Category: Điện – Điện Tử – Viễn Thông

  • LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BA%ACP-CH%C6%AF%C6%A0NG-TR%C3%8CNH-B%E1%BA%B0NG-NG%C3%94N-NG%E1%BB%AE-PASCAL-T%C3%8DNH-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%9ANG-T%C3%8DCH-PH%C3%82N-X%C3%81C-%C4%90%E1%BB%8ANH-B%E1%BA%B0NG-C%C3%94NG-TH%E1%BB%A8C-SIMPSON.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 6 (9/2016) tr 50 – 58

     

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

     

    Đoàn Vĩnh Ngọc, Hoàng Hiến, Trương Quốc Huấn Khoa Tự nhiên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Phần lớn các tích phân xác định của một hàm số đều khó có thể tìm được giá trị đúng. Thay bằng việc tính giá trị đúng của một tích phân xác định, thì tin học có thể giúp ta tính được gần đúng tích phân xác định với một sai số e (đủ nhỏ) nào đó. “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” là một hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để thay con người giải quyết bài toán về tích phân xác định một cách hữu hiệu nhất.

     

    Từ khóa: Tích phân, gần đúng, hàm số, lập trình, ngôn ngữ Pascal, công thức SIMPSON.

     

    1. Đặt vấn đề

     

     

    Như đã biết, nếu hàm số hàm số f ( x ) trên đoạn [a, b] thì

     

    f ( x ) liên tục trên đoạn [a, b] và F ta có công thức Newton – Leibnitz

     

    ( x ) là một nguyên hàm của như sau:

     

    b

       

    ò f ( x ) d x  = F ( x )

    b

    = F ( b ) – F ( a ) ,

    a

    a

       

    trong đó

    F ‘( x ) = f ( x ) .

     

    Trong thực tế ta thường phải tính tích phân xác định của hàm số f ( x ) được cho bởi bảng giá trị, khi đó khái niệm nguyên hàm không có ý nghĩa. Mặt khác số lớp hàm f ( x ) mà ta có thể tính được nguyên hàm của nó là rất ít. Phần lớn các biểu thức giải tích của hàm số f ( x ) đã biết nhưng nguyên hàm F ( x ) của nó không thể biểu diễn được bằng hàm số sơ cấp. Trong trường hợp ấy không thể dùng công thức Newton – Leibnitz để tính được tích phân xác định.

     

    Với các hàm số không tính được nguyên hàm, hay việc tính nguyên hàm của nó gặp nhiều khó khăn, thì thay bằng việc tính chính xác tích phân xác định của hàm số, ta đi tính gần đúng tích phân xác định của hàm số đó.

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số ta có thể dùng công thức hình thang hoặc công thức Simpson. Nhưng khi dùng công thức Simpson thì độ chính xác cao hơn hay sai số nhỏ hơn. Vậy “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” không chỉ là cách tính gần đúng tích phân xác định với độ chính xác cao mà còn là cách dùng máy tính thay con người giải quyết dạng bài toán này.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    2.1.1. Định nghĩa tích phân

     

    Cho hàm số y = f ( x ) xác định trên đoạn [a , b ] . Chia tùy ý đoạn này thành n phần bằng các điểm chia (và gọi là một phân hoạch):

     

    a  = x 0  < x 1  < . . . < x i  < x i + 1  < . . . . < x n 1  < x n   = b .

     

    Ngày nhận bài: 5/7/2016. Ngày nhận đăng: 25/9/2016

    Liên lạc: Đoàn Vĩnh Ngọc, e – mail: [email protected]

     

    50

     

    Ta ký hiệu

    D x

    i

         

    mỗi đoạn

    D x i  , ta lấy

           

    (i = 0 , n – 1)     vừa là đoạn [ x i , x i + 1 ]  vừa là độ dài của đoạn thẳng đó. Trên

    tùy ý một điểm x     rồi lập tổng (gọi là tổng tích phân):

    i

     

    • -1

    s = å f ( x ) D x  .

    i        i

     

    i = 0

     

    Rõ ràng tổng này phụ thuộc vào phép chia đoạn [ a , b ]

     

    nhất của các đoạn D x  (i = 0 , n – 1)  (ký hiệu là l ) được gọi

    i

    cho độ dài của tất cả các đoạn D x   tiến tới 0 chỉ cần l ® 0 .

    i

     

    Khi đó giới hạn của tổng tích phân khi

    l ®

    0

    :

    và cách chọn điểm x . Độ dài lớn i

     

    đường kính của phân hoạch. Để

     

    • = li m s
      • ® 0

    có nghĩa là:

     

    Với mọi e > 0  tìm được d > 0

     

    kính nhỏ hơn d ), bất đẳng thức s – I

     

    Định nghĩa:

     

    Giới hạn I của tổng tích phân hoặc tích phân Riemann – của hàm số

     

    sao cho chỉ cần l < d (tức là mọi phân hoạch có đường < e được thỏa mãn với bất kỳ cách chọn các điểm x .

    i

     

    s khi l ® 0 , nếu có, được gọi là tích phân xác định – f ( x ) trên đoạn [ a , b ] và ký hiệu:

     

     

    b

    n -1

         

    I =

    ò f ( x ) d x  = li m

    å

    f ( x i

    ) D x

    i .

     

    l ® 0

    i = 0

         
     

    a

         
             

    Khi đó ta nói hàm số trên của tích phân [3, 190].

    2.1.2. Sai số

     

    2.1.2.1. Số xấp xỉ

    f

    ( x )

    khả tích trên đoạn

    [ a , b ]

    , a và b tương ứng là cận dướicận

     

     

    Định nghĩa: Ta gọi a gọi là số xấp xỉ của số đúng A, ký hiệu a » A , nếu a khác A không đáng kể và được dùng thay cho A trong tính toán.

    Nếu a<A thì a gọi là xấp xỉ thiếu của A. Nếu a>A thì a gọi là xấp xỉ thừa của A [1, 5].

     

    2.1.2.2. Sai số tuyệt đối

     

    Định nghĩa: Hiệu D a = A – a (hoặc D a = a – A ) gọi là sai số của số xấp xỉ a. Trị tuyệt đối D =  D a  =  A – a  gọi là sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    Định nghĩa: Sai số tuyệt đối giới hạn của số xấp xỉ a là số không nhỏ hơn sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    2.1.2.2. Sai số tương đối

     

    Định nghĩa: Sai số tương đối của số xấp xỉ a, ký hiệu  d , là:

     

    thiết

    A  ¹ 0 .

               
     

    Từ đó D =

    A  .d [1, 7].

             
     

    Định nghĩa: Sai số tương đối giới hạn của số xấp xỉ a, ký hiệu

    sai số tương đối của số xấp xỉ a. Do đó:

    d £ d a  nghĩa là

    D

    £ d

     

    .

    A

    a

                 
     

    Từ đó: D £

    A  .d a   và có thể chọn

             
         

    D a   = A  .d a   [1, 7].

       
    • =
    • a

    D

    =

    A – a

    với giả

     

    A

    A

         

    là số không nhỏ hơn

     

    2.2. Công thức Simpson và sai số

     

    51

     

    Để tính gần đúng

    b

    • f ( x ) d x

    a

    ta chia

    • a , b ]

    thành hai đoạn bằng nhau bởi các điểm chia

     

    x

     

    =

    a , x

     

    = a +

    b – a

    = a

    + h , x

     

    = b = a +

     

    0

    1

    2

    2

                         
                               

    thức

    nội   suy   Newton

    tiến

     

    bậc

     

    C ( x 1

    = a + h , y 1

    = f ( x 1 ) )

    B ( x 2

    =

    a + 2

     

    nút trùng với cận dưới a

    = x

    0 , ta có

       
                           

    b

       

    2 h  và thay hàm số dưới dấu tích phân

    f ( x )

    bằng đa

     

    hai

     

    (đi   qua

    ba   điểm

    A ( x 0   =

    a , y 0

    = f ( x 0 ) ) ,

    h

    = b , y

    2   = f ( x 2 ) )

    có hoành độ đều nhau) xuất phát từ

     

    x

    2

    x

    2

         
               

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò

    P 2 ( x ) d x .

    a

     

    x

    0

       

    x

    0

     
                 

    Để tính được tích phân xác định ở vế phải, ta đổi biến số biến thiên từ 0 đến 2 và ta được

    x

    =

     

    x

    0

     

    +

    h t

    . Khi đó dx = hdt, t

     

    b

     

    x 2

       

    2

    æ

               

    t ( t – 1)

         

    ò f ( x ) d x

                             

    2

     

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò ç y

     

    +

    t D y 0

    +

             

    D

    y 0

    0

       

    2

         

    a

     

    x

    0

       

    0

    è

                             
                                         
                                               
           

    æ

       

    t

    2

     

    1

         

    æ

    t

    3

     

    t

    2

    ö ö

     

    t = 2

                             
                                           
     

    = h ç y 0 t + D y

         

    +

     

    D

    2

    y 0

    ç

       

       

    ÷ ÷

       
     

    0

    2

    2

     

    3

    2

       
           

    è

               

    è

     

    ø ø

     

    t = 0

                                               

    ö

    h d t

    ÷

    ø

     

    ,

     

    trong đó:

     

    Vậy:

     

           

    D y

    0

    =

     

    y

    1

    – y

    0

    ;

             
                                       
           

    D

    2

    y

     

    = D y

     

    – D y

     

    =

    y

     
             

    0

    1

    0

    2

                                     

    b

     

    x 2

                 

    h

                   

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ( y 0

    + 4 y

     

    +

    3

    1

    a

     

    x

                                   
     

    0

                                     
                                           

     

    y

     

    y

    1

     
    • )

    – ( y

    1

    – y

    0

    ) =

    y

    2

    – 2 y

    1

    + y

    0

    .

                 

    (1)

     

    Về mặt hình học, (1) có nghĩa là diện tích hình thang cong a A C B b đường cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B) được thay xấp xỉ bằng diện

     

    cong a A C B b ( A C B là cung parabol  y = P  ( x )  đi qua ba điểm A, C, B). Nói

    2

     

    cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B được thay xấp xỉ bởi đường Parabol y ba điểm A, C, B (Hình 1).

    ( A C B là cung tích hình thang

     

    khác đi, đường

     

    = P ( x ) đi qua 2

     

    y

    y=f(x)

     

    y=P2(x)

    A

    C

     

    B

    h           h

     

    • x0=a x1 x2=b x Hình 1

    Công thức (1) được gọi là công thức Simpson.

     

    52

     

         

    b

     

    h

         

    Để xác định sai số:

     

    =

    ò

    f ( x ) d x –

    + 4 y 1

    + y 2 ) , ta giả thiết rằng hàm số

    y

    R

    ( y 0

           

    3

         
         

    a

           
                   

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [a, b]. Cố định điểm giữa x1 và xem R là hàm số của h ( h

    • f (
    • 0

    x )

     

    ):

     

     

    x

    1

    + h

     

    h

         
                 
     

    = R ( h ) =

    ò

    f ( x ) d x –

     

    – h ) + 4 f ( x 1 ) + f ( x 1

    + h ) ] .

    R

    [ ( f ( x

    1

     

    x

     

    – h

     

    3

         
     

    1

             
                   

    Đạo hàm ba lần theo h đẳng thức trên, ta có

     

    R ‘( h )

    =

    f ( x

     

    + h )

    + f ( x

     

    – h )

    1

    [ f ( x

       

    – h ) +

     

    4 f ( x

     

    ) + f ( x

             

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    1

    1

    3

    1

     

    1

    1

     

    + h ) ] –

    3

    1

                                                           
                                                                                     
                                                                                                     
       

    =

    2

             

    – h ) + f ( x

     

    + h ) ]

    4

    f ( x

     

    ) –

     

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ]

     
         

    [ f ( x

    1

     

    1

     

    1

         

    1

    1

     
         

    3

                                   

    3

                   

    3

                                 
                                                                                                   

    R

    ”( h )

    =

    2

     

    – f

     

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    +

    h ) ] –

    1

    [ – f ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ] –

    h

       

    [

     

    1

    1

       

    1

     

    1

       

    [ – f ”( x

         

    3

                                           

    3

                                   

    3

       
                                                                                             
       

    =

    1

       

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    + h ) ] –

    h

    [ f

     

    ”( x

       

    – h )

    + f

    ”( x

     

    + h ) ]

                 
         

    [ – f

    1

    1

           

    1

    1

                 
         

    3

                                       

    3

                                               
                                                                                                   

    R

    ”'( h )

    =

    1

    [ f

    ”( x 1

    – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    1

    [ f

    ”( x

     

    1  – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    h

     

    [ -f

    ”'( x 1

                 
         

    3

                                           

    3

                                       

    3

           

    h

    = –    [ f ”'( x 1  + h ) – f ”'( x 1  – h ) ] .

    3

     

    Áp dụng công thức số gia hữu hạn (công thức Lagrange) đối với

    • h )

    1

    – h

     
    • h )

    f ”'( x

     

    +

    f

    ‘( x

    1

    + h ) ]

           

    ) + f

    ”( x

    1

    + h ) ]

         
    • f ”'( x 1 + h ) ]

    ),  ta có

     

                                 

    2 h

    2

                                                                               
         

    R

    ”'( h )

    = –

       

    f

    ( 4 )

    ( c

       

    ), c

       

    Î

    ( x

       

    – h , x

     

    + h )

         
                                       
             

    3

         

    3

    3

     

    1

    1

         
                                                                                                     
       

    Ngoài ra: R(0) = 0; R'(0) = 0; R”(0)=0.

                                                                               

    Từ đó, áp dụng định lý trung bình thứ hai của tích phân xác định, ta nhận được

         

    R ”( h ) = R

     

    ”( 0 ) + h

    R

     

    ”'( t ) d t

    =

    2

       

    h

     

    t 2 f ( 4 ) ( c

       

    ) d t

                       
                     

    ò

                           
                           

    ò

                         

    3

                             

    3

                         
       
                         

    0

                                     

    0

                                                     
               

    2

                 

    h

                           

    2

                                                       
         

    = –

    f ( 4 ) ( c  )

    ò

     

    t 2 d t = –

       

    h 3 f ( 4 ) ( c  ) ; c  Î [ x  – h , x  + h ]

                     
           

    3

             

    2

                             

    9

                               

    2

     

    2

         

    1

       

    1

     
                                                                                           
                         

    0

                                                                               
       
                         

    h

                                 

    2

       

    h

                                               
         

    R ‘( h ) = R

     

    ‘( 0 ) +

    ò R

    ”( t ) d t

     

    = –

       

    ò

    t

     

    3

    f

    ( 4 )

    ( c

    2 ) d t

                     
                                           
             

    9

                                   
                         

    0

                                     

    0

                                               
                                                                                                             
           

    2

                 

    h

                     

    1

                                                         
         

    = –

    f

    ( 4 )

    ( c 1 )

    ò

    t

    3

    d t

    = –

         

    h

    4

    f

     

    ( 4 )

    ( c 1

    ) ; c 1

    Î [ x 1

    – h , x 1

    + h ]

                                   
         

    9

       

    1 8

                 
                         

    0

                                                                         
       
         

    R ( h ) = R ( 0 ) +

    h  R ‘( t ) d t = –

    1

         

    h

     

    t 4 f ( 4 ) ( c  ) d t

                     
                   

    ò

                       
                         

    ò

                         

    1 8

                             

    1

                       
       

    0

    0

             

    1

             

    h

                         

    1

                                                   
         

    = –

    f ( 4 ) ( c )

    ò

    t 4 d t = –

       

    h 5 f ( 4 ) ( c ) ; c Î [ x  – h , x  + h ] .

                     
           

    1 8

                             

    9 0

                                     

    1

         

    1

       
                                                                                     
                     

    0

                                                                   
       

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [ a , b ] , ta có công

    thức Simpson sau đây

                                                                                                             

    b

     

    h

    é

    æ a + b ö

               

    ù

         

    1

                                                   

    b – a

         

    ò f ( x ) d x

                                     

    5

       

    ( 4 )

             

    với h

     

    =

         

    Î [a , b ]. ( 2 )

    =

     

    ê f ( a ) + 4 f

    ç

             

    ÷

    +

    f ( b ) ú

                   

    h

     

    f

         

    ( c )

             

    , c

    3

         

    2

     

    9 0

                   

    2

    a

     

    ë

    è

           

    ø

               

    û

                                                         

    2.3. Công thức Simpson tổng quát và sai số

     

    53

     

     

    b

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định

    ò

    f ( x ) d x

       
     

    a

     

    bằng nhau (nghĩa là n là số nguyên, dương và chẵn):

    , ta chia đoạn

    • a , b ]

    thành n = 2m đoạn

     

    có độ dài là:

     

             

    [ x 0 , x 1

    ] , [ x 1 , x 2 ] ,…, [ x 2 m – 2 , x 2 m -1 ] ,

    [ x 2 m -1 , x 2 m  ]

    h  =

    b – a

    =

    b – a

    bởi các điểm chia:

           

    n

    2 m

           
                     
         

    x

    0

    = a ; x

    i

    = a + ih ( i = 1, 2 m – 1) , x

    n

    = x

    2 m

    = b .

                     

    Ký hiệu:

     

    y i

    = f ( x

    i

    ), i = 0 , n

    , khi đó:

               
         

    b

     

    x 2

     

    x 4

       

    x 2 m

       
         

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x +

    ò

    f ( x ) d x + . . . +

     

    ò

    f ( x ) d x

    ( 3 )

         

    a

     

    x

    0

     

    x 2

     

    x

    2 m – 2

       
                           

    Đối với mỗi tích phân xác định ở vế phải của (3), ta tính gần đúng bằng công thức

     

    Simpson (1), ta nhận được:

     

         

    b

         

    h

           

    h

           
         

    ò f ( x ) d x

    »

    ( y

    0  + 4 y 1

    + y 2 ) +

    ( y 2  + 4 y 3  + y

    4 ) + … +

         

    3

    3

         

    a

                         
                                   
             

    b

       

    h

                   
             

    ò f ( x ) d x  »

    [ ( y 0  + y 2 m ) + 4 ( y

     

    + y 3  + … + y

     

    ) + 2

             

    3

    1

    2 m – 1

             

    a

                       
                                   
     

    b

         

    h

                         

    hay:

    ò

    f ( x ) d x

    »

    0  + y 2 m

    ) + 4 s 1

    + 2 s 2

         

    ,

       

    [ ( y

    ]

    ( 4 )

       
           

    3

                         
     

    a

                               
                                   

    trong đó

    s 1  =

    y

    1  + y 3

    +

    . . . + y

    2 m – 1 ; s 2

    = y 2

    + y 4

     

    + . . . + y 2 m – 2

       
     

    Công thức (4) được gọi là công thức Simpson tổng quát.

     

    Nếu hàm số  y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên

    [a , b

    thức Simpson tổng quát là:

     

    h

    ( y

     

    + 4 y

     

    + y

     

    )

     

    3

    2 m – 2

    2 m -1

    2 m

             
                   

    ( y

    2

    + y

    4

    + … + y

    2 m – 2

    ) ]

           

     

    ] thì do (2), sai số của công

     

       

    x

    2 m

               

    h

    m

         
                           

    R

    =

     

    ò

     

    f ( x ) d x –

    å

    ( y 2 k – 2

    + 4 y 2 k -1  + y 2 k )

     
       

    3

     
       

    x

                   

    k =1

         
       

    0

                         
                               
                                   
         

    m

     

    æ

    x

    2 k

             

    h

     

    ö

                                 
     

    = å

       

    ò

                 
     

    ç

     

    f ( x ) d x –

    ( y 2 k – 2  + 4 y 2 k -1  + y 2 k

    ) ÷

               

    ç

                 

    3

     

    ÷

       

    k = 1

    è

    x 2 k – 2

               

    ø

                     
                             
             

    h

    5

     

    m

                   
     

    = –

       

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    )  ( 5 )

       
               
       

    9 0

         
             

    k =1

                   
                                 

    với c k  Î [ x 2 k 2 , x 2 k ].

     

    Xét trung bình cộng

     

     

    1

    m

             

    m =

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    ).

     
     

    m

     
     

    k =1

             
                 

    Vì hàm f(4)(x) liên tục trên đoạn [a, b] nên nó đạt

     

    giá trị nhỏ nhất m2 và giá trị lớn nhất M2 trên [a, b]. Do đó f(4)(ck) nhận giá trị trung gian giữa

     

                         

    m2   và  M2

    tức  là  m

    2

    £ f ( 4 ) ( c

    k

    ) £ M

    2

    ( k = 1, m ) .   Vì  vậy  tồn  tại  điểm  c Î [ a , b ]

    sao  cho

                   

    m = f ( 4 ) ( c )

    hay

                     

    m

     

    å f ( 4 ) ( c k ) = m .m = m .f ( 4 ) ( c ) .

     

    • =1

    Thay vào (5), ta nhận được

     

    R  = –

    m h 5

    f ( 4 ) ( c ) = –

    m . ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) = –

    ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) , c Î [a , b ] ( 6 )

         

    9 0

     

    2 .m . 9 0

    1 8 0

     

    54

     

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y = f ( x ) có đạo hàm cấp bốn liên tục trên

     

    đoạn lấy tích phân [a , b ] thành n = 2m đoạn bằng nhau, có độ dài h  =

    b – a

    =

    b

     

    n

    2

     
         

    thức Simpson tổng quát sau:

    • a ,
    • a

    m

    b ]  và chia

     

    ta có công

     

    trong đó:

    b

    • f ( x ) d x =

    a

     

    s

    1

    =

    y

    1

    + y

    3

    + . . . +

             

    h

     

    +

     

    [ ( y

    0

    3

       
         

    y

    2 m – 1

    ; s

    2

         

    y

    2 m

    ) + 4 s

    1

    + 2 s

             

    =

    y

    2

    + y

    4

     

    + . . . +

               

    2

    ] –

       

    y

    2 m

       

    ( b – a ) h

    4

           

    f

    ( 4 )

    ( c ) , c Î [ a , b ]

    ( 7 )

     
       
     

    1 8 0

     
               

    – 2

    .

             
       

    Nhận xét:

     

    f

     

    Tính sai số của công thức Simpson tổng quát bằng công thức (7) đòi hỏi phải biết

    ( 4 )

    ( x ) , nghĩa là phải biết biểu thức giải tích của hàm số

    y = f ( x ) .  Nhưng trong thực tế,

         

    thường chỉ biết hàm số y = f ( x ) dưới dạng bảng, do đó người ta thường xác định gần đúng sai

     

    số của công thức Simpson tổng quát như sau: giả sử trên

    [a , b ]

    đạo hàm f ( 4 ) ( x )  ít biến đổi,

    do (7), nhận được biểu thức gần đúng của sai số phải tìm là

    R  = M h

    4

    , trong đó M xem là hằng

           

    số. Gọi I s ( h )

    I s (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

     
       
         

    2

                   

    tổng quát với bước h và bước

    h

    , ta có:

         

    2

         
                           
                       

    I = I

    s

    (

                           
                       

    I = I

    s

    (

                           

    Từ đó I

    h

    ) –

    I

    s ( h ) =

    1 5

    M h

    4

    æ h

    s (

     

    I – I s  ç

       
                           
     

    2

         

    1 6

           

    è

    2

                           

    b

     

    I = ò f ( x )d x

     

    a

     

    h ) +

    M h

    4

         
           

    h

    ) +

    M (

    h

    )

    4

    .

       

    2

    2

     
             

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ÷

    I

    s

    ç

       
     

    1 5

    2

    ø

       

    è

    nhận được từ công thức Simpson

     

     

    ö

    I

     

    ( h )

    (8 )

     

    ÷

    s

             

    ø

               

    Với giả thiết đạo hàm

     

    f ”( x )

    ít biến đổi trên đoạn

     

    • a , b ]

    , ta có công thức thực hành tính

     

    sai số:

     

    I – I

     

    æ

    h

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ö

    – I

     

    ( h )

    ( 9 ) ,

    T

    ç

     

    ÷

    I

    T

    ç

     

    ÷

    T

     

    2

     

    3

    2

         
       

    è

    ø

       

    è

    ø

           

    trong đó  I

     

    ( h )

    và  I

     

    (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

    T

    T

     
         

    2

     
               
     

    b

                             

    h

       

    I =

    ò

    f ( x ) d x  nhận được từ công thức hình thang tổng quát với bước h và bước

    .

     
     
                           

    2

       
     

    a

                             
                                     
                   

    1

     

    s i n (1 + x

    2 )

           
       

    2.4. Ví dụ: Tính gần đúng tích phân xác định

    I = ò

         

    d x , với m = 5.

     
         

    1 + 3 x 3

     
                   

    0

                 
       

    Ta có: n=2m=2.5=10; [a ; b ] = [0 ; 1 ] Þ h  =

    1 – 0

       

    = 0 , 1

             
                     
       

    x0 = 0, xn = x10 = 1, xi

     

    1 0

         

    )

             
       

    = x0 + i.h = 0 + i.0,1 (

    i = 1, 9

             
                               
       

    Ta có bảng giá trị của hàm f(x) tại các xi:

                         
         

    i

    xi

    f(xi)

                         
         

    0

    0

    0.84147098

                   
         

    1

    0.1

    0.84429895

                   
         

    2

    0.2

    0.84219163

                   
         

    3

    0.3

    0.82019141

                   
         

    4

    0.4

    0.76913012

                   
         

    5

    0.5

    0.69017063

                   
         

    6

    0.6

    0.59336444

                   
         

    7

    0.7

    0.49124581

                   
         

    8

    0.8

    0.39337791

                   
         

    9

    0.9

    0.30484059

                   
         

    10

    1

    0.22732436

                   

    55

     

    Vậy áp dụng công thức Simpson ta có:

     

    I »

    h

    [f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + 4 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) + 2 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) ] = 0 , 6 2 8 9

     

    3

    0

    1 0

    1

    3

    9

    2

    4

    8

                         
                                         

    (làm tròn tới bốn chữ số thập phân).

     

    2.5. Chương trình

     

    Tính gần đúng tích phân xác định

     

    phím với a , b Π     ; a < b .

     

    PROGRAM PP_SIMPSON;

     

    USES CRT;

     

    VAR  i,n: integer;

     

    a,b,h,s0,s1,s2,i1,i2,epsilon: real;

     

    t: boolean;

     

    b

    s i n (1 + x

    2 )

     

    I = ò

       

    d x , cận a và b tùy ý nhập vào từ bàn

    1 + 3 x 3

     

    a

         

    KT: Char;

     

    {*********************************************************************}

     

    FUNCTION f(x:real):real;

     

    BEGIN

     

    f:=sin(1+x*x)/(1+3*x*x*x);

     

    END;

     

    {*********************************************************************}

     

    BEGIN

     

    CLRSCR;

     

    REPEAT

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung theo cong thuc Simpson’);

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung cua ham so

     

     

    s i n (1 +

    x

    2

    )

    y =

     

    1 + 3 x

    3

       
         
           
               

    ‘);

     

    Write(‘ Nhap can duoi a= ‘); Readln(a);

     

    Write(‘ Nhap tren duoi b= ‘); Readln(b);

     

    Write(‘ Nhap sai so epsilon = ‘); Readln(epsilon);

     

    s2:=0;

     

    n:=2;

     

    h:=(b-a)/2;

     

    s1:=f(a+h);

     

    s0:=f(a)+f(b);

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    {Tinh tich phan}

     

    t:=false;

     

    Repeat

     

    i1:=i2;

     

    s2:=s1+s2;

     

    h:=h/2;

     

    s1:=0;

     

    FOR i:=1 TO n DO

     

    s1:=s1+f(a+(2*i-1)*h);

     

    n:=2*n;

     

    56

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    if ABS(i2-i1)<epsilon then

     

    begin

     

    t:=true;

     

    Writeln(‘ Tich phan I = ‘,i2:10:2);

     

    end;

     

    Until t;

     

    Writeln;

     

    Write(‘ Ban muon tiep tuc khong (c/k)?’); Readln(KT); UNTIL UPCASE (KT)=’K’;

     

    END.

     

    e =

     

    0

     

    .0

    *

     

    0 0

    Kết quả khi chạy chương trình với a = 0, b = 1 và sai số của tích phân nhỏ hơn

     

    0 1

    :

     

    Với độ chính xác

     

     

    e =

     

     

    0 .0 0 0 0 1

     

     

    , ta có

     

     

    1

    s i n (1

    + x

    2

    )

     

    ò

     

    » 0 .6 2 8 9

    1

    +

    3 x

    3

     

    d x

    0

           
                 

    Ví dụ trên là cách tính tích phân gần đúng của một hàm số cụ thể. Với các hàm số khác, để tính được gần đúng tích phân của nó với cận trên và cận dưới tùy chọn ta có thể sửa phần hàm FUNCTION f(x:real):real; trong chương trình trên thành các hàm theo mong muốn sau đó chạy chương trình bình thường.

