Category: Công Nghệ Thông Tin

  • MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-C%C3%81CH-TI%E1%BA%BEP-C%E1%BA%ACN-TRONG-GI%E1%BA%A2I-QUY%E1%BA%BET-B%C3%80I-TO%C3%81N-T%E1%BB%B0-%C4%90%E1%BB%98NG-H%C3%93A-SINH-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-KI%E1%BB%82M-TH%E1%BB%AC-PH%E1%BA%A6N-M%E1%BB%80M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

     

    AN APPROACH TO AUTOMATED TEST DATA GENERATION

     

    PHẠM ĐỨC TOÀN1, PHAN NGUYÊN HẢI2, PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH3

    • Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHHH Việt Nam 2 Học viện Kỹ thuật Quân sự

    3 Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

    Tóm tắt

     

    Bài báo nghiên cứu lĩnh vực tự động hóa quy trình phát triển phần mềm, bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động, hướng giải quyết cùng các khó khăn. Đề xuất cách tiếp cận biểu diễn thuật toán dựa trên khái niệm đồ thị, ứng dụng vào giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Từ khóa: Tự động hóa phát triển phần mềm, sinh dữ liệu kiểm thử, biểu diễn thuật toán. Abstract

     

    In this paper, the automated software development issue and test data generation problem are presented with solutions and challenges. Approach to represent algorithms based on graph concepts is proposed and applied to solving the problem of automated test data generation.

     

    Keywords: Automated software development, test data generation, expressing algorithms.

     

    1. Bài toán tự động hóa phát triển phần mềm và tự động hóa kiểm thử phần mềm

     

    Quy trình phát triển phần mềm thông thường gồm các giai đoạn: Xác định yêu cầu, thiết kế, lập trình, kiểm thử, tích hợp triển khai. Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể mà các giai đoạn này có thể tuần tự hoặc lặp lại.

     

    Hiện nay trong lĩnh vực tự động hóa phát triển phần mềm, các bài toán đang được quan tâm là sinh mã nguồn tự động và sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Với bài toán sinh mã nguồn tự động, đầu vào là bản thiết kế, đầu ra là biểu diễn của bản thiết kế bằng cú pháp của một ngôn ngữ lập trình nào đó (nói cách khác là mã nguồn).

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử (test data generation), đầu vào là các bản đặc tả (yêu cầu, thiết kế), mã nguồn, đầu ra là dữ liệu đầu vào của phần mềm mà cần kiểm thử tại đó. Khi có đầu vào cần kiểm thử, thì có thể xác định đầu ra chuẩn của phần mềm tại đầu vào đó theo mô tả của phần mềm (test oracle), cặp giá trị đầu vào và đầu ra chuẩn hình thành lên một trường hợp kiểm thử (testcase) để người kiểm thử (tester) thực hiện kiểm thử. Việc kiểm thử thông thường có nhiều cấp độ, như Unit Testing để kiểm thử các đơn vị mã nguồn, Integration Testting để kiểm thử việc tích hợp các đơn vị mã nguồn, System Testing và Acceptance Testing để kiểm thử toàn bộ hệ thống phần mềm (Hình 1). Việc sinh dữ liệu tự động thường áp dụng cho mức Unit Testing và cách tiếp cận truyền thống trong bài toán sinh dữ liệu kiểm thử hiện nay là dựa vào mã nguồn (kiểm thử hộp trắng – whitebox testing). Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả tập trung vào bài toán tự động hóa sinh dữ liệu kiểm thử ở mức Unit Testing.

     

    Acceptance Testing (Kiểm thử chấp nhận)

     

    System Testing (Kiểm thử hệ thống)

     

    Integration Testing (Kiểm thử tích hợp)

     

    Unit Testing (Kiểm thử đơn vị)

     

    Hình 1. Các mức độ kiểm thử

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử với phương pháp hộp trắng, cách thực hiện có thể gồm các bước chính như sau [1]:

     

    • Xây dựng đồ thị chu trình từ mã nguồn (control flow graph – CFG), mỗi đỉnh của đồ thị là một dòng mã thực hiện việc tính toán hoặc xử lý điều kiện;
    • Từ đồ thị xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc chương trình;

    64                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Với mỗi đường đi, xác định các điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo đường đi đó. Chọn một đại diện thỏa mãn điều kiện.

    Với phương pháp này, chương trình có bao nhiêu đường thực thi thì có thể có bấy nhiêu testcase. Tuy nhiên, nếu chương trình có rẽ nhánh, vòng lặp thì số lượng đường thực thi có thể rất lớn. Trong trường hợp này, có thể chỉ cần tìm các đường cơ sở và từ các đường cơ sở đó xác định các dữ liệu kiểm thử.

     

    Trong ba bước nêu trên, thì việc xây dựng đồ thị CFG từ mã nguồn và việc xác định các đường đi trên đồ thị là hoàn toàn có thể thực hiện tự động bằng lập chương trình. Tuy nhiên bước xác định điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo một đường nhất định là một bài toán rất khó. Đây thực chất chính là bài toán giải quyết thỏa mãn ràng buộc (Constraint satisfaction problems – CSPs) [2, 3, 4]. Bài toán CSP được đặc trưng bởi bộ ba (X, D, C), với:

     

    X = {X1, X2, …, Xn} là tập hợp các biến;

     

    D = {D1, D2, …, Dn} tương  ứng là các tập hợp miền giá trị của các biến X;

     

    C = {C1, C2, …, Cm} là tập hợp các ràng buộc. Ci là các hàm của X, thường có dạng bất phương trình.

     

    Bài toán đòi hỏi cần tìm các giá trị của X trong miền D để thỏa mãn các ràng buộc C. Đây là bài toán thuộc lớp NP-đầy đủ (NP-complete), bài toán này không có lời giải trong trường hợp chung. Để giải quyết bài toán này phục vụ cho mục đích sinh dữ liệu kiểm thử tự động, đã có một cộng đồng nghiên cứu đông đảo với rất nhiều đề xuất tiếp cận như quay lui (backtracking), lan truyền ràng buộc (contraint propagation), tìm kiếm cục bộ (local search), giải thuật di truyền, tiến hóa [5, 6],…

    Tuy nhiên các đề xuất chỉ thích hợp cho một lớp bài toán nhất định, kết quả sinh dữ liệu kiểm thử phụ thuộc vào rất nhiều tham số, thời gian chạy lâu, và thường không có sự bảo đảm về mặt toán học. Nguyên nhân chung có thể kết luận là do quá ít thông tin thu được từ mã nguồn chương trình khi xây dựng đồ thị CFG cùng các ràng buộc, dẫn đến quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán CSP gặp khó khăn. Xuất phát từ thực tế này, trong bài báo đề xuất một cách tiếp cận cho việc sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn.

     

    Để tiếp tục, trước hết chúng ta xem xét giai đoạn thiết kế phần mềm trong quy trình phát triển phần mềm. Giai đoạn thiết kế phần mềm gồm các bước được mô tả trên Hình 2 [7].

     

     

    Hình 2. Các bước của giai thoạn thiết kế phần mềm

     

    Trong sơ đồ trên Hình 2, hoạt động thiết kế cốt lõi chính là thiết kế thuật toán (algorithm design). Trong phương pháp thiết kế hướng cấu trúc, thiết kế thuật toán thể hiện qua việc thiết kế thuật toán cho các hàm (chức năng) cơ sở. Trong phương pháp hướng đối tượng, thiết kế thuật toán thể hiện qua thiết kế thuật toán cho các phương thức của các lớp.

     

    Bài toán sinh mã nguồn tự động có thể quy về sinh mã nguồn tự động từ thuật toán, từ đó có thể suy ra bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động cũng có thể quy về các bài toán sinh mã nguồn tự động từ thuật toán (thực chất, mã nguồn chương trình chính là việc biểu diễn thuật toán bằng cú pháp một ngôn ngữ lập trình nào đó). Vấn đề tiếp theo cần quan tâm đến, đó là xem xét việc biểu diễn thuật toán trong bản thiết kế.

     

    2. Vấn đề biểu diễn thuật toán

     

    Trong lý thuyết thuật toán, thuật toán có thể biểu diễn bằng các cách truyền thống là ngôn ngữ tự nhiên, sơ đồ khối, giả mã (pseudo code),… Với các cách biểu diễn này thì chỉ có con người

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     65

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    mới hiểu được thuật toán, và việc xây dựng chương trình, xác định dữ liệu kiểm thử cũng phải do con người thực hiện. Nói một cách khác là với các cách biểu diễn thuật toán truyền thống thì việc tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử bằng máy tính là không thể thực hiện được. Để tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử cần phải biểu diễn thuật toán theo các cách mới để máy tính có thể hiểu được.

     

    Hiện nay, một trong những cách tiếp cận trong biểu diễn thiết kế là dùng ngôn ngữ XML [8]. Để có thể đưa bản thiết kế (thuật toán) vào máy tính, bản thiết kế được chuyển từ dạng biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng XML, với biểu diễn XML thì có thể xây dựng được các phương pháp sinh mã nguồn và sinh dữ liệu kiểm thử tự động. Tuy nhiên, XML là ngôn ngữ quá mạnh mẽ, quá đa dạng nên việc đưa ra những bộ quy tắc chung trong việc chuyển đổi từ cách biểu diễn truyền thống sang XML cũng chưa có sự thống nhất.

     

    Trong bài báo này, các tác giả đề xuất sử dụng khái niệm đồ thị để biểu diễn thuật toán. Việc biểu diễn thuật toán bằng đồ thị là hoàn toàn khả thi, thực chất sơ đồ khối cũng có thể coi là dạng biểu diễn trực quan của đồ thị. Ngoài ra, với đồ thị đã có rất nhiều lý thuyết đã được xây dựng về việc biểu diễn, lưu trữ và xử lý trên máy tính, nên hoàn toàn có hy vọng về khả năng trích rút các thông tin cần thiết từ thuật toán để phục vụ cho bài toán sinh tự động mã nguồn hay dữ liệu kiểm thử từ thuật toán.

     

    • tưởng biểu diễn thuật toán bằng đồ thị không phải là mới. Tuy nhiên, cũng giống như XML, chuyển đổi từ biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng đồ thị cũng có nhiều cách khác nhau.

    3.           Cách tiếp cận dựa trên đồ thị

     

    Trong phạm vi bài báo, chúng ta sẽ xem xét bài toán sinh dữ liệu kiểm thử bằng biểu diễn đồ thị của thuật toán. Với lý thuyết kiểm thử cơ bản thì cũng phải cần đến biểu diễn chương trình bằng đồ thị CFG, đồ thị CFG thực chất chính là biểu diễn của thuật toán. Vì vậy, việc dùng đồ thị thuật toán để sinh dữ liệu kiểm thử là hoàn toàn khả thi, ngoài ra khi biểu diễn thuật toán bằng đồ thị trong giai đoạn thiết kế thì chúng ta sẽ nhận được nhiều thông tin hơn cho việc sinh dữ liệu kiểm thử.

     

    Việc xây dựng đồ thị thuật toán do người thiết kế thực hiện, có thể tiến hành theo hai bước, bước một là xây dựng sơ đồ khối thuật toán, bước hai là chuyển sơ đồ khối về dạng biểu diễn đồ thị. Về cấu trúc tổng quát, thuật toán có thể biểu diễn bằng đồ thị có hướng G, mỗi đỉnh của đồ thị có thể là một phép toán hoặc một khối rẽ nhánh. Với các đỉnh phép toán, khi đi qua đỉnh này, có thể coi dữ liệu đầu vào được đưa qua một hàm biến đổi nào đó. Với các đỉnh rẽ nhánh, khi đi qua, dữ liệu đầu vào không bị biến đổi, nhưng được kiểm tra bằng một hàm mệnh đề nào đó. Tùy thuộc vào hàm mệnh đề mà có thể rẽ nhánh nọ hoặc nhánh kia. Và khi xác định thuật toán, đi kèm với mỗi đỉnh là thông tin về dữ liệu vào ra tại đỉnh đó, thông tin về phép toán, về biểu thức điều kiện tại các khối rẽ nhánh. Những thông tin này người thiết kế hoàn toàn có thể cung cấp. Một số ví dụ về các thông tin:

     

    • Miền dữ liệu vào/ra tại các đỉnh;
    • Phân loại hàm xử lý, hàm mệnh đề (liên tục, rời rạc, tuyến tính, phi tuyến, biến nào là chính, biến nào là phụ thuộc;
    • Ví dụ về các giá trị thỏa mãn hàm mệnh đề tại các đỉnh;
    • Khả năng tuyến tính hóa, đơn giản hóa các hàm xử lý, hàm mệnh đề, hàm ngược của các hàm xử lý,…

    Những thông tin này, trong những trường hợp nào đó sẽ giúp việc giải quyết bài toán thỏa mãn ràng buộc trong sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn. Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận dựa trên đồ thị thuật toán này khác với cách tiếp cận truyền thống như sau:

    • Cách truyền thống: Thiết kế (thuật toán) à Mã nguồn à Đồ thị à Sinh dữ liệu kiểm thử
    • Cách đề xuất: Thiết kế (thuật toán) à Đồ thị + Thông tin à Sinh dữ liệu kiểm thử hoặc sinh mã nguồn.

    4.           Sinh dữ liệu kiểm thử tự động với biểu diễn dạng đồ thị của thuật toán

     

    Chúng ta vận dụng ý tưởng của phương pháp hộp trắng để xác định các dữ liệu kiểm thử. Khi thuật toán được biểu diễn bằng đồ thị thì việc tự động xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc là bài toán kinh điển trong lý thuyết đồ thị và đã được giải quyết trọn vẹn ngay cả trong trường hợp đồ thị có chu trình (vòng lặp). Nghĩa là việc tìm đường đi bằng chương trình máy tính là hoàn toàn khả thi.

     

    Tiếp theo với mỗi đường đi tìm được, cần tự động tìm dữ liệu đầu vào của thuật toán để thuật toán thực thi theo con đường đó. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét ví dụ một trường hợp, giả sử thông

     

    66                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    tin đi kèm tại các đỉnh đồ thị cho biết các hàm xử lý, hàm mệnh đề là các hàm tuyến tính và dữ liệu đầu vào của chương trình có dạng số. Ký hiệu:

    Các giá trị đầu vào của chương trình là X = {X1, X2, …, Xn} Rn;

    Đường đi tìm được trên đồ thị gồm các hàm xử lý X = Fi(X) và các hàm mệnh đề Gj(X)>0.

     

    Khi đó việc tìm điều kiện của đầu vào X để chương trình đi theo đường đi này trở thành việc giải hệ bất phương trình tuyến tính:

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . …                                                                                                   (1)

      (  ) >

    { … … … . …

    • đây thứ tự các hàm xử lý, hàm mệnh đề trong hệ bất phương trình trùng với thứ tự của các đỉnh tương ứng trên đường đi của đồ thị.

    Hệ bất phương trình có thể giải tự động được, thuật toán giải gồm các bước chính như sau:

     

    Bước 1. Chuyển hệ về dạng hệ phương trình (2):

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . … ,

      (  ) =

    { … … … . …

    ở đây aj là những số nào đó lớn hơn 0.

     

    Bước 2. Tìm hạng r của ma trận biểu diễn hệ phương trình (2).

     

    Bước 3. Cố định n-r biến (cho các giá trị cụ thể), giải hệ r phương trình để tìm r biến còn lại.

     

    Nghĩa là, trong trường hợp này chúng ta hoàn toàn có thể tự động xác định được dữ liệu đầu vào để chương trình thực thi theo con đường nào đó.

     

    Xét ví dụ sinh dữ liệu kiểm thử từ một thuật toán đơn giản, thuật toán tìm giá trị lớn nhất trong 3 số thực a, b, c. Thuật toán có thể như sau:

     

    Bước 1. Đặt max = a;

     

    Bước 2. So sánh max < b. Nếu đúng, gán max = b.

     

    Bước 3. So sánh max < c. Nếu đúng, gán max = c. Đưa ra max. Kết thúc.

     

    Đồ thị biểu diễn thuật toán có dạng như trên Hình

     

    1. Với đồ thị như trên Hình 3, có thể có các đường thực thi từ đỉnh bắt đầu ( Bắt đầu) đến đỉnh kết thúc (8. Kết thúc) như sau:

    Đường 1: 1 à 2 à 3 à 5 à 7 à 8

    Đường 2: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 7 à 8

    Đường 3: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 6 à 7 à 8

    Đường 4: 1 à 2 à 3 à 5 à 6 à 7 à 8

     

    (2)

     

    1. Bắt đầu
    1. max = a
     

    Đúng

    3. max<b

     

    4. max=b

    Sai

       
     

    Đúng

     

    5. max<c

     

    6. max=c

    Sai

       
    1. max
    1. Kết thúc

    Hình 3. Đồ thị thuật toán

     

     

    Chúng ta xem xét việc xác định đầu vào để chương trình thực thi theo đường 3. Với các đường khác việc xác định là tương tự.

     

    Thông tin trên đồ thị cho thấy các hàm xử lý và hàm mệnh đề tại các đỉnh là hàm tuyến tính, hệ bất phương trình đối với đường 3 như sau:

     

    max = a; max – b < 0; max = b; max – c < 0; max = c

    (3)

    Hệ này có thể chuyển thành hệ (4), bằng cách tính biến max lần lượt theo các biến đầu vào và thay các bất phương trình thành phương trình:

     

    a – b = -1; b – c = -2

    (4)

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     67

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Hạng của ma trận hệ (4) bằng 2, ta có thể cố định a = 2, suy ra b = 3, c = 5 và nhận được một dữ liệu đầu vào để kiểm thử là (2,3,5), với đầu vào này thì đầu ra chuẩn là 5, nghĩa là nhận được testcase ((2,3,5),5). Tương tự đối với những đường thực thi khác. Nghĩa là chúng ta đã xác định được dữ liệu kiểm thử một cách tự động hoàn toàn theo tiêu chí bao phủ tất cả các đường thực thi.

     

    5. Kết luận

     

    Với cách biểu diễn thuật toán bằng đồ thị ngay trong giai đoạn thiết kế, chúng ta có thể thu được nhiều thông tin hơn về đồ thị nhận được, từ đó có thể giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động một cách dễ dàng hơn. Hướng phát triển tiếp theo là xem xét việc giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử trong các trường hợp phức tạp và xem xét việc sinh mã nguồn tự động dựa trên đồ thị biểu diễn thuật toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arthur H. Watson and Thomas J. McCabe. “Structured Testing: A Testing Methodology Using the Cyclomatic Complexity Metric”. NIST Special Publication 500-235, 1996.
    • Dechter, Rina. Constraint processing. Morgan Kaufmann, 2003.
    • Apt, Krzysztof. Principles of constraint programming. Cambridge University Press, 2003.
    • Lecoutre, Christophe. Constraint Networks: Techniques and Algorithms. ISTE/Wiley, 2009.
    • Phil McMinn. Search-based Software Test Data Generation: A Survey. Software Testing Verification and Reliability, Wiley. 2004.
    • Chayanika Sharma, Sangeeta Sabharwal, Ritu Sibal. A Survey on Software Testing Techniques using Genetic Algorithm. IJCSI International Journal of Computer Science Issues, Vol. 10, Issue 1, No 1, January 2013.
    • Ian Sommerville. Software Engineering (9th Edition). Pearson Education, Addison-Wesley, 2010.
    • Anshul, Sompal, Vikas Sheoran. Automatic Code Generation Using Uml To Xml Schema Transformation. International Journal of Advancement in Engineering Technology, Management and Applied Science, Volume 1, Issue 2, 2014.

    Ngày nhận bài:

    19/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    05/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

    68                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/5-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ti%E1%BA%BFp-th%E1%BB%8B-tr%C3%AAn-facebook-%C4%91%C3%A3-thay-%C4%91%E1%BB%95i-l%C3%A0m-th%E1%BA%BF-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-trong-n%C4%83m-2018.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

     

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Tôi muốn đưa bạn trở về năm 2013.

     

    Khi đó, tôi bắt đầu viết blog chuyên nghiệp. Obama là tổng thống, Snowden chưa tiết lộ với thế giới bất kỳ điều gì kinh khủng và truyền thông trên mạng xã hội cho doanh nghiệp chưa có nhiều việc để làm.

     

    Thuật toán của Facebook vẫn chưa đưa ra một sự khó khăn nào trong việc hạn chế khả năng tiếp cận tự nhiên. Các quảng cáo trên Facebook chưa chiến ưu thế trong News Feeds.

     

    Đó là những ngày tươi đẹp.

     

    Bài viết này sẽ lướt qua những thay đổi mà chúng ta đã thấy trên Facebook trong vài năm gần đây, và những cơ hội nào còn lại mà bạn có thể tận dụng cho doanh nghiệp của mình.

     

    1.   Bạn còn có thể tiếp cận được người hâm mộ của mình?

     

    Lượt tiếp cận tự nhiên (Organic reach) đã từng chiếm 15-20% đối với hầu hết các trang trên Facebook. Tuy nhiên, trong vài năm qua lượng tiếp cận này đã sụt giảm đáng kể. Điều này không có gì bất ngờ đối với các marketer.

     

    Vậy, trong năm 2018 này có những cách nào để tăng khả năng tiếp cận. Nó bao gồm:

     

    • Thể hiện phong cách riêng của bạn
    • Đặt những câu hỏi
    • Sử dụng hình ảnh (kích thích, trend, chế…)
    • Cung cấp một cái nhìn bên trong
    • Đo lường và lặp lại các bước trên
    • Chia sẻ nội dung của Fan. (Mục đích nói rằng bất kỳ người nào là thành viên của trang đều đáng được trân trọng)
    • Trình bày bài viết đơn giản
    • Sử dụng thông điệp nhất quán và nội dung thực sự có ích
    • Trân trọng và đánh giá cao những Fan của mình
    • Luôn vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. (Đừng cung cấp nội dung gì hay làm gì để trang của mình thành nơi công kích lẫn nhau)

    Để thành công trên Facebook năm 2018, bạn sẽ phải làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Khi nói đến “nhiều hơn”, có 2 chiến lược chính mà bạn cần đặc biệt quan tâm. Đó là Livestream Facebook và Video được biên tập và tải lên Facebook.

     

    2.   Facebook Live Video (hay còn gọi là Livestream Facebook)

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Snapchat, Youtube Live, Periscope và tất cả các nền tảng video trực tiếp khác. Do đó, Facebook khuyến khích, và ưu tiên người dùng sử dụng nền tảng này theo nhiều cách khác nhau.

     

    Chúng tôi đã nghe tin đồn về điều này vào đầu năm 2017, và cho phép thử nghiệm vào tháng 5. Đây là hoạt động của các bài đăng trên Facebook của chúng tôi từ ngày 22 đến 30 tháng 5 năm 2017.

     

    5 cách để video Live của bạn nhiều người xem

     

     

    • Giới thiệu chủ đề của video, giới thiệu bạn, nhiều lần và đừng quên chào những người tham gia video live của bạn.
    • Tạo không khí vui vẻ. (biểu cảm khuôn mặt, các động tác cơ thể…)
    • Trò chuyện nhiều hơn với khán giả, cố gắng kéo dài thời gian trước khi bắt đầu nội dung chính. Nếu bạn bắt đầu những thứ hấp dẫn nhất của buổi live thì những người vào sau sẽ không biết điều gì đã xảy ra cả.
    • Thường xuyên yêu cầu người xem chia sẻ, like và bình luận video trực tiếp của bạn để tăng lượt xem video. Đặc biệt là khi mới bắt đầu.

    3.       Video được quay lại bằng Facebook

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Youtube. Do đó mỗi video được tải lên trực tiếp bằng nền tảng của họ sẽ thấy nó được “đánh dấu” nếu video đó được tải lên qua Youtube.

     

    Vào tháng 3/2016, nền tảng phân tích phương tiện truyền thông xã hội Quintly phân tích 6,2 triệu bài viết bởi 167.000 người trên Facebook. Kết quả đúng như họ dự đoán, các video gốc trên Facebook được sự chia sẻ nhiều hơn với mức tăng 478%.

     

    Nhưng vào tháng 12 năm 2016, các video gốc của Facebook đột nhiên nhận được tỷ lệ chia sẻ trung bình cao hơn 1055,41% so với các video trên Youtube. Rõ ràng Facebook đã cập nhật thuật toán của mình. Và dĩ nhiên là họ ưu tiên con đẻ của mình hơn rồi.

     

    Biết được giá trị của một Fan (người hâm một, 1 lượt like)

     

    Trước kia, mục tiêu của một doanh nghiệp khi truyền thông trên mạng xã hội chỉ đơn thuần là lượt like, like và like.

     

    Là một công ty quảng cáo truyền thông xã hội (Social media), điều này thật dễ dàng với chúng tôi. Nền tảng của chúng tôi được xây dựng xung quanh việc khuyến khích người dùng trở thành 1 Fan (chính xác hơn là làm mọi cách để nhiều người like trang càng tốt)

     

    Tuy nhiên, khi sự tiếp cận tự giảm mạnh và các doanh nghiệp bắt đầu thực sự đo lường giá trị

     

    giữa số tiền họ bỏ ra (mua like) và kết quả thu được. Toàn bộ ngành công nghiệp đã phải thay đổi.

     

    Hãy làm một phép toán nhanh để bạn hình dung những gì tôi đang nói:

     

    Giả sử bạn có 10.000 người hâm mộ (like, follows)

     

    Khi bạn đăng một bài viết, có thể bạn sẽ đạt được 6,5% lượt tiếp cận tự nhiên. Tức là khoảng 650 người trong tổng số 10.000 người.

     

    Bây giờ, vào trình quản lý quảng cáo, bạn sẽ thấy các thông số chi tiết ví dụ như:

     

    Bài đăng của bạn có 650 tiếp cận (nhìn thấy), tỉ lệ nhấp chuột là 5%. Như vậy bạn thực chất chỉ có 33 người xem bài viết của bạn.

     

    Thế nhưng 50% trong số đó đã là khách hàng của bạn, vậy bạn chỉ còn lại 16 người. Tỉ lệ chuyển đổi là 5% (mức trung bình) và thật không may, chúng tôi đã ở dưới mức 1%.

     

    Như vậy cơ hội chuyển 1 trong 10.000 người like thành khách hàng thông qua Facebook ít hơn 0.01%.

     

    Vậy phải làm gì?

     

    Chuyển người hâm mộ (like, follows) thành khách hàng tiềm năng bằng cách.

     

    • Tạo quảng cáo “chỉ dành cho người hâm mộ”. Yêu cầu họ cung cấp địa chỉ email để tham gia và có cơ hội giành được giải thưởng của bạn.

    Đây là chiến lược hoàn chỉnh:

     

    • Sử dụng các cuộc thi trên Facebook để khuyến khích người hâm mộ cung cấp cho bạn địa chỉ của họ.
    • Phân loại khách hàng tiềm năng của bạn dựa trên sản phẩm mà họ muốn nhận được khi chiến thắng.
    • Nhắc nhở họ chia sẻ cuộc thi trên trang của họ, gắn thẻ bạn bè… để có thêm cơ hội giành chiến thắng.
    • Thông báo người chiến thắng giải thưởng lớn và chắc chắn rằng bạn sẽ trao cho tất cả người trúng thưởng các giải thưởng mà họ trúng như đã hứa. Đồng thời cũng tặng cho tất cả người chơi phiếu giảm giá (mang thương hiệu của cuộc thi) 10% hoặc miễn phí vận chuyển… khi mua hàng của bạn. Tạo mã giảm giá của bạn trong khoảng thời gian nhất định.
    • Gửi email nhắc nhở 48h trước khi phiếu giảm giá hết hạn. Và cho họ thêm 2h nữa để mua hàng. Khi đó nhấn mạnh với họ rằng: Vì bạn tham gia cuộc chơi nên mới có ưu đãi về thời gian như thế.
    • Khi bạn tiếp tục chạy bán hoặc quảng bá sản phẩm có liên quan đến dữ liệu khách hàng của cuộc thi kể trên, hãy chắc chắn gửi cho họ một thông báo bằng email.

    Bạn có phải trả tiền để chơi cuộc chơi này?

     

    Một trong những thay đổi lớn nhất của Facebook là cái gọi là cấu trúc “trả tiền để chơi”. Điều này làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều marketer.

     

    Thế thì bạn có phải trả tiền để tham gia cuộc chơi?

     

    Câu trả lời là có, nhưng không phải quá nhiều như google hay những nền tảng khác.

     

    Quảng cáo Facebook thực sự mang lại một lựa chọn tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp so với việc sử dụng cách tiếp cận thông thường.

     

    Tôi muốn mọi nhà tiếp thị về Social media ngừng suy nghĩ về Quảng cáo trên Facebook như là một giải pháp thay thế cho phạm vi tiếp cận tự nhiên.

     

    Việc tăng số lượng bài viết là rất tốt, nhưng tại sao bạn phải trả tiền để nhắm tới mục tiêu là

     

    những người đã biết. Trong khi bạn hoàn toàn có thể dùng nó để nhắm tới mục tiêu khách hàng mới.

     

    Hãy bắt đầu suy nghĩ về quảng cáo trên Facebook như là sự thay thế cho Quảng cáo Google, nếu bạn làm điều đó bạn sẽ sớm vui vẻ như tôi.

     

    Quảng cáo Facebook cung cấp tính năng nhắm mục tiêu đến đối tượng chính xác và giá mỗi lần nhất chuột được hiển thị rất trực quan và ấn tượng.

     

    Giả sử bạn là một nhiếp ảnh gia ở Victoria, Canada và bạn đang điều hành chương trình khuyến mại trong mùa thu dành cho đối tượng gia đình.

     

    Bạn sẽ chụp ảnh toàn bộ gia đình với giá 450 đô la. Bạn tạo tài khoản Facebook Business Manager và truy cập vào phần quản lý quảng cáo của Facebook.

     

    Bước 1: Chọn mục tiêu quảng cáo của bạn (để thu hút lưu lượng truy cập đến trang chiến dịch của bạn, tôi sẽ chọn Traffic)

     

    Bước 2: Chọn vị trí đối tượng của bạn

     

    Bước 3: Chọn đối tượng cụ thể của đối tượng của bạn

     

    Bước 4: Chọn ngân sách của bạn.

     

    Bước 5: Tạo hình ảnh quảng cáo của bạn. Bạn có thể tự thiết kế hoặc thiết kế bằng các công cụ hỗ trợ online.

     

    Bước 6: Xuất bản quảng cáo của bạn.

     

    Chú thích:

     

    Đây chỉ là một hướng dẫn rất cơ bản cách quảng cáo trên Facebook. Có hàng chục cách để tối ưu hóa và cải thiện kết quả của chiến dịch quảng cáo. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn chi tiết bằng cách search.

     

    1. Sử dụng Facebook cho việc tương tác với khách hàng.

    Dịch vụ khách hàng

     

    Rất nhiều công cụ trợ giúp đã được Facebook tích hợp, điều đó đồng nghĩa với việc nhân viên hỗ trợ khách hàng của bạn có thể phản hồi các tin nhắn trên Facebook thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.

     

    Facebook đã thực sự trở thành một phần mở rộng trong hệ thống website của bạn. Là nơi bạn đăng các sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Là nơi bạn giới thiệu phong cách thương hiệu của bạn, giới thiệu nhân sự mới, chia sẻ cuộc họp và là nơi trả lời các câu hỏi từ khách hàng, người hâm mộ.

     

    Dịch vụ khách hàng trên Facebook chỉ là một trong nhiều điều mà các doanh nghiệp đã rời khỏi Facebook bỏ lỡ. Sự sụt giảm trong phạm vi tiếp cận tự nhiên có thể khiến bạn bực bội và từ bỏ cuộc chơi. Nhưng nền tảng “trả tiền để chơi” cũng có rất nhiều điều tích cực và hay ho nếu bạn chịu khó khám phá.

     

    Có một điều ai cũng thấy và nó không thay đổi với Facebook kể từ năm 2012 đó là: Facebook là nơi khách hàng, và khách hàng tiềm năng của bạn xuất hiện nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

     

    Phản hồi của khách hàng

     

    Hãy cân nhắc việc hỏi những người hâm mộ, theo dõi bạn về:

     

    • Sản phẩm mà họ yêu thích
    • Điều gì ở doanh nghiệp của bạn (sản phẩm, dịch vụ) làm cho họ phiền toái nhất.
    • Tên của sản phẩm mới, danh mục sản phẩm, tính năng sản phẩm…
    • Thông tin của họ

    Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng một số tính năng ít được biết đến của họ, Facebook có xu hướng ưu tiên hiển thị cho các cuộc thăm dò (và các câu đố) trong thuật toán tin tức của họ.

