Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%A9c-%C4%91%E1%BB%99-ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1-nh%C3%A2n-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%AFc-Ninh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Thanh Kim Huệ

     

    Vương Thị Minh Đức

     

    Ngày nhận: 04/05/2019                    Ngày nhận bản sửa: 12/05/2019                     Ngày duyệt đăng: 17/05/2019

     

    Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội và là một trong tám tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Từ một tỉnh thuần nông, đến nay kinh tế Bắc Ninh đã phát triển theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đóng góp vào sự thay đổi đó có vai trò quan trọng của vốn tín dụng. Tuy nhiên, ở Bắc Ninh, vẫn còn một bộ phận khách hàng cá nhân hoạt động thương mại ở khu vực nông thôn chưa tiếp cận với nguồn tín dụng chính thức, đây là một trong những thách thức lớn trong phát triển kinh tế nông thôn. Vì vậy, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra bảng hỏi đối với 250 cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn ở các huyện trong tỉnh Bắc Ninh nhằm đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tiếp cận tín dụng của các khách hàng này, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận tài chính, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế nông thôn.

     

    Từ khóa: cá nhân hoạt động thương mại, tiếp cận tín dụng, Bắc Ninh

     

    1. Giới thiệu

    2005, là hoạt động nhằm mục

    thể phải đăng ký kinh doanh

     

    đích sinh lợi, bao gồm mua

    (gọi đó là thương nhân) và có

    oạt động

    bán hàng hoá, cung ứng dịch

    thể không phải đăng ký kinh

    thương mại,

    vụ, đầu tư, xúc tiến thương

    doanh (không được coi là

    theo khoản 1

    mại và các hoạt động nhằm

    thương nhân).

    Điều 3 Luật

    mục đích sinh lợi khác. Cá

    Đối với cá nhân hoạt động

    Thương mại

    nhân hoạt động thương mại có

    thương mại không phải đăng

    © Học viện Ngân hàng

    24

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

    ISSN 1859 – 011X

    Số 204- Tháng 5. 2019

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    ký kinh doanh, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/ NĐ-CP quy định như sau: “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại 2005. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

     

    1. Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;
    1. Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;
    1. Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;
    1. Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

    đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh,

     

    chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định”

     

    Cá nhân hoạt động thương mại phải đăng ký kinh doanh (thương nhân) theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005 được hiểu là các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.

     

    Dịch vụ tài chính được xem là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại, nói cách khác, đây là loại hình kinh doanh có tính chất thị trường bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, tư vấn đầu tư… Dịch vụ tài chính nông nghiệp nông thôn bao gồm việc cung cấp các sản phẩm tài chính tiết kiệm hoặc gửi tiền, thanh toán và chuyển tiền, tín dụng và bảo hiểm, trong đó hoạt động tín dụng phải giữ vai trò nòng cốt để tạo nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Hiên nay, hê thông tai chinh cung ứng vốn cho khu vưc nông thôn ở Viêt Nam co ba phân khuc chinh:

     

    Khu vưc tin dung chinh thưc: Cac tổ chưc tin dung (TCTD) chinh thưc đã ngay cang đươc mở rông bao gôm Ngân hang Nông nghiêp va Phat triên nông thôn Việt Nam (NHNo), Ngân hang Chinh sach xã hôi (NHCSXH), Ngân hàng Hợp tác xã̃ (NHHTX) và cac quỹ

     

    tin dung nhân dân (QTDND), tổ̉ chức tài chính vi mô, tổ chưc tai chinh quôc tê như Ngân hang Thê giơi (WB), Ngân hang phat triên Châu Á (ADB), Quỹ Tiên tê quôc tê (IMF), cac tổ chưc phi Chinh phu (NGOs). Trong đo, NHNo đươc coi la tổ̉ chức cung ứng vốn chủ yếu cho các hoạt động thương mại ở̉ nông thôn. Khu vưc ban chinh thưc: Cac khu vưc tin dung ban chinh thưc cung câp cac khoan

     

    vay thông qua cac đoan thê chinh tri- xã hôi ở khu vưc nông thôn, khu vưc nay la môt khu vưc co liên quan đên cac chương trinh ưu tiên cua Chinh phu, cac dich vu uy thac cua cac ngân hang va cac hoat đông cua công đoan. Khu vưc tin dung không chinh thưc: Cac hoat đông tin dung không chinh thưc bao gôm cho vay lẫn nhau giưa ban bè va hang xom, cac ca nhân chuyên cho vay tiên gôm ca chu tiêm câm đô, thương nhân cho vay băng tiên măt hoăc hiên vât…

     

    Co nhiêu nhân tô anh hưởng tơi sư phat triên cac hoat đông tai chinh cũng như anh hưởng đên khả năng tiêp cân tín dụng chính thức ở khu vưc nông thôn, tùy theo cac phân loai khac nhau song co thê xem xét cac nhân tô anh hưởng nay ở̉ hai khía cạnh: các nhân tô tư phia cung ứng vốn va các nhân tô tư phia câu vốn tín dụng ở khu vưc nông thôn. Cac nhân tô anh hưởng tư phia cung tín dụng gồm các yếu tố từ phía cac tổ chưc cung câp vốn cho cac khach hang như thủ tục vay vốn, địa điểm, lã̃i

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 25

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Hình 1. Kết quả huy động và cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

     

     

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh

     

     

    suất, chính sách tín dụng…; các nhân tô thuôc vê phia câu dich vu tai chinh la nhưng nhân tô xuât phat tư chinh khach hang, nhưng ngươi co nhu câu vay vôn như tuổ̉i, trình độ học vấn, thu nhập… Các nhân tố này có ảnh hưở̉ng trực tiếp tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn. Trong bài viết này, nhóm tác giả tìm hiểu các nhân tố xuất phát từ phía cầu dịch vụ tài chính, đó là cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn của Tỉnh Bắc Ninh.

     

    2. Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    2.1. Sơ lược về các tổ chức cung ứng tín dụng chính thức trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Tính đến cuối năm 2018, Bắc Ninh có mạng lưới ngân hàng, TCTD đã̃ phát triển rộng khắp tỉnh với 36 tổ̉ chức

    trong đó có Chi nhánh Ngân hàng nhà nước (NHNN), các chi nhánh NHTM Nhà nước,

     

    NHTMCP, NHCSXH, NH Hợp tác xã̃, NH 100% vốn nước ngoài, Ngân hàng Phát triển, QTDND và tổ̉ chức tài chính vi mô, với hơn 1.000 điểm giao dịch, gồm cả các điểm giao dịch tự động ATM, POS. Ngoài mạng lưới ngân hàng và các TCTD ra thì trên địa bản tỉnh còn có các công ty bảo hiểm cung ứng các dịch vụ tài chính. Kết quả huy động vốn và cho vay giai đoạn 2016- 2018 của các tổ̉ chức tài chính trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được thể hiện qua Hình 1.

     

    Hình 1 cho thấy, hoạt động huy động vốn tăng từ 73.790 tỷ vào năm 2016 lên 100.029 tỷ vào năm 2018. Tương tự, hoạt động cho vay cũ̃ng tăng từ 56.647 tỷ vào năm 2016 lên 80.444 tỷ vào năm 2018. Kết quả hoat động huy động và cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự tăng trưở̉ng qua từng năm. Theo báo cáo của NHNN chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, các TCTD trên địa bàn thực hiện

    nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp của ngành ngân hàng, đẩy mạnh các chương trình tín dụng, tập trung nguồn vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên.

     

    • khu vực nông thôn Bắc Ninh hiện nay, các tổ̉ chức tài chính chính thức cung ứng vốn chủ yếu cho các cá nhân hoạt động thương mại gồm NHNo, NHCSXH, các QTDND, tổ̉ chức tài chính vi mô. NHNo tỉnh Bắc Ninh có hệ thống mạng lưới rộng khắp các địa bàn trong tỉnh, là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho các khách hàng ở̉ địa bàn nông thôn. NHCSXH với những chương trình cho vay được triển khai nhằm mục tiêu giảm nghè̀o và phát triển kinh tế xã̃ hội trên địa bàn tỉnh nói chung và khu vực nông thôn nói riêng. Theo số liệu thống kê từ NHCSXH, tính đến hết năm 2018, có gần 500 nghìn lượt hộ nghè̀o và đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH tỉnh Bắc Ninh, góp phần giúp trên 55 nghìn hộ vượt qua ngưỡng nghè̀o; thu hút, tạo việc làm mới cho trên 233 nghìn lao động, trong đó số lao động đi làm việc có

    26 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    thời hạn ở̉ nước ngoài là trên 1.300 lao động; hơn 60 nghìn lượt học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn để học tập; trên 2 nghìn hộ nghè̀o được hỗ trợ vốn để xây dựng nhà ở̉; xây dựng gần 256 nghìn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường

     

    ở̉ nông thôn, từng bước cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân tại vù̀ng nông thôn. Theo thống kê từ NHNN chi nhánh tỉnh Bắc Ninh, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có hệ thống gồm

     

    26 QTDND, tổ̉ng nguồn vốn của hệ thống QTDND tại tỉnh tính đến hết năm 2018 đạt hơn 2.876 tỷ đồng; tổ̉ng dư nợ cho vay đạt 1.952 tỷ đồng.

     

    Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mới chỉ có 01 tổ̉ chức tài chính vi mô, đó là Tổ̉ chức Tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương (TYM). Quỹ̃ TYM Bắc Ninh được thành lập năm 2009 và là chi nhánh thứ 37 trên toàn quốc của Tổ̉

     

    chức TYM. Hiện nay, TYM Bắc Ninh có 01 chi nhánh Thành phố Bắc Ninh và 02 Phòng Giao dịch trực thuộc (Yên Phong và Quế Võ) . Sản phẩm dịch vụ TYM Bắc ninh cung ứng mới chỉ dừng lại ở̉ tín dụng và tiết kiệm, có đặc tính phù̀ hợp với các gia đình nghè̀o và thu nhập thấp: không cần tài sản thế chấp; hoàn trả dần theo tuần, tháng; thủ tục vay, trả đơn giản và duy trì kỷ luật tín dụng. Hầu hết thành viên và khách hàng của TYM vay vốn để phát triển kinh tế, dành cho các hoạt động kinh doanh như nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp, lâm nghiệp và buôn bán nhỏ. Một phần để đáp ứng nhu cầu tiêu dù̀ng, sửa chữa nhà cửa hay đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

     

    Trong những năm qua, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn liên tục tăng trưở̉ng nhanh. Các chính sách tín dụng đối với nông

     

    nghiệp, nông thôn đã̃ góp phần đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng đã̃ đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản và nhu cầu vốn phục vụ phát triển nông thôn. Khác với các doanh nghiệp và các tổ̉ chức kinh tế, khách hàng cá nhân tại khu vực nông thôn Bắc Ninh thường có số lượng lớn, nhu cầu vay vốn đa dạng song không thường xuyên và chịu ảnh hưở̉ng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa- xã̃ hội. Chính vì vậy, ở̉ mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũ̃ng rất khác nhau. Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô vốn thường nhỏ hơn cho vay

     

    đối tượng là doanh nghiệp, tổ̉ chức kinh tế. Nhưng với các NHTM hoạt động theo định hướng ngân hàng bán lẻ thường có số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân chiếm

     

    Hình 2. Dư nợ tín dụng cá nhân của một số TCTD ở Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2018

     

     

     

    Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ số liệu báo cáo tổng kết hàng năm của các tổ chức

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 27

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    tỉ trọng lớn. Căn cứ vào số liệu mà nhóm nghiên cứu thu thập được thì NHNo có dư nợ tín dụng cá nhân cao nhất so với 3 tổ̉ chức còn lại do mạng lưới của NHNo rộng khắp, đặc biệt là khu vực nông thôn. Ngoài NHNo Bắc Ninh có tỷ lệ cho vay cao thì đa số các ngân hàng đều có dư nợ cho vay cá nhân đối với lĩnh vực này thấp hơn.

     

    Hiện nay các mức lã̃i suất cho vay đối với lĩnh vực nông thôn thấp hơn so với lã̃i suất cho vay thông thường (Thông tư số 08/2014/TT -NHNN). Trước đó, những sự hỗ trợ về nguồn vốn đối với các TCTD cho vay nông nghiệp, nông thôn chưa được thể hiện rõ mà mới chỉ dừng lại ở̉ việc ban hành các thông tư hướng dẫ̃n thực hiện Nghị định của Chính phủ. Cho vay ngắn hạn vẫ̃n chiếm tỷ trọng lớn trong tín dụng nông nghiệp, nông thôn. Việc cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Bắc Ninh tập trung chủ yếu vào NHNo và NHCSXH. NHNo Bắc Ninh là ngân hàng đi đầu và có tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực này ở̉ mức cao nhất. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng đã̃ kết hợp cho vay thông thường với cho vay theo các chương trình, dự án quan trọng được ưu đã̃i của Chính phủ, cho vay theo chính sách của Nhà nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở̉ địa phương, tạo công

     

    ăn việc làm, xóa đói, giảm nghè̀o.

     

    2.2. Các nhân tố ảnh hưởng

     

    28 Số 204- Tháng 5. 2019

     

    tới mức độ tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại ở địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh

     

    Để đánh giá mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra bảng hỏi đối với 250 cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn ở̉ các huyện trong tỉnh Bắc Ninh. Số phiếu phát ra 250, số phiếu thu về 234 phiếu, số phiếu phù̀ hợp sử dụng để nghiên cứu 200 phiếu. Mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá về các nhân tố ảnh hưở̉ng tới mức độ tiếp cận tín dụng của các khách hàng là cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn Bắc Ninh. Thời gian khảo sát từ tháng 12/2018 đến tháng 01/2019. Các câu hỏi trong bảng hỏi được thiết kế gồm các câu hỏi liên quan đến độ tuổ̉i, nhóm ngành nghề của khách hàng, số tiền, mục đích, tổ̉ chức họ đã̃ vay vốn cũ̃ng như các vấn đề khách hàng quan tâm khi vay vốn ở̉ các TCTD (khoảng cách địa lý, thủ tục giấy tờ, sản phẩm, lã̃i suất). Thông tin được phân tích chủ yếu dựa vào phương pháp thống kê mô tả và so sánh dựa trên các chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức độ tiếp cận tín dụng của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn nông thôn tỉnh như tỷ trọng khách hàng được vay vốn từ các TCTD chính thức trong tổ̉ng số khách hàng được điều tra, tỷ lệ khách hàng có nhu cầu vay vốn ở̉ địa phương, số lượng vốn vay

     

    bình quân…

     

    Trong số 200 cá nhân hoạt động thương mại được phỏng vấn, có 73% là cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh và 27% là cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Điều này hoàn toàn phù̀ hợp với đặc điểm khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh, cù̀ng với sự phát triển của công nghiệp, khu vực nông thôn Bắc Ninh được đầu tư hệ thống hạ tầng có nhiều thay đổ̉i mạnh mẽ theo hướng văn minh, hiện đại, điều kiện sống cả vật chất và tinh thần của người dân khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh được nâng cao, kéo theo đó là các dịch vụ thương mại ở̉ khu vực nông thôn của tỉnh cũ̃ng hết sức đa dạng, phong phú. Theo số liệu điều tra, trong số 200 cá nhân hoạt động thương mại thì chiếm tỷ trọng lớn là nữ, độ tuổ̉i phổ̉ biến là 30-49 tuổ̉i, đây cũ̃ng là lứa tuổ̉i trong độ tuổ̉i lao động tốt nhất, mặt khác, hầu hết các cá nhân này đều tốt nghiệp PTTH (189/200), cá biệt có một số trường hợp (11/200) chưa tốt nghiệp PTTH, chủ yếu với những cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Đây cũ̃ng là đặc điểm thuận lợi cho việc tiếp cận vốn từ các TCTD chính thức trên địa bàn.

     

    Theo số liệu khảo sát thu thập được có thể thấy nguồn thu nhập chủ yếu của cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh là từ hoạt động buôn bán. Là địa bàn nông thôn của tỉnh có nhiều khu công nghiệp, nguồn thu

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Bảng 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

     

    Tiêu chí

    Số quan sát

    Tỷ trọng

    Đối tượng

       

    Cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh

    146/200

    73%

         

    Cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh

    54/200

    27%

         

    Giới tính

       

    Nam

    74/200

    37%

    Nữ

    126/200

    63%

    Độ tuổi

       

    Dưới 30

    31/200

    15,5%

    Từ 30-50

    153/200

    76,5%

    Trên 50

    16/200

    8%

    Trình độ

       

    Chưa tốt nghiệp phổ thông trung học

    11/200

    5,5%

    Đã tốt nghiệp phổ thông trung học

    189/200

    94,5%

    Lĩnh vực kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại

       

    Sản xuất nông nghiệp, lâm sản, thủy sản

    16/200

    8%

    Công nghiệp, xây dựng, dịch vụ

    43/200

    21,5%

    Buôn bán

    125/200

    62,5%

    Khác

    16/200

    8%

    Nguồn: Số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 01/2019

     

     

    nhập của các khách hàng ở̉ nhiều địa phương là từ việc buôn bán, cung cấp hàng hóa cho các đối tượng là người lao động tại các khu công nghiệp. Một số khách hàng khác kinh doanh nhỏ lẻ các mặt hàng nông sản và vật tư phục vụ nông nghiệp tại địa phương.

     

    Về các tổ chức cung ứng vốn: Qua khảo sát thực tế ở̉ trên địa bàn, trong số những cá nhân đã̃ vay vốn thì nguồn vốn vay chủ yếu là từ NHNo, sau đó là NHCSXH và QTDND. Các QTDND trên địa bàn đã gop thêm môt kênh cung câp vôn san xuât kinh doanh cho khu vưc kinh tê nông nghiêp- nông thôn; khẳng đinh đươc vai tro,

     

    • tri cua loai hinh kinh tê hơp tac trong linh vưc ngân hang trong công cuôc phat triên kinh tê nông nghiêp- nông

    thôn của tỉnh, tuy nhiên do đặc điểm các QTDND không phải địa bàn nông thôn nào cũ̃ng có, trong khi đó NHNo và NHCSXH với hệ thống phòng giao dịch, điểm giao dịch rộng khắp là kênh cung ứng vốn thuận tiện tới người dân trên địa bàn. NHNo đã̃ triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và

     

    2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghè̀o bền vững, đối với cho vay xây dựng nông thôn mới. Theo Báo cáo tổ̉ng kết của NHNo năm 2018, NHNo triển khai đến 100% số xã̃ trên cả nước, đây là kênh cung ứng vốn quan trọng đối với khu vực nông thôn nói chung và đối với cá nhân hoạt động thương mại ở̉ nông thôn Bắc Ninh nói riêng.

    Về khả năng tiếp cận vốn: Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu, lượng vốn vay mà các chủ thể có thể tiếp cận được về cơ bản đáp ứng được các nhu cầu của các chủ thể có nhu cầu về vốn, nhu cầu vay của các cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh không lớn, chủ yếu phục vụ nhu cầu kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn. Mức vốn vay trung bình của cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh là 89 triệu/món, trong khi đó với cá nhân hoạt động thương mại không đăng kí kinh doanh là 21 triệu/món. Kết quả khảo sát cũ̃ng cho thấy, khách hàng không có đăng kí kinh doanh gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức với những lý do chủ yếu như là không có tài

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 29

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Hình 3. Những vấn đề cá nhân hoạt động thương mại quan tâm khi vay vốn các TCTD

     

     

     

    Nguồn: Số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, tháng 01/2019

     

     

    sản đảm bảo, việc cung cấp các giấy tờ xác nhận để hoàn thiện hồ sơ vay không đầy đủ…

     

    Trong các TCTD cung ứng vốn chủ yếu ở̉ nông thôn tỉnh Bắc Ninh là NHNo, NHCSXH, QTDND và Tổ̉ chức tài chính vi mô, khách hàng có nhu cầu vay tại NHNo và NHCSXH chiếm tỷ lệ cao hơn vì khi vay ở̉ NHNo và NHCSXH, khách hàng được sự hỗ trợ của các tổ̉ chức đoàn thể, được hưở̉ng lã̃i suất ưu đã̃i và những chương trình tín dụng hỗ trợ của nhà nước, trong khi đó, vay vốn ở̉ QTDND, khách hàng phải trả lã̃i tương đối cao hơn so với 3 tổ̉ chức còn lại. Trong tổ̉ng mẫ̃u điều tra thì 115/200 người trả lời ngoài các nguồn cung ứng tín dụng chính thức thì họ còn có khả năng vay từ các nguồn cung ứng tín dụng phi chính thức (chiếm 57,5%), hầu hết những khách hàng này họ có những điều kiện tốt để tiếp cận tín dụng như tài sản đảm bảo, thu nhập từ lương

    hưu, có nhiều người thân, người quen sống trên địa bàn, thời gian cư trú tại địa phương lâu dài…

     

    Bên cạnh những khách hàng tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức thì cũ̃ng có trường hợp khách hàng là cá nhân có hoạt động thương mại nhưng lại không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức mà họ phải sử dụng các dịch vụ tài chính phi chính thức (15/200 khách hàng, chiếm 7,5%) , một số nguyên nhân chính đó là do khách hàng không đáp ứng được các điều kiện cần thiết về hồ sơ vay vốn (thiếu, mất một số giấy tờ pháp lý), không thuộc đối tượng vay chính sách của NHCSXH…

     

    Về các yếu tố ảnh hưởng tới tiếp cận vốn: Bằng việc đặt ra những câu hỏi phỏng vấn sâu về các điều kiện và thủ tục vay vốn, các yếu tố khách hàng nông thôn quan tâm tới khi vay vốn ở̉ các TCTD, nhóm nghiên cứu tập

    trung xem xét các yếu tố địa điểm, thủ tục, lã̃i suất và sản phẩm, kết quả cho thấy các cá nhân trong mẫ̃u khảo sát đặc biệt quan tâm tới địa điểm (182/200, chiếm 91%) và thủ tục vay (192/200, chiếm 96%), lã̃i suất (146/200, chiếm

     

    73%), trong khi đó sản phẩm (87/200 chiếm 43,5%) không phải là yếu tố được dành nhiều sự quan tâm. Điều này cũ̃ng dễ giải thích bở̉i lẽ đối với cá nhân hoạt động thương mại ở̉ khu vực nông thôn các sản phẩm vay chủ yếu là vay nhỏ lẻ, phục vụ hoạt động kinh doanh thường ngày với quy mô nhỏ.

     

    Trong các yếu tố ảnh hưở̉ng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các yếu tố có ảnh hưở̉ng lớn là đảm bảo tín dụng, thu nhập bình quân của gia đình, mối quan hệ thân quen và khả năng nắm bắt thông tin tín dụng. Yếu tố thân quen (có người quen làm việc ở̉ các ngân hàng, các

     

    30 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    QTDND, các tổ̉ chức hội ở̉ địa phương) được xem là có ảnh hưở̉ng lớn đến khả năng tiếp cận vốn và lượng vốn có thể vay từ các tổ̉ chức cung ứng vốn, khi có người quen, người thân làm việc trong các TCTD, các khách hàng có điều kiện nắm bắt thông tin về các chương trình vay ưu đã̃i nhanh hơn, việc có mối quan hệ quen biết cũ̃ng khiến cho các cán bộ ở̉ các TCTD rút ngắn được thời gian phân tích tín dụng, ra quyết định đối với khoản vay. Ngoài ra, đối với các khách hàng có bảo đảm tín dụng cũ̃ng có điều kiện tiếp cận vốn dễ dàng hơn, đặc biệt sự bảo lã̃nh từ các tổ̉ chức chính trị xã̃ hội đã̃ giúp một bộ phận không nhỏ khách hàng có hoạt động thương mại không đăng kí kinh doanh có thể tiếp cận vốn. Trong khi đó, những khách hàng có thu nhập bình quân gia đình ổ̉n định, chủ yếu cá nhân hoạt động thương mại có đăng kí kinh doanh có xu hướng dễ dàng vay vốn hơn bở̉i lẽ họ có vốn nên mạnh dạn đầu tư vào việc kinh doanh các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp, cửa hiệu tạp hóa… với địa điểm cố định và có tài sản thế chấp khi vay vốn. Trên địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh, mặc dù̀ các kênh thông tin tín dụng tới người dân khá đa dạng như qua chính quyền địa phương, thông qua hệ thống phát thanh tại các xã̃, cán bộ phụ trách tại từng thôn… Tuy nhiên nhiều cá nhân được phỏng vấn chia sẻ rằng họ không tiếp cận được kịp thời các chương trình tín dụng,

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    không nắm được các quy định ưu đã̃i của nhà nước nên phải vay tạm thời từ các cá nhân, tổ̉ chức cung ứng vốn phi chính thức với chi phí vốn vay cao hơn rất nhiều. Mặt khác, nhiều trường hợp khách hàng đã̃ vay vốn từ các TCTD nhưng sử dụng vốn không đúng mục đích dẫ̃n đến tình trạng không hoàn trả hoặc hoàn trả vốn vay không đúng thời hạn cũ̃ng là nguyên nhân khiến họ khó tiếp cận vốn ở̉ những lần vay tiếp theo.

     

    Như vậy, tại địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh hiện nay, cá nhân hoạt động thương mại có điều kiện thuận lợi tiếp cận tín dụng chính thức, tuy nhiên bên cạnh đó vẫ̃n có một bộ phận không nhỏ khách hàng chưa có điều kiện vay vốn từ các TCTD. Việc đánh giá thực trạng là cơ sở̉ để nhóm tác giả đề xuất các giải pháp để tăng cường sự toàn diện tài chính trên địa bàn tỉnh.

     

    3. Một số đề xuất

     

    Trong Dự thảo chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đã̃ đưa ra mục tiêu tổ̉ng quát về tài chính toàn diện đó là “Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù̀ hợp với nhu cầu, với chi phí hợp lý do các tổ̉ chức cung cấp dịch vụ tài chính cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững”. Xuất phát từ việc khảo sát thực trạng tiếp cận vốn tín dụng của các cá nhân có hoạt động thương mại tại địa bàn nông thôn tỉnh Bắc Ninh, để

     

    tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng của các cá nhân này, nhóm tác giả có một số đề xuất:

     

    Thứ nhất , các tổ̉ chức cung ứng dịch vụ tài chính chính thức trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cần nghiên cứu rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và đơn giản hóa thủ tục, phát triển mạng lưới để người dân có thể tiếp cận vốn một cách thuận lợi hơn, tăng cường sự phối hợp với các tổ̉ chức đoàn thể xã̃ hội ở̉ địa bàn nông thôn trong việc truyền tải các chính sách tín dụng ưu đã̃i tới người dân. Trong những năm qua, Chính phủ, NHNN đã̃ có những văn bản chỉ đạo hệ thống ngân hàng cân đối nguồn vốn, tăng cường đẩy mạnh hỗ trợ vốn phục vụ phát triển kinh tế nông thôn. Nghị định 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã̃ sửa đổ̉i một số điều của nghị định số 55/2015/ NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, trong đó đã̃ quy định nâng mức cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa đối với một số đối tượng khách hàng là cá nhân hộ gia đình lên mức 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn, 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn. Ngoài ra Nghị định 116/2018/NĐ-CP cũ̃ng bổ̉ sung quy định cho phép các TCTD được nhận tài sản hình thành từ vốn vay của những dự án, phương án sản xuất kinh doanh có ứng dụng công nghệ cao làm tài sản đảm

     

    Số 204- Tháng 5. 2019 31

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

     

    bảo cho khoản vay của khách hàng. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để người dân ở̉ địa bàn nông thôn nói chung và cá nhân hoạt động thương mại ở̉ địa bàn nông thôn Bắc Ninh nói riêng có điều kiện tiếp cận tín dụng chính thức. Thứ hai, các cơ quan quản lý địa phương cần có sự hỗ trợ phối kết hợp chặt chẽ với các tổ̉ chức cung ứng để đảm bảo hỗ trợ tốt nhất tới người dân trong việc tiếp cận vốn tín dụng chính thức. Trên thực tế, trong nguồn vốn hoạt động của NHCSXH có một bộ phận vốn không nhỏ là nguồn vốn ủy thác từ Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện. Tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, chính quyền rất chú trọng đến việc tăng cường nguồn vốn này. Lượng vốn ủy thác qua NHCSXH có xu hướng tăng trong những năm gần đây, theo Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH tỉnh Bắc

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Ninh trong 3 năm gần đây (2016, 2017, 2018), nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương các năm 2016, 2017, 2018 lần lượt là 10.105 triệu đồng, 62.624 triệu đồng và 114. 924 triệu đồng. Để nguồn vốn được triển khai một cách hiệu quả tới người dân trên địa bàn nông thôn nói chung và cá nhân hoạt động thương mại nói riêng, cần tăng cường công tác truyền thông tới người dân và tăng cường cơ chế quản lý giám sát để vốn vay được sử dụng một cách hiệu quả, đúng đối tượng. Tỉnh Bắc Ninh cần tăng cường các hoạt động giáo dục tài chính cá nhân đối với người dân trên cơ sở̉ phối kết hợp với các trường đại học, các cơ sở̉ giáo dục trên địa bàn. Chiến lược tăng cường giáo dục tài chính cá nhân trên quy mô rộng khắp sẽ cải thiện được mức độ nhận thức về tài chính của người dân một cách nhanh chóng, chính điều

     

    này là điều kiện quan trọng để phát triển các sản phẩm tiết kiệm, tín dụng, thanh toán và bảo hiểm một cách rộng khắp đến mọi khu vực dân cư trong toàn tỉnh theo một lộ trình dài hạn nhằm phục vụ mục tiêu nâng cao hiểu biết tài chính cho cộng đồng.

     

    Thứ ba, các cá nhân hoạt động thương mại cần chủ động trong việc nắm bắt các thông tin về các tổ̉ chức cung ứng tín dụng chính thức trên địa bàn, trong quá trình sử dụng vốn, các khách hàng cần nghiên cứu kỹ̃ các nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng, hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ trong quá trình vay vốn, sử dụng vốn đúng mục đích. Mặt khác khách hàng tranh thủ sự hỗ trợ từ các tổ̉ chức hội, các tổ̉ chức đoàn thể, các tổ̉ chức tín dụng để có thể tiếp cận và sử dụng, quản lý vốn một cách hiệu quả, phát triển hoạt động thương mại một cách chủ động, bền

     

    1. Chính phủ (2015), Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

     

    1. Chính phủ (2018), Nghị định 116/2018/NĐ-CP, Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 08/2014/TT-NHNN, Quy định lãi suất cho vay ngăn hạn bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế.
    3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Sơ lược về tài chính toàn diện

     

    1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Dự thảo về chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016, 2017, 2018), Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng tỉnh Bắc Ninh
    3. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016, 2017, 2018),

     

    1. Ngân hàng chính sách xã hội, chi nhánh tỉnh Bắc Ninh (2016,2017,2018), Báo cáo kết quả hoat động

     

    1. Nguyễn Phượng Lê, Nguyễn Mậu Dũng (2011), Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân ngoại

     

    thành Hà Nội: nghiên cứu điển hình tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 9, số 5: 844-

     

    1.  

     

    1. Nguyễn Văn Vũ An, Phạm Phi Hùng, Bùi Hoàng Nam (2016), Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ tại xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, Tạp chí Kinh tế- Văn hóa- Giáo dục, số 22, tháng 7/2016.

    Thông tin tác giả

     

    32 Số 204- Tháng 5. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    CHÍNH SÁCH & THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

     

    Thanhvững■Kim Huệ, Thạc sĩ

     

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

     

    Email: [email protected]

     

    Vương Thị Minh Đức, Tiến sĩ

     

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Bắc Ninh

     

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Factors affecting the level of access to credit by individuals doing commercial activities in rural areas of Bac Ninh province

     

    Bac Ninh is a northern gateway province of Hanoi capital and is one of eight provinces in the Northern key economic region. From a purely agricultural province, Bac Ninh economy has developed in the direction of reducing the proportion of agriculture, increasing the proportion of industry-handicraft and trade villages, and developing agricultural production towards high-tech applications in order to improve added value and sustainable development. Contributing to that change has an important role of credit capital. However, in Bac Ninh, there is still a part of individual commercial customers in rural areas who have not yet access to formal credit, which is one of the major challenges in rural economic development. Therefore, the research team had a questionnaire survey for 250 individuals with commercial activities in rural areas in the districts of Bac Ninh province to assess the factors affecting the level of access to credit of these customers, on that basis, propose solutions to enhance access to finance, contributing to promoting sustainable rural economic development. Key words: individuals doing commercial activities, access to credit, Bac Ninh

     

    Hue Kim Thanh, MEc.

     

    Duc Thi Minh Vuong, PhD.

     

    Organization of all: Banking Academy of Vietnam, Bacninh Campus

     

    tiếp theo trang 23

     

    trong toàn hệ thống pháp luật.

     

    1. Kết luận

    Không thể phủ nhận sự cần thiết của sự ra đời Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 và một số văn bản hướng dẫ̃n thi hành như Nghị định số 87/2015 NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước; Nghị định số 10/2019/NĐ -CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở̉ hữu Nhà nước đã̃ góp phần tạo nên một hành

     

    lang pháp lý tương đối chuẩn mực, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp ở̉ Việt Nam. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng trên thực tế, những qui định điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cho thấy vẫ̃n còn những điểm chưa hợp lý và không phù̀ hợp với điều kiện hiện nay. Do đó những qui định này cần phải được tiếp tục hoàn thiện. Bài viết này dừng lại ở̉ việc nêu một vài những bất cập đó (theo quan điểm cá nhân của tác giả) nhằm giúp các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có cái nhìn toàn diện hơn về khung pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh

     

    nghiệp ở̉ Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất những kiến nghị để giải quyết những bất cập này ■

     

    tiếp theo trang 9

     

    nhanh và bền vững. Do đó, các nỗ lực tái cấu trúc kinh tế hiện nay, đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, phải được tiến hành một cách mạnh mẽ và dứt khoát hơn nếu muốn thoát khỏi mối lo đổ̉ vỡ của bong bóng nợ công và cả mối nguy của bẫ̃y thu nhập trung bình mà Việt Nam có thể sẽ mắc phải ■

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 204- Tháng 5. 2019 33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nguồn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hàng hải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-d%E1%BB%AF-li%E1%BB%87u-l%E1%BB%9Bn-trong-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-quan-h%E1%BB%87-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Ứng dụng dữ liệu lớn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Phan Thanh Đức

     

    Chu Thị Hồng Hải

     

    Đình Trọng Hiếu

     

    Chu Văn Huy

     

    Ngô Thùy Linh

     

    Ngày nhận: 21/03/2019                    Ngày nhận bản sửa: 01/04/2019                     Ngày duyệt đăng: 26/04/2019

     

    Sự xuất hiện của dữ liệu lớn (Big Data) trong bối cảnh hiện nay đang được các doanh nghiệp kỳ vọng như nguồn tài nguyên khổng lồ. Tuy nhiên việc ứng dụng Big Data ở đâu và như thế nào vẫn đang là bài toán chưa được giải quyết tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay. Bài báo đề cập đến việc ứng dụng Big Data vào hoạt động quản trị quan hệ khách hàng (CRM) tại các NHTM bằng việc đề xuất mô hình kiến trúc tổng thể cho hệ thống CRM-Big Data và đề cập việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật MDM, CDP, DMP nhằm giải quyết bài toán tích hợp dữ liệu có cấu trúc bên trong ngân hàng và dữ liệu phi cấu trúc trên Big Data.

     

    Từ khoá: Dữ liệu lớn (Big Data), quản trị quan hệ khách hàng (CRM), quản lý dữ liệu chủ (MDM), nền tảng dữ liệu khách hàng (CDP), nền tảng quản lý dữ liệu (DMP).

     

    1.  Đặt vấn đề

     

    35 tỷ USD vào năm 2023, với tốc độ tăng

       

    trưởng kép hàng năm (CAGR) trung bình xấp

    heo “Báo cáo nghiên cứu về thị

     

    xỉ 6% trong khoảng 2017- 2023. Các doanh

    trường phần mềm CRM- Dự

     

    nghiệp hướng tới việc triển khai các hệ thống

    báo toàn cầu đến 2023” của

     

    CRM với hy vọng chăm sóc và quản lý khách

    Market Research Future (Market

     

    hàng tốt hơn, bán hàng nhanh hơn, xây dựng

    Research Future, 2019), giá trị thị

     

    trải nghiệm khách hàng hấp dẫn hơn... Rõ ràng,

    trường CRM trên toàn thế giới đã đạt 27,16 tỷ

     

    quản trị mối quan hệ với khách hàng luôn là

    đô la năm 2017 và được dự báo sẽ đạt khoảng

     

    vấn đề được quan tâm đối với các doanh nghiệp

    © Học viện Ngân hàng

    50

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

    ISSN 1859 – 011X

    Số 203- Tháng 4. 2019

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    và đặc biệt là đối với các NHTM. Các hệ thống CRM đã giúp các NHTM tạo chiến lược cạnh tranh, đưa ra quyết định nhanh chóng, thiết lập mối quan hệ khách hàng, tối ưu hiệu quả kinh doanh trên nền tảng các dữ liệu thu thập được. Tuy nhiên, các hoạt động CRM trong các NHTM hiện nay liệu đã thực sự giúp NHTM hiểu đúng khách hàng của mình? Dữ liệu khách hàng là những thông tin và giao dịch nội bộ hay bao gồm cả các dữ liệu bên ngoài ngân hàng? Làm thế nào để có được các dữ liệu bên trong và bên ngoài chính xác, cập nhật và liên tục? Liệu ngân hàng đã có biện pháp tiếp cận đúng khách hàng, qua đúng kênh, đúng nhu cầu, đúng thời điểm để cải thiện trải nghiệm của khách hàng, nâng cao thương hiệu và tăng lợi nhuận?

     

    Kết quả khảo sát về hoạt động quản trị quan hệ khách hàng (CRM) tại 36 NHTM Việt Nam1 năm 2018 của Nhóm nghiên cứu cho thấy rằng, các hoạt động CRM mặc dù đã có những thay đổi vượt bậc nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để được vấn đề đã nêu ở trên. Trong thập kỷ qua, ngành Ngân hàng đã phát triển theo bước nhảy vọt từ hoạt động vận hành kinh doanh đến cung cấp dịch vụ. Nhưng thực tế, hầu hết các ngân hàng vẫn đang gặp khó khăn trong việc sử dụng, khai thác thông tin, dữ liệu từ các nguồn dữ liệu mà họ có được từ khách hàng và từ các chi nhánh, bộ phận của ngân hàng. Hiển nhiên, khi các ngân hàng ngày càng mở rộng dịch vụ, các tiện ích, hay phát triển thêm thị trường, thu hút thêm khách hàng thì cũng phải xây dựng một hệ thống hạ tầng để thu thập dữ liệu và tiến hành phân tích giúp tìm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vậy ngân hàng có thể có được những lợi ích gì từ sự phát triển công nghệ trên thế giới hiện nay như Big Data?

     

    Cuộc cách mạng 4.0 với nền tảng IoT, công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đã đưa Big Data lên vai trò trung tâm của xã hội và doanh nghiệp. Dữ liệu trong Big Data đến từ nhiều nguồn: Giao dịch của khách hàng trên các kênh dịch vụ, tương tác khách hàng trên mạng viễn thông, sự di chuyển khách hàng, hành vi của khách hàng trên mạng xã hội… Nhờ các dữ

     

    • 36 là toàn bộ các Ngân hàng thương mại Nhà nước & Cổ phần Việt Nam

    liệu này trên Big Data, các NHTM có thể cá nhân hóa dịch vụ đến từng khách hàng, đáp ứng mong muốn khách hàng, hay xác định rủi ro ở mọi thời điểm. Các ngân hàng đều kỳ vọng từ nguồn Big Data có thể tạo ra các doanh thu mới và cung cấp những hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ và sản phẩm kỹ thuật số mới. Tuy nhiên, việc khai thác Big Data vẫn đặt ra nhiều thách thức cho mỗi nhà quản trị ngân hàng. Làm thế nào để có thể khai thác được các giá trị mới từ Big Data? Big Data có các đặc tính là không có cấu trúc, có dung lượng rất lớn, lưu trữ phân tán, yêu cầu tốc độ xử lý rất cao và thường xuyên thay đổi, vậy làm thế nào để tích hợp với các phân hệ nghiệp vụ vốn rất ổn định của ngân hàng. Và thực trạng dữ liệu tại các ngân hàng đang ở đâu, đã đủ lớn và có phù hợp để nghĩ đến việc tích hợp với Big Data?

     

    2. Thực trạng dữ liệu lớn và hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    2.1. Mức độ trưởng thành Dữ liệu lớn tại các ngân hàng thương mại

     

    Để xác định chính xác tính sẵn sàng, mức độ ứng dụng dữ liệu lớn, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp BDMM (Big Data Maturity Model) và mô hình Hortonworks (Hortonworks, 2019) để đo lường và giám sát trạng thái dữ liệu, xác định mức độ trưởng thành Big Data của các NHTM. Đối tượng được lựa chọn để tiến hành điều tra trong đề tài này là cán bộ quản lý bộ phận Nghiệp vụ, Công nghệ thông tin, Dữ liệu, Hạ tầng Công nghệ,… tại 36 NHTM. Từ các kết quả thu được, nhóm đưa

     

    ra đánh giá về thực trạng và khái quát thành những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình triển khai Big Data tại các NHTM, từ đó đề xuất các hoạt động cần thiết để hoàn thành mức độ hiện tại và để chuyển sang mức độ tiếp theo. Bộ câu hỏi được nhóm nghiên cứu sử dụng nhằm xác định mức độ trưởng thành dữ liệu lớn tại các NHTM Việt Nam gồm 5 phần chính: (1) Định hướng chiến lược, (2) Dữ liệu và Phân tích dữ liệu, (3) Công nghệ và Cơ sở hạ tầng, (4) Tổ chức và Kỹ năng & (5) Quản lý và Quy trình. Mỗi phân vùng là một tập các câu

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 51

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Bảng 1. Số lượng câu hỏi từng phân vùng đánh giá theo mô hình Hortonworks

     

    Phân vùng đánh giá

    Số lượng câu hỏi liên quan mức

    Số lượng câu hỏi liên quan mức

     

    độ triển khai ở thời điểm hiện tại

    độ triển khai ở thời điểm tương lai

       

    (2 năm tới)

    Định hướng chiến lược

    4

    4

         

    Dữ liệu và Phân tích dữ liệu

    4

    4

         

    Công nghệ và Cơ sở hạ tầng

    4

    4

         

    Tổ chức và Kỹ năng

    4

    4

         

    Quản lý và Quy trình

    4

    4

         

    Tổng

    16

    16

         

    Nguồn: Hortonworks, 2019

     

     

    hỏi, với tổng số lượng 16 câu chia thành 5 phân vùng được thiết kế và xây dựng trên giao diện Web tại địa chỉ http://igdata-crm.bav.edu.vn/ bigdata_question.

     

    Dựa trên phương pháp tính điểm trung bình, mô hình Hortonworks đưa ra sự đánh giá mức độ trưởng thành từng khía cạnh và tổng thể về ứng dụng dữ liệu lớn ở cả hai giai đoạn hiện tại và tương lai (trong hai năm tới). Kết quả được quy thành mức độ căn cứ theo điểm đánh giá cụ thể như sau:

     

    Mức độ 1- Nhận thức (0-1 điểm): Ngân hàng thể hiện sự quan tâm đến ứng dụng Big Data, bắt đầu có những nghiên cứu về phân tích dữ liệu, phân tích Big Data.

     

    Mức độ 2- Khai phá (1-2 điểm): Ngân hàng có

     

    những khám phá về hiệu quả những dự án thử nghiệm đầu tiên liên quan đến Big Data. Mức độ 3- Tối ưu (2- 3 điểm): Ngân hàng đã từng bước tổ chức tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, khả năng hỗ trợ gia quyết định ở các bộ phận nghiệp vụ thông qua Big Data,.

     

    Mức độ 4- Chuyển đổi (3-4 điểm): Big Data cho phép có được các thông tin dự đoán đáng tin cậy, được ngân hàng xem là nhân tố chính đem lại lợi thế cạnh tranh.

     

    Qua tổng hợp kết quả khảo sát thực hiện bởi 36 NHTM, 72% các NHTM (26 ngân hàng) đang dừng lại ở mức độ 1, 25% NHTM (9 ngân hàng) đã có mức độ trưởng thành dữ liệu lớn ở mức độ 2, 3% NHTM (1 ngân hàng) được đánh giá ở mức độ 3, mức độ 4 hiện chưa có NHTM nào đạt được.

     

    Hình 1. Mức độ trưởng thành Big Data tại các ngân hàng thương mại

     

    Việt Nam

     

     

     

    Nguồn: Kết quả khảo sát của Nhóm nghiên cứu

     

    52 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Dựa trên kết quả khảo sát về mức độ trưởng thành, mức độ sẵn sàng triển khai dữ liệu lớn tại các NHTM Việt Nam, nhóm nghiên cứu đưa ra một số nhận định chủ quan về mức độ sẵn sàng sử dụng dữ liệu lớn của các NHTM:

     

    Vấn đề 1. Chưa có chiến lược tổng thể trong thu thập, xử lý, quản trị và sử dụng các nguồn dữ liệu khác nhau; Thiếu những hướng dẫn cụ thể trong việc thực hiện thu thập, xử lý, quản trị và sử dụng các nguồn dữ liệu bán cấu trúc và phi cấu trúc tại các NHTM.

     

    Vấn đề 2. Chưa có một phương pháp tiếp cận phù hợp và toàn diện trong hoạt động điều hành, quản trị để duy trì quan hệ lâu dài với khách hàng; Chưa có giải pháp tổng thể cho việc kết hợp Big Data với bài toán CRM. Vấn đề 3. Các yếu tố pháp lý liên quan đến sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ các mạng xã hội, từ các bên thứ 3) chưa rõ ràng. Thiếu các hướng dẫn cụ thể về việc triển khai các hoạt động thuê ngoài dịch vụ, ứng dụng điện toán đám mây, mua bán dữ liệu…

     

    2.2. Thực trạng hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại

     

    Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dựa trên cây vấn đề trình bày trong Hình 2 để phát triển các bảng hỏi phỏng vấn nhằm đánh giá thực tế hoạt động quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM) tại các ngân hàng. Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận để phỏng vấn đối với lãnh đạo và nhân viên trực tiếp phụ trách công nghệ CRM của 25 NHTM Việt Nam. Căn cứ vào dữ liệu thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng lựa chọn, Nhóm nghiên cứu đưa ra nhận định về 6 vấn đề đang tồn tại trong hoạt động CRM như sau:

     

    Vấn đề 1: Nguồn dữ liệu khách hàng chưa đầy đủ

     

    Các NHTM chưa quan tâm thích đáng đến dữ liệu và hành vi khách hàng trên các mạng xã hội. Các nguồn dữ liệu chính vẫn chủ yếu dựa trên các dữ liệu nội bộ, có cấu trúc từ các giao dịch của khách hàng. Một số ngân hàng đã bắt đầu thu thập dữ liệu hành vi người dùng trên mạng xã hội nhưng đang dừng ở mức độ xử lý khủng hoảng truyền thông, cải thiện và nâng cao hoạt động chăm sóc khách hàng.

     

    Hình 2.

     

    Cây vấn đề về CRM tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng

     

    tại các NHTM Việt Nam

     

                                 
                                 
           

    Dữ liệu

       

    Hoạt động quản trị

       
           

    khách hàng

       

    quan hệ khách hàng

       
                                 
                                 
           

    Nguồn dữ liệu

         

    Quy trình hoạt động

     
                 

    quản trị khách hàng

     
                         
                             
           

    Tổ chức lưu trữ dữ liệu

         

    Hệ thống phần mềm

     
                   
                               
                             
           

    Khai thác dữ liệu

           

    Kênh tương tác

     
                     
                                 
                 

    Nguồn: Đề xuất của Nhóm nghiên cứu

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

           

    Số 203- Tháng 4. 2019 53

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Vấn đề 2: Chưa có phương pháp đảm bảo tính nhất quán dữ liệu thông qua việc triển khai hệ thống Quản trị Dữ liệu chủ (Master Data Management-MDM)

     

    Các ngân hàng mặc dù bắt đầu ý thức đến việc đảm bảo chất lượng của một số dữ liệu quan trọng như khách hàng, sản phẩm, dịch vụ, kênh bán hàng… Tuy nhiên, trong số các NHTM được phỏng vấn, chỉ có 20% bắt đầu chú ý và quan tâm đến “Master Data – Dữ liệu chủ” và cũng mới chỉ có 10% có kế hoạch xây dựng giải pháp MDM.

     

    Vấn đề 3: Thiếu công cụ, cách thức tổ chức để xây dựng hình ảnh 3600 khách hàng

     

    Phần lớn các ngân hàng đang thiếu phương pháp tổ chức và công cụ để xây dựng được hồ sơ 3600 về khách hàng.