     

         

    1

    e

    x

    2

    + 1

           

    Tương tự với hàm trên ta tính được

    ò

       
           

    d x  » 1 . 7 4 8 5 2 7 4 1

         

    1

    +

    5 x

    6

         

    0

     
                   

    nhỏ hơn

    e = 0 .0 0 0 0 1

    . Kết quả kiểm tra như sau:

     

    với sai số của tích phân

     

     

    3. Kết luận

     

    Phương pháp Simpson chỉ là một trong các cách tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số mà ta có thể lập trình để máy tính thực hiện thay con người. Ngoài ra còn có các phương pháp khác trong việc tính gần đúng tích phân xác định ta cũng có thể lập trình để giải quyết.

     

    Một câu hỏi đặt ra là: Ngoài việc tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số, còn bài toán nào có thể lập trình để máy tính thay thế con người tính được không? Có nhiều bài

     

    57

     

    toán có thể làm như vậy. Từ đây mở ra hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để giải quyết các bài toán mà theo cách giải thông thường ta không (hoặc rất khó) làm được.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • TS. Dương Thủy Vỹ (2007), Giáo trình Phương pháp tính, Nxb Khoa học kỹ thuật.
    • TS Lê Khắc Thành (2003), Giáo trình Pascal, Nxb Đại học sư phạm.
    • Nguyễn Xuân Liêm, Nguyễn Mạnh Quý (2002), Toán cao cấp A2, Nxb Giáo dục.
    • Nguyễn Tô Thành (2007), Lập trình nâng cao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
    • Quách Tuấn Ngọc (2002), Ngôn ngữ lập trình Pascal, Nxb Thống kê.
    • Volkov E.A. (1986), Numerrical methods, Mir Publishers, Moscow.
    • Sastry S. S. (1989), Introductory methods of numerical analysis. Prentice – Hall of India Private limited, New Delhi.

    USING PASCAL PROGRAMMING LANGUAGE TO CALCULATE APPROXIMATE VALUE OF DEFINITE INTEGRAL WITH SIMPSON’S FORMULA

     

    Doan Vinh Ngoc, Hoang Hien, Truong Quoc Tuan Dien Bien College

     

    Abstract: In fact, it is very difficult to find the correct value of the most definite integral of the function. In spite of calculating correct value of definite integral, informatics can help us calculate approximate value of definite integral with the so-called acceptable errors e. “Pascal programming language calculates approximate value of definite integral by Simpson’s rule” is the way to use computer and programming language to solve problems of definite integral effectively.

     

    Keywords: Integral, approximate, function, programming, Pascal language, SIMPSON formula.

     

     

     

     

    58


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-xo%E1%BA%AFn-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-CPU-GPU-%C4%91%E1%BB%83-t%C4%83ng-hi%E1%BB%87u-n%C4%83ng-t%C3%ADnh-to%C3%A1n-trong-ph%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i-%E1%BA%A3nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    ỨNG DỤNG MẠNG NƠRON, MẠNG NƠRON XOẮN

    VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP CPU – GPU ĐỂ TĂNG HIỆU NĂNG TÍNH TOÁN TRONG PHÂN LOẠI ẢNH

     

    Hồ Sỹ Phương, Phan Văn Dư, Lê Văn Chương, Tạ Hùng Cường Viện Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Đại học Vinh Ngày nhận bài 30/9/2018 , ngày nhận đăng 29/11/2018

     

    Tóm tắt: Bài báo trình bày và so sánh các phương pháp phân loại ảnh dựa trên mạng nơron nhân tạo nhiều lớp (Multi Layer Perceptron – MLP) và mạng nơ ron xoắn (Convolutional Neural Network – CNN). Dữ liệu được đưa vào huấn luyện là 50.000 bức ảnh của 10 đối tượng khác nhau. Kiến trúc thứ nhất được sử dụng là mạng MLP gồm có 3.853.298 tham số (weight), kiến trúc thứ hai là mạng CNN gồm 528.054 tham số. Bài báo đã đề xuất một vài phương pháp và cấu trúc mạng nhằm tránh hiện tượng quá khớp (overfitting), tăng cường độ chính xác cho mô hình xấp xỉ 80%. Bên cạnh đó, bài báo cũng trình bày và so sánh về thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU và kết hợp sử dụng CPU với GPU.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm cho các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) ứng dụng trong lĩnh vực robotics, robot tương tác thời gian thực với môi trường xung quanh… thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia trong lĩnh vực điều khiển. Trong robot tự hành, để có thể tương tác với môi trường hoạt động và điều khiển robot chuyển động theo đúng quỹ đạo mong muốn, vấn đề nhận biết, phân tích, nhận dạng và phân loại các vật thể đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp chúng ta có cơ sở để đưa ra các tín hiệu điều khiển một cách chính xác, kịp thời. Nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước [1], [10], [12], [15] cho thấy vấn đề này có thể giải quyết và đưa lại hiệu quả cao khi sử dụng mạng MLP, trong đó việc nhận dạng chữ viết tay với độ chính xác lên đến 99,8%.

     

    Trong bài báo này, nhóm tác giả nghiên cứu và ứng dụng các cấu trúc mạng MLP và mạng CNN kết hợp với các kỹ thuật tối ưu nhằm nâng cao khả năng phân loại các đối tượng, thực hiện so sánh hiệu quả huấn luyện mạng khi sử dụng CPU với sử dụng kết hợp CPU – GPU về độ chính xác và tốc độ huấn luyện mạng.

     

    2. KIẾN TRÚC MẠNG MLP, CNN VÀ CÁC KỸ THUẬT TỐI ƯU MẠNG

     

    2.1. Mạng nơron nhân tạo và kiến trúc mạng MLP

     

    Mạng nơron nhân tạo, gọi tắt là mạng nơron là một mô hình toán học được xây dựng dựa trên cơ sở các mạng nơron sinh học gồm một số lượng lớn các phần tử (gọi là nơron) kết nối với nhau thông qua các liên kết (gọi là trọng số liên kết) làm việc như một thể thống nhất để giải quyết các vấn đề cụ thể như nhận dạng mẫu, phân loại dữ liệu,v.v… thông qua một quá trình học từ tập các mẫu huấn luyện.

     

    Email: [email protected] (H. S. Phương)

     

    64

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Mô hình mạng nơron thường được sử dụng rộng rãi nhất là mô hình mạng truyền thẳng nhiều lớp (MLP – Multi Layer Perceptron). Một mạng MLP tổng quát là mạng có

    • lớp ( n ³ 2 ) trong đó bao gồm một lớp vào, một lớp ra và một hoặc nhiều lớp ẩn (hình

     

    1).

     

    Hoạt động của mạng MLP như sau: Tại lớp vào, các nơron nhận tín hiệu vào xử lý (tính tổng trọng số, gửi tới hàm truyền) rồi cho ra kết quả (là kết quả của hàm truyền); kết quả này sẽ được truyền tới các nơron thuộc lớp ẩn thứ nhất; các nơron tại đây tiếp nhận như là tín hiệu đầu vào, xử lý và gửi kết quả đến lớp ẩn thứ 2;…; quá trình tiếp tục cho đến khi các nơron thuộc lớp ra cho kết quả.

     

     

     

    Hình 1: Mạng MLP 4 lớp

     

    Mạng MPL được sử dụng rất thành công trong việc nhận dạng chữ viết tay [2],

     

    • Cơ sở dữ liệu phổ biến rộng rãi nhất cho bài toán này là MINST [16], khi huấn luyện chỉ với 2 lớp ẩn cho độ chính xác lên tới 99,8%. Kiến trúc mạng MPL như hình hình 1, gồm có 1 lớp đầu vào, 2 lớp ẩn và 1 lớp ra. Tùy theo yêu cầu của bài toán, ta có được số lượng đầu vào. Để có độ chính xác cao, tránh hiện tượng quá khớp (overfitting) thì số lượng lớp ẩn và số nơron trên nó là yếu tố quyết định [7].

    Ví dụ, trong bài toán nhận dạng chữ viết tay, bộ dữ liệu huấn luyện từ tập MINST

     

    có kích thước 28×28 nên số nơron đầu vào là (28×28)= 784, số nơron lớp ẩn 1 là 512, lớp ẩn 2 là 512 và số nơron đầu ra tương ứng từ 09 là 10. Độ chính xác khi huấn luyện là 99.93% và khi kiểm chứng trên mô hình thì độ chính xác đạt gần 99,8%. Trên cơ sở kết quả đó, nhóm tác giả thực hiện thử nghiệm sử dụng mạng MPL trong việc phân loại các

     

    đối tượng.

     

    2.2. Kiến trúc mạng CNN và các kỹ thuật tối ưu mạng

     

    Kiến trúc mạng CNN [1], [2], [12] là kiến trúc mở rộng của mạng MLP được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật học sâu (deep learning) đặc biệt là trong lĩnh vực thị giác máy tính (computer vision). Một trong những giải pháp nhằm tối ưu quá trình huấn luyện mạng được đề xuất là giảm số lượng các trọng số (weight) để tăng tốc độ tính toán, giảm thời gian huấn luyện, tránh hiện tượng quá khớp khi mà lượng dữ liệu đầu vào là rất lớn như các bức ảnh màu, video…

     

    65

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 2: Kiến trúc của một mạng CNN

     

    Mạng CNN có cấu trúc như hình 2, với đầu vào sẽ được nhân xoắn với các ma trận lọc, công việc này có thể được xem như phép lọc ảnh với ma trận lọc khi sử dụng dạng ma trận [7], cũng như phép lọc ảnh bình thường trong không gian 2D thì tích xoắn này cũng được ứng dụng trong trong không gian ảnh màu 3D và trong cả không gian n chiều. Sau khi thu gọn ma trận dưới dạng một véc tơ thì nó sẽ được kết hợp với một mạng MLP đầy đủ như được mô tả ở mục 2.1, với các ảnh xám ma trận đầu vào là 2 chiều, còn với ảnh màu ma trận vào sẽ là 3 chiều.

     

    Khi xem xét mạng CNN, khái niệm tích xoắn (tích chập) trong đại số là cơ sở của phần mạng CNN:

     

    Đưa vào ảnh xám X và bộ lọc ω có kích thước [m,n], tích xoắn giữa ω và X là:

     

    y = X *w , trong đó các thành phần của ma trận y sẽ được tính theo công thức:

     

    m -1 n -1

    m -1 n-1

     

    yij  = åå X [i a , j b w [ a , b ] hay yij  = åå X [i + a , j + b w [- a , –b]

    (1)

    a = 0 b = 0

    a = 0 b=0

     

    Giá trị của ma trận w [- a , –b]

    được hiểu là giá trị tại [a , b]của ma trận w sau khi

    được lật từ phải sang trái và đảo ngược từ dưới lên (như hình 1)

     

     

    Hình 3: Minh họa phương pháp tìm giá trị w [- a , –b] từ ma trận gốc bên trái qua phép lật giữa và đảo từ dưới lên cho kết quả là ma trận bên phải

     

    Kiến trúc mạng CNN bao gồm các lớp được gọi là lớp xoắn với ma trận đầu vào là I , bộ lọc K và trọng số b . Ta giả thiết rằng I là ma trận ảnh màu có kích thước [C ´ H ´W ], trong đó C = 3 là số ma trận màu R,G,B và ảnh có kích thước [H ,W ].

     

    Khi đó I Î RH ´ WxC , K ÎR k1 ´k2 xC và b có kích thước b Î RD . Tích xoắn giữa IK sẽ có ma trận mới chính là ma trận đầu ra của lớp xoắn:

     

    66

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    k1 -1 k2 -1  C

     

    (I * K )ij  = åååK m , n , c × I i + m , j +n , c + b ,

    (2)

    m = 0 n = 0  c=1

     

    trong trường hợp này, I chính là ma trận được lật như hình 3 từ ma trận lọc I . Với lớp CNN có kích thước C > 3 thì công thức tính toán vẫn như trên và ma

     

    trận K sẽ có độ sâu C như ma trận I . Ví dụ, cho 6 ma trận lọc có kích thước 5×5, tích xoắn của ảnh màu I với lần lượt từng bộ lọc K sẽ tạo ra 6 ma trận được sắp xếp như hình 4.

     

     

    Hình 4: Ma trận đầu ra được tạo từ 6 ma trận con qua phép tích xoắn

    giữa ma trận vào I và ma trận lọc K trượt trên I

     

    Khi xây dựng được mạng CNN người ta thêm vào các kỹ thuật pooling, dropout, normalizing, regularization để tối ưu thời gian huấn luyện và tránh hiện tượng quá khớp [7]:

     

    • Pooling [7]: Quá trình giảm kích thức ảnh sau khi tính tích xoắn để lấy các pixel

    đặc tính đặc trưng nhất.

     

    • Dropout [7], [11]: Cắt bớt số nơron khi thực hiện thuật toán lan truyền ngược nhằm tăng tốc độ huấn luyện mạng
    • Normalizing [7]: Kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu về dạng dữ liệu trong dải tính toán

    phù hợp.

    Giả sử X là dữ liệu cần chuẩn hóa, khi đó:

         

    1

       

    m

       

    + Kỳ vọng của dữ liệu tính được:

    m =

     

    å X (i) ;

    (3)

     
       
         

    m

    1

       

    + Sai lệch của dữ liệu so với kỳ vọng:

    DX = X m ;

    (4)

     
           

    1

    m

       

    + Phương sai của dữ liệu DX :

    s 2

    =

    å( DX )2 ,

    (5)

     

    m

           

    1

       

    do đó đầu ra dữ liệu được chuẩn hóa sẽ là:

    X =

    DX

    .

    (6)

     
     
       

    s 2

         
                       
    • Regularization [7]: Kỹ thuật sử dụng thêm tham số l trong hàm mục tiêu J khi tối ưu hóa:
       

    1

    m

    1 l

       

    J regularized

    = –

    å ( y ( i ) log (a [ L ](i ) )+ (1 – y ( i ) )log (1 – a(L )(i ) ))+

    åååWk[ l,]j2    (7)

     
           
     

    m 2

       

    m i =1

    lkj

     
                     

    Các mô hình CNN được xây dựng chủ yếu sử dụng hàm ReLU (hình 5) để tăng tốc độ tính toán so với các hàm phi tuyến khác và có đạo hàm không đổi khi huấn luyện.

     

    67

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

       

    Hình 5: Hàm ReLU

     

    ReLU

    if

    (8)

     

    if

         

    Chúng ta cần một mô hình xác suất sao cho với mỗi đầu vào thì xác suất để đầu vào đó rơi vào lớp i phải dương và tổng của chúng bằng 1. Để làm được việc đó, ta xây dựng hàm Softmax (hình 6). Ta có:

    y

     

    =

    eZk

    , “i =1, 2,…., C ; z = W T X .

    (9)

    k

    C

         

    åeZ j

       
    • =1

    Ta có: yk = P( ak = k | ik , W ) , trong đó yk thể hiện xác suất của đầu ra mô hình rơi vào lớp k khi có đầu vào ik và tham số mô hình W (ma trận trọng số).

     

     

     

     

    Hình 6: Mô hình Softmax Regression dưới dạng Neural Network

     

    68

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Trong mạng nơron, việc tìm giá trị nhỏ nhất của hàm mất mát (cost functions) là điều bắt buộc. Việc tìm điểm cực tiểu toàn cục của nó rất phức tạp, thậm chí là bất khả thi. Thay vào đó, người ta thường cố gắng tìm các điểm cực tiểu địa phương và có thể xem đó là nghiệm cần tìm của bài toán. Cách tiếp cận phổ biến nhất là xuất phát từ một điểm mà chúng ta xem là gần với nghiệm của bài toán, sau đó dùng một phép toán lặp để tiến dần đến điểm cần tìm, nghĩa là đến khi đạo hàm gần với 0. Giải thuật Gradient Descent và các biến thể của nó là một trong những giải thuật được dùng nhiều nhất.

     

    Giả thiết mạng nơron có  K  lớp, có tập huấn luyện với m dữ liệu vào – ra như

    sau:

     

    {(x (1) , y (1) ), (x ( 2 ), y ( 2) ),   , (x ( m ), y(m) )}.

    (10)

    Lúc đó hàm mục tiêu (hàm mất mát – cost function) trong bài toán phân lớp hồi quy sẽ là [5,7]:

     

     

    1

    m

         

    l

    m

     

    J (q ) = –

    êé å y ( i ) log hq (x ( i ) )+ (1 – y ( i ) )log 1 – hq (x(i ) ) úù

    +

    åq j2   (11)

     
       
     

    m ë i =1

    (

    )û

     

    2m j =1

     

    Còn với mạng nơron K lớp, hàm mục tiêu sẽ là [10][7]:

     

     

    1

    m   K

     

    + (1 – y k(i ) )log (1 – ( hq

         

    )úù

     

    l

    L-1  sl    sl +1

    2

     
                   

    J (q ) = –

    êéåå y k(i ) log (hq (x ( i ) ))k

    (x(i ) ))k

    +

    ååå(q (jil ) ) , (12)

     
       
     

    m ë i =1  k =1

               

    û

     

    2m l =1  i =1  j =1

       

    với

    (hq (x )) = ith

    đầu ra thứ i của mạng.

                       
       

    i

       

    (

     

    )

                 

    Để tối ưu hóa hàm mục tiêu trên ta tìm MinJ

    q

    sau đó tiến hành cập nhật tham

     
       

    số mô hình q (ma trận các trọng số của mạng) bằng giải thuật Gradient Descent. Giải thuật này phổ biến và cho hiệu quả tốt nhất khi tập dữ liệu lớn (Big data), trong học sâu người ta đề xuất thêm các biến thể của giải thuật Gradient Descent như SGD [7], [13], [17], Adam [5], [6], [7], [8], RMSProp [7], [8]. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng thuật toán tối ưu RMSProp là một phương pháp đơn giản, cho hiệu quả cao trong bài toán phân loại ảnh [1], [12].

     

    3. THỬ NGHIỆM HUẤN LUYỆN VÀ KIỂM CHỨNG MÔ HÌNH

     

    3.1. Tập hợp dữ liệu huấn luyện

     

    Trong bài báo này, tập hợp dữ liệu được trích ra từ tập hợp dữ liệu CIFAR-10

     

    • gồm 50.000 bức ảnh dùng làm tập huấn luyện (training data), 10.000 bức ảnh dùng làm tập kiểm chứng mô hình (test data), trong tập dữ liệu huấn luyện có 10% dữ liệu (5.000 bức ảnh) ngẫu nhiên được loại ra bằng cách xoay vòng để tránh trường hợp chưa khớp (underfitting), mỗi bức ảnh trong tập dữ liệu là ảnh màu có kích thước 32x32x3 điểm ảnh, các bức ảnh trong tập dữ liệu này đã được tiền xử lý và đảm bảo chỉ có một đối tượng xuất hiện trong một bức ảnh, dữ liệu phân loại được phân theo 10 lớp.

    69

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 7: Phân chia tập hợp dữ liệu trong bài báo

     

     

    Hình 8: Lấy ngẫu nhiên 36 bức ảnh trong tập dữ liệu huấn luyện

     

    3.2. Cấu trúc phần cứng

     

    Máy tính sử dụng có cấu hình:

    • CPU: Intel® Core™ i7 6700HQ Processor;
    • RAM: 2 thanh DDR4 2133 MHz SDRAM 4GB;
    • Card đồ họa: Integrated Intel® HD Graphics 530;
    • GPU rời: NVIDIA® GeForce® GTX 950M với 4G GDDR5 VRAM, trong đó: + Lõi CUDA: 640;

    + Xung BoostBase (MHz): 914;

    + Xung cho bộ nhớ: 2500 MHz;

    + Giao tiếp bộ nhớ chuẩn GDDR5;

     

    + Độ dài dữ liệu giao tiếp bộ với bộ nhớ:128-bit; + Tốc độ giao tiếp với bộ nhớ (GB/sec): 80.

     

    Kiến trúc CUDA (Compute Unified Device Architecture) [8] cho phép tăng tốc

     

    độ tính toán của chương trình lên nhờ khả năng tính toán song song, hỗ trợ mọi chức năng tính toán thông qua ngôn ngữ C, hỗ trợ các các ngôn ngữ như Python, Fortran, Java và MATLAB để cài đặt các thuật toán chạy trên GPU. Phần mềm được sử dụng là Tensor Flow hỗ trợ GPU và OpenCV.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng MLP

     

    Ta xây dựng mạng MLP có kiến trúc như hình 9 với các thuộc tính như bảng 1 để phân loại các đối tượng trong tập dữ liệu đã nêu ở mục 3.1.

     

    70

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

     

     

    Hình 9: Mạng MLP ứng dụng trong nhận dạng

     

    Bảng 1: Thuộc tính của mạng MLP

     

    Tên lớp

    Số lượng node

    Hàm

    Dropout

    Tham số

    Đầu vào

    3.072

       

    3.073.000

    Lớp ẩn 1

    1.000

    ReLU

    0,2

    512.512

    Lớp ẩn 2

    512

    ReLU

    0,2

    262.656

    Đầu ra

    10

    Softmax

     

    5.130

    Tổng

    4.594

       

    3.853.298

    Mạng MLP sử dụng phương pháp tối ưu RMSprop, kích thước mỗi lần đưa vào huấn luyện là 32 ảnh, số lần huấn luyện là 10.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng CNN

     

    Mạng CNN được xây dựng với các thuộc tính mạng như bảng 2 được chỉ rõ trong hình 10.

     

    71

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

     

     

    Hình 10: Mạng CNN trong việc phân loại ảnh

     

    Bảng 2: Thuộc tính mạng CNN

     

    Tên mạng

    Tên lớp

    Convolution

    Pooling

    Tham số

             
     

    Layer 1

    32x32x16

    2

    208

    CNN

    Layer 2

    16x16x32

    2

    2.080

     

    Layer 3

    8x8x64

    2

    8.256

    Tên mạng

    Tên lớp

    Hàm

    Dropout

    Tham số

     

    Input

       

    0

    MLP

    Hidded Layer 1

    ReLU

    0,4

    512.500

     

    OutPut

    Softmax

     

    5.010

    Tổng

         

    528.054

    Việc xây dựng mô hình được thực hiện theo thuật toán trên hình 11 và để tối ưu hóa mô hình không bị quá khớp với độ chính xác cao, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình mạng CNN ở hình 10.

     

    72

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

    Hình 11: Sơ đồ chương trình huấn luyện mạng CNN

    3.4. So sánh các kết quả đạt được

     

    Hình 12 thể hiện kết quả của mô hình đã được huấn luyện với bức ảnh không gạch chéo thể hiện kết quả nhận dạng chính xác, còn có gạch chéo cho kết quả nhận dạng sai.

     

     

     

    Hình 11: Kết quả thử nghiệm mô hình CNN

     

    Bảng 3 thể hiện các kết quả đạt được khi huấn luyện và kiểm nghiệm độ chính xác với hai kiến trúc của mô hình MLP và CNN đã nêu ở trên:

     

    73

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Mạng MLP cho độ chính xác 45% khi huấn luyện 20 lần (Epochs=20) trong đó mạng CNN là 79% khi huấn luyện 40 lần (Epochs=40) (độ chính xác tăng lên xấp xỉ 80% khi tăng số lần huấn luyện). Khi sử dụng CPU kết hợp GPU thì có thể tối ưu được thời gian huấn luyện lên đến 34 lần (tùy thuộc vào cấu trúc phần cứng sử dụng) so với việc sử dụng CPU. Khi số lần huấn luyện tăng lên nhiều thì thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU kết hợp GPU tăng lên không nhiều, và tăng không đáng kể khi dùng CPU.
    • Khi số lần huấn luyện tăng lên 50, 60,…,100 thì độ chính xác không cải thiện thêm mà chỉ dao động quanh 45% cho mạng MLP và 80% cho mạng CNN do hiện tượng quá khớp. Hiện tượng này xảy ra khi mạng có năng lực quá lớn và để hạn chế bớt năng lực của mạng ta có thể hạn chế số nút ẩn; ngăn không cho mạng sử dụng các trọng số lớn; giới hạn số bước luyện.

    Bảng 3: Kết quả đạt được

     

    Tên mạng

    Thời

    gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Độchính

     

    huấn  luyện

    huấn  luyện

    chạy   kiểm

    chạy   kiểm

    xác  của  mô

     

    sử

    dụng

    sử dụng

    tra sử dụng

    tra sử dụng

    hình (%)

     

    CPU (s)

    CPU-GPU

    CPU

    CPU-GPU

     
         

    (s)

    (s)

    (s)

     

    MLP

    987

    200

    2,1

    1

    39

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    MLP

    1.133

    201

    2,2

    1

    45

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    386

    177

    2,2

    1,3

    63

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    CNN

    710

    256

    2,2

    1,4

    69

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    1.020

    319

    2,3

    1,4

    74

    Epochs=30

               

    Batch_size=128

               

    CNN

    1.194

    351

    2,3

    1,4

    79

    Epochs=40

               

    Batch_size=256

               

    4. KẾT LUẬN

     

    Bài báo trình bày phương pháp phân loại ảnh sử dụng mạng MLP, mạng CNN và ứng dụng các kỹ thuật tối ưu quá trình huấn luyện mạng. Sau khi xây dựng và thử nghiệm thành công hai mô hình mạng MLP và CNN trên cơ sở sử dụng kết hợp CPU-GPU, bài báo đã đưa ra kết quả so sánh về hiệu quả phân loại ảnh giữa trường hợp khi sử dụng CPU và trường hợp khi sử dụng kết hợp CPU-GPU trong quá trình huấn luyện cũng như kiểm nghiệm mô hình. Thực hiện kiểm nghiệm cho thấy khi sử dụng mạng

     

    74

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    CNN cho kết quả phân loại ảnh đạt độ chính xác gần 80% và không cải thiện thêm khi tăng số lần huấn luyện. Để nâng cao kết quả của việc huấn luyện ta cần sử dụng tập huấn luyện có chất lượng ảnh cao hơn cũng như các kỹ thuật khác được trình bày trong [3], [4], [14].

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Alex Krizhevsky, Ilya Sutskever, Geoffrey E. Hinton, ImageNet classification with deep convolutional neural networks, Advances in Neural Information Processing Systems, 2012, pp. 1097-1105.
    • Krizhevsky, Learning Multiple Layers of Features from Tiny Images. Ph.D dissertation, University of Toronto, 2009.
    • Baoyuan Liu, Min Wang, Hassan Foroosh, Marshall Tappen and Marianna Penksy, Sparse Convolutional Neural Networks, The IEEE Conference on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR), 2015, pp. 806-814.
    • Graham, Sparse 3D convolutional neural networks, arXiv:1505.02890v2, 2015.
    • Duchi, J., Hazan, E., & Singer, Y, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization, Journal of Machine Learning Research, 2011, 2121–2159.
    • E. Hinton, N. Srivastava, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. R. Salakhutdinov, Improving neural networks by preventing co-adaptation of feature detectors, arXiv:1207.0580v1, 2012.
    • Ian Goodfellow, Yoshua Bengio, Aaron Courville, Deep Learning, The MIT Press, 2016.
    • Jayshree Ghorpade, Jitendra Parande, Madhura Kulkarni, Amit Bawaskar, GPGPU processing in CUDA architecture, Advanced Computing. An International Journal (ACIJ), Vol.3, No.1, 2012.
    • John Duchi, Elad Hazan, and Yoram Singer, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization. Journal of Machine Learning Research, 2012.
    • Đinh Văn Nam, Phan Văn Dư, Hồ Sỹ Phương, Nghiên cứu và thử nghiệm thiết kế thiết bị tự động đọc ghi dữ liệu các máy hiển thị số trên cơ sở mạng nơ ron nhân tạo,

    Hội nghị toàn quốc về cơ điện tử lần thứ 8, 2016, tr. 96-102.

     

    • Srivastava, G. E. Hinton, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. Salakhutdinov, Dropout: a simple way to prevent neural networks from overfitting, Journal of machine learning research 15, 2014, pp. 1929-1958.
    • Olga Russakovsky, Jia Deng, Hao Su, Jonathan Krause, Sanjeev Satheesh, Sean Ma, Zhiheng Huang, Andrej Karpathy, Aditya Khosla, Michael Bernstein, Alexander C. Berg and Li Fei-Fei, ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge, International Journal of Computer Vision, Volume 115, Issue 3, 2015, pp. 211–252.

    75

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Sebastian Ruder, An overview of gradient descent optimization algorithms, arXiv:1609.04747, 2017.
    • Sergey Zagoruyko, Nikos Komodakis, Wide Residual Networks, Computer Vision and Pattern Recognition, arXiv:1605.07146, 2017.
    • https://www.cs.toronto.edu/~kriz/cifar.html.
    • http://ruder.io/optimizing-gradient descent.