     

    Mặc dù không phải tất cả người hâm mộ của bạn sẽ nhìn thấy nó, nhưng tỷ lệ xuất hiện sẽ cao hơn nhiều so với hầu hết các loại bài đăng khác và chắc chẳn đủ để bạn có được cái nhìn sâu sắc hơn về khách hàng và người hâm mộ của mình.

     

    Tổng kết lại

     

    Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook đã có hơn 2 tỷ người dùng. Một con số ấn tượng nhưng đó là kết quả của cả một chặng đường dài.

     

    Một số người trong chúng ta sẽ nhớ lại vào năm 2005, khi mà chúng ta phải có một email đại học để có thể tạo được 1 tài khoản.

     

    Tôi nhớ khi quảng cáo lần đầu tiên xuất hiện trên Newsfeed và khi nút Like được giới thiệu. Tôi nhớ được sự huyền diệu khi lần đầu viết bài về tiếp thị trên Facebook.

     

    Vì vậy, từ năm 2013 Facebook dù không phải là nền tảng duy nhất nhưng nó vẫn là một nền tảng rất có khả năng để phát triển việc kinh doanh trực tuyến của bạn.

     

    Bạn có sử dụng Facebook cho việc sáng tạo hay bất kỳ việc gì khác trong năm qua?

     

    Bạn cảm thấy thất vọng bởi những gì bạn thấy trong Facebook marketing hoặc có câu hỏi về quảng cáo?

     

    Hãy để lại trong mục bình luận bên dưới để chúng ta cùng trao đổi nhé!

     

    Tác giả: James Scherer

     

    Dịch bởi: Chiasekhoahoc.net

     

    Bài viết gốc: https://www.postplanner.com/blog/ways-marketing-on-facebook-has-changed-how-to-use-it-2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Customer satisfaction with online group buying services


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-marketing-mix-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-nh%E1%BA%ADn-bi%E1%BA%BFt-li%C3%AAn-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-v%C3%A0-l%C3%B2ng-trung-th%C3%A0nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Sanest-Kh%C3%A1nh-H%C3%B2a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ MARKETING-MIX ĐẾN SỰ NHẬN BIẾT, LIÊN TƯỞNG VÀ LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU – TRƯỜNG HỢP SANEST KHÁNH HÒA

     

    THE INFLUENCE OF MARKETING-MIX ELEMENTS ON THE AWEARNESS, ASSOCIATIONS AND LOYALTY OF BRAND – A SITUATION OF KHANH HOA SANEST

     

    Lê Thị Hồng Yến1, Hồ Huy Tựu2

     

    Ngày nhận bài: 01/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 26/11/2013; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu kiểm định vai trò và mối quan hệ của các yếu tố marketing-mix (chất lượng, giá, phân phối và xúc tiến) đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu cho Sanest Khánh Hòa. Dựa vào 333 mẫu điều tra khách hàng, phương pháp phân tích CFA, SEM để đánh giá độ tin cậy, giá trị các thang đo, kiểm định mô hình đề xuất, giả thuyết. Kết quả là bốn nhân tố marketing-mix đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Đến lượt nó, lại có ảnh hưởng dương đến lòng trung thành thương hiệu. Nghĩa là, các yếu tố marketing-mix đều ảnh hưởng gián tiếp đến lòng trung thành thông qua nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Điều này là quan trọng giúp Sanest Khánh Hòa có những định hướng phù hợp trong chiến lược marketing-mix để xây dựng và phát triển thương hiệu.

     

    Từ khóa: marketing-mix, nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu, Sanest Khánh Hòa

     

    ABSTRACT

     

    This study tests the role of marketing-mix elements (quality, price, distribution and promotion) on the awareness, associations and loyalty of brand for the case of Khanh Hoa Sanest company. Based on a data set of 333 customers, confi rmatory factor analysis (CFA) and structural equation model (SEM) were used to assess the reliability and validity of the constructs, and to test the proposed theoretical model and hypotheses. Results show that the marketing-mix elements have positive effects on the awareness and associations of brand. In its turn, on the awareness and associations of brand has a positive effect on brand loyalty. Therefore, the results say also that the marketing-mix elements have indirect effects on brand loyalty via the awareness and associations of brand. The results are important to help Khanh Hoa Sanest company with its marketing-mix strategies which need to build and develop the brand.

     

    Keywords: marketing-mix, awareness, association and brand loyalty, Khanh Hoa Sanest

     

     

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Các tranh luận về mặt lý thuyết và thực tiễn gần đây trên thế giới cho rằng chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu là các thành phần cốt lõi của giá trị thương hiệu và các nhân tố marketing-mix là tiền đề quan trọng tạo nên giá trị thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Keller, 2001; Wood, 2000). Mặc dù, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu đã thực hiện ở trong và ngoài nước (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Aaker, 1996; Nguyễn Đình Thọ

     

    và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) nhưng chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu. Vì vậy, bài báo này kiểm định vai trò của các yếu tố marketing-mix đối với giá trị thương hiệu trong mô hình quan hệ cấu trúc chung, trong đó các yếu tố marketing-mix được đề nghị có ảnh hưởng dương trực tiếp đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và có ảnh hưởng dương gián tiếp lên trung thành thương hiệu thông qua sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    • Lê Thị Hồng Yến: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 – Trường Đại học Nha Trang
    • Hồ Huy Tựu: Khoa Kinh tế – Trường Đại học Nha Trang

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 209

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa (Sanest Khánh Hòa) là một trong những công ty gặt hái được nhiều thành công và khẳng định được thương hiệu của mình. Tuy nhiên, hoạt động marketing hướng đến xây dựng, củng cố thương hiệu còn nhiều hạn chế: hình ảnh cửa hàng không ấn tượng, chương trình hậu mãi và dịch vụ sau bán hàng không được quan tâm đúng mức, quảng bá mờ nhạt. Vì thế, nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua xem xét ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu sử dụng phương pháp lập mô hình phương trình cấu trúc. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cung cấp một số hàm ý marketing giúp cho lãnh đạo Công ty có những thông tin cần thiết về tầm quan trọng của các yếu tố marketing-mix đến các thành phần nói trên mà công ty đang xây dựng.

     

    1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    2. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là khách hàng đã biết đến thương hiệu Sanest Khánh Hòa.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    2.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với khách hàng trên thị trường Nha Trang. Đối tượng phỏng vấn có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên và phỏng vấn khoảng 350 khách.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đọan chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp… Bảng câu hỏi được gửi đến trực tiếp 350 khách hàng nhưng thu về được 333 mẫu hợp lệ. Tác giả tiến hành các phân tích như: kiểm định độ tin cậy các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích SEM, và các phân tích cần thiết khác.

     

    1. Cơ sở lý thuyếtt, mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    • Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và mối quan hệ với trung thành thương hiệu

    Quan điểm tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng cho rằng tài sản thương hiệu bao gồm chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu (Aaker và Keller, 1990). Nhận biết thương hiệu là một thành phần thái độ của khách hàng với thương hiệu, có nhiều mô hình về thái độ

    con người. Mô hình thông thường cho rằng thái độ là một khái niệm đa thành phần: nhận biết, đánh giá, thích thú và xu hướng hành vi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức độ nhận biết thương hiệu nói lên khả năng nhận dạng, phân biệt các đặc điểm của một thương hiệu trong tập hợp các thương hiệu trên thị trường của khách hàng (Aaker, 1991). Liên tưởng thương hiệu mà khách hàng cảm nhận, đánh giá có thể là các thuộc tính sản phẩm, hình tượng cá nhân hoặc một biểu tượng nào đó và nó cũng được dẫn dắt bởi đặc tính của thương hiệu, đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách hàng (Keller và Aaker, 1990). Một số tác giả cho rằng nhận biết thương hiệu có mối quan hệ mật thiết với liên tưởng thương hiệu và hầu như giữa chúng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, họ thường cho 2 nhân tố này là một (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng bằng cách gợi lại trong tâm trí của họ hình ảnh sản phẩm, nó giống như sự hiển thị của cảm xúc đối với sản phẩm ấy (Keller, 1993). Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu nói lên xu hướng mà khách hàng mua, sử dụng một thương hiệu nào trong một họ sản phẩm, kí mới những hợp đồng giao dịch và lặp lại hành vi này, hay chống lại khả năng chuyển đổi sang nhà cung cấp khác (Aaker, 1991). Gia tăng sự trung thành đóng vai trò quan trọng khi các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội (Aaker và Keller, 1990). Sự trung thành thương hiệu thường được xem lại kết cục của sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Aaker, 1991). Tức là, nếu khách hàng có sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng nhiều thì lòng trung thành thương hiệu càng cao và ngược lại. (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Dựa vào các cơ sở lý thuyết và bàn luận trên đây, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H1: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh, mức độ trung thành thương hiệu càng cao

     

    3.1.2. Các yếu tố marketing-mix 4P và 4C của khách hàng

    Lý thuyết marketing cho rằng các yếu tố marketing-mix (4P) là nỗ lực của doanh nghiệp có tác dụng thúc đẩy mức độ mua hàng ở thị trường mục tiêu (Kotler, 2007). Quan điểm hành vi khách hàng lại cho rằng các yếu tố 4P có sự tương thích một đối một với 4 yếu tố cảm nhận quan trọng (4C) của khách hàng (Schiffman và Kanuk, 2010). Bởi vì giá trị thương hiệu là một hiện tượng cảm nhận và tích lũy kiến thức thương hiệu của khách hàng

     

    210 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    (Aaker, 1991). Do đó nghiên cứu này tiếp cận định nghĩa và đo lường các nổ lực marketing-mix dựa trên sự cảm nhận của khách hàng (Yoo, Donthu và Lee, 2000) hơn là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.

     

    Thứ nhất, sản phẩm (Product – P1) mang đến giải pháp cho khách hàng (Customer solution – C1) được biểu hiện qua chất lượng cảm nhận (Schiffman và Kanuk, 2010). Vì thế, nghiên cứu này tiếp cận chất lượng cảm nhận được đánh giá dựa vào những niềm tin nhận thức quan trọng liên quan đến một sản phẩm, dịch vụ hoặc thương hiệu (Olsen, 2002).

     

    Thứ hai, giá (Price – P2) phản ánh chi phí (Cost – C2) khách hành bỏ ra để có sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Các nghiên cứu đã cho rằng người tiêu dùng không phải luôn nhớ các mức giá thực sự của sản phẩm mà ghi nhận giá theo các cách có ý nghĩa với họ. Nghiên cứu này định nghĩa yếu tố giá theo cách hiểu của Zeithaml (1988).

     

    Thứ ba, phân phối (Place – P3) thường được liên hệ với cảm nhận về sự thuận tiện của khách hàng (Convenience – C3) (Schiffman và Kanuk, 2010). Các noõ lực phân phối của doanh nghiệp có thể liên quan đến cường độ, mật độ phân phối và xây dựng hình ảnh của nhà phân phối (Kotler, 2007). Tuy nhiên, đối với khách hàng cái họ cần là sự sẵn có, dễ dàng tìm mua, tốn ít thời gian và nỗ lực… để có được sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Nghiên cứu này tiếp cận yếu tố phân phối chỉ tập trung vào cường độ phân phối bỏ qua các khía cạnh khác và định nghĩa yếu tố phân phối như cảm nhận về sự thuận tiện thị trường của sản phẩm (Seiders và ctv, 2005).

     

    Cuối cùng, xúc tiến (Promotion – P4) cung cấp thông tin cho khách hàng (Communication – C4) liên quan đến sản phẩm hoặc thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010). Khách hàng có thể có thông tin qua đánh giá của họ về hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… của doanh nghiệp (Kotler, 2007). Từ đây, xúc tiến được định nghĩa bao gồm tất cả cảm nhận của khách hàng về thông tin truyền thông mà họ nhận được đối với thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010).

     

    3.1.3. Quan hệ giữa chất lượng cảm nhận với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Người tiêu dùng là người có khả năng nhận biết và liên tưởng thương hiệu tốt nhất, bởi vì khi khách hàng sử dụng sản phẩm và tin tưởng vào chất lượng mà nó đem lại, họ sẽ cố gắng lưu trữ hình ảnh thương hiệu đó trong tâm trí ngay lập tức (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Vì vậy, chất lượng cảm nhận của thương hiệu càng cao thì giúp họ nhận biết và

    liên tưởng thương hiệu càng nhanh (Aaker, 1991;

     

    Keller, 1993). Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H2: Chất lượng càng được cảm nhận tốt, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.4. Quan hệ giữa giá với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Hầu hết các nghiên cứu trước đây khẳng định giá có ảnh hưởng gián tiếp đến nhận biết và liên tưởng thương hiệu thông qua chất lượng cảm nhận, đặc biệt khi giá được cảm nhận ở mức cao hoặc thấp (Kamakura và Russell, 1993; Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức giá vượt trội cũng được xem là kết quả của thương hiệu mạnh (Aaker, 1996). Tuy nhiên, có thể tranh luận rằng việc định giá ở các mức cực biên (rất rẻ hoặc rất đắt) thường có tác dụng gia tăng sự nhận biết và liên tưởng trong giai đoạn kiến tạo thương hiệu bởi tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu. Chẳng hạn, Wal-mart đã không thể nổi tiếng như bây giờ nếu thiếu đi chiến lược định giá rẻ cốt lõi ngay những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường (Magretta, 2002). Bởi vì, Sanest Khánh Hòa đã và đang thực hiện một chiến lược định giá cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh, nó đã tạo lập được danh tiếng thương hiệu của mình như một nhà cung cấp các sản phẩm yến sào cao cấp. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng rằng giá có tác động đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    H3: Giá đươc cảm nhận càng cao (thấp), sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.5. Quan hệ giữa phân phối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Khi một sản phẩm được phân phối với số lượng lớn trong các cửa hàng, siêu thị, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hơn bởi vì họ có thể mua chúng mọi nơi, mọi lúc với ít nỗ lực và thời gian (Smith, 1992). Vì vậy, khi cường độ phân phối tăng lên, khách hàng sẽ cảm nhận nhiều giá trị đạt được hơn đối với sản phẩm phân phối (Seiders và ctv, 2005). Giá trị khách hàng tăng thêm này sẽ có tác động làm gia tăng liên kết tích cực đối với thương hiêu (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Việc phân phối rộng khắp tất nhiên cũng làm gia tăng mức độ tiếp xúc của khách hàng đối với sản phẩm và thương hiệu, qua đó gia tăng mức độ nhận biết của họ đối với thương hiệu. Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H4: Phân phối với cường độ càng mạnh, mức độ nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.1.6. Quan hệ giữa xúc tiến với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng mức độ xúc tiến quảng bá làm gia tăng sự nhận biết

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 211

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    thương hiệu (Boulding, Lee và Staelin, 1994). Các thông tin quảng bá được lặp đi lặp lại sẽ làm tăng xác suất lưu giữ hình ảnh thương hiệu và tạo ra các liên kết đối với thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng (Shimp, 1997). Vì vậy, cường độ xúc tiến quảng bá có tác động tích cực đến sự nhận biết và

     

    liên tưởng làm gia tăng giá trị thương hiệu (Aaker, 1996). Do đó, giả thuyết sau được đề nghị:

    H5: Hoạt động xúc tiến quảng bá càng mạnh, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

     

     

    Hình 1. Ảnh hưởng của các nhân tố marketing-mix đến giá trị thương hiệu

     

     

    1. Đo lường các cấu trúc khái niệm

    Các khái niệm đều được đo trên thang đo Likert 7 điểm từ (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) không đồng ý đôi chút, (4) trung dung,

     

    • đồng ý đôi chút, (6) đồng ý và (7) hoàn toàn đồng ý. 1. Đo lường khái niệm Giá

    Được đo lường bằng 3 biến quan sát trên thang đo Likert 7 điểm là: Giá các sản phẩm Sanest là:

    • cao; (2) đắt và (3) hợp lý (Smith và Park, 1992). 2. Đo lường khái niệm Chất lượng cảm nhận

    Được đo lường trên thang đối cực 7 điểm mở đầu bằng câu giới thiệu chung: “Khi dùng các sản phẩm Sanest, tôi cảm thấy”: (1) vô ích/hữu ích;

    • vô dụng/hữu dụng; (3) dở/ngon; (4) không tốt/ tốt cho sức khỏe; (5) rủi ro/an toàn và (6) kém bổ dưỡng/bổ dưỡng (Olsen, 2002).

    4.3. Đo lường khái niệm Phân phối

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Smith (1992) gồm 5 biến quan sát mở đầu bằng: “Tôi nhận thấy trên thị trường, các sản phẩm Sanest thì”: (1) rất nhiều; (2) vượt trội về số lượng; (3) thuận tiện để mua; (4) bao phủ rộng khắp; và (5) được phân phối ở những nơi hợp lý.

     

    4.4. Đo lường khái niệm Xúc tiến quảng bá

     

    7 biến quan sát được sử dụng để đo lường khái niệm này trên thang đo Likert 7 điểm như sau:

    • Tôi cảm thấy Sanest đã tốn nhiều chi phí đầu tư cho hoạt động quảng bá; (2) Hoạt động quảng bá của

    Sanest là rất chuyên nghiệp; (3) Hoạt động quảng bá của Sanest là rất thường xuyên; (4) Chương trình cổ động của Sanest là rất mạnh; (5) Sanest thường xuyên khuyến mãi bằng quà tặng; (6) Chính sách chiết khấu của Sanest là hấp dẫn; và (7) Quảng bá của Sanest là ấn tượng (Kirmani và Wright, 1989). 4.5. Đo lường khái niệm Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Yoo, Donthu và Lee (2000) gồm 11 biến quan sát: (1) Các sản phẩm Sanest có nguồn gốc từ thiên nhiên; (2) Các sản phẩm Sanest là rất khác biệt; (3) Các sản phẩm Sanest là dành cho mọi người; (4) Các sản phẩm Sanest là đáng tin cậy; (5) Các sản phẩm Sanest là cao cấp; (6) Các sản phẩm Sanest là rất dễ hình dung trong tâm trí;

     

    • Tôi biết rất rõ các sản phẩm Sanest; (8) Tôi có thể nhận biết các sản phẩm Sanest trong số các thương hiệu cạnh tranh; (9) Logo và slogan của Sanest là rất ấn tượng; (10) Tôi dễ dàng nhận biết được kí hiệu và biểu tượng của Sanest; và (11) Tôi cảm thấy dễ dàng nhận ra logo và slogan của Sanest.

    4.6. Đo lường khái niệm Lòng trung thành thương hiệu Sử dụng thang đo Likert 7 điểm của Beauty và Kahle (1988) với 5 biến quan sát: (1) sự lựa chọn hàng đầu của, (2) luôn ca ngợi, (3) khuyến nghị mọi người dùng, (4) không mua sản phẩm khác nếu có thương hiệu Sanest, (5) luôn quan tâm. Thêm vào đó,

     

    212 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    nghiên cứu Olsen (2002) tác giả đo lường 5 biến quan sát trong tháng đến: số lần mua/dùng, số lần muốn mua/sử dụng, dự định mua/sử dụng, mong muốn mua/sử dụng, cần mua/sử dụng.

     

    III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    1. Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

    Độ tin cậy của thang đo “Chất lượng” với hệ số alpha = 0.949 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.949. Độ tin cậy của thang đo “Giá” với hệ số alpha = 0.765 là khá tốt. Tuy nhiên, chỉ báo PR3 (giá thương hiệu Sanest là hợp lý) không đóng góp vào thang đo “Giá” (0.909 > 0.765). Vì vậy, chúng sẽ bị loại bỏ mục này ra khỏi thang đo. Độ tin cậy của thang đo “Hệ thống phân phối” với hệ số alpha = 0.920 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.920. Độ tin cậy của thang đo “Xúc tiến” với hệ số alpha = 0.921 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.921. Độ tin cậy của thang đo “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” với hệ số alpha = 0.946 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.946. Độ tin cậy của thang đo Likert “Lòng trung thành thương hiệu” của Olsen (2002) với hệ số alpha = 0.924 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.924. Thêm vào đó, ta cũng đi phân tích “Lòng trung thành thương hiệu” của Beauty và Kahle (1988) với hệ số alpha = 0.937 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.937. Điều này chứng tỏ tất cả các thang đo này có thể sử dụng được và không nên loại bỏ mục nào (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

    1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo sử dụng

    Trong quá trình phân tích và loại biến có trọng số < 0.3. Kết quả phân tích nhân tố cuối cùng là rất tốt, chỉ số Kaiser – Mayer – Olkin là 0.937 thuộc phạm vi được xem là thích hợp, tổng phương sai được giải thích bởi 6 nhân tố này là 75.749%. Đúng như mong đợi, 6 nhân tố được rút ra, các nhân tố khác nhau là tách rời, và các giá trị trọng số nhân tố đều lớn hơn 0.5. Do đó, cả 34 chỉ báo này đều được giữ lại cho bước phân tích tiếp theo.

     

    1. Phân tích mô hình đo lường

    Các thang đo khái niệm sẽ được tiến hành phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Kết quả cho thấy giá trị của thống kê chi – bình phương là 2000.135 với 512 bậc tự do, xác suất 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do CMIN/DF = 3.907 > 2.0. Giá trị RMSEA là 0.094 > 0.08, đồng thời giá trị CFI = 0.864 < 0.90 và GFI = 0.829 < 0.90 nên không thể chấp nhận được. Tác giả tiếp tục thực hiện các bước phân tích tiếp theo để có thể cải thiện độ phù hợp của mô hình tốt hơn. Đề tài này sử dụng một kỹ thuật lấy tổng trung bình các chỉ báo đối với 5 thang đo: “Chất lượng” có 6 chỉ báo lấy tổng ngẫu nhiên 3 trong số 6 chỉ báo, “Phân phối”, “Xúc tiến”, “Lòng trung thành thương hiệu” đều có 5 chỉ báo, lấy tổng ngẫu nhiên 2 và 3 trong số 5 chỉ báo của mỗi khái niệm, “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” có 11 chỉ báo lấy tổng 5 và 6 trong số 11 chỉ báo để hình thành nên 2 chỉ báo chung cho mỗi thang đo của 5 cấu trúc khái niệm này. Kỹ thuật này đã giúp cải thiện độ phù hợp của mô hình ở mức chấp nhận được (GFI > 0.95; CFI > 0.98; RMSEA = 0.073). Kết quả trên bảng 1 cung cấp các chứng cứ về độ giá trị hội tụ và tin cậy của các thang đo.

     

    Bảng 1. Cấu trúc khái niệm, trọng số nhân tố và độ tin cậy tổng hợp

     

    Cấu trúc khái niệm

    Trọng số nhân tố

    t-values

    Độ tin cậy

    Phương

     
       

    Không chuẩn hóa

    Chuẩn hóa

    tổng hợp

    sai trích

     
       
             
                 

    Giá

    1.13 – 1.21

    0.88 – 0.94

    16.83 – 18.06

    0.91

    0.83

     
                 

    Chất lượng

    3.29 – 3.69

    0.87 – 0.91

    19.06 – 20.58

    0.88

    0.80

     
                 

    Phân phối

    2.38 – 3.17

    0.89 – 0.91

    20.14 – 20.64

    0.90

    0.81

     
                 

    Xúc tiến

    2.00 – 3.27

    0.84 – 0.87

    17.81 – 18.73

    0.84

    0.73

     
                 

    Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu

    5.20 – 5.90

    0.89 – 0.93

    20.14 – 21.66

    0.91

    0.83

     
                 

    Trung thành thương hiệu

    2.95 – 3.34

    0.82 – 0.99

    16.98 – 21.98

    0.91

    0.83

     
                 
    1. Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định giả thuyết

    Kết quả cho thấy giá trị của thống kê Chi – bình phương là 122.419 với 43 bậc tự do, xác suất P = 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 213

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    CMIN/DF = 2.847 < 3.0 là khá tốt. Giá trị RMSEA = 0.075 < 0.08, đồng thời hai giá trị GFI = 0.941 và CFI = 0.975 là cao hơn mức đề nghị 0.90. Kết quả phân tích này hàm ý rằng mô hình phương trình cấu trúc có độ phù hợp tốt so với dữ liệu hiện có.

     

    Bảng 2. Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình đề xuất

     

    Giả thuyết

    Kết luận

    Hệ số cấu trúc

     

    Thống kê t

         

    Không chuẩn hóa

     

    Chuẩn hóa

           
               

    H1

    Ủng hộ

    0.42

     

    0.64

    10.54***

               

    H2

    Ủng hộ

    1.82

     

    0.35

    5.14***

               

    H3

    Ủng hộ

    0.82

     

    0.16

    3.43***

               

    H4

    Ủng hộ

    1.93

     

    0.37

    4.41***

               

    H5

    Ủng hộ

    0.91

     

    0.18

    2.45*

               

    p < 0.05, ** p < 0.01, *** p < 0.00

     

    R2: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu = 79.8%, Lòng trung thành thương hiệu = 41.5%.

     

     

    1. Thảo luận

    Kết quả phân tích khẳng định rằng, 4P đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, đến lượt nó cũng tác động rất mạnh đến lòng trung thành thương hiệu. Mặc dù tất cả 5 giả thuyết nghiên cứu đều được ủng hộ nhưng vai trò của chúng là khác nhau. Thật vậy, tương quan giữa sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu là mạnh nhất. Thứ hai, là tác động dương của phân phối đối với sự nhận biết và liên tưởng đó. Mối quan hệ của phân phối còn mạnh hơn của chất lượng cảm nhận tiếp đến là xúc tiến. Giá có ảnh hưởng yếu nhất. Điều này xuất phát từ thực tế vì khi đi mua sản phẩm thương hiệu người ta quan tâm đến chất lượng và xem giá như là một dấu hiệu của chất lượng. Vì thế, giá có tác động yếu nhất đối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000).

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
    2. Kết luận

    Mục tiêu nghiên cứu ở đây là kiểm định mối quan hệ giữa Chất lượng, Giá, Phân phối, Xúc tiến, Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, Lòng trung thành thương hiệu Sanest Khánh Hòa, Khách hàng, bao gồm các đoàn khách du lịch trên cả 3 miền đến Nha Trang. Kết quả đã ủng hộ 5 giả thuyết tác giả đưa ra. Nhưng Công ty cần tập trung nâng cao Lòng trung thành thương hiệu thông qua Sự nhận biết, liên tưởng đối với sản phẩm vì sự tương quan giữa 2 yếu tố này là mạnh nhất. Tuy nhiên, để làm được điều đó công ty cần đẩy mạnh công tác marketing-mix. Phân phối và Chất lượng có tác động mạnh đối với Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Vì thế, nên tập trung hoàn thiện hệ thống phân phối, chất lượng để đem lại sự thuận tiện và tự tin cho khách hàng,

    đó là yếu tố quan trọng trong bối cảnh ngày nay. Xúc tiến có tác động tương đối yếu nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng xúc tiến giúp khách hàng lưu giữ hình ảnh rất tốt. Do đó, Công ty nên có các chiến lược xúc tiến ấn tượng vì khách hàng đánh giá không cao yếu tố này. Giá cũng có ảnh hưởng đến Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu nhưng khách hàng nhận xét giá là cao, điều này phù hợp với lý luận ở trên và chiến lược giá mà Công ty xây dựng. Tuy nhiên, Công ty cũng nên hết sức linh hoạt để có những chiến lược giá sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay. Mặt khác, bài báo cũng có một số hạn chế: trước tiên là đối tượng điều tra, mẫu thuận tiện đã làm hạn chế tính khái quát hóa các kết quả của mô hình, điều này yêu cầu phải lặp lại nghiên cứu tương tự cho một mẫu có tính đại diện và ngẫu nhiên để tăng tính chính xác, khái quát hơn. Tiếp đến, vì chỉ tập trung nghiên cứu các biến marketing-mix, nên nghiên cứu này đã bỏ qua một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu như hình ảnh cửa hàng, văn hóa, giá khuyến mãi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng để có bức tranh toàn diện hơn.

     

    1. Kiến nghị

    Chất lượng và xúc tiến là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp khách hàng nhận biết, liên tưởng và tăng sự trung thành của người tiêu dùng. Với mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng của sản phẩm, đề tài này muốn đưa ra một số kiến nghị như sau:

     

    Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng và thủ tục tinh gọn hơn trong vấn đề nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới để phổ biến về cho các cán bộ học tập và chuẩn bị tiếp cận. Đây là một tiền đề hết sức quan trọng để

     

    214 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    các công ty không ngừng phát triển trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề, tính chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, đó cũng là nền tảng để tạo ra những sản phẩm chất lượng với giá cả hợp lý giúp khách hàng có điều kiện tiếp xúc với sản phẩm một cách dễ dàng hơn và hơn thế nữa nó là nhân tố nâng cao sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu trong họ.

     

    Thứ hai, hiện nay, thương hiệu Sanest đã được đa số khách hàng biết đến và tin dùng. Do đó, trong thời gian gần đây công ty chủ quan nên không có những điều tra về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng. Vì thế, nếu muốn đáp ứng tốt hơn nhu

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Việt

    cầu ngày càng cao của họ thì Công ty cần nỗ lực nhiều hơn trong việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, góp phần nâng cao sự hài lòng để đạt được mục tiêu cuối cùng là lòng trung thành của họ.

     

    Cuối cùng, hệ thống phân phối của Công ty hầu hết tập trung ở các thành phố lớn. Vì thế, Công ty nên mở rộng mạng lưới phân phối ở các tỉnh lẻ để họ có cơ hội tiếp cận với sản phẩm một cách dễ dàng hơn. Nhưng ở các tỉnh lẻ thì giá cả là vấn đề khiến họ quan tâm. Do đó, Công ty cần có chính sách giá theo khu vực phù hợp với thu nhập vẫn còn đang thấp.

     

    1. Phillip Kotler, 2007. Quản trị Marketing. NXB Thống kê. TP. Hồ Chí Minh.
    1. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002. Nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. B2002-22-33.

    Tiếng Anh

     

    1. Aaker, D.A. and Keller, K.L., 1990. Consumer evalutions of brand extensions. Journal of Marketing, 54 (1): 27-41.
    1. Aaker, D.A., 1991. Management brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. New York, the free press.
    1. Aaker, D.A., 1996. Measuring brand equitty aross products and markets. California Management Review, 38 (3): 102-120.
    1. Beauty, S.E. and Kahle, L.R., 1988. Alternative hierachies of the attitute behavior relationship: The impact of brand

    commitment and habit. Journal of Academy of Marketing Science, 16 (summer): 1-10.

     

    1. Boulding, W., Lee, E. and Stealin, R., 1994. Mastering the marketing mix do advertising, promotion and sales force activities lead to differentiation. Journal of Marketing Research, 31 (3): 159-172.
    1. Keller, K.L., 1993. Conceptualizing, measuring and managing customer-based brand equity. Journal of Maketing, 57 (1): 1-22.
    1. Keller, K.L., 2001. Building customer-based brand equity: A blueprint for creating strong brand. Marketing Management, 7: 15-19.
    1. Kamarura, W.A. and Russell, G.J., 1993. Measuring brand value with scanner data, International Journal of research marketing April: 3-22.
    1. Kirmani, A. and Wright, P., 1989. Money talks: Perceive advertising exppenditures and expected product quality. Journal of

    Consumer Reseach, 16 (12): 344-355.

     

    1. Magretta, J., 2003. What management is? How its works and why it’s everyone’s business. Profile books.
    1. Olsen, S.O., 2002. Comparative evaluation and the relationship between quality, satisfaction and repurchase loyalty. Journal of the Academy of Marketing Science, 30: 240-249.
    1. Schiffman, L.G. and Kanuk, L.L, 2010. Consumer behavior. 10th Pearson Prentice Hall, Boston, MA.
    1. Seiders, 2005. Do satisfied customers really buy more? Examining moderating influences in a retailing context. Journal of Marketing, 69 (October): 26-43.
    1. Shimp, T.E., 1997. Advertising, promotion and supplemental aspects of integrated maketing communication. Fort Worth TX: Druden Press.
    1. Smith, D.C and Park, C.W., 1992. The effect of brand extension on marketing share and advertising efficiency. Journal of Marketing Research, 29 (8): 296-313.
    1. Wood, L., 2000. Brands and brand equity: definition and management. Management Dicision, 38 (9): 662-669.
    1. Yoo, B., Donthu, N. and Lee, S., 2000. An examination of selected maketing mix elements and brand equality. Journal of Academy Maketing Science, 28 (2): 195-211.
    1. Zeithaml, V.A., 1988. Consumer perception of price, quality and value: a mean-end model and synthesis of evidence. Journal

    of Maketing, 52 (7): 2-22.

