quyền đặt tại các cơ sở tham gia vào hệ thống quản lý.
    • Do tính chất phân bố rộng (trên toàn quốc) của mạng, hệ thhống phải an toàn ổn định để giảm tối đa chi phí cho việc vận hành, giám sát, bảo dưỡng hệ thống, có khả năng vận hành từ xa đối với nút mạng lớp B, C.
    • Có khả năng quản lý chống lại các truy cập trái phép và phân quyền truy cập cho tất cả các thiết bị mạng.
    • Có khả năng giám sát và tính cước theo lượng thông tin sử dụng, dịch vụ sử dụng.

    5.1. CẤU TRÚC MÔ HÌNH NMS CỦA CỤC BƯU ĐIỆN TRUNG ƯƠNG

    Như ta đã biết, mạng TMN thường có quy mô quốc gia, đối với Cục Bưu điện Trung ương có qui mô nhỏ do đó ta áp dụng mô hình NMS với các chức năng cụ thể. Hơn nữa ta cũng không thể áp dụng tất cả các chức năng của mạng quản lý TMN vào trường hợp Cục Bưu điện Trung ương vì như vậy giá thành của mạng quản lý sẽ rất cao. Về cơ bản, cấu trúc mô hình NMS của Cục Bưu điện Trung ương chỉ cần đáp ứng được các nhu cầu quản lý một số lượng khách hàng không lớn và ít thay đổi, nhu cầu dịch vụ không có biến động nhiều nhưng đòi hỏi phải có chất lượng cao. Do đó, mô hình NMS của Cục Bưu điện Trung ương chỉ cần bao gồm các chức năng sau:

    • Quản lý cấu hình thiết bị mạng.
    • Quản lý cảnh báo thiết bị mạng theo thời gian thực.
    • Quản lý lưu lượng mạng theo thời gian thực
    • Quản lý an ninh mạng.
    • Quản lý cước và chăm sóc khách hàng.
    • Quản lý sao lưu và khôi phục số liệu.

    Mô hình chức năng hệ thống NMS như hình 5.1

    Hình 5.1. Mô hình cấu trúc mạng NMS

    5.1.1. CÁC YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG

    Vấn đề mấu chốt vẫn là: Phải có một hệ thống tích hợp đưa trên các khái niệm kiến trúc chung, nó phải bao trùm các lĩnh vực quản lý trong một môi trường hỗn hợp. Điểm này có nghĩa là:

    • Tích hợp của các kiến trúc truyền thông và dịch vụ dưới một kiến trúc quản lý.
    • Tích hợp các lĩnh vực chức năng quản lý vào các chức quản lý các hệ thống tổng quát.
    • Tích hợp các khía cạnh tổ chức.
    • Có khái niệm chung cho quản lý cơ sở dữ liệu hay nói cách khác có một mô hình thông tin được chấp nhận rộng rãi cho việc diễn tả các đối tượng cần quản lý.
    • Mô hình ngữ nghĩa cho các hệ thống mạng phức tạp.
    • Mở rộng các khái niệm đã chuẩn hoá cho việc quản lý mạng và hệ thống.
    • Hỗ trợ các ứng dụng và hệ thống phân tán.
    • Thiết kế các platform thích hợp cung cấp các giao diện người sử dụng và lập trình chung.

    Một tiền đề cho việc tích hợp đó là khả năng của các hệ thống hoặc thành phần cần quản lý trong mỗi trường hỗn hợp cung cấp được thông tin trong một hạ cơ sở các kiến trúc quản lý đã được chuẩn hoá. Một yêu cầu thứ hai đó là một cơ sở chung cho các khối xây dựng tổng quát cho các ứng dụng quản lý.

    Dù áp dụng các tiêu chuẩn hoặc công nghệ nào, thì các xu hướng trong quản lý mạng hiện này đều nhằm đáp ứng những nhu cầu sau đây:

    • Tự động: Một số phần trong công việc quản lý cần đến tự động ví dụ như quá trình theo dõi (tracking) lỗi. Việc tự động sẽ là một trong những lợi thế trong các dòng sản phẩm. Một vấn đề cần thiết cấp bách đó là tự động toàn bộ cho việc quản lý lỗi và quản lý thay đổi.
    • Độc lập ngôn ngữ: Các ứng dụng quản lý hiện tại phải viết trên những ngôn ngữ lập trình cụ thể. Điều này làm phát sinh nhu cầu trong tương lai viết các ứng dụng trên một loại ngôn ngữ bất kỳ hoặc ngôn ngữ hướng đối tượng.
    • Độc lập với hệ điều hành: Khi viết các ứng dụng quản lý, người lập trình không phải bị cột chặt vào một hệ điều hành nào đó. Bởi họ muốn các ứng dụng làm việc trên nhiều hệ điều hành khác nhau theo cùng một kiểu.
    • Cơ sở dữ liệu hướng đối tượng: Một cơ sở dữ liệu là rất quan trọng trong việc lưu trữ các đối tượng, đặc biết các thông tin dữ liệu về cấu hình, quản lý lỗi, quản lý hiệu suất thực hiện… Cơ sở dữ liệu cần phải có độ thực hiện tốt và có khả năng quản lý dụng lượng lớn. Một định hướng cho việc lưu trữ các dữ liệu mới là các cơ sở dữ liệu hướng đối tượng và hiệu suất thực hiện sẽ là một vấn đề quan trọng. Dù các bộ xử lý là càng ngày nhanh hơn, những yêu cầu về lưu trữ và xử lý số liệu sẽ ngày càng lớn. Do vậy, hiệu suất thực hiện của cơ sở dữ liệu vẫn là một vấn đề quan trọng… Để vượt qua những trở ngại này các vùng lưu trữ tạm thời (cache) lớn sẽ được sử dụng.
    • Tích hợp tính toán, viễn thông và truyền hình: Hiện nay nhiều quốc gia hệ thống truyền thoại đã sử dụng truyền dẫn số. Các hệ thống máy tính cần nhiều nhu cầu bao gồm các chức năng như đồ hoạ, hình ảnh, thoại và dữ liệu. Vấn đề đặt ra là cần có sự tích hợp. Song song thì thuật ngữ tính toán bắt đầu chuyển dịch dần từ các mainframe hoặc trung tâm dữ liệu sang tính toán client/server. Tính toán client/server từ mạng LAN cũng đã mở ra cho việc truyền dẫn dữ liệu, thoại, hình ảnh sang công nghiệp viễn thông. Kết quả của quá trình này là thông tin dữ liệu và viễn thông sẽ hội tụ mà dẫn  đến việc tích hợp các hệ thống quản lý của tính toán và thiết bị viễn thông.
    • Bảo mật: Bảo mật là một yếu tố then chốt trong các mạng mở như trong các tính toán client/server. Những phương pháp bảo mật được tăng cường để bảo mật các dữ liệu quan trọng các thông tin nhạy cảm như số liệu về tài khoản cần phải được bảo mật. Như vậy việc cung cấp các cơ chế bảo mật sẽ là một vấn đề rất quan trọng.

    5.1.2. MỘ SỐ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT

    5.1.2.1. Mô hình 1

    Theo mô hình này, hệ thống NMS gồm 3 trung tâm đặt tại 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh tương ứng với 3 nút mạng lõi. Tại các tỉnh, thành phố khác có các máy trạm truy cập vào trung tâm để quản lý cục bộ tại mỗi nút mạng.

    Hình 5.2: Mô hình thứ nhất

    1. Các nhóm chức năng:

    Hỗ trợ điều hành: Cung cấp các chức năng hỗ trợ khai thác cho các phần tử mạng và phân tích các lỗi chi tiết của phần tử mạng. Nhóm chức năng này có thể cung cấp các kết nối với nhà cung cấp thiết bị để tiến hành nâng cấp, cập nhật phần mềm, sửa lỗi.

    Đồng bộ số liệu: cung cấp khả năng cập nhật số liệu từ các OMC. Mỗi OMC chỉ lưu trữ số liệu của riêng OMC đó còn NMS sẽ cập nhật tất cả các số liệu của các OMC để lưu trữ tạo khả năng có một trung tâm số liệu thống nhất.

    Sao lưu số liệu: cung cấp khả năng sao lưu số liệu thường xuyên theo định kỳ hoặc đọt xuất cho toàn mạng.

    Quản lý mạng: nhóm này đặt tại các OMC thực hiện các chức năng:

    • Giám sát chất lượng mạng.
    • Quản lý lưu lượng mạng.
    • Quản lý sự cố mạng.
    • Hỗ trợ phân tích chi tiết lỗi.

    Quản lý lưu lượng mạng:

    • Báo cáo chất lượng mạng: Báo cáo chất lượng đường truyền, chuyển mạch, báo cáo sự gián đoạn mạng lưới, báo cáo tình trạng tắc nghẽn mạng, báo cáo nguồn tài nguyên mạng.
    • Phân tích tình trạng mạng lưới : Phân tích lỗi trên mạng, phân tích tình trạng tắc nghẽn, phân tích tỷ lệ thành công cuộc gọi.
    • Quản lý độ hoàn thiện mạng lưới: Quản lý kế hoạch ngừng liên lạc, quản lý sự mất liên lạc, quản lý sự mở rộng của mạng, quản lý các thủ tục và cách thức mở rộng.
    1. Đánh giá

    Theo mô hình này, hệ thống quản lý mạng chia thành 3 trung tâm ứng với 3 nút mạng lõi hình thành 3 OMC. Mỗi OMC quản lý các tỉnh phía dưới bao gồm các chức năng: quản lý lỗi, quản lý cấu hình, quản lý lưu lượng và hiệu năng hoạt động, quản lý tính cước và bảo mật. Trung tâm quản lý mạng chỉ thực hiện được một phần các trong số các chức năng của TMN tức là chỉ bao gồm ba chức năng đầu tiên trong số năm chức năng trên.

    Theo cách tổ chức trên, do cơ sở dữ liệu không được tập trung nên việc hoạch định chiến lược phát triển trên toàn mạng sẽ gặp khó khăn. Mặt khác cũng gây tốn kém vì như thế sẽ phải xây dựng gần như 3 hệ thống NMS độc lập tuy rằng việc triển khai từng hệ thống là dễ dàng hơn.

    5.1.2.2. Mô hình 2

    Theo mô hình này hệ thống NMS gồm duy nhất một trung tâm đặt tại Hà Nội, tại mỗi tỉnh đều có một máy trạm truy cập vào trung tâm NMS để quản lý cục bộ tại nút mạng cấp tỉnh, riêng 3 trung tâm lớn mang thêm chức năng OMC đặt tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Tại trung tâm NMS có tất cả các thiết bị thực hiện các chức năng giám sát, cấu hình, tính cước, bảo mật…Tại các OMC chỉ có các máy trạm truy cập thông tin thông qua các NMS server và được gán thêm quyền quản lý các nút mạng cấp dưới.

    Hình 5.3: Mô hình thứ hai

    1. Các nhóm chức năng:

    Các nhóm chức năng không khác gì mô hình 1 mà chỉ khác ở chỗ tất cả các chức năng được tích hợp trong một trung tâm NMS thống nhất. Hệ thống NMS khi đó phải có khả năng phân quyền truy nhập cho các OMC, mỗi OMC chỉ thực hiện một số chức năng nhất định đối với một số tỉnh nhất định.

    1. Đánh giá

    Theo mô hình này, hệ thống quản lý mạng được tập trung theo các tiêu chuẩn của hệ thống TMN. Việc quản lý hệ thống như thế cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên việc tích hợp để quản lý một số lượng lớn các nút mạng gặp phải một số khó khăn như nhân sự để quản lý, năng lực của các hệ thống phần cứng và phần mềm.

     

    5.1.2.2. Kết luận:

    Giải pháp thứ hai được lựa chọn vì những ưu điểm của nó so với giải pháp thứ nhất. Với mô hình thứ hai, ta sẽ tiếp tục xây dựng chi tiết các thành phần của hệ thống quản lý mạng và cũng như lựa chọn các sản phẩm hợp lý để xây dựng trung tâm quản lý mạng thế hệ sau Cục Bưu điện Trung ương.

    5.2. CHI TIẾT HỆ THỐNG QUẢN LÝ MẠNG

    Trên thị trường hiện có rất nhiều sản phẩm quản lý mạng nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nhà cung cấp dịch vụ và doanh nghiệp. Nói chung, mỗi sản phẩm thường đáp ứng được một số hoặc gần như tất cả các chức năng của một hệ thống TMN. Trong trường hợp Cục Bưu điện Trung ương, ta không thể sử dụng một hệ thống đắt tiền có giá thành cao của một nhà cung cấp có sẵn mà có thể sử dụng nhiều sản phẩm khác nhau của nhiều nhà cung cấp khác nhau. Vấn đề là đưa được ra các yêu cầu chức năng của sản phẩm, lựa chọn và tích hợp lại để xây dựng được hệ thống quản lý mạng có tính thống nhất cao.

    5.2.1. QUẢN LÝ THIẾT BỊ

    Hầu hết các hệ thống quản lý thiết bị đều phải đáp ứng được các chức năng sau:

    • Quản lý thiết bị trên toàn mạng. Chủng loại thiết bị bao gồm:
    • Bộ định tuyến.
    • Bộ chuyển mạch.
    • Bộ tập trung thuê bao DSLAM.
    • Thiết bị đầu cuối modem xDSL.
    • Quản lý cảnh báo của các phần tử mạng theo thời gian thực.
    • Quản lý truy nhập vào/ra mạng theo thời gian thực.
    • Quản lý lưu lượng mạng theo thời gian thực.

    Danh mục thiết bị quản lý

    Như đã phân tích ở trên, hệ thống quản lý chỉ bao gồm 01 hệ thống NMS tại Hà Nội (CP16), tại tất cả các tỉnh/thành còn lại chỉ sử dụng các máy trạm kết nối vào trung tâm NMS tại Hà Nội để quản lý cục bộ thiết bị tại nút mạng đó, theo phân quyền của NMS, danh mục các thiết bị cần cho phân hệ quản lý như sau :

    STT Tên thiết bị SL
      I. Máy chủ ( Phần cứng )  
    1 Quản lý thiết bị trên toàn mạng 01
    2 Quản lý truy nhập vào/ra mạng theo thời gian thực 01
    3 Quản lý lưu lượng mạng theo thời gian thực 01
    4 Hệ thống an ninh mạng 01
    5 Hệ thống giám sát phòng đặt thiết bị từ xa

     

    – Hệ thống xử lý, lưu trữ, cảnh báo.

    – Các hệ thống hiển thị (màn hình lớn )

    – ……..

    01
    6 Quản lý cước và chăm sóc khách hàng 01
    7 Hệ thống sao lưu dữ liệu 01
    8 Một số phụ kiện mạng kèm theo 01
         
      II. Phần mềm  
    1 Hệ điều hành 07
    2 Máy chủ số liệu (Software) 07
    3 Phần mềm quản lý thiết bị 01
    4 Phần mềm quản lý truy nhập 01
    5 Phần mềm quản lý lưu lượng 01
    6 Phần mềm an ninh mạng 01
    7 Phần mềm quản lý giám sát từ xa 01
    8 Phần mềm quản lý cước 01
    9 Phần mềm sao lưu dữ liệu 01
      III. Thiết bị quản lý, giám sát từ xa cho tất cả các tỉnh  
    1 Máy tính trạm 122
    4 Cáp mạng và phụ kiện mạng  
    5 Camera 61
    6 Đầu báo nhiệt 61
    7 Đầu báo khói 61
    8 Đầu báo độ ẩm 61

     

     

     

     

    CHƯƠNG 6

    KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

    CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    DCF Data Communications Function: Chức năng truyền thông dữ liệu
    DSL Digital Subscriber Line: Đường dây thuê bao số
    MIB Management Information Base: Hệ thông tin quản lý
    NMS Network Management System: Hệ thống quản lý mạng
    OAM&P Operation, Administration, Mainternance & Provisionning:  Khai thác, quản trị, bảo dưỡng và dự phòng
    OSI Open System Interconnection: Kết nối hệ thống mở
    OSS Operation Support System: Hệ thống hỗ trợ vận hành
    PSTN Public Switching Telephone Network: Mạng điện thoại công cộng
    SAN Storage Area Network: Mạng lưu trữ số liệu
    SNMP Simple Network Management Protocol: Giao thức quản lý mạng đơn giản
    TMN Telecommunication Management Network: Mạng quản lý viễn thông

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]. Công nghệ quản lý mạng hiện đại, CN. Nguyễn Hải Yến biên dịch, Nhà xuất bản Bưu điện 2001.

    [2]. Network Management, MIBs and MPLS: Principles, Design and Implementation, Stephen B. Morris, Prentice Hall 2003.

    [3]. ITU-T Recommendation M.3020 – TMN interface speccification methodology.

    [4]. ITU-T Recommendation M.3200 – TMN management services: overview.

    [5]. ITU-T Recommendation M.3400 – TMN management funtions.

    [6]. ITU-T Recommendation M.3180 – Catalog of TMN management funtions.

    [7]. Quản lý viễn thông – Các khái niệm cơ bản, Nguyễn Thị Minh Huyền chủ biên, Nhà xuất bản Bưu điện 2000.

    [8]. Quản lý mạng trong xu thế phát triển mạng viễn thông thế hệ sau,  TS. Nguyễn Quý Minh Hiền, Nhà xuất bản Bưu điện 2003.

    [9]. Quản lý mạng viễn thông thế kỷ 21, ThS Trần Quang Cường, KS Võ Văn Thương biên dịch, Nhà xuất bản Bưu điện 2001.

    [10]. Storage Networks: The Complete Reference, Robert Spalding, McGraw-Hill 2003.

    PHỤ LỤC

    Cấu trúc phân lớp của mạng Cục Bưu điện Trung ương

     

    Cấu trúc mạng lõi

     

    Cấu trúc nút mạng lõi tại Hà Nội

     

    Cấu trúc nút mạng lõi tại Hồ Chí Minh

    Cấu trúc nút mạng lõi tại Đà Nẵng

    Cấu trúc nút mạng lõi tại các tỉnh, thành phố khác


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÀI LIỆU TỔNG QUAN VIỄN THÔNG VIETTEL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/C%C3%A1c-%C4%91%E1%BA%B7c-%C4%91i%E1%BB%83m-c%E1%BB%A7a-m%E1%BA%A1ng-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-ng%C3%A0y-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    1. GIỚI THIỆU

    1.1. Các đặc điểm của mạng viễn thông ngày nay

    Hiệ n nay, các mạng viễn thông hiện tại có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng rẽ, ứng với mỗi loạ i dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng viễn thông riêng biệt để phục vụ dịch vụ đó. Thí dụ:

    • Mạng Telex: dùng để gửi các bức điện dưới dạng các ký tự đã được mã hoá bằng mã 5 bit (mã Baudot). Tốc độ truyền rất thấp (từ 75 tới 300 bit/s).
    • Mạng điện thoại công cộng, còn gọi là mạng POST (Plain Old Telephone Service): ở đây thông tin tiếng nói được số hoá và chuyển mạch ở hệ thống chuyển mạch điện thoại công cộng PSTN (Public Swiched Telephone Network).
    • Mạng truyền số liệu: bao gồm các mạng chuyển mạch gói để trao đổi số liệu giữa các máy tính dựa trên các giao thức của X.25 và hệ thống truyền số liệu chuyển mạch kênh dựa trên các giao thức X.21.
    • Các tín hiệu truyền hình có thể được truyền theo ba cách: truyền bằng sóng vô tuyến, truyền qua hệ thống mạng truyền hình CATV (Community Antenna TV) bằng cáp đồng trục hoặc truyền qua hệ thống vệ tinh, còn gọi hệ thống truyền qua hệ thống vệ tinh, còn gọi hệ thống truyền hình trực tiếp DBS (Direct Broadcast System).
    • Trong phạm vi cơ quan, số liệu giữa các máy tính được trao đổi thông qua mạng cục bộ LAN (Local Area Network) mà nổi tiếng nhất là mạng Ethernet, Token Bus và Token Ring.

    Mỗi mạng trên được thiết kế cho các dịch vụ riêng biệt và không thể sử dụng cho các mục đích khác. Thí dụ, ta không thể truyền tiếng nói qua mạng chuyển mạch gói X.25 vì trễ qua mạng này quá lớn.

    Hậu quả là hiện nay có rất nhiề u loại mạng khác nhau cùng song song tồn tại. Mỗi mạng lại yêu cầu phương pháp thiết kế, sản xuất, vậ n hành, bảo dưỡ ng khác nhau. Như vậy hệ thống mạng viễn thông hiện tại có rất nhiều nhược điểm mà quan trọng nhất là:

    • Chỉ truyền được các dịch vụ độc lập tương ứng với từng mạng.
    • Thiếu mềm dẻo: Sự ra đời của các thuật toán nén tiếng nói, nén ảnh và tiến bộ trong công nghệ VLSI ảnh hưởng mạnh mẽ tới tốc độ truyền tín hiệu. Ngoài ra còn có nhiều dịch vụ truyền thông trong tương lai mà hiện nay chưa dự đoán trước được, mỗi loại dịch vụ sẽ có tốc độ truyền khác nhau. Ta dễ dàng nhận thấy rằng hệ thống hiện nay rất khó thích nghi với yêu cầu của các dịch vụ khác nhau trong tương lai.
    • Kém hiệu quả trong việc bảo dưỡng, vận hành cũng như việc sử dụng tài nguyên. Tài nguyên sẵn có trong một mạng không thể chia sẻ cho các mạng cùng sử dụng.

    1.2. Sự ra đời của hệ thống viễn thông mới – B-ISDN

    Như đã nêu ở trên, yêu cầu có một mạng viễn thông duy nhất ngày càng trở nên bức thiết, chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

    • Các yêu cầu dịch vụ băng rộng đang tăng lên.
    • Các kỹ thuật xử lý tín hiệu, chuyển mạch, truyền dẫn ở tốc độ cao (cỡ khoảng vài trăm Mbit/s tới vài Gbit/s) đã trở thành hiện thực.
    • Tiến bộ về khả năng xử lý ảnh và số liệu.
    • Sự phát triển của các ứng dụng phần mềm trong lĩnh vực tin học và viễn thông.
    • Sự cần thiết phải tổ hợp các dịch vụ phụ thuộc lẫn nhau ở chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói vào một mạng băng rộng duy nhất. So với các mạng khác, dịch vụ tổ hợp và mạng tổ hợp có nhiều ưu điểm về mặt kinh tế, phát triển, thực hiện, vận hành và bảo dưỡng.
    • Sự cần thiết phải thoả mãn tính mềm dẻo cho các yêu cầu về phía người sử dụng cũng như người quản trị mạng (về mặt tốc độ truyền, chất lượng dịch vụ .v.v.).

    Khuyến nghị ITU-T I.121 đưa ra tổng quan về khả năng của B-ISDN như sau:

    Mạng tổ hợp dịch vụ số băng rộng (Broadband Integrated Services Digital

    Network – B-ISDN) cung cấp các cuộc nối thông qua chuyển mạch, các

    cuộc nối cố định (Permanent) hoặc bán cố định (Semi-Permanent), các

    cuộc nối từ điểm tới điểm tới điểm hoặc từ điểm tới nhiều điểm và cung cấp

    các dịch vụ yêu cầu, các dịch vụ dành trước hoặc các dịch vụ yêu cầu cố

    định. Cuộc nối trong B-ISDN phục vụ cho cả các dịch vụ chuyển mạch

    kênh, chuyển mạch gói theo kiểu đa phương tiện (Multimedia), đơn phương

    tiện (Monomedia), theo kiểu hướng liên kết (Connection-Oriented) hoặc

    không liên kết (Connectionless) và theo cấu hình đơn hướng hoặc đa

    hướng.

    B-ISDN là một mạng thông minh có khả năng cung cấp các dịch vụ c ải tiến, cung cấp các công cụ bảo dưỡng và vận hành (OAM), điều khiển và quản lý mạng rất hiệu quả.

    2. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ATM

    2.1. Định nghĩa và các đặc điểm chính của ATM

    B-ISDN theo ITU-T dựa trên cơ sở kiểu truyền không đồng bộ ATM (Asynchronous Transfer Mode). Như vậy ATM sẽ là nền tảng của B-ISDN trong tương lai.

    Trong kiểu truyền không đồng bộ, thuậ t ngữ “truyền” bao gồm c ả lĩnh vực truyền dẫn và chuyển mạch, do đó “dạng truyền” ám chỉ cả chế độ truyền dẫn và chuyển mạch thông tin trong mạng.

    Thuậ t ngữ “không đồng bộ” giải thích cho một kiểu truyền trong đó các gói trong cùng mộ t cuộc nối có th ể lặp lại một cách bất bình thường như lúc chúng được tạo ra theo yêu cầu cụ thể mà không theo chu kỳ.

    Để minh họa, hình 1.1 và 1.2 biểu diễn sự khác nhau giữa dạng truyền đồng bộ và dạng truyền không đồng bộ . Trong dạng truyền đồng bộ STM (Synchronous Transfer Mode), các phần tử số liệu tương ứng với kênh đã cho được nhận biết bởi vị trí của nó trong khung

    truyền (hình 1.1) trong khi ở ATM, các gói thuộc về một cuộc nối lại tương ứng với các kênh ảo cụ thể và có thể xuất hiện tại bất kỳ vị trí nào (hình 1.2).

    ATM còn có hai đặc điểm quan trọng:

    Thứ nhất, ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là các tế bào ATM (ATM

    Cell), các tế bào nhỏ cùng với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ truyền và biến động trễ

    (Delay Jitter) giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực, ngoài ra kích thước nhỏ cũng

    sẽ tạo điều kiện cho việc hợp kênh ở tốc độ cao được dễ dàng hơn.

    Thứ hai, ATM còn có một đặc điểm rất quan trọng là khả năng nhóm một vài kênh ảo

    (Virtual Channel) thành một đường ảo (Virtual Path), nhằm giúp cho việc định tuyến được dễ dàng.

    2.2. Các lĩnh vực công nghệ mới quyết định sự ra đời và phát triển của ATM

    Có hai yếu tố ảnh hưởng tới ATM, đó là:

    • Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ bán dẫn cũng như công nghệ quang điện tử.
    • Sự phát triển các ý tưởng mới về khái niệm hệ thống.

    2.2.1. Các tiến bộ về mặt công nghệ

    Công nghệ bán dẫn:

    Công nghệ CMOS là công nghệ rấ t có triển vọng bởi độ tích hợp lớn, tốc độ cao (cỡ vài trăm Mbit/s tới vài Gbit/s), độ rộng băng truyền lớn, kích thước nhỏ, độ mềm dẻ o cơ học cao, tránh được nhiễu của trường điện tử, xác suất truyền lỗi thấp và không có nhiễu xuyên âm.

    2.2.2. Các ý tưởng mới về khái niệm hệ thống

    Các quan điểm mới về hệ thống được phát triển mạnh mẽ trong nhữ ng năm gần đây, đ ó là hệ thống phải có độ mềm dẻ o thích hợp, độ r ộng băng của hệ thống phải tuỳ thuộ c vào yêu cầu của từng dịch vụ cụ thể, các dịch vụ thời gian thực được truyền theo phương pháp chuyển mạch gói.

    Các ý tưởng này phải thoả mãn hai chức năng chính của mạng là:

    Tính trong suốt về mặt nội dung:(Semantic Transparency):

    Tính trong suốt về mặt nội dung là chức năng đảm bảo việc truyền đúng các bit từ đầu phát tới đầu thu (tức là sự chính xác về mặt nội dung).

    Khi mới ra đời, trong các mạng chuyển mạch gói, chất lượng truyền số li ệu còn kém, do đó để đảm bảo chất lượng truyền chấp nhận được, ngườ i ta ph ải thực hiện chức năng điều khiển lỗi trên mọi liên kế t (Link).Việc điều khiển lỗi này được thực hiện bởi các giao thức HDLC (High-Level Data Link Control) bao gồm các chức nă ng: giớ i hạ n khung (Frame Delimiting), đảm bảo truyền bit chính xác, kiểm tra lỗi (kiểm tra mã dư vòng CRC-Cyclic Redundancy Check), sửa lỗi bằng các thủ tụ c truyền lạ i. Hình 1.3. trình bày thủ tục điều khiển lỗ i đầy đủ c ủa mạng chuyển mạch gói thông qua mô hình liên k ết các hệ thống mở OSI. Ta thấy quá trình điều khiển lỗi được thực hiện trên mọi liên kết (Link-by-Link) thông qua nút chuyể n mạch, do đó nút chuyển mạch phải xử lý một loạt các thủ tục phức tạp khác nhau làm ảnh hưởng đến tốc độ xử lý chung của hệ thống.

    Sau này do chất lượ ng của hệ thống truyền dẫn và chuyển mạch tăng lên nên tỷ lệ lỗi trên mạng giảm. Với một mạ ng chất lượng cao như vậy, người ta chỉ cầ n thực hiện một số chức năng của thủ tụ c HDLC như chứ c năng giới hạn khung, ch ức năng truyền bit chính xác, kiểm tra lỗi trên cơ sở từ liên kết tới liên kết (Link-by-Link). Như vậy chỉ có những chức năng này được cung cấp bởi các nút chuyển mạch trong mạng còn các chức nă ng khác như sửa lỗi sẽ được thực hiện trên cơ sở từ đầu cuối tớ i đầu cuối (End-to- End). Bằng cách này ng ườ i ta đã giảm được khối lượng thông tin mà nút chuyển mạch cầ n sử lý, nhờ đó mà tốc độ xử lý củ a nút tăng lên. Như vậy lớp 2 trên mô hình OSI được chia thành hai lớ p con, lớp 2a chuyên cung cấp các chức năng c ơ bản của lớ p 2, lớp 2b cung c ấp các chức n ăng bổ sung. Các hệ th ống ứng dụng nguyên lý này được gọi là chuyển tiếp khung (frame relay). Các nguyên lý này được trình bày trên hình 1.4.

    Đối với B-ISDN ý tưởng này còn được mở rộng hơn nữa, các chức năng điều khiển lỗi

    không còn được cung cấp ở các nút chuyển mạch trong mạng nữa mà trong trường hợp

    cần thiết, sẽ được cung cấp bởi các thiết bị đầu cuối. Như vậy các chức năng được thực

    hiện trong mạng được giảm từ điều khiển lỗi đầy đủ (Full error Control) ở mạng chuyển

    mạch gói X.25 xuống còn cực kỳ tối thiểu ở mạng ATM, do đó các nút của ATM có độ phức

    tạp tối thiểu và vì thế có tốc độ truyền rất cao, có thể lên tới 600 Mbit/s (hình 1.5). Bảng 1.1

    trình bày các chức năng được thực hiện ở nút mạng ATM so với mạng chuyển mạch gói và

    chuyển tiếp khung.

    Bảng 1.1: Các chức năng được thực hiện ở nút mạng của X.25, chuyển tiếp khung, ATM

                 
    Chức năng   Chuyển mạch   Chuyển tiếp   ATM
      gói   khung  
             
                 
             
    Truyền lại gói   x    
                 
               
    Giới hạn khung   x   x  
                 
               
    Kiểm tra lỗi   x   x  
                 
                 

    Rõ ràng nút mạng ATM hầu như không phải xử lý một thông tin điều khiển nào trong khi nút chuyển mạch X.25 và chuyển tiếp khung phải thực hiện một loạt các thủ tục phức tạp khác nhau.

    Tính trong suốt về mặt thời gian: (Time Transparency)

    Các dịch vụ thời gian thực yêu cầu dòng bit có trễ rấ t ngắn khi được truyền từ đầu phát tới đầu thu, tức là chúng yêu cầu tính chính xác về mặt thời gian. Có thể phân biệt hai loại trễ: trễ do chuyển mạch và trễ từ điểm đầu tới điểm cuối.

    Hệ thống chuyển mạch gói và chuyển tiếp khung rất khó khăn khi thực hiện các dịch vụ thời gian thực vì độ trễ cao. Do độ phức tạp của các nút chuyể n mạch, chúng chỉ có thể hoạt động ở tốc độ vừa và th ấp. Mạng ATM, mặt khác, chỉ cần những chức năng tối thiểu ở nút chuyển mạch, do đó nó cho phép truyền số liệu tốc độ rất cao, trễ trên mạng và các biến động trễ giảm xuống còn vài tră m micro giây, do đó quan hệ thời gian được đảm bảo như trong trường hợp chuyển mạch kênh.

    3. CÁC DỊCH VỤ TƯƠNG LAI CỦA B-ISDN TRÊN CƠ SỞ ATM

    3.1. Các dịch vụ phục vụ cho các thuê bao gia đình

    Các dịch vụ quan tr ọng cho các thuê bao gia đình là những dịch vụ truyền hình (TV) bao gồm dịch vụ truyền hình cáp CATV, truyền hình số chuẩn SDTV(Standard Digital TV) hay trong tương lai là dịch vụ truyền hình độ phân giải cao HDTV (High Definition TV). Tuy vậy

    người ta còn phải giả i quyết các vấn đề về tính tương thích giữa các tín hiệu video nói trên sao cho một chương trình SDTV có thể xem được trên màn hình HDTV và ngược lại.

    Tất c ả các tín hiệu video nói trên có thể được cung cấp bằng nhiều cách khác nhau. Dễ thực hiện nhất là phươ ng pháp mô phỏng CATV trong đ ó một loạt các chương trình TV được đưa tới thuê bao theo các đườ ng nối bán cố định. Một phương pháp khác là các kênh TV được truy nhậ p theo kiểu chuyển mạch, nghĩa là khách hàng có thể chọn một chươ ng trình mong muố n theo một kênh thông tin xác định. Xa hơn nữa, ngườ i sử dụ ng có thể gọi tới một thư viện video sau đó chọn lấy một kênh từ rất nhiều các kênh truyền hình sẵn có.

    Một ứng d ụng quan trọng nữa là dịch vụ điện thoại truyền hình trong đó các hình ảnh chất lượng cao được truyền đi ở tốc độ từ 2 tới 5 Mbit/s với giá thành phải chăng.

    Ngoài ra còn một loạt các ứng dụng thú vị khác như mua hàng tại nhà (Video-Shopping), dạy học tại nhà (Home-Education), các dịch vụ thông tin quảng cáo .v.v.

    3.2. Các dịch vụ phục vụ trong lĩnh vực kinh doanh, giao dịch

    Các thuê bao trong phạm vi công s ở, văn phòng có những đặc điểm hoàn toàn khác so với các thuê bao gia đình. Điểm chung duy nhất giữa hai lĩnh vực này là điện thoại truyền hình. Tuy vậy dịch vụ này cũng phải được mở rộng để tiến tới điện thoại hội nghị truyền hình, sao cho người sử dụng có thể dùng dịch vụ điện thoại truyền hình để liên lạc giữa vài điểm cùng một lúc.

    Có thể dự đoán nhiều d ịch vụ của B-ISDN cho mạng LAN sẽ được đư a vào ứng dụ ng trong tương lai. Các hệ thống ATM-LAN được nối với nhau sẽ tạo khả năng truy nhập hệ cơ sở dữ liệu phân tán với tốc độ r ất cao, đ iều này rất quan trọng do khả năng của PC đang tăng lên không ngừng về mặt tố c độ xử lý cũng như khả năng lưu trữ thông tin, do đó sẽ có ngày càng nhiều các phần mềm ứng dụng chạy trên các máy khác nhau trong môi tr ường dữ li ệu phân tán. Ngoài ra còn phải kể đến các dịch vụ khác như: truyền ảnh y tế chất lượng cao để phục vụ cho việc chữa bệnh từ xa, giáo dục phân tán, truyền thông đa phương tiện, thư tín điện tử.

    Trong lĩnh vực sản xuất, các ứng dụng sẽ là điều khiển/giám sát t ừ xa, phân phối các thông tin hình ảnh về sả n xuất/xử lý tới công nhân trong nhà máy. Bảng 1.2. tóm tắt các dịch vụ băng rộng cơ bản và tốc độ tương ứng của chúng.

    Bảng 2: Đặc điểm các dịch vụ băng rộng cơ bản

    Dịch vụ

    Truyền số liệu (hướng liên kết)

    Truyền số liệu (không liên kết)

    Truyền văn bản, tài liệu

    Điện thoại truyền hình / Hội nghị truyền hình

    TV

    Tốc độ

    (Mbit/s)

    1,5 -130

    1,5 -130

    1,5 – 45

    1,5 -130

    30 – 130

             
      Truyền hình phân giải cao   130  
             
             

    4. TÓM TẮT

    Chương này đã trình bày các đặc điểm của các mạng viễn thông hiện hữu cũng như các

    mặt hạn chế cuả chúng và các nhu cầu dịch vụ băng rộng đang tăng lên. Từ đó đặt ra vấn

    đề phải có một mạng tổ hợp băng rộng duy nhất ( B-ISDN) thay thế tất cả các mạng viễn

    thông nói trên, chính trên cơ sở này mà ATM hình thành và phát triển. Sự phát triển của kỹ

    thuật ATM là kết quả trực tiếp của các ý tưởng mới về khái niệm hệ thống được hỗ trợ bởi

    các thành tựu to lớn trong công nghệ bán dẫn và công nghệ quang điện tử. ATM có khả

    năng đáp ứng được một loạt các dịch vụ băng rộng khác nhau, kể cả trong lĩnh vực gia đình

    cũng như trong thương mại.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nghĩa tình thái về đạo nghĩa trong câu văn tác phẩm Tắt đèn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%E1%BA%A1ch-t%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-%C4%91%C3%A8n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch tự động điều khiển đèn

    Mạch điện gồm có một bộ nhớ nhỏ mà có thể tự động mở và tắt đèn như mong

    muốn. Mạch điện dùng 2 LDR ( điện trở phụ thuộc ánh sáng ) mà chúng được đặt

    theo thứ tự trước sau (cách nhau khoảng 50cm), vì vậy chúng có thể nhận biết một

    cách riêng biệt một người bước vào phòng hoặc là đi ra khỏi phòng. Sau khi xử

    ly,đầu ra của 2 bộ cảm biến LDR được sử dụng để phối hợp với những trạng thái

    của LED màu khi một người bước vào phòng thì LED sẽ phát ra màu xanh và khi

    người đó đi ra khỏi phòng thì LED sẽ phát ra màu đo. Những ngõ ra này sẽ đồng

    thời được đưa đến 2 bộ đếm số. Một trong số 2 bộ đếm số sẽ đếm lên: +1, +2, +3

    …vv khi có nhiều người lần lượt bước vào phòng và bộ đếm kia sẽ đếm ngược lại:

    -1, -2, -3 …vv khi có nhiều người đi ra khỏi phòng. Những bộ đếm này sử dụng IC

    CD4017. Tầng tiếp theo bao gồm 2 IC logic mà chúng có thể kết hợp những ngõ ra

    của 2 bộ đếm và xác định xem liệu có còn người nào đó vẫn còn trong phòng hay

    không. Khi sử dụng LDR trong mạch điện thì phải cẩn thận tránh để chúng bị ảnh

    hưởng bởi ánh sáng. Nếu muốn thì có thể sử dụng cảm biến có giá trị thay đổi

    được để thay thế cho LDR. Những bộ cảm biến này được lắp đặt sao cho khi có

    người đi vào hoặc đi ra khỏi phòng thì người đó sẽ chắn ngang ánh sáng theo thứ

    tự cảm biến này sau cảm biến kia. Khi một người đi vào phòng, thì trước tiên

    người đó sẽ ngăn cản ánh sáng từ LDR1, tiếp đến là LDR2. Khi một người đi ra

    khỏi phòng thì nó sẽ thay đổi trạng thái. Trong trường hợp bình thường thì cả 2

    LDR đều bị giảm cường độ ánh sáng, và như vậy trở kháng của chúng rất thấp

    (khoảng 5 kilo Ohm). Như vậy cuối cùng, chân ra của cả 2 bộ đếm thời gian (IC1

    và IC2), mà được định dạng như là những mạch flip-flop đơn ổn, đều bị chốt gần

    với điện áp cấp vào là +9V. Khi sự giảm cường độ sáng của LDR được ngăn cản

    thì trở kháng của chúng tăng lên rất lớn và điện thế ở chân 2 của nó gần như bằng 0

    (nối đất), khi đó mạch flip-flop bắt đầu hoạt động. Những tụ điện được mắc vào

    giữa chân 2 và đất để chống nhiễu. Khi một người đi vào phòng, LDR1 hoạt động

    trước và đó là kết quả trong sự hoạt động của IC1 đơn ổn. Phía trước cực B của cặp

    transitor T1-T2 xuất hiện 1 xung ngắn ở ngõ ra nhanh chóng nạp điện cho tụ C5.

    Nhưng ngay khi đó cực C của transistor T1 và T2 lại ở trạng thái có trở kháng cao

    bởi vì chân 3 của IC2 có điện thế thấp và diode D4 không dẫn điện. Nhưng khi vẫn

    là người đó đi qua LDR2, thì IC2 đơn ổn được khởi động. Chân 3 chuyển lên mức

    cao và điện thế này đi qua diode D4 và được đưa đến cặp transistor T1-T2. Kết quả

    là cặp transistor dẫn điện bởi vì tụ C5 giữ lại điện tích trong một lúc và thời gian

    nó xả hết được điều khiển bởi điện trở R5. Vì thế cho nên LED xanh được phát

    sáng một cách tức thời. Giống như vậy, ngõ ra cũng được đưa đến IC3 mà nó có

    hoạt động như một đồng hồ đếm. Ứng với mỗi ngõ vào của mỗi người vào sẽ làm

    ngõ ra của IC3 ( đang ở mức cao) sẽ tăng lên theo. Ơ tầng này, cặp transistor T3-

    T4 không dẫn điện bởi vì ngõ ra chân 3 của IC1 không còn ở mức dương nữa vì

    vậy độ rộng xung ở ngõ ra ngắn hơn và do đó cực C của transistor tiến gần đến

    mức cao. Khi có người đi ra khỏi phòng, thì LDR2 được hoạt động trước và sau đó

    là LDR1 hoạt động. Khi một nữa phần dưới của mạch cũng giống như nữa phần

    trên, lúc này với sự sai lệch của mỗi người sẽ làm cho LED đỏ phát sáng một cách

    tức thời và ngõ ra của IC4 cũng được tăng lên giống như trong trường hợp của IC3.

