Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Luận văn tốt nghiệp “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn”

    Luận văn tốt nghiệp “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn”

    Luận văn tốt nghiệp “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÁO CÁO TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HOÀNG HƯNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-L%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-v%C3%A0-c%C3%A1c-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-t%C4%83ng-l%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-n%C3%B4ng-th%C3%B4n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn”

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    Lời mở đầu

     

    Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng quát có ý nghĩa vô cùng quan trọng tong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tốn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanh nghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, tăng tích luỹ đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

     

    Thời gian qua nền kinh tế việt nam đang chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghiệp chuyển hướng sang hạch toán kinh doanh tự chủ trong sản xuất kinh doanh, không còn được sự bao cấp của nhà nước như trước nữa. do đo, các nhà quản lý kinh doanh phải luôn quan tâm đến kết quả cuối cùng của đơn vị, họ đều ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao lợi nhuận đối với sự tồn tại và phát triển của mình.

     

    Đặc biệt trong nền kinh tế thi trường hiện nay, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hiệu quả sản xuất kinh doanh biểu hiện tập trung nhất đó là mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được , mức tăng doanh lợi của doanh nghiệp trở thành động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng trưởng kinh tế.

     

    Xuất phát từ vai trò to lớn của lợi nhuận, sau quá trình học tập và nghiên cứu tại HỌC VIỆN TÀI CHÍNH cùng với thời gian thực tập tại công ty vật tư và dịch vụ kỹ thuật hà nội, qua nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong hai năm gần đây, kết hợp với những kiến thức học tập tại tường, em đã đi sâu nghiên cứu đề tài :

     

    “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần

     

     

    1

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    phát triển công nghệ nông thôn”.

     

    Nội dung của luận văn bao gồm ba phần :

     

    Chương I Lý luận chung về lợi nhuận trong doanh nghiệp

     

    chương II Thực trạng về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn

     

    chương III Các giải pháp góp phần nông cao lợi nhuận tại công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn

     

    Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên những vấn đề trình bày trong bài luân văn này không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo trong trường và các cô chú phòng tài chính kế toán của Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn RTD để bài viết của em hoàn thiện hơn.

     

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phòng tài chính kế toán, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tiến sĩ Bùi Văn Vần đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình.

     

    Hà nội, ngày 25 tháng 4 năm 2005

     

    Sinh viên:

    Nguyễn Thị Nga

     

     

     

     

    2

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN

    TRONG DOANH NGHIỆP

    1.1 Lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận

    1.1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp

    1.1.2 1.1.1.1. Khái niệm

     

    Một nền sản xuất chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có tích luỹ. Mà xét về mặt bản chất, tích luỹ là sử dụng một phần của cải xã hội tạo ra để tái đầu tư vào các yếu tố sản xuất nhằm tăng quy mô và năng lực của nền kinh tế. Muốn tích luỹ thì phải có lợi nhuận.

    Thực tế một thời chúng ta đã không coi trọng lợi nhuận thậm chí coi nó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản xấu xa. Lợi nhuận của doanh nghiệp luôn là một đề tài nghiên cứu, tranh luận của nhiều trường phái kinh tế và nhiều nhà kinh tế. Vì vậy, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:

     

    • Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: “Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt”.
    • Chủ nghĩa trọng nông cho rằng: “Ngồn gốc của sự giàu có của xã hội lại là thu nhập trong sản xuất nông nghiệp”.
    • Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh mà đại diện là Adam Smith cho rằng: “Lợi nhuận trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản”. Vì vậy, ông ta không nhận thấy được sự khác nhau giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư nên ông đã đưa ra quan điểm: “Lợi nhuận là hình thái khác của giá trị thăng dư”.
    • Kế thừa có chọn lọc các nhân tố khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển kết hợp với những phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác đã xây dựng thành công lý luận về hàng hoá, sức lao động, đây là cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư và ông đã kết luận rằng: “Giá trị thặng dư được quan điểm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng ra mang hình thái biến tướng là lợi nhuận”. Như vậy bản chất của lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, là kết quả lao động không được trả công do nhả tư bản chiếm lấy. Tư bản thương nghiệp thuần

    3

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    tuý mặc dù không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng vẫn thu được lợi nhuận, sở dĩ tư bản thương nghiệp vẫn thu được lợi nhuận là vì được tư bản công nghiệp nhường cho một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất để tư bản thương nghiệp thực hiện giá trị hàng hoá cho tư bản công nghiệp.

     

    • Kinh tế học hiện đại dựa trên các quan điểm của các trường phái và sự phân tích thực tế thì kết luận rằng nguồn gốc của lợi nhuận trong doanh nghiệp là: “Thu nhập mặc nhiên từ các nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư cho kinh doanh, phần thưởng cho sự mạo hiểm sáng tạo, đổi mới cho doanh nghiệp và thu nhập độc quyền”.

    Nhưng từ khi chúng ta chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là một tiêu chí quan trọng mà mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

     

    Khi tiến hành bất cứ một hoạt đông kinh doanh nào chúng ta đều phải hướng tới lợi nhuận của doanh nghiệp mà mình có thể thu được từ hoạt động đó.

    Ngày 12/ 06/1999 Luật doanh nghiệp đã được Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/ 01/2000, Điều 3 của Luật doanh nghiệp ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Cũng theo Luật doanh nghiệp, “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện một hoặc một số khâu của quá trình đầu tư từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ với mục tiêu chủ yếu là sinh lời. Còn cái mà một thời mà chúng ta coi trọng, lợi nhuận đã được pháp luật ngày nay thừa nhận là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy lợi nhuận là gì? Lợi nhuận là kết quả tài chính

     

    4

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là một chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp.

     

    Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Từ khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai yếu tố:

     

    Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định.

     

    Thứ hai : Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó hay nói cách khác chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh đã thực hiện được trong kỳ.

     

    Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau:

     

    Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

     

    Doanh thu là toàn bộ những khoản tiền thu được do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đem lại. doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu về tiêu thụ sản phẩm, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu từ các hoạt động bất thường.

    Chi phí là những khoản chi mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được donah thu đó. Những khoản chi phí đó bao gồm:

     

    • Chi phí vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như chi pghí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị.
    • Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí lao động sống cần thiết mà họ bỏ ra trobng quá trình sản xuất.
    • Các khoản để làm nghĩa vụ với Nhà nước, đó là thuế và các khoản phải nộp khác cho nhà nước như thuế tài nguyên, thuế tiêu thu đặc biệt…các khoản này Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội như xây dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học…

    Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp các chi phí nói trên.

     

    5

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm các chi phí bỏ ra. Để hoạt động có hiệu quả, doanh nghiệp cần có biện pháp tăng doanh thu hợp lý bên cạnh đó phải không ngừng phấn đấu giảm chi phi, xác định đúng đắn các loại chi phí hợp lý, hợp lệ và loại bỏ các chi phí không hợp lệ trên cơ sở đó giúp doanh nghiệp xác định được giá bán hợp lý và có lãi.

     

    1.1.1.2. Kết cấu lợi nhuận trong doanh nghiệp

     

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau:

     

    Thứ nhất – Hoạt động sản xuất kinh doanh: Đây là hoạt động sản xuất tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và sản xuất kinh doanh phụ.

     

    Thứ hai – Hoạt động tài chính: Đây là hoạt động đầu tư về vốn và đầu tư về tài chính ngắn hạn, dài hạn với mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, mua bán ngoại tệ…

     

    Thứ ba – Hoạt động bất thường: Đây là hoạt động diễn ra không thường xuyên, không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng ít khả năng thực hiện như giải quyết vấn đề xử lý tài sản thừa, thiếu chưa rõ nguyên nhân…

     

    Xuất phát từ các hoạt động chính , lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường đựơc cấu thành bởi ba bộ phân sau:

     

    1.1.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

     

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí của hoạt động đó bao gồm toàn bộ sản phẩm, hàng hoá dich vụ đã thực hiện và thuế phải nộp theo quy định ( trừ thuế thu nhập doanh nghiệp).