    SUMMARY

     

    APPLYING NEURAL NETWORKS, CONVOLUTIONAL NEURAL NETWORKS AND COMBINATION OF CPUS AND GPUS TO INCREASE CALCULATING PERFORMANCE FOR IMAGE CLASSIFICATION

     

    This paper presents and compares the image classification methods based on MLPs and CNNs. Training data is 500,000 pictures of 10 different objects. The first architecture to be used is MLPs network that contains 3,853,298 weights, the second architecture is CNNs with 528,054 weights. This paper proposes several methods and architectures network to avoid overfitting phenomenon and increases the accuracy of modeling approximately 80%. Besides on it, the paper also presents and compares time training of models using CPUs, and combining CPUs with GPUs.

     

     

     

     

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngh%E1%BB%8Bch-l%C6%B0u-%C4%91a-m%E1%BB%A9c-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-b%E1%BB%99-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-ki%E1%BB%83u-ma-tr%E1%BA%ADn-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kh%C3%A2u-DC-li%C3%AAn-k%E1%BA%BFt-c%C3%A1ch-ly-t%E1%BA%A7n-s%E1%BB%91-cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

     

    NGHỊCH LƯU ĐA MỨC TRÊN CƠ SỞ BỘ BIẾN ĐỔI KIỂU MA TRẬN VỚI CÁC KHÂU DC LIÊN KẾT CÁCH LY TẦN SỐ CAO

     

    Lê Phƣơng Hảo1, Trần Hùng Cƣờng1

     

    TÓM TẮT

     

    Nghịch lưu đa mức (Multi-level inverters MLI) với ưu điểm đưa ra được điện áp đầu ra với thành phần sóng hài tốt và điện áp trên các mạch cơ sở chỉ bằng biên độ điện áp ra chia cho số mức n . Tuy nhiên số mức yêu cầu tương đương với số mạch một chiều càng cao sẽ nảy sinh càng nhiều vấn đề và là một khó khăn lớn , nhất là với yêu cầu phải cách ly và có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Bài báo này giới thiệu cấu trúc bộ biến đổi đa mức dùng cầu chữ H nối tầng với điểm khác biệt là các mạch cơ sở dùng biến tần kiểu ma trận trên các van bán dẫn hai chiều . Với ưu điểm là c ác mạch cơ sở kiểu ma trận thực hiện liên kết trực tiếp, trao đổi công suất hai chiều với khâu biến đổi DC-AC trung gian tần số cao, nhờ đó giảm được kích thước của biến áp cách ly. Bài báo cũng trình bày phương pháp điều chế, xây dựng các mạch vòng điều chỉnh cho một nghịch lưu 7 mức có khả năng nối lưới. Các yêu cầu đặt ra được kiểm chứng qua các kết quả mô phỏng.

     

    Từ khóa: Nghịch lưu đa mức

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Trong những năm gần đây nguồn năng lƣợng mới nhƣ năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời,… đã và đang đƣợc quan tâm rất nhiều do nhu cầu về nguồn năng lƣợng này là rất cần thiết. Song, do đặc điểm là các nguồn năng lƣợng này có công suất nhỏ lẻ, phân bố rời rạc và không ổn định chính vì vậy sẽ không đảm bảo tính liên tục cung cấp điện cho các hộ phụ tải. Một nhƣợc điểm nữa đó là các bộ biến đổi nguồn DC -AC hoặc AC-AC sử dụng các linh kiện điện tử , các van bán dẫn để chuyển đổi nguồn điện trƣớc khi cung cấp cho phụ tải chỉ chịu đƣợc mức điện áp và công suất hạn chế và đặc biệt là chƣa có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Chính vì vậy cần phải có một chiến lƣợc điều khiển kiểm soát tốt các các nguồn năng lƣợng này để nâng cao chất lƣợng điện năng phục vụ cho tải tiêu thụ và mục tiêu lớn là hòa vào lƣới điện quốc gia. Biến tần đa cấp đã đạt đƣợc nhiều sự chú ý trong những năm gần đây nhƣ là một giải pháp hiệu quả cho các ứng dụng công suất lớn và điện áp cao. Biến tần đa cấp có thể tạo ra điện áp dạng sin từ các bƣớc điện áp nhỏ hơn từ các nguồn DC cách ly hoặc từ các cấp điện áp dùng bộ phân áp bằng một loạt tụ. Biến tần đa cấp có thể là khâu biến

     

    • Giảng viên khoa Kỹ thuật – Công nghệ, trường Đại học Hồng Đức

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    đổi năng lƣợng điện lý tƣởng cho kết nối các nguồn năng lƣợng tái tạo với lƣới điện, bao gồm hầu hết các nguồn phân tán nhƣ pin mặt trời, pin nhiên liệu, tua-bin điện sức gió [3]. Cấu trúc biến tần đa cấp đã đƣợc phát triển để có thể sử dụng các thiết bị đóng cắt bán dẫn với điện áp tƣơng đối thấp cho các ứng dụng yêu cầu điện áp cao, công suất lớn. Các nghiên cứu trƣớc đây cho thấy [3 – 5], lợi thế của các nghịch lƣu đa cấp dùng các khâu biến đổi nối tầng bao gồm: (1) các van bán dẫn chỉ phải đóng cắt ở tần số cơ bản (hoặc gần tần số này), do đó giảm đáng kể tổn hao do quá trình đóng cắt, (2) không cần dùng máy biến áp ở tần số lƣới cung cấp các mức điện áp cần thiết, (3) kết cấu kiểu mô – đun hóa nên cấu trúc mạch lực đơn giản hơn, số lƣợng thiết bị ít hơn, (4) vì không có biến áp hệ thống có thể đáp ứng nhanh hơn nhiều.

     

    2. BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

     

    Hình 1. Sơ đồ bộ biến đổi DC-AC-AC dùng van bán dẫn hai chiều

     

    Trong sơ đồ này các khâu đầu vào là các H-Bridge thông thƣờng. Khâu cách ly DC- AC đƣợc liên kết thông qua một biến áp tần số cao tạo sự cách ly độc lập tƣơng đối cần thiết giữa lƣới và tải kết nối với các cổng và nó làm việc trực tiếp với điện áp AC thông qua bộ chuyển đổi cyclo-converter để thực hiện trao đổi công suất hai chiều một cách linh hoạt. Khâu biến đổi AC-AC trực tiếp sử dụng van bán dẫn hai chiều, biến đổi điện áp dạng sóng chữ nhật, tần số cao fpwm sang điện áp dạng sóng sin cơ bản tần số lƣới 50 Hz. Quá trình biến đổi có thể dùng nguyên lý cycloconverter để chuyển mạch tự nhiên [4, 5]. Quá trình điều chế cycloconverter tạo ra điện áp tần số thấp ở mỗi nửa chu kỳ, là dãy xung áp có độ rộng thay đổi từ 0 đến Tpwm, tùy thuộc vào vị trí cắt nhau của tín hiệu điều chế m(t) với xung răng cƣa của PWM.

     

    3. ĐIỀU CHẾ PWM CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

    Phƣơng pháp PWM và quá trình điều khiển chuyển mạch đƣợc giải thích qua đồ thị thời gian trên hình 2. Sóng răng cƣa tam giác đối xứng trên đồ thị hình 2.a có tần số fs gồm hai hệ xung c+(t) và c(t) ngƣợc nhau 180°. Xung điều khiển các van S1, S2, S3,

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    S4 của nghịch lƣu bên phía sơ cấp máy biến áp HF đƣợc điều khiển đồng bộ với xung răng cƣa ở tần số fs/2.

     

    Giả sử m(t) đang dƣơng. Khi đầu ra phía thứ cấp là điện áp dƣơng uf(+), giống nhƣ phƣơng pháp điều chế PWM một cực tính, ở phía thứ cấp máy biến áp HF hai van hai chiều V1, V2 điều khiển bởi tín hiệu ra của pwm+, là đầu ra của so sánh giữa tín hiệu sin mong muốn m(t) với xung răng cƣa c(t), còn nhánh van V3, V4 điều khiển tín hiệu ra của pwm, đầu ra khâu so sánh m(t) với c(t). Khi đầu ra thứ cấp máy biến áp là điện áp âm uf(-) thì ngƣợc lại, V1 (gồm S1a, S1b) V2 (gồm S2a. S2b) điều khiển bởi pwm, còn V3 (gồm S3a, S3b), V4 (gồm S4a, S4b) bởi pwm+.

     

    Thuật toán điều chế đƣợc xây dựng nhƣ giải thích qua các đồ thị trên hình 2. Tín hiệu uf có biên độ +/- 1, tần số fs/2, là tín hiệu điều khiển cầu S1, S2, S3, S4 bên phía sơ cấp máy biến áp HF. Tín hiệu +1 mở cặp van S1, S4, và -1 mở cặp van S3, S2. Tín hiệu đầu ra khâu so sánh của PWM cũng là +/- 1, gồm hai hệ thống upwm+ (là và upwm-). Khi đó lấy tích uf*upwm+ và uf*upwm- ta sẽ đƣợc ngay tín hiệu điều khiển van hai chiều V1, V3 và V2, V4 tƣơng ứng. Điểm đặc biệt của thuật toán điều chế ở đây là tín hiệu tích có tác dụng chỉnh lƣu lại điện áp ở đầu ra, bởi vậy tránh đƣợc phải sử dụng mạch logic phức tạp. Cần lƣu ý rằng đối với matrix converter thì V3 phải điều khiển ngƣợc với V1 và V2 ngƣợc với V4, điều này thể hiện trên đồ thị 2.e và 2.f. Các khoảng dẫn của van cũng đƣợc thể hiện trên đồ thị. Trên hình 2.g cho thấy dạng điện áp ra của matrix converter trong cả hai trƣờng hợp tín hiệu điều chế m(t) dƣơng và âm. Nhƣ vậy mạch logic có thể thiết kế thống nhất, khá đơn giản.

     

    uc+

    uc-

    m(t)

    (a)

     

    t

       
       

    t

    1

       

    uf

       

    (b)

       

    -1

       

    1

       

    upwm+

     

    t

    (c)

       

    -1

       

    1

       

    upwm-

     

    t

    (d)

       

    -1

       

    1

       

    V1=uf*upwm+

     

    t

    V2=\V1

       
    • -1
     

    1

                                                                             

    V4=uf*upwm-

                                                                           

    t

    V3=\V4

                                                                             
                                                                               

    (f)

                                                                                 
     

    -1

                                                                             
                                                                               
     

    1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    3

    3

    1 3

    1

    1

    1

    3  1

    3

    2

    3

    1 3

    1

     
     

    2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    2

    2 4

    4

    2

    4

    4  2

    2

    4

    2

    2 4

    4

     
     

    +Uf

                                                                           
                                                                             
     

    um(t)

                                                                         

    t

    (g)

                                                                               
                                                                                 
     

    0

                                                                             
     

    -Uf

                                                                           
                                                                             

    Hình 2. Mẫu xung điều khiển PWM cho matrix converter

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Mẫu xung điều khiển các van V1, V2, V3, V4 ứng với cả hai trƣờng hợp m(t) dƣơng và âm biểu diễn trên đồ thị hình 2e cùng với dạng xung của điện áp ra umc(t). Có thể thấy rằng điện áp ra có dạng của điều chế PWM một cực tính, khi m(t) dƣơng chỉ có các xung dƣơng và khi m(t) âm chỉ có các xung âm. Nếu biên độ điện áp xung chữ nhật ở thứ cấp máy biến áp HF là Uf thì điện áp ra umc(t) có 3 mức: +Uf, -Uf, và zero. Ở trạng thái ra không, dòng tải iL ngắn mạch qua nhánh van (V1, V2) hoặc (V3, V4), không đi qua cuộn dây máy biến áp và không làm ngắn mạch máy biến áp. Điều này mang lại hiệu quả cao cho sơ đồ, khác với quá trình điều chế ngay bên phía sơ cấp máy biến áp. Khi điều chế bên phía sơ cấp để tạo trạng thái không bên thứ cấp, dòng phải chạy quẩn bên phía sơ cấp làm tăng phát nóng cuộn dây. Có thể thấy rằng điện áp đầu ra máy biến áp luôn có dạng xung chữ nhật đối xứng, biên độ +/-Uf, tần số fs/2. Ký hiệu 4 trạng thái đƣợc phép của các van V1, …, V4 là (12), (14), (32), (34), tƣơng ứng với cặp van đóng (V1, V2), (V1, V4), (V3, V2), (V3, V4). Các trạng thái (V1, V3), (V2, V4) là không đƣợc phép vì làm ngắn mạch thứ cấp máy biến áp. Trạng thái (12) và (34) là hai trạng thái không, ngắn mạch đầu ra làm điện áp ra bằng không.

     

    4. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

     

     

    Hình 3. Hệ thống điều khiển cho bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    5. NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỤNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

    Có thể thấy rằng bộ biến đổi DC-AC-AC có phần một chiều cách ly qua khâu trung gian tần số cao và khâu AC-AC kiểu ma trận với mạch điều chế PWM và mạch

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    logic điều khiển chuyển mạch nêu trên hoàn toàn tƣơng đƣơng với một nghịch lƣu cầu chữ H nhƣ một khâu biến đổi DC-AC thông thƣờng. Vì vậy có thể xây dựng một nghịch lƣu đa mức kiểu dùng cầu H nối tầng từ chính bộ biến đổi này, trong đó vai trò của phía một chiều cách ly sẽ thể hiện rõ trong cấu trúc bộ biến đổi back-to-back giới thiệu sau đây. Nghịch lƣu đa mức sử dụng phƣơng pháp điều chế phase-shift để phân tải đều nhau giữa các cầu H thành phần trong toàn dải thay đổi của biên độ dạng sin ra mong muốn.

     

    HF

     

    Udc1

    V1b

     

    V1a

     

    HF

    V1b

    Udc2

    L

    V1a

     

    HF

     

    Udc3

    R

     

    V1b

     

    V1a

     

    Hình 4. Nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    6. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI

     

     

     

    Hình 5. Hệ thống điều khiển bộ biến tần đa mức xây dựng dựa trên bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    38

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    1. SƠ ĐỒ MÔ PHỎNG BỘ NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỰNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC
                                         

    DC-AC converter with intermediate high frequency link. No modulation on primery side.

                   
                             

    Discre te ,

                         
                                       

    Low frequency voltage is formed by PWM on secondary side using a matrix converter.

                   
                         

    s  = 1e -006  s

                                         

    fs=250 Hz, Uout=220VAC, 50Hz.

                                         
                                                                                                               
       

    Breaker1

    powergui

    [LF_I]

    L

     
           

    LF

     
     

    c

     

    [I_HF1]

    [G_H1]

     

    i

         
     

    1

    2

                   

    –  +

                 

    v

    [LF_U]

                                                                                                                             
                                   

    LF2

         

    G_H

                 

       
             

    +

    g

       

    [G_L1]

    LF1

     

    IL

    V

    LF1

       

    DC

                       

    G_L

       

    AC

     
       

    180V

     

    Rd

     

    Cdc

     

    +

                 

    i

               
           

    v

    Udc

         

    A

     

    +  –

           

    HF1

         
                                           

    LF2

             
         

    V1

         

    B

     

    I_HF

    1

    2

         

    HF2

             
                                   

    H Bridge

           

    Subsystem

         
     

    Breaker2

         

    HF trans.

         
       

    c

    2

       

    [G_H2]

           
     

    1

                             
                 

    g

       

    [G_L2]

       

    G_H

           
               

    +

             

    LF1

           
                               

    G_L

         
     

    DC Rd1

       

    +

    v

               

    A

                   
         

                             

    HF1

         
     

    180V1

    V2

             

       

    B

       

    1

       

    2

       

    LF2

           
                                   

    HF2

           
                                 

    H Bridge1

             

    Subsystem1

         
     

    Breaker3

             

    HF trans.1

           
                     
         

    c

    2

         

    [G_H3]

               
         

    1

                                           
                   

    g

             

    G_H

           
                 

    +

     

    [G_L3]

         

    LF1

           
                                 

    G_L

         
       

    DC

    Rd2

    C dc3

     

    v

             

    A

             

    HF1

         
     

    180V2

     

                                               
       

    V3

             

       

    B

       

    1

       

    2

         

    LF2

                     
                                   

    HF2

       
                   

    H Bridge2

                             

    Subsystem2

     
               

    HF trans.2

         
                     
                                                                                                                               
                       

    SineWav e

    Gates high

       

    [G_H1]

     
                       

    Saw

         
           

    Out1

                     

    [G_L1]

     
             

    Out2

             

    HB

     

    Gates low

       
                               
               

    Out3

                                   
                 

    Out4

               

    PWM HF link Controller

                                 
                             
                 

    Out5

                   
               

    Out6

                       
             

    HB1_G

                     

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H2]

     
                         

    Saw

         
                             
       

    HB2_G

                 

    Gates low

         

    [G_L2]

     

    1/3

    HB3_G

             

    HB

         

    Gain2

    HB1

           

    PWM HF link Controller1

       

    HB2

           
             
     

    HB3

             
                                 

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H3]

     

    Sawtooth Generator

               
           

    Saw

    Gates low

       

    [G_L3]

     
     

    [LF_I]

             

    HB

           
           

    -K-

               

    PI(s)

                         
             

    PWM HF link Controller2

     

    Current

    errror

    Mod

    index

         

    [LF_U]

     

    -K-

       

    Gain

     

    PI current

                   

    [LF_I]

           
     

    Udc/3

                                     
                         

    PI(s)

             

    Low Freq. Current

         
                               

    Current Ref . [LF_U]

         
                     

    Error_Udc

           

    Low f req. v oltage

           
         

    Current1

     

    Timer

     

    PI voltage

       

    [I_HF1]

               
                                                                                                                               
                                                                                     

    High f req. current

             
                   
       

    Error_Udc

           
     

    Current

         

    8. KẾT QUẢ

     

           

    LF Current [A]

         

    300

         

    HF Current [A]

           

    200

                                 

    150

                 

    200

                   
                                   

    100

                                   

    50

                 

    100

                   
                                   

    0

                 

    0

                   
                                   

    -50

                                   

    -100

                 

    -100

                   
                                   

    -1500

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16   -2000

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

           

    Time [s]

                 

    Time [s]

           

    400

         

    LF voltage [A]

                   

    Udc/3

             
                   

    200

                     

    200

                   

    150

                     

    0

                   

    100

                     

    -200

                   

    50

                     
                                       

    -400

                   

    0

                     
                   

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

     

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

                       

    Time [s]

    Time [s]

     

    Kết quả mô phỏng cho ta thấy bộ van biến đổi hai chiều khi kết nối đa mức vẫn đảm bảo làm việc tốt. Nhƣ ta thấy trên hiển thị kết quả mô phỏng dòng trên tải iload luôn đảm bảo là hình sin và khi nhận năng lƣợng của lƣới thì dòng điện cùng pha với điện áp đầu vào còn khi trả năng lƣợng về lƣới thì dòng điện ngƣợc pha với điện áp đầu vào. Nhƣ vậy bộ nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận

    39

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những vẫn đảm bảo đƣợc những ƣu điểm của bộ nghịch lƣu đa mức thông thƣờng mà bộ biến đổi này còn có khả năng trao đổi công suất hai chiều, điều khiển chuyển mạch van đơn giản dẫn đến điều chế cũng dễ dàng. Ngoài ra còn có khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những cách ly sự làm việc độc lập giữa bên xoay chiều và một chiều mà việc dùng máy biến áp tần số cao còn có tác dụng hỗ trợ trong việc điều khiển chuyển mạch van dễ dàng và chính xác hơn.

     

    9. KẾT LUẬN

     

    Nhóm tác giả đã tìm hiểu, phân tích cấu trúc của bộ nghịch lƣu đa mức và khâu truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter; Nghiên cứu, phân tích phƣơng pháp điều khiển cho bộ nghịch lƣu. Trên cơ sở đó, phân tích và thiết kế thành công hệ thống điều khiển cho sơ đồ truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter. Nhóm cũng đã lập trình tính toán các thông số cho bộ điều chỉnh PID dùng trong các bộ biến đổi và xây dựng mô hình mô phỏng bộ nghịch lƣu đa mức, khâu truyền dẫn công suất hai chiều dùng Matix Converter. Đƣa ra các nhận xét, đánh giá các kết quả mô phỏng. Với kết quả hiện tại, bộ biến đổi hoạt động khá ổn định, và cho đáp ứng khá tốt với luật điều khiển đặt ra.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • José Rodríguez, Steffen Bernet, BinWu, Jorge O. Pontt, Samir Kouro; Multilevel Voltage-Source-Converter Topologies for Industrial Medium-Voltage Drives; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, 54, NO. 6, DECEMBER 2007.
    • S. Lai and F. Z. Peng, “Multilevel converters – A new breed of power converters,” IEEE Trans. Ind. Applicat., vol. 32, pp. 509 – 517,May/June 1996.
    • José Rodríguez , Luis Luis, et al.; High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, VOL. 49, NO. 4, AUGUST 2002.
    • Koutroulis, J.Chatzakis, K.Kalaitzakis and N.C.Voulgaris; A bidirectional, sinusoidal, high-frequency inverter Design; IEE Proc.-Electr. Power Appl., Vol. 148, No. 4, July 2001.

    40

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    • José Rodríguez, Luis Morán, “High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability”.

    MULTI-LEVEL INVERTER BASED ON MATRIX CONVERTER CELLS WITH ISOLATED DC LINK OF HIGH FREQUENCY

     

    Le Phuong Hao, Tran Hung Cuong

     

    ABSTRACT

     

    Multi-level inverters (MLI) can easily provide output voltage with reduced harmonic distortion and low voltage level on power switches. However, a large number of required DC sources, which is equal to the number of levels on output voltage, are a serious drawback, especially when power exchange and isolation are both required. This paper presents a structure of H bridge cascaded multi-level inverter based on matrix converter. The cell on matrix converter directly connected with AC side of the intermediated DC-AC high frequency link, thus provide two sides of power exchange. High frequency link helps reduce size of the isolation transformer. The paper shows how to build modulation scheme and two control loops for a 7-levels converter with grid-connected possibility. The good simulation results have demonstrated the effectiveness of this approach.

     

    Key words: Mult I – level inverters (MLI)

     

     

     

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%C3%83-H%C3%93A-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-GI%E1%BB%AEA-S%E1%BB%B0-B%E1%BA%A2O-M%E1%BA%ACT-V%C3%80-HI%E1%BB%86U-SU%E1%BA%A4T-TH%E1%BB%B0C-THI-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

     

    Lê Đình Nghiệp1, Trịnh Thị Phú1, Lê Văn Hào1

     

    TÓM TẮT

     

    Phát triển một chiến lược mã hóa cơ sở dữ liệu (CSDL) phải xem xét đến yếu tố cân bằng giữa yêu cầu về an ninh với mong muốn cho hiệu suất cao. Mã hóa mức CSDL độc lập với mã hóa ở mức tập tin hay ứng dụng là phương pháp lý tưởng để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm và cho hiệu suất tối ưu. Chỉ dựa vào phạm vi bảo mật và kiểm soát truy cập sẽ không cung cấp bảo mật đầy đủ. Giải pháp mã hóa CSDL đóng gói được chứng minh là lựa chọn tốt nhất để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm. Đây là một giải pháp chuyên biệt và phức tạp, nếu nguồn lực nội bộ không có chuyên môn về mật mã trong môi trường thông tin, chuyên gia bên ngoài nên được sử dụng để đảm bảo hiệu suất thực thi cao. Bài viết này xem xét các khía cạnh hiệu suất của các kiến trúc chi phối việc mã hoá CSDL.

     

    Từ khóa: Cơ sở dữ liệu, hiệu suất thực thi, an ninh cơ sở dữ liệu, mật mã, mã hóa.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Cùng với sự bùng nổ thông tin, sự bảo mật của nó cũng yêu cầu tăng lên. Hiện nay có rất nhiều kiến trúc, kỹ thuật, và công cụ sẵn có và các tổ chức có thể áp dụng để đảm bảo cả 2 mặt an ninh và hiệu suất thực thi đƣợc tối ƣu hóa. Mỗi cách tiếp cận có ƣu điểm và nhƣợc điểm của nó. An ninh CSDL là một lĩnh vực nghiên cứu rộng bao gồm các chủ đề nhƣ bảo mật cơ sở dữ liệu thống kê [5], phát hiện xâm nhập trái phép [7], và gần đây nhất là bảo tồn sự riêng tƣ trong khai thác dữ liệu [6]. Các nghiên cứu về an toàn thông tin trƣớc [3] [1] đây không giải quyết các vấn đề quan trọng về hiệu suất thực thi. Trong bài viết này, chúng tôi xác định và đánh giá các vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tính bảo mật cao đồng thời vẫn đảm bảo hiệu suất thực thi trong CSDL, ứng dụng một kiến trúc cụ thể cài đặt cho CSDL thi trắc nghiệm trực tuyến. Để đạt đƣợc điều đó, chúng tôi đã phân tích nhiều giải pháp khác nhau.

     

    2. CÁC NHÂN TỐ HỖ TRỢ MÃ HÓA

     

    Có ba nhân tố chính hỗ trợ mã hóa trong CSDL. Một trong các nhân tố đó là đặc tính chia nhỏ đƣợc của dữ liệu đƣợc mã hóa. Cột, hàng, trang dữ liệu thƣờng có

     

    • Giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin và Truyền thông, trường Đại học Hồng Đức

    106

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    kích thƣớc là 4KB có thể là các lựa chọn tốt. Trong đó cột dữ liệu là sự lựa chọn tốt nhất, bởi vì nó sẽ làm giảm thiểu kích thƣớc cần mã hóa. Tuy nhiên, chúng tôi đã phát hiện ra, điều này yêu cầu phƣơng pháp mã hóa đƣợc nhúng bên trong CSDL quan hệ hoặc các máy chủ CSDL. Nếu bỏ qua đặc tính chia nhỏ để bảo vệ sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến mức độ bảo mật [8]. Nhân tố thứ hai là sự không tƣơng thích giữa phần mềm và mức phần cứng của các thuật toán mã hóa. Kết quả cho thấy nhân tố này làm cho tác động đáng kể về hiệu suất. Chúng tôi đã phát hiện ra sự mã hóa bên trong các CSDL quan hệ dựa trên sự cài đặt ở mức phần cứng của các thuật toán mã hóa mất một chi phí khởi tạo đáng kể cho một thao tác mã hoá. Chỉ có một vài nhà cung cấp CSDL hiện đang hỗ trợ mã hóa ở mức hàng hoặc trang dữ liệu làm giảm chi phí này trên dữ liệu lớn. Nhân tố thứ ba là vị trí của các dịch vụ mã hóa – dịch vụ cục bộ, dịch vụ từ xa, hoặc dịch vụ mạng đính kèm. Chọn điểm thực hiện sẽ ảnh hƣởng đáng kể đến mô hình bảo mật tổng thể. Dữ liệu mã hóa càng sớm, càng an toàn hơn trong môi trƣờng CSDL.

     

    2.1. Mã hóa mức CSDL

     

    Mã hóa mức CSDL cho phép đảm bảo dữ liệu khi nó đƣợc đọc/ghi từ một CSDL. Loại mã hóa này thƣờng đƣợc thực hiện ở mức cột bên trong một bảng CSDL, nếu kết hợp bảo mật CSDL với truy cập điều khiển, có thể ngăn chặn hành vi trộm cắp dữ liệu quan trọng. Mã hóa mức CSDL cũng bảo vệ chống lại một loạt mối đe dọa, nhƣ phƣơng tiện lƣu trữ bị đánh cắp, Các tấn công vào thiết bị lƣu trữ, tấn công mức CSDL. Mã hóa mức CSDL loại bỏ tất cả thay đổi ứng dụng đƣợc yêu cầu trong mô hình mức ứng dụng, và tạo ra một xu hƣớng phát triển mã hóa nhúng bên trong một hệ quản trị CSDL thông qua việc sử dụng các thủ tục lƣu trữ và các kích hoạt. Vì mã hóa/giải mã chỉ xảy ra bên trong CSDL, giải pháp này không yêu cầu ngƣời dùng phải hiểu hay khám phá những đặc điểm truy cập ứng dụng dữ liệu đƣợc mã hóa. Giải pháp này để chắc chắn dữ liệu an toàn, nó đòi hỏi một số công việc tích hợp ở mức CSDL, bao gồm sửa đổi lƣợc đồ CSDL đã có, sử dụng các kích hoạt và các thủ tục lƣu trữ để thực hiện mã hóa/giải mã. Ngoài ra, cần xem xét cẩn thận đến tác động về mặt hiệu năng, đặc biệt là khi việc hỗ trợ cho tăng tốc độ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Trƣớc tiên, cần áp dụng một phƣơng pháp tiếp cận để mã hóa những dữ liệu nhạy cảm. Sau đó, phải xem xét mức độ mã hóa đƣợc áp dụng để tận dụng phần cứng tăng mức độ an ninh, giảm tải quá trình mã hóa nhằm giảm thiểu các tác động xấu đến hiệu suất. Kiểu mã hoá này dễ bị hƣ tổn ở chỗ nó không có khả năng bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mức ứng dụng vì chức năng mã hóa đƣợc thực hiện nghiêm ngặt bên trong hệ quản trị CSDL.