    Ngõ ra của IC3 và của cả IC4 ( sau khi được đảo bởi cổng đảo N1 đến N4 ) được

    hợp lại bởi cổng AND ( A1 đến A4 ) sau đó là cổng OR ( sử dụng diode D5 đến

    D8 ). Hiệu ứng thực đó là khi có người đi vào phòng, ngõ ra có it61 nhất một cổng

    AND ở mức cao, vì transistor T5 dẫn điện và cấp năng lượng cho RL1. Bóng đèn

    được nối với tiếp điểm chính N/O của rờ le RL1 cũng được phát sáng. Khi mọi

    người đi ra khỏi phòng, và đến khi không còn ai trong phòng thì dây nối của ngõ ra

    OR vẫn tiếp tục trả về mức cao có nghĩa là bóng đèn vẫn còn sáng, tới khi tất cả

    mọi người đi vào đã đi ra hết khỏi phòng. Số người tối đa mà mạch điện này có thể

    kiểm soát được là 4, một khi thiết bị nhận được xung thứ 5 thì nó sẽ trả lại trạng

    thái như ban đầu. Tuy nhiên mạch cũng có thể dễ dàng đếm đến 9 người bằng cách

    thay đầu nối của chân 1 với chân trả về trạng thái ban đầu (15) và sử dụng ngõ ra

    từ Q1 đến Q9 của bộ đếm CD4017 và có thể thêm vào các cổng AND và diode .

    mạch điều khiển đèn bằng ánh sang

    MẠCH TẮC ĐÈN LÀM TRỄ ĐIỀU KHIỂN BẰNG ÁNH SÁNG HOẶC ÂM

     

    THANH:

    Hình 1:

    1.Ứng dụng:

    Mạch điện này dùng để tự động điều khiển các đèn cầu thang, các đèn chiếu sáng trong nhà vệ sinh và các lối đi.

    2.Nguyên lý mạch điện:

    Mạch điện được cấu tạo như hình1. SK-II là một IC điều khiển bằng âm thanh, là một IC chuyên dụng. Bên trong nó trừ mạch điện chính là một trigger hai trạng thái ổn định còn có một bộ khuếch đại đảo pha 3 cực có thể thoả mãn các yêu cầu ở các trường hợp khác nhau. Trong mạch này chỉ sử dụng 2 tần 2 cấp trong số đó.

    Bình thường chân 9 của SK-II nằm ở mức thấp, transistor Q1 do thiên trị cực gốc không có nên ngưng dẫn, chân 2 đầu kích của mạch tích hợp gốc chuẩn thời gian 555 vẫn ở mức cao, chân 6 đầu trị số ngưỡng cũng như vậy. Chân 7 phóng điện cũng ở mức cao, nên đầu ra chân 3 của nó cũng sẽ ở mức thấp, Triac silic điều khiển 2 chiều không có dòng điện kích nên ngưng dẫn, đèn H không sáng. Khi microphone MIC tiếp thu âm thanh vỗ tay, bên trong SK-II bộ trigger trạng thái ổn sẽ lật, chân 9 đưa ra mức cao, transistor Q1 dẫn thông đồng thời bão hoà, điện áp trên cực góp của nó là 0, đồng thời điện áp chân 2 đầu kích của mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 thấp chừng 1/3 Vcc, mạch điện bên trong lật, đầu ra chân 3 mức cao, Triac sẽ kích dẫn thông, đèn

    H phát sáng. Đồng thời điện áp 12V qua điện trở R4 nạp vào tụ C4, cho tới khi điện áp 2 đầu C4 đạt tới 2/3 Vcc.Mạch điện bên trong của mạch gốc chuẩn thời gian 555 một lần nữa sẽ lật, chân 3 đầu ra sẽ chuyển thành mức thấp, Triac một lần nữa sẽ ngưng dẫn. Thời gian làm trễ dài hay ngắn được quyết định bởi trị số của điện trơ R4 và của tụ C4, dựa vào các số liệu trong hình vẽ nó sẽ có thời gian khoảng chừng 2 phút. Ngoài ra mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 có bị kích lật hay không còn bị sự điều khiển bởi điện áp

    • chân 4 đầu phục vị, ban ngày do ánh sáng chiếu tới transistor quang Q3 làm điện trở giảm thấp, transistor Q2 dẫn thông, mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 đầu phục vị chân 4 vẫn ở mức thấp, mạch kích bên trong bị khoá, tức là làm cho điện áp chân 2 đầu kích thấp hơn 1/3 Vcc, mạch điện 555 cũng không lật. Chỉ khi nào bắt đầu trời tối, do transistor quang Q3 không có ánh sáng chiếu vào nên có điện trở cao, transistor Q2 ngắt, chân 4 đầu phục vị của mạch điện 555 vẫn ở mức cao, lúc đó chỉ cần trên mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 có đầu vào là xung âm, mạch đơn ổn bên trong nó sẽ lật. Như vậy IC điều khiển bằng âm thanh chọn dùng hệ SK-II. Micro MIC chọn dùng loại độ nhạy cao, cũng có thể dùng loại tinh thể gốm áp điện MTD-27A để thay. Mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 chọn dùng loại NE55, LM555 hoặc 5G1555. Tụ C4 chọn dùng loại tụ điện rò càng nhỏ càng tốt. Các linh kiện còn lại chọn dùng theo thông số được ghi trên sơ đồ.

    3. Điều chỉnh các giá trị:

    Khi điều chỉnh kiểm tra, trước tiên để transistor Q3 nằm dưới ánh sáng tự nhiên, điều chỉnh R6 làm cho transistor Q2 dẫn thông, điện áp chân 4 đầu phục vị của mạch điện gốc chuẩn thời gian 555 thấp hơn 1V, khi cần thiết có thể dùng transistor có hệ số khuếch đại lớn hơn. Sau đó điều chỉnh R1, làm cho điện áp ở đầu dưới R1 gần tới 6V. Nói chung, điều chỉnh R1 ở khoảng 10KW là được. Khi thay đổi điện dung C5 nằmgiữa chân 4 và 5 chủa IC điều khiển bằng âm thanh, trong hình vẽ dùng loại 0.1mF, mạch điện sẽ tương đối nhạy với tần số lân cận 1KHz, chẳng hạn như tiếng vỗ tay


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/GI%C3%81M-S%C3%81T-THI-C%C3%94NG-V%C3%80-NGHI%E1%BB%86M-THU-C%C3%94NG-T%C3%81C-HO%C3%80N-THI%E1%BB%86N-C%C3%94NG-TR%C3%8CNH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    BỘ XÂY DỰNG

    CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG KỸ SƯ

    TƯ VẤN GIÁM SÁT XÂY DỰNG

    BÀI GIẢNG

    Môn Học

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU

    CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Người soạn :

    PGs LÊ KIỀU

    Trường Đại học Kiến trúc Hà nội

    HÀ NỘI, 12-2002

     

     

     

                          GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU

                      CÁC CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Người soạn bài giảng và trình bày:

    PGs Lê Kiều

    Chủ nhiệm Bộ môn

    Công nghệ Xây dựng

                                                                            Trường Đại học Kiến trúc Hà nội

     

    I. Phần mở đầu

    1.1.  Nhiệm vụ chung của giám sát thi công và nghiệm thu các công tác hoàn thiện công trình

    Hoàn thiện công trình là công tác phải tiến hành nhằm tạo cho công trình đáp ứng được các mục tiêu sử dụng tiện nghi, mỹ quan.

    Hoàn thiện công trình bao gồm nhiều công tác khác nhau như trát hoặc bả bề mặt phủ ngoài kết cấu, láng hoặc lát mặt nền , ốp tường, sơn hoặc quét vôi lên tường, trần nhà, cắt và lắp kính, đánh bóng đồ gỗ và kim loại, chèn kẽ các khe , mạch, trải các lớp phủ thảm . . .  Hoàn thiện công trình là khâu cuối cùng của các công tác xây lắp nên chất lượng mỹ quan cũng như tiện nghi cuả công trình sẽ do chất lượng công tác hoàn thiện quyết định khá nhiều.

    Cũng như qui trình giám sát và nghiệm thu các công tác xây lắp khác, giám sát và nghiệm thu công tác hoàn thiện cần được giám sát như là một khâu trong tổng thể quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng. Không thể tách rời riêng một khâu hoàn thiện mà cần thiết gắn kết khâu hoàn thiện với mọi khâu trong quá trình tạo sản phẩm xây dựng.

    Quá trình giám sát cần chú ý vào  các bước sau đây:

    • Kiểm tra vật liệu sử dụng trong từng công tác hoàn thiện, đối chiếu giữa các yêu cầu kỹ thuật trong hồ sơ mời thầu với catalogues của vật liệu được cung ứng, đối chiếu giữa vật liệu được giới thiệu trong catalogues với hiện vật sẽ sử dụng. Nếu thấy khác biệt hay có điều gì nghi ngờ về chất lượng cần có giải trình của nhà thầu xây lắp và người cung ứng vật tư.
    • Vật tư sẽ sử dụng trong khâu hoàn thiện cần có nguồn gốc rõ ràng về nhà sản xuất, người bán hàng và các chỉ tiêu kỹ thuật ghi rõ trong catalogues. Chất lượng vật liệu phải phù hợp với catalogues và catalogues phải phù hợp với các yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu.
    • Vật tư sử dụng cho hoàn thiện cần được vận chuyển từ nguồn cung cấp đến công trình theo đúng chỉ dẫn về vận chuyển và bốc rỡ. Quá trình vận chuyển vật tư không được làm cho sản phẩm bị biến đổi tính chất , thay đổi hình dạng, kích thước hình học cũng như các tác động khác làm biến đổi chất lượng của sản phẩm. Khi bốc xếp phải đảm bảo nhẹ nhàng, vật tư không bị các tác động va đập cơ học, các thay đổi tính chất hoá học, sinh học so với các tiêu chí chất lượng đã thoả thuận khi thương lượng hợp đồng mua bán.
    • Vật tư cần lưu giữ, cất chứa thì nơi cất chứa, lưu giữ phải phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật nêu trong hồ sơ mời thầu , các qui định về cất chứa trong catalogues. Không để lẫn lộn vật tư gây ra những thay đổi về tính chất của vật tư trong quá trình bảo quản và lưu giữ.
    • Cần kiểm tra chất lượng các khâu công tác tạo ra kết cấu nền trước khi hoàn thiện. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện mặt bằng để tiếp nhận các khâu hoàn thiện. Mặt tiếp nhận các công tác hoàn thiện phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của công tác hoàn thiện đề ra như mặt dán phải đủ nhám để bám chất dính kết, đảm bảo phẳng, không có gồ ghề làm giảm chất lượng bề mặt lớp hoàn thiện chẳng hạn.
    • Các công việc phải tiến hành trước khi hoàn thiện phải được làm xong để sau khi tiếp nhận công tác hoàn thiện không được đục, phá làm hỏng các lớp hoàn thiện. Những việc này rất đa dạng và dễ quên nên người kỹ sư tư vấn giám sát chất lượng cần yêu cầu nhà thầu lập biện pháp thi công hoàn thiện trong đó chú ý đến việc chuẩn bị cho khâu hoàn thiện , qui trình hoàn thiện, các tiêu chí phải đạt, phương pháp kiểm tra để nhận biết chất lượng hoàn thiện , công cụ kiểm tra cũng như qui trình kiểm tra.

    Những khâu cần lưu ý cơ bản có thể được gợi ý trước khi thi công hoàn thiện :

    * Chèn kín những khe do phần thiết kế kiến trúc tạo nên trong các kết cấu bằng vật liệu thích hợp và các yêu cầu về độ kín khít, độ chặt của vật liệu nhồi, vật liệu gắn kết.

    * Khe kẽ giữa những cấu kiện như khe giữa kết cấu nhà và khuôn cửa, sự chống ẩm, chống gỉ, chống mục, mọt của các loại vật liệu kim loại, gỗ, nhựa, độ gắn chắc của khuôn với công trình…

    * Kiểm tra các lớp chống thấm trước khi lát, ốp hay tạo các lớp phủ.

    * Kiểm tra sự hoàn chỉnh các đường ống phải đặt ngầm như ống dẫn dây điện, ống nước, ống chứa dây dẫn chuyên dùng, các hốc cần chừa cho công tác sau, các chi tiết đặt sẵn cho dạng công tác về sau…

    • Cần lưu ý đến các yêu cầu về an toàn lao động trong công tác hoàn thiện như biện pháp dàn giáo, sàn công tác, biện pháp chống cháy nổ, biện pháp chống độc, chống tác hại của hoá chất …
    • Trước khi tiến hành từng khâu hoàn thiện nhà thầu cũng phải lập biện pháp thi công và tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư phải xem xét kỹ và trình cho chủ nhiệm dự án duyệt trước khi thi công. Không tiến hành hoàn thiện khi chưa duyệt biện pháp thi công hoàn thiện.

    Công tác hoàn thiện cần gắn kết với đảm bảo an toàn lao động, phòng chống cháy và các qui định khác của Nhà nước như bảo vệ môi trường, hài hoà về màu sắc cũng như các yếu tố khác về truyền thống văn hoá, tính dân tộc. Quá trình thi công không gây phiền phức, mất an toàn cho nhà lân cận cũng như bảo đảm không toả hơi khó chịu, khói , bụi, nước bẩn cho môi trường và khu vực xây dựng.

    Sự tuân thủ các qui định của bộ hồ sơ mời thầu và các tiêu chuẩn thi công hoàn thiện đồng thời phải tuân thủ các tiêu chuẩn khác liên quan đến việc xây dựng và hoàn thiện công trình.

    1.2  Công việc của cán bộ tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng của một đơn vị xây dựng

    1.2.1  Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng nói chung :

    Tư vấn giám sát xây dựng được chủ đầu tư giao cho , thông qua hợp đồng kinh tế , thay mặt chủ đầu tư chịu trách nhiệm về chất lượng công trình. Nhiệm vụ của giám sát thi công của chủ đầu tư :

    (1) Về công tác giám sát thi công phải chấp hành các qui định của thiết kế công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt , các tiêu chuẩn kỹ thuật , các cam kết về chất lượng theo hợp đồng giao nhận thầu. Nếu các cơ quan tư vấn và thiết kế làm tốt khâu hồ sơ mời thầu thì các điều kiện kỹ thuật trong bộ hồ sơ mời thầu là cơ sở để giám sát kỹ thuật.

    (2) Trong giai đoạn chuẩn bị thi công : các bộ tư vấn giám sát phải kiểm tra vật tư , vật liệu đem về công trường . Mọi vật tư , vật liệu không đúng tính năng sử dụng , phải đưa khỏi phạm vi công trường mà không được phép lưu giữ trên công trường . Những thiết bị không phù hợp với công nghệ và chưa qua kiểm định không được đưa vào sử dụng hay lắp đặt. Khi thấy cần thiết , có thể yêu cầu lấy mẫu kiểm tra lại chất lượng vật liệu , cấu kiện và chế phẩm xây dựng .

    (3) Trong giai đoạn xây lắp : theo dõi , giám sát thường xuyên công tác thi công xây lắp và lắp đặt thiết bị . Kiểm tra hệ thống đảm bảo chất lượng , kế hoạch chất lượng của nhà thầu nhằm đảm bảo việc thi công xây lắp theo đúng hồ sơ thiết kế đã được duyệt.

    Kiểm tra biện pháp thi công , tiến độ thi công , biện pháp an toàn lao động mà nhà thầu đề xuất . Kiểm tra xác nhận khối lượng hoàn thành , chất lượng công tác đạt được và tiến độ thực hiện các công tác . Lập báo cáo tình hình chất lượng và tiến độ phục vụ giao ban thường kỳ của chủ đầu tư . Phối hợp các bên thi công và các bên liên quan giải quyết những phát sinh trong quá trình thi công . Thực hiện nghiệm thu các công tác xây lắp . Lập biên bản nghiệm thu theo bảng biểu qui định .

    Những hạng mục , bộ phận công trình mà khi thi công có những dấu hiệu chất lượng không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đã định trong tiêu chí chất lượng của bộ hồ sơ mời thầu hoặc những tiêu chí mới phát sinh ngoài dự kiến như độ lún quá qui định , trước khi nghiệm thu phải lập văn bản đánh giá tổng thể về sự cố đề xuất của đơn vị thiết kế và của các cơ quan chuyên môn được phép .

    (4) Giai đoạn hoàn thành xây dựng công trình : Tổ chức giám sát của chủ đầu tư phải kiểm tra , tập hợp toàn bộ hồ sơ pháp lý và tài liệu về quản lý chất lượng . Lập danh mục hồ sơ , tài liệu hoàn thành công trình xây dựng. Khi kiểm tra thấy công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng , phù hợp với yêu cầu của thiết kế và tiêu chuẩn về nghiệm thu công trình , chủ đầu tư tổ chức tổng nghiệm thu lập thành biên bản . Biên bản tổng nghiệm thu là cơ sở pháp lý để làm bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng và là cơ sở để quyết toán công trình.

    1.2.2. Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện công trình  và an toàn :

    • Quan hệ giữa các bên trong công trường : Giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện và an toàn cho công trình nằm trong nhiệm vụ chung của giám sát bảo đảm chất lượng công trình là nhiệm vụ của bên chủ đầu tư. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chủ nhiệm dự án đại diện cho chủ đầu tư có các cán bộ giám sát bảo đảm chất lượng công trình . Những người này là cán bộ của Công ty Tư vấn và Thiết kế ký hợp đồng với chủ đầu tư , giúp chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ này. Thông thường chỉ có người chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng xây lắp nói chung , còn khi cần đến chuyên môn nào thì Công ty tư vấn điều động người có chuyên môn theo ngành hẹp đến tham gia hỗ trợ cho người chịu trách nhiệm chung.

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUAN HỆ ĐIỂN HÌNH MỘT CÔNG TRƯỜNG

           
       
     
         
    Đội

     

    thi công

    Đội

     

    thi công

    Đội

     

    thi công

    * * * * * * *

    (ii) Phối hợp tiến độ là nhiệm vụ trước hết của chủ nhiệm dự án mà người đề xuất chính là giám sát bảo đảm chất lượng . Trước khi bắt đầu tiến hành các công tác xây lắp cần lập tổng tiến độ . Tổng tiến độ chỉ cần vạch ra những việc thuộc bên thi công nào vào thời điểm nào mà mức chi tiết có thể tính theo tầng nhà . Tổng tiến độ cho biết vào thời gian nào công tác nào phải bắt đầu để các thành viên tham gia xây dựng toàn bộ công trình biết và phối hợp . Từ tổng tiến độ mà các thành viên tham gia xây lắp và cung ứng lập ra bảng tiến độ thi công cho đơn vị mình trong đó hết sức chú ý đến sự phối hợp đồng bộ tạo diện thi công cho đơn vị bạn .

    (iii) Chủ trì thông qua biện pháp thi côngbiện pháp đảm bảo chất lượng.

    Trước khi khởi công , Chủ nhiệm dự án và tư vấn đảm bảo chất lượng cần thông qua biện pháp xây dựng tổng thể của công trình  như phương pháp đào đất nói chung , phương pháp xây dựng phần thân nói chung , giải pháp chung về vận chuyển theo phương đứng , giải pháp an toàn lao động chung, biện pháp thi công các công tác hoàn thiện, công tác lắp đặt trang thiết bị,   các yêu cầu phối hợp và điều kiện phối hợp chung . Nếu đơn vị thi công thực hiện công tác theo ISO 9000 thì cán bộ tư vấn sẽ giúp Chủ nhiệm dự án tham gia xét duyệt chính sách đảm bảo chất lượng của Nhà thầu và duyệt sổ tay chất lượng của Nhà thầu và của các đợn vị thi công cấp đội .

    (iv) Chủ trì kiểm tra chất lượng , xem xét các công việc xây lắp làm từng ngày . Trước khi thi công bất kỳ công tác nào , nhà thầu cần thông báo để tư vấn đảm bảo chất lượng kiểm tra việc chuẩn bị . Quá trình thi công phải có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng . Khi thi công xong cần tiến hành nghiệm thu chất lượng và số lượng công tác xây lắp đã hoàn thành.

    1.3.  Phương pháp kiểm tra chất lượng trên công trường :

    Thực chất thì người tư vấn kiểm tra chất lượng là người thay mặt chủ đầu tư chấp nhận hay không chấp nhận sản phẩm xây lắp thực hiện trên công trường mà kiểm tra chất lượng là một biện pháp giúp cho sự khẳng định chấp nhận hay từ chối .

    Một quan điểm hết sức cần lưu tâm trong kinh tế thị trường là : người có tiền bỏ ra mua sản phẩm phải mua được chính phẩm , được sản phẩm đáp ứng yêu cầu của mình. Do tính chất của công tác xây dựng khó khăn , phức tạp nên chủ đầu tư phải thuê tư vấn đảm báo chất lượng.

    Cơ sở để nhận biết và kiểm tra chất  lượng sản phẩm là sự đáp ứng các Yêu cầu chất lượng ghi trong bộ Hồ sơ mời thầu . Hiện nay chúng ta viết các yêu cầu chất lượng trong bộ Hồ sơ mời thầu còn chung chung vì các cơ quan tư vấn chưa quen với cách làm mới này của kinh tế thị trường .

    Những phương pháp chủ yếu của kiểm tra chất lượng trên công trường là :

    1.3.1. Người cung ứng hàng hoá là người phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước hết .

    Đây là điều kiện được ghi trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu . Từ điều này mà mọi hàng hoá cung ứng đưa vào công trình phải có các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng với yêu cầu của công tác. Trước khi đưa vật tư , thiết bị vào tạo nên sản phẩm xây dựng nhà thầu phải đưa mẫu và các chỉ tiêu cho Chủ nhiệm dự án duyệt và mẫu cũng như các chỉ tiêu phải lưu trữ tại nơi làm việc của Chủ đầu tư ở công trường. Chỉ tiêu kỹ thuật   (tính năng ) cần được in thành văn bản như là chứng chỉ  xuất xưởng của nhà cung ứng và thường yêu cầu là bản in chính thức của nhà cung ứng . Khi dùng bản sao thì đại diện nhà cung ứng phải ký xác nhận và có dấu đóng xác nhận màu đỏ và có sự chấp thuận của Chủ đầu tư bằng văn bản. Mọi sự thay đổi trong quá trình thi công cần được Chủ đầu tư duyệt lại trên cơ sở xem xét của tư vấn bảo đảm chất lượng nghiên cứu đề xuất đồng ý. Nhà cung ứng và nhà thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự tương thích của hàng hoá mà mình cung cấp với các chỉ tiêu yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và sự phù hợp của sản phẩm này.

    Cán bộ tư vấn đảm bảo chất lượng là người có trách nhiệm duy nhất giúp Chủ nhiệm dự án kết luận rằng sản phẩm do nhà thầu cung ứng là phù hợp với các chỉ tiêu chất lượng của công trình . Cán bộ tư vấn giám sát bảo đảm chất lượng được Chủ đầu tư uỷ nhiệm cho nhiệm vụ đảm bảo chất lượng công trình và thay mặt Chủ đầu tư trong việc đề xuất chấp nhận này .

    1.3.2. Kiểm tra của tư vấn kỹ thuật chủ yếu bằng mắt và dụng cụ đơn giản có ngay tại hiện trường :

    Một phương pháp luận hiện đại là mỗi công tác được tiến hành thì ứng với nó có một ( hay nhiều ) phương pháp kiểm tra tương ứng. Nhà thầu tiến hành thực hiện một công tác thì yêu cầu giải trình đồng thời là dùng phương pháp nào để biết được chỉ tiêu chất lượng đạt bao nhiêu và dùng dụng cụ hay phương tiện gì cho biết chỉ tiêu ấy . Biện pháp thi công cũng như biện pháp kiểm tra chất lượng ấy được tư vấn trình Chủ nhiệm dự án duyệt trước khi thi công . Quá trình thi công , kỹ sư của nhà thầu phải kiểm tra chất lượng của sản phẩm mà công nhân làm ra . Vậy trên công trường phải có các dụng cụ kiểm tra để biết các chỉ tiêu đã thực hiện. Thí dụ : người cung cấp bê tông hoặc vữa  thương phẩm phải chịu trách nhiệm kiểm tra cường độ chịu nén mẫu khi mẫu đạt 7 ngày tuổi . Nếu kết quả bình thường thì nhà thầu kiểm tra nén mẫu 28 ngày . Nếu kết quả của 7 ngày có nghi vấn thì nhà thầu phải thử cường độ nén ở 14 ngày và 28 ngày để xác định chất lượng bê tông . Nếu ba loại mẫu 7 , 14 , 28 có kết quả gây ra nghi vấn thì tư vấn kiểm tra yêu cầu làm các thí nghiệm bổ sung để khẳng định chất lượng cuối cùng. Khi thi công cọc nhồi, nhất thiết tại nơi làm việc phải có tỷ trọng kế để biết dung trọng của bentonite , phải có phễu March và đồng hồ bấm giây để kiểm tra độ nhớt của dung dịch khoan , phải có ống nghiệm để đo tốc độ phân tách nước của dung dịch . . .

    Nói chung thì tư vấn đảm bảo chất lượng phải chứng kiến quá trình thi công và quá trình kiểm tra của người thi công và nhận định qua hiểu biết của mình thông qua quan sát bằng mắt với sản phẩm làm ra . Khi nào qui trình bắt buộc hay có nghi ngờ thì tư vấn yêu cầu nhà thầu thuê phòng thí nghiệm kiểm tra và phòng thí nghiệm có nghĩa vụ báo số liệu đạt được qua kiểm tra cho tư vấn để tư vấn kết luận việc đạt hay không đạt yêu cầu chất lượng. Để tránh tranh chấp , tư vấn không nên trực tiếp kiểm tra mà chỉ nên chứng kiến sự kiểm tra của nhà thầu và tiếp nhận số liệu để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm . Khi có nghi ngờ , tư vấn sẽ chỉ định người kiểm tra và nhà thầu phải thực hiện yêu cầu này .

    1.3.3. Kiểm tra bằng dụng cụ tại chỗ :

    Trong quá trình thi công , cán bộ , kỹ sư của nhà thầu phải thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm của công nhân làm ra sau mỗi công đoạn hay giữa công đoạn khi thấy cần thiết . Những lần kiểm tra này cần có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng. Mọi việc kiểm tra và thi công không có sự báo trước và yêu cầu tư vấn đảm bảo chất lượng chứng kiến , người tư vấn có quyền từ chối việc thanh toán khối lượng đã hoàn thành này . Kiểm tra kích thước công trình thường dùng các loại thước như thước tầm , thước cuộn 5 mét và thước cuộn dài hơn . Kiểm tra độ cao , độ thẳng đứng thường sử dụng máy đo đạc như máy thuỷ bình , máy kinh vĩ .

    Ngoài ra , trên công trường còn nên có súng bật nảy để kiểm tra sơ bộ cường độ bê tông .  Những dụng cụ như quả dọi chuẩn , dọi laze , ống nghiệm , tỷ trọng kế , cân tiểu ly , lò xấy , viên bi thép , . . . cần được trang bị . Nói chung trên công trường phải có đầy đủ các dụng cụ kiểm tra các việc thông thường .

    Những dụng cụ kiểm tra trên công trường phải được kiểm chuẩn theo đúng định kỳ . Việc kiểm chuẩn định kỳ là cách làm tiên tiến để tránh những sai số và nghi ngờ xảy ra qua quá trình đánh giá chất lượng.

    Trong việc kiểm tra thì nội bộ nhà thầu kiểm tra là chính và tư vấn bảo đảm chất lượng chỉ chứng kiến những phép kiểm tra của nhà thầu . Khi nào nghi ngờ kết quả kiểm tra thì nhà thầu có quyền yêu cầu nhà thầu thuê đơn vị kiểm tra khác . Khi thật cần thiết , tư vấn bảo đảm chất lượng có quyền chỉ định đơn vị kiểm tra và nhà thầu phải đáp ứng yêu cầu này .

    1.3.4.  Kiểm tra nhờ các phòng thí nghiệm :

    Việc thuê các phòng thí nghiệm để tiến hành kiểm tra một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trên công trường được thực hiện theo qui định của tiêu chuẩn kỹ thuật và khi tại công trường có sự không nhất trí về sự đánh giá chỉ tiêu chất lượng mà bản thân nhà thầu tiến hành .

    Nói chung việc lựa chọn đơn vị thí nghiệm , nhà thầu chỉ cần đảm bảo rằng đơn vị thí nghiệm ấy có tư cách pháp nhân để tiến hành thử các chỉ tiêu cụ thể được chỉ định. Còn khi nghi ngờ hay cần đảm bảo độ tin cậy cần thiết thì tư vấn đảm bảo chất lượng dành quyền chỉ định đơn vị thí nghiệm .

    Nhà thầu là bên đặt ra các yêu cầu thí nghiệm và những yêu cầu này phải được Chủ nhiệm dự án dựa vào tham mưu của tư vấn đảm bảo chất lượng kiểm tra và đề nghị thông qua bằng văn bản . Đơn vị thí nghiệm phải đảm bảo tính bí mật của các số liệu thí nghiệm và người công bố chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm làm ra phải là chủ nhiệm dự án qua tham mưu của tư vấn đảm bảo chất lượng .

    Cần lưu ý về tư cách pháp nhân của đơn vị thí nghiệm và tính hợp pháp của công cụ thí nghiệm . Để tránh sự cung cấp số liệu sai lệch do dụng cụ thí nghiệm chưa được kiểm chuẩn , yêu cầu mọi công cụ thí nghiệm sử dụng phải nằm trong phạm vi cho phép của văn bản xác nhận đã kiểm chuẩn .

    Đơn vị thí nghiệm chỉ có nhiệm vụ cung cấp số liệu của các chỉ tiêu được yêu cầu kiểm định còn việc những chỉ tiêu ấy có đạt yêu cầu hay có phù hợp với chất lượng sản phẩm yêu cầu phải do tư vấn đảm bảo chất lượng phát biểu và ghi thành văn bản trong tờ nghiệm thu khối lượng và chất lượng hoàn thành.

    1.3.5. Kết luận và lập hồ sơ chất lượng

    (i) Nhiệm vụ của tư vấn đảm bảo chất lượng là phải kết luận từng công tác , từng kết cấu , từng bộ phận hoàn thành được thực hiện là có chất lượng phù hợp với yêu cầu hay chưa phù hợp với yêu cầu .

    Đính kèm với văn bản kết luận cuối cùng về chất lượng sản phẩm cho từng kết cấu , từng tầng nhà , từng hạng mục là các văn bản xác nhận từng chi tiết , từng vật liệu cấu thành sản phẩm và hồ sơ kiểm tra chất lượng các quá trình thi công. Lâu nay các văn bản xác nhận chất lượng vật liệu , chất lượng thi công ghi rất chung chung . Cần lưu ý rằng mỗi bản xác nhận phải có địa chỉ kết cấu sử dụng , không thể ghi chất lượng đảm bảo chung chung.

    Tất cả những hồ sơ này đóng thành tập theo trình tự thi công để khi tra cứu thuận tiện.

    (ii) Đi đôi với các văn bản nghiệm thu , văn bản chấp nhận chất lượng kết cấu là nhật ký thi công . Nhật ký thi công ghi chép những dữ kiện cơ bản xảy ra trong từng ngày như thời tiết , diễn biến công tác ở từng vị trí, nhận xét qua sự chứng kiến công tác về tính hình chất lượng công trình.

    Ý  kiến của những người liên quan đến công tác thi công khi họ chứng kiến việc thi công , những ý kiến đề nghị , đề xuất qua quá trình thi công và ý kiến giải quyết của tư vấn đảm bảo chất lượng và ý kiến của giám sát của nhà thầu . . .

    (iii) Bản vẽ hoàn công cho từng kết cấu và bộ phận công trình được lập theo đúng qui định.

    Tất cả những hồ sơ này dùng làm cơ sở cho việc thanh toán khối lượng hoàn thành và cơ sở để lập biên bản tổng nghiệm thu , bàn giao công trình cho sử dụng.

    1.3.6. Phối hợp trình tự thi công các công tác hoàn thiện:

    Công tác hoàn thiện là công tác cuối cùng của một công đoạn, một khu vực thi công của ngôi nhà nên trình tự thi công công tác hoàn thiện cần cân nhắc, tính toán sao cho quá trình thi công toàn nhà, không còn bất kỳ công tác nào khác gây ra sự hư hỏng nơi đã được hoàn thiện. Quá trình thực hiện các công tác thi công thường đan xen nên xảy ra hiện tượng việc sau làm hư hỏng hoặc cản trở lẫn nhau nên người tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư là người phải tổ chức phối hợp các thành viên tham gia thi công cho nhịp nhàng, ăn ý, không để đục đẽo, làm ảnh hưởng công việc của nhau trong những đơn vị phải  thi công trên một mặt bằng. Muốn đạt được sự ăn ý, nhịp nhàng trong quá trình thi công hoàn thiện, người tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư phải đưa ra phương án phối hợp trong tiến độ phối hợp ( master schedule ) và bàn bạc với các bên hữu quan để cùng thực hiện, tránh kéo dài thời gian thi công, lãng phí công đục đẽo cũng như làm đi, làm lại do sự thiếu phối hợp gây ra.

    Một số qui trình khá kinh điển có thể tham khảo như sau:

    • Nhà có số tầng dưới 6 , thi công phần thô nên tiến hành từ tầng dưới lên tầng trên mà thi công hoàn thiện lại nên làm từ tầng trên xuống thấp với lý do là khi đã hoàn thiện thì không phải đi qua lại nơi đã làm hoàn thiện rồi.
    • Đối với nhà nhiều tầng thì trình tự sẽ được cân nhắc cẩn trọng hơn, có thể phân một số tầng, có thể là ba hay bốn tầng thành một phân đoạn để thi công hoàn thiện. Có thể tiến hành hoàn thiện từ dưới lên vì thi công nhà cao tầng, việc di chuyển cao thường dùng thang máy ngoài trời, không phải thường xuyên qua lại các tầng từ dưới lên.
    • Cần kiểm tra các điều kiện để bắt đầu tiến hành được công tác hoàn thiện. Sự nóng vội hay sự thiếu thận trọng là nguyên nhân gây ra lãng phí trong quá trình phối hợp trình tự thi công hoàn thiện. Các khâu chuẩn bị cho công tác hoàn thiện như vạch tim, trục, vạch dấu cao độ phải tiến hành xong, việc tạo độ phẳng của các lớp nền cho trát, bả, láng, lát, ốp cũng như chuẩn bị cho mặt để quét vôi, lắp kính, sơn phủ phải được kiểm tra trước khi cho phép tiến hành hoàn thiện.
    • Trên một mặt bằng thi công chỉ được tiến hành một công tác hoàn thiện, tránh chồng chéo công việc lên nhau gây lộn xộn và mất an toàn lao động. Theo phương thẳng đứng không tiến hành nhiều công tác hoàn thiện, tránh tai nạn do người thi công bên trên gây ra cho người thi công dưới thấp .
    • Thi công hoàn thiện với những việc phát toả ra hơi khí khó chịu như mùi sơn , mùi các dung môi của sơn, của nhựa , hơi cacbua hydro nồng độ vượt qui định, công nhân phải được trang bị khẩu trang, đôi khi cần thiết , công nhân cần được trang bị mặt nạ phòng độc có bộ phận lọc khí.
    • Quá trình thi công có hiệu ứng toả nhiệt hay thu nhiệt làm cho môi trường lao động có nhiệt độ không thích nghi cho người lao động, công nhân cần được trang bị quần áo thích hợp với điều kiện lao động.

    Nếu cần thiết đảm bảo môi trường lao động thích hợp, phải tổ chức thông gió, điều hoà không khí.

    II. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác trát, bả và láng :

    2.1 Khái niệm :

    (i) Thuật ngữ :

    Lớp trát, lớp bả, lớp láng bao phủ bên ngoài kết cấu, bảo vệ cho kết cấu nhằm chống các tác động của sự va đập cơ học, sự ăn mòn hoá học và sinh học, làm chậm tác hại của nhiệt độ cao do ngọn lửa  cháy  đồng thời tạo ra vẻ đẹp  cho công trình.

    Lớp trát là lớp phủ kết cấu nằm trên độ cao nền nhà hoặc nền buồng như lớp trát tường, trát cột, trát dầm, trát trần nhà.

    Trát có bề mặt phẳng, nhưng cũng có bề mặt trên đó gắn những gờ chỉ theo mỹ quan tạo ra phân vị khi nhìn. Có nhiều mặt trát trên đó gắn  những đường gờ, đường viền hoặc hoa văn hoặc hình phù điêu, nhất là các lớp trát trần của các gian buồng.

    Lớp bả là lớp phủ bên ngoài lớp trát hoặc ngay chính kết cấu cần bảo vệ và có độ dày nhỏ hơn chiều dày lớp trát khá nhiều.

    Lớp láng là lớp phủ nằm trên mặt phẳng nằm ngang, đó chính là lớp mặt trên của kết cấu nền nhà, nền lối đi lại. Lớp láng thường nằm ở chân của tư thế đứng của người ta.

    Trát, bả, láng là các công tác được thi công theo quá trình ướt . Sau khi thi công cần có thời gian để vật liệu đóng rắn , đạt độ cứng và sự ổn định theo yêu cầu.

    Tuỳ thuộc vào vật liệu tạo nên lớp trát, bả, láng và biện pháp thi công mà những lớp này có tên gọi:

    Lớp trát vữa vôi, trát vữa xi măng cát, trát thạch cao.

    Lớp trát granito còn gọi là trát đá mài, trát đá rửa hay còn gọi là trát lộ đá, trát granitine còn gọi là trát đá mài hạt nhỏ mịn, trát đá băm.

    Bả lớp vữa hạt mịn.

    Láng nền nhà, láng lối đi, láng lòng rãnh . . .

    Tuỳ thuộc vào vị trí và hình dạng của lớp trát mà lớp trát có tên : trát tường, trát trần, trát phào, trát gờ chỉ.

    • Các tiêu chuẩn liên quan đến công tác hoàn thiện :

    TCVN 1450 : 1986 “Gạch rỗng đất sét nung”

    TCVN 1451 : 1986 “Gạch đặc đất sét nung”

    TCVN 6065 : 1995 “Gạch xi măng lát nền”

    TCVN 6074 : 1995 “Gạch lát granito”

    TCVN 6414 : 1998 “Gạch gốm ốp lát – Yêu cầu kỹ thuật”

    TCVN 6476 : 1999 “Gạch bê tông tự chèn”

    TCXD 85 : 1981 “Gạch lát lá dừa”

    TCXD 90 : 1981 “Gạch lát đất sét nung”

    TCVN 4340 : 1994 “Ván sàn bằng gỗ”

    TCVN 4314 : 1986 “Vữa xây dựng. Yêu cầu kỹ thuật”

    (ii) Vật liệu làm lớp trát:

    Vật liệu chứa trong vữa dùng để trát có :

    Vữa vôi, cát : trong thành phần vữa chỉ có cát và vôi

    Vữa tam hợp : có cát , vôi, xi măng

    Vữa xi măng cát: có cát và xi măng

    Vữa thạch cao có thạch cao, bột đá hoặc chỉ đơn thuần thạch cao.

    Vữa để bả : xi măng trắng, bột đá hạt mịn và chất tạo màu

    Vữa granito, vữa trát đá rửa, vữa trát đá băm, vữa trát granitine : xi măng trắng, bột đá, đá hạt và chất tạo màu.

    Vữa trát chống phóng xạ : xi măng, bột ôxyt bôric và cát thạch anh.

    Vữa trát chịu lửa : xi măng, bột chịu lửa như bột samốt, bột ôxyt manhê . . .

    Vữa trát chịu axit : thuỷ tinh lỏng, chất đóng rắn cho thuỷ tinh lỏng, cát thạch anh.

    Vữa thường được chế tạo tại chỗ. Trên thị trường hiện nay đã có các loại vữa trộn sẵn, khi dùng chỉ thêm lượng nước theo hướng dẫn.

    Vật liệu để bả có tên gọi là mát tít nhưng nhiều người vẫn gọi chung là vữa để trát bả.

    2.2. Các yêu cầu kỹ thuật của lớp trát, bả, láng :

     

    Lớp che phủ trát, bả, láng phải gắn chặt với lớp nằm dưới được gọi là lớp nền. Từ yêu cầu này, lớp nền phải sạch sẽ để có thể bám dính với vật liệu dán lớp trát, bả , láng .

    Mặt hoàn thiện của các lớp che phủ kết cấu phải phẳng. Nếu có độ dốc thì mặt hoàn thiện phải đổ dốc đúng theo yêu cầu. Từ yêu cầu này mà lớp nền phải được chuẩn bị trước khi tiến hành công việc chính là trát, bả hay láng. Cần tạo cho lớp nền đủ phẳng hoặc đạt độ dốc theo yêu cầu bằng cách phụ thêm vữa xi măng cát có thành phần 1:3 vào những chỗ bị thấp , lõm hơn mặt nền chung. Khi những chỗ vữa phụ  thêm này đủ cứng mới thi công lớp hoàn thiện bên ngoài. Nếu lớp nền bị cao quá để lớp vữa hoặc keo gắn kết lớp hoàn thiện bị quá mỏng, phải tẩy bỏ chiều dày của lớp nền đảm bảo cho lớp vữa hoặc keo dán, dính kết đủ chiều dày quy định.