     

    Doanh thu thuần: là toàn bộ số tiền bán thành phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thi trường sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại(nếu có chứng từ hợp lệ). Ngoài ra, trong doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của Nhà nước, giá trị sản phẩm, hàng hoá đem biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ.

     

    6

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Các chi phí của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bao gồm:

     

    • Giá vốn hàng bán: phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ xuất bán trong kỳ ( với doanh nghiệp thương mại, nó chính là trị giá mua
    • chi phí mua của hàng hoá bán ra ).
    • Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ. Đó là các chi phí như: chi phí bao gói sản phẩm, bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển, tiếp thị, quảng cáo…
    • Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những khoản chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến toàn hoạt động của doanh nghiệp.

    Ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo công thức:

    Lợi nhuận từ hoạt động  Doanh thu thuần

     

    sản xuất kinh doanh = – Trị giá vốn hàng bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Trong đó:

     

    Doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng – Các khoản giảm giá hàng bán – Trị giá hàng bán bị trả lại – Thuế gián thu

     

    1.1.1.2.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính

     

    Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Là số chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ xác định.

    Công thức xác định:

     

    Lợi nhuận hoạt động tài chính = Doanh thu hoạt động tài chính – Chi phí hoạt động tài chính – Thuế gián thu (nếu có)

     

    Thu nhập hoạt động tài chính: Là khoản thu do doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh vốn đem lại bao gồm hoạt động góp vốn liên doanh liên kết, đầu tư chứng khoán, thu nhập từ việc cho thuê tài sản, thu lãi tiền gửi…

     

    7

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Chi phí hoạt động tài chính: Là các khoản chi phí cho các hoạt động đầu tư tài chính và các chi phí liên quan đến hoạt động về vốn gồm chi phí về liên doanh không tính vào giá trị vốn góp, lỗ liên doanh, lỗ do bán chứng khoán, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan đến vay vốn, chi phí liên quan đến việc mua bán ngoại tệ, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuê tài chính…

     

    1.1.1.2.3. Lợi nhuận từ hoạt động bất thường

     

    Lợi nhuận từ hoạt động bất thường: Là số chênh lệch giữa thu nhập bất thường và chi phí hoạt động bất thường.

    Công thức xác định:

     

    Lợi nhuận bất thường = Doanh thu từ hoạt động bất thường – Chi phí hoạt động bất thường

     

    Doanh thu hoạt động bất thường: Là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trước và không xẩy ra một cách thường xuyên:

     

    Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định.

     

    Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.

     

    Thu tiền bảo hiểm được bồi thường.

     

    Thu được các khoản nợ phải thu đã xoá sổ tính vào chi phí kỳ trước.

     

    Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập.

     

    Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại.

     

    Các khoản thu khác.

     

    Chi phí hoạt động bất thường: Là những khoản chi phí hoạt động do nguyên nhân khách quan xảy ra như tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản ghi nhầm sổ sách kế toán…

     

    Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động, tổng hợp lại ta được lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

    Lợi nhuận trước thuế TNDN = Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh + Lợi nhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận hoạt động bất thường.

    Lợi nhuận sau thuế TNDN được xác định như sau:

     

    Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế TNDN – Thuế TNDN

     

    8

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Tuy nhiên, tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp do các lĩnh vực kinh doanh khác nhau cũng như môi trường kinh doanh khác nhau. Điều này được thể hiện như sau:

     

    • Có sự khác nhau giữa cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường với doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tín dụng: với doanh nghiệp thông thường, hoạt động sản xuất kinh doanh tách biệt với hoạt động tài chính. Do đó, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường gồm ba bộ phận: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bất thường. Trong ba bộ phận trên thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất. Trong khi đó, khác với các doanh nghiệp thông thường, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tài chính thì bao gồm hai bộ phận là lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất thường. ở các doanh nghiệp này, lợi nhuận từ hoạt động tài chính chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng lợi nhuận do họ thực hiện chức năng kinh doanh hàng hoá đặc biệt là kinh doanh tiền tệ nên hoạt động tài chính cũng là hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Trong các môi trường kinh doanh khác nhau các doanh nghiệp cùng loại có sự khác biệt về tỷ trọng các bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận của mình, chẳng hạn trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường cơ cấu bao gồm ba bộ phận. Khi nền kinh tế thị trường phát triển đến trình độ cao, hoạt động tài chính, hoạt động thị trường chứng khoán diễn ra sôi nổi, hiệu quả thì tất nhiên hoạt động tài chính của doanh nghiệp cũng được phát triển. Lúc này lợi nhuận từ hoạt động tài chính cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể không kém gì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi nền kinh tế thị trường còn ở trình độ thấp, hoạt động tài chính, chứng khoán chưa phát triển nên hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ rất hạn chế.

    Vì vậy, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận doanh nghiệp, nó đóng vai trò quyết định đến mọi hoạt động của doanh nghiệp.

     

    9

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Tóm lại, thông qua phân tích cơ cấu lợi nhuận giúp doanh nghiệp xác định được phần lợi nhuận nào chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó tập trung tìm ra nguyên nhân để xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong điều kiện các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, hoạt động tài chính còn rất hạn chế, hoạt động bất thường xảy ra không thường xuyên và cũng không quan trọng như bản chất của nó do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chính tạo ra hầu hết lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, mục đích của đề tài này là tập trung nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nâng cao lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

     

    1.1.1.3. Các chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận trong doanh nghiệp

     

    Lợi nhuận được xác định ở trên, cho chúng ta biết tổng quan về kết quả hoạt động kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp hay đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nó còn một số hạn chế là:

     

    • Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, là kết quả tài chính cuối cùng, lợi nhuận hàm chứa trong nó ảnh hưởng của cả nhân tố khách quan và chủ quan đã có sự bù trừ lẫn nhau. Chính sự bù trừ lẫn nhau giữa các nhân tố này đã che lấp kết quả cuối cùng, không thể phản ánh đúng hết và không thấy được sự tác động của từng yếu tố đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp cũng như sự nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp.
    • Sẽ là rất khập khiễng nếu đem so sánh lợi nhuận tuyệt đối của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác trong khi bản thân các doanh nghiệp không giống nhau về điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ, không giống nhau cả về quy mô sản xuất lẫn trình độ trang bị kỹ thuật của ngành sản xuất…

    Vì những lý do nêu trên, để đánh giá chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng như xem xét một cách toàn diện hiệu quả hoạt động của doanh

     

    10

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    nghiệp từ những góc độ khác nhau, chủ doanh nghiệp khi đầu tư vốn vào kinh doanh hoặc lựa chọn dự án đầu tư có hiệu quả, họ thường quan tâm tới các tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là doanh lợi và những biến động của nó trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.

     

    Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ so sánh giữa lợi nhuận thu được trong kỳ với các yếu tố có liên quan đến việc tạo ra lợi nhuận.

     

    Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, song chúng đều có chung mục đích là dưa các doanh nghiệp có những điều kiện sản xuất không giống nhau về cùng một mặt bằng so sánh. Bên cạnh đó chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận còn cho phép ta so sánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. Dưới đây là một số chỉ tiêu doanh lợi thường được sử dụng:

     

    1.1.1.3.1. Tỷ suất lợi nhuận vốn(doanh lợi vốn)

     

    Tỷ suất lợi nhuận vốn là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế đạt được với số vốn bình quân sử dụng trong kỳ(gồm vốn cố định và vốn lưu động) hoặc vốn chủ sở hữu.