     

    Vấn đề 4: Các phân hệ CRM đang triển khai tại ngân hàng còn thiếu phân hệ “Phân tích dữ liệu” (Data Analytics)

     

    Một số ngân hàng đã và đang triển khai CRM, tuy nhiên có đến 80% các ngân hàng chưa triển khai được các phân hệ liên quan đến phân tích dữ liệu (Data Analytics) để tiếp cận khách hàng, tư vấn bán chéo cho khách hàng mua sản phẩm.

     

    Vấn đề 5: Chưa có quy trình chuẩn cho việc tích hợp dữ liệu giữa CRM và các hệ thống khác trong ngân hàng

     

    Với các ngân hàng đã triển khai hệ thống CRM (có thể đầy đủ các phân hệ hoặc chưa đầy đủ) thì vẫn thiếu quy trình chuẩn cho việc tích hợp với các phân hệ nghiệp vụ và hệ thống Core banking nhằm thu thập, lưu trữ đến quản trị dữ liệu khách hàng.

     

    Vấn đề 6: Cách thức lưu trữ tổ chức dữ liệu chưa đáp ứng cho việc kinh doanh đặc biệt là hoạt động marketing

     

    20% các ngân hàng đã xây dựng kho dữ liệu, số còn lại thì vẫn đang lưu trữ dữ liệu trong hệ thống Core, do đó khả năng truy xuất của các nghiệp vụ làm marketing rất hạn chế, thậm chí là không truy cập được. 80% các câu trả lời xác nhận việc chưa có dữ liệu phục vụ riêng cho nghiệp vụ kinh doanh, đặc biệt là nghiệp

     

    vụ marketing. Bên cạnh đó, đại đa số các ngân hàng đã có quy định cho việc phân khúc, phân hạng khách hàng doanh nghiệp. Các quy định này về cơ bản đáp ứng đủ cho việc thiết kế sản phẩm và xây dựng chính sách giá cho từng loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, 60% các ngân hàng được phỏng vấn chưa có quy định chính thức về việc phân khúc khách hàng bán lẻ. Điều này gây nhiều khó khăn cho hoạt động marketing đối với khách hàng cá nhân.

     

    Kết hợp kết quả khảo sát về mức độ trưởng thành dữ liệu lớn và hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các NHTM, Nhóm nghiên cứu nhận định một số bài toán cần giải quyết để có thể ứng dụng, phát huy hiệu quả của Big Data cho hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại các NHTM.

     

    Bài toán 1: Cần có một kiến trúc tổng thể cho việc ứng dụng Big Data vào hoạt động CRM tại các NHTM

     

    Kiến trúc tổng thể cần thể hiện được phương pháp nào để thu thập và tích hợp các nguồn dữ liệu bên ngoài vào mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin ngân hàng, đầu vào và đầu ra của mỗi hệ thống thông tin. Đặc biệt cần làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống CRM truyền thống của các ngân hàng với Big Data. Bài toán này sẽ giải quyết được các vấn đề 1, 5 và 6 đối với hoạt động quản trị hoạt động quan hệ khách hàng.

     

    Bài toán 2: Cần có các phương pháp, kỹ thuật cho việc thu thập và xử lý dữ liệu

     

    Để có được các chính sách khách hàng phù hợp, ngân hàng cần có được hồ sơ đầy đủ 360o về khách hàng. Muốn vậy ngoài dữ liệu về các giao dịch của khách hàng, cần có các dữ liệu tương tác, hành vi và cảm xúc của khách hàng để có thể kịp thời đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng vào đúng thời điểm. Do vậy cần có các kỹ thuật và phương pháp:

     

    Thu thập dữ liệu không cấu trúc và bán cấu trúc từ các nguồn dữ liệu bên ngoài ngân hàng.

     

    Cần có một nền tảng dữ liệu khách hàng thống nhất tích hợp và lưu trữ các dữ liệu bên trong và bên ngoài nhằm cung cấp một hồ sơ khách hàng 360o.

     

    Bài toán này nhằm giải quyết các vấn đề 2, 3 và là cơ sở giải quyết vấn đề số 4.

     

    54 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Bài toán 3: Cần có một khung pháp lý đầy đủ cho việc sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ các mạng xã hội, từ các bên thứ 3)

     

    Trên thực tế, các bài toán công nghệ không đủ để có thể giải quyết được những tồn tại trong thực tế hoạt động kinh doanh ngân hàng. Ở Việt Nam, yếu tố pháp lý liên quan đến sở hữu, sử dụng các nguồn dữ liệu ngoài ngân hàng (từ mạng xã hội, từ bên thứ 3) chưa rõ ràng. Và do thiếu các hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan Nhà nước nên mỗi ngân hàng phải chủ động bỏ nguồn lực đi tìm các nguồn dữ liệu khác nhau (Telco, mạng di động, mạng xã hội,…) để đưa vào phân tích, chắt lọc các thông tin mong muốn phục vụ hoạt động nghiệp vụ; hay các giải pháp của nước ngoài rất tốt nhưng không thể triển khai tại Việt Nam do những vướng mắc liên quan đến địa điểm đặt dữ liệu/xử lý trên nền tảng điện toán đám mây…

     

    3. Đề xuất giải pháp ứng dụng Big Data trong hoạt động CRM tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

     

    CRM được coi như một công cụ được sử dụng để quản lý liên hệ, bán hàng, sản phẩm, marketing, chăm sóc khách hàng và được kỳ vọng sẽ giúp các ngân hàng cải thiện quan hệ với khách hàng. Khi triển khai CRM, các ngân hàng thường chú trọng vào các nhân tố quy trình, chính sách, nhân lực, chiến lược và công nghệ. Tuy nhiên, nền tảng cho tất cả các nhân tố trên vẫn phải là một hệ thống dữ liệu đầy đủ, có chất lượng và có khả năng truy xuất khi cần. Đối với các hệ thống CRM, các nguồn dữ liệu phải đặt khách hàng ở vị trí trung tâm. Dữ liệu khách hàng phải bao gồm đầy đủ tất cả dữ liệu, từ các dữ liệu có cấu trúc và các dữ liệu không có cấu trúc từ nhiều nguồn khác nhau. CRM tỷ lệ thuận với 3V trong Big Data: độ lớn, tốc độ truy cập và sự đa dạng của dữ liệu. Để có được một cái nhìn đơn giản và chính xác về khách hàng, dữ liệu cần được thống nhất trên tất cả các nguồn và phải là dữ liệu sạch. Như vậy bức tranh toàn cảnh cho việc ứng dụng Big Data trong CRM là cần phải có một phương pháp luận rõ ràng, cách tiếp cận phù hợp và công

     

    cụ thích hợp để có thể tập hợp các nguồn dữ liệu lớn, đa dạng, và có khả năng truy cập kịp thời vào một nguồn thống nhất tại ngân hàng. Để thực hiện điều này, các ngân hàng cần phải có: (i) Một mô hình quản lý, khai thác dữ liệu thống nhất toàn ngân hàng, cũng như có (ii) phương pháp và công cụ để thu thập, xử lý dữ liệu về khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau: dữ liệu nội bộ (hệ thống tác nghiệp, kho dữ liệu), từ các nhà cung cấp dữ liệu (bên thứ 3), các dữ liệu về hành vi của khách hàng, mạng xã hội (dữ liệu lớn)… và (iii) một kiến trúc hệ thống tổng thể của CRM cho phép kết hợp được các mô hình, phương pháp, kỹ thuật, công cụ ở trên.

     

    3.1. Phương pháp luận “lấy khách hàng là trung tâm” trong trong các hoạt động ngân hàng

     

    Cách tiếp cận “lấy khách hàng làm trung tâm” không hoàn toàn mới, nhưng ngày càng trở nên quan trọng trong thời đại ngày nay, khi các ngân hàng đang thực hiện chuyển đổi số, tạo văn hóa khách hàng là trung tâm và quản lý trải nghiệm khách hàng. Lấy khách hàng làm trung tâm cần phải trở thành một tư duy trong toàn ngân hàng với tất cả các bộ phận liên quan, bởi vì tất cả các bộ phận cần phải làm việc theo quan điểm lấy khách hàng làm trung tâm (thay vì quan điểm lấy sản phẩm làm trung tâm) để đạt lợi nhuận từ những khách hàng có giá trị nhất. Nhưng để thực hiện cách tiếp cận “lấy khách hàng làm trung tâm”, không chỉ đơn giản cứ đặt khẩu hiệu “đặt khách hàng lên hàng đầu” là đủ. Các ngân hàng thực sự lấy “khách hàng làm trung tâm” cần biết đâu là khách hàng có giá trị nhất của họ và đảm bảo sự hài lòng của những khách hàng này. Ngân hàng cũng cần biết từng mong muốn và kỳ vọng của từng phân khúc khách hàng để quyết định làm những gì phù hợp với mong muốn của họ. Ngay đối với những khách hàng chưa hài lòng, ngân hàng cũng cần biết chính xác những dịch vụ nào chưa tốt để và cần phải thay đổi. Và để có thể làm được tất cả những điều này, ngân hàng bắt buộc phải có phương pháp thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu khách hàng từ nhiều nguồn, nhiều

     

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 55

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 3: Mô hình kiến trúc tổng thể ứng dụng Big Data cho CRM trong ngân hàng

     

     

     

     

    kênh, nhiều thời điểm để hướng tới mục tiêu hiểu được từng khách hàng, có cơ sở để phân chia những phân khúc khách hàng chính xác nhất. Dựa trên các thông tin khách hàng, ngân hàng sẽ phải cung cấp những trải nghiệm thông qua các dịch vụ và ứng dụng phù hợp, tiếp tục thu thập dữ liệu từ những trải nghiệm của khách hàng và các hoạt động này được thực hiện theo những chu kỳ nhằm tạo ra được hồ sơ khách hàng một cách đầy đủ và cập nhật.

     

    Các ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm không quá tập trung vào khách hàng trung bình, không cố gắng để có được hoặc giữ chân khách hàng chất lượng thấp hoặc chi tiêu quá ít để tập trung vào khách hàng chất lượng cao. Thay vào đó, các ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm có các đặc điểm sau:

     

    Sử dụng dữ liệu khách hàng từ cả nguồn bên trong và bên ngoài để xây dựng hồ sơ 360o cho từng khách hàng, cần thực hiện phân tích để nhận biết khách hàng trên tất cả các kênh giao tiếp, hiểu rõ từng khách hàng và tiến hành phân khúc dựa trên giá trị trọn đời của khách hàng. Dựa trên hồ sơ 360o để xác định những khách hàng giá trị nhất. Khách hàng giá trị có thể đến từ những khách hàng ít hoặc thậm chí chưa sử

     

     

     

    Nguồn: Đề xuất của Nhóm nghiên cứu

     

    dụng dịch vụ tại ngân hàng. Do vậy, đừng chỉ phụ thuộc vào lịch sử giao dịch tại ngân hàng mình để quyết định danh sách những khách hàng giá trị nhất.

     

    Tập trung vào các sản phẩm và dịch vụ cho các khách hàng giá trị nhất. Ngân hàng cần xác định không có ngân hàng nào là tốt nhất cho tất cả mọi người. Do vậy đừng cố đáp ứng được nhu cầu sản phẩm và dịch vụ cho tất cả mọi người mà cần thiết kế quy trình sản phẩm và chính sách dịch vụ theo quan điểm của khách hàng.

     

    Ngân hàng cần thiết kế một dịch vụ tổng thể với khách hàng, có cam kết về sự thành công của khách hàng, tương tác với khách hàng ngay từ đầu, thể hiện cam kết của khách hàng từ cấp cao nhất trở xuống, có công cụ để đo lường những gì quan trọng với khách hàng và đối với nhân viên cần nuôi dưỡng văn hóa lấy khách hàng làm trung tâm trong toàn ngân hàng. Tóm lại, có thể khẳng định việc xây dựng một ngân hàng lấy khách hàng làm trung tâm nói riêng là lựa chọn tốt hơn việc lấy sản phẩm/ dịch vụ làm trung tâm. Mấu chốt của cách tiếp cận này là hệ thống CRM của ngân hàng cần phải có đủ dữ liệu để hiểu rõ khách hàng của

     

    56 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 4. Kiến trúc MDM

     

     

     

     

    mình (KYC) hay nói cách khác là cung cấp được cái nhìn đầy đủ, toàn diện về khách hàng (360o khách hàng) cho các bộ phận phân tích và hoạt động nghiệp vụ khác của ngân hàng.

     

    3.2. Mô hình kiến trúc tổng thể giải pháp ứng dụng Big Data cho CRM trong ngân hàng

     

    Cần lưu ý rằng không phải cứ có nguồn dữ liệu lớn là cần dự án Big Data. Để xây dựng lên một hệ thống Big Data, ngân hàng cần phải xác định nhiều vấn đề: nguồn dữ liệu, chuẩn định dạng, các kỹ thuật khai phá và phân tích, việc sử dụng kết quả… Tuy nhiên, vấn đề đầu tiên cần giải quyết là hệ thống sẽ thu thập dữ liệu như thế nào? Ở một khía cạnh khác, với cách tiếp cận lấy khách hàng làm trung tâm, các ngân hàng phải thực sự hiểu khách hàng của mình và biết tất cả các khía cạnh về họ- hành vi, cảm xúc, thói quen, sở thích. Các ngân hàng phải có đầy đủ dữ liệu, không chỉ các dữ liệu định danh, có cấu trúc mà còn cả các dữ liệu về hành vi, cảm xúc để có thể tiếp cận đúng khách hàng, qua đúng kênh, đúng nội dung, đúng thời điểm để cải thiện trải nghiệm của khách hàng, nâng cao lòng trung thành thương hiệu và tăng giá trị khách hàng. Lý thuyết khách hàng làm trung tâm nghe có vẻ đơn giản, nhưng cũng rất khó để

     

     

     

    Nguồn: Dan Wolfson, 2014

     

    hình dung. Và trong trường hợp này, một kiến trúc tổng thể biểu diễn ngữ cảnh là cần thiết để xác định các mối quan hệ giữa các giải pháp công nghệ MDM, CDP, DMP và CRM. Trong đó CDP- nền tảng dữ liệu khách hàng đóng vai trò trung tâm của kiến trúc.

     

    Kiến trúc tổng thể được đề xuất là mô hình tham chiếu cho việc triển khai các dự án Big Data dành các hoạt động kinh doanh, tiếp thị dựa trên dữ liệu khách hàng. Kiến trúc tổng thể được chia thành 4 khối, tương tác với nhau thông qua các web services. Các ngân hàng lựa chọn việc triển khai khi cần một kho lưu trữ dữ liệu 360° hoạt động nhằm quản lý và phục vụ một số lượng đáng kể các thuộc tính căn cứ trên nhiều dữ liệu chi tiết của khách hàng trong các trường hợp:

     

    Xử lý khối lượng công việc tương tác lớn (ví dụ> 200 truy vấn/giây) trong khi vẫn phải thường xuyên cập nhật hồ sơ dựa trên các tương tác thường xuyên với từng khách hàng.

     

    Khi ngân hàng có các tập dữ liệu lớn dùng chung trong toàn hệ thống (100 nghìn đến hàng triệu khách hàng và có mỗi khách hàng có trung bình 10-20 tương tác hàng tuần).

     

    Khi ngân hàng muốn triển khai các mô hình tính điểm theo thời gian thực để phản ánh chính xác hiện trạng theo thời gian thực của khách

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 57

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    hàng.

     

    3.2.1. Quản lý dữ liệu chủ (MDM)

     

    Hệ thống MDM sẽ cung cấp công cụ và quy trình quản lý dữ liệu chủ, cho phép ngân hàng đạt được mục tiêu hoạt động chính như: Dữ liệu chủ không chỉ nhất quán mà còn chính xác đảm bảo rằng mỗi bộ phận sử dụng cùng một tên gọi thống nhất về khách hàng hoặc cùng một mô tả về sản phẩm. Dữ liệu chủ được điều chỉnh để được cập nhật hoặc thay đổi theo chính sách kinh doanh và có sẵn, đồng nhất ở bất cứ bộ phận phòng ban nào cần đến dữ liệu đó. Ngoài việc quản lý dữ liệu từ các miền: khách hàng, sản phẩm, các đại lý…, MDM còn quản lý thông tin về mối quan hệ giữa các miền này. Hệ thống MDM sử dụng một tập các dịch vụ, các thành phần và kho lưu trữ để nhận dữ liệu chủ từ các hệ thống khác nhau và sau đó chuẩn hóa dữ liệu để cung cấp dữ liệu nhất quán cho các ứng dụng. Một số thành phần của MDM bao gồm (Dan Wolfson, 2014):

     

    Giao diện dịch vụ (Interface Service): Sử dụng các giao thức và giao diện lập trình để truy vấn và cập nhật vào hệ thống MDM như: các dịch vụ web, các RESTful, các giao diện nhắn tin, các quy trình xử lý hàng loạt, cũng như các giao thức tùy chỉnh để cho phép truy cập nhất quán vào MDM.

     

    Các dịch vụ quản lý vòng đời (Lifecycle Management Services): Dịch vụ quản lý vòng đời kiểm soát cách thức dữ liệu chủ được phát triển theo thời gian. Cụ thể thông qua các dịch vụ này các đối tượng dữ liệu chủ được tạo ra, được hợp nhất, được cập nhật, được xác nhận tính đúng đắn, được phân phối, được tạo ra các phiên bản và được huỷ bỏ.

     

    Quản lý các mối quan hệ và phân cấp (Hierarchy and Relationship Management): Các dịch vụ phân cấp và mối quan hệ được sử dụng để tổ chức dữ liệu chủ trong các mối quan hệ khác nhau. Chẳng hạn, nhân viên thuộc về các phòng ban, các phòng ban thuộc về các tổ chức… Đó là một hệ thống phân cấp điển hình. Các loại mối quan hệ khác có thể được phân lớp trên dữ liệu chủ: ví dụ mô tả ở trên cho thấy ông An là chồng của bà Mai. Tất cả điều này được quản lý thông qua Dịch vụ phân cấp và

     

    mối quan hệ.

     

    Các dịch vụ quản lý sự kiện (Event Management Services): Dịch vụ quản lý sự kiện cho phép hệ thống MDM và người dùng nhận thông tin về những thay đổi trong dữ liệu chủ và cập nhật theo thông tin đó. Hệ thống có thể đăng ký cập nhật dữ liệu cá nhân (một người cụ thể), các kiểu dữ liệu (người, sản phẩm, tài khoản…) và nhận thông báo khi các mục đó được cập nhật. Điều này thường được sử dụng cho các sự kiện quản trị (như hạn chế thay đổi tài khoản hoặc các báo cáo cho một đối tượng bị trùng lặp) hoặc các sự kiện dựa trên một số quy tắc kinh doanh hoặc hoạt động khác và cho phép người nhận thực thi chính sách hoặc thông báo cho người quản trị dữ liệu.

     

    Các dịch vụ uỷ quyền (Authoring Services): Dịch vụ uỷ quyền là một trong các dịch vụ của “Dịch vụ quản lý vòng đời” được sử dụng bởi một hệ cộng tác tạo ra dữ liệu chủ, chẳng hạn hệ thống cho phép tạo ra các dữ liệu chủ về sản phẩm và các phân cấp của nó.

     

    Các dịch vụ quản lý chất lượng (Data Quality Management Services): Dịch vụ quản lý chất lượng là những dịch vụ được sử dụng để chuẩn hoá (ví dụ viết “Phố Chùa Bộc” thay vì viết “Chùa Bộc”), định dạng, hợp nhất dữ liệu chủ và những quy định phải có những thuộc tính quan trọng. Ví dụ tất cả các khách hàng phải khai báo “Họ” khi khai báo “Tên” của mình. Vũ Văn An và An Vũ Văn đều là một khách hàng với hai cách gọi tên khác nhau, dịch vụ này sẽ cho phép tích hợp hai thông tin này vào một bản ghi duy nhất trong MDM với một cách gọi duy nhất và chính xác nhất.

     

    Các dịch vụ cơ bản (Base Services): Các dịch vụ cơ bản bao gồm bảo mật, quyền riêng tư, lưu trữ và truy xuất dữ liệu, quy tắc kinh doanh và các dịch vụ khác mà MDM sử dụng để cung cấp dữ liệu chủ nhất quán, an toàn.

     

    3.2.2. Nền tảng dữ liệu khách hàng CDP

     

    Để quản lý được “dữ liệu chủ về khách hàng” cần thu thập được tất cả các nguồn dữ liệu liên quan đến khách hàng vào MDM. Để thực hiện nhiệm vụ đó cần đến “nền tảng quản lý dữ liệu khách hàng” CDP (Customer Data Platform). CDP cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu về khách

     

    58 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 5. Kiến trúc CDP

     

     

     

     

    hàng, bao gồm dữ liệu về lịch sử giao dịch và dữ liệu hành vi của khách hàng. Với cách thức này CDP cho phép hình thành một cái nhìn toàn diện về khách hàng, để hiểu rõ hơn và đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo thời gian thực. CDP là nền tảng cho phép thu thập dữ liệu khách hàng từ các nguồn bên trong và bên ngoài của tổ chức, dữ liệu có cấu trúc, bán cấu trúc, dữ liệu phi cấu trúc, dữ liệu trực tuyến. Cụ thể được lấy từ cơ sở dữ liệu trong các phân hệ nghiệp vụ của các hệ thống, CRM, các hành vi, các giao dịch trên website liên quan đến thương mại điện tử, trên các ứng dụng hoặc hệ thống giao dịch, các điểm bán hàng … Sau khi tích hợp các nguồn dữ liệu này vào “một nền tảng” (platform) hay “một cơ sở dữ liệu duy nhất” (a single database) với một “thông tin định danh khách hàng” (personally identifiable information), ngân hàng có thể sử dụng thông tin đó để lên kế hoạch quảng cáo, khuyến mãi, gửi tin nhắn và tùy chỉnh email gửi tới khách hàng. CDP cũng có thể được sử dụng để tuỳ chỉnh nội dung tương tác với khách hàng trên web khi khách hàng đăng nhập vào website.

     

    3.2.3. Nền tảng quản lý dữ liệu DMP

     

    DMP (Data Management Platform) là một nền tảng thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau

     

     

     

    Nguồn: Garry Lee, 2018

     

    cho phép lưu trữ, xử lý, phân tích, phân loại dữ liệu để hỗ trợ các nhà tiếp thị và quảng cáo có thể hướng tới các nhóm khách hàng mục tiêu.

     

    DMP không chỉ theo dõi các đối tượng, khách hàng đã đăng ký thông tin của họ trên các “phương tiện truyền thông và quảng cáo kỹ thuật số” (thư điện tử quảng cáo, quảng cáo trả cho mỗi lần nhấp, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, quảng cáo hiển thị, tiếp thị truyền thông xã hội, tiếp thị nội dung, tiếp thị liên kết…) mà còn theo dõi cả các khách hàng chưa đăng ký. Chính vì vậy DMP có thể tạo ra bộ hồ sơ người dùng lớn hơn CRM. Cụ thể DMP thu thập khách hàng “chưa đăng ký” hay còn gọi là “khách hàng ẩn danh” qua các “thẻ ẩn danh” như địa chỉ IP2, thiết bị và cookie3. DMP gắn thẻ các website để theo dõi thông tin về người dùng đã truy cập vào website đó và thời gian họ truy cập là bao nhiêu lâu. Sau đó DMP cho phép phân nhóm khách hàng dựa vào các đặc điểm hành vi của họ (A.Cross, 2018).

     

    Mối quan hệ giữa CDP – DMP và CRM

     

    2 Địa chỉ IP (IP là viết tắt của từ tiếng Anh: Internet Protocol- giao thức Internet) là một địa chỉ mà những thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng giao thức Internet.

     

    • Cookie là một dạng bản ghi được tạo ra và lưu lại trên trình duyệt khi người dùng truy cập một website.

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 59

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 6: Quá trình phát triển CRM, DMP, CDP

     

     

     

    Khi CDP thu thập và tích hợp dữ liệu từ DMP, CRM,… đã tạo ra một hồ sơ khách hàng liên tục và cung cấp cái nhìn toàn diện 3600 khách hàng. Mục đích của CDP là tập hợp tất cả dữ liệu khách hàng và gắn dữ liệu lại với nhau thành hồ sơ khách hàng thống nhất. Vì vậy, bộ phận tiếp thị có thể dễ dàng làm việc với hệ thống này. Có thể hình dung sự phát triển của CRM, DMP, CDP qua hình vẽ dưới đây:

     

    4. Minh họa và kết luận

     

    4.1. Minh họa

     

    Để minh hoạ rõ nét về cách thức thu thập sử dụng phương pháp DMP và lưu trữ dữ liệu của nền tảng dữ liệu khách hàng CDP, Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Công ty Mobio (http://mobio.vn) triển khai hoạt động mô phỏng lấy dữ liệu khách hàng từ các kênh khác nhau và kết hợp với dữ liệu của khách hàng đã được lưu trữ trong CRM để tạo ra “cơ sở dữ liệu tổng thể về khách hàng”. Giải pháp CDP trên thực tế được thể hiện ở mô hình vật lý dưới đây (Hình 7).

     

    Mô hình CDP ở đây không chỉ lấy dữ liệu trong (Inside) các phân hệ nghiệp vụ và hệ thống Core của ngân hàng mà còn thu thập từ bên thứ 3 (Outside) như: Telco, các website thương mại điện tử…

     

    Sau khi thu thập dữ liệu từ bên thứ 3 và các chiến dịch marketing thì dữ liệu sẽ được đổ về Cassandra, đây là cơ sở dữ liệu lưu trữ các sự kiện, mọi tương tác và dữ liệu phi cấu trúc. Dữ

     

     

    Nguồn: Safa, 2018

     

    liệu ở cơ sở dữ liệu Cassandra sẽ được tổng hợp phân tích thành dữ liệu có ý nghĩa được đưa về MongoDB, nơi lưu trữ Profiles, dữ liệu chắt lọc và có ý nghĩa trong việc phân tích dữ liệu. Còn các dữ liệu báo cáo, phục vụ nhanh truy vấn cho các lãnh đạo của ngân hàng sẽ được ghi lại trong My SQL.

     

    Các khách hàng sau khi được chấm điểm sẽ được phân loại và gửi thông tin sang hệ thống CRM để chăm sóc khách hàng. Kết quả của quá trình này sẽ được gửi ngược lại cho DMP để làm báo cáo, chạy tiếp thị lại (remarketing) và tinh chỉnh lại mô hình. Các báo cáo sẽ được tự động lưu trữ vào cơ sở dữ liệu MySQL, phục vụ báo cáo theo từng nghiệp vụ của ngân hàng. Như vậy với mô hình CDP như triển khai ở trên sẽ hợp nhất hồ sơ khách hàng thành một cơ sở dữ liệu khách hàng duy nhất. CDP có tính linh hoạt khi thu thập dữ liệu mức độ sự kiện thô mà không cần xác định trước các trường. Điều này cho phép truy vấn dữ liệu đã xác định trước. Thực nghiệm đã khằng định CDP là một hệ thống cho phép tạo ra cơ sở dữ liệu khách hàng bền vững và thống nhất. Hệ thống này có thể tiếp nhận dữ liệu từ các nguồn dữ liệu khác nhau và cung cấp quyền truy cập tới các hệ thống khác trong khi vẫn là trung tâm tiếp thị (marketer-centric).

     

    4.2. Kết luận

     

    CRM là hệ thống thông tin đóng vai trò quyết định trong hoạt động quản trị mối quan hệ khách hàng đối với các NHTM. Để có thể phát

     

    60 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    Hình 7: Mô hình thu thập và lưu trữ dữ liệu của CDP

     

     

     

     

     

     

     

     

    huy được vai trò CRM, các dữ liệu cần được tổ chức theo định hướng khách hàng với các nguồn dữ liệu được tích hợp, phân tích, tổ chức và lưu trữ từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau

     

     

     

     

     

     

     

    Nguồn: Mobio, 2019

     

    từ bên trong và bên ngoài ngân hàng. Các dữ liệu bên trong thường là những dữ liệu có cấu trúc đến từ các hệ thống Core-banking và các phân hệ nghiệp vụ khác. Các dữ liệu bên ngoài

     

    Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng                                                               Số 203- Tháng 4. 2019 61

     

    QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP

     

    thường là các dữ liệu bán cấu trúc hoặc phi cấu trúc đến từ các mạng xã hội, các thiết bị IoT, mạng viễn thông hoặc các nhà cung cấp dịch vụ. Để tích hợp và tổ chức lại được các nguồn dữ liệu này, các ngân hàng cần có: (1) một phương pháp luận phù hợp với việc quản trị dữ liệu khách hàng; (2) một kiến trúc tổng thể cho hệ thống thông tin có khả năng tích hợp

     

    Tài liệu tham khảo

     

    với Big Data; và (3) các công cụ, phương pháp cách thức tổ chức để xây dựng hồ sơ 360o khách hàng. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng Big Data vào CRM, cần phải các hướng dẫn cụ thể trong hoạt động triển khai trên nền tảng điện toán đám mây, và đặc biệt, cần hoàn thiện các khung pháp lý trong việc đảm bảo an toàn dữ liệu và tính riêng tư dữ liệu khách hàng ■

     

    1. Cross, 2018, “CDP vs. DMP: What’s the Difference?”, NGDATA.

     

    1. Dan Wolfson, Scott Schumacher, Ivan Milman, Eberhard Hechler, Martin Oberhofer, 2014, “Beyond Big Data: Using Social MDM to Drive Deep Customer Insight, IBM Press”.
    2. Garry Lee, 2018, “Why a Customer Data Platform (CDP) Will Be the Next Evolution of Your Marketing Automation”, truy cập từ: https://www.emailvendorselection.com/customer-data-platform-cdp-evolution-marketing-automation
    3. Hortonworks, 2019, “Data Strategy Scorecard Survey”

     

    1. Mobio, 2019, “Mô hình thu thập và lưu trữ dữ liệu của CDP”

     

    1. Market Research Future, 2019, “CRM Software Market Research Report – Global Forecast to 2023”, MRFR/ICT/3512-

     

    HCRR

     

    1. Safa, 2018, “The evolution of customer data management: DMP vs. CDP”, TREASURE DATA

    Thông tin tác giả

     

    Phan Thanh Đức, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Chu Thị Hồng Hải, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Đinh Trọng Hiếu, Tiến sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Chu Văn Huy, Thạc sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Ngô Thùy Linh, Thạc sĩ

     

    Email: [email protected]

     

    Khoa Hệ thống thông tin quản lý, Học viện Ngân hàng

     

    Summary

     

    Application of big data in customer relationship management for Vienamese Commercial Banks

     

    “Data is the new oil” and big data is expected as a huge resource for business. But how to take advantage of big data is still an problem for many Vietnamese commercial banks today. In this article, we consider the application of Big Data in customer relationship management (CRM) activities. We propose an architectural model of “Big Data – CRM” system in using a combination of MDM, CDP and DMP to integrate the unstructured data from multi chanels like social networks, mobile applications, webs… with structured data in banking information systems.

     

    Keywords: Big data, Customer relationship management (CRM), Master Data Management (MDM), Customer Data Platform (CDP), Data Management Platform (DMP)

     

    Duc Thanh Phan, PhD.

     

    Hai Thi Hong Chu, PhD.

     

    Hieu Trong Dinh, PhD.

     

    Huy Van Chu, MEc.

     

    Linh Thuy Ngo, MEc.

     

    Organization of all: Banking Academy of Vietnam

     

    62 Số 203- Tháng 4. 2019                                                                                         Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ph%C3%A1i-sinh-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-tr%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%8Ba-b%C3%A0n-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-Hu%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ

     

    DEVELOPING FOREIGN EXCHANGE DERIVATIVES AT COMMERCIAL BANKS IN HUE CITY

     

    Trần Thị Khánh Trâm1

     

    Ngày nhận: 29/5/2018             Ngày nhận bản sửa: 17/7/2018              Ngày đăng: 5/10/2018

     

    Tóm tắt

     

    Việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối ngày càng được quan tâm tại các ngân hàng thương mại (NHTM). Dựa trên cơ sở lý luận về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, số liệu được cung cấp tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016 và số liệu điều tra, nghiên cứu đã phân tích, đánh giá được thực trạng và xác định các nguyên nhân cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế đã được đề xuất.

     

    Từ khóa: công cụ phái sinh, FXD, ngân hàng thương mại, phái sinh ngoại hối.

     

    Abstract

     

    The development of derivative products is increasingly interested in commercial banks. Based on the theory of foreign exchange derivatives, data will be provided at branches of commercial banks in Hue city for the period from 2014 to 2016 and survey data, the study has analyzed and assessed the situation and identified the reasons that hindered the development of foreign exchange derivatives business in the branches of commercial banks in Hue city. Based on the research results, a number of solutions to develop foreign exchange derivatives at commercial banks in Hue city have been proposed.

     

    Keywords: commercial banks, derivatives, foreign exchange derivatives, FXD.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Ngày 02/10/2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT

     

    • NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối. Đây là xu hướng tất yếu, phản ánh sự hội nhập quốc tế và xu hướng tự do hóa thị trường tài chính Việt Nam. Các sản

    phẩm phái sinh ngoại hối không còn xa lạ gì với các thị trường phát triển, tuy nhiên, sản phẩm này còn nhiều mới mẻ đối với hầu hết các thành viên tham gia thị trường ở Việt Nam. Hai nghiệp vụ ra đời sớm nhất cũng như được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là giao dịch ngoại hối kỳ hạn và giao dịch ngoại hối hoán đổi. Giao dịch ngoại hối quyền chọn ra đời muộn hơn nhưng đang

     

    __________________________________________

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Huế

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    từng bước phát triển mạnh mẽ. Giao dịch phái sinh ngoại hối ngày càng mang lại nhiều nguồn lợi nhuận đáng kể cho nhiều NHTM ở Việt Nam, chẳng hạn theo báo cáo kinh doanh 2016 của HSBC Việt Nam công bố vào tháng 4 năm 2017, lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng này là 252 tỷ đồng, gồm 142 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối giao ngay và 110 tỷ đồng từ các hợp đồng phái sinh, tăng gấp 3 lần so với năm 2015. Doanh số giao dịch ngoại hối phái sinh hằng ngày ở Việt Nam vào khoảng 200 – 300 triệu USD/ ngày (2015)1. Con số này được đánh giá là tăng đáng kể so với cùng thời điểm năm 2013 (150 triệu USD/ngày)2. Quy mô giao dịch thị trường ngoại hối phái sinh ở Việt Nam từ 2011 – 2015 tăng đáng kể do cơ chế điểu chỉnh tỷ giá “thả nổi có quản lý” của Nhà nước. Tuy nhiên, so với thế giới, mức độ phát triển của giao dịch phái sinh ở Việt Nam hoàn toàn chỉ đang

     

    • giai đoạn đầu, với các công cụ cơ bản chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ…

    Trên địa bàn thành phố Huế, các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối vẫn còn sơ khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số ngân hàng thương mại mặc dù đã triển khai nghiệp vụ phái sinh ngoại hối nhưng không có giao dịch. Chính vì vậy, việc phát triển nghiệp vụ này tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế là cần thiết. Thông qua nghiên cứu này, nhóm tác giả hy vọng sẽ giải quyết các vấn đề của yêu cầu đặt ra.

     

    • http://vneconomy.vn/tai-chinh/mo-thi-truong-phai-sinh-ty-gia-cho-ngoai-hoi-them-sinh-dong-2016010608472720.htm
    • Đinh Thị Thanh Long (2014), Thực trạng giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng, số 151 – tháng 12/2014

    2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

     

    • Tổng quan nghiên cứu

     

    Chandra Thapa, Suman Neupane, Andrew Marshall (2016), các công cụ phái sinh ngoại hối (FXD) là những công cụ quan trọng để phòng ngừa rủi ro ngoại hối và tăng lợi nhuận của danh mục đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, khả năng sử dụng FXD có thể bị hạn chế bởi chi phí giao dịch cao hơn và rủi ro thanh khoản của FXD ở các thị trường hoặc các loại tiền tệ khác nhau giữa các quốc gia. Nhóm tác giả đã sử dụng một tập dữ liệu rộng lớn của 40 quốc gia và một số thông số kỹ thuật thay thế để khảo sát xem rủi ro thanh khoản thị trường của các công cụ phái sinh ngoại hối có liên quan đến quyết định phân bổ danh mục vốn cổ phần đa quốc gia. Nghiên cứu cho thấy rằng các nhà đầu tư có khuynh hướng phân bổ đầu tư vào các nước có thanh khoản FXD cao và có hiệu quả về chi phí để sử dụng FXD, cải cách quy định nhằm phát triển thị trường FXD có thể là một biện pháp chính sách tiềm năng để thu hút cao hơn mức đầu tư danh mục cổ phiếu đầu tư nước ngoài.

     

    Lee C.Adkins, David A.Carter, and W. Gary Simpson (2007), nghiên cứu kiểm tra tác động của bồi thường quản lý và quyền sở hữu đối với việc sử dụng các công cụ phái sinh ngoại hối của các công ty nắm giữ ngân hàng tại Mỹ. Nghiên cứu điều tra thực nghiệm với mẫu là 252 công ty lớn nắm giữ ngân hàng tại Mỹ, sử dụng mô hình kinh tế lượng để tách quyết định liệu có nên sử dụng các FXD từ quyết định mức độ chúng được sử dụng rộng rãi như thế nào. Kết quả cho thấy rằng bồi thường quản lý và quyền sử hữu là những yếu tố quan trọng trong các quyết định bảo hiểm rủi ro của các công ty ngân hàng, quyền sở hữu đối với việc sử dụng FXD khuyến khích các nhà quản lý các công ty lớn để phòng ngừa rủi ro.

     

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Stephen D. Makar, Stephen P. Huffman (2001), nghiên cứu này xem xét về công cụ phái sinh ngoại hối, thay đổi tỷ giá và giá trị của công ty: việc sử dụng các công cụ tài chính ngắn hạn của các công ty đa quốc gia Mỹ để quản trị rủi ro tiền tệ. Nghiên cứu cho thấy những thay đổi tỷ giá ở nước ngoài liên quan đến việc sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối ngắn hạn có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty đa quốc gia Mỹ. Sự thay đổi tỷ giá góp phần giải thích lợi ích bất thường của người sử dụng FXD thấp, bất kể quy mô công ty hay mức độ tham gia của nước ngoài.

     

    Chris Adcock, Xiuping Hua, Khelifa Mazouz & Shuxing Yin (2014), nghiên cứu này khảo sát tác động của các hoạt động phái sinh của các ngân hàng Trung Quốc có ảnh hưởng đến lãi suất và thay đổi lãi suất. Dữ liệu nghiên cứu là tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lãi suất cho 16 ngân hàng Trung Quốc được liệt kê trong thời gian từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2012. Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng Trung Quốc đang phải đối mặt với biến động tỷ giá hối đoái và lãi suất không phải là không đổi theo thời gian. Mô hình đa biến dựa trên GARCH với các thông số thay đổi theo thời gian, tất cả các ngân hàng mẫu đều có ít nhất là một lần quan trọng hàng năm tiếp xúc với thay đổi tỷ giá hối đoái và lãi suất. Nhóm tác giả thấy rằng việc sử dụng các công cụ tài chính phái sinh làm giảm rủi ro về ngoại hối của các ngân hàng nhưng không ảnh hưởng đến rủi ro lãi suất; các sản phẩm phái sinh có thể được sử dụng như một phần của hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng, do đó giúp ổn định hệ thống ngân hàng.

     

    Nguyễn Phước Kinh Kha (2015), luận án đã trình bày tổng thể các điều kiện để phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa tại Việt Nam, thực trạng hoạt động các sàn giao dịch hàng hóa tại

    Việt Nam, khảo sát nhà cung cấp sản phẩm phái sinh hàng hóa và phía có nhu cầu cũng như các chuyên gia. Luận án đã đề xuất được các giải pháp toàn diện để phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa phi tài chính tại Việt Nam.

    Ngô Thị Thùy Linh (2015), nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam trong phòng ngừa rủi ro, chỉ ra được các nguyên nhân cản trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh từ phía các doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi.

     

    Đinh Thị Thanh Long (2013), trình bày bức tranh toàn cảnh phân tích thực trạng giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam, nhưng tìm ra được các nguyên nhân, do đó chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể để phát triển giao dịch ngoại hối phái sinh ở Việt Nam.

    Nguyễn Thị Loan (2013) đã đánh giá thực tế về sự phát triển các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất được các biện pháp cụ thể góp phần thúc đẩy sự phát triển của các công cụ này tại Việt Nam.

     

    Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy đã có không ít đề tài nghiên cứu về công cụ phái sinh và phái sinh ngoại hối, tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và khá mới mẻ nên các nghiên cứu trên chỉ đi vào nghiên cứu tổng thể về công cụ phái sinh và phái sinh ngoại hối nói chung. Đặc biệt, cho đến nay, trên địa bàn thành phố Huế chưa từng có công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể và đầy đủ về việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn.

     

    2.2. Cơ sở lý thuyết

     

    Theo Don M. Chance và Robert Brooks trong “An introduction to derivatives and risk management”, tất cả các công cụ phái sinh đều dựa trên thành quả ngẫu nhiên của một tài sản nào đó. Điều này lý giải tại sao sử dụng thuật

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    ngữ phái sinh là thích hợp. Công cụ phái sinh chuyển hóa giá trị của mình từ thành quả của một tài sản khác. Tài sản khác này thường được xem là tài sản cơ sở. Ví dụ, tài sản cơ sở có thể là cổ phiếu, trái phiếu, tiền, hàng hóa,…

    Công cụ phái sinh ngoại hối là một công cụ tài chính, bắt nguồn từ một tài sản cơ sở (ngoại hối) đã có từ trước đó. Các công cụ phái sinh ngoại hối gồm: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối tương lai.

     

    Các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại ngân hàng thương mại:

     

    • Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn (Forward Operation): là nghiệp vụ trong đó hai bên cam kết mua, bán với nhau một khoản ngoại tệ nhất định theo một mức tỷ giá được xác định ngay khi hợp đồng được ký kết, song việc chuyển giao ngoại tệ sẽ được thực hiện vào một thời điểm trong tương lai đã được xác định trước.

     

    • Nghiệp vụ hoán đổi ( Swaps Operation): bao gồm hoán đổi tiền tệ và hoán đổi lãi suất.

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ (hay giao dịch hoán đổi ngoại hối) là sự kết hợp của một giao dịch trao ngay với một giao dịch kỳ hạn – đổi một lượng cố định ngoại tệ này lấy một lượng biến đổi ngoại tệ khác trong thời gian xác định bằng cách cùng một lúc ký hai hợp đồng: một hợp đồng ký mua – bán giao ngay và một hợp đồng bán – mua kỳ hạn tương ứng.

    Giao dịch hoán đổi lãi suất là một thỏa thuận trao đổi tiền lãi dựa trên khoản vốn gốc cho một khoản thời gian nhất định. Đây là công cụ phái sinh phổ biến nhất để quản lý rủi ro lãi suất.

     

    • Nghiệp vụ quyền chọn (Options operation): là một công cụ tài chính mà cho phép người mua có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua (call) hay bán (put) một số lượng tiền tệ ở

    một mức giá và thời hạn được xác định trước.

     

    • Nghiệp vụ tương lai (Futures operation): là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại một thời điểm cố định được xác định bởi trung tâm giao dịch.

     

    Dựa trên khái niệm phát triển của phép biện chứng duy vật và đồng quan điểm của Bùi Thụy Nam (2010) có thể hiểu: “Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại chính là quá trình đưa dần những công cụ phái sinh ngoại hối vào giao dịch tại các ngân hàng thương mại nhằm phòng ngừa rủi ro, tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư; song hành với việc đưa công cụ phái sinh ngoại hối vào giao dịch đó là việc tăng trưởng quy mô giao dịch thông qua số lượng hợp đồng giao dịch, giá trị hợp đồng, số lượng thành viên tham gia vào các giáo dịch phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại tăng lên,… Trên cơ sở đó cũng tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm của các NHTM đáp ứng nhu cầu đầu tư của xã hội, của nền kinh tế”.

     

    Nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu các nguyên nhân cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế dựa trên các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Kinh Kha và Ngô Thị Thùy Linh, để từ đó đề xuất các giải pháp cho việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối trên địa bàn thành phố Huế.

     

    Về phía nhà cung cấp dịch vụ phái sinh ngoại hối, các nhóm nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh mà tác giả Nguyễn Phước Kinh Kha đã khảo sát từ phía các nhà cung cấp giao dịch phái sinh đó là: “Cơ sở pháp lý chưa đảm bảo giao dịch, sản phẩm phái sinh chưa có lợi cho người tham gia, trình độ hiểu biết về hoạt động phái sinh còn kém, không có nhu cầu về sản phẩm phái sinh, khó tham gia

     

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    giao dịch”. Về phía khách hàng, các nguyên nhân được xác định cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh từ phía các doanh nghiệp ở Việt Nam trong nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thùy Linh đó là: “Doanh nghiệp chưa am hiểu; biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn; tâm lý ngại trách nhiệm; doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về sản phẩm phái sinh; sản phẩm không đáp ứng nhu cầu; quy định hoạch toán thuế bất lợi; pháp lý chưa rõ ràng”.

     

    Kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước, hai mẫu bảng hỏi được thiết kế riêng, phù hợp với 2 nhóm đối tượng trên, bao gồm nhiều câu hỏi nhỏ và câu hỏi mở, tập trung khai thác thông tin nhằm xác định đâu là các nguyên nhân cản trở và thúc đẩy đối với việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các NHTM ở thành phố Huế.

     

    2.3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Cách tiếp cận: Nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập và khai thác ý kiến đánh giá từ các đối tượng liên quan đến nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế.

    Phương pháp nghiên cứu:

     

    • Số liệu thứ cấp: số liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế, bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước liên quan đến việc phát triển nghiệp vụ ngoại hối phái sinh tại các ngân hàng thương mại.
    • Số liệu sơ cấp: được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với 2 mẫu điều tra:

    Mẫu 1: Điều tra cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm mảng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối hoặc có biết đến nghiệp vụ này tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế.

     

    Mẫu 2: Điều tra khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế. Đối tượng điều tra được xác định theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện.

    • Sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi giúp phát triển các giao dịch phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế.

    3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

     

    3.1. Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế

    • Về công cụ giao dịch

    Hiện nay, các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế đã triển khai các sản phẩm phái sinh theo sự điều hành của Hội sở chính. Các sản phẩm phái sinh đang áp dụng tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn bao gồm các công cụ phái sinh cơ bản: hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và quyền chọn.

     

    Các sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ thực hiện hợp đồng,… Sự khác biệt chủ yếu là số lượng ngoại tệ giao dịch tối thiểu trong hợp đồng quyền chọn tiền tệ.

     

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 1. Một số quy định về công cụ phái sinh ngoại hối đang áp dụng tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế tính đến 31/12/2016

    Tiêu chí

    Kỳ hạn

    Hoán đổi

    Quyền chọn

    Khách hàng

    – Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp

    – Doanh nghiệp

     

    – Doanh nghiệp và

     

    – Doanh nghiệp và cá nhân: (Eximbank,

     

    cá nhân: (Eximbank,

     

    ACB, Sacombank, Maritimebank)

     

    ACB,  Sacombank,

       
     

    Maritimebank)

       

    Loại tiền giao dịch

    7 ngoại tệ mạnh AUD, GBP, JPY,

    7 ngoại tệ mạnh AUD, GBP, JPY,

     

    CAD, EUR, CHF, USD với VND

    CAD, EUR, CHF, USD. Không bao

         

    gồm quyền chọn giữa USD và VND

           

    Số lượng ngoại tệ

    Không quy định

     

    Giá trị hợp đồng tối thiểu là 100.000

    giao dịch

       

    USD   (Eximbank);   50.000   USD

         

    (Maritime Bank, ACB); tương đương

         

    10.000  USD  hoặc  100  triệu VND

         

    (Techcombank)

           

    Thời   hạn   hợp

    Từ 3 đến 365 ngày

       

    đồng

         

    Mức ký quỹ

    – Từ 0 – 10% trị giá hợp đồng

    – Tính theo tỷ lệ % trị giá hợp đồng

     

    – Tính theo tỷ lệ % trị giá hợp đồng

     
     

    (Sacombank)

       
             

    Nguồn: Các chi nhánh NHTM ở Huế́

    Các sản phẩm phái sinh ngoại hối đang áp

    – Về doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối

    dụng ở các ngân hàng đang ở giai đoạn đầu,

    Mặc dù tất cả các chi nhánh NHTM ở thành

    chưa có tính phức tạp. Các chi nhánh chủ yếu

    phố Huế đều có sản phẩm phái sinh ngoại hối,

    sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối để làm

    tuy nhiên hầu hết các ngân hàng đều không

    quen với sản phẩm, học hỏi kinh nghiệm, vừa

    có phát sinh giao dịch, chỉ trừ một vài ngân

    kiếm lời chút ít bởi nền kinh tế của tỉnh kém sôi

    hàng như: Vietcombank Huế, ACB Huế và

    động, hoạt động xuất nhập khẩu chưa phát triển

    Maritimebank Huế.