    Mặt hoàn thiện của lớp che phủ phải đạt các yêu cầu mỹ quan như mạch nối, gờ chỉ phải thẳng, đều đặn,  vuông vức hoặc được vê tròn theo yêu cầu thiết kế, có độ rộng khe mạch hoặc đường gờ như thiết kế quy định, màu sắc hài hoà đúng như bản vẽ hoàn thiện đã ghi.

    2.3. Kiểm tra khâu chuẩn bị thi công:

    • Chuẩn bị lớp nền :
    • Kiểm tra độ sạch sẽ của lớp nền. Phải lấy bỏ hết vật liệu hữu cơ như vải, gỗ, phoi bào, vết dầu, mỡ.
    • Mặt nền đủ nhám để đạt độ gắn kết tốt với các lớp trên.
    • Kiểm tra vật chôn ngầm như đường điện, ống nối, hộp nối, ổ vít, ống dẫn nước đặt chìm, …đặt dưới lớp hoàn thiện về vị trí , số lượng và chất lượng mà vật chôn ngầm sẽ bị lớp hoàn thiện trát, bả, láng che khuất khi thi công xong.
    • Kiểm tra các công việc đã làm trước có liên quan đến chất lượng lớp trát, bả, láng làm về sau thí dụ như việc chèn khuôn cửa, việc gắn bật, gắn bản lề chờ, lớp chống thấm, khe chèn chỗ nối của các đường ống sẽ nằm trong lớp che phủ này.
    • Kiểm tra độ cứng của lớp nền.
    • Kiểm tra cao trình , sự vạch mốc tim, trục cho lớp hoàn thiện.
    • Khi nền có chỗ lõm quá 20 mm phải bù lấp bằng vật liệu tương ứng trước khi thi công lớp phủ ngoài.
    • Khi sử dụng lớp gắn kết nền có xi măng, nên tưới ẩm mặt nền trước khi thi công để lớp nền không hút nhanh nước của lớp vữa có xi măng.
    • Ký biên bản cho phép tiến hành công tác hoàn thiện cho khu vực yêu cầu thi công.
    • Kiểm tra vật liệu sắp thi công:
    • Kiểm tra chất lượng các vật liệu thành phần như cát, vôi, đá hạt, bột đá và nước. Với các vật liệu hạt cần chú ý đến thành phần hạt, các tiêu chí thạch học. Nếu thi công ở vùng ven biển, cần chú ý đến độ nhiễm muối của cát. Với các loại chất dính kết, cần chú ý đến điều kiện bảo trì. Hạt cát trát không nên quá to, cũng không nên quá mịn. Kích thước hạt cát trát nên từ 0,3 ~ 1,2 mm. Cần có kết quả thí nghiệm chất lượng xi măng.
    • Kiểm tra mặt bằng nơi chế trộn vữa. Yêu cầu không được trộn vữa ngay trên mặt bằng sắp láng mà phải trộn tại vị trí bằng phẳng khác rồi chuyển vữa đền nơi thi công.
    • Nền để trộn vữa phải phẳng , không hút nước khi nhào trộn vữa. Nên được lát dưới là tấm tôn phẳng.
    • Vữa phải được trộn thật đều.Trộn các vật liệu khô trước, khi thật đều mới cho nước để trộn. Tại nhiều thành phố lớn hiện nay đang bán loại vữa đã trộn khô và đóng bao. Các bao vữa trộn khô phải chứa trong vỏ bao chống ẩm giống như bao xi măng, phải được bảo quản theo chế độ chống ẩm . Thời hạn sử dụng trên bao còn có giá trị. Lưu ý là xi măng giảm chất lượng theo thời gian và điều kiện lưu giữ .
    • Vật liệu sử dụng phải phù hợp với thiết kế và được chủ đầu tư thông qua trước khi thi công. Mẫu của vật liệu sử dụng vào công trình phải được lưu giữ tại phòng kỹ thuật thi công của nhà thầu. Nếu là vật liệu có màu phải có mẫu màu được tạo khi khô và khi nền chứa các độ ẩm khác nhau để khi cần thiết, có thể đối chứng với vật liệu tại hiện trường vào bất kỳ thời gian nào.
    • Nước dùng cho thi công phải sạch, không nhiễm mặn. Nhiều nơi tại vùng ven biển nước ta, nếu nước thi công bị nhiễm mặn , không được dùng.
    • Cần có phương tiện kiểm tra chất lượng vật liệu và chất lượng thi công để tại phòng kỹ thuật thi công của nhà thầu . Việc kiểm tra vật liệu được tiến hành tại chỗ khi có nghi ngờ về chất lượng. Nếu nhà thầu không có phòng thí nghiệm nhỏ bên cạnh phòng kỹ thuật thi công thì phải có những dụng cụ kiểm tra giản đơn để tại phòng kỹ thuật. Không có dụng cụ phục vụ công tác kiểm tra vật liệu và thi công phổ biến, không được bắt đầu công tác thi công.

    2.4. Kiểm tra quá trình thi công:

    Người công nhân phải thường xuyên kiểm tra chất lượng công việc đã làm trong xuốt quá trình thi công. Phải tạo dựng cữ, mốc, dây lèo làm chuẩn mực cho công tác. Cần kiểm tra chính ngay cữ, mốc, dây lèo định kỳ không ít hơn vài ba lần trong một buổi thi công.

    Người tổ trưởng, đội trưởng, kỹ sư giám sát của nhà thầu phải thường xuyên theo dõi chất lượng thi công của công nhân dưới quyền và uốn chỉnh, rút kinh nghiệm thường xuyên về chất lượng trong quá trình thi công. Không để quá lâu mới kiểm tra hoặc để đến khi xong công tác mới kiểm tra. Nếu chất lượng sản phẩm, bán thành phẩm làm ra chưa đạt yêu cầu, phải phá bỏ và làm lại. Vật liệu đã dùng tại những nơi  phải phá do công tác chưa đạt yêu cầu không được dùng lại. Những vật liệu này phải dọn sạch sẽ ngay và chuyển khỏi khu vực thi công.

    Công nhân tiến hành từng công tác trên từng công đoạn phải được phổ biến các yêu cầu kỹ thuật cần tuân thủ, qui trình thi công và kiểm tra chất lượng trong quá trình thi công cũng như khi hoàn thành.

    Bản thân người công nhân thi công phải kiểm tra chất lượng lớp nền trát, bả, láng về các yêu cầu độ phẳng, độ cứng và độ bám dính. Với mặt nhẵn phải có giải pháp tạo nhám và làm nhám trước khi trát, láng, bả. Khi cần thiết, phải trát, láng thử để kiểm tra độ bám của vữa lên mặt trát, bả, láng.

    Tại những vị trí tiếp giáp giữa hai kết cấu nền cho trát, bả, láng bằng vật liệu khác nhau cần đặt một băng lưới thép nối khe mạch nền trong lớp vữa để tránh vết nứt khi vữa đã khô và nền biến dạng do sự hấp phụ nhiệt khác nhau của nền. Sợi tạo lưới này thường là 1 mm, đan mắt lưới không quá 40~50 mm. Bề rộng băng lưới này phủ về mỗi bên của khe là 150~200 mm.

    Nên dùng loại lưới mắt cáo dùng phổ biến bán ở thị trường để làm rào ngăn trong nơi nuôi gia cầm, nuôi chim cảnh.

    Lớp vữa trát, láng thi công trong một lần không nên dày quá 12 mm. Nếu cần trát hay láng lớp vữa trên 12 mm cần chia việc thi công thành hai hay nhiều lớp mà mỗi lớp khoảng 8 ~ 12 mm. Từng lớp này đã se mặt , lấy mũi bay vạch thành các ô trám tạo bám dính cho lớp sau rồi mới trát tiếp cho đủ chiều dày qui định. Lý do là để lớp nằm dưới đã bay bớt nước, tránh cho lớp vữa bị co, gây hiện tượng nứt nẻ bề mặt lớp trát, láng và hiện tượng lớp vữa trát, láng bị bong khi khô dần.

    Trát vữa xi măng lớp trát mỗi lớp cần mỏng hơn 8 mm vì vữa xi măng mau bị khô hơn vữa có vôi nên co nhanh hơn. Trát vữa có đá như trát granito , mỗi lớp trát có thể đến 12 mm như thông thường.

    Trát vảy là biện pháp thi công trát, lấy tay cầm bay hắt vữa cho bám vào mặt tường. Lớp vữa vảy lên mặt tường cần đều và có độ dày theo qui định. Lớp vảy lót se mặt mới trát lớp mạng cán phẳng.

    Trát đá rửa hay lộ sỏi chú ý thời gian rửa không sớm hơn 4 giờ từ khi cho nước vào xi măng của vữa. Chổi rửa phải có lông mềm, mịn tránh làm bong hạt đá. Nếu trời ẩm và nhiệt độ không khí dưới 25oC, thời gian được rửa phải trên 5 giờ từ khi cho nước vào trộn vữa.

    Trát mài ( granito ) theo trình tự : trát lót bằng vữa xi măng cát tạo độ bám và độ phẳng theo yêu cầu. Trát lớp vữa có đá hạt, bột đá , xi măng và chất tạo màu. Khi trát phải miết mạnh bằng bàn xoa sắt và vỗ nhẹ cho lớp vữa dàn đều và bám vào mặt lớp nền. Nên làm cữ độ dày bằng các thanh nẹp có chiều dày theo qui định.

    Phải mài tối thiểu hai lần : lần mài thô và lần mài tinh. Mài thô sau khi trát mạng đựoc 24 giờ. Nếu chậm hơn 24 giờ sẽ khó mài vì xi măng đã quá cứng.

    Mài tinh tiến hành 5~6 ngày sau khi mài thô. Trước khi mài tinh phải lấy bột đá trộn xi măng trắng và chất tạo màu xoa đều mặt đã mài tinh để lấp những chỗ bị khuyết do động tác mài thô gây ra. Khi trộn vữa có hạt để làm lớp mạng nên bớt lại một số bột đá trộn xi măng và chất tạo màu dùng xoa mặt sau mài thô thì những nốt được lấp khuyết sau mài thô sẽ có màu sắc đồng đều với lớp trát chung.

    Trong khi mài thô cũng như mài tinh phải dùng nước sạch xối nhẹ lên mặt mài để rửa trôi bột đá do mài chỗ vừa mài thải ra.

    Sau khi mài tinh, đợi mặt trát khô , lấy miếng dạ hay nỉ xốp mài kỹ tạo độ bóng. Dùng xi không màu xoa xát để cho xi thấm sâu trong lớp ngoài, nhằm giữ bóng và chống nước xâm nhập, duy trì vẻ đẹp cho mặt trát.

    Trát rửa cần lưu ý chọn thời gian bắt đầu rửa thích hợp. Nên làm thí điểm để xác định thời gian bắt đầu rửa. Thông thường thời gian này là từ 2 giờ đến 4 giờ, tuỳ theo độ ẩm và nhiệt độ môi trường. Rửa muộn thì độ lộ đá kém, rửa sớm đá lại bị trôi.

    Lớp bả có chiều dày từ 1mm đến 3 mm. Vật liệu bả thường là loại vữa, mát tít có hạt nhỏ như xi măng, bột đá, không có cát. Vữa để bả dẻo nhưng không nhão. Dụng cụ để bả là dao bả có lưỡi rộng 8 ~ 12 mm. Dao bả nên làm bằng thép cứng có đàn tính cao hoặc làm bằng thép silic. Khi bả phải miết đủ mạnh để tạo độ bám và độ phẳng. Khi miết phải chọn chiều miết thích hợp và các vết miết theo cùng một chiều, tránh bị gợn. Miết đều tay trong lúc vữa còn dẻo. Khi vữa bị khô mà vẫn miết, mặt bả sẽ vết đen nhạt do dao bị mòn vạch nên.

    Các thao tác láng và lát cần dùng thước tầm cán và ướm độ phẳng thường xuyên. Khi xoa tạo độ phẳng và độ nhẵn cho mặt trát, mặt láng phải xoa nhẹ tay và đều . Mặt vữa đã quá khô phải dùng chổi mềm bổ sung nước để xoa. Xoa khi mặt vữa khô, cát bong ra gọi là mặt trát bị cháy, cần tránh.

    Láng trên mặt đường, trên diện dài cần ngắt lớp láng bằng các mạch co dãn nhiệt. Chiều rộng của mạch co dãn nhỏ nhất là 20 mm rộng nhất là 30 mm. Theo chiều dài lớp láng, cứ 4 mét ~ 5 mét lại chia thành khe co dãn. Nếu lớp láng phơi trực tiếp dưới mặt trời thì khoảng cách giữa khe co dãn nên ngắn lại, nhưng không ngắn quá 3 mét. Khi vữa láng đủ cứng, trong khe co dãn nên lấp đầy bằng bitum nấu chảy trộn sợi đay ngắn để nhồi lấp kín.

    Láng đánh màu là sử dụng xi măng nguyên chất rắc trên mặt láng rồi xoa tạo độ nhẵn mặt láng. Nên rắc xi măng nguyên chất khô lên mặt vữa láng khi mặt vữa còn ướt nhưng không sũng nước rồi dùng bay miết nhẹ. Mặt hoàn thiện của lớp trát khô quá dễ bị xước do bay quệt tạo nên, không đạt yêu cầu. Xoa mặt khi lớp xi măng trên mặt sũng nước , mặt hoàn thiện sẽ có vết bay, cũng không đạt yêu cầu. Tránh đánh màu khi mặt vữa đã cứng vì lớp màu sẽ bị bong. Việc kẻ vạch tạo ô trên mặt láng tiến hành ngay sau khi đánh màu.

    2.5. Nghiệm thu công tác trát, bả, láng:

    –  Mặt trát, bả, láng không được có vết nứt nhỏ do hiện tượng co ngót vữa sinh ra .

    –  Gõ nhẹ lên mặt trát, bả, láng không được có tiếng bộp chứng tỏ lớp vữa bị bong, không bám dính mặt nền. Chỗ bộp phải cậy bỏ.

    –  Mặt trát phải phẳng, nhẵn. Không có vết lồi, lõm cục bộ.

    –  Gờ chỉ, cạnh phải đều về chiều dày, thẳng hàng liền dãy, sắc nét.

    – Mặt láng phải đảm bảo độ dốc theo yêu cầu thiết kế. Nếu thiết kế không chỉ rõ thì độ dốc phải đổ ra lối thoát, để trường hợp có nước thì nước không chảy vào trong buồng hoặc gây đọng ứ .

    Cần dùng mắt thường kiểm tra tổng thể. Khi có nghi ngờ, dùng dụng cụ như thước tầm, dây căng, quả dọi, máy kinh vĩ, máy thuỷ bình để kiểm tra lại. Kiểm tra hướng dốc có thể dùng viên bi sắt.

    Độ lệch so với các yêu cầu theo bảng sau:

                     Bảng cho độ sai lệch được phép của mặt trát, bả, láng

                                          ( trích TCVN 5674 : 1992 )

    Tên mặt trát hay các    chi tiết Trị số sai lệch mặt trát ( mm )
    Trát đơn giản Trát kĩ Trát chất lượng cao
    Độ không bằng phẳng kiểm tra bằng thước dài 2 mét Số chỗ lồi lõm không quá 3, độ sâu vết lồi lõm < 5 Số chỗ lồi lõm không quá 2, độ sâu vết lồi lõm < 3 Số chỗ lồi lõm không quá 2, độ sâu vết lồi lõm < 2
    Độ sai lệch theo phương thẳng đứng của mặt tường và trần nhà < 15 suốt chiều dài hay chiều rộng phòng < 2 trên 1 mét dài chiều cao và chiều rộng và 10 mm trên toàn chiều cao và chiều rộng phòng < 1 chiều cao hay chiều dàI và < 5 trên suốt chiều cao hay chiều dài  phòng
    Đường nghiêng của đường gờ , mép tường cột < 10 trên suốt chiều cao kết cấu < 2 trên 1 mét chiều cao và 5 mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu < 1 trên 1 mét chiều cao và 3 mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu
    Độ sai lệch bán kính của các phòng lượn cong 10 7 5

    Theo yêu cầu của TCXDVN 303:2004 yêu cầu dung sai mặt láng là :

    Loại vật liệu láng Khe hở với thước 3m Dung sai cao độ Dung sai độ dốc
    Tất cả các vật liệu láng 3mm 1cm 0,3%

    III. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác đắp nổi :

    3.1. Khái niệm :

    Đắp nổi tạo cho mặt tường hay mặt trần những hình trang trí như dây nho, cành lá, hoa văn mỹ thuật, hình mặt trời, ngũ phúc , đám mây…

    Trong nghề điêu khắc gọi là tạc phù điêu.

    Công tác đắp nổi có thể làm tại chỗ nhờ những khuôn đúc hay cắt gọt tại chỗ nhưng phương pháp này chậm mà độ đều đặn không đảm bảo, ít được sử dụng. Những người thi công tại chỗ phải có trình độ tay nghề cao của người chuyên làm tượng và đắp phù điêu.

    Biện pháp hiện sử dụng nhiều là dùng các thanh hoặc tấm đắp nổi đúc sẵn bằng thạch cao, vữa xi măng rồi gắn lên mặt tường, mặt trần.

    3.2  Kiểm tra vật liệu dùng trong công tác đắp nổi :

    Sản phẩm và chi tiết để tạo hình đắp nổi được nhà sản xuất chế tạo và bán như sản phẩm hàng hoá. Hàng hoá giao đến công trường phải đúng hoa văn, đúng vật liệu sử dụng và có catalogues ghi rõ hình dạng các chi tiết, số lượng, các tính năng kỹ thuật, phụ kiện kèm theo và chỉ dẫn thi công.

    Những dạng thanh, tấm sản phẩm và chi tiết đắp nổi thường dùng vật liệu chính là vữa xi măng, thạch cao hoặc bột giấy nghiền. Loại chế tạo bằng vữa thạch cao hay bột giấy dùng trang trí bên trong nhà. Những nơi bị ướt khi mưa không dùng những loại này mà chỉ nên dùng thanh, tấm chế tạo từ tấm bằng vữa xi măng.

    Thanh, tấm đắp nổi chuyển đến nơi thi công phải ở trạng thái hoàn chỉnh, không cần gia công thêm.

    Sản phẩm và chi tiết chuyển đến công trường phải được bao gói cẩn thận, chống va đập khi vận chuyển, chống các tác động nước mưa, hoá chất và nhiệt độ làm hư hỏng.

    Nếu phải cất chứa, lưu giữ , phải bảo quản cẩn thận chống mọi nguyên nhân làm hư hỏng, mất mát.

    Vữa xi măng hay vữa thạch cao để gắn được chuẩn bị ở dạng vữa khô chứa trong bao gói chống ẩm  cũng như các phụ tùng gắn như đinh vít, bu lông, móc, vít nở , cần được nhà cung ứng sản phẩm giao cùng với sản phẩm cho đồng bộ. Tránh hết sức sự chế tạo tại chỗ do đơn vị thi công của nhà thầu tiến hành, vì như thế sẽ thiếu đồng bộ.

    Những thanh, tấm trang trí đắp nổi hư hỏng hay không đạt yêu cầu phải đưa khỏi nơi thi công.

    3.3  Kiểm tra công tác chuẩn bị và nền gắn tấm đắp nổi:

    Mặt tường, mặt trần gắn tấm đắp nổi phải thi công trát , bả xong và đã cứng.

    Vạch dấu vị trí sẽ gắn thanh, tấm bằng phấn hay bút chì màu để dễ nhận biết.

    Khoan lỗ bắt vít nở để gắn giữ thanh hoặc tấm. Số lượng và vị trí các vít gắn phải đủ giữ chắc chắn được thanh tấm do thiết kế chỉ định. Khi khoan bắt vít nở phải đặt thanh, tấm đúng vị trí để cùng khoan cho khớp lỗ đinh sau này.

    Khi đã khẳng định vị trí lắp thanh, tấm, chuẩn bị xong lỗ bắt vít nở, nồi chân vít vào lỗ khoan mới trộn vữa gắn.

    Thời gian sử dụng vữa gắn cần trước khi vữa bắt đầu đông cứng.

    Chuẩn bị tốt khâu đà giáo và dụng cụ, trang bị bảo hộ lao động để có thể thi công an toàn.

    3.4. Kiểm tra quá trình thi công:

    Cần ướm, khớp chính xác vị trí mới được gắn đinh giữ. Phải có người phụ giúp, nâng và giữ đúng vị trí trong khi người thợ chính gắn kết.

    Phải đảm bảo độ dày giữa hai đoạn nối bằng nhau, không tạo ra chênh lệch bề mặt.

    Khe nối phải thật khít, không để hình thành vết nối.

    Sử dụng vữa gắn cần trải cho lớp vữa đảm bảo chiều dày và gắn kết tốt.

    Khi thi công phải cẩn thận, không để vữa gắn làm bẩn mặt tường, mặt trần những chỗ không có thanh, tấm phủ kín.

    Lỗ đinh vít nở sau khi bắt đinh được che lấp bằng mát tít và gọt sửa cho không có vết để nhận biết được vị trí.

    Việc gắn thanh và tấm trang trí thường tiến hành ở vị trí cao nên hết sức chú ý đến các điều kiện an toàn lao động như kiểm tra độ chắc chắn của đà giáo, sàn đứng công tác, tránh rơi vật liệu và dụng cụ trên cao xuống dưới.

    Công nhân di chuyển phải chú ý, tránh bước hụt hoặc lùi ra ngoài sàn đứng.

    Công nhân phải buộc dây an toàn và đầu dây không buộc vào người phải cố định vào vị trí chắc chắn và thích hợp, sao cho công nhân được treo mà không bị va đập nếu xảy ra rơi.

    Không gian dưới phạm vi thi công đắp nổi không được có người làm việc hay đi lại.

    3.5 Nghiệm thu công tác đắp nổi:

    • Độ lệch vị trí không quá 1 mm so với vị trí thiết ké.
    • Sai lệch vị trí trục các chi tiết đứng riêng biệt không quá 10 mm.
    • Những chi tiết của một hình phải cùng nằm trên một mặt phẳng. Những hình cùng tạo nên mặt phẳng nhiều hình phải nằm trong cùng một mặt phẳng. Sai lệch độ cao giữa các hình trong một bộ nhiều hình không quá 0,5 mm.
    • Mạch ghép phải kín khít để không thể nhận biết được vị trí đã ghép.
    • Hoa văn đúng theo thiết kế.
    • Hình hoa văn không được sứt, mẻ, gãy. Thanh hoặc tấm bị sứt, mẻ, gãy phải thay thế. Không được gắn sửa bằng mát tít.
    • Việc tạo màu sau tiến hành bằng chổi sơn mềm hoặc phun màu. Màu sắc phải đúng thiết kế và đồng đều theo qui định.

    IV. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác lát, ốp :

     

    4.1. Khái niệm :

    (i) Thuật ngữ :

     

    Công tác lát là sự tạo ra lớp che phủ cho kết cấu trong mặt phẳng nằm ngang bằng gạch lát và tấm lát.

    Công tác ốp là sự tạo ra lớp che phủ cho kết cấu nằm trong mặt phẳng đứng  bằng gạch lát và tấm lát.

    Nếu lát sử dụng gạch lát và tấm lát thì không cần đề cập đến khái niệm trải phủ và dán nữa. Nếu lát sử dụng nghĩa hẹp chỉ nói về sự gắn các viên gạch lát để tạo thành lớp che phủ bề mặt kết cấu nằm ngang thì phải đưa thêm hai khái niệm là trải hoặc phủ và dán để dùng cho khi tạo ra lớp phủ bằng tấm lát.

    Phân biệt tấm lát hay tấm ốp khác với dạng viên vì tấm lát, tấm ốp có kích thước rộng dạng tấm hoặc có khi ở dạng cuộn như thảm cao su, thảm nhựa, thảm len, dạ.

    Các dạng lát, ốp :  gạch viên ,  sàn gỗ păckê, thanh , tấm gỗ mỏng , viên đá, các dạng tấm trải hữu cơ hoặc kim loại.

    4.2 Kiểm tra khâu chuẩn bị:

    (i)  Chuẩn bị lớp nền :

    Lớp nền cho công tác ốp được chuẩn bị như công tác trát, bả, láng đã nêu trên.

    Cần lưu tâm kiểm tra các chi tiết cần đặt dưới lớp lát , ốp, tránh phải đục, rỡ mặt lát khi đã lát, ốp xong.

    Kiểm tra độ vuông vức của phòng được lát bằng cách so sánh giữa độ dài hai đường chéo của phòng. Nếu phòng có kích thước bình hành hay hình thang, lựa chọn giải pháp khắc phục bằng cách giữ cho hai trục song song với cạnh tường vuông góc ở tâm phòng, thừa thiếu dồn vào mép.

    Công tác lát, ốp chỉ tiến hành khi mọi việc thuộc phần trát tường, trát trần, lắp cửa, sơn cửa, quét vôi đã xong.

    (ii) Kiểm tra vật liệu lát, ốp:

    • Gạch và tấm dùng lát, ốp phải theo đúng chủng loại, số lượng và chất lượng theo đúng các yêu cầu của bộ hồ sơ mời thầu và văn bản duyệt , chấp nhận cho sử dụng của chủ nhiệm dự án .
    • Vật liệu phải có catalogues giao kèm với hàng hoá. Trong catalogues phải có các tính năng kỹ thuật và hướng dẫn sử dụng.
    • Vật liệu phải được cất chứa theo đúng yêu cầu về độ cao chất hàng, độ chống thấm, chống nước, bao bì . Những hộp chứa gạch lát, gỗ lát hay bao ngoài cuộn thảm phải phù hợp với vật liệu chứa bên trong. Đặc biệt những bao chứa vữa khô, bột đá, cần bảo quản chống ẩm theo chế độ bảo quản xi măng.
    • Vật liệu không phù hợp, không được lưu giữ ở nơi thi công.
    • Quá trình vận chuyển từ kho ra nơi thi công cần hết sức cẩn thận, tránh va đập hoặc bị ướt.
    • Cần kiểm tra hoa văn và màu sắc các viên lát cho cả gian phòng hay khu vực lát ốp cho phù hợp trước khi tiến hành công tác.
    • Phần chuẩn bị vật liệu hồ, vữa giống như chuẩn bị cho công tác trát, láng, đã nói trên và cũng được tuân thủ nghiêm ngặt.
    • Các vật liệu nhựa, keo dán cần đựng trong những hộp, chai, lọ kín để không bị biến tính khi bảo quản. Lọ keo, nhựa hoặc có các chất bay hơi đã mở , sau khi lấy ra, phải đóng lại cho chặt trong quá trình sử dụng, tránh bị bay hơi, thay đổi chất lượng.
    • Những vật liệu dễ cháy như nhựa dán, xăng và các dung môi tẩy rửa như diluăng, axêtôn cũng như vật liệu thảm len, dạ , gỗ cần chú ý chống gần ngọn lửa ( nhất là khi hút thuốc lá, thuốc lào ) .

    4.3.  Các yêu cầu kỹ thuật của công tác lát, ốp:

    • Mặt lát, ốp phải phẳng. Kiểm tra bằng thước tầm 2 mét, khe hở giữa mặt lát và cạnh thước không quá 3 mm.
    • Mặt lát có thể ngang bằng thuỷ chuẩn nhưng khi thiết kế yêu cầu phải tạo độ dốc theo yêu cầu.
    • Vữa lót dưới viên gạch lát , ốp bằng vữa phải đầy kín mặt dưới của viên gạch.
    • Mạch lát phải theo đúng yêu cầu thiết kế về đường mạch, hình dáng , chiều rộng khe.
    • Sau khi lát, ốp, mạch giữa viên gạch phải được lấp đầy bằng xi măng nguyên chất trộn nước đủ dẻo thành dạng hồ.
    • Mạch dán các loại tấm phải theo đúng các yêu cầu của thiết kế. Nếu thiết kế không có yêu cầu cụ thể thì mạch dán thảm phải thật khít , không có gờ, không nổi cộm.
    • Mạch lát đá phải khít, màu sắc hai viên đá liền nhau hài hoà về vân đá cũng như màu sắc.
    • Hoa văn trong lát, ốp, phải đúng theo thiết kế về ghép hình kỷ hà hoặc màu sắc.
    • Mặt lát, ốp phải liên kết chặt với lớp nền. Phải tạo độ bám dính giữa nền và lớp lát, ốp. Lớp lát, ốp, không được bong, rộp.
    • Mặt lát , ốp phải sạch sẽ, không bị dây bẩn xi măng hay các chất làm bẩn khác.
    • Mặt lát, ốp phải được bảo dưỡng , bảo quản ngay sau khi thi công xong để đạt chất lượng yêu cầu.

    4.4  Kiểm tra trong quá trình thi công:

    Kiểm tra tình trạng mặt nền để lát, ốp. Cần tưới nước để mặt nền đủ ẩm với các lớp lát dùng vữa có xi măng, để nền không hút nhanh nước trong vữa lót.  Kiểm tra độ bằng phẳng của nền.

    Kiểm tra cao trình lớp nền và vạch cữ để kiểm tra cao trình hoàn chỉnh. Cữ này vạch trên cao trình hoàn chỉnh khoảng 20 cm để khi lát , cữ, mốc này không bị che khuất.

    Với nền lát thảm, lát tấm lớn, cần tạo nhám bằng cách băm những lỗ nhỏ.

    Làm sạch bằng cách quét bằng chổi quét mềm. Mặt lát các loại tấm cần khô ráo, sạch sẽ giúp cho nhựa dán bám chắc.

    Mặt nền không được dây dầu mỡ, cát, bụi.

    Không được trộn vữa ngay trên nền sắp lát.

    Xếp thử gạch để chọn hoa văn và áng chừng cách lát hoa văn, nhất là khi có đường hoa văn viền.

    Lát trước những viên góc đường viền làm cữ khống chế chiều rộng của  mạch. Không lát những viên cữ, mạch sẽ đuổi nhau và sẽ có hiện tượng nhai mạch ( mạch của hai hàng lát liền nhau không thẳng hàng).

    Tạo độ bắt dính cho lớp ốp cũng bằng cách băm mặt nền hình thành những lỗ nhỏ lấm tấm do đánh búa. Khi ốp trên nền gỗ phải đóng đinh bằng đồng tạo độ bám cho vữa. Đinh cách nhau không quá 50 mm. Nếu cần thiết, dùng dây đồng đường kính 1,5 mm buộc nối các dầu đinh để giữ vữa. Chiều cao đầu đinh bằng 2/3 chiều dày lớp vữa ốp.

    Khi ốp đá cần xếp các viên đá để lựa chọn cho khớp màu sắc, khe mạch. Lát những viên đá có kích thước lớn và nặng trên 5 kg, viên đá cần gắn vào mặt nền bằng móc kim loại hoặc hệ đinh vít, bulông. Khoảng trống giữa mặt sau viên lát và mặt nền phải nhồi đầy vữa xi măng cát. Mạch cũng phải nhồi lấp kín bằng hồ xi măng nguyên chất.

    Chiều dày vữa lót dưới viên gạch lát, ốp không quá mỏng nhưng cũng không được quá dày. Chiều dày vữa lát nên là 15 mm, chiều dày lớp ốp nên là 10 mm. Mạch lát và ốp phải nhồi đầy hồ xi măng nguyên chất và khi nhồi xong, phải dùng vải mềm lau sạch ngay mặt gạch, tránh để mặt gạch bị bẩn, có màu như mốc do xi măng bám tạo nên.

    Lát tấm có kích thước lớn, chú ý để lớp keo đủ dính theo yêu cầu của thiết kế và đáp ứng các yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu.

    Phải bảo quản bề mặt vừa lát , ốp xong cho đến khi lấp kín mạch bằng vữa xi măng. Không va chạm mạnh lên mặt lát, ốp trong những ngày vừa hoàn thành công tác lát ốp để xi măng đóng rắn , đủ sức chịu lực.

    4.5 Nghiệm thu công tác lát, ốp:

    Tổng thể nhìn bằng mắt không phát hiện được khuyết tật về hình dạng, khe, mạch, hoa văn, màu sắc.

    Mạch gạch đầy vữa nhưng không để ố bề mặt.

    Gõ nhẹ bằng búa nhỏ 100 gam lên mặt gạch, tiếng kêu phải chắc, không có tiếng bộp, rỗng bên dưới viên gạch. Nếu bị rỗng, phải cậy viên lát lên và lát viên khác thay thế.

    Mặt lát có độ dốc, kiểm tra độ dốc bằng cách đặt ngang thước tầm theo ni vô và đo độ cao chênh giữa mặt lát và cạnh dưới của thước tầm.

    Mặt lát không có độ dốc, để viên bi sắt giữa viên gạch, viên bi không được lăn.

    Ôp thước tầm lên mặt lát, khe giữa mặt lát và cạnh thước tầm phải đáp ứng bảng qui định về chất lượng trong tiêu chuẩn TCVN 5674 – 1992.

                       Sai số cho phép của mặt phẳng ốp ( Trích TCVN 5674-1992)

     

     

     

    Tên bề mặt ốp và phạm vi tính sai số

         Mặt ốp ngoài công trình      Mặt ốp trong công trình
    Vật liệu đá

     

    tự nhiên

     

     

    Vật liệu gốm sứ

    Vật liệu đá

     

    tự nhiên

     

     

    Vật liệu gốm sứ

     

     

    Tấm nhựa tổng hợp

     

     

    Phẳng nhẵn

    Lượn cong cục bộ Mảng hình khối  

     

    Phẳng nhẵn

    Lượn cong cục bộ
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
    Sai lệch mặt ốp theo phương thẳng đứng trên 1 mét 2 3   2 2 3 1,5 1
    Sai lệch mặt ốp trên 1 tầng nhà 5 10   5 4 8 4 1
    Sai lệch vị trí  mặt ốp theo phương ngang và phương thẳng đứng 1,5 3 3 3 1,5 3 1,5 2
    Sai lệch vị trí  mặt ốp theo phương ngang và phương thẳng đứng trên suốt chiều dài của mạch ốp trong giới hạn phân đoạn kiến trúc 3 5 10 4 3 5 3  
    Độ không trùng khít của mạch nối ghép kiến trúc và chi tiết trang trí 0,5 1 2 1 0,5 0,5 0,5  
    Độ không bằng phẳng theo hai phương 2 4   3 2 4 2  
    Độ dày mạch ốp 1,5±0,5 33±1 10±2 25±0,5 1,5±0,5 2,5±0,5 2±0,5  

    Theo quy định của Tiêu chuẩn hoàn thiện TCXDVN 303: 2004 , yêu cầu về dung sai mặt lát như sau :

    Loại vật liệu lát Khe hở với thước 3m Dung sai cao độ Dung sai độ dốc
    Gạch xây đất sét nung 5mm 2cm 0,5%
    Gạch lát đất sét nung 4mm 2cm 0,5%
    Đá tự nhiên không mài mặt 3mm 2cm 0,5%
    Gạch lát xi măng, granito, ceramic, granite, đá nhân tạo 3mm 1cm 0,3%
    Các loại tấm lát định hình 3mm 1cm 0,3%

    Chênh lệch độ cao giữa hai mép vật liệu lát

    Loại vật liệu lát Chênh lệch độ cao
    Gạch xây đất sét nung 3mm
    Gạch lát đất sét nung 3mm
    Đá tự nhiên không mài mặt 3mm
    Gạch lát xi măng, granito, ceramic, granite, đá nhân tạo 0,5mm
    Các loại tấm lát định hình 0,5mm

    V.      Giám sát thi công và nghiệm thu công tác lắp kính:

    5.1. Kiểm tra công tác chuẩn bị lắp kính:

    • Kiểm tra công tác chuẩn bị :

    Khung cửa sổ, cửa đi và các vị trí gắn kính khác phải sơn lót xong và lớp sơn này phải đã khô.

    Mọi khuyết tật của khung đỡ kính phải khắc phục xong như là đã trám bả mát tít những lỗ mọt gỗ, vết nứt nhỏ, những lồi lõm cục bộ đã sử lý xong.

    Đường xoi rãnh để lắp kính cần đánh cho sạch sơn và đã sấy khô.

    Những chi tiết cần gắn, lắp vào khung đỡ kính cần thi công xong như bản lề, phụ tùng cửa như clê-môn, ke, chốt phải đã gắn xong.

    • Kiểm tra vật liệu:

    Loại kính sử dụng, các phụ kiện như nẹp kính, đinh nhỏ, mát tít phải phù hợp với các yêu cầu trong bộ hồ sơ mời thầu hoặc nếu hồ sơ mời thầu không qui định thì bên thiết kế phải qui định. Cần đối chiếu với catalogues giao hàng để kiểm tra vật liệu cho công tác lắp kính về số lượng, chất lượng.

    Những chi tiết bằng thép phải sơn chống rỉ. Những chi tiết bắt vào khung lắp kính như bản lề, chốt, then không được tỳ lên kính và lên kết cấu khung lắp kính.

    Mát tít phải đủ dẻo. Độ dẻo của mát tít được kiểm tra bằng cách miết một lớp mát tít dày 0,5 mm dàn trên miếng sắt tây, miếng mát tít được liền và phải dài trên 20 mm.  Các sợi thanh nẹp kính phải nguyên lành, không bị sứt , rách.

    Mát tít bị khô, có thể cho thêm dầu để trộn, đánh cho đều và dẻo lại. Loại dầu sử dụng cần phù hợp với mát tít. Khi cần thiết phải kiểm tra trong phòng thí nghiệm.

    Mát tít phải bao gói cẩn thận trong gói kín, chống bốc hơi, chống các chất bên ngoài xâm nhập.

    Kính phải được cắt ở nơi gia công chuyên môn. Khi đã đưa đến công trường để lắp phải đúng kích thước theo yêu cầu đặt hàng hoặc theo chỉ định của thiết kế.

    Kèm với kính phải có đầy đủ nẹp, đệm và đinh định vị, mát tít đầy đủ.

    Có thể bơm nhựa dẻo silicon vào khe giữa lớp kính với khuôn cửa để ngăn không cho nước mưa chảy từ bên ngoài vào trong nhà.

    Dụng cụ bơm silicon như sau:

    Ống bơm silicon đầu có vòi để bơm vào khe kẽ giữa tấm kính và khuôn cửa.

    5.2.  Kiểm tra quá trình lắp đặt kính:

    Khung cửa gắn kính bằng gỗ, kính được định vị bằng ghim. Khoảng cách giữa hai đinh ghim cách nhau không quá 300 mm. Trên mỗi cạnh của tấm kính phải ghim ít nhất 2 đinh. Nếu gắn kính trên khung gỗ nhưng dùng nẹp thép, giữa kính và nẹp phải có nẹp đệm bằng cao su và dùng đinh định vị với góc xiên 45o so với mặt phẳng kính.

    Khung kim loại như khung thép hay khung hợp kim nhôm, kính được định vị bằng nẹp đệm cao su có tạo cứng bằng nẹp thép mạ kẽm .   Liên kết giữa nẹp và khung nhờ bắt định vít vào lỗ đã gia công trước.

    Khung bằng nhựa dẻo sử dụng nẹp cũng bằng chất dẻo và liên kết nhờ vít. Cần gắn mát tít ở hai phía của tấm kính để làm kín khe kẽ.

    Khung gắn kính bằng bê tông cốt thép thì kính được định vị nhờ các chi tiết gờ thép chôn ngàm trong bê tông và nẹp thép bắt liền với nẹp đệm cao su.

    Không lắp hai miếng kính ghép nhau trong cùng một khuôn khung. Khi thiết kế cho phép mới được lắp hai miếng kính trong cùng khung của khuôn nhưng hai miếng kính phải chập chồng lên nhau, đoạn chấp không ít hơn 20 mm.

    Khi lắp kính phải đảm bảo nước hắt từ bên ngoài vào nhà phải trôi đi, không chảy ngược vào trong nhà.

    Các chi tiết kim loại sau khi gắn cố định phải được sơn phủ bảo vệ, chống phong hoá.

    Khung kính phơi ra môi trường nhiệt độ thay đổi nhiều trong ngày phải gắn nẹp sao để miếng kính có thể co và dãn tự do mà không ảnh hưởng đến sự gắn kết giữa kính và khuôn.

    Cạnh , mép kính và góc tấm kính rất sắc, dễ va quệt làm rách da, rách quần áo. Ngay sau khi cắt một nhát kính, cần dùng đá mài vuốt cho cạnh mép kính không còn những nét sắc gây rách da, rách quần áo trong quá trình thi công.

    Tránh đè mạnh lên mặt kính làm vỡ kính và gây tai nạn.

    Không dùng tay trần, không đi găng vuốt trên mặt kính hay vuốt gờ, cạnh, mép tấm kính.

    Khi cần chỉnh đường cắt kính dùng kìm bóp vụ kính, chỗ bóp vụn phải dùng đá mài mài phẳng không để có nét sắc gây đứt tay, rách da hay quần áo.

    Công nhân phải mang kính bảo hộ mắt, găng tay, đội mũ và mặc quần áo bảo hộ, đi giày trong quá trình lắp kính.

    5.3. Nghiệm thu công tác lắp kính:

     

    Nhìn bằng mắt quanh mép ô kính để có thể nhận biết được kích thước rãnh lắp kính đã thi công đúng thiết kế. Kính phải được đặt êm trong rãnh, khít, chặt, có nẹp, đệm ngay ngắn. Lấy tay ấn nhẹ những chỗ nghi ngờ để kiểm tra độ chặt, độ khít.