     

    Công thức xác định:

    Tsv =

       

    P

    . 100%

     

    Vbq

           

    Trong đó: Tsv

    : Tỷ suất lợi nhuận vốn.

         
    • : Lợi nhuận trước(hoặc sau) thuế đạt được trong kỳ. Vbq : Tổng số vốn sản xuất được sử dụng bình quân trong

    kỳ.

     

    Tỷ suất lợi nhuận vốn chỉ ra rằng: Cứ 100 đồng vốn bình quân trong kỳ tham gia vào quá trình sản xuất thì góp phần tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh hiệu quả sử dụng tổng số vốn đầu tư vào doanh nghiệp, nó liên quan tới hiệu quả hoạt động quản lý kinh doanh trong kỳ. Vốn đầu tư của doanh nghiệp được chia thành: Vốn

     

    11

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    cố định, vốn lưu động và vốn chủ sở hữu do đó khi xác định doanh lợi vốn người ta cũng xác định riêng cho từng loại vốn trên.

     

    • Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định

    Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = VoncodinhLoinhuan .100%

     

    Trong đó : Vốn cố định được xác định bằng nguyên giá tài sản cố định trừ đi số tiền khấu hao luỹ kế đã thu hồi.

    Chỉ tiêu này cho biết: Hiệu quả sử dụng của một đồng vốn cố định, đặc biệt là vốn sử dụng máy móc, thiết bị và phương tiện kỹ thuật. Do đó khuyên doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ có hiệu quả.

     

    • Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động

    Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động = Lợi nhuận ròng / Vốn lưu động . 100% Trong đó : Vốn lưu động gồm vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở

    dang, bán thành phẩm tự chế, vốn thành phẩm.

     

    Chỉ tiêu này cho ta thấy: Hiệu quả sử dụng của một đồng vốn lưu động, đặc biệt là vốn nguyên vật liệu. Điều đó khuyến khích doanh nghiệp tiêt kiệm vốn lưu động và sử dụng một cách đầy đủ, hợp lý.

     

    • Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

    Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân . 100%.

    Chỉ tiêu này phản ánh : Một đồng vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, qua đó thấy được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và phục vụ cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp.

     

    1.1.1.3.2. Tỷ suất lợi nhuận giá thành (doanh lợi giá thành)

     

    Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong kỳ với giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.

    Công thức xác định: Tsg = P / Zt . 100%

     

    12

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Trong đó: Tsg : Tỷ suất lợi nhuận giá thành.

     

    P                                                                                    : Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ.

     

    Zt  : Giá thành toàn bộ sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ trong kỳ. Tỷ suất lợi nhuận giá thành chỉ ra rằng: Cứ bỏ ra 100 đồng chi phí cho việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói

     

    một cách khác đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả của những chi phí bỏ ra cho việc sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Từ đó giúp doanh nghiệp định hướng sản xuất loại mặt hàng có mức doanh lợi cao, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tối đa.

     

    Chỉ tiêu này có thể tính chung cho toàn bộ sản phẩm tiêu thụ hay từng loại sản phẩm tiêu thụ.

     

    1.1.1.3.3. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng(doanh lợi doanh thu tiêu thụ sản phẩm)

     

    Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm với doanh thu bán hàng trong kỳ.

    Công thức xác định: Tst = P / T . 100%

     

    Trong đó: Tst : Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng.

     

    • : Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. T : Doanh thu tiêu thụ trong kỳ.

    Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng chỉ ra rằng: Cứ trong 100 đồng doanh thu tiêu thụ trong kỳ thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.

     

    Thực tế trong công tác quản lý, chỉ tiêu này còn để đánh giá chất lượng từng hoạt động công tác khác nhau. Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ suất chung của toàn ngành chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn các ngành khác.

     

    Tóm lại, thông qua các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên đây ta có thể đánh giá một cách tương đối đầy đủ, chính xác tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của

     

    13

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    doanh nghiệp đồng thời so sánh được chất lượng của các hoạt động giữa các doanh nghiệp với nhau một cách hoàn chỉnh.

    Có thể coi doanh nghiệp là một hệ thống mà việc vận hành của nó đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt các giải pháp kinh tế – kỹ thuật và tổ chức. Do đó, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một việc không hề đơn giản. Chính vì vậy, sẽ là thiếu sót nếu không kết hợp cả hai chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối với các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối, trong phân tích kinh tế chúng sẽ bổ trợ cho nhau và là công cụ đắc lực giúp các nhà quản lý có được quyết định đúng đắn nhất.

     

    Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Để tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong cơ chế thị trường đòi hỏi cac doanh nghiệp phải đặt vấn đề lợi nhuận lên vị trí hàng đầu. Do đó, việc phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay là hết sức cần thiết.

     

    1.1.1.4. Sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay

    1.1.1.4.1. Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp và Nhà nước, nó là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Nếu kinh doanh có lãi chứng tỏ doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh một cách hợp lý, chất lượng sản phẩm tốt, giá cả hợp lý, đầu tư đúng hướng vào thị trường mục tiêu. Điều đó tạo điều kiện củng cố được uy tín, huy động được nhiều vốn đầu tư kinh doanh để phát triển sản xuất. Mặt khác, nó tạo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp có điều kiện để tái sản xuất mở rộng và thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách Nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình tăng trưởng ổn định và bền vững của

     

    14

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    nền kinh tế quốc dân. Ngược lại, nếu kinh doanh thua lỗ sẽ làm giảm thu nhập của người lao động, doanh nghiệp không duy trì được sản xuất, do đó ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế quốc dân là điều khó tránh khỏi. Thông qua kết quả kinh doanh, Nhà nước nắm được hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các đơn vị từ đó có chính sách kinh tế hợp lý để điều chỉnh cơ chế quản lý, bổ sung các chính sách xã hội có liên quan đồng thời Nhà nước cũng xem xét các nguồn thu, tính khấu hao tài sản cố định, thu các loại thuế… Do vậy, lợi nhuận có một vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nóichung cũng như đối với người lao động và bên thứ ba. Cụ thể như sau:

     

    Đối với doanh nghiệp

     

    Thứ nhất: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì, dựa vào đó doanh nghiệp có thể biết được hoạt động kinh doanh của mình có hiệu quả hay không, để có được sự cung cấp hàng hoá và dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường các doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, chi phí đó có thể là tiền thuê đất đai, thuê lao động, tiền vốn…trong quá trình kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đó. Ngoài việc phải bù đắp được chi phí bỏ ra họ mong muốn có phần dôi ra để mở rộng sản xuất, trả lãi tiền vay.

     

    Thứ hai: Lợi nhuận là mục tiêu, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng suất, là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động đến việc hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đó là nguồn thu để cải thiện điều kiện sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động, góp phần khơi dậy tiềm năng của người lao động vì sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp trong tương lai. Lợi nhuận còn là nguồn để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, thông qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc dân. Nền kinh tế như một cơ thể sống, các doanh nghiệp chính là những tế bào, cơ thể – nền kinh tế – muốn phát triển lành mạnh, vững chắc thì mỗi tế bào của nó – các doanh nghiệp – phải lớn mạnh, phải làm ăn có lãi. Bằng việc trích lập

     

    15

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    một khoản lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế, các doanh nghiệp có thể đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

     

    Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí nguyên nhiên vật liệu, tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ. từ đó giúp doanh nghiệp có điều kiện tạo dựng và nâng cao uy tín trên thị trường, thu hút vốn đầu tư, bổ sung vốn kinh doanh, tăng thêm vốn chủ hở hữu và trả các khoản nợ, tạo sự vững chắc về tài chính cho doanh nghiệp. Không những thế lợi nhuận còn là nguồn tài chính để doanh nghiệp bù đắp các khoản chi phí không được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh như các khoản lỗ năm trước, những khoản chi phí vượt định mức…

     

    Thư tư: Lợi nhuận cao cho thấy được triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó trong tương lai đó là doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi trong các mối quan hệ kinh tế như có thể huy động thêm vốn dễ dàng, mua chịu hàng hoá với khối l-ượng lớn… Doanh nghiệp còn có điều kiện trích lập các quỹ(quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi…) để phục vụ cho việc tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, phục vụ cho công tác phúc lợi.