     

    107

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    2.2. Mã hóa ở mức lƣu trữ

     

    Mã hóa cấp lƣu trữ cho phép mã hóa dữ liệu ở hệ thống lƣu trữ, ở cấp độ tập tin hoặc ở cấp độ khối. Ngày nay trong môi trƣờng lƣu trữ lớn, mã hóa ở mức lƣu trữ xác định một yêu cầu đảm bảo an ninh dữ liệu mà không cần sử dụng mặt nạ hoặc phân vùng LUN (Logical Unit Number). Trong khi giải pháp này có thể phân nhóm làm việc và cung cấp các bảo mật, nó cũng có một số hạn chế. Chỉ bảo vệ chống lại một phạm vi hẹp các mối đe dọa, cụ thể là khi phƣơng tiện truyền thông bị trộm cắp và các tấn công hệ thống lƣu trữ. Tuy nhiên, mã hóa ở mức lƣu trữ cấp không bảo vệ chống lại phần lớn các cuộc tấn công mức ứng dụng hoặc CSDL, đe dọa tới dữ liệu nhạy cảm. Cơ chế bảo mật lƣu trữ hiện tại chỉ cung cấp mã hóa mức khối, chúng không cung cấp khả năng mã hóa dữ liệu bên trong một ứng dụng hoặc CSDL mức trƣờng dữ liệu. Hậu quả là chỉ có thể mã hóa toàn bộ một CSDL, chứ không mã hóa đƣợc các thông tin cụ thể nằm trong nó.

     

    3. LỰA CHỌN KIẾN TRÚC CÀI ĐẶT MÃ HÓA

     

    Chúng tôi đã xem xét một số kết hợp có thể có của các cách tiếp cận mã hóa khác nhau, cụ thể là ở cấp độ phần cứng và phần mềm, tính chia nhỏ dữ liệu khác nhau. Chúng tôi bắt đầu với phần mềm mã hóa ở cấp cơ sở. Sau đó chúng tôi phát triển hỗ trợ tăng tốc tìm kiếm có hỗ trợ trên chỉ số với các trƣờng đƣợc mã hóa, và xem xét hiệu suất thấp khi tìm kiếm trên các trƣờng mã hóa, bao gồm các trƣờng chỉ số chính.

     

    3.1. Mã hóa phần mềm cơ bản

     

    Trƣớc tiên, chúng tôi xem xét một số thuật toán mã hóa AES, RSA và Blowfish sử dụng cho việc cài đặt. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm bằng cách sử dụng các thuật toán này và thấy rằng hiệu suất và bảo mật của thuật toán AES là tốt hơn so với RSA và Blowfish. AES rất nhanh so với thuật toán mã hóa nổi tiếng khác nhƣ DES. DES là một thuật toán mã hóa khối 64-bit, có nghĩa là dữ liệu đƣợc mã hóa và giải mã trong khối 64-bit. Điều này không có ý nghĩa trên dữ liệu ngắn. Dữ liệu 8-bit, khi mã hóa sẽ cho kết quả 64 bit. Chúng tôi cũng đã cài đặt phƣơng pháp bảo mật nhằm duy trì kiểu, chiều dài trƣờng dữ liệu sau khi đƣợc mã hoá trong CSDL của mình. Để cài đặt AES, ngƣời dùng tự định nghĩa một hàm (còn gọi là hàm ngoài) và đăng ký vào CSDL. Một khi nó đã đƣợc đăng ký, nó có thể đƣợc sử dụng để mã hóa dữ liệu trên một hoặc nhiều trƣờng. Việc truy xuất dữ liệu là an toàn vì dữ liệu lƣu trữ đƣợc mã hóa trƣớc khi thao tác trên chúng.

     

    3.2 Mã hóa cấp độ phần cứng cơ bản

     

    Chúng tôi đã nghiên cứu sử dụng HSM FIPS -140- 1 mức 3 với sự kết hợp giữa các khóa phần cứng và phần mềm. Các khóa chính đƣợc tạo ra đƣợc mã

     

    108

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    hóa/giải mã trên HSM. Các khóa chính không đƣợc đƣa ra bên ngoài HSM. Chi phí mã hóa/giải mã bao gồm chi phí khởi tạo, trong đó gồm hàm và lời gọi tới phần cứng, và chi phí thực hiện thuật toán mã hóa/giải mã, chi phí này phụ thuộc vào kích thƣớc của dữ liệu đầu vào. Điều này nhấn mạnh rằng, chi phí khởi tạo sẽ đƣợc tính mỗi khi một hàng đƣợc xử lý để mã hóa. Chúng tôi sử dụng phần cứng mã hóa từ các nhà cung cấp khác nhau, bao gồm IBM, Eracom, nCipher, và Chrysalis làm thử nghiệm. Trong thử nghiệm, chúng tôi sử dụng bộ vi xử lý kiến trúc mã hóa IBM S/390 có sẵn trong môi trƣờng IBM OS/390. IBM DB2 dùng cho OS/390 cung cấp một thiết bị gọi là “editproc” (còn gọi là các thủ tục chỉnh sửa thƣờng xuyên), có thể đƣợc kết hợp với một bảng CSDL. Một thủ tục chỉnh sửa đƣợc gọi cho một hàng của bảng CSDL mỗi khi hàng đƣợc truy cập bởi DBMS. Chúng tôi đăng ký một thủ tục chỉnh sửa mã hóa/giải mã cho các bảng. Khi một yêu cầu đọc/ghi tác động đến một hàng trong bảng dữ liệu này, thủ tục chỉnh sửa gọi thuật toán mã hóa/giải mã mà đƣợc cài đặt trong phần cứng cho toàn bộ hàng. Chúng tôi lựa chọn DES [3] cho việc mã hóa mức phần cứng.

     

    4. HIỆU SUẤT CỦA CÁC KIẾN TRÚC MÃ HÓA

     

    Có ba kiến trúc mã hóa là: 1) thiết bị mã hóa đính kèm mạng, 2) Phần mềm,

     

    • Sự kết hợp phần mềm và Module an toàn phần cứng (HSM). Mỗi kiến trúc có ƣu và nhƣợc điểm của nó.

    4.1. Xem xét hiệu suất

     

    Chúng tôi nghiên cứu SQL chuẩn sử dụng trong thí nghiệm của mình. Dùng một số thí nghiệm đơn giản trên Oracle và DB2. Các khía cạnh công nghệ để phát triển CSDL riêng nhƣ một thành phần cơ sở hạ tầng công nghệ dẫn đến các thách thức nghiên cứu mới. Đầu tiên và trƣớc hết là vấn đề quản lý khóa. Hầu hết các công ty xem dữ liệu của họ nhƣ là một tài sản vô giá. Hệ thống quản lý khoá sẽ cần phải cung cấp biện pháp an ninh đủ mạnh để bảo vệ việc sử dụng phân tán khóa. Chúng tôi đề xuất kết hợp giữa phần cứng và phần mềm dựa trên hệ thống mã hóa dữ liệu là giải pháp cho vấn đề này. Đề xuất một khả năng kiểm soát và chính sách phân phối để kiểm soát việc sử dụng các khóa. Nghiên cứu chi tiết về giải pháp này đƣợc trình bày dƣới đây.

     

    4.2. Mã hóa đính kèm mạng

     

    Mã hóa đính kèm mạng (Encryption Network Attached (NAED)) đƣợc cài đặt nhƣ một dụng cụ mã hóa đính kèm mạng với quy mô, số lƣợng của các thiết bị có sẵn. Một NAED là một thiết bị phần cứng mà cƣ trú trên mạng, định vị các khóa

    109

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa và thực thi tất cả các thao tác mã hóa. Cấu trúc này bổ sung khóa vật lý tách rời với dữ liệu. Tuy nhiên, việc bổ sung này đi kèm với một giá đắt, hiệu suất có thể còn tồi tệ hơn 10-100 lần so với phƣơng pháp khác. Các tiêu chuẩn đã cho thấy một thông lƣợng giữa 440 và 1.100 hàng mã hóa mỗi giây. Một hệ thống với 12 máy chủ cơ sở dữ liệu thực hiện mã hóa 4.200 hàng mã hóa mỗi giây với năm dụng cụ mã hóa đính kèm mạng.

     

    Có ba chi phí đi kèm với kiến trúc mạng này. Hãy cùng khám phá một ví dụ đơn giản để chứng minh các chi phí trên khi một ngƣời dùng yêu cầu 500.000 dòng dữ liệu đƣợc mã hóa:

     

    Khi một ngƣời dùng yêu cầu dữ liệu an toàn, hệ thống an ninh quản lý tiến trình lấy dữ liệu đƣợc mã hóa từ cơ sở dữ liệu, đảm bảo yêu cầu là từ một ngƣời dùng có thẩm quyền, và thực hiện quá trình giải mã. Trong kiến trúc này, các tác nhân mã hóa xử lý các yêu cầu và khôi phục các dữ liệu đƣợc mã hóa từ CSDL. Nó sẽ gửi các dữ liệu đƣợc mã hóa qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED. Bên trong NAED là khóa và các thuật toán để giải mã dữ liệu. Tuy nhiên, một khi giải mã, thông tin bản rõ cần phải đƣợc gửi lại đƣờng truyền đến máy chủ CSDL. Điều này đòi hỏi chúng ta bảo mật lại thông tin trong quá trình chuyển, thƣờng là thông qua một quá trình trao đổi an toàn nhƣ SSL. Khi dữ liệu tới tác nhân trên máy chủ CSDL, nó phải cho ra đƣợc bản rõ, và sau đó đƣợc phục vụ cho đến ứng dụng gọi đến.

     

    1. Kiến trúc NAED có ba đặc điểm của mã hóa. Trong ví dụ trên, 500.000 dòng dữ liệu đƣợc gửi đi trên đƣờng truyền đƣợc giải mã tại NAED. Các bản rõ đƣợc mã hóa sử dụng SSL để gửi lại qua mạng và giải mã ở các CSDL để đƣợc bản rõ phục vụ cho các ứng dụng.
    1. Chi phí mạng đƣợc tính bằng việc gửi tất cả 500.000 hàng qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED và sau đó phải trở lại trên mạng để các CSDL.
    1. NAED là một thiết bị không trạng thái và cần phải đƣợc khởi tạo/thiết lập trƣớc khi mỗi hàng đƣợc giải mã. Trong ví dụ đơn giản này, NAED đƣợc thiết lập 500.000 lần. Các thiết lập cần chi phí khá lớn.

    Kiến trúc thiết bị mã hóa đính kèm mạng (NAED) đã đƣợc chứng minh trong các thử nghiệm, do mất ba loại chi phí nên tồi tệ hơn cấu trúc khác. Mỗi lần đi chuyển trên mạng là khoảng 1 phần nghìn giây cho mỗi hàng. Trong ví dụ trên đây sẽ mất 500.000 x 1ms = 500 giây so với 1-25 giây với cấu trúc khác.

     

    4.3. Hệ thống hybrid

     

    Cấu trúc Hybrid kết hợp việc nâng cao hiệu suất của cấu trúc phần mềm với việc bổ sung an ninh cho thiết bị phần cứng. Một HSM, trong một số trƣờng hợp, là một cách lý tƣởng để bổ sung thêm bảo vệ cho các phần tử quan trọng nhất – các khóa

    110

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa. Các thiết bị HSM đƣợc chứng minh là nhanh và nhiễu, tuyệt vời để lƣu trữ những viên ngọc quý – các khóa mã hóa.

     

    Việc thực hiện trong kiến trúc này là cơ bản giống với cấu trúc phần mềm trƣớc đó, với một quá cảnh thƣờng xuyên tới HSM để làm mới và lấy chìa khóa mã hóa tổng thể. Trong phần lớn thời gian xử lý, hiệu suất là giống với giải pháp phần mềm. Trong ví dụ 500.000 hàng của chúng tôi, ngƣợc lại với cấu trúc NAED – nơi mà tất cả 500.000 hàng truyền đến NAED – dịch vụ mã hóa trong máy chủ CSDL truy cập các khóa từ HSM mỗi lần và sau đó tất cả các hoạt động mã hóa đƣợc hoàn thành trong CSDL bởi các dịch vụ phần mềm mã hóa.

     

    Hệ thống Hybrid thực hiện quy trình phân phối có quy mô với số lƣợng các bộ vi xử lý và máy chủ CSDL có sẵn. Trong kiến trúc phần mềm máy chủ CSDL sẽ trở thành nền tảng cho các dịch vụ mã hóa. Khi các ứng dụng đòi hỏi thông tin an toàn, dịch vụ mã hóa yêu cầu các dữ liệu đƣợc mã hóa từ máy chủ CSDL, thực hiện giải mã cục bộ, trả về thông tin bản rõ cho các ứng dụng gọi đến. Tất cả chi phí mạng và mã hóa (ví dụ nhƣ SSL) đã đƣợc loại bỏ khỏi đƣờng truyền, tối ƣu hóa thời gian trả lời và thông lƣợng. Ngoài ra, vì nó không sử dụng một thiết bị phần cứng riêng biệt nên không có bất kỳ chi phí thiết lập. Trong ví dụ của chúng tôi, giải mã của 500.000 hàng đƣợc xử lý trong các máy chủ CSDL. Do sự giảm các vị trí mã hóa, loại bỏ các lƣu lƣợng đƣờng truyền, và chi phí thiết lập, nên hiệu suất rất cao. Trong ví dụ của chúng tôi 500.000 hàng, hiệu suất đƣợc cải thiện rất nhiều: 500.000 x 0,05 ms = 25 * giây.

     

    SQL Server cho thấy thông lƣợng vào khoảng 3.000 đến 32.000 hàng đƣợc giải mã mỗi giây, tùy thuộc vào sự kết hợp tối ƣu của mức mã hóa cột và mức mã hóa bảng, và số lƣợng dữ liệu bảng vùng đệm, SQL Server 2000 ban đầu kiểm tra sử dụng một hệ thống kiểm tra cấp thấp chạy Windows với một bộ xử lý 1,6 GHz, 1 GB bộ nhớ RAM vật lý, và 3 GB bộ nhớ RAM ảo.

     

    Các tiêu chuẩn của DB2 của IBM cho thấy một thông lƣợng 187.000 dòng giải mã mỗi giây, với 20 ngƣời dùng đồng thời. Điều này cho khả năng giải mã 187.000 bảng CSDL hàng mỗi giây. Các bảng kiểm tra bao gồm 80 byte dữ liệu đƣợc mã hóa trong mỗi hàng. Chúng tôi bão hòa tất cả sáu bộ vi xử lý RS6000 sử dụng 100% khi thử nghiệm với 1.000 ngƣời sử dụng đồng thời.

     

    4.4. Hạn chế số lƣợng các hoạt động mật mã

     

    Nhƣ đã đề cập trong thảo luận ở trên, mỗi hoạt động mã hóa có thêm chi phí. Có nhiều kỹ thuật, hỗ trợ trong các giải pháp để giới hạn số hoạt động cần thiết. Sử dụng các kỹ thuật cho biết sự khác biệt giữa chấp nhận đƣợc và không thể chấp nhận trên phƣơng diện hiệu suất.

    111

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Việc lập chỉ mục, cho phép mã hóa dữ liệu đƣợc tìm kiếm mà không cần thiết của giải mã thành các bản rõ trƣớc. Nhiều giải pháp vẫn yêu cầu các dữ liệu đƣợc giải mã trƣớc khi đƣợc tìm kiếm. Điều này tạo ra một sự gia tăng lớn về số lƣợng các hoạt động mã hóa và do đó cản trở tới hiệu suất. Ngoài ra thêm một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc giảm thời gian trả lời và số lƣợng hàng giải mã, từ 10 đến 30 lần cho một số các truy vấn khi so sánh với một giải pháp mà không đƣợc sử dụng một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc cho các cột đƣợc mã hóa.

     

    Tìm kiếm so khớp chính xác một giá trị đƣợc mã hóa trong một cột là có thể, với điều kiện là các vector khởi động cùng đƣợc sử dụng cho toàn bộ cột. Mặt khác, tìm kiếm so khớp một phần trên dữ liệu đƣợc mã hóa trong một cơ sở dữ liệu có thể là thử thách và có thể dẫn đến việc duyệt toàn bộ bảng nếu hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số không đƣợc sử dụng. Cột mã hóa có thể là một khóa chính hoặc một phần của một khóa chính, vì mã hóa một phần dữ liệu là ổn định (có nghĩa là nó luôn luôn tạo ra kết quả giống nhau), và không có hai phần riêng biệt của dữ liệu sẽ cho ra các bản mã hóa giống nhau, miễn là khóa và vectơ khởi động đƣợc sử dụng là nhất quán. Tuy nhiên, khi mã hóa toàn bộ cột của một cơ sở dữ liệu có sẵn, tùy thuộc vào phƣơng pháp chuyển đổi dữ liệu, ngƣời quản trị có thể phải xóa những khóa chính đã có cũng nhƣ các khoá liên kết khác và tạo lại chúng sau khi dữ liệu đƣợc mã hóa. Vì lý do này, mã hóa cột là một phần của một ràng buộc khóa chính không đƣợc khuyến cáo nếu việc hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Tuy nhiên, sự quan tâm đặc biệt phải đƣợc thực hiện trong quá trình tạo khóa. Để chuyển đổi một bảng hiện có mà vẫn giữ các dữ liệu đƣợc mã hóa, tất cả các bảng mà nó có những ràng buộc trƣớc tiên phải đƣợc xác định. Tất cả các bảng tham chiếu phải đƣợc chuyển đổi cho phù hợp. Trong một số trƣờng hợp, các ràng buộc tham chiếu phải đƣợc tạm thời vô hiệu hóa hoặc xóa bỏ để cho phép di chuyển dữ liệu hiện có. Chúng có thể đƣợc kích hoạt hoặc tái tạo lại một khi dữ liệu cho tất cả các bảng liên quan đƣợc mã hóa. Do tính phức tạp này, mã hóa một cột mà là một phần của ràng buộc khóa ngoại không đƣợc khuyến cáo, nếu các công cụ triển khai tự động không đƣợc sử dụng. Không giống nhƣ các chỉ số và khóa chính, mã hóa các khóa ngoài thƣờng không ảnh hƣởng tới hiệu suất.

     

    Một bƣớc quan trọng trong việc đƣa ra chiến lƣợc mã hóa là xác định các dữ liệu cần đƣợc bảo vệ và các dữ liệu có thể tồn tại ở dạng bản rõ. Nếu bỏ qua bƣớc này nhiều dữ liệu đƣợc mã hóa hơn so với yêu cầu. Mặc dù nó có vẻ vô hại, cung cấp nhiều bảo vệ hơn, nhƣng mã hóa nhiều dữ liệu hơn tất yếu phải trả một giá cho hiệu suất hoạt động. Cấp độ mã hóa cột cần đƣợc cài đặt để hỗ trợ chính sách bảo mật dữ liệu.

     

    112

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    KẾT LUẬN

     

    Chúng tôi xác định hiệu suất là một vấn đề đặc biệt quan trọng thiết yếu để đánh giá các giải pháp khác nhau cho việc mã hóa cơ sở dữ liệu. Trong bài báo này, chúng tôi đã thảo luận về Hybrid, một giải pháp bảo mật CSDL đƣợc xây dựng trên nhiều hệ CSDL quan hệ lớn. Mô hình Hybrid đƣa ra nhiều thách thức đáng kể trong đó có các chi phí bổ sung tìm kiếm trên dữ liệu đƣợc mã hóa đảm bảo sự riêng tƣ của dữ liệu, và quản lý của thành phần của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Chúng tôi đã giải quyết những vấn đề này và áp dụng nó vào trong CSDL thi trắc nghiệm online. Mô hình Hybrid nhấn mạnh một cách tiếp cận rộng cho vấn đề bảo mật dữ liệu và tính riêng tƣ của dữ liệu trong đó một quản trị viên an ninh bảo vệ sự riêng tƣ

     

    • mức độ của các trƣờng và bản ghi, và quản trị CSDL cung cấp cơ chế liên tục để tạo, lƣu trữ, đảm bảo truy cập an toàn tới cơ sở dữ liệu. Một mô hình nhƣ vậy làm giảm bớt sự cần thiết cho các tổ chức mua phần cứng đắt tiền, đối phó với những thay đổi phần mềm, và thuê chuyên gia làm nhiệm vụ phát triển quản lý khóa mã hóa. Qua đánh giá với các chƣơng trình mã hóa khác nhau chúng tôi thấy sự sụt giảm mạnh mẽ thời gian thực hiện truy vấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Davida, D. Wells, and J. Kam. A database encryption system with subkeys. ACM Transactions on Database Systems, 6(2), 1981.
    • Data encryption standard. FIPS PUB 46, Federal Information Processing Standards Publication, 1977.
    • He and M. Wang. Encryption in relational database management systems. In Proc. Fourteenth Annual IFIP WG 11.3 Working Conference on Database

    Security (DBSec‟00), Schoorl, The Netherlands, 2000.

     

    • Mattsson, Ulf T., „A DATABASE ENCRYPTION SOLUTION‟,

    LinuxSecurity.com, 28 July 2004, http://www.linuxsecurity.com/content/view/116068/65/

     

    • R. Adam and J. C. Wortman. Security-control methods for statistical databases. ACMComputing Surveys, 21(4):515– 556, Dec. 1989.
    • Agrawal and J. Kiernan. Watermarking relational databases. In 28th Int‟l

    Conference on Very Large Databases, Hong Kong, China, August 2002.

     

    • F. Lunt. A survey of intrusion detection techniques. Computer & Security, 12(4), 1993.

    113

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    DATA ENCRYPTION – BALANCE BETWEEN SECURITY AND PERORMANCE

     

    Le Dinh Nghiep, Trinh Thi Phu, Le Van Hao

     

    ABSTRACT

     

    Developing a database encryption strategy is necessary to consider the balance between security requirements and the desire for high performance. Encryption at the database level, versus application and file level is an ideal approach to protect sensitive data and optimize performance. Relying on perimeter security and database access control is not adequate security. Packaged database encryption solutions have proven to be the best alternative. This is a specialized and complex solution, if internal resources do not have the cryptography expertise in relation to information technology environment, outside expertise should be used to ensure superior performance. This paper reviews the performance aspects of topologies for database encryption.

     

    Key word: Performance, Database Security, Encryption, Privacy.

     

     

     

     

     

    114


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91i-gi%E1%BB%AFa-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-C-v%C3%A0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-NI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KẾT NỐI GIỮA PHẦN MỀM C# VÀ THIẾT BỊ NI

    CONNECT BETWEEN C# SOFTWARE AND NI EQUIPMENTS

     

    ĐỒNG XUÂN THÌN

    Khoa Điện, Trường Cao đẳng VMU

     

    Tóm tắt

     

    NI là thiết bị phần cứng của hãng National Instrument. Đây là một hãng rất nổi tiếng với nhiều thiết bị phần cứng được sử dụng trong lĩnh vực đo lường. Thiết bị NI rất dễ kết nối với phần mềm Matlab và LabView, hai phần mềm này có thể tạo giao diện giám sát và điều khiển. Ngoài ra, phần mềm C# cũng có thể được sử dụng để tạo giao diện giám sát và điều khiển, nhưng việc kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI rất phức tạp.

     

    Từ khóa: C#, NI, kết nối C# và NI, NI9215.

     

    Abstract

     

    NI equipments are the products of National Instrument Company that is very famous in measurement. It can easily connect with Matlab and LabView, these software can be used to create control interfaces. In additional, C# software also can create interfaces but it really complicate in programming and handshake with NI equipments.

     

    Keywords: C#, NI, connect C#&NI, NI9215.

     

    1. Giới thiệu

     

    1.1. Phần mềm C#

     

    Phần mềm C# là một phần rất quen thuộc nằm trong bộ Visual.NET. Hầu hết những người xây dựng giao diện để giám sát và điều khiển hệ thống thực trên máy tính đều sử dụng phần mềm này. Việc tải về và cài đặt phần mềm này rất đơn giản, chúng ta có thể tham khảo các nguồn tài liệu trên internet. Giao diện chính của phần mềm Microsoft Visual Studio khi cài đặt thành công như Hình 1.

     

     

     

    Hình 1. Phần mềm Mirosoft Visual Studio 2010                                          Hình 2. NI 9215

     

    1.2. Thiết bị NI

     

    Như đã biết, National Instrument là một hãng thiết bị rất nổi tiếng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. Một loại thiết bị thông dụng hay được sử dụng để kết hợp với phần mềm Matlab hoặc LabView đó là card PCI.

     

    NI cũng là thiết bị phần cứng được phát triển bởi hãng này, đây là thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. NI khá đa dạng về chủng loại, có thể kết hợp được với các phần mềm Matlab, LabView và cả C#. Việc lựa chọn thiết bị NI phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của bài toán điều khiển, một số thông số kỹ thuật cần thiết cho việc lựa chọn NI như sau:

     

    • Loại tín hiệu vào/ra;
    • Giới hạn mức tín hiệu vào/ra;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     9

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Số kênh tín hiệu vào/ra;
    • Độ phân giải động của tín hiệu;
    • Tần số lấy mẫu tối đa cho phép.

    Để thực nghiệm việc kết nối giữa phần mềm C# tác giả lựa chọn thiết bị NI có tên NI9215.

    Hình ảnh thực tế của NI9215 như Hình 2. Thông số cơ bản của NI9215 như sau:

     

    • Số lượng kênh vào:
    • Độ phân giải ADC:
    • Dải tín hiệu vào:
    • Tần số lấy mẫu:
    • Nhiệt độ làm việc:
    • Điện áp bảo vệ:

    04 kênh vào tương tự;

     

    16 bit;

     

    10, 0 VDC;

     

    100kHz;

     

    -40oC tới 70oC;

    30, 0

    VDC.

    2. Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

     

    • Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

    Để có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI thì ta cần thực hiện một số việc theo một trình tự nhất định. Trình tự này sẽ giúp cho phần mềm C# nhận diện được thiết bị NI và cài đặt các thông số phù hợp cần thiết cho thiết bị. Thứ tự công việc đó được thể hiện qua Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI.

     

    Bắt đầu

     

    Tìm thiết bị NI được kết nối với

    máy tính

     

    Khai báo Task

     

    Khai báo Channel

     

    Khai báo đặc tính của Channel

     

    Cài đặt thông số cấu hình của

    Channel

     

    Cài đặt thông số xung clock và

    lấy mẫu của Channel

     

    Điều khiển các Channel

     

    Kết thúc

     

    Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

     

    Đầu tiên ta cần phải xác định các thiết bị NI được gắn với máy tính, sau đó chọn thiết bị NI mà chúng ta muốn dùng. Bước tiếp theo ta cần khai báo một “đối tượng” Task để quản lý toàn bộ việc cài đặt thông số cấu hình cho NI, cũng như nhận dữ liệu từ NI gửi về. Sau đó ta cần khai báo một đối tượng “được điều khiển” bởi Task, đó chính là Channel. Channel này sẽ liên kết trực tiếp

     

    10                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    với channel vật lý của thiết bị NI, dựa vào các đặc tính kỹ thuật thực tế của thiết bị NI mà ta sử dụng và mục đích sử dụng để có thể khai báo một cách chính xác thông số này.

     

    Bước tiếp theo là cài đặt các thông số cấu hình và xung clock cho channel, bước này cần lưu lý tra theo các thông số kỹ thuật của NI để nhận/gửi dữ liệu một cách chính xác. Cuối cùng là đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý, nếu chỉ đọc/ghi dữ liệu một lần thì rất dễ nhưng không có tính ứng dụng nhiều trong điều khiển. Hầu hết các quá trình điều khiển là “Real Time” (RT) nên ta cần đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý một cách liên tục, tức là ta phải dùng một vòng lặp vô hạn để phục vụ việc giao tiếp với NI. Như vậy thì chương trình điều khiển sẽ không thể làm gì khác ngoài việc giao tiếp với NI, để khắc phục tình trạng này thì ta phải dùng chương trình đa nhiệm.