    Chất lượng mạch gắn mát tít phẳng, nhẵn, mịn mặt, không cớ vết nứt, vết rịa, vết long khỏi kính và không có khe hở. Mạch gắn mát tít phải đặc, không có khuyết tật.

    Đường viền xáp của mạch mát tít tiếp giáp với kính phải phẳng,song song với gờ rãnh. Trên mặt kính giáp mạch gắn không có phoi mát tít vụn long lở.

    Mũ đinh vít, đinh ghim đóng sát mặt kính và được mát tít che phủ kín, không nhô ra ngoài mạch mát tít. Đinh vít phải được bắt chặt, không chấp nhận ren neo giữ bị cháy. Nẹp cao su hay chất dẻo phải bép sát với kính và liên kết chặt vào gờ của khung cửa.

    Mặt kính phải nguyên lành, không có vết rạn, vết nứt, vảy trai hay các khuyết tật khác.

    Trên kết cấu cũng như trên mặt kính sau khi làm sạch không có vết dính sơn, vôi, vữa, bùn, bẩn hay vết dầu mỡ.

    VI.    Giám sát thi công và nghiệm thu công tác sơn, vôi, véc ni:

    6.1 Khái niệm và yêu cầu chất lượng:

    Công tác sơn, quét vôi hay véc ni là sự phủ lên mặt kết cấu , lên chi tiết xây dựng  lớp màng để che kết cấu hoặc chi tiết.

    Lớp màng này bảo vệ kết cấu bên trong chống lại các tác động tiêu cực của môi trường đồng thời có màu sắc tạo vẻ mỹ quan cũng như là tín hiệu để phân biệt vật được che phủ.

    Lớp sơn, vôi hay véc ni cần :

    Bám chắc vào mặt kết cấu, mặt chi tiết được bảo vệ.

    Bề mặt phải tạo được vẻ mỹ quan.

    Màu sắc theo đúng chỉ dẫn và yêu cầu của bên thiết kế hoặc của các yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu.

    Không biến màu theo thời gian.

    Không bị bong, phồng rộp, gợn hay biến đổi hình dạng trong quá trình sử dụng công trình.

    Chịu được mọi tác động của thời tiết và các điều kiện phơi lộ của môi trường.

    Những dạng công tác sơn vôi chính được đề cập trong nội dung này:

    Công tác quét vôi

    Công tác sơn

    Công tác véc ni

    6.2. Chuẩn bị thi công :

    • Chuẩn bị lớp nền để sơn, vôi, vécvi :

    Mặt nền sẽ phủ lớp vôi quét, lớp sơn hay véc ni cần sạch, không có vết bẩn, không có vết dầu, mỡ.

    Mặt lớp nền phẳng, không bị gồ ghề hay bị những vật không mong muốn như  cục vữa bám. Những chỗ lõm do khuyết tật phải bù đắp và xoa , trét cho phẳng với mặt chung.

    Nếu nền là vữa trát, khi quét vôi cần khô. Nền ẩm sẽ có vết ố, loang lổ khi quét vôi.

    Nền là mặt gỗ cần đánh giấy nhám cho nhẵn, bả mát tít lấp những khe, lỗ mọt rồi lại xoa giấy nhám . Nếu nền là mặt bả lớp mát tít mỏng phải đánh giấy nhám cho nhẵn.

    • Chuẩn bị vật liệu :

    Tạo sữa vôi để quét mặt tường :

    Vôi cần dùng là loại vôi tốt, 1 kg vôi có thể tôi được 2,2 lít vôi nhuyễn. Nếu dùng vôi chỉ tôi được dưới 2 lít vôi nhuyễn thì hạt vôi tôi không mịn.

    Vôi nhuyễn hoà trộn với nước xong phải lọc qua sàng , hoặc giá vo gạo để không có hạt lớn trên 0,1 mm.

    Trộn màu xong phải quét một mảng không nhỏ hơn 1/2 m2 lên tường bên cạnh mẫu, để khô, so sánh với mẫu để quyết định lượng màu trộn.

    Lượng vôi hoà trộn tính cho đủ quét lên cả mảng tường có đường biên rõ rệt. Tránh khi đang quét vôi trên một mảng tường mà thiếu vôi. Sự pha hai lần vôi cho một mảng tường thường ít khi đồng màu.

    Trong sữa vôi cần cho thêm chất tạo màng, chống hiện tượng lớp vôi bị thôi, dính bám vào các vật chạm phải mặt tường. Chất tạo màng thường dùng là phèn chua.

    Phèn chua đâm nhỏ, hoà cho tan vào nước rồi đổ vào thùng hoà vôi, khuấy đều. Liều lượng do định mức qui định.

    Các loại sơn :

    Có hai loại sơn phổ biến là sơn dầu và sơn nước. Sơn nước là nhũ tương sơn trong môi trường nước.

    Loại sơn sử dụng phải phù hợp với yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu hoặc do thiết kế chỉ định.

    Sơn dầu chỉ được sơn lên mặt nền thật khô ráo. Sơn nước có thể sơn lên mặt nền ẩm nhưng càng khô, càng tốt.

    Màu sắc của sơn do thiết kế lựa chọn hoặc chọn theo mẫu do hồ sơ mời thầu qui định trước. Cần sơn thử lên mẫu thử để quyết định màu cuối cùng.

    Dung môi để tan sơn hoặc pha loãng sơn khi cần thiết phải được chuẩn bị trước khi tiến hành sơn. Dung môi tan sơn thường là axêtôn, diluăng , benzen, xăng công nghiệp rất dễ bay hơi và dễ cháy nên hết sức lưu ý về an toàn lao động và phòng cháy. Mùi dung môi tan sơn có thể làm cho công nhân bị nhiễm độc nên cần bảo quản kín và khu vực thi công cần thông thoáng.

    Véc ni:

    Véc ni được ngâm từ nhựa cánh kiến sạch với cồn công nghiệp cho tan đều. Sự cho thêm phụ gia ( axit sulphuric ) để tan hết cánh kiến do người bán thực hiện và được sự chấp thuận về tỷ lệ. Véc ni phải trong suốt màu hổ phách, không có vết gợn bẩn hay ngả màu nâu.  Cồn công nghiệp phải đạt ít nhất là 85o.

    6.3. Kiểm tra quá trình thi công sơn, vôi, vécni :

    Việc quét vôi hay sơn đều phải tuân theo số lớp sơn hoặc quét vôi qui định trong hồ sơ mời thầu hay chỉ dẫn của thiết kế.

    Thông thường phải sơn hay quét vôi làm ba lớp. Lớp đầu là lớp để lót và hai lớp sau ngoài nhiệm vụ bảo vệ công trình còn tạo màu cho công trình hoặc kết cấu.

    Thời gian gián cách giữa lúc sơn hoặc quét vôi các lớp phải đủ cho lớp dưới phải khô mới thi công đè lớp trên. Nếu yêu cầu cao, sau mỗi lớp sơn lại lấy giấy nhám đánh cho mặt lớp sơn nhẵn mới sơn tiếp lớp sau.

    Vết chổi sơn lớp trước được vạch thẳng, vết chổi sau phải đè lên một phần của vết chổi trước cho kín mặt sơn, vôi. Đến lớp sau, vết chổi lại quét vuông góc với lớp đã sơn hoặc quét vôi để các lớp sơn, vôi phủ kín khắp mặt tường hay mặt gỗ, mặt kim loại cần phủ.

    Nếu đánh véc ni, thường xoa (đánh) trên ba lớp. Cách đưa véc ni lên mặt gỗ là thấm véc ni vào một bùi nhùi bằng giẻ mềm và bôi theo vòng xoắn lò xo di chuyển. Sau mỗi lần bôi véc ni lại phải dùng bông hay bùi nhùi giẻ thấm cồn xoa ( đánh ) kỹ nhiều lần để véc ni tan và thấm sâu xuống gỗ. Bùi nhùi giẻ phải có độ cồn đủ ẩm, nếu khô vết xoa sẽ vạch trên mặt gỗ tạo thành gợn và mặt hoàn thiện không bóng. Nếu bùi nhùi quá xũng cồn khi xoa ( đánh ) trên mặt gỗ cũng tạo thành vết gợn. Xoa nhẹ tay theo vòng xoắn lò xo đủ cho cồn thấm đều khắp mặt gỗ.

    Nếu thấy trên mặt gỗ còn lỗ bọt nước hay khe nứt, sau khi bôi véc ni phải đập bột đá ngay cho bột đá bám vào véc ni lấp đầy khe hoặc lỗ. Trước khi xoa cồn phải dùng giấy nhám hạt mịn xoa lại mặt cho mất các bột đá bám nổi trên mặt gỗ, chỉ còn bột đá trong các khe và lỗ. Nếu khe hoặc lỗ khá lớn phải dùng mát tít trám kín, sau đó đánh giấy nhám cho phẳng mặt mới bôi véc ni.

    6.4. Nghiệm thu công tác sơn , vôi , véc ni :

    Bề mặt lớp sơn, vôi và véc ni phải đồng màu, không có vết ố, vết loang lổ, vết chổi sơn.

    Bề mặt phải phẳng, nhẵn, không bị nứt hay cộm sơn hoặc vết cháy véc ni. Mặt lớp sơn và véc ni phải bóng. Lớp vécni phải ngấm sâu trong gỗ tối thiểu là 0,5 mm. Muốn kiểm tra, lấy miếng gỗ mẫu để kèm nơi thi công vécni. Cứ mỗi lần đánh vécni lên mặt gỗ chính thức lại phủ vécni vào miếng gỗ mẫu. Khi xong vécni, chẻ miếng gỗ mẫu xem vécni thấm với độ dày bao nhiêu. Gỗ để làm tấm mẫu phải cùng loại gỗ với cửa hoặc mặt gỗ của kết cấu trong nhà.

    Không để lộ màu của lớp sơn, vôi, véc ni nằm dưới lớp phủ trên cùng.

    Bề mặt lớp sơn không được có bọt bong bóng khí. Không được có hạt bột sơn vón cục. Không được có vết rạn nứt bề mặt lớp sơn.

    Nếu mặt sơn có hoa văn, hoa văn phải theo đúng thiết kế về hình dạng, kích thước, độ đồng đều và nhất là màu sắc.

    q    q


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Ngoại vi ghép nối Sử dụng vi điều khiển AT89S52 thiết kế hệ thống đèn giao thông ngã tư

    Bài tập lớn Ngoại vi ghép nối Sử dụng vi điều khiển AT89S52 thiết kế hệ thống đèn giao thông ngã tư

    Bài tập lớn Ngoại vi ghép nối Sử dụng vi điều khiển AT89S52 thiết kế hệ thống đèn giao thông ngã tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ngo%E1%BA%A1i-vi-gh%C3%A9p-n%E1%BB%91i-S%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-vi-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n-AT89S52-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-%C4%91%C3%A8n-giao-th%C3%B4ng-ng%C3%A3-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Ngoại vi ghép nối Sử dụng vi điều khiển AT89S52 thiết kế hệ thống đèn giao thông ngã tư

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong những năm gần đây trên thế giới cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế tạo linh kiện bán dẫn và vi mạch tổng hợp, một hướng phát triển mới của các vi xử lý đã hình thành đó là các vi điều khiển. Với nhiều ưu điểm, vi điều khiển đã được sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Bằng cách áp dụng vi điều khiển vào trong quá trình sản xuất và xử lý, vi điều khiển đã thực sự thể hiện được ưu thế của mình so với các thiết bị điều khiển thông thường. Vì nhiều những lý do trên, trong trường Đại Học, Cao Đẳng, vi xử lý thực sự trở thành một môn học hết sức quan trọng, vi xử lý 8051 gần như là một môn học sử dụng để trang bị cho chúng ta những kiến thức cơ bản về vi xử lý, từ đó mở rộng ra các loại vi xử lý khác có cấu trúc phức tạp hơn như AVR, PIC, …

    Qua đồ án này, đã giúp chúng em hình dung được thực tế vi xử lý áp dụng như thế nào trong cuộc sống hiện đại, cụ thể chính là hệ thống đèn giao thông dùng vi điều khiển AT89S52. Đồ án gồm 4 chương:

    Chương I: Tổng quan về đèn giao thông, giới thiệu khái quát đề tài, các thành phần chính của hệ thống đèn giao thông, nguyên lý hoạt động, ngôn ngữ sử dụng và phần mềm mô phỏng.

    Chương II: Khảo sát vi đều khiển AT89S52.

    Chương III: Thiết kế phần cứng.

    Chương IV: Thiết kế phần mềm.

    Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Lê Thị Minh Tân trong suốt thời gian chúng em thực hiện đồ án này.

    Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012

    Nhóm sinh viên thực hiện:           Đinh Trí Lợi

                                                         Đặng Kim Thắng

                                                         Nguyễn Khắc Hậu

    CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI

    I.1: Cơ sở lựa chọn đề tài.

    a. Đặt Vấn Đề (ứng dụng):

    Với mỗi một dân tộc, để kinh tế phát triển thì sự phát triển về khoa hoc, kỹ thuật là thật sự cần thiết và đặc biệt quan trọng. Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế như hiện nay, giao thông đang là một bài toán khó đòi hỏi nhiều ngành, nhiều cấp phải quan tâm, và tìm ra các hưóng giải quyết. Để làm giảm bớt những khó khăn đó cũng như làm cho việc lưu thông trên các tuyến đường được thông thoáng và giảm thiểu tại nạn, thì việc đặt các cột đèn tại các ngã và thời gian quy định cho phép đi và cấm đi của các tuyến là đặc biệt quan trọng.

    Đối với một ngã tư, tại mỗi thời điểm trong ngày thì sự lưu thông ở mỗi ngã tư la rất quan trọng. Vì thế, một chương trình điều khiển đèn giao thông để ngã tư được lưu thông một cách tốt nhất là cần thiết và hết sức quan trọng

    Với những nhận định như thế, chúng em quyết định chọn đề tài “giao thông tại ngã tư” này.vì vậy Nhóm chúng em tiến hành thực hiện đề tài này

    Hệ thống điều khiển đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đường được thiết kế trên cơ sở sử dụng on-chip 89S52.Vi điều khiển được lập trình để điều khiển 2 công việc chính :

    1-Chuyển mức của các đèn tín hiệu trên làn đường

    Việc chuyển mức này được thực hiện bằng 4 bit truyền tín hiệu :

    P2.0 : đèn đỏ

    P2.1 : đèn xanh đi thẳng

    P2.2 : đèn xanh rẽ trái

    P2.3 : đèn vàng

    Các đèn hiển thị là các LED đơn nối chung nhau anot .Đèn sáng sẽ tương ứng với mức logic thấp .Chuyển mức giữa các đèn sẽ xen kẽ những bộ đếm kết thúc mỗi sẽ tương ứng thiết lập lại các bit để hiển thị các trạng thái đèn tiếp theo.

    Cụ thể thời gian hiển thị như sau :

    Đèn đỏ : 30 s

    Đèn xanh đi thẳng : 50s

    Đèn xanh rẽ trái : 40s ( hai đèn xanh kết thúc cùng lúc )

    Đèn vàng : 5s

    2-Hiển thị bộ đếm tương ứng với mỗi trạng thái đèn :

    Sử dụng số có 2 chữ số để đếm vì thế dùng 2 đèn LED :

    LED 1 để hiển thi chữ số hàng chục sẽ được nối trực tiếp với 8 bit của cổng P1

    LED 2 để hiển thị chữ số hàng đơn vị sẽ được nối trực tiếp với 8 bit của cổng P0.

     

    CHƯƠNG II:TỔNG QUAN VỀ HỌ VI ĐIỀU KHIỂN

    II.1: Giới thiệu

    Bộ vi điều khiển viết tắt là Micro-controller, là mạch tích hợp trên một chip có thể lập trình được, dùng để điều khiển hoạt động của một hệ thống. Theo các tập lệnh của người lập trình, bộ vi điều khiển tiến hành đọc, lưu trữ thông tin, xử lý thông tin, đo thời gian và tiến hành đóng mở một cơ cấu nào đó.

    Trong các thiết bị điện, điện và điện tử dân dụng, các bộ vi điều khiển, điều khiển hoạt động của TV, máy giặt, đầu đọc laser, điện thọai, lò vi-ba … Trong hệ thống sản xuất tự động, bộ vi điều khiển được sử dụng trong Robot, dây chuyền tự động. Các hệ thống càng “thông minh” thì vai trò của hệ vi điều khiển càng quan trọng.

    II.2: Lịch sử phát triển của các loại  vì điều khiển.

    Bộ vi điều khiển thực ra, là một loại vi xử lí trong tập hợp các bộ vi xử lý nói chung. Bộ vi điều khiển được phát triển từ bộ vi xử lí, từ những năm 70 do sự phát triển và hoàn thiện về công nghệ vi điện tử dựa trên kỹ thuật MOS (Metal-Oxide-Semiconductor) , mức độ tích hợp của các linh kiện bán dẫn trong một chip ngày càng cao.

    Năm 1971 xuất hiện bộ vi xử lí 4 bit loại TMS1000 do công ty texas Instruments vừa là nơi phát minh vừa là nhà sản xuất. Nhìn tổng thể thì bộ vi xử lí chỉ có chứa trên một chip những chức năng cần thiết để xử lí chương trình theo một trình tự, còn tất cả bộ phận phụ trợ khác cần thiết như : bộ  nhớ dữ liệu , bộ nhớ chương trình , bộ chuển đổi AID, khối điều khiển, khối hiển thị, điều khiển máy in, hối đồng hồ và lịch là những linh kiện nằm ở bên ngoài được nối vào bộ vi xử lí.

    Mãi đến năm 1976 công ty INTEL (Interlligen-Elictronics). Mới cho ra đời bộ vi điều khiển đơn chip đầu tiên trên thế giới với tên gọi 8048. Bên cạnh bộ xử lí trung tâm 8048 còn chứa bộ nhớ dữ liệu, bộ nhớ chương trình, bộ đếm và phát thời gian các cổng vào và ra Digital trên một chip.

    Các công ty khác cũng lần lược cho ra đời các bộ vi điều khiển 8bit tương tự như 8048 và hình thành họ vi điều khiển MCS-48 (Microcontroller-sustem-48).

    Đến năm 1980 công ty INTEL cho ra đời thế hệ thứ hai của bộ vi điều khiển đơn chip với tên gọi 8051. Và sau đó hàng loạt các vi điều khiển cùng loại với 8051  ra đời và hình thành họ vi điều khiển MCS-51 .

    Đến nay họ vi điều khiển 8 bit MCS51 đã có đến 250 thành viên và hầu hết các công ty hàng dẫn hàng đầu thế giới chế tạo. Đứng đầu là công ty INTEL và rất nhiều công ty khác như : AMD, SIEMENS, PHILIPS, DALLAS, OKI …

    Ngoài ra còn có các công ty khác cũng có những họ vi điều khiển riêng như:

    Họ     68HCOS              của công ty Motorola

    Họ     ST62                    của   công ty SGS-THOMSON

    Họ     H8                        của   công ty Hitachi

    Họ pic cuả công ty Microchip

    II.3: Khảo sát bộ vi điều khiển AT89S52 từ  ATMEL CORPOCATION

    Đặc điểm và chức năng hoạt động của các IC họ MSC-51 hoàn toàn tương tự như nhau. Ở đây giới thiệu IC 8951 là một họ IC vi điều khiển do hãng Intel của Mỹ sản xuất. Chúng có các đặc điểm chung như sau:

    Các đặc điểm của 89S52 được tóm tắt như sau:

    4 KB ROM

    4 KB EPROM bên trong.

    128 Byte RAM nội.

    4 Port xuất nhập I/O 8 bit.

    2 bộ định thời 16 bit

    Mạch giao tiếp nối tiếp.

    64 KB vùng nhớ mã ngoài

    64 KB vùng nhớ dữ liệu ngoài

    Xử lý Boolean (hoạt động trên bit đơn).

    210 vị trí nhớ có thể định vị bit.

    4s cho hoạt động nhân hoặc chia.

    II.3.1.Cấu trúc bên trong của AT89S52.

    Phần chính của vi điều khiển 8051 / 8031 là bộ xử lí trung tâm (CPU: central processing unit ) bao gồm :

    – Thanh ghi tích lũy A

    – Thanh ghi tích lũy phụ B, dùng cho phép nhân và phép chia

    – Đơn vị logic học (ALU : Arithmetic Logical Unit )

    – Từ trạng thái chương trình (PSW : Prorgam  Status Word)

    – Bốn băng thanh ghi

    – Con trỏ ngăn xếp

    Ngoài ra  còn có bộ nhớ chương trình, bộ giải mã lệnh, bộ điều khiển thời gian và logic.

    II.3.2:Tóm tắt phần cứng:

    AT89S52 có tất cả 40 chân  có chức năng như các đường xuất nhập . Trong đó có 24 chân có tác dụng kép (có nghĩa là một chân có hai chức năng), mỗi đường có thể hoạt động như đường xuất nhập   hoặc như đường điều khiển hoặc là thành phần của các bus dữ liệu và  bus địa chỉ.

    + Các cổng vào ra

    – Port 0 (Chân 32-39):là cổng hai chiều dùng 8 bit để mở, như là cổng ra, Port 0 có những cấu hình công đường dẫn địa chỉ, dữ liệu để truy xuất tới chương trình goài và bộ nhớ dữ liệu. yêu cầu bên ngoài dừng lại trong lúc kiểm tra chương trình.

    – Port 1 (Chân 1-8): có cổng hai chiều 8bit, trong phép cộng P1.0 và P1.1 có thể thực hiện để đi tới bộ định thời/bộ đếm bên trong đếm ngõ vào(P1.0/T2) và hai bộ định thời/bộ đếm truy xuất ngõ vào(P1.1/T2EX).

    – Port 2 (Chân 21-28): có cổng hai chiều 8bit, phát ra những địa chỉ byte cao khác trong lúc tìm về từ bộ nhớ chương trình bên ngoài và truy xuất từ bộ nhớ dữ liệu bên ngoài việc đó sử dụng 8bit địa chỉ. Port 2 phát ra những nội dung của thanh ghi có chức năng đặc biệt P2

    – Port 3 (Chân 10-17):

    P3.0 RxD Chân phát dữ liệu của Port nối tiếp

    P3.1 TxD Chân thu dữ liệu của Port nối tiếp

    P3.2 INT0 Ngõ vào ngắt ngoài 0

    P3.3 INT1 Ngõ vào ngắt ngoài 1

    P3.4 T0 Ngõ vào bộ định thời đếm 0

    P3.5 T1 Ngõ vào bộ định thời đếm 1

    P3.6 WR Điều khiển ghi dữ liệu vào RAM ngoài

    P3.7 RD Điều khiển đọc dữ liệu từ RAM ngoài

    + Reset (Chân 9):

    Chân reset có tác dụng reset cho chíp, mức tích cực của chân này là mức 1 , để reset ta phải đưa mức 1 (5v) đến chân này với thời gian tối thiểu 2 chu kỳ máy ( tương đương 2µs – tương đương với thạch anh 12Mhz ).

    Sau đây là mạch reset.

    – RxD :nhận tín hiệu kiểu nối tiếp.

    – TxD :truyền tín hiệu kiểu nối tiếp.

    – /INT0: ngắt ngoài 0.

    – /INT1: ngắt ngoài 1.

    – T0: chân vào 0 của bộ timer/counter 0.

    – T1: chân vào 0 của bộ timer/counter 1.

    –  /WR: ghi giữ liệu vào bộ nhớ ngoài.

    – /Rd: đọc giữ liệu từ bộ nhớ ngoài.

    – XTAL1: chân vào mạch khuếch đại dao động.

    – XTAL2: chân ra từ  mạch khuếch đại dao động.

    – /PSEN: chân cho phép đọc chương trình ngoài (Rom ngoài).

    reset bằng tay        reset khi cấp nguồn

    – Nút ấn:

    – Trạng thái của các thanh ghi khi reset, khi reset thì trạng thái của RAM nội không bị thay đổi

    + Chân cho phép chốt địa chỉ (ALE/PROG)

    Chân ALE có xung ở ngõ ra để chốt địa chỉ Byet thấp trong thời gian truy xuất bộ nhớ ngoài. Chân này có chương trình xung ở ngõ vào trong khi tín hiệu điện đang chạy.

    Trong điều khiển bình thường, chân ALE được xuất ra với một giá trị bằng 1/6 tần số của mạch dao động và có thể được sử dụng cho việc quy định thời gian bên ngoài hoặc mục đích đếm thời gian. Ghi nhớ, một xung ALE được ngắt quãng trong khi mỗi truy xuất từ dữ liệu bộ nhớ ngoài.
    Nếu ra lệnh, bình thường ALE có thể bị hủy bởi việc cài dặt bit 0 của SFR được định vị trí 8EH

    + Chân cho phép bộ nhớ chương trình (PSEN:Program store Enable)
    PSEN được đọc xung nhọn tới bộ nhớ chương trình ngoài.
    Khi AT89S52RC đang thực hiện mã từ bộ nhớ chương trình ngoài, PSEN được thực hiện với chu kỳ máy tăng gấp đôi, trừ phi hai hoạt động PSEN đó được ngắt quãng trong thời gian truy xuất tới bộ nhớ dữ liệu bên ngoài.
    + Chân truy xuất ngoài (EA/VPP)

    Kích hoạt truy xuất ngoài, chân EA phải được nối với GND khi sử dụng các thiết bị từ mã truy cập từ bộ nhớ chương trình ngoài được định vị trí từ 0000H tới FFFFH.

    + Chân tinh thể thạch anh XTAL

    XTAL1: ngõ vào tới mạch dao động khuếch đại ngược và tới mạch điện khóa diều khiển bên trong.

    XTAL2: ngõ ra từ mạch  dao động khuếch đại ngược.

    Thanh ghi các chức năng đặc biệt (SFR)

    Một ánh xạ trên bề mặt diện tích của bộ nhớ chip được gọi là thanh ghi các chức năng đặc biệt.

    Ghi chú, đó không phải là tất cả các địa chỉ đã được sử dụng, và những địa chỉ không được sử dụng có thể không được bổ sung vào chip. Đọc truy xuất tới các địa chỉ đó sẽ được tổng hợp đầy đủ vào dữ liệu ngẫu nhiên, và truy xuất được ghi sẽ có hiệu ứng lờ mờ.

    + Thanh ghi bộ định thời 2:

    điều khiển và trạng thái các bit được chứa đựng vào thanh ghi T2CON và T2MOD.
    Thanh ghi ngắt:

    khởi động những bit ngắt riêng biệt được thực hiện bởi thanh ghi IE.
    TF2: Dấu hiệu cờ tràn 2 bộ định thời đặt bởi 2 bộ dịnh thời cờ tràn và phải được xóa bởi phần mềm. TF2 sẽ không được dặt khi RCLK = 1 hoặc TCLK = 1
    EXF2: 2 Bộ định thời dấu hiệu ngoài khi một cái được giữ lại hoặc chạy lại bởi một từ chối chuyển tiếp trên T2EX và EXEN2 = 1. khi 2 bộ định thời trong được kích hoạt, EXF2 = 1 sẽ là nguyên nhân để CPU tới vector tới thủ tục 2 bộ định thời trong. EXEN2 phải được xóa bởi phần mềm. EXF2 không phải nguyên nhân gây ngắt trong bộ đếm lên/xuống (DCEN = 1).
    RCLK Kích hoạt xung nhận, khi điều chỉnh, nguyên nhân cổng nối tiếp được sử dụng 2 bộ định thời cờ tràn tạo xung cho xung nhận trong cổng nối tiếp cho dạng 1 và 3. RCLK = 0 là nguyên nhân cờ tràn một bộ định thời được sử dụng cho việc nhận xung

    TCLK Kích hoạt truyền xung, khi điều chỉnh, nguyên nhân cồng nối tiếp được dùng cờ tràn xung bộ định thời 2 cho việc phát xung trong cổng nối tiếp cho dạng 1 và 3. TCLK = 0 nguyên nhân cờ tràn bộ dịnh thời 1 dã được dùng để phát xung.

    -EXEN2 Kích hoạt bộ định thời ngoài 2, một cái được giữ lại hoặc chạy lại để xuất như là một kết quả của một từ chối chuyển tiếp trên T2EX neu1 bộ định thời 2 không được sừ dụng để tạo xung cho cổng nối tiếp. EXEN2 = 0 là nguyên nhân bộ định thời 2 lờ đi khả năng có thể xảy ra của T2EX
    TR2 Điều khiển bắt đầu/dừng lại cho bộ định thời 2. TR2 = 1 bộ định thời bắt đầu.

    C/T2 Bộ định thời hoặc bộ đếm cho bộ định thời 2. C/T2 = 0 cho chức năng bộ định thời. C/T2 = 1 cho máy đếm sự kiện ngoài.
    CP/RL2 Chọn giữ/chạy lại. CP/RL2 = 1 lý do giữ lại cho xuất hiện trên từ chối chuyển tiếp vào T2EX nếu EXEN2 = 1. CP/RL2 = 0 nguyên nhân tự động chạy lại để xuất hiện khi cờ tràn bộ định thời 2 hoặc xuất hiện từ chối chuyển tiếp vào T2EX khi EXEN2 = 1. khi RCLK hoặc TCLK = 1, bit này được lờ đi và bộ định thời bị ép tự động chạy lại trên cờ tràn bộ định thời 2.
    + Con trỏ ghi hai dữ liệu:

    Để thuận tiện truy xuất cà hai bộ nhớ dữ liệu bên trong và bên ngoài, 2 bờ của 16bit con trỏ ghi dữ liệu được cung cấp: DP0 của địa chỉ thanh ghi các chức năng đặc biệt định vị trí 82H-83H và DP1 ở 84H-85H. bit DPS = 0 trong các thanh ghi phụ các chức năng đặc biệt chon5DP0 và DP1 = 1 chọn DP1. người sử dụng nên khởi động bit DPS để tích hợp giá trị trước khi truy xuất tương ứng với con trỏ ghi dữ liệu.

    Cờ tắt nguồn(POF): được định 4bit (PCON.4) vào PCON SFR. POF được điều chỉnh tới “1” trong khi bật nguồn. nó có thể bị điều chỉnh và và đứng yên dưới phần mềm điều khiển và không được giả tạo bởi quá trình khởi động lại

    Thiết bị MCS_51 có một khoảng địa chỉ riêng cho chương trình và bộ nhớ dữ liệu.

    + Bộ nhớ chương trình:

    –     Nếu chân EA được nối với GND tất cả chương trình đi về có hướng về tới bộ nhớ ngoài.

    –     Trong AT89S52RC, nếu chân EA được nối với Vcc thì chương trình về tới khoảng địa chỉ 0000H-7FFFH đi tới bộ nhớ chương trình bên trong và đi về tới địa chỉ 8000H-FFFFH đi tới bộ nhớ chuong trình bên ngoài.
    Bộ nhớ dữ liệu:

    –      AT89S52RC có bộ nhớ dữ liệu bên trong với 4 phần riêng:
    + Thấp hơn 128 byte của RAM (có địa chỉ từ 00H-7FH) được gán giá trị ngay lập tức hoặc gián tiếp

    +       Cao hơn 128 byte RAM ( có địa chỉ 80H-FFH) chỉ gán địa chỉ bằng cách gián tiếp

    + Các thanh ghi có chức năng đặc biệt (có địa chỉ từ 80H-FFH) chỉ được gán địa chỉ bằng cách trực tiếp

    +  256 byte RAM mở rộng (00H-FFH) được truy cuất gián tiếp bởi lệnh MOVX, và với bit EXTRAM được xóa.

    + Phần cứng bộ định thời giám sát:

    Được dự định như là phương pháp khôi phục trong vị trí nơi mà CPU có thể bị xáo trộn bởi chủ đề phần mềm, nó phù hợp với bộ đếm 13bit.
    Cách sử dụng bộ định thời giám sát: để cho phép nó, người sử dụng phải viết 01EH và 0E1H trong dãy để tới thanh ghi WDTRST. Khi nó được cho phép, người sử dụng cần tới dịch vụ của nó bởi 01EH và 0E1H tới WDTRST để phá hủy cờ tràn của nó. Bộ đếm cờ tràn 13bit khi nó đạt tới 8191(1FFFH), và thiết lập lại các thiết bị. khi nó được cho phép, nó sẽ gia tăng chu kỳ máy trong khi mạch dao động đang chạy. để chạy lại nó người dùng phải viết  01EH và 0E1H tới WDTRST. WDTRST là thanh ghi chỉ viết. bộ đếm WDT không thể bị đọc hay viết.

    Bộ định thời 0 và 1:

    Bộ định thời 0 và 1 trong AT89S52RC hoạt động giống như là bộ định thời 0 và 1 trong AT89S52 và AT89C52.

    Bộ định thời 2:

    Bộ định thời 2 là bộ định thời/bộ đếm 16bit nó có thể hoạt động như các bộ định thời khác hoặc một biến cố đếm. bộ định thời 2 gồm 2 thanh ghi 8bit,TH2 và TL2.

    Xung nhịp ra có thể lập trình được:

    Chu kỳ hoạt động là 50% có thể được lập lại chương trình để đi ra bằng chân P1.0. nó có thể là chương trình để vào xung bên ngoài cho bộ định thời/bộ đếm 2 hoặc cho ngõ ra với 50% chế độ làm việc biên độ xung từ 61Hz tới 4MHz với một tần số hoạt động 16MHz.Cấu hình của bộ định thời/bộ đếm 2 như là một hàm sin, bit C/T2 (T2CON.1) phải được xóa và bit T2OE (T2MOD.1) phải được điều chỉnh. Bit TR2 (T2CON.2) bắt đầu và dừng bộ định thời.

    Tần số xung ra phụ thuộc vào tần số dao động và giá trị nạp lại của thanh ghi bộ định thời 2 (RCAP2H,RCAP2L). ta có Tần số xung ra   = ( tần số dao động)  /(4*[65536-(RCAP2H,RACP2L)])

    Trong chế độ xung ra, bàn quay bộ định thời 2 sẽ không được phát động ngắt.
    Chế độ ngắt:

    AT89S52RC có tổng cộng 6 vector ngắt: 2 ngắt ngoài (INT0 và INT1), 3 bộ định thời ngắt (bộ định thời 0,1 và 2) và cổng ngắt nối tiếp.
    Mỗi nguồn ngắt có thể cho phép riêng lẻ hoặc ngăn chặn bởi quá trình cài đặt hoặc xóa bỏ 1 bit trong thanh ghi các chức năng đặc biệt (SFR) IE.
    Bộ định thời ngắt 2 được khởi động bởi toán tử logic OR của các bit TF2 và EXF2 trong thanh ghi T2CON. Những cái cờ đó không những được xóa bởi phần cứng khi thủ tục của dịch vụ được hướng tới. thực ra, thủ tục dịch vụ có thể được định rõ là TF2 hay EXF2 dể khởi động ngắt, và bit đó sẽ được xóa trong phần mềm.

    Cờ bộ định thời 0 và 1, TF0 và TF1, được điều chỉnh ở S5P2 của chu kỳ trong bộ định thời cờ tràn.

    Đặc điểm dao động:

    XTAL1 và XTAL2 là ngõ ra và ngõ vào, theo thứ tự được định sẵn, để điều khiển thiết bị từ một nguồn xung ngoài. XTAL2 sẽ không được lien kết bên trái trong khi XTAL1 được điều khiển

    Chế độ nghỉ:

    Trong chế độ nghỉ, CPU nghỉ trong khi tất cả các chip ngoại vi đều hoạt động. chế độ này được gọi ra bằng phần mềm. Dung lượng trên chip RAM và tất cả SFR được thay đổi, chế độ nghỉ có thể ở bên trong cho phép ngắt hoặc chế độ lặp lại của phần cứng.

    Chú ý khi chế độ nghỉ được kết thúc bởi chế độ lặp lại của phần cứng, các thiết bị thong thường được chạy lai chương trình từ phần tắt bên trái.

     

    II.3.3:  Mạch cơ bản để 89S52 làm việc:

    Hình II.3 : Mạch cơ bản của IC 89S52

     

    CHƯƠNG III: THIẾT KẾ VÀ LẬP TRÌNH

    III.1: Kết cấu của chương trình

    Chương trình gồm hai chương trình con

    – Chương trình 1 chương trình  ban ngày

    – Chương trình 2 chương trình ban đêm từ 23h đến 5h sáng

    + Chương trình 1 là chương trình có thời gian đèn đỏ 25s, đèn xanh 30s

    Đèn vàng 5s

    + Chương trình 2 là chương trình chỉ có đèn vàng nhấp nháy

    – Để chọn chương trình ta phải thiết lập chương trình và reset hệ thống qua nút nhấn reset

    III.2: Kết nối ngoại vi gồm có:

    III.2.1.-Họ IC 78xx và IC 7805

    Với những mạch điện không đòi hỏi độ ổn định của điện áp quá cao, sử dụng IC ổn áp thường được người thiết kế sử dụng vì mạch điện khá đơn giản. Các loại ổn áp thường được sử dụng là IC 78xx, với xx là điện áp cần ổn áp. Ví dụ 7805 ổn áp 5V, 7812 ổn áp 12V. Việc dùng các loại IC ổn áp 78xx tương tự nhau.

    * Những dạng seri của 78XX:

    – LA7805 IC ổn áp 5V
    – LA7806 IC ổn áp 6V
    – LA7808 IC ổn áp 8V
    Đây là dòng cho điện áp ra tương ứng với dòng là 1A.

    Hình ảnh một IC 7805 có 3 chân:

     

                                                Sơ đồ khối của IC 7805.

       

     

     

     

     

     

     

     

     

    III.2.2: IC 74245 – Bộ nhớ đệm cho đầu vào.

     

    Chức năng:
    – Đây là một loại IC số khá phổ biến, tên gọi chung là 74245, tùy thuộc vào tần số đáp ứng và công ty sản xuất sẽ có các tên họi khác nhau như 74HC245, 74HCT245… nhưng khi loại bỏ các kí tự ở giữa, vẫn chung là 74245.
    – Bài toán: Khi ta cần kiểm soát một số lượng trạng thái, cảm biến tiếp điểm mà số đầu cần kiểm soát lên tới > 10 điểm, có khi tới 40 điểm, bạn không thể nối tất cả các cảm biến này với vi xử lý vì không thể đủ Port. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng đọc dữ liệu theo kiểu BUS và dùng 74245 như là bộ nhớ đệm đầu vào cho vi xử lý.

    Các thức hoạt động:

    – Sơ đồ nguyên lý: Như sơ đồ trên, trong đó A ( đầu vào Vi xử lý), B ( đầu vào lấy tín hiệu từ sensor), Chân AB/BA nối Gnd và quan trọng nhất là chân CE (Chip enable).

    – Với sơ đồ trên, tôi giới thiệu các bạn sử dụng 2 IC 74HCT235 để đọc dữ liệu trạng thái on/off từ 16 cảm biến sensor khác nhau

    • PORT A : Đầu ra của 74245 và được đấu vào đầu vào của vi xử lý, tất cả các PORT A của các IC 74245 được đấu chung để tạo thành đường dữ liệu BUS 8bit.
    • PORT B : Đầu vào của 74245 , được đấu vào các trang thái on/off của sensror, mối một PIN được đấu với một sensor khác nhau, và lưu ý, nếu sensor chưa có điện trở Pullup thì phải thêm một dãy diện trở Pullup vào PORT B để luôn đảm bảo trạng thái logic cho PORTB.
    • CE : Chân chọn chíp, trạng thái tích cực thấp, khi muốn PORT A = PORT B thì CE=0 (các IC 74245 khác bắt buộc CE=1 để ngăn không cho PORTA=PORTB, nếu quên điều này, dữ liệu sẽ lung tung, không kiểm soát được như ” Có một lối ra, chỉ vừa một người đi mà ta mở đến 4 cửa, 4 người chen chúc nhau đi

    III.2.3: LED 7 đoạn

    Hiển thị dùng led 7 đoạn loại anode chung ứng với IC giải mã 74245 có mức tích cực là mức 0 ( mức thấp).Ở loại anode chung ( anode của đèn được nối lên +5V, đoạn náo sáng ta nối đầu cathode ủa đoạn đó xuống mức thấp thông qua điện trở để hạn dòng.