    Thứ năm: Lợi nhuận còn là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao khi tăng đựơc doanh thu và đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí. Tức là doanh nghiệp sẽ tăng được lợi nhuận khi công tác quản lý kinh doanh có hiệu quả. điều này được thể hiện trên tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Khi lợi nhuận giảm sút, nếu loại trừ nhân tố khách quan, có thể đánh giá rằng doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác quản lý kinh doanh.

     

    Như vậy, lợi nhuận không chỉ là vấn đề sống còn đối với bản thân mỗi doanh nghiệp mà còn là là uy tín của doanh nghiệp đối với Nhà nước và các đối tác, là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cán bộ nhân viên, đồng thời là nguồn tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, doanh nghiệp không

     

    16

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    những có thể tái sản xuất giản đơn mà còn có thể tái sản xuất mở rộng. Ngoài ra doanh nghiệp có thể làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước và các đối tác, có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của người lao động. Do đó, đối với mỗi doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận luôn là vấn đề trăn trở.

     

    Đối với xã hội

     

    Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ bản quyết định đến sự thành bại của thị trường do vậy lợi nhuận phản ánh hiệu quả của nền kinh tế. lợi nhuận là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước, lợi nhuận của doanh nghiệp một phần sẽ được chuyển vào ngân sách Nhà nước thông qua các sắc thuế và nghĩa vụ đóng góp của mỗi doanh nghiệp với Nhà nước. nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì ngân sách nhà nước sẽ có khoản thu lớn từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Và ngược lại, nếu doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, lợi nhuận giảm thì khoản thu này sẽ giảm xuống. Với khoản đóng góp ngày càng lớn từ thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước sẽ góp phần thoả mãn nhu cầu chi tiêu của nền kinh tế quốc dân, củng cố và tăng cường lực lượng quốc phòng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần cho nhân dân. Nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh, tài chính, đầu tư…cho doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi và nó có tác động trở lại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Lợi nhuận không những có vai trò quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội.

     

    Lợi nhuận còn có vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nền kinh tế, việc tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Bởi nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào tích luỹ, quy mô của tích luỹ quyết định quy mô tăng trưởng. Doanh nghiệp muốn tăng trưởng nhanh thì phải làm ăn đạt lợi nhuận cao. Có được lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng được quy mô tích luỹ, một khi đã có tích luỹ đủ lớn thi doanh nghiệp có thể tái sản xuất mở rộng, đây là tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nền kinh tế tăng trưởng sẽ tác đông trở lại doanh nghiệp , tạo môi trường thuận lợi

     

    17

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    và động lực cho doanh nghiệp phát triển.

     

    Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay để thích nghi với giai đoạn mới của nền kinh tế, Nhà nước ban hành chính sách mới nhằm từng bước cải thiện môi trương kinh doanh, buộc các doanh nghiệp thực hiện hạch toán theo cơ chế thị trường lấy thu bù chi và cuối cùng phải có lãi. Qua thực tiễn cho thấy đã có nhiều doanh nghiệp Nhà nước rất năng động, linh hoạt thích nghi với môi trường kinh doanh, các nhà doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc tìm kiếm lợi nhuận, lấy lợi nhuận làm mục tiêu phấn đấu. Kết quả là các doanh nghiệp này đã phát triển vững mạnh và có sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên cũng không ít doanh nghiệp còn rất lúng túng chậm thích nghi với cơ chế thị trường, vẫn còn mang phong cách kinh doanh cũ, tâm lý ỷ lại trông chờ Nhà nước dẫn tới kết quả làm ăn kém hiệu quả, lợi nhuận thu được thấp, thậm trí thua lỗ kéo dài dẫn tới phải ngừng sản xuất kinh doanh, giải thể doanh nghiệp tác động tiêu cực cho xã hội…. Bởi vậy trong

    điều kiện cơ chế thị trường việc nâng cao lợi nhuận không chỉ là mục tiêu hàng đầu mà còn là điều kiện để quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.

     

    Đối với người lao động

     

    lao đông là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh. để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quan tâm thoả đáng đến lao động, cả về vật chất lẫn tinh thần. nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì sẽ có điều kiện trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm… là cơ sở để từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

     

    Lợi nhuận còn là đòn bẩy kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hăng say sáng tạo trong công việc. Từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động trong doanh nghiệp, tăng tích luỹ để mở rộng sản xuất kinh doanh.

     

    18

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    Đối với bên thứ ba

     

    bên thứ ba là những người có quan hệ với doanh nghiệp như các nhà cung cấp, ngân hàng, các nhà đầu tư…. nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu

     

    quả, có lợi nhuận và tăng được lợi nhuận thì doanh nghiệp dễ dàng vay thêm vốn từ các ngân hàng, thu hút vốn của các nhà đầu tư, tạo lập tín dụng thương mại với các nhà cung cấp.

     

    1.1.1.4.2. Xuất phát từ cơ chế thị trường

     

    Trước đây, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Các doanh nghiệp sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao, sản phẩm sản xuất ra do Nhà nước bao tiêu toàn bộ, mọi nhu cầu về vốn kinh doanh, về vật tư, tài sản… đều do Nhà nước cấp. nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì Nhà nước thu, nếu lỗ thì nhà nước chịu. chính vì vậy mà vấn đề lãi , lỗ trong kinh doanh không được doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Doanh nghiệp chỉ quan tâm đến việc làm sao hoàn thành được các chỉ tiêu mà Nhà nước đã giao phó. chính với tâm lý đó đã làm cho các doanh nghiệp suy yếu về tính độc lập tự chủ, tính linh hoạt sáng tạo trong sản xuất kinh doanh và ngày càng bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước.

     

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý đã có những thay đổi tích cực. Nhà nước từng bước giao quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp không còn phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước như trước nữa. thực hiện hạch toán kinh doanh là yêu cầu bắt buộc trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự hạch toán theo phương thức “ lời ăn lỗ chịu”.

    Xuất phát từ yêu cầu tự hạch toán kinh doanh, các doanh nghiệp không còn đường nào khác là phải đổi mới, phải vươn lên tự khẳng định mình. để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Muốn vậy các doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, nếu không có lợi nhuận thì doanh nghiệp

     

    19

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    không thể đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, không có điều kiện đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp sẽ khó đứng vững trên thị trường nhất là trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt như hiện nay và trong tương lai.

     

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi các quy luật khắc nghiệt của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị… tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. điều đó đòi hỏi mọi quyết định kinh doanh của doanh nghiệp đều phải gắn liền với thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận cao nếu sản xuất và cung ứng những mặt hàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, giá cả phù hợp với thu nhập của họ và có chính sách tiêu thụ hợp lý.

    Như vậy, lợi nhuận không những là mục tiêu cuối cùng mà còn là động lực trực tiếp đối với các doanh nghiệp. Trong khi lựa chọn các phương án kinh doanh, doanh nghiệp luôn lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu, đồng thời làm thước đo hiệu quả và định hướng cho mọi hành vi của doanh nghiệp. Vì thế, việc phấn đấu tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp là vấn đề vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

     

    Tóm lại, lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Phấn đấu tăng lợi nhuận là mục tiêu cơ bản và lâu dài của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.