     

    2.2. Các thông số cấu hình cho NI

     

    +) Khai báo Channel:

     

    Việc khai báo channel có vai trò rất quan trọng trong việc xác định tín hiệu (vào hay ra) và dạng của tín hiệu (số hay tương tự). C# hỗ trợ 4 kiểu khai báo channels [1-3]:

     

    • AIChannel;
    • AOChannel;
    • DIChannel;
    •  

    +) Khai báo đặc tính Channel:

     

    Khai báo đặc tính channel sẽ quyết định dạng của tín hiệu mà chúng ta sử dụng. C# hỗ trợ khai báo các dạng đặc tính như sau:

     

    • AnalogSingleChannelReader;
    • AnalogSingleChannelWriter;
    • AnalogMultiChannelReader;
    • AnalogMultiChannelWriter;
    • DigitalSingleChannelReader;
    • DigitalSingleChannelWriter;
    • DigitalMultiChannelReader;
    •  

    +) Cài đặt thông số cấu hình cho Channel:

     

    Việc cấu hình chi tiết cho channel không phức tạp nhưng có rất nhiều dạng cảm biến khác nhau được hỗ trợ. Dưới đây là một số cấu hình đầu vào cho tín hiệu analog được hỗ trợ bởi phần mềm C# hay được sử dụng:

     

    • CreateAccelerometerChannel: Dùng cho cảm biến gia tốc;
    • CreateFrequencyVoltageChannel: Dùng để tính giá trị tần số của điện áp lấy mẫu;
    • CreateLvdtChannel: Dùng cho cảm biến LVDT;
    • CreateMicrophoneChannel: Dùng cho Microphone;
    • CreateResistanceChannel: Dùng cho đầu vào là điện trở;
    • CreateStrainGageChannel: Dùng cho cảm biến đo xoắn trục;
    • CreateVoltageChannel: Dùng cho đầu vào là điện áp (thường dùng nhất).

    Đối với mỗi hàm cấu hình cho tín hiệu thì sẽ có vài tham số cần cài đặt (có hướng dẫn cụ thể trong từng hàm cài đặt). Ví dụ với hàm CreateVoltageChannel() thì có các tham số cần cài đặt như sau:

     

    • Tên của channel vật lý;
    • Tên đặt cho channel vật lý;
    • Dạng của điện áp đầu vào;
    • Giới hạn trên và giới hạn dưới của tín hiệu vào;
    • Đơn vị được quy đổi sau khi đọc giá trị đầu vào.

    +) Cài đặt thông số xung clock và lấy mẫu của channel:

     

    Thông số xung clock thay đổi phụ thuộc vào dạng của tín hiệu là digital hay analog và là tín hiệu vào hay tín hiệu ra. Với NI9215 thì có 04 thông số cơ bản cần cài đặt cho xung clock gồm:

     

    • Nguồn xung: Có thể sử dụng nguồn xung clock ngoài hoặc xung clock của NI;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     11

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Tốc độ lấy mẫu: Là số mẫu được lấy trong 1 giây, thông số này kiểu double;
    • Cạnh tác dụng của xung clock: Có thể chọn cạnh lên hoặc cạnh xuống của xung clock;
    • Chế độ lấy mẫu: Có 3 chế độ lấy mẫu nhưng ta thường dùng 2 chế độ đó là chế độ lấy mẫu xác định và chế độ lấy mẫu liên tục.

    3.           Kết quả và đánh giá

     

    3.1. Kết quả

     

    Tác giả đã thực hiện thử nghiệm kết nối giữa phần mềm C# với thiết bị NI9215. Hình ảnh thí nghiệm như Hình 4.

     

    Thí nghiệm bao gồm: thiết bị phần cứng NI9215, giao diện lấy các thông số cơ bản của NI9215 được xây dựng bởi phần mềm C#, thiết bị NI được kết nối với laptop thông qua dây nối USB. Trên giao diện gồm 2 phần: Textbox để hiển thị các thông số của NI, graph để hiển thị dữ liệu đọc về từ NI.

     

     

     

    Hình 4. Hình ảnh thử nghiệm

     

     

     

    Hình 5. Kết quả mẫu tín hiệu thu được

     

    Trong thử nghiệm này, tác giả đã dùng tín hiệu đầu vào là điện áp lấy từ cảm biến dao động.

    Kết quả của mẫu tín hiệu được vẽ thành đồ thị bởi khối Graph như Hình 5 [4], [5].

     

    12                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • đây tác giả chọn Sampling Rates = 8192, tức là lấy 8192 mẫu tín hiệu vào trong một giây. Tốc độ lấy mẫu có thể chọn bất kỳ và nhỏ hơn tốc độ lấy mẫu tối đa cho phép của thiết bị. Tuy nhiên, để thuận tiện cho các thuật toán xử lý số nhị phân thì ta nên chọn tốc độ lấy mẫu là 2n. Cũng trong thử nghiệm này thì tác giả lấy đúng 8192 mẫu, tức là lấy số mẫu tín h iệu trong một giây. Lưu ý, việc lấy bao nhiêu mẫu và tốc độ lấy mẫu không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau, điều này còn phụ thuộc vào chế độ lấy mẫu ta cài đặt. Nếu chọn chế độ lấy mẫu là xác định thì số lượng mẫu sẽ nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ lấy mẫu, còn với chế độ lấy mẫu là liên tục thì số lượng mẫu không phụ thuộc vào tốc độ lấy mẫu. Tuy nhiên, số lượng mẫu có thể lấy được không phải là vô tận, nó phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tốc độ xử lý tín hiệu của máy tính được sử dụng và nằm trong giới hạn của kiểu double.

    3.2. Đánh giá

     

    Thực hiện theo trình tự các bước được đề cập tại thuật toán giao tiếp giữa C# và NI đã có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI.

     

    Với thử nghiệm đầu tiên này, tác giả không những lấy được mẫu tín hiệu trên một kênh AI của thiết bị NI9215 mà còn truy vấn được các thông số danh định của thiết bị NI9215 bao gồm: Tên thiết bị, tên các kênh vật lý, dải điện áp đầu vào, mã số thiết bị, loại thiết bị và số serial của thiết bị.

     

    Hạn chế của vấn đề nghiên cứu: Mới chỉ lấy dữ liệu trên một kênh đầu vào của thiết bị NI9215, chưa lấy được tín hiệu trên tất cả các kênh đầu vào cũng như chưa thử nghiệm được trên các thiết bị NI khác.

     

    Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:

     

    • Một là xây dựng phần mềm lấy dữ liệu trên tất cả các kênh đầu vào của thiết bị NI9215;
    • Hai là thử nghiệm trên một vài thiết bị NI khác.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ni.com/tutorial/5409/en/.
    • http://zone.ni.com/reference/en-XX/help/370473H-01/mstudiowebhelp/html/5de00fb2/.
    • https://forums.ni.com/t5/Measurement-Studio-for-NET/How-to-properly-use-AOChannels-CreateFunctionGenerationChannel/td-p/669811.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/dd456769.aspx.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/system.windows.forms.datavisualization.charting.chart(v=vs.110).aspx.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    04/04/2018

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TH%E1%BB%B0C-THI-C%C3%81C-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-B%E1%BA%A2O-%C4%90%E1%BA%A2M-AN-NINH-H%C3%80NG-H%E1%BA%A2I-C%E1%BB%A6A-U%CC%81C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC

    VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    ENFORCE MEASURES TO ENSURE MARITIME SECURITY OF AUSTRALIA

    AND EXPERIENCE FOR VIETNAM

     

    LƯƠNG THỊ KIM DUNG

    Khoa Hàng hải, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Là một quốc gia bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa an ninh, nhưng trong thời gian qua, Úc đã thực thi một hệ thống các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm an ninh hàng hải quốc gia. Thông qua việc phân tích, nghiên cứu các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc, tác giả bài báo mong muốn sẽ góp phần gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam có những kinh nghiệm quý trong quá trình xây dựng và thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh Hàng hải của Việt Nam.

     

    Từ khóa: Hiểm họa, an ninh hàng hải, Úc.

     

    Astract

     

    As a country threatened by many security threats, in recent years, Australia has implemented a system of effective measures to ensure national maritime security. Through the analysis and research of Australia’s maritime security measures, the paper’s author wishes to suggesting for Vietnamese policy makers have valuable experiences in the construction process and enforce measures to ensure maritime security of Vietnam.

     

    Keywords: Threats, maritime security, Australia.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng hải đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn giúp Việt Nam “hướng ra biển, làm giàu từ biển”. Bảo đảm an ninh cho sự phát triển của ngành hàng hải đã trở thành một phần chiến lược của chính sách an ninh hàng hải quốc gia. Tuy nhiên, an ninh hàng hải Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, có thể kể đến như trộm cắp vặt, phá hoại, tiếp cận các khu vực cấm tại cảng, cướp biển khu vực Đông Nam Á, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, khủng bố hàng hải. Bên cạnh đó, những tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang nổi lên tạo nguy cơ biến thành xung đột “nóng”, đe dọa trực tiếp đến môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn 80% diện tích biển Đông, tiến hành hoạt động tuần tra, khảo sát, ngăn trở các nước trong đó có Việt Nam khác khai thác tài nguyên. Cùng với đó là việc hiện đại hóa hải quân, cải tạo các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam do Trung quốc chiếm giữ trái phép để xây dựng đường băng, căn cứ quân sự phục vụ ý đồ kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng trong khu vực. Nhận thức được tầm quan trọng của bảo đảm an ninh hàng hải, Việt Nam ngay từ rất sớm đã gia nhập nhiều công ước quốc tế về an ninh hàng hải, đặc biệt phải kể đến là Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code).Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 cũng đã bổ sung thêm hai điều luật về an ninh tàu biển và cảng biển nhưng Chính phủ hiện chưa ban hành được Nghị định về an ninh hàng hải. Một số văn bản quy phạm pháp luật về an ninh hàng hải còn bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong thực tiễn thi hành. Việc phối kết hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật về an ninh hàng hải chưa thực sự hiệu quả.

     

    Là một quốc gia mà an ninh hàng hải cũng bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, nhưng trong thời gian qua, Úc đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp tăng cường an ninh hữu hiệu để giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro. Vì vậy, nghiên cứu quá trình thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ góp phần quan trọng giúp Việt Nam có được những kinh nghiệm quý báu cho bảo đảm tăng cường an ninh hàng hải Việt Nam.

     

    2. Các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải Úc

     

    Nằm biệt lập với các châu lục khác, Úc được bao bọc bởi hai Đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. An ninh hàng hải của Úc bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, đặc biệt phải kể đến là:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     85

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    2.1. Di cư bất hợp pháp

     

    Do đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt, thiếu nguồn lao động cho các ngành kinh tế nên chính sách nhập cư của Úc tương đối lỏng so với một số quốc gia khác như Mỹ, Nhật, Tây Âu,… Do đó, hàng năm có rất nhiều vụ di cư bất hợp pháp bằng thuyền từ khu vực giáp ranh với vùng biển của Indonesia vào Úc. Họ là những cư dân đến từ các quốc gia Trung Đông như Syry, Iraq, Apganixtan, cá biệt có cả Việt Nam, được các tổ chức buôn người quốc tế môi giới, dẫn dắt nhằm nhập cảnh trái phép vào Úc bằng đường biển.

     

    2.2. Đánh bắt, khai thác thủy hải sản trái phép

     

    Vùng biển nước Úc trải dài từ vĩ tuyến 02-00S xuống phía Nam bán cầu, từ kinh độ 075E đến kinh độ 163E, với trữ lượng hải sản lớn, trở thành khu vực hấp dẫn các tàu đánh bắt trộm, chủ yếu đến từ các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản [1]. Nạn đánh bắt trái phép (đặc biệt là săn bắt cá voi) không chỉ làm suy giảm nguồn tài nguyên biển, phá hoại sự cân bằng hệ sinh thái biển mà còn đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc.

     

    2.3. Người trốn theo tàu và thuyền viên bỏ trốn khi tàu cập cảng

     

    Hải quan Úc đã ghi nhận nhiều vụ người trốn theo tàu đến từ các quốc gia vùng Trung Đông vào Úc. Đặc biệt, trong nhiều năm nay, rất nhiều thuyền viên nước ngoài đến từ các quốc gia Ấn Độ, Bangladesh, Srilanca, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc,… bỏ trốn lên bờ khi tàu của họ cập cảng Úc. Do địa bàn rất rộng lớn, cùng với việc có nhiều cộng đồng dân cư sinh sống nên việc truy bắt những đối tượng này hết sức khó khăn.

     

    2.4. Buôn lậu ma túy bằng đường biển

     

    Do đặc điểm là quốc gia đại dương nên việc vận chuyển ma túy vào Úc chỉ có thể bằng đường biển và đường hàng không. Thủ đoạn của các tổ chức buôn lậu ma túy rất đa dạng, từ việc trà trộn vào trong các hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển, đến cất giấu ma túy trong các két chứa nước dằn, két chứa nhiên liệu trên tàu hay thuê những thuyền viên kém hiểu biết mang lên tàu,… Tinh vi hơn các đối tượng còn hàn một hộp kim loại rỗng trên đáy của phía ngoài thân tàu, rồi đặt ma túy được bọc kín nước vào trong hộp kim loại đó, vận chuyển lòng vòng qua nhiều quốc gia rồi mới vào Úc. Khi đến cảng, các đối tượng bố trí người nhái lặn xuống và lấy ma túy ra. Hải quan Úc bằng nghiệp vụ của mình đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển ma túy vào Úc theo hình thức trên.

     

    2.5. Chất thải từ các tàu nhập cảnh vào Úc

     

    Do nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô nên hàng năm, có rất nhiều tàu biển, chủ yếu là tàu cỡ lớn và siêu lớn (Cape size, Panamax size) đến Úc để chuyên chở hàng hóa xuất khẩu. Các tàu này mang theo một lượng lớn nước dằn tàu, được thải ra khi nhận hàng tại các cảng của Úc, cùng với đó là chất thải sinh hoạt, rác thải, dầu cặn thải ra từ tàu, có nguy cơ làm ô nhiễm vùng nước cảng biển, phá hủy hệ sinh thái môi trường biển nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó là nguy cơ gây ô nhiễm tràn dầu do hệ thống phân ly dầu – nước của tàu bị hư hỏng hoặc làm việc không hiệu quả hay nguy cơ ô nhiễm do tàu không đảm bảo điều kiện vệ sinh cần thiết có thể đe dọa tới an ninh môi trường biển.

     

    2.6. Các nguy cơ khác

     

    Nước Úc nằm phía Đông nam Châu Á, phía Bắc và Tây Bắc giáp với các quốc gia như Solomon, Papua New Guinea, Timor Leste và Indonesia – vốn là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển nên tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển giữa các quốc gia có thể là nguy cơ đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc. Cướp biển, các hành vi bạo lực trên biển và khủng bố hàng hải cũng được coi là những hiểm họa tiềm tàng [2]. Tuy nhiên, do đặc thù các cảng biển ở Úc đa số dùng để xuất nguyên liệu thô, cần độ sâu lớn cho tàu siêu trường ra vào thuận tiện, do đó các cảng biển hầu hết được bố trí trên những Terminal nhô ra biển nên việc kiểm soát người ra, vào cảng tương đối dễ dàng. Ngoài ra, các cầu cảng hầu hết được lắp đặt camera an ninh (CCTV) nên chưa ghi nhận một trường hợp khủng bố hoặc phá hoại nào xảy ra.

     

    3. Các biện pháp đảm bảo an ninh hàng hải trên vùng biển và các cảng biển của Úc

     

    • Thiết lập hệ thống giám sát từ xa (MASTREP)

    Để kiểm soát từ xa một cách có hệ thống tất cả các tàu vào Úc, chính quyền hành chính nước Úc đã thông qua Bộ Luật Hàng hải năm 2012 bắt buộc tất cả các tàu nước ngoài ra vào nước Úc và tất cả các tàu của Úc khi hành trình trong vùng giới hạn bởi MASTREP. MASTREP (Modernised Australian Ship Tracking and Reporting System) là sự kế thừa và phát triển của hệ thống AUSREP (Australia Ship Reporting System) trước đây. Sau khi hệ thống nhận dạng từ xa LRIT ra đời, nước Úc đã nhanh chóng thay thế hệ thống báo cáo AUSREP cũ thủ công (sử dụng Telex) bằng hệ thống

     

    86                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    giám sát và báo cáo hiện đại tự động MASTREP.MASTREP được điều hành bởi cơ quan an toàn hàng hải Úc AMSA (Australian Maritime Safety Agency) dưới sự đặt hàng của Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn Úc (Maritime Rescue Coodinate Center Australia) – RCC Australia. RCC Australia trực canh 24/7 với những nhân viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng hải và cả hàng không.

     

    Vùng bao phủ của hệ thống MASTREP rất rộng, từ điểm cực Tây (06-00S; 075-00E) đến điểm cực Đông (17-40S; 163-00E) xuôi xuống tận Nam bán cầu bao quanh nước Úc [3].

     

    Tất cả các tàu theo quy định nói trên phải gửi báo cáo vị trí bằng hệ thống AIS phù hợp với quy định của Công ước SOLAS chương V, điều 19.2.4. Nội dung của báo cáo vị trí phải bao gồm các thông tin sau: (1): Số nhận dạng; (2): Loại tàu; (3): Vị trí; (40: Hướng; (5): Tốc độ tàu;(6): Trạng thái Hàng hải; (7) Các thông tin an toàn hàng hải có liên quan.Vị trí tàu được cập nhật từ 5 phút đến 5 giờ tùy thuộc vào vị trí của tàu. Việc thu nhận các báo cáo vị trí được tiến hành tự động thông qua các trạm bờ hoặc hệ thống vệ

    Hình 1. Giới hạn của MASTREP                 tinh. Với hệ thống MASTREP này, nước Úc có thể giám sát, theo dõi tất cả các

    tàu ra vào vùng biển của họ, giảm thiểu việc xâm nhập trái phép, đánh bắt trộm thủy hải sản.

     

    Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống MASTREP là chỉ thực sự có tác dụng đối với các tàu có trang bị hệ thống AIS và LRIT mà không kiểm soát được các tàu thuyền nhỏ chở người nhập cư bất hợp pháp, buôn lậu ma túy, đánh bắt thủy hải sản trái phép vì loại tàu thuyền này thường không trang bị hai thiết bị nói trên hoặc cố tình tắt chúng đi khi chuẩn bị đi vào vùng biển có sự kiểm soát bởi MASTREP. Để khắc phục nhược điểm này, Úc đã thuê vệ tinh giám sát của Thụy Điển với hai vệ tinh địa tĩnh, bao phủ một vùng rộng lớn bao trùm toàn bộ nước Úc và vùng biển xung quanh. Vệ tinh giám sát kết hợp với hệ thống MASTREP, lực lượng hải quân Hoàng gia và các máy bay tuần thám đã phát huy hiệu quả trong việc chống lại các hiểm họa đe dọa an ninh trên toàn bộ vùng biển của mình.

     

    3.2. Các biện pháp kiểm soát an ninh tại các cảng biển của Úc

     

    Yêu cầu thị thực đối với thuyền viên người nước ngoài: Kể từ khi Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code) có hiệu lực, Chính phủ Úc đã tiến hành quản lý, giám sát thuyền viên người nước ngoài nhập cảnh bằng đường biển vào Úc bằng hình thức yêu cầu thị thực đối với tất cả các thuyền viên người nước ngoài (Crew Visa). Thị thực này được cấp bởi Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Úc tại nước sở tại. Bằng hình thức này họ đã loại trừ bớt được những phần tử có nguy cơ hoặc liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy,…

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng bản “danh sách thuyền viên, hành khách”: Theo Bộ luật Hải quan năm 2015, tất cả các tàu nước ngoài trước khi vào Úc đều phải gửi trước bản “Danh sách thuyền viên” theo mẫu 3B, “Danh sách hành khách” theo mẫu 2B cho cơ quan Di trú và Biên phòng Úc thông qua Đại lý của tàu. Cơ quan Di trú và Biên phòng sẽ dựa vào bản danh sách này để đối chiếu với những thông tin mà họ có được trong hệ thống máy tính nhằm phát hiện và loại trừ những thuyền viên, hành khách có liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy, các phần tử bị truy nã quốc tế.

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và biên phòng bản “Báo cáo trước khi tàu đến”: Cũng như Bản danh sách thuyền viên, các tàu cũng phải gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng của Úc bản “Báo cáo trước khi tàu đến” (Pre-arival Report) theo mẫu 13 (FORM 13). Báo cáo trước khi tàu đến bao gồm 3 phần:

     

    • Phần một là các thông tin riêng của tàu như tên, số hiệu, số IMO, trọng tải, tên chủ tàu, tên người khai thác, người thuê tàu, số lượng thuyền viên, hành khách. Trường hợp trên tàu có người trốn theo tàu hay có vũ khí nóng thì phải có tờ khai riêng.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     87

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Phần hai là báo cáo về an ninh của tàu bao gồm: Số của giấy chứng nhận an ninh tàu (ISSC), cơ quan cấp giấy chứng nhận, thời hạn có hiệu lực, cấp độ an ninh hiện tại tàu đang áp dụng, tên của mười cảng ghé mới nhất, ngày rời các cảng đó, cấp độ an ninh tại các cảng đó, các biện pháp an ninh đặc biệt hoặc biện pháp an ninh tăng cường đã áp dụng tại các cảng nói trên, tàu có hoạt động cặp mạn tàu khác trong số các cảng nói trên hay không (nếu có thì phải khai báo chi tiết) và cuối cùng là danh sách bốn cảng ghé sắp tới.
    • Phần ba là báo cáo về các giấy chứng nhận của tàu: trong đó yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thời hạn có hiệu lực của các giấy chứng nhận như: GCN bảo hiểm P&I, GCN an toàn kết cấu, GCN an toàn vô tuyến điện, GCN an toàn trang thiết bị, GNC chống ô nhiễm dầu quốc tế, GCN về Công ước quốc tế về dấu chuyên chở. Ngoài ra, tàu bắt buộc phải có hai GCN của Úc là biên lai thuế đường biển (Marine Navigation Levy) và biên lai thuế bảo vệ môi trường biển (Protection of the Sea Levy), nếu tàu chưa có đại lý sẽ phải thay mặt chủ tàu mua với chi phí khoảng 25.000AUD cho loại tàu Cape Size và thời hạn của hai GCN này chỉ là ba tháng. Bằng việc áp dụng thuế đường biển và thuế môi trường, Úc đã tạo được một nguồn kinh phí rất lớn để có thể cung cấp tài chính cho các hoạt động bảo đảm an ninh hàng hải, xử lý tai tạn hàng hải, bảo vệ môi trường biển.

    Với các thông tin về thuyền viên, hành khách, danh sách các cảng ghé, cơ quan Di trú và Biên phòng Úc sẽ xử lý các thông tin trên và sẽ áp dụng các biện pháp an ninh phù hợp. Ví dụ trong số mười cảng tàu ghé gần nhất có tên một cảng thuộc khu vực có nguy cơ buôn lậu ma túy cao như Colombia, Chile, Uruguay,… cơ quan Hải quan Úc có thể sẽ tiến hành soát xét tàu với các nghiệp vụ đặc biệt như mang theo chó nghiệp vụ, kiểm tra các két, cho thợ lặn kiểm tra đáy tàu đề phòng việc giấu ma túy dưới đáy tàu.

     

    Hải quan lên tàu kiểm tra trực tiếp (Face to Face): Để phòng ngừa việc giả mạo giấy tờ hộ chiếu, cơ quan Hải quan sẽ lên tàu kiểm tra từng thuyền viên và so sánh với ảnh trong hộ chiếu, bằng hành động này họ đã loại trừ được việc giả mạo giấy tờ của các đối tượng thuộc tổ chức tội phạm, ma túy, khủng bố trà trộn xâm nhập trái phép vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu nộp bản khai tài sản cá nhân, đồ dự trữ của tàu, danh mục thuốc tân dược, bia, rượu, thuốc lá,… Bằng cách yêu cầu đối với thuyền viên nộp các bản kê khai này, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra, đánh giá nguy cơ xảy ra việc buôn lậu bằng đường biển và sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết như niêm phong đồ dự trữ, bia, rượu, thuốc lá. Một thuyền viên có tài sản cá nhân, tiền mặt quá lớn so với thu nhập bằng lương sẽ bị nghi ngờ và bị kiểm tra, soát xét kỹ lưỡng để loại trừ các hiểm họa như buôn lậu trong đó có buôn lậu ma túy bằng đường biển.

     

    Yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về người thân của thuyền viên tại Úc: Do hiện tượng bỏ trốn của thuyền viên tại Úc vẫn xảy ra, cơ quan Hải quan thông qua Đại lý yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về mối quan hệ của thuyền viên với người thân của họ tại Úc, qua đó có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết như không cho phép thuyền viên đó đi bờ, cử người đi kèm giám sát.

     

    Sử dụng Camera giám sát: Tại các Cầu cảng, để giám sát hoạt động của tàu và chống buôn lậu, phá hoại, bỏ trốn thì ngoài hệ thống bảo vệ tại cổng cảng, họ còn gắn các Camera giám sát tại các cầu tàu 24/7.

     

    Không cho phép thuyền viên đi bộ trong khu vực Cảng: Để đảm bảo an ninh bến cảng, khi tàu vào cảng, Sỹ quan an ninh bến cảng sẽ trực tiếp hoặc thông qua đại lý thông báo đến Thuyền trưởng về việc thuyền viên không đuọc phép đi bộ, đi xe đạp trong khu vực cảng vì lý do an ninh, thuyền viên vi phạm sẽ bị phạt rất nặng, thậm chí trục xuất khỏi Úc và cấm vĩnh viễn không được nhập cảnh vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu thực hiện nghiêm túc các biện pháp an ninh theo Bộ luật ISPS: Trước khi tàu đến cảng, chính quyền cảng sẽ trực tiếp thông báo hoặc thông qua Đại lý thông báo cho tàu về cấp độ an ninh áp dụng tại cảng, qua đó tàu sẽ phải áp dụng các biện pháp an ninh thích hợp như kiếm soát người lên xuống, niêm phong hoặc khóa chống tiếp cận các khu vực hạn chế,… Việc thực thi các biện pháp an ninh phù hợp với cấp độ an ninh được kiểm tra, đánh giá bằng việc kiểm tra hành chính của cơ quan an toàn hàng hải Úc (AMSA) mà không được thông báo trước.

     

    3.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Về hệ thống pháp luật

     

    Úc ban hành Bộ luật về An ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm nội luật hóa và thi hành Bộ luật ISPS code. Dưới Bộ luật an ninh hàng hải Úc là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết về tổ chức, quản lý, đào tạo, huấn luyện và chế độ chính sách đối với lực lượng an ninh.

     

    88                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Trong khi đó ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mỏng, chưa xây dựng được Bộ luật hay Nghị định về An ninh hàng hải. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam còn thiếu những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng an ninh cảng; quy chế phối hợp hành động giữa các cơ quan quản lý an ninh hàng hải cũng như chế tài xử lý các hành vi vi phạm về an ninh hàng hải. Công tác triển khai các quy định pháp luật về an ninh hàng hải còn nhiều bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Ngoài ra cũng chưa có chính sách thu phí bảo đảm an ninh tại cảng biển nên không có nguồn kinh phí để đầu tư phương tiện, thiết bị cũng như tổ chức, huấn luyện nghiệp vụ cho lực lượng an ninh cảng biển

     

    Về tổ chức, quản lý an ninh hàng hải

     

    Đứng đầu cơ quan quản lý an ninh hàng hải của Úc là Cục an ninh, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Úc. Cục an ninh sẽ trực tiếp hướng dẫn cấp độ an ninh cho từng khu vực cảng biển, tổ chức các cuộc diễn tập cấp quốc gia, đồng thời hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch, kịch bản diễn tập an ninh cho các khu vực cảng biển.

     

    Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, công tác quản lý an ninh hàng hải được giao cho 2 Cục thuộc Bộ Giao thông Vận tải là Cục Hàng hải Việt Nam (có trách nhiệm đánh giá an ninh cảng biển, xây dựng kế hoạch an ninh cảng biển cho các nhân viên an ninh cảng biển) và Cục Đăng kiểm Việt Nam (được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo và cấp Giấy chứng nhận Sỹ quan an ninh tàu biển và nhân viên an ninh công ty).

     

    Mô hình quản lý hiện tại của Việt Nam thể hiện nhiều bất cập như:

     

    • Việc kiểm tra duy trì hệ thống an ninh tàu biển và thử hoạt động của hệ thống thiết bị an ninh trên tàu biển do Trung tâm Thông tin An ninh Hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện; Khi gặp sự cố khủng bố đối với tàu biển, Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm giải quyết với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn Cục Đăng kiểm Việt Nam chỉ làm dịch vụ đào tạo, cấp chứng chỉ chứ không chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả đối với an ninh của tàu biển ở nước ngoài.
    • Không thống nhất được giáo trình giảng dạy cho các đối tượng;
    • Lãng phí nguồn nhân lực đào tạo vì lực lượng giáo viên phân bố ở cả 02 Cục;
    • Khó khăn cho việc xây dựng quy hoạch bảo đảm an ninh hàng hải.