    Hiển thị dùng led 7 đoạn loại katot chung ứng với IC giải mã 7448 có mức tích cực là mức 1 ( mức cao).Ở loại katot chung ( katot của đèn được nối lên GND)

     III.2.4 : Điện trở treo

    – Với các chân với chân 1 nối nguồn 5vdc  8 chân còn lại dùng để nối vào 8 chân ra của vi điềukhiển 89S52 có tác dụng làm tăng dòng điện làm cho dòng điện khỏe hơn. Ở mạch này chúng ta dùng điện trở 10k

     

     

     

     

    III.3: Phần thi công mạch

    III.3.1: Sơ đồ nguyên lý mạch điều khiển đèn giao thông

     

     

                                                  

     

    Mạch đèn giao thông ngã 4

    Đề bài :Có 3 phím bấm

    1: Run(Chạy ở chế độ bình thường)

    2: Nháy(Chạy ở chế độ giờ thấp điểm)

    3: Stop

    Giản đồ thời gian như sau

    Mạch Sơ đồ mạch như sau

    Code

    ;=======================================================;           BAM PHIM TANG, GIAM, RESET VA HIEN THI;=======================================================ORG   0000H            LJMP  INIT            ORG   0003H             RETI            ORG   000BH                        RETI            ORG   0013H             RETI            ORG   0023H             RETI            ORG   002BH                        LJMP  INT_T2;=============================;KHAI BAO BIEN;=============================            NUM   EQU    50H            D0       EQU    51H            D1       EQU    52H            TIC      EQU    53H            SEC     EQU    54H            PRUN EQU    P1.0            PNN    EQU    P1.1            PSTOP            EQU    P1.2            MODE1F        EQU    00H            MODE2F        EQU    01H            RUNF EQU    02H            NNF    EQU    03H            STOP  EQU    04H;=============================;KET THUC KHAI BAO BIEN;=============================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;=============================;           KHOI TAO CHUONG TRINH;=============================            ORG   100INIT:            CLR    EA                               MOV   SP,#2FH                                 MOV   T2CON,#04H                                                             MOV   RCAP2H,#0B1H                    MOV   RCAP2L,#0E0H                    MOV   NUM,#50            MOV   TIC,#0            MOV   SEC,#0            MOV   MODE1F,#0            MOV   MODE2F,#0            MOV   RUNF,#1            MOV   P3,#0            MOV   R7,#0            SETB  IE.5            SETB  EAHERE:            SJMP   HERE;===============================;           KET THUC CHUONG TRINH;===============================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===============================;SUBROUTINE TSEC;CHUONG TRINH TINH THOI GIAN;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===============================TSEC:             JNB     RUNF,KHONG            SJMP   CHAYCHAY:            JB        STOP,KHONG            INC     TIC            MOV   A,TIC            CJNE  A,#50,KTSEC1            DEC    SEC            MOV   TIC,#0            MOV   A,SEC            CJNE  A,#0FFH,KTEC1            MOV   SEC,#29KHONG:            MOV   P0,#0C0H            SJMP   KTSEC1KTSEC1:            MOV   NUM,SEC            RET ;===============================;           KET THUC CHUONG TRINH;===============================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===============================;SUBROUTINE SLMODE; CHUONG TRINH CHON MODE;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===============================SLMODE:            MOV   P1,#00            SETB  RUNF            CLR    NNF            CLR    STOP            MOV   SEC,#0            SJMP   KTSLMODKTNN:            SETB  NNF            CLR    RUNF            CLR    STOP            MOV   TIC,#0            SJMP   KTSLMODKTSTOP:            JNB     PSTOP,KTSLMOD            CLR    RUNF            CLR    NNF            SETB  STOP            MOV   P3,#0KTSLMOD:            RET;===============================;           KET THUC CHUONG TRINH;===============================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===============================;SUBROUTINE MODE1; CHUONG TRINH CHAY CHE DO 1;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===============================MODE1:            JNB     RUNF,KTMODE1            MOV   A,SEC            CJNE  A,#29,SEC17            MOV   P3,#21HSEC17:            CJNE  A,#17,SEC14            MOV   P3,#22HSEC14:            CJNE  A,#14,SEC2            MOV   P3,#0CHSEC2:            CJNE  A,#2,KTMODE1            MOV   P3,#14HKTMODE1:            RET;=================================;           KET THUC CHUYEN TRINH CON;=================================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===============================; SUBROUTINE MODE2; CHUONG TRINH CHAY CHE DO 2;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===============================MODE2:            JNB     NNF,KTMODE2            JB        P1.0,LAM            CPL     MODE2F            MOV   A,MODE2F            CJNE  A,#1,LAM            MOV   P3,#0            SJMP   KTMODE2LAM:            MOV   A,TIC            CJNE  A,#0,V2            MOV   P3,#12HV2:            CJNE  A,#26,KTMODE2            MOV   P3,#0 KTMODE2:            RET;=================================;           KET THUC CHUYEN TRINH CON;=================================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===============================;SUBROUTINE HEXTOBCD;           HEX TO BCD;INPUT: NUM;OUTPUT: D1,D0;===============================HEXTOBCD:            MOV   A,NUM                       MOV   B,#10              DIV     AB                  MOV   D0,B               MOV   D1,A               RET;=================================;           KET THUC CHUYEN TRINH CON;=================================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;==================================;INT    INT_T2; CHUONG TRINH HIEN THI SO LAN  AN PHIM VA HIEN THI;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===================================INT_T2:            CLR    TF2                              LCALL           HEXTOBCD              LCALL           BCDTO7T                              LCALL           DISPLAY            LCALL           TSEC            LCALL           SLMODE            LCALL           MODE1            LCALL           MODE2KET:            RETI;===================================;           KET THUC CHUONG TRINH;===================================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===================================;SUBROUTNI BCDTO7T;INPUT: NONE;OUTPUT: NONE;===================================BCDTO7T:            MOV   DPTR,#SEGMENT                MOV   A,D0                           MOVC            A,@A+DPTR             MOV   D0,A                           MOV   A,D1                           MOVC            A,@A+DPTR             MOV   D1,A                           RET;===================================;           KET THUC CHUONG TRINH;===================================;************************************************;           NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH;************************************************;===================================;SUBROUTINE DISPLAY; HIEN THI LEN LED 7 THANH;INPUT:;OUTPUT:;===================================DISPLAY:             CJNE  R7,#0,LED2            MOV   P2,#1B            MOV   P0,D0                        SJMP   XLR7LED2:             MOV   P2,#2            MOV   P0,D1XLR7:             INC     R7            CJNE  R7,#2,KT                    MOV   R7,#00HKT:            RET;===================================;KET THUC CHUONG TRINH;===================================;************************************************;NGAN CACH GIUA CAC CHUONG TRINH ;************************************************;===================================;           MA 7 THANH;===================================SEGMENT:                DB      0C0H,0F9H,0A4H,0B0H,99H,92H,82H,0F8H,80H,90H;SO THAP PHAN      0    1     2    3   4   5   6   7    8  9;====================================;           KET THUC CHUONG TRINH;====================================


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1

    BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1

    BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-%C4%90I%E1%BB%86N-T%E1%BB%AC-C%C3%94NG-SU%E1%BA%A4T-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1

                               

                                

                             BÀI TẬP LỚN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT 1

     CHƯƠNG  I

           GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHỈNH LƯU

     

    Để cấp nguồn cho tải một chiều, chúng ta cần thiết kế các bộ chỉnh lưu mục đích biến đổi năng lư­ợng điện xoay chiều thành một chiều. Các loại bộ biến đổi này có thể là chỉnh l­ưu không điều khiển và chỉnh l­ưu có điều khiển. Với mục đích giảm công suất vô công, ngư­ời ta thư­ờng mắc song song ngư­ợc với tải một chiều một điôt (loại sơ đồ này đ­ược gọi là sơ đồ có điôt ngư­ợc). Trong các sơ đồ chỉnh l­ưu có điôt ng­ược, khi có và không có điều khiển, năng lư­ợng đ­ược truyền từ phía l­ưới xoay chiều sang một chiều, nghĩa là các loại chỉnh l­ưu đó chỉ có thể làm việc ở chế độ chỉnh l­ưu. Các bộ chỉnh lư­u có điều khiển, không điôt ng­ược có thể trao đổi năng lư­ợng theo cả hai chiều. Khi năng lư­ợng truyền từ lư­ới xoay chiều sang tải một chiều, bộ nguồn làm việc ở chế độ chỉnh l­ưu, khi năng lư­ợng truyền theo chiều ngư­ợc lại (nghĩa là từ phía tải một chiều về l­ưới xoay chiều) thì bộ nguồn làm việc ở chế độ nghịch l­ưu trả năng lư­ợng về l­ưới.

    Theo dạng nguồn cấp xoay chiều, chúng ta có thể chia chỉnh l­ưu thành một hay ba pha. Các thông số quan trọng của sơ đồ chỉnh lư­u là: dòng điện và điện áp tải; dòng điện chạy trong cuộn dây thứ cấp biến áp; số lần đập mạch trong một chu kỳ. Dòng điện chạy trong cuộn dây thứ cấp biến áp có thể là một chiều, hay xoay chiều, có thể phân loại thành sơ đồ có dòng điện biến áp một chiều hay, xoay chiều. Số lần đập mạch trong một chu kỳ là quan hệ của tần số sóng hài thấp nhất của điện áp chỉnh l­ưu với tần số điện áp xoay chiều.

    Theo hình dạng các sơ đồ chỉnh l­ưu, với chuyển mạch tự nhiên chúng ta có thể phân loại chỉnh l­ưu thành các loại sơ đồ sau.

    1.    Chỉnh lư­u một nửa chu kỳ.

     
       

    Hình 1. Sơ đồ chỉnh lư­u một nửa chu kỳ.

    ở sơ đồ chỉnh l­ưu một nửa chu kỳ hình 1 sóng điện áp ra một chiều sẽ bị gián đoạn trong một nửa chu kỳ khi điện áp anod của van bán dẫn âm, do vậy khi sử dụng sơ đồ chỉnh lư­u một nửa chu kỳ, chúng ta có chất l­ượng điện áp xấu. Với chất lư­ợng điện áp rất xấu và cũng cho ta hệ số sử dụng biến áp xấu.

    Đánh giá chung về loại chỉnh l­ưu này chúng ta có thể nhận thấy, đây là loại chỉnh lư­u cơ bản, sơ đồ nguyên lý mạch đơn giản. Tuy vậy các chất lượng kỹ thuật nh­ư: chất lư­ợng điện áp một chiều; hiệu suất sử dụng biến áp quá xấu. Do đó loại chỉnh l­ưu này ít đ­ược ứng dụng trong thực tế.

    Khi cần chất l­ượng điện áp khá hơn, ng­ười ta th­ường sử dụng sơ đồ chỉnh lư­u cả chu kỳ theo các ph­ương án sau.

    2.    Chỉnh lư­u cả chu kỳ với biến áp có trung tính.

    Hình 2.  Sơ đồ chỉnh l­ưu cả chu kỳ với biến áp có trung tính.

    Theo hình dạng sơ đồ, thì biến áp phải có hai cuộn dây thứ cấp với thông số giống hệt nhau, ở mỗi nửa chu kỳ có một van dẫn cho dòng điện chạy qua. Cho nên ở cả hai nửa chu kỳ sóng điện áp tải trùng với điện áp cuộn dây có van dẫn. Trong sơ đồ này điện áp tải đập mạch trong cả hai nửa chu kỳ, với tần số đập mạch bằng hai lần tần số điện áp xoay chiều.

    Mỗi van dẫn thông trong một nửa chu kỳ, do vậy dòng điện mà van bán dẫn phải chịu tối đa bằng 1/2 dòng điện tải, trị hiệu dụng của dòng điện chạy qua van Ihd =  0,71.Id

    So với chỉnh l­ưu nửa chu kỳ, thì loại chỉnh l­ưu này có chất l­ượng điện áp tốt hơn. Dòng điện chạy qua van không quá lớn, tổng điện áp rơi trên van nhỏ. Đối với chỉnh l­ưu có điều khiển, thì sơ đồ hình 2 nói chung và việc điều khiển các van bán dẫn ở đây t­ơng đối đơn giản. Tuy vậy việc chế tạo biến áp có hai cuộn dây thứ cấp giống nhau, mà mỗi cuộn chỉ làm việc có một nửa chu kỳ, làm cho việc chế tạo biến áp phức tạp hơn và hiệu suất sử dụng biến áp xấu hơn, mặt khác điện áp ngượ­c của các van bán dẫn phải chịu có trị số lớn nhât.

    3.    Chỉnh l­ưu cầu một pha.

     
       

    Hình 3.  Sơ đồ chỉnh lư­u cầu một pha điều khiển đối xứng.

    Hoạt động của sơ đồ này khái quát có thể mô tả nh­ư sau. Trong nửa bán kỳ điện áp anod của Tiristo T1 d­ương (+) (lúc đó catod T2 âm (-)), nếu có xung điều khiển cho cả hai van T1,T2 đồng thời, thì các van này sẽ đ­ược mở thông để đặt điện áp l­ưới lên tải, điện áp tải một chiều còn bằng điện áp xoay chiều chừng nào các Tiristo còn dẫn (khoảng dẫn của các Tiristo phụ thuộc vào tính chất của tải). Đến nửa bán kỳ sau, điện áp đổi dấu, anod của Tiristo T3 dư­ơng (+) (catod T4 âm (-)), nếu có xung điều khiển cho cả hai van T3,T4 đồng thời, thì các van này sẽ đ­ược mở thông, để đặt điện áp l­ới lên tải, với điện áp một chiều trên tải có chiều trùng với nửa bán kỳ tr­ước.

    Chỉnh lư­u cầu một pha hình 3 có chất l­ượng điện áp ra hoàn toàn giống nh­ư chỉnh l­ưu cả chu kỳ với biến áp có trung tính, nh­ư sơ đồ hình 2. Việc điều khiển đồng thời các Tiristo T1,T2 và T3,T4 có thể thực hiện bằng nhiều cách, một trong những cách đơn giản nhất là sử dụng biến áp xung có hai cuộn thứ cấp nh­ư hình 4:

    Hình 4. Phư­ơng án cấp xung chỉnh l­ưu cầu một pha

    Điều khiển các Tiristo trong sơ đồ hình 3, nhiều khi gặp khó khăn cho trong khi mở các van điều khiển, nhất là khi công suất xung không đủ lớn. Để tránh việc mở đồng thời các van như­ ở trên, mà chất l­ượng điện áp chừng mực nào đó vẫn có thể đáp ứng đ­ược, ngư­ời ta có thể sử dụng chỉnh l­uư cầu một pha điều khiển không đối xứng.

    Chỉnh l­ưu cầu một pha điều khiển không đối xứng có thể thực hiện bằng hai phư­ơng án khác nhau như­ hình 5. Giống nhau ở hai sơ đồ này là: chúng đều có hai Tiristo và hai điôt; mỗi lần cấp xung điều khiển chỉ cần một xung; điện áp một chiều trên tải có hình dạng và trị số giống nhau; đường cong điện áp tải chỉ có phần điện áp dư­ơng nên sơ đồ không làm việc với tải có nghịch l­ưu trả năng l­ượng về l­ưới. Sự khác nhau giữa hai sơ đồ trên được thể hiện rõ rệt khi làm việc với tải điện cảm lớn, lúc này dòng điện chạy qua các van điều khiển và không điều khiển sẽ khác nhau.

    a                                                              b

    Hình 5.  Sơ đồ chỉnh l­ưu cầu một pha điều khiển không đối xứng.

    Trên sơ đồ hình 5a, khi điện áp anod T1 dư­ơng và catod D1 âm có dòng điện tải chạy qua T1, D1 đến khi điện áp đổi dấu (với anod T2 dư­ơng) mà chư­a có xung mở T2, năng l­ượng của cuộn dây tải L đ­ược xả ra qua D2, T1. Như­ vậy việc chuyển mạch của các van không điều khiển D1, D2 xảy ra khi điện áp bắt đầu đổi dấu. Tiristo T1 sẽ bị khoá khi có xung mở T2, kết quả là chuyển mạch các van có điều khiển đư­ợc thực hiện bằng việc mở van kế tiếp. Từ những giải thích trên chúng ta thấy rằng, các van bán dẫn đư­ợc dẫn thông trong một nửa chu kỳ (các điôt dẫn từ đầu đến cuối bán kỳ điện áp âm catod, còn các Tiristo   đ­ược dẫn thông tại thời điểm có xung mở và bị khoá bởi việc mở Tiristo ở nửa chu kỳ kế tiếp). Về trị số, thì dòng điện trung bình chạy qua van bằng Itb= (1/2 ) Id, dòng điện hiệu dụng của van Ihd = 0,71.Id.

    Theo sơ đồ hình 5b, khi điện áp l­ưới đặt vào anod và catod của các van bán dẫn thuận chiều và có xung điều khiển, thì việc dẫn thông các van hoàn toàn giống nh­ư sơ đồ hình 5a. Khi điện áp đổi dấu năng lượng của cuộn dây L đ­ược xả ra qua các điôt D1, D2,  các van này đóng vai trò của điôt ngư­ợc. Chính do đó mà các Tiristo sẽ tự động khoá khi điện áp đổi dấu. Có thể thấy rằng, ở sơ đồ này dòng điện qua Tiristo nhỏ hơn dòng điện qua các điôt.

    Nhìn chung  các loại chỉnh l­ưu cầu một pha có chất lư­ợng điện áp tương đư­ơng như­ chỉnh l­ưu cả chu kỳ với biến áp có trung tính, chất lư­ợng điện một chiều như­ nhau, dòng điện làm việc của van bằng nhau, nên việc ứng dụng chúng cũng tư­ơng đ­ương nhau. Mặc dù vậy ở chỉnh lư­u cầu một pha có ­ưu điểm hơn ở chỗ: điện áp ng­ược trên van bé hơn; biến áp dễ chế tạo và có hiệu suất cao hơn. Thế như­ng chỉnh lư­u cầu một pha có số lư­ợng van nhiều gấp hai lần, làm giá thanh cao hơn, sụt áp trên van lớn gấp hai lần, chỉnh lư­u cầu điều khiển đối xứng thì việc điều khiển phức tạp hơn.

    Các sơ chỉnh lư­u một pha cho ta điện áp với chất lư­ợng chư­a cao, biên độ đập mạch điện áp quá lớn, thành phần hài bậc cao lớn điều này không đáp ứng đ­ược cho nhiều loại tải. Muốn có chất l­ượng điện áp tốt hơn chúng ta phải sử dụng các sơ đồ có số pha nhiều hơn.

    4.    Chỉnh l­ưu tia ba pha.

     

    Khi biến áp có ba pha đấu sao ( Y ) trên mỗi pha A,B,C ta nối một van nh­ư hình 6.a, ba catod đấu chung cho ta điện áp d­ương của tải, còn trung tính biến áp sẽ là điện áp âm. Ba pha điện áp A,B,C dịch pha nhau một góc là 1200 theo các đ­ường cong điện áp pha, chúng ta có điện áp của một pha dư­ơng hơn điện áp của hai pha kia trong khoảng thời gian 1/3 chu kỳ ( 1200 ). Từ đó thấy rằng, tại mỗi thời điểm chỉ có điện áp của một pha d­ương hơn hai pha kia.

    Nguyên tắc mở thông và điều khiển các van ở đây là khi anod của van nào d­ương hơn van đó mới đư­ợc kích mở. Thời điểm hai điện áp của hai pha giao nhau được coi là góc thông tự nhiên của các van bán dẫn. Các Tiristior chỉ đư­ợc mở thông với góc mở nhỏ nhất tại thời điểm góc thông tự nhiên (như vậy trong chỉnh lư­u ba pha, góc mở nhỏ nhất = 0o sẽ dịch pha so với điện áp pha một góc

    là 300).

     
       

    a

    Hình 6  Chỉnh lưu tia ba pha

    1. Sơ đồ động lực; b- Giản đồ đường các cong khi góc mở = 30o tải thuần trở; c- Giản đồ các đường cong khi = 60o các đường cong gián đoạn.

    Từ sơ đồ ,ta thấy ở một thời điểm nào đó chỉ có một van dẫn, nh­ư vậy mỗi van dẫn thông trong 1/3 chu kỳ nếu điện áp tải liên tục,còn nếu điện áp tải gián đoạn thì thời gian dẫn thông của các van nhỏ hơn. Tuy nhiên trong cả hai tr­ường hợp dòng điện trung bình của các van đều bằng 1/3.Id. Trong khoảng thời gian van dẫn dòng điện của van bằng dòng điện tải, trong khoảng van khoá dòng điện van bằng 0. Điện áp của van phải chịu bằng điện dây giữa pha có van khoá với pha có van đang dẫn. Khi tải thuần trở dòng điện và điện áp tải liên tục hay gián đoạn phụ thuộc góc mở của các Tiristo.  Nếu góc mở Tiristo nhỏ hơn  30o, các đ­ường cong Ud, Id liên tục, khi góc mở lớn hơn >30o điện áp và dòng điện tải gián đoạn .

    So với chỉnh lư­u một pha, thì chỉnh lưu tia ba pha có chất l­ượng điện một chiều tốt hơn, biên độ điện áp đập mạch thấp hơn, thành phần sóng hài bậc cao bé hơn, việc điều khiển các van bán dẫn trong trư­ờng hợp này cũng tương đối đơn giản. Với việc dòng điện mỗi cuộn dây thứ cấp là dòng một chiều, nhờ có biến áp ba pha ba trụ mà từ thông lõi thép biến áp là từ thông xoay chiều không đối xứng làm cho công suất biến áp phải lớn .Nếu ở đây biến áp đ­ược chế tạo từ ba biến áp một pha thì công suất các biến áp còn lớn hơn nhiều. Khi chế tạo biến áp động lực các cuộn dây thứ cấp phải đư­ợc đấu  với dây trung tính phải lớn hơn dây pha vì theo sơ đồ hình 6a thì dây trung tính chịu dòng điện tải.

     

    5.    Chỉnh l­ưu tia sáu pha.

     

    Sơ đồ chỉnh l­ưu tia ba pha ở trên có chất l­ượng điện áp tải chư­a thật tốt lắm. Khi cần chất l­ượng điện áp tốt hơn chúng ta sử dụng sơ đồ nhiều pha hơn. Một trong những sơ đồ đó là chỉnh lư­u tia sáu pha. Sơ đồ động lực mô tả trên hình vẽ:

           
       
         

    a                                                               b

    Hình 7  Chỉnh lưu tia sáu pha

    • Sơ đồ động lực; b- Đường cong điện áp tải

    Sơ đồ chỉnh l­ưu tia sáu pha đ­ược cấu tạo bởi sáu van bán dẫn nối tới biến áp ba pha với sáu cuộn dây thứ cấp, trên mỗi trụ biến áp có hai cuộn giống nhau và ngư­ợc pha. Điện áp các pha dịch nhau một góc là 60o , dạng sóng điện áp tải ở đây là phần d­ương hơn của các điện áp pha với đập mạch bậc sáu. Với dạng sóng điện áp như­ trên, ta thấy chất l­ượng điện áp một chiều đư­ợc coi là tốt nhất.

    Theo dạng sóng điện áp ra ,chúng ta thấy rằng mỗi van bán dẫn dẫn thông trong khoảng 1/6 chu kỳ. So với các sơ đồ khác, thì ở chỉnh lưu tia sáu pha dòng điện chạy qua van bán dẫn bé nhất. Do đó sơ đồ chỉnh l­ưu tia sáu pha rất có ý nghĩa khi dòng tải lớn. Trong trư­ờng hợp đó chúng ta chỉ cần có van nhỏ có thể chế tạo bộ nguồn với dòng tải lớn.

     

     

    6.    Chỉnh l­ưu cầu ba pha.

    a/Chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển đối xứng.

    Sơ đồ chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển đối xứng hình 8.a có thể coi như­ hai sơ đồ chỉnh l­ưu tia ba pha mắc ngư­ợc chiều nhau, ba Tiristo T1,T3,T5 tạo thành một chỉnh l­ưu tia ba pha cho điện áp (+) tạo thành nhóm anod, còn T2,T4,T6 là một chỉnh l­ưu tia cho ta điện áp âm tạo thành nhóm catod, hai chỉnh l­ưu này ghép lại thành cầu ba pha.

    Theo hoạt động của chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển đối xứng, dòng điện chạy qua tải là dòng điện chạy từ pha này về pha kia, do đó tại mỗi thời điểm cần mở Tiristo chúng ta cần cấp hai xung điều khiển đồng thời (một xung ở nhóm anod (+), một xung ở nhóm catod (-)).

    Khi chúng ta cấp đúng các xung điều khiển, dòng điện sẽ đ­ược chạy từ pha có điện áp d­ương hơn về pha có điện áp âm hơn. Khi góc mở van nhỏ hoặc điện cảm lớn, trong mỗi khoảng dẫn của một van của nhóm này (anod hay catod) thì sẽ có hai van của nhóm kia đổi chỗ cho nhau. Điện áp ngư­ợc các van phải chịu ở chỉnh l­u cầu ba pha  sẽ bằng 0 khi van dẫn và bằng điện áp dây khi van khoá.

    Sự phức tạp của chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển đối xứng nh­ư đã nói trên là cần phải mở đồng thời hai van theo đúng thứ tự pha, do đó gây không ít khó khăn khi chế tạo vận hành và sửa chữa. Để đơn giản hơn ngư­ời ta có thể sử dụng điều khiển không đối xứng.

           
         
       
     

    a        b

           
       
         
     

    c      d

    Hình 8. Chỉnh lưu cầu ba pha điều khiển đối xứng.

    a- sơ đồ động lực; b- giản đồ các đường cong cơ bản

    c,d – điện áp tải khi =60o =90o

    b/Chỉnh l­ưu cầu ba pha điều khiển không đối xứng.

    Loại chỉnh l­ưu này đ­ược cấu tạo từ một nhóm (anod hoặc catod) điều khiển và một nhóm không điều khiển như­ mô tả trên hình vẽ:

    a                                                                                            b

    .

    Hình 9. Chỉnh lưu cầu ba pha điều khiển không đối xứng.

    a- sơ đồ động lực;  b- giản đồ các đường cong cơ bản

    Chỉnh l­ưu cầu ba pha điều khiển không đối xứng có dòng điện và điện áp tải liên tục khi góc mở các van bán dẫn nhỏ hơn 600, khi góc mở tăng lên và thành phần điện cảm của tải nhỏ, dòng điện và điện áp sẽ gián đoạn.

    Theo dạng sóng điện áp tải ở trên trị số điện áp trung bình trên tải bằng 0 khi góc mở đạt tới 1800. Ngư­ời ta có thể coi điện áp trung bình trên tải là kết quả của tổng hai điện áp chỉnh l­ưu tia ba pha

    Việc kích mở các van điều khiển trong chỉnh l­ưu cầu ba pha có điều khiển dễ dàng hơn, như­ng các điều hoà bậc cao của tải và của nguồn lớn hơn.

    So với chỉnh l­ưu cầu ba pha điều khiển đối xứng, thì trong sơ đồ này việc điều khiển các van bán dẫn đư­ợc thực hiện đơn giản hơn. Ta có thể coi mạch điều khiển của bộ chỉnh lư­u này như­ điều khiển một chỉnh l­ưu tia ba pha.

    Chỉnh lưu cầu ba pha hiện nay là sơ đồ có chất lư­ợng điện áp tốt nhất, hiệu suất sử dụng biến áp tốt nhất. Tuy vậy, đây cũng là sơ đồ phức tạp nhất.

    7.    Chỉnh l­ưu khi có điôt ng­ược.

     

    Hình 10. chỉnh lưu một pha với biến áp trung tính

    Như đã nêu ở trên, khi chỉnh lưu làm việc với tải điện cảm lớn, năng lượng của cuộn dây tích luỹ sẽ được xả ra khi điện áp nguồn đổi dấu. Trong trường hợp này như mô tả trên hình 10 khi điện áp nguồn đổi dấu do điôt D đặt ngược điện áp lên các tiristo (trong các khoảng 0(t1, p1(t2, p2(t3), nên các tiristo bị khoá điện áp tải bằng 0. Dòng điện chạy qua các tiristo I1, I2 chỉ tồn tại trong khoảng (t1(p1, t2(p2, t3(p3) tiristo được phân cực thuận. Khi điện áp đổi dấu, năng lượng của cuộn dây tích luỹ xả qua điôt, để tiếp tục duy trì dòng điện ID trong mạch tả.

    Chỉnh lư­u một pha thư­ờng đư­ợc chọn khi nguồn cấp là lư­ới điện một pha, hoặc công suất không quá lớn so với công suất lư­ới (làm mất đối xứng điện áp lưới, và tải không có yêu cầu quá cao về chất lư­ợng điện áp một chiều.

    Trong chỉnh lư­u một pha, nếu tải có dòng điện lớn và điện áp thấp, thì sơ đồ chỉnh lư­u một pha cả chu kỳ với biến áp có trung tính có ­ưu điểm hơn. Bởi vì trong sơ đồ này tổn hao trên van bán dẫn ít hơn, nên công suất tổn hao trên van so với công suất tải nhỏ hơn, hiệu suất thiết bị cao hơn, điện áp ngược của van lớn (nếu điện áp cao mà chọn sơ đồ này có thể không chọn được van bán dẫn). Nếu tải có điện áp cao và dòng điện nhỏ, thì việc chọn sơ đồ cầu chỉnh lư­u một pha hợp lý hơn, bởi vì hệ số điện áp ngư­ợc của van trong sơ đồ cầu nhỏ hơn, do đó chúng ta dễ chọn van hơn.

    Khi sử dụng sơ đồ chỉnh lư­u cầu một pha, đối với những loại tải không cần làm việc ở chế độ nghịch l­ưu hoàn trả năng lư­ợng về lư­ới, nên chọn sơ đồ chỉnh lư­u cầu điều khiển không đối xứng. Vì trong sơ đồ này tại mỗi thời điểm phát xung điều khiển chúng ta chỉ cần cấp một xung (ở chỉnh lư­u cầu một pha điều khiển đối xứng chúng ta phải cấp hai xung điều khiển cho hai Tiristo đồng thời), sơ đồ mạch điều khiển đơn giản hơn.

    Chỉnh l­ưu cầu một pha điều khiển đối xứng đư­ợc dùng nhiều đối với các loại tải có làm việc ở chế độ nghịch l­ưu hoàn trả năng lư­ợng về lư­ới, như­ động cơ điện một chiều chẳng hạn.

    Đối với các loại tải có điện cảm lớn (ví dụ nh­ư cuộn dây kích từ của máy điện), để lợi dụng năng l­ượng của cuộn dây xả ra và bảo vệ van khi mất điện đột ngột, ng­ười ta hay chọn ph­ương án mắc thêm một điôt ngư­ợc song song với tải.

    Các sơ đồ chỉnh lư­u ba pha thư­ờng đ­ược chọn, khi nguồn cấp là lư­ới ba pha công nghiệp và khi tải có yều cầu cao về chất lư­ợng điện áp một chiều.

    Chỉnh l­ưu tia ba pha thư­ờng đ­ược lựa chọn, khi công suất tải không quá lớn so với biến áp nguồn cấp (để tránh gây mất đối xứng cho nguồn lưới), và khi tải có yêu cầu không quá cao về chất l­ượng điện áp một chiều. Đối với các loại tải có điện áp một chiều định mức là 220V, sơ đồ tia ba pha có ư­u điểm hơn tất cả. Bởi vì theo sơ đồ này, khi chỉnh l­ưu trực tiếp từ l­ưới chúng ta có điện áp một chiều là  220V.1,17 =257,4V. Để có điện áp 220V không nhất thiết phải chế tạo biến áp, mà chỉ cần chế tạo ba cuộn kháng anod của van là đủ.

    Chỉnh lư­u cầu ba pha nên chọn, khi cần chất lư­ợng điện áp một chiều tốt, vì đây là sơ đồ có chất lư­ợng điện áp ra tốt nhất, trong các sơ đồ chỉnh lưu thư­ờng gặp. Sơ đồ chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển không đối xứng có mạch điều khiển đơn giản hơn, nên trong đa số các trư­ờng hợp ng­ười ta hay chọn ph­ương án cầu ba pha điều khiển không đối xứng. Ví dụ làm nguồn cho máy hàn một chiều, điều khiển kích từ  máy phát xoay chiều công suất nhỏ, các bộ nguồn cho các thiết bị điện hoá nh­ư mạ điện, điện phân….

    Sơ đồ chỉnh lư­u cầu ba pha điều khiển đối xứng đư­ợc dùng nhiều trong các trư­ờng hợp tải có yêu cầu về việc hoàn trả năng l­ượng về lư­ới, ví dụ như­ điều khiển động cơ điện một chiều.

    Để giảm tiết diện dây quấn thứ cấp biến áp, các cuộn dây thứ cấp biến áp có thể đấu tam giác ().

    Sơ đồ tia sáu pha, với việc chế tạo biến áp phức tạp và phải làm thêm cuộn

    sơ đồ cầu ba pha chúng ta không chọn đ­ược van theo dòng điện.

    Cùng một trị số điện áp và dòng điện tải như­ nhau, sử dụng sơ đồ càng nhiều pha dòng điện làm việc của van bán dẫn càng nhỏ. Các sơ đồ cầu bao giờ cũng có điện áp làm việc của van nhỏ hơn so với sơ đồ tia cùng loại.

    —————————————————————————————————————–

    CHƯƠNG II

                            CHỈNH LƯU TIA  III PHA

    Chỉnh l­ưu tia ba pha th­ường đ­ược lựa chọn, khi công suất tải không quá lớn so với biến áp nguồn cấp (để tránh gây mất đối xứng cho nguồn lưới), và khi tải có yêu cầu không quá cao về chất l­ượng điện áp một chiều.

     
       

    Hình 11. Sơ đồ động lực

    Khi biến áp có ba pha đấu sao (  ) trên mỗi pha A,B,C ta nối một van như hình vẽ ba catod đấu chung cho ta điện áp d­ương của tải, còn trung tính biến áp sẽ là điện áp âm. Ba pha điện áp A,B,C dịch pha nhau một góc là 120o theo các đ­ường cong điện áp pha, chúng ta có điện áp của một pha dương hơn điện áp của hai pha kia trong khoảng thời gian 1/3 chu kỳ ( 120o ). Từ đó thấy rằng, tại mỗi thời điểm chỉ có điện áp của một pha d­ương hơn hai pha kia.

    Nguyên tắc mở thông và điều khiển các van ở đây là khi anod của van nào dư­ơng hơn van đó mới đ­ược kích mở. Thời điểm hai điện áp của hai pha giao nhau đư­ợc coi là góc thông tự nhiên của các van bán dẫn. Các Tiristior chỉ đ­ược mở thông với góc mở nhỏ nhất tại thời điểm góc thông tự nhiên (như­ vậy trong chỉnh l­ưu ba pha, góc mở nhỏ nhất  = 0o sẽ dịch pha so với điện áp pha một góc là 300).

    Theo hình vẽ tại mỗi thời điểm nào đó chỉ có một van dẫn, nh­ư vậy mỗi van dẫn thông trong 1/3 chu kỳ nếu điện áp tải liên tục ( đ­ường cong I1,I1,I3 trên hình vẽ), còn nếu điện áp tải gián đoạn thì thời gian dẫn thông của các van nhỏ hơn.

    Tuy nhiên trong cả hai tr­ường hợp dòng điện trung bình của các van đều bằng 1/3.Id. Trong khoảng thời gian van dẫn dòng điện của van bằng dòng điện tải, trong khoảng van khoá dòng điện van bằng 0. Điện áp của van phải chịu bằng điện dây giữa pha có van khoá với pha có van đang dẫn.

    Ví dụ trong khoảng t2  t3 van T1 khoá còn T2 dẫn do đó van T1 phải chịu một điện áp dây UAB, đến khoảng t3  t4 các van T1, T2 khoá, còn T3 dẫn lúc này T1 chịu điện áp dây UAC.

    Khi tải điện cảm (nhất là điện cảm lớn) dòng điện, điện áp tải là các đường cong liên tục, nhờ năng l­ượng dự trữ trong cuộn dây đủ lớn để duy trì dòng điện khi điện áp đổi dấu, nh­ư đư­ờng cong nét đậm trên hình 11.

    So với chỉnh lư­u một pha, thì chỉnh l­ưu tia ba pha có chất l­ượng điện một chiều tốt hơn, biên độ điện áp đập mạch thấp hơn, thành phần sóng hài bậc cao bé hơn, việc điều khiển các van bán dẫn trong trường hợp này cũng t­ương đối đơn giản.

    Với việc dòng điện mỗi cuộn dây thứ cấp là dòng một chiều, nhờ có biến áp ba pha ba trụ mà từ thông lõi thép biến áp là từ thông xoay chiều không đối xứng làm cho công suất biến áp phải lớn .Nếu ở đây biến áp được chế tạo từ ba biến áp một pha thì công suất các biến áp còn lớn hơn nhiều.

    Khi chế tạo biến áp động lực các cuộn dây thứ cấp phải đư­ợc đấu  với dây trung tính phải lớn hơn dây pha vì theo sơ đồ hình 11 thì dây trung tính chịu dòng điện tải.

    ————————————————————————————–

    CHƯƠNG III

    TÍNH TOÁN VAN ĐỘNG LỰC

     

    Hai thông số cần quan tâm nhất khi chọn van bán dẫn cho chỉnh l­ưu là điện áp và dòng điện, các thông số còn lại là những thông số tham khảo khi lựa chọn.

    Khi đã đáp ứng đ­ược hai thông số cơ bản trên các thông số còn lại có thể tham khảo theo gợi ý sau:

    Loại van nào có sụt áp U nhỏ hơn sẽ có tổn hao nhiệt ít hơn.

    Dòng điện rò của loại van nào nhỏ hơn thì chất lư­ợng tốt hơn.

    Nhiệt độ cho phép của loại van nào cao hơn thì khả năng chịu nhiệt tốt hơn.

    Điện áp và dòng điện điều khiển của loại van nào nhỏ hơn, công suất điều khiển thấp hơn.

    Loại van nào có thời gian chuyển mạch bé hơn sẽ nhạy hơn. Tuy nhiên trong đa số các van bán dẫn thời gian chuyển mạch th­ường tỷ lệ nghịch với tổn hao công suất.

    Các van động lực đư­ợc lựa chọn  dựa vào các yếu tố cơ bản là: dòng tải, sơ đồ đã chọn,  điều kiện toả nhiệt, điện áp làm việc.

    Các thông số cơ bản của van động lực đ­ược tính nh­ư sau:

    Điện áp ng­ược của van đ­ược tính:

    Ulv =  knv. U2         (1)

    với U2 = Ud/ku thay vào (1)  lúc đó Ulv có thể tính

    Ulv=knv.Ud/ku.

    Trong đó: Ud, U2, Ulv –  điện áp tải, nguồn xoay chiều, ng­ược của van;
    knv, ku –  các hệ số điện áp ng­ược và điện áp tải. Các hệ số này tra từ bảng:

    Knv=2,45

    Ku=1,17

    Thay số vào ta có:

    Ulv=2,45. =209,4  (V)

    Để có thể chọn van theo điện áp hợp lý, thì điện áp ng­ược của van cần chọn phải lớn hơn điện áp làm việc đ­ược tính từ công thức (1), qua một hệ số dự trữ kdtU

    Unv = kdtU.Ulv.                                                                   (8 -3)

    kdtU thư­ờng đư­ợc chọn lớn hơn 1,6 (Chọn kdtU=2)

    Suy ra: Unv=2.209,4=418,8 (V)

    Tính dòng điện của van.

    Dòng điện làm việc của van đ­ược chọn theo dòng điện hiệu dụng chạy qua van theo sơ đồ đã chọn (Ilv = Ihd). Dòng điện hiệu dụng đ­ược tính:

    được tính: Ihd = khd. Id                                                                      

    Trong đó: Ihd , Id –  Dòng điện hiệu dụng của van và dòng điện tải;

    khd=0.58 – Hệ số xác định dòng điện hiệu dụng (tra bảng).

    Vậy ta có:   Ilv=Ihd=0.58.22=12,76  (A)

    Để van bán dẫn có thể làm việc an toàn, không bị chọc thủng về nhiệt, cần phải chọn và thiết kế hệ thống toả nhiệt hợp lý. Chọn điều kiện có cánh toả nhiệt với đủ diện tích bề mặt cho phép van làm việc tới  40%Iđmv (Iđmv > 2,5.Ilv)

    Hay chọn :Ilv=25%Iđmv

    Ta có Iđmv=4.12,76=51,04  (A)

    Để có thể chọn đ­ược van cho làm việc với các thông số định mức cơ bản trên, chúng ta tra bảng thông số một số Tiristor chọn các van có thông số điện áp ng­ược (Unv), dòng điện định mức(Iđmv) lớn hơn gần nhất với thông số đã tính được ở trên.

    Theo cách đó có thể chọn :

    Tiristor loại T60N600BOC có các thông số định mức:

    • Dòng điện định mức của van Iđmv=60 A.
    • Điện áp ng­ược cực đại của van Unv = 600 V.
    • Độ sụt áp trên van U = 1,8 V.
    • Dòng điện dò Ir = 25 mA.
    • Điện áp điều khiển Uđk =1.4 V.
    • Dòng điện điều khiển Iđk = 150 m A.

      ——————————————————————————————————————–

     

    CHƯƠNG IV

    TÍNH TOÁN BIẾN ÁP

    Chọn máy biến áp 3 pha 3 trụ sơ đồ đấu dây D/Y làm mát bằng không khí tự nhiên .

    Tính các thông số cơ bản :

    Điện áp pha sơ cấp máy biến áp :                Up =380 (V)

    Điện áp pha thứ cấp của máy biến áp

    Phương trình cân bằng điện áp khi có tải :

    Udo .cos amin =Ud +2. DUv +DUdn + DUba

    Trong đó :        min =10o là góc dự trữ khi có sự suy giảm điện lưới

    DUv =1,8(V)  là sụt áp trên Thyristor

    DUdn0 là sụt áp trên dây nối

    DUba = DUr + DUx là sụt áp trên điện trở và điện kháng máy biến áp .

    Chọn sơ bộ :      DUba =10%.Ud =10%.100 = 10(V)

    Từ phương trình cân bằng điện áp khi có tải ta có :

    Ud0 ===115,35 (V)

    Điện áp pha thứ cấp pha máy biến áp :

    U2= ==85,47 (V)

    Dòng điện hiệu dụng thứ cấp của máy biến áp :

    I2 =k2.Id=0,58.22= 12,76 (A)

    Dòng điện hiệu dụng sơ cấp máy biến áp :

    I1 = KbaI2 = .I2 =  . 12,76 = 2,87 (A)

    Tính tiết diện dây dẫn:

    (mm2)

    Trong đó :   I – dòng điện chạy qua cuộn dây [A];

    J – mật độ dòng điện trong biến áp thường chọn  2  2,75 [A/mm2]

    Vậy tiết diện dây dẫn sơ cấp:     Scu1==1,4357    ( mm2).