         

    so với các tỉnh thành khác.

                 

    Bảng 2. Doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối của các chi nhánh NHTM

     
     

    trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016

       
                 

    Đơn vị̣ tính: nghìn USD

    Chỉ tiêu

     

    Năm 2014

    Năm 2015

    Năm 2016

    2015/2014

    2016/2015

             
     

    +/-

    %

    +/-

    %

               
                       

    Vietcombank Huế

     

    2.950

    2.800

    3.000

     

    150

    -5,08

    200

    7,14

                       

    Maritimebank Huế

     

    1.750

    2.600

    3.100

     

    850

    48,57

    500

    19,23

                       

    ACB Huế

     

    950

    1.200

    1.100

     

    250

    26,32

    -100

    8,33

                       

    Nguồn: Các chi nhánh NHTM ở Huế́

     

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối tại Maritimebank tăng dần qua các, năm tuy nhiên về tốc độ tăng trưởng thì lại giảm, trong khi đó Vietcombank Huế và ACB Huế tăng giảm qua các năm, riêng ACB Huế đang có xu hướng giảm trở lại. Năm 2016, Maritimebank vươn lên vị trí dẫn đầu về doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối. Nhìn chung, hoạt động phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM ở Huế đang kém phát triển, tổng doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối chưa đến 7% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ (theo chi nhánh NHNN Huế).

     

    3.2. Khảo sát các nhân viên ngân hàng Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát các chi

     

    nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế và đã thu về được 41 phiếu trả lời trong đó có 35 phiếu hợp lệ. Bằng phương pháp thống kê mô tả giá trị trung bình (mean) của các nhân tố nhằm mục tiêu cuối cùng tìm hiểu xem nhân tố nào cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, đồng thời có căn cứ để đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi.

     

    Theo thống kê, đa số nhân viên được hỏi đều làm việc khá lâu năm trong ngân hàng, thời gian làm việc trên 5 năm chiếm hơn 55% số phiếu được hỏi, về trình độ học vấn của

    nhân viên được hỏi chủ yếu là trình độ đại học (60%) và trên đại học (37,14%). Nhìn chung, nhóm nhân viên này thường là những người có trình độ, kinh nghiệm làm việc, từ đó có thể đưa ra các ý kiến đánh giá phù hợp và có tính tin cậy cao.

    Mặc dù đối tượng điều tra là các nhân viên ngân hàng chịu trách nhiệm mảng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối hoặc có biết đến nghiệp vụ này, nhưng trên địa bàn chỉ có một số ít thực sự am hiểu về nghiệp vụ này. Thống kê về mức độ hiểu biết về sản phẩm phái sinh ngoại hối của nhân viên ngân hàng thì giá trị trung bình đều dưới 2,34 cho thấy hầu hết các nhân viên ngân hàng vẫn chưa am hiểu về sản phẩm phái sinh ngoại hối, chưa hiểu rõ lợi ích cũng như cách sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc quảng bá sản phẩm đến với khách hàng. Đồng thời cũng cho thấy các ngân hàng chưa thật sự quan tâm và đầu tư đúng mức để triển khai có hiệu quả các công cụ phái sinh ngoại hối. Để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, việc đào tạo về sản phẩm một cách bài bản, thường xuyên cho các nhân viên, cán bộ trong ngân hàng là điều hết sức cần thiết.

     

    Hình 1. Mức độ hiểu biết về sản phẩm phái sinh ngoại hối của ngân hàng

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Về các nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại ở thành phố Huế

    Theo phân tích trên, hầu hết ý kiến cho rằng sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa thu hút được nhiều người tham gia. Điều này được lý giải phần nào thông qua việc phân tích nguyên nhân

    cản trở việc phát triển phái sinh ngoại hối tại thành phố Huế.

     

    Hình 2 cho thấy nguyên nhân hàng đầu cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng theo khảo sát chính là do trình độ hiểu biết của khách hàng về sản phẩm phái sinh ngoại hối còn hạn chế (với mean 2,91) và chưa có nhu cầu của khách hàng về hoạt động này tại địa bàn (với mean 2,66).

     

    Hình 2. Các nguyên nhân cản trở việc phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế

     

     

     

     

    Hầu hết ý kiến điều không đồng ý sản phẩm phái sinh ngoại hối chưa có lợi cho khách hàng tham gia (với mean 1,60). Như vậy, sản phẩm phái sinh ngoại hối về cơ bản đã đã có lợi cho khách hàng tham gia vậy làm sao để thu hút khách hàng tiềm năng, điều này đòi hỏi phía cung phải xác định rõ đối tượng khách hàng và có các biện pháp quảng bá, thu hút khách hàng.

     

    Về mức độ đồng ý của nhân viên ngân hàng với những đề xuất nhằm phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn.

     

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

    Thông qua việc phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia và tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước, nhóm tác giả đã tập hợp các đề xuất nhằm phát triển các sản phẩm phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn. Qua khảo sát ý kiến các nhân viên ngân hàng trực tiếp tham gia mảng phái sinh ngoại hối và có liên quan hoặc biết đến sản phẩm này, hầu hết đều đồng ý với 7 đề xuất mà nghiên cứu đã đề ra với mean đều đạt trên 2,34, chỉ duy nhất việc hoàn thiện cơ sở pháp lý lại ít được đồng ý hơn cả với mean chỉ đạt 2,29.

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Hình 3. Mức độ đồng ý với những đề xuất nhằm phát triển

     

    sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng

     

     

     

     

     

     

    Qua khảo sát, có thể thấy có 2 đề xuất được đông đảo nhân viên ngân hàng đồng ý để phát triển sản phẩm phái sinh ngoại hối tại ngân hàng là tăng cường hoạt động marketing về sản phẩm (mean 2,97) và tăng cường đào tạo về sản phẩm (mean 2,94), các chi nhánh nên lưu ý để triển khai thực hiện.

     

    3.3. Khảo sát khách hàng

     

    Nhóm tác giả tiến hành khảo sát các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến ngoại hối trên địa bàn thành phố Huế và thu được 25 phiếu hợp lệ, với 64% (tương ứng với 16 doanh nghiệp) thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ, 28% kinh doanh xuất nhập khẩu và 8%

     

     

     

     

     

    Nguồn: Kế́t quả xử lý́ số liệ̣u điều tra

     

    còn lại hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, có 24 doanh nghiệp (tức 96%) trả lời hoạt động của họ có liên quan đến ngoại hối. Mặc dù gần 100% số doanh nghiệp được điều tra đều hoạt động có liên quan đến ngoại hối nhưng khi được hỏi về rủi ro tỷ giá thì chỉ có 12 doanh nghiệp (48%) trả lời rằng họ nhận thức được rủi ro tỷ giá thực sự, trong khi đó có 44% doanh nghiệp không quan tâm và có 8% doanh nghiệp còn chưa từng biết đến loại rủi ro này, điều này cho thấy các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn chưa thấy được tầm quan trọng của việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối.

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 3. Nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Điều kiện sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Trả lời

    Tỷ trọng

    %

       

    trong mẫu

         

    Tổ chức hội thảo, hội nghị giới thiệu sản phẩm

    17

     

    28.8%

    77.3%

    Doanh nghiệp có được sự lựa chọn tỷ giá mong muốn

    9

     

    15.3%

    40.9%

    Giảm mức ký quỹ/phí

    15

     

    25.4%

    68.2%

    Nhân viên ngân hàng tư vấn

    18

     

    30.5%

    81.8%

    Tổng

    59

     

    100.0%

    268.2%

     

     

    Qua Bảng 3 cho thấy, muốn doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại hối thì có đến 18 doanh nghiệp (tương ứng chiếm 81,8% doanh nghiệp) cho là họ cần nhân viên ngân hàng tư vấn nhiều hơn nữa. Điều này là dễ hiểu bởi vì các sản phẩm này thực sự phức tạp và doanh nghiệp không thể sử dụng khi mà họ chưa am hiểu về nó. Do đó, các ngân hàng cần chú trọng hơn nữa vấn đề này khi giới thiệu sản phẩm đến cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Nhân tố thứ hai được các doanh nghiệp đánh giá là cần ngân hàng thực hiện đó là tổ chức các hội thảo, hội nghị để giới thiệu sản phẩm này (có 17 doanh nghiệp

    Nguồn: Kế́t quả tổng hợp từ xử lý́ SPSS

     

    yêu cầu chiếm 77,3%). Hiện nay, với xu hướng hội nhập sâu vào thương mại thế giới thì các doanh nghiệp cũng hết sức năng động trong kinh doanh, ngân hàng là người luôn sát cánh cùng doanh nghiệp trong nhiều hoạt động nên rất cần những hội thảo như vậy để giúp doanh nghiệp tự tin hơn khi hội nhập. Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng yêu cầu được giảm mức ký quỹ và phí khi thực hiện các giao dịch này để tiết giảm chi phí cho họ (68,2% doanh nghiệp). Cũng từ kết quả cho thấy việc được lựa chọn tỷ giá mong muốn cũng được các doanh nghiệp khá quan tâm nhưng không đáng kể.

     

    Bảng 4. Các nguyên nhân cản trở doanh nghiệp sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối

     

    Nguyên nhân

    Giá trị

       

    Biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn

    20

       

    Tâm lý ngại trách nhiệm

    9

       

    Doanh nghiệp chưa nhận thức đủ về sản phẩm

    22

       

    Sản phẩm không đáp ứng nhu cầu

    6

       

    Quy định pháp lý chưa rõ ràng

    5

       

    Quy định hạch toán thuế bất lợi cho doanh nghiệp

    5

       

    Thiếu dịch vụ hỗ trợ từ phía ngân hàng

    21

       

    Chưa có nhu cầu bảo hiểm biến động tỷ giá

    6

       

    Sản phẩm quá phức tạp, khó tham gia

    16

       

    Lý do khác

    0

       

    Nguồn: Kế́t quả tổng hợp từ xử lý́ SPSS

     

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bảng 4 cho thấy nguyên nhân được lựa chọn nhiều nhất là “Doanh nghiệp chưa nhận thức đủ về sản phẩm” (22 doanh nghiệp) và “Thiếu dịch vụ hỗ trợ từ phía ngân hàng” được 21 doanh nghiệp lựa chọn. 20 doanh nghiệp cho rằng “Biến động lãi suất, tỷ giá không đủ lớn”. 16 doanh nghiệp cho rằng “Sản phẩm quá phức tạp, khó tham gia”. Các nguyên nhân còn lại không được lựa chọn nhiều, chứng tỏ các nguyên nhân nói trên có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc sử dụng sản phẩm phái sinh ngoại hối của các doanh nghiệp trên địa bàn.

     

    Như vậy, một số kết quả đạt được trong việc triển khai các công cụ tài chính tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế như: tổng doanh số giao dịch phái sinh ngoại hối có xu hướng tăng dần qua các năm từ 2014 đến 2016, có nhiều loại sản phẩm phái sinh được đưa vào triển khai áp dụng với mức ký quỹ và phí hợp lý, sản phẩm phái sinh đã góp phần bảo hiểm rủi ro tỷ giá và giúp nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận. Bên cạnh đó, thực trạng phát triển sản phẩm này tại địa bàn vẫn còn gặp không ít trở ngại, bất cập, cản trở sự phát triển của nó trên địa bàn đó là:

     

    • Các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các chi nhánh đều chủ yếu là giao dịch giao ngay, còn giao dịch phái sinh chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (chưa đến 7% tổng giao dịch).
    • Các sản phẩm phái sinh ngoại hối mới ở giai đoạn ban đầu, còn giản đơn, hơn nữa, các quy định chặt chẽ của NHNN, các sản phẩm ngoại hối phái sinh chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ thực hiện hợp đồng,… Sự khác biệt chủ yếu là

    số lượng ngoại tệ giao dịch tối thiểu trong hợp đồng quyền chọn tiền tệ.

    • Việc hoạch định tỷ giá, mức ký quỹ, phí,… điều do Hội sở chính của từng NHTM đảm nhận, chi nhánh chỉ thực hiện theo và hầu hết không tự điều chỉnh được.
    • Phần lớn các chi nhánh đều chưa quan tâm

    và đầu tư đúng mức để triển khai có hiệu quả các công cụ phái sinh ngoại hối nên chưa thu hút được khách hàng tham gia.

     

    • Hầu hết nhân viên ngân hàng và khách hàng đều chưa có sự am hiểu về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, chưa biết cách thức giao dịch.

    4. Kết luận

     

    Tóm lại, giao dịch phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn thành phố Huế mới chỉ ở giai đoạn sơ khai, đơn giản nhất. Từ kết quả phân tích và thảo luận ở trên, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh NHTM trên địa bàn như sau:

     

    • Tăng cường hoạt động marketing quảng bá về sản phẩm phái sinh ngoại hối, không chỉ hướng đến khách hàng doanh nghiệp mà cả khách hàng cá nhân có nhu cầu đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận.
    • Tăng cường đào tạo về sản phẩm phái sinh ngoại hối cho cả phía các nhân viên tại ngân hàng và cả khách hàng.
    • Xây dựng hệ thống thông tin về sản phẩm.
    • Tạo điều kiện để khách hàng dễ dàng tham gia giao dịch.
    • Hoàn thiện cơ chế hoạt động và cơ chế giao dịch
    • Phát triển hạ tầng công nghệ.
    • Đa dạng hóa sản phẩm phái sinh ngoại hối, tạo nhiều tiện ích hấp dẫn cho khách hàng.

     

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Anh:

     

    Chandra Thapa, Suman Neupane, Andrew Marshall (2016), Market liquidity risks of foreign exchange derivatives and cross-country equity portfolio allocations, J. of Multi. Fin. Manag. 34 (2016) 46–64.

    Chris Adcock, Xiuping Hua, Khelifa Mazouz & Shuxing Yin (2014), Derivative activities and Chinese banks’ exposures to exchange rate and interest rate movements, The European Journal of Finance.

    Don M.Chance, Robert Brooks Anintroduction to Derivatives and Risk management, 9th edition, 2013, South-Western, Cengage Learning.

     

    Lee C.Adkins, David A.Carter, and W. Gary Simpson (2007), Managerial incentives and the use of foreign-exchange derivatives by banks, The Journal of Financial ressearch, vol.30.No.3, pages 399-413, fall 2007.

    Stephen D. Makar, Stephen P. Huffman, Foreign exchange derivatives, exchange rate changes, and the value of the firm: U.S. multinationals’ use of shortterm financial instruments to manage currency risk, Journal of Economics and Business 53 (2001) 421–437

     

    Tiếng Việt:

     

    Đinh Thị Thanh Long (2014), Thực trạng giao dị̣ch ngoại hối phái sinh ở Việ̣t Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng, số 151 – tháng 12/2014.

     

    Báo cáo kết quả kinh doanh của các Chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế qua 3 năm từ 2014 đến 2016.

     

    Bùi Thụy Nam (2010), Phát triể̉n công cụ phái sinh trên thị̣ trườ̀ng chứng khoán Việ̣t Nam, Đại học Đà Nẵng.

     

    Ngô Thị Thùy Linh (2015), Thực trạng sử dụng công cụ tài chính phái sinh ở Việ̣t Nam trong phòng ngừa rủi ro, Khoa Kinh tế

     

    Nguyễn Phước Kinh Kha (2015), Phát triển giao dịch phái sinh hàng hóa phi tài chính tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Nguyễn Thị Loan (2013), Phát triể̉n công cụ tài chính phái sinh tiền tệ̣ tại các ngân hàng thương mại Việ̣t Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng

     

     

     

    62


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-r%E1%BB%A7i-ro-thanh-kho%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu thực nghiệm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    THE IMPACT OF LIQUIDITY RISK ON BANK PERFORMANCE EFFICIENCY: EMPIRICAL EVIDENCE IN VIETNAM

     

    Trầm Thị Xuân Hương1, Trần Thị Thanh Nga2

     

    Ngày nhận: 24/1/2018             Ngày nhận bản sửa: 23/8/2018              Ngày đăng: 5/10/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Bankscope và phương pháp SGMM nhằm phân tích tác động của rủi ro thanh khoản (RRTK) đến hiêu qua hoat đông kinh doanh (HQHĐKD) ngân hang, trường hợp Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến HQHĐKD ngân hàng, rủi ro tín dụng tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với biến động của cấu trúc tài sản và HQHĐKD ngân hàng trường hợp tại Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính. Điều này gợi mở hàm ý chính sách quan trọng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam để kiểm soát RRTK nhằm ổn định hoạt động ngân hàng.

     

    Tư khoa: rủi ro thanh khoan, hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng.

     

    Abstract

     

    Bankscope data and Generalized Method of Moments (SGMM) method were used to analyze the impact of liquidity risk on bank performance efficiency, in the case of Vietnam in the period 2004-2015. We also considered another factors impact on bank performance besides liquidity risk. Results show that bank’s performance efficiency depends positively on liquidity risk, on share of own bank’s capital of the bank’s total assets, on change in GDP, on change in inflation and negatively on size of banks, credit risk. In another hand, the results of the study did not find statistically evidence of the impact of financial crisis on bank performance efficiency in Viet Nam. This suggests an important policy implication for commercial banks in Vietnam to control liquidity risk in order to stabilize banking operations.

     

    Keywords: liquidity risk, performance efficiency, bank.

     

    1. Giới thiệu

     

    Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất trong các rủi ro của ngân hàng, không chỉ đe dọa sự an toàn của từng ngân hàng thương mại, mà

     

    __________________________________________

    còn liên quan đến ổn định của cả hệ thống ngân hàng (Eichberger, Jürgen và Martin Summer, 2005). Cac nghiên cưu vê RRTK đươc xem la môt trong cac loai rui ro ngân hang như rui ro tin

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    dung hoăc la môt trong những yêu tô tac đông đên hiệu qua hoat đông kinh doanh ngân hang (Bourke,1989; Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cưu tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK (Bonfim và Kim, 2014; Bunda và Desquilbet, 2008; Gibilaro, Giannotti, và Mattarocci, 2010; Vodova, 2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK.

     

    Có khá nhiều nghiên cưu thưc nghiêm liên quan đến mối liên hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu ở khu vực châu Phi (Sayedi, S. N.,2014; Athanasoglou va công sư, 2006; Ajibike, John O. và Aremu, Olusegun S.,2015); khu vực châu Á (Shen va công sư,2009); khu vực châu Âu (Bourke,1989; Poposka và Trpkoski,2013; Goddard và cộng sự,2004; Kosmidou và cộng sự, 2005) cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng. Một số nghiên cứu khác

     

    • khu vực châu Á (Chen và cộng sự,2001, Lee và Hsieh,2013); khu vực châu Phi (Kutsienyo, 2011; Bassey và Moses, 2015) lại cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa RRTK và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một số nghiên cứu (Roman và Sargu,2015; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014) không cho thấy mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng hoặc mối quan hệ này có ý nghĩa nhưng chiều hướng tác động phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế và mô hình sử dụng như nghiên cứu (Naceur và Kandil, 2009; Ferrouhi, 2014). Đôi vơi Viêt Nam, đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đo lường các yếu tố tac đông đên HQHĐKD ngân hàng (Liễu Thu Truc và Võ Thành danh, 2012) sử dụng phương pháp phân tích tổng năng suất nhân tố và phương pháp phân tích bao dữ liệu để chỉ ra kết quả rằng hiệu quả kinh doanh NHTM Việt Nam là do yếu tố phi hiệu quả về mặt công nghệ, quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ và sự tiêu tốn một cách lãng phí các yếu tố đầu vào: lao động, vốn, công nghệ,… Nghiên cứu của (Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà, 2012) về hiệu quả

    hoạt động của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á. Cac nghiên cưu vê cac nhân tô tac đông đên hoat đông kinh doanh ngân hang như hoat đông cho vay thông qua chi tiêu dư nơ cho vay trên tông tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008), hoat đông huy đông vôn thông qua chi tiêu huy đông vôn trên tông cho vay (Nguyên Thi Loan

     

    • Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn chu sơ hưu (Nguyên Thi Loan & Trân Thi Ngoc Hanh, 2013; Nguyên Viêt Hung, 2008); Quy mô vôn tai san (Nguyên Viêt Hung, 2008); Tôc đô tăng trương kinh tê (Nguyên Minh Sang, 2013); Ty lê lam phat (Nguyên Minh Sang, 2013). Có thể thấy, cac nghiên cưu tiếp cận riêng vê tac đông cua RRTK đên HQHĐKD ngân hang chưa đươc tim thây trong cac nghiên cưu trươc đây.

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, nghiên cứu thực nghiệm này thể hiện sự đóng góp trên các khía cạnh khác nhau: Thứ nhất, đóng góp nhất định về lý thuyết liên quan đến RRTK va HQHĐKD ngân hang. Thứ hai, bổ sung kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng Việt Nam. Thứ ba, đề xuất các gợi ý chính sách kiểm soát RRTK và đảm bảo HQHĐKD ngân hàng.

    2.           Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

    • Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản

     

    Theo Rudolf Duttweiler1, thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn, liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ, nếu ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu

     

    • Rudolf Duttweiler: “Quản lý thanh khoản trong

    ngân hàng: Phương pháp tiếp cận từ trên xuống”, NXB Tổng hợp TPHCM, tr.23

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến RRTK. Bonfim và Kim (2012) cho răng sự phức tạp của vai tro trung gian tai chinh của ngân hàng lam phat sinh rui ro nguy hiêm đo la RRTK. Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực han chê của mình trong việc cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng đê tài trợ thanh khoản nhăm đap ưng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của họ. Hơn nưa, phần lớn các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng này thường được gắn liền với nghia vu nơ phai tra trong các hình thức nhân tiền gửi. Sư không phu hơp vê ky han đa dân đên rui ro thanh khoan cho cac ngân hang (Diamond và Dybvig, 1983). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) cho răng RRTK la rui ro ma ngân hang không co kha năng gia tăng quy trong tai san hoăc nghia vu nơ vơi chi phi thâp nhât. Brunnermeier (2009) nhân manh răng nêu cac ngân hang không quản lý RRTK phu hơp, chăc chăn các ngân hàng phải đối mặt với một cú sốc thanh khoản, phai thường xuyên bán tháo tài sản thanh khoản tích trữ và giảm cho vay đối với nền kinh tế. Những hành động này se lam gia tăng khả năng gián đoạn thị trường và ngân hang phai đôi măt vơi các cú sốc thanh khoản, dẫn đến một sự suy giảm kéo dài trong thanh khoản thị trường, điêu nay ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế thực. Có thể thấy rằng, vấn đề RRTK của từng NHTM cũng như RRTK hệ thống của toàn hệ thống ngân hàng ít nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản trị ngân hàng cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 xảy ra. Chính vì vậy, việc đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng là cần thiết và có giá trị thực tiễn.

     

    2.2. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng thường được đo lường bằng khả năng sinh lợi.

    Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng hay khả năng sinh lợi của ngân hàng cơ bản dựa trên 2 lý thuyết: lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) và ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure).

     

    2.2.1. Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power)

     

    Lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – market power) có hai hướng tiếp cận chính: lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure-Conduct-Performance) và lý thuyết Quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative market power). Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure – Conduct – Performance) cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành

     

    • của công ty và hành vi quyết định kết quả của thị trường, chẳng hạn như khả năng sinh lợi, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng. Đặc biệt nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hành
    • dẫn đến kết quả nền kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, J. S.,1951). Lập luận theo lý thuyết SCP, thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao và lãi suất huy động càng thấp vì mức độ cạnh tranh thấp đi. Trong khi đó, lý thuyết RMP (Relative market power) gợi ý rằng, các công ty có thị phần lớn và có các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b). Chẳng hạn một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Ly thuyêt hàm ý linh vưc nao cang co thi trương tâp trung thi kha năng sinh lơi cang cao do lơi ich tư sưc manh thi trương mang lai. Do

    đo, tôn tai môi quan hê tương quan dương giưa lơi nhuân va quyền lực thi trương (Maudos và de Guevara, 2007), gia thuyêt ham y quyền lực thi trương gia tăng thông qua hiêu qua quy mô lam tăng hiêu qua cua cac ngân hang. Hay noi

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    cach khac, quy mô cang tăng lam tăng lơi nhuân cua cac ngân hang.

    2.2.2. Lý thuyết Cấu trúc – Hiệu qua (ES – efficient structure)

     

    Ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – efficient structure), đươc đê xuât bởi Demsetz (1973) cho răng cac ngân hang hiêu qua nhât gianh đươc ca lơi nhuân va thi phân cao hơn; cac ngân hang tăng kha năng sinh lơi la kêt qua gian tiêp cua viêc cai thiên hiêu qua quan tri ngân hang chư không phai sưc manh tư lơi ich thi trương. Ly thuyêt này hàm ý rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất công ty hay nói cách khác hiệu suất công ty tạo nên cấu trúc thị trường. Theo đó, các ngân hàng lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011), ly thuyêt Câu truc – Hiêu qua (ES – Efficient structure) thường được đề xuất theo 2 hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét. Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X – (X – Efficiency), các công ty hiệu quả cao hơn thường đạt thị phần lớn và lợi nhuận cao hơn, bởi vì họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào (Al – Muharrami, 2009). Đối với hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích dựa theo quy mô. Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011).

     

    Như vậy, có thể thấy lý thuyết Quyền lực thị trường (MP – Market power) cho rằng, khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết cấu trúc (ES – Efficient structure) cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức là các yếu tố bên trong. Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào lý thuyết trên để giới thiệu một số biến hữu

    ích đưa vào mô hình đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng và phần lớn đều thừa nhận rằng khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011).

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu bảng từ 26 ngân hàng trong giai đoạn 2004 – 2015 tại Việt Nam. Dữ liệu được lấy từ 2 nguồn: (i) dữ liệu cấp độ ngân hàng từ cơ sở dữ liệu của Bankscope, (ii) dữ liệu thông tin vĩ mô từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Trên cơ sơ cac dư liêu nghiên cứu, đề tài xác định cac biên nghiên cưu va mô hinh nghiên cưu tac đông đến RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Do han chê cua mô hinh Pool OLS trong ươc lương dư liêu bang (Kiviet, 1995), do đo ươc lương FEM va REM co thê đươc sư dung đê xư ly cac hiêu ưng ca nhân ( Individual Effects); tuy nhiên vi FEM va REM không xư ly đươc hiên tương nôi sinh (Ahn & Schmidt, 1995), do đo ky thuât ươc lương SGMM đươc sư dung đê xư ly cac vân đê nêu trên (Arellano & Bond, 1991; Hansen, 1982; Hansen, Heaton, & Yaron, 1996). Phương pháp SGMM cho ra các hệ số ước lượng vững, phân phối chuẩn và hiệu quả. Phần mềm Stata phiên bản 12 được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu này.

     

    Bài báo dựa trên cách tiếp cận của Ferrouhi (2014) để xây dựng mô hình đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng và có bổ sung biến đo lường RRTK theo phương pháp khe hở tài trợ (dư nợ tín dụng – huy động vốn)/tổng tài sản nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu.

     

    Mô hinh:

     

    Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISKit, CONTROLit, u)

     

    Trong đó: Biến phụ thuộc, Pit(NIM, ROA, ROE). Biến độc lập gồm: LIQUIDITY RISK: FGAP (khe hở tài trợ), NLTA (Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản), NLST (Dư nợ tín dụng/Tổng

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    nguồn vốn huy động ngắn hạn). Các biến kiểm soát gồm: Quy mô ngân hàng (SIZEit); Bình phương quy mô ngân hàng (SIZEit^2 ); Chất lượng tài sản thanh khoản gồm các biến: LIAit (Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản), LLRit (Tài sản thanh khoản/Tông dư nơ tin dung), LADSit (Tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn); Cấu trúc vốn (ETAit); Dự phòng rủi ro tín dụng (LLPit); Tăng trưởng kinh tế (GDPit); Biến động của lạm phát (INFit); Cung tiền (M2it); D_CRIS: khủng hoảng tài chính.

     

    Trong đó: α (hệ số chặn), i (ngân hàng), t (năm), u (phần dư mô hình).

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả

     

    Để đánh giá tác động của RRTK đến HQHĐKD của các ngân hàng, nghiên cứu sử dụng các mô hình ước lượng khác nhau được thực hiện cho 3 thang đo ROA, ROE và NIM trong đó mỗi mô hình được ước lượng theo OLS, REM, FEM, GMM. Các ước lượng đều có ý nghĩa thống kê (Prob > F) của mô hình đều rất nhỏ (Prob > F = 0,0000). Kế tiếp là sử dụng các kiểm định (test) như: F, LM, Hausman test để chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Đó là các lựa chọn giữa mô hình OLS hay FEM; chọn OLS hay REM và REM hay FEM. Tỷ lệ VIF đều nhỏ hơn 20, nên mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Các F test, LM test, cho thấy các P-value của F, LM test đều nhỏ hơn 5% (< 0,05), có bằng chứng để bác bỏ các giả thuyết. Kiểm định Hausman cho kết quả p-value (Prob > F) của mô hình đều nhỏ hơn 0.05, đều này cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn REM. Và kiểm định LM cho kết quả REM là phù hợp hơn Pooled OLS. Như vậy giữa phương pháp REM và FEM thì FEM là phương pháp phù hợp nhất. Tuy nhiên kiểm định Wooldridge

    và Wald có P-value (< 0,05) cho thấy tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong FEM, điều này khiến cho kết quả của các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả. Hơn nữa, theo cơ sở lập luận phương pháp nghiên cứu ở trên do xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình, nên tác giả se hồi quy theo phương pháp hệ thống (S–GMM). Phương pháp S–GMM để loại bỏ các vấn đề của phương sai thay đổi, tự tương quan hay nội sinh nên kết quả ước lượng sẽ hiệu quả và vững. Sau đó, sử dụng kiểm định Sargan Test để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.

     

    Xét về tương quan, tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam phù hợp với những dự đoán trên cơ sở khoa học. Nghiên cứu tìm thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều đến HQHĐKD ngân hàng (ROE, NIM) đều ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Lee và Kim, 2013; Sufian và Chong, 2008; Almumani, 2013; Ayaydin và Karakaya, 2014; Demirgüç-Kunt và cộng sự, 2003). Điều này hàm ý rằng các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Ngoài ra, nghiên cứu tìm thấy biến trễ của các biến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng (ROE, NIM) có tương quan cùng chiềuvới HQHĐKD ngân hàng ở mức ý nghĩa 1%, kết quả hoàn toàn tương với kết quả các nghiên cứu trước (Ayaydin và Karakaya, 2014; Lee và Kim, 2013). Điều đó cho thấy HQHĐKD ngân hàng có tác động lẫn nhau và tương quan giữa các thời kỳ.

     

     

    18

     

     

     

    19

    Bảng 1. Tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam

     

    Biến phụ thuộc: P (NIM, ROA, ROE) đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Biến độc lập: Pt-1 – Biến trễ hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng;

     

    LIQUIDITYRISK­- Rủi ro thanh khoản (FGAP, NLTA, NLST), CONTROL_Các biến kiểm soát gồm: SIZE – Quy mô ngân hàng; SIZE^2 – Bình phương quy mô ngân hàng; LIA- Chất lượng tài sản thanh khoản; LLR- chất lượng tài sản thanh khoản, LADS- chất lượng tài sản thanh khoản; ETA – vốn; LLP-rủi ro tín dụng; NIM -Thu nhập lãi cận biên. Các biến số kinh tế vĩ mô: GDP – Tăng trưởng GDP, M2 – Cung tiền, INFL – Lạm phát, D_cris – Biến giả khủng hoảng 2008. Giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2015, Phương pháp ước lượng OSL, FEM, REM và SGMM. Mô hình hồi quy (2): Pt = f(α, Pt-1, LIQUIDITY RISK it, CONTROLit, u)

     

    Model

    OLS

    FEM

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    Variable

     

    ROA

       

    ROE

         

    NIM

       

    L.roa

    0.358***

    0.215***

    0.358***

    0.199

                       
     

    [7.25]

    [3.89]

    [7.25]

    [1.19]

                       

    L.roe

           

    0.455***

    0.221***

     

    0.455***

    0.134**

             
             

    [8.53]

    [3.39]

     

    [8.53]

    [2.21]

             

    L.nim

                     

    0.589***

    0.391***

     

    0.589***

    0.349***

                       

    [12.86]

    [7.41]

     

    [12.86]

    [4.88]

    fgap

    .

    .

     

    1.924**

    .

    .

       

    -15.12

    .

    .

       

    1.505**

     

    .

    .

     

    [1.88]

    .

    .

       

    [-1.53]

    .

    .

       

    [1.25]

    nlst

    0.00191

    0.00154

    0.00191

    0.00509**

    0.00546

    0.0347

     

    0.00546

    0.00371**

    -0.00295

    0.00373

     

    -0.00295

    0.00634*

     

    [0.63]

    [0.26]

    [0.63]

    [0.50]

    [0.19]

    [0.62]

     

    [0.19]

    [0.06]

    [-0.84]

    [0.56]

     

    [-0.84]

    [0.23]

    nlta

    -0.00749

    -0.00458

    -0.0267**

    0.00957

    -0.105*

    -0.0645

     

    0.0464

    0.103

    0.0209***

    0.0194*

     

    0.00589

    0.0335**

     

    [-1.16]

    [-0.43]

    [-2.06]

    [0.70]

    [-1.74]

    [-0.65]

     

    [0.38]

    [0.70]

    [2.83]

    [1.65]

     

    [0.40]

    [0.92]

    size

    0.534

    -0.322

    0.534

    1.149

    4.458

    -6.136

     

    4.458

    -6.214***

    -0.357

    -0.494

     

    -0.357

    2.972

     

    [1.11]

    [-0.41]

    [1.11]

    [0.88]

    [0.98]

    [-0.83]

     

    [0.98]

    [-0.34]

    [-0.65]

    [-0.57]

     

    [-0.65]

    [0.87]

    size2

    -0.0392

    0.103*

    -0.0392

    0.00787

    -0.311

    1.258**

     

    -0.311

    1.295

    0.0288

    0.0771

     

    0.0288

    -0.205

     

    [-1.09]

    [1.71]

    [-1.09]

    [0.06]

    [-0.92]

    [2.17]

     

    [-0.92]

    [0.70]

    [0.70]

    [1.16]

     

    [0.70]

    [-0.75]

    lia

    6.172***

    6.602***

    6.172***

    1.118***

    53.11***

    82.21***

     

    53.11***

    50.1***

    2.355

    0.768

     

    2.355

    -6.364

     

    [3.12]

    [2.83]

    [3.12]

    [0.19]

    [2.87]

    [3.72]

     

    [2.87]

    [0.92]

    [1.04]

    [0.30]

     

    [1.04]

    [-0.37]

    llr

    -0.0117***

    -0.0124***

    -0.0117***

    -0.0108**

    -0.137***

    -0.151***

     

    -0.137***

    -0.0687

    -0.00144

    0.00188

     

    -0.00144

    0.00202

     

    [-4.90]

    [-4.74]

    [-4.90]

    [-1.97]

    [-6.11]

    [-6.14]

     

    [-6.11]

    [-0.75]

    [-0.53]

    [0.65]

     

    [-0.53]

    [0.38]

    lads

    -0.0237

    -0.0212

    -0.0237*

    0.0166

    -0.122

    -0.24

     

    -0.122

    -0.0523

    -0.0123

    -0.00861

     

    -0.0123

    0.0433

     

    [-1.65]

    [-1.28]

    [-1.65]

    [0.43]

    [-0.91]

    [-1.53]

     

    [-0.91]

    [-0.19]

    [-0.75]

    [-0.47]

     

    [-0.75]

    [0.39]

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

     

    20

    Model

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

    OLS

    FEM

     

    REM

    GMM

     

    Variable

     

    ROA

         

    ROE

         

    NIM

         

    eta

    0.0192*

    0.0525***

     

    .

    0.0399***

    -0.151

    0.106

     

    .

    0.00481

    0.0151

    0.024

     

    .

    -0.000787

     
     

    [1.88]

    [3.93]

     

    .

    [2.81]

    [-1.53]

    [0.85]

     

    .

    [0.02]

    [1.25]

    [1.60]

     

    .

    [-0.02]

     

    llp

    -0.331***

    -0.397***

     

    -0.331***

    -0.327***

    -0.69

    -0.915*

     

    -0.69

    -1.061

    0.0271

    0.0232

     

    0.0271

    0.159**

     
     

    [-6.78]

    [-7.20]

     

    [-6.78]

    [-4.26]

    [-1.54]

    [-1.77]

     

    [-1.54]

    [-0.78]

    [0.50]

    [0.38]

     

    [0.50]

    [1.97]

     

    gdp

    0.0205

    0.037

     

    0.0205

    0.0821

    1.271

    1.441

     

    1.271

    1.533***

    0.233**

    0.147

     

    0.233**

    0.0756

     
     

    [0.20]

    [0.36]

     

    [0.20]

    [1.48]

    [1.30]

    [1.51]

     

    [1.30]

    [2.74]

    [1.95]

    [1.30]

     

    [1.95]

    [0.53]

     

    infl

    -0.0131

    -0.0101

     

    -0.0131

    0.00181

    -0.145

    -0.0746

     

    -0.145

    -0.0223

    0.0218*

    0.0186

     

    0.0218*

    0.0231**

     
     

    [-1.24]

    [-0.99]

     

    [-1.24]

    [0.24]

    [-1.47]

    [-0.77]

     

    [-1.47]

    [-0.59]

    [1.82]

    [1.64]

     

    [1.82]

    [2.29]

     

    d_cris

    0.276

    0.219

     

    0.276

    -0.0015

    3.09

    3.008

     

    3.09

    3.005

    0.242

    0.0876

     

    0.242

    -0.368

     
     

    [1.04]

    [0.82]

     

    [1.04]

    [-0.01]

    [1.25]

    [1.21]

     

    [1.25]

    [1.60]

    [0.81]

    [0.30]

     

    [0.81]

    [-0.82]

     

    _cons

    -0.404

    -0.678

     

    1.519

    -6.207

    -6.609

    -6.759

     

    -21.73

    -15.74

    -0.858

    -0.668

     

    0.648

    -9.848

     
     

    [-0.21]

    [-0.23]

     

    [0.94]

    [-1.62]

    [-0.36]

    [-0.24]

     

    [-1.43]

    [-0.33]

    [-0.38]

    [-0.20]

     

    [0.34]

    [-1.10]

     

    N

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

    234

    234

     

    234

    205

     

    R-sq

    0.566

    0.552

         

    0.538

    0.46

         

    0.586

    0.323

           

    M. VIF

     

    9.

    42

         

    9.

    38

         

    9.

    37

         

    White’s

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

       

    Ho: homoskedasticity

         

    chi2(116) = 227.42

       

    chi2(116) = 225.79

       

    chi2(116) = 141.31

         

    test

                 

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0276

         
                   
                               
           

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

     

    F-test

         

    F(25, 194) = 1.93

         

    F(25, 194) = 1.81

         

    F(25, 194) = 2.52

     
           

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

     
             

    Hausman

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

    Ho: difference in coefficients not systematic

     

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 56.38

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 53.46

    chi2(11) = (b-B)’[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 87.87

     

    test

     

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       

    Prob > chi2 = 0.0000

       
                   
                         

    Bresh-

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

       

    Test: Var(u) = 0

         

    Pagan

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

       

    chibar2(01) = 0.00

         

    test

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

       

    Prob > chibar2 = 1.0000

         
                   

    Sargan

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

     
         

    chi2(54) = 12.90214

         

    chi2(54) = 12.72445

         

    chi2(54) = 16.01853

     

    test

                     
         

    Prob > chi2 = 1.0000

         

    Prob > chi2 = 0.0002

         

    Prob > chi2 = 1.0000

     
                       
                         

    Arellano-

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

       

    H0: no autocorrelation

         

    Bond test

    Prob > z = 0.2853

       

    Prob > z = 0.3740

       

    Prob > z = 0.4068

         
                                     

    Ghi chú́: Các ký́ hiệ̣u (***), (**), (*) cho biế́t mức ý́ nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa yếu tố cấu trúc tài sản (LIA) với HQHĐ ngân hàng (ROA) đều ở mức ky nghĩa 1%. Kết quả cho thấy, các ngân hàng nắm giữ các tài sản thanh khoản cao, rủi ro tài chính thấp hơn, HQHĐKD sẽ được kiểm soát tốt trong thời kỳ có cú sốc thanh khoản. Cấu trúc tài sản được đo lường với biến LLR (Tài sản thanh khoản/Tổng dư nợ) đều cho thấy có tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROA, ROE) với mức ý nghĩa thống kê 1%. Qua đó, cho thấy rằng nếu ngân hàng nắm giữ tỷ lệ tài sản thanh khoản cao sẽ làm gia tăng tỷ suất sinh lời nhưng đến một lúc nào đó, do gia tăng dư nợ tín dụng, điều này làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng vì gia tăng chi phí, hiệu quả hoạt động ngân hàng có xu hướng giảm. Điều này hàm ý HQHĐ ngân hàng nhạy cảm với các biến động của tài sản. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì lợi nhuận ngân hàng không chỉ có được từ hoạt danh tiếng, cơ hội kinh doanh, mà một phần lớn sinh lợi từ quản trị rủi ro kỳ hạn của tài sản. Khi thị trường biến động, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế biến động tốt, khả năng thanh khoản và giá trị tài sản của ngân hàng sẽ tăng giá, các khoản đầu tư thu hồi nhanh hơn, sẽ góp phần tăng hiệu quả ngân hàng.

     

    Đồng thời, nghiên cứu tìm thấy quy mô ngân hàng (SIZE) tác động ngược chiều với HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%, cho thấy quy mô tăng lên nhưng HQHĐKD ngân hàng giảm. Điều này là phù hợp thực tế Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến sự tương quan ngược chiều là do những thay đổi trong chính sách quá nhanh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong giai đoạn nghiên cứu. Trong giai đoạn 2008 – 2010, Chính phủ đã thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất làm cho hoạt động tín dụng tăng trưởng mạnh, nguồn thu từ lãi của các ngân hàng tăng cao kéo theo khả năng sinh lời của các ngân

    hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, khi kiềm chế lạm phát, tốc độ tăng trưởng bắt đầu có dấu hiệu phục hồi thì hoạt động của các NHTM lại bộc lộ những hạn chế yếu kém, buộc phải tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động, xử lý nợ xấu, khó mở rộng quy mô hoạt động nên làm cho các hoạt động ngân hàng giảm sút, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Làn sóng mua bán, sáp nhập, tái cấu trúc diễn ra hàng loạt theo chủ trương của NHNN, với hy vọng ngân hàng sau sáp nhập tăng trưởng vượt bậc về quy mô, cộng hưởng thế mạnh của cả hai nhằm giảm thiểu chi phí. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là hiệu quả không được phát huy khi ngân hàng tái cấu trúc.

     

    Rủi ro tín dụng được đo lường bằng thang đo LLP (Dự phòng rủi ro tín dụng/Cho vay ròng) tương quan ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng với mức ý nghĩa 1%. Điều này cho thấy tác động của hoạt động tín dụng đến HQHĐKD ngân hàng là khá rõ nét và phù hợp với thực tiễn. Kết quả hàm ý rằng, yếu tố rủi ro tín dụng tác động gián tiếp đến RRTK từ đó tác động đến HQHĐKD ngân hàng. Điều đó, cho thấy trong giai đoạn tái cơ cấu, xử lý nợ xấu có vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng sinh lời.

     

    Đối với các biến vĩ mô, nghiên cứu tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế GDP và HQHĐ ngân hàng (ROE) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu trước (Goddard và cộng sự, 2004, Chen và cộng sự, 2001, Shen và cộng sự, 2009). Điều này hàm ý rằng, tăng trưởng kinh tế sẽ tác động làm gia tang HQHĐKD ngân hàng, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái thì HQHĐKD ngân hàng có xu hướng giảm, điều này được giải thích là do khi kinh tế tăng trưởng giảm, các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân

     

    21

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    hàng, làm giảm lợi nhuận NHTM. Biến động lạm phát tương quan cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng (NIM) ở mức y nghĩa 1%. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước (Shen và cộng sự, 2009; Sufian và Chong, 2008).

     

    Bên cạnh đó, HQHĐKD ngân hàng Việt Nam không chịu tác động bởi yếu tố khủng hoảng tài chính có thể do thị trường tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu nhưng rất nhạy cảm với các biến động thị trường. Việc Chính phủ theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát hay tăng trưởng đều có tác động đến HQHĐKD ngân hàng.

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Như vậy, bài viết kiểm định tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp ViệtNam có thể rút ra một số hàm ý như sau:

     

    Thứ nhấ́t, kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với HQHĐKD ngân hàng. Điều này hàm ý, các ngân hàng có HQHĐKD có xu hướng gia tăng đều chứa đựng RRTK cao hơn. Thứ hai, HQHĐKD ngân hàng khá nhạy cảm với các biến động của cấu trúc tài sản. Chất lượng tài sản thanh khoản càng cao, HQHĐKD ngân hàng càng cao. Điều này là do các ngân hàng thường dự trữ tài sản thanh khoản ở mức tối ưu để đảm bảo hoạt động kinh doanh nếu có các cú sốc xảy ra. Nếu như các ngân hàng dự trữ tài sản thanh khoản vượt quá mức tối ưu thì sẽ tác động làm giảm HQHĐKD do chi phí tăng nhanh hơn so với doanh thu (Akhavein

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Anh:

    và cộng sự, 1997). Thứ ba, quy mô tác động ngược chiều với HQHĐKD ngân hàng, trường hợp tại Việt Nam. Điều này cho thấy, quy mô ngân hàng tăng nhưng HQHĐKD không tăng. Các nhà quản trị ngân hàng tại Việt Nam cần chú ý thận trọng, kiểm soát kế hoạch tăng quy mô của các ngân hàng để đảm bảo HQHĐKD ngân hàng. Điều này, góp phần các hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam.

     

    Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là mẫu dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2004 – 2015 là khá ngắn so với các nước đang phát triển và chỉ mới sử dụng thang đo tỷ số là ROA, ROE, NIM. Nguồn thông tin này mang tính thời điểm và cho rằng thông tin HQHĐKD ngân hàng đã được điều chỉnh theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

     

    Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động RRTK đến HQHĐKD ngân hàng, trường hợp Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét tác động của RRTK đến HQHĐKD ngân hàng giữa các nhóm ngân hàng lớn, vừa và nhỏ và chưa đánh giá tính tương đồng của kết quả nghiên cứu so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực và các quốc gia phát triển ngoài khu vực để gia tăng tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. Nếu như bộ dữ liệu có quy mô lớn hơn thì sẽ hỗ trợ cho việc xem xét vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết hơn. Nhóm tác giả kỳ vọng sẽ có những nghiên cứu tiếp theo để khắc phục những hạn chế khách quan của nghiên cứu này.

     

    Abdullah, A., & Khan, A. Q. (2012). Liquidity risk management: a comparative study between domestic and foreign banks in Pakistan. Journal of Managerial Sciences Volume VI Number, 1, 62.

     

    Ahn, S. C., & Schmidt, P. (1995). Efficient estimation of models for dynamic panel data. Journal of econometrics, 68(1), 5-27.

     

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Akhavein, J. D., Berger, A. N., & Humphrey, D. B. (1997). The effects of megamergers on efficiency and prices: Evidence from a bank profit function. Review of industrial Organization, 12(1), 95-139.

    Ajibike, J. O., & Aremu, O. S. (2015). The impact ofliquidity on Nigeria bank performance; a dynamic panel approach. Journal of African Macroeconiomic Review, 5 (2): 316, 24.

     

    Allen, F., & Gale, D. (2004). Financial intermediaries and markets. Econometrica, 72(4), 1023-1061.

     

    Al-Muharrami, S. (2009). The competition and market structure in the Saudi Arabia banking. Journal of Economic Studies, 36(5), 446-460.

     

    Athanasoglou, P. P., Brissimis, S. N., & Delis, M. D. (2008). Bank-specific, industry-specific and macroeconomic determinants of bank profitability. Journal of international financial Markets, Institutions and Money, 18(2), 121-136.

    Almumani, M. A. (2013). Impact of managerial factors on commercial bank profitability: Empirical evidence from Jordan. International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, 3(3), 298-310.

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.