    Về quản lý an ninh cảng biển

     

    Tại Úc, Trung tâm an ninh cảng biển là cơ quan chuyên trách quản lý an ninh cảng biển, có trách nhiệm tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các cảng lập kịch bản và triển khai diễn tập theo kế hoạch của từng bến cảng và diễn tập chung toàn cảng, kinh phí diễn tập do các doanh nghiệp thành viên đóng góp. Trung tâm an ninh cảng được trang bị hệ thống camera an ninh (CCTV) theo dõi toàn bộ cảng biển. Hệ thống này được kết nối với hệ thống VTS kiểm soát hàng hải của Cảng vụ hàng hải, qua đó hỗ trợ nhau trong việc kiểm soát hoạt động của tàu thuyền ra vào cảng, hoạt động xếp dỡ hàng hóa và tình hình an ninh từng khu vực hạn chế.

     

    Trong khi đó, ở Việt Nam, quản lý an ninh hàng hải tại các cầu bến cảng trong khu vực đều do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng đó xây dựng và thực hiện. Do vậy, có sự manh mún, lỏng lẻo về mô hình tổ chức và quản lý an ninh, nhất là tại các cảng quy mô nhỏ, thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm, có chuyên môn liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải, thiếu trang thiết bị, hạn chế về kinh phí khi triển khai thực hiện trong thực tế.

     

    Về đào tạo nguồn nhân lực an ninh hàng hải

     

    Tại Úc, ở mỗi cảng biển có lực lượng an ninh cảng với các nhân viên an ninh chuyên trách, hoạt động theo hình thức bán quân sự, được đào tạo về nghiệp vụ an ninh và được hưởng chế độ như Công an, Biên phòng của Úc. Lực lượng này được trang bị ca nô cao tốc, ô tô và các phương tiện, công cụ hỗ trợ phục vụ hoạt động kiểm soát an ninh cổng ra vào, các bến cảng và các khu vực hạn chế. Việc huấn luyện cho các cá nhân thực hiện nhiệm vụ an ninh cảng biển do tổ chức cảng và cơ quan quản lý an ninh hàng hải phối hợp tổ chức. Chương trình huấn luyện được lấy từ chương trình chuẩn của IMO cho Sỹ quan an ninh cảng biển. Giấy chứng nhận sẽ được cấp cho các thành viên hoàn thành khóa học. Diễn tập an ninh được thực hiện ở cấp quốc gia và các khu vực cảng biển cấp khu vực.

     

    Trong khi đó, Việt Nam hiện nay, việc đào tạo các sỹ quan an ninh cảng biển do các Trường Cao đẳng Hàng hải I và Trường Cao đẳng nghề TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện và còn nặng về mặt lý thuyết. Việc phối hợp với Cục A67 – Bộ Công an, và các cơ quan liên quan trong công tác huấn luyện nghiệp vụ bảo đảm an ninh hàng hải cho cán bộ an ninh cảng chưa được triển khai thực hiện. Công tác tổ chức diễn tập tình huống an ninh tại cảng hiện nay chủ

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     89

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    yếu là tập trung vào công tác phòng cháy chữa cháy và do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng tổ chức thực hiện; việc diễn tập các tình huống an ninh khác chưa được triển khai.

     

    Về đầu tư tài chính cho hoạt động bảo đảm an ninh

     

    • Úc, đầu tư cho công tác bảo đảm an ninh hàng hải của các cơ quan quản lý thuộc các Bộ, ngành do Nhà nước chịu trách nhiệm. Kinh phí bảo đảm an ninh cho cảng biển, tàu biển do các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm. Chi phí cho hoạt động an ninh được lấy từ nguồn thu phí bảo đảm an ninh hàng hải và đóng góp của các tổ chức cung cấp dịch vụ hàng hải.

    Trong khi đó ở Việt Nam, các đơn vị quản lý và khai thác cảng gặp khó khăn cho đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật an ninh, bởi chi phí đầu tư rất lớn nhưng không trực tiếp không đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, các đơn vị này chỉ đầu tư, mua sắm, trang bị những thiết bị kỹ thuật an ninh đơn giản, chi phí thấp. Đối với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật an ninh cao như hệ thống camera quan sát, hệ thống kiểm tra kiểm soát, nhận dạng người ra vào cổng cảng bằng thẻ từ, thiết bị soi chiếu, ca-nô tuần tra ở vùng nước đều không được trang bị. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách về tài chính của Việt Nam cho hoạt động đảm bảo an ninh còn rất thiếu, chưa rõ ràng, gây khó khăn và lúng túng trong quá trình thực hiện. Nhiều chương trình, hoạt động theo kế hoạch để đảm bảo an ninh không được triển khai thực hiện được trong thực tế vì không có nguồn kinh phí và không được hổ trợ về mặt cơ chế, chính sách. Chế độ lương của các cán bộ an ninh chưa có thang bậc riêng. Tại các doanh nghiệp cảng biển, bậc lương của cán bộ an ninh được áp dụng theo bậc lương bảo vệ, chưa phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cán bộ quản lý an ninh trong khu vực cảng biển.

     

    4. Kết luận

     

    Bảo đảm an ninh hàng hải là một phần không thể tách rời trong kinh tế và xã hội của Úc bởi ngành hàng hải hỗ trợ cả du lịch, thương mại và kết nối Úc với phần còn lại của thế giới. Úc có cách tiếp cận toàn diện dựa trên nguyên tắc “an ninh sâu”, có nghĩa là thiết lập nhiều lớp bảo mật nhằm giảm thiểu cơ hội tấn công của các hiểm họa đe dọa an ninh. Chính phủ Úc quy định về bảo đảm an ninh hàng hải Úc thông qua Đạo luật về an ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 (MTOFSA) và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm đáp ứng các nghĩa vụ trong Chương XI-2 của Công ước Quốc tế về An toàn sinh mạng người trên biển năm 1974 (SOLAS) và Bộ luật quốc tế về An ninh tàu và bến cảng năm 2003 (ISPS). Thực thi hiệu quả các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia, trong đó có Việt nam trong việc bảo đảm an ninh trước các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • GAMSA, “Guide to Australian Maritime Security Arrangements”, Australian Border Protection Command, 2013.
    • Anthony Bergin, “Future unknown: The terrorist threat to Australian maritime security”, University of Wollongong Australia, 2015.
    • Australian Maritime Safety Authority, “MASTREP and Australian Mandatory Reporting”, 2016 https://www.amsa.gov.au/safety-navigation/navigation-systems/modernised-australian-ship-tracking-and-reporting-system.

    Ngày nhận bài:

    26/02/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    06/04/2018

     

     

    90                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-C%C3%81CH-TI%E1%BA%BEP-C%E1%BA%ACN-TRONG-GI%E1%BA%A2I-QUY%E1%BA%BET-B%C3%80I-TO%C3%81N-T%E1%BB%B0-%C4%90%E1%BB%98NG-H%C3%93A-SINH-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-KI%E1%BB%82M-TH%E1%BB%AC-PH%E1%BA%A6N-M%E1%BB%80M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

     

    AN APPROACH TO AUTOMATED TEST DATA GENERATION

     

    PHẠM ĐỨC TOÀN1, PHAN NGUYÊN HẢI2, PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH3

    • Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHHH Việt Nam 2 Học viện Kỹ thuật Quân sự

    3 Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

    Tóm tắt

     

    Bài báo nghiên cứu lĩnh vực tự động hóa quy trình phát triển phần mềm, bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động, hướng giải quyết cùng các khó khăn. Đề xuất cách tiếp cận biểu diễn thuật toán dựa trên khái niệm đồ thị, ứng dụng vào giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Từ khóa: Tự động hóa phát triển phần mềm, sinh dữ liệu kiểm thử, biểu diễn thuật toán. Abstract

     

    In this paper, the automated software development issue and test data generation problem are presented with solutions and challenges. Approach to represent algorithms based on graph concepts is proposed and applied to solving the problem of automated test data generation.

     

    Keywords: Automated software development, test data generation, expressing algorithms.

     

    1. Bài toán tự động hóa phát triển phần mềm và tự động hóa kiểm thử phần mềm

     

    Quy trình phát triển phần mềm thông thường gồm các giai đoạn: Xác định yêu cầu, thiết kế, lập trình, kiểm thử, tích hợp triển khai. Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể mà các giai đoạn này có thể tuần tự hoặc lặp lại.

     

    Hiện nay trong lĩnh vực tự động hóa phát triển phần mềm, các bài toán đang được quan tâm là sinh mã nguồn tự động và sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Với bài toán sinh mã nguồn tự động, đầu vào là bản thiết kế, đầu ra là biểu diễn của bản thiết kế bằng cú pháp của một ngôn ngữ lập trình nào đó (nói cách khác là mã nguồn).

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử (test data generation), đầu vào là các bản đặc tả (yêu cầu, thiết kế), mã nguồn, đầu ra là dữ liệu đầu vào của phần mềm mà cần kiểm thử tại đó. Khi có đầu vào cần kiểm thử, thì có thể xác định đầu ra chuẩn của phần mềm tại đầu vào đó theo mô tả của phần mềm (test oracle), cặp giá trị đầu vào và đầu ra chuẩn hình thành lên một trường hợp kiểm thử (testcase) để người kiểm thử (tester) thực hiện kiểm thử. Việc kiểm thử thông thường có nhiều cấp độ, như Unit Testing để kiểm thử các đơn vị mã nguồn, Integration Testting để kiểm thử việc tích hợp các đơn vị mã nguồn, System Testing và Acceptance Testing để kiểm thử toàn bộ hệ thống phần mềm (Hình 1). Việc sinh dữ liệu tự động thường áp dụng cho mức Unit Testing và cách tiếp cận truyền thống trong bài toán sinh dữ liệu kiểm thử hiện nay là dựa vào mã nguồn (kiểm thử hộp trắng – whitebox testing). Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả tập trung vào bài toán tự động hóa sinh dữ liệu kiểm thử ở mức Unit Testing.

     

    Acceptance Testing (Kiểm thử chấp nhận)

     

    System Testing (Kiểm thử hệ thống)

     

    Integration Testing (Kiểm thử tích hợp)

     

    Unit Testing (Kiểm thử đơn vị)

     

    Hình 1. Các mức độ kiểm thử

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử với phương pháp hộp trắng, cách thực hiện có thể gồm các bước chính như sau [1]:

     

    • Xây dựng đồ thị chu trình từ mã nguồn (control flow graph – CFG), mỗi đỉnh của đồ thị là một dòng mã thực hiện việc tính toán hoặc xử lý điều kiện;
    • Từ đồ thị xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc chương trình;

    64                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Với mỗi đường đi, xác định các điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo đường đi đó. Chọn một đại diện thỏa mãn điều kiện.

    Với phương pháp này, chương trình có bao nhiêu đường thực thi thì có thể có bấy nhiêu testcase. Tuy nhiên, nếu chương trình có rẽ nhánh, vòng lặp thì số lượng đường thực thi có thể rất lớn. Trong trường hợp này, có thể chỉ cần tìm các đường cơ sở và từ các đường cơ sở đó xác định các dữ liệu kiểm thử.

     

    Trong ba bước nêu trên, thì việc xây dựng đồ thị CFG từ mã nguồn và việc xác định các đường đi trên đồ thị là hoàn toàn có thể thực hiện tự động bằng lập chương trình. Tuy nhiên bước xác định điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo một đường nhất định là một bài toán rất khó. Đây thực chất chính là bài toán giải quyết thỏa mãn ràng buộc (Constraint satisfaction problems – CSPs) [2, 3, 4]. Bài toán CSP được đặc trưng bởi bộ ba (X, D, C), với:

     

    X = {X1, X2, …, Xn} là tập hợp các biến;

     

    D = {D1, D2, …, Dn} tương  ứng là các tập hợp miền giá trị của các biến X;

     

    C = {C1, C2, …, Cm} là tập hợp các ràng buộc. Ci là các hàm của X, thường có dạng bất phương trình.

     

    Bài toán đòi hỏi cần tìm các giá trị của X trong miền D để thỏa mãn các ràng buộc C. Đây là bài toán thuộc lớp NP-đầy đủ (NP-complete), bài toán này không có lời giải trong trường hợp chung. Để giải quyết bài toán này phục vụ cho mục đích sinh dữ liệu kiểm thử tự động, đã có một cộng đồng nghiên cứu đông đảo với rất nhiều đề xuất tiếp cận như quay lui (backtracking), lan truyền ràng buộc (contraint propagation), tìm kiếm cục bộ (local search), giải thuật di truyền, tiến hóa [5, 6],…

    Tuy nhiên các đề xuất chỉ thích hợp cho một lớp bài toán nhất định, kết quả sinh dữ liệu kiểm thử phụ thuộc vào rất nhiều tham số, thời gian chạy lâu, và thường không có sự bảo đảm về mặt toán học. Nguyên nhân chung có thể kết luận là do quá ít thông tin thu được từ mã nguồn chương trình khi xây dựng đồ thị CFG cùng các ràng buộc, dẫn đến quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán CSP gặp khó khăn. Xuất phát từ thực tế này, trong bài báo đề xuất một cách tiếp cận cho việc sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn.

     

    Để tiếp tục, trước hết chúng ta xem xét giai đoạn thiết kế phần mềm trong quy trình phát triển phần mềm. Giai đoạn thiết kế phần mềm gồm các bước được mô tả trên Hình 2 [7].

     

     

    Hình 2. Các bước của giai thoạn thiết kế phần mềm

     

    Trong sơ đồ trên Hình 2, hoạt động thiết kế cốt lõi chính là thiết kế thuật toán (algorithm design). Trong phương pháp thiết kế hướng cấu trúc, thiết kế thuật toán thể hiện qua việc thiết kế thuật toán cho các hàm (chức năng) cơ sở. Trong phương pháp hướng đối tượng, thiết kế thuật toán thể hiện qua thiết kế thuật toán cho các phương thức của các lớp.

     

    Bài toán sinh mã nguồn tự động có thể quy về sinh mã nguồn tự động từ thuật toán, từ đó có thể suy ra bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động cũng có thể quy về các bài toán sinh mã nguồn tự động từ thuật toán (thực chất, mã nguồn chương trình chính là việc biểu diễn thuật toán bằng cú pháp một ngôn ngữ lập trình nào đó). Vấn đề tiếp theo cần quan tâm đến, đó là xem xét việc biểu diễn thuật toán trong bản thiết kế.

     

    2. Vấn đề biểu diễn thuật toán

     

    Trong lý thuyết thuật toán, thuật toán có thể biểu diễn bằng các cách truyền thống là ngôn ngữ tự nhiên, sơ đồ khối, giả mã (pseudo code),… Với các cách biểu diễn này thì chỉ có con người

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     65

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    mới hiểu được thuật toán, và việc xây dựng chương trình, xác định dữ liệu kiểm thử cũng phải do con người thực hiện. Nói một cách khác là với các cách biểu diễn thuật toán truyền thống thì việc tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử bằng máy tính là không thể thực hiện được. Để tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử cần phải biểu diễn thuật toán theo các cách mới để máy tính có thể hiểu được.

     

    Hiện nay, một trong những cách tiếp cận trong biểu diễn thiết kế là dùng ngôn ngữ XML [8]. Để có thể đưa bản thiết kế (thuật toán) vào máy tính, bản thiết kế được chuyển từ dạng biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng XML, với biểu diễn XML thì có thể xây dựng được các phương pháp sinh mã nguồn và sinh dữ liệu kiểm thử tự động. Tuy nhiên, XML là ngôn ngữ quá mạnh mẽ, quá đa dạng nên việc đưa ra những bộ quy tắc chung trong việc chuyển đổi từ cách biểu diễn truyền thống sang XML cũng chưa có sự thống nhất.

     

    Trong bài báo này, các tác giả đề xuất sử dụng khái niệm đồ thị để biểu diễn thuật toán. Việc biểu diễn thuật toán bằng đồ thị là hoàn toàn khả thi, thực chất sơ đồ khối cũng có thể coi là dạng biểu diễn trực quan của đồ thị. Ngoài ra, với đồ thị đã có rất nhiều lý thuyết đã được xây dựng về việc biểu diễn, lưu trữ và xử lý trên máy tính, nên hoàn toàn có hy vọng về khả năng trích rút các thông tin cần thiết từ thuật toán để phục vụ cho bài toán sinh tự động mã nguồn hay dữ liệu kiểm thử từ thuật toán.

     

    • tưởng biểu diễn thuật toán bằng đồ thị không phải là mới. Tuy nhiên, cũng giống như XML, chuyển đổi từ biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng đồ thị cũng có nhiều cách khác nhau.

    3.           Cách tiếp cận dựa trên đồ thị

     

    Trong phạm vi bài báo, chúng ta sẽ xem xét bài toán sinh dữ liệu kiểm thử bằng biểu diễn đồ thị của thuật toán. Với lý thuyết kiểm thử cơ bản thì cũng phải cần đến biểu diễn chương trình bằng đồ thị CFG, đồ thị CFG thực chất chính là biểu diễn của thuật toán. Vì vậy, việc dùng đồ thị thuật toán để sinh dữ liệu kiểm thử là hoàn toàn khả thi, ngoài ra khi biểu diễn thuật toán bằng đồ thị trong giai đoạn thiết kế thì chúng ta sẽ nhận được nhiều thông tin hơn cho việc sinh dữ liệu kiểm thử.

     

    Việc xây dựng đồ thị thuật toán do người thiết kế thực hiện, có thể tiến hành theo hai bước, bước một là xây dựng sơ đồ khối thuật toán, bước hai là chuyển sơ đồ khối về dạng biểu diễn đồ thị. Về cấu trúc tổng quát, thuật toán có thể biểu diễn bằng đồ thị có hướng G, mỗi đỉnh của đồ thị có thể là một phép toán hoặc một khối rẽ nhánh. Với các đỉnh phép toán, khi đi qua đỉnh này, có thể coi dữ liệu đầu vào được đưa qua một hàm biến đổi nào đó. Với các đỉnh rẽ nhánh, khi đi qua, dữ liệu đầu vào không bị biến đổi, nhưng được kiểm tra bằng một hàm mệnh đề nào đó. Tùy thuộc vào hàm mệnh đề mà có thể rẽ nhánh nọ hoặc nhánh kia. Và khi xác định thuật toán, đi kèm với mỗi đỉnh là thông tin về dữ liệu vào ra tại đỉnh đó, thông tin về phép toán, về biểu thức điều kiện tại các khối rẽ nhánh. Những thông tin này người thiết kế hoàn toàn có thể cung cấp. Một số ví dụ về các thông tin:

     

    • Miền dữ liệu vào/ra tại các đỉnh;
    • Phân loại hàm xử lý, hàm mệnh đề (liên tục, rời rạc, tuyến tính, phi tuyến, biến nào là chính, biến nào là phụ thuộc;
    • Ví dụ về các giá trị thỏa mãn hàm mệnh đề tại các đỉnh;
    • Khả năng tuyến tính hóa, đơn giản hóa các hàm xử lý, hàm mệnh đề, hàm ngược của các hàm xử lý,…

    Những thông tin này, trong những trường hợp nào đó sẽ giúp việc giải quyết bài toán thỏa mãn ràng buộc trong sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn. Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận dựa trên đồ thị thuật toán này khác với cách tiếp cận truyền thống như sau:

    • Cách truyền thống: Thiết kế (thuật toán) à Mã nguồn à Đồ thị à Sinh dữ liệu kiểm thử
    • Cách đề xuất: Thiết kế (thuật toán) à Đồ thị + Thông tin à Sinh dữ liệu kiểm thử hoặc sinh mã nguồn.

    4.           Sinh dữ liệu kiểm thử tự động với biểu diễn dạng đồ thị của thuật toán

     

    Chúng ta vận dụng ý tưởng của phương pháp hộp trắng để xác định các dữ liệu kiểm thử. Khi thuật toán được biểu diễn bằng đồ thị thì việc tự động xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc là bài toán kinh điển trong lý thuyết đồ thị và đã được giải quyết trọn vẹn ngay cả trong trường hợp đồ thị có chu trình (vòng lặp). Nghĩa là việc tìm đường đi bằng chương trình máy tính là hoàn toàn khả thi.

     

    Tiếp theo với mỗi đường đi tìm được, cần tự động tìm dữ liệu đầu vào của thuật toán để thuật toán thực thi theo con đường đó. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét ví dụ một trường hợp, giả sử thông

     

    66                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    tin đi kèm tại các đỉnh đồ thị cho biết các hàm xử lý, hàm mệnh đề là các hàm tuyến tính và dữ liệu đầu vào của chương trình có dạng số. Ký hiệu:

    Các giá trị đầu vào của chương trình là X = {X1, X2, …, Xn} Rn;

    Đường đi tìm được trên đồ thị gồm các hàm xử lý X = Fi(X) và các hàm mệnh đề Gj(X)>0.

     

    Khi đó việc tìm điều kiện của đầu vào X để chương trình đi theo đường đi này trở thành việc giải hệ bất phương trình tuyến tính:

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . …                                                                                                   (1)

      (  ) >

    { … … … . …

    • đây thứ tự các hàm xử lý, hàm mệnh đề trong hệ bất phương trình trùng với thứ tự của các đỉnh tương ứng trên đường đi của đồ thị.

    Hệ bất phương trình có thể giải tự động được, thuật toán giải gồm các bước chính như sau:

     

    Bước 1. Chuyển hệ về dạng hệ phương trình (2):

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . … ,

      (  ) =

    { … … … . …

    ở đây aj là những số nào đó lớn hơn 0.

     

    Bước 2. Tìm hạng r của ma trận biểu diễn hệ phương trình (2).

     

    Bước 3. Cố định n-r biến (cho các giá trị cụ thể), giải hệ r phương trình để tìm r biến còn lại.

     

    Nghĩa là, trong trường hợp này chúng ta hoàn toàn có thể tự động xác định được dữ liệu đầu vào để chương trình thực thi theo con đường nào đó.

     

    Xét ví dụ sinh dữ liệu kiểm thử từ một thuật toán đơn giản, thuật toán tìm giá trị lớn nhất trong 3 số thực a, b, c. Thuật toán có thể như sau:

     

    Bước 1. Đặt max = a;

     

    Bước 2. So sánh max < b. Nếu đúng, gán max = b.

     

    Bước 3. So sánh max < c. Nếu đúng, gán max = c. Đưa ra max. Kết thúc.

     

    Đồ thị biểu diễn thuật toán có dạng như trên Hình

     

    1. Với đồ thị như trên Hình 3, có thể có các đường thực thi từ đỉnh bắt đầu ( Bắt đầu) đến đỉnh kết thúc (8. Kết thúc) như sau:

    Đường 1: 1 à 2 à 3 à 5 à 7 à 8

    Đường 2: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 7 à 8

    Đường 3: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 6 à 7 à 8

    Đường 4: 1 à 2 à 3 à 5 à 6 à 7 à 8

     

    (2)

     

    1. Bắt đầu
    1. max = a
     

    Đúng

    3. max<b

     

    4. max=b

    Sai

       
     

    Đúng

     

    5. max<c

     

    6. max=c

    Sai

       
    1. max
    1. Kết thúc

    Hình 3. Đồ thị thuật toán

     

     

    Chúng ta xem xét việc xác định đầu vào để chương trình thực thi theo đường 3. Với các đường khác việc xác định là tương tự.

     

    Thông tin trên đồ thị cho thấy các hàm xử lý và hàm mệnh đề tại các đỉnh là hàm tuyến tính, hệ bất phương trình đối với đường 3 như sau:

     

    max = a; max – b < 0; max = b; max – c < 0; max = c

    (3)

    Hệ này có thể chuyển thành hệ (4), bằng cách tính biến max lần lượt theo các biến đầu vào và thay các bất phương trình thành phương trình:

     

    a – b = -1; b – c = -2

    (4)

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     67

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Hạng của ma trận hệ (4) bằng 2, ta có thể cố định a = 2, suy ra b = 3, c = 5 và nhận được một dữ liệu đầu vào để kiểm thử là (2,3,5), với đầu vào này thì đầu ra chuẩn là 5, nghĩa là nhận được testcase ((2,3,5),5). Tương tự đối với những đường thực thi khác. Nghĩa là chúng ta đã xác định được dữ liệu kiểm thử một cách tự động hoàn toàn theo tiêu chí bao phủ tất cả các đường thực thi.

     

    5. Kết luận

     

    Với cách biểu diễn thuật toán bằng đồ thị ngay trong giai đoạn thiết kế, chúng ta có thể thu được nhiều thông tin hơn về đồ thị nhận được, từ đó có thể giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động một cách dễ dàng hơn. Hướng phát triển tiếp theo là xem xét việc giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử trong các trường hợp phức tạp và xem xét việc sinh mã nguồn tự động dựa trên đồ thị biểu diễn thuật toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arthur H. Watson and Thomas J. McCabe. “Structured Testing: A Testing Methodology Using the Cyclomatic Complexity Metric”. NIST Special Publication 500-235, 1996.
    • Dechter, Rina. Constraint processing. Morgan Kaufmann, 2003.
    • Apt, Krzysztof. Principles of constraint programming. Cambridge University Press, 2003.
    • Lecoutre, Christophe. Constraint Networks: Techniques and Algorithms. ISTE/Wiley, 2009.
    • Phil McMinn. Search-based Software Test Data Generation: A Survey. Software Testing Verification and Reliability, Wiley. 2004.
    • Chayanika Sharma, Sangeeta Sabharwal, Ritu Sibal. A Survey on Software Testing Techniques using Genetic Algorithm. IJCSI International Journal of Computer Science Issues, Vol. 10, Issue 1, No 1, January 2013.
    • Ian Sommerville. Software Engineering (9th Edition). Pearson Education, Addison-Wesley, 2010.
    • Anshul, Sompal, Vikas Sheoran. Automatic Code Generation Using Uml To Xml Schema Transformation. International Journal of Advancement in Engineering Technology, Management and Applied Science, Volume 1, Issue 2, 2014.

    Ngày nhận bài:

    19/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    05/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

    68                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-%C4%90%E1%BA%BEN-S%E1%BB%B0-H%C3%80I-L%C3%92NG-C%E1%BB%A6A-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-INTERNET-B%C4%82NG-TH%C3%94NG-R%E1%BB%98NG-FTTH-T%E1%BA%A0I-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

     

    Tôn Thất Viên*

     

    TÓM TẮT

     

    Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu về sự hài lòng của khách hàng, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ Internet băng thông rộng (FTTH) trên địa bàn TP. HCM. Trên cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, mô hình lý thuyết của nghiên cứu dựa trên thang đo Servqual của Parasuraman, Berry và Zeithaml (1988) và thang đo giá cả của Mayhew và Winer (1992) với các thành phần là phương tiện hữu hình, độ tin cậy, độ phản hồi, độ bảo đảm và sự cảm thông, cùng với thành phần giá cả. Thang đo các nhân tố của sự hài lòng đã được xây dựng với thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu thu thập được phân tích với phần mềm SPSS 22.0. Độ tin cậy của thang đo đã được kiểm định bởi hệ số Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố EFA. Từ những kết quả phân tích được, nghiên cứu đã có những kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ FTTH của các nhà cung cấp góp phần làm tăng sự hài lòng của khách hàng.

     

    Từ khóa: dịch vụ Internet, FTTH, phần mềm SPSS 22.0, Servqual của Parasuraman, Berry và Zeithaml (1988) và Mayhew và Winer (1992).

     

    ANALYZING FACTORS EFFECTING SATISFACTION OF CUSTOMERS ABOUT BROADBAND INTERNET IN HO CHI MINH CITY

     

    ABSTRACT

     

    With purpose about researching customer satisfaction, study proceeded to examine and analyze customer satisfaction to Broadband internet (FTTH) in Ho Chi Minh city. Based on theory of service quality and customer satisfaction, theoretical model of study based on Servqual scale of Parasuraman, Berry, and Zeithemal (1988) and Price scale of Mayhew and Winer (1992) that constituents are tangible equipment, reliable, responses, assurance, sympathy, and price elements. Scale of factors about customer satisfaction are built on Likert with 5 levels. Data collected is analyzed with SPSS 22.0 software. Scale reliable is verified by Cronbach’s alpha coefficient and EFA factor analyzing. From analyzed results, study provides critical feedback in order to improve and enhance broadband internet provider’s service quality that strengthen customer satisfaction.

     

    Keyword: internet service, FTTH, SPSS 22.0, software, Parasuraman’s Servqual, Berry and Zeithaml (1988), Mayhew and Winer (1992).

     

    * TS. GV. Trường Đại học Kinh tế-Kỹ thuật Bình Dương.

     

     

    42

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

     

    Trên thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay, có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ FTTH như: VNPT, FPT, Viettel…, dịch vụ này là mạng viễn thông băng thông rộng bằng cáp quang được nối đến tận nhà khách hàng để cung cấp các dịch vụ tốc độ cao như điện thoại, Internet tốc độ cao, IPTV, hội nghị truyền hình, video trực tuyến, giám sát từ xa qua camera….Trong xu hướng hiện nay, công

     

    nghệ viễn thông phát triển càng nhanh thì nhu cầu của khách hàng đòi hỏi các tiêu chí chất lượng dịch vụ ngày càng cao. Muốn đạt được mục tiêu thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ, giữ chân được khách hàng cũ và cạnh tranh được các đối thủ cùng ngành thì nhà cung cấp dịch vụ phải không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật. Từ khi dịch vụ FTTH được đưa vào khai thác đến nay, việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ này chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học.