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 215


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Customer-satisfaction-with-online-group-buying-services.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Customer satisfaction with online group buying services

    Journal of Economics and Development Vol. 15, No.1, April 2013, pp. 91 – 120

    ISSN 1859 0020

       

    Customer Satisfaction with

     

    Online Group-Buying Services

     

    Vu Huy Thong

    National Economics University, Vietnam

    Email: [email protected]

     

    Tran Mai Trang

    Academy of Finance, Vietnam

     

    Abstract

     

    Given the essential role of customers to the success of any business, particularly newly-established ones, it is crucial for Hanoi’s online group-buying (OGB) compa-nies to make constant efforts to keep their customers satisfied. This research aims at investigating customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB through both quantitative and qualitative methods including an online customer survey with 150 OGB customers, in-depth interviews with 20 customers, and participant observation of five OGB websites.

     

    The research results show that the key factors affecting OGB customer satisfac-tion include product price, merchandise variety, information quality, product quali-ty, and delivery. Also, despite the high likelihood of customers’repurchasing and rec-ommending to others, Hanoi’s OGB business has not yet met customer satisfaction, particularly in terms of the information quality, supplier’s reputation, product qual-ity and delivery. The root causes of this situation include the incomplete legal frame-work and ineffective management at macro-level; the poor quality management and business ethics of OGB companies; and the limited OGB customers’ awareness of their rights and responsibilities.

     

    Keywords: Online group-buying, customer satisfaction, macro-management, Hanoi, business ethics.

     

    Journal of Economics and Development                            91                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. Introduction

     

    Vietnam’s market adopted the Online Group-Buying (OGB) business model in late 2010 and since then the business has been developing rapidly in big cities of the country, particularly Ho Chi Minh City (HCMC) and Hanoi. With its dominant economic advan-tages, OGB is considered a potential purchas-ing channel, which has attracted an increasing customer volume, particularly under the diffi-cult situation of Vietnam’s economy at the cur-rent time. Statistics show that as of April 2012, approximately 97 group-buying websites have been operating in Vietnam, in which Nhommua, Muachung, Hotdeal, and Cungmua are the four biggest players, accounting for around 90% of the total OGB market share (FTA Marketing Research and Consultant Company, 2011). Geographically, HCMC is a much more active market for OGB than Hanoi with its market share being 71% compared to only 23% for Hanoi (Do, 2011). The rapid establishment of group-buying websites regis-tered signals the fierce competition in order to attract and retain customers.

     

    On the other hand, the growth of OGB busi-ness is characterized by the revenue and num-ber of deals provided. Results from market research show a dramatically increasing trend of these two indicators in Vietnam’sOGB mar-ket.

     

    Despite the increasing number of OGB companies established in Vietnam, this new model is still in its initial development stage with a modest market share and a great level of spontaneity. Poor experience and professional-ism in operating this new type of business has resulted in the recent shutdowns of a number

     

    of OGB sites, which further implies the severe competition within this harsh and unsystemat-ic business context. This stresses the necessity for attracting and retaining OGB customers to maximise the potential of the business model. Improvement in customer satisfaction can be seen as the key to achieving this purpose, since customer satisfaction plays a role as a remark-able determinant of repeat sales, good word-of-mouth, and customer loyalty leading to an increase in profitability and growth (Sheth, 2001). This is particularly essential in today’s market where customers are presented with lots of choices and thus are becoming more demanding and very critical when their expec-tations are not met.

     

    Therefore, an in-depth understanding of OGB customers’ perspectives on this emerging business in Vietnam is of great importance, which has however, not been thorough ly examined yet. This research aims to:

     

    – identify key factors affecting customers satisfaction of Hanoi’s OGB;

     

    – measure the customer satisfaction degree for each key factor;

     

    – determine underlying reasons causing OGB customer dissatisfaction; and

     

    – come up with recommendations for key stakeholders to improve customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB business.

     

    The research focuses on Hanoi’s OGB mar-ket given its strong potential for the OGB busi-ness development in terms of high internet penetration rate (Cimigo, 2011), modest OGB market share (Do, 2011), and high level of cus-tomer loyalty (AC Nielsen, 2009).

     

    2. Theoretical framework

     

     

    Journal of Economics and Development                            92                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    2.1. Online group-buying

     

    OGB refers to a computer-based mercantile exchange mechanism that enables consumers to benefit from volume discounts achieved through shopping together (Kauffman, & Wang, 2001). In this mechanism, OGB web-sites play an intermediate role to enlarge the reach for the vendors offering discounts and create a convenient platform for customers to find the best bargains.

     

    Being one type of online shopping, OGB has all the advantages that online shopping can offer such as time and money savings, global access, reduction of customer’s discomfort caused by factors like judgmental sales assis-tants, traffic jams, etc. (Rowley, 1996). Furthermore, one major advantage of OGB has over ordinary online shopping is its impressive discount offer, which is either a dynamic pric-ing mechanism or a static one (Anand, & Aron, 2003; Kauffman, & Wang, 2001). The former mechanism determines the discount prices by price-quantity functions; whereas, the latter has pre-determined and fixed discount prices.

     

    On the other hand, online shopping cus-tomers in general and OGB customers in par-ticular face numerous challenges that might hinder their adoption of these shopping chan-nels. These challenges include: the possibility to physically examine the product or the retail-er (Ba, Whinston, & Zhang, 2003); the credi-bility and security of online transactions; the invasion of privacy (Libbon, 1999); the mech-anism of payment and refunds, reliability, cus-tomer service; and the ability to cancel orders online (Jones, & Vijayasarath y, 2000). Particularly, given the increasingly great con-cern of online customers on the privacy issues,

     

    numerous academic efforts over years have been made to address this issue such as those of Devlin (1965), Van Swaay (1995) and Flaherty (1991).

     

    2.2. Concept of customer satisfaction Despite the importance of customer satis-

     

    faction, there is still a lack of a consensus in the definition of this concept due to its ambi-guity. From the literature, customer satisfac-tion definitions are divided into two schools of thought that put stress on either an evaluation process or a response to an evaluation process (Giese, & Cote, 2002) with more representa-tives in the latter school. However, each of these definitions only focuses on one segment of response and at a certain stage of the pur-chasing process; thus, it might be difficult for either definition to create a whole conceptual picture of customer satisfaction.

     

    Addressing those weaknesses, Kotler’s def-inition of customer satisfaction is used in this research to conceptually shed light on Hanoi’s OGB customer satisfaction. Kotler (1997) states that customer satisfaction refers to the result of the customer’s experiences coming from various purchasing processes, including: need arousal, information search, alternatives evaluation, purchase decision, and post-pur-chase behaviour. This definition covers all possible responses that might occur as a result of the purchasing experience. Furthermore, it does not restrict the satisfaction timing in a single purchasing phase like many other defi-nitions but instead goes from the most initial stage to the very last step.

     

    2.3. Theoretical models on OGB customer satisfaction

     

     

    Journal of Economics and Development                            93                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    As the literature shows, very little customer satisfaction research has specialised in OGB. There is hardly any model that specifically looks into the satisfaction of OGB customers. Nonetheless, numbers of academic studies on online customer satisfaction can be utilised for the analysis of customer satisfaction in the OGB context, provided that suitable adapta-tion and adjustments are in place.

     

    After reviewing the most relevant models, two remarkable approaches stand out. The first approach stresses the analysis of processes through which customers reach satisfaction, while the second emphasises determinants of customer satisfaction during different stages of the purchasing process.

    A typical model of the first approach is the Expectation-Confirmation Theory (ECT). It emphasises the cause and effect relationship between consumers’ expectations prior to pur-chase, their perceived performance, and their confirmation, satisfaction and intention to repurchase goods or continue service use. It states that consumers’ repurchase intentions mainly depend on their satisfaction with the previous use of that product or service (Anderson, & Sullivan, 1993) while holding expectation as an additional determining factor of satisfaction (Bhattac herjee, 2001). However, Bhattacherjee (2001) is critical that the ECT model does not consider the possible changes in a customer’s expectation resulting from previous consumption experience. In addition, Yi (1990) singles out the differences and even contradictions in conceptualising whether the satisfaction construct in the ECT studies can be interpreted as attitude and emo-tion. The concept of expectation is also

     

    defined very differently across the ECT stud-ies.

     

    To address the lack of the post-consumption expectation construct in the ECT and better adapt the ECT to the information system con-text, Bhattacherjee (2001) introduces the

    Expectation-Conf irmation Model of Information System (IS) Continuance. This model only focuses on the post-consumption variables with the justification that the effects of pre-consumption variables are already cap-tured in the “confirmation” and “satisfaction” constructs. More importantly, it adds a crucial construct of post-consumption perceived use-fulness as a representative of the post-con-sumption expectation, a very essential but missing construct in the ECT model. However, as this advanced model only focuses on the whole process leading to the continuance of use in the IS context, it does not cover the spe-cific determinants contributing to customer satisfaction, thus it hardly facilitates a practical analysis to come up with realistic recommen-dations for the development of a specific type of business.

     

    The second approach puts great stress on the factors contributing to customer satisfaction during different stages of the purchasing process instead of the process leading to cus-tomer satisfaction. Two outstanding represen-tatives include the E-service Quality Dimension model (Lee, & Lin, 2005), and the Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment (Liu, He, Gao, & Xie, 2008).

     

    Lee and Lin’s E-service Quality Dimension model (2005) establishes linkages between e-service quality dimensions in online shopping with overall service quality and customer sat-

     

    Journal of Economics and Development                            94                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 1: Proposed research model for OGB customer satisfaction analysis

     

     

     

     

     

     

    Source: Adapted from Smith (2007) and Liu et al. (2008)

    isfaction, which in turn affect customer pur-

    Gao and Xie (2008) looks into various factors

    chase intentions, and therefore can be suitable

    that can affect customer satisfaction in the

    for studies on e-service in general, but not

    three stages of the purchasing process, namely

    research on particular aspects of the OGB cus-

    information search and alternatives evaluation

    tomer satisfaction.

    (pre-purchase), purchase, and post-purchase.

    The Model of Satisfaction Process in E-

    Nonetheless, Liu et al.’s model still misses

    commerce Environment proposed by Liu, He,

    some important factors typical for OGB that

    Journal of Economics and Development                            95                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    can affect customer satisfaction, particularly in Vietnam’s context; for example supplier’s rep-utation, quality of product and sales assistant’s attitude.

     

    Incorporating both of the above approaches, Smith (2007) introduces a comprehensive model called the Measuring Model for Customer Satisfaction, which covers both sat-isfaction process and factors affecting satisfac-tion. However, its list of product/service attrib-utes is quite generic and does not include dis-tinct characteristics of OGB where the partici-pation of an intermedia te party exists. Specifically, it does not cover attributes of OGB websites like website design and transac-tion capability as well as security and privacy factors, which are typical for online shopping.

     

    After a thorough analysis of the pros and cons of different relevant theoretical models, the authors developed the Proposed Model for OGB Customer Satisfaction Analysis to be used in this research (see Figure 1) to explore the customer satisfaction in general, and for each key factor affecting satisfaction in partic-ular while taking into account the customer’s expectation prior to purchase for further impli-cations on how well OGB companies fulfil the needs of customers.

     

    This model was adapted from the Smith’s Measuring Model for Customer Satisfaction and Liu et al.’s Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment. Specifically, it expressed the interaction between customer expectation, perceived quality and satisfaction and positive post-purchase behaviours, i.e. the process of customers reaching their satisfac-tion using the OGB service, as presented in Smith’s model, while listing a number of fac-

     

    tors affecting customer satisfaction suitable to the OGB context as introduced in Liu et al’s model. Moreover, three elements specifically related to Vietnam’s context including suppli-er’s reputation, product quality and sales assis-tant’s attitude were added as extra factors affecting OGB customer satisfaction in Hanoi’s context. These elements were derived from the results of the authors’ desk study via a number of relevant articles from newspapers like Thanh Nien, Tuoi Tre, Tien Phong, etc as well as the authors’ interviews prior to the sur-vey.

     

    3. Research methodology

     

    The aims of this research were not to test any assumption or theory but to explore how Hanoi’s customers are satisfied with OGB companies and to present remarkable patterns and phenomena related to this issue based on the proposed model in Section 2.3. Therefore, the authors followed an inductive approach to carry out the research. Given the limited sam-pling size, the research could hardly formulate a generalised theory for the phenomena that were observed. Instead, it could be a good starting point to facilitate any further research on a larger scale and with more statistical sig-nificance.

     

    Following this approach, a combination of quantitative and qualitative research was applied. The qualitative research, including in-depth interviews with 20 Hanoi OGB cus-tomers and observations on five OGB websites and stores in Hanoi, was conducted prior to the quantitative research to explore factors affect-ing OGB customer satisfaction, customer sat-isfaction relating to the affecting factors, and key root causes of customer dissatisfaction in

     

    Journal of Economics and Development                            96                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    order to provide insights for the formulation of the quantitative research. The selected inter-viewees were the authors’ acquaintances who purchased through the OGB channel at least five times. The limited number of interviewees was due to the authors’ time being constrained, scared financial resources as well as the reluc-tance of many people to do in-depth inter-views, as it is a time-consuming process. Key findings from the qualitative research are pre-sented in Box A1 – Appendix.

     

    On the other hand, the quantitative research in the form of a customer survey aimed at quantifying general patterns about the issues related to shopping experiences of Hanoi’s OGB customers and more importantly, meas-uring customer satisfaction towards OGB companies in Hanoi. To design the question-naire for the survey, it was important to find a suitable rating scale to measure the degree of satisfaction of Hanoi’s OGB customers. In this sense, the authors applied the Likert-type five-category satisfaction scale of “Very Dissatisfied – Dissatisfied – Neutral – Satisfied – Very Satisfied” (Vagias, 2006) with the rationale that a five to seven-point scale pro-vides a higher level of reliability and validity than a scale with fewer points; while more thoroughly graded scales were proven not to improve the reliability and validity any further and the results of five- and seven-point scales were found to be quite compatible (Dawes, 2008).

     

    In brief, the questionnaire design was based on the proposed theoretical framework, inputs of the qualitative research, and the Likert-type five-category satisfaction scale to measure Hanoi’s customer satisfaction with OGB serv-

     

    ices. Technically, the questionnaire was creat-ed through the exploitation of Google Docs, a free online survey-creation tool that assists both survey creation and data analysis.

     

    Before launching the survey, the question-naire was pre-tested for necessary adjust-ments; and then, in late September 2012, post-ed on online social networks including Facebook1, Webtretho forum2, sent via e-mail and online messengers3 with an invitation to join the research and help identify new cases by forwarding the invitation to their acquain-tances. In other words, non-probability sam-pling with self-selection and snowball sam-pling techniques were applied to collect pri-mary data.

     

    With regard to the sample size of the survey, given the current statistical system of Vietnam, it was very difficult (or, it could be said, impossible) to identify the total number of OGB customers currently in Hanoi. Therefore, instead of calculating the sample size using a specific formula and confidence level, the authors determined the sample size based on past research experience. Also, considering the above-mentioned limitations in terms of resources as well as the long-awaited respons-es of the two sampling techniques, the authors decided to finish the survey when 150 respons-es collected.

     

    The data analysis was executed with the help of Google Docs and Microsoft Excel. Google Docs was used to process the data col-lected in the forms of frequency distribution and percentage frequency distribution while Excel was for cross tabulation analysis.

     

    1. Results and discussion

     

     

    Journal of Economics and Development                            97                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    4.1. General characteristics of Hanoi’s OGB customers

     

    4.1.1 Profile of respondents

     

    This section presents the profile of the sur-vey respondents regarding their age, gender, marital status, occupation, and monthly per-sonal income as in the table 1.

     

    Table 1 shows that the majority of the respondents are female and in the younger age groups with 84% of the respondent under 36 years old. The dominant occupation is office staff and students accounting for 89% of the respondents in which office staff are in the

     

    majority (74%). There are no big differences in the proportion of married to single respondents as well as in the distribution of respondents in the various personal income groups.

     

    4.1.2. Overall OGB shopping experiences This section presents the sources of infor-

     

    mation through which the respondents learn of OGB, reasons they buy via OGB, and their shopping habits related to frequency, price range and product type.

     

    The survey results show that the majority of the respondents first learned of OGB websites through the Internet and friends/acquaintances,

     

     

    Table 1: Profile of respondents

       
             
       

    [1]

    

    

     

     

     

    [1]

    

     
     

    [1]

       
       
       

      

    

    

       

    
       

    

    


     

     

    

     

    
        

       
     

     

    

       
       

    [1]

       
       

    

    

    


     

      

     

    [1] 

    

    

       

    [1]

       
       

    ‑‑­  [1]‑‑

     

    

       

    ! 

    

     

     [1]

     

    “[1] 

       
       

    # 

     

    

       

    [1]

       
       

    $ % &'( 
     

    

     
       

    
     &'(      #[1]

     

     

    


    [1]

     

       
    [1]   [1]

     

    
     &'(   

     

    

    

       

     &'(

     

    

    

       

    [1]

       

    Journal of Economics and Development                            98                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    accounting for 70% and 60% respectively. This is expected given the high prevalence of the Internet in Hanoi and its advantages in terms of global access, availability, and inex-pensiveness, as well as the power of word-of-mouth advertising in such a collectivist socie-ty like Vietnam. This reasoning was also con-firmed by the interviewees’ answers in the qualitative research carried out prior to the sur-vey. In contrast, it seems that T.V. is not an appropriate advertising channel for OGB as only 4% reported that they first heard of OGB from T.V.

     

    It can be seen that attractive price is the most common reason for the majority of the respondents (82%) becoming OGB customers, followed by door-to-door delivery (49%). These results were similar to the findings of the qualitative research where most of the interviewees said that they selected this shop-ping channel mostly because of its pricing advantage and door-to-door delivery charac-teristic. These factors can be considered the key advantages of OGB over the traditional purchasing model. The attractiveness of dis-counts to Hanoi’s people is also emphasised in AC Nielsen’s 2009 report on HCMC and Hanoi regional consumer differences.

     

    With regard to shopping frequency, over half of the respondents made their latest pur-chases within the last month, in which 28% purchased within the last week. Women are found to have a greater OGB experience than men with 61% using OGB within one month while this percentage is 45% for men. However, most of the respondents are not reg-ular OGB shoppers since only 7% shop every week and 9% do it every two weeks.

     

    In terms of price range, the respondents gen-erally buy products at rather low prices through this purchasing channel. Sixty percent often buy products priced from VND 200,000 to 500,000 and only 9% buy items over VND 1,000,000. Interestingly, the personal income level seems to be not strictly related to the price of the products bought. Many high-income respondents whose monthly salary is over VND 10 million, purchase products with-in the low price ranges, with 29% buying less than VND 200,000 and 54% buying from VND 200,000 to below VND 500,000.

     

    The most consumed product type is food and beverages (64%), followed by household items (47%) and fashion products (41%) which might result from the generally good experience of the customers with these prod-ucts and the fact that eating is among the most basic human needs, and eating out in a group is a Vietnamese people’s habit.

     

    Regarding the payment method, the majori-ty of the respondents (84%) chose to pay in cash. This possibly results from the incomplete technology infrastructure for online payment in Vietnam, consumer’s concern about online payment security, and the Vietnamese habit of using cash. Additionally, due to the lack of trust in the quality of OGB products, many customers want to check the products physi-cally before making payment instead of paying online in advance. These findings are support-ed by Cimigo’s recent research in Vietnam, which states that very few Internet users feel safe to buy products online and many do not trust online payment systems (Cimigo, 2011).

     

    4.2. Key factors affecting OGB customer

     

     

    Journal of Economics and Development                            99                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    satisfaction

     

    4.2.1. Factors affecting customer satisfac-tion

     

    Figure 2 presents the respondents’ percep-tion of factors affecting their satisfaction towards Hanoi’s OGB in three stages of the purchasing process, in which the factors in the pre-purchase and post-purchase stages were generally considered more meaningful than those in the during-purchase stage with higher rates of selection in these first and last stages by respondents. Interestingly, the four most voted factors include price level, product qual-ity, information quality and delivery, were also mentioned by many interviewees as the factors that had great impact on their satisfaction with OGB business.

     

    The section below provides a detailed analysis of the five most salient factors cited by the highest rates of the respondents (50% or more) as ones that affected their satisfaction towards Hanoi’s OGB including product price, merchandise variety, information quality, product quality, and delivery. Another factor – security/privacy – despite a low rate of selec-tion, signals a significant discrepancy between the findings and existing literature, and thus is also put into consideration.

     

    1. a) Product Price

    Most of the respondents (81%) selected the product price as a factor influencing their over-all satisfaction. This is rational since psycho-logically, customers in general and Hanoi’s customers in particular favour promotional

     

    Figure 2: Factors affecting the respondent’s satisfaction towards Hanoi’s OGB in different stages of purchasing process

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           100                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    programs (AC Nielsen, 2009), among which big discounts may be the most attractive par-ticularly in the current difficult economic con-ditions. The significant discount rates certain-ly give customers the feeling of getting a good deal economically. Therefore, it can be said that the product price receives the greatest attention of customers when judging their sat-isfaction. This goes in line with the finding in Section 4.1.2 that attractive price is the most popular reason for website visitors to use OGB.

     

    1. b) Information quality

    Approximately 50% of the respondents cited the information quality of the OGB web-sites as a factor affecting their satisfaction level. This can be explained by the fact that OGB customers cannot physically examine the products prior to purchase, so the information posted on the OGB websites is the key refer-ence source for their purchasing decisions.

    To enable customers to make informed pur-chasing decisions, it is therefore crucial to have detailed, complete and correct product information on the OGB websites. This is sup-ported by Liu et al.’s studies (2012) in their discussions about the importance of informa-tion quality in the OGB model.

     

    1. c) Merchandise variety

    52% of the respondents picked the merchan-dise variety as a factor that can vary their OGB satisfaction with the rationale that they consid-ered OGB as one of the main shopping chan-nels, and they expected a wide enough variety of products from the OGB websites to satisfy their needs. An inability to provide such a wide product range may damage customers’ positive

     

    feelings about the websites and make them turn to other shopping models eventually.

    Other interviewees, who did not pick this factor, thought of OGB as a “journey of enjoy-ment” rather than a normal purchasing experi-ence. They therefore tend to buy stuff that catches their interest, not necessarily based on their needs. The merchandise variety is there-fore not really their concern.

     

    1. d) Delivery

    The delivery of the purchased product is perceived by about half of the respondents as a contributing factor to their satisfaction. Delivery plays an important role in the opera-tion of an OGB website since delayed deliver-ies, lack of delivery points, charged deliveries or wrong deliveries can easily make customers frustrated. It is thus fair to say that delivery receives significant attention of customers, particularly in the new and flourishing OGB market in Hanoi where unsystematic operation is expected.

     

    1. e) Product quality

    Quite a high percentage (58%) of the respondents considers product quality as hav-ing an effect on their satisfaction with Hanoi’s OGB. Given that the quality issue is particular-ly crucial for Vietnam’s OGB in general and Hanoi’s OGB in particular, customers tend to put extra attention on this factor instead of just concentrating on big discounts. This proves the increasingly demanding characteristic of Hanoi’s consumers who love discount prices without tolerating low quality in exchange. This finding is supported by AC Nielsen’s sur-vey (2009) where the quality-consciousness of Hanoi’s consumers is emphasised.

     

    Journal of Economics and Development                           101                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. f) Security/Privacy

    The survey shows a modest percentage of the respondents (19%) think that the issue of security/privacy can affect their satisfaction level. This finding is totally opposite to the results of many academic studies worldwide where privacy and security in e-commerce have become increasing concerns of online customers; however, this is understandable in the particular context of Vietnam. The risks of the lack of security or privacy being violated mainly occur in two forms, including the expo-sition of customers’ personal contacts without their consent, and the leak of their banking information during online transactions. While many interviewees in the pre-survey qualita-tive research shared their experience about the first form, they hardly thought of it as privacy

     

    violation. This may signal a high level of Hanoi’s OGB customers’ lack of awareness and consciousness of the security/privacy issue. Besides, as most of the respondents pay directly in cash, they are not exposed to the risks of security caused by online payment.

     

    4.2.2. Factors affecting customer satisfac-tion in relation to demographic variables

     

    The research results show that respondents’ perception of which factors affect their satis-faction with OGB business to some extent depends on their demographic status in terms of gender, marital status, occupation, age and personal income.

     

    1. a) Gender

    The study results show differences in the way men and women perceive various factors as contributing to their satisfaction, particular-

     

    Figure 3: Factors affecting the satisfaction of female and male respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           102                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ly product price, and delivery and transaction capability (see Figure 3).

     

    It is found out that women generally paid more attention to the price of products than men (85% versus 68%) as they were often responsible for daily expenditures in their fam-ily. Also, since women in general might not be as good as men in information technology, they were more concerned about the transac-tion capability of the OGB websites (42% ver-sus 24%), i.e. the ease to order deals, pay online and track orders. Regarding delivery, the male respondents seemed to have greater interest than women (63% versus 45%), which is reasonable as men generally want to shop in

     

    the most efficient way, whereas women enjoy shopping and do not mind going to the OGB company offices or suppliers’ stores to choose the most suitable products. This finding is in agreement with Knowledge Wharton’s study (2007) about the variation of shopping behav-iour of different genders.

     

    1. b) Marital status

    The biggest difference between the married and the single respondents was their interest in the delivery, with 70% of the former caring about this factor when talking about their sat-isfaction with OGB compared to 38% of the latter (see Figure 4). While the single people seem to have more leisure time, the married

     

    Figure 4: Factors affecting the satisfaction of single and married respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           103                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ones are often busier, thus they are likely to be more concerned with how efficiently a product is delivered.

     

    1. c) Occupation

    Figure 5 shows a significant difference between office staff, students and traders in terms of their perception of product price as a factor affecting their OGB satisfaction, since the selection rates for the three groups were 100%, 77% and 63% respectively. The absolute rate of the student group is explain-able because most students are financially dependent on their parents; therefore, they have to be price-conscious.

     

    1. d) Age

    Clear discrepancies in the perception of the youngest group (under 23) and the oldest group (over 50) can be observed in the selec-tion rates of product price and delivery factors (see Figure 6). Almost all respondents in the youngest group (96%) cared about the product price. As most of the respondents within this age group were likely to belong to the student group, the results of these two groups were understandably comparable (see Section 4.2.2-

     

    c).Meanwhile, 78% of the oldest group were concerned about delivery compared to 38% of the youngest group. This might be because older people tend to be busier so they may

     

    Figure 5: Factors affecting the satisfaction of respondents from different occupations towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           104                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 6: Factors affecting the satisfaction of younger and older group of respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Figure 7: Factors affecting the satisfaction of lowest and highest personal income group towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           105                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    cherish the time-saving characteristic of deliv-ery more than the youngsters.

     

    It can be concluded that the younger age group generally paid more attention to the product price while the older group tended to be more concerned about the delivery process.

     

    1. e) Personal income

    As shown in Figure 7, 91% of the respon-dents who earned less than VND 3 million per month paid great attention to the product price when buying via OGB. This is expected since people with a lower level of personal income usually have to live on a tighter budget than others and thus have a tendency to be more critical of product prices.

     

    4.3. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

     

    The analysis in this section focuses on the overall satisfaction of the survey respondents towards OGB business in Hanoi and the satis-faction degree for each of the factors perceived by most of the respondents as the ones that affect their satisfaction level with OGB busi-ness. These include product price, information quality, merchandise variety, delivery and product quality (see Section 4.2.1). The input data were computed by taking the average sat-isfaction ratings of different variables (see Table A1 – Appendix). The respondents’ expectations of each factor were also taken into account in the analysis to have better insights into OGB business performance.

     

    4.3.1. Overall satisfaction

     

    The survey results on overall satisfaction show that the majority of the respondents (63%) stayed neutral about OGB performance, 27% were satisfied and 10% felt dissatisfied

     

    and worse, which suggests a medium level of overall satisfaction of the respondents (mean: 3.15). From these data, it can be commented that the overall performance of OGB in Hanoi was somewhat up to the respondents’ expecta-tion.

     

    4.3.2. Satisfaction degree for key factors affecting customer satisfaction

     

    1. a) Product price

    As the product price was perceived as the factor affecting customer satisfaction by the highest number of respondents, and the respondent’s top reason to use OGB, the prices offered by OGB were expected to be consider-ably cheaper than those offered by traditional shopping channels.

     

    The survey results show fairly good responses to this factor with the mean satisfac-tion ratings being 3.44 out of 5. Specifically, nearly 40% of the sample found it satisfactory and 5% expressed their utmost satisfaction. This clearly implies that the OGB economical-ly meets or exceeds the expectations of numer-ous Hanoi’s consumers in their search for a money-saving shopping model, particularly in the current difficult situation of the economy.

     

    1. b) Information quality

    It is common sense for customers, particu-larly OGB customers, to expect truthful infor-mation about the products they intend to buy, so that they can make informed purchasing decisio ns. Unfortun ately, the satisfaction degree of the respondents for information quality was quite low, with 45% of the respon-dents reporting their dissatisfaction and the mean satisfaction degree being only 2.57. This may suggest that many customers do not trust

     

    Journal of Economics and Development                           106                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    the information posted on the OGB websites. The  in-depth  intervie ws  captured  com-plaints  about  the  informatio n  inaccuracy regarding products’ original prices, key fea-tures and images as well as unclear and non-transparent origins of goods or unknown sup-pliers. The same findings are found through the authors’ observation of five OGB websites including Nhommua, Muachung, Cungmua,

     

    Hotdeal, and Cucre.

     

    Therefore, it is fair to state that the quality of information provided by Hanoi’s OGB web-sites generally do not meet the customer’s expectation in terms of truthfulness.

     

    1. c) Merchandise variety

    Consumers are likely to expect that the OGB websites will provide them with a large range of goods and services i.e. great merchan-dise variety to facilitate their shopping.

     

    The survey shows that generally the respon-dents were quite satisfied with this factor as the mean satisfaction level was 3.30. Percentage wise, 38% were either very satis-fied or satisfied with the merchandise variety while merely 10% were dissatisfied. Several interviewees who reported dissatisfaction expressed that sometimes they did not find the needed products in these websites or the prod-ucts they wanted to buy quickly had run out of stock.

     

    The above ratings suggest that the OGB websites meet and even exceed the expecta-tions of most customers about the product range.

     

    1. d) Delivery

    It is reasonable for customers to expect quick and free-of-charge delivery with correct

     

    types and sizes of products. Nonetheless, it is revealed through the survey that the delivery seemed not to satisfy the respondents with 36% choosing the “Dissatisfied” category whereas only 19% expressed their satisfaction, which meant an average satisfaction rating of 2.83. The in-depth interviews discovered that key complaints of the delivery focus on delayed, charged and incorrect delivery. This completely matches the authors’ experiences as OGB customers and the related secondary data in this area.

     

    This rating pattern suggests the inability of some OGB companies in meeting the cus-tomer’s expectation of product delivery.

    1. e) Product quality

    As it is often believed that there is a trade-off between low price and good quality, it is seen from the interviews that the respondents tend to set their expectation of the OGB prod-uct quality to be at an acceptable level.

     

    Looking at customer’s expectation of goods and services separately, while the buyers of goods often wish the goods to be functional with rather appealing appearance and good durability, customers buying services expect good quality, friendliness of service providers and particularly equal treatment with normal customers who do not buy through discount vouchers.

     

    Given the above expectation, the product quality received low levels of satisfaction as the respondents rated their satisfaction 2.68 in average 31% of the respondents expressing dissatisfaction, compared to only 2% reporting satisfaction. The qualitative interviews further explored that among the OGB products

     

    Journal of Economics and Development                           107                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    offered, the quality of food and beverage deals were likely to most satisfy the interviewees, while the quality of fashion deals received a lot of negative comments in terms of counterfeits, fakes, unregistered or Chinese products of low quality, which greatly disappointed customers.