     

    Anyanwaokoro, M. (1996). Banking Methods and Processes. Enugu: Hosanna Publications.

     

    Aspachs, O., Nier, E. W., & Tiesset, M. (2005). Liquidity, banking regulation and the macroeconomy.

     

    Available at SSRN 673883.

     

    Ayaydin, H., & Karakaya, A. (2014). The effect of bank capital on profitability and risk in Turkish banking. International Journal of Business and Social Science, 5(1).

     

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey.

     

    Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. The review of economic studies, 58(2), 277-297.

     

    Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2013). How does capital affect bank performance during financial crises? Journal of Financial Economics, 109(1), 146-176.

     

    Berger, A. N., Herring, R. J., & Szegö, G. P. (1995). The role of capital in financial institutions. Journal of Banking & Finance, 19(3), 393-430.

     

    Bonfiim, D., & Kim, M. (2011). Liquidity risk in banking: is there herding?

     

    Bordeleau, É., & Graham, C. (2010). The impact of liquidity on bank profitability: Bank of Canada.

     

    Bain, J. S. (1951). Relation of profit rate to industry concentration: American manufacturing, 1936–1940. The Quarterly Journal of Economics, 65(3), 293-324.

     

    Brunnermeier, M. K. (2009). Deciphering the liquidity and credit crunch 2007–2008. The Journal of economic perspectives, 23(1), 77-100.

     

    Bourke, P. (1989). Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking & Finance, 13(1), 65-79.

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Bunda, I., & Desquilbet, J.-B. (2008). The bank liquidity smile across exchange rate regimes.

     

    International Economic Journal, 22(3), 361-386.

     

    Chen, H.­J.; Kuo, C.J­.; Shen, C.­H. 2001. Determinants of net interest margins in Taiwan banking industry, Journal of Financial Studies 9: 47–83.

     

    Cucinelli, D. (2013). The determinants of bank liquidity risk within the context of euro area.

     

    Interdisciplinary Journal of Research in Business, 2(10), 51-64.

     

    Demsetz, H. (1973). Industry structure, market rivalry, and public policy. The Journal of Law & Economics, 16(1), 1-9.

     

    DeYoung, R., & Jang, K. Y. (2016). Do banks actively manage their liquidity? Journal of Banking & Finance, 66, 143-161.

     

    Diamond, D. W., & Rajan, R. G. (2001). Banks and liquidity. The American Economic Review, 91(2), 422-425.

     

    Demirguc-Kunt, A., Laeven, L., & Levine, R. (2003). Regulations, market structure, institutions, and the cost of financial intermediation (No. w9890). National Bureau of Economic Research.

     

    Eichberger, Jürgen, & Martin Summer. (2005). Bank capital, liquidity, and systemic risk. Journal of the European Economic Association, 3(2-3), 547-555.

     

    Fadare, S. O. (2011). Banking sector liquidity and financial crisis in Nigeria. International Journal of Economics and Finance, 3(5), 3.

     

    Fan, L., & Shaffer, S. (2004). Efficiency versus risk in large domestic US banks. Managerial Finance, 30(9), 1-19.

     

    Ferrouhi, E. M. (2014). Moroccan Banks analysis using camel model. International Journal of Economics and Financial Issues, 4(3), 622-627.

     

    Gibilaro, L., Giannotti, C., & Mattarocci, G. (2010). Liquidity Risk Exposure For Specialized And Unspecialized Real Estate Banks: Evidences From The Italian Market: European Real Estate Society (ERES).

    Goddard, J., Molyneux, P., & Wilson, J. O. (2004). The profitability of European banks: a cross‐ sectional and dynamic panel analysis. The Manchester School, 72(3), 363-381.

     

    Gorton, G. B., & Winton, A. (2014). Liquidity provision, bank capital, and the macroeconomy.

     

    Bank Capital, and the Macroeconomy (January 25, 2014).

     

    Hackethal, A., Rauch, C., Steffen, S., & Tyrell, M. (2010). Determinants of bank liquidity creation Working paper.

     

    Horváth, R., Seidler, J., & Weill, L. (2012). Bank capital and liquidity creation: Granger-causality evidence.

     

    Hansen, L. P. (1982). Large sample properties of generalized method of moments estimators.

     

    Econometrica: Journal of the Econometric Society, 1029-1054.

     

    Hansen, L. P., Heaton, J., & Yaron, A. (1996). Finite-sample properties of some alternative GMM estimators. Journal of Business & Economic Statistics, 14(3), 262-280.

     

    Kiviet, J. F. (1995). On bias, inconsistency, and efficiency of various estimators in dynamic panel data models. Journal of econometrics, 68(1), 53-78.

     

    24

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Kosmidou, K., Tanna, S., & Pasiouras, F. (2005). Determinants of profitability of domestic UK commercial banks: panel evidence from the period 1995-2002. Paper presented at the Money Macro and Finance (MMF) Research Group Conference.

    Kutsienyo, L. (2011). The determinant of profitability of banks in Ghana (Doctoral dissertation). Lee, J. Y., & Kim, D. (2013). Bank performance and its determinants in Korea. Japan and the

     

    World Economy, 27, 83-94.

     

    J Eichberger M Summer (2005). Journal of the European Economic Association, Volume 3, Issue 2-3, 1 May 2005, Pages 547–555.

     

    Moulton, H. G. (1918). Commercial banking and capital formation: III. The Journal of Political Economy, 705-731.

     

    Maudos, J., & de Guevara, J. F. (2007). The cost of market power in banking: Social welfare loss vs. cost inefficiency. Journal of Banking & Finance, 31(7), 2103-2125.

     

    Naceur, S. B., & Kandil, M. (2009). The impact of capital requirements on banks’ cost of intermediation and performance: The case of Egypt. Journal of Economics and Business, 61(1), 70-89.

     

    Olweny, T., & Shipho, T. M. (2011). Effects of banking sectoral factors on the profitability of commercial banks in Kenya. Economics and Finance Review, 1(5), 1-30.

     

    Poposka, K., & Trpkoski, M. (2013). Secondary Model for Bank Profitability Management–Test on the Case of Macedonian Banking Sector. Research Journal of Finance and Accounting, 4(6), 216-225.

     

    Roman, A., & Sargu, A. C. (2015). The Impact of Bank-specific Factors on the Commercial Banks Liquidity: Empirical Evidence from CEE Countries. Procedia Economics and Finance, 20, 571-579.

     

    Sayedi, S. (2014). Impacts of internal and external factors on profitability of banks in Nigeria.

     

    International Journal of Social Sciences and Entrepreneurship Vol, 1, 1-21.

     

    Shen C., Chen Y., Kao L. & Yeh C. (2009). Bank Liquidity Risk and Performance. SSRN. Skully, M. T., & Perera, S. (2012). Bank Market Power and Liquidity: Evidence from 113 Developed

     

    and Developing Countries. Paper presented at the 25th Australasian Finance and Banking Conference.

     

    Sufian, F., & Chong, R. R. (2008). Determinants of bank profitability in a developing economy: Empirical evidence from the Philippines. Asian academy of management journal of accounting and finance, 4(2), 91-112.

     

    Siaw, S. (2013). Liquidity risk and bank profitability. University of Ghana (Thesis).

     

    Saunders A. and Cornett M.M (2006), “Financial Institutions Management”, 5th edition, McGraw-Hill/Irwin, New York.

    Vodova, P. (2011). Liquidity of Czech commercial banks and its determinants. International Journal of Mathematical Models and Methods in Applied Sciences, 5(6), 1060-1067.

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 47, 10/2018

     

    Tiếng Việt:

     

    Nguyễn Công Tâm, & Nguyễn Minh Hà. (2012). Hiêu qua hoat đông cua ngân hang tai cac nươc Đông Nam A va bai hoc kinh nghiêm cho Viêt Nam. Kinh tế va chinh trị thế giới, 111(199), 17-30.

    Nguyên Minh Sang. (2013). Phân tich nhân tô tac đông đên hiêu qua sư dung nguôn lưc cua cac ngân hang thương mai trên đia ban TP.HCM. Phat triển & Hội Nhập, 11(21), 10-15.

     

    Nguyên Thi Loan, & Trân Thi Ngoc Hanh. (2013). Hiêu qua hoat đông tai cac NHTM Viêt Nam.

     

    Phat triển kinh tế, 270, 12-25.

     

    Nguyên Viêt Hung. (2008). Phân tich cac nhân tô anh hương đên hiêu qua hoat đông cua cac ngân hang thương mai ơ Viêt Nam. Trương Đai hoc kinh tê Quôc dân.

     

    Liễu Thu Truc, & Võ Thành danh. (2012). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần việt nam giai đoạn 2006-2009. Tạp chí Khoa học Trườ̀ng Đại học Cần Thơ, 21, 148-157.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%83-ch%E1%BA%BF-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91c-gia-%C4%91ang-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-ch%C3%A2u-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chất lượng thể chế và phát triển tài chính Bằng chứng thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN TẠI CHÂU Á

     

    QUALITY OF INSTITUTIONS AND FINANCIAL DEVELOPMENT:

     

    EVIDENCE FROM DEVELOPING ASIAN COUNTRIES

     

    Nguyễn Thị Mỹ Linh1

     

    Ngày nhận: 24/7/2018             Ngày nhận bản sửa: 7/9/2018              Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Các nghiên cứu về phát triển tài chính đã nhận định chất lượng thể chế là yếu tố tạo nên sự khác biệt về phát triển tài chính giữa các quốc gia. Bài viết này đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, độ mở tài chính và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á bằng phương pháp thực nghiệm. Bài viết sử dụng kỹ thuật ước lượng GMM cho dữ liệu bảng từ 18 quốc gia trong giai đoạn 2000–2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có tác động âm có ý nghĩa tới phát triển tài chính. Trong khi đó độ mở tài chính không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính tồn tại mối quan hệ phi tuyến có hình chữ U. Các phát hiện này đưa đến một số hàm ý chính sách cho Chính phủ các quốc gia đang phát triển tại khu vực này. Từ khóa: Chất lượng thể chế, phát triển tài chính, GMM.

     

    Abstract

     

    Recent studies of financial development have confirmed that the quality of institutions was the crucial element of financial development difference among various countries. This paper focus on investigating the effect of economic growth, trade openness, financial opennes and institutional quality on financial development in developing Asian countries. Using Generalized Method of Moments (GMM) to analyse a panel data of 18 countries spanning from 2000 to 2015, we find that economic growth and trade openness have significantly negative influences on financial development. Meanwhile, financial openness has no statistical significance. Especially, there’s U-shaped relationship between financial development and quality of institutions. Our results have several significant contributions to policy makers of these countries. Keywords: Quality of Institutions, financial development, GMM.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các lý thuyết kinh tế tài chính trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng gia tăng của hệ thống

    __________________________________________

    tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng. Các lý thuyết đó cũng hướng tới việc cung cấp câu trả lời cho câu hỏi tại sao một số quốc gia lại phát triển tài chính hơn những quốc gia khác. Trong

     

    • Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

    11

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bối cảnh này, một sự hiểu biết sâu sắc hơn về nguồn gốc của sự phát triển thị trường tài chính ngày càng trở nên cần thiết hơn cho việc thiết kế các chính sách để thúc đẩy sự phát triển tài chính, bởi phát triển tài chính sẽ̃ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, mà các nghiên cứu thực nghiệm rộng rãi đã minh chứng.

     

    Gần đây, một số lượng lớn các nghiên cứu đã xác định rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển tài chính của một quốc gia liên quan đến các đặc điểm thể chế của nó, bao gồm khung pháp lý (Arestis và Demetriades, 1996). Claessens và Leaven (2003) chỉ ra rằng việc phân bổ tài sản được cải thiện do bảo vệ quyền sở hữu tài sản tốt hơn có ảnh hưởng đến tăng trưởng do nó làm gia tăng giá trị ngành nghề tương đương với sự cải thiện khả năng tiếp cận tài chính phát sinh từ sự phát triển tài chính mạnh mẽ̃ hơn. Garretsen và cộng sự (2004) cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn xã hội và văn hóa giúp giải thích sự khác biệt trong phát triển tài chính xuyên quốc gia. Demetriades và Andrianova (2004) cho rằng sức mạnh của các thể chế, như quy định tài chính và tuân thủ pháp luật, có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cải cách tài chính. Chinn và Ito (2006) cho rằng các hệ thống tài chính có mức độ phát triển pháp lý/thể chế cao hơn thường có lợi ích nhiều hơn từ tự do hóa tài chính so với các hệ thống tài chính có mức độ phát triển thấp hơn. Như vậy thể chế mang một tầm ảnh hưởng nhất định đến phát triển tài chính. Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính dựa trên phân tích dữ liệu bảng thu thập cho các quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động để ước lượng mối quan hệ tuyến tính và phi tuyến của các biến trong mô hình. Trong đó, thước đo chất lượng thể chế sử dụng trong

    nghiên cứu được xây dựng bởi Kaufmann và cộng sự (2008) bao gồm một tập hợp các biến khác nhau, có thể đánh giá một cách đa chiều ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính.

     

    2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    Cơ sở lý luận giải thích cho sự phát triển tài chính xuất phát từ bốn giả thuyết bao gồm giả thuyết cung ứng vốn, giả thuyết luật và tài chính, giả thuyết mở cửa đồng bộ và giả thuyết thể chế kinh tế.

    Giả thuyết cung ứng vốn (The endowment hypothesis) của Acemoglu và cộng sự (2001) xác nhận tầm quan trọng của một thể chế vững mạnh đến sự phát triển tài chính và cho rằng chất lượng thể chế khác nhau giữa các quốc gia là do sự thay đổi cung ứng vốn ban đầu. Nói một cách đơn giản, giả thuyết này cho rằng môi trường không thuận lợi do các cường quốc thuộc địa châu Âu gây ra trong nhiều thế kỷ ở quá khứ là nhân tố chính làm chậm lại sự thành lập các thể chế có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong dài hạn. Vì vậy, giả thuyết cho rằng các cường quốc thuộc địa châu Âu đã thành lập nên các thể chế khai thác không phù hợp, không tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng trong dài hạn.

     

    Giả thuyết luật và tài chính (The law and finance hypothesis) của La Porta và cộng sự (1997) đưa ra ý tưởng về các hệ thống dựa trên nền tảng luật thông thường, có nguồn gốc từ luật pháp Anh là tốt hơn các hệ thống dựa trên luật dân sự cho sự phát triển của thị trường vốn. Điều này là bởi luật pháp Anh được hình thành để bảo vệ tài sản tư nhân từ Chính phủ các quốc gia quân chủ chuyên chế. Trong khi đó, luật pháp Pháp được phát triển với mục tiêu giải quyết tham nhũng của bộ máy tư pháp và gia tăng quyền lực của Nhà nước. Qua thời gian,

     

    12

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    điều này cho thấy luật pháp Anh bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ tốt hơn nhiều so với luật pháp Pháp, được cho rằng có lợi hơn cho sự phát triển của thị trường vốn.

    Giả thuyết mở cửa đồng bộ (The simultaneous openness hypothesis) được đưa ra bởi Rajan và Zingales (2003) cho rằng các nhóm lợi ích, đặc biệt là những người giữ chức vụ trong ngành công nghiệp và tài chính thường bị mất đi ích lợi do phát triển tài chính, bởi mở cửa sẽ̃ tạo ra cạnh tranh làm xói mòn đặc quyền của họ. Giả thuyết cho rằng sự kháng nghị của các cán bộ đương nhiệm sẽ̃ trở nên yếu hơn khi nền kinh tế mở cửa cho cả dòng chảy thương mại và vốn. Do đó, sự mở cửa đồng bộ đối với tài khoản thương mại và vốn chính là chìa khóa cho sự phát triển tài chính thành công. Điều này không chỉ bởi vì độ mở thương mại và tài chính làm giới hạn khả năng của cán bộ đương nhiệm ngăn chặn sự phát triển của thị trường tài chính mà còn bởi những cơ hội mới được tạo ra từ mở cửa, làm sản sinh đủ lợi nhuận mới cho họ có giá trị hơn những ảnh hưởng tiêu cực của cạnh tranh gia tăng.

     

    Giả thuyết thể chế kinh tế (The economic institutions hypothesis) gần nhất được đưa ra bởi Acemoglu và cộng sự (2004), được xây dựng trên giả thuyết cung ứng vốn, đề xuất về một khung kinh tế chính trị năng động mà trong đó sự khác biệt về kinh tế trong các thể chế kinh tế là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phát triển kinh tế khác nhau. Các thể chế kinh tế trong đó xác định các động lực khuyến khích và kiềm hãm các chủ thể kinh tế. Các thể chế chính trị và phân phối thu nhập là các lực lượng động kết hợp với nhau hình thành nên các thể chế kinh tế và kết quả đầu ra. Các lập luận cho rằng tăng trưởng thúc đẩy các thể chế kinh tế khi các thể chế chính trị (i) phân bổ quyền lực cho các nhóm có lợi ích trong việc thực thi quyền sở

    hữu tài sản rộng rãi, (ii) tạo ra các hạn chế hiệu quả đối với người nắm giữ quyền lực và khi có ít đặc lợi chiếm giữ bởi người cầm quyền.

    Hai giả thuyết đầu nhấn mạnh yếu tố lịch sử bất biến theo thời gian có thể chỉ giải thích một phần nhất định cho sự thay đổi của phát triển tài chính xuyên quốc gia. Giả thuyết thứ ba và thứ tư có thể giải thích cho sự phát triển tài chính xuyên quốc gia và cả sự thay đổi của phát triển tài chính qua thời gian, bởi chúng đều có tính chất động, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố biến đổi qua thời gian. Mặc dù cả hai giả thuyết đều xác nhận tầm quan trọng của các tinh hoa chính trị, nhưng nó vẫn nhấn mạnh các cơ chế khác nhau của phát triển tài chính. Giả thuyết thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và như vậy mang đến một hàm ý chính sách đương đại rõ ràng. Giả thuyết thứ tư cho thấy mặc dù các cơ chế chính trị phức tạp có ở công sở (bao gồm cả xung đột xã hội phát sinh từ việc thay đổi lực lượng chính trị như sự gia tăng dân chủ đại chúng và những thay đổi trong phân phối thu nhập), nhưng giả thuyết thể chế kinh tế này đã cung cấp lập luận hữu ích giúp định hình cho phát triển kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào.

     

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Levine (2001) xem xét mối liên kết giữa môi trường pháp lý và phát triển tài chính, sau đó truy xuất mối liên kết này thông qua tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thứ nhất nghiên cứu cho rằng môi trường pháp lý và luật lệ có vai trò quan trọng đối với phát triển tài chính. Các quốc gia với hệ thống pháp lý và quy định ưu tiên cho các chủ nợ nhận được giá trị hiện tại đầy đủ của các khoản cho vay đối với các tập đoàn, có chức năng trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia nơi hệ thống pháp lý cung cấp sự hỗ trợ yếu ớt cho các chủ nợ. Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc thực thi hợp

     

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    đồng là rất quan trọng quyết định đến sự phát triển tài chính. Các quốc gia áp đặt sự tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả và thực thi các hợp đồng bao gồm cả những hợp đồng của Chính phủ có xu hướng phát triển các định chế tài chính trung gian tốt hơn nhiều so với các quốc gia mà việc tuân thủ lỏng lẻo hơn. Cuối cùng, nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiết lộ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định phát triển tài chính. Chẳng hạn tại các quốc gia nơi mà các công ty công bố báo cáo tài chính tương đối toàn diện và chính xác thì phát triển các trung gian tài chính tốt hơn các quốc gia mà việc công bố thông tin kém tin cậy hơn.

     

    Baltagi và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về đóng góp của độ mở thương mại và thể chế kinh tế đến phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia cho các mẫu các quốc gia đang phát triển với khoảng thời gian nghiên cứu từ 1980–2003. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố đều mang tác động quan trọng tiềm tàng đến các mức độ phát triển tài chính. Tuy nhiên độ mở thương mại có hiệu quả đáng kể hơn là độ mở tài chính trong việc thúc đẩy phát triển tài chính cho các quốc gia.

     

    Law và Azman – Saini (2008) sử dụng phương pháp ước lượng GMM cho dữ liệu bảng động thu thập từ các quốc gia phát triển và đang phát triển và kết luận chất lượng thể chế làm gia tăng sự phát triển tài chính, đặc biệt là sự phát triển của khu vực ngân hàng trong đó chỉ tiêu tín dụng khu vực tư được sử dụng trong phân tích. Mặc dầu vậy một số dẫn xuất của thể chế có tầm ảnh hưởng hơn một số dẫn xuất còn lại. Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện rằng tuân thủ pháp luật, sự ổn định chính trị và hiệu quả của Chính phủ đóng vai trò cơ bản đối với sự phát triển của khu vực ngân hàng. Bên cạnh đó, GDP thực bình quân đầu người cũng là yếu tố quyết định đến phát triển tài chính. Tuy nhiên

    độ mở tài chính lại làm suy yếu sự phát triển của thị trường này. Trong sáu chỉ số phản ánh chất lượng thể chế, chỉ số chất lượng quản lý cho thấy tồn tại mối quan hệ có hình dạng chữ U với phát triển tài chính.

    Như vậy các giả thuyết và nghiên cứu ngoài nước trên cho rằng tự do hóa tài chính, hệ thống pháp luật, nền kinh tế chính trị, độ mở thương mại là nguồn gốc của phát triển tài chính. Trong đó, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều lĩnh vực. North (1990) định nghĩa các thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội. Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa. Khi các quy tắc thay đổi liên tục hoặc không được tôn trọng, tham nhũng phổ biến, việc thực thi quy tắc còn mong manh hoặc khi quyền đối với tài sản không được xác định rõ ràng, thì đó vấn đề về chất lượng thể chế. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế quy mô và tăng cường phân công lao động xã hội. Ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ̃ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế. Baumol (1990, 1993) cho rằng khi cơ cấu thể chế không khuyến khích tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng kinh tế sẽ̃ thấp đi. Các vấn đề liên quan đến chất lượng thể chế dẫn đến sự gia tăng tính không chắc chắn, gửi tín hiệu gây

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    hiểu lầm đến thị trường, do đó ảnh hưởng đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

    3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng

     

    • Mô hình nghiên cứu

     

    Trên cơ sở lý thuyết, nền tảng của các nghiên cứu trước và của Law và Saini (2008), mô hình thực nghiệm được thể hiện như sau:

     

    (FD)it = β0 + β1(FD)(it-1)  + β2(GDPG)it + β3(INS)

     

    it  + β4(TO)it + β5(FO)it + εit     (3.1)

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng thể chế và phát triển tài chính có thể là phi tuyến. Cải cách thể

    chế nhìn chung có tác động tích cực đến phát triển tài chính. Tuy nhiên độ lớn của tác động có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ của phát triển kinh tế. Nghiên cứu giả thiết rằng tác động của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính là chưa rõ ràng tại mức phát triển thấp trong khi nó sẽ̃ trở nên tích cực bởi tiến trình phát triển hay đây chính là mối quan hệ có hình dạng chữ U giữa hai yếu tố này. Để xem xét mối quan hệ phi tuyến trên, biến thể chế bình phương được đưa vào phương trình (3.1) và vì vậy mô hình hồi quy được viết lại như sau:

     

    (FD)it = β

    0

    + β

    (FD)

    it-1

    + β

    (GDPG)

    it

    + β

    (INS)

    it

    + β (INS2)

    it

    + β

    (TO)

    it

    + β

    (FO)

    it

    + ε

    it

    (3.2.)

     

    1

     

    2

     

    3

     

    4

    5

     

    6

         

    với kỳ vọng β3 < 0 và β4 > 0.

                                 
               

    Bảng 1. Mô tả biến và nguồn dữ liệu

                 

    Ký hiệu biến

    Mô tả

                           

    Nguồn

       
             

    FD

       

    Sự phát triển tài chính, đo bằng tín dụng nội địa được

    World Development

         

    cung ứng bởi khu vực tài chính/GDP

             

    Indicator – WDI

    GDPG

       

    Tốc độ tăng trưởng GDP

                   

    WDI

         

    INS

       

    Chất lượng thể chế, sử dụng chỉ số đánh giá trong bộ chỉ

    World

    Governance

         

    số Quản trị công toàn cầu với giá trị xấp xỉ từ – 2,5 đến 2,5

    Indicator – WGI

    TO

       

    Độ mở thương mại, bằng Xuất khẩu + Nhập khẩu/GDP

    WDI

         

    FO

       

    Độ mở tài chính, sử dụng chỉ số Chinn – Ito

           

    Chinn-Ito website

    Dữ liệu được thu thập cho 18 quốc gia đang phát triển thuộc khu vực châu Á giai đoạn 2000– 2015 bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Armenia, Bhutan, Kyrgyz, Mông Cổ, Nepal, và Georgia. Trong đó, chỉ tiêu tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng để đo lường mức độ phát triển tài chính của các quốc gia. Do tính chất nguồn dữ liệu có giới hạn số liệu không được cập nhật nên bài nghiên cứu chỉ sử dụng duy nhất chỉ tiêu này. Đây cũng là thước đo được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển tài chính. Bên cạnh đó, chỉ tiêu đánh giá chất lượng thể chế sử dụng trong nghiên cứu là bộ chỉ số “Quản trị công toàn cầu” do

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    WB công bố với sáu biến đo lường gồm: tham nhũng; hiệu quả Chính phủ; ổn định chính trị; chất lượng quản lý; tuân thủ luật pháp; tiếng nói và trách nhiệm giải trình. Đây được xem là một đánh giá khá đầy đủ về chất lượng thể chế của một quốc gia và cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Law và Saini (2008). Đối với chỉ số Chinn-Ito (Kaopen) là chỉ số đo mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia. Chỉ số này ban đầu được giới thiệu trong Chinn và Ito (Tạp chí Journal of Development Economics, 2006). Kaopen được xác định dựa trên các biến giả nhị phân mã hóa hạn chế về giao dịch tài chính xuyên biên giới được báo cáo trong Báo cáo thường niên của IMF về các thỏa thuận giao dịch và hạn chế giao dịch.

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3.2. Phương pháp ước lượng

     

    Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng GMM do một số vấn đề sau đây có thể phát sinh và dẫn đến các kết quả ước lượng phương trình (3.1) bị chệch:

     

    • Do tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô, thường có tác động hai chiều, ví dụ như biến GDPG có thể là biến nội sinh khi nó tác động tới phát triển tài chính và ngược lại phát triển tài chính cũng tác động tới phát triển kinh tế. Điều này cũng tương tự với biến FO. Vì thế, việc hồi qui các biến này có thể dẫn đến sự tương quan với sai số và một số biến khác có thể có những thuộc tính tương tự.
    • Các đặc tính quốc gia, bất biến theo thời gian như là địa lý, văn hóa và nhân chủng học, có thể tương quan với các biến giải thích (các tác động cố định). Các tác động cố định này hiện diện trong đại lượng sai số của các phương trình thực nghiệm.
    • Sự hiện diện của biến trễ của biến phụ thuộc FDit-1 đưa đến khả năng tự tương quan cao.

    Các vấn đề nêu trên có thể khiến hồi quy OLS không nhất quán và ước lượng bị chệch, hay vấn đề nội sinh của các biến chưa thể xử lý triệt để bằng các phương pháp như FE, RE, 2SLS. Phương pháp hồi quy GMM sai phân được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt hơn các vấn đề trên. Tính phù hợp của các biến công cụ trong ước lượng GMM sai phân dữ liệu bảng được đánh giá thông qua thống kê Sargan và thống kê Arellano-Bond. Kiểm định Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ có tính ngoại sinh, nghĩa là nó không tương quan với sai số. Vì thế p-value của thống kê Sargan càng lớn càng tốt. Kiểm định Arellano-Bond được dùng để phát hiện tự tương quan chuỗi ở sai phân bậc 1. Vì thế, kết quả kiểm định tương quan chuỗi bậc một AR(1) không cần quan tâm trong khi tự tương quan chuỗi bậc hai AR(2) được kiểm định dựa trên chuỗi sai phân bậc 1 của sai số để phát hiện hiện tượng tự tương quan bậc 1 của nó.

     

    4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

     

    Bảng 2. Thống kê mô tả giá trị của các biến trong mô hình

     

    Các biến

    Obs

    Mean

    Std.Dev.

    Min

    Max

    FD

    283

    56.37612

    42.37533

    2.942829

    193.4096

    GDPG

    288

    6.121962

    3.199587

    -14.14999

    17.92582

    FO

    288

    -0.1772923

    1.16868

    -1.90359

    2.374419

    TO

    288

    86.15815

    42.05665

    26.27484

    220.4073

    COR

    288

    -0.5388194

    0.5470128

    -1.5

    1.28

    POS

    288

    -0.6288889

    0.866287

    -2.81

    1.28

    RUL

    288

    -0.4327431

    0.4815948

    -1.37

    0.59

    VOI

    288

    -0.5435417

    0.6074961

    -1.78

    0.47

    GEF

    288

    -0.2013889

    0.5165398

    -1.21

    1.27

    REG

    288

    -0.3154514

    0.4845701

    -1.41

    1.29

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

     

    Ghi chú: FD = Financial Development (Phát triển tài chính), GDPG = GDP Growth (Tăng trưởng

     

    GDP), FO = Financial Openness (Độ mở tài chính), TO = Trade Opennes (Độ mở thương mại),

     

    COR = Control of Corruption (Kiểm soát tham nhũng), POS = Political Stability (Ổn định chính

     

    trị), RUL = Rule of Law (Tuân thủ pháp luật), VOI = Voice and Accountability (Tiếng nói và trách

     

    nhiệm), GEF = Government effectiveness (Hiệu quả Chính phủ), REG = Regulatory quality (Chất

     

    lượng quản lý)

     

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu

     

     

    FD

    GDPG

    FO

    TO

    COR

    POS

    RUL

    VOI

    GEF

    REG

    FD

    1.0000

                     

    GDPG

    -0.0423

    1.0000

                   

    FO

    -0.3367

    0.0009

    1.0000

                 

    TO

    0.2617

    0.0212

    0.2471

    1.0000

               

    COR

    0.3093

    0.0598

    -0.1025

    0.2862

    1.0000

             

    POS

    0.0563

    0.2388

    0.2302

    0.5479

    0.4886

    1.0000

           

    RUL

    0.4341

    0.0040

    -0.0857

    0.2863

    0.8429

    0.4082

    1.0000

         

    VOI

    -0.1451

    -0.1461

    0.2925

    -0.0191

    0.1796

    -0.0871

    0.3894

    1.0000

       

    GEF

    0.5292

    -0.0222

    -0.0081

    0.4638

    0.7572

    0.3720

    0.7705

    0.1921

    1.0000

     

    REG

    0.3658

    -0.0959

    0.4001

    0.4033

    0.3840

    0.1626

    0.5269

    0.3385

    0.6621

    1.0000

     

    Nguồn: Tính từ phần mềm Stata 12.0

    Bảng 2 thể hiện giá trị các biến trong mô

    GDPG, FO, VOI và có tương quan thuận với

    hình nghiên cứu, qua đó tỷ lệ tín dụng nội địa

    tất cả các biến còn lại trong mô hình. Điều này

    được cung ứng bởi khu vực tài chính trung bình

    cho thấy đa số các biến thể chế thực sự có tương

    ở các quốc gia trong mẫu đạt giá trị dương 56.3.

    quan dương với phát triển tài chính. Tuy nhiên,

    Chỉ số đánh giá chất lượng thể chế ở các quốc

    kết quả với FO và VOI không như mong đợi

    gia này còn thấp khi mà giá trị trung bình của

    theo lý thuyết tiêu chuẩn, dù vậy đây không

    các chỉ số đều mang dấu âm. Bảng 3 chỉ ra sự

    phải là nghiên cứu đầu tiên có kết quả này.

    phát triển tài chính có tương quan nghịch với

     

    Bảng 4. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình tuyến tính, phương trình 3.1)

     

                 

    Các biến

    Mô hình 1a

    Mô hình 2a

    Mô hình 3a

    Mô hình 4a

    Mô hình 5a

    Mô hình 6a

    FD (-1)

    0.708***

    0.643***

    0.746***

    0.787***

    0.788***

    0.751***

     

    (0.096)

    (0.107)

    (0.096)

    (0.093)

    (0.083)

    (0.100)

    GDPG

    -0.615*

    -0.576*

    -0.763**

    -0.646*

    -0.752**

    -0.689*

     

    (0.344)

    (0.341)

    (0.360)

    (0.353)

    (0.358)

    (0.352)

    FO

    0.509

    0.963

    1.472

    1.934

    1.094

    1.784

     

    (2.627)

    (2.509)

    (2.564)

    (2.546)

    (2.649)

    (2.562)

    TO

    -0.333***

    -0.364***

    -0.287***

    -0.293***

    -0.258***

    -0.287***

     

    (0.094)

    (0.096)

    (0.091)

    (0.101)

    (0.093)

    (0.092)

    COR

    15.703*

             
     

    (8.914)

             

    POS

     

    9.098**

           
       

    (4.176)

           

    RUL

       

    11.394

         
         

    (10.844)

         

    VOI

         

    1.850

       
           

    (7.258)

       

    GEF

           

    9.660

     
             

    (8.701)

     

    REG

             

    9.611

               

    (11.247)

    AR (2) test

    0.26

    0.41

    0.35

    0.38

    0.27

    0.22

    Sargan test

    0.46

    0.49

    0.39

    0.36

    0.42

    0.42

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là sai số chuẩn.

     

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng tại Bảng 4 kết quả thực nghiệm của mô hình tuyến tính (phương trình 3.1) bằng phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng động GMM, với các mô hình từ 1a đến 6a lần lượt từng biến thể chế được đưa vào. Biến trễ phụ thuộc FD(-1) có ý nghĩa thống kê, ngụ ý rằng GMM là một phương pháp ước lượng thích hợp và có thể dựa vào kết quả thực nghiệm để thực hiện suy luận thống kê. Trong đó, hai biến thể chế COR và POS mang tác động dương còn GDPG và TO mang tác động âm có ý nghĩa thống kê tới phát triển tài chính. Kết quả về sự tác động nghịch chiều của tăng trưởng kinh tế đến phát triển tài chính tuy ngược với kỳ vọng nhưng tương đồng với nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2007) và có thể được giải thích thông qua tính nghịch chu kỳ của chính sách tiền tệ. Thực vậy các tử số của biến phụ thuộc là tín dụng nội địa thường được các ngân hàng trung ương lựa chọn là mục tiêu trung gian rõ ràng hoặc ngầm định của chính sách tiền tệ, kết hợp với sự tịnh tiến của mẫu số là GDP. Do đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa GDP và các chỉ số ngân hàng về phát triển tài chính không là sự bất thường, đặc biệt là ở tần suất hàng năm, trùng với các hoạt động của chính sách tiền tệ. Tương tự, độ mở thương mại cũng tác động âm có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính. Trên khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính cho kết quả rất khác nhau. Anutechia (2010) không phát hiện ảnh hưởng của độ mở thương mại đến phát triển tài chính. Hu và Iyke (2018) kết luận độ mở thương mại làm gia tăng phát triển tài chính trong dài hạn, tuy nhiên xét trong ngắn hạn, tác động của nó đến phát triển tài chính là không rõ ràng và có xu hướng ảnh hưởng nghịch chiều đến phát triển tài chính. Khi các quốc gia được phân chia thành hai nhóm có thu nhập thấp và thu nhập trung bình

    thì độ mở tài chính có tác động tích cực đến phát triển tài chính đối với nhóm trước trong khi đó lại nó tác động bất lợi cho phát triển tài chính đối với nhóm sau. Bayar (2017) cho rằng chất lượng thể chế và quy định là cần thiết cho sự tương tác tích cực giữa sự mở cửa thương mại và sự phát triển của tài chính. Do đó, sự tương tác không đáng kể hay tiêu cực giữa độ mở thương mại và phát triển tài chính là kết quả của sự phát triển không đầy đủ của thể chế. Trong khi đó, với sáu biến dẫn xuất cho vấn đề thể chế lần lượt được đưa vào mô hình, có hai biến là tham nhũng và sự ổn định chính trị tác động dương có ý nghĩa thống kê đến phát triển tài chính, phù hợp với giả thuyết thể chế kinh tế của Acemoglu và cộng sự (2004). Kết quả về sự ảnh hưởng của ổn định chính trị đến phát triển tài chính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Roe và Siegel (2008) cho rằng bất ổn chính trị cản trở phát triển tài chính, ổn định chính trị chính là yếu tố then chốt giải thích cho sự phát triển tài chính khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng của phương trình (3.2), kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa phát triển tài chính và thể chế. Việc bổ sung thêm yếu tố thể chế được bình phương cho phép hình thành chuyển động có dạng U của yếu tố này. Kết quả thực nghiệm cho thấy ngoại trừ hai dẫn xuất VOI và GEF không có

     

    • nghĩa thống kê, bốn dẫn xuất còn lại đều có mối quan hệ phi tuyến với tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính. Các hệ số của thể chế và thể chế bình phương lần lượt là âm và dương. Điều này cho thấy tồn tại một mối quan hệ hình chữ U về chất lượng thể chế phát triển tài chính. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Law và Saini (2008). Giá trị ngưỡng của chất lượng thể chế là các biến COR, POS, RUL, REG cũng được xác định cho các quốc gia trong mẫu nhằm làm sáng tỏ hơn về mặt

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    định lượng tầm quan trọng của chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, theo đó giá trị của chúng lần lượt là 0.37, 0.26, 0.54 và 0.62. Điều này có nghĩa là trong bối cảnh chất lượng thể chế của các quốc gia thấp hơn hay bằng mức ngưỡng, chất lượng thể chế có tác động tiêu

    cực đến phát triển tài chính, tức là phát triển tài chính bị suy giảm khi chất lượng thể chế được cải thiện. Tuy nhiên, khi chất lượng thể chế vượt ngưỡng, tác động của chất lượng thể chế đến sẽ̃ trở nên tích cực. Nói cách khác, việc cải cách thể chế dẫn đến phát triển tài chính.

     

    Bảng 5. Kết quả ước lượng GMM (Mô hình phi tuyến tính, phương trình 3.2)

     

    Các biến

    Mô hình 1b

    Mô hình 2b

    Mô hình 3b

    Mô hình 4b

    Mô hình 5b

    Mô hình 6b

    FD (-1)

    1.150***

    1.096***

    0.924***

    1.089***

    1.036***

    1.082***

     

    (0.066)

    (0.063)

    (0.080)

    (0.067)

    (0.077)

    (0.063)

    GDPG

    -0.022

    -0.738**

    -0.097

    -0.029

    0.048

    -0.431

     

    (0.231)

    (0.344)

    (0.317)

    (0.232)

    (0.184)

    (0.320)

    FO

    1.981

    0.631

    3.044

    1.503

    -1.416

    -1.830

     

    (3.095)

    (3.227)

    (3.142)

    (2.935)

    (1.608)

    (1.771)

    TO

    -0.067

    -0.020

    -0.269**

    -0.273**

    -0.069

    -0.078

     

    (0.081)

    (0.088)

    (0.115)

    (0.116)

    (0.072)

    (0.084)

    COR

    -43.586**

             
     

    (22.180)

             

    COR2

    32.993**

             
     

    (16.510)

             

    POS

     

    -23.682**

           
       

    (11.932)

           

    POS2

     

    12.227*

           
       

    (6.378)

           

    RUL

       

    -48.128***

         
         

    (15.814)

         

    RUL2

       

    51.589***

         
         

    (17.012)

         

    VOI

         

    -12.957

       
           

    (12.753)

       

    VOI2

         

    9.816

       
           

    (11.145)

       

    GEF

           

    37.091**

     
             

    (18.215)

     

    GEF2

           

    -29.983

     
             

    (18.860)

     

    REG

             

    -39.638*

               

    (23.783)

    REG2

             

    48.951**

               

    (23.280)

    AR (2) test

    0.83

    0.71

    0.93

    0.70

    0.70

    0.49

    Sargan test

    0.21

    0.50

    0.60

    0.18

    0.21

    0.65

    Nguồn: Tính toán từ phần mềm Stata

     

    Ghi chú: dấu ***, **, *: ký hiệu lần lượt cho các mức ý nghĩa 1%, 5%, và 10%, số liệu trong ( ) là

     

    sai số chuẩn.

     

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    5. Kết luận và hàm ý chính sách

     

    Cả hai nhân tố phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đều là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế (Law và Azman-Saini, 2008). Trong đó, nghiên cứu này xem xét vai trò của chất lượng thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á giai đoạn 2000–2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế mà đặc biệt là yếu tố tham nhũng là sự ổn định chính trị làm gia tăng đáng kể sự phát triển tài chính mà yếu tố tín dụng nội địa được cung ứng bởi khu vực tài chính được sử dụng trong phân tích. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại cũng là hai yếu tố có tầm quan trọng về mặt thống kê đối với phát triển tài chính, tuy nhiên tác động của chúng đến phát triển tài chính là nghịch chiều. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tác động của chất lượng thể

     

    Tài liệu tham khảo

    chế đến phát triển tài chính không đơn điệu và phụ thuộc vào các dẫn xuất của thể chế. Trong số sáu chỉ số chất lượng thể chế, chỉ số tham nhũng, sự ổn định chính trị, tuân thủ pháp luật và chất lượng quản lý có mối quan hệ hình chữ U với sự phát triển tài chính. Kết quả này cho thấy chất lượng thể chế đóng góp vào phát triển tài chính khi mà nó vượt mức ngưỡng. Do đó việc cải thiện chất lượng thể chế hơn nữa có vai trò then chốt nhằm phát triển thị trường tài chính hơn nữa tại các quốc gia đang phát triển tại châu Á. Chính phủ của các nền kinh tế này nên áp dụng các chính sách quản lý hoạt động thị trường tài chính cho khu vực tư nhân một cách có kỷ luật và tăng cường cơ sở hạ tầng thể chế nhằm khai thác các khía cạnh có lợi của các thể chế cụ thể, khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính.

     

    Acemoglu, D., Johnson, S., & Robinson, J. A. (2004). Institutions as a fundamental cause of long-run growth. NBER Working paper 10481.

     

    Demetriades, P., & Andrianova, S. (2004). Finance and growth: what we know and what we need to know. In Financial development and economic growth (pp. 38-65). Palgrave Macmillan, London.

    Anutechia, A. S. (2010). Linkages between Financial Development and Openness: panel evidence from developing countries. MPRA paper no. 26926.

     

    Arestis, P., & Demetriades, P. (1997). Financial development and economic growth: assessing the evidence. The economic journal, 107(442), 783-799.

     

    Baltagi, B. H., Demetriades, P. O., & Law, S. H. (2009). Financial development and openness:

     

    Evidence from panel data. Journal of development economics, 89(2), 285-296.

     

    Baumol, W. (1993). Entrepreneurship, Management and the Structure of Payoffs. London: The MIT Press.

     

    Bayar, Y., Akyuz, F., & Erem, I. (2017). Openness and Financial Development in Central and Eastern European Countries. Studies in Business and Economics, 12(3), 5-16.

     

    Chinn, M. D., & Ito, H. (2002). Capital account liberalization, institutions and financial development: cross country evidence (No. w8967). National Bureau of Economic Research.

     

    Claessens, S., & Leaven, L. (2003). What Drives Bank Competition, Some International Evidence World Bank Policy, Working Paper 3113.

     

    20

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Garretsen, H., Lensink, R., & Sterken, E. (2004). Growth, financial development, societal norms and legal institutions. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 14(2), 165-183.

    Ho, S. Y., & Njindan Iyke, B. (2018). Short-and Long-term Impact of Trade Openness on Financial Development in Sub-Saharan Africa. MPRA Working Paper 84272.

     

    Kaufman, D. (10). Myths about Governance and Corruption,”. Finance and Development, 42(3), 2005.

     

    La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F., Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). Legal determinants of external finance. The journal of finance, 52(3), 1131-1150.

     

    Law, S. H., & Azman-Saini, W. N. W. (2008). The quality of institutions and financial development.

     

    MPRA paper no. 12107.

     

    Levine, R. (2001). International financial liberalization and economic growth. Review of international Economics, 9(4), 688-702.

     

    North, D. C. (1991). Institutions. Journal of economic perspectives, 5(1), 97-112.

     

    Rajan, R. G., & Zingales, L. (2003). The great reversals: the politics of financial development in the twentieth century. Journal of financial economics, 69(1), 5-50.

     

    Roe, M. J., & Siegel, J. I. (2009). Finance and politics: A review essay based on Kenneth Dam’s analysis of legal traditions in the law-growth nexus. Journal of Economic Literature, 47(3), 781-800.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-chi-ti%C3%AAu-ch%C3%ADnh-ph%E1%BB%A7-v%C3%A0-t%E1%BB%B7-gi%C3%A1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-xu%E1%BA%A5t-kh%E1%BA%A9u-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-Ti%E1%BA%BFp-c%E1%BA%ADn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-ARDL.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu chính phủ và tỷ giá đối với xuất khẩu của Việt Nam Tiếp cận mô hình ARDL

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ TỶ GIÁ ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM: TIẾP CẬN MÔ HÌNH ARDL

     

    IMPACT OF FOREIGN DIRECT INVESTMENT, GOVERNMENT

     

    SPENDING AND EXCHANGE RATE ON THE EXPORT PERFORMANCE OF VIETNAM: ARDL APPROACH

     

    Lê Hoàng Phong1, Đặng Thị Bạch Vân2, Phạm Đức Huy3

     

    Ngày nhận: 24/8/2017                Ngày nhận bản sửa: 15/11/2017            Ngày đăng: 5/2/2018

     

    Tóm tắt

     

    Mục đích của nghiên cứu này là nhằm phân tích tác động của một số nhân tố đến xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2015 như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu của Chính phủ và tỷ giá. Trên cơ sở mô hình đa biến, bằng cách tiếp cận mô hình phân phối độ trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag: ARDL) nhóm tác giả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết (ĐLK) giữa các biến với kiểm định bound test và tính toán tác động dài hạn của các biến. Bên cạnh, mô hình UECM-ARDL được sử dụng để đánh giá các tác động ngắn hạn. Thông qua kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài khuyến nghị chính sách xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: ARDL, FDI, chi tiêu chính phủ, tỷ giá

    Abstract

     

    This paper investigates the impact of foreign direct investment, government spending and exchange rate on the export performance of Vietnam over the period of 1986–2015. Using the bound testing approach to cointegration developed within an autoregressive distributed lag (ARDL) framework, we investigate whether a long-run equilibrium relationship exists between export and the determinants as the basis for calculating the long-term effects. Additionally, using unrestricted error correction model based on ARDL approach (UECM-ARDL), we find evidences of the short-run impact. From the study findings, the paper also suggests few solutions to enhance the export policies of Vietnam.

     

    Keywords: ARDL, FDI, government spending, exchange

     

     

    • Trường Đại học Luật TP.HCM

     

    • Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

     

    • Trường Đại học Tài chính – Marketing

    13

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    1. Giới thiệu

     

    Từ khi bắt đầu đổi mới năm 1986, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường, hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực nhằm tạo thêm cơ hội cũng như nâng cao khả năng tận dụng các cơ hội cho phát triển kinh tế. Đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam thu được những thành tựu quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, đưa Việt Nam từ một nước thu nhập thấp sang một nước có thu nhập trung bình thấp. Cũng trong giai đoạn 1986 – 2011, Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại do nhu cầu lớn đối với nguyên vật liệu, thiết bị máy móc hay công nghệ của nước ngoài trong khi khả năng và trình độ sản xuất trong nước còn

    thấp kém, điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn chế và giá trị xuất khẩu chưa đủ bù đắp cho chi tiêu nhập khẩu. Xét về mặt tổng thể, Việt Nam đối diện với tình trạng nhập siêu dai dẳng, tuy nhiên, nếu xét riêng về giá trị xuất khẩu hàng năm, dữ liệu cho thấy có một sự nỗ lực đáng kể trong việc đẩy mạnh xuất khẩu qua các năm (Hình 1). Tỷ lệ đóng góp xuất khẩu/GDP không ngừng tăng qua các năm. Đặc biệt, giai đoạn từ 2012 cho đến nay, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng mạnh mẽ đưa Việt Nam vượt qua giai đoạn nhập siêu trở thành quốc gia xuất siêu. Dấu hiệu này tạo nên các kỳ vọng và những nỗ lực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa.

     

     

     

     

     

    Hình 1: Cán cân thương mại, FDI và chi tiêu Chính phủ của Việt Nam 1986 – 2015

     

     

    Trong phạm vi bài viết này, tác giả sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) kiểm định trên dữ liệu của Việt Nam giai đoạn

    Nguồn: World bank (WB). 1986 – 2015 về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu của Chính phủ và tỷ giá đến xuất khẩu của Việt Nam.