     

    1.1.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp

     

    Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm ba bộ phận là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất thường. Trong đó lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chủ yếu, thường chiếm tỷ trọng lớn và là trọng tâm quản lý của doanh nghiệp. Do đó,

     

    20

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    muốn tăng được lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận, ta tập trung đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.

     

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định theo công thức:

     

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần – Giá thành

     

    toàn bộ sản phẩm tiêu thụ trong kỳ

     

    Như vậy, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào hai nhân tố là doanh thu tiêu thụ sản phẩm và giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ. Tuy nhiên doanh thu tiêu thụ sản phẩm và giá thành toàn bộ của hàng hoá tiêu thụ lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau.

     

    1.1.2.1. nhóm nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm.

     

    Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố như khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, chất lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu mặt hàng, giá bán sản phẩm, thị trường tiêu thụ và phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền hàng.

     

    Nhân tố khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ

     

    Khối lượng sản phẩm sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì có khả năng tiêu thụ càng lớn, khả năng tiêu thụ lớn thì doanh thu tiêu thụ càng cao. Song nếu sản phẩm sản xuất ra mà vượt nhu cầu thị trường thì dẫn tới cung vượt cầu, sản phẩm không tiêu thụ hết, hàmg hoá bị ứ đọng, gây hậu quả xấu cho sản xuất kinh doanh điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu khối lượng sản phẩm sản xuất ra nhỏ hơn nhu cầu thị trường thì doanh thu sẽ giảm và gây ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần nắm rõ nhu cầu thị trường, khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để xác định khối lượng sản xuất cho phù hợp. Đây được coi là nhân tố mang tính chủ quan thuộc về doanh nghiệp, nó phản ánh những cố gắng của doanh nghiệp trong công tác tổ chức quản lý sản

     

    21

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

     

    Nhân tố chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ

     

    Chất lượng sản phẩm thường thể hiện ở phẩm cấp, kiểu dáng mẩu mã, màu sắc, khả năng thoả mãn thị hiếu người tiêu dùng…. chất lượng sản phẩm hàng

     

    hoá, dịch vụ có ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, dịch vụ, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm. nếu sản phẩm có chất lượng cao giá bán sẽ cao hơn và ngược lại, chất lượng thấp giá sẽ hạ. chất lượng sản phẩm cao là một trong những điều kiện quyết định mức độ tín nhiệm đối với người tiêu dùng, nó là một trong ba yếu tố cơ bản tạo ra lợi thế trong cạnh tranh, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    Mặt khác, nâng cao chất lượng sản phẩm còn tạo điều kiện để sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ dễ dàng hơn và nhanh chóng thu được tiền hàng. ngược lại, những sản phẩm chất lượng thấp, không đúng quy cách sẽ rất khó tiêu thụ hoặc tiêu thụ được nhưng giá rẻ, từ đó làm giảm doanh thu tiêu thụ dẫn tới giảm lợi nhuận. đây là nhân tố chủ quan thuộc về doanh nghiệp, thể hiện trình độ tay nghề của người lao động và khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, các kinh nghiệm quản lý vào sản xuất kinh doanh .

     

    Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ

     

    trong nền kinh tế thị trường nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú. Mỗi doanh nghiệp đều có thể tiến hành sản xuất kinh doanh và tiêu thụ nhiều mặt hàng với kết cấu khác nhau. Kết cấu mặt hàng là tỷ trọng về giá trị của mặt hàng đó so với tổng giá trị các mặt hàng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Trong thực tế, nếu tăng tỷ trọng mặt hàng có mức sinh lời cao, giảm tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức sinh lời thấp dù mức lợi nhuận cá biệt của từng mặt hàng không thay đổi thì tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên và ngược lại, tăng tỷ trọng mặt hàng có mức sinh lời thấp, giảm tỷ trọng những mặt hàng có mức sinh lời cao sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm đi.

     

    22

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Như vậy, thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi. tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt việc giữ “chữ tín” với khách hàng là đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, một mặt doanh nghiệp có thể thay đổi kết cấu mặt hàng để tăng doanh thu nhưng phải luôn đảm bảo thực hiện đầy đủ những đơn đặt hàng theo yêu cầu của khách hàng, hạn chế chạy theo lợi nhuận trước mắt mà ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp .

     

    Nhân tố giá bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

     

    Giá cả là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng. trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, giá bán sản phẩm hàng hoá dịch vụ tăng lên thì doanh thu bán hàng sẽ tăng lên và ngược lại, giá giảm sẽ làm doanh thu giảm đi. tuy nhiên, thông thường khi tăng giá bán sản phẩm thì khối lượng tiêu thụ lại có xu hướng giảm xuống và ngược lại, khi giảm giá thì khối lượng tiêu thụ lại có xu hướng tăng lên. vì vậy, trong nhiều trường hợp tăng giá không phải là biện pháp thích hợp để tăng doanh thu, nếu việc tăng giá bán không hợp lý sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, gây nên tình trạng ứ đọng hàng hoá và sẽ làm cho doanh thu giảm xuống. Như vậy, giá bán tăng hay giảm một phần quan trọng là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định. Do vậy, để đảm bảo được doanh thu và lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải có một chính sách giá bán hợp lý.

     

    Nhân tố thị trường tiêu thụ và chính sách bán hàng hợp lý

     

    thị trường tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. nếu sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường và được thị trường chấp nhận thì việc tiêu thụ sẽ dễ dàng hơn, nếu thị trường tiêu thụ rộng lớn không chỉ bó hẹp trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng tăng khối lượng tiêu thụ để tăng doanh thu.

     

    Mặt khác, việc vận dụng các phương thức thanh toán khác nhau luôn ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ. Do vậy, muốn nâng cao doanh thu bán hàng, một mặt

     

    23

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    phải biết vận dụng các phương thức thanh toán hợp lý, có chính sách tín dụng thương mại phù hợp, mặt khác phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc kiểm nhập xuất giao hàng hóa. đặc biệt là trong thanh toán quốc tế, để đảm bảo thu hồi tiền hàng một cách đầy đủ và an toàn, doanh nghiệp phải tuân thủ một cách đầy đủ các điều kiện về tiền tệ, về địa điểm , về thời gian và phương thức thanh toán.

     

    1.1.2.2. nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chi phí

     

    Thực chất ảnh hưởng của nhân tố này là ảnh hưởng của giá thành sản phẩm tiêu thụ và nó tác động ngược chiều đến lợi nhuận. Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm là tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, nó là tác động của các nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp, nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố sau:

     

    Nhân tố chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

     

    Là những khoản chi phí liên quan tới việc sử dụng nguyên liêu, vật liêu phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, Do vậy, nếu tiết kiệm được khoản chi phí này sẽ góp phần làm giảm giá thành và tăng lợi nhuận. Chi phí nguyên vật liệu được xác định như sau:

     

    Chi phí nguyên vật liệu = Định mức tiêu hao nguyên vật liệu x Giá đơn vị nguyên vật liệu

     

    Định mức tiêu hao nguyên vật liệu: Nhân tố này có quan hệ tỷ lệ thuận với khoản chi vật liệu. Việc thay đổi mức tiêu hao có thể do thay đổi mẫu mã, do công tác quản lý sử dụng nguyên vật liệu và đặc biệt do quy trình công nghệ. trong điều kiện hiện nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển hết sức mạnh mẽ, nhiều phát minh mới, nhiều công nghệ hiện đại mới ra đời, nhiều vật liệu mới ra đời thay thế vật liệu cũ…. nếu doanh nghiệp có khả năng ứng dụng được những thánh tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh thì sẽ không ngừng nâng cao

     

    24

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    được năng suất lao động, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, giảm chi phí, hạ giá thành, từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất còn nâng cao được chất lương sản phẩm, hạ giá thành, công tác tiêu thụ sẽ thuận lợi hơn và doanh thu sẽ tăng lên. Vì vậy, các nhà quản lý phải xây dựng kế hoạch sản xuất, đổi mới công nghệ và kiểm tra thường xuyên nhằm sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu cho sản xuất.