    Tiết diện dây dẫn thứ cấp:       Scu2==5,1  (mm2)

    Nếu chọn dây quấn tròn thì đường kính dây được tính:

     
       

    Suy ra  : d1=1,35 mm   (chuẩn hóa)

    =>Dn1=1.44mm  (cả vỏ cách điện )

    d2 =2,83 mm     (chuẩn hóa)

    =>Dn2=2,95 mm  (cả vỏ cách điện )

    Xác định công suất tối đa của tải ví dụ với tải chỉnh lưu xác định

    Pdmax = Udo . Id =  115,35 .22 =2537,7  (W)

    Công suất biến áp nguồn cấp được tính

    Sba = ks . Pdmax

                Trong đó : Sba – công suất biểu kiến của biến áp [W];

                                 ks – hệ số công suất theo sơ đồ mạch động lực        

    Suy ra Sba=1,345.2537,7=3413,21 (VA)      

    Tính toán sơ bộ mạch từ

     

     
       

    Tiết diện trụ QFe của lõi thép biến áp được tính từ công suất:

    Với   kQ = 5  ¸  6 –máy biến áp khô (chọn kq=6)

    m=3 – số trụ của máy biến áp

    f – tần số nguồn điện xoay chiều f=50 Hz.

    Đưòng kính trụ :

    d = = = 6,04(cm)

    Chuẩn đường kính trụ theo tiêu chuẩn  d = 6.1 (cm)

    Chọn loại lá thép có độ dày 0,5 mm

    Tính toán dây quấn biến áp.

    Thông số các cuộn dây cần tính bao gồm số vòng và kích thước dây.

    Số vòng dây của cuộn sơ cấp được tính

               Với   B – từ cảm (thường chọn trong khoảng (1,0 ¸ 1,8) Tesla tuỳ thuộc chất lượng tôn-ở đây chọn B=1).

    Chọn W1=600 [vòng]

    Tương tự số vòng dây của cuộn thứ cấp được tính

    Chọn W2=136 [vòng]

    Chọn sơ bộ các kích thước cơ bản của mạch từ

     

    Chọn hình dáng của trụ

    Vì công suất nhỏ (dưới 10 KVA), ta chọn trụ chữ nhật với các kích thước  QFe = a . b. Trong đó a – bề rộng trụ, b – bề dầy trụ

    với:

    Qcs1 =k.W1.SCu1  =2,5.600.1,4314=2147,1   [mm2]

    Qcs2 =k.W2.SCu2  =2,5.136.6,29=    2138,6     [mm2]

    Trong đó: Qcs,- diện tích cửa sổ [mm2];

                   Qcs1,Qcs2  – phần do cuộn sơ cấp và thứ cấp chiếm chỗ [mm2];

                   W1, W2  – số vòng dây sơ, thứ cấp;

                   SCu1, SCu2  –  tiết diện dây quấn sơ, thứ cấp [mm2];

                    k  –  hệ số lấp đầy thường chọn  2,0 ¸ 3,0 (chọn kld=2.5)

     

    Diện tích cửa sổ cần có:

    Qcs  = Qcs1 + Qcs2 =  4285,7         [mm2]

    Mà QFe=2826[mm2]=a*a

    =>Chọn kích thước cửa sổ.

    Khi đã có diện tích cửa sổ Qcs, cần chọn các kích thước cơ bản (chiều cao h và chiều rộng c với Qcs = c.h) của cửa sổ mạch từ. Các kích thước cơ bản này của lõi thép do người thiết kế tự chọn. Những số liệu đầu tiên có thể tham khảo chiều cao h và chiều rộng cửa sổ c được chọn dựa vào các hệ số phụ m=h/a; n = c/a; l = b/a. Kinh nghiệm cho thấy đối với lõi thép hình E thì m = 2,8; n = 0,55; l = 1  (1,5; là tối ưu hơn cả. Tuy nhiên những hệ số phụ này sau khi tính xong mạch từ có thể không hợp lý cho một số trường hợp, lúc đó người thiết kế cần thay đổi các chỉ số phụ cho để tính lại.

    =>c=29,28 mm

    h=146,4 mm

    a=53 mm

    b=53 mm

    Chiều rộng toàn bộ mạch từ

    C = 2c + x.a =2.29,28+3.53=217,56 mm

    (Với x = 3- biến áp ba pha)

    chiều cao mạch từ

    H = h + z.a=146,4+2.53=  252,4 mm

    (Với z = 2 -biến áp ba pha)

    Hình dáng kết cấu mạch từ thể hiện như hình vẽ:

     
       

                                  Sơ đồ kết cấu lõi thép biến áp

          

     

     

     

    Kết cấu dây quấn.

     

    Dây quấn được bố trí theo chiều dọc trụ, mỗi cuộn dây được quấn thành nhiều lớp dây. Mỗi lớp dây được quấn liên tục, các vòng dây sát nhau. Các lớp dây cách điện với nhau bằng các bìa cách điện. Cách tính các thông số này như sau:

    Số vòng dây trên mỗi lớp W1l:

    Khi dây quấn tiết diện tròn được tính

    (8 – 21)

    Trong đó: h –  chiều cao cửa sổ,

                   dn –  đường kính dây quấn kể cả cách điện;

                  hg –  khoảng cách cách điện với gông có thể tham khảo chọn hg = 2.dn.

    Số lớp dây Sld trong cửa sổ được tính bằng tỷ số, số vòng dây W của cuộn dây W1 hoặc W2 cần tính, trên số vòng dây trên một lớp W1l

    =>Sld1=600/100=6           (lớp)

    Sld2=136/48=2,83     (lớp)

    Như vậy:  600 vòng tách thành 6 lớp mỗi lớp 100 vòng .

    136 vòng tách thành 3 lớp: 2 lớp 48 vòng;1 lớp 40 vòng.

    Chọn sơ bộ khoảng cách cách điện gông là 1,5 cm .

    Chiều cao thực tế của cuộn sơ cấp :

    h1=  = = 152(mm)

    Chiều cao thực tế của cuộn thứ cấp :

    h2=  = = 149 (mm)

    Chọn ống quấn dây làm bằng vật liệu cách điện có bề dầy : S01= 0,1 cm.

    Khoảng cách từ trụ tới cuộn dây sơ cấp  a01= 1,0 cm .

    Đường kính trong của ống cách điện .

    Dt= dFe + 2.a01– 2.S01 =6,1+ 2.1 – 2.0,1 = 7,9 (cm)

    Đường kính trong của cuộn sơ cấp .

    Dt1= Dt + 2.S01=7,9 + 2.0,1= 8,1(cm)

    Chọn bề dầy giữa hai lớp dây ở cuộn sơ cấp : cd11= 0,1 mm

    Bề dầy cuộn sơ cấp .

    Bd1= (Dn1+cd11).Sld1= (1,44 + 0.1).6= 9,24 (mm) = 0,924 (cm)

    Đường kính ngoài của cuộn sơ cấp .

    Dn1= Dt1+2.Bd1=8,1 + 2.0,924= 9,95 (cm)

    Đường kính trung bình của cuộn sơ cấp .

    Dtb1= == 9,03 (cm)

    Chiều dài dây quấn sơ cấp .

    l1 = W1.p.Dtb1=600. p.9,03.10-2= 170,2 (m)

    Chọn bề dày cách điện giữa cuộn sơ cấp và thứ cấp :cd01=0,5cm

    */  Kết cấu dây quấn thứ cấp .

    Đường kính trong của cuộn thứ cấp.

    Dt2 = Dn1+ 2.cd01 = 9,95 + 2.0,5 = 10,95 (cm)

    Chọn bề dầy cách điện giữa các lớp dây ở cuộn thứ cấp : cd22= 0,1 (mm)

    Bề dầy cuộn sơ cấp .

    Bd2 = (Dn2+cd22).Sld2 = (2,95 + 0,1).3= 9,15 (mm) = 0,915(cm)

    Đường kính ngoài của cuộn thứ cấp .

    Dn2= Dt2+ 2.Bd2= 11,95 + 2.0,915 = 13,78 (cm)

    Đường kính trung bình của cuộn thứ cấp .

    Dtb2= = = 12,87 (cm)

    Chiều dài dây quấn thứ cấp .

    l2 = p.W2.Dtb2 =136. p.12,87.10-2 = 55 (m)

    Đường kính trung bình các cuộn dây .

    D12=  = =11 (cm)

    r12= = 5,5 (cm)

    Chọn khoảng cách giữa hai cuộn thứ cấp : a22= 2 (cm)

    */ chọn gông

     

    Để đơn giản trong việc chế tạo gông từ ,ta chọn gông có tiết diện hình chữ nhật có các kích thước sau .

    Chiều dày của gông bằng chiều dày của trụ : gd=a=53 (mm)

    Chiều cao của gông bằng                              : gc =a=53(mm)

    Số lá thép dùng trong một gông .

    hg == 106 (lá)

    Tiết diện hiệu quả của trụ .

    QT= khq.QFe = 0,95.28,62 = 27,19 (cm2)

    Tính chính xác mật độ từ cảm trong trụ .

    BT =  = = 1,049 (T)

    Mật độ từ cảm trong gông .

    Bg = BT. = 1,049.1 = 1,049 (T)

    */  Tính khối lượng của sắt và đồng .

     

    Thể tích của trụ .

    VT = 3.QFe.h = 3.28,62.14,64 = 1256.99 (cm3)

    Thể tích của gông .

    Vg = 2.Qg.C = 2.4,5,3.5,3.21,756 = 1222,25  (cm3)

    Khối lượng của trụ .

    MT= VT . mFe = 1,25699 . 7,85 = 9,88 (Kg)

    Khối lượng của gông .

    Mg = Vg . mFe = 1,22225.7,85 =9,59 (Kg)

    Khối lượng của sắt .

    MFe= MT+Mg = 9,88+9,59 = 19,47  (Kg)

    Thể tích đồng .

    VCu = 3.(Scu1.l1 + Scu2.l2) = 3.(1,4314.10-4.1702+6,29.10-4.550)=1,77 (dm3)

    MCu = VCu . mCu = 1,77.8,9 =15,75 (Kg)

     

    */  Tính các thông số của máy biến áp .

     

    Điện trở của cuộn sơ cấp máy biến áp ở 75o C .

    với  =0,02133 (.mm2 /m) Điện trở suất của đồng ở 75o C

    R1= r.= 0,02133. = 2,53  (W)

    Điện trở cuộn thứ cấp máy biến áp ở 750C .

    R2= r.= 0,02133. = 0,19 (W)

    Điện trở của máy biến áp qui đổi về thứ cấp .

    RBA = R2 + R1= 0,19+ 2,53. =0,32  (W)

    Sụt áp trên điện trở máy biến áp .

    DUr = RBA.Id = 0,32 . 22 = 7,04 (V)

    Điện kháng máy biến áp qui đổi về thứ cấp .

    XBA= 8 .p2.(W2)2..w.10-7

    =  8 .p2.1362..314.10-7

    = 0,50(W)

    Điện cảm máy biến áp qui đổi về thứ cấp .

    LBA = =  = 1,5910-3(H) = 1,59 (mH)

    Sụt áp trên điện kháng máy biến áp .

    DUx = XBA.Id = 0,5.22= 10,5 (V)

    Sụt áp trên máy biến áp .

    DUBA= = = 12,64 (V)

    Điện áp trên động cơ khi có góc mở min= 100

    U= Ud0.Cosamin  –  2.DUV –  DUBA

    = 115,35.cos100 – 2.1,8 – 12,64 =97,36 (V)

    Tổng trở ngắn mạch qui đổi về thứ cấp .

    ZBA = = = 0,59 (W)

    Tổn hao ngắn mạch trong máy biến áp .

    DPn = 3.RBA .I= 3.0,32.,12,762 = 156,3 (W)

    DP% = .100 = .100 = 4,58 %

    Điện áp ngắn mạch tác dụng .

    Unr= .100 = .100 =4,78 %

    Điện áp ngắn mạch phản kháng .

    Unx = .100 = .100 = 7,46 %

    Điện áp ngắn mạch phần trăm .

    Un= == 8,86

    Dòng điện ngắn mạch xác lập .

    I2nm= = =144,86 (A)

    Dòng điện ngắn mạch tức thời cực đại .

    Ipik :Đỉnh xung max của Thyristor

    Imax = = =232,23 (A)

    < Ipik = 700 (A)

    Vậy máy biến áp thiết kế sử dụng tốt

    suất thiết bị chỉnh lưu .

    h =  = = 64,46 %

    ———————————————————————————————-

     

                       CHƯƠNG V

    THIẾT KẾ NGUYÊN LÝ MẠCH ĐIỀU KHIỂN

     

    1. Thiết kế mạch điều khiển

    a/. Nguyên lý thiết kế mach điều khiển.

    Điều khiển Tiristo trong sơ đồ chỉnh lưu hiện nay thường gặp là điều khiển theo nguyên tắc thẳng đứng tuyến tính. Nội dung của nguyên tắc này có thể mô tả theo giản đồ hình V.1 như sau.

    Khi điện áp xoay chiều hình sin đặt vào anod của Tiristo, để có thể điều khiển được góc mở ( của Tiristo trong vùng điện áp + anod, ta cần tạo một điện áp tựa dạng tam giác, ta thường gọi là điện áp tựa là điện áp răng cưa Urc. Như vậy điện áp tựa cần có trong vùng điện áp dương anod.

    Dùng một điện áp một chiều Uđk so sánh với điện áp tựa. Tại thời điểm (t1,t4) điện áp tựa bằng điện áp điều khiển (Urc = Uđk), trong vùng điện áp dương anod, thì phát xung điều khiển Xđk. Tiristo được mở từ thời điểm có xung điều khiển (t1,t4) cho tới cuối bán kỳ (hoặc tới khi dòng điện bằng 0)

           
       
     
       
    Hình V.1.  Nguyên lý điều khiển chỉnh lưu.

     

     

    Sơ đồ khối mạch điều khiển.

    Để thực hiện được ý đồ đã nêu trong phần nguyên lý điều khiển ở trên, mạch điều khiển bao gồm ba khâu cơ bản trên hình V.2.

     
       

    Hình V.2. Sơ đồ khối mạch điều khiển

    Nhiệm vụ của các khâu trong sơ đồ khối hình V.2 như sau:

    Khâu đồng pha có nhiệm vụ tạo điện áp tựa Urc (thường gặp là điện áp dạng răng cưa tuyến tính) trùng pha với điện áp anod của Tiristo

    Khâu so sánh có nhiệm vụ so sánh giữa điện áp tựa với điện áp điều khiển Uđk, tìm thời điểm hai điện áp này bằng nhau (Uđk = Urc). Tại thời điểm hai điện áp này bằng nhau, thì phát xung ở đầu ra để gửi sang tầng khuyếch đại.

    Khâu tạo xung có nhiệm vụ tạo xung phù hợp để mở Tiristo. Xung để mở Tiristor có yêu cầu: sườn trước dốc thẳng đứng, để đảm bảo yêu cầu Tiristo mở tức thời khi có xung điều khiển (thường gặp loại xung này là xung kim hoặc xung chữ nhật); đủ độ rộng với độ rộng xung lớn hơn thời gian mở của Tiristo; đủ công suất; cách ly giữa mạch điều khiển với mạch động lực (nếu điện áp động lực quá lớn)

    Với nhiệm vụ của các khâu như vậy tiến hành thiết kế, tính chọn các khâu cơ bản của ba khối trên. Chi tiết về các mạch này sẽ giới thiệu chi tiết ở phần sau.

     

    b/. Thiết kế sơ đồ nguyên lý.

     

    Hiện nay mạch điều khiển chỉnh lưu thường được thiết kế theo nguyên tắc thẳng đứng tuyến tính như giới thiệu trên.

    Theo nhiệm vụ của các khâu như đã giới thiệu, tiến hành thiết kế, tính chọn các khâu cơ bản của ba khối trên.

    Trên hình V.3;V.4;V5 giới thiệu một số khâu đồng pha, so sánh, tạo xung điển hình.

    Sơ đồ hình V.3 a là sơ đồ đơn giản, dễ thực hiện, với số linh kiện ít nhưng chất lượng điện áp tựa không tốt. Độ dài của phần biến thiên tuyến tính của điện áp tựa không phủ hết 1800. Do vậy, góc mở van lớn nhất bị giới hạn. Hay nói cách khác, nếu theo sơ đồ này điện áp tải không điều khiển được từ 0 tới cực đại mà từ một trị số nào đó đến cực đại.

    Để khắc phục nhược điểm về dải điều chỉnh ở sơ đồ hình V.3.a người ta sử dụng sơ đồ tao điện áp tựa bằng sơ đồ hình V.3.b. Theo sơ đồ này, điện áp tựa có phần biến thiên tuyến tính phủ hết nửa chu kỳ điện áp. Do vậy khi cần điều khiển điện áp từ 0 tới cực đại là hoàn toàn có thể đáp ứng được.

               
       
       
    b.
     
       
    d.
     
       
    Hình V.3: Một số khâu đồng pha điển hình.

     

    a- Dùng diod và tụ; b- Dùng tranzitor và tụ; c- Dùng bộ ghép quang; d- Dùng khuếch đại thuật toán .

    Với sự ra đời của các linh kiện ghép quang, chúng ta có thể sử dụng sơ đồ tạo điện áp tựa bằng bộ ghép quang như hình V.3.c. Nguyên lý và chất lượng điện áp tựa của hai sơ đồ hình V.3.b,c tương đối giống nhau. Ưu điểm của sơ đồ hình V.3.c ở chỗ không cần biến áp đồng pha , do đó có thể đơn giản hơn trong việc chế tạo và lắp đặt.

    Các sơ đồ trên đều có chung nhược điểm là việc mở, khoá các Tranzitor trong vùng điện áp lân cận 0 là thiếu chính xác làm cho việc nạp, xả tụ trong vùng điện áp lưới gần 0 không được như ý muốn.

    Ngày nay các vi mạch được chế tạo ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, kích thước ngày càng gọn, ứng dụng các vi mạch vào thiết kế mạch đồng pha có thể cho ta chất lượng điện áp tựa tốt. Trên sơ đồ hình V.3.d  mô tả sơ đồ tạo điện áp tựa dùng khuyếch đại thuật toán (KĐTT).

                   
       
         
     
     
         
     
       
    Hình V.4: Sơ đồ các khâu so sánh thường gặp

     

    a- Bằng tranzitor; b- Cộng một cổng đảo của KĐTT c-Hai cổng KĐTT.

    Để xác định được thời điểm cần mở Tiristo chúng ta cần so sánh hai tín hiệu Uđk và Urc. Việc so sánh các tín hiệu đó có thể được thực hiện bằng Tranzitor (Tr) như trên hình V.4.a. Tại thời điểm Uđk = Urc, đầu vào Tr lật trạng thái từ khoá sang mở (hay ngược lại từ mở sang khoá), làm cho điện áp ra cũng bị lật trạng thái, tại đó chúng ta đánh dấu được thời điểm cần mở Tiristo.

    Với mức độ mở bão hoà của Tr phụ thuộc vào hiệu Uđk ( Urc = Ub, hiệu này có một vùng điện áp nhỏ hàng mV, làm cho Tr không làm việc ở chế độ đóng cắt như ta mong muốn, do đó nhiều khi làm thời điểm mở Tiristo bị lệch khá xa so với điểm cần mở tại Uđk = Urc.

    KĐTT có hệ số khuyếch đại vô cùng lớn, chỉ cần một tín hiệu rất nhỏ (cỡ (V) ở đầu vào, đầu ra đã có điện áp nguồn nuôi, nên việc ứng dụng KĐTT làm khâu so sánh là hợp lý. Các sơ đồ so sánh dùng KĐTT trên hình V.4.b,c rất thường gặp trong các sơ đồ mạch hiện nay. Ưu điểm hơn hẳn của các sơ đồ này là có thể phát xung điều khiển chính xác tại Uđk = Urc.

    Với nhiệm vụ tạo xung phù hợp để mở Tiristo như đã nêu ở trên, tầng khuyếch đại cuối cùng thường được thiết kế bằng Tranzitor công suất, như mô tả trên hình V.5.a. Để có xung dạng kim gửi tới Tiristo, ta dùng biến áp xung (BAX), để có thể khuyếch đại công suất ta dùng Tr, điôt D bảo vệ Tr và cuộn dây sơ cấp biến áp xung khi Tr khoá đột ngột. Mặc dù với ưu điểm đơn giản, nhưng sơ đồ này được dùng không rộng rãi, bởi lẽ hệ số khuyếch đại của tranzitor loại này nhiều khi không đủ lớn, để khuyếch đại được tín hiệu từ khâu so sánh đưa sang.

     
       
     
     
    Hình  V.5: Sơ đồ các khâu khuếch đại.

     

    a- Bằng tranzitor công suất  b- Bằng Sơ đồ darlington;
    c- Sơ đồ có tụ nối tầng.

    Tầng khuyếch đại cuối cùng bằng sơ đồ darlington như trên hình V.5.b thường hay được dùng trong thực tế. ở sơ đồ này hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu về khuyếch đại công suất, khi hệ số khuyếch đại được nhân lên theo thông số của các tranzitor.

    Trong thực tế xung điều khiển chỉ cần có độ rộng bé (cỡ khoảng (10 200) ms), mà thời gian mở thông các tranzitor công suất dài (tối đa tới một nửa chu kỳ – 0.01s), làm cho công suất toả nhiệt dư của Tr quá lớn và kích thước dây quấn sơ cấp biến áp dư lớn. Để giảm nhỏ công suất toả nhiệt Tr và kích thước dây sơ cấp BAX chúng ta có thể thêm tụ nối tầng như hình V.5.c. Theo sơ đồ này, Tr chỉ mở cho dòng điện chạy qua trong khoảng thời gian nạp tụ, nên dòng hiệu dụng của chúng bé hơn nhiều lần.

    Đối với một số sơ đồ mạch, để giảm công suất cho tầng khuyếch đại và tăng số lượng xung kích mở, nhằm đảm bảo Tiristo mở một cách chắc chắn, người ta hay phát xung chùm cho các Tiristo. Nguyên tắc phát xung chùm là trước khi vào tầng khuyếch đại, ta đưa chèn thêm một cổng và (() với tín hiệu

    vào nhận từ tầng so sánh và từ bộ phát xung chùm như hình V.6.

     
       

    Hình V.6: Sơ đồ phối hợp tạo xung chùm.

    Một số sơ đồ khâu tạo chùm xung mô tả trên hình V.7.

    Vi mạch 555 tạo xung đồng hồ hình V.7.a cho ta chất lượng xung khá tốt và sơ đồ cũng tương đối đơn giản. Sơ đồ này thường hay gặp trong các mạch tạo chùm xung.

    Trong thiết kế mạch điều khiển, thường hay sử dụng KĐTT. Do đó để đồng dạng về linh kiện, khâu tạo chùm xung cũng có thể sử dụng KĐTT, như các sơ đồ trên hình V.7.b,c. Tuy nhiên, ở đây sơ đồ dao động đa hài hình V.7.b có ưu điểm hơn về mức độ đơn giản, do đó được sử dụng khá rộng rãi trong các mạcg tạo xung chữ nhật.

    Hình V.7: Một số sơ đồ chùm xung.

     

    a.Sơ đồ dùng vi mạch 555; b. Đa hài bằng KĐTT;

    . c-Tạo bằng mạch KĐTT

    Sau khi phân tích ưu,nhược điểm của các khâu ta chọn  sơ chọn mạch điều khiển như sau:

    • Mạch tạo xung điều khiển đơn
           
       
     
     
     
     
    1. Mạch tạo chùm xung điều khiển
                   
         
     
         
         
     
     
       

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH

    BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH

    BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn – Đo lường và tự động điều khiển


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-H%E1%BB%8CC-TH%E1%BB%A6Y-V%C4%82N-C%C3%94NG-TR%C3%8CNH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH

    BÀI TẬP LỚN

    MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH

    Đề bài: Cho chuỗi tài liệu lưu lượng nước bình quân tháng trong thời kỳ nhiều năm

    Câu 1: Tính toán lượng dòng chảy bình quân nhiều năm và sai số (tính Q0, W0, M0, Y0  và sai số).

                Câu 2: Tính toán lượng dòng chảy bình quân năm thiết kế với tần suất thiết kế P = 1; 5; 10; 95; 99,9%.

    Câu 3: Tính toán phân phối dòng chảy trong năm thiết kế (theo mùa và theo tháng) khi có đủ số liệu bằng phương pháp chọn năm đại biểu.

    Yêu cầu tính toán cụ thể:

    • Xác định giới hạn các mùa (mùa lũ, mùa kiệt).
    • Tính lượng dòng chảy năm thủy văn ứng với các tần suất P=5%; P=50% và P=95%.
    • Chọn các năm đại biểu cho năm nhiều nước (P=5%), năm trung bình nước (P=50%), năm ít nước (P=95%) và xác định phân phối dòng chảy trong năm thiết kế.

    Bài Làm

    Câu 1: Lưu lượng dòng chảy bình quân nhiều năm là:

    (m3/s)

    Khoảng lệch bình quân ()

    Hệ số phân tán (Cv)

    Bảng tính các đặc trưng biêu thị dòng chảy
    Năm Q năm Ki Ki-1 (Ki-1)^2 (Ki-1)^3
    1967.000 147.247 0.774 -0.226 0.051 -0.012
    1968.000 216.786 1.139 0.139 0.019 0.003
    1969.000 220.534 1.159 0.159 0.025 0.004
    1970.000 244.703 1.286 0.286 0.082 0.023
    1971.000 227.240 1.194 0.194 0.038 0.007
    1972.000 189.724 0.997 -0.003 0.000 0.000
    1973.000 213.168 1.120 0.120 0.014 0.002
    1974.000 231.649 1.217 0.217 0.047 0.010
    1975.000 170.203 0.894 -0.106 0.011 -0.001
    1976.000 186.962 0.982 -0.018 0.000 0.000
    1977.000 183.831 0.966 -0.034 0.001 0.000
    1978.000 184.253 0.968 -0.032 0.001 0.000
    1979.000 198.380 1.042 0.042 0.002 0.000
    1980.000 151.428 0.796 -0.204 0.042 -0.009
    1981.000 214.998 1.130 0.130 0.017 0.002
    1982.000 168.556 0.886 -0.114 0.013 -0.001
    1983.000 154.733 0.813 -0.187 0.035 -0.007
    1984.000 201.403 1.058 0.058 0.003 0.000
    1985.000 169.813 0.892 -0.108 0.012 -0.001
    1986.000 186.431 0.979 -0.021 0.000 0.000
    1987.000 134.994 0.709 -0.291 0.085 -0.025
    Q trung bình 190.335 Tổng 0.000 0.499 -0.004

    Hệ số thiên lệch (Cs)

    Sai số tương đối

    T=21năm=6.532 108 (s)

    Tổng lượng dòng chảy bình quân nhiều năm là:

    (m3)

    Môđun dòng chảy bình quân nhiều năm là:

    (l/s-km2)

    Lớp dòng chảy bình quân nhiều năm là:

    (mm)

    Câu 2:

    Phương pháp 1: Phương pháp thích hợp

      Bảng tính các đặc trưng biêu thị dòng chảy  
    STT Năm Q năm Q tăng Ki Ki-1 (Ki-1)^2 (Ki-1)^3 P%
    1 1970.000 244.703 244.703 1.286 0.286 0.082 0.023 4.545
    2 1974.000 231.649 231.649 1.217 0.217 0.047 0.010 9.091
    3 1971.000 227.240 227.240 1.194 0.194 0.038 0.007 13.636
    4 1969.000 220.534 220.534 1.159 0.159 0.025 0.004 18.182
    5 1968.000 216.786 216.786 1.139 0.139 0.019 0.003 22.727
    6 1981.000 214.998 214.998 1.130 0.130 0.017 0.002 27.273
    7 1973.000 213.168 213.168 1.120 0.120 0.014 0.002 31.818
    8 1984.000 201.403 201.403 1.058 0.058 0.003 0.000 36.364
    9 1979.000 198.380 198.380 1.042 0.042 0.002 0.000 40.909
    10 1972.000 189.724 189.724 0.997 -0.003 0.000 0.000 45.455
    11 1976.000 186.962 186.962 0.982 -0.018 0.000 0.000 50.000
    12 1986.000 186.431 186.431 0.979 -0.021 0.000 0.000 54.545
    13 1978.000 184.253 184.253 0.968 -0.032 0.001 0.000 59.091
    14 1977.000 183.831 183.831 0.966 -0.034 0.001 0.000 63.636
    15 1975.000 170.203 170.203 0.894 -0.106 0.011 -0.001 68.182
    16 1985.000 169.813 169.813 0.892 -0.108 0.012 -0.001 72.727
    17 1982.000 168.556 168.556 0.886 -0.114 0.013 -0.001 77.273
    18 1983.000 154.733 154.733 0.813 -0.187 0.035 -0.007 81.818
    19 1980.000 151.428 151.428 0.796 -0.204 0.042 -0.009 86.364
    20 1967.000 147.247 147.247 0.774 -0.226 0.051 -0.012 90.909
    21 1987.000 134.994 134.994 0.709 -0.291 0.085 -0.025 95.455
      Q trung bình 190.335   Tổng 0.000 0.499 -0.004  

    Phương pháp 2: phương pháp 3điểm của Alexayeb.

    Trên đường tần suất kinh nghiệm đi qua nhóm điểm kinh nghiệm ta chọn 3điểm ứng với tần suất 5%, 50% và 90% sẽ có tương ứng 3giá trị lưu lượng ứng với các tần suất trên là: Q5%=248 m3/s; Q50%=188 m3/s; Q95%=143 m3/s. Tính được trị số của S là:

    Với S=0.143 tra bảng quan hệ Cs~S (phụ lục 2) được Cs=0.453. Có Cs tra phụ lục 3 được các giá trị

    Bình quân nhiều năm lưu lượng là:

    Hệ số

    Kết quả ta được  m3/s; Cv=0.168; Cs=0.453. sử dụng bảng Fôxtơ-Rưpkin (phụ lục 1) tính được các giá trị đường tần suất Qp ghi bảng sau:

    P% 0.1 1 2 5 10
     
    3.744 2.652 2.287 1.760 1.320
     
    1.629 1.446 1.384 1.296 1.222
    Qp=Kp. 310.486 275.519 263.832 246.957 232.867
    20 50 75 90 95 99
    0.815 -0.075 -0.710 -1.123 -1.500 -1.993
    1.137 0.987 0.881 0.811 0.748 0.665
    216.697 188.198 167.865 154.641 142.569 126.783

    Câu 3: Phương pháp chọn năm đại biểu là:

    Mùa lũ từ (1968-1975) Mùa kiệt từ (1975-1978)

    (m3/s)

    Tk=4năm=1.244 108 s

    Wkp=Qk.Tk=181.3121.244 108=2.256 1010 (m3)

    Chọn năm điển hình là năm 1977 có Qdh=183.831 m3/s

    Wdh=183.8313.1 107=5.72 109

    Năm lũ 1968 1969 1970 1971 1972 1973 1974
    Qk=K1.Qdh 1309.821 1332.466 1478.496 1372.984 1146.312 1287.961 1399.623
    Năm kiệt 1975 1976 1977 1978
    Qlu=K2.Qdh 167.820 184.345 181.257 181.673

    Lưu lượng các tháng năm điển hình là:

    Tháng I II II IV V VI VII VIII
    Q tháng 46.54 36.01 28.99 74.23 85.28 319.80 783.90 404.30
    Ki.Qi 45.89 35.51 28.58 73.191 84.0861 315.32 772.9 398.64
    IX X XI XII
    149.50 141.70 77.74 57.98
    147.4 139.72 76.6516 57.168

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn – Đo lường và tự động điều khiển

    Bài tập lớn – Đo lường và tự động điều khiển

    Bài tập lớn – Đo lường và tự động điều khiển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Tính toán thiết bị trao đổi nhiệt gián tiếp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-%C4%90o-l%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%C3%A0-t%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91i%E1%BB%81u-khi%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn – Đo lường và tự động điều khiển

    Đo lường và tự động điều khiển

    BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN

    Đo và điều khiển tốc độ động cơ dùng vi điều khiển 8051

    I.Giới thiệu chung:

    1.Mở đầu:

    Ngày nay trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật luôn xuất hiện khái niệm Kỹ thuật số

    • xử lý và điều khiển, với sự trợ giúp của máy tính kỹ thuật vi xử lý và điều khiển đã có sự phát triển ạnh mẽ đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của các họ vi xử lý và điều khiển với những tính năng mới. Để phục vụ tốt cho môn học “Đo lường và điều khiển tự động” chúng em thực hiện đề tài: Đo và Điều khiển Tốc Độ Động Cơ với mục đích tích luỹ kiến thức đặc biệt là những kinh nghiệm trong quá trình lắp mạch thực tế song do thời gian và kiến thức có hạn, nên mạch thiết kế còn nhiều thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để có thể nâng cao chất lượ ng của bài thiết kế, chúng em xin chân thành cảm ơn !

    2. Đề tài : Đo và điều khiển tốc độ động cơ một chiều loại nhỏ

    1. 3. Nhóm sinh viên thực hiện:

    Nhóm thực hiện: Gồm 3 thành viên chính được phân công công việc cụ thể

    1

    Đo lường và tự động điều khiển

    4.Định hướng thiết kế:

    Thiết kế một h ệ vi xử lý bao gồm cả việc thi ết kế tổ ch ức phần cứng và viết phần mềm cho nền ph ần cứng mà ta thiết kế. Việc xem xét giữa tổ chức phần cứng và chương trình phần mềm cho một thiết kế là mộ t vấn đề cần phải cân nhắc. Vì khi tổ chức phần cứng càng phức tạp, càng có nhiều chức năng hỗ tr ợ cho yêu cầu thiết kế thì ph ần mềm càng được giảm bớt và d ễ dàng thực hiện nhưng lại đẩy cao giá thành chi phí cho phần cứng, cũ ng như chi phí bảo trì. Ngược lại với một phần cứng tối thiểu lại yêu cầu mộ t chương trình phần mềm phức tạp hơn, hoàn thiện hơn; nhưng lại cho phép bảo trì hệ th ống dễ dàng hơn cũng như việc phát triển tính năng của hệ thống từ đó có thể đưa ra giá cạnh tranh được.

    Từ yêu cầu và nhận định trên ta có những định hướng sơ bộ cho thiết kế như sau:

    1. Chọn bộ vi xử lý.

    Từ yêu cầu dùng VXL 8 bit ta dự kiến dùng các chip vi đ iều khi ển thuộc h ọ MCS-51 của Intel, mà cụ thể ở đây là dùng chip 8051 vì những lý do sau:

    • Thứ nhất 8051 thuộc họ MCS-51, là chip vi điều khiển. Đặc điểm của các chip vi điều khiển nói chung là nó được tích hợp với đầy đủ chức năng của một hệ VXL nhỏ, rất thích hợp với những thiết kế hướng điều khiển. Tức là trong nó bao gồm: mạch VXL, bộ nhớ chương trình và dữ liệu, bộ đếm, bộ tạo xung, các cổng vào/ra nối tiếp và song song, mạch điều khiển ngắt…
    • Thứ hai là, vi điều khiển 8051 cùng với các họ vi điều khiển khác nói chung trong những năm gần đây được phát triển theo các hướng sau:
    • Giảm nhỏ dòng tiêu thụ.
    • Tăng tốc độ làm việc hay tần số xung nhịp của CPU

    .

    • Giảm điệp áp nguồn nuôi.
    • Có thể mở rộng nhiều chức năng trên chip, mở rộng cho các thiết kế lớn.

    Những đặc đ iểm đó dẫn đến đạt được hai tính năng quan trọng là: giảm công suất tiêu thụ và cho phép điều khiển thời gian thực nên về mặt ứng dụng nó rất thích hợp với các thiết kế hướng điều khiển.

    2

    Đo lường và tự động điều khiển

    • Thứ ba là, vi điều khiển thuộc họ MCS-51 được hỗ trợ một tập lệnh phong phú nên cho phép nhiều khả năng mềm dẻo trong vấn đề viết chương trình phần mềm điều khiển.
    • Cuối cùng là, các chip thuộc họ MCS-51 hiện được sử dụng phổ biến và được coi là chuẩn công nghiệp cho các thiết kế khả dụng. Mặt khác, qua việc khảo sát thị trường linh kiện việc có được chip 8051 là dễ dàng nên mở ra khả năng thiết kế thực tế.

    Vì những lý do trên mà việc l ựa chọn vi điều khiển 8051 là một giải pháp hoàn toàn phù hợp cho thiết kế.

    4 .Phương án thực hiện :

    4.1. Dùng cặp cảm bi ến thu phát đặt đối diện để xác định số vòng quay trong một khoảng thời gian nhất định . Động cơ có gắn mộ t đĩa quay có một khe thủ ng trên đĩa ,mỗI khi khe này quay qua cặp cảm biến hồng ngoạt thu phát sẽ tạo ra một đột biến xung trong một vòng quay.

    4.2. Sử dụng cảm biến phát và đồng thời thu tín hiệu phản xạ ngược trở bằng cách vạch một số điểm trên trục của động cơ .

    4.3. Họ vi điều khiển AT89C51 có 32 đường xuất nhập dữ liệu : P0 ,P1 , P2, P3 mỗI Port 8 bit vì vậy ph ương án đặt ra sử dụng toàn bộ 8 bit P*.0 – P* .7 để xuất ra LED 7 thanh CA hoặc ch ỉ sử d ụng mỗ I Port 4bit sau đó giảI mã bằng 74LS47.Như vậy sẽ phảI sử dụng LCD để hiển thị tốc độ động cơ .

    4.4.  Sử dụng màn hình LCD để hiển thị .

    5. Các bước thực hiện :

    Sau khi nhận đồ án nhóm em đã đưa ra một số bước sau để thực hiện công việc:

    1.Nhập số vào LCD theo đúng trình tự hàng trăm hàng chục hàng đơn vị .Đo tốc độ của các động cơ loại nh ỏ (loại một chiều hoặc xoay chiều),có gắn cánh quạt (số lượng cánh là xác định ).

    1. Thực hiện việc đo tốc độ thông qua số vòng quay của cánh quạt bằng cách sử dụng mạch sensor thu phát hồng ngoại.

    3.Việc hiển thị thực hiện thông qua LCD (đo tốc độ trong một khoảng thời gian phù hợp).Có một khoảng thời gian để quan sát giá trị của tốc độ.

    4.Việc đo động cơ ta điều chỉnh sao cho tốc độ của động cơ luôn ổn định ở một ngưỡng nhất định .Nghĩa là tốc độ của động cơ luôn có một sai số trong giới hạn .trong bài này chúng em điều chỉnh cho sai số của động cơ trong khoảng 2%.