     

    14

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    2. Khung phân tích

     

    Hoạt động xuất khẩu của một quốc gia trở thành chủ đề quan tâm đối với các nhà nghiên cứu lẫn các nhà hoạch định chính sách vì một số lý do cơ bản sau: tăng xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện cán cân thương mại; giải quyết việc làm; cải thiện GDP quốc gia; sự năng động của các ngành xuất khẩu được kỳ vọng tạo động lực cho sáng tạo và đổi mới, trong một số tình huống nhất định tập trung đổi mới và đẩy mạnh xuất khẩu được xem là giải pháp chiến lược để phục hồi kinh tế,… (Bournakis & Tsoukis, 2016).

     

    Vì thế, nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các yếu tố vĩ mô đến hoạt động xuất khẩu được nhiều tác giả tiến hành, như: Arize (1996), Arize và ctg (2000), F.S.T.Hsiao và M.C.W.Hsiao (2006), Sahoo (2006), Mortaza và Narayan (2007), Njong (2008), Wong (2008), Duasa (2009), Babatunde (2009), Chimobi và Uche (2010), Martinez-Martin (2010), Adhikary (2012),…

     

    Về tác động của FDI đến xuất khẩu nhận được sự quan tâm tương đối ít trong các nghiên cứu trước. Về mặt khái niệm, mối quan hệ nhân quả hai chiều tồn tại giữa xuất khẩu và FDI: xuất khẩu tạo ra FDI và sau đó FDI có thể kích thích xuất khẩu. Trong trường hợp FDI tìm kiếm thị trường, xuất khẩu và FDI có xu hướng thay thế cho nhau nhưng trong trường hợp FDI đầu tư để gia tăng năng suất, xuất khẩu và FDI có xu hướng bổ sung (Dunning, 1988; Markusen & Venables, 1998). Các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, khi xuất khẩu sang một thị trường nước ngoài dễ dàng hơn và ít nguy hiểm hơn là đầu tư vào một thị trường nước ngoài (tức là FDI). Các công ty có xu hướng ban đầu để xuất khẩu trong một thị trường nước ngoài và thành lập công ty con hoặc công ty hợp danh

    trên thị trường chỉ sau khi có được kinh nghiệm và kiến thức cần thiết về môi trường kinh tế, chính trị và xã hội của một đất nước (Liu, Wang, & Wei, 2001; Vernon, 1999). Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các doanh nghiệp địa phương trong các nền kinh tế chủ nhà được hưởng lợi từ những ảnh hưởng lan truyền phát sinh từ các công ty con nước ngoài theo định hướng xuất khẩu (Aitken, Hanson & Harrison, 1997; Anwar và Nguyen, 2011; Nguyen và Sun, 2012).

     

    • Việt Nam, theo Nguyen, Sun, & Anwar (2017), trong khi FDI và xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, mối quan hệ này vẫn không nhận được được nhiều sự chú ý trong các nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu chỉ mang tính chất thống kê mô tả. Trong nghiên cứu của mình, Nguyen, Sun, & Anwar tìm thấy rằng FDI tác động mạnh đến xuất khẩu hơn là nhập khẩu, tuy nhiên, tác động này là rất nhỏ (Nguyen, Sun,

    Về tác động của tỷ giá hối đoái đối với xuất khẩu: theo lý thuyết về tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở, khi tỷ giá hối đoái thực tăng (đồng nội tệ được coi là giảm giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài) làm cho xuất khẩu hàng hóa trong nước tăng, nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài giảm và ngược lại (Krugman, Obsfeld và Melitz, 2012). Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành kiểm tra tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau với nhiều kết quả khác biệt. Trong khi Haleem và cộng sự (2005), Mwinuka và Mlay (2015), Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015) chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái tác động dương lên xuất khẩu; Nghiên cứu của Amoro và Shen (2013), Yusoff và Sabit (2015), Trần Thanh Long và

     

    15

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) thì cho thấy tỷ giá hối đoái tác động âm lên xuất khẩu.

     

    Các nghiên cứu tác động của tỷ giá đối với xuất khẩu cho trường hợp Việt Nam như Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú (2015), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015), Trần Thanh Long và Phạm Thị Quỳnh Hoa (2015) chỉ đo lường tác động của tỷ giá và các nhân tố có ảnh hướng đến xuất khẩu của Việt Nam trong phạm vi một ngành xuất khẩu mà không đo lường tổng thể tác động của tỷ giá đối với tổng giá trị xuất khẩu. Một số nghiên cứu khác chỉ ra vai trò của tỷ giá đối với cán cân thương mại Việt Nam (sự chênh lệch giữa tổng giá trị xuất khẩu và tổng giá trị nhập khẩu). Nghiên cứu của Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân (2016, 2017) cho thấy tỷ giá có tác động tích cực đến cán cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nghiên cứu của Hạ Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh (2013) cho thấy tỷ giá có tác động đối với cán cân thương mại theo hiệu ứng tuyến J, tức là tỷ giá có tác động làm thâm hụt cán cân thương mại trong ngắn hạn nhưng có tác động cải thiện trong dài hạn.

     

    Ngoài ra, Bournakis và Tsoukis (2016) đã tìm thấy vai trò đáng kể của Chính phủ trong việc hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu của một quốc gia. Bên cạnh đó, Morrison (1977)

    nghiên cứu về các yếu tố tác động đến xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển cũng tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ với mật độ dân số, các quốc gia có mật độ dân số cao có xu hướng vươn ra thế giới nhiều hơn (Yanikkaya, 2003; Adhikary, 2012).

     

    Nhìn chung, việc có tồn tại mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô như FDI, tỷ giá, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu hay không trong các nghiên cứu thực nghiệm trên vẫn chưa đạt sự đồng thuận trong kết quả nghiên cứu xuất phát từ sự khác biệt trong mẫu nghiên cứu, các biến đại diện, các công cụ kinh tế lượng cũng như đặc thù công nghệ, cấu trúc riêng của mỗi quốc gia. Vì vậy, mối quan hệ giữa chúng vẫn là nguồn cảm hứng cho tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với dữ liệu của Việt Nam.

     

    3. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu hàng năm trong khoảng thời gian 1986 – 2015. Dữ liệu các biến được thu thập từ World bank (WB), gồm biến phụ thuộc là xuất khẩu (EXP), các biến giải thích gồm: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mật độ dân số (PD), chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ (GC), tỷ giá (E). Các biến được thể hiện ở dạng logarit cơ số tự nhiên.

     

         

    Bảng 1: Tóm tắt các biến trong mô hình

               
     

    S

    Biến

     

    Giải thích biến

     
     

    TT

       
             
               
     

    1

    LEX

    Logarit tự nhiên của giá trị Xuất khẩu trên GDP

     
     

    P

     
             
             
     

    2

    LFDI

    Logarit tự nhiên của Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP.

     
             
     

    3

    LPD

    Logarit tự nhiên của mật độ dân số.

     
             
     

    4

    LGC

    Logarit tự nhiên của chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ

     
     

    trên GDP.

       
             
             
     

    5

    LE

    Logarit tự nhiên của tỷ giá USD/VND (E).

     
               

    4. Phương pháp nghiên cứu

    gian là tính dừng của dữ liệu. Khi các biến tích

    Một yêu cầu khi hồi quy dữ liệu chuỗi thời

    hợp ở các mức I (0) và I(1), các phương pháp

           

    16

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    kiểm định đồng liên kết như phương pháp Engle and Granger (1987) dựa vào phần dư 2 giai đoạn và maximum likelihood của Johansen (1988) có thể thiên chệch kết quả về sự tương tác giữa các biến trong dài hạn. Liên quan tới vấn đề này, phương pháp phân phối trễ tự hồi quy (ARDL: Autoregressive distributed lag) được đề xuất bởi Pesaran, Shin và Smith (1996) cho kết quả ước lượng không thiên chệch ngay cả khi các biến tích hợp ở các mức I(0) và I(1) trong mô hình (Nieh và Wang, 2005). Vì vậy, một điểm thuận lợi của ARDL là không cần thiết xem xét mức tích hợp của các biến trong mô hình (Ahmed, Muzib, và Roy, 2013).

     

    Cũng theo Pesaran và cộng sự (1996) và Hamuda và cộng sự (2013), nếu như chúng ta không đảm bảo về thuộc tính về nghiệm đơn vị hay tính dừng của hệ thống dữ liệu, các biến không cùng mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp dụng thủ tục ARDL là thích hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm. Bên cạnh, theo Pesaran và cộng sự (1996), Hamuda và cộng sự (2013), phương pháp ARDL còn có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp ĐLK khác:

     

    Thứ nhất, trong trường hợp số lượng mẫu nhỏ, mô hình ARDL là cách tiếp cận có ý nghĩa thống kê hơn để kiểm định tính ĐLK,

    trong khi đó kỹ thuật ĐLK của Johansen yêu cầu số mẫu lớn hơn để đạt được độ tin cậy.

     

    Thứ hai, trái với các phương pháp thông thường để tìm mối quan hệ dài hạn, phương pháp ARDL không ước tính hệ phương trình, mà nó chỉ ước tính một phương trình duy nhất.

     

    Thứ ba, các kỹ thuật ĐLK khác yêu cầu các biến hồi quy được đưa vào liên kết có độ trễ như nhau thì trong cách tiếp cận ARDL, các biến hồi quy có thể dung nạp các độ trễ tối ưu khác nhau.

     

    Thứ tư, cách tiếp cận ARDL cung cấp các ước lượng dài hạn không thiên lệch nếu một số các hồi quy mô hình là nội sinh.

     

    Dựa trên những thuận lợi của phương pháp ARDL, nhóm tác giả tiến hành sử dụng phương pháp này cho bài nghiên cứu của mình.

     

    Mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) trong phân tích dữ liệu chuỗi thời gian bao gồm hai thành phần: (i) Thành phần trễ (DL: Distributed Lag) – biến giải thích có thể ảnh hưởng đến biến phụ thuộc với độ trễ; (ii) Thành phần tự hồi quy (AR: Autoregressive) – biến phụ thuộc cũng có thể liên quan đến giá trị của thời kỳ trước (độ trễ) của chúng. Mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL p1 , p2 , p3 , p4 , p5 cho bài nghiên cứu có thể viết dưới dạng sau:

     

    p1

    p2

         

    LEXPt1, i LEXPt  i

    2, j LEt   j

         

    1

    0

     

    (1)

     

    p3

    p4

    p5

       

    3, k LFDI t  k

    4, l LPDt  l

    5, m LGCt  m

    t .

     

    0

    0

    0

       

    Ký hiệu     p1 , p2 , p3 , p4 , p5           là các độ trễ tối

     

    ưu của các biến trong mô hình. Việc lựa chọn độ trễ tối ưu cho các biến có thể được thực hiện bằng việc dựa vào các tiêu chuẩn AIC hay SBC.

     

    Theo Pesaran và Pesaran (1997), kiểm định

    đường bao (Bound test) là bước đầu tiên của thủ tục ARDL, để xác định việc tồn tại hay không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là xác định việc có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến hay không.

     

    17

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    p1

    p 2

         

    LEXPt1, i   LEXPt  i2, j   LEt   j

         

    1

    0

         

    p 3

    p 4

    p5

       

    3, k    LFDI t  k

    4, l    LPDt  l

    5,m

    LGCt  m

    (2)

    0

    0

    m  0

       

    1 LEXPt  1             2 LEt  1        3 LFDI t  1       4 LPDt  1        5 LGCt  1        t .

     

    Các giả thuyết kiểm định mối quan hệ ĐLK giữa các biến như sau: Giả thuyết H0:

    1 2 3 4 5 0 : không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các

     

    biến.                    Giả                    thuyết                    H1:

     

    1 2 3 4 5 0 : tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến, tức là tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến.

     

    Để kiểm định giả thuyết H0, tác giả so sánh giá trị của thống kê F (F-statistic) tính toán với giá trị giới hạn của hai đường bao ứng với các mức ý nghĩa chuẩn (đường bao dưới ứng với I(0), đường bao trên ứng với I(1)): Nếu giá trị

    của thống kê F (F-statistic) lớn hơn giá trị giới hạn của đường bao trên ứng với I(1) thì bác bỏ giả thuyết H0. Kết luận tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến. Nếu giá trị của thống kê F (F-statistic) nhỏ hơn giá trị giới hạn của đường bao dưới ứng với I(0) thì chấp nhận giả thuyết H0. Kết luận không tồn tại mối quan hệ ĐLK giữa các biến.

     

    Nếu giá trị của thống kê F (F-statistic) nằm giữa hai đường bao thì không rút ra được kết luận. Hiệu chỉnh sai số (Error correction term) sẽ được dùng xác định ĐLK (Kremers và cộng sự, 1992).

     

    Phương trình cân bằng dài hạn được viết dưới dạng sau:

     

           

    LEXP

    12

    LE

    3

    LFDI

     

    4

    LPD

    5

    LGC

    .

           

    (3)

    Trong đó, các hệ số dài hạn  12345

    được xác định như sau:

                   
                     

    p2

               

    p

               

    p

             

    p

       
                   

    2, j

             

    3

               

    4

             

    5

       
                               

    3, k

               

    4, l

             

    5,m

       
       

    ;

         

    0

    ;

         

    0

     

    ;

         

    0

    ;

           

    0

    .

    (4)

     

    p

    2

       

    p

    3

       

    p

     

    4

       

    p

    5

     

    p

    1

                                                 
     

    1

           

    1

             

    1

             

    1

             

    1

       
     

    11, i

           

    11, i

             

    11, i

             

    11, i

           

    11,i

       
       

    1

               

    1

                 

    1

                 

    1

             

    1

       

    Mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM – ARDL) với độ trễ            p1 , p2 , p3 , p4 , p5     theo phương pháp

     

    Engle – Granger như sau:

     

    LEXP

    p1

     

    p1

       

    LEXP

    ( i   1)

       

    t

       

    1, i

    t

       
     

    i   2

     

    i

               

    2,0     LEt

    p2

     

    p2

     

    LEt   ( j   1)

           
       

    2, j

           
                         
     

    j   2

     

    j

               
                       
     

    p3

    p3

               

    3,0LFDI t3, k

    LFDIt   ( k   1)

     
     

    k   2

    k

               

    4,0     LPDt

    p4

       

    p4

     

    LPDt   ( l   1)

         
       

    4, l

         
     

    l   2

       

    l

                 
     

    p5

     

    p5

     

    LGCt   (1)

       

    5,0     LGCt

    5, m

       
     

    m   2

    m

               
                                       

    p

    (11, i ) ECM t   1t .

     

    • 11

    18

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    (5)

     

    Trong đó ECMt-1 là sai số hiệu chỉnh, phản ánh tốc độ điều chỉnh hướng tới cân bằng dài hạn.

    p1

    p2

       

    ECM1LEXPt1, i LEXPt  i2, j LEt  j

     

    1

    0

    (6)

     

    p3

    p4

    p5

     

    3, k LFDI t  k

    4, l LPDt  l

    5,m LGCt  m .

     

    0

    0

    0

     

    Để đảm bảo mô hình ARDL đáng tin cậy và ổn định, cần thực hiện các kiểm định chẩn đoán liên quan như: kiểm định Wald, kiểm định dạng sai mô hình thông qua kiểm định RESET của Ramsey, kiểm định Larange multiplier (LM) để kiểm tra tính tự tương quan, kiểm định phương sai sai số thay đổi, định tính ổn định của phần dư của mô hình thông qua kiểm định tổng tích lũy của phần dư (CUSUM: Cumulative Sum of Recursive Residuals) và tổng tích lũy hiệu chỉnh của

    phần dư (CUSUMSQ: Cumulative Sum of Square of Recursive Residuals).

     

    1. Kết quả nghiên cứu

    5.1. Kiểm định nghiệm đơn vị

     

    Kiểm định nghiệm đơn vị để chắc chắn rằng không có biến nào tích hợp ở bậc 2, bởi vì hồi quy có thể là giả mạo nếu các biến dừng

     

    • sai phân bậc 2. Kết quả kiểm định nghiệm

    đơn vị của các biến theo phương pháp ADF của Dickey và Fuller (1979) như sau:

     

    Bảng 2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị của các biến:

     

     

    Biến

    Giá trị thống kê t

     

    Kết luận

    Bậc tích hợp

     
                 
     

    LEXP

    -3,417**

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
                 
     

    LE

    -6,455***

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
                 
     

    LFDI

    -6,329***

     

    Chuỗi dừng

    I(0)

     
               
     

    LPD

    -0,965

    Chuỗi không dừng

       
                 
     

    ΔLPD

    -5,346***

     

    Chuỗi dừng

    I(1)

     
               
     

    LGC

    -2,677

    Chuỗi không dừng

       
                 
     

    ΔLGC

    -8,430***

     

    Chuỗi dừng

    I(1)

     
               
       

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

    Bảng 2 cho thấy ở mức ý nghĩa 5%, các

    không cùng mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp

    biến LEXP, LE và LFDI cùng tích hợp bậc 0,

    dụng  thủ  tục  ARDL  là  thích  hợp  nhất  cho

    riêng LPD VÀ LGC tích hợp bậc 1. Điều này

    nghiên cứu thực nghiệm).

    cho thấy việc sử dụng phương pháp ARDL là

    5.2. Kiểm định đường bao (bound test)

    thích hợp theo phương pháp nghiên cứu được

    Kiểm định đường bao nhằm xác định mối

    trình  bày  ở  mục  4  (Theo  Pesaran  và  Shin

    quan hệ ĐLK giữa các biến cho kết quả như

    (1999), Hamuda và cộng sự (2013), các biến

    Bảng 3.

       

     

    19

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 3: Kết quả kiểm định đường bao (bound test)

     

    Intercept and no trend

    Số

    Giá trị

     

    Giá trị giới hạn của các đường bao

       

    biến

    thống kê F

         
                     

    k

    F-statistic

    90%

    95%

    97,5%

    99%

     

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

    I(0)

    I(1)

     
       

    4

    17,965

    2,425

    3,574

    2,850

    4,049

    3,292

    4,518

    3,817

    5,122

     

    Kết quả Bảng 3 cho thấy giá trị F-statistic lớn hơn giá trị giới hạn đường bao trên ứng với mức ý nghĩa 1% được cung cấp ở phần phụ lục trang 478, Pesaran và Pesaran (1997). Như vậy có thể bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: có sự tồn tại mối quan hệ ĐLK

    giữa các biến, hay nói cách khác là tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình.

     

    5.3. Lựa chọn độ trễ của mô hình ARDL Dựa vào tiêu chí SBC, độ trễ tối ưu của mô

     

    hình ARDL là ARDL (1, 1, 2, 0, 1) (Bảng 4).

     

    Bảng 4: Ước lượng mô hình ARDL với biến phụ thuộc LEXP

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

             

    LEXP(-1)

    0,06593

    0,17118

    0,3852

    0,705

             

    LE

    0,97502***

    0,18373

    5,3069

    0,000

             

    LE(-1)

    -0,35007*

    0,17790

    -1,9679

    0,065

             

    LFDI

    0,19449***

    0,05303

    3,6678

    0,002

             

    LFDI(-1)

    -0,24133***

    0,04214

    -5,7265

    0,000

             

    LFDI(-2)

    0,08931***

    0,03027

    2,9506

    0,009

             

    LPD

    1,78940***

    0,61100

    2,9286

    0,009

             

    LGC

    -0,17956

    0,15897

    -1,1295

    0,274

             

    LGC(-1)

    0,43655**

    0,16996

    2,5686

    0,019

             

    INPT

    -12,7470***

    2,84560

    -4,4795

    0,000

             

    R-Squared

    0,99

    DW-statistic

    1,680

           

    R-Bar-Squared

    0,98

    Schwarz Bayesian Criterion

    27,204

           

    F-statistic

    277,883

    Pob (F-statistic)

    0,000

             

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Mô hình ARDL vừa tìm được có R2  hiệu

    Tác  giả đã tiến hành các kiểm định liên

    chỉnh bằng 0,98, tức là mô hình giải thích đến

    quan như: kiểm định Wald, kiểm định dạng sai

    98% sự biến động của biến xuất khẩu theo các

    mô  hình  thông  qua  kiểm  định  RESET  của

    biến: tỷ giá, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mật

    Ramsey, kiểm định Larange multiplier (LM)

    độ dân số và chi tiêu tiêu dùng của Chính phủ.

    để  kiểm  tra  tính  tự  tương  quan,  kiểm  định

    5.4. Các kiểm định tính phù hợp của mô

    phương sai sai số thay đổi (Bảng 5).

    hình

     
     

    20

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 5: Các kiểm định chẩn đoán

     

     

    STT

    Kiểm định

     

    Thống kê

       

    Giá trị thống kê

     

    Xác suất

     
                                         
     

    1

    Wald

       

    CHSQ(9)

       

    2500,949

     

    0,000

     
                               
         

    F(9, 18)

       

    277,883

     

    0,000

     
                                   
                                           
     

    2

    Dạng hàm

     

    CHSQ( 1)

         

    0,003

     

    0,955

     
                             
       

    F(1, 17)

         

    0,002

     

    0,964

     
                                     
                                           
     

    3

    Tự tương quan

     

    CHSQ( 1)

         

    0,534

     

    0,465

     
                             
       

    F(1, 17)

         

    0,330

     

    0,573

     
                                     
                           
     

    4

    Phương sai sai số

     

    CHSQ( 1)

         

    0,891

     

    0,345

     
     

    thay đổi

       

    F (1, 26)

         

    0,854

     

    0,364

     
                     
                                     
                   

    Bên cạnh, tác giả kiểm định tính ổn định

    of Recursive Residuals) (Hình 3) đều cho thấy

    của phần dư của mô hình thông qua kiểm định

    tổng tích lũy của phần dư và tổng tích lũy hiệu

    tổng   tích   lũy   của   phần   dư   (CUSUM:

    chỉnh  của  phần  dư  đều  nằm  trong  dải  tiêu

    Cumulative  Sum  of  Recursive  Residuals)

    chuẩn ứng với mức ý nghĩa 5% nên có thể kết

    (Hình 2) và tổng tích lũy hiệu chỉnh củ

    phần

    luận phần dư  ủa mô hình có tính ổn định và

                       

    Plot of Cumulative Sum of

    Recursive

       
                             

    Residuals

           

    dư (CUSUMSQ: Cumulative Sum of Square

    vì thế mô hình là ổn định.

       
       

    15

                                           
                                               
       

    10

                                         
                                             
       

    5

                                       
                                           
       

    0

                                       
       

    -5

                                         
                                             
       

    -10

                                     
                                         
       

    -15

           

    1993

    1998

    2003

    2008

    2013

     

    2015

     
                 
       

    1988

       
                       

    Plot of Cumulative Sum of Squares

       
                       

    The straight lines represent critical bounds at 5% significance level

       
                       

    Hình 2: Tổng tích lũy củ  phần dư.

       
                         

    of Recursive Residuals

       
       

    1.5

                                 
                                     
       

    1.0

                                 
                                     
       

    0.5

                                   
                                       
       

    0.0

                                 
                                     

    -0.5

    1993

    1998

    2003

    2008

    2013

    2015

    1988

    The straight lines represent critical bounds at 5% significance level

    Hình 3: Tổng tích lũy hiệu ch ỉnh của phần dư.

     

     

    Kết quả các kiểm định cho thấy mô hình đáng tin cậy và ổn định, đảm bảo để ước lượng các hệ số dài hạn và ngắn hạn.

     

    5.5. Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL:

     

    Bảng 6 trình bày kết quả ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL với độ trễ (1, 1, 2, 0, 1). Với kết quả tính toán từ mô hình ARDL cho thấy: trong dài hạn các biến đều có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam

    (LEXP).

     

    5.6. Ước lượng các hệ số ngắn hạn của mô hình ARDL:

     

    Để phân tích ảnh hưởng của xu hướng thay đổi ngắn hạn lên cân bằng trong dài hạn, nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Bảng 7 trình bày kết quả ước lượng các hệ số ngắn hạn từ mô hình ARDL với các độ trễ được lựa chọn.

     

    21

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Bảng 6: Ước lượng các hệ số dài hạn của mô hình ARDL

     

    với các độ trễ (1, 1, 2, 0, 1) với biến phụ thuộc LEXP

     

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

    LE

    0,669***

    0,136

    4,929

    0,000

    LFDI

    0,045**

    0,076

    2,676

    0,015

    LPD

    1,915***

    0,365

    5,248

    0,000

    LGC

    0,275*

    0,152

    1,810

    0,087

    INPT

    -13,647***

    1,332

    -10,241

    0,000

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Kết quả cho thấy trong ngắn hạn, trong điều

    nước ngoài có tác động cùng chiều với biến

    kiện các yếu tố khác không đổi, biến thiên của

    thiên xuất khẩu ở hiện tại, nhưng giá trị biến

    tỷ giá hối đoái và mật độ phân bố dân số có tác

    thiên một năm trước đó có tác động trái chiều.

    động dương đến biến thiên của xuất khẩu của

    Trong khi sự tác động của chi tiêu Chính phủ

    Việt Nam. Còn biến thiên của đầu tư trực tiếp

    không có ý nghĩa về mặt thống kê.

    Bảng 7: Kết quả tính toán tác động ngắn hạn bằng mô hình

     

    hiệu chỉnh sai số (ECM) dựa trên cách tiếp cận ARDL với biến phụ thuộc ΔLEXP

     

    Biến

    Hệ số

    Độ lệch chuẩn

    Thống kê t

    Xác suất

    ΔLE

    0,975***

    0,184

    5,307

    0,000

    ΔLFDI

    0,194***

    0,053

    3,668

    0,001

    ΔLFDI (-1)

    -0,089***

    0,030

    -2,951

    0,008

    ΔLPD

    1,789***

    0,611

    2,929

    0,008

    ΔLGC

    -0,179

    0,159

    -1,130

    0,271

    INPT

    -12,747***

    2,846

    -4,480

    0,000

    ECM(-1)

    -0,934***

    0,171

    -5,456

    0,000

    R-Squared

    0,97

    DW-statistic

    1,731

    R-Bar-Squared

    0,96

    Schwarz Bayesian Criterion

    27,204

    F-statistic

    146,723

    Pob (F-statistic)

    0,000

    Ghi chú: ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Với:

     

    ECM   LEXP   0, 669  LE   0, 045  LFDI

    (7)

     

    1,916  LPD   0, 275  LGC   13, 647   INPT.

       

    Phần sai số hiệu chỉnh cung cấp thông tin phản hồi hay tốc độ điều chỉnh của các hệ số ngắn hạn quy tụ về cân bằng dài hạn trong mô hình. Hệ số của phần sai số hiệu chỉnh ECM(-

     

    • có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đã đảm bảo rằng nghiên cứu có tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp như đã tìm ra ở phần kiểm định

    đường bao theo Pesaran (1997). Phần sai số hiệu chỉnh nằm trong khoảng [-1 < -0,934 < 0]. Điều này cho thấy mức độ điều chỉnh tới 93% sự sai lệch giữa giá trị ngắn hạn để đạt cân bằng dài hạn. Mô hình ECM giải thích được 96% sự biến động của chỉ số xuất khẩu

    của Việt Nam trong ngắn hạn.

     

    1. Kết luận

    Kết quả thực nghiệm cho thấy trong dài hạn, sự biến động của xuất khẩu của Việt Nam được giải thích bởi sự biến động của các biến: tỷ giá, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mật độ dân số và chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ. Chúng đều có tác động một cách tích cực và có ý nghĩa thống kê đến xuất khẩu (LEXP) của Việt Nam.

     

    Với thị trường nội địa tương đối nhỏ, Việt Nam theo đuổi các chính sách kinh tế mở cửa và khuyến khích với hoạt động FDI, đã thu hút

     

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    được nhiều FDI định hướng xuất khẩu quan trọng. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, mặc dù trong ngắn hạn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với xuất khẩu không rõ ràng nhưng trong dài hạn lại có tác động tích cực, khi cứ 1% tăng lên của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP làm cho EXP tăng 0,045% với mức ý nghĩa 5%. Tuy nhiên, tác động này là rất thấp. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyen, Sun, & Anwar (2017).

     

    Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế (VEPR), sở dĩ FDI tăng là do Việt Nam là nước có lợi thế xuất khẩu khi giá nhân công rẻ, chi phí đầu vào trung bình rẻ hơn so với nhiều nước khác, nguyên liệu nhiều ngành như nông sản, thủy sản có tại chỗ,… (Quốc Hùng và Hồng Phúc, 2015). Vì thế, để tận dụng cơ hội với nguồn vốn FDI, khi đưa ra các ưu đãi đầu tư, Việt Nam cần phải có chọn lọc đối với ngành, lĩnh vực nhất định phù hợp với chính sách xuất khẩu, nhằm đạt mục tiêu và định hướng phát triển theo từng giai đoạn.

     

    Trong mô hình, biến tỷ giá có tác động tích cực đến EXP, cứ 1% tăng lên của tỷ giá thì EXP tăng 0,669% với mức ý nghĩa 1%. Để cải thiện xuất khẩu, đối với cơ chế điều hành tỷ giá hiện thời, Chính phủ cần có những biện pháp nhằm giảm thiểu những rủi ro, đặc biệt là

     

    Tài liệu tham khảo

    tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá trong giới hạn ổn định cho phép, theo hướng ổn định vĩ mô. Để ổn định tỷ giá, một điểm tựa vững chắc để ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ cũng cần kiểm soát chặt chẽ cung tiền. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng và đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, trong đó ưu tiên lĩnh vực xuất khẩu.

     

    Trong dài hạn, khi các điều kiện vĩ mô đã chín muồi, thị trường tài chính trong nước được cải thiện cùng với các cơ chế giám sát hữu hiệu, mở cửa tài chính là bắt buộc và tất yếu theo lộ trình cam kết mở cửa tài khoản vốn, thì cơ chế thả nổi tỷ giá có quản lý là một lựa chọn hợp lý.

     

    Mặc khác, kết quả thực nghiệm minh chứng tác động của chi tiêu tiêu dùng Chính phủ đối với xuất khẩu của Việt Nam trong ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê nhưng có tác động thúc đẩy xuất khẩu trong dài hạn, khi mà cứ 1% tăng lên của chi tiêu tiêu dùng Chính phủ thì EXP tăng 0,275% với mức ý nghĩa 10%. Điều này hàm ý: Chính phủ cần điều tiết chi tiêu tiêu dùng, quan tâm để đạt được cân bằng cán cân ngân sách trung và dài hạn, đồng thời để tạo cú hích cho xuất khẩu hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững.

     

    Adhikary, B. K. (2012). Impact of foreign direct investment, trade openness, domestic demand, and exchange Rate on the export performance of Bangladesh: A VEC Approach. Economics Research International, 2012.

     

    Ahmed, M.U., Muzib, M. and Roy, A. (2013). Price-Wage Spiral in Bangladesh:Evidence from ARDL Bound Testing Approach. International Journal of Applied Economics, 10(2), pp. 77-103.

     

    Amoro, G., Shen. Y. (2013). The Determinants of Agricultural Export: Cocoa and Rubber in Cote d’Ivoire. International Journal of Economics and Finance. 5(1), pp. 77-103.

     

    Anwar, S., & Nguyen, L. P. (2011). Foreign direct investment and export spillovers: Evidence from Vietnam. International Business Review, 20(2), pp. 177-193.

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Aitken, B., Hanson, G. H., & Harrison, A. E. (1997). Spillovers, foreign investment, and export behavior. Journal of International Economics, 43(1), pp. 103-132.

     

    Arize, A. C. (1996). The effects of exchange-rate volatility on U.S.exports: an empirical investigation. Southern Economic Jour-nal, vol. 62, no. 1, pp. 34–43.

     

    Arize, A. C., Osang, T., & Slottje, D. J. (2000). Exchange-rate volatil- ity and foreign trade: evidence from thirteen LDC’s. Journal of Business and Economic Statistics, vol. 18, no. 1, pp. 10–17.

     

    Babatunde, M. A. (2009). Can trade liberalization stimulate export performance in Sub-Saharan Africa?. Journal of International and Global Economic Studies, vol. 2, no. 1, pp. 68–92.

     

    Bournakis, I., and Tsoukis, C. (2016). Government size, institutions, and export performance among OECD economies. Economic Modelling, 53, 37-47.

     

    Chimobi, O. P. and Uche, U. C. (2010). Export, domestic demand and economic growth in Nigeria: granger causality analysis. European Journal of Social Sciences, vol. 13, no. 2, pp. 211– 218.

     

    Dickey, D. and Fuller, W. (1979). Distribution of the Estimators for Autoregressive Time Series with a Unit Root. Journal of the American Statistical Association (74), pp. 427-431.

     

    Duasa, J. (2009). Asymmetric cointegration relationship between real exchange rate and trade variables: the case ofMalaysia. MPRA Paper 1453.

     

    Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of International Business Studies, 19(1), pp. 1-31.

     

    Engle,  R.   F.,   and   C.   W.   J.   Granger.   (1987).   Co-Integration   and   Error    Correction:

     

    Representation, Estimation, and Testing. Econometrica, 55, pp. 251-276.

     

    Haleem, U. et al. (2005). Estimation of Export Supply Function for Citrus Fruit in Pakistan.

     

    The Pakistan Development Review, 44 (4), pp. 659–672.

     

    Hamuda, A. M., Suliková, V., Gazda, V. & Horváth, D. (2013). ARDL investment model of Tunisia. Theoretical and Applied Economics. (20:2), pp. 57-68.

     

    Hà Thị Thiều Dao và Phạm Thị Tuyết Trinh. (2013). Mối quan hệ tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán. Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng, số 103, trang 17-24.

     

    Hsiao, F. S. T. and Hsiao, M. C. W. (2006). FDI, exports, and GDP in East and Southeast Asia-Panel data versus time-series causality analyses. Journal of Asian Economics, vol. 17, no. 6, pp. 1082–1106.

     

    Johansen, S. (1988). Statistical Analysis of Cointegration Vectors. Journal of Economic Dynamic and Control, 12, pp. 231-254.

     

    Krugman, P. R., Obsfeld, M., Melitz, M. (2012). International economic. 9th ed, Addison Wesley Pearson.

     

    Le Hoang Phong and Dang Thi Bach Van. (2017). The impact of macroeconomic factors on trade balance in Vietnam. Banking Technology Review. No.1, September, 2017

     

    Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân. (2016). Tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đối với cán cân thương mại tại Việt Nam. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 123, trang 25-35.

     

    24

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Liu, X., Wang, C., & Wei, Y. (2001). Causal links between foreign direct investment and trade in China. China Economic Review, 12(2), pp. 190-202.

     

    Markusen, J. R., & Venables, A. J. (1998). Multinational firms and the new trade theory.

     

    Journal of International Economics, 46(2), pp. 183-203.

     

    Martinez-Martin, J. (2010). On the dynamics of exports and FDI: the Spanish internationalization process. Working Paper 2010/10, Research Institute of Applied Economics, Barcelona, Spain.

     

    Mwinuka, L., and Mlay, F. (2015). Determinants and Performance of Sugar Export in Tanzania. Journal of Finance and Economics, 3(1), pp. 6-14.

     

    Mortaza, M. G. and Narayan, C. D. (2007). Foreign direct investment, trade liberalization and economic growth: empirical evidence from South Asia and implications for Bangladesh. Working Paper Series 0712, Policy Analysis Unit, Bangladesh Bank, Dhaka, Bangladesh.

     

    Morrison, T. K. (1977). The Effects of Population Size and Population Density on the Manufactured Exports of Developing Countries. Southern Economic Journal, pp. 1368-1371.

     

    Nieh, C. C., Wang, Y. S. (2005). ARDL Approach to the Exchange Rate Overshooting in Taiwan. Review of Quantitative Finance and Accounting, 25, pp. 55–71.

     

    Njong, A. M. (2008). Investigating the effects of foreign direct investment on export growth in Cameroon. In Proceedings of the UNECA Ad-hoc Expert Group Meeting Paper, Addis Ababa, Ethiopia.

     

    Nguyen, D. T. H., & Sun, S. (2012). FDI and Domestic Firms’ Export Behaviour: Evidence

     

    from Vietnam. Economic Papers: A journal of applied economics and policy, 31(3), pp. 380-390.

     

    Nguyen, D. T. H., Sun, S., & Anwar, S. (2017). A long-run and short-run analysis of the macroeconomic interrelationships in Vietnam. Economic Analysis and Policy, Vol. 54, pp. 15-25.

     

    Pesaran, M. H., Shin, Y. and Smith, R. J. (1996). Bounds Testing Approaches to the Analysis of Level Relationships. DEA Working Paper 9622, Department of Applied Economics, University of Cambridge.

     

    Pesaran, M.H. and Pesaran B. (1997). Working with Microfit 4.0 – Interactive Econometric Analysis. Oxford University Press, pp. 478.

     

    Phạm Thị Ngân và Nguyễn Thanh Tú. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của VN sang thị trường Âu Mỹ. Tạp chí Khoa học thương mại, Số 80, trang 10 – 19.

     

    Quốc Hùng – Hồng Phúc. (2015). Liệu có làn sóng lớn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hậu TPP, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/136616/Lieu-co-lan-song-lon-dau-tu-nuoc-ngoai-vao-Viet-Nam-hau-TPP.html

     

    Sahoo, P. (2006). Foreign direct investment in South Asia: policy, trends, impact and determinants. ADB Institute Discussion Paper 56, 2006.

     

    Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ. (2015). Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản VN: Phân tích bằng mô hình trọng lực. Chuyên đề Kinh tế & Chính trị thế giới, Số 3, trang 47 – 52.

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 43, 02/2018

     

    Trần Thanh Long và Phan Thị Quỳnh Hoa. (2015). Phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu thủy sản của VN. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 13, trang 32– 34.

     

    Vernon, R. (1999). International investment and international trade in the product cycle. The Internationalization of the Firm: A Reader, pp. 14-26.

     

    Wong, H.-T. (2008). Exports and domestic demand: some empirical evidence in ASEAN 5.

     

    Labuan Bulletin of International Business and Finance, vol. 6, pp. 39–55.

     

    Yanikkaya, H. (2003). Trade openness and economic growth: a cross-country empirical investigation. Journal of Development economics, 72(1), 57-89.

     

    Yusoff, M. B., and Sabit, A. H. (2015). The Effects of Exchange Rate Volatility on ASEAN-China Bilateral Exports. Journal of Economics, Business and Management, 3(5), pp. 479-482.

     

     

     

     

     

     

     

    26


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Các loại động cơ bước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-r%E1%BB%A7i-ro-thanh-kho%E1%BA%A3n-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng nghiên cứu thực nghiệm Trường hợp Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM: TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

     

    THE DETERMINANTS OF BANK LIQUIDITY RISK EMPIRICAL

     

    EVIDENCE FROM VIETNAM

     

    Trần Thị Thanh Nga4, Trầm Thị Xuân Hương5

     

    Ngày nhận: 20/9/2017                Ngày nhận bản sửa: 24/1/2018               Ngày đăng: 5/4/2018

     

    Tóm tắt

     

    Bài viết sử dụng dữ liệu Bankscope và ADB trong giai đoạn 2005 – 2015 để nghiên cứu nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản (RRTK) trường hợp Việt Nam. Thông qua phương pháp SGMM cho dữ liệu bảng, nghiên cứu cho thấy RRTK chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: Chất lượng tài sản thanh khoản, Vốn ngân hàng, Dự phòng rủi ro tín dụng, Thu nhập lãi thuần, Lạm phát và Cung tiền. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về các yếu tố Tăng trưởng kinh tế, Quy mô ngân hàng và Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến RRTK trường hợp Việt Nam. Điều này gợi mở hàm ý chính sách quan trọng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam để kiểm soát RRTK.

     

    Từ khóa: rủi ro thanh khoản, ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro thanh khoản.

     

    Abstract

     

    The paper uses Bankscope and ADB data for the 2005-2015 period to identify the determinants of the liquidity risk in Vietnam. Through the SGMM methodology for panel data, research has shown that the liquidity risk is influenced by the following factors: asset quality, bank capital, credit risk provision, net interest income, inflation and money supply. In addition, the results of the study did not find statistically significant evidence of the factors of economic growth, bank size and financial crisis affecting the liquidity risk in Vietnam. This suggests an important policy implication for commercial banks in Vietnam to control liquidity risk.

     

    Key words: liquidity risk, commercial banks, liquidity risk management.

     

     

    1. Giới thiệu

    độ và sức lan truyền, có thể làm ngưng trệ hoạt

     

    Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất

    động của một hay nhiều ngân hàng. Chính vì

    trong các rủi ro của ngân hàng, nó không chỉ đe

    ảnh hưởng lớn vừa mang tính cục bộ vừa mang

    dọa sự an toàn của từng ngân hàng thương mại,

    tính toàn cầu của loại rủi ro này, quản trị RRTK

    mà còn liên quan đến sự an toàn của cả hệ thống

    trở thành một vấn đề thường trực mang tính

    ngân  hàng  (Eichberger,  Jürgen,  &  Martin

    sống còn cho ngành ngân hàng nói riêng và kinh

    Summer, 2005). Khi RRTK xảy ra, tùy vào mức

    tế nói chung.

           
     

    4 Trường Đại học Tài chính – Marketing

     
     

    5 Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM

     
         

    26

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Tài liệu nghiên cứu riêng về RRTK khá phổ biến. Nghiên cứu thực nghiệm về quản trị RRTK nhằm ổn định ngân hàng (Acharya & Naqvi, 2012), hầu như các tác giả không chỉ mở rộng định nghĩa mà còn đưa ra các kỹ thuật quản trị RRTK. Các nghiên cứu về RRTK được xem là một trong các loại rủi ro ngân hàng như rủi ro tín dụng hoặc là một trong nhưng yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (Bourke, 1989; Shen và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK (Bonfim & Kim, 2014; Bunda & Desquilbet, 2008; Gibilaro, Giannotti, & Mattarocci, 2010; Horváth, Seidler, & Weill, 2012; Skully & Perera, 2012; Vodova, 2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK.

     

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, nhóm tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK của ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này của nhóm tác giả đóng góp vào tài liệu khoa học trên các khía cạnh khác nhau. Thứ nhất: Nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết RRTK ngân hàng tại Việt Nam. Thứ hai: Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng tại Việt Nam. Thứ ba: Trên cơ sở kế thừa mô hình nghiên cứu trước và có điều chỉnh các biến nghiên cứu cho phù hợp với tình hình Việt Nam, đề tài bổ sung thêm biến giả khủng hoảng để đánh giá sự ảnh hưởng đến RRTK tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu giúp các nhà quản lý ngân hàng có một phương pháp tiếp cận và đo lường các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng. Đồng thời nghiên cứu bổ sung kết quả thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng của RRTK ngân hàng trường hợp Việt Nam. Đây là cơ sở để các nhà quản lý ngân hàng hoàn thiện khung chính sách quản lý và điều hành hệ thống ngân hàng ở cả khía cạnh vĩ mô (cơ quan quản lý) và

    góc độ vi mô (quản trị ngân hàng) nhằm mục tiêu kiểm soát tốt RRTK cho hệ thống ngân hàng hiện nay.

     

    1. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

     

    2.1 Các lý thuyết về rủi ro thanh khoản Theo Rudolf Duttweiler, thanh khoản đại

     

    diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản. Dưới góc độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu thanh khoản kéo dài sẽ dẫn

     

    đến RRTK. Bonfim and Kim (2012) cho rằng sự phức tạp của vai trò trung gian tài chính của ngân hàng làm phát sinh rủi ro nguy hiểm đó là rủi ro thanh khoản. Các ngân hàng sử dụng các nguồn lực hạn chế của mình trong việc cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng để tài trợ thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của họ. Hơn nữa, phần lớn các nguồn lực được sử dụng bởi các ngân hàng này thường được gắn liền với nghĩa vụ nợ phải trả trong các hình thức nhận tiền gửi. Vì mục tiêu lợi nhuận, các ngân hàng đã chuyển đổi các khoản nợ (tiền gửi kỳ hạn ngắn) để cho vay trung và dài hạn. Sự không phù hợp về kỳ hạn đã dẫn đến RRTK cho các ngân hàng (Diamond và Dybvig, 1983). Để giảm bớt sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả nhằm kiểm soát trạng thái thanh khoản kém, các ngân hàng có thể quản lý đầy đủ các RRTK thông qua cấu trúc bảng cân đối kế toán bằng cách giữ một bộ đệm thanh khoản. Tuy nhiên, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản thanh

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    khoản đó là yếu tố lợi nhuận, nếu ngân hàng nắm giữ tài sản thanh khoản để đảm khả năng thanh khoản càng nhiều thì lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại. Do đó, mặc dù các ngân hàng có các ưu đãi trong việc nắm giữ bộ đệm tài sản thanh khoản (tiền mặt, tài sản ngắn hạn và trái phiếu chính phủ) nhưng khó để đảm bảo an toàn thanh khoản trong quản lý hoạt động kinh doanh ngân hàng Bonfim and Kim (2012).

     

    Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (1997) cho rằng RRTK là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoặc nghĩa vụ nợ với chi phí thấp nhất. Brunnermeier (2009) nhấn mạnh rằng nếu các ngân hàng không quản lý RRTK phù hợp, chắc chắn các ngân hàng phải đối mặt với một cú sốc thanh khoản, phải thường xuyên bán tháo tài sản thanh khoản và giảm cho vay đối với nền kinh tế. Có thể thấy rằng, vấn đề RRTK của từng NHTM cũng như RRTK hệ thống của toàn hệ thống ngân hàng đã không nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản trị ngân hàng cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 xảy ra. Chính vì vậy, việc đo lường và đưa ra các cảnh báo về khả năng xảy ra RRTK hệ thống cho cả hệ thống NHTM là hết sức cần thiết.

     

    2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Các nghiên cứu về chủ đề thanh khoản tập trung về nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản. Nghiên cứu Lucchetta (2007) cho rằng lãi suất phi rủi ro của chính sách tiền tệ đã tác động tiêu cực đến quyết định nắm giữ thanh khoản của ngân hàng và quyết định cho vay trên thị trường liên ngân hàng, còn lãi suất liên ngân hàng có tác động tích cực đối với những quyết định này của ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu không cân bằng của 5066 ngân hàng châu Âu trong khoảng thời gian giữa năm 1998 và 2004

    để kiểm tra mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và cho vay trên thị trường liên ngân hàng trong điều kiện lãi suất thay đổi. Tác giả sử dụng chính sách tiền tệ với công cụ lãi suất là chủ yếu để nghiên cứu lãi suất tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro và quyết định nắm giữ thanh khoản của các ngân hàng. Các biến quan trọng có ảnh hưởng quyết định cho vay trên thị trường liên ngân hàng là Giá cả trên thị trường liên ngân hàng (phụ thuộc vào cung cầu thanh khoản và lãi suất phi rủi ro) và biến Tỷ lệ thanh khoản. Kết quả cũng cho thấy Lãi suất của chính sách tiền tệ tác động tiêu cực đến quyết định nắm giữ thanh khoản của ngân hàng và cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Vẫn sử dụng Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản để đo lường rủi ro thanh khoản, (Bunda & Desquilbet, 2008) sử dụng dữ liệu bảng nhằm phân tích các yếu tố quyết định đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng từ các nền kinh tế mới nổi. Kết quả cho thấy, Quy mô của một ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến rủi ro thanh khoản, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản như một biện pháp an toàn vốn có tác động tích cực đến RRTK. Họ cho thấy rằng, trong thời gian khủng hoảng thanh khoản, ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng. Với các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, tác động đối với RRTK cũng khác nhau, các ngân hàng ở các nước có chế độ tỷ giá thả nổi ít có khả năng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản so với ở các nước có cơ chế trung gian. (Hackethal, Rauch, Steffen, & Tyrell, 2010) nghiên cứu dựa vào bộ dữ liệu gồm 1107 ngân hàng thương mại ở 36 quốc gia có nền kinh tế mới nổi, từ năm 1997 đến 2006 nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK, từ đó xác định các yếu tố tác động đến sáng tạo thanh khoản. Theo nghiên cứu này, các yếu tố kinh tế vĩ mô như Chính sách thắt chặt tiền tệ đã tác động tiêu cực vào việc tạo ra tính thanh

     

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    khoản ngân hàng thông qua kênh lãi suất. Với mức thất nghiệp hiện tại, cần kích cầu việc làm thông qua việc tăng trưởng tín dụng như là kênh bơm vốn nhằm duy trì sức khỏe cho nền kinh tế nói chung và điều này ảnh hưởng tiêu cực đến thanh khoản và cuối cùng tác động tích cực về rủi ro thanh khoản. Họ kết luận rằng chỉ có các yếu tố vĩ mô và chính sách tiền tệ có liên quan chặt chẽ với rủi ro thanh khoản còn các các yếu tố đặc trưng của ngân hàng như quy mô và hiệu quả hoạt động ngân hàng không có mối tương quan với RRTK.