     

    Giá đơn vị nguyên vật liệu xuất dùng: Nhân tố này tỷ lệ thuận với khoản chi phí nguyên vật liệu. Việc thay đổi giá nguyên vật liệu xuất dùng lại tuỳ thuộc vào giá mua trên thị trường và các chi phí bỏ ra liên quan tới quá trình thu mua vật tư. Do đó, đây là nhân tố ảnh hưởng vừa khách quan vừa chủ quan đến giá thành sản phẩm nên khi xem xét ảnh hưởng của nó phải dựa vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, từng nguồn hàng cụ thể để có kết luận chính xác về tác động của giá nguyên vật liệu xuất dùng đến khoản chi nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm.

     

    Như vậy, các nhân tố định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giá mua nguyên vật liệu, chi phí thu mua đều ảnh hưởng tới tổng chi phí và tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Đòi hỏi các doanh nghiệp không những tìm các biện pháp để giảm thiểu các khoản chi phí trên mà còn phải xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến khoản chi nguyên vật liệu để có biện pháp thích hợp.

     

    Nhân tố chi phí nhân công trực tiếp

     

    Là chi phí để trả lương và các khoản trích theo lương cho công nhân sản xuất trực tiếp. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay do cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật còn lạc hậu, năng suất lao động chưa cao, còn sử dụng nhiều lao động trực tiếp vào sản xuất. Do đó chi phí nhân công trực tiếp còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí sản xuất. Để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm biện pháp để giảm chi phí tiền lương công nhân trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên, việc hạ thấp chi phí tiền lương phải hợp lý bởi vì tiền lương là một hình thức trả thù lao cho

     

    25

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    người lao động.

     

    Cùng với sự phát triển của xã hội đời sống ngày càng được cải thiện đòi hỏi tiền lương cũng phải được tăng cao. Do đó doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, tăng năng suất lao động, có một chính sách sử dụng lao động hợp lý, có nhiều biện pháp khuyến khích như tạo điều kiện để người lao động học tập nâng cao trình độ, quan tâm đến đời sống và điều kiện làm việc của công nhân, khuyến khích bằng vật chất và tinh thần cho người lao động thì sẽ kích thích được người lao động làm việc nhiệt tình, sáng tạo, cống hiến hết mình cho sự phát triển của doanh nghiệp

     

    Nhân tố chi phí sản xuất chung

     

    Là các chi phí cho hoạt động của phân xưởng trực tiếp tạo ra hàng hoá dịch vụ, bao gồm các chi phí: Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao tài sản cố định phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng…. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo nâng

    cao trình độ quản lý sản xuất liên quan đến nhiều khâu như nâng cao trang thiết bị máy móc, trình độ kỹ thuật công nhân viên, tăng hiệu suất làm việc điều đó sẽ góp phần giảm chi phí cho doanh nghiệp.

     

    Nhân tố chi phí bán hàng

     

    Là những khoản chi phí bỏ ra để đảm bảo cho quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện. Đó là những khoản chi phí về tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, chi phí đóng gói vận chuyển bảo quản, khấu hao tài sản cố định …. Chi phí bán hàng phụ thuộc vào đặc

    điểm sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên, tình hình thị trường tiêu thụ nếu biết tiết kiệm chi phí tiêu thụ sản phẩm sẽ góp phần làm hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên phải phấn đấu giảm chi phí một cách hợp lý để không làm giảm uy tín của doanh nghiệp.

     

    26

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    Nhân tố chi phí quản lý doanh nghiệp

     

    Gồm các chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp như tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, lãi vay vốn kinh doanh, dự phòng phải thu khó đòi, chi phí tiếp tân…. Các

    khoản chi phí này là nhỏ nhất trong tổng giá thành nhưng càng tiết kiệm thì càng giảm giá thành và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

     

    1.2. phương hướng và biện pháp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

     

    Lợi nhuận chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nó là kết quả cuối cùng có liên quan đến nhiều khâu của quá trình sản xuất. Do đó, phấn đấu tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn luôn tìm kiếm những giải pháp tối ưu để phát huy một cách tốt nhất lợi thế của doanh nghiệp mình. Mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể của mình sẽ có các biện pháp khác nhau nhằm nâng cao lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận chung em xin đề cập tới một số giải pháp mang tính chất chung như sau:

     

    1.2.1. Tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm.

     

    Doanh thu chính là khoản mà doanh nghiệp nhận được thông qua hoạt động bán hàng và đầu tư. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, việc tăng doanh thu tiêu thụ sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc tăng doanh thu lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Do vậy, để tăng doanh thu doanh nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:

     

    Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả

     

    Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì với bất cứ doanh nghiệp nào có một phương án sản xuất kinh doanh đúng đắn sẽ góp phần làm giảm sự tiêu tốn về tiền bạc và công sức mà doanh

     

    27

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    nghiệp vẫn đạt được kết quả tốt, nghĩa là phương án kinh doanh phải có tính khả thi và phải được xây dựng một cách thận trọng, khoa học, chính xác.

    Vấn đề đặt ra ở đây là phương án kinh doanh được xây dựng phải khả thi, phù hợp với tình hình thị trường, khai thác hết lợi thế tiềm năng, điểm mạnh của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn, để đạt được lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải làm như sau:

     

    Doanh nghiệp phải xác định được vị trí hiện tại của mình trên thị trường(cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu), mối quan hệ với khách hàng, nhà cungcấp, với đối thủ cạnh tranh và doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường, đây là công việc hết sức phức tạp nó bao gồm các hoạt động từ khâu nghiên cứu thị trường, tổ chức hoạt động sản xuất ra sản phẩm tới khâu tiêu thụ sản phẩm.

     

    Nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp phải tổ chức riêng phòng chuyên trách về nghiên cứu thị trường, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ về nghiên cứu thị trường cho cán bộ công nhân viên đặc biệt là nhân viên chuyên trách về bộ phận marketing.

     

    Đầu tư để nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ

     

    Nâng cao khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Để làm được điều đó, ngoài việc doanh nghiệp phải có những biện pháp quản lý và sử dụng lao động một cách hợp lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân, bố trí lao động phù hợp với trình độ và kỹ năng của họ, doanh nghiệp còn phải đầu tư cho sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu như hiện đại hoá máy móc thiết bị, mạnh dạn ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, bên cạnh đó cần làm tốt công tác quảng cáo tiếp thị sản phẩm, công tác tổ chức bán hàng.

     

    Ngoài ra, vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ cũng là một mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng sản phẩm doanh nghiệp phải chú trọng tới việc thay đổi công nghệ cho phù hợp với xu thế thị trường, vấn đề đào tạo con người phải được quan tâm đúng mức. Ngày nay do sự

     

    28

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất cũng phải được quan tâm để từ đó tạo ra nhiều sản phẩm.

     

    Xây dựng kết cấu sản phẩm có lợi nhất

     

    Kết cấu sản phẩm là một nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu theo những chiều hướng khác nhau, nó có thể làm tăng hoặc giảm lợi nhuận tiêu thụ. Để đạt được lợi nhuận cao, doanh nghiệp cần đầu tư nghiên cứu, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm trong đó phải xác định một số mặt hàng chủ lực.