    3

    Đo lường và tự động điều khiển

    6.Mô phỏng

    a.Phần code

    • Mo PhongDlg.cpp : implementation file
    •  

    #include “stdafx.h”

    #include “Mo Phong.h”

    #include “Mo PhongDlg.h”

    #include”math.h”

    #include “stdlib.h”

    #ifdef _DEBUG

    #define new DEBUG_NEW

    #undef THIS_FILE

    static char THIS_FILE[] = __FILE__;

    #endif

    ///////////////////////////////////////////////////////////////////////////// // CAboutDlg dialog used for App About

    class CAboutDlg : public CDialog

    {

    public:

    CAboutDlg();

    // Dialog Data

    //{{AFX_DATA(CAboutDlg)

    enum { IDD = IDD_ABOUTBOX };

    //}}AFX_DATA

    • ClassWizard generated virtual function overrides //{{AFX_VIRTUAL(CAboutDlg)

    protected:

    virtual void DoDataExchange(CDataExchange* pDX); // DDX/DDV support

    //}}AFX_VIRTUAL

    • Implementation protected:

    //{{AFX_MSG(CAboutDlg)

    4

    Đo lường và tự động điều khiển

    //}}AFX_MSG

    DECLARE_MESSAGE_MAP()

    };

    CAboutDlg::CAboutDlg() : CDialog(CAboutDlg::IDD)

    {

    //{{AFX_DATA_INIT(CAboutDlg)

    //}}AFX_DATA_INIT

    }

    void CAboutDlg::DoDataExchange(CDataExchange* pDX)

    {

    CDialog::DoDataExchange(pDX);

    //{{AFX_DATA_MAP(CAboutDlg)

    //}}AFX_DATA_MAP

    }

    BEGIN_MESSAGE_MAP(CAboutDlg, CDialog)

    //{{AFX_MSG_MAP(CAboutDlg)

    • No message handlers

    //}}AFX_MSG_MAP

    END_MESSAGE_MAP()

    ///////////////////////////////////////////////////////////////////////////// // CMoPhongDlg dialog

    CMoPhongDlg::CMoPhongDlg(CWnd* pParent /*=NULL*/)

    : CDialog(CMoPhongDlg::IDD, pParent)

    {

    //{{AFX_DATA_INIT(CMoPhongDlg)

    • NOTE: the ClassWizard will add member initialization here //}}AFX_DATA_INIT
    • Note that LoadIcon does not require a subsequent DestroyIcon in

    Win32

    m_hIcon = AfxGetApp()->LoadIcon(IDR_MAINFRAME);

    }

    void CMoPhongDlg::DoDataExchange(CDataExchange* pDX)

    {

    CDialog::DoDataExchange(pDX);

    5

    Đo lường và tự động điều khiển

    //{{AFX_DATA_MAP(CMoPhongDlg) DDX_Control(pDX, IDC_LED1, m_led1); DDX_Control(pDX, IDC_LED10, m_led10); DDX_Control(pDX, IDC_LED2, m_led2); DDX_Control(pDX, IDC_LED3, m_led3); DDX_Control(pDX, IDC_LED4, m_led4); DDX_Control(pDX, IDC_LED5, m_led5); DDX_Control(pDX, IDC_LED6, m_led6); DDX_Control(pDX, IDC_LED7, m_led7); DDX_Control(pDX, IDC_LED8, m_led8); DDX_Control(pDX, IDC_LED9, m_led9); //}}AFX_DATA_MAP

    }

    BEGIN_MESSAGE_MAP(CMoPhongDlg, CDialog)

    //{{AFX_MSG_MAP(CMoPhongDlg)

    ON_WM_SYSCOMMAND()

    ON_WM_PAINT()

    ON_WM_QUERYDRAGICON()

    ON_BN_CLICKED(IDC_HANGCHUC, OnHangchuc)

    ON_BN_CLICKED(IDC_HANGDONVI, OnHangdonvi)

    ON_BN_CLICKED(IDC_HANGNGHIN, OnHangnghin)

    ON_BN_CLICKED(IDC_HANGTRAM, OnHangtram)

    ON_BN_CLICKED(IDC_HANGVAN, OnHangvan)

    ON_BN_CLICKED(IDC_PAUSE, OnPause)

    ON_BN_CLICKED(IDC_RESET, OnReset)

    ON_BN_CLICKED(IDC_REVERSE, OnReverse)

    ON_WM_TIMER()

    ON_BN_CLICKED(IDC_START, OnStart)

    ON_WM_DESTROY()

    ON_BN_CLICKED(IDC_BUTTON1, OnButton1)

    //}}AFX_MSG_MAP

    END_MESSAGE_MAP()

    ///////////////////////////////////////////////////////////////////////////// // CMoPhongDlg message handlers

    BOOL CMoPhongDlg::OnInitDialog()

    {

    6

    Đo lường và tự động điều khiển

    CDialog::OnInitDialog();

    • Add “About…” menu item to system menu.
    • IDM_ABOUTBOX must be in the system command range. ASSERT((IDM_ABOUTBOX & 0xFFF0) == IDM_ABOUTBOX); ASSERT(IDM_ABOUTBOX < 0xF000);

    CMenu* pSysMenu = GetSystemMenu(FALSE);

    if (pSysMenu != NULL)

    {

    CString strAboutMenu;

    strAboutMenu.LoadString(IDS_ABOUTBOX);

    if (!strAboutMenu.IsEmpty())

    {

    pSysMenu->AppendMenu(MF_SEPARATOR); pSysMenu->AppendMenu(MF_STRING,

    IDM_ABOUTBOX, strAboutMenu);

    }

    }

    • Set the icon for this dialog. The framework does this automatically
    • when the application’s main window is not a dialog

    SetIcon(m_hIcon, TRUE);                                           // Set big icon

    SetIcon(m_hIcon, FALSE);                        // Set small icon

    • TODO: Add extra initialization here m_1=0;

    m_2=m_3=m_4=m_5=m_6=m_7=m_8=m_9=m_10=0; m_led1.SetWindowText(“0”); m_led2.SetWindowText(“0”); m_led3.SetWindowText(“0”); m_led4.SetWindowText(“0”); m_led5.SetWindowText(“0”); m_led6.SetWindowText(“0”); m_led7.SetWindowText(“0”); m_led8.SetWindowText(“0”); m_led9.SetWindowText(“0”); m_led10.SetWindowText(“0”);

    m_degree=0;

    7

    Đo lường và tự động điều khiển

    temp=TRUE;

    t=0;

    • m_vong=0;

    return TRUE; // return TRUE unless you set the focus to a control

    }

    void CMoPhongDlg::OnSysCommand(UINT nID, LPARAM lParam) {

    if ((nID & 0xFFF0) == IDM_ABOUTBOX)

    {

    CAboutDlg dlgAbout;

    dlgAbout.DoModal();

    }

    else

    {

    CDialog::OnSysCommand(nID, lParam);

    }

    }

    • If you add a minimize button to your dialog, you will need the code below
    • to draw the icon. For MFC applications using the document/view model,
    • this is automatically done for you by the framework.

    void CMoPhongDlg::OnPaint()

    {

    if (IsIconic())

    {

    CPaintDC dc(this); // device context for painting

    SendMessage(WM_ICONERASEBKGND, (WPARAM) dc.GetSafeHdc(), 0);

    // Center icon in client rectangle

    int cxIcon = GetSystemMetrics(SM_CXICON);

    int cyIcon = GetSystemMetrics(SM_CYICON);

    CRect rect;

    GetClientRect(&rect);

    int x = (rect.Width() – cxIcon + 1) / 2;

    int y = (rect.Height() – cyIcon + 1) / 2;

    8

    Đo lường và tự động điều khiển

    • Draw the icon dc.DrawIcon(x, y, m_hIcon);

    }

    else

    {

    CClientDC pDC(this);

    OnDraw(&pDC);

    CDialog::OnPaint();

    }

    }

    • The system calls this to obtain the cursor to display while the user drags
    • the minimized window.

    HCURSOR CMoPhongDlg::OnQueryDragIcon()

    {

    return (HCURSOR) m_hIcon;

    }

    void CMoPhongDlg::OnHangchuc()

    {

    if(m_4==9) m_4=0;

    else

    m_4++;

    CString s;

    s.Format(“%d”,m_4);

    m_led4.SetWindowText(s);

    m_vong=m_1*10000+m_2*1000+m_3*100+m_4*10+m_5;

    }

    void CMoPhongDlg::OnHangdonvi()

    {

    if(m_5==9) m_5=0;

    else

    m_5++;

    CString s;

    s.Format(“%d”,m_5);

    m_led5.SetWindowText(s);

    m_vong=m_1*10000+m_2*1000+m_3*100+m_4*10+m_5;

    9

    Đo lường và tự động điều khiển

    }

    void CMoPhongDlg::OnHangnghin()

    {

    if(m_2==9) m_2=0;

    else

    m_2++;

    CString s;

    s.Format(“%d”,m_2);

    m_led2.SetWindowText(s);

    m_vong=m_1*10000+m_2*1000+m_3*100+m_4*10+m_5;

    }

    void CMoPhongDlg::OnHangtram()

    {

    if(m_3==9) m_3=0;

    else

    m_3++;

    CString s;

    s.Format(“%d”,m_3);

    m_led3.SetWindowText(s);

    m_vong=m_1*10000+m_2*1000+m_3*100+m_4*10+m_5;

    }

    void CMoPhongDlg::OnHangvan()

    {

    if(m_1==9) m_1=0;

    else

    m_1++;

    CString s;

    s.Format(“%d”,m_1);

    m_led1.SetWindowText(s);

    m_vong=m_1*10000+m_2*1000+m_3*100+m_4*10+m_5;

    }

    void CMoPhongDlg::OnPause()

    10

    Đo lường và tự động điều khiển

    {

    KillTimer(1);

    }

    void CMoPhongDlg::OnReset()

    {

    m_1=m_2=m_3=m_4=m_5=m_6=m_7=m_8=m_9=m_10=0; // thiet lap ve khong

    m_led1.SetWindowText(“0”);

    m_led2.SetWindowText(“0”);

    m_led3.SetWindowText(“0”);

    m_led4.SetWindowText(“0”);

    m_led5.SetWindowText(“0”);

    m_led6.SetWindowText(“0”);

    m_led7.SetWindowText(“0”);

    m_led8.SetWindowText(“0”);

    m_led9.SetWindowText(“0”);

    m_led10.SetWindowText(“0”);

    KillTimer(1);

    }

    void CMoPhongDlg::OnReverse()

    {

    if(temp==TRUE)

    temp=FALSE;

    else

    {

    temp=TRUE;

    }

    }

    void CMoPhongDlg::OnDraw(CDC *pDC)

    {

    CRect rectWin;

    GetWindowRect(rectWin);

    rectWin.top+=32;

    CWnd*pWnd=GetDlgItem(IDC_DISPLAY);

    CRect rectD;

    pWnd->GetWindowRect(rectD);

    int cx,cy;

    11

    Đo lường và tự động điều khiển

    cx=rectD.CenterPoint().x;

    cy=rectD.CenterPoint().y;

    cx-=rectWin.left;

    cy-=rectWin.top;

    CBrush brush(RGB(0,255,0));

    CBrush * oldBrush=pDC->SelectObject(&brush); CPen *pen=new CPen(PS_SOLID,1,RGB(0,0,255)); CPen*oldPen =pDC->SelectObject(pen); pDC->Ellipse(cx -50,cy-50,cx+50,cy+50); CPen*pen1=new CPen(PS_SOLID,3,RGB(255,0,0)); CPen*oldPen1 =pDC->SelectObject(pen1);

    double angle;

    angle =m_degree*3*3.14/180;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    angle+=3.14/3;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    angle+=3.14/3;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    angle+=3.14/3;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    angle+=3.14/3;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    angle+=3.14/3;

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    pDC->MoveTo(cx,cy);

    pDC->LineTo(cx+(int)(50*sin(angle)),cy-(int)(50*cos(angle)));

    pDC->SelectObject(oldBrush);

    pDC->SelectObject(oldPen);

    pDC->SelectObject(oldPen1);

    }

    void CMoPhongDlg::OnTimer(UINT nIDEvent)

    12

    Đo lường và tự động điều khiển

    {

    if(temp==TRUE)

    {

    m_degree++;

    if(m_degree>=120) m_degree=0;

    }

    else

    {

    m_degree–;

    if(m_degree<=0) m_degree=120;

    }

    if(m_10<9)

    m_10++;

    else

    {

    m_10=0;

    if(m_9<9)

    m_9++;

    else

    {

    m_9=0;

    if(m_8<9)

    m_8++;

    else

    {

    m_8=0;

    if(m_7<9)

    m_7++;

    else

    {

    m_7=0;

    if(m_6<9)

    m_6++;

    else

    MessageBox(“Tran

    So”,”Warning”,MB_OK);

    }

    }

    }

    }

    13

    Đo lường và tự động điều khiển

    t++;

    if(t==100)

    {

    t=0;

    CString s6,s7,s8,s9,s10;

    s6.Format(“%d”,m_1);

    s7.Format(“%d”,m_2);

    s8.Format(“%d”,m_3);

    s9.Format(“%d”,m_4);

    if(m_5<=2)

    s10.Format(“%d”,m_5+1);

    else

    if((m_5>2)&&(m_5<5))

    s10.Format(“%d”,m_5-1);

    else

    if(m_5==5||m_5==7)

    s10.Format(“%d”,m_5);

    else

    if((m_5>5)&&m_5<7)

    s10.Format(“%d”,m_5+1);

    else

    s10.Format(“%d”,m_5-1);

    m_led6.SetWindowText(s6);

    m_led7.SetWindowText(s7);

    m_led8.SetWindowText(s8);

    m_led9.SetWindowText(s9);

    m_led10.SetWindowText(s10);

    }

    CClientDC pDC(this);

    OnDraw(&pDC);

    CDialog::OnTimer(nIDEvent);

    }

    void CMoPhongDlg::OnStart()

    {

    UpdateData(TRUE);

    SetTimer(1,(int)(1000/m_vong),NULL);

    14

    Đo lường và tự động điều khiển

    }

    CScrollBar* CMoPhongDlg::GetScrollBarCtrl(int nBar) const {

    • TODO: Add your specialized code here and/or call the base class return CDialog::GetScrollBarCtrl(nBar);

    }

    void CMoPhongDlg::OnDestroy()

    {

    CDialog::OnDestroy();

    KillTimer(1);

    }

    void CMoPhongDlg::OnButton1()

    {

    OnOK();

    }

    1. Phần giao diện

    II. Lý Thuyết thực hiện.

    1.     Cơ sở lý thuyết. Sơ đồ khối

     

    15

    Đo lường và tự động điều khiển

                   
    Khối nhập     Khối hiển   Khối
    dữ liệu     thị (LCD)   nguồn
                   

     Khối xử lý   Khối mạch

     trung tâm   động lực

    Khối   Khối thu   Động cơ
    khuếch đại   phát    
             

    16

    Đo lường và tự động điều khiển

    Sơ đồ nguyên lý.

    17

    Đo lường và tự động điều khiển

    III.Phân tích chức năng từng khối.

    • .Khối vi xử lý b. Khối hiển thị.

    c.Khối nhập giá trị tốc độ.

    d.Khối đo tốc độ động cơ.

    e.Khối động lực

    g.Khối nguồn

    h.Khối động cơ

    IV.Giới thiệu linh kiện sử dụng trong mạch:

    1 – IC khuếch đại LM324

    • – Vi điều khiển 80c52
    • – LCD. ,74HC14,điện trở quang….
    • – Một số linh kiện phụ khc: thạch anh 12 Mhz, sensor thu phát hồng ngoại, tụ 33p, tụ 10 uF, trở…
    • – Môtơ điện một chiều DC 12V

    V .Mô tả các modul

    1.Khối vi xử lý Điều khiển tốc độ động cơ:

    1. Giới thiệu:

    Mục đích của điều khiển tốc độ động cơ là đưa ra tín hiệu biểu diễn tốc độ yêu cầu, và đi ều khiển động cơ theo tốc độ đấy. Bộ điều khiển có thể có hoặc không th ật sự đo tốc độ độ ng cơ. Nếu có thì goi là điều khiển t ốc độ có phản hồi hoặc điều khiển tốc độ vòng kín, nếu không thì gọi là điều khiển t ốc độ vòng mở. Điều khiển tốc độ có phản hồi tốt hơn nhưng phức tạp hơn.

    Động cơ có rất nhiều kiểu, và đầu ra của bộ điều khiển tốc độ của động cơ với các d ạng khác nhau là khác nhau.

    1. Lý thuyết điều khiển tốc độ động cơ một chiều:

    Tốc độ củ a động cơ một chiều tỉ lệ trực ti ếp với nguồ n cấp, vì vậy nếu ta giảm điện áp cung cấp từ 12V xuống 6V, động cơ sẽ chạy với tốc độ bằng một nửa trước đó.

    Bộ đ iều khiển tốc độ động cơ làm việc trên nguyên lý biến đổi đ iện áp trung bình cấp cho độ ng cơ. Có thể đơn giản chỉ bằng cách đ iều chỉnh điện áp cung cấp, nhưng như thế sẽ không hiệu quả. Cách tốt hơn là tắt nguồn cấp cho

    18

    Đo lường và tự động điều khiển

    động cơ thật nhanh. Nếu động tác tắt này đủ nhanh thì động cơ không kịp

    nhận ra sự thay đổi đó mà chỉ nhận ra được hi ệu ứng trung bình thôi. Khi bật, nguồn có giá trị 12V; khi tắt, nguồn có giá tr ị 0V. Nếu ta tắt nguồn với một lượng thời gian b ằng với khi nó được bật thì động cơ sẽ nhận được giá trị trung bình là 6V, và sẽ chạy chậm đi theo tỉ lệ đó.

    Chuyển mạch để bật tắt nguồn này gọi là on-off switching, được chế tạo bằng MOSFET.

    Ta dùng vi xử lý 8051.

    Những tính chất đặc trưng của họ vi điều khiển MCS-51:

    • Đơn vị xử lý trung tâm (CPU) 8 bit đã được tối ưu hoá để đáp ứng các chức năng điều khiển .
    • Khối lôgic (ALU) xử lý theo bit nên thuận tiện cho các phép toán logic Boolean.
    • Bộ tạo dao động giữ nhịp được tích hợp bên trong với tần số 12MHz.
    • Giao diện nối tiếp có khả năng hoạt động song song, đồng bộ.
    • Các cổng vào/ra hai hướng và từng đường dẫn có thể được định địa chỉ một cách tách biệt.
    • Có năm hay sáu nguồn ngắt với hai mức ưu tiên .
    • Hai hoặc ba bộ đếm định thời 16 bit.
    • Bus và khối định thời tương thích với các khối ngoại vi của bộ vi xử lý 8085/8088.
    • Dung lượng của bộ nhớ chương trình (ROM) bên ngoài có thể lên tới 64 kbyte.
    • Dung lượng của bộ nhớ dữ liệu (RAM) bên ngoài có thể lên tới 64 kbyte.
    • Dung lượng của bộ nhớ ROM bên trong có thể lên đến 8 kbyte.
    • Dung lượng bộ nhớ RAM bên trong có thể đạt đến 256 byte.
    • Tập lệnh phong phú.

    2.1. Cấu trúc chung :

     

    19

    Đo lường và tự động điều khiển

    2.1.1. Sơ đồ khối :

    S ơ đồ khối tổng quát của một vi điều khiển 8051 có thể được mô tả như sau:

    Nguồn ngắt ngoài                                                                                        Đếm sự kiện.

          4Kbyte    
            128byte
        Nguồn  
    Điều khiển    
      Bộ nhớ  
    ngắt.   ngắt   Bé nhí
      chương  
        trong.   RAM
        trình  
            trong
          trong.  
             
               

    2bộ đếm

    • định thời

    CPU

              Khối   Port     Port   Port   Port   Giao  
              đ.khiển   0     1   2   3   diện  
           
              quản lý                     nối  
        Bộ tạo dao                         tiép.  
            Bus.                      
                                   
        động                              
                                     
                                       
                                       
                      20              
        XTAL 1.2   |PSEN/ALE Cổng I/O Cæng Cổng I/O Cổng I/O    
            Đchỉ I/O Đchỉ cao Các chức    
                thấp 8 bit Dữ liệu 8 năng đắc biệt

    Đo lường và tự động điều khiển

    Chức năng của từng khối :

    * Khối xử lý trung tâm CPU:

    Phần chính của bộ vi xử lý là khối xử lý trung tâm (CPU=Central Processing Unit ), khối này có chứa các thành phần chính :

    +Thanh ghi tích luỹ (ký hiệu là A );

    +Thanh ghi tích luỹ phụ (ký hiệu là B ) thường được dùng cho phép nhân và phép chia ;

    +Khối logic số học (ALU=Arithmetic Logical Unit) ;

    +Từ trạng thái chương trình (PSW= Program Status Word ); +Bốn băng thanh ghi .

    +Con trỏ ngăn x ếp (SP=Stack Point) cũng như con trỏ dữ liệu để định địa chỉ cho bộ nhớ dữ liệu ở bên ngoài;

    Ngoài ra, khối xử lý trung tâm còn chứa:

    -Thanh ghi đếm chương trình (PC= Progam Counter ); -Bộ giải mã lệnh;

    -Bộ điều khiển thời gian và logic;

    Sau khi được Reset, CPU b ắt đầu làm việc tại địa chỉ 0000h, là địa chỉ đầu được ghi trong thanh ghi chứa ch ương trình (PC) và sau đó, thanh ghi này sẽ tăng lên 1 đơn vị và chỉ đến các lệnh tiếp theo của chương trình.

    *Bộ tạo dao động:

    21

    Đo lường và tự động điều khiển

    Khố i xử lý trung tâm nhậ n trực tiếp xung nhịp từ bộ tạo dao động đượ c lắp thêm vào, linh kiện phụ trợ có thể là một khung dao động làm bằng tụ gốm hoặc th ạch anh. Ngoài ra, còn có thể đưa một tín hiệu giữ nhịp từ bên ngoài vào.

    *Khối điều khiển ngắt:

    Chươ ng trình đang chạy có thể cho dừng lại nhờ một khố i logic ng ắt ở bên trong. Các nguồ n ng ắt có thể là: các biến cố ở bên ngoài, sự tràn bộ đếm/bộ định thời hay có th ể là giao diện n ối ti ếp. Tất cả các ng ắt đều có thể được thiết lập chế độ làm việc thông qua hai thanh ghi IE (Interrupt Enable) và IP (Interrupt Priority).

    *Khối điều khiển và quản lý Bus :

    Các kh ối trong vi điều khiển liên lạc với nhau thông qua hệ thống Bus nội bộ được điều khiển bởi khối điều khiển quản lý Bus.

    *Các bộ đếm/định thời:

    Vi đi ều khiển 8051 có chứa hai b ộ đếm ti ến 16 bit có thể hoạt động nh ư là bộ định thời hay bộ đếm sự kiện bên ngoài hoặc như bộ phát tốc độ Baud dùng cho giao diện nối tiếp. Trạng thái tràn bộ đếm có thể được kiểm tra trực tiếp hoặc được xoá đi bằng một ngắt.

    *Các cổng vào/ra:

    Vi điều khiển 8051 có bốn cổng vào/ra (P0 .. P3), mỗi cổng chứa

    • bit, độc lập với nhau. Các cổng này có thể được sử dụng cho những mục đích điều khiển rất đa dạng. Ngoài chức năng chung, một số cổng còn đảm nhận thêm một số chức năng đặc biệt khác.

    *Giao diện nối tiếp:

    Giao diện nối tiếp có chứa một bộ truyền và mộ t bộ nhận không đồng bộ làm việc độc lập với nhau. Bằng cách đấu nối các bộ đệm thích h ợp, ta có thể hình thành một cổ ng nối tiếp RS -232 đơn giản. Tốc độ truyền qua cổng nối tiếp có thể đặt được trong một vùng rộng phụ thuộc vào một bộ định thời và tần số dao động riêng của thạch anh.

    *Bộ nhớ chương trình:

    Bộ nhớ chương trình thường là bộ nhớ ROM (Read Only Memory), bộ nhớ chương trình được sử dụng để cất giữ chương trình điều khiển hoạt động của vi điều khiển.

    *Bộ nhớ số liệu:

    22

    Đo lường và tự động điều khiển

    Bộ nhớ số liệu th ường là bộ nhớ RAM (Ramdom Acces Memory), b ộ nh ớ số li ệu dùng để cất giữ các thông tin tạm thời trong quá trình vi điều khiển làm việc.

    2.1.2. Sự sắp xếp chân ra của vi điều khiển 8051:

    Phần lớn các bộ vi điều khiển 8051 được đóng vào vỏ theo kiểu hai hàng DIL(Dual In Line) với tổng số là 40 chân ra, một số ít còn lại được đóng vỏ theo kiểu hình vuông PLCC (Plastic Leaded Chip Carrier) v ới 44 chân và loại này thường được dùng cho những hệ thống cần thiết phải tiết kiệm diện tích.

      P1 0       VCC + 5V
         
    P1 1       P0 0 (A/D 0)
       
         
      P1 2       P0 1 (A/D 1)
           
         
           
      P1 3       P0 2 (A/D 2)
           
         
           
      P1 4       P0 3 (A/D 3)
           
         
           
      P1 5       P0 4 (/D 4)
           
         
           
      P1 6   8051   P0 5 (A/D 5)
         
       
         
      P1 7     P0 6 (A/D 6)
         
       
         
      RST     P0 7 (A/D 7)
         
           
           
    (RxD) P3 0       |EA    
             
           
             
    (TxD) P3 1       ALE    
             
           
             
    ( |INT0) P3 2       |PSEN  
           
         
           
    ( |INT1) P3 3       P2 7 (A15)
         
       
         
    (T0) P3 4       P2 6 (A14)
         
       
         
    (T1) P3 5       P2 5 (A13)
         
       
         
    ( |WR) P3.6       P2.4 (A12)
           
         
                   
    ( |RD) P3 7       P2 3 (A11)
         
       
         
    XTAL2       P2 2 (A10)
         
       
         
    XTAL2       P2 1 (A9)
         
       
         
    GND       P2 0 (A8)
         
       
         
                     
                     

    Hình 2.2: Sơ đồ chân của vi mạch 8051 DIL.

    Bảng 2.1: Chức năng các chân của vi điều khiển 8051.

      Ký hiệu Chức năng
    1–>8 P1.0–>P1.7 Cổng giả hai hướng P1, có thể tự do sử dụng
    9 Reset Lối vào Reset, khi hoạt động ở mức High(1)
    10–>17 P3.0–>P3.7 Cổng giả hai hướng P3, sắp xếp tất cả các
        đường dẫn với chức năng đặc biệt

    23

    Đo lường và tự động điều khiển

    18 XTAL2 Lối ra của bộ dao động thạch anh bên trong
    19 XTAL1 Lối vào của bộ dao động thạch anh bên
        trong
    20 Vss Nối mát ( 0V )
    21–>28 P2.0–>P2.7 Cổng giả hai hướng P2, chức năng đặc biệt
        là các đường dẫn địa chỉ A8..A15
    29 |PSEN Progam Strobe Enable, xuất ra các xung đọc
        dùng cho bộ nhớ chương trình bên ngoài
    30 ALE Address Latch Enable, xuất ra các xung điều
        khiển để lưu trữ trung gian các địa chỉ
    31 |EA External Access, khi được nối với mát là để
        làm việc với ROM ngoại vi
    32–>39 P1.0–>P1.7 Cổng hai hướng cực máng hở P0 hay Bus dữ
        liệu hai hướng dùng cho ROM, RAM và
        thiết bị ngoại vi đồng thời cũng chuyển giao
        8 bit địa chỉ thấp
    40 Vdd Nguồn nuôi dương ( +5V )

    Các chân ra của bộ vi điều khiển 8051 gồm có:

    *EA: Đóng vai trò quy ết định xem vi điều khiển làm vi ệc với chương trình bên trong hay bên ngoài. Với loại 8051 không có ROM trong thì chân này phải được nối với mát. Loại thông thường có thể làm việc tuỳ theo cách lựa chọn giữa ROM trong hay ROM ngoài, khi đang ở chế độ làm việc với bộ nhớ ROM trong, loại có chứa bộ nhớ ROM có thể truy nhập tự động lên bộ nhớ chương trình bên ngoài.

    *Reset: Trạng thái Reset được thiết lập bằng cách giữ tín hiệu Reset ở mức cao trong thời gian ít nhất là 2 chu kỳ máy.

    *ALE: Tín hiệu chốt 8 bit địa chỉ thấp trong suốt quá trìng truy nhập bộ

    nhớ mở rộng. Thông thường tín hiệu ALE được phát ra với tần số bằng 1/6

    tần số dao động thạch anh và có thể sử dụng với mục đích định thời gian hoặc

    xung nhịp đồng hồ ngoài. Tuy nhiên, tín hiệu ALE sẽ bị bỏ qua trong mỗi quá

    trình truy nhập bộ nhớ dữ liệu ngoài.

    *PSEN: Tín hiệu đọc bộ nhớ chương trình ngoài, khi vi điều khiển truy nhập bộ nhớ chương trình nội thì PSEN được đặt ở mức cao.

    *XTAL1, XTAL2: M ột bộ tạo tín hiệu gi ữ nh ịp v ới t ần s ố được xác định bởi bộ cộng hưởng thạch anh được lắp thêm vào, tần số này xác định tốc độ

    24

    Đo lường và tự động điều khiển

    làm củ a bộ vi đi ều khiển. Thông thường các lệnh được thực hiện bằng 1/12 tần số dao động của thạch anh.

    Các bộ đếm cố thể làm việc trong nhiều chế độ khác nhau. Khi hoạt động như là bộ định thời, các bộ đếm nh ận được các xung từ một bộ chia trước ở bên trong, bộ này chia tần số riêng của bộ cộng hưởng thạch anh cho 12 .

    Thay cho một bộ định thời 16 bit, một bộ đinh thời 8 bit có thể được tạo ra bằng việc nạp tự động sau khi cấp nguồn, các xung dẫn từ bên ngoài vào qua T0 và T1 cũng có thể được đếm, các xung này có tần số cực đại bằng 1/24 giá trị tần số của bộ cộng hưởng thạch anh.

    *P0..P3: Các công vào/ra.

    Cổng P3 cũng đảm nhận một số chức năng đặc biệt của bộ vi điều khiển :

    Chân Ký hiệu Chức năng
    P3.0 RxD Nhận dữ liệu vào bộ nhớ qua cổng nối tiếp
    P3.1 TxD Truyền dữ liệu vào bộ nhớ qua cổng nối tiếp
    P3.2 |INT0 Ngắt ngoài 0
    P3.3 |INT1 Ngắt ngoài 1
    P3.4 T0 Lối vào của Timer 0
    P3.5 T1 Lối vào của Timer 1
    P3.6 |WR Viết vào bộ nhớ
    P3.7 |RD Đọc bộ nhớ
    2.2 Tổ chức bộ nhớ:  
    2.2.1. Cấu trúc chung của bộ nhớ:

    Tất cả các vi đ iều khiển thuộc họ MCS-51 đều phân chia bộ nhớ thành hai vùng địa chỉ cho bộ nh ớ d ữ liệu và bộ nhớ chương trình. Sự phân chia logic giữa bộ nh ớ d ữ li ệu và bộ nhớ chương trình cho phép truy nhập bộ nhớ dữ liệu bằng 8 bit địa chỉ giúp cho việc lưu trữ và thao tác dữ liệ u nhanh hơn.Tuy nhiên, chúng ta có thể sử dụng địa chỉ bộ nhớ dữ liệu 16 bit thông qua thanh ghi DPTR.

    Bộ nhớ chươ ng trình là loại bộ nhớ chỉ cho phép đọc, không cho phép ghi. Một số vi đ iều khiển được tích hợp sẵn bộ nhớ ch ương trình bên trong với dung lượng khoảng 4kbyte hay 8 kbyte, số còn lại phải sử dụng bộ chương

    25

    Đo lường và tự động điều khiển

    trình mở rộng mà quá trình truy nhập được thực hiện thông qua sự điều khiển bằng tín hiệu PSEN (Progam Strobe Enable).

    Tuy nhiên, vi đi ều khiển 8051 cho phép ta sử dụ ng đến 64kbyte bộ nhớ chương trình bằng cách sử dụng cả bộ nhớ chương trình bên trong và bên ngoài.

    Bộ nhớ số liệu chiếm giữ vùng địa chỉ phân chia của bộ nhớ ch ương trình. Dung lượ ng củ a b ộ nhớ dữ liệu có thể mở rộng lên tới 64 kbyte. Trong quá trình truy nhập bộ nhớ s ố liệu, CPU phát ra các tín hiệu đọc và tín hiệu viết số liệu thông qua các chân RD và WR.

    Bộ nhớ Chương trình

    FFFFH    Bộ

    nhớ mở

    rộng

    |EA=0     |EA=1
    Bộ nhớ     Bộ nhớ
    ngoài     trong
           
      0000H
    |PSEN      

    Bộ nhớ Số liệu

    Bộ

    nhớ

    FFH                        mở

    rộng

    00H

    |WR |RD

    Hình 2.3: Cấu trúc bộ nhớ của họ MCS-51.

    Chúng ta có thể kết hợp bộ nhớ chương trình mở rộng với bộ nhớ số liệu mở rộng bằng cách cho hai tín hiệu RD và PSEN qua mộ t cổng logic AND, lối ra của cổng AND này sẽ tạo tín hiệu đọc cho bộ nhớ mở rộng.

    26

    Đo lường và tự động điều khiển

    2.2.2. Bộ nhớ chương trình:

    Sau khi Reset, CPU bắt đầu thực hiện chương trình từ địa chỉ 0000H. Vùng đầu của bộ nh ớ chương trình là vùng chứa các vector ngắt, mỗ i ngắt đượ c phân chia mộ t vùng địa ch ỉ cố định trong trong bộ nhớ chương trình. Khi xuất hiện ngắt, CPU sẽ nhảy tới địa ch ỉ này, đây cũng là địa chỉ đầu của chương trình con phục vụ ngắt. Các vector ngắt cách nhau 8 byte, vì vậy nếu chương trình con phục vụ ngắt quá dài (>8 byte) thì tại vector ngắt ta phải đặt một l ệnh nhảy không điều kiện tới vùng địa chỉ khác chứa chương trình con phục vụ ngắt.

    2.2.3. Bộ nhớ số liệu:

    Phía bên phải củ a Hình 2.3 biểu di ễn không gian bộ nhớ dữ li ệu của MCS-51. Chúng ta có thể sử d ụng tới 64 Kbyte bộ nhớ số liệu ngoại vi. Độ rộng bus địa chỉ của bộ nh ớ s ố liệu ngoài có thể là 8 bit hoặc 16 bit. Bus địa ch ỉ rộng 8 bit th ường được s ử dụng để liên kết với một hoặc nhiều đường vào ra khác để định địa chỉ cho RAM theo trang. Trong trườ ng hợp bus đị a chỉ rộng 16 bit, cổng P2 sẽ phát ra 8 bit địa ch ỉ cao còn cổng P1 sẽ phát ra 8 bit địa chỉ th ấp. Bằng cách này, ta có thể truy nhập trực tiếp lên bộ nhớ dữ liệu ngoài với độ lớn tối đa là 64 Kbyte.

    Bộ nhớ số liệu trong được chia ra làm 3 vùng:

    +128 byte cao.

    +128 byte thấp.

    +Vùng dành cho các thanh ghi chức năng đặc biệt (SFR).

    Địa chỉ củ a bộ nhớ số liệu trong luôn là 8 bit, và có thể quản lý được 256 byte bộ nhớ.

    Tuy nhiên, trên thực t ế cách định địa chỉ của bộ nhớ RAM trong có thể quản lý tới 384 byte.

    Bản đồ bộ nhớ trên chíp:

     

    27

    Đo lường và tự động điều khiển

    7F           FF                          
                                           
                                           
                F0 F7 F6 F5   F4   F3 F2 F1   F0   B
                                           
                                   
        RAM đa dụng                                  
                                     
                                     
                E0 E7 E E   E4   E3 E2 E   E0   ACC
                    6 5           1        
                                           
                                           
                                           
    D0 D7 D D  D  D D2 D  D0  PSW
    6 5 4 3 1
                                                               
                                                               
    30                               B8   B   B B B   B8   IP
                                              C   B A 9        
                                                               
                                                               
    2F   7 7 7 7   7   7 7   78                                  
        F E D C   B   A 9                                      
                                                               
                                             
    2E   7 76 75 74   7   72 7   70       B0 B7 B B   B4   B3 B2 B   B0   P.3
        7         3     1               6 5           1        
                                                               
                                                       
    2   6 6 6 6   6   6 6   68                                  
    D   F E D C   B   A 9                                      
                                                               
                                             
    2   6 66 65 64   6   62 6   60       A8 AF       A   A A A   A8   IE
    C   7         3     1                     C   B A 9        
                                                               
                                                       
    2   5 5 5 5   5   5 5   58                                  
    B   F E D C   B   A 9                                      
                                                               
                                       
    2   5 56 55 54   5   52 5   50       A0 A7 A A   A   A A2 A   A0   P2
    A   7         3     1               6 5   4   3   1        
                                                               
                                                       
    29   4 4 4 4   4   4 4   48                                  
                                                               

    28

    Đo lường và tự động điều khiển

                                                                 
        F E D C   B   A 9                                        
                                                                 
                     
    28   4 46 45 44   4   42 4   40       99 Không được địa chỉ hoá bit   SBUF  
        7         3     1                                        
                                                       
                                       
    27   3 3 3 3   3   3 3   38       98 9F 9 9   9C   9B 9A 99   98   SCO  
        F E D C   B   A 9               E D                   N  
                                                                 
                                                   
    26   3 36 35 34   3   32 3   30                                    
        7         3     1                                        
                                               
                               
    25   2 2 2 2   2   2 2   28       90 97 96 95   94   93 92 91   90   P1  
        F E D C   B   A 9                                        
                                                                 
                                                   
    24   2 26 25 24   2   22 2   20                                    
        7         3     1                                        
                                             
                                   
    23   1 1 1 1   1   1 1   18       8D Không được địa chỉ hoá bit   TH1  
        F E D C   B   A 9                                        
                                             
                           
    22   1 16 15 14   1   12 1   10       8C Không được địa chỉ hoá bit   TH0  
        7         3     1                                        
                                             
                                   
    21   0 0 0 0   0   0 0   08       8B Không được địa chỉ hoá bit   TL1  
        F E D C   B   A 9                                        
                                             
                           
    20   0 06 05 04   0   02 0   00       8A Không được địa chỉ hoá bit   TL0  
        7         3     1                                        
                                             
                           
    1F         Bank 3             89 Không được địa chỉ hoá bit   TMO  
                                                              D  
                                                   
                                           
    18                               88 8F 8 8   8C   8B 8A 89   88   TCO  
                                        E D                   N  
                                                         
                             
    17         Bank 2             87 Không được địa chỉ hoá bit   PCO  
                                                              N  
                                                                 
                                                                 
    10                                                            
                                     
                           
    0F         Bank 1             83 Không được địa chỉ hoá bit   DPH  
                                                                 
                                                                 

    29

    Đo lường và tự động điều khiển

                                                         
    08           82 Không được địa chỉ hoá bit   DPL  
                                                         
                                                 
    07   Bank thanh ghi 0       81 Không được địa chỉ hoá bit   SP  
                                                         
                                                   
    00   (Mặc định cho R0 -R7)       88     86   85     84     83   82   81   80   P0  
                                                         
                                                         

    2.2.4. Thanh ghi ghi chức năng đặc biệt (SFR= Special Function Registers):

    Vi đ iều khiển 8051 là một bộ vi điều khiển đa năng với nhiều chế độ hoạt động khác nhau được thiết lập thông qua các thanh ghi chức năng đặc biệt SFRs.

    Các thanh ghi chức năng đặc biệt của vi điều khiển 8051 gồm có:

    +P0, P1, P2, P3: Các cổng vào ra, mỗi bít ứng với 1 chân của vi điều khiển. Các chân này hoạt động ở mức logic âm.

    +SP (Stack Pointer): Đây là con trỏ ngăn xếp của vi điều khiển. Thanh ghi này cho biết địa chỉ truy nhập tiếp theo trong bộ nhớ RAM.

    +DPH, DPL (Data Pointer High, Data Pointer Low): Tạo thành 1 cặp thanh ghi con trỏ dữ liệu DPTR 16 bit.

    +PCON (Power Control): Thanh ghi này được sử dụng để điều khiển công suất của vi điều khiển. Ngoài ra bit PCON.7 con cho phép sủ dụng để tăng gấp đôi tốc độ baud khi truyền qua cổng nối tiếp.

    +TCON (Timer Control): Thiết lập cấu hình làm việc cho bộ Timer/Counter.

    +TMOD (Timer Mode): Xác định chế độ làm việc cho từng bộ Timer/Counter.

    +TL0/TH0 (Timer 0 Low/High): Cặp thanh ghi tương ứng với Timer0.

    +TL1/TH1 (Timer 1 Low/High): Cặp thanh ghi tương ứng với Timer1.

    +SCON (Serial Control): Thiết lập cấu hình cho cổng nối tiếp.

    30

    Đo lường và tự động điều khiển

    +SBUF (Serial Buffer): Bộ đệm khi truyền hoặc nhận dữ liệu qua cổng nối tiếp.

    +IE (Interrupt Enable): Cho phép ngắt hoặc cấm ngắt.

    +IP (Interrupt Priority): Thiết lập mức ưu tiên cho các ngắt.

    +PSW (Program Status Word ): Thanh ghi từ trạng thái chương trình lưu tr ữ một s ố bit quan trọng được đặt hoặc xoá bởi các l ệnh của 8051: cờ nhớ, cờ nh ớ ph ụ, cờ tràn và cờ chẵn lẻ. Ngoài ra, 2 bit RS0 và RS1 trong PSW còn cho phép chọn băng thanh ghi để làm việc trong bộ nhớ RAM trong.

    +ACC (Accumulator): Thanh ghi tích luỹ, đây là một trong những thanh ghi được sử d ụng nhiều nhất trong vi điều khiển 8051. Thanh ghi này có ký hiệu là A.

    +B (B Register): Thanh ghi B được sử dụng khi thực hiện các phép toán nhân, chia và cũng có thể được dùng như thanh ghi phụ hay thanh ghi lưu trữ số liệu tạm thời.

    Các thanh ghi chức năng đặc biệt sẽ có thể đượ c nhận mộ t trạng thái nào đó cố định mỗi khi vi điều khi ển Reset (tuỳ thuộc vào mỗi thanh ghi). Sau đây là bảng trạng thái của các thanh ghi ngay sau khi Reset:

    Bảng 2.2: Trạng thái khi reset của các thanh ghi.

    Register Reset to Register Reset to Register Reset to
    A 00H P2 FFH SCON 00H
    B 00H P3 FFH TCON 00H
    DPTR 00H PCON 0…….B TMOD 00H
    IE 0..00000B   0…0000B TH0 00H
    IP …00000B PSW 00H TH1 00H
    P0 FFH SP 07H TL0 00H
    P1 FFH SBUF ..H TH1 00H

    2.Khối hiển thị

     

    31

    Đo lường và tự động điều khiển

    N ối ghép LCD với vi xử lý 8051: LCD gồm có hai hàng hàng đơn v ị, hàng ch ục, hàng trăm. Hàng đầu là giá tr ị nhập vào để động c ơ chạy, hàng thứ hai là giá trị m à thực chấ t động cơ chạy và đ ược hiển t hị trên LC D.

    1. Hoạ t động củ a LCD:

    Trong nhữ ng năm g ần đây, mà n hình tin h thể lỏng LCD (Liquid Crystal Display) n gày càng được sử d ụ ng rộng r ãi và đang dần thay thế các đèn LED (7 thanh và nhiều th anh). Đó l à do các n guyên nhâ n sau: -Màn hình LCD có giá thành h ạ

    -Khả năng hiển thị số, ký tự và đồ hoạ tốt h ơn nhiều so với đ èn LED (đèn LED chỉ h iển thị đư ợc số và m ột số ký t ự).

    -Sử dụng thêm một bộ điều khiển làm tươ i LCD và như vậy giải phóng CPU khỏ i công việc này. Còn đối v ớ i đèn LE D luôn cần CPU (hoặ c bằng cá ch nào đó) để du y trì vieec hiển thị dữ liệu.

    -Dễ dàng lập trình c ác ký tự và đồ hoạ.