     

    Tiếp tục tiếp cận nguyên nhân gây ra RRTK, trong nghiên cứu các yếu tố tác động đến RRTK của ngân hàng thương mại ở Cộng Hòa Séc, (Vodova, 2011) đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng xem xét các yếu tố mang tính đặc trưng và các yếu tố kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2001 – 2010. Các biến bao gồm Quy mô của các ngân hàng, Lợi nhuận ngân hàng, Cuộc khủng hoảng tài chính, GDP, Tỷ lệ lạm phát, Lãi suất liên ngân hàng, Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, và Tỷ lệ thất nghiệp. Nghiên cứu cho rằng thanh khoản ngân hàng đã có mối tương quan dương đến lợi nhuận ngân hàng, an toàn vốn và quy mô của ngân hàng. Thanh khoản ngân hàng giảm với tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Nghiên cứu cho thấy tính thanh khoản của các NHTM Cộng Hòa Séc cao hơn khi hệ số an toàn vốn cao hơn và lãi suất cho vay cao hơn. Ngược lại với các tài liệu trước đây, (Vodova, 2011) thấy rằng các ngân hàng càng lớn thường tính thanh khoản thấp hơn; điều này phù hợp với lý thuyết “Too big to fail” dùng để chỉ đến trường hợp đặc biệt trong nền kinh tế, đó là những công ty lớn hay tập đoàn có qui mô hoạt động rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của một quốc gia, một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra dù

    vì lý do gì, Chính phủ nước đó sẽ không để công ty hay tập đoàn sụp đổ bằng những biện pháp như hỗ trợ vốn, trả nợ, sáp nhập hoặc chính Nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm bảo đảm hoạt động của tập đoàn được duy trì một cách bình thường. Hay các ngân hàng lớn hơn ít động cơ để giữ thanh khoản vì họ dựa vào sự can thiệp của Chính phủ trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản. Thông thường, có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô và thị trường chứng khoán, tính thanh khoản của các ngân hàng niêm yết có xu hướng lớn hơn các ngân hàng không niêm yết.

     

    Khác với các nghiên cứu trước, (Munteanu, 2012) chia bộ dữ liệu của 27 ngân hàng ở Romania làm 2 giai đoạn, trước khủng hoảng 2002 – 2007 và sau khủng hoảng 2008 – 2010 để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến RRTK ngân hàng tại Romania. Tác giả sử dụng 5 biến đặc trưng ngân hàng gồm: Tỷ lệ an toàn vốn, Chất lượng tài sản, Tài trợ liên ngân hàng, Chi phí tài trợ, Tổng chi phí trên thu nhập. Đồng thời sử dụng 5 biến bên ngoài ngân hàng: Tỷ lệ lãi suất ROBOR, Tỷ lệ rủi ro tín dụng, Tỷ lệ lạm phát, Tỷ lệ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ thất nghiệp. Được đo lường bằng 2 biến phụ thuộc: (1) L1 = khoản cho vay thực/tổng tài sản; (2) L2 = tài sản lưu động/tiền gửi và tài trợ ngắn hạn, thông qua phương pháp hồi quy đa biến. Tác giả cho rằng, công thức L2 là phù hợp nhất khi đánh giá rủi ro thanh khoản. Kết quả cho thấy, yếu tố ổn định của ngành ngân hàng (Z-score) có ảnh hưởng đáng kể đối với RRTK ngân hàng trong những năm khủng hoảng 2008 – 2010.

     

    Khắc phục khe hở nghiên cứu trước, Cucinelli (2013) tiếp cận phương pháp đo lường thanh khoản theo quy định của Basel 3, tác giả sử dụng 2 biến phụ thuộc để đo lường tỷ lệ thanh khoản bao gồm: Hệ số thanh khoản (LCR) và Tỷ lệ tài trợ (NSER) và 6 biến độc lập

     

    29

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    gồm: Quy mô ngân hàng, Rủi ro tín dụng,Tỷ lệ vốn tự có, Chuyên môn của ngân hàng trong hoạt động cho vay, Tỷ lệ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát INF, 2 biến giả: Khủng hoảng và Ngân hàng niêm yết. Nhóm nghiên cứu sử dụng 1080 quan sát ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu để phân tích các nhân tố tác động đến thanh khoản trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu có chú ý đến yếu tố khủng hoảng thanh khoản. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng càng lớn thì tính thanh khoản càng thấp, tỷ lệ vốn càng cao phản ánh tính thanh khoản cao của ngân hàng, khủng hoảng tài chính chỉ ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng trong ngắn hạn. Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn chuyên biệt hơn trong các hoạt động cho vay có khả năng thanh khoản thấp hơn; điều này có thể là do xu hướng của các ngân hàng có tâm lý trong trường hợp họ có vấn đề có thể tiếp cận vốn người cho vay cuối cùng (Vodova, 2011). Thanh khoản có mối tương quan dương với quy mô vốn của ngân hàng trong dài hạn, chất lượng tài sản đánh giá khả năng quản lý thanh khoản tốt chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn.

     

    Khu vực Châu Á có nghiên cứu (Abdullah & Khan, 2012) kiểm tra sự khác biệt trong quản trị RRTK giữa ngân hàng nội và ngoại ở Paskitan giai đoạn 2001 – 2010. Thông qua kỹ thuật ước lượng mô hình hồi quy, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng và RRTK có mối tương quan âm, ngân hàng càng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản thì RRTK càng giảm. Nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan âm giữa RRTK và lợi nhuận ngân hàng (ROE), điều đó có nghĩa nếu lợi nhuận ngân hàng càng gia tăng, rủi ro thanh khoản càng thấp vì ngân hàng có thể dựa vào lợi thế nhờ quy mô. Tiếp cận mối quan hệ giữa thanh khoản và cấu trúc vốn ngân hàng, (Lei & Song, 2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa sáng tạo thanh khoản và cấu trúc vốn ngân

    hàng ở Trung Quốc. Trên cơ sở kiểm định giả thuyết “Cấu trúc mong manh tài chính” và giả thuyết “Hấp thụ rủi ro” cho thấy cấu trúc vốn ngân hàng có mối tương quan âm với sáng tạo thanh khoản đối với ngân hàng nội, các ngân hàng ngoại mối tương quan này chưa thấy rõ. Kết quả nghiên cứu cho hàm ý rằng cấu trúc vốn ngân hàng thấp, ngân hàng cần phải nỗ lực huy động nguồn tài trợ để tạo tính thanh khoản do đó tạo tính thanh khoản hơn. Hơn nữa, nếu tỷ lệ vốn cao, ngân hàng sẽ chủ động tài trợ vốn cho các nhà đầu tư từ các khoản tiền gửi có tính thanh khoản cao, điều này tạo các khoản tài sản có tính thanh khoản thấp hơn hay tỷ lệ vốn ngân hàng cao, tính thanh khoản thấp hơn. Kết quả nghiên cứu phù hợp giả thuyết “Cấu trúc mong manh tài chính” hay tỷ lệ vốn và thanh khoản có mối tương quan âm (Berger & Bouwman, 2013).

     

    Tại Việt Nam, nghiên cứu về RRTK khá hiếm và nếu có chỉ có nghiên cứu định tính hoặc tiếp cận góc độ quản trị RRTK hoặc nhận diện nguyên nhân của RRTK. (Trương Quang Thông, 2013) sử dụng dữ liệu của các NHTM Việt Nam từ 2002 – 2011 để nhận diện các nguyên nhân gây ra RRTK đối với hệ thống NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTK không những phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô mà còn phụ thuộc vào các yếu tố đặc trưng của ngành ngân hàng như Quy mô tổng tài sản, Dự trữ thanh khoản, Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy biến Tổng tài sản có tác động phi tuyến đến RRTK, qua đó, giai đoạn đầu, một khi tài sản tăng sẽ làm giảm RRTK ngân hàng, khi tổng tài sản tăng đến một mức nào đó sẽ làm tăng RRTK. Nghiên cứu mối quan hệ giữa RRTK và rủi ro tín dụng, Võ Xuân Vinh (1/2017) sử dụng dữ liệu thu thập từ báo cáo thường niên từ các NHTM Việt Nam giai

     

    30

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    đoạn 2007 -2015, phân tích dựa trên mô hình tự hồi quy dạng vector (VAR) cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa RRTK và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, biến trễ của RRTK và rủi ro tín dụng lại ảnh hưởng đến chính rủi ro đó ở hiện tại. Theo tác giả quan sát, đây có lẽ là 2 nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận riêng lẻ về RRTK, tuy nhiên tác giả chưa khai thác hết các biến ảnh hưởng đến RRTK trong mô hình lý thuyết và chưa giải quyết vấn đề nội sinh trong mô hình nghiên cứu.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu yếu tố nào ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng trong trường hợp Việt Nam, tác giả đã trích tách số liệu bảng trong giai đoạn 2005 – 2015 của Việt Nam gồm 26 ngân hàng với 312 quan sát từ bộ dữ liệu ngân hàng khu vực Đông Nam Á nguồn Bankscope và dữ liệu thông tin vĩ mô từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Trên cơ sở các dữ liệu nghiên cứu, đề tài xác định các biến nghiên cứu và mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK tại Việt Nam, nghiên cứu lần lượt sử dụng kỹ thuật ước lượng cho dữ liệu bảng từ mô hình OLS đến kỹ thuật ước lượng hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Do hạn chế của mô hình Pool OLS trong ước lượng dữ liệu bảng với các hiện tượng bị chệch do phương sai thay đổi, tự tương quan hay nội sinh (Kiviet, 1995), do đó kỹ thuật ước lượng GMM hệ thống được sử dụng để xử lý các vấn đề nêu trên (Arellano & Bond, 1991; Hansen, 1982; Hansen, Heaton, & Yaron, 1996). Trong nghiên cứu này, tác giả dùng OLS để kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi, tiếp đến sử dụng FEM và REM kiểm tra khả năng mô hình bị nội sinh và sử dụng GMM hệ thống để xử lý nội sinh. Ngoài ra, phương pháp GMM cũng cho ra

    các hệ số ước lượng vững, phân phối chuẩn và hiệu quả. Phần mềm Stata phiên bản 12 được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu này.

     

    Đề tài dựa trên cách tiếp cận của Shen và cộng sự (2009) và có bổ sung các biến kinh tế vĩ mô như Tăng trưởng kinh tế GDP, Lạm phát (INF), Cung tiền (M2) và biến giả Khủng hoảng nhằm đánh giá tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến RRTK trường hợp Việt Nam.

     

    LIQUIDITYRISKt = f(α, LIQUIDITYRISKt-1, SIZEit, SIZEit^2, LIAit, LLRit, LADSit, ETAit, LLPit, NIMit GDPit, INFit, M2it,, D_CRISt, u)

     

    Trong đó: Biến phụ thuộc, LIQUIDITY RISK: FGAP (chênh lệch giữa các khoản tín dụng và huy động vốn chia cho tổng tài sản), NLTA (Dư nợ tín dụng/Tổng tài sản), NLST (Dư nợ tín dụng/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn). Biến độc lập gồm: Quy mô ngân hàng (SIZEit): Log (tổng tài sản); Bình phương quy mô ngân hàng (SIZEit^2 ); Chất lượng tài sản thanh khoản gồm các biến : LIAit (Tài sản thanh khoản/tổng tài sản), LLRit (tài sản thanh khoản/ Tổng dư nợ tín dụng), LADSit (Tài sản thanh khoản/Tổng nguồn vốn huy động ngắn hạn). Ngân hàng sở hữu chất lượng tài sản thanh khoản càng cao, cấu trúc thanh khoản càng cao, rủi ro thanh khoản càng thấp và ngược lại; Cấu trúc vốn (ETAit): vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, vốn càng lớn ngân hàng có xu hướng ít nắm giữ tài sản thanh khoản hay RRTK cao hơn; Rủi ro tín dụng (LLPit): Dự phòng rủi ro tín dụng/ Cho vay ròng đo lường rủi ro tín dụng. Các ngân hàng có tỷ trọng cho vay cao, có tính thanh khoản thấp hơn hay cơ cấu vốn dễ bị tổn thương hơn, rủi ro thanh khoản cao hơn; Thu nhập lãi thuần (NIM): (Thu từ lãi – Chi từ lãi)/ Tài sản có rủi ro lãi suất. Các biến vĩ mô: Tăng trưởng kinh tế (GDPit): Sự thay đổi thực trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo năm đối với từng

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    quốc gia; Biến động của lạm phát (INFit): Tỷ lệ thay đổi CPI cho từng Quốc gia của từng năm; Cung tiền (M2it): gia tăng cung tiền từng Quốc gia của từng năm; Biến giả: D_CRIS: Đánh giá tác động của khủng hoảng đến RRTK. Trong đó: α ( hệ số chặn), i (ngân hàng), t (năm), u (phần dư mô hình)

     

    1. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

    Để đánh giá của các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng, nghiên cứu sử dụng 12 hồi quy khác nhau (Bảng 1). Nghiên cứu sử dụng các kiểm định (test) như: F, LM, Hausman test để chọn mô hình thích hợp cho phân tích. Tỷ lệ VIF đều nhỏ hơn 20, nên mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Các F test, LM test, cho thấy các P-value của F, LM test đều nhỏ hơn 5% (<0,05), có bằng chứng để bác bỏ các giả thuyết. Kiểm định Hausman cho kết quả p-value (Prob > F) của mô hình đều nhỏ hơn 0.05 (Bảng 1), đều này cho thấy mô hình FEM là phù hợp hơn REM. Kiểm định LM cho kết quả REM là phù hợp hơn Pooled OLS. Như vậy giữa phương pháp REM và FEM thì FEM là phương pháp phù hợp nhất để ước lượng mô hình 1. Như vậy, ước lượng FEM thích hợp hơn REM và OLS trong việc xác định, giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK, trường hợp tại các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên kiểm định Wooldridge và Wald có P-value (<0,05) cho thấy tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong FEM, điều này khiến cho kết quả của các hệ số hồi quy sẽ không hiệu quả.

     

    Nghiên cứu sử dụng kiểm định Sargan Test để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Kết quả cho thấy hệ số p-value đều lớn hơn 0.05, kết luận biến công cụ được sử dụng trong mô hình GMM thỏa mãn tính over-identifying. Ngoài ra, kiểm định tự tương quan bậc hai cho kết quả p-value đều lớn hơn 0.05,

    kết luận phần dư của mô hình GMM không tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc hai. Biến công cụ được sử dụng trong mô hình đều thõa mãn hai kiểm định đề ra. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.

     

    Xét về tương quan, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK trường hợp Việt Nam phù hợp với những dự đoán trên cơ sở khoa học. Kết quả cho thấy biến trễ của biến RRTK (FGAP) đều có tương quan dương với RRTK ở mức ý nghĩa 1%. Nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của Delécha et al. (2012). Rủi ro thanh khoản có tác động lẫn nhau và có tương quan dương giữa các thời kỳ.

     

    Kết quả cũng tìm thấy biến đa số các thang đo chất lượng tài sản thanh khoản (LIA, LLR ) đều có tương quan âm với các biến Rủi ro thanh khoản ở mức ý nghĩa 1%. Điều này có nghĩa, ngân hàng càng dự trữ tài sản thanh khoản cao, cấu trúc thanh khoản càng cao, RRTK càng thấp và ngược lại. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy vốn có tương quan dương với rủi ro thanh khoản với mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu khá tương đồng với nghiên cứu của Berger và Bouwman (2013) và phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam. Toby (2006) nghiên cứu về nguồn gốc gây ra rủi ro thanh khoản của các ngân hàng Mỹ dựa trên lý thuyết khả năng thay đổi “Shiftability theory” giải thích rằng tính thanh khoản của một ngân hàng phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (công cụ ngắn hạn trên thị trường mở) trong một mức giá dự đoán được. Vốn ngân hàng tác động đến thanh khoản thông qua hai tác động riêng biệt: “Cấu trúc mong manh tài chính” và “Cấu trúc lấn át tiền gửi”. Tác động của “Cấu trúc mong manh tài chính” được đặc trưng bởi vốn thấp hơn, RRTK thấp hơn (Diamond & Rajan, 2001)

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản ngân hàng, nghiên cứu trường hợp Việt Nam

     

    Biến phụ thuộc: Rủi ro thanh khoản (FGAP, NLTA, NLST). Biến độc lập: SIZE – Quy mô ngân hàng; SIZE^2 – Bnh phương quy mô ngân hàng; LIA- Chất lượng tài sản thanh khoản; LLR – Chất lượng tài sản thanh khoản, LADS – chất lượng tài sản thanh khoản; ETA – vốn; LLP- Rủi ro tín dụng; NIM -Thu nhập lãi cận biên. Các biến số kinh tế vĩ mô: GDP – tăng trưởng GDP , M2 – cung tiền, INFL – Lạm phát, d_cris – Biến giả khủng hoảng 2008. Giai đoạn nghiên cứu 2004 – 2015, Phương pháp ước lượng OSL, FEM, REM và GMM.

    Mô hình hồi quy (1): LIQUIDITYRISKt = f(α, LIQUIDITYRISKt-1, SIZEit, SIZEit^2, LIAit, LLRit, LADSit  ETAit, LLPit, NIMit GDPit, INFit, M2it , D_CRISt, u).

     

       

    Model

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

       

    GMM

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

         

    GMM

       

    OLS

       

    FEM

       

    REM

       

    GMM

       
                                                             
                                                                                       
       

    Variable

             

    FGAP

                 

    NLTA

                       

    NLST

           
                                                                         
       

    L.fgap

       

    0.213***

       

    0.0652**

       

    0.154***

       

    0.0744**

                                                         
                                                                                       
           

    [7.17]

    [2.45]

     

    [5.34]

    [2.44]

                                                       
                                                                         
       

    L.nlta

                               

    0.533***

       

    0.322***

       

    0.530***

         

    0.118

                               
                                                                                       
                                   

    [15.56]

     

    [7.47]

     

    [15.40]

     

    [0.73]

                             
                                                                     
       

    L.nlst

                                                         

    0.600***

       

    0.149***

       

    0.541***

       

    0.0394

       
                                                                                       
                                                             

    [11.67]

    [3.66]

    [9.95]

    [0.61]

     
                                           
       

    size

       

    -0.0999*

       

    -0.136**

       

    -0.107*

       

    0.00701

       

    -16.35***

       

    -15.86**

       

    -16.45***

         

    -35.27

       

    -41.76***

       

    -20.36**

       

    -40.63***

       

    -27.67

       
                                                                                       
           

    [-1.84]

    [-2.30]

     

    [-1.89]

    [0.05]

    [-3.88]

     

    [-2.52]

     

    [-3.87]

     

    [-1.36]

    [-4.22]

    [-2.19]

    [-3.31]

    [-0.99]

     
                                           
       

    size2

       

    0.00714*

       

    -0.000133

       

    0.00730*

       

    -0.015

       

    1.211***

       

    0.641

       

    1.217***

         

    2.289

       

    3.178***

       

    0.957

       

    3.238***

       

    1.747

       
                                                                                       
           

    [1.77]

    [-0.03]

     

    [1.73]

    [-1.07]

    [3.88]

     

    [1.30]

     

    [3.87]

     

    [0.95]

    [4.33]

    [1.31]

    [3.53]

    [0.63]

     
                                           
       

    lia

       

    -0.451***

       

    -0.256*

       

    -0.500***

       

    0.115

       

    12.47

       

    3.798

       

    12.05

         

    -13.78

       

    -321.6***

       

    -113.0***

       

    -325.9***

       

    -189.7***

       
                                                                                       
           

    [-3.73]

    [-1.72]

     

    [-4.15]

    [0.30]

    [1.18]

     

    [0.26]

     

    [1.14]

     

    [-0.38]

    [-10.67]

    [-4.58]

    [-10.16]

    [-3.79]

     
                                           
       

    llr

       

    -0.00144***

       

    -0.00102***

       

    -0.00128***

       

    -0.000741***

       

    -0.164***

       

    -0.139***

       

    -0.164***

         

    -0.106***

       

    -0.173***

       

    -0.190***

       

    -0.177***

       

    -0.152***

       
                                                                                       
           

    [-7.81]

    [-6.47]

     

    [-7.21]

    [-3.84]

    [-8.76]

     

    [-7.25]

     

    [-8.75]

     

    [-3.11]

    [-4.12]

    [-6.74]

    [-4.10]

    [-3.82]

     
                                           
       

    lads

       

    0.00208**

       

    0.000017

       

    0.00211**

       

    -0.00286

       

    -0.0829

       

    -0.139

       

    -0.0825

         

    -0.0757

       

    2.520***

       

    0.798***

       

    2.431***

       

    1.257***

       
                                                                                       
           

    [2.40]

    [0.02]

     

    [2.49]

    [-1.39]

    [-1.20]

     

    [-1.47]

     

    [-1.20]

     

    [-0.42]

    [12.07]

    [4.76]

    [11.26]

    [4.30]

     
                                           
       

    eta

       

    0.00846***

       

    0.00794***

       

    0.00867***

       

    0.0109***

       

    -0.0545

       

    -0.133

       

    -0.056

         

    0.0835

       

    -0.968***

       

    0.00178

       

    -0.850***

       

    -0.319

       
                                                                                       
           

    [7.28]

    [6.65]

     

    [7.68]

    [6.48]

    [-0.60]

     

    [-1.22]

     

    [-0.62]

     

    [0.29]

    [-4.56]

    [0.01]

    [-3.76]

    [-0.94]

     
                                           
       

    llp

       

    0.00302

       

    -0.00742

       

    -0.00296

       

    -0.0114***

       

    0.279

       

    -0.489

       

    0.254

         

    1.352

       

    -1.17

       

    -0.2

       

    -1.775*

       

    -0.713

       
                                                                                       
           

    [0.52]

    [-1.49]

     

    [-0.53]

    [-2.85]

    [0.65]

     

    [-1.09]

     

    [0.59]

     

    [0.67]

    [-1.18]

    [-0.30]

    [-1.73]

    [-0.78]

     
                                           
       

    nim

       

    0.0176***

       

    0.0191***

       

    0.0171***

       

    0.0144***

       

    0.0528

       

    0.487

       

    0.0531

         

    0.578

       

    -0.739

       

    0.954

       

    -1.515

       

    1.843**

       
                                                                                       
           

    [3.46]

    [3.86]

     

    [3.33]

    [4.97]

    [0.13]

     

    [1.03]

     

    [0.13]

     

    [0.65]

    [-0.78]

    [1.36]

    [-1.46]

    [2.24]

     
                                           
       

    gdp

       

    -0.0119

       

    -0.00316

       

    -0.00935

       

    0.00426

       

    -1.504

       

    -0.961

       

    -1.508

         

    0.355

       

    -3.484

       

    0.652

       

    -3.558*

       

    0.65

       
                                                                                       
           

    [-0.92]

    [-0.33]

     

    [-0.81]

    [0.75]

    [-1.61]

     

    [-1.16]

     

    [-1.62]

     

    [0.30]

    [-1.60]

    [0.53]

    [-1.81]

    [0.69]

     
                                                                                       

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    infl

    0.00047

     

    -0.000702

     

    0.0000273

     

    -0.00125**

    -0.062

    -0.0803

     

    -0.0614

       

    -0.239***

    -0.157

     

    -0.0806

     

    -0.0898

     

    -0.286***

                                               
     

    [0.36]

     

    [-0.73]

     

    [0.02]

     

    [-2.48]

    [-0.64]

    [-0.96]

     

    [-0.64]

       

    [-3.62]

    [-0.70]

     

    [-0.65]

     

    [-0.44]

     

    [-3.78]

                                               

    m2

    -0.00000823

     

    0.00000698

     

    -0.00000752

     

    0.0000105

    -0.000685

    -0.0000297

     

    -0.000686

       

    -0.00107

    -0.000941

     

    -0.00107

     

    -0.00151

     

    -0.00274**

                                               
     

    [-1.18]

     

    [1.19]

     

    [-1.20]

     

    [1.29]

    [-1.36]

    [-0.06]

     

    [-1.37]

       

    [-1.25]

    [-0.80]

     

    [-1.38]

     

    [-1.38]

     

    [-2.56]

                                               

    d_cris

    -0.0780**

     

    -0.00432

     

    -0.0645**

     

    0.0192

    -2.582

    -0.873

     

    -2.601

       

    2.349

    -5.193

     

    1.998

     

    -6.396

     

    3.501

                                               
     

    [-2.41]

     

    [-0.18]

     

    [-2.23]

     

    [1.04]

    [-1.10]

    [-0.41]

     

    [-1.11]

       

    [0.96]

    [-0.94]

     

    [0.63]

     

    [-1.27]

     

    [1.32]

                                               

    _cons

    0.196

     

    0.478**

     

    0.196

     

    0.0875

    100.7***

    126.6***

     

    101.3***

       

    182.0**

    214.5***

     

    153.5***

     

    218.9***

     

    188.3***

                                               
     

    [0.94]

     

    [2.16]

     

    [0.93]

     

    [0.23]

    [6.20]

    [5.56]

     

    [6.21]

       

    [2.48]

    [5.60]

     

    [4.61]

     

    [4.96]

     

    [2.97]

                                               

    N

    245

     

    245

     

    245

     

    216

    236

    236

     

    236

       

    207

    235

     

    235

     

    235

     

    206

                                               

    R-sq

    0.778

     

    0.738

           

    0.86

    0.721

             

    0.859

     

    0.661

           
                                               

    Mean VIF

         

    4.15

         

    4.6

                 

    5.8

       
                                               

    White’s

    Ho: homoskedasticity

           

    Ho: homoskedasticity

           

    Ho: homoskedasticity

           

    test

    chi2(99) = 208.50

             

    chi2(99) = 181.52

           

    chi2(99) = 230.64

             
     

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           
                                   

    F-test

             

    F test that all u_i=0:

         

    F test that all u_i=0:

           

    F test that all u_i=0:

                 

    F(25, 206) = 9.90

         

    F(25, 197) = 4.16

           

    F(25, 196) = 21.82

                 

    Prob > F = 0.0000

         

    Prob > F = 0.0000

           

    Prob > F = 0.0000

                                               

    Hausman

    Ho: difference in coefficients not systematic

       

    Ho: difference in coefficients not systematic

     

    Ho: difference in coefficients not systematic

    test

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 470.02

       

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 41.94

     

    chi2(11) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 981.01

     

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           

    Prob > chi2 = 0.0000

           
                                       

    Bresh-

               

    Test: Var(u) = 0

         

    Test: Var(u) = 0

             

    Test: Var(u) = 0

    Pagan test

             

    chibar2(01) = 51.05

         

    chibar2(01) = 7.69

           

    chibar2(01) = 3.92

             

    Prob > chibar2 = 0.0000

         

    Prob > chibar2 = 0.0028

           

    Prob > chibar2 = 0.0239

    Sargan

    H0: overidentifying restrictions are valid

       

    H0: overidentifying restrictions are valid

     

    H0: overidentifying restrictions are valid

       

    test

    chi2(54) = 14.62433

           

    chi2(54) = 11.28685

           

    chi2(54) = 13.01916

           
     

    Prob > chi2 = 1.0000

           

    Prob > chi2 = 1.0000

           

    Prob > chi2 = 1.0000

           
                                               

    Ghi chú: Các ký hiệu (***), (**), (*) cho biết mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5%, 10%

     

     

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    trong khi tỷ lệ vốn cao, RRTK có xu hướng gia tăng (Gorton & Winton, 2014). Điều đó hàm ý, các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh vì dễ tiếp cận thị trường vốn nên các ngân hàng lớn có xu hướng nắm ít tài sản thanh khoản, phần nào có đáp ứng động cơ đầu tư mạo hiểm, điều này vô hình chung làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy Rủi ro tín dụng và RRTK (FGAP) có mối quan hệ ngược chiều

     

    • mức ý nghĩa 1%. Kết quả này không đúng với kỳ vọng của tác giả, tuy nhiên không đáng ngạc nhiên vì phát hiện của Acharya và cộng sự (2010) cũng tương tự. Acharya và cộng sự

    (2010) cho rằng việc nắm giữ tiền mặt trong ngân hàng tăng lên rất nhanh vì khách hàng có xu hướng gửi tiền ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính gần đây. Việc nắm giữ

     

    tiền mặt làm tăng thanh khoản ngân hàng nhưng ngân hàng dễ dãi trong việc cấp tín dụng các khoản vay mới, các khoản này ít có sự giám sát chặt chẽ từ ngân hàng nên rủi ro cho vay tăng cao. Nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động Rủi ro tín dụng với 2 biến đo lường rủi ro thanh khoản (NLTA, NLST) tại Việt Nam. Điều này cho thấy ảnh hưởng của yếu tố Rủi ro tín dụng đến RRTK trường hợp Việt Nam vẫn chưa thật sự rõ nét. Nhóm nghiên cứu tìm thấy mối tương quan dương giữa thu nhập lãi biên (NIM) với các biến đo lường RRTK (FGAP, NLST) ở mức

     

    • nghĩa 1%. Về mặt dấu tác động, kết quả này hoàn toàn đúng với kỳ vọng của tác giả và kết quả nghiên cứu của Delécha et al. (2012), Munteanu (2012), Bonfim and Kim (2011), Abdullah & Khan (2012). Kết luận này hàm ý rằng hoạt động cho vay gia tăng làm gia tăng thu nhập lãi và điều này sẽ làm gia tăng RRTK

    (Demirguc-Kunt và Huizinga, 1999).

    Đối với nhóm biến kinh tế vĩ mô, kết quả cho thấy lạm phát, cung tiền tương quan âm với RRTK (FGAP, NLTA, NLST) với mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu hàm ý lạm phát cao hơn giúp khách hàng dễ trả nợ hơn do lạm phát làm giảm giá trị thực của khoản vay, RRTK được kiểm soát và lạm phát cao làm giảm tỷ lệ thất nghiệp (Castro, 2013). Kết quả nghiên cứu này không tương đồng với các nghiên cứu Delechat, Camila Henao et. al (2012), Bonfim and Kim (2011), Vodova ( 2011), Cucinelli (2013), Bunda and Desquilbet (2008), Munteanu (2012). Yurdakul (2014b) cho rằng chỉ tiêu cung tiền cho biết khả năng thanh khoản của nền kinh tế, cung tiền có mối tương quan với rủi ro ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này có tốc độ tăng trưởng cao, có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán, rủi ro cho ngân hàng. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động của khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng GDP, quy mô ngân hàng đối với RRTK tại Việt Nam.

     

    1. Kết luận

    Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTK ngân hàng trường hợp Việt Nam cho thấy các yếu tố Chất lượng tài sản thanh khoản, Vốn ngân hàng, Dự phòng rủi ro tín dụng, Thu nhập lãi thuần, Lạm phát, Cung tiền đều ảnh hưởng đến RRTK và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố khá tương đồng so với các nghiên cứu trước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động ngân hàng ở Việt Nam không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khủng hoảng tài chính có lẽ do hoạt động thị trường vốn ngân hàng Việt Nam chưa hòa nhập nên ít tác động. Vì vậy, để hạn chế rủi ro thanh khoản, các ngân hàng cần tăng cường kiểm soát vốn ngân hàng, bên cạnh đó không ngừng cải thiện năng lực quản trị rủi ro và năng lực điều hành của các ngân hàng. Đa dạng hóa các nghiệp vụ huy

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    động vốn và sử dụng vốn nhằm kiểm soát rủi ro

    các NHTM, đặc biệt tập trung những nghiệp vụ

     

    và nâng cao năng lực quản lý thanh khoản của

    làm tăng tính thanh khoản ngân hàng.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Abdullah, A., & Khan, A. Q. (2012). Liquidity risk management: a comparative study between domestic and foreign banks in Pakistan. Journal of Managerial Sciences Volume VI Number, 1, 62.

     

    Allen, F., & Gale, D. (2004). Financial intermediaries and markets. Econometrica, 72(4), 1023-1061.

     

    Almumani, M. A. (2013). Impact of managerial factors on commercial bank profitability: Empirical evidence from Jordan. International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, 3(3), 298-310.

     

    Anbar, A., & Alper, D. (2011). Bank specific and macroeconomic determinants of commercial bank profitability: Empirical evidence from Turkey. Business and Economics Research Journal, 2(2), 139-152.

     

    Aspachs, O., Nier, E. W., & Tiesset, M. (2005). Liquidity, banking regulation and the macroeconomy. Available at SSRN 673883.

     

    Berger, A. N., & Bouwman, C. H. (2009). Bank liquidity creation. Review of Financial Studies, 22(9), 3779-3837.

     

    Bonfim, D., & Kim, M. (2011). Liquidity risk in banking: is there herding?

     

    Bordeleau, É., & Graham, C. (2010). The impact of liquidity on bank profitability: Bank of Canada.

     

    Bourke, P. (1989). Concentration and other determinants of bank profitability in Europe, North America and Australia. Journal of Banking & Finance, 13(1), 65-79.

     

    Bunda, I., & Desquilbet, J.-B. (2008). The bank liquidity smile across exchange rate regimes.

     

    International Economic Journal, 22(3), 361-386.

     

    Cucinelli, D. (2013). The determinants of bank liquidity risk within the context of euro area.

     

    Interdisciplinary Journal of Research in Business, 2(10), 51-64.

     

    Delécha, C., Henao, C., Muthoora, P., & Vtyurina, S. (2012). The Determinants of Banks’ Liquidity Buffers in Central America.

     

    Demsetz, H. (1973). Industry structure, market rivalry, and public policy. The Journal of Law & Economics, 16(1), 1-9.

     

    DeYoung, R., & Jang, K. Y. (2016). Do banks actively manage their liquidity? Journal of Banking & Finance, 66, 143-161.

     

    Fadare, S. O. (2011). Banking sector liquidity and financial crisis in Nigeria. International Journal of Economics and Finance, 3(5), 3.

     

    Gibilaro, L., Giannotti, C., & Mattarocci, G. (2010). Liquidity Risk Exposure For Specialized And Unspecialized Real Estate Banks: Evidences From The Italian Market: European Real Estate Society (ERES).

     

    Gorton, G. B., & Winton, A. (2014). Liquidity provision, bank capital, and the macroeconomy.

     

    Bank Capital, and the Macroeconomy (January 25, 2014).

     

    Hackethal, A., Rauch, C., Steffen, S., & Tyrell, M. (2010). Determinants of bank liquidity creation Working paper.

     

    Horváth, R., Seidler, J., & Weill, L. (2012). Bank capital and liquidity creation: Granger-causality evidence.

     

    36

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 44, 04/2018

     

    Kosmidou, K., Tanna, S., & Pasiouras, F. (2005). Determinants of profitability of domestic UK commercial banks: panel evidence from the period 1995-2002. Paper presented at the Money Macro and Finance (MMF) Research Group Conference.

     

    Lei, A. C., & Song, Z. (2013). Liquidity creation and bank capital structure in China. Global Finance Journal, 24(3), 188-202.

     

    Moulton, H. G. (1918). Commercial banking and capital formation: III. The Journal of Political Economy, 705-731.

     

    Munteanu, I. (2012). Bank liquidity and its determinants in Romania. Procedia Economics and Finance, 3, 993-998.

     

    Shen, C.-H., Chen, Y.-K., Kao, L.-F., & Yeh, C.-Y. (2009). Bank liquidity risk and performance. Paper presented at the 17th Conference on the Theories and Practices of Securities and Financial Markets, Hsi-Tze Bay, Kaohsiung, Taiwan.

     

    Skully, M. T., & Perera, S. (2012). Bank Market Power and Liquidity: Evidence from 113 Developed and Developing Countries. Paper presented at the 25th Australasian Finance and Banking Conference.

     

    Sufian, F., & Chong, R. R. (2008). Determinants of bank profitability in a developing economy: Empirical evidence from the Philippines. Asian academy of management journal of accounting and finance, 4(2), 91-112.

     

    Toby, A. (2006). Empirical Study of Liquidity Risk Management in Nigerian Banks. Journal of Financial Management and Analysis. , 3(5).

     

    V Acharya, H Naqvi (2012). The Seeds of a Crisis: A Theory of Bank Liquidity and Risk Taking over the Business Cycle. Journal of Financial Economics, 43(1):40-42.

     

    Vodova, P. (2011). Liquidity of Czech commercial banks and its determinants. International Journal of Mathematical Models and Methods in Applied Sciences, 5(6), 1060-1067.

     

    Wilson, J. O., Casu, B., Girardone, C., & Molyneux, P. (2010). Emerging themes in banking: recent literature and directions for future research. The British Accounting Review, 42(3), 153-169.

     

    Trương Quang Thông. (2013). Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTM Việt Nam. Phát triển kinh tế, 276, 50-62

     

    Võ Xuân Vinh, P. H. V. (1/2017). Rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng: trường hợp các NHTM Việt Nam, Tạp chí phát triển kinh tế, 28(1), 45-63.

     

     

     

    37


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

     

    Lời mở đầu

    Có thể nói trong 10 năm trở lại đây nền kinh tế của đất nước ta đã thay đổi rất nhiều. Từ một nước nông nghiệp lac hậu chúng ta đã và đang đi lên xây dựng một nước Việt Nam  ấm no, giàu đẹp, và văn minh. Chúng ta đang trên con đường xây dung đất nước công nghiệp hóa hiện đaị  hóa . Trong đó phải nói đến một sự đóng góp rất tích cực từ những nhà đầu tư nước ngoài. Họ đã mang đến cho chúng ta công nghệ mới, con người mới,  việc làm cho người lao động. Thu hút được một lượng ngân sách rất lớn cho nhà nước. ..FDI là một trong những nguồn vốn tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những năm gần đây chúng ta đang  thu hút được rất nhiều nguồn vốn này. Điều này đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế nước ta. Nó đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp tăng trưởng kinh tế nước ta

    Nhận thấy việc tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài FDI là một vấn đề rất hay và được nhiều sự quan tâm tìm hiểu nên em đã chọn vốn FDI làm đề tài cho bài tiểu luận của em.

     

    I Khái niệm

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    II Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI

    1.     Thực trạng

    Trong những năm qua đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của Việt Vam.

    Bảng 1

    Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. FDI năm 2008 là hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và vốn giải ngân là 11 tỷ USD. Đây là một thành  tích  ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008. FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào  các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng số vốn đăng ký là 32,6 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăg 25,8% so với năm 2007, tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI  lên tới 1,4 67 triệu người.( bảng 2)

    Bảng số 2: vốn FDI đầu tư vào các nghành

    Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia và Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai trong số 43 địa phương của cả nước có vốn FDI, với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD.

    Năm 2008 là một năm kỷ lục về thu hút FDI dưới bất kỳ góc độ nào. Vốn đăng ký cũng như vốn giải ngân cao nhất từ trước tới nay, cao nhất trong 20 năm qua kể từ khi Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI đầu tiên điều này  thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: lạm phát tăng cao, giá cả biến động, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay mà vốn FDI vẫn tăng mạnh chứng tỏ nhà đầu tư có  niềm tin rất lớn vào môi trường kinh doanh.

    2.     Vấn đề giải ngân vốn FDI

    Thực tế năm 2008 con số 64,11 tỷ  USD vốn FDI đăng ký,  mà số vốn điều lệ của các dự án chỉ là 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình là rất lớn. Điều này làm nảy sinh một số vấn đề lo ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ dăng ký xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính của Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư đó lẩn tránh hoặc không đử lực để thực hiện dự án thì hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

    Nhìn vào bảng số 1 ta thấy ngay được tình trạng này. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Thấp nhất phải nói đến năm 2008 chỉ với 17% .Măc dù đây là năm thu hút nhiều vôn FDI nhất nhưng lại là năm có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cho thấy đằng sau vấn đề đó còn nhiều điều cần phải quan tâm hơn nữa . Đặc biệt có biện pháp khắc phục vấn đề này sao cho hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng của ta.

    Bảng 3: tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết

    Nguyên nhân là do: Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe… Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.

    Một điều nữa cần nói về vấn đề giải ngân vốn là có một số lượng lớn nguồn vốn FDI được tập trung vào các lĩnh vực bất động sản và đi vào các dự án lớn ( với quy mô  trên 1 tỷ ). Citybank ước tính vốn FDI liên quan đến các dự án bất động sản hiện nay chiếm đến 1/4 tổng vốn giải ngân. Mà thị trường bất động sản là thị trường nhạy cảm và hay biến động theo chu kỳ cho nên bất động sản hay đi vào các chu kỳ nóng rồi giảm mạnh. Cùng với sự đóng băng được dự đoán vào năm 2009 trên thị trường bất động sản thì chắc chắn nguồn vốn FDI đổ và lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009.

    Quy mô dự án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tư vào bất động sản cao đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tiêu cực của nó

    Đầu tư nhiều vào bất động sản sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.

    Những dự án bất động sản cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Thêm nữa, dự án bất động sản thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, thành ra phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn nóng bỏng và chưa được giải quyết rốt ráo.

    Bảng vốn FDI và bất động sản

    Quy mô dự án càng lớn thì thu hút lao động càng ít tính trên một đơn vị đồng vốn. Đến nay, FDI mới tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động. Khu vực kinh tế nhà nước cũng đang trong giai đoạn cơ cấu, sắp xếp lại, nên việc làm ở khu vực này tăng không đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mới là khu vực giải quyết lao động cho hơn một triệu lao động hàng năm.

     

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

    3. Đánh giá tác động của FDI tới phát triển kinh tế đất nước

    3.1 tích cực

    Bổ sung cho nguồn vốn trong nước : Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

         -Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên,  công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

    Tham gia mạng lưới toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

       -Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    -Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

    Đạt được những kết quả trên là nhờ những nguyên nhân:

    + Cơ chế chính sách thu hút vốn thong thoáng, minh bạch

    + Kịp thời điều chỉnh, bổ sung và ban hành danh mục dự án gọi vốn FDI

    + Tích cực tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá hình ảnh, môi trường và cơ hội đầu tư

    +Tổ chức tham gia hội ngị, hội thảo xúc tiến, vạn động đầu tư

    + Tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

    Bên cạnh đó còn có những khó, khăn hạn chế

    -Việc thẩm định dự án đầu tư khá nhiều thì số dự án được cấp phép vẫn còn thấp do thẩm định dự án của bộ thường bị kéo dài, công tác xúc tiến đầu tư thiếu một chiến lược cụ thể về đối tác, thị trường và phương pháp tiếp cận thị trường

    -Công tác đào tạo cán bộ còn yếu

    -Viếc phối hợp giữa các ban nghành, địa phương trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư còn yếu chưa chặt chẽ, chưa có quy định rõ ràng

    III.  Giải pháp trong thu hút vốn đầu tư

    -Vấn đề quy hoạch đầu tưxác đingj dự án gọi vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên về ngành ngề, thời gian, địa điểm cụ thể

    -tăng cường công tác xúc tiến, khai thác và lựa chọn đối tác đầu tư

    -cải thiện môi trường đầu tư bao gồm hoàn tiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính

    -Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cho hoạt động FDI

    -Thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư

    giải pháp gia tăng hấp thụ FDI

     

    trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải pháp quan trọng hàng đầu là thúc đẩy giải ngân vốn FDI trong năm nay và trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Về luật pháp và chính sách, cần sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân…

    Về quy hoạch, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư. Về cải thiện cơ sở hạ tầng, sẽ tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho dự án

        Từ thực tế kinh nghiệm những năm qua => Bài học trong thu hút vốn đầu tư

    Bài học thứ nhất trong việc thu hút FDI, đó chính là nắm bắt và tận dụng cơ hội.Cần phải biết tận dụng những cơ hội để biến đó thành thế mạnh thu hút vốn đầu tư. VD: Tháng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đã lan rộng ra nhiều nước, gây thiệt hại nặng nề đối với các nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đông Á”. Việt Nam khi đó vẫn nằm ngoài “rìa” vòng xoáy của cuộc khủng hoảng. Lẽ ra chúng ta có thể nhân đó biến thành lợi thế so sánh để thu hút FDI hơn nữa. Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI.
    Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần.
        -Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
    Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự án.
    Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động.
    Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này. các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc đình công bãi công của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ luật, năng suất và đảm bảo công bằng. –          – Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh. Chúng ta cần phải biết phát huy lợi thế về lực lượng lao động của mình, cần phải có hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo…
        – Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách. Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta. Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

    KẾT LUẬN

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

     

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

     

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

     

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

     

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

     

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

     

    Trang 1

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

     

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

     

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

     

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

     

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

     

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

     

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

     

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

     

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

    2.1. Khái niệm.

     

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

     

    * Phân loại

     

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

     

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

     

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

     

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

     

    2.2.Đặc điểm

     

    Trang 4

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

     

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

     

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    3.1. khái niệm.

     

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

     

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

     

    3.2. Vai trò.

     

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

     

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

     

    Trang 6

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

     

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

     

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

     

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

     

    Trang 7

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    * Lợi ích về công ăn việc làm

     

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

     

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

     

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

     

    giới.

     

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

     

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

     

    Trang 8

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

     

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

     

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

     

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

     

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

     

    Trang 9

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

     

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

     

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

     

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

     

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

     

    Trang 10

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

     

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

     

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

     

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

     

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

     

    Trong đó:

     

    It là vốn đầu tư

     

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

     

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

     

    Trang 11

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

     

    Nông – lâm – nghiệp

    1,5 – 2,5

    Công nghiệp

    2,5 – 3,5

    Cơ sở hạ tầng

    3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

     

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

     

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

     

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

     

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

     

    Trang 12

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

     

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

     

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

     

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

     

    Trang 13

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

     

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

     

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

     

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

     

    Trang 14

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

     

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

     

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

     

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

     

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

     

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

     

    Trang 15

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

     

    100% xã đều có đường ôtô.

     

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

     

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

     

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

     

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

     

    Trang 16

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

     

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

     

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

     

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

     

    Trang 17

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

     

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

     

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

     

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

     

    1.1 Hệ thống giao thông.

     

    Trang 18

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

     

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

     

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

     

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

     

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

     

    – Đường rải nhựa chiếm

    22%

    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    – Đường đá

    15%

    – Đường đất

    25%

    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

     

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

     

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

     

    1.2 Bưu chính viễn thông:

     

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

     

    Trang 20

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

     

    1.3 Cung cấp điện.

     

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

     

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

     

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

     

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

     

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

     

    Trang 21

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

     

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

     

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

     

    Trang 22

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

     

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

     

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

     

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

     

         

    Đơn vị: tỷ đồng

               

    Năm

    1990

    1995

     

    2000

     

    Ngành

         

    ( ước tính )

     
               

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    4.732,5

    41.849,3

     

    92.452

     
               

    Ngành khác

    5.6000,5

    26.198,3

     

    23.548

     
               

    Tổng số

    10.333

    68.047,6

     

    116.000

     
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

     

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

     

    Trang 23

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

     

    Đơn vị: %

     

    Năm

    1990

    1995

    2000

    Ngành

         
           

    Cơ sở hạ tầng

    45,8

    61,5

    79,7

           

    Ngành khác

    54,2

    38,5

    20,3

           

    Tổng số

    100

    100

    100

           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

     

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

     

    Trang 24

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

     

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

     

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

     

         

    Đơn vị: tỷ đồng.