     

    1.2.2. Hạ giá thành sản phẩm

     

    Hạ giá thành sản phẩm thực chất là việc tiết kiệm các chi phí về lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Việc tiết kiệm các khoản chi phí trực tiếp tạo nên thực thể sản phẩm phải được thực hiện một cách hợp lý để không làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, đối với chi phí bán hàng phải tuỳ vào đặc điểm của sản phẩm, điều kiện tự nhiên, xã hội, thị trường tiêu thụ.

    Đây là phương hướng cơ bản, lâu dài để tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đặc biệt trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh về giá, nếu giá sản phẩm càng thấp thì doanh nghiệp càng có lợi thế để hạ giá bán sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, làm tăng doanh thu và tăng lợi nhuận. Việc tiết kiệm các chi phí về lao động sống, lao động vật hoá có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn xã hội. Vì vậy, nó không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự bù đắp chi phí sản xuất kinh doanh và có lãi mà còn giúp doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm vốn để mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra. Để giảm được chi phí hạ giá thành sản phẩm các doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp sau:

     

    Phấn đấu tăng năng suất lao động

     

     

    29

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Năng suất lao đông phản ánh năng lực sản xuất của người lao động, biểu hiện bằng số sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian hay thời gian cần thiết để làm ra một đơn vị sản phẩm. Tăng năng suất lao động có nghĩa là tăng số sản phẩm làm ra hay giảm số thời gian cần thiết để làm ra một đơn vị sản phẩm, điều này làm cho chi phí nhân công trong một đơn vị sản phẩm giảm đi. hơn nữa việc tăng năng suất lao động còn kéo theo sự giảm đi hàng loạt các chi phí khác đặc biệt là chi phí cố định để hạ giá thành sản phẩm. Do đó, để tăng năng suất lao động doanh nghiệp cần áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp sau:

     

    đầu tư đổi mới quy trình công nghệ, hiện đại hoá máy móc thiết bị

     

    Trong điều kiện hiện nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo ra khả năng to lớn để các doanh nghiệp đổi mới quy trình công nghệ, cải tiến máy móc thiết bị sao cho phù hợp với quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có như vậy mới tạo ra được tiền đề cho việc sử dụng triệt để công suất máy móc thiết bị. đây là biện pháp trực tiếp tăng năng suất lao động.

     

    tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị

     

    Việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị phải được tiến hành đồng thời theo hai hướng là : tăng số lượng máy móc thiết bị trên đầu lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng máy. muốn vậy phải tổ chức lại quy trình sản xuất, tăng giờ máy chạy, giảm giờ máy ngừng hoạt động do hỏng hóc, thiếu nguyên nhiên vật liệu, thiếu người vận hành… đồng thời phải thường xuyên kiểm tra, sữa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị, thực hiện đúng các yêu cầu của quy trình vận hành máy móc.

     

    sắp xếp, bố trí lao động một cách hợp lý

     

    Việc sắp xếp, bố trí lao động một cách hợp lý nhằm tạo nên sự đồng bộ thống nhất, tạo ra sự gắn kết hài hoà giữa các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. điều đó giúp cho doanh nghiệp có thể sử dụng thời gian của mình một cách hiệu quả, góp phần tăng năng suất lao động.

     

    nâng cao trình độ tay nghề và ý thức của người lao động

     

    để tăng năng suất, doanh nghiệp không thể không thực hiện công tác đào

     

    30

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    tạo và bồi dưỡng cho người lao động để nâng cao trình độ tay nghề. Hơn nữa, doanh nghiệp phải luôn quan tâm chăm lo đời sống của cán bộ công nhân viên thông qua tiền lương và các chính sách khen thưởng hợp lý nhằm khuyến khích, động viên người lao động hăng say với công việc, gắn trách nhiệm với công việc của mình. đồng thời doanh nghiệp phải có những biện pháp quản lý lao động cho phù hợp với doanh nghiệp mình.

     

    Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu

     

    Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất sẽ góp phần lớn vào việc hạ giá thành sản phẩm sản xuất ra. để tiết nguyên vật liệu tiêu hao cần phải giảm tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu và mức tiêu hao nguyên vật liệu trong một đơn vị sản phẩm. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các biện pháp sau:

     

    kết hợp kế hoạch sản xuất với công tác cung ứng nguyên vật liệu

     

    Doanh nghiệp phải lập kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu sao cho phù hợp với kế hoạch sản xuất, tránh tình trạng sản xuất bị ngừng trệ do thiếu nguyên vật liệu hoặc tình trạng nguyên vật liệu ứ đọng quá lớn. Doanh nghiệp phải chọn nguồn cung cấp gần, thuận tiện cho việc chuyên chở, giá cả phải chăng đặc biệt là phải ổn định nguồn cung cấp những vật tư chính, đây cũng là nhân tố giúp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.

     

    tổ chức quản lý nguyên vật liệu một cách tốt nhất

     

    tổ chức quản lý nguyên vật liệu một cách tốt nhất để sao cho đảm bảo về số lượng, chất lượng nguyên vật liệu. Muốn vậy, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra giám sát các loại nguyên vật liệu nhập về, tránh tình trạng nhập phải các loại nguyên vật liệu kém phẩm chất hoặc để xẩy ra tình trạng hao hụt nguyên vật liệu quá lớn. Ngoài ra doanh nghiệp cần chú ý đến khâu bảo quản, dự trữ vật tư, thực hiện quản lý và sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm ngay từ khâu mua vào, áp dụng phương pháp quản trị hàng tồn kho dự trữ thích hợp nhằm tối thiểu hoá chi phí.

     

    31

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    doanh nghiệp phải xây dựng được định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, xây dựng định mức phế phẩm vật tư hợp lý.

    Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm là số nguyên vật liệu cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm theo yêu cầu kỹ thuật nhất định. Mức tiêu hao thực tế so với định mức càng nhỏ bao nhiêu thì vật tư được sử dụng càng tiết kiệm bấy nhiêu. Để giảm bớt tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm doanh nghiệp cần: áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, xây dựng được các mối liên hệ gắn bó trách nhiệm chặt chẽ giữa các khâu mà nguyên vật đi qua, tránh tình trạng có những khâu nguyên vật liệu không được quản lý chặt chẽ dẫn đến lãng phí, hao hụt lớn, tăng cường kiểm tra các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp gây thất thoát lãng phí vật tư. Có kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu thay thế trong những trường hợp cần thiết trên cơ sở đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như giá thành của sản phẩm đó.

     

    Giảm các loại chi phí gián tiếp

     

    Chi phí gián tiếp bao gồm các khoản : Chi phí tiền lương công nhân gián tiếp, tiền thuê văn phòng, chi phí tiếp khách, chi phí nhân viên quản lý, chi phí khác…. các khoản chi phí này không liên quan trực tiếp đến sản xuất sản phẩm.

     

    Do vậy, để giảm chi phí gián tiếp cần phải xây dựng được cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả không chồng chéo, phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và đặc điểm chung của từng ngành, từ đó tiết kiệm chi phí quản lý.

     

    Ngoài ra, các khoản chi phí gián tiếp này rất dễ bị lạm dụng trong chi tiêu. do đó, doanh nghiệp cần phải có biện pháp quản lý khoản chi phí này có hiệu quả. Doanh nghiệp nên xây dựng hạn mức chi phí cho các khoản mục này và chi tiêu theo hạn mức đã định.