     

    Việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH của các nhà cung cấp dịch vụ trở thành một nghiên cứu không thể

     

    thiếu. Qua kết quả nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ hiểu rõ hơn xu hướng, thái độ, hành vi của người tiêu dùng hiện nay trong việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Internet. Xuất phát từ lý do đó, tác giả mô phỏng cách thức ứng dụng lý thuyết hành vi để trả lời câu hỏi nghiên cứu: (i) Chất lượng dịch vụ được khách hàng đánh giá như thế nào? (ii) Điều gì khiến khách hàng hài lòng/không hài lòng với chất lượng dịch vụ? Và (iii) Lý do nào khiến khách hàng trung thành/rời bỏ dịch vụ? Tác giả kỳ vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, gợi mở hướng tiếp cận mới cho nhiều công trình tiếp theo. Đồng thời, các giải pháp được đề xuất sẽ có giá trị tham khảo trong việc ra quyết định thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ tại đơn vị nghiên cứu.

     

    1.2. Khung mô hình nghiên cứu

     

    Tác giả sẽ kết hợp các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng từ các nghiên cứu trước đây, cụ thể tác giả sẽ sử dụng 5 nhân tố của mô hình Parasuraman

     

    • ctg (1988) gồm: (1) Phương tiện hữu hình,

    (2) Sự phản hồi, (3) Sự cảm thông, (4) Sự tin cậy, (5) Sự bảo đảm. Bổ sung thêm yếu tố (6) Giá cả từ mô hình nghiên cứu của Mayhew & Winer (1992).

     

     

     

    Hình 1.1: Mô hình tác giả nghiên cứu đề xuất

     

     

    43

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    2.1. Mô hình hồi quy tuyến tính

    Tác giả tiến hành phân tích hồi quy giữa 6

     

    biến độc lập: X1: Phương tiện hữu hình, X2:

     

    Sự phản hồi, X3: Sự cảm thông, X4: Sự bảo

     

    đảm, X5: Sự tin cậy, X6: Giá cả và một biến

     

    phụ thuộc Y: Hài lòng đối với dịch vụ FTTH. Ta có phương trình hồi quy tuyến tính như

     

    sau:

     

    Y = βo+ β1X1+ β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + e

     

    Trong đó:

     

    • là giá trị của sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH;

     

    β1 X1: là hệ số và giá trị của nhân tố Phương tiện hữu hình;

     

    β2 X2: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự phản hồi;

     

    β3 X3: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự cảm thông;

     

    β4 X4: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự bảo đảm;

     

    β5 X5: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự tin cậy;

     

    β6 X6: là hệ số và giá trị của nhân tố Giá cả.

     

    Có 2 cách sử dụng nhân tố ở phân tích hồi quy, cách thứ nhất là sử dụng nhân số của nhân tố đã được chuẩn hóa và cách thứ

    hai sử dụng nhân số được tính bằng phương pháp trung bình cộng. Qua quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả nhận ra rằng sử dụng nhân số của nhân tố chuẩn hóa mặc dù cho kết quả hồi quy tốt hơn nhưng khi dò tìm hiện tượng đa cộng tuyến thì hệ số VIF luôn bằng 1 nên rất khó giải thích. Vì vậy tác giả sử dụng nhân số trung bình cộng để phân tích hồi quy.

     

    2.1.1. Xem xét ma trận tương quan

     

    Từ kết quả bảng ma trận hệ số tương quan (phụ lục 1), tác giả thấy rằng hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc “Sự hài lòng với dịch vụ FTTH” với biến độc lập “Sự phản hồi” là lớn nhất 0.586 và nhỏ nhất với biến độc lập “Giá cả” là 0.445. Như vậy, tất cả các nhân tố đều đủ điều kiện để đưa vào mô hình hồi quy. Tuy nhiên khi xem xét giữa các biến độc lập với nhau ta thấy có sự tương quan rõ ràng, đây là dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình.

     

    2.1.2. Xây dựng mô hình hồi quy tuyến

     

    tính

     

    Phương pháp thực hiện hồi quy mà tác giả sử dụng là phương pháp đưa vào lần lượt (Enter), đây là phương pháp mặc định trong chương trình. Giá trị của các biến độc lập được tính trung bình dựa trên các biến quan sát thành phần của các biến độc lập đó.

     

    Bảng 2.1. Bảng mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter) Model Summaryb

    Model

    R

    R Square

    Adjusted R

    Std. Error of the

    Durbin-Watson

     

    Square

    Estimate

             
                 

    1

    .859a

    .737

    .731

    .260

    1.803

     
                 
    1. Predictors: (Constant), TB Giá cả, TB Tin cậy, TB Phương tiện hữu hinh, TB Cảm thông, TB Phản hồi, TB Bảo đảm
    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    44

     

       

    Phân tích các yếu tố . . .

         
     

    Đánh giá sự phù hợp của mô hình: thông

    được 73.1% hay mô hình đã giải thích được

    qua các chỉ số của bảng 3.1, ta thấy mô hình

    73.1% sự biến thiên của biến phụ thuộc “Sự

    có R2  bằng 73.7% và R2 hiệu chỉnh bằng

    hài lòng với dịch vụ FTTH” và 26.9% còn lại

    73.1%, nghĩa là mô hình tuyến tính với 6 biến

    là do các biến khác ngoài mô hình mà đề tài

    độc lập đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu

    này không đề cập đến.

    Theo ý nghĩa của hệ số thống kê ta có:

     

    – Nếu R <0,3

    – Nếu R2 <0,1

     

    Tương quan ở mức thấp

    – Nếu 0,3

    ≤ R <0,5

    – Nếu 0,1

    ≤ R2

    <0,25

    Tương quan ở mức trung bình

    – Nếu 0,5

    ≤ R <0,7

    – Nếu 0,25 ≤ R2 <0,5

    Tương quan khá chặt chẽ

    – Nếu 0,7

    ≤ R <0,9

    – Nếu 0,5

    ≤ R2

    <0,8

    Tương quan chặt chẽ

    – Nếu 0,9

    ≤ R

    – Nếu 0,8

    ≤ R2

     

    Tương quan rất chặt chẽ

               

    Như vậy ta có thể kết luận mức độ phù hợp của mô hình tương đối cao. Tuy nhiên sự phù hợp này chỉ đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem mô hình có thể suy diễn cho

    tổng thể thực hay không ta phải kiểm định độ phù hợp của mô hình. Để kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội ta sử dụng giá trị F ở bảng 2.2.

     

    Bảng 2.2: Bảng phân tích ANOVA mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter)

     

    ANOVAa

     

     

    Model

    Sum of

    df

    Mean Square

    F

    Sig.

     

    Squares

               
                 
     

    Regression

    48.044

    6

    8.007

    118.396

    .000a

    1

               

    Residual

    17.111

    253

    .068

       
         
                 
     

    Total

    65.154

    259

         
                 
    1. Predictors: (Constant), TB Giá cả, TB Tin cậy, TB Phương tiện hữu hinh, TB Cảm thông, TB Phản hồi, TB Bảo đảm
    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    Dựa vào bảng 2.2, ta thấy trị thống kê F của mô hình có giá trị sig. là rất nhỏ so với mức ý nghĩa (sig. = 0.000 < 0.05). Vậy ta có thể kết luận mô hình phù hợp với tập dữ liệu và hoàn toàn có thể suy rộng ra cho toàn tổng thể.

     

    Thông qua kiểm định thống kê với các hệ số hồi quy ở bảng 2.3, tác giả sẽ kiểm tra giải thuyết và xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình.

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2.3: Các hệ số hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter)

     

    Coefficientsa

     

     

    Model

    Unstandardized

    Standardized

     

    Sig.

     

    Correlations

    Collinearity

     

    Coefficients

    Coefficients

       

    Statistics

     

    t

             
             

    Zero-

               
     

    B

    Std.

    Beta

     

    Partial

     

    Part

    Tolerance

    VIF

     
             
         

    order

       
       

    Error

           
                           
                             
     

    (Constant)

    -.165

    .151

     

    -1.097

    .274

               
     

    TB Phương

                         
     

    tiện hữu

    .168

    .027

    .222

    6.308

    .000

    .503

     

    .369

    .203

    .838

    1.194

     

    hình

                         
                             

    1

    TB Phản hồi

    .205

    .028

    .272

    7.408

    .000

    .586

     

    .422

    .239

    .773

    1.294

     

    TB Cảm

    .246

    .032

    .272

    7.736

    .000

    .544

     

    .437

    .249

    .837

    1.195

     

    thông

     
                           
                             
     

    TB Bảo đảm

    .116

    .022

    .193

    5.218

    .000

    .490

     

    .312

    .168

    .760

    1.316

                             
     

    TB Tin cậy

    .190

    .022

    .292

    8.568

    .000

    .507

     

    .474

    .276

    .891

    1.123

     

    TB Giá cả

    .109

    .023

    .170

    4.696

    .000

    .445

     

    .283

    .151

    .790

    1.266

    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    Để kiểm tra giả thuyết, từ kết quả thống kê của bảng 2.3, ta thấy giá trị sig. của các biến độc lập đều nhỏ hơn mức ý nghĩa 0.05, nghĩa là các biến độc lập tương quan cao, ảnh hưởng đến biến phụ thuộc tương đối cao. Các hệ số hồi quy beta chuẩn hoá đều có giá trị dương tức là chúng tác động cùng chiều đối với biến phụ thuộc. Như vậy mô hình hồi quy phù hợp với các giả thuyết ban đầu.

     

    Kết luận: Tác giả tiến hành chấp nhận các giả thuyết từ H1, H2, H3, H4, H5 và H6.

     

    Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng hệ số hồi quy chuẩn hoá (Standardized). Vì hệ số hồi quy chưa chuẩn hoá (B), giá trị của nó phụ thuộc vào thang đo cho nên chúng ta không thể dùng chúng để so sánh mức độ tác động của các biến độc lập vào biến phụ

     

    thuộc trong cùng một mô hình. Hệ số hồi quy chuẩn hoá Beta là hệ số chúng ta đã chuẩn hoá các biến, vì vậy chúng được dùng để so sánh mức độ tác động của các biến phụ thuộc vào biến độc lập. Biến độc lập nào có trọng số này càng lớn có nghĩa là biến đó có tác động mạnh vào biến biến phụ thuộc. Như vậy, phương trình hồi quy tuyến tính được thể hiện như sau:

     

    Y = 0.222*X1 + 0.272*X2+ 0.272*X3+ 0.193*X4 + 0.292*X5 + 0.170*X6 + e

     

    Hay:

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH = 0.222*Phương tiện hữu hình +

    0.272*Sự phản hồi + 0.272*Sự cảm thông + 0.193*Sự bảo đảm + 0.292*Sự tin cậy + 0.170*Giá cả + e

     

    46

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    2.1.3. Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính

     

     

     

    Biểu đồ 2.1: Biểu đồ phân tán Scatterplot

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.2: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hoá (Biểu đồ Histogram)

     

     

    Nhìn vào biểu đồ Histogram ta thấy phần dư có phân phối chuẩn với giá trị trung bình gần bằng 0 và độ lệch chuẩn của nó gần bằng 1 (SD = 0.988). Nhìn vào đồ thị

    P-P plot biểu diễn các điểm quan sát thực tế tập trung khá sát với đường chéo những giá trị kỳ vọng, có nghĩa là dữ liệu phần dư có phân phối chuẩn.

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Giả định về tính độc lập của của sai số (không có tương quan giữa các phần dư): ta sử dụng đại lượng thống kê Durbin-Watson (d), đại lượng d có giá trị biến thiên trong khoảng từ 0 đến 4 (Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc) thì ta có thể kết luận các phần dư là độc lập với nhau. Với 6 biến độc lập và số mẫu nghiên cứu lớn (n = 260 > 200), tác giả

    tra bảng thống kê Durbin –Watson thì dU = 1.735. Như vậy, nếu đại lượng d biến thiên trong khoảng (dU, 4 – dU) hay (1.735, 2.265) thì ta sẽ kết luận không có tương quan giữa các phần dư. Từ kết quả của bảng 3.1, ta có d = 1.803 rơi vào miền chấp nhận giả thuyết không có tự tương quan chuỗi bậc nhất hay không có tương quan giữa các phần dư.

     

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.3: Đồ thị P-P plot

     

     

    Kết luận: Mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng không vi phạm các giả thuyết trong hồi quy tuyến tính.

     

    2.2. Kiểm định sự khác biệt của đặc điểm cá nhân đến sự hài lòng

     

    2.2.1. Sự hài lòng chung đối với dịch vụ FTTH

     

    Với mô hình đã xây dựng, ta có, sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH tại TP. HCM sẽ gồm các nhân tố là phương tiện hữu hình, phản hồi, cảm thông, bảo đảm, tin cậy và giá

    cả. Do đó, giá trị sự hài lòng chung sẽ được tính bằng trung bình cộng của các giá trị của nhân tố này. Kết quả từ việc tính toán dữ liệu mẫu nghiên cứu ta có sự hài hòa chung đối với dịch vụ FTTH có giá trị trung bình là 3.72 ở mức hơn trung bình.

     

    Tuy nhiên giá trị này chỉ đại diện cho mẫu, ta cần phải kiểm định lên toàn bộ tổng thể. Để kiểm định giả thuyết này, chúng ta sử dụng phương pháp One – Simaple Test.

     

    48

     

               

    Phân tích các yếu tố . . .

                   
     

    Bảng 2.4: Kiểm định One – Simple Test đối với sự hài lòng

                       
         

    One-Sample Test

           
           

    Test Value = 3.72

           
               

    95% Confidence Interval of

           

    Mean

       

    the Difference

     

    t

    df

    Sig. (2-tailed)

    Difference

     

    Lower

     

    Upper

    Sự hài lòng với

    .058

    259

    .954

    .002

     

    -.06

     

    .06

     

    dịch vụ FTTH

         
                     

    Kết quả cho thấy ta không thể bác bỏ giả thuyết H0: Sự hài lòng chung đối với dịch vụ FTTH của tổng thể có giá trị là 3.72 trong thang đó Lirket năm mức độ. Nếu ta bác bỏ giả thuyết này thì xác suất mắc sai lầm lên đến 95.4%.

    2.2.2. Sự khác biệt của giới tính đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Để kiểm định có sự khác biệt giữa 2 nhóm giới tính với sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH, tác giả sử dụng kiểm định Independent – samples T-test.

     

    Bảng 2.5: Kiểm định trị trung bình giữa 2 nhóm giới tính

     

    Independent Samples Test

     

       

    Levene’s Test

                 
       

    for Equality

       

    t-test for Equality of Means

       
       

    of Variances

                 
     

    F

                     
                 

    95% Confidence

     
                     
       

    Sig.

    t

    df

    Sig.

    Mean

    Std. Error

    Interval of the

     
       

    (2-tailed)

    Difference

    Difference

    Difference

     
               
                         
                   

    Lower

    Upper

     

    Su hai

    Equal

                     

    long voi

    variances

                     

    dich vu

    assumed

    2.080

    .150

    .178

    258

    .859

    .011

    .062

    -.112

    .134

    FTTH

                       
                         
     

    Equal

                     
     

    variances

       

    .179

    255.563

    .858

    .011

    .062

    -.111

    .133

     

    not

       
     

    assumed

                     
                         

    Từ kết quả kiểm định trên, ta thấy giá trị Sig trong kiểm định Levene > 0.05 hay 0.150

     

    • 05, điều đó có nghĩa phương sai giữa 2 nhóm giới tính là không khác nhau, do đó tác giả sử dụng kết quả kiểm định t ở phần Equal variances assumed. Giá trị sig trong kiểm định t là 0.859 > 0.05. Điều này được kết luận

    với độ tin cậy 95%, thì ta sẽ không có sự khác biệt về sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH giữa nam và nữ.

     

    2.2.3. Sự khác biệt của độ tuổi đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Để kiểm định sự khác biệt của độ tuổi đến thái độ, tác giả tiến hành kiểm định Anova,

     

    49

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    trong đó Levene test được tiến hành trước để kiểm định phương sai của thái độ của từng nhóm tuổi có phân phối chuẩn hay không.

     

    Bảng 2.6a: Kiểm định Levene test – Tuổi

     

       

    Test of Homogeneity of Variances

       
       

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

           
       

    Levene

                   
       

    Statistic

    df1

     

    df2

     

    Sig.

       
       

    .682

    3

     

    256

     

    .564

         
       

    Bảng 2.6b: Phân tích ANOVA – Tuổi

       
         

    ANOVA

               
       

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

           
     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

     

    F

    Sig.

    Between Groups

    2.366

    3

     

    .789

       

    3.216

    .023

    Within Groups

    62.788

    256

     

    .245

           

    Total

    65.154

    259

                 

    Từ kết quả của bảng 2.6a, ta có Sig 0.564 > 0.05, tức là phương sai này có phân phối chuẩn, điều đó có nghĩa kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Kết quả phân tích ANOVA (bảng 2.6b) có Sig 0.023 < 0.05, nghĩa là có sự khác biệt giữa các độ

    tuổi, ta tiến hành phân tích sâu ANOVA. Do phương sai giữa các nhóm là không thay đổi nên ta tiến hành phân tích sâu ANOVA bằng phương pháp Bonferroni, đây là phương pháp thường được sử dụng để kiểm định mục tiêu này.

     

    Bảng 2.6c: Phân tích sâu ANOVA – Tuổi

     

    Multiple Comparisons

     

    Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Bonferroni

     

             

    95% Confidence

     
       

    Mean

       

    Interval

     
       

    Difference

    Std.

     

    Lower

    Upper

     

    (I) Tuổi

    (J) Tuổi

    (I-J)

    Error

    Sig.

    Bound

    Bound

     

    Dưới 20 tuổi

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .298*

    .102

    .023

    .03

    .57

     
     

    Từ 36 đến 45 tuổi

    .180

    .098

    .402

    -.08

    .44

     
     

    Trên 45 tuổi

    .114

    .113

    1.000

    -.19

    .41

     

    Từ 20 đến 35

    Dưới 20 tuổi

    -.298*

    .102

    .023

    -.57

    -.03

     

    tuổi

                 

    Từ 36 đến 45 tuổi

    -.118

    .074

    .675

    -.32

    .08

     
     
     

    Trên 45 tuổi

    -.184

    .094

    .302

    -.43

    .06

     

    Từ 36 đến 45

    Dưới 20 tuổi

    -.180

    .098

    .402

    -.44

    .08

     

    tuổi

                 

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .118

    .074

    .675

    -.08

    .32

     
     
     

    Trên 45 tuổi

    -.066

    .089

    1.000

    -.30

    .17

     

    50

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    Trên 45 tuổi

    Dưới 20 tuổi

    -.114

    .113

    1.000

    -.41

    .19

     

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .184

    .094

    .302

    -.06

    .43

     

    Từ 36 đến 45 tuổi

    .066

    .089

    1.000

    -.17

    .30

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

     

    Dựa vào kết quả của bảng 2.6c, ta có kết luận là có sự khác biệt giữa nhóm dưới 20 tuổi và từ 20 – 35 tuổi đối với sự hài lòng với dịch vụ FTTH.

     

    2.2.4. Sự khác biệt của thu nhập đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Cũng giống như các kiểm định ở trên,

     

    thành phần thu nhập vẫn sử dụng phương pháp phân tích ANOVA.

    Bảng 2.7a: Kiểm định Levene test – Thu nhập

     

    Test of Homogeneity of Variances

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Levene

         

    Statistic

    df1

    df2

    Sig.

    1.055

    3

    256

    .369

     

     

    Bảng 2.7b: Phân tích ANOVA – Thu nhập

     

    ANOVA

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

    F

    Sig.

    Between Groups

    2.296

    3

    .765

    3.116

    .027

    Within Groups

    62.859

    256

    .246

       

    Total

    65.154

    259

         

    Kiểm định Levene test có chỉ số Sig 0.369 > 0.05, chứng tỏ phương sai này có phân phối chuẩn, do đó kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Kết quả phân tích ANOVA sig = 0.0275 < 0.05, nghĩa là có sự khác biệt giữa các nhóm nên tác giả tiếp

    tục tiến hành phân tích sâu bằng phương pháp Bonferroni. Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm có thu nhập dưới 5 triệu/tháng so với nhóm có thu nhập từ 5 – dưới 10 triệu/tháng. Các nhóm còn lại không có sự khác biệt.

     

    Bảng 2.7c: Bảng phân tích sâu ANOVA – Thu Nhập

     

    Multiple Comparisons

     

    Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Bonferroni

     

             

    95% Confidence

     
       

    Mean

       

    Interval

     
       

    Difference

    Std.

     

    Lower

    Upper

     

    (I) Thu nhập

    (J) Thu nhập

    (I-J)

    Error

    Sig.

    Bound

    Bound

     

    Dưới 5 triệu

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .262*

    .097

    .043

    .01

    .52

     
     

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    .184

    .095

    .322

    -.07

    .44

     
     

    Trên 20 triệu

    .061

    .113

    1.000

    -.24

    .36

     

    Từ 5 đến dưới 10

    Dưới 5 triệu

    -.262*

    .097

    .043

    -.52

    .00

     

    triệu

                 

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    -.079

    .073

    1.000

    -.27

    .12

     
     
     

    Trên 20 triệu

    -.201

    .096

    .220

    -.46

    .05

     

    51

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Từ 10 đến dưới 20

    Dưới 5 triệu

    -.184

    .095

    .322

    -.44

    .07

     

    triệu

                 

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .079

    .073

    1.000

    -.12

    .27

     
     
                   
     

    Trên 20 triệu

    -.122

    .094

    1.000

    -.37

    .13

     
       
                   

    Trên 20 triệu

    Dưới 5 triệu

    -.061

    .113

    1.000

    -.36

    .24

     
                   
     

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .201

    .096

    .220

    -.05

    .46

     
                   
     

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    .122

    .094

    1.000

    -.13

    .37

     
                   

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

     

    2.2.5. Sự khác biệt của trình độ học vấn đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH

     

    Từ kết quả của bảng 3.8a, ta có chỉ số Sig đạt 0.06 > 0.05 tức là phương sai của các nhóm có phân phôi chuẩn, kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Bảng 2.8b phân tích ANOVA cho

     

    ta hệ số sig là 0.592 > 0.05 nghĩa là có không có sự khác biệt giữa các nhóm.

     

    Bảng 2.8a: Kiểm định Levene test – Học vấn

     

    Test of Homogeneity of Variances

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Levene

         

    Statistic

    df1

    df2

    Sig.

    2.846

    2

    257

    .060

     

     

    Bảng 2.8b: Phân tích ANOVA – Học vấn

     

    ANOVA

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

     

    Sum of

     

    Mean

       
     

    Squares

    df

    Square

    F

    Sig.

    Between Groups

    .266

    2

    .133

    .526

    .592

    Within Groups

    64.889

    257

    .252

       

    Total

    65.154

    259

         

    Bảng 2.9: Bảng tổng hợp kiểm định nhóm giả thuyết H7

     

     

    Giới tính

    Độ tuổi

    Thu nhập

    Trình độ học vấn

     

    Khác biệt về sự hài

    Không

    Không

     

    lòng đối với dịch vụ

             

    FTTH

             
       

    Dưới 20 tuổi

    Dưới 5 triệu/

       
       

    tháng với

       

    Mô tả sự khác biệt

     

    với nhóm từ

       
     

    nhóm từ 5 –

       
     

    20 đến 35

       
       

    dưới 10 triệu/

       
       

    tuổi

       
       

    tháng

       
             
               

    Kiểm định giả

    Bác bỏ H7a

    Chấp nhận

    Chấp nhận

    Bác bỏ H7d

     

    thuyết

    H7b

    H6c

         

    52

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    3.           THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN

    CỨU

     

    Sau khi nghiên cứu, khảo sát ý kiến của chính những khách hàng sử dụng dịch vụ FTTH hiện nay, nghiên cứu xin được đề xuất một số nhận xét như sau: Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và các kỹ năng nghề nghiệp cao hơn để nâng cao sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng khi tiếp xúc, giao dịch với công ty; Để hạn chế việc nghẽn mạch và rớt mạng do có quá nhiều thuê bao tăng trưởng, các nhà cung cấp cần hoàn thiện và nâng cao hạ tầng mạng của mình; Chuyên môn hóa trong hoạt động kinh doanh và hỗ trợ khách hàng: Thời gian đăng ký, khảo sát và lắp đặt dịch vụ nhanh chóng, hỗ trợ khách hàng 24/24; Hợp lý chi phí và giá thành để giảm giá cước cho người sử dụng.

     

    Song, trong quá trình thực hiện, nghiên cứu gặp một số hạn chế sau đây:

     

    Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ thực hiện đối với các khách hàng sử dụng FTTH tại TP. HCM. Khả năng tổng quát hoá của mô hình nghiên cứu sẽ cao hơn nếu nghiên cứu được lặp lại trên nhiều địa phương khác.

     

    Thứ hai, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện với hình thức chọn mẫu phi xác suất, tuy đảm bảo theo lý thuyết về chọn mẫu nhưng khả năng tổng quát hoá của nghiên cứu không cao.

     

    Thứ ba, nghiên cứu này chỉ xem xét các

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    yếu tố phương tiện hữu hình, sự phản hồi, sự cảm thông, sự bào đảm, sự tin cậy và giá cả. Ngoài các yếu tố này có thể có nhiều yếu tố khác tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH mà nghiên cứu này tác giả chưa đề cập đến như các yếu tố về thương hiệu, hình ảnh của công ty cung cấp dịch vụ… cũng có thể có tác động đến sự hài lòng.

     

    Thứ tư, nghiên cứu chỉ khảo sát khách hàng đang sử dụng dịch vụ, do đó chưa khảo sát đánh giá những cảm nhận của khách hàng tiềm năng. Mặt khác, nghiên cứu cũng chưa khảo sát nhóm khách hàng theo số tiền cước sử dụng, gói cước sử dụng.

     

    Và, hàm ý hướng nghiên cứu tiếp theo Dựa trên những hạn chế của đề tài nghiên

     

    cứu này, tác giả đưa ra hàm ý hướng nghiên cứu tiếp theo như sau:

     

    Thứ nhất, tiến hành nghiên cứu rộng rãi hơn ở các tỉnh thành khác trên toàn quốc.

     

    Thứ hai, nghiên cứu lặp lại có thể chọn mẫu lớn hơn với phương pháp chọn xác suất thì kết quả sẽ mang tính khái quát hơn.

     

    Thứ ba, mở rộng phạm vi nghiên cứu thêm các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH.

     

    Thứ tư, các đề tài tiếp theo có thể chọn khảo sát đánh giá những cảm nhận của khách hàng tiềm năng hoặc nghiên cứu thêm phương pháp định tính thông qua các chỉ đạo của Tập đoàn VNPT.