             

    Năm

    1990

    1995

    2000

     

    Ngành

       

    ( ước tính )

     
             

    Giao thông -Bưu điện

    1.102,7

    11.341,2

    21.633,8

     
             

    Công nghiệp

    2.423,0

    5.482,3

    18.582,9

     
             

    Nông nghiệp

    1.206,8

    25.025,8

    52.235,3

     
             

    Tổng số

    4.732,5

    41.849,3

    92.452

     
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

     

    Trang 25

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

     

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

     

    Năm

    1990

    1995

    2000

    Ngành

         
           

    Giao thông – bưu điện

    23,3

    27,1

    23,4

           

    Công nghiệp

    51,2

    13,1

    20,1

           

    Nông nghiệp

    25,5

    59,6

    56,5

           

    Tổng số

    100

    100

    100

           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    Trang 26

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

     

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

     

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

     

    Trang 27

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

     

    1990

    2000

         

    Sản lượng điện (tỷ Kwh)

    8,79

    2,5

         

    Số máy điện thoại trên 100 người dân

    0,4

    4

         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

     

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

     

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

     

    Trang 28

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

     

     

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

     

     

    Việt Nam

    Thái Lan

    Indonexia

    Philipin

    Malaysia

               

    Tỷ lệ hộ có điện (%)

    51

    87

    39

    58

    90

               

    Năng lượng (Mw)

    4.890

    13.003

    14.327

    9.539

    7.391

               

    Sản lượng điện năm

    19.151

    80.068

    61.199

    29.697

    45.453

    97 (Gwh)

             
               

    Tiêu  thụ  điện  đầu

    204

    1294

    315

    399

    2.032

    người mỗi năm (Kwh)

             
               

    Tỷ lệ hao hụt điện qua

    16

    9

    12

    17

    11

               

    Trang 29

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    phân phối (%)

     

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

     

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

     

     

    Hà nội

    Tp. HCM

    Thượng Hải

    Bangkok

    Jakarta

    Kuala Lampar

                 

    – Phí điện thoại quốc tế

    8,52

    8,52

    4,3

    3,11

    2,59

    2,61

    (3 phút gọi dang Nhật)

               
                 

    – Tiền điện dùng cho

    0,07

    0,07

    0,035

    0,03

    0,0177

    0,06

    kinh doanh / kwh

               
                 

    – Vận chuyển container

    1.825

    1.375

    880

    1.466

    1.252

    895

    (40ft/container) chuyển

               

    từ  nhà máy đến cảng

               

    gần nhất ở Nhật – cảng

               

    Yukohama

               
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

     

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

     

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

     

    Tên nước

    Sân bay

    Cảng biển

    Giao thông

    Điện lực

    Viễn thông

    Bình quân

                 

    Singapore

    4,9

    4,9

    4,6

    4,4

    4,7

    4,7

                 

    Trang 30

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Brunay

    3,3

    3,3

    3,3

    3,6

    3,5

    3,3

                 

    Thailan

    3,1

    2,5

    1,6

    2,7

    3,0

    2,6

                 

    Philipines

    2,3

    2,4

    2,9

    2,2

    2,7

    2,3

                 

    Indonesia

    3,0

    2,4

    2,3

    2,6

    2,7

    2,6

                 

    Malaysia

    3,1

    3,1

    2,7

    2,6

    3,2

    2,9

                 

    Myanma

    1,6

    1,5

    1,6

    1,4

    1,4

    1,5

                 

    Lào

    1,5

    1,5

    1,5

    1,7

    1,5

    1,5

                 

    Campuchia

    1,6

    1,5

    1,8

    1,4

    1,4

    1,5

                 

    Việt Nam

    1,9

    2,0

    1,9

    1,9

    2,2

    2,0

                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

     

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

     

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

     

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

     

    Trang 31

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

     

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

     

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

     

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

     

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

     

    Đơn vị: triệu USD.

     

     

    91

    92

    93

    94

    95

    96

    97

    98

    99

    2000

                         

    Trang 32

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Vốn

    1275

    2027

    2589

    3746

    6607

    8640

    4649

    3897

    1567

    1600

    cam kết

                       
                         

    Vốn

    432

    478

    871

    1936

    2363

    2447

    4768

    2062

    1758

    1800

    thực

                       

    hiện

                       
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

     

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

     

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

     

    Trang 33

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

     

     

     

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

     

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

     

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

     

    Trang 34

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

     

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

     

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

     

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

     

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

     

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

     

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

     

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

     

    Trang 35

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

     

    2. Bưu chính viễn thông.

     

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

     

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

     

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

     

    3. Cung cấp điện

     

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

     

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

     

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

     

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

     

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

     

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

     

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

     

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

     

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

     

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

     

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

     

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

     

    Trang 38

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

     

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

     

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

     

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

     

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

     

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

     

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

     

    Trang 40

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

     

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

     

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

     

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

     

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

     

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 42

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    KẾT LUẬN.

     

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

     

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

     

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

     

    Em xin chân thành cảm ơn.

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Trang 43

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

     

    Trang 44

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BA%A9m-%C4%91%E1%BB%8Bnh-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-H%C3%A0ng-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thẩm định dự án đầu tư của Ngân Hàng Thương Mại

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tìm ra những ý tưởng mới và các dự án đầu tư mới. Một dự án đầu tư mới có tính khả thi hay không cần phải được xem xét và đánh giá một cách chính xác và đầy đủ về dự án đó. Để từ đó doanh nghiệp mới có thể quyết định có nên đầu tư hay không. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư mà họ đưa ra. Lúc đó các doanh nghiệp cần phải tìm nguồn tài trợ cho dự án bằng cách đi vay vốn.

     

    Mặt khác, NHTM là một trung gian tài chính lớn. Chính vì vậy các doanh nghiệp (các nhà đầu tư) sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của mình. Để có thể cho vay theo dự án đầu tư (vốn lớn, thời gian dài) thì các NHTM cũng cần phải xem xét, đánh giá về dự án cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp có dự án đầu tư để chắc chắn THTM có thể thu hồi lại được khoản cho vay. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư là việc làm hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các NHTM. Với những suy nghĩ trên, đồng thời trong quá trình thực tập em nhận thấy công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư có vai trò sức quan trọng đối với các doanh nghiệp và NHTM nên em đã chọn đề tài

     

    “Thẩm định dự án đầu tư của NHTM”

     

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo: PSG.TS Vương Trọng Nghĩa đã giúp đỡ em rất nhiều về mặt kiến thức và đặc biệt là về mặt tinh thần để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.    ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    1.1 Đầu tư và dự án đầu tư.

     

    1.1.1 Hoạt động đầu tư.

     

    Lí thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên là hệ thống có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ được biểu hiện bởi phương trình:

     

    • =f(C,T,L,R)
    • khả năng phát triển của một quốc gia C:khả năng về vốn
    • công nghệ

    L:lao động

     

    R: tài nguyên thiên nhiên

     

    Rõ ràng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng là phát triển kinh tế xã hội thì nhất thiết phải có hoạt động đầu tư.

     

    Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt các kết quả đó. Các kết qủa ở đây chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian …và lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (tức là đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận …) mà cũng có thể không lượng hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội …). Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    đó thu được các hiệu qủa kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Song dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa, chúng ta đều nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kĩ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu qủa mong muốn. Vậy dự án đầu tư là gì? Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt được trạng thái mong muốn. Dự án đầu tư được xem xét ở nhiều góc độ.

     

    1.1.2 Dự án đầu tư.

     

    Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động về chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Và đây cũng là phương tiện mà các chủ đầu tư sử dụng để thuyết phục nhằm nhận được sự ủng hộ cũng như tài trợ về mặt tài chính, từ phía chính phủ, các tổ chức chính phủ, các tổ chức tài chính.

     

    Trên góc độ quản lí, dự án đầu tư là một công cụ quản lí việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

     

    Như vậy dù đứng trên góc độ nào thì một dự án đầu tư cũng phải mang tính cụ thể và có mục tiêu rõ ràng, tức là phải thể hiện được các nội dung chính sau:

     

    3

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Mục tiêu của dự án: Thường ở hai cấp mục tiêu

    Mục tiêu trực tiếp: Là mục tiêu cụ thể mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nhất định và khoảng thời gian nhất định.

     

    Mục tiêu phát triển: Là mục tiêu mà dự án góp phần thực hiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng. Đạt được mục tiêu trực tiếp chính là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.

     

    • Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.

     

    • Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá những nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự án đều mang lại kết quả tương ứ

    *Nguồn lực cho dự án: Đầu vào cần thiết để tiến hành dự án.

     

    Phân loại dự án đầu tư

     

    Để tiện cho việc theo dõi, quản lí dự án, người ta tiến hành phân loại dự án đầu tư. Việc phân loại có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như:

     

    Theo quy mô: dự án lớn, vừa, nhỏ.

     

    Theo phạm vi: trong nước quốc tế.

     

    Theo thời gian: ngắn, trung, dài hạn, nhưng thường các dự án là trung dài hạn.

     

    Theo nội dung và theo tính chất loại trừ.

     

    Với dự án của doanh nghiệp thường quan tâm đến hai cách phân loaị

     

    cuối.

     

    • Theo nội dung có:

    Dự án đầu tư mới: thường là những dự án rất lớn, liên quan tới những

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    khoản đầu tư mới, nhằm tạo ra những sản phẩm mới, độc lập với quá trình sản xuất cũ.

     

    Dự án đầu tư mở rộng: nhằm tăng năng lực sản xuất để hình thành nhà máy, phân xưởng mới, dây chuyền sản xuất mới với mục đích cung cấp thêm những sản phẩm cùng loại cho thị trường.

     

    Dự án đầu tư nâng cấp (chiều sâu) liên quan đến việc thay đổi công nghệ, tạo ra một công nghệ mới cao hơn trong cùng một tổ chức cũ.

     

    Theo tính chất loại trừ:

     

    Các dự án độc lập (không có tính loại trừ) thì việc thực hiện dự án này không liên quan đến việc chấp nhận hay bác bỏ dự án kia. Các dự án được coi là phụ thuộc khi chấp nhận dự án này có nghĩa là bác bỏ dự án kia bởi những giới hạn về nguồn lực hoặc sự liên quan có tác động lẫn nhau về công nghệ, môi trường …Tuy nhiên tính độc lập hay phụ thuộc của một dự án. Ví dụ một dự án đối với doanh nghiệp (nguồn lực giới hạn) là phụ thuộc (nếu thực hiện thì sẽ loaị bỏ dự án khác). Nhưng đối với Ngân hàng thì vấn đề đó không cần đặt ra bởi khả năng cho vay lớn, không vì cho vay một dự án này mà loại trừ cho vay đối với dự án khác.

     

    Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư dù thuộc loại nào cũng phải trải qua các giai đoạn nhất định (còn gọi là chu kì của dự án đầu tư). Có nhiều góc độ tiếp cận chu kì dự án. Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ xung cho nhau nhằm nâng cao dần độ chính xác của các kết quả nghiên cứu ở các bước tiếp theo.

     

    Nếu xét từ góc độ đầu tư để xem xét chu kì như là các giai đoạn đầu tư thì một dự án phải trải qua ba giai đoạn:

     

    Chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này người ta phải tiến hành các

     

    công việc cụ thể như: nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư, nghiên cứu

     

    5

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tiền khả thi sơ bộ chọn dự án, nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kĩ thuật) đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)

     

    Thực hiện đầu tư: Gồm các công việc sau: Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.

     

    Vận hành kết quả đầu tư: Sử dụng các mức công suất khác nhau qua các năm cuối cùng thanh lí và đánh giá.

     

    Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau. Mà trong đó thẩm định dự án đầu tư là khâu không thể thiếu được trong chu kì của một dự án đầu tư. Trước hết là đối với chủ đầu tư để có một quyết định vững chắc cho việc ra quyết định đầu tư.

     

    Do đặc điểm của dự án đầu tư có sự phức tạp về mặt kĩ thuật, thời gian đầu tư tương đối dài nên khi tiến hành đầu tư thì Ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận và nghiêm túc để tránh những sai lầm không đáng có xảy ra.

     

    1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư.

     

    Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định trước hết thường là quyết định tài chính. Đầu tư là một trong những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, đồng thời đặc điểm của các dự án đầu tư là thường yêu cầu một lượng vốn lớn, có tác động lớn tới hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do đó, các dự án thường bị lạc hậu ngay từ lúc có ý tưởng đầu tư. Sai lầm trong việc dự toán vốn ban đầu có thể dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định đầu tư của doanh nghiệp là quyết định có tính chiến lược, đòi hỏi cần phải được phân tích và cân nhắc kỹ lương trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

     

    6

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Là hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian dài.

     

    Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.

     

    Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.

     

    1.3. Thẩm định dự án đầu tư.

     

    1.3.1. Khái niệm, vai trò:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là quá trình phân tích và làm sáng tỏ một loạt các vấn đề liên quan đến tính khả thi trong việc thực hiện dự án như: công suất, kỹ thuật, thị trường, tài chính, tổ chức… Với các thông tin về bối cảnh và các giả thiết được sử dụng trong quá trình lập dự án đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đạt được mục tiêu xã hội hay không? Có hiệu quả kinh tế, tài chính không?

     

    Hoạt động này trước hết là phục vụ chính cho nhà đầu tư, nhà tài trợ rồi đến cơ quan quản lý Nhà nước.

     

    – Đối với chủ đầu tư:

     

    Lập kế hoạch phối hợp giữa chính sách tài chính, marketing, nhân sự, tác nghiệp một cách chính xác nhất có thể để lựa chọn phương án tốt nhất và qua đó chủ đầu tư sẽ đạt được hiệu quả của tài chính mong muốn.

     

    • Với cơ quan Nhà nước: Giúp cho cơ quan nhà nước quyết định cho phép, chấp nhận dự án đó đi vào thực hiện có phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành, vùng, lãnh thổ?
    • Với nhà tài trợ: Có thể vay được lãi cao, thu hồi vốn gốc đúng hạn và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài.
    • Với Ngân hàng: Cho vay theo dự án có đặc điểm đem lại nguồn lợi tức lớn vì dự án thông thường là có thời hạn dài, quy mô lớn, tình tiết phức tạp.

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Bên cạnh đó, thông tin về dự án đều do người chủ đầu tư (đi vay ngân hàng) lập nên, cung cấp nên không khỏi có những ý kiến chủ quan nhất định “rộng” với dự án. Điều đó buộc NH phải tự mình tiến hành thẩm định dự án một cách toàn diện về lợi ích cũng như rủi ro khi tham gia dự án của khách hàng để quyết định có nên cho vay hay không?

     

    Khi tiến hành cho vay vốn, Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi một lượng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều yếu tố mà trong tương lai có thể sẽ biến động khó lường. Những con số tính toán cũng như những nhận định đưa ra trong dự án (khi lập dự án) chỉ là những dự kiến, bởi vậy chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Người lập dự án ở đây có thể là chủ đầu tư, hoặc các cơ quan tư vấn được thuê lập dự án, cơ sở các ý đồ kinh doanh và mong muốn của dự án. Các nhà soạn thảo thường đứng trên gốc độ hẹp để nhìn nhặn các vấn đề của dự án. Có thể không tính toán đến các vấn đề có liên quan và đôi khi bỏ qua một số các yếu tố hoặc làm cho dự án trở nên khả thi hơn một cách cố ý nhằm đạt được sự ủng hộ, tài trợ của các bên có liên quan. Rõ ràng chủ đầu tư thẩm định dự án trước hết vì quyền lợi của mình song họ đứng trên quan điểm riêng.

     

    Do vậy để tồn tại, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với đặc điểm là tự do cạnh tranh và tính cạnh tranh lại rất cao, thì Ngân hàng cũng như các pháp nhân khác trong nền kinh tế phải tự tìm kiếm các phương cách, giải pháp cho riêng mình để ngăn ngừa các rủi ro có thể nẩy sinh. Thẩm định dự án đầu tư trong công tác hoạt động của Ngân hàng chính là một trong những biện pháp cơ bản nhằm phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay vốn đầu tư tại Ngân hàng. Như vậy trên góc độ người tài trợ, các Ngân hàng, tổ chức tài chính đánh giá dự án chủ yếu trên phương diện khả thi, hiệu quả tài chính và xem xét khả năng thu nợ của Ngân hàng.

     

    8

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án được xem xét và đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về thẩm định dự án đầu tư như sau:

     

    Thẩm định dự án đầu tư là qúa trình phân tích, đánh giá toàn diện các khía cạnh của một dự án đầu tư để ra các quyết định đầu tư cho phép đầu tư hoặc tài trợ.

     

    Thực tế người thẩm định dự án sẽ tiến hành kiểm tra phân tích đánh giá từng phần và toàn bộ các mặt, các vấn đề có trong bản nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi (thường chỉ với bản nghiên cứu khả thi – hay còn gọi là luận chứng kinh tế kĩ thuật) trong mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp chủ dự án và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động. Thẩm định dự án có ý nghĩa thể hiện ở việc giúp các dự án tốt không bị bác bỏ và dự án tồi không được chấp nhận. Tuy nhiên nhận định “tồi “, “khả thi “, “hiệu quả”… ở khía cạnh nào đó còn phụ thuộc vào góc độ của người thẩm định và khi đó họ sẽ đạt được những mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.

     

    NHTM với tư cách là “Bà đỡ” về mặt tài chính cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án. Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án là một việc không thể thiếu được

     

    1.3.2. Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư * Về phía nhà đầu tư

     

    Thông thường, khi xảy ra quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tử phải cân nhắc giữa nhiều sự lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn. Mặt khác, tuy nắm vững những vấn đề,

     

    9

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    những chi tiết kỹ thuật… của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là đối với xu thế kinh tế, chính trị, xã hội mới. Điều đó làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào làm rõ các vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất hoặc đưa ra những ý kiến xác đáng gợi ý cho chủ đầu tư để dự án có tính khả thi cao hơn.

     

    * Về phía Ngân hàng

     

    Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:

     

    • Xem xét trước khi cho vay
    • Thực hiện cho vay
    • Thu gốc thu lãi

    Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.

     

    Để có một khoản vay chất lượng là điều mong muốn và mục tiêu hoạt động của NHTM. Nhưng nó là một điều cực kỳ khó khăn và NHTM vẫn thất bại khi cho vay vì thực tế vận động xã hội và thị trường luôn tồn tại không cân xứng về thông tin đầy đủ về nhau, do đó dẫn đến những hiểu biết sai lệch. Giữa NHTM và người vay cũng xảy ra tình trạng như vậy. Ngân hàng không có những thông tin đầy đủ về khách hàng dẫn đến Ngân hàng có thể thực hiện những khoản cho vay sai lầm. Đứng trước những rủi ro đó thì NHTM phải luôn cân nhắc đắn đo, xem xét và bằng những nghiệp vụ phải xác định những khách hàng tốt, khoản xin vay có chất lượng khi quyết định cho vay hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

     

    Do vậy trong ba giai đoạn trên, việc xem xét trước khi cho vay (bao gồm quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng) có ý nghĩa

     

    10

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    cực kì quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả các khoản vay và các hoạt của giai đoạn sau. Giai đoạn này được Ngân hàng tiến hành rất kĩ lưỡng với nhiều phương pháp nghiệp vụ đặc thù để đảm bảo, an toàn chất lượng.

     

    Hơn nữa, với chức năng quản lí và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, hoạt động Ngân hàng có tính chất đặc thù riêng mà các ngành khác không có được. Như đã nói ở trên, so với kinh doanh của các ngành kinh tế khác thì hoạt động Ngân hàng có nhiều rủi ro hơn cả. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, ngành Ngân hàng phải huy động và tạo mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Việc Ngân hàng cho vay không thể không cần biết doanh nghiệp sử dụng vốn làm gì, quan niệm đơn giản là chỉ cần trả nợ, hoàn toàn là một quan niệm sai lầm và thụ động. Theo quan niệm kinh doanh hiện nay thì Ngân hàng và doanh nghiệp là bạn hàng. Mà đã là bạn hàng của nhau thì khi xác lập quan hệ phải tìm hiểu và thăm dò lẫn nhau, đặt ra cho nhau những điều kiện đảm bảo lợi ích cho cả đôi bên. Chính vì vậy, mà NHTM trước khi quyết định cho vay phải luôn đối mặt với hàng loạt câu hỏi khác nhau:

     

    Cho ai vay?

     

    Vay như thế nào?

     

    Cho vay trong thời gian bao lâu?

     

    Quản lí các khoản vay như thế nào? Thu gốc và lãi ra sao?

     

    Bên cạnh đó một nguồn vốn quan trọng được Ngân hàng sử dụng cho vay là tiền gửi của khách hàng. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển thì bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, Ngân hàng còn phải đảm bảo an toàn và thanh khoản tức là phải hoạt động có trách nhiệm với những đồng tiền của khách hàng và phải thoả mãn bất cứ một nhu cầu rút tiền nào của khách hàng vào bất cứ thời điểm nào.

     

    Đây là bài toán phức tạp mà Ngân hàng cần phải tìm lời giải đáp.

     

    11

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Quá trình tìm lời giải đúng cho bài toán này chính là công tác thẩm định các khoản cho vay.

     

    Trong quan hệ tín dụng, vấn đè cơ bản mà Ngân hàng phải quan tâm để đưa ra một quyết định cho vay là hiệu quả và an toàn vốn của Ngân hàng.

     

    Nói đến dự án đầu tư là nói đến một số lượng vốn lớn và thời gian dài, do vậy quyết định đầu tư sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thuận lợi và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên không phải dự án nào cần vốn Ngân hàng cũng đáp ứng. Ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có khả thi, tính đựơc khả năng sinh lời của dự án… Muốn vậy Ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nộp vào Ngân hàng dự án đầu tư trên cơ sở dự án đầu tư cùng với các nguồn thông tin khác, Ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án để đưa ra quyết định về tính khả thi của dự án.

     

    Chính vì vậy việc thẩm định đúng đắn dự án đầu tư có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nó thể hiện:

     

    Giúp các tổ chức tín dụng nhìn nhận một cách lôgíc tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại, dự án xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trên cơ sở đánh giá chính xác đối tượng được đầu tư để có đối sách thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

     

    Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để xem xét xu hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Đây là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn.

     

    Thế nhưng muốn xem xét hiệu quả thực sự cho hoạt động tín dụng thì Ngân hàng không chỉ cần dừng lại ở giai đoạn kiểm tra trước mà phải tiếp

     

    12

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    tục kiểm tra trong, sau quá trình cho vay, đảm bảo vốn của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, đem lai hiệu quả thực sự.

     

    * Về phía xã hội và các cơ quan hữu quan

     

    Chúng ta biết rằng vấn đề thiếu vốn đang rất phổ biến ở nước ta. Trong điều kiện hiện nay cơ sở hạ tầng còn rất nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay thì việc đầu tư là rất cần thiết. Tuy nhiên, với nguồn vốn hạn hẹp, số lượng các dự án đầu tư lại rất lớn thì quyết định vốn cho dự án nào là rất quan trọng và khó khăn muốn có quyết định này người ta phải tiến hành kiểm tra, thẩm định dự án, so sánh các dự án với nhau để lựa chọn được đầu tư là dự án mang lại hiệu quả cao nhất cho xã hội. Hiệu quả được nhắc đến ở đây không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường.

     

    Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả.

     

    Tóm lại, vài nét nêu trên đã phần nào khắc hoạ được vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư. Chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một công việc hết sức quan trọng. Nó có vai trò trên cả tầm vĩ mô (xã hội) và tầm vi mô (Ngân hàng, doanh nghiệp). Bởi lẽ nếu làm tốt công tác thẩm định không những đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng mà khi nhìn vào đó, các Ngân hàng, tổ chức tài chính, các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ an tâm hơn khi lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các Ngân hàng trong nước, đặc biệt là NHTM quốc doanh. Chính các yếu tố đó đòi hỏi Ngân hàng phải tiếp tục đổi mới và không ngừng nâng cao quy trình thẩm định dự án đầu tư.

     

    13

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    2.    PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

     

    2.1   Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    2.1.1 Các bước thực hiện thẩm định tài chính dự án đầu tư.

     

    Bước1: Thu thập số liệu thông tin về đơn vị vay vốn và về các khía cạnh liên quan đến dự án đầu tư:

     

    • Đơn vị sẽ lập hồ sơ vay vốn rồi nộp cùng hồ sơ pháp lý của mình, của dự án, và các báo cáo tài chính…
    • Ngân hàng sẽ tra cứu thu thập các thông tin pháp lý báo cáo của cơ quan ngành báo chí về doanh nghiệp, thông tin do trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp cung cấp.

    Bước2: Xử lý và đánh giá thông tin.

     

    Như xem xét tính chính xác của thông tin, tính toán các chỉ tiêu, so sánh chỉ tiêu, hỏi ý kiến chuyên gia tư vấn về những lĩnh vực cán bộ NHTM chưa rõ…để có kết quả thẩm định tối ưu.

     

    Bước3: Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng cho ý kiến của mình rồi trình bày giám đốc, phó giám đốc NHTM có cho vay hay không? Nếu có thì các điều khoản như thế nào?

     

    2.1.2 Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư.

     

    Để đánh giá hiệu qủa tài chính dự án đầu tư về lí thuyết cũng như thực tế, người ta thường phải sử dụng các phương pháp (hay các chỉ tiêu sau đây).

     

    * Giá trị hiện tại ròng (NPV:Net Present Value)

     

    Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tính:

     

    NPV = Co + PV

     

    Trong đó:

     

    NPV là giá trị hiện tại ròng

     

    Co là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu

     

    tư)

     

    PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại

     

    trong thời gian hữu ích của nó. PV được tính

         

    PV =

    C1

    +

    C2

    +

    C3

    + . . . . . +

    Ct

     
             

    (1 +r)

    (1+r)2

    (1+r)3

    (1+r)t

     
           

    Ct là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án

     

    • nghĩa của NPV chính là đo lường phần giá trị tăng thêm dự tính mà dự án đem lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro cụ thể của dự án… Việc xác minh chính xác tỷ lệ chiết khấu của mỗi dự án đầu tư là khó khăn. người ta có thể lấy bằng với lãi suất đầu vào, đầu ra thị trên trường… Nhưng thông thường là chi phí bình quân của vốn. Tuỳ từng trường hợp, người ta còn xem về biến động lãi suất trên thị trường, và khả năng giới hạn về vốn của chủ đầu tư khi thực hiện dự án…

    Sử dụng chỉ tiêu NPV để đánh giá dự án đầu tư theo nguyên tắc:

     

    Nếu các dự án đầu tư thì tuỳ thuộc theo quy mô nguồn vốn, các dự án có NPV≥0 đều được chọn (Sở dĩ dự án NPV=0 vẫn có thể chọn vì khi đó có nghĩa là các luồng tiêu thụ của dự án vừa đủ để hoàn vốn đầu tư và cung cấp một tỷ lệ lãi suât yêu cầu cho khoản vốn đó). Ngược lại NPV< 0 ⇒ bác bỏ dự án

     

    15

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Nếu các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có NPV≥ 0 và lớn nhất thì được chọn.

     

    Sử dụng phương pháp NPV để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư có ưu nhược điểm sau:

     

    Ưu điểm:

     

    Phương này tính toán dựa trên cơ sở dòng tiền có chiết khấu (tức là hiện tại hoá dòng tiền) là hợp lý vì tiền có giá trị theo thời gian.

     

    Lựa chọn dự án theo chỉ tiêu NPV là thích hợp vì nó cho phép chọn dự án nào có làm tối đa hoá sự giàu có của chủ đầu tư.

     

    Phương pháp này ngầm giả định rằng tỷ lệ lãi suất mà tại các luồng có tiền có thể được tái đầu tư là chi phí sử dụng vốn, nó là giả định thích hợp nhất.

     

    Nhược điểm:

     

    Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn. Cụ thể: r càng nhỏ ⇒NPV càng lớn và ngược lại. Trong khi đó, việc xác định đúng r là rất khó khăn.

     

    Chỉ phản ánh được quy mô sinh lời (số tương đối: hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu).

     

    Với các dự án có thời gian khác nhau, dùng NPV để lựa chọn dự án là không có ý nghĩa. Muốn so sánh được, phải giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau. Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các thời gian dự án. Đây là việc tính toán phức tạp mất thời gian.

     

    * Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR: Internal Rate of Return)

     

     

    16

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của một dự án. Về mặt kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án đầu tư là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=0, tức là thu nhập ròng hiện tại đúng bằng giá trị hiện tại của vốn đầu tư. đối với dự án đầu tư có thời gian là T năm, ta có công thức:

     

     

    C1

       

    C2

     

    CT

    NPV = C0   +

       

    +

       

    +…. +

       

    = 0

         

    (1 +IRR)

     

    (1+IRR)2

    (1+IRR)T

    • nghĩa của chỉ tiêu IRR: IRR đối với dự án chính là tỉ lệ sinh lời càn thiết của dự án. IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh.

    Người ta sử dụng hai cách:

     

    Tính trực tiếp: Đầu tiên chọn 1 lãi suất chiết khấu bất kì, tính NPV. Nếu NPV>0, tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu và ngược lại. Lặp lại cách làm trên cho tới khi NPV= 0 hoặc gần bằng 0, khi đó mức lãi suất này bằng IRR của dự án đầu tư.

     

    Phương pháp nội suy tuyến tính:       thường được sử dụng. Đầu tiên

     

    chọn 2 mức lãi suất chiết khấu sao cho: Với r1 ⇒ có NPV1> 0

     

    Với r2⇒ có NPV2< 0

     

    Áp dụng công thức:

     

    IRR = r1

    +

    NPV

    1 (r1 r2)

     

    NPV 1

    NPV 2

     
       

    Chênh lệch giữa r1 và r2 không quá 0.05 thì nội suy IRR mới tương đối đúng.

     

    Sử dụng IRR để đánh giá, lựa chọn dự án sau :

     

    17

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trước hết lựa chọn một mức lãi suất chiết khấu làm IRRĐM (IRR định mức thông thường đó chính là chi phí cơ hội)

     

    So sánh nếu IRR ≥ IRRĐM thì dự án khả thi thi về tài chính, tức là: nếu là các dự án đầu tư là độc lập tuỳ theo quy mô nguồn vốn, các dự án có IRR ≥ IRRĐM được chấp nhận.

     

    Nếu các dự án đầu tư loại trừ nhau: chọn dự án có IRR ≥ 0 và lớn

     

    nhất.

     

    Ưu điểm: của phương pháp IRR chú trọng xem xét tính thời gian của tiền. Sự thừa nhận giá trị thời gian của tiền làm cho kĩ thuật xác định hiệu quả vốn đầu tư ưu điểm hơn các phương pháp khác.

     

    Phản ánh hiệu quả sinh lời của một đồng vốn (tính tỉ lệ %) nên có thể sử dụng so sánh chi phí sử dụng vốn. IRR cho biết mức lãi suất tiền vay tối đa mà dự án có thể chịu được. Giải quyết được vấn đề lựa chọn các dự án khác nhau.

     

    Nhược điểm: Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án, sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm. Với dự án có những khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và như vậy việc áp dụng IRR không còn chính xác.

     

    Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỉ lệ tái đầu tư.

     

    Ngoài ra còn tính theo phương pháp tỉ lệ hoàn vốn nội bộ điều chỉnh (MIRR) MIRR là tỉ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của chi phí đầu tư bằng giá trị hiện tại của tổng giá trị tương lai của các luồng tiền ròng thu từ dự án với giả định luồng tiền này được tái đầu tư tại tỉ lệ lãi suất bằng chi phí vốn. Đây cũng chính là điểm ưu việt của phương pháp MIRR so với phương pháp IRR.

     

    18

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Về mặt toán học, phương pháp tính NPVvà IRR luôn cùng đưa đến quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đói với những dự án độc lập. Tuy nhiên có thể có hai kết luận trái ngược cho những dự án loại trừ. Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai phương pháp, việc lựa chọn dự án đầu tư theo phương pháp NPVcần được coi trọng hơn bởi những phân tích đã chỉ ra rằng: phương pháp NPV ưu việt hơn phương pháp IRR.

     

    • Thời gian hoàn vốn: (P.P:Payback Peried)

    Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban đầu.

     

    Có hai cách tính chỉ tiêu này: thời gian hoàn vốn không chiết khấu (không tính đến giá trị thời gian của tiền) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu (quy tất cả các khoản thu nhập chi phí hiện tại theo tỷ suất chiết khấu lựa chọn).

     

     

     

     

     

    19

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Công thức tương tự nhau

     

     

    Số năm trước năm

     

    Số năm ngay trước

     
     

    các luồng tiền

     

    Thời gian hoàn vốn =

     

    năm các

     

    của DA đáp ứng

    +

     

    Luồng tiền thu được

     
     

    được chi phí

     
       

    trong năm

     
         

    Việc tính toán có thể được thực hiện trên cơ sở lập bảng:

     

    Công thức tính thời gian hoàn vốn cung cấp một thông tin quan trọng rằng vốn của công ty bị trói buộc vào mỗi dự án là bao nhiêu thời gian. Thông thường nhà quản trị có thể đặt ra khoảng thời gian hoàn vốn tối đa và sẽ bác bỏ dự án đầu tư có thời gian hoàn vốn lâu hơn.

     

    Sử dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư theo nguyên tắc: Dự án có thời gian hoàn vốn càng nhỏ càng tốt, chọn dự án có thời gian hoàn vốn nhỏ nhất trong các dự án loại trừ nhau.

     

    Ưu điểm: của phương pháp này:

     

    Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc. Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết. Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luồng tiền trong một tương gần thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án.

     

    Việc thấy rõ được thời gian thu hồi vốn cho phép đề xuất những giải pháp để rút ngắn thời hạn đó.

     

    Hạn chế: Tuy nhiên phương pháp thời gian hoàn vốn có một số hạn chế mà có thể dẫn tới những quyết định đó là: thời gian hoàn vốn không chiết khấu không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ không được đề cập. Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được

     

    20

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hiệu quả tài chính của cả đời dự án. Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá. Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu.

     

    * Phương pháp tỷ số lợi ích / chi phí (Benefit-Cost Ratio: BCR)

     

    Phản ánh khả năng sinh lời của dự án trên mỗi đơn vị tiền tệ vốn đầu tư (quy về thời điểm hiện tại).

     

    Bi

    i

     
     

    n

         
           

    BCR =

    i=0

    (1+r)

     

    Ci

    i

     
     

    n

         

    i=0 (1+r)

     

    Bi: Luồng tiền dự kiến năm i

     

    Ci: Chi phí năm i

     

    Nguyên tắc đánh giá: nếu có dự án có BCR ≥ 1. Suy ra được chấp nhận (khả thi về mặt tài chính).

     

    BCR là chỉ tiêu chuẩn để xếp hạng các dự án theo nguyên tắc dành vị trí cao hơn cho dự án có BCR cao hơn.

     

    Ưu điểm: nó cho biết lợi ích thu được trên một đồng bỏ ra, từ đó giúp chủ đầu tư lựa chọn, cân nhắc các phương án có hiệu quả.

     

    Nhược điểm: là một chỉ tiêu tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại trừ nhau, vì thông thường các dự án có BCR lớn thì có NPV nhỏ và ngược lại.

     

    * Phương pháp điểm hoà vốn:

     

    Điểm hoà vốn là điểm tại đó mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn (không lỗ, không lãi).

     

    21

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Điểm hoà vốn có thể được thể hiện bằng mức sản lượng hoặc doanh

     

    thu:

     

    Sản lượng hoà vốn: Qhv

     

    Q

     

    =

    FC

     

    HV

    P V

     
       

    Trong đó:   FC: là tổng chi phí

     

    P : giá bán đơn vị sản phẩm

     

    • : chi phí biến đổi một sản phẩm (P-V. lãi gộp một đơn vị sản phẩm) Doanh thu hoà vốn

    RHV = QHV × P = P ×

    FC

    =

    FC

     

    P V

       
     

    1−

    V

     
     

    P

     
             

    Trường hợp sản xuất một loại sản phẩm

     

    Nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì tính thêm trọng số của từng loại sản phẩm.

     

    RHV =

    FC

    n

     

    ∑(1−

    V i

    ) × wi

    i=1          Pi

     

    Thông thường người ta chọn một năm đặc trưng để tính. Dự án có điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt.

     

    Khả năng thu lợi nhuận càng cao ⇒ Khả năng thua lỗ càng nhỏ (hay vùng an toàn cao).

     

    22

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sau khi có điểm hoà vốn, có thể xác định thêm chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn. Tính:

     

    Doanh thu hoà vốn

    Mức hoạt động hoà vốn =

     

    x 100%

     

    Doanh thu lý thuyết

     

    Doanh thu lí thuyết là doanh thu tính theo công suất thiiết kế. Mức hoạt động vốn cho thấy khả năng phát triển của dự án.

     

    Điểm hoà vốn chỉ xét riêng cho từng dự án cụ thể vì thực tế dự án thuộc các ngành khác nhau, có cơ cấu vốn đầu tư khác nhau.

     

    Nếu cùng một dự án mà có nhiều phương án khác nhau thì có thể nên ưu tiên cho những phương án có điểm hoà vốn nhỏ hơn.

     

    Ưu điểm: của phân tích điểm hoà vốn

     

    Đưa ra những chỉ tiêu về mức độ hoat động tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có lợi nhuận.

     

    Nó cho biết sản lượng hoà vốn là bao nhiêu, do đó lầm chủ đầu tư tìm cách đạt đến điểm hoà vốn trong thời gian ngắn nhất.

     

    Hạn chế: Điểm hoà vốn không cho biết quy mô lãi ròng của cả đời dự án cũng như hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra.

     

    Mặt khác, việc phân tích trở nên phức tạp và tính chính xác không cao khi có đầu tư bổ sung thay thế.

     

    Một yếu tố không kém phần quạn trọng cần được xem xét là.

     

    * Độ nhạy của dự án:

     

    Môi trường xung quanh thường xuyên tác động tới dự án đầu tư trên nhiều mặt cấp độ khác nhau. Do vậy khi xem xét dự án ngoài cách xem xét dự án qua các chỉ tiêu ở trạng thaí tĩnh, cần phải đặt dự án đầu tư ở trạng thái động trong xu thế biến động của các yếu tố bên ngoài.

     

    23

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để có một cách đánh giá khách quan toàn diện hơn về dự án, thông thường để xem xét độ nhạy người ta thường tính toán thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR khi có sự biến đổi của một số nhân tố:

     

    +Giá bán sản phẩm.

     

    • Giá đầu vào thay đổi. +Vốn đầu tư.

    +Tỷ giá lên xuống.

     

    Trên thực tế khi tính độ nhạy cảm của dự án, người ta cho các biến số thay đổi 1% so với phương án lựa chọn ban đầu và tính NPV và IRR thay bao nhiêu %.

     

    • nghĩa của việc phân tích độ nhạy của dự án là giúp cho ngân hàng có thể khoanh được hành lang cho sự đầu tư của doanh nghiệp.

    Ngoài các nội dung trên, thẩm định dự án còn tiến hành thêm phân tích tài chính dự án đầu tư trong đó thường sử dụng các phương pháp phân tích sau.

     

    Phân tích diễn biến nguồn vốn sử dụng.

     

    Phân tích luồng tiền mặt.

     

    Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian.

     

    Kết hợp giữa đánh giá hiệu quả tài chính với phân tích tài chính dự án trong thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ cho Ngân hàng một kết qủa chính xác hơn, toàn diện hơn và bao quát hơn được toàn bộ dự án vừa xem xét trên từng góc độ cấp khác nhau.

     

    Như vậy mỗi chỉ tiêu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư có những ưu nhược điểm nhất dịnh. Tuy nhiên mức độ không như nhau. Mỗi chỉ tiêu thẩm định dư án sẽ được so sánh với các tiêu chuẩn chấp nhận dự án nhất định (có thể do nội tại chỉ tiêu mang lại hoặc tiêu

     

    24

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    chuẩn qua so sánh chỉ tiêu khác). Kết quả thẩm định thông qua những chỉ tiêu sau khi so sánh với giá trị tiêu chuẩn sẽ nói lên ý nghĩa của từng mặt vấn đề. Như vậy qua việc thẩm định bằng một hệ nhiều chỉ tiêu, kết luận chung, cuối cùng về dự án đầu tư phải là kết luận mang tính tổng hợp, khái quát, thậm chí phải nhờ vào sự cho điểm có phân biệt tầm quan trọng khác nhau của chỉ tiêu đánh giá. Mặt khác, kết luận chung đôi khi cũng cần tính linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiện cụ thể và sự ưu tiên khía cạnh nào đó của dự án.

     

    Song mặt quan trọng nhất ở đây, là phải dự kiến và xác định chính xác luồng tiền ra vào bởi các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở các dòng lợi ích, chi phí của dự án.

     

    Thuế thu nhập cũng ảnh hưởng đến các dự án không giống nhau nên số liệu về các dòng tiền liên quan đến mỗi dự án đưa và để tính toán, đánh giá dự án phải là số liệu sau thuế. Không đưa chi phí trả lãi vay vào dòng tiền mặt của dự án vì khi chiết khấu ta đã tính đến giá trị theo thời gian của tiền, nếu đưa vào nghĩa là đưa chi phí vay tiền mà không tính tới lợi ích vay vốn mang lại. Bên cạnh đó cần chú ý rằng, thu nhập ròng hàng năm của dự án bao gồm lợi nhuận sau thúe và khấu hao tài sản cố định vào năm cuối dự án có thêm vốn lưu động ròng thu hồi và giá trị thanh lí tài sản cố định. Khi thẩm định Ngân hàng phải kiểm tra tính hợp lí của phương pháp khấu hao do chủ đầu tư đưa ra vì khấu hao là một khoản thu trong nội bộ dự án để bù đắp những chi phí đã bỏ ra trước kia.

     

    Xử lí vấn đề lạm phát trong phân tích tài chính dự án: Lạm phát tác động tới tình hình tài chính của dự án theo nhiều mối quan hệ và theo những hướng khác nhau. Lạm phát là thay đổi các biến số tài chính trong bản báo cáo tài chính và đó tác động đến tính toán các chỉ tiêu thẩm định. Tuy nhiên việc phân tích dự án trong điều kiện có lạm phát dự tính vẫn theo nguyên tắc cơ bản như trường hợp không có rủi ro lạm phát, có thể dùng dòng tiền danh

     

    25

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    nghĩa hoặc dòng tiền theo sức mua nhưng phải được thực hiện một cách nhất quán (nghĩa là sử dụng tương ứng với tỉ suất chiết khấu danh nghĩa và tỉ suất chiết khấu thực). Trong thực tế, thường giá cả các yếu tố đầu vào, ra trong thời gian hoạt động của dự án được điều chỉnh theo một diễn tiến mà người thẩm định giả định cho các thời kì tương lai, phần nào nêu lên chiều hướng thay đổi tương đối của giá trong tương lai cũng như dự đoán được tác động của lạm phát. Một yếu tố không kém phần quan trọng mà ta cần phải nói tới đó là độ nhạy của dự án.

     

    2.2      Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định.

     

    2.2.1 Nhân tố chủ quan.

     

    Chất lượng thẩm định bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cơ bản có thể phân ra nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về nội bộ mà Ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.

     

    • Nhân tố con người.

    Con người được coi là động lực của sự phát triển xã hội với ý nghĩa họ chính là chủ thể đồng thời là đối tượng phục vụ mà các hoạt động xã hội hướng tới. Nhân tố con người bao giờ cũng là một trong những nhân tố quan trọng trong mọi công việc. Trong hoạt động thẩm định, chính con người xây dựng quy trình với những chỉ tiêu, phương pháp, trình tự nhất định, đóng vai trò chi phối, quyết định cả những nhân tố khác và liên kết các nhân tố với nhau. Song ở đây, ta chỉ tập trung đề cập đến nhân tố con người dưới giác độ là đối tượng trực tiếp tổ chức, thực hiện thẩm định dự án đầu tư (cán bộ thẩm định).

     

    Kết quả của thẩm định tài chính dự án là kết quả của việc phân tích đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của người thẩm định song phải dựa trên cơ sở khoa học, trang thiết bị hiện đại …sẽ là không

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    có ý nghĩa nếu cán bộ thẩm định không thể không cố gắng sử dụng chúng một cách có hiêụ quả.

     

    Con người đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng thẩm định phải kể đến các khía cạnh: kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức của người thẩm định. Kiến thức ở đây không chỉ là hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần mà bao gồm hiểu biết về khoa học – kinh tế – xã hội. Kinh nghiệm là những cái được tích luỹ qua hoạt động thực tiễn, năng lực và khả năng nắm bắt xử lí công việc trên cơ sở các tri thức đã tích luỹ. Như vậy, trình độ cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định, hơn nữa rất quan trọng bởi vì thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng như thẩm định dự án nói chung là công việc hết sức tinh vi, phức tạp, nó không đơn thuần là việc tính toán theo những mẫu biểu sãn có. Bên cạnh đó, tính kỉ luật cao, lòng say mê với công việc và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định cố phẩm chất đạo đức không tốt sẽ ảnh hướng tới tiến độ công việc, mối quan hệ Ngân hàng – khách hàng … đặc biệt những nhận xét đánh giá đưa ra sẽ bị chi phối bởi những nhân tố không phải từ bản thân dự án, do đó tính khách quan, hoàn toàn không tồn tại và ý nghĩa của việc thẩm định.

     

    Những sai lầm trong thẩm định dự án tài chính đầu tư từ nhân tố con người dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến một hậu quả: đánh giá sai lệch hiệu quả, khả năng tài chính cũng như khả năng hoà trả vốn vay Ngân hàng, do đó Ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ, nghiêm trọng hơn là nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh.

     

    • Quy trình thẩm định:

    Quy trình thẩm định của mỗi Ngân hàng là căn cứ cho cán bộ thẩm định thực hiện công việc một cách khách quan, khoa học và đầy đủ. Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm nội dung, phương pháp thẩm định và trình tự tiến hành những nội dung đó. Quy trình thẩm định được xây

     

    27

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    dựng một cách khoa học, tiên tiến và phù hợp với thế mạnh và đặc trưng của Ngân hàng sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tài chính. Nội dung thẩm định cần đề cập đến tất cả các vấn đề về tài chính dự án đứng trên giác độ Ngân hàng: vấn đề vốn đầu tư (tổng, nguồn, tiến độ …) hiệu quả tài chính khả năng tài trợ và rủi ro dự án. Nội dung càng đầy đủ, chi tiết bao nhiêu càng đưa lại độ chính xác cao của các kết luận đánh giá.

     

    Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư bao gồm các hệ chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lí chế biến thông tin có trong hồ sơ dự án và những thông tin có liên quan để đem lại những thông tin cần thiết về tính khả thi tài chính của dự án cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng. Phương pháp hiện đại, khoa học giúp các bộ thẩm định, phân tích tính toán hiệu quả tài chính dự án nhanh chóng, chính xác dự báo được rủi ro, làm cơ sở cho lãnh đạo ra quyết định tài trợ đúng đắn.

     

    Thực tế những năm vừa qua, các Ngân hàng thương mai Việt Nam đẫ chuyển dần từ phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư cũ sang phương pháp mới hiện đại hơn mà đã được áp dụng rất lâu từ các nước phát triển.

     

    Các nội dung thẩn định tài chính được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, lôgic sẽ thể hiện được mối liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau giữa việc phân tích các klhía cạnh tài chính của dự án, báo cáo thẩm định sẽ chặt chẽ và có sức thuyết phục hơn.

     

    * Phương pháp thẩm định:

     

    Đội ngũ cán bộ thực hiện quy trình thẩm định: Trình độ chuyên môn, hiểu biết các lĩnh vực liên quan tới dự án đầu tư như: Quản trị kinh doanh, kỹ thuật, đạo đức của cán bộ… đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả thẩm định. Thiếu hiểu biết sẽ làm công tác này mất thời gian, chi

     

    28

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    phí cho cả ngân hàng, doanh nghiệp ( có thể mất cơ hội kinh doanh, rồi có thể gặp rủi ro nợ không trả được…)

     

    * Nội dung thẩm định:

     

    Thẩm định tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình tài chính quá khứ, tài sản đảm bảo…kiểm soát sau vay đều ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định dự án.

     

    • Các nhân tố khác:

    Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

     

    Thực chất thẩm định là xử lí thông tin để đưa ra nhũng nhận xét, đánh giá về dự án. Nói một cách khác thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Do đó số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.

     

    Ngân hàng coi hồ sơ dự án của chủ đầu tư gửi đến là nguồn thông tin cơ bản nhất cho việc thẩm định. Nếu thấy thông tin trong hồ sơ dự án thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ tín dụng có thể yêu càu chủ đầu tư cung cấp thêm hoặc giải trình về những thông tin đó. Tuy nhiên như đã đề cập ở phần trước, dự án được lập ra phần nào mang tính chủ quan của dự án, hoặc không nhìn nhặn thấu đáo mọi khía cạnh, hoặc cố ý làm cho kế hoạch rất khả thi trước Ngân hàng, do vậy không phải là nguồn thông tin duy nhất để Ngân hàng xem xét. Ngân hàng cần chủ động, tích cực tìm kiếm, khai thác một cách tốt nhất những nguồn thông tin có thể được từ Ngân hàng Nhà nước, viện nghiên cứu, báo chí … Tuy vậy, việc thông tin phải chú ý sàng lọc, lựa chọn những thông tin đáng tin cậy làm cơ sở cho phân tích. Để phục vụ tốt cho công tác thẩm định chung cũng như thẩm định tài chính nói riêng, các thông tin thu thập được đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

     

    Nếu thông tin không chính xác thì phân tích là không có ý nghĩa cho dù là có sử dụng phương pháp hiện đại đến mức nào. Đánh giá trong điều

     

    29

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kiện thông tin không đầy đủ cũng có thể dẫn đến những sai lầm như trường hợp thông tin không chính xác. Như vậy, cần phải thu thập đầy đủ thông tin.

     

    Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao độ hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập các thông tin cần thiết sẽ ảnh hưởng đến chấtt lượng thẩm định, quan hệ Ngân hàng – khách hàng và có thể mất cơ hội tài trợ cho một dự án tốt.

     

    Vai trò của thông tin rõ ràng là quan trọng, song để có thể thu thập, xử lí lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kĩ thuật. Công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngành Ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lí, lưu trữ thông tin đầy đủ, nhanh chóng. Như vậy các thông tin đầu vào đầu ra của việc thẩm định dự án sẽ được cung cấp đầy đủ kịp thời.