     

    1.2.3.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

     

    đây là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, phát triển và thu lợi nhuận cao

     

    32

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    trong nền kinh tế thị trường. Nhằm đạt được hiệu quả cao, với chi phí đầu vào thấp nhất các doanh nghiệp phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất. để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định, đồng thời tăng nhanh tốc độ tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động. Ngoài ra trong quá trình hoạt động nếu có vốn nhàn rỗi thì doanh nghiệp nên đầu tư ra ngoài như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các chứng chỉ có giá khác, liên doanh liên kết, gửi ngân hàng… để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng lợi nhuận.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần cân nhắc lựa chọn nguồn tài trợ vốn một cách hợp lý nhằm giảm chi phí sử dụng vốn và đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên nghiên cứu, cân nhắc sử dụng đòn bẩy tài chính một cách hiệu quả để tăng lợi nhuận vốn chủ sở hữu.

     

    Trên đây chỉ là một số phương hướng cơ bản để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của mình mà doanh nghiệp cần vận dụng tổng hợp một cách uyển chuyển, sáng tạo những biện pháp trên đây để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất, đạt được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện các nguồn lực có giới hạn.

     

    Tóm lại, lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. để đánh giá được chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp chúng ta phải phân tích một cách toàn diện, sâu sắc toàn bộ các chỉ tiêu về lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận mà chúng ta đã nêu. việc phân tích không chỉ xem xét lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp mà phải tiến hành so sánh các chỉ tiêu giữa các năm với nhau để thấy được xu hướng của doanh nghiệp là phát triển hay suy thoái hoặc so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với số trung bình của ngành hay các doanh nghiệp có điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự nhằm xác định vị trí của doanh nghiệp là tiên tiến hay lạc hậu…

     

    Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp tuỳ vào điều kiện sản xuất kinh doanh, ngành nghề kinh doanh thì kết quả đạt được củng khác nhau. Để nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết hơn về vấn đề này, sau đây chúng ta sẽ đi sâu xem xét quá trình thực hiện lợi nhuận ở Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn.

     

    33

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG VỀ KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NÔNG THÔN

    2.1. Khái quát về tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn

     

    2.1.1. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển công ty

     

    2.1.1.1. Giới thiệu về công ty

     

    Tên giao dịch: Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn.

     

    Tên tiếng anh: Rural Technology Development.

     

    Tên viết tắt: RTD.

     

    Trụ sở chính: Đặt tại P104 – C1b – Phường Láng Hạ – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội.

    Loại hình công ty: Công ty cổ phần.

     

    Công ty được cấp giấy phép kinh doanh số: 0103000601 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư thành phố Hà Nội cấp ngày 01/ 11/ 2001.

    Vốn điều lệ: 9 tỷ đồng huy động từ các cổ đông.

     

    Công ty được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/ 06/ 2000 tại Kỳ họp thứ 8 Khoá X, có hiệu lực thi hành 01/ 01/ 2001.

     

    Hiện nay công ty có ba chi nhánh với hơn 300 đại lý lớn nhỏ trải dài cả ba miền Bắc, Trung, Nam đó là:

    * Chi nhánh Hà Tây : Đặt tại Khu công nghiệp sản xuất và chế biến thức ăn gia súc Xã An Khánh – Huyện Hoài Đức – Tỉnh Hà Tây.

    • Chi nhánh Miền Nam: Đặt tại 11/ 29A Nguyễn Oanh – Quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh.

    * Chi nhánh Hưng Yên : Đặt tại Xã Lạc Hồng – Huyện           – Tỉnh Hưng

     

    Yên.

     

    34

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Ngành nghề kinh doanh cơ bản: Sản xuất kinh doanh thuốc thú y và thức ăn gia súc.

    Công nghệ sản xuất: Thức ăn gia súc được sản xuất theo công nghệ của Đức, thuốc thú y được sản xuất theo công nghệ của Trung Quốc.

     

    2.1.1.2. Khái quát về quá trình hình thành và phát triển công ty

     

    Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn được chính thức thành lập vào tháng 4 năm 1998 với tiền thân là Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn. Thời gian này công ty chủ yếu kinh doanh thương mại các loại nguyên liệu sản xuất thuốc thú y và thuốc thuỷ sản nhập khẩu. Được sự hỗ trợ của các giáo sư hàng đầu về ngành chế biến thức ăn gia súc và thuốc thú y, công ty đã từng bước chuyển sang tự nghiên cứu, sản xuất thức ăn và thuốc thú y đặc chủng.

     

    Sau một thời gian hoạt động đến ngày 1 tháng 11 năm 2001 Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn chuyển thành Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn. Với các ngành nghề kinh doanh:

     

    ứng dụng công nghệ bảo quản và chế biến nông sản.

     

    Dịch vụ khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

     

    Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá.

     

    Buôn bán nguyên liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp và nông thôn.

     

    Mua bán trang thiết bị y tế.

     

    Buôn bán nguyên liệu sản xuất thuốc thú y và thức ăn gia súc.

     

    Sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn cho thủy sản.

     

    Sản xuất thuốc thú y, thức ăn bổ sung cho vật nuôi(gia súc và vật nuôi dưới nước).

    Trong đó, công ty tập trung vào sản xuất kinh doanh thuốc thú y và thức ăn gia súc. Thuốc thú y của công ty rất đa dạng bao gồm cả thuốc bột, thuốc tiêm và thuốc kháng thể, đây là những sản phẩm có nhiều tính năng ưu việt như tác dụng trên cơ thể vật nuôi, giá thành tương đối rẻ… Vì vậy các loại thuốc này đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước và xuất khẩu một phần sang các nước láng

     

    35

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    giềng như Lào, Cam Pu Chia. Còn thức ăn chăn nuôi của công ty gồm 7 nhãn hiệu là Việt úc, ý Mỹ, GROW, PHú Nông, VINA FEED, Sài Gòn và đặc biệt là công ty đang tập trung vào phát triển sản phẩm ơn Việt đó là sản phẩm có chất lượng cao.

     

    Với năng lực sản xuất hiện có như lao động có tay nghề, các sản phẩm của công ty được sản xuất trên dây truyền thiết bị công nghệ hiện đại của Cộng hoà liên bang Đức, Trung Quốc và cả sự cố gắng nỗ lực của toàn bộ công nhân viên, sự tận tâm sáng suốt của ban giám đốc, vốn lớn… Đứng trước yêu cầu đặt ra là thể hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế xã hội hàng năm như sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng trên cơ sở mở rộng quy mô sản xuất, đưa công ty từng bước hoà nhập vào nền kinh tế thị trường và ngày càng có vị thế vững vàng trên thị trường trong ngoài nước. Từ những điểm mạnh và với nhiệm vụ đặt ra đặt ra trước mắt công ty đã tiến hành liên kết hợp tác, học hỏi những kinh nghiệm quý báu trong việc quản lý tài chính, trong sản xuất kinh doanh của các đối tác và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, phát huy hết tiềm năng vốn có. Chính vì vậy công ty là một trong những đơn vị mạnh so với các đơn vị sản xuất sản phẩm cùng loại và đạt được nhiều thành tích đáng kể. Điều này được thể hiện cụ thể:

     

    • Ngay từ những năm đầu đi vào hoạt động: Công ty đã sản xuất được một số kháng thể như kháng thể Newcastle, E.coli, Gumboro và được cục Thú y cấp giấy phép cho lưu hành toàn quốc. Kháng thể này cho hiệu quả cao khi trị bệnh sưng phù đầu đặc biệt là phòng trị bệnh phân trắng lợn con, tỷ lệ khỏi bệnh đạt rất cao 90% – 95%. Ngoài ra, Công ty RTD đã sản xuất ra một bộ gồm hàng trục sản phẩm có chất lượng tốt, có một số sản phẩm được bà con tin dùng:

    RTD – Tylogendex         : Đặc trị viêm đường hô hấp.

     

    RTD – E 300                        : Đặc trị ho, hen suyễn.

     

    RTD – Doxyvet                  : Đặc trị tiêu chảy.

     

    RTD – Depen strep