     

    • Cục quản lý Chất lượng- Bộ Thông tin và Truyền thông, 2006. Dịch vụ truy nhập Internet ADSL – Tiêu chuẩn chất lượng. Tiêu chuẩn Ngành TCN: 68-227.
    • Phạm Trí Nhân (2015): “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Internet băng thông

    rộng (FTTH) tại TP. HCM”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH Tài chính-Marketing. Nguồn internet

     

    • Trung Tâm Internet Việt Nam (VNNIC), “Số liệu thuê bao internet Việt Nam” tại <http://www. vn>. [Ngày truy cập: 10 tháng 4, 2015].
    • Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng, (2005). Khái niệm chung về quản lý chất lượng. < http://www.tcvn.gov.vn>. [Ngày truy cập: 10 tháng 4, 2015]

    53

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    PHỤ LỤC

     

    Phụ lục 1: Ma trận tương quan Pearson

     

    Correlations

     

       

    TB

    TB

    TB

    TB

       

    Sự hài

     
       

    Phương

    TB

    TB Giá

    lòng với

     
       

    Phản

    Cảm

    Bảo

       

    tiện hữu

    Tin cậy

    cả

    dịch vụ

     
       

    hình

    hồi

    thông

    đảm

       

    FTTH

     
                 
     

    Pearson

    1

    .351**

    .212**

    .223**

    .172**

    .201**

    .503**

     

    TB Phương

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

     

    .000

    .001

    .000

    .005

    .001

    .000

     

    tiện hữu

     
                     

    hình

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .351**

    1

    .295**

    .186**

    .309**

    .173**

    .586**

     

    TB Phản

    Correlation

                   

    hồi

    Sig. (2-tailed)

    .000

     

    .000

    .003

    .000

    .005

    .000

     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .212**

    .295**

    1

    .296**

    .159**

    .239**

    .544**

     

    TB Cảm

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

    .001

    .000

     

    .000

    .010

    .000

    .000

     

    thông

     
                     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .223**

    .186**

    .296**

    1

    .147*

    .431**

    .490**

     

    TB Bảo

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

    .000

    .003

    .000

     

    .018

    .000

    .000

     

    đảm

     
                     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .172**

    .309**

    .159**

    .147*

    1

    .121

    .507**

     
     

    Correlation

    TB Tin cậy

                   

    Sig. (2-tailed)

    .005

    .000

    .010

    .018

     

    .052

    .000

     
       
                       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
     

    Pearson

    .201**

    .173**

    .239**

    .431**

    .121

    1

    .445**

     
     

    Correlation

    TB Giá cả

                   

    Sig. (2-tailed)

    .001

    .005

    .000

    .000

    .052

     

    .000

     
       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
     

    Pearson

    .503**

    .586**

    .544**

    .490**

    .507**

    .445**

    1

     

    Sự hài lòng

    Correlation

                   

    với dịch vụ

    Sig. (2-tailed)

    .000

    .000

    .000

    .000

    .000

    .000

       

    FTTH

       
                     
                       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     

    **. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

             

    *. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

     

    54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-V%E1%BB%80-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-GAME-TRUNG-QU%E1%BB%90C-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

     

    Phạm Thùy Dương*

     

    Tóm tắt

     

    Trò chơi trực tuyến (game online) là một trong ngành công nghiệp mới nổi của Trung Quốc, nhưng nó đã tác động mạnh tới thị trường quốc tế thông qua việc nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường quốc tế và khu vực. Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Các nhà phát hành game Trung Quốc không những rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra quốc tế, mà còn đưa sản phẩm của mình chiếm lĩnh thị phần lớn ở một số nước, trong đó đáng chú ý là Việt Nam. Hiện nay, hơn 80% thị phần game ở Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông người chơi game Việt. Sự xâm nhập

     

    • ạt các sản phẩm game Trung Quốc vào Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội giải trí cho người dân Việt, tạo điều kiện phát triển ngành game Việt, nhưng cũng gây ra không ít tác động tiêu cực.

    Từ khóa: game Trung Quốc, nguyên nhân, tác động, thị trường.

     

    Mã số: 321. Ngày nhận bài:       . Ngày hoàn thành biên tập:         . Ngày duyệt đăng:             .

     

    Abstract

     

    Though online games has only been an emerging industry in China recently, it has drawn a significant influence upon the world market through its quick domination in both international and regional one. In the Top 100 highly industrialized countries of the world, China has taken the 2nd place, only after the United States. Chinese online games publishers not only succeeds in expanding their products and reputation to other parts of the world, but it also takes a high proportion in the market share of the target markets, especially Vietnam. Nowadays, more than 80% of Vietnam online games market share belongs to Chinese products, which become the number one choice for the majority of Vietnamese gamers. The massive market penetration of Chinese online games has brought numbers of entertainment opportunities for Vietnam, facilitating the advancement of Vietnam online games industry, however, this has still imposed some negative effects.

     

    Key words: Chinese online games, market, causes, consequences.

     

    Paper No. 321. Date of receipt:        . Date of revision:            . Date of approval:                .

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ một quốc gia chưa có tên trong ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 90 thế kỷ XX, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã vươn lên đứng hàng thứ 5 trong những quốc gia xuất nhập khẩu văn hóa lớn nhất thế giới. Đồng thời, ngành công nghiệp không khói này

     

    cũng đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Hiện, tỉ lệ đóng góp của ngành thương mại xuất khẩu trong nền kinh tế Trung Quốc khoảng 20%, trong đó các sản phẩm văn hóa có tỉ lệ đóng góp không nhỏ. Nếu như năm 2010, xuất khẩu công nghiệp văn hóa Trung Quốc đạt 11.67 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2009, thì đến năm

     

    *

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 113

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    2012, xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25.9 tỷ USD, tăng 38.5% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25,13 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 20061. Năm 2015, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa Trung Quốc là 2723,5 tỷ NDT, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 3,97% GDP, tăng 0,16% so với năm 20142. Chính bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong ba chiến lược quan trọng quốc gia của Trung Quốc: chiến lược “làm giàu kinh tế”; chiến lược “sáng tạo khoa học kỹ thuật”; chiến lược “phát triển sản nghiệp văn hóa”. Cùng với làn sóng mở cửa của toàn nền kinh tế, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã bước đầu thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế với các đối thủ mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc khi tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút mạnh nguồn vốn quốc tế đầu tư vào thị trường nội địa, đặc biệt thể hiện nổi bật ở lĩnh vực mới game online trong những năm gần đây. Chính phủ Trung Quốc hiện đang rất chú trọng đầu tư cho ngành game, với mong muốn chuyển đổi từ một Trung Quốc “chế tạo ” sang Trung Quốc “sáng tạo”, và qua 10 năm, ngành game của Trung Quốc đã có bước đột phá đáng kinh ngạc, “xâm lấn” hầu hết thị trường các nước trên thế giới, thậm chí tại số một số nước, game Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn và có ảnh hưởng nhất định, trong đó có thị trường Việt Nam.

     

    2. Tình hình thị trường game Trung Quốc hiện nay

    10 năm trước đây, khi làng game Việt bắt đầu hình thành, các game thủ Việt Nam hầu hết chỉ quen thuộc với các game có xuất xứ từ Hàn Quốc; ngay cả tại Trung Quốc Đại lục, các sản phẩm game xứ Hàn cũng chiếm thị phần lớn. Tuy nhiên, chỉ mấy năm sau, giai đoạn 2005-2006, ngành game Trung Quốc phát triển một cách ngoạn mục, không chỉ giành vị trí đầu tiên trong làng game trong nước, game Trung Quốc còn dần xâm lấn sang các thị trường các nước có nền công nghiệp game tiên tiến khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay của IESHerpa năm 2014, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ3. Các nhà phát hành game Trung Quốc cũng rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra các nước trên thế giới. Nếu như doanh thu từ việc xuất khẩu game ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2010 chỉ đạt 230 triệu USD, thì đến năm 2012 con số này đã đạt 570 triệu USD, năm 2013 là 1,82 tỷ USD tăng 219,30% so với năm 2012, năm 2014 là 3,07 tỷ USD, tăng 69,02% so với năm 20134.

     

    Mặc dù hiện nay game Trung Quốc có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân bố thị trường của cường quốc game này có sự chênh lệch khá rõ nét.

     

    • Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/content_2530048. htm.
    • Năm 2015, công nghiệp văn hóa Trung Quốc tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml.
    • Theo thống kê của Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74.
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf

    114         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

     

    120

     

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

     

    4%

    12%

     

    Các nước khác

         
         

    27%

         

    Châu Âu

         
         
     

    9%

     

    Bắc Mỹ

       
       
       

    3%

     

    Nam Mỹ

         
         

    19%

       

    Đông Nam Á

    26%

       
       
       

    Đông Á

         
           
           

    Nội địa

           
           

    Hình 1: Tình hình phân bố thị trường game Trung Quốc năm 2012

     

                               

    Nguồn: GPC và IDC 20125

                     

    110

    113

     
                       
                           

    79

         
                                 

    50

                             
                             

    23

     

    37

                         
                       
         

    11

                     
                           
                                 
                       
                                       
                                       

    Các nước Châu Âu  Bắc Mỹ  Nam Mỹ

     

    Đông

    Đông Á  Nội địa

     

    khác

    Nam Á

               

    Hình 2: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu đến các nước trên thế giới năm 2012

     

    Nguồn: GPC và IDC 20126

     

     

    Theo tổng kết báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, ngoài thị trường nội địa chiếm 27% thị phần, khu vực Đông Nam Á là các nước đứng thứ hai trên thế giới trong bảng thị trường game của Trung Quốc với 26% thị phần, kế tiếp là các nước Đông Á chiếm 19%, châu Âu 12%, Bắc Mỹ 9%, Nam Mỹ 3% và các nước khác

     

    4%. Cũng theo bảng báo cáo, vào năm 2012, Trung Quốc đã xuất khẩu 110 đầu game vào thị trường Đông Nam Á, hơn 31 đầu game so với thị trường các nước Đông Á. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp game Trung Quốc đã tác động mạnh và chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.Trong thị trường Đông Nam Á, Việt Nam và Malayxia là hai quốc gia nhập khẩu nhiều game Trung Quốc nhất.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 115

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

                                                 
                                                 
       

    2%

    7%

                             
                                         
                                         
                                           

    Brunei

         
                 

    21%

         

    2%

                       
                                     
                                               

    Phillipin

         
                                                     
                                                     
                                               

    Lào

         
                                                     
                                                     
                                 

    21%

             

    Malayxia

       
                                               
                                               
                                           

    Indonexia

       
                                         
                                                   
                                               

    Myanma

         
                                                     
                                                     

    17%

                             

    Thái Lan

         
                                   
                                   
                             

    tViNam

         
                                                     
                                                     
               

    2%

     

    11%

                     
                                       
                                           

    Hình 3: Tình hình xuất khẩu game Trung Quốc vào các nước khu vực

                     

    Đông Nam Á năm 2012

                 
                                       

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20127

    70

                                                       

    61

                 

    62

                             
                                             

    60

    50

         

    51

                                       

    50

                                             
                                                       

    40

                             

    32

                       
                                                   

    30

                   

    20

                                   
                                                   

    20

                                                 
                                   

    6

             

    6

       
                                                 

    10

                                   

    5

         

    0

                                                       

    Singapore   Malayxia

       

    Thái LanPhillipin

    Việt Nam   Indonexia   Myanma

       

    Lào

    Brunei

             

    Hình 4: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu vào các nước khu vực

     

    Đông Nam Á năm 2012

     

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20128

     

     

    Theo Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, Việt Nam và Malayxia đều chiếm 21% thị phần game Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất khẩu 62 sản phẩm game vào thị trường Việt Nam trong năm 2012, hơn thị trường Malayxia

     

    1 sản phẩm game. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng của ngành công nghiệp Trung Quốc không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. 10 năm sau khi các công ty đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu xâm nhập vào thị trường Việt Nam như: công ty Kim Sơn, công ty Cự Nhân,

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    116         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    hiện nay, hơn 80% thị phần thị trường game

     

    • Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông cộng đồng người chơi game Việt9.

    3.           Nguyên nhân game Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

     

    Khi theo dõi các bài viết trên trang mạng xã hội và các diễn đàn game, chúng tôi nhận thấy đa số người chơi game Việt không ủng hộ các trò chơi game có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng tại sao các sản phẩm game Trung Quốc lại chiếm thị phần lớn như vậy?. Điều này có thể được lý giải từ phía nhà phân phối và phía người chơi.

     

    Đối với các nhà phân phối game: Nhìn khắp thị trường game Việt Nam hiện nay ta có thể thấy, những sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vẫn đã và đang được phát hành một cách liên tục do những lợi thế rất đặc biệt. Lý do các nhà phân phối Việt ưa chuộng game Trung Quốc bao gồm:

     

    Thứ nhất, sản phẩm game Trung Quốc rất đa dạng cả về số lượng và nội dung. Như ở trên đã đề cập tới, chỉ trong năm 2012, Trung Quốc đã tung ra 113 sản phẩm game phục vụ cho thị trường trong nước, 110 sản phẩm game xuất sang các nước Đông Nam Á, và 62 sản phẩm game đã xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây là con số chính thức nhập khẩu chính ngạch được tổng kết qua báo cáo cụ thể, chưa kể đến các sản phẩm game được nhập lậu. Với một lượng doanh nghiệp game khổng lồ, ngành công nghiệp game Trung Quốc có năng lực cung lớn hơn bất cứ quốc

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    gia nào trên thế giới. Ở mỗi thể loại game, từ nội dung cho đến chất lượng, dù là game PC hay webgame, các tựa game Trung Quốc đều rất phong phú, biến động không ngừng, đáp ứng được mọi nhu cầu do các nhà phân phối game đặt ra. Theo một nhà phát hành game: “Khi cần một webgame hoàn toàn mới cũng có thể được đối tác làm game Trung Quốc hoàn tất ngay trong vài tuần. Họ có cả một đội ngũ làm tiếng Việt, hệ thống đồ họa đầy đủ, khiến người mua game hài lòng với mức giá hợp lý nhất có thể. Với các lợi thế thể hiện và cạnh trạnh ấy, rõ ràng mạng lưới game Trung Quốc có thể lan tỏa và lấn chiếm mọi ngóc ngánh thị phần game Việt là điều dễ hiểu. Cho dù có phản đối, không thích, nhưng người chơi game cũng không thể dễ dàng quay đầu phủ nhận sức hấp dẫn khó giải thích của muôn hình game Trung Quốc10”.

     

    Thứ hai, một game online của Trung Quốc có giá mua thấp hơn rất nhiều so với những game cùng loại của Hàn Quốc hay Âu Mỹ. Được biết, các webgame (mà khi về Việt Nam nhiều gamer đánh giá là “game rác”) được định giá 15.000USD- dưới 35.000 USD là sản phẩm của các nhà sản xuất mới hoặc hạng trung của Trung Quốc sản xuất. Phân khúc game chất lượng cao hơn giá tầm 100.000USD. Chưa kể tới các sản phẩm game “bom tấn” mức giá sẽ bị đẩy cáo do các nhà phân phối cạnh tranh mua game11. Trong khi đó, đa số các nhà phân phối game hiện nay

     

    • Việt Nam đều là các nhà phân phối vừa và nhỏ, vốn không nhiều, định hướng chính của các nhà phân phối này là phát hành các game phân khúc dưới để dễ dàng thu hồi vốn cũng
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf.
    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                  117

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    như tăng doanh thu một cách nhanh chóng, nếu mua những sản phẩm game giá cao, thu hồi vốn chậm hơn, đồng nghĩa với rủi ro mà họ phải chịu là cao hơn. Đó là lý do tại sao game Trung Quốc với ưu thế về giá luôn là lựa chọn số một cho các nhà phân phối này.

     

    Thứ ba, Các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Một số doanh nghiệp phát hành game Việt Nam thừa nhận, gần như mọi yêu cầu sửa đổi sản phẩm, bổ sung tính năng, cập nhật tiện ích cho người chơi…, khi nêu ra, đều sẽ được nhà sản xuất Trung Quốc thỏa mãn trong thời gian nhanh nhất có thể12. Điều này thuận tiện hơn rất nhiều so với các sản phẩm game Hàn Quốc hay Âu Mỹ, họ thường yêu cầu tổng hợp các lỗi, bản chỉnh sửa…rồi mới tiến hành xử lý cho khách hàng.

     

    Về phía người chơi: Người chơi game Việt Nam thường chê game Trung Quốc nghèo nàn về cách chơi, lặp đi lặp lại các loại hình quen thuộc, nhưng game Trung Quốc vẫn phát triển không ngừng và thu hút được số lượng lớn người chơi. Đó là do các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đánh đúng thị hiếu khách hàng.

     

    Thứ nhất, lối chơi đơn giản, dễ hiểu: Khi bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp game, các game online của Trung Quốc tuy lấy đề tài chủ yếu là kiếm hiệp nhưng cách chơi của game có nhiều nét giống với game Hàn Quốc. Nhưng, càng ngày, họ càng lược bớt những phần phức tạp để hướng tới đại đa số game thủ bình thường, đồng thời để bắt nhịp tốt với xu thế thời đại là chơi game chủ yếu để giải trỉ. Đặc biệt trong xã hội đầy áp lực như hiện nay, nhu cầu giải trí của con người ngày càng

     

    tăng, phần lớn thời gian mọi người dành cho học tập, công việc, nghiên cứu, thời gian giải trí rất hãn hữu. Do vậy, nếu chơi các game có tính năng khó, đòi hỏi sự tìm tòi, suy nghĩ, sẽ khiến người chơi rất dễ nản chí. Dù cách chơi và cách thức game của các sản phẩm game Trung Quốc rất hạn chế, lối chơi đơn giản, không đòi hỏi nhiều tư duy, nhưng chính đặc điểm này lại giúp cho nhiều game thủ tìm được thú vui giải trí.

     

    Thứ hai, do tác động của các sản phẩm văn hóa công nghiệp khác. Bên cạnh ngành công nghiệp game, từ rất sớm, Trung Quốc đã xuất khẩu nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh và sách, tiểu thuyết vào thị trường Việt Nam. Các tập truyện kiếm hiệp như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long bát bộ…đã được rất nhiều thế hệ Việt Nam tiếp nhận, đi kèm với nó là các bộ phim dài tập chiếu liên tục trên truyền hình và được phát hành dưới hình thức băng đĩa. Chính yếu tố “kiếm hiệp” này đã một phần tạo nên thành công cho game Trung Quốc tại Việt Nam. Các game online nhập vai kiếm hiệp luôn tạo được một lợi thế nhất định cho riêng mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ bối cảnh, tên môn phái cho tới các chiêu thức…tất cả vốn đã quen thuộc với người chơi, nay càng trở nên cuốn hút hơn. Theo Báo cáo số liệu điều tra tác động của công nghiệp văn hóa từ các nước Đông Bắc Á tới Việt Nam, 37,6% người được điều tra đã chọn lý do thích game Trung Quốc do nội dung hấp dẫn13.

     

    Thứ ba, do giá của các game Trung Quốc hợp lý, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực- đó là nhận định trong báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam

     

    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

    118         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    (VNPI) biên soạn14. Cũng theo báo cáo, năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 7 trong các nước Asean, đạt 1911 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Phillippin là 2765 USD, Indonexia 3475 USD, Thái Lan 5779 USD, Malayxia 10538 USD và Singapore là 55182 USD. Thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tỷ lệ người chơi game lại nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đó là do hầu hết các game thủ Việt Nam lựa chọn game Trung Quốc với chi phí rẻ, phù hợp với thu nhập của bản thân.

     

    4.           Tác động của game Trung Quốc tới Việt Nam

     

    Tác động tích cực: Ở Việt Nam, game bắt đầu xuất hiện vào năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ, nhưng công nghiệp trong nước lại phát triển rất hạn chế. Chúng ta mới chỉ có game Flapy bird gần đây là một sự đột phá, trong khi nhiều nước đào tạo hàng nghìn người để sản xuất game, thị trường game Việt Nam chủ yếu vẫn là game nước ngoài. Cách đây 10 năm, Trung Quốc chủ yếu cũng nhập khẩu game từ nước ngoài, nhưng khi nhận thấy lợi ích của ngành game, chính phủ Trung Quốc đã đưa game vào chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ cao. Năm 2004, dự án phát triển 100 game trực tuyến trong 5 năm được hưởng thuế ưu đãi, vốn… Đến năm 2009, Trung Quốc đã hình thành công nghiệp game phát triển mạnh mẽ15. Sự xâm nhập ồ ạt của game Trung Quốc đã khiến cho ngành game Việt Nam trở nên sôi động hơn, chính phủ Việt Nam có thể tham khảo các chính sách Trung Quốc đã từng áp dụng để đẩy mạnh ngành công nghiệp game, các công ty sản xuất

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    game Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ khâu sản xuất ra sản phẩm game, khâu tiếp thị quảng cáo game và dịch vụ hậu mãi của các công ty game Trung Quốc. Sự xuất hiện của các sản phẩm game Trung Quốc cũng đã góp phần làm phát triển ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam, đem lại doanh thu nhất định cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Theo Bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, năm 2012, doanh thu từ game của Việt Nam là khoảng 5000 tỷ, tạo việc làm cho khoảng 7500 người. Và trên đà phát triển, mới đây, Chính phủ cũng ban hành một Nghi định, trong đó đưa game vào là một trong nhưng dịch vụ nội dung số để khuyến khích góp phần phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam16.

     

    Hiện nay, khi cuộc sống ngày càng nhiều lo toan, áp lực, mọi người luôn tìm cho mình một phương thức giải trí để tránh căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao ở những nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành công nghiệp giải trí cũng càng được chú trọng và không ngừng được mở rộng quy mô. Trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay, game online đã trở thành ngành chính trong nền công nghiệp giải trí. Khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, game Trung Quốc với những ưu điểm riêng đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người chơi game Việt Nam, đem lại cho họ thêm sự lựa chọn giải trí. Việt Nam có khoảng hơn 20 triệu người sử dụng internet, 50% số đó có sử dụng dịch vụ game, và trở thành thị trường game lớn thứ 4 trên thế giới. Điều đó cho thấy số lượng người chọn game để giải trí rất cao.

     

    Tác động tiêu cực: các doanh nghiệp Trung

     

    • GDP bình quân đầu người Việt Nam thua xa Phillipin (2015), truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016, từ http:// vn/vn/kinh-doanh/277585/gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-xa-philippines.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http:// vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 119

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Quốc phát hành game không phép ngày một nhiều tại Việt Nam đã làm cho môi trường kinh doanh nước ta không lành mạnh. Theo thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định rõ, đối với trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (trò chơi G1), phải có thông tin trụ sở chính với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy phép cung ứng dịch vụ hoặc thủ tục cấp chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tương ứng với mỗi loại trò chơi. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều game Trung Quốc lại được nhập vào Việt Nam qua con đường không phép, và được gọi là “game lậu”, “game rác”, “game không phép”. Những game lậu này đã thu từ các game thủ Việt Nam một khoản tiền không nhỏ. Ví dụ: các cơ quan chức năng đã truy quét 3 cổng game lậu: Koramgame, Myw. vn, Gaubay.vn là những cổng game rất mạnh của nhà phát hành đến từ Trung Quốc. “Một ngày KoramGame thu được từ các game thủ Việt Nam 1,3-1,5 tỷ đồng”17. Một vụ game lậu điển hình gần đây nhất là vụ game Lục Long Tam Quốc 3D sau một thời gian liên tục đăng tin quảng bá trên các trang thông tin điện tử, đã chính thức ra mắt thị trường vào ngày 8/6/2016, tuy nhiên không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến nhà phát hành game này18. Trong khi các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự chi phối của nhiều Nghị định, thông tư cũng như tuân thủ các quy định về phát hành trò chơi điện tử có phép theo luật pháp Việt Nam thì các doanh nghiệp Trung Quốc lại bằng các thủ đoạn khác nhau để phát hành trái phép,

     

    thu lợi bất chính. Cho đến giữa năm 2015, nước ta chỉ mới có 26 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh trò chơi điện tử G1, con số quá ít ỏi so với thực tiễn phát triển không ngừng của thị trường game online. Mặc dù được cấp phép kinh doanh, điều đó không có nghĩa toàn bộ sản phẩm của những doanh nghiệp này đã có giấy phép phát hành, mà vẫn phải trải qua quy trình theo đúng quy định, mới nhất là Thông tư 24 của Bộ Thông tin – Truyền thông. Trong khi đó, gần như pháp luật nước ta chưa có quy định liên quan để quản lý, thu thuế đối với các đối tượng nước ngoài kinh doanh phát hành game tại nước ta. Do vậy, việc game không phép tràn lan đã làm cho môi trường kinh doanh của ngành game trong nước chưa được công bằng và lành mạnh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nước ta còn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu; ngoài ra còn cản trở sự phát triển của các nhà phát hành game Việt kinh doanh lành mạnh, gây thiệt hại cho doanh thu của nhà nước.

     

    Trung Quốc hiện đang chú trọng phát triển ngành công nghiệp game với mục đích thu được khoản lợi nhuận cao, và hơn thế nữa là quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới. Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Sơn, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu tất cả các game của Trung Quốc phải sản xuất theo thuần phong mỹ tục của Trung Quốc và để tuyên truyền lịch sử của Trung Quốc. Nên, họ khuyến khích game Trung Quốc phát triển ra nước ngoài với điều kiện tất cả những game này phải đảm bảo các yếu tố đó, đưa văn hóa của Trung Quốc ra nước ngoài19. Thị trường

     

    • Không thể tin vào game rác của Trung Quốc (2014), truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016 từ http://www.baomoi. com/khong-the-tin-vao-game-rac-cua-trung-quoc/c/13283246.epi
    • Điệp Lưu (2016), Lục Long Tam Quốc 3D – Game lậu núp bóng Trung Quốc hoành hành làng game Việt, truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016 http://infogame.vn/game-online/luc-long-tam-quoc-3d-game-lau-nup-bong-trung-quoc-hoanh-hanh-lang-game-viet-27884.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

    120         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    xuất khẩu game lớn nhất của Trung Quốc là Việt Nam. Phần lớn người chơi game Việt ở độ tuổi thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi còn đang dần phát triển cả về tâm sinh lý, nhận thức và định hướng trong cuộc sống. Việc tiếp nhận và chơi các game Trung Quốc trong một thời gian dài, vô hình chung sẽ có ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, bên cạnh các sản phẩm game phát hành lành mạnh, các game lậu phát hành chui vào Việt Nam đều là những sản phẩm chưa được kiểm duyệt nội dung, những đầu game này sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.

     

    Hiện nay, đa số các game Trung Quốc phát hành tại Việt Nam đều là các game kiếm hiệp, ví dụ: Game Thần long huyết kiếm lấy bối cảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 20 với nhiều trường phái võ hiệp như kiếm, đao, quyền, cước, pháp bảo cùng với các loại vũ khí hiện đại như sung (hỏa thương), trảo…, trong tháng 7/2016 có sự ra mắt của game Ngự kiếm hồng trần, lấy bối cảnh chính ở đời Thịnh Đường Võ Hoàng, đưa người chơi khám phá một thế giới quan rộng lớn, phiêu lưu mạo hiểm, giàu tính chiến thuật…Các nhà phát hành game Trung Quốc đã rất dày công sáng tạo ra các sản phẩm game để tái hiện lại các chiêu thức nổi tiếng trong các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Cổ Long… Người chơi game khi chơi sẽ hóa thân vào các nhân vật, cùng tham gia phiêu lưu, và chiến đấu với các đối thủ. Đây cũng chính là mặt trái của game Trung Quốc, khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, mất cân bằng với thế giới thực, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công việc. Hơn thế, rất nhiều sự việc và vụ án đau lòng đã xảy ra do game online gây ra, nhiều người gọi đó là tình trạng xuống cấp hay suy thoái đạo đức thậm chí băng hoại đạo đức do game online.

     

    5. Kết luận

     

    Trong những năm gần đây, ngành công

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    nghiệp văn hóa của Trung Quốc có những những bước tiến đột phá, do được chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và đầu tư thích đáng nên quy mô ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc không ngừng được mở rộng bao gồm cả ngành truyền thống như điện ảnh, xuất bản…,cũng như các ngành công nghiệp văn hóa kiểu mới có xu thế phát triển mạnh như game. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, ngành game của Trung Quốc không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, mà còn xâm lấn thị trường các nước lớn như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, và vươn lên trở thành thị trường game lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tiên của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại khu vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn của ngành công nghiệp game Trung Quốc. Không thể phủ nhận ngành game của Trung Quốc đã đem lại nhiều cơ hội việc làm và giải trí cho người Việt Nam, tạo điều kiện cho các công ty phát hành game của Việt Nam học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, tình hình game lậu đã gây thất thoát về kinh tế cho chính phủ Việt Nam, gây khó khăn trong cạnh tranh lành mạnh cho các công ty game Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội Việt Nam khi nội dung của các game lậu không được thông qua kiểm duyệt. Do vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền hãy siết chặt công tác quản lý để ngăn chặn các game lậu có nội dung không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam. Đồng thời, các nhà phát hành game Việt cũng cùng liên kết sáng tạo ra các sản phẩm game Việt, mang đậm thuần phong mỹ tục của người Việt và dấu ấn lịch sử Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường game và phát triển ngành công nghệ thông tin nước nhà.q

     

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 121

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/ htm

     

    1. Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc đã giành được những thành tựu mang tính lịch sử (2013), truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 , từ http://news.xinhuanet.com/zgjx/2013-06/14/c_132453952.htm

     

    1. Công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2015 tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml

     

    1. Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_market_15.04.23F.pdf
    1. Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74,
    2. Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

     

    1. Nguyễn Văn Hy (2013): Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 3, tr.54-59
    2. Nguyên Thi Thu Phương (chủ biên), 2013: Sư trôi dây cua sưc manh mêm Trung Quôc 2011-2020 va nhưng vân đê đăt ra cho Viêt Nam, Nxb. Tư điên Bach khoa, Ha Nôi.
    3. Nguyên Thi Thu Phương (2012): Văn hoa trong tiên trinh trôi dây cua Trung Quôc, Tap chi Nghiên cưu Trung Quôc, sô 9
    4. TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
    1. Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu.vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html
    1. Trương Văn Tịnh:Công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang trong thời cơ phát triển (2013),truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016, từ
    1. http://www.chinadaily.com.cn/hqgj/jryw/2013-09-08/content_10063874.html

    122         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]