     

    Tổ chức điều hành

     

    Là việc bố trí sắp xếp quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận đó trong việc thực hiện, cần có sự phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học và tạo ra được cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong khâu thực hiện nhưng không cứng nhắc, tạo gò bó nhằm đạt được tính khách quan và việc thẩm định được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện mà vẫn bảo đảm chính xác. Như vậy việc tổ chức, điều hành hoạt động thẩm định nếu xây dựng được một hệ thống mạnh, phát huy tận dụng được tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và sức mạnh tập thể sẽ nâng cao được chất lượng thẩm định.

     

    2.2.2 Nhân tố khách quan.

     

    Đây là những nhân tố không thuộc tầm kiểm soát của Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể khắc phục và thích nghi.

     

    * Từ phía doanh nghiệp

     

     

    30

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hồ sơ dự án mà chủ đầu tư trình lên là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thẩm định do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của Ngân hàng: phải kéo dài thời gian phân tích, tính toán, thu nhập thêm thông tin… đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khả năng quản lí cũng như tiềm lực tài chính rất hạn chế rủi ro dự án tạo hoạt động không hiệu quả như dự kiến càng lớn với Ngân hàng – người cho vay phần lớn vốn đầu tư vào dự án.

     

    Mặt khác tính trung thực của thông tin do chủ đầu tư cung cấp cho Ngân hàng về: tình hình sản xuất kinh doamh và khả năng tài chính hiện có, những thông số trong dự án… cũng như mọi vấn đề.

     

    * Môi trường kinh tế

     

    Mức độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực phổ biến của chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thông tin, do đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô… đã hạn chế việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình trạng nền kinh tế…Đồng thời các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành… chưa được xây dựng một cách cụ thể, đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong phân tích, chấp nhận hay phê duyệt dự án.

     

    * Môi trường pháp lí

     

    Những khiếm khuyết trong tính hợp lí đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lí của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng thẩm định (cũng như kết quả hoạt động của dự án). Ví dụ sự mâu thuẫn chồng chéo của các văn bản, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đỏi liên tục những văn bản về quy chế quản lí tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống

     

    31

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    kê… làm thay đổi tính khả thi của dự án theo thời gian cũng như khó khăn cho Ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong thu thập những thông tin chính xác (ví dụ như một doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau).

     

    3.    THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

     

    3.1   Khái quát về Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.1   Khái niệm về Ngân hàng thương mại.

     

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các NHTM được coi như là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời, nó có ý nghiã như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển và tiến bộ của loài người, được ví như “sự phát minh ra lửa” hay “sự phát minh ra bánh xe”…

     

    Trong nền kinh tế hàng hoá, tại những thời điểm nhất định luôn tồn tại một mâu thuẫn là: có những người thiếu vốn và có những người thừa vốn, những người có cơ hội đầu tư sinh lời nhưng không có tiền và những người có tiền nhưng không có cơ hội sử dụng sinh lời hoặc sinh lời thấp hơn. Mâu thuẫn này càng lớn hơn khi nền kinh tế càng phát triển, khi mà cung cầu về sản phẩm cũng như tốc độ chu chuyển hàng hoá, tiền tệ tăng lên mạnh mẽ. Các NHTM ra đời đã kết nối được sự khác biệt về không gian và thời gian khắc phục đựoc sự thiếu hụt về thông tin (là những trở ngại ngăn cản gặp gỡ giữa những người tiết kiệm và người đầu tư), đưa đồng vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu, đồng thời giảm được chi phí giao dịch do sự chuyên môn hoá. Làm như vậy các NHTM đã góp phần nâng cao được năng suất và hiệu quả của toàn nền kinh tế, cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội.

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Trên thực tế, sự dẫn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư thông qua hai con đường: tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp (tức là thông qua các trung gian tài chính). Và NHTM cũng không phải là trung gian tài chính duy nhất.

     

    Chúng ta có thể thấy vị trí của các NHTM trong thị trường tài chính qua sơ đồ sau:

     

    Vốn

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

    -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

    Các trung gian tài chính.

     

    NHTM, Công ty tài chính,

     

    bảo hiểm

     

    -Người cho vay

     

    -Hộ gia đình

    -Hãng kinh doanh

     

    Vốn                                   -Chính phủ

     

    -Người nước ngoài

     

    Các thị trường tài

     

    chính

     

    Song trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các NHTM đã chứng tỏ được vai trò của một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính bởi bề dày kinh nghiệm cũng như những lợi thế khác trong hoạt động, đặc biệt đối với nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam.

     

    Vai trò to lớn của hoạt động Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chính đặc trưng của hoạt động Ngân hàng. NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận song lại

     

    • lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền tệ một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạt động khác. Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

    33

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng với nội dung chủ yếu, thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán.

     

    3.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại.

     

    3.1.2.1. Huy động vốn.

     

    Trong hoạt động Ngân hàng, vốn tự có thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn cổ phần, liên doanh liên kết, tự tích luỹ … tuỳ thuộc từng loại hình Ngân hàng. Để thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng phải huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đồng thời trong những trường hợp cần thiết, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đầu tư hay cho vay Ngân hàng trung ương, các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

     

    * Huy động bằng tiền gửi

     

    – Tiền gửi không kỳ hạn:

     

    Thực chất là tiền gửi giao dịch của tổ chức, cá nhân. Với NH đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhưng lại có quy mô lớn thường là trên dưới 20% tổng nguồn huy động.

     

    Người sử dụng tài khoản loại này phần lớn để thanh toán cho khách hàng bằng cách phát hành séc hay rút tiền mặt. Đây vừa là tài sản có của khách hàng vừa là tài sản nợ của NH và NH có trách nhiệm hoàn trả lại cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó giúp cho NH huy động được lượng vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng, qua đó thu chi phí dịch vụ và sử dụng tài sản này của khách hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh với chi phí rất thấp. Nhưng nó cũng yêu cầu NH phải dự trữ thường xuyên lớn nên nhiều khi bỏ qua cơ hội kinh doanh, ngược lại nếu dự trữ ít thì sẽ phải đi vay với chi phí cao.

     

    34

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Tuy nhiên với xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến nhờ ưu điểm an toàn, tiện lợi, chi phí lưu thông thấp và mục tiêu quan trọng nhất: Kiểm soát tốt hơn lượng tiền cung ứng thì tài khoản tiền gửi ở các NHTM Việt Nam sẽ ngày càng phát triển.

     

    – Tiền gửi tiết kiệm:

     

    Là tài khoản có thời hạn cố định hoặc mức giới hạn về số tiền, tài khoản này đáp ứng nhu cầu của dân cư, hộ gia đình kinh doanh là chủ yếu vì họ có những món tiền nhỏ bé gửi vào rút ra bất thường.

     

    • Khác với hai loại trên tiền gửi có kỳ hạn là loại tài khoản có xác

     

    định trước số tiền gửi vào và thời gian rút ra. Về mức lãi có thể cố định hoặc giao động tuỳ theo yêu cầu của khách hàng. ở Mỹ, tính trung bình thì khoản tiền gửi định kỳ này chiếm khoảng 30% tiền gửi NH. Có thể chia ba loại:

     

    • Tiền gửi có kỳ hạn ngắn ( dưới 1 năm)
    • Tiền gửi trung hạn ( từ 1-5 năm)
    • Tiền gửi dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

    Tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng lớn.

     

    Hai loại tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn nhằm mục đích hưởng lợi chứ không phải để giao dịch như tài khoản không kỳ hạn. Vì vậy, nó có những ưu nhược điểm:

     

    Ưu điểm:

     

    • Tiền gửi tiết kiệm mang lại nguồn vốn lớn nhất trong các nguồn vốn huy động được, có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn.
    • Tiền gửi kỳ hạn là nguồn mang tính ổn định do hoạt động của NH, giúp NH chủ động trong ký kết hợp đồng tín dụng về lãi suất, thời hạn.

    Nhược điểm:

     

     

    35

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Tiền gửi tiết kiệm có chi phí cao hơn tiền gửi không kỳ hạn và NH phảI dự trữ lượng tiền lớn để chi trả và đôi khi mất đi cơ hội kinh doanh.

    +Nếu lãi suất của loại tiền gửi kỳ hạn biến động lớn thì cũng gây khó khăn cho NH trong việc huy động cũng như cho vay.

     

    * Huy động bằng cách đi vay:

     

    • Đầu tiên các NH thường xét đến việc đi vay các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là các NH khác. Khi mà họ cần cấp tín dụng với số lượng lớn cho khách hàng. Vì các tổ chức tín dụng thường xuyên có quan hệ giao dịch, thanh toán, hỗ trợ nhau để cùng tồn tại và phát triể
    • Vay trực tiếp bằng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ( nhưng thường là kỳ phiếu ở Việt Nam ).
    • Bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng bằng các chứng chỉ tiền gử Ngoài ra, còn có thể bán nợ.
    • Vay ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước), bằng tái chiết khấu thương phiế Hiện nay ở Việt Nam chỉ có hình thức cho vay tái cấp vốn cho các NHTM.

    * Nhận các quỹ uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế để cho vay đối tượng đã được lựa chọn.

     

     

     

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Rõ ràng các hoạt động của Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Ngân hàng chỉ có thể tăng cường cho vay đầu tư khi huy động được nguồn vốn dồi dào và rẻ. Đồng thời, những khách hàng và đối tác trong huy động vốn cho vay, đầu tư của Ngân hàng thường sử dụng các dịch vụ khác ở chính Ngân hàng này như thanh toán chuyển tiền. Ngược lại, chất lượng dịch vụ cao, phí phải chăng sẽ thu hút khách hàng đến đông hơn, tăng nguồn vốn huy động cho Ngân hàng, mở rộng thị trường cho vay, đầu tư …

    Ngân hàng có thể tạo nguồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là từ tiền gửi các cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ quan theo các loại hình thức khác nhau: ngắn, trung, dài hạn…Bên cạnh đó là hoạt động vay từ cá nhân, tổ chức… hoặc ngân hàng phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay vay từ các hình thức khác.

     

    3.1.2.2. Sử dụng vốn.

    Khi sử dụng vốn huy động, vốn vay, Ngân hàng phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ được bù đắp đồng thời Ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động sử dụng vốn thể hiện tập trung ở các hình thức:

     

    Hoạt động ngân quỹ: là việc Ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản tiền thanh toán Ngân hàng trung ương, và NHTM khác, tiền đang trong quá trình thu. Với hoạt động này, một mặt theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung ương, một mặt ý thức của chính bản thân Ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng thanh toán mà có thể dẫn đến sự sụp đổ của Ngân hàng. Hoạt động này thường không sinh lời.

     

    Hoạt động đầu tư: Ngân hàng kiếm lời từ khoản chênh lệch giũa giá mua và giá bán các chứng khoán trên thị trường tài chính. Đồng thời, Ngân

     

    37

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    hàng nắm giữ các trái phiếu chính phủ, cổ phiếu công ty hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hưởng lãi suất hoặc chia lợi nhuận.

     

    Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với các khách hàng, các Ngân hàng trong cũng như ngoài nước, NHTM thực hiện thanh toán qua hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng, phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích tài khoản, chuyển khoản thanh toán trực tiếp cho cá nhân, qua đó Ngân hàng thu phí, tỉ trọng hoạt động này ngày càng tăng.

     

    Cung cấp các dịch vụ khác: Một trong những hoạt động không kém phần quan trọng hỗ trợ cho nghiệp vụ chính của mình như: tư vấn đầu tư bảo lãnh (dự thầu, thanh toán, phát hành chứng khoán …) đại lí, giữ két, …để có thể tận dụng được lợi thế về uy tín và các mối quan hệ rộng khắp trong lòng thị trường.

     

    Tuy nhiên, các NHTM ngày nay có xu hướng hoạt động đa năng, tỉ lệ doanh số cũng như lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hoạt động cho vay – vốn là hoạt động cơ bản truyền thống lại bị suy giảm về trầm quan trọng. Có người nói huy động vốn và cho vay là lẽ sống của NHTM, thật vậy, nếu thiếu nó thì NHTM không còn là nó nữa, nhất là trong xu hướng hiện nay, các Ngân hàng tăng cường tài trợ cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn dưới hình thức cho vay theo dự án.

     

    Vai trò của tín dụng và cho vay theo dự án của Ngân hàng thương

     

    mại.

     

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là cần đủ vốn.Vốn để thuê công nhân, vốn để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, xây dựng nhà xưởng … Xét rộng ra cả nền kinh tế, các ngành sản xuất muốn hoạt động đều đặn và phát triển thì cần được đáp

     

    38

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ứng đầy đủ vốn, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Để đạt được một tốc độ phát triển kinh tế qua các năm thì các quốc gia không những phải duy trì mà còn phải thường xuyên bổ sung vốn cho nền kinh tế. Nói cách khác cùng với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng, số lượng vốn đầu tư cũng cần phải được tăng lên gấp bội.

     

    Khái niệm về vốn cần phải được hiểu không chỉ là vốn tiền tệ.

     

    Xét theo quy mô vốn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như: vật tư kĩ thuật, đất đai, lao động, tài nguyên …trong đó vốn tiền tệ đầu tư được mở rộng, cơ cấu vốn cũng có sự thay đổi theo từng nghành kinh tế, từng khu vực, từng đối tượng đầu tư. Xét theo đối tượng đầu tư, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế hàng năm bao gồm: vốn để hình thành nên tài sản cố định và vốn để hình thành nên tài sản lưu động (gọi là vốn lưu động). Bất cứ một quốc gia nào để đảm bảo sự tăng trưởng đều phải đầu tư cơ bản theo chiều rộng thông qua các hình thức xây dựng mới. Các nước phát triển chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, hướng hiện đại hoá cở sở hoạt động. Còn đối với các nước đang phát triển đầu tư phát triển vừa theo chiều rộng, vừa theo chiều sâu. Các nước đang phát triển do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp, chưa hoàn thiện nên hàng năm một bộ phận vốn khá lớn được sử dụng vaò các mục đích đầu tư đổi mới các tài sản cố định. Là một nước đang phát triển,Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều này có nghiã là bộ phận vốn mà Việt Nam cần để sử dụng cho đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn và là nhân tố vô cùng quan trọng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam.

     

    Trong những năm qua, công nghiệp hoá hiện đại đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghiã xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Đó là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp hợp lí. Điều này càng có ý nghiã đối với Việt Nam, một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hâụ với hơn 80% dân số sống

     

    39

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    bằng nghề nông, từ kinh nghiệm của những quốc gia đã tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá là phải tạo ra cho được những yếu tố thuận lợi cho quá trình này. Đó là xây dựng một nền công nghiệp tiên tiến, huy động vốn lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Điều này khẳng định vốn là điều kiện không thể thiếu được để tiến hành công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

     

    Vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách cho quá trình công nghiệp hoá với mọi quốc gia. Đặc biệt đối với Việt Nam, để duy trì những thành quả đạt được trong nhữnh năm qua nhờ quá trình đổi mới giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao và tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực thì một trong những vấn đề đang được quan tâm là nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội.

     

    Một mục tiêu quan trọng của Việt Nam trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2005 là tăng gấp đôi GDP/người vào năm 2005, tức là đạt trên 450USD/người.

     

    Qua tính toán và dự tính của các nhà kinh tế thế giới và trong nước thì để đạt được mục tiêu trên, nước ta phảỉ huy động được từ 45-50 tỷ USD cho đầu tư trong đó vốn trong nước phải đảm bảo từ 20 – 25 tỷ USD.

     

    Rõ ràng là nhu cầu vốn đầu tư cho qúa trình công nghiệp hoá –hiện đaị hoá ở nước ta là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn này có thể huy động từ hai kênh chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài.

     

    Với chính sách mở cửa và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, không thể không nói tới vai trò của Ngân hàng, nhất là tín dụng Ngân hàng. Để vực dậy và đem laị sự phát triển cho một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, chúng ta cần có một lượng vốn lớn đặc biệt là nguồn vốn trung và daì hạn. Như trên đã nói chúng ta có thể đầu tư bằng nhiều nguồn vốn: Vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư từ hệ thống tín dụng

     

    40

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Ngân hàng, vốn liên doanh, liên kết từ các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong, ngoài nước và vốn đầu tư từ các tổ chức quốc tế. Mỗi nguồn vốn đều rất quan trọng, cần thiết và cấu thành nên một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên nguồn vốn từ hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến hơn và ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong kết cấu tài sản nợ của các doanh nghiệp.

     

    Trong những năm qua, ngành Ngân hàng đã cố gắng đáp ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Khối lượng tín dụng tăng nhanh hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tín dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và bảo đảm sự bình đẳng về môi trường và điều kiện hoạt động giữa các thành phần kinh tế. Tín dụng Ngân hàng đã tập trung có chọn lọc các dự án lớn, vào các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có điều kiện tiếp cận thị trường, giúp các doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tuy nhiên, một điều đáng nói ở đây là tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong cơ cấu tín dụng nói chung còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được đòi hỏi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng một tỷ lệ nhỏ để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trung và dài hạn.

     

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng chung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát trển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học…Nên có thể nói rằng tín dụng trung, dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thoả mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp sẽ tận dụng triệt để số vốn này còn nếu không thì có

     

    41

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    thể hoàn trả lại số vốn này cho Ngân hàng. Đó là ưu thế của vốn trung và dài hạn, nó linh hoạt hơn các hình thức huy động khác. Hơn nữa, việc vay vốn này sẽ tránh được các chi phí như phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán…

     

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn trung dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình, sản xuất kinh doanh mới,…đòi hỏi có một lượng vốn rất lớn. Nhu cầu này được thoả mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp, huy động từ dân cư, vay nước ngoài. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các NHTM dưới hình thức cho vay trung, dài hạn là rất quan trọng và khả thi, bởi vì hệ thống NHTM là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường có kinh nghiệm thẩm định các dự án các chương trình đầu tư, do vậy các NHTM tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vì Ngân hàng có thể tư vấn cho các nhà doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết.

     

    Tín dụng trung và dài hạn của các NHTM có một vai trò như trên đã đề cập. Vậy chúng ta cùng xem xét nó có lợi ích như thế nào?

     

    Những lợi ích mà tín dụng trung và dài hạn của các NHTM đem lại * Đối với các doanh nghiệp.

     

    Tín dụng trung dài hạn có tác động hiệu qủa đến nhịp độ phát triển sôi động của các doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

     

    Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là cạnh tranh quyết liệt – cạnh tranh là môi trường và cũng là đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển được thì không còn cách nào khác là phải thắng lợi trong cạnh tranh.

     

    42

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Để cạnh tranh và giành được thắng lợi, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho mình một chiến lược kinh doanh hoàn hảo, bao gồm các kế hoặch xây dựng nhà xưởng, mua sắm các thiết bị máy móc đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận. Muốn vậy phải có đủ vốn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ thì phải mất một thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố định và sẽ lại tụt xa so với các doanh nghiệp trường vốn đã trang bị hiện đại và sản phẩm họ tung ra thị trường cũng trở nên lạc hậu. Vì thế lối thoát cho các doanh nghiẹp là huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng. Phát hành cổ phiếu trái phiếu trên thị trường chứng khoán là một biện phát hỗ trợ vốn tích cực cho các doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. Thậm chí ở những nước này, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vẫn có xu hướng vay từ Ngân hàng, sở dĩ như vậy là vì lí do:

     

    Với các khoản vay từ Ngân hàng,doanh nghiệp có thể giảm bớt các chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ chức phát hành chứng khoán, chi phí làm thủ tục gọi vốn, chi phí đăng kí. bảo hiểm.

     

    Kì hạn của các khoản vay từ ngân hàng dễ điều chỉnh hơn so với việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Do vậy khi thu nhập của donah nghiệp có biến động, hoặc một số sự kiện diễn biến không như dự kiến ban đầu, doanh nghiệp có thể thương lượng lại với Ngân hàng để thay đổi cách thức trả nợ (trả lãi, trả gốc) sao cho thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được hưởng một khoảng thời gian ân hạn, trong thời gian này doanh nghiệp chưa phải trả nợ gốc ngay mà chỉ phải trả lãi. Những thuận lợi này không có ở trái phiếu, cổ phiếu.

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Khi vay vốn ở Ngân hàng doanh nghiệp vẫn có thể thu lợi tức mà không mất sự kiểm soát đối với hãng đó hoặc phải đối phó với trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi khi vốn không còn cần nữa.

     

    Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất tín dụng của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, không chỉ đủ để trả vốn và lãi vay Ngân hàng mà phải đem lại lợi tức cho chính mình. Do vậy lãi suất tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp triệt để khai thác có hiệu quả đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng trong canh tranh.

     

    Thêm vào đó, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì những vốn vay từ Ngân hàng không những là quan trọng mà còn gần như là duy nhất để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vì thường những doanh nghiệp lớn, có uy tín mới có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năng gom vốn trên thị trường bằng cách bán các chứng khoán của mình. Thay vào đó, họ thường kiếm tìm sự tài trợ từ phía Ngân hàng. Chính những nguyên nhân trên làm cho các doanh nghiệp vẫn rất ưa thích hình thức vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng bên cạnh các nguồn vốn khác. Ở Việt Nam, nguồn vốn vay Ngân hàng lại càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vì hệ thống thị trường của ta chưa hoàn chỉnh, thị trường chứng khoán còn đang trong giai đoạn sơ khai. Ngân hàng luôn là nguồn vốn có định quan trọng nhất cho doanh nghiệp. Tuy vậy vốn cố định của Ngân hàng không rải đều cho mọi đơn vị mà tập trung chủ yếu vào các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển với các điều kiện tín dụng ưu đãi hơn. Còn đối với một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, Ngân hàng sẽ thắt chặt điều kiện vay vốn, thậm chí từ chối cấp tín dụng. Do vậy để có vốn đầu tư phát triển, để vươn lên và đứng vưng trong cơ chế thị trường, bản thân doanh nghiệp phải đổi mới, tổ chức lại sản suất kinh doanh

     

    44

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    sao cho có hiệu quả.

     

    * Đối với Ngân hàng.

     

    Các khoản cho vay trung – dài hạn sẽ là tài sản sinh lợi có nhiều triển vọng khi nó được thực hiện và giám sát đúng đắn. Nếu Ngân hàng có một nguồn vốn ổn định trong thời gian dài, dùng nguồn vốn đó để đầu tư dài hạn sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn nhiều so với việc dùng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn. Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tín dụng trung – dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất lợi hại giữa các Ngân hàng với nhau. Với sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Khi xác định mở rộng cho vay trung – dài hạn, các Ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà còn mong đợi ở lợi ích lâu dài hơn, đó là mở rộng tín dụng trung – dài hạn để thúc đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp sau khi được Ngân hàng cho vay vốn, trang bị máy móc thiết bị mới hay xây dựng mở rộng, năng lực sản suất sẽ tăng lên. Khi đó, doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng cho sản xuất. Người đầu tiên mà các doanh nghiệp tìm đến chính là các Ngân hàng đã đầu tư cho họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của họ. Với những Ngân hàng này, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm do đã hiểu nhau và các dịch vụ rẻ, tiện lợi hơn. Về phía các Ngân hàng, họ cũng muốn tạo quan hệ với các doanh nghiệp quen biết để tiện theo dõi tình hình tài chính và các khoản thu chi của doanh nghiệp.

     

    Trong hiện tại và tương lai, tín dụng trung – dài hạn của NHTM vẫn sẽ nắm vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc thiết bị hiện đại.

     

    Đối với nền kinh tế.

     

     

    45

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng có hiệu quả sẽ có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Nó góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và do vậy cũng giảm bớt tệ nạn xã hội.

     

    Phát triển cho vay trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể gánh nặng cho ngân sách nhà nước, giảm bớt khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, góp phần giảm bớt thâm hụt ngân sách. So với hình thức cấp phát từ ngân sách. Hình thức tín dụng Ngân hàng rõ ràng là có hiệu quả hơn. Bởi lẽ đồng vốn lúc này gắn liền với quyền lợi của Ngân hàng cũng nhue của doanh nghiệp. Đối với Ngân hàng để bảo toàn vốn, họ phải theo dõi sát sao đồng vốn của mình và trong những trường hợp cần thiết phải tư vấn cho doanh nghiệp, đưa ra những lời khuyên bổ ích cho doanh nghiệp để đảm bảo đồng vốn sinh lời. Còn với doanh nghiệp lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Đặc biệt nếu không sử dụng có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt, tức là lãi suất nợ quá hạn. Do vậy tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, đồng thời cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh.

     

    Với tư cách là trung gian tài chính đi vay để cho vay. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhỏ nhằm rải rác trong các doanh nghiệp và trong dân cư, biến thành nguồn vốn lớn để đầu tư cho các dự án có tính khả thi cao. Do vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn của nền kinh tế.

     

    Thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, tín dụng Ngân hàng là động lực mạnh mẽ đối với việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu nền kinh tế trong từng ngành, từng vùng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đối chiếu thực tế hiện nay, vốn

     

    46

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    trong nước và nước ngoài được thu hút qua kênh tín dụng Ngân hàng đã đầu tư các tổ chức kinh tế mua vật tư hàng hoá, trang thiết bị và đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng lớn. Hầu hết các chương trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo việc làm. Xây dựng nhà xưởng …Đều có vốn Ngân hàng tham gia

     

    Với những vấn đề chung về lí thuyết tín dụng đã được nêu ra ở trên. Song quan trọng hơn mà chúng ta cần quan tâm là hoạt động cho vay theo dự án của NHTM.

     

    Hoạt động cho vay theo dự án của đầu tư thực chất là cho vay trung và dài hạn trước đây. Thông thường có nhiều cách phân loại cho vay của Ngân hàng

     

    Theo vật bảo đảm: Có hoặc không vật bảo đảm

     

    Theo thời gian: cho vay ngắn trung dài hạn

     

    Theo lãi suất: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định.

     

    Theo đối tượng khách hàng: khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân, chính phủ.

     

    Chi tiết hơn có thể phân doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

     

    Hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế cũng như đối với Ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Một khoản cho vay từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thường theo trình tự sau đây (đối với Ngân hàng).

     

    Kiểm tra thẩm định xét                              Kiểm tra sử dụng vốn vay                        Kiểm tra xử lí, thu

     

    duyệt cho vay        trong khi cho vay       hồi nợ

     

    47

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Sự thất bại của khoản cho vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trầm trọng hơn có thể đe doạ sự tồn tại của Ngân hàng khi mà những yêu cầu rút tiền của người gửi không được đáp ứng. Với quan niệm về khoản cho vay gặp phải rủi ro không phải chỉ là việc Ngân hàng mất vốn mà đúng hơn là người vay không hoàn trả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam kết (Nếu ngân hàng thường xuyên phải ra hạn nợ cho khách hàng thì tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng, không như dự kiến) rủi ro có thể phát sinh trong tất cả các giai đoạn đòi hỏi Ngân hàng phải phân tích cân nhắc kĩ lưỡng để đưa ra quyết định: cho ai vay, vay bao nhiêu, vay như thế nào … nhằm đảm bảo có khoản cho vay an toàn hiệu quả. Tuy nhiên giai đoạn xem xét trước khi cho vay (còn gọi là phân tích tín dụng) vẫn là quan trọng nhất. Như vậy vấn đề thẩm định dự án đầu tư (đặc biệt là thẩm định tài chính) là khâu tối quan trọng mà Ngân hàng phải quan tâm trước một quết định cho vay.

     

    3.2      Thẩm định dự án đầu tư của khách hàng.

     

    Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm định, các dự án đầu tư cần được nghiên cứu phân tích và kiểm tra một cách khoa học, theo các kinh nghiệm quản lý thực tế và theo một trình tự nhất định. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng cácn bộ thẩm định không làm lại toàn bộ công tác của người lập dự án, tìm hiểu những nhược điểm, tồn tại của dự án để từ đó có quyết định về việc nên bỏ vốn đầu tư hay không hoặc đề suất những nội dung cần bổ sung, điều chỉnh đối với dự án trước khi tiến hành thẩm định. Quá trình thẩm định dự án đầu tư bao giờ cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định gồm 2 bước: thẩm định sơ bộthẩm định chính.

     

    Bước thẩm định sơ bộ.

     

    • Khi tiếp nhận hồ sơ, cán bộ tín dụng phải kiểm tra tính hợp pháp và tính đầy đủ của hồ sơ dự án để có thể yêu caauf chủ đầu tư bổ xung hoàn, tất kịp thời.

    48

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Sau đó cán bộ tìm hiểu uy tín người lập dự án, nếu là đơn vị thiết kế thì cần tìm hiểu kinh nghiệm của họ trong việc luận chứng kinh tế của các dự án cùng loại, còn đối với các doanh nghiệp sản suất thì phải xem họ có phải là những nhà sản suất có uy tín và thành công trên thị trường hay không ?
    • Tiếp theo cán bộ tín dụng sẽ tiến hành tiến hành tiếp xúc với chủ dự án và các đơn vị giúp việc của họ để tìm ra động lực thúc đẩy doanh nghiệp đề xuất dự án.
    • Cuối cùng, cán bộ sẽ xem xét hiện trường và hiện trạng của doanh nghiệp, từ đó đối chiếu và kiểm tra số liệu tình hình tài chính, tình hình sản suất kinh doanh ghi trong hồ sơ dự án để có những điều chỉnh kịp thời (nếu cần).

    Bước thẩm định chính thức.

     

    A.THẨM ĐỊNH VỀ DOANH NGHIỆP VAY VỐN.

     

    1. THẨM ĐỊNH PHI TÀI CHÍNH.

    Mục đích của việc Ngân hàng thẩm định doanh nghiệp vay vốn là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng cũng như khả năng trả nợ cho Ngân hàng hay không khi thẩm định chủ đầu tư cần xem xét những vấn đề sau. Xem xét nguyện vọng của chủ đầu tư. Nguyện vọng của chủ đầu tư có chính đáng không ?

     

    Xem xét về cách pháp nhân của chủ đầu tư như: quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng, biên bản bầu hội đồng quản trị, điều lệ hoạt động… Để biết chủ doanh nghiệp có khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không.

     

    Phân tích về uy tín của chủ đầu tư. Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng về những người chủ đầu tư có uy tín lớn họ sẵn sàng tìm đủ mọi cách

     

    49

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    để trả nợ Ngân hàng. Các quan hệ của chủ đầu tư đã và đang có với các doanh nghiệp khác, với các Ngân hàng khác và với Ngân hàng mình.

     

    Khi đánh giá những vấn đề này, cần phải tiến hành một cách chính xác nếu đánh giá sai đối tượng khách hàng thì sẽ làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc Ngân hàng sẽ không thu hồi được khoản nợ vay khi cho khách hàng làm ăn không có hiệu quả vay.

     

    2.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

     

    * Đánh gía tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

    Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít nhất là 3 năm trở về đây) cán bộ tín dụng phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:

     

    Quan hệ vay vốn và uy tín của doanh nghiệp trong những năm gần đây.

     

    Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).

     

    Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?

     

    Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.

     

    Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi cần thiết.

     

    50

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    * Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:

     

    Căn cứ vào các văn bản, số liệu về tình hình sản xuất và tài chính của doanh nghiệp như quyết toán tài chính, định kỳ được duyệt, bảng tổng kết tài sản, báo cáo lỗ lãi, biên bản kiểm kê và trích nộp khấu hao, các số liệu về tình hình tài chính khác để xây dựng được khả năng của doanh nghiệp như: Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng hay không? Quản lý tài sản(tình hình xử dụng tài sản cố định,tài sản lưu động như thế nào? tình hình kho tàng, máy móc, nhà xưởng, thiết bị ra sao?) Phân tích hiệu qủa tài chính: xác định cá hiệu qủa về tài chính, khả năng thanh toán, hiệu qủa kinh doanh, tình hình thực hiện ngân sách…

     

    Sau đây là nhưng chỉ tiêu cụ thể mà cán bộ tín dụng cần phải thẩm định.

     

    +Khả năng tự cân đối về tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng các khoản nợ phải thông qua các chỉ tiêu: hệ số tài trợ và năng lực đi vay.

     

    Hệ số

    =

     

    Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp

    tài trợ

       

    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đang sử dụng.

    Trong đó: Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là vốn tự có.

     

    Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng bao gồm tổng tài sản nợ của doanh nghiệp.

     

    Hệ số tài trợ kỳ này mà lớn hơn kỳ trước và lớn hơn 0,5 là tốt. Nó thể hiện doanh nghiệp có sự tự chủ cao về tài chính.

     

    Năng lực đi vay: Là khả năng xin vay vốn của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay vốn.

     

    Năng lực

    =

    Nguồn vốn hi ện có của doanh nghiệp

     

    đi vay

    Vốn thường xuyên.

     
     

    51

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    • Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Là lượng tiền có thể có để chi trả các khoản nợ bao gồm: nợ vay Ngân hàng, nợ khách hàng, nợ cán bộ công nhân viên. Trong một thời điểm nhất định. Khả năng thanh toán liên quan tới tổng số vốn có thể có bao gồm: Tiền mặt,vốn vay hoặc những tài sản có thể bán thu tiền ngay một cách dễ dàng để thanh toán các khoản nợ cấp bách.

    Khả năng thanh toán được phản ánh trên báo cáo tài chính và bản dự kiến luân chuyển tiền mặt. Nó được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán cuối cùng. Đây là nhóm chỉ tiêu tập trung sự chú ý nhiều nhất của Ngân hàng. Bởi vì thông qua đó, Ngân hàng có thể biết được số tiền doanh nghiệp dùng để thanh toán và số tiền doanh nghiệp phải thanh toán.

     

     

     

     

     

     

    52

     

     

    Chuyên đề thực tập

     

    Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

                   
       

    TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NHGIỆP

       

    TỪ NĂM 2000-2002

                 
       

    Các chỉ tiêu

    Đơn vị tính

    Năm 2000

    Năm 2001

    Năm 2002

     

    I. Tình hình sản xuất kinh

             
     

    doanh

             
     

    1.Giá trị tổng sản lượng

             
     

    2.Giá trị sản lượng hàng hoá

             
     

    tiêu thụ

             
     

    Sản phẩm A

             
     

    Sản phẩm B

             
     

    3. Tổng chi phí

             
     

    4. Kết quả SXKD

             
     

    II.Tình hình tài chính

             
     

    1.Vốn tự có

             
     

    2.Vốn huy động

             
     

    3.Vốn vay

             
     

    Vay ngắn hạn

             
     

    Vay trung- dài hạn

             
     

    4.Các khoản phải thu

             
     

    Trong đó: nợ khó đòi

             
     

    5.Các khoản phải trả

             
     

    6.Tổng tài sản lưu động

             
     

    8.Số lượng lao động

             
     

    9.Thu nhập bình quân

             
     

    III. Các chỉ tiêu kinh tế.

             
                   
    • Khả năng thanh toán chung: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình về khả năng thanh toán của doanh nghiệp

    Khả năng thanh toán chung

    Số tiền dùng để thanh toán

    =

     

    Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán

    Trong đó:

     

    ÖSố tiền để thanh toán gồm vốn bằng tiền và các khoản có thể chuyển hoá thành tiền (các khoản phải thu, thành phẩm, hàng hoá tồn kho đã

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                       Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    loại trừ các khoản nợ khó đòi và hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, kém, mất phẩm chất)

     

    • Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán gồm các khoản phải trả người bán, người mua, các khoản phải trả công nhân, các khoản nợ Ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế, các khoản phải trả khác.

    Khả năng

    =  Vốn bằng tiền +Các khoản phải thu ngắn hạn và có khả năng phải

           

    thu Thanh toán nhanh

    Các khoản nợ đến hạn

             

    Các hệ số hơn 1 là bình thường và càng cao càng tốt. Nếu nhỏ hơn một là khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu. Riêng hệ số khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt.

     

    Khả năng

     

    TT cuối cùng

    Tài sản

     

    Tài  sản

     

    Chênh lệch tỷ

    có lưu

    +

    thiếu chờ

    +

    giá và chỉ số

    động

    xử lý

    giá chưa xử lý

         

    =

     

    Nợ ngắn hạn Ngân

    Các khoản

    hàng và các tổ chức +

    nợ phải trả

    kinh doanh khác

     

    Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp rất xấu.

     

    • Các chỉ tiêu về sinh lãi: Ngoài các chỉ tiêu đã được xem xét trong bảng kết quả sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cần quan tâm một số chỉ tiêu sau:

    Doanh lợi

    =

    Lợi nhuận sau thuế

     

    Tổng tài sản có.

     

    vốn

     

    Đây là chỉ tiêu để đánh gía xem doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản có sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Các doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để so sánh với chi phí vốn(lãi tiền vay) khi xem xét cơ cấu

     

    54

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    của mình để sử dụng nguồn vay có lợi hơn hay kinh doanh vốn tự có lợi hơn.

     

    Doanh thu

     

    Tổng tài sản có

     

    Đây là chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá khả năng kinh doanh khi bỏ ra một đồng tài sản có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

     

    Bên cạnh việc đánh gía khả năng tự cân đối tài chính và khả năng tự thanh toán, việc xác định công nợ đòi hỏi sự thẩm định của cán bộ tín dụng: Cán bộ tín dụng phải xem xét và đánh giá tình hình quan hệ thẩm định, tình hình thanh toán với người mua, người bán và tình hình thực hện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của đơn vị xin vay vốn để từ đó đánh giá tính trung thực và hiệu quả kinh doanh của khách hàng, uy tín trong quan hệ thanh toán.

     

    Thẩm định và phân tích chu đáo phần trên đây sẽ góp phần đảm bảo cơ sở vững chắc để dự án được đầu tư có hiệu quả và đơn vị có khả năng trả nợ Ngân hàng theo cam kết. Bản thẩm định này chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiếp tục thẩm định vào phần quan trọng nhất. Thẩm định dự án đầu tư. Nếu ở phần này Ngân hàng không hài lòng về tư cách của người xin vay thì Ngân hàng sẽ không đánh giá tiếp các yếu tố còn lại.

     

    B THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

     

    Mỗi dự án là một mắt vùng hay lãnh thổ. Mặt khác, không nhỏ đến thị trường, cụ động đến hoạt động xuất nhập quan trọng.

    xích quan trọng chương trình phát triển của việc một dự án được đầu tư sẽ có ảnh hưởng thể là tác động đến cung cầu hàng hoá, tác khẩu khác. Vì vậy việc thẩm định dự án là rất

     

    Cán bộ tín dụng cần phải thẩm định những nội dung sau.

     

    55

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    1.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH THỊ TRƯỜNG

     

    Thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra cho sản phẩm của dự án. Với thị trường đầu vào, cần kiểm tra phân tích khả năng cung cấp nguyên vật liệu cho dự án (chính, phụ trong và ngoài nước). Đối với những nguyên vật liệu mang tính thời vụ, cần tính toán dự trữ hợp lý để đảm bảo cung cấp thường xuyên tránh lãng phí không nên quá phụ thuộc vào một nhà cung cấp để tránh bị ép giá. Cũng cần xem xét nguồn cung cấp, điện, nước, lao động… Nói tóm lại theo yêu cầu của dự án, xác định các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ tính thời vụ, điều kiện giao thông …), trên cơ sở đó chỉ ra được sự đảm bảo và phù hợp hay không của các phương án, xử lý nhân tố đó. Bên cạnh đó, thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng phải được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học bởi đây là khâu hết sức quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành bại của dự án.

     

    Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án tại thời điểm hiện tại và tương lai, xác định thị trường chủ yếu của sản phẩm, so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án cới giá cả thị trường hiện nay, tương lai dự báo những biến động về giá cả thị trường trong nước, ngoài nước … Nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, các hợp đồng tiêu thụ, bao nhiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng biên bản đàm phán…

     

    Nhằm đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm dự án cũng như các nhân tố tác động, trên cơ sở quyết định quy mô đầu tư, lựa chọn thiết bị, công xuất thích hợp

     

    Phân tích dự đoán thị trường là công việc hết sức phức tạp nhưng quan trọng. Để có được những đánh giá toàn diện, chính xác về khía cạnh này cần phải thu nhập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp, tình hình thực tế với

     

    56

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    số liệu thống kê cũng như các chính sách của nhà nước, ngành và địa phương về các vấn đề liên quan.

     

    1. THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT.

    Phân tích quy mô dự án công nghệ, trang thiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như sử dụng trang thiết bị hợp lý. Đánh giá tính hữu hiệu của thiết kế dự án. Để có thể có đầu ra như dự kiến, những yếu tố rủi ro, bất định trong thiết kế dự án và cách giải quyết hoạch quản lý, kiểm tra tính hợp lý của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản…

     

    Đây là một công việc phức tạp đòi hỏi phải có các chuyên viên kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án.Thẩm dịnh mặt này nhằm trả lời câu hỏi liệu dự án có thể thực hiện về mặt kỹ thuật hay không? Mức độ công nghệ kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu dự kiến về sản phẩm dịch vụ.

     

    3.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ:

     

    Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, quản lý trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu tư, nó tác động đến tiến độ thực hiện dự án và kiểm soát quy mô, phạm vi dự án… Điều đó đòi hỏi phải kiểm tra, xem xét về số lượng, chất lượng lao động xem có thể đáp ứng cho việc vận hành có hiệu quả không, đánh giá tính hợp lý của bộ máy quản lý hành chính, hệ thống phòng ban, phân xưởng.

     

    Thẩm định về mặt lựa chọn địa điểm xây dựng dự án: để xem xét địa điểm xây dựng xem địa điểm xây dựng dự án có thuận tiện hay không?

     

    4.THẨM ĐỊNH KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    Đây là một nội dung mà các cơ quan quản lý nhà nước rất quan tâm, xem xét lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và tìm cách tối đa hoá lợi

     

    57

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    ích đó. Nguyên tắc thẩm định cũng giống như thẩm định tài chính, đó là so sánh giữa lợi ích và chi phí của dự án. Song điểm khác biệt ở đây là quan niệm về lợi ích và chi phí trên góc độ xã hội: lợi ích và những đóng góp thực sự của dự án vào phúc lợi chung của quốc gia, chi phí là những khoản tiêu hao nguồn lực thực sự của nền kinh tế. Do đó khi lấy những chi tiêu từ thẩm định tài chính phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế… Bên cạnh đó phải đánh giá một cách đầy đủ, ngiêm túc tác động của môi trường – xem mức độ gây ô nhiễm môi trường có thể chấp nhận được hay không và khả năng, giải pháp cải thiện nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững.

     

    5.THẨM ĐỊNH KHÍA CẠNH TÀI CHÍNH:

     

    Thẩm định tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời để nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của dự án, thông qua việc tổng hợp các biến số tài chính kĩ thuật đã được tính toán trong phần thẩm định trước để đưa ra những số liệu đầu vào cho việc tính toán hiệu quả kinh tế xã hội.

     

    Sau 5 bước thẩm định trên Ngân hàng sẽ đi vào thẩm định tài chính dự án đầu tư với các nội dung cụ thể sau:

     

    Thứ nhất:

     

    +Xác định tổng nhu cầu về vốn đầu tư bao gồm về vốn cố định và vốn lưu động.

     

    +Xác định phần vốn mà Ngân hàng cần tài trợ.

     

    + Xác định tiến độ cần bỏ vốn.

     

    Khi một dự án đầu tư mang đến Ngân hàng xin vay vốn thì dự án đầu tư đó đã được nhều cấp, ngành phê duyệt. Tổng vốn đầu tư được xác định. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn tiến hành xem xét laịi trên cơ sở những kết quả thẩm định khác của Ngân hàng. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư sẽ

     

    58

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    giúp cho các dự án thực hiện một cách thuận lợi, nâng cao hiệu quả dự án đầu tư.Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho hoạt động đầu tư.

     

    Ngược lại thừa vốn đầu tư sẽ gây lãng phí vốn làm giảm hiệu qủa của dự án. Tổng vốn đầu tư được xác định trên tổng các chi phí:

     

    • Chi phí lập dự án.
    • Chi phí thuê gia sư tư vấn soạn thả
    • Chi phí mua thông tin, tài liệ
    • Chi phí khảo sát thăm dò.
    • Chi phí hành chính.

    Chi phí đầu tư tài sản cố định.

     

    • Chi phí xây dựng nhà xưở
    • Chi phí mua máy móc.
    • Chi phí lắp đặt, vận hành chạy thử. -Chi phí thuê chuyên gia, công nghệ.
    • Chi phí tài sản lưu động.

    Trên cơ sở vốn đầu tư đó Ngân hàng xem xét các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư.Một dự án đầu tư có hai nguồn cung cấp chính:

     

    • Nguồn bên trong do chủ dự án cung cấ
    • Nguồn bên ngoài:

    +Từ nhà nước.

     

    +Từ NHTM.

     

    +Từ các nguồn khác.

     

    Ngân hàng xem xét, xác định số vốn đầu tư cho vay và một điều quan trọng nữa NHTM phải xem xét lại tiến độ bỏ vốn theo tiến độ thi công xây

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    lắp… có đúng lịch trình đã đề ra hay không? Và Ngân hàng cũng sẽ xây dựng được một lịch trình cho vay của mình phù hợp với yêu cầu và tiến độ bỏ vốn của dự án.

     

    Thứ hai: Kiểm tra xây dựng doanh thu và lợi nhuận của dự án.

     

    Thẩm định tính chính xác, hợp lí, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng tài chính kinh tế kĩ thuật, dựa trên các chỉ tiêu, định mức kinh tế kĩ thuật của ngành đó do nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chứ năng công bố và dựa trên các kết quả thẩm định các mặt thị trường, kĩ thuật tổ chức kinh tế kĩ thuật của ngành Ngân hàng để thẩm định chính xác, hợp lí của bảng bảng dự trù tài chính.

     

    +Xem xét tính toán các bảng tài chính.

     

    +Bảng dự trù chi phí sản xuất năm.

     

    +Bảng dự trù doanh thu lỗ lãi.

     

    +Bảng dự trù cân đối kế toán.

     

    +Bảng dự trù cân đối thu chi.

     

    Các bảng này là cơ sở cho NHTM thực hiện các phân tích tài chính và tính toán các luồng tiền nên được xem xét kĩ lưỡng, hợp lí, chính xác.

     

    Vấn đề xem xét và đánh giá cơ cấu nguồn vốn là hợp lí hay không còn tuỳ thuộc vào tính chất và điều kiện thực tế của dự án. Hơn nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hiệu quả của khả năng trả nợ của dự án.

     

    Thứ ba: Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư.

     

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án chủ yếu thông qua một số chỉ tiêu sau: NPV, IRR. Ngoài ra con căn cứ vào một số thông số khác như: thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn . . .

     

    Thứ tư:    Xác định bảng lịch trình thu gốc và lãi.

     

    60

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    Thứ năm: Tổng hợp và đưa ra kết quả thẩm định, lập báo cấo thẩm định trình lãnh đạo.

     

    Tóm lại, một quy trình thẩm định dự án đầu tư hoàn chỉnh yêu cầu phải đảm bảo tiến hành đầy đủ các bước thẩm định doanh nghiệp vay vốn. Quá trình này đòi hỏi sự cố gắng của cán bộ tín dụng kết hợp với các kiến thức và trình độ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân.

     

     

     

     

     

     

     

     

    61

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     

    KẾT LUẬN

     

    Thẩm định tài chính dự án đầu tư chỉ là một trong những khái cạnh cần phải tiến hành xem xét đối với mỗi dự án trước khi ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư dự án, đặc biệt dưới góc độ NHTM – nhà tài trợ lớn.

     

    Sau thời gian nghiên cứu và được viết chuyên đề “Thẩm định tài dự án đầu tư của NHTM”, em nhận thấy rằng những kiến thức được biết và được viết quả thực rất hạn hẹp và còn nhiều bất cập. Nhưng sự phát triển của ngành Ngân hàng nói chung và công tác thẩm định nói riêng phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế của chúng ta như hiện nay chưa thích ứng với những phương pháp thẩm định tiên tiến, nhưng không hẳn là chúng ta bỏ qua những phương pháp thẩm định đó mà cần phải nắm vững nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai.

     

    Chủ đề nghiên cứu này không phải là hoàn toàn mới, song nó luôn là vấn đề cấp thiết và là sự quan tâm hàng đầu trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Từ những kiến thức đã được tổng hợp và phân tích đã được diễn giải thành bài viết, do đó bài viết chứa đựng những kiến thức cơ bản được học tại trường và thực tiễn, bên cạnh đó là những đề xuất mang tính chủ quan được xuất phát từ phương pháp nghiên cứu tư duy biện chứng, được gắn với thực tiễn của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.

     

    Đề tài của luận văn tuy khá hạn hẹp song rất có ý nghĩa bởi tính phức tạp cũng như tầm quan trọng của thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với hoạt động của NHTM.

     

    Kính mong được sự giúp đỡ của thầy.

     

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

    62

     

    Chuyên đề thực tập                                                                                        Trần Ngoc Ninh – TCDN 41B

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]