     

    4.3.3. Satisfaction degree in relation to demographic and customer shopping habits variables

     

    The examination of possible relationships between the factors affecting customer satis-faction and the demographic, as well as the shopping habits variables, provides a more insightful understanding about the OGB cus-tomer satisfaction. Due to the time limitation, only two key variables were carefully studied, which included gender and shopping frequen-

     

    cy.a) Satisfaction degree and gender

     

    The following radar chart compares the average satisfaction ratings of female and male respondents with regard to different factors affecting customer satisfaction (see TableA2 – Appendix).

     

    The general trend illustrates a medium level of satisfaction from both genders across all the factors, in which females tend to express greater satisfaction than their male counter-parts. However, the factor of supplier’s reputa-tion seemed to please male respondents more than females. This is quite reasonable as females often shop more frequently than males, which might make them more familiar with brands and the repute of suppliers.

     

    Figure 8: Customer satisfaction degree in relation to gender

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           108                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Women can be more critical than men when it comes to supplier’s reputation. The satisfac-tion patterns between female and male do not differ much among the remaining factors.

     

    1. b) Satisfaction degree and shopping fre-quency

    A rough examination of the relationship between the respondents’ shopping frequency and their average ratings of satisfaction demonstrates some interesting findings (see Table A3 – Appendix).

     

    As shown in Figure 9, the more frequent shoppers, who shop every week, generally have a greater degree of satisfaction related to a variety of factors. It might be rationalised that when these respondents interact more fre-quently with OGB, they are likely to under-stand better about the business, have greater chance to experience good things, and become

     

    more tolerant with the OGB experience. This reasoning is in agreement with Zeithaml, Berry and Parasuraman’s journal (1996) about the relationship between shopping frequency and overall satisfaction.

     

    The average rating of supplier’s reputation of the frequent shoppers was remarkably high-er than that of the less frequent buyers, who only purchase via the OGB channel less fre-quently than every two months. This probably implies that the more a person experiences OGB, the better chance they will have to do transaction with more competent and presti-gious suppliers.

     

    4.3.4. Likelihood of using and recommend-ing the OGB channel in the future

    To comprehensively assess customer satis-faction with the OGB business, apart from measuring the satisfaction degree for each fac-

     

    Figure 9: Customer satisfaction degree in relation to shopping frequency

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           109                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tor affecting customer satisfaction, it is neces-sary to explore the likelihood for the existing customers to repeat their OGB buying practice and recommend this shopping model to others.

    Statistically, the majority of respondents (87%) stated that they would continue to buy via this channel and a remarkable percentage (75%) confirmed the likelihood of recommen-dation. This is surprising given the low degree of satisfaction about the product quality among the respondents as previously analysed. A possible explanation for this result is that the huge financial advantage of this OGB channel outweighs the existing quality problems for many customers. This implies that if OGB companies focus more on fixing current quali-ty issues, they can surely win over many more

     

    customers.

     

    4.4. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

     

    The analysis in the previous parts proposes that apart from the respondents’ positive reflection on Hanoi’s OGB business, there are lots of complaints about the business perform-ance. The survey reveals a number of direct reasons for the customer dissatisfaction as illustrated by Figure 10, among which low quality products, false discount rates and incorrect information provided on websites receive the highest level of dissatisfaction.

    To thoroughly address these defects, it is crucial to have a clear idea of the root causes of this dissatisfaction. To this end, the second-ary data from online articles and T.V. inter-views and the primary data from the qualita-

     

    Figure 10: Direct reasons for OGB customer dissatisfaction

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           110                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tive research provided a great help. Reviewing these sources of data, the root causes can be distributed into three stakeholder categories; namely: macro-level management, OGB com-panies and OGB customers.

     

    4.4.1. Shortcomings related to legislation and infrastructure at macro level

    Like other businesses, OGB is subject to macro-level management. Thus, to improve the OGB performance, it is necessary to exam-ine the weaknesses in macro management of this business in Vietnam. Based on the aggre-gation of data collected from different sources, the root causes related to macro-level manage-ment can be divided into two main categories regarding the legal framework and the technol-ogy infrastructure.

     

    1. a) Lack of legislative regulations and super-vision

    Despite being a hot-trend in the recent years, OGB business still gets little attention from policy makers in Vietnam. Although there are a number of legislative documents related to consumer protection and e-com-merce such as the Law of Consumer Rights Protection, the Decree on E-commerce, and the Circular on Regulation on Operation Management of E-Commerce Websites Selling Goods or Providing Services, it is fair to say that these documents are still incomplete and insufficient. Particularly, they lack forceful sanctions for violation. Additionally, there has been no legislative document specialised in the segment of OGB, where there is clear involve-ment of a third party.

     

    Furthermore, the supervision and inspection on compliance with the legislations related to

     

    consumer rights protection and e-commerce is inefficient and even weak. Consequently, numerous violations of OGB consumer rights related to low quality and counterfeit products, false price discount, incorrect advertisement information , disputes and redress, online fraud, and etc., increasingly take place without being rightfully addressed by any agencies. This is supported by the survey results about the key reasons for customer dissatisfaction with OGB as aforementioned. Customers who have been defrauded are eligible to take legal action against the fraudulent seller, but the process is particularly time and effort consum-ing while positive results are quite uncertain.

     

    The lack of legislative regulations on the specific responsibilities of each party involved in OGB is proven more clearly given the recent temporary shutdown of Nhommua.com. This shutdown caused a huge blow to its cus-tomers as they felt really anxious about who would protect their consumer rights and how if Nhommua.com was out of the picture.

     

    b)Underdeveloped technology infrastruc-ture in Vietnam

     

    To optimise the advantages of OGB, it is necessary to develop a modern and stable infrastructure of technology that allows smooth and safe online orders and payment.

     

    Unfortunately, the currently underdevel-oped technology infrastructure in Vietnam restricts the capacity of carrying out smooth online transactions while ensuring customer security and privacy. Although the respondents seem not to realise the seriousness of the pri-vacy and security issues with only 8% feeling discouraged by the possible leak of private information and 1% expressing displeasure

     

    Journal of Economics and Development                           111                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    with the risk of their money being stolen (see Figure 10), consumers are certainly exposed to these great risks.

     

    Besides the risk of security/privacy, retrieval of money through Vietnam’s online payment system is quite troublesome, which somewhat prevents customers from using this purchasing channel.

     

    4.4.2. Lack of business management skills and business ethics of OGB companies

    OGB companies are likely to be the party that receives the greatest blame from unhappy customers. The root causes of this dissatisfac-tion related to this party can be categorised into two main issues as follows:

     

    1. a) Limited business management skills of OGB companies

    One of the issues of most concern men-tioned by OGB’s unhappy customers is prod-uct quality. Statistics show that 55% of the respondents reason their dissatisfaction with the below-standard quality of products. This is partly due to the companies’ poor quality con-trol over the goods and services provided, par-ticularly the lack of efficient checking and test-ing of the product quality before signing the contract with suppliers.

     

    Turning to delivery, three main reasons for the respondents’ displeasure include slow delivery, wrong delivery and charged delivery with the consensus of 20%, 6%, and 24% of the respondents respectively. This owes to the OGB companies’ inability to create a system-atic procedure for accurate, smooth and timely delivery as well as to cover their expenses rea-sonably.

     

    The lack of management competence of

     

    many OGB companies is also demonstrated in their lack of professionalism in the handling of questions and complaints from customers, which was the contributing factor to the dissat-isfaction of 17% of the respondents.

     

    Furthermore, the OGB companies are responsible for the protection of customer’s privacy/security. Nevertheless, as David Tran, co-founder of Nhommua.com stated, many OGB companies still pay little attention to per-sonal informati on protection (Stories of Vietnamese products, 2012).

     

    Apart from the above mentioned factors, the inefficient operation of the websites, which dissatisfied 6% of the respondents, also proves the poor management of the OGB companies, particularly in terms of information technolo-

     

    gy.b) Lack of business ethics of OGB compa-nies

     

    Besides resulting from the incompetence in quality management, low product quality can also be caused by the poor business ethics of OGB companies that only focus on high com-missions and large numbers of vouchers sold by offering extremely cheap but low quality products.

     

    The most common demonstration of OGB companies’ unethical practices however, does not relate to the quality problem but involves false discount rates with 47% of the respon-dents being disappointed by this factor. In some cases, the discount prices are even high-er than when the products are sold in a regular manner.

     

    The dishonesty of some OGB companies is also expressed through incorrect product infor-

     

    Journal of Economics and Development                           112                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    mation posted on their websites with 38% of the survey participants expressing frustration. These websites have tons of beautiful and vivid photos of the products, most of which are either purely illustrative or heavily retouched and in no sense describe the actual state of the products. Also, the text descriptions of the product characteristics are sometimes inten-tionally vague or even inaccurate. These cer-tainly mislead site visitors to a high expecta-tion of the products advertised.

     

    4.4.3. OGB customers’ lack of awareness of consumer rights and responsibilities

     

    The dissatisfaction of customers comes from not only objective causes but also the customers themselves. The interview results and the secondary data show two main subjec-tive reasons for customer dissatisfaction , including the customers’ lack of awareness of their rights and their responsibilities while doing trading transactions.

     

    1. a) Customer’s lack of awareness of their rights

    This lack of perception has been described in articles in the mass media. As the customers do not perceive their rights as consumers ade-quately, they become more vulnerable to the bad practices of OGB companies. It is unfortu-nate that this unawareness together with hesi-tation psychology prevents many customers from exercising their rights legitimately.

     

    1. b) Customer’s lack of responsibility during trading transactions

    Besides being entitled to a set of rights, cus-tomers must be responsible for their shopping behavio urs to minimise possible harmful results. However, a lot of customers still lack

     

    this sense of responsibility during their involvement in the purchasing process.

     

    In terms of goods deals, a common problem is a customer’s hasty decision to buy eye-catching but unnecessary goods offered by OGB websites. This leads to a later waste as they hardly find any chance to use that prod-uct. Furthermore, the OGB companies often have tight policies on goods change or cash refund after the receipt of goods. Therefore, some customers who do not carefully check the product before finalising the purchase may get into trouble later if they are not satisfied with the products and want a refund.

     

    In terms of service deals, one serious mis-take that customers can make is not.reading the voucher’s instructions thoroughly This may create troubles for customers when using the vouchers.

     

    5 Conclusions and recommendations

     

    5.1 Conclusions

     

    5.1.1. Key factors affecting OGB customer satisfaction

    It is revealed that product price, product quality, merchandise variety, delivery, and information quality are the most popular fac-tors selected by the highest percentage of the respondents; whereas the response time, pay-ment method, and security/privacy are the least popular ones. It is surprising yet reason-able that the finding about security/privacy goes against the literature where security-pri-vacy is among of the most concerned areas in e-commerce.

     

    Some interesting findings come into view considering different demographic variables. Specifically, females pay more attention to the

     

    Journal of Economics and Development                           113                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    product price and transaction capability when shopping, but are less attentive to the product delivery than males. Delivery seemed to attract more attention of married people than the sin-gle ones, as well as more interest of the older age group than the younger age groups.

    5.1.2. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

    The measurement of the customer satisfac-tion degree with the OGB business indicates a medium level of overall satisfaction of the respondents. Among the key factors listed above, the product price and merchandise vari-ety have higher satisfaction degrees while the information quality, product quality and deliv-ery have lower rates.

     

    Taking gender and shopping frequency into account, female customers tended to have higher satisfaction rates than males and more frequent shoppers seemed to be more satisfied than less frequent buyers.

     

    It is revealed that despite not being quite satisfied, the respondents are likely to repeat purchase and recommend to others, which implies that the price advantage outweigh existing problems. This is clearly a good signal for the development of Hanoi’s OGB.

     

    5.1.3. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

    The root causes of customer dissatisfaction can result from three parties, including macro-level management, OGB companies, and OGB customers.

    Firstly, the macro-level management over OGB is considered ineffective due to the lack of specific legislative regulations related to OGB and a functional supervision system to

     

    manage the OGB companies’ operation, as well as the underdeveloped technology infra-structure, which may lead to the poor perform-ance of OGB companies and eventually cus-tomer dissatisfaction.

     

    Secondly, the OGB companies are claimed by the majority of interviewees to be responsi-ble for customer dissatisfaction, particularly in terms of the product quality, false price dis-counts, unprofessionalism in complaint han-dling, and incorrect product information. This may be due to their limitation in quality man-agement and more seriously, their poor busi-ness ethics.

     

    Lastly, the customers themselves may con-tribute to the bad purchasing experiences with OGB businesses where they are probably vul-nerable. This happens as a result of the limited awareness of the OGB consumers about their rights and responsibilities.

     

    5.2. Recommendations

     

    From the previous analysis, it is certain that necessary measures need to be taken to improve the satisfaction of Hanoi’s OGB cus-tomers. In this sense, the authors would pro-pose a number of recommendations as fol-lows:

     

    5.2.1. Strengthen macro-level management over the OGB market

     

    Given the incomplete legal framework spe-cialised in OGB, customers’ growing interest in this business form and the current chaotic situation of this market in Vietnam, it is the right time for the authorities to develop specif-ic and detailed regulations with strict sanctions for bad practices in the management and oper-ation of OGB. This is once again re-empha-

     

    Journal of Economics and Development                           114                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    sised by the incident of Nhommua, a big and firmly established OGB company, which tem-porary shut down last December.

     

    As a latecomer to the already-developed worldwide e-commerce market, Vietnam can and should fully take the advantages as a mar-ket follower to learn from the macro-manage-ment of other countries. Vietnam’s govern-ment can then tailor suitable regulations to proactively manage new e-commerce models instead of passively waiting until problems arise to generate ad-hoc solutions.

     

    Several important categories may be taken into consideration with regard to these legal regulations , for example contrac t terms between OGB companies and their suppliers to protect customers, especially in the case of business disputes, as well as a better method of securing suppliers and customers’ money in the case of OGB companies’ bankruptcy. The latter can be implemented through two possi-ble ways. First, OGB companies might be legally required to put customer’s money into an intermediate means of settlement, like an electronic wallet, which would be managed by a concerned governmental authority. Otherwise, OGB companies might be com-pelled to either put aside daily deposits or buy insurance on their business operation to reduce the financial risk for both suppliers and cus-tomers.

     

    These legal regulations should be broadly disseminated to concerned parties, particularly consumers. The OGB customers should be educated to become well-aware of their rights and responsibilities related to OGB business. In this aspect, the relevant social organisations can play a significant role.

     

    Furthermore, macro-level supervision over the operation of OGB companies must be taken into serious consideration. There should be clear-cut regulations prescribing that a gov-ernmental agency will be the direct manage-ment unit of these companies so that they can operate according to the rules while being strictly monitored by the specific agency that bears specific accountability in front of the government.

     

    Additionally, it is necessary for the govern-ment to develop a strategic plan to strengthen the country’s technology infrastructure in order to ensure a safer online transaction envi-ronment to facilitate the operation of e-com-merce in general and OGB in particular.

     

    5.2.2. Improve quality management and business ethics of OGB companies

    Capacity building activities for OGB com-panies are needed to enhance their manage-ment, particularly with regard to quality inspection, delivery, human resources training, question and complaint handling procedures, and information technology skills.

     

    More importantly, these companies must realise that for long-term profits, they have to use more ethical and more professional meas-ures to attract customers, such as improving the product quality and diversity, delivery process, and information quality, rather than trick customers with incorrect descriptions about products or falsely stated discount rates as some OGB companies are doing now. Otherwise, they will soon lose customers due to current fierce competition and increasingly demanding consumers.

     

    5.2.3. Raise awareness of OGB customers

     

     

    Journal of Economics and Development                           115                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    about customer rights and responsibilities Firstly, OGB customers need to well under-

     

    stand their rights and responsibilities to keep themselves from being vulnerable. They have to be continuously updated with legal knowl-edge related to e-commerce and particularly OGB as well as laws about consumer rights protection.

     

    Secondly, consumers should be critical about their responsibilities when shopping. They should refrain from impulse shopping and spend adequate efforts to study a product pre-purchase. Furthermore, they need to care-

     

    fully check the goods before finalising their purchase to avoid potential troubles later, as well as to thoroughly read the vouchers for service deals about the expiration date, appli-cable items, reservation, time requirement, and etc.

     

    Thirdly, given the current chaotic situation of low quality goods and services offered by many OGB websites, it is strongly advisable that the customers only choose deals from prestigious suppliers or from ones that are highly recommended by their family and friends.

     

    APPENDIX

     

    Box A1: Key findings from the qualitative research

     

    • Attractive price and door-to-door delivery were the most common reasons for selecting the OGB channel.
    • With advantages and a high prevalence of the Internet in Hanoi, and the power of word-of-mouth advertising, these channels were the main sources of information through which the interviewees learned about OGB websites.
    • Customer satisfaction was affected differently by different factors including price level, information quality, merchandise variety, supplier’s reputation, website design, sales assistant’s attitude, payment, response time, privacy, transaction capability, product quality, delivery and customer services, in which the most selected factors included price level, product quality, information quality and delivery.
    • Despite the exposition of customers’ personal contacts without their consent experienced by many interviewees, they were unaware of the security/privacy issues.
    • Product level and merchandise variety were the most satisfactory factors due to low price and a copious range of OGB products offered. In contrast, with fake, counterfeit and low quality OGB products generally, and inaccurate information on products’ original prices and features, the product quality and information quality were the least satisfactory ones.
    • Key root causes of customer dissatisfaction resulted from the ineffective macro-level management of OGB in terms of legislative regulations, supervision systems and technology infrastructure; the quality management limitation and poor business ethics of OGB companies; and the limited awareness of OGB consumers about their rights and responsibilities.

    Journal of Economics and Development                           116                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Table A1: Means and standard deviations of satisfaction degree for all the respondents

     

     [1] 
    

     

     
    
    [1]

    [1]

     
         

    

     [1]

    

       
    

    [1]

     
       

    [1] [1] [1]  

       

    

     

     

       


    

     

    ­[1] ! [1] “[1]

     

    

     

    #  $ [1]  %

    [1][1]&

    

     

    #   %

    [1][1]&

    ‑

     

    (    $ 

    


    ’

     

    )[1] $ [1] [1]

     

    ‑

     

    *[1] +#” 

       

    ’

     

    #[1]

     

    ‘

     

    ,[1]”[1] %$ [1]- [1]  [1][1]  ! [1]&

    ’

    ‑

     

    *[1] $[1]$[1].  [1]

     

    ‘‑

     

    /[1]    $ !

     


     

    *$$[1].  [1]$

    

     

    0″[1]   

     

    

     

    

     

    Table A2: Means and standard deviations of satisfaction degree for female and male

     

    

    [1]

     

       


    

     

    [1] [1]

      [1]
             

    [1]
    [1]

    
    
    

    [1]
    [1]

     

    
    
    

     

    

     

    [1]

     

     

    

     

     

    [1]

     

     

    [1]    

     

    

    

     

    

     

    

     

     

    

     

    

     

    ‑­­

    !”  #

     

    

    ‑­

    

     

    
    ‑

    $! %!

    

     

    ­

     


    ‑­

    $! 

    

    

       

    ‑‑‑

    &! !% 

    ‑
    ‑‑‑

    

     

    ­­

    ‘ %  

    

    

     

    ­‑

    ( !)$#!

     

    ­

       

    ­­

    $   “

    

    
    ­

       

    ‑

    * #  +%! ,      !” -

    ‑

    ­
    ‑

    ‑­

     

    ­‑

    ­

    ( % % . 

    

    

    ­

     

    ‑

    /  0 !% “

    

    ­

     

    
    
    

    (%% . %

    ­

    ­­‑‑­

    

     

    

    Journal of Economics and Development                           117                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Journal of Economics and Development

    118

     

    Vol. 15, No.1, April 2013

    Table A3: Means and standard deviations of satisfaction degree for respondents with regard to shopping frequency

     

     

    [1]   

     

    [1]

    

     

    [1]

     

    [1]

     

     [1]

     
               

    

      
     

     

       

     

     

     

     

     

       

     

     

     

     
                         
     

    [1]

    

     

    [1]

     

    

    [1]

     

     [1]

    [1]

     

    

     

    [1]

     

    

     
       

    [1]

         

    [1]

           

    [1]

         

    [1]

     
                     

    [1] [1] [1]  

     

    

     

    

     

    

    

     

    
    
    

    

     

    

         

    

    

     

     ‑­

    

    
    

         

    

    

     

    

       

    

    
    

     

    

     

    
    

     

    [1]!” [1] #[1]­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

    

     

    $! %![1]

     

    

     

    

     

    

    

     

    

    

     

    

    

     

    

     

    
    

     

    $! ‑­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    

     

    & ! !% ‑­

     

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    

         

    

     

    ‘[1] % [1] [1]

     

    
    

    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    ([1]!­)$#!­

     

    

         

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    $­[1]

     

    

    

     

    

     

    

       

    

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    *[1]‑#[1]­

    

    

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    
    

         

    

     

    (‑[1] %[1]%‑[1]+  [1]

    

    
    

         

    

    

    

     

    

    

           

    

     

    

     

    ,[1] - !%‑ “‑

    

    
    

         

    

       

    

    

       

    
    

         

    

     

    (%%‑[1]+  [1]%

    

    
    

     

    

     

    

       

    

    

     

    

     

    

     

    

     

    Notes:

     

    1. A very popular online social network in the world in general and in Vietnam in particular.
    1. A social interactive forum designed mainly for mothers, fathers and other adults to talk about issues regarding family, society, etc. This is a very popular and highly-active forum in Vietnam with more than 1 million members a t the moment. Link: http://www.webtretho.com/forum/
    1. Yahoo Messenger and Skype.

    References

     

    AC Nielsen. (2009), Ho Chi Minh City and Hanoi Regional Consumer Differences, The Nielsen Company, New York, the United States:

     

    Anand, K.S., & Aron, R. (2003), Group Buying on the Web: A Comparison of Price-Discovery Mechanisms’, Management Science, 49(11), 1546-1562.

     

    Anderson, E.W., & Sullivan, M.W. (1993), ‘The Antecedents and Consequences of Customer Satisfaction for Firms’, Marketing Science, 12(2), 125-143.

     

    Ba, S., Whinston, A. B., & Zhang, H. (2003), ‘Building Trust in Online Auction Markets through an Economic Incentive Mechanism’, Decision Support Systems, 35(3), 273-286.

     

    Bhattacherjee, A. (2001), ‘Underst anding Information Systems Continuance: An Expectation-Confirmation Model’, MIS Quarterly, 25(3), 351-370.

    Cimigo.(2011), 2011 Vietnam NetCitizens Report: Internet Usage and Development in Vietnam. Cimigo. Dawes, J. (2008), ‘Do Data Characteristics Change According to the Number of Scale Points

     

    Used? An Experiment Using 5 Point, 7 Point and 10 Point Scales’, International Journal of Market Research, 50(1), 1-19.

     

    Devlin, P. (1965), The Enforcement of Morals. Oxford, Oxford University Press, the United Kingdom. Do, Q.T. (2011), ‘Vietnam Group-Buying Market Overview 2010-2011 [PowerPoint slides]’, Accessed

     

    August 8, 2012, < http://www.doquangtu.net/2011/11/nghien-cuu-oc-lap-ve-thi-truong-group.html>. Flaherty, D.H. (1991), ‘On the Utility of Constitutional Rights to Privacy and Data Protection’, Case

     

    Western Reserve Law Review, 41(3), 831.

     

    FTA Marketing Research and Consultant Company. (2011), Survey on Online Shopping Behaviour, Accessed August 5, 2012, < http://www.ftaresearch.com/vn/library.php?id=106>.

    Giese, J.L., & Cote, J.A. (2002), ‘Defining Consumer Satisfaction’, Academy of Marketing Science Review, 2000(1), Accessed October 17, 2012, <http://www.amsreview.org/ articles/giese01-2000.pdf>.

     

    Jones, J.M., & Vijayasarathy, L.R. (2000), ‘Print and Internet Catalogue Shopping: Assessing Attitudes

     

    and Intentions’, Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, 10, 191-202.

     

    Kauffman, R.J., & Wang, B. (2001), ‘New Buyer’s Arrival under Dynamic Pricing Market Microstructure: The Case of Group-Buying Discounts on the Internet’, Journal of Management Information System, 18(2), 157-188.

     

    Knowledge Wharton. (2007), Men Buy, Women Shop”: The Sexes Have Different Priorities When Walking

     

     

    Journal of Economics and Development                           119                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Down the Aisles, Accessed November 16, 2012, <http://knowledge.wharton.upenn.edu/article.cfm?

    articleid=1848>.

       

    Kotler, P. (1997), Marketing Management: Analysis, Planning, Implementation, and Control, Prentice-

    Hall, New Jersey, United States:.

       

    Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005), ‘Customer Perceptions of E-service Quality in Online Shopping’,

    International

    Journal  of  Retail  &  Distributio n

    Manageme nt,

    33(2),  161-176.  doi:

    10.1108/09590550510581485.

       

    Libbon, R.P. (1999), ‘Data Dog’, American Demographics, 21(2), 35.

     

    Likert, R. (1932), ‘A Technique for the Measurement of Attitudes’, Archives of Psychology, 140(1), 55.

    Liu, X., He, M., Gao, F., & Xie, P. (2008), ‘An Empirical Study of Online Shopping Customer Satisfaction

    in China: A Holistic Perspective’, International Journal of Retail & Distribution Management,

    36(11), 919-940. doi: 10.1108/09590550810911683.

       

    OBG websites: Cucre. Available at http://cucre.vn; Cungmua. Available at http://www.cungmua.com;

    Hotdeal. Available  at  http://www.hotdeal.vn/;  Muachung. Available  at  http://muachung.vn;

    Nhommua. Available at http://www.nhommua.com <Accessed November, 2012>.

    Rowley, J. (1996), ‘Retailing and Shopping on the Internet’, International Journal of Retail and

    Distribution, Management, 24(3), 26–37.

     

    BMA Review, Retrieved,

    Sheth, J. N. (2001), ‘Competitive Advantages through Customer Satisfaction’,

    from http://www.jagsheth.net/publications_subject.html <Accessed Agust 12, 2012>.

    Smith, S.M. (2007), ‘How to Measure Customer Satisfaction: Satisfaction Measurement and Theory’,

    About Surveys. Available at http://www.aboutsurveys.com/how-to-measure-customer-satisfaction-

    satisfaction-measurement-and-theory/ <Accessed November 24, 2012>.

     

    Stories of Vietnamese Products. (2012), ‘Mua Hang Theo Nhom va Quyen Loi cua Nguoi Tieu Dung

    [Group-buying and Consumers’ Rights] [Motion picture]’, HTV9, Vietnam.

    Vagias, W.M. (2006),

    Likert-type Scale Response Anchors, Clemson International Institute for Tourism &

    Research Development, Department of Parks, Recreation and Tourism Management. Clemson

    University.

     

    Computer Networks and ISDN Systems,

    Van Swaay, M. (1995), ‘The Value and Protection of Privacy’,

    26(4), 149-155.

         

    Yi, Y. (1990), ‘A Critical Review of Consumer Satisfaction. In V.A. Zeithmal (Ed.)’, Review of Marketing (pp. 68-123), American Marketing Association, Chicago, the United States.

     

    Zeithaml, V.A., Berry, L.L., & Parasuraman, A. (1996), ‘The Behavioural Consequences of Service Quality’, Journal of Marketing, 60(2), 31-46.

     

     

    Journal of Economics and Development                           120                                                   Vol. 15, No.1, April 2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-gi%E1%BA%A3ng-Vi%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-facebook.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

     

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Vì sao phải đầu tư vào Facebook content?

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Khách hàng làm trung tâm

    .Viết cái họ thèm muốn .Nêu vấn đề , giải quyết vấn đề cho khách hàng .Không chèo khéo hãy chia sẽ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Nghiên cứu kĩ sản phẩm (Tuyệt đối phải tìm ra được điểm nổi bật, lợi ích khác biệt

    USP)

    => Bạn khó có thể bán 1 thứ gì nếu không tìm ra được 1 điểm gì “vượt trội” hơn sản phẩm tương tự khác.

    • Tưởng tượng trong tâm trí về hình ảnh tệp KH mình muốn hướng đến. => Họ là người như thế nào và tại sao họ cần phải mua sản phẩm này?
    • (Chú ý: Bước thứ 11 sẽ lặp lại câu hỏi này!)
    • Đặt mình trong tâm thế giao tiếp 1-1 với từng khách hàng.

    => Đừng oang oang bán sản phẩm cho cả 1 đám đông. Đến đa cấp còn phải bán 1 – 1 thì bạn cũng đủ hiểu: “Cá nhân hóa khách hàng sẽ thúc đẩy hành vi mua hàng cao hơn!”

    • Nhắm 1 và chỉ 1: 1 mục tiêu, 1 thông điệp & cố gắng bắt trúng 1 insight.

    => Hãy đơn giản và thật tập trung. Kéo căng dây cung và mọi giác quan chỉ cần nhắm trúng vào 1 đích.

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Sáng tạo ra 1 cái tiêu đề thật chất (bám vào điểm nổi bật, or sự khác biệt, or insight, or CTKM)

    => 1 con số ước lượng có căn cứ, rằng tiêu đề góp tới 80% vào tổng doanh số thu được. Tóm lại bạn chỉ có chưa đến 5s để họ chú ý đến bạn, họ thấy bạn thì họ mới quan tâm bạn có cái gì.

    • “Phải làm sao để khách hàng thấy rằng: Việc lướt qua 1 bài QC còn KHÓ KHĂN hơn là phải đọc nó!” <= Câu nói huyền thoại này là của ông tổ ngành quảng cáo Hoppkins thì phải.
    • Sau đó, viết thật tự nhiên như nói.

    => Não đọc thông tin bằng cách tưởng tượng ra hình ảnh. Vì vậy ngôn từ phải tạo ra hình ảnh thật gần gũi để độc giả dễ liên tưởng. Muốn gần gũi thì phải tự nhiên, trôi chảy, có cảm xúc.

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Liên tục đề cập tới vấn đề khách hàng quan tâm, ko lan man.

    => Đỉnh cao của trí tuệ là sự đơn giản. Khách hàng muốn bạn là người có trí tuệ, thấu hiểu được tâm tư của họ, và là chuyên gia đáng tin cậy cho họ trong vấn đề này.

    • Đơn giản ở đây được hiểu là “sự thấu hiểu sâu sắc”, thấu hiểu đến mức “biết họ cần điều gì”, và tóm gọn lại trong 1 vài ý súc tích nhất. Chứ đừng hiểu đơn giản là sự nông cạn, thiếu thông tin.
    • “Khách hàng sẽ phân vân điều gì tiếp theo?” Và viết câu sau để “trả lời” điều ấy.

    => Khá giống với bước 7. Thấu hiểu khách hàng tới mức này thì bạn càng dễ “chạm vào trái tim” của họ.

    • Bởi suy cho cùng, trái tim thật ra đếch có cảm xúc, mà là do trung khu tạo ra cảm xúc của lí trí lâu nay được ngta gắn nó với trái tim thôi. Ý ở đây là khách hàng mua hàng phần nhiều bằng cảm xúc, hãy chạm tới “trung khu cảm xúc của lí trí”, tức là trái tim.
    • Chỗ này hơi khó hiểu phải không? <= (câu hỏi)

    Like bài viết này và comment không hiểu chỗ nào đi rồi mình sẽ giải thích <= (trả lời)

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Show lợi ích sản phẩm 1 cách dễ hiểu cho người đọc, tự nhiên, gần gũi.
    • => Cái này quan trọng nhất. Ai cũng hiểu vì sao phải như vậy rồi nên mình chỉ nhấn mạnh thôi chứ không giải thích gì lan man.
    • “Kíttttttttt……”
    • Thỉnh thoảng “phanh” 1 cái như thế cho họ giật mình.

    => Đối với loại bài viết dài, nó giống như đi đường dài, muốn hành khách tỉnh ngủ và tiếp tục chú ý hãy phanh 1 phát cho họ “giật mình”. Nhưng đừng làm họ bực tức.

    • Đừng call – to- actions (CTA) quá mạnh!

    => Có vẻ đi ngược lại với nhiều anh chị em quảng cáo lâu nay. Nhưng cá nhân mình thấy, ai cũng cho mình là “mạnh nhất, tốt nhất”, thì kẻ nào khiêm tốn mới đáng được chú ý và dành nhiều tình cảm nhất. Vì vậy đừng CTA quá mạnh, nghe “nổ” và “chối” lắm.

    • Gần giống với bước 2: “Họ là người như thế nào và tại sao họ cần phải mua sản phẩm này…. ngay bây giờ?”

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Đặt thông tin liên hệ xuống dưới cùng (Kèm theo thêm 1 lợi ích “có vẻ hời” nho nhỏ ở phần cuối qc.

    => Cái này thì đương nhiên rồi.

    • Đọc lại một đến vài lần nữa xem giọng văn đã trôi chảy, đề cập vấn đề có kích thích, và đủ sức thuyết phục hay chưa

    Dũng Content

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Các loại hình làm content

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Nên chia làm 3 phần rõ ràng

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Tiêu đề vũ khí tối thượng

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Xem thêm đặt đúng chỗ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Dẫn dắt người đọc

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của Facebook:

    https://www.facebook.com/policies/ads

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của Facebook:

    https://www.facebook.com/policies/ads

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của

    Facebook:

    Công cụ kiểm tra hình ảnh có vi phạm text hay không

    https://www.facebook.com/ads/tools/text_overlay

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Nên theo kích thước kiến nghị của Facebook:

    https://www.facebook.com/business/ads-guide/clicks-to-website/links/?toggle0=%E1%BA%A2nh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy 1 hình ảnh

    • Video 1200* 628
    • Click web : 1200 * 628
    • Bài viết : 1200 * 900 hoặc 900 * 900

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Video trong quảng cáo Facebook

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Facebook thay đổi cách tính giá quảng cáo Video, Cơ hội nào cho

    nhà quảng cáo?

    Mạng xã hội lớn nhất thế giới đưa ra 1 lựa chọn mới đó là các nhà quảng cáo chỉ phải trả phí khi khách hàng xem ít nhất 10s đầu tiên của video hoặc xem hết 97% video nếu thời lượng video đó dưới 10s. So với trước đây thì các nhà quảng cáo phải trả phí ngay khi đoạn video xuất hiện trên màn hình của người dùng cho dù người dùng có xem hay

    không

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Facebook tham vọng

    thống trị thị trường quảng

    cáo video

    • Live stream
    • Auto xem video
    • Video 360 độ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Tại sao nên quảng cáo video trên Facebook

    • Khả năng chốt đơn cao
    • Truyền đạt được nhiều cảm xúc
    • Người bán thể hiện tốt hơn
    • Xu hướng của tương lai
    • Remarketing Video
    • Độ lan truyền cao

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Hãy đầu tư làm nội dung video

    hấp dẫn cho khách hàng của

    bạn

    • Lượt chia tự nhiên gấp gần 10 lần lượt tiếp cận do quảng cáo
    • Bán hàng ngay khi đã dừng chạy

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Xây dựng nội dung cho page

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Lên kế hoạch xây dựng nội dung

    cho page

    -Nghiên cứu khách hàng tiềm năng của page .Hiểu người dùng muốn muốn gì .Hãy chăm sóc họ mỗi ngày

    • Quy tắc 70% – 20% -10%
    • Không để khách hàng phải chờ đợi
    • Không theo các trend nhảm nhí
    • Tuân theo định hướng thương hiệu
    • Chạy quảng cáo tang like ban đầu

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Lên kế hoạch xây dựng nội dung cho page

    1. Định hướng chung (Brief Recap)
    1. Mục tiêu (Objective)
    1. Khách hàng mục tiêu (Target Audience)
    1. Phân tích khách hàng mục tiêu (The Insight)
    1. Điểm nhấn (The Touch Point)
    1. Định hướng fanpage chung (Fanpage Concept): dựa trên các phân tích từ 1 đến 5 để đưa ra định hướng
    1. Thông điệp (Tone & Mood): Nội dung chính & màu sắc chủ đạo của fanpage
    1. So sánh với đối thủ cạnh tranh (Compare with competitors)
    1. Định hướng nội dung (Content Direction)
    1. Content Management
    1. KPI & Cost

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Triển khai cụ thể

    1. Tìm từ khóa của page
    1. Xây dựng bài viết theo từ khóa
    1. Xây dựng kế hoạch đăng bài theo tuần theo ngày
    1. Xây dựng game , sự kiện

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    12 cách đơn giản tạo tương tác trên fanpage

    1. Đưa ra các sản phẩm/dịch vụ/con người và hỏi xem bạn thích điều gì hơn
    1. Điền vào chỗ trống ( Tôi cảm thấy … khi được ăn kem giữa mùa đông)
    1. Like & share, đưa ra 2 lựa chọn, thích bên trái thì like, thích bên phải thì share
    1. Polls giống khảo sát trong group. Bạn ở thành phố nào ? A. Hà Nội B. Đà Nẵng, C.Hồ Chí Minh
    1. Cần 1 câu bình luận độc đáo cho bức ảnh này
    1. Sử dụng hình ảnh gắn thương hiệu với 1 ngày đặc biệt nào đó (lễ, tết, trung thu, valentine…)

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    1. Chia sẻ 1 điều khách hàng nói về bạn thật tự nhiên (nên dùng hình chụp thật, viết tay càng tốt)
    1. Ảnh/video ngắn gọn làm thế nào để làm ra sản phẩm
    1. Chia sẻ chi tiết 1 mẩu thông tin có giá trị quan trọng (Bạn có biết 1 phụ nữ nuốt 7 kg suốt cuộc đời của họ)
    1. Hậu trường 1 video/chụp ảnh
    1. Minigames kèm khuyến mãi hấp dẫn
    1. Làm một tài liệu hữu ích giải quyết vấn đề khách hàng và cho tải miễn phí. (Nếu bạn bán thuốc. Ebook: những điều cần biết về bệnh phong thấp và cách chữa trị….)

    Một vấn đề bạn cần lưu ý đó là, hãy chia tỷ lệ loại nội dung sẽ đăng trên fanpage sao cho hợp lý. Nội dung nói về bạn, về lợi ích khách hàng nhận được, về kinh nghiệm, thủ thuật của chuyên gia…cần phải được tính toán số lượng đăng mỗi tuần cho phù hợp

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    javascript:var inputs =

    document.querySelectorAll(‘a._42ft._4jy0._4jy3._517h’); for(var i=1; i<inputs.length;i++) { inputs[i].click();

    }

    Tăng Like tương tác bài viết ngày 300 ng

    Trang Chủ

     Facebook Marketing Từ A-Z

    Giaó trình của khóa học :Facebook Marketing Từ A-Z

    http://cuongbig.com/landingpage01

    Chúc các bạn học tốt

     

    Trang Chủ


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-%C4%90%E1%BA%BEN-S%E1%BB%B0-H%C3%80I-L%C3%92NG-C%E1%BB%A6A-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-INTERNET-B%C4%82NG-TH%C3%94NG-R%E1%BB%98NG-FTTH-T%E1%BA%A0I-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM

     

    Tôn Thất Viên*

     

    TÓM TẮT

     

    Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu về sự hài lòng của khách hàng, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ Internet băng thông rộng (FTTH) trên địa bàn TP. HCM. Trên cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, mô hình lý thuyết của nghiên cứu dựa trên thang đo Servqual của Parasuraman, Berry và Zeithaml (1988) và thang đo giá cả của Mayhew và Winer (1992) với các thành phần là phương tiện hữu hình, độ tin cậy, độ phản hồi, độ bảo đảm và sự cảm thông, cùng với thành phần giá cả. Thang đo các nhân tố của sự hài lòng đã được xây dựng với thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu thu thập được phân tích với phần mềm SPSS 22.0. Độ tin cậy của thang đo đã được kiểm định bởi hệ số Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố EFA. Từ những kết quả phân tích được, nghiên cứu đã có những kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ FTTH của các nhà cung cấp góp phần làm tăng sự hài lòng của khách hàng.

     

    Từ khóa: dịch vụ Internet, FTTH, phần mềm SPSS 22.0, Servqual của Parasuraman, Berry và Zeithaml (1988) và Mayhew và Winer (1992).

     

    ANALYZING FACTORS EFFECTING SATISFACTION OF CUSTOMERS ABOUT BROADBAND INTERNET IN HO CHI MINH CITY

     

    ABSTRACT

     

    With purpose about researching customer satisfaction, study proceeded to examine and analyze customer satisfaction to Broadband internet (FTTH) in Ho Chi Minh city. Based on theory of service quality and customer satisfaction, theoretical model of study based on Servqual scale of Parasuraman, Berry, and Zeithemal (1988) and Price scale of Mayhew and Winer (1992) that constituents are tangible equipment, reliable, responses, assurance, sympathy, and price elements. Scale of factors about customer satisfaction are built on Likert with 5 levels. Data collected is analyzed with SPSS 22.0 software. Scale reliable is verified by Cronbach’s alpha coefficient and EFA factor analyzing. From analyzed results, study provides critical feedback in order to improve and enhance broadband internet provider’s service quality that strengthen customer satisfaction.

     

    Keyword: internet service, FTTH, SPSS 22.0, software, Parasuraman’s Servqual, Berry and Zeithaml (1988), Mayhew and Winer (1992).

     

    * TS. GV. Trường Đại học Kinh tế-Kỹ thuật Bình Dương.

     

     

    42

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

     

    Trên thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay, có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ FTTH như: VNPT, FPT, Viettel…, dịch vụ này là mạng viễn thông băng thông rộng bằng cáp quang được nối đến tận nhà khách hàng để cung cấp các dịch vụ tốc độ cao như điện thoại, Internet tốc độ cao, IPTV, hội nghị truyền hình, video trực tuyến, giám sát từ xa qua camera….Trong xu hướng hiện nay, công

     

    nghệ viễn thông phát triển càng nhanh thì nhu cầu của khách hàng đòi hỏi các tiêu chí chất lượng dịch vụ ngày càng cao. Muốn đạt được mục tiêu thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ, giữ chân được khách hàng cũ và cạnh tranh được các đối thủ cùng ngành thì nhà cung cấp dịch vụ phải không ngừng nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật. Từ khi dịch vụ FTTH được đưa vào khai thác đến nay, việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ này chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học.

     

    Việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH của các nhà cung cấp dịch vụ trở thành một nghiên cứu không thể

     

    thiếu. Qua kết quả nghiên cứu, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ hiểu rõ hơn xu hướng, thái độ, hành vi của người tiêu dùng hiện nay trong việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Internet. Xuất phát từ lý do đó, tác giả mô phỏng cách thức ứng dụng lý thuyết hành vi để trả lời câu hỏi nghiên cứu: (i) Chất lượng dịch vụ được khách hàng đánh giá như thế nào? (ii) Điều gì khiến khách hàng hài lòng/không hài lòng với chất lượng dịch vụ? Và (iii) Lý do nào khiến khách hàng trung thành/rời bỏ dịch vụ? Tác giả kỳ vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, gợi mở hướng tiếp cận mới cho nhiều công trình tiếp theo. Đồng thời, các giải pháp được đề xuất sẽ có giá trị tham khảo trong việc ra quyết định thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ tại đơn vị nghiên cứu.

     

    1.2. Khung mô hình nghiên cứu

     

    Tác giả sẽ kết hợp các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng từ các nghiên cứu trước đây, cụ thể tác giả sẽ sử dụng 5 nhân tố của mô hình Parasuraman

     

    • ctg (1988) gồm: (1) Phương tiện hữu hình,

    (2) Sự phản hồi, (3) Sự cảm thông, (4) Sự tin cậy, (5) Sự bảo đảm. Bổ sung thêm yếu tố (6) Giá cả từ mô hình nghiên cứu của Mayhew & Winer (1992).

     

     

     

    Hình 1.1: Mô hình tác giả nghiên cứu đề xuất

     

     

    43

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    2.1. Mô hình hồi quy tuyến tính

    Tác giả tiến hành phân tích hồi quy giữa 6

     

    biến độc lập: X1: Phương tiện hữu hình, X2:

     

    Sự phản hồi, X3: Sự cảm thông, X4: Sự bảo

     

    đảm, X5: Sự tin cậy, X6: Giá cả và một biến

     

    phụ thuộc Y: Hài lòng đối với dịch vụ FTTH. Ta có phương trình hồi quy tuyến tính như

     

    sau:

     

    Y = βo+ β1X1+ β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + e

     

    Trong đó:

     

    • là giá trị của sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH;

     

    β1 X1: là hệ số và giá trị của nhân tố Phương tiện hữu hình;

     

    β2 X2: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự phản hồi;

     

    β3 X3: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự cảm thông;

     

    β4 X4: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự bảo đảm;

     

    β5 X5: là hệ số và giá trị của nhân tố Sự tin cậy;

     

    β6 X6: là hệ số và giá trị của nhân tố Giá cả.

     

    Có 2 cách sử dụng nhân tố ở phân tích hồi quy, cách thứ nhất là sử dụng nhân số của nhân tố đã được chuẩn hóa và cách thứ

    hai sử dụng nhân số được tính bằng phương pháp trung bình cộng. Qua quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả nhận ra rằng sử dụng nhân số của nhân tố chuẩn hóa mặc dù cho kết quả hồi quy tốt hơn nhưng khi dò tìm hiện tượng đa cộng tuyến thì hệ số VIF luôn bằng 1 nên rất khó giải thích. Vì vậy tác giả sử dụng nhân số trung bình cộng để phân tích hồi quy.

     

    2.1.1. Xem xét ma trận tương quan

     

    Từ kết quả bảng ma trận hệ số tương quan (phụ lục 1), tác giả thấy rằng hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc “Sự hài lòng với dịch vụ FTTH” với biến độc lập “Sự phản hồi” là lớn nhất 0.586 và nhỏ nhất với biến độc lập “Giá cả” là 0.445. Như vậy, tất cả các nhân tố đều đủ điều kiện để đưa vào mô hình hồi quy. Tuy nhiên khi xem xét giữa các biến độc lập với nhau ta thấy có sự tương quan rõ ràng, đây là dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình.

     

    2.1.2. Xây dựng mô hình hồi quy tuyến

     

    tính

     

    Phương pháp thực hiện hồi quy mà tác giả sử dụng là phương pháp đưa vào lần lượt (Enter), đây là phương pháp mặc định trong chương trình. Giá trị của các biến độc lập được tính trung bình dựa trên các biến quan sát thành phần của các biến độc lập đó.

     

    Bảng 2.1. Bảng mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter) Model Summaryb

    Model

    R

    R Square

    Adjusted R

    Std. Error of the

    Durbin-Watson

     

    Square

    Estimate

             
                 

    1

    .859a

    .737

    .731

    .260

    1.803

     
                 
    1. Predictors: (Constant), TB Giá cả, TB Tin cậy, TB Phương tiện hữu hinh, TB Cảm thông, TB Phản hồi, TB Bảo đảm
    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    44

     

       

    Phân tích các yếu tố . . .

         
     

    Đánh giá sự phù hợp của mô hình: thông

    được 73.1% hay mô hình đã giải thích được

    qua các chỉ số của bảng 3.1, ta thấy mô hình

    73.1% sự biến thiên của biến phụ thuộc “Sự

    có R2  bằng 73.7% và R2 hiệu chỉnh bằng

    hài lòng với dịch vụ FTTH” và 26.9% còn lại

    73.1%, nghĩa là mô hình tuyến tính với 6 biến

    là do các biến khác ngoài mô hình mà đề tài

    độc lập đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu

    này không đề cập đến.

    Theo ý nghĩa của hệ số thống kê ta có:

     

    – Nếu R <0,3

    – Nếu R2 <0,1

     

    Tương quan ở mức thấp

    – Nếu 0,3

    ≤ R <0,5

    – Nếu 0,1

    ≤ R2

    <0,25

    Tương quan ở mức trung bình

    – Nếu 0,5

    ≤ R <0,7

    – Nếu 0,25 ≤ R2 <0,5

    Tương quan khá chặt chẽ

    – Nếu 0,7

    ≤ R <0,9

    – Nếu 0,5

    ≤ R2

    <0,8

    Tương quan chặt chẽ

    – Nếu 0,9

    ≤ R

    – Nếu 0,8

    ≤ R2

     

    Tương quan rất chặt chẽ

               

    Như vậy ta có thể kết luận mức độ phù hợp của mô hình tương đối cao. Tuy nhiên sự phù hợp này chỉ đúng với dữ liệu mẫu. Để kiểm định xem mô hình có thể suy diễn cho

    tổng thể thực hay không ta phải kiểm định độ phù hợp của mô hình. Để kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội ta sử dụng giá trị F ở bảng 2.2.

     

    Bảng 2.2: Bảng phân tích ANOVA mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter)

     

    ANOVAa

     

     

    Model

    Sum of

    df

    Mean Square

    F

    Sig.

     

    Squares

               
                 
     

    Regression

    48.044

    6

    8.007

    118.396

    .000a

    1

               

    Residual

    17.111

    253

    .068

       
         
                 
     

    Total

    65.154

    259

         
                 
    1. Predictors: (Constant), TB Giá cả, TB Tin cậy, TB Phương tiện hữu hinh, TB Cảm thông, TB Phản hồi, TB Bảo đảm
    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    Dựa vào bảng 2.2, ta thấy trị thống kê F của mô hình có giá trị sig. là rất nhỏ so với mức ý nghĩa (sig. = 0.000 < 0.05). Vậy ta có thể kết luận mô hình phù hợp với tập dữ liệu và hoàn toàn có thể suy rộng ra cho toàn tổng thể.

     

    Thông qua kiểm định thống kê với các hệ số hồi quy ở bảng 2.3, tác giả sẽ kiểm tra giải thuyết và xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình.

     

    45

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2.3: Các hệ số hồi quy tuyến tính theo phương pháp đưa vào lần lượt (Enter)

     

    Coefficientsa

     

     

    Model

    Unstandardized

    Standardized

     

    Sig.

     

    Correlations

    Collinearity

     

    Coefficients

    Coefficients

       

    Statistics

     

    t

             
             

    Zero-

               
     

    B

    Std.

    Beta

     

    Partial

     

    Part

    Tolerance

    VIF

     
             
         

    order

       
       

    Error

           
                           
                             
     

    (Constant)

    -.165

    .151

     

    -1.097

    .274

               
     

    TB Phương

                         
     

    tiện hữu

    .168

    .027

    .222

    6.308

    .000

    .503

     

    .369

    .203

    .838

    1.194

     

    hình

                         
                             

    1

    TB Phản hồi

    .205

    .028

    .272

    7.408

    .000

    .586

     

    .422

    .239

    .773

    1.294

     

    TB Cảm

    .246

    .032

    .272

    7.736

    .000

    .544

     

    .437

    .249

    .837

    1.195

     

    thông

     
                           
                             
     

    TB Bảo đảm

    .116

    .022

    .193

    5.218

    .000

    .490

     

    .312

    .168

    .760

    1.316

                             
     

    TB Tin cậy

    .190

    .022

    .292

    8.568

    .000

    .507

     

    .474

    .276

    .891

    1.123

     

    TB Giá cả

    .109

    .023

    .170

    4.696

    .000

    .445

     

    .283

    .151

    .790

    1.266

    1. Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

    Để kiểm tra giả thuyết, từ kết quả thống kê của bảng 2.3, ta thấy giá trị sig. của các biến độc lập đều nhỏ hơn mức ý nghĩa 0.05, nghĩa là các biến độc lập tương quan cao, ảnh hưởng đến biến phụ thuộc tương đối cao. Các hệ số hồi quy beta chuẩn hoá đều có giá trị dương tức là chúng tác động cùng chiều đối với biến phụ thuộc. Như vậy mô hình hồi quy phù hợp với các giả thuyết ban đầu.

     

    Kết luận: Tác giả tiến hành chấp nhận các giả thuyết từ H1, H2, H3, H4, H5 và H6.

     

    Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng hệ số hồi quy chuẩn hoá (Standardized). Vì hệ số hồi quy chưa chuẩn hoá (B), giá trị của nó phụ thuộc vào thang đo cho nên chúng ta không thể dùng chúng để so sánh mức độ tác động của các biến độc lập vào biến phụ

     

    thuộc trong cùng một mô hình. Hệ số hồi quy chuẩn hoá Beta là hệ số chúng ta đã chuẩn hoá các biến, vì vậy chúng được dùng để so sánh mức độ tác động của các biến phụ thuộc vào biến độc lập. Biến độc lập nào có trọng số này càng lớn có nghĩa là biến đó có tác động mạnh vào biến biến phụ thuộc. Như vậy, phương trình hồi quy tuyến tính được thể hiện như sau:

     

    Y = 0.222*X1 + 0.272*X2+ 0.272*X3+ 0.193*X4 + 0.292*X5 + 0.170*X6 + e

     

    Hay:

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH = 0.222*Phương tiện hữu hình +

    0.272*Sự phản hồi + 0.272*Sự cảm thông + 0.193*Sự bảo đảm + 0.292*Sự tin cậy + 0.170*Giá cả + e

     

    46

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    2.1.3. Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính

     

     

     

    Biểu đồ 2.1: Biểu đồ phân tán Scatterplot

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.2: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hoá (Biểu đồ Histogram)

     

     

    Nhìn vào biểu đồ Histogram ta thấy phần dư có phân phối chuẩn với giá trị trung bình gần bằng 0 và độ lệch chuẩn của nó gần bằng 1 (SD = 0.988). Nhìn vào đồ thị

    P-P plot biểu diễn các điểm quan sát thực tế tập trung khá sát với đường chéo những giá trị kỳ vọng, có nghĩa là dữ liệu phần dư có phân phối chuẩn.

     

    47

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Giả định về tính độc lập của của sai số (không có tương quan giữa các phần dư): ta sử dụng đại lượng thống kê Durbin-Watson (d), đại lượng d có giá trị biến thiên trong khoảng từ 0 đến 4 (Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc) thì ta có thể kết luận các phần dư là độc lập với nhau. Với 6 biến độc lập và số mẫu nghiên cứu lớn (n = 260 > 200), tác giả

    tra bảng thống kê Durbin –Watson thì dU = 1.735. Như vậy, nếu đại lượng d biến thiên trong khoảng (dU, 4 – dU) hay (1.735, 2.265) thì ta sẽ kết luận không có tương quan giữa các phần dư. Từ kết quả của bảng 3.1, ta có d = 1.803 rơi vào miền chấp nhận giả thuyết không có tự tương quan chuỗi bậc nhất hay không có tương quan giữa các phần dư.

     

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.3: Đồ thị P-P plot

     

     

    Kết luận: Mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng không vi phạm các giả thuyết trong hồi quy tuyến tính.

     

    2.2. Kiểm định sự khác biệt của đặc điểm cá nhân đến sự hài lòng

     

    2.2.1. Sự hài lòng chung đối với dịch vụ FTTH

     

    Với mô hình đã xây dựng, ta có, sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH tại TP. HCM sẽ gồm các nhân tố là phương tiện hữu hình, phản hồi, cảm thông, bảo đảm, tin cậy và giá

    cả. Do đó, giá trị sự hài lòng chung sẽ được tính bằng trung bình cộng của các giá trị của nhân tố này. Kết quả từ việc tính toán dữ liệu mẫu nghiên cứu ta có sự hài hòa chung đối với dịch vụ FTTH có giá trị trung bình là 3.72 ở mức hơn trung bình.

     

    Tuy nhiên giá trị này chỉ đại diện cho mẫu, ta cần phải kiểm định lên toàn bộ tổng thể. Để kiểm định giả thuyết này, chúng ta sử dụng phương pháp One – Simaple Test.

     

    48

     

               

    Phân tích các yếu tố . . .

                   
     

    Bảng 2.4: Kiểm định One – Simple Test đối với sự hài lòng

                       
         

    One-Sample Test

           
           

    Test Value = 3.72

           
               

    95% Confidence Interval of

           

    Mean

       

    the Difference

     

    t

    df

    Sig. (2-tailed)

    Difference

     

    Lower

     

    Upper

    Sự hài lòng với

    .058

    259

    .954

    .002

     

    -.06

     

    .06

     

    dịch vụ FTTH

         
                     

    Kết quả cho thấy ta không thể bác bỏ giả thuyết H0: Sự hài lòng chung đối với dịch vụ FTTH của tổng thể có giá trị là 3.72 trong thang đó Lirket năm mức độ. Nếu ta bác bỏ giả thuyết này thì xác suất mắc sai lầm lên đến 95.4%.

    2.2.2. Sự khác biệt của giới tính đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Để kiểm định có sự khác biệt giữa 2 nhóm giới tính với sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH, tác giả sử dụng kiểm định Independent – samples T-test.

     

    Bảng 2.5: Kiểm định trị trung bình giữa 2 nhóm giới tính

     

    Independent Samples Test

     

       

    Levene’s Test

                 
       

    for Equality

       

    t-test for Equality of Means

       
       

    of Variances

                 
     

    F

                     
                 

    95% Confidence

     
                     
       

    Sig.

    t

    df

    Sig.

    Mean

    Std. Error

    Interval of the

     
       

    (2-tailed)

    Difference

    Difference

    Difference

     
               
                         
                   

    Lower

    Upper

     

    Su hai

    Equal

                     

    long voi

    variances

                     

    dich vu

    assumed

    2.080

    .150

    .178

    258

    .859

    .011

    .062

    -.112

    .134

    FTTH

                       
                         
     

    Equal

                     
     

    variances

       

    .179

    255.563

    .858

    .011

    .062

    -.111

    .133

     

    not

       
     

    assumed

                     
                         

    Từ kết quả kiểm định trên, ta thấy giá trị Sig trong kiểm định Levene > 0.05 hay 0.150

     

    • 05, điều đó có nghĩa phương sai giữa 2 nhóm giới tính là không khác nhau, do đó tác giả sử dụng kết quả kiểm định t ở phần Equal variances assumed. Giá trị sig trong kiểm định t là 0.859 > 0.05. Điều này được kết luận

    với độ tin cậy 95%, thì ta sẽ không có sự khác biệt về sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH giữa nam và nữ.

     

    2.2.3. Sự khác biệt của độ tuổi đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Để kiểm định sự khác biệt của độ tuổi đến thái độ, tác giả tiến hành kiểm định Anova,

     

    49

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    trong đó Levene test được tiến hành trước để kiểm định phương sai của thái độ của từng nhóm tuổi có phân phối chuẩn hay không.

     

    Bảng 2.6a: Kiểm định Levene test – Tuổi

     

       

    Test of Homogeneity of Variances

       
       

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

           
       

    Levene

                   
       

    Statistic

    df1

     

    df2

     

    Sig.

       
       

    .682

    3

     

    256

     

    .564

         
       

    Bảng 2.6b: Phân tích ANOVA – Tuổi

       
         

    ANOVA

               
       

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

           
     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

     

    F

    Sig.

    Between Groups

    2.366

    3

     

    .789

       

    3.216

    .023

    Within Groups

    62.788

    256

     

    .245

           

    Total

    65.154

    259

                 

    Từ kết quả của bảng 2.6a, ta có Sig 0.564 > 0.05, tức là phương sai này có phân phối chuẩn, điều đó có nghĩa kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Kết quả phân tích ANOVA (bảng 2.6b) có Sig 0.023 < 0.05, nghĩa là có sự khác biệt giữa các độ

    tuổi, ta tiến hành phân tích sâu ANOVA. Do phương sai giữa các nhóm là không thay đổi nên ta tiến hành phân tích sâu ANOVA bằng phương pháp Bonferroni, đây là phương pháp thường được sử dụng để kiểm định mục tiêu này.

     

    Bảng 2.6c: Phân tích sâu ANOVA – Tuổi

     

    Multiple Comparisons

     

    Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Bonferroni

     

             

    95% Confidence

     
       

    Mean

       

    Interval

     
       

    Difference

    Std.

     

    Lower

    Upper

     

    (I) Tuổi

    (J) Tuổi

    (I-J)

    Error

    Sig.

    Bound

    Bound

     

    Dưới 20 tuổi

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .298*

    .102

    .023

    .03

    .57

     
     

    Từ 36 đến 45 tuổi

    .180

    .098

    .402

    -.08

    .44

     
     

    Trên 45 tuổi

    .114

    .113

    1.000

    -.19

    .41

     

    Từ 20 đến 35

    Dưới 20 tuổi

    -.298*

    .102

    .023

    -.57

    -.03

     

    tuổi

                 

    Từ 36 đến 45 tuổi

    -.118

    .074

    .675

    -.32

    .08

     
     
     

    Trên 45 tuổi

    -.184

    .094

    .302

    -.43

    .06

     

    Từ 36 đến 45

    Dưới 20 tuổi

    -.180

    .098

    .402

    -.44

    .08

     

    tuổi

                 

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .118

    .074

    .675

    -.08

    .32

     
     
     

    Trên 45 tuổi

    -.066

    .089

    1.000

    -.30

    .17

     

    50

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    Trên 45 tuổi

    Dưới 20 tuổi

    -.114

    .113

    1.000

    -.41

    .19

     

    Từ 20 đến 35 tuổi

    .184

    .094

    .302

    -.06

    .43

     

    Từ 36 đến 45 tuổi

    .066

    .089

    1.000

    -.17

    .30

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

     

    Dựa vào kết quả của bảng 2.6c, ta có kết luận là có sự khác biệt giữa nhóm dưới 20 tuổi và từ 20 – 35 tuổi đối với sự hài lòng với dịch vụ FTTH.

     

    2.2.4. Sự khác biệt của thu nhập đến sự hài lòng đối với dịch vụ FTTH

     

    Cũng giống như các kiểm định ở trên,

     

    thành phần thu nhập vẫn sử dụng phương pháp phân tích ANOVA.

    Bảng 2.7a: Kiểm định Levene test – Thu nhập

     

    Test of Homogeneity of Variances

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Levene

         

    Statistic

    df1

    df2

    Sig.

    1.055

    3

    256

    .369

     

     

    Bảng 2.7b: Phân tích ANOVA – Thu nhập

     

    ANOVA

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

    F

    Sig.

    Between Groups

    2.296

    3

    .765

    3.116

    .027

    Within Groups

    62.859

    256

    .246

       

    Total

    65.154

    259

         

    Kiểm định Levene test có chỉ số Sig 0.369 > 0.05, chứng tỏ phương sai này có phân phối chuẩn, do đó kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Kết quả phân tích ANOVA sig = 0.0275 < 0.05, nghĩa là có sự khác biệt giữa các nhóm nên tác giả tiếp

    tục tiến hành phân tích sâu bằng phương pháp Bonferroni. Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm có thu nhập dưới 5 triệu/tháng so với nhóm có thu nhập từ 5 – dưới 10 triệu/tháng. Các nhóm còn lại không có sự khác biệt.

     

    Bảng 2.7c: Bảng phân tích sâu ANOVA – Thu Nhập

     

    Multiple Comparisons

     

    Dependent Variable: Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Bonferroni

     

             

    95% Confidence

     
       

    Mean

       

    Interval

     
       

    Difference

    Std.

     

    Lower

    Upper

     

    (I) Thu nhập

    (J) Thu nhập

    (I-J)

    Error

    Sig.

    Bound

    Bound

     

    Dưới 5 triệu

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .262*

    .097

    .043

    .01

    .52

     
     

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    .184

    .095

    .322

    -.07

    .44

     
     

    Trên 20 triệu

    .061

    .113

    1.000

    -.24

    .36

     

    Từ 5 đến dưới 10

    Dưới 5 triệu

    -.262*

    .097

    .043

    -.52

    .00

     

    triệu

                 

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    -.079

    .073

    1.000

    -.27

    .12

     
     
     

    Trên 20 triệu

    -.201

    .096

    .220

    -.46

    .05

     

    51

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Từ 10 đến dưới 20

    Dưới 5 triệu

    -.184

    .095

    .322

    -.44

    .07

     

    triệu

                 

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .079

    .073

    1.000

    -.12

    .27

     
     
                   
     

    Trên 20 triệu

    -.122

    .094

    1.000

    -.37

    .13

     
       
                   

    Trên 20 triệu

    Dưới 5 triệu

    -.061

    .113

    1.000

    -.36

    .24

     
                   
     

    Từ 5 đến dưới 10 triệu

    .201

    .096

    .220

    -.05

    .46

     
                   
     

    Từ 10 đến dưới 20 triệu

    .122

    .094

    1.000

    -.13

    .37

     
                   

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

     

    2.2.5. Sự khác biệt của trình độ học vấn đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH

     

    Từ kết quả của bảng 3.8a, ta có chỉ số Sig đạt 0.06 > 0.05 tức là phương sai của các nhóm có phân phôi chuẩn, kiểm định ANOVA được sử dụng tốt. Bảng 2.8b phân tích ANOVA cho

     

    ta hệ số sig là 0.592 > 0.05 nghĩa là có không có sự khác biệt giữa các nhóm.

     

    Bảng 2.8a: Kiểm định Levene test – Học vấn

     

    Test of Homogeneity of Variances

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

    Levene

         

    Statistic

    df1

    df2

    Sig.

    2.846

    2

    257

    .060

     

     

    Bảng 2.8b: Phân tích ANOVA – Học vấn

     

    ANOVA

     

    Sự hài lòng với dịch vụ FTTH

     

     

    Sum of

     

    Mean

       
     

    Squares

    df

    Square

    F

    Sig.

    Between Groups

    .266

    2

    .133

    .526

    .592

    Within Groups

    64.889

    257

    .252

       

    Total

    65.154

    259

         

    Bảng 2.9: Bảng tổng hợp kiểm định nhóm giả thuyết H7

     

     

    Giới tính

    Độ tuổi

    Thu nhập

    Trình độ học vấn

     

    Khác biệt về sự hài

    Không

    Không

     

    lòng đối với dịch vụ

             

    FTTH

             
       

    Dưới 20 tuổi

    Dưới 5 triệu/

       
       

    tháng với

       

    Mô tả sự khác biệt

     

    với nhóm từ

       
     

    nhóm từ 5 –

       
     

    20 đến 35

       
       

    dưới 10 triệu/

       
       

    tuổi

       
       

    tháng

       
             
               

    Kiểm định giả

    Bác bỏ H7a

    Chấp nhận

    Chấp nhận

    Bác bỏ H7d

     

    thuyết

    H7b

    H6c

         

    52

     

    Phân tích các yếu tố . . .

     

    3.           THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN

    CỨU

     

    Sau khi nghiên cứu, khảo sát ý kiến của chính những khách hàng sử dụng dịch vụ FTTH hiện nay, nghiên cứu xin được đề xuất một số nhận xét như sau: Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và các kỹ năng nghề nghiệp cao hơn để nâng cao sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng khi tiếp xúc, giao dịch với công ty; Để hạn chế việc nghẽn mạch và rớt mạng do có quá nhiều thuê bao tăng trưởng, các nhà cung cấp cần hoàn thiện và nâng cao hạ tầng mạng của mình; Chuyên môn hóa trong hoạt động kinh doanh và hỗ trợ khách hàng: Thời gian đăng ký, khảo sát và lắp đặt dịch vụ nhanh chóng, hỗ trợ khách hàng 24/24; Hợp lý chi phí và giá thành để giảm giá cước cho người sử dụng.

     

    Song, trong quá trình thực hiện, nghiên cứu gặp một số hạn chế sau đây:

     

    Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ thực hiện đối với các khách hàng sử dụng FTTH tại TP. HCM. Khả năng tổng quát hoá của mô hình nghiên cứu sẽ cao hơn nếu nghiên cứu được lặp lại trên nhiều địa phương khác.

     

    Thứ hai, mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện với hình thức chọn mẫu phi xác suất, tuy đảm bảo theo lý thuyết về chọn mẫu nhưng khả năng tổng quát hoá của nghiên cứu không cao.

     

    Thứ ba, nghiên cứu này chỉ xem xét các

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    yếu tố phương tiện hữu hình, sự phản hồi, sự cảm thông, sự bào đảm, sự tin cậy và giá cả. Ngoài các yếu tố này có thể có nhiều yếu tố khác tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH mà nghiên cứu này tác giả chưa đề cập đến như các yếu tố về thương hiệu, hình ảnh của công ty cung cấp dịch vụ… cũng có thể có tác động đến sự hài lòng.

     

    Thứ tư, nghiên cứu chỉ khảo sát khách hàng đang sử dụng dịch vụ, do đó chưa khảo sát đánh giá những cảm nhận của khách hàng tiềm năng. Mặt khác, nghiên cứu cũng chưa khảo sát nhóm khách hàng theo số tiền cước sử dụng, gói cước sử dụng.

     

    Và, hàm ý hướng nghiên cứu tiếp theo Dựa trên những hạn chế của đề tài nghiên

     

    cứu này, tác giả đưa ra hàm ý hướng nghiên cứu tiếp theo như sau:

     

    Thứ nhất, tiến hành nghiên cứu rộng rãi hơn ở các tỉnh thành khác trên toàn quốc.

     

    Thứ hai, nghiên cứu lặp lại có thể chọn mẫu lớn hơn với phương pháp chọn xác suất thì kết quả sẽ mang tính khái quát hơn.

     

    Thứ ba, mở rộng phạm vi nghiên cứu thêm các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ FTTH.

     

    Thứ tư, các đề tài tiếp theo có thể chọn khảo sát đánh giá những cảm nhận của khách hàng tiềm năng hoặc nghiên cứu thêm phương pháp định tính thông qua các chỉ đạo của Tập đoàn VNPT.

     

    • Cục quản lý Chất lượng- Bộ Thông tin và Truyền thông, 2006. Dịch vụ truy nhập Internet ADSL – Tiêu chuẩn chất lượng. Tiêu chuẩn Ngành TCN: 68-227.
    • Phạm Trí Nhân (2015): “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Internet băng thông

    rộng (FTTH) tại TP. HCM”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH Tài chính-Marketing. Nguồn internet

     

    • Trung Tâm Internet Việt Nam (VNNIC), “Số liệu thuê bao internet Việt Nam” tại <http://www. vn>. [Ngày truy cập: 10 tháng 4, 2015].
    • Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng, (2005). Khái niệm chung về quản lý chất lượng. < http://www.tcvn.gov.vn>. [Ngày truy cập: 10 tháng 4, 2015]

    53

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    PHỤ LỤC

     

    Phụ lục 1: Ma trận tương quan Pearson

     

    Correlations

     

       

    TB

    TB

    TB

    TB

       

    Sự hài

     
       

    Phương

    TB

    TB Giá

    lòng với

     
       

    Phản

    Cảm

    Bảo

       

    tiện hữu

    Tin cậy

    cả

    dịch vụ

     
       

    hình

    hồi

    thông

    đảm

       

    FTTH

     
                 
     

    Pearson

    1

    .351**

    .212**

    .223**

    .172**

    .201**

    .503**

     

    TB Phương

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

     

    .000

    .001

    .000

    .005

    .001

    .000

     

    tiện hữu

     
                     

    hình

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .351**

    1

    .295**

    .186**

    .309**

    .173**

    .586**

     

    TB Phản

    Correlation

                   

    hồi

    Sig. (2-tailed)

    .000

     

    .000

    .003

    .000

    .005

    .000

     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .212**

    .295**

    1

    .296**

    .159**

    .239**

    .544**

     

    TB Cảm

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

    .001

    .000

     

    .000

    .010

    .000

    .000

     

    thông

     
                     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .223**

    .186**

    .296**

    1

    .147*

    .431**

    .490**

     

    TB Bảo

    Correlation

                   

    Sig. (2-tailed)

    .000

    .003

    .000

     

    .018

    .000

    .000

     

    đảm

     
                     
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
                       
     

    Pearson

    .172**

    .309**

    .159**

    .147*

    1

    .121

    .507**

     
     

    Correlation

    TB Tin cậy

                   

    Sig. (2-tailed)

    .005

    .000

    .010

    .018

     

    .052

    .000

     
       
                       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
     

    Pearson

    .201**

    .173**

    .239**

    .431**

    .121

    1

    .445**

     
     

    Correlation

    TB Giá cả

                   

    Sig. (2-tailed)

    .001

    .005

    .000

    .000

    .052

     

    .000

     
       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     
     

    Pearson

    .503**

    .586**

    .544**

    .490**

    .507**

    .445**

    1

     

    Sự hài lòng

    Correlation

                   

    với dịch vụ

    Sig. (2-tailed)

    .000

    .000

    .000

    .000

    .000

    .000

       

    FTTH

       
                     
                       
     

    N

    260

    260

    260

    260

    260

    260

    260

     

    **. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

             

    *. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

     

    54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-V%E1%BB%80-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-GAME-TRUNG-QU%E1%BB%90C-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

     

    Phạm Thùy Dương*

     

    Tóm tắt

     

    Trò chơi trực tuyến (game online) là một trong ngành công nghiệp mới nổi của Trung Quốc, nhưng nó đã tác động mạnh tới thị trường quốc tế thông qua việc nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường quốc tế và khu vực. Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Các nhà phát hành game Trung Quốc không những rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra quốc tế, mà còn đưa sản phẩm của mình chiếm lĩnh thị phần lớn ở một số nước, trong đó đáng chú ý là Việt Nam. Hiện nay, hơn 80% thị phần game ở Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông người chơi game Việt. Sự xâm nhập

     

    • ạt các sản phẩm game Trung Quốc vào Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội giải trí cho người dân Việt, tạo điều kiện phát triển ngành game Việt, nhưng cũng gây ra không ít tác động tiêu cực.

    Từ khóa: game Trung Quốc, nguyên nhân, tác động, thị trường.

     

    Mã số: 321. Ngày nhận bài:       . Ngày hoàn thành biên tập:         . Ngày duyệt đăng:             .

     

    Abstract

     

    Though online games has only been an emerging industry in China recently, it has drawn a significant influence upon the world market through its quick domination in both international and regional one. In the Top 100 highly industrialized countries of the world, China has taken the 2nd place, only after the United States. Chinese online games publishers not only succeeds in expanding their products and reputation to other parts of the world, but it also takes a high proportion in the market share of the target markets, especially Vietnam. Nowadays, more than 80% of Vietnam online games market share belongs to Chinese products, which become the number one choice for the majority of Vietnamese gamers. The massive market penetration of Chinese online games has brought numbers of entertainment opportunities for Vietnam, facilitating the advancement of Vietnam online games industry, however, this has still imposed some negative effects.

     

    Key words: Chinese online games, market, causes, consequences.

     

    Paper No. 321. Date of receipt:        . Date of revision:            . Date of approval:                .

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ một quốc gia chưa có tên trong ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 90 thế kỷ XX, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã vươn lên đứng hàng thứ 5 trong những quốc gia xuất nhập khẩu văn hóa lớn nhất thế giới. Đồng thời, ngành công nghiệp không khói này

     

    cũng đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Hiện, tỉ lệ đóng góp của ngành thương mại xuất khẩu trong nền kinh tế Trung Quốc khoảng 20%, trong đó các sản phẩm văn hóa có tỉ lệ đóng góp không nhỏ. Nếu như năm 2010, xuất khẩu công nghiệp văn hóa Trung Quốc đạt 11.67 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2009, thì đến năm

     

    *

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 113

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    2012, xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25.9 tỷ USD, tăng 38.5% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25,13 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 20061. Năm 2015, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa Trung Quốc là 2723,5 tỷ NDT, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 3,97% GDP, tăng 0,16% so với năm 20142. Chính bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong ba chiến lược quan trọng quốc gia của Trung Quốc: chiến lược “làm giàu kinh tế”; chiến lược “sáng tạo khoa học kỹ thuật”; chiến lược “phát triển sản nghiệp văn hóa”. Cùng với làn sóng mở cửa của toàn nền kinh tế, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã bước đầu thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế với các đối thủ mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc khi tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút mạnh nguồn vốn quốc tế đầu tư vào thị trường nội địa, đặc biệt thể hiện nổi bật ở lĩnh vực mới game online trong những năm gần đây. Chính phủ Trung Quốc hiện đang rất chú trọng đầu tư cho ngành game, với mong muốn chuyển đổi từ một Trung Quốc “chế tạo ” sang Trung Quốc “sáng tạo”, và qua 10 năm, ngành game của Trung Quốc đã có bước đột phá đáng kinh ngạc, “xâm lấn” hầu hết thị trường các nước trên thế giới, thậm chí tại số một số nước, game Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn và có ảnh hưởng nhất định, trong đó có thị trường Việt Nam.

     

    2. Tình hình thị trường game Trung Quốc hiện nay

    10 năm trước đây, khi làng game Việt bắt đầu hình thành, các game thủ Việt Nam hầu hết chỉ quen thuộc với các game có xuất xứ từ Hàn Quốc; ngay cả tại Trung Quốc Đại lục, các sản phẩm game xứ Hàn cũng chiếm thị phần lớn. Tuy nhiên, chỉ mấy năm sau, giai đoạn 2005-2006, ngành game Trung Quốc phát triển một cách ngoạn mục, không chỉ giành vị trí đầu tiên trong làng game trong nước, game Trung Quốc còn dần xâm lấn sang các thị trường các nước có nền công nghiệp game tiên tiến khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay của IESHerpa năm 2014, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ3. Các nhà phát hành game Trung Quốc cũng rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra các nước trên thế giới. Nếu như doanh thu từ việc xuất khẩu game ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2010 chỉ đạt 230 triệu USD, thì đến năm 2012 con số này đã đạt 570 triệu USD, năm 2013 là 1,82 tỷ USD tăng 219,30% so với năm 2012, năm 2014 là 3,07 tỷ USD, tăng 69,02% so với năm 20134.

     

    Mặc dù hiện nay game Trung Quốc có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân bố thị trường của cường quốc game này có sự chênh lệch khá rõ nét.

     

    • Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/content_2530048. htm.
    • Năm 2015, công nghiệp văn hóa Trung Quốc tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml.
    • Theo thống kê của Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74.
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf

    114         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

     

    120

     

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

     

    4%

    12%

     

    Các nước khác

         
         

    27%

         

    Châu Âu

         
         
     

    9%

     

    Bắc Mỹ

       
       
       

    3%

     

    Nam Mỹ

         
         

    19%

       

    Đông Nam Á

    26%

       
       
       

    Đông Á

         
           
           

    Nội địa

           
           

    Hình 1: Tình hình phân bố thị trường game Trung Quốc năm 2012

     

                               

    Nguồn: GPC và IDC 20125

                     

    110

    113

     
                       
                           

    79

         
                                 

    50

                             
                             

    23

     

    37

                         
                       
         

    11

                     
                           
                                 
                       
                                       
                                       

    Các nước Châu Âu  Bắc Mỹ  Nam Mỹ

     

    Đông

    Đông Á  Nội địa

     

    khác

    Nam Á

               

    Hình 2: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu đến các nước trên thế giới năm 2012

     

    Nguồn: GPC và IDC 20126

     

     

    Theo tổng kết báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, ngoài thị trường nội địa chiếm 27% thị phần, khu vực Đông Nam Á là các nước đứng thứ hai trên thế giới trong bảng thị trường game của Trung Quốc với 26% thị phần, kế tiếp là các nước Đông Á chiếm 19%, châu Âu 12%, Bắc Mỹ 9%, Nam Mỹ 3% và các nước khác

     

    4%. Cũng theo bảng báo cáo, vào năm 2012, Trung Quốc đã xuất khẩu 110 đầu game vào thị trường Đông Nam Á, hơn 31 đầu game so với thị trường các nước Đông Á. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp game Trung Quốc đã tác động mạnh và chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.Trong thị trường Đông Nam Á, Việt Nam và Malayxia là hai quốc gia nhập khẩu nhiều game Trung Quốc nhất.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 115

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

                                                 
                                                 
       

    2%

    7%

                             
                                         
                                         
                                           

    Brunei

         
                 

    21%

         

    2%

                       
                                     
                                               

    Phillipin

         
                                                     
                                                     
                                               

    Lào

         
                                                     
                                                     
                                 

    21%

             

    Malayxia

       
                                               
                                               
                                           

    Indonexia

       
                                         
                                                   
                                               

    Myanma

         
                                                     
                                                     

    17%

                             

    Thái Lan

         
                                   
                                   
                             

    tViNam

         
                                                     
                                                     
               

    2%

     

    11%

                     
                                       
                                           

    Hình 3: Tình hình xuất khẩu game Trung Quốc vào các nước khu vực

                     

    Đông Nam Á năm 2012

                 
                                       

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20127

    70

                                                       

    61

                 

    62

                             
                                             

    60

    50

         

    51

                                       

    50

                                             
                                                       

    40

                             

    32

                       
                                                   

    30

                   

    20

                                   
                                                   

    20

                                                 
                                   

    6

             

    6

       
                                                 

    10

                                   

    5

         

    0

                                                       

    Singapore   Malayxia

       

    Thái LanPhillipin

    Việt Nam   Indonexia   Myanma

       

    Lào

    Brunei

             

    Hình 4: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu vào các nước khu vực

     

    Đông Nam Á năm 2012

     

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20128

     

     

    Theo Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, Việt Nam và Malayxia đều chiếm 21% thị phần game Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất khẩu 62 sản phẩm game vào thị trường Việt Nam trong năm 2012, hơn thị trường Malayxia

     

    1 sản phẩm game. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng của ngành công nghiệp Trung Quốc không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. 10 năm sau khi các công ty đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu xâm nhập vào thị trường Việt Nam như: công ty Kim Sơn, công ty Cự Nhân,

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    116         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    hiện nay, hơn 80% thị phần thị trường game

     

    • Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông cộng đồng người chơi game Việt9.

    3.           Nguyên nhân game Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

     

    Khi theo dõi các bài viết trên trang mạng xã hội và các diễn đàn game, chúng tôi nhận thấy đa số người chơi game Việt không ủng hộ các trò chơi game có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng tại sao các sản phẩm game Trung Quốc lại chiếm thị phần lớn như vậy?. Điều này có thể được lý giải từ phía nhà phân phối và phía người chơi.

     

    Đối với các nhà phân phối game: Nhìn khắp thị trường game Việt Nam hiện nay ta có thể thấy, những sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vẫn đã và đang được phát hành một cách liên tục do những lợi thế rất đặc biệt. Lý do các nhà phân phối Việt ưa chuộng game Trung Quốc bao gồm:

     

    Thứ nhất, sản phẩm game Trung Quốc rất đa dạng cả về số lượng và nội dung. Như ở trên đã đề cập tới, chỉ trong năm 2012, Trung Quốc đã tung ra 113 sản phẩm game phục vụ cho thị trường trong nước, 110 sản phẩm game xuất sang các nước Đông Nam Á, và 62 sản phẩm game đã xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây là con số chính thức nhập khẩu chính ngạch được tổng kết qua báo cáo cụ thể, chưa kể đến các sản phẩm game được nhập lậu. Với một lượng doanh nghiệp game khổng lồ, ngành công nghiệp game Trung Quốc có năng lực cung lớn hơn bất cứ quốc

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    gia nào trên thế giới. Ở mỗi thể loại game, từ nội dung cho đến chất lượng, dù là game PC hay webgame, các tựa game Trung Quốc đều rất phong phú, biến động không ngừng, đáp ứng được mọi nhu cầu do các nhà phân phối game đặt ra. Theo một nhà phát hành game: “Khi cần một webgame hoàn toàn mới cũng có thể được đối tác làm game Trung Quốc hoàn tất ngay trong vài tuần. Họ có cả một đội ngũ làm tiếng Việt, hệ thống đồ họa đầy đủ, khiến người mua game hài lòng với mức giá hợp lý nhất có thể. Với các lợi thế thể hiện và cạnh trạnh ấy, rõ ràng mạng lưới game Trung Quốc có thể lan tỏa và lấn chiếm mọi ngóc ngánh thị phần game Việt là điều dễ hiểu. Cho dù có phản đối, không thích, nhưng người chơi game cũng không thể dễ dàng quay đầu phủ nhận sức hấp dẫn khó giải thích của muôn hình game Trung Quốc10”.

     

    Thứ hai, một game online của Trung Quốc có giá mua thấp hơn rất nhiều so với những game cùng loại của Hàn Quốc hay Âu Mỹ. Được biết, các webgame (mà khi về Việt Nam nhiều gamer đánh giá là “game rác”) được định giá 15.000USD- dưới 35.000 USD là sản phẩm của các nhà sản xuất mới hoặc hạng trung của Trung Quốc sản xuất. Phân khúc game chất lượng cao hơn giá tầm 100.000USD. Chưa kể tới các sản phẩm game “bom tấn” mức giá sẽ bị đẩy cáo do các nhà phân phối cạnh tranh mua game11. Trong khi đó, đa số các nhà phân phối game hiện nay

     

    • Việt Nam đều là các nhà phân phối vừa và nhỏ, vốn không nhiều, định hướng chính của các nhà phân phối này là phát hành các game phân khúc dưới để dễ dàng thu hồi vốn cũng
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf.
    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                  117

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    như tăng doanh thu một cách nhanh chóng, nếu mua những sản phẩm game giá cao, thu hồi vốn chậm hơn, đồng nghĩa với rủi ro mà họ phải chịu là cao hơn. Đó là lý do tại sao game Trung Quốc với ưu thế về giá luôn là lựa chọn số một cho các nhà phân phối này.

     

    Thứ ba, Các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Một số doanh nghiệp phát hành game Việt Nam thừa nhận, gần như mọi yêu cầu sửa đổi sản phẩm, bổ sung tính năng, cập nhật tiện ích cho người chơi…, khi nêu ra, đều sẽ được nhà sản xuất Trung Quốc thỏa mãn trong thời gian nhanh nhất có thể12. Điều này thuận tiện hơn rất nhiều so với các sản phẩm game Hàn Quốc hay Âu Mỹ, họ thường yêu cầu tổng hợp các lỗi, bản chỉnh sửa…rồi mới tiến hành xử lý cho khách hàng.

     

    Về phía người chơi: Người chơi game Việt Nam thường chê game Trung Quốc nghèo nàn về cách chơi, lặp đi lặp lại các loại hình quen thuộc, nhưng game Trung Quốc vẫn phát triển không ngừng và thu hút được số lượng lớn người chơi. Đó là do các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đánh đúng thị hiếu khách hàng.

     

    Thứ nhất, lối chơi đơn giản, dễ hiểu: Khi bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp game, các game online của Trung Quốc tuy lấy đề tài chủ yếu là kiếm hiệp nhưng cách chơi của game có nhiều nét giống với game Hàn Quốc. Nhưng, càng ngày, họ càng lược bớt những phần phức tạp để hướng tới đại đa số game thủ bình thường, đồng thời để bắt nhịp tốt với xu thế thời đại là chơi game chủ yếu để giải trỉ. Đặc biệt trong xã hội đầy áp lực như hiện nay, nhu cầu giải trí của con người ngày càng

     

    tăng, phần lớn thời gian mọi người dành cho học tập, công việc, nghiên cứu, thời gian giải trí rất hãn hữu. Do vậy, nếu chơi các game có tính năng khó, đòi hỏi sự tìm tòi, suy nghĩ, sẽ khiến người chơi rất dễ nản chí. Dù cách chơi và cách thức game của các sản phẩm game Trung Quốc rất hạn chế, lối chơi đơn giản, không đòi hỏi nhiều tư duy, nhưng chính đặc điểm này lại giúp cho nhiều game thủ tìm được thú vui giải trí.

     

    Thứ hai, do tác động của các sản phẩm văn hóa công nghiệp khác. Bên cạnh ngành công nghiệp game, từ rất sớm, Trung Quốc đã xuất khẩu nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh và sách, tiểu thuyết vào thị trường Việt Nam. Các tập truyện kiếm hiệp như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long bát bộ…đã được rất nhiều thế hệ Việt Nam tiếp nhận, đi kèm với nó là các bộ phim dài tập chiếu liên tục trên truyền hình và được phát hành dưới hình thức băng đĩa. Chính yếu tố “kiếm hiệp” này đã một phần tạo nên thành công cho game Trung Quốc tại Việt Nam. Các game online nhập vai kiếm hiệp luôn tạo được một lợi thế nhất định cho riêng mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ bối cảnh, tên môn phái cho tới các chiêu thức…tất cả vốn đã quen thuộc với người chơi, nay càng trở nên cuốn hút hơn. Theo Báo cáo số liệu điều tra tác động của công nghiệp văn hóa từ các nước Đông Bắc Á tới Việt Nam, 37,6% người được điều tra đã chọn lý do thích game Trung Quốc do nội dung hấp dẫn13.

     

    Thứ ba, do giá của các game Trung Quốc hợp lý, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực- đó là nhận định trong báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam

     

    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

    118         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    (VNPI) biên soạn14. Cũng theo báo cáo, năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 7 trong các nước Asean, đạt 1911 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Phillippin là 2765 USD, Indonexia 3475 USD, Thái Lan 5779 USD, Malayxia 10538 USD và Singapore là 55182 USD. Thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tỷ lệ người chơi game lại nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đó là do hầu hết các game thủ Việt Nam lựa chọn game Trung Quốc với chi phí rẻ, phù hợp với thu nhập của bản thân.

     

    4.           Tác động của game Trung Quốc tới Việt Nam

     

    Tác động tích cực: Ở Việt Nam, game bắt đầu xuất hiện vào năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ, nhưng công nghiệp trong nước lại phát triển rất hạn chế. Chúng ta mới chỉ có game Flapy bird gần đây là một sự đột phá, trong khi nhiều nước đào tạo hàng nghìn người để sản xuất game, thị trường game Việt Nam chủ yếu vẫn là game nước ngoài. Cách đây 10 năm, Trung Quốc chủ yếu cũng nhập khẩu game từ nước ngoài, nhưng khi nhận thấy lợi ích của ngành game, chính phủ Trung Quốc đã đưa game vào chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ cao. Năm 2004, dự án phát triển 100 game trực tuyến trong 5 năm được hưởng thuế ưu đãi, vốn… Đến năm 2009, Trung Quốc đã hình thành công nghiệp game phát triển mạnh mẽ15. Sự xâm nhập ồ ạt của game Trung Quốc đã khiến cho ngành game Việt Nam trở nên sôi động hơn, chính phủ Việt Nam có thể tham khảo các chính sách Trung Quốc đã từng áp dụng để đẩy mạnh ngành công nghiệp game, các công ty sản xuất

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    game Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ khâu sản xuất ra sản phẩm game, khâu tiếp thị quảng cáo game và dịch vụ hậu mãi của các công ty game Trung Quốc. Sự xuất hiện của các sản phẩm game Trung Quốc cũng đã góp phần làm phát triển ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam, đem lại doanh thu nhất định cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Theo Bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, năm 2012, doanh thu từ game của Việt Nam là khoảng 5000 tỷ, tạo việc làm cho khoảng 7500 người. Và trên đà phát triển, mới đây, Chính phủ cũng ban hành một Nghi định, trong đó đưa game vào là một trong nhưng dịch vụ nội dung số để khuyến khích góp phần phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam16.

     

    Hiện nay, khi cuộc sống ngày càng nhiều lo toan, áp lực, mọi người luôn tìm cho mình một phương thức giải trí để tránh căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao ở những nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành công nghiệp giải trí cũng càng được chú trọng và không ngừng được mở rộng quy mô. Trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay, game online đã trở thành ngành chính trong nền công nghiệp giải trí. Khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, game Trung Quốc với những ưu điểm riêng đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người chơi game Việt Nam, đem lại cho họ thêm sự lựa chọn giải trí. Việt Nam có khoảng hơn 20 triệu người sử dụng internet, 50% số đó có sử dụng dịch vụ game, và trở thành thị trường game lớn thứ 4 trên thế giới. Điều đó cho thấy số lượng người chọn game để giải trí rất cao.

     

    Tác động tiêu cực: các doanh nghiệp Trung

     

    • GDP bình quân đầu người Việt Nam thua xa Phillipin (2015), truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016, từ http:// vn/vn/kinh-doanh/277585/gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-xa-philippines.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http:// vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 119

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Quốc phát hành game không phép ngày một nhiều tại Việt Nam đã làm cho môi trường kinh doanh nước ta không lành mạnh. Theo thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định rõ, đối với trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (trò chơi G1), phải có thông tin trụ sở chính với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy phép cung ứng dịch vụ hoặc thủ tục cấp chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tương ứng với mỗi loại trò chơi. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều game Trung Quốc lại được nhập vào Việt Nam qua con đường không phép, và được gọi là “game lậu”, “game rác”, “game không phép”. Những game lậu này đã thu từ các game thủ Việt Nam một khoản tiền không nhỏ. Ví dụ: các cơ quan chức năng đã truy quét 3 cổng game lậu: Koramgame, Myw. vn, Gaubay.vn là những cổng game rất mạnh của nhà phát hành đến từ Trung Quốc. “Một ngày KoramGame thu được từ các game thủ Việt Nam 1,3-1,5 tỷ đồng”17. Một vụ game lậu điển hình gần đây nhất là vụ game Lục Long Tam Quốc 3D sau một thời gian liên tục đăng tin quảng bá trên các trang thông tin điện tử, đã chính thức ra mắt thị trường vào ngày 8/6/2016, tuy nhiên không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến nhà phát hành game này18. Trong khi các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự chi phối của nhiều Nghị định, thông tư cũng như tuân thủ các quy định về phát hành trò chơi điện tử có phép theo luật pháp Việt Nam thì các doanh nghiệp Trung Quốc lại bằng các thủ đoạn khác nhau để phát hành trái phép,

     

    thu lợi bất chính. Cho đến giữa năm 2015, nước ta chỉ mới có 26 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh trò chơi điện tử G1, con số quá ít ỏi so với thực tiễn phát triển không ngừng của thị trường game online. Mặc dù được cấp phép kinh doanh, điều đó không có nghĩa toàn bộ sản phẩm của những doanh nghiệp này đã có giấy phép phát hành, mà vẫn phải trải qua quy trình theo đúng quy định, mới nhất là Thông tư 24 của Bộ Thông tin – Truyền thông. Trong khi đó, gần như pháp luật nước ta chưa có quy định liên quan để quản lý, thu thuế đối với các đối tượng nước ngoài kinh doanh phát hành game tại nước ta. Do vậy, việc game không phép tràn lan đã làm cho môi trường kinh doanh của ngành game trong nước chưa được công bằng và lành mạnh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nước ta còn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu; ngoài ra còn cản trở sự phát triển của các nhà phát hành game Việt kinh doanh lành mạnh, gây thiệt hại cho doanh thu của nhà nước.

     

    Trung Quốc hiện đang chú trọng phát triển ngành công nghiệp game với mục đích thu được khoản lợi nhuận cao, và hơn thế nữa là quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới. Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Sơn, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu tất cả các game của Trung Quốc phải sản xuất theo thuần phong mỹ tục của Trung Quốc và để tuyên truyền lịch sử của Trung Quốc. Nên, họ khuyến khích game Trung Quốc phát triển ra nước ngoài với điều kiện tất cả những game này phải đảm bảo các yếu tố đó, đưa văn hóa của Trung Quốc ra nước ngoài19. Thị trường

     

    • Không thể tin vào game rác của Trung Quốc (2014), truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016 từ http://www.baomoi. com/khong-the-tin-vao-game-rac-cua-trung-quoc/c/13283246.epi
    • Điệp Lưu (2016), Lục Long Tam Quốc 3D – Game lậu núp bóng Trung Quốc hoành hành làng game Việt, truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016 http://infogame.vn/game-online/luc-long-tam-quoc-3d-game-lau-nup-bong-trung-quoc-hoanh-hanh-lang-game-viet-27884.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

    120         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    xuất khẩu game lớn nhất của Trung Quốc là Việt Nam. Phần lớn người chơi game Việt ở độ tuổi thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi còn đang dần phát triển cả về tâm sinh lý, nhận thức và định hướng trong cuộc sống. Việc tiếp nhận và chơi các game Trung Quốc trong một thời gian dài, vô hình chung sẽ có ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, bên cạnh các sản phẩm game phát hành lành mạnh, các game lậu phát hành chui vào Việt Nam đều là những sản phẩm chưa được kiểm duyệt nội dung, những đầu game này sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.

     

    Hiện nay, đa số các game Trung Quốc phát hành tại Việt Nam đều là các game kiếm hiệp, ví dụ: Game Thần long huyết kiếm lấy bối cảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 20 với nhiều trường phái võ hiệp như kiếm, đao, quyền, cước, pháp bảo cùng với các loại vũ khí hiện đại như sung (hỏa thương), trảo…, trong tháng 7/2016 có sự ra mắt của game Ngự kiếm hồng trần, lấy bối cảnh chính ở đời Thịnh Đường Võ Hoàng, đưa người chơi khám phá một thế giới quan rộng lớn, phiêu lưu mạo hiểm, giàu tính chiến thuật…Các nhà phát hành game Trung Quốc đã rất dày công sáng tạo ra các sản phẩm game để tái hiện lại các chiêu thức nổi tiếng trong các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Cổ Long… Người chơi game khi chơi sẽ hóa thân vào các nhân vật, cùng tham gia phiêu lưu, và chiến đấu với các đối thủ. Đây cũng chính là mặt trái của game Trung Quốc, khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, mất cân bằng với thế giới thực, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công việc. Hơn thế, rất nhiều sự việc và vụ án đau lòng đã xảy ra do game online gây ra, nhiều người gọi đó là tình trạng xuống cấp hay suy thoái đạo đức thậm chí băng hoại đạo đức do game online.

     

    5. Kết luận

     

    Trong những năm gần đây, ngành công

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    nghiệp văn hóa của Trung Quốc có những những bước tiến đột phá, do được chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và đầu tư thích đáng nên quy mô ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc không ngừng được mở rộng bao gồm cả ngành truyền thống như điện ảnh, xuất bản…,cũng như các ngành công nghiệp văn hóa kiểu mới có xu thế phát triển mạnh như game. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, ngành game của Trung Quốc không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, mà còn xâm lấn thị trường các nước lớn như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, và vươn lên trở thành thị trường game lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tiên của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại khu vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn của ngành công nghiệp game Trung Quốc. Không thể phủ nhận ngành game của Trung Quốc đã đem lại nhiều cơ hội việc làm và giải trí cho người Việt Nam, tạo điều kiện cho các công ty phát hành game của Việt Nam học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, tình hình game lậu đã gây thất thoát về kinh tế cho chính phủ Việt Nam, gây khó khăn trong cạnh tranh lành mạnh cho các công ty game Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội Việt Nam khi nội dung của các game lậu không được thông qua kiểm duyệt. Do vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền hãy siết chặt công tác quản lý để ngăn chặn các game lậu có nội dung không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam. Đồng thời, các nhà phát hành game Việt cũng cùng liên kết sáng tạo ra các sản phẩm game Việt, mang đậm thuần phong mỹ tục của người Việt và dấu ấn lịch sử Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường game và phát triển ngành công nghệ thông tin nước nhà.q

     

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 121

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/ htm

     

    1. Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc đã giành được những thành tựu mang tính lịch sử (2013), truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 , từ http://news.xinhuanet.com/zgjx/2013-06/14/c_132453952.htm

     

    1. Công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2015 tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml

     

    1. Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_market_15.04.23F.pdf
    1. Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74,
    2. Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

     

    1. Nguyễn Văn Hy (2013): Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 3, tr.54-59
    2. Nguyên Thi Thu Phương (chủ biên), 2013: Sư trôi dây cua sưc manh mêm Trung Quôc 2011-2020 va nhưng vân đê đăt ra cho Viêt Nam, Nxb. Tư điên Bach khoa, Ha Nôi.
    3. Nguyên Thi Thu Phương (2012): Văn hoa trong tiên trinh trôi dây cua Trung Quôc, Tap chi Nghiên cưu Trung Quôc, sô 9
    4. TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
    1. Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu.vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html
    1. Trương Văn Tịnh:Công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang trong thời cơ phát triển (2013),truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016, từ
    1. http://www.chinadaily.com.cn/hqgj/jryw/2013-09-08/content_10063874.html

    122         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-marketing-xanh-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MARKETING XANH

    CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

     

    Nguyễn Thị Thu Hà*

     

    Bùi Quang Tín**

     

    Tóm tắt

     

    Mặc dù marketing xanh đã xuất hiện trên thế giới cách đây đã hơn 30 năm nhưng ở Việt Nam đây vẫn còn là một vấn đề mới mẻ với phần lớn doanh nghiệp. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường hay còn gọi là sản phẩm xanh ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc chuyển sang marketing xanh. Bài viết khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về marketing xanh, những cơ hội thách thức đối với doanh nghiệp khi ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam để từ đó đề xuất một số gợi ý giúp các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng marketing xanh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng và cạnh tranh bền vững. Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

     

    Từ khóa:

     

    Mã số: 115.271214. Ngày nhận bài: 27/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập: 27/04/2015. Ngày duyệt đăng:2/10/2015.

     

    Summary

     

    Although green marketing appeared in the world more than 30 years ago in Vietnam, this is still a new issue for most Vietnamese enterprises. The trend towards consumption of environmentally friendly products aka green products has become increasingly popular around the world as well as in Vietnam. However, many Vietnam businesses are not ready for the switch to green marketing. This article will give an overview of theoretical issues and practices of green marketing, the opportunities and challenges for businesses when applying green marketing in Vietnam, then propose some suggestions to help enterprises enhance the application of green marketing, meet consumers’various demand for environmentally friendly products and boost sustainable competition. This paper uses synthesis, analysis methods to clarify the research issue.

     

    Key words: Enterprise, Green marketing.

     

    Paper No.115.271214. Date of receipt: 27/12/2014. Date of revision: 27/04/2015. Date of approval: 2/10/2015.

     

     

    1.   Tổng quan lý thuyết về Marketing

    xanh

     

    • Khái niệm về marketing xanh

    Polonsky (1994) cho rằng marketing xanh bao gồm các hoạt động nhằm tạo ra và thúc đẩy bất cứ trao đổi nào nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng trên

     

    cơ sở hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng quan điểm với Polonsky, Ottman (1998) cho rằng marketing xanh cần phải tập trung vào phát triển các sản phẩm có thể làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm chất lượng, giá cả hợp lí và khả năng sử dụng với sự tương hợp

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      87

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường, tức là hạn chế tối thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

     

    Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency – EPA), hoạt động marketing xanh là “việc phát triển và xúc tiến các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm nhu cầu về chất lượng, hình thức, giá cả hợp lý, sử dụng tiện lợi mà không gây ra tác động tiêu cực đến môi trường”. Định nghĩa này chủ yếu dựa trên khái niệm mà Ottman đưa ra. Còn theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), marketing xanh là hoạt động marketing các sản phẩm được coi là an toàn cho môi trường. Có nhiều ngộ nhận rằng marketing xanh chỉ liên quan tới chiêu thị và quảng cáo các sản phẩm bằng cách sử dụng các đặc điểm hoặc biểu tượng về môi trường. Nhưng về bản chất, marketing xanh chính là sự kết hợp một loạt các hoạt động bao gồm thay đổi quá trình sản xuất, đóng gói, quảng cáo để tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường (Polonsky, 1994).

     

    Dựa vào khái niệm của marketing xanh thì Philip Sloan và cộng sự (2012) cho rằng marketing xanh có các đặc điểm sau:

     

    Thứ nhất, hành động vì thế hệ mai sau. Một đặc điểm của marketing xanh đó là dùng những hành động tích cực, thân thiện với môi trường ở hiện tại (ngắn hạn) nhằm củng cố cho mục tiêu dài hạn, đó là giáo dục cho giới trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tránh để các nguồn tài nguyên rơi vào tình trạng cạn kiệt.

     

    Thứ hai, marketing xanh đòi hỏi các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm giống như những công dân mẫu mực khác. Hoạt động marketing xanh cần gắn liền với các hoạt động mang tính lâu dài về bảo vệ môi trường để quảng bá hình ảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp. Theo đó, các tuyên bố và thông điệp truyền thông của

     

    doanh nghiệp cũng phải được cụ thể hóa bằng các hành động thực tế về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhờ đó cho thấy được mục đích nhân văn cao cả của doanh nghiệp. Yếu tố nhân văn của một doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác sẽ được cộng đồng xã hội so sánh một cách khách quan và rõ ràng hơn nhờ vào kết quả thực hiện các hoạt động nói trên như thế nào.

     

    Thứ ba, marketing xanh phải tạo được cầu nối giữa các doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp đối thủ và cả những cổ đông với nhau để làm cơ sở chung tay thực hiện các hành động nhân văn. Như vậy là cần phải có sự hợp tác cùng thực hiện. Quan điểm đạo đức chung

     

    • đây là phải làm thế nào để thế hệ sau phải có được cuộc sống tốt đẹp hơn, hoặc chí ít cũng phải bằng so với thế hệ trước. Quan điểm này chỉ ra rằng doanh nghiệp không thể chỉ tìm mọi cách thu lợi nhuận cho mình và quên đi sự sống còn của cả loài người và các sinh vật trên tráo đất. Do đó, cần một cách tiếp cận marketing toàn diện để đảm bảo cho việc phát triển bền vững là ý tưởng chủ đạo của hoạt động này.

    1.2. Marketing mix trong marketing xanh

     

    Như đã đề cập ở trên, marketing xanh không chỉ hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ mà rộng hơn, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Theo Rex và Baumann (2007) ý tưởng chính của hoạt động marketing xanh là khách hàng được cung cấp thông tin về các tác động tới môi trường của sản phẩm khi lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ để tiêu dùng. Từ phần mình, các doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang sản xuất và cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xanh của người mua hàng. Do vậy, khi thực hiện marketing xanh các doanh nghiệp

     

    88            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    cần triển khai các chiến lược xanh từ khâu sản phẩm, định giá, phân phối và chiêu thị.

     

    Chính sách sản phẩm

     

    Chính sách sản phẩm xanh của một công ty được thể hiện qua các yếu tố thiết kế, sản xuất, đóng gói và dán nhãn sinh thái.

     

    Thiết kế: Ottman (1998) cho rằng khi xây dựng chính sách sản phẩm khâu quan trọng nhất là quá trình thiết kế sản phẩm. Theo Ottman thì quá trình thiết kế quyết định khoảng 75% tác động đến môi trường của sản phẩm đó.

     

    Có nhiều phương pháp thiết kế để tạo ra một sản phẩm mới thân thiện với môi trường. Tuy nhiên dù áp dụng phương pháp nào chăng nữa thì trong khâu thiết kế, doanh nghiệp cũng cần chú ý tới nguyên tắc 3R (Reduction

     

    – Reuse – Recycling). Sản phẩm đó phải được thiết kế sao cho khi sản xuất có thể giảm thiểu nguyên vật liệu đầu vào hoặc được làm từ những vật liệu giảm thiểu tác động đến môi trường (Reduction). Thứ hai là sản phẩm đó được thiết kế để sử dụng nhiều lần hoặc không khuyến khích người tiêu dùng chỉ sử dụng một lần rồi bỏ đi (Reuse). Ở mức độ cao nhất, việc thiết kế sẽ xây dựng những sản phẩm có khả năng tái chế tức là có khả năng được dùng lại để sản xuất sản phẩm mới hoặc có khả năng chuyển đổi thành nguyên vật liệu dùng để tạo ra một loại sản phẩm khác (Recycle), điều này sẽ giúp loại bỏ đến mức thấp nhất tác động đến môi trường của sản phẩm.

     

    Sản xuất: Trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cần đảm bảo sử dụng công nghệ và kỹ thuật sạch, không gây ô nhiễm, sản phẩm sản xuất ra không có hại cho môi trường và sức khỏe con người.

     

    Đóng gói bao bì: Doanh nghiệp có thể sử dụng những loại bao bì làm bằng những chất liệu ít gây ô nhiễm, không độc hại và an toàn

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường như bao bì có thể phân hủy được, hoặc cũng có thể sử dụng những loại bao bì có thể tái chế, tái sử dụng. Mặc khác, kích cỡ của bao bì cũng là một yếu tố có thể giúp bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích tiết kiệm chi phí bao bì, chi phí lưu trữ vận chuyển cho bản thân doanh nghiệp.

     

    Dán nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái có thể do chính doanh nghiệp tạo ra và đặt lên sản phẩm của mình như một cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để đảm bảo uy tín và tính khách quan, phần lớn các doanh nghiệp thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn. Bên thứ ba có thể là một công ty độc lập khác, hiệp hội của ngành, một tổ chức phi chính phủ hay thậm chí là của một cơ quan ban ngành của chính phủ nhằm có sự đảm bảo uy tín về đặc tính thân thiện với môi trường của sản phẩm.

     

    Chính sách giá

     

    Có hai phương pháp định giá sản phẩm xanh doanh nghiệp có thể tham khảo. Thứ nhất là định giá cao hơn cho sản phẩm xanh so với mức giá của sản phẩm thông thường do sản phẩm được sản xuất theo công nghệ sạch. Khách hàng trả mức giá cao này đòi hỏi sản phẩm phải thực sự vượt trội hơn sản phẩm mà họ đang dùng chứ không chỉ thân thiện với môi trường một cách chung chung. Phương pháp thứ hai là định giá sản phẩm xanh bằng với sản phẩm thông thường cùng chất lượng. Khi này, khách hàng sẽ sẵn lòng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường thay vì trung thành với sản phẩm họ từng sử dụng.

     

    Chính sách phân phối

     

    Trong chiến lược marketing xanh, hệ thống phân phối cần đảm bảo hai chức năng quan trọng nhất. Thứ nhất, phân phối hàng hóa bằng phương thức ít tác động tiêu cực nhất

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      89

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    đến môi trường. Thứ hai, góp phần thông tin, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường đến người tiêu dùng. Việc xây dựng hệ thống phân phối rộng khắp cũng góp phần giúp công ty thực hiện chiến lược marketing xanh của mình. Thông qua kênh phân phối rộng khắp này, người tiêu dùng với mọi trình độ, vùng địa lý, thu nhập đều có thể tiếp cận được với sản phẩm của các công ty và các công ty cũng dễ dàng hơn trong việc truyền thông xã hội các thông tin về sản phẩm và môi trường.

     

    Chính sách chiêu thị

     

    Doanh nghiệp lựa chọn công cụ nào thì cũng lưu ý đến sự đáng tin cậy trong những thông tin truyền đạt cho khách hàng, tránh những sự thổi phồng hay hiểu lầm đáng tiếc có thể làm hủy hoại cả thương hiệu của mình. Thêm vào đó, thông điệp sản phẩm xanh gửi gắm đến khách hàng cần rõ ràng để khách hàng hiểu được tính năng bảo vệ môi trường của sản phẩm, những lợi ích sản phẩm xanh mang lại vượt trội so với các sản phẩm khác và nhấn mạnh được khả năng thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.

     

    2.   Các yếu tố thúc đẩy sử dụng marketing xanh trong doanh nghiệp

    Có nhiều lý do khiến các doanh nghiệp hướng tới marketing xanh, nổi bật lên là ba nhóm yếu tố như sau:

     

    Yếu tố về phía doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhận thức được rằng marketing xanh là một cơ hội để có thể đạt được mục đích của mình. Bằng việc sử dụng marketing xanh các doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình với cộng đồng và qua đó nâng cao được uy tín, hình ảnh của mình với người tiêu dùng.

     

    Các yếu tố mang tính xã hội. Hiện nay có nhiều nhóm hoạt động môi trường và người tiêu dùng đang tạo ra phong trào tiêu dùng xanh khiến nhiều người tiêu dùng chuyển

     

    sang sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường buộc các doanh nghiệp phải chuyển hướng theo để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Mặt khác, các nhóm hoạt động gia tăng áp lực lên chính phủ và doanh nghiệp buộc chính phủ và doanh nghiệp phải có biện pháp hiệu quả về phát thải và tiết kiệm năng lượng. Cùng với việc chi phí xử lý chất thải gia tăng thì các công ty phải thay đổi hành vi của mình hướng tới việc sử dụng công nghệ sạch, giảm thiểu sử dụng nguyên liệu đầu vào và hạn chế chất thải độc hại tới môi trường.

     

    Yếu tố mang tính pháp lý. Phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các chính phủ, vì vậy nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo sự thực thi hiệu quả việc bảo vệ môi trường. Trong thương mại quốc tế, nhiều quốc gia dựng lên các hàng rào kỹ thuật liên quan tới môi trường cũng là yếu tố buộc các doanh nghiệp phải chuyển sang marketing xanh để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Tại Việt Nam từ năm 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh như Quyết định phê duyệt tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam 2232/QĐ-BNMT ngày 13/12/2010, Quyết định phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1907/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1906/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định quy định trình tự, thủ tục, chứng nhận và cấp thí điểm “Nhãn xanh Việt Nam” 1493/QĐ-BTNMT ngày 13/08/2010, Quyết định Thành lập Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1492/QĐ- BTNMT 13/08/2010, Quyết định phê duyệt Chương trình cấp nhãn sinh thái 253/QĐ-BTNMT 05/03/2010… Từ

     

    90            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    ngày 1/1/2015 Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực cũng tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi mở đường cho xu hướng phát triển bền vững và xanh tại Việt Nam.

     

    3.   Một số gợi ý cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc ứng dựng marketing xanh

     

    3.1. Cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam

     

    Cơ hội

     

    Cơ hội từ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế toàn cầu (GEP) công bố ngày 13/1/2015, Ngân hàng Thế giới vẫn dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 5,6% trong năm 2015. WB cho rằng, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam sẽ cải thiện hơn trong 2 năm tới khi dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt 5,8% trong năm 2016 và 6% trong năm 2017 một phần nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế ổn định là cơ hội tốt để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư vào công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài giàu kinh nghiệm trong việc xanh hóa hoạt động của mình và thể hiện trách nhiệm xã hội, nhất là các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh;

     

    Cơ hội từ phía người tiêu dùng: Người tiêu dùng Việt Nam hiện đã quan tâm hơn đến sản phẩm xanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong khảo sát toàn cầu của Nielsen với hơn 30.000 người tiêu dùng trực tuyến tại 60 quốc gia để tìm hiểu mức độ quan tâm của người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm đối với cam kết của doanh nghiệp thì gần ba phần tư người được hỏi tại Việt Nam (73%) sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm và dịch vụ đến từ các công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường, đứng thứ ba thế giới

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    sau Philippines với 79% và Thái Lan với 71%. Con số này cao hơn hẳn so với mức trung bình của thế giới là 55%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, không chỉ thể hiện sự quan tâm của mình bằng lời nói, người tiêu dùng Việt Nam đang thực sự chi cho những sản phẩm có tác động lớn đến xã hội và môi trường. Gần 7 trên 10 người Việt Nam được hỏi (68%) cho biết trong 6 tháng vừa qua, họ đã mua ít nhất 1 sản phẩm hoặc dịch vụ của một công ty có hoạt động vì cộng đồng, cao thứ 2 tại Đông Nam

     

    • chỉ sau Philippines (76%). Đây là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp triển khai marketing xanh khi người tiêu dùng có nhận biết và phản ứng rất tích cực đối với các hoạt động này.

    Cơ hội từ chính phủ. Nghị định 04/09/2014/ NĐ-CP được Chính phủ ban hành quy định những ưu đãi và hỗ trợ đối với các hoạt động bảo vệ môi trường theo đó doanh nghiệp có các dự án trong việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, đất đai, về vốn, các loại thuế phí và các ưu đãi hỗ trợ khác. Đáng chú

     

    • là các ưu đãi về thuế. Doanh nghiệp có các dự án bảo vệ môi trường được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%. Doanh nghiệp mới thành lập hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì sẽ được miễn thuế 4 năm và 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo, trường hợp dự án ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn sẽ được miễn 50% trong 9 năm tiếp theo. Doanh nghiệp cũng được miễn thuế nhập khẩu cho các loại móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu được nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các dự án đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường (Chính phủ, 2009). Ngoài ra, Nhà nước cũng hỗ trợ thành lập Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam nhằm tư vấn cho các doanh nghiệp về các giải pháp sản xuất sạch hay về kỹ thuật công nghệ và tài chính.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       91

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Bên cạnh đó, cuộc vận động “Mua hàng xanh” đang được Trung tâm Năng suất Việt Nam thúc đẩy và quảng bá thông qua việc thành lập Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam. Hoạt động của Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam sẽ thúc đẩy công cuộc bảo vệ môi trường thông qua tuyên truyền nâng cao kiến thức của người tiêu dùng trong mua hàng xanh, xây dựng các tiêu chí đối với các sản phẩm xanh, xây dựng các hướng dẫn mua hàng, xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin giữa nhà sản xuất và người mua hàng… Trung tâm Năng suất Việt Nam cũng kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia vào Mạng lưới Mua hàng xanh Việt Nam nhằm chia sẻ thông tin và xây dựng một xã hội tiêu dùng xanh, hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

     

    Khó khăn và thách thức

     

    Nhóm thách thức từ phía người tiêu dùng

     

    Thách thức từ thu nhập của người tiêu dùng. Thu nhập bình quân đầu người của đại đa số người dân Việt Nam còn thấp nên một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng Việt Nam rất nhạy cảm về giá cả. Trong khi đó, các sản phẩm xanh có mức giá cao hơn sản phẩm thông thường nên sức cạnh tranh sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, tại thị trường Việt Nam đang bị hàng giá rẻ, không rõ xuất xứ, nguồn gốc chủ yếu nhập về từ Trung Quốc cạnh tranh mạnh mẽ cũng là sức cản lớn cho các doanh nghiệp có ý định đầu tư vào sản phẩm sinh thái.

     

    Thách thức từ nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm với môi trường và sử dụng sản phẩm xanh. Trên thực tế, ý thức bảo vệ môi trường của người dân Việt Nam còn thấp. Tâm lý bàng quan, thờ ơ xem việc bảo vệ môi trường là việc ‘không phải của nhà mình’ khiến nhiều người vẫn sử dụng các sản phẩm có tác nhân gây ô nhiễm hoặc phớt lờ

     

    những thông điệp xanh đến từ các công ty để lựa chọn sản phẩm không sạch nhưng có giá cả hợp với túi tiền.

     

    Thách thức từ mâu thuẫn giữa thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại một khoảng cách lớn giữa thái độ và hành vi tiêu dùng xanh. Không phải tất cả những người tiêu dùng Việt Nam có quan điểm xanh (ủng hộ marketing xanh) đều thực hiện hành vi xanh (mua hàng hóa thân thiện với môi trường). Nguyên nhân vì họ là những người tiêu dùng có kiến thức về vấn đề môi trường song không có niềm tin vào những phát ngôn mà doanh nghiệp đưa ra. Người tiêu dùng nhận thấy trào lưu các doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực đua nhau đưa ra các tuyên bố xanh về sản phẩm hay dịch vụ của họ cung cấp nhưng thực tế phần lớn trong số đó chỉ là những chiêu bài quảng cáo đơn thuần. Một ví dụ điển hình như Vedan được các giải thưởng về môi trường trong khi chính doanh nghiệp này đã bị phát hiện xả thải làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Bên cạnh đó giá cả cũng là rào cản lớn nhất khiến người tiêu dùng không mua sản phẩm xanh. Trong trường hợp này, lợi ích xanh của sản phẩm nhỏ hơn rất nhiều so với chi phí người tiêu dùng phải bỏ ra. Người tiêu dùng đã ý thức được trách nhiệm với môi trường nhưng không thực hiện hành vi mua hàng xanh vì giá cả một số sản phẩm và dịch vụ xanh còn khá đắt đỏ, thậm chí xa xỉ đối với người tiêu dùng có thu nhập trung bình.

     

    Khó khăn và thách thức từ phía doanh nghiệp

     

    Mâu thuẫn giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cổ đông. Các cổ đông có quyền tham gia vào việc hoạch định chính sách hoạt động cho doanh nghiệp. Sự đồng ý của các cổ đông chiến lược rất quan trọng và góp phần quyết định đến việc có hay không việc ứng dụng

     

    92            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    hoạt động marketing xanh. Tuy nhiên, thông thường các cổ đông không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh bởi trong ngắn hạn hoạt động này không mang lại lợi ích trực tiếp. Chiến lược marketing xanh muốn thành công đòi hỏi sự thay đổi triệt để trong nhiều hoạt động của doanh nghiệp. Điều này cần có sự đầu tư ban đầu rất lớn, nghiên cứu kỹ lưỡng, công phu mà không phải cổ đông nào cũng chấp nhận rủi ro. Vì lợi ích trước mắt của cổ đông đối lập với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp nên việc một số cổ đông không muốn hy sinh lợi ích cá nhân đã khiến doanh nghiệp gặp nhiều cản trở khi áp dụng chiến lược marketing xanh và nếu có thực hiện thì cũng rất hạn chế và mang tính chất bổ sung. Nếu các quyết định của doanh nghiệp chỉ đơn thuần dựa trên mục tiêu kinh tế – lợi nhuận, việc lồng ghép vấn đề môi trường vào chiến lược marketing tổng thể của doanh nghiệp có thể khó thực hiện được.

     

    Trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế. Đây có thể là rào cản lớn nhất của doanh nghiệp khi lựa chọn thực hiện marketing xanh ở Việt Nam. Sản xuất một sản phẩm thân thiện với môi trường là yếu tố tiên quyết trong chiến lược marketing xanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có những công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình này. Tuy nhiên, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế so với thế giới. Thực tế là các sản phẩm sản xuất ở Việt Nam chỉ mới đáp ứng được phần nào nhu cầu xanh của người tiêu dùng và xã hội.

     

    Thách thức từ khía cạnh pháp lý. Mặc dù Việt Nam đã có văn bản pháp luật và mới nhất là Luật bảo vệ môi trường 2014 có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 quy định về việc xử lý doanh nghiệp có hành vi xâm hại môi trường, gây nguy hại và ô nhiễm cho người tiêu dùng nhưng việc thực thi còn rất yếu kém. Các hành

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    • vi phạm ngày càng tinh vi trong khi khả năng phát hiện xử lý của đơn vị chức năng còn yếu nên đây là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp muốn thực hành marketing xanh khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có các hành vi ăn cắp môi trường.

    3.2. Một số đề xuất đối với doanh nghiệp trong việc triển khai marketing xanh

     

    Mặc dù có nhiều thách thức trong việc thực hiện marketing xanh nhưng đây là xu thế tất yếu khi người tiêu dùng ngày càng có nhận thức cao về tiêu dùng xanh và các quốc gia cũng đặt ra nhiều áp lực trong việc phát triển bền vững. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần phải định hướng để thực hiện chiến lược marketing xanh cho sản phẩm và dịch vụ của mình. Một số gợi ý cho các doanh nghiệp như sau:

     

    Thiết kế các chương trình nâng cao nhận thức về môi trường và phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của người tiêu dùng

     

    Để tạo tiền đề cho việc ứng dụng marketing xanh thành công, doanh nghiệp cần có những chương trình nâng cao nhận thức môi trường của người tiêu dùng và khuyến khích họ phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của mình nhằm tạo ra một thị trường người tiêu dùng xanh đủ lớn để đầu tư. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên những cân nhắc kỹ lưỡng từ các nghiên cứu thị trường thường xuyên để đảm bảo tính hiệu quả đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, các chương trình cần phải đảm bảo tính hấp dẫn và kết nối được người tiêu dùng, tránh trường hợp marketing thiển cận.

     

    Về chương trình nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên tạo ra những nhân tố thúc đẩy ý thức của người tiêu dùng bao gồm nhân tố lợi ích hay nhân tố đạo đức… Ví dụ như khi khách hàng được yêu cầu phải trả tiền cho những chiếc

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      93

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    túi mua hàng, họ sẽ nghĩ đến việc tái sử dụng những chiếc túi đó. Các chương trình này nên được thực hiện cùng các sự kiện của cộng đồng xã hội như sự kiện Giờ Trái Đất, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới… nhằm thu hút đông đảo sự quan tâm của dư luận và thức tỉnh người tiêu dùng, khuyến khích họ có những hành động tích cực và thay đổi thói quen nhằm bảo vệ môi trường.

     

    Về các chương trình xóa bỏ những mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên xem xét đến các nhân tố rào cản và tạo nhân tố thúc đẩy thói quen mua hàng của họ. Trên nguyên tắc đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chính sách tốt hơn cho sản phẩm xanh. Các rào cản đôi khi không phải là chất lượng sản phẩm, mà đến từ chính tâm lý hoài nghi và ngại thay đổi của khách hàng. Lấy trường hợp của sản phẩm nước xả một lần làm ví dụ. Nhiều người hoài nghi về tính hiệu quả của sản phẩm nước xả vải một lần xả bởi vì bình thường họ thấy rằng quần áo sau khi giặt phải xả bằng ba, bốn lần mới sạch. Như vậy, công ty cần phải xây dựng chương trình truyền thông nhằm phá bỏ rào cản này.

     

    Chú trọng đầu tư vào công nghệ và công tác nghiên cứu sản phẩm

     

    Việc đầu tư công nghệ sạch như sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời hay hệ thống tái sử dụng các chất thải từ quy trình sản xuất chắc chắn sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí sản xuất trong dài hạn. Với các công ty có trình độ khoa học kĩ thuật còn chưa cao có thể đi tắt đón đầu, tiết kiệm thời gian và chi phí phát triển bằng việc mua các dây chuyền công nghệ hiện đại trên thế giới. Doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn mua dây chuyền công nghệ nào dựa vào khả năng tài chính, định hướng phát triển và quy mô sản xuất của mình. Các doanh nghiệp không có khả năng tài chính vững chắc có thể tìm sự hỗ

     

    trợ của chính phủ hoặc các tổ chức nước ngoài để nhận được hỗ trợ về tài chính cũng như sự hỗ trợ trong chuyển giao công nghệ. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới World Bank và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) sẵn sàng hỗ trợ tài chính cho các dự án sản xuất sạch để đối phó với vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

     

    Bên cạnh đó, với công nghệ được đầu tư hiện đại, doanh nghiệp nên chú trọng vào việc nghiên cứu phát triển sản phẩm xanh, đáp ứng nhu cầu xanh của người tiêu dùng. Sản phẩm xanh, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng, là trung tâm và cơ sở quyết định các yếu tố khác trong hoạt động marketing xanh. Mức độ sản phẩm “xanh” như thế nào sẽ tác động lớn đến hình ảnh của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết và tuyên bố xanh của mình. Trước hết, muốn sản xuất được một sản phẩm xanh có chất lượng thì các công ty phải đầu tư cho mình một hệ thống sản xuất tiên tiến. Bên cạnh đó, để có một sản phẩm xanh với thiết kế và đặc tính nổi trội thì các doanh nghiệp cũng cần chú trọng phát triển và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, sáng chế giỏi. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có sự nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của thị trường và hành vi mua của người tiêu dùng để làm căn cứ để sản xuất. Có như vậy mới có thể tạo ra được các sản phẩm xanh phù hợp, đáp ứng nhu cầu cùa khách hàng để từ đó được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, góp phần hướng đến tiêu dùng xanh.

     

    Xây dựng kênh phân phối xanh

     

    Việc xây dựng một kênh phân phối xanh là cần thiết vì nó thể hiện rõ nét nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động marketing xanh ở tất cả các khâu.

     

    Đầu tiên doanh nghiệp cần lựa chọn kênh phân phối. Theo khảo sát của nhóm tác giả

     

    94            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    thực hiện năm 2014, hiện có tới 71,2% số người tiêu dùng được hỏi có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng thường hay mua các sản phẩm xanh ở siêu thị. Như vậy các công ty có thể hợp tác với các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn trong nước để làm chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, để tạo sự khác biệt và nhận diện cao thì các sản phẩm xanh nên được bày bán trong siêu thi ở một khu tập trung, tách biệt với sản phẩm thông thường và phải là các địa điểm thuận tiện và dễ thấy. Các khu phân phối sản phẩm xanh này sẽ cam kết sử dụng những chất liệu thân thiện với môi trường để tạo nên những vật dụng trưng bày sản phẩm, quá trình vận chuyển sản phẩm xanh sử dụng tiết kiệm nhiên liệu và tạo ra ít khí thải…

     

    Doanh nghiệp cũng có thể tự tạo cho mình một một kênh phân phối xanh. Chuỗi cửa hàng xanh này sẽ chỉ bán các mặt hàng được xem là thân thiện với môi trường. Điểm mấu chốt ở đây là các kênh phân phối này bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với các tiêu chí về an toàn, tiết kiệm, ổn định và thân thiện với môi trường thì yếu tố thuận tiện là quan trọng nhất. Theo kinh nhiệm thực hiện của một số quốc gia trên thế giới thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua hàng trên tuyến đường thuận lợi với mình nhất, chứ không đánh đường xa chỉ để mua một vài sản phẩm xanh. Do đó việc tính toán các cửa hàng này phải làm cho sản phẩm luôn sẵn sàng đến tay người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Bên cạnh đó, các công ty có thể phối hợp với nhau xây dựng một kho hàng chung để tiết kiệm chi phí và thuận lợi cho việc cung ứng đến các chuỗi cửa hàng này. Từ các kho chung này, các phương tiện vận chuyển chung sẽ phân phối đến những khu vực có nhu cầu. Việc làm này sẽ tận dụng tối đa khả năng chuyên chở của phương tiện vận chuyển và đặc biệt là giảm thiểu được lượng khí thải CO2 ra môi

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    trường cũng như tiết kiệm được nhiên liệu.

     

    Tập trung nguồn lực cho phòng marketing để phát triển

     

    Một trong những giải pháp thúc đẩy ứng dụng marketing xanh từ chính bản thân doanh nghiệp là phát triển và tập trung nguồn lực cho phòng marketing. Việc tập trung nguồn lực cho phòng marketing nên được xem xét đầy đủ ở cả ba khía cạnh: lên kế hoạch marketing, ngân sách marketing và đào tạo con người.

     

    Về việc lên kế hoạch marketing, các nhà quản lí cần có sự chuẩn bị cho một kế hoạch truyền thông lâu dài. Việc thay đổi nhận thức của người tiêu dùng không hề đơn giản thế nên mục tiêu này chỉ có được thực hiện khi có một nỗ lực truyền thông dài hơi. Các thông điệp xanh cần phải được truyền tải đến người tiêu dùng hàng ngày có thể qua quảng cáo trên truyền hình, báo chí và cả qua các hoạt động xanh tổ chức thường niên giúp người tiêu dùng hiểu được tầm quan trọng của hành động mua sản phẩm xanh và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động vì môi trường để họ có cảm nhận tích cực hơn. Ngay từ bây giờ, các kế hoạch marketing dài hơi cũng cần chú

     

    • đến thế hệ trẻ bởi đây là khách hàng của các công ty trong tương lai và cũng là nhóm đối tượng dễ dàng giáo dục thay đổi nhận thức và hành vi. Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing xanh, các nhà quản lý cần đảm bảo sự tham gia và thống nhất ý kiến giữa các phòng ban trong công ty với những kế hoạch hoạt động của phòng marketing. Những hoạt động trong kế hoạch không phải của chỉ riêng phòng marketing mà cần nhận được hỗ trợ từ các phòng ban khác. Marketing xanh không thể phát triển nếu phòng nghiên cứu và phát triển (R&D) không hỗ trợ sáng tạo ra những sản phẩm thân thiện môi trường, nếu phòng kinh doanh không hỗ trợ tìm kiếm những kênh phân phối phù hợp và bộ phận sản

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      95

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    xuất đóng gói bao bì không ứng dụng những quy trình hoạt động giúp giảm thiểu tác động tới môi trường. Tất cả các phòng ban cần ý thức một cách nghiêm túc vai trò của họ trong việc thực hiện các hoạt động marketing xanh của công ty.

     

    Về ngân sách marketing, mặc dù những nhà điều hành cấp cao thường khẳng định tầm quan trọng của ngân sách marketing, nhưng những người làm marketing lại nhận thấy khó có thể thỏa mãn hết những yêu cầu đặt ra trong giới hạn ngân sách được cấp. Sự giới hạn của nguồn ngân sách làm cho những người làm marketing không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh trong hoạt động của mình bởi lẽ chiến lược này đòi hỏi nguồn vốn đáng kể và đặc biệt là không mang lại lợi nhuận ngay lập tức. Trong khi đó, phòng marketing lại luôn chịu áp lực trong việc hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến doanh thu, hệ thống phân phối, cơ hội phát triển và phát triển thị trường. Vì vậy, một khi các nhà quản lý cấp cao trong công ty không tạo điều kiện cho marketing xanh có cơ hội được ứng dụng vào thực tiễn thì doanh nghiệp khó lòng nào nhận thấy được những lợi ích phát sinh từ đó.

     

    Về đào tạo con người, đội ngũ marketing cần phải được bồi dưỡng, cập nhật những kỹ năng mới mẻ và thực sự quan trọng đối với họ trong nền kinh tế mới. Thực tế, hầu như nhân viên marketing nào cũng được đào tạo các kỹ năng như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, bán hàng…. Tuy nhiên thị trường thay đổi

     

    thường xuyên buộc doanh nghiệp phải chú trọng vào việc đào tạo những kiến thức và kỹ năng mới cho đội ngũ marketing của mình như xu hướng marketing xanh, xu hướng sử dụng công cụ marketing trực tuyến, dữ liệu số Big Data hay mạng xã hội…

     

    Thường xuyên thực hiện công tác nghiên cứu thị trường

    Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp cũng cần hoạt động thường xuyên để nhận ra xu hướng tiêu dùng xanh một cách nhanh nhất và đi đầu trong việc ứng dụng marketing xanh nhằm chiếm lĩnh thị trường này. Các nghiên cứu căn bản về thị hiếu hay xu hướng tiêu dùng cần được thực hiện thường xuyên mỗi tháng để phản ánh nhanh nhất những thay đổi của người tiêu dùng. Từ đó, doanh nghiệp cập nhật tình hình thị trường và đưa ra những đối sách marketing xanh cho thích hợp. Những cơ hội kinh doanh từ việc áp dụng marketing xanh được phát hiện thông qua nghiên cứu thị trường sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng marketing xanh trong hoạt động của mình vì khả năng mang lại lợi nhuận là rất tiềm năng.

     

    Ngoài ra, công tác nghiên cứu thị trường thường xuyên còn giúp cho doanh nghiệp hiểu được tình hình cạnh tranh trên thị trường, các động thái phát triển marketing xanh của đối thủ, nhờ vậy nhận thức được tầm quan trọng của marketing xanh trong chiến lược phát triển và xác định được mức độ xanh của chiến lược này nếu có áp dụng, tránh vấp phải sai lầm marketing thiển cận. Các nghiên cứu thị trường còn là công cụ đắc lực để doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của các hoạt động marketing xanh của mình như hệ thống phân phối, các hoạt động truyền thông, giá cả… nhằm kiểm tra tình trạng sức khỏe của thương hiệu nói chung và đặc biệt là thương hiệu xanh. Từ đó, doanh nghiệp có những đối sách cải thiện và nâng cao hiệu quả marketing xanh.

     

    4. Kết luận

     

    Marketing xanh không chỉ là xu hướng thay đổi hứa hẹn mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích mà nó còn có ý nghĩa lớn hơn

     

    96            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    với môi trường và sự phát triển bền vững của toàn xã hội. Marketing xanh có thể mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích như tăng doanh số và thị phần, nâng cao hình ảnh và thương hiệu trong lòng khách hàng, giảm chi phí sản xuất trong dài hạn và tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững. Bên cạnh đó, marketing xanh đóng góp tích cực cho cộng đồng khi góp phần nâng cao ý thức của

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    người tiêu dùng và giảm thiếu tác động xấu đến môi trường qua hoạt động cắt giảm chất thải. Ứng dụng marketing xanh là xu hướng tất yếu mà các doanh nghiệp cần nỗ lực triển khai để có thể cạnh tranh trong điều kiện các doanh nghiệp phải chịu áp lực ngày càng gia tăng không chỉ từ phía người tiêu dùng mà còn từ phía chính phủ cũng như các nhà hoạt động môi trường.q

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Chính phủ nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam, 2009, Nghị định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường số 04/2009/NĐ-CP.
    2. Hải Bình, 2008, Marketing xanh: Tuyệt chiêu thời ô nhiễm, Tạp chí Marketing số 47, trang 57-59.
    3. Bonini, S. And Oppenheim, J., 2008, Cultivating the Green Consumer, Standford Social Innovation Review, 58-59, UK.
    4. Charter, M. And Polonsky, M.J., 1999, Greener Marketing:A Global Perspectivve on Greening Marketing Practice, Greenleaf Publishing, Sheffeild, 33-67, UK.
    5. Fuller, D., 1999, Sustainable Marketing: Managerial-Ecological Issues, California, Sage Publications Inc, USA.
    6. Grant, J., 2007, The Green Marketing Manifesto, John Wiley & Sons Ltd, 21-24, UK.
    1. Ginsberg, J. M. and Bloom, P., 2004, Choosing the right green marketing strategy, MIT Sloan Management Review, Vol 46, 79-84.
    2. Kantar Worldpanel Vietnam, 2014, FMCG Monitor May 2014.
    1. Menon, A., Menon A., 1997, Enviropreneurial Marketing Strategy: The Emergence of Corporate Environmentalism as Market Strategy, Journal of Marketing, Vol.61, 51-67,
    1. Nielsen, 2014, Global Corporate Social Responsibility Report.
    1. Ottman, J., 1993, Green marketing: Challenges and Opportunity for The New Marketing Age, Lincolnwood.
    2. Ottman, J., 1998, Green Marketing: Opportunity for Innovation, NTC Bussiness Books, Chicago, USA.
    3. Ottman, J., Stafford, J. And Hartman, C., 2006, Advoiding Green Marketing Myopia, Environment Journal, Vol 48, 24-36.
    4. Polonsky, 1994, Regulation of Envvironmental Marketing Claims: Acomporative Perspective, International Journal of Advertising.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       97


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quy định quản lý văn bản đến, đi


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-N%C3%82NG-CAO-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-INTERNET-TRONG-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-H%E1%BB%8CC-T%E1%BA%ACP-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-%C4%90%E1%BA%A0I-H%E1%BB%8CC-T%C3%82Y-B%E1%BA%AEC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 1 – 7

     

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

     

    Vũ Thị Thúy

     

    Trường Đại học Tây Bắc

     

    Tóm tắt: Sinh viên Trường Đại học Tây Bắc có nhu cầu sử dụng internet trong hoạt động học tập (HĐHT) ở mức độ tương đối cao. Điều này xuất phát từ sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và tính hiệu quả của internet trong HĐHT. Đây là cơ sở khoa học giúp cho Nhà trường và đội ngũ giảng viên có những giải pháp trong vấn đề xây dựng môi trường đào tạo gắn với công nghệ thông tin, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và đào tạo của Nhà trường.

     

    Từ khóa: Internet, sinh viên, biện pháp, hoạt động học tập.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Việc khai thác sử dụng internet một cách c hiệu quả trong giảng ạy học tập nghiên cứu là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho đội ngũ giảng viên sinh viên nhằm hiện đại h a

     

    phư  ng thức đào tạo  phát tri n năng l  c tư  uy sáng tạo  học tập suốt đời của người

    ạy,

    người học. V  vậy  cần thiết phải t m ra những

    iện pháp nhằm n ng cao hiệu quả sử

    ụng

    internet. Trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu

    tác giả tập trung vào việc t m kiếm các

    iện

    pháp nhằm n ng cao hiệu quả sử ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học T y ắc n i riêng. Tác giả tiến hành thu thập thông tin từ nhiều kênh: Qua phiếu điều tra khảo sát yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử ụng internet trong hoạt động học tập; đề xuất iện pháp từ đội ngũ giảng viên, sinh viên; khảo sát th c tế tại

     

    phòng học  thư viện  phòng máy; tham khảo một số tài liệu c

    liên quan… là c  sở khoa học

    đ  tác giả đề xuất

    iện pháp n ng cao hiệu quả sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của

    sinh viên Trường Đại học T y  ắc.

       

    2. Kết quả nghiên cứu

     

     

     

     

    sở đề xuất

    iện phápa trên kết quả nghiên cứu th  c trạng những yếu tố ảnh

    hưởng đến nhu cầu sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học

    T y   ắc. Qua điều tra khảo sát trên nh m khách th

    sinh viên

    n = 200)  tác giả thu được kết

    quả về nhu cầu sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tây

    ắc chịu tác động

    ởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan  th

    hiện trong  ảng số liệu  xem

    trang 2).

             

    Từ số liệu Bảng 1 cho thấy, yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu truy cập mạng trong học

             

    gày nhận  ài: 31/8/2017.

    gày nhận đăng: 12/10/2017

       

    iên lạc: Vũ Thị Thúy e-mail: [email protected]

       
             

    1

    tập của sinh viên Trường Đại học T y ắc ao gồm những yếu tố chủ quan xuất phát từ ản th n người học và yếu tố khách quan là những tác động ên ngoài ảnh hưởng đến quá tr nh sử ụng mạng internet cho mục đ ch học tập.

     

    Kết quả ph n t ch số liệu cho thấy những yếu tố làm cản trở quá tr nh người học truy cập mạng xuất phát từ những yếu tố khách quan chiếm đi m trung bình chung ( X ) cao h n

    so với yếu tố chủ quan.   ụ th

     

    yếu tố: Phương thức đào tạo của nhà trường chưa đề cao yếu

               

    tố công nghệ mạng (= 0.76) được sinh viên xếp ở vị tr

    thứ

    ậc 1. Th

    c tế, trong đào tạo ở

    Trường Đại học T y

    ắc đ  c

    s

    thay đổi về phư  ng thức đào tạo, từ đào tạo niên chế sang

    đào tạo theo học chế t n ch

    đ y là một phư  ng thức đào tạo được sử

    ụng rộng r i ở tất cả

    các trường đại học

    cao đ ng trong cả nước cũng như trên thế giới. Đào tạo theo học chế t n

    ch  phát huy tối đa t nh t ch c

    c

    chủ động trong học tập của người học  đặc

    iệt coi trọng quá

    tr nh t  học  chuẩn

    ài ở nhà trước khi đến lớp. Điều đ

    c  nghĩa là người học luôn phải nỗ

    l  c t m kiếm thông tin thông qua nhiều nguồn như sách giáo tr nh

    tài liệu

    tạp ch

    đài   áo

    internet… Mặc  ù Nhà trường đ

    tiếp cận và tri n khai cụ th

    phư

    ng thức đào tạo theo học

    chế t n ch  tới đội ngũ giảng viên và sinh viên nhưng trên th  c tế việc tri n khai

    ạy học ở các

    giờ học ch nh kh a theo mô h nh

    ạy học tr  c tuyến là chưa được áp

    ụng.

    i cách khác,

    hà trường chưa vận

    ụng mô h nh  ạy học E-  earning trong đào tạo. V

    vậy, c

    th

    n i, đ y

                               

    là yếu tố g y cản trở lớn đến quá tr nh    ạy và học c   sử   ụng công nghệ mạng.

     

    Bảng 1: Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng Internet

     

    trong hoạt động học tập của sinh viên (n = 200)

     

    Stt

     

    Yếu tố ảnh hưởng

     

    Số phiếu

    Điểm TB

    Thứ bậc

             
     

    ( X )

                 

    1

     

    Không c  máy t nh nối mạng

       

    117

    0.58

    6

    2

     

    hu cầu giải tr  giao lưu cao h  n nhu cầu học tập

     

    123

    0.61

    5

    3

     

    Yêu cầu về nhiệm vụ học tập c

    truy cập mạng mà

    136

    0.68

    2

     

    thầy cô đưa ra chưa cao

       
                     

    4

     

    Không được học trong phòng học c

    kết nối mạng

     

    131

    0.65

    3

    5

     

    Sợ mất thời gian hoặc sợ tốn kém

       

    109

    0.54

    7

    6

     

    Mức độ t ch c  c trong học tập chưa cao

     

    129

    0.64

    4

    7

     

    Phư  ng thức đào tạo của nhà trường chưa vận   ụng

    153

    0.76

    1

     

    mô h nh  ạy học tr  c tuyến

       
                     
       

    Trong giờ học ch nh kh  a  việc giảng viên sử

    ụng công nghệ thông tin và đưa ra yêu

    cầu đ

    người học khai thác tài liệu từ những we site chuyên ngành là chưa nhiều. Điều này lý

    giải tại sao yếu tố: Yêu cầu về nhiệm vụ học tập có truy cập mạng mà thầy, cô đưa ra chưa

     

    cao ( X = 0.68) được các em đánh giá xếp ở thứ ậc 2. Th c tế cho thấy mặc ù công nghệ thông tin là một phần không th thiếu trong cuộc sống cũng như trong công việc của mỗi giảng viên nhưng việc khai thác kiến thức trên internet vào ài học là chưa mạnh mẽ. Chúng ta mới th c hiện một nửa quy tr nh đào tạo công nghệ đ là thiết kế ài giảng ằng tr nh chiếu powerpoint đ ài giảng trở nên sinh động mới mẻ và mang t nh tr c quan cao. Chính vì giảng viên không đưa ra yêu cầu nên sinh viên trở nên thụ động trong việc t m kiếm tài liệu, cũng như việc “học” trên mạng. Yếu tố “Không được học trong các phòng học có kết nối

     

    2

     

    mạng” ( X   = 0.65) được xếp ở thứ     ậc 3, c    ảnh hưởng thiếu t ch c  c đến quá tr nh học tập

     

    • sử ụng công nghệ mạng. Mặc ù các phòng học đ được nhà trường trang ị nhiều thiết ị mạng hệ thống mạng wifi được phủ s ng trong toàn trường nhưng giảng viên và sinh viên

    vẫn không th   truy cập internet trên giảng đường.

     

    hững yếu tố chủ quan của ản th n người học ảnh hưởng đến quá tr nh sử ụng internet trong học tập được các em đánh giá xếp sau những yếu tố khách quan. ụ th , yếu tố: Mức độ tích cực học tập chưa cao ( X = 0.64); nhu cầu giải trí, giao lưu cao hơn nhu cầu học tập ( X = 0.61); sợ mất thời gian hoặc sợ tốn kém ( X = 0.54) lần lượt được các em đánh giá và xếp ở thứ ậc 4 5, 7. Điều đ cho thấy, sinh viên rất c nhu cầu đổi mới mong muốn được

    tiếp cận với phư

    ng thức đào tạo hiện đại  các h nh thức đào tạo mới mẻ.

    hưng đ  đáp ứng

    được nhu cầu đ

    th

    cần phải

    ắt đầu từ nhà trường  từ đội ngũ giảng viên trong việc vận

    ụng, tri n khai h nh thức đào tạo c

    sử

    ụng công nghệ mạng trên giảng đường.

    hư vậy

    c

    th  nhận định, sinh viên Trường Đại học T y   ắc c

    nhu cầu sử  ụng

    internet trong học tập  tuy nhiên c

    những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quá

    trình thỏa m n nhu cầu đ . Việc t m ra

    iện pháp tác động cả về mặt khách quan và chủ quan

    sẽ giúp n ng cao hiệu quả sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại

    học T y  ắc.

               

    3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc

     

    3.1. Giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên về tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong môi trường giáo dục hiện đại

     

    hà trường cần cụ th

    h a các văn

    ản ch  đạo về ứng

    ụng công nghệ thông tin

    TT) trong giảng

    ạy và học tập tới đội ngũ giảng viên và sinh viên như:

    ghị quyết số

    36-   Q/TW về đẩy mạnh ứng

    ụng  phát tri n

    TT đáp ứng yêu cầu phát tri n

    ền vững và

    hội nhập quốc tế;

    h  thị 55-

    T/  GDĐT về tăng cường giảng

    ạy  đào tạo và ứng  ụng

               

    CNTT trong ngành giáo dục đào tạo; Kế hoạch số 345/KH- GDĐT về th c hiện đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025”… Mỗi giảng viên cần đẩy mạnh tuyên truyền cho sinh viên thấy rõ hiệu quả và

     

    yêu cầu mang t nh tất yếu của ứng  ụng

    TT trong đổi mới phư  ng pháp học tập; thông qua

    các giờ  ạy c

    ứng  ụng

    TT; các buổi sinh hoạt  hội thảo chuyên đề về sử

    ụng, khai thác

    CNTT trong học tập, đ

    không ch  giáo

    ục sinh viên về mặt nhận thức mà còn hình thành

    cho các em kỹ năng tra cứu khai thác nguồn thông tin trên mạng.

     

    Giáo

    ục n ng cao nhận thức cho sinh viên về t nh hai mặt, t ch c  c và tiêu c  c của

    internet, đ  các em nhận thức được tầm quan trọng của

    TT trong học tập

    từ đ  giúp sinh

               

    viên xác định mục đ ch truy cập mạng đúng đắn tạo t nh chủ động khi tư ng tác với máy t nh nối mạng trong thời gian lên lớp và ngoài giờ lên lớp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên thường ị ph n tán khi vào mạng các em ễ ị khối lượng thông tin khổng lồ trên internet

     

    3

     

    làm cho “nhiễu s ng” và mất phư ng hướng khi t m kiếm thông tin học tập [2]. Nhiều sinh viên chia sẻ: “Bản thân sinh viên nên sử dụng mạng internet có mục đích và hiệu quả, cần chủ động trong quá trình học tập và phải biết khi nào cần vào mạng để không lãng phí thời

     

    gian”. Truy cập sử ụng internet đúng mục đ ch; c n đối hài hòa giữa nhu cầu sử ụng mạng trong học tập với các nhu cầu giải tr khác; truy cập vào những website tin cậy đ n ng cao

     

    hiệu quả học tập [3]… là những vấn đề mà sinh viên cần xác định và h nh thành cho m nh đ internet thật s là một công cụ hữu ch, hỗ trợ sinh viên trong hoạt động học tập nghiên cứu.

     

    3.2. Hướng dẫn, bồi dưỡng cho sinh viên kỹ năng tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin trên internet

     

    Với một khối lượng thông tin khổng lồ đa ạng và phong phú trên internet việc khám phá ch với một cú “click chuột” đ trở nên đ n giản với đa số giới trẻ [1]. Tuy nhiên, tìm

     

    kiếm “cái g ” trên mạng l a chọn và xử lý thông tin như thế nào đ n trở thành những thông tin hữu ch tin cậy là một vấn đề không đ n giản đối với người truy cập internet nói chung và sinh viên n i riêng. Một trong những iện pháp đ sinh viên có th l a chọn cho m nh nguồn thông tin tin cậy đảm ảo t nh ch nh xác của tri thức, đ là truy cập vào những we site c độ tin cậy cao. Hiện nay các trang we site chuyên ngành một số trang mạng điện tử của các c quan đ được ki m định và ki m uyệt nhằm đảm ảo t nh ch nh xác h a của thông tin như:

     

    Thư viện học liệu mở Việt Nam http://voer.edu.vn; Tạp chí khoa học Việt Nam trực tuyến http://www.vjo.info/index.php/index/about; Trung tâm Dữ liệu Đại học Quốc gia Hà Nội http://dl.vnu.edu.vn; Thư viện điện tử quốc gia http://nlv.gov.vn/submit-weblink/thuvien dientuhoctaptructuyen; Cổng thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo http://www.

     

     

     

    moet.gov.vn [3]và một số we site chuyên ngành khác là những we site đáng tin cậy đ sinh viên tham khảo coi đ là nguồn tài nguyên học tập. Sinh viên c tiếp cận được với những website ổ ch hay không ngoài s nỗ l c t m kiếm của ản th n còn cần c s hướng ẫn,

     

    giới thiệu của giảng viên thông qua: Tăng cường trao đổi thông tin qua thư điện tử; tham gia lớp học tr c tuyến; trao đổi sáng kiến, kinh nghiệm trên các diễn đàn… Việc giảng viên đưa ra nhiệm vụ yêu cầu sinh viên truy cập mạng internet, tra cứu tài liệu sẽ k ch th ch hứng thú học tập. Đ làm được điều này sinh viên cần h nh thành cho m nh kỹ năng tra cứu, t m kiếm

     

    đánh giá và xử lý thông tin trên internet như: 1)   iết cách sử

    ụng các công cụ t m kiếm thông

    ụng như Google  Yahoo, Panvietnam, Vinaseek…; 2)   iết l

    a chọn các thủ thuật t m kiếm

    như từ kh a  các t m kiếm chuyên  iệt  sử  ụng nhiều we site; 3)   iết đánh giá thông tin như

    đọc hi u ph n t ch phê phán và l  a chọn thông tin phù hợp [2].

     

    3.3. Nhà trường cần không ngừng hoàn thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị mạng, đặc biệt nâng cao hiệu quả sử dụng mạng LAN, WIFI trong toàn trường

     

    Trong những năm gần đ y o những yêu cầu và thách thức đặt ra trong môi trường giáo ục hiện đại Trường Đại học T y ắc không ngừng đầu tư hoàn thiện về c sở vật chất trang thiết ị mạng internet phục vụ cho quá tr nh đào tạo ứng ụng TT. Rất nhiều các

     

    4

     

    phòng học đ  được lắp đặt hệ thống máy chiếu

    m thanh

    các thiết

    ị thu

    phát

    nghe

    nh n

    như phòng họp tr

    c tuyến

    phòng học tr  c tuyến  phòng th

    c hành máy… Hệ thống mạng

    không dây (wifi) được phủ s ng khắp toàn trường; hệ thống mạng

    A

    mạng cục

    ộ) hoạt

    động hiệu quả là những điều kiện thuận lợi đ

    đội ngũ giảng viên tri n khai và ứng

    ụng

    CNTT trong giảng

    ạy. Tuy nhiên

    song song với những điều kiện thuận lợi đ

    tác giả nhận

    được những chia sẻ của một số giảng viên

    sinh viên về th

    c tế thiết

    ị máy m c của

    trường.

    ụ th : 1)

     

    ác thiết

    ị  phư  ng tiện phục vụ cho giờ học ứng

    ụng

     

    TT như máy

    chiếu

    ảng chiếu

     

    y

    ẫn loa m c… đ

    ắt đầu xuống cấp

    ở rất nhiều phòng học các thiết  ị

    đ  không còn sử

    ụng được; 2) Hệ thống mạng wifi mở nhưng lại không c

    khả năng kết nối

    internet,  ẫn đến rất kh

    đ

    giảng viên

    sinh viên tri n khai các giờ học tr

    c tuyến

    đặc

    iệt

    khi cần thiết phải truy cập mạng tr

    c tiếp. Giải quyết vấn đề này cần c

    s

    đầu tư

    sửa chữa

    hoặc lắp mới trang thiết

    ị cho các phòng học và c  cách quản lý mạng wifi phù hợp đ

    sinh

    viên, giảng viên c

     

    th  truy cập mạng ngay tại giảng đường

     

    lớp học nhưng một số các trang

    mạng sẽ được máy chủ kh a như: Facebook, We site c  nội

    ung nguy hi m

    độc hại  không

    phù hợp với học sinh  sinh viên  đ

    người

    ùng không th

    truy cập mạng giải tr  trong thời

    gian  ạy và học ch nh kh  a ở Trường. Mặc

    ù trên we site của   hà trường đ

    c

    phần hướng

    ẫn sử

    ụng internet nhưng đ  là những hướng

    ẫn  ài và tư

     

    ng đối phức tạp nên

    t nhiều g y

    kh  khăn cho người

    ạy và người học khi tiến hành cài đặt và truy cập mạng.

             
                                         

    3.4. Phát triển website của trường, khoa, chia sẻ các nguồn tài nguyên học tập trên website

     

    Hiện nay, Trường Đại học T y ắc đ x y ng we site http://utb.edu.vn với giao iện ứng ụng phong phú h nh ảnh đẹp thông tin đa ạng. Tuy nhiên, trong phần Thư viện

     

    điện tử số lượng đầu sách đưa lên còn ngh o nàn khoảng trên 1.800 đầu sách Thống kê tháng 12/2017), ao gồm giáo tr nh sách chuyên khảo tham khảo luận án tiến sĩ luận văn thạc sĩ đề tài nghiên cứu khoa học các cấp [5]. Số lượng đầu sách đưa lên Thư viện điện tử chưa đảm ảo s đa ạng của các học phần trong đào tạo cử nh n ở các khoa học c ản, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên sinh viên; Đào tạo trực

     

    tuyến c    uy nhất kh

    a đào tạo ngoại ngữ tr  c tuyến; Hệ thống học liệu mở không c

    nội

    dung… Điều này cho thấy, we site của

    hà trường còn đ  trống nguồn chia sẻ học liệu;

    iễn

    đàn học tập

    giao lưu giữa sinh viên và giảng viên [5]… Thiết nghĩ, với kênh thông tin chia sẻ

    trên website, các tài liệu học tập  giáo án

    ài giảng điện tử  công tr nh nghiên cứu khoa học…

    là những nguồn tài liệu c  giá trị đối với sinh viên trong học tập nghiên cứu.

     

    3.5. Phát triển thư viện điện tử trở thành môi trường học tập hiệu quả cho sinh viên

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy

    thời gian truy cập mạng trong các giờ học chính khóa

    của sinh viên Trường Đại học T y

    ắc không nhiều  các em chủ yếu truy cập mạng vào thời

    gian ngoài giờ lên lớp theo yêu cầu  nhiệm vụ mà giảng viên giao

    hoặc xuất phát từ nhu cầu

    học tập của

    ản th n [4]. Một trong những môi trường đ  các em l

    a chọn  truy cập internet,

    t m kiếm thông tin đ

    là thư viện điện tử. Hiện nay, trên we site của Trường đ  x y   ng thư

               

    5

    viện điện tử đ sinh viên c th đăng nhập theo m sinh viên và số thẻ thư viện đ t m kiếm tài liệu. Tác giả đ tiến hành khảo sát th c tế tại phòng đọc thư viện điện tử tầng 2 Trung

     

    tâm Thông tin – Thư viện và lấy số liệu truy cập trên we site của hà trường về số lượng người truy cập vào thư viện điện tử Trường Đại học T y ắc, nhận thấy: hoạt động của thư

     

    viện điện tử Trường Đại học T y ắc ước đầu đ đạt những hiệu quả nhất định số lượng người truy cập ngày một tăng cho thấy nhu cầu iết chọn lọc khai thác t m kiếm nguồn tài liệu ch nh thống đ được ki m định của người học [5]. Tuy nhiên thư viện điện tử vẫn cần thường xuyên cập nhật ổ sung thêm nhiều giáo tr nh điện tử h n nữa, ởi theo chia sẻ của một số sinh viên và giảng viên th “đầu sách trong thư viện điện tử vẫn còn ít”“Nhiều khi không tìm thấy tài liệu mình cần”.

     

    4. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Mỗi

    ước đột phá trong công nghệ giáo

    ục

    đào tạo sẽ làm thay đổi cách

    ạy

    cách

    học thậm ch

    cả phư  ng thức đào tạo. Việc th  c hiện

    ạy học với s  hỗ trợ công nghệ thông

    tin – viễn thông đòi hỏi giảng viên phải c

    những am hi u nhất định về tin học đ

    x y

    ng

    giáo án và thiết kế

    ài giảng điện tử  đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng sử

    ụng internet, kỹ

    năng t m kiếm

    xử lý thông tin trên mạng.

    goài việc  ồi

    ưỡng  khuyến kh ch giảng viên

    sinh viên th

    c hiện hoạt động  ạy – học c

    ứng

    ụng

    TT

    còn cần c

    s

    đầu tư trang thiết

    ị  máy m c

    x y

    ng các kho tài nguyên học liệu

    mô h nh mô phỏng

    tài liệu tham khảo

    ài giảng điện tử  giáo tr nh điện tử  các phần mềm

    ạy học

    iễn đàn điện tử… phục vụ cho

    công tác giảng

    ạy

    học tập  nghiên cứu.

    ác

    iện pháp phải mang t nh đồng  ộ về nội

    ung

    và h nh thức

    nhằm n ng cao hiệu quả sử

    ụng CNTT trong đào tạo tại Trường Đại học T y

    ắc  k ch th ch

    thúc đẩy nhu cầu học tập của sinh viên, n ng cao chất lượng giáo

    ục và đào

    tạo của   hà trường.

                       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Trần Thị Minh Đức (2013), Mạng xã hội với sinh viên, Nxb Giáo dục.
    • Nguyễn Duy Mộng Hà (2010), Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Quý Thanh (2008), Mối quan hệ của việc sử dụng Internet và hoạt động học tập

    của sinh viên, Đề tài cấp nhà nước, mã số Q.CL.05.01, Trường Đại học Khoa học xã hội và h n văn Hà Nội.

     

    • Vũ Thị Thúy (2016), Nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên

    Trường Đại học Tây Bắc Đề tài khoa học cấp c  sở Trường Đại học Tây Bắc.

     

    [5]      We site Trường Đại học Tây Bắc http://utb.edu.vn.

     

    6

     

    SOME MEASURES TO IMPROVE EFFICIENCY IN INTERNET USE FOR STUDENTSAT TAY BAC UNIVERSITY

     

    Vu Thi Thuy

    Tay Bac University

     

    Abstract: At Tay Bac University, students have a high demand for internet access in their learning activities. This is due to the proper understanding of the importance and effectiveness of the internet in study. This serves as a scientific basis to help the university and its teaching staff figure out solutions to forming an IT assisted training environment to make further improvement in the quality of education and training.

     

    Keywords: Internet, students, measures, study.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]