    1. Mô tả chân củ a LCD:

    LCD giới thiệu ở đây có 14 chân. Chức năng của các chân đư ợc trình bày trong bản g như sau:

    Chân Ký hiệu I/O Mô tả
    1 V SS Đất
    2 V CC Dương nguồn +5V
    3 V EE Nguồn đ iều khiển tương phản
    4 RS I RS = 0 chọn thanh ghi lệnh
          RS = 1 chọn thanh ghi dữ liệ u
    5 R /W I R/W = 1 đọc dữ liệu
          R/W = 0 ghi
    6 E I/O Cho phé p
    7 D B0 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    8 D B1 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    9 D B2 I/O Bus dữ liệu 8 bits

    32

    Đo lường và tự động điều khiển

    10 DB3 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    11 DB4 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    12 DB5 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    13 DB6 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    14 DB7 I/O Bus dữ liệu 8 bits
    1. RS (Register Select) – chọn thanh ghi:

    Có hai thanh ghi rất quan trọ ng bên trong LCD. Chân RS được dùng để ch ọn các thanh ghi này. Nếu RS = 0 thì thanh ghi mã lệnh được chọn, cho phép ngườ i dùng gửi mộ t l ệnh chẳng hạn như xoá màn hình, đưa con trỏ về đầu dòng v.v…Nếu RS = 1 thì thanh ghi dữ liệu được chọn và cho phép người dùng gửi dữ liệu cần hiển thị lên LCD.

    1. R/W (Read/Write) – chân đọc/ghi:

    Chân vào đọc/ghi cho phép người dùng đọc/ghi thông tin từ/lên LCD. R/W = 0 thì đọc, R/W = 1 thì ghi.

    1. E (Enable) – chân cho phép:

    Chân E được LCD sử dụng để chốt thông tin hiện có trên chân dữ liệu. Khi

    dữ liệu đượ c cấp đến chân d ữ liệu thì một xung mức Cao -xuống-thấp được áp đến chân E để LCD chốt dữ liệu trên chân dữ liệu. Xung này phải rộng tối thiểu 450ns.

    6.D0 – D7:

    Đây la 8 chân dữ liệu 8 bits, được dùng để gửi thông tin lên LCD hoặc đọc nội dung của các thanh ghi trong LCD.

    Để hiển thị chữ cái và con số, mã ASCII của các chữ cái từ A đến Z, a đến z, và các con số tự 0 – 9 được gửi đến các chân này khi RS = 1.

    Cũng có các mã lệnh được gửi đến LCD để xoá màn hình hoặc đưa con trỏ về đầu dòng hoặc nhấp nháy con trỏ.

    Cũng có thể sử dụng RS = 0 để kiểm tra bit cờ bận xem LCD đã sẵn sàng

    nhận thông tin chưa. Khi R/W = 1 và RS = 0 thì cờ bận D7 thực hiện các

    chức năng như sau: Nếu D7 = 1 (cờ bận bằng 1) có nghĩa LCD đang bận các

    công việc bên trong và sẽ không nhận bất kỳ thông tin mới nào, còn nếu D7 =

    • thì LCD sẵn sàng nhận thông tin mới. Trong mọi trường hợp cần kiểm tra cờ bận trước khi ghi bất kỳ dữ liệu nào lên LCD.

    -LCD ghép nối với các cổng p1.0…..p1.7 cổng p1 là cổng dữ liệu dùng để chuyễndữ liệuvà chênh lệch giá trị , 3chân EN ,RW,RS được nối với các chân của vi xử lý có nhiệm vụ như đã nói ở trên ,chân thứ 15,16 lắp cho đèn LCD (ở đây ta không dùng )

    33

    Đo lường và tự động điều khiển

    3 .Phần đo động cơ (khối sensor)

    Về phần này thì gồm có những bộ phận sau:

    • Bộ thu phát hồng ngoại làm nhiệm vụ thu nhận tốc độ động cơ bằng Diode thu phát quang để đếm số vòng quay của động cơ qua một đĩa chắn quang gắn vào trục của motơ
    • Bộ so sánh ngưỡng LM324 làm nhiệm vụ chuyển tín hiệu từ bộ thu phát hồng ngoại thành tín hiệu TTL tương ứng đưa vào chân P1.0 của vi điều khiển.LM 324 có nhiệm vụ khuyếch đại thuật toán

    74HC14 trigosmith hoạt truyền

    JP1s

    R2s

    Rs1

    5V

    Cs1

    C 10k

    J2s

    • Grd

     

    •  

    3

    CON3

    động theo sườn tránh các hoạt

        U1AsA 14 U2AsA
        4  
    3 +     R4s
    1 1 2
    2      
        LM324   74HC14
        11 7 r3s

    D3s

    LED

    động dao động trên đường

    1 p33.4
    4
      U3
      TLP621
    2 3

    34

    Đo lường và tự động điều khiển

    Nguyên lý ho ạt động của mạch: Việc đo tốc độ c ủa động cơ dựa vào quá trình đếm xung của vi xử lí thông qua các xung của bộ sensor thu phát ( ứng với mỗ i vòng quay của động cơ sensor sẽ phát 1 xung đưa về bộ đếm của vi xử lí) .

    Thông qua chương trình được lập trình sẵn trong vi x ử lí ,mạch đếm sẽ tính toán số li ệu đo được và cho hiển thị kết quả. Với khả năng lập trình được vi xử lí cho phép tự động chọn thang đo ( có thể thay đổi khoảng th ời gian trong phép đo t ừ đó thay đổi thang đo theo giây hay phút …) . Ngoài ra , vi xử lí còn cho phép phát triển thêm các tính năng củ a mạch như điều khiển tố c độ của động cơ khi cần thi ết , lưu giữ các kết quả của các phép đ o trước đó mở rộ ng khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của mạch ( đo tần số , đo chu kì… ) . Nhờ sử dụng xung động bộ của thạch anh có độ chính xác và ổn định cao nên

    • xử lí cho phép loại bỏ sai số của hệ thống do sự “ chậm ” của thời điểm “mở” và “đóng” các xung của tín hiệu đi vào mạch tính toán.

    4.Phần động lực

    mạ ch cầu H có nhiệ m vụ điều khiển tốc độ động cơ, thay đổi điện áp đầu vào dẫn đến thay đổi thay đổi tốc độ của động cơ

    Nguyên lý hoạt động của mạch cầu H:

    0V

    R_IRF4      
    10K 3   3
    Rh41   tD4  
        IRF540  
      2   2
        M- M+
      2   2
    Rh2   IRF9540  
    R1_IRF3      
    10K      
      3   3

    tD3   R_IRF2

    10K

    1IRF540     Rh3

    tD2

    IRF9540 Rh1

    • R_IRF1 10K

    24V

    35

    Đo lường và tự động điều khiển

    Mạ ch cầu H được mô tả trong hình dưới đ ây. Động cơ đượ c nố i với các cực âm và dương củ a nguồn. Chú ý là chỉ một MOSFET ở mỗi bên của động cơ được bật lên tại một thời điểm nếu không nó sẽ ngắn mạch và cháy.

    Để động c ơ chạy theo chiều thuận, Q4 được bật, Q1 có tín hiệu điều chế độ rộng xung PWM. Dòng điện được chỉ ra trong hình dưới đây.

    Q4 được giữ sao cho khi tín hiệu PWM mất đi, dòng điện tiếp tục chảy quanh vòng cuối quan đi ốt bên trong của Q3.

    36

    Đo lường và tự động điều khiển

    Để động cơ chạy theo chiều ngược, Q3 được bật lên, Q2 có tín hiệu PWM:

    Q3 được giữ sao cho khi tín hiệu PWM mất đi, dòng điện tiếp tục chảy trong vòng cuối của điốt trong Q4:

    Để phục hồi, ví dụ như khi động cơ đang quay theo chiều nghịch, độ ng cơ (bây giờ đang hoạt độ ng như một máy phát) cho dòng đ iện chảy qua ph ần ứng, qua điốt của Q2, qua nguồn (và do đó nạp cho nó) và quay lại qua điốt của Q3:

    37

    Đo lường và tự động điều khiển

    5.Phần nhập giá trị tốc độ ban đầu :

      R1 R10  
         
    1 2 R11 P0.0
      3 R12 P0.1
      4 R13 P0.2
      5 R14 P0.3
      R
      6 R15 P0.4
      R
      7 R16 P0.5
      R
      8 R17 P0.6
      R
      9 R P0.7
        R  
      RESISTOR SIP 9 R  
        R  

    Khối này tương đối đơn giản nó chỉ gồm có các nút bấm hàng đơn vị hàng chục hàng trăm hàng nghìn và hàng vạn ,nút reset ,pause , đảo chi ều và nút start.nó được nối thông qua các điện trở R1 vào cac chân p0.0 đến p0.7 ta nhập các số vào nút bấm dữ liệu.

    6.Khối động cơ : H

    Hoạt động của độ ng cơ được xác định mỗi khi có sự thay đổI tín hi ệu xung nhận được khi có chùm sáng t ừ cả m biến phát quang chiếu qua khe đạt trên cánh động cơ xuống cả m bi ến thu quang .Tín hiệu thu được từ bộ cảm bi ến hồng ngoạI có tính chất tu ần hoàn do động cơ hoạt động theo chu kì .Chính vì vậy , ta có thể xác định số vòng quay trong 1s.

    38

    Đo lường và tự động điều khiển

    Tín hiệu thu đựơc từ bộ cảm bi ến chưa ổn định do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tín hiệu này được đưa vào IC khuếch đạI thuật toán để xử lý .Giá trị điện áp tín hiệu đượ c khuếch đạI lên khoảng 12V tạI đây tín hiệu được đưa vào chân p3.0 chờ xử lý.

    Vi xử lý AT89c51 được lập trình vớI đầu vào p3.0 .Port vào ra

    • Port 0 : hàng đơn vị
    • Port 1: hàng chục
    • Port 2: hàng trăm

    Đặc điể m n ổi bật của họ vi xử lý 8051 là khả n ăng xử lý dữ liệu theo từng bít .Vì vậy các bít được lập trình sau đó được xuất trực tiếp ra các chân cua LCD mà không cần thông phải qua bộ giải mã 74ls47 .

    Chu kỳ lấy mẫu 1 s như vậy tốc độ động cơ được xác định bằng :

    Tốc độ động cơ =( tổng số xung /1 s)/6

    7.Khối nguồn

    SW1

    J5 D2

    1

    2

    DIODE

    HEADER 2

    SW KEY-DPDT

    U2

    LM7805

    • 3

    VIVO

    GND
    2

    C38

    CAP NP

    5V

    R6

    RESISTOR

    C3

    CAP

    D1

    LED

    Grd

    Nguồn điện được thi ết kế riêng s ử dụng IC 7805 cho phép cung cấp điện áp ổn định 5 V với điện áp vào thay đổ i từ 9 –12 V. Mạch nguồn được thiết kế nhằm giảm thiểu sai số do sự không ổ n định củ a điện áp cung cấp cho mạ ch đếm và hạn chế sự ra tăng đi ện áp đột ngộ t gây hỏng linh kiện, cụ thể là 2 tụ C3 và C38 có nhiệm vụ ổn áp tránh dao động do dòng điện, hoặc các hiện tượng sụt áp, ngoài ra con diện trở R6 và con led có nhiệm vụ là bảo vệ nguồn

    III, Phần mềm thực hiện thuật toán:

    1. Lưu đồ thuật toán.

     

    39

    Đo lường và tự động điều khiển

    Begin

    Nhập tốc độ, đưa ra

    LCD

    Thay đổi giá

    trị hay không

    Tính độ rộng xung

    Đưa ra động cơ

    Lấy tín hiệu từ

    sensor, đưa ra LCD

    Lớn hơn sai Giảm độ rộng xung  
     
    số cho phép    
         

    Tăng độ rộng

    xung

    Nhỏ hơn sai

    số cho phép

     

    40

    Đo lường và tự động điều khiển

    2.     Mã nguồn chương trình:

    IV .Thiết kế mạch

    Sơ đồ mạch in

     

    41

    Đo lường và tự động điều khiển

    1. Đánh giá sai số của mạch điện: a)Sai số hệ thống:

     

    a1. Sai số do linh kiện.

     

    Mạch điện có sử dụng một số linh kiện điện tử , các linh kiện này trong điều kiện thường đều có các sai số.

     

    VD : trong vi xử lí 89c51 mỗi câu lệnh đều yêu cầu một thời gian trễ nhất định để thực hiện thời gian này lại phụ thuộc vào xung của bộ dao động thạch anh ( có sai số trong quá trình sản xuất ) điều này gây ảnh hưởng đến thời gian đếm các xung không còn chính xác như với hàm Delay : bộ định thời làm việc với tần số bằng 1/12 tần số thạch anh tức là bằng

    12/12= 0.1 Mhz . Kết quả là mỗi nhịp xung đồng hồ có chu kỳ

    T = 1/f = 1 Ms như vậy bộ đếm sẽ tiến hành đếm tăng sau mỗi chu kỳ T với dộ trễ được tính = số đếm * 1 Ms.

    Ngoài ra khi tín hiệu qua bộ khuếch đại và qua cổng NOT có sự trễ do thời gian đóng mở của linh kiện dẫn đến sự mất đồng bộ về thời gian gây sự chuyển trạng thái của tín hiệu một cách ngẫu nhiên gây sai lệch trong phép đếm xung (còn gọi là sai số +1).

     

    a2. Sai số của nguồn tín hiệu

     

    Nguồn tín hiệu được tạo ra từ mạch sensor thu phát hồng ngoại . Mức điện áp khi có tín hiệu ( đã qua khuếch đại) là 3,5 – 4 V còn khi không có tín hiệu là 0- 2,5 V .Tuy nhiên trong quá trình thu phát tín hiệu do động cơ quay với tốc độ khá cao dẫn đến sự chuyển mức không kịp đáp ứng tạo nên một dãy các xung ứng với mức “1” hoặc “0” mặc dù mức điện áp không nằm trong các mức này. Đây chính là nguyên nhân chính gây ra sai số của mạch điện.

    a3. Sai số do cách xử lí kết quả đo

     

    42

    Đo lường và tự động điều khiển

    Trong quá trình đ o chưa tính đượ c các thông số kí sinh của mạch. Trong chươ ng trình chưa xem xét đến độ trễ của các câu lệnh, chưa tìm được cách xử lí độ nhiễu của tín hiệu.

    Mạch tạo nguồn tín hiệu bằng sensor , mức tín hiệu chuẩn trong khoảng cách 5cm ,độ ổn định chưa cao còn chịu ảnh hưởng của nguồn sáng bên ngoài ( ánh sáng tự nhiên , ánh sáng đèn…).

    Trong bài tập này ánh sáng phòng có ảnh hưởng lớn đến sai số trong phép đo vì nó can nhiễu đến s ự thu nhận của sensor . Tuy nhiên điều này được hạn chế bằng mạch khống chế độ nhạy sensor .

    1. Sai số ngẫu nhiên.

    Trong qua trình đo động cơ có độ rung nhất định ( tuỳ thuộc vào mức đi ện áp cung cấp) dẫn đến sự sai khác trong việc thu và xử lí tín hiệu của sensor. Điều kiện bên ngoài cũng có ảnh hưởng đến mạch : độ sáng , độ ẩm…

    Nguồn điện cung cấp cho mạch không ổn định dẫn đến điều kiện làm việc của các thiết bị không còn chính xác.

    Bên cạnh đó trong quá trình đo còn có sai số do chủ quan của người đo : không giữ đúng khoảng cách sensor thu phát , không cẩn thận trong qua trình đo .

    1. Một số kết quả đo được

    Với nguồn cung cấp cho động cơ : 12V

    lần 1 :  nhập giá trị đầu vào : 5999 vòng /1ph

    giá trị đo được              : 5975vòng /1 ph

    lần 2 :                                                       : 3500 vòng / 1ph

    3494vòng /1ph

    lần 3 :                                                            2000 vòng / 1ph

    1980 vòng/1ph

    Sai số tương đối : 0.5%

    VI. Kết Luận

    1. Nhận xét về mạch: a. Ưu điểm:

    Mạch đơn giản, dễ lắp đặt sửa chữa,chi phí thấp.

    • Mạch cho phép đo được tốc độ của nhiều loại động cơ,với khoảng giới hạn lớn – Mạch có độ chính xác tương đối, có khả năng phát triển thêm các chức năng ( kết nối máy tính,…). Có khả năng ứng dụng trong thực tế: Như trong việc hiển thị tốc độ của một số loại máy ,điều khiển được tốc độ của máy móc theo ý muốn của người sử dụng.

    Mạch chạy tương đối ổn định ,dùngphối hợp trở kháng và mạch cầu H

    43

    Đo lường và tự động điều khiển

    Mạch sử dụng các đot phát quang dựa trên sự tái hợp của điện tử và lỗ trống của lớp tiếp xúc PN.

    1. Khuyết điểm:
    • Mạch còn sai số do linh kiện:
    • Chịu ảnh hưởng của nhiễu do ánh sáng đến khối thu phát của sensor.
    • Sensor chỉ cho phép đo trong khoảng cách tương đối ngắn.
    1. Phương án cải tiến.
    • Cải thiện khả năng của khối thu phát: nâng cao khả năng chống nhiễu cũng như khả năng thu phát của sensor (tăng khuyếch đại, sử dụng sensor thu phát trực tiếp).
    • Thêm một số tính năng :
    • Sử dụng phương pháp điều khiển tốc độ bằng phương pháp thay đổi độ rộng xung PWM.
    • Thêm khả năng lưu giữ các giá trị đa đo khi cần có thể xuất ra hiển thị bằng các nút bấm.

    VII.Xu hướng phát triển của đề tài

    Sản phẩm có th ể được phát triển thêm các chức năng đo khác như đo nhiệt độ, độ ẩ m ,áp suất và điều khiển, khống chế được .Hơn nữa các chức năng có thể liên quan đến nhau bổ trợ và kiểm soát lẫn nhau theo yêu cầu của người sử dụng

    -Sản phẩm sẽ phát triển thành mộ t máy có th ể đo các loại động cơ lớn hơn ,đồng thời nhưng có hưóng xử lý khác nhau cho t ừng loại tốc độ ,từng thời gian khác nhau ta có thể phát triển thành một máy đo được cài và thực hiện mọi chưong trình được nhập vào máy, trong một quy trình công nghiệp

    LỜI KẾT

    Qua thời gian 10 tuần làm bài tập lớn là môt khoảng thơig gian ngắn nhưng cũng đã giúp chúng em hiểu thêm về việc thiết kế một hệ thống trong công nghiệp có sử dụng vi điều khi ển đặc biệt là vi đi ều khiển 8051. Trong công nghiệp hiện nay việc đưa các vi điều khiển vào để tạo ra các thiết bị thông minh là cần thiết. Từ đó các hệ thống được tao ra sẽ gon nhẹ hơn và giải quyết nhiệm v ụ nhanh hơn, dễ dàng hơn. Trong thiết kế hệ thống này đã đáp ứng được yêu cầu của bài toán đặt ra, vận dụng tốt những tính năng ưu việt của vi điều khiển 8051 cũng như kết nối các thiết bị được sử dụng một cách hợp lý.

    44

    Đo lường và tự động điều khiển

    Nh ờ việc làm bài tập lớn nay ma chung em có hiểu được nhưng phần lý thuyêt đ ã được học. Chúng em đã hoàn thành việc thiết kế đo và điều khi ển động cơ một chiều loại nh ỏ. Nh ưng do thời gian có hạn và kiến th ức thực tế chưa có nên vi ệc tìm hiểu cũng như vận dụng còn nhiều hạn chế, chúng em rất mong được sự góp ý của các thầy để mạ ch thiết kế được hoàn thiện hơn. Chung em rất cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn cùng lớp dặc biệt là thầy Tuân –thầy giáo dạy môn Đo lường điều khiển t ự động -đã truyền đạt những ki ến thức gằn gũi và tạo điều kiẹn hết sức cho chung em hoàn thành đựoc bài tập này.

      VIII. Tài liệu tham khảo  
           
    1 – Kỹ thuật mạch điện tử …………………………………… Phạm Minh Hà.
    2 – Kỹ thuật số …………………………………………………… Nguyễn Thúy Vân.
    3 – Kỹ thuật đo lường điện tử ……………………………….. Vũ Quý Điềm.
           

    4- Cấu trúc và lập trình vi điều khiển 8051…………Nguyễn Tăng Cường

    Phan Quốc Thắng.

    5- Lập trình họ vi điều khiển 8051…………………..Tống Văn On.

     

    45


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thiết kế mạch mô phỏng đo và hiển thị tốc độ động cơ có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [ 0-2500 vòng/phút]

    Đồ án Thiết kế mạch mô phỏng đo và hiển thị tốc độ động cơ có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [ 0-2500 vòng/phút]

    Đồ án Thiết kế mạch mô phỏng đo và hiển thị tốc độ động cơ có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [ 0-2500 vòng/phút]

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập lớn Xây dựng phần mềm quản lý thư viện trường Đại học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%E1%BA%A1ch-m%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-%C4%91o-v%C3%A0-hi%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-t%E1%BB%91c-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-c%C3%B3-g%E1%BA%AFn-Encoder-100-xungv%C3%B2ng-kho%E1%BA%A3ng-%C4%91o-0-2500-v%C3%B2ngph%C3%BAt.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thiết kế mạch mô phỏng đo và hiển thị tốc độ động cơ có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [ 0-2500 vòng/phút]

    Lời nói đầu

    Ngày nay việc ứng dụng vi điều khiển, vi xử lý đang ngày càng phát triển rộng rãi và thâm nhập ngày càng nhiều vào các lĩnh vực kỹ thuật và đời sống xã hội. Với xu hướng tất yếu này cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ chế tạo, người ta đã tạo những vi điều khiển có cấu trúc mạnh hơn, đáp ứng thời gian thực tốt hơn, chuẩn hóa hơn so với các vi điều khiển 8 bit trước đây.

    Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đặc biệt là ngành điện, điện tử, sự phát minh ra các linh kiện điện tử đã và đang ngày càng đáp ứng được yêu cầu của các hệ thống. Ưu điểm của việc sử dụng các linh kiện điện tử làm cho các hệ thống linh hoạt và đa dạng hơn, giá thành thấp hơn và độ chính xác cao hơn.

    Sau thời gian học tập và tìm hiểu, chúng em đã được làm quen với môn học vi xử lý và đo lường hệ thống. Để áp dụng lý thuyết với thực tế của môn học này chúng em nhận bài tập lớn :” thiết kế mạch mô phỏng đo và hiển thị tốc độ động cơ ( có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [ 0-2500 vòng/phút]”.

    Tuy nhiên do kiến thức còn hạn chế, tài liệu tham khảo có giới hạn nên còn có những sai sót. Chúng em rất mong thầy, cô giáo thông cảm và giúp đỡ chúng em hoàn thiện bài tập lớn này.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn!

    Mạch đo và hiển thị tốc độ động cơ ( có gắn Encoder 100 xung/vòng, khoảng đo [

    0 – 2500 vòng/phút] gồm:

    Phần I : giới thiệu chung

    1.1.    giới thiệu về vi điều khiển 8051

    1.2.    giới thiệu về encoder

    1.3.    giới thiệu chức năng của các linh kiện khác trong mạch.

    Phần II : xây dựng phần cứng, lưu đồ thuật toán và chương

    trình điều khiển.

    2.1 Thiết kế phần cứng và sơ đồ mạch mô phỏng

    2.2 lưu đồ thuật toán

    2.3 chương trình điều khiển

    Phần I : giới thiệu chung

    1.1 Giới thiệu về vi điều khiển AT89C51

     

    30p

    19

    12MHz

    18

    30p

    29

    30

    31

    9

    RD\              17

    WR\              16

    T1                 15

    T0                 14

    INT1             13

    INT0             12

    TXD             11

    RXD            10

    40

    Vcc     Po.7

    XTAL1                 Po.6

    Po.5

    XTAL2                 Po.4

    Po.3

    Po.2

    Po.1

    Po.0

    PSEN\

    ALE

      P2.7
    EA\ P2.6
    RET P2.5

    P2.4

    P2.3

    P2.2

    P2.1

    P2.0

    P1.7

    P1.6

    P1.5

    P1.4

    P1.3

    P1.2

    P1.1

    P1.0

    Vss

    20

    32

    33

    34

    35

    36

    37

    38

    39

    8

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    28

    27

    26

    25

    24

    23

    22

    21

    AD7

    AD6

    AD5

    AD4

    AD3

    AD2

    AD1

    AD0

    A15

    A14

    A13

    A12

    A11

    A10

    A9

    A8

    Bộ vi điều khiển 8 bit AT89C51 hoạt động ở tần số 12 MHz, với bộ nhớ ROM 4kbyte, bộ nhớ RAM 128 byte cư trú bên trong và có thể mở rộng bộ nhớ ra ngoài. Ở bộ vi điều khiển này còn có 4 cổng 8 bit (P0,P1,P2,P3) vào/ra 2 chiều để giao tiếp với thiết bị ngoại vi. Ngoài ra, nó còn có:

    2 bộ định thời 16 bit (Time 0 và Time 1) Mạch giao tiếp nối tiếp

    Bộ xử lý bit

    Hệ thống điều khiển và xử lý ngắt

    Các kênh điều khiển/ dữ liệu/ địa chỉ. CPU

    Các thanh ghi chức năng đặc biệt (SFR) sơ đồ chân tín hiệu của AT89C51:

    Chức năng của các chân tín hiệu như sau: -P0.0 đến P0.7 là các chân của cổng 0 -P1.0 đến P1.7 là các chân của cổng 1 -P2.0 đến P2.7 là các chân của cổng 2 -P3.0 đến P3.7 là các chân của cổng 3 -RxD : nhận tín hiệu kiểu nối tiếp -TxD : truyền tín hiệu kiểu nối tiếp -INT0: ngắt ngoài 0

    -INT1: ngắt ngoài 1

    -T0: chân vào 0 của bộ Timer/Counter 0

    -T1: chân vào 1 của bộ Timer/Counter 1

    -Wr: ghi dữ liệu vào bộ nhớ ngoài

    -RST: chân vào Reset, tích cực ở mức logic cao trong khoảng 2 chu kỳ máy

    -XTAL1: chân vào mạch khuếch đại dao động

    -XTAL2: chân ra từ mạch khuếch đại dao động

    -PSEN: chân cho phép đọc bộ nhớ chương trình ngoài

    -ALE: chân tín hiệu cho phép chốt địa chỉ để truy cập bộ nhớ ngoài, khi On – chip xuất ra byte thấp của địa chỉ. Nó có thể được dùng cho các bộ Timer ngoài hoặc cho mục đích tạo xung Clock.

    -EA/Vpp: cho phép On – chip truy cập bộ nhớ chương trình ngoài khi EA=0, nếu EA=1 thì On-chip sẽ làm việc với bộ nhớ chương trình nội trú.

    -VCC : cung cấp nguồn cho On-chip

    -GND: nối mát

    +, Các thanh ghi chức năng đặc biệt khác:

    Các thanh ghi chức năng đặc biệt là các thanh ghi đảm nhiệm các chức năng khác nhau trong chíp. Chúng nằm ở RAM bên trong chíp chiếm vùng không gian bộ nhớ

    128bytes được định địa chỉ từ 80h đến Ffh.

    Thanh ghi tích lũy (ACC):

    đây là thanh ghi quan trọng trong chip, dùng để lưu trữ các toán hạng và kết quả của phép tính. Thanh ghi ACC dài 8 bit, có địa chỉ là E0h trong SFR.

    Thanh ghi B:

    thanh ghi thường sử dụng khi thực hiện các phép toán nhân, chia. Đối với các lệnh khác, thanh ghi B có thể xem như là thanh ghi đệm tạm thời. Trong SFR thanh ghi B dài 8 bits và có địa chỉ là F0h.

    Con trỏ ngăn xếp:

    thanh ghi này dài 8 bits, có địa chỉ trong SFR là 81h, giá trị của nó được tăng tự động trước khi thực hiện các lệnh CALL, PUSH. Ngăn xếp có thể đặt bất cứ nơi nào trong RAM của chíp, nhưng sau khi khởi động lại ngăn xếp thì con trỏ ngăn xếp mặc định sẽ trỏ tới địa chỉ khởi đầu là 07h, vậy ngăn xếp sẽ được tạo ra bắt đầu từ 08h.

    Con trỏ dữ liệu :

    là thanh ghi dài 16 bits, gồm hai thanh dài 8 bits hợp lại là thanh ghi byte cao DPH và thanh ghi byte thấp DPL. Con trỏ dữ liệu có thể sử dụng như là thanh ghi 16 bits hoặc hai thanh ghi 8 bits độc lập. Trong SFR thanh ghi DPH có địa chỉ là 83h, còn thanh ghi DPL có địa chỉ là 82h.

    Thanh ghi PSW:

    là thanh ghi dài 8 bits, có địa chỉ trong SFR là D0h. Thanh ghi PSW dùng để chứa thông tin về trạng thái chương trình. Mỗi bit của PSW đảm nhiệm một chức năng cụ thể. Thanh ghi này được phép truy cập ở dạng mức bit.

    Thanh ghi PCON : thanh ghi điều khiển nguồn.

    Thanh ghi IE: thanh ghi cho phép ngắt

    EA : nếu EA=0 không cho phép bất cứ ngắt nào hoạt động. Nếu EA=1 mỗi nguồn ngắt riêng biệt được phép hoặc không được phép hoạt động bằng cách đặt hoặc xóa bit Enable của nó.

    ET2 : bit cho phép hoặc không cho phép ngắt bộ Timer 2

    ET1 : bit cho phép hoặc không cho phép ngắt tràn bộ Timer 1

    EX1 : bit cho phép hoặc không cho phép ngắt ngoài 1

    ET0 : bit cho phép hoặc không cho phép ngắt tràn bộ Timer 0

    EX1 : bit cho phép hoặc không cho phép ngắt ngoài 0

    Thanh ghi IP : thanh ghi ưu tiên ngắt

    Thanh ghi TCON: thanh ghi điều khiển bộ Timer/Counter TF1: cờ tràn Timer1

    TR1 : bit điều khiển bộ Timer 1 hoạt động

    TF0 : cờ tràn Timer0

    TR0 : bit điều khiển bộ Timer 0 hoạt động

    IE1 : cờ ngắt ngoài 1

    IE0 : cờ ngắt ngoài 0

    Thanh ghi TMOD : thanh ghi điều khiển kiểu Timer/Counter

    GATE : khi TRx được thiết lập và GATE = 1, bộ Timer/Counterx hoạt động chỉ khi chân INTx ở mức cao. Khi GATE= 0, Timer/Counterx sẽ hoạt động chỉ khi TRx=1 C/T : bit này cho phép chọn chức năng là Timer hay Counter.

    M0,M1 : bit chọn Mode, để xác định trạng thái và kiểu Timer/Counter.

    Thanh ghi SCON : là thanh ghi trạng thái và điều khiển cổng nối tiếp.

    1.2 Giới thiệu về Encoder :

     

    Cấu tạo của encoder :

    Nhìn trên hình ta thấy encoder gồm: 1 tấm tròn có khắc lỗ, 1 Hệ thông LED phát và thu.

    Cấu tạo chính của encoder :

    Gồm 1 bộ phát ánh sáng ( led phát ), một bộ thu ánh sáng nhạy từ ánh sáng nhạy từ ánh sáng của bộ phát (bộ thu thường là photodiotde hoặc phototransistor) 1 hay 2 đĩa quang gắn trên trục quay đặt giữa bộ phát và thu, thông thường trục quay này sẻ được gắn với trục quay của đối tượng cần đo tốc độ.

    Nguyên tắc hoạt động :

    Nguyên lý cơ bản của encoder : đó là một đĩa tròn xoay, quay quanh trục. Trên đĩa có các lỗ (rãnh). Người ta dùng một đèn led để chiếu lên mặt đĩa. Khi đĩa quay, chỗ không có lỗ (rãnh), đèn led không chiếu xuyên qua được, chỗ có lỗ (rãnh), đèn led sẽ chiếu xuyên qua. Khi đó, phía mặt bên kia của đĩa, người ta đặt một con mắt thu. Với các tín hiệu có, hoặc không có ánh sáng chiếu qua, người ta ghi nhận được đèn led có chiếu qua lỗ hay không.Số xung đếm được và tăng lên nó tính bằng số lần ánh sáng bị cắt.

    Như vậy là encoder sẽ tạo ra các tín hiệu xung vuông và các tín hiệu xung vuông này được cắt từ ánh sáng xuyên qua lỗ. Nên tần số của xung đầu ra sẽ phụ thuộc vào tốc độ quay của tấm tròn đó. Ứng dụng của encoder : trong các bài toán đo tốc độ động cơ, trong các máy CNC dùng để xác định khoảng dịch chuyển của 1 đối tượng thông qua đếm số vòng quay của trục.

    1.3 Giới thiệu về các thiết bị khác trong mạch :

     

    Giới thiệu về led 7 thanh :

    Led 7 đoạn có cấu tạo bao gồm 7 led đơn có dạng thanh xếp theo hình và có thêm một led đơn hình tròn nhỏ thể hiện dấu chấm tròn ở góc dưới, bên phải của led 7 đoạn.

    8 led đơn trên led 7 đoạn có Anode(cực +) hoặc Cathode(cực -) được nối chung với nhau vào một điểm, được đưa chân ra ngoài để kết nối với mạch điện. 8 cực còn lại trên mỗi led đơn được đưa thành 8 chân riêng, cũng được đưa ra ngoài để kết nối với mạch điện. Nếu led 7 đoạn có Anode(cực +) chung, đầu chung này được nối với +Vcc, các chân còn lại dùng để điều khiển trạng thái sáng tắt của các led đơn, led chỉ sáng khi tín hiệu đặt vào các chân này ở mức 0. Nếu led 7 đoạn có Cathode(cực -) chung, đầu chung này được nối xuống Ground (hay Mass), các chân còn lại dùng để điều khiển trạng thái sáng tắt của các led đơn, led chỉ sáng khi tín hiệu đặt vào các chân này ở mức 1.

    Vì led 7 đoạn chứa bên trong nó các led đơn, do đó khi kết nối cần đảm bảo dòng

    qua mỗi led đơn trong khoảng 10mA-20mA để bảo vệ led

    Giới thiệu động cơ điện 1 chiều :

    Cấu tạo của động cơ gồm có 2 phần: stato đứng yên và rôto quay so với stato. Phần cảm (phần kích từ-thường đặt trên stato) tạo ra từ trường đi trong mạch từ, xuyên qua các vòng dây quấn của phần ứng (thường đặt trên rôto). Khi có dòng điện chạy trong mạch phần ứng, các thanh dẫn phần ứng sẽ chịu tác động bởi các lực điện từ theo phương tiếp tuyến với mặt trụ rôto, làm cho rôto quay. Chính xác hơn, lực điện từ trên một đơn vị chiều dài thanh dẫn là tích có hướng của vectơ mật độ từ thông B và vectơ cường độ dòng điện I. Dòng điện phần ứng được đưa vào rôto thông qua hệ thống chổi than và cổ góp. Cổ góp sẽ giúp cho dòng điện trong mỗi thanh dẫn phần ứng được đổi chiều khi thanh dẫn đi đến một cực từ khác tên với cực từ mà nó vừa đi qua (điều này làm cho lực điện từ được sinh ra luôn luôn tạo ra mômen theo một chiều nhất định). Hình ảnh động cơ điện 1 chiều :

    Phần II : xây dựng phần cứng, lưu đồ thuật toán và chương

    trình điều khiển.

     

    2.1 Thiết kế phần cứng và sơ đồ mạch mô phỏng :

    để đo tốc độ ta dùng phương pháp đếm số xung trong một khoảng thời gian đo

    (tđ ). Như vậy với phương pháp này thì ta lựa chọn encorder để biến tốc độ thành một dãy xung có tần số tỷ lệ với tốc độ quay của động cơ.

    Tính toán kết quả đo :

    Phương pháp đo là đếm số xung trong một khoảng thời gian đo (tđ ), số xung đếm được trong thời gian đo tđ là Nx. Ta đo tốc độ động cơ 1 chiều có gắn

     

    encoder 100 xung/vòng, vậy ta chọn thời gian đo là tđ = 0,6s để đảm bảo thông tin cập nhật một cách tối ưu nhất.

    n : là tốc độ động cơ.

    Nx.60

    n =  tđ . .l

      60.Nx   60.Nx  
    n =   =   = Nx  
    tđ .100
    0,6.100

    Trong đó : tđ : thời gian lấy mẫu đo kết quả là 0,6s

     

    Sơ đồ mạch mô phỏng :

    RP1

    RESPACK-8

                       
                       
                       
    1 23456789
                       
                              C1             19                       39                
                                                                               
                                                              XTAL1 P0.0/AD0                  
                                                                        P0.1/AD1   38                
                              33n           X1                 P0.2/AD2   37                
                                            18           36                
                                                              XTAL2 P0.3/AD3   35                
                              C2             CRYSTAL           P0.4/AD4                  
                                                      34                
                                                                        P0.5/AD5   33                
                GND                                                   P0.6/AD6                  
              C3                                             9   RST P0.7/AD7   32                
                            33n                                     21                
              10u                                   +5 v           P2.0/A8     22                
                                                                        P2.1/A9                  
                                                                        P2.2/A10   23                
                                                        29     PSEN   P2.3/A11   24                
                                                        30   ALE P2.4/A12   25                
                                                      31   26                
                                                                EA     P2.5/A13                  
              R1               START                         P2.6/A14   27                
                                                    P2.7/A15   28                
                                                                 
              10k                                             1   P1.0 P3.0/RXD   10                
                                                                               
                                                        2   P1.1 P3.1/TXD   11                
                                                        3   P1.2 P3.2/ INT0     12                
                                                4     13                
                                                          P1.3 P3. 3/INT1                    
                                                5                      
                                                          P1.4 P3.4/T0   14                
                                                                         
                                                        6   15                
                                                          P1.5 P3.5/T1                  
                                                7     16                
                                                          P1.6 P3.6/ WR                    
                                                8                      
                                                          P1.7           17                
                                                          P3.7/RD                  
                                                                     
      +12 v    
    AT89C51
         
                                                                                                         

    +88.8

    GND

    2.2 Lưu đồ thuật toán:

    2.3 Chương trình điều khiển :

    ; chương trình đo và hiển thi tốc độ động cơ

    ORG 0000h

    dem equ 55h

    chuky equ 57h

    bl equ 61h

    bh equ 69h

    layxung equ p3.4

    hangchucdonvi equ 13h

    hangngantram equ 14h

    setb   P1.0

    doi_an_phim:

    JB   P1.0, doi_an_phim   ; Thoat khi P3.4 = 1

    mov p0,#0c0h

    mov p2,#11111110b

    quet equ p2

    led7 equ p0

    setb layxung

    jb layxung,$

    jnb layxung,lucdau

    xoaydata16:

    clr c

    mov a,bl

    rlc a

    mov bl,a

    mov a,bh

    rlc a

    mov bh,a

    mov a,hangchucdonvi

    rlc a

    mov hangchucdonvi,a

    mov a,hangngantram

    rlc a

    mov hangngantram,a

    ret

    main:

    clr tf0

    clr tr0

    call hienthiled

    lucdau:

    mov tmod,#00010101b

    mov th0,#00h

    mov tl0,#00h

    setb tr0

    setb p3.4

    mov dptr,#ma7doan

    lcall delay03s

    clr tf1

    clr tr1

    clr tr0

    clr tf0

    call tuhextobcd

    call giaima7doan

    sjmp main

    ret

    • hex 16 bit to bcd tuhextobcd:

    mov hangchucdonvi,#00h mov hangngantram,#00h mov bh,th0

    mov bl,tl0 mov dem,#15

    tuhextobcda:

    call xoaydata16

    mov a,hangchucdonvi

    anl a,#0fh

    cjne a,#4,$+3                 ;nhay neu nho hon

    jc tuhextobcdb

    mov a,hangchucdonvi

    add a,#3

    mov hangchucdonvi,a

    tuhextobcdb:

    mov a,hangchucdonvi

    anl a,#0f0h

    cjne a,#50h,$+3

    jc tuhextobcdc

    mov a,hangchucdonvi

    add a,#30h

    mov hangchucdonvi,a

    tuhextobcdc:

    mov a,hangngantram

    anl a,#0fh

    cjne a,#5,$+3

    jc tuhextobcdd

    mov a,hangngantram

    add a,#3

    mov hangngantram,a

    tuhextobcdd:

    mov a,hangngantram

    anl a,#0f0h

    cjne a,#50h,$+3

    jc tuhextobcde

    mov a,hangngantram

    add a,#30h

    mov hangngantram,a

    tuhextobcde:

    djnz dem,tuhextobcda

    call xoaydata16

    ret

    ;;;;;BCD to 7seg

    giaima7doan:

    mov a,hangchucdonvi

    anl a,#0fh

    movc a,@a+dptr

    mov 27h,a

    mov a,hangchucdonvi

    anl a,#0f0h

    swap a

    movc a,@a+dptr

    mov 26h,a

    mov a,hangngantram

    anl a,#0fh

    movc a,@a+dptr

    mov 25h,a

    mov a,hangngantram

    anl a,#0f0h

    swap a

    movc a,@a+dptr

    mov 24h,a

    ret

    hienthiled:

    mov a,#01b

    mov r0,#27h

    ht1:

    mov led7,@r0

    mov quet,a

    mov quet,#00h

    dec r0

    rl a

    cjne r0,#22h,ht1

    ret

    delay03s:                           ; chuong trinh delay lay mau (0.6s)

    mov r6,#12

    lai1:mov tmod ,#00010101b

    mov th1,#03ch

    mov tl1,#0b0h

    setb tr1

    here: lcall hienthiled

    jnb tf1,here

    clr tf1

    djnz r6,lai1

    ret

    ma7doan:

    db 0c0h,0f9h,0a4h,0b0h,99h,92h,82h,0f8h,80h,90h

    ret

    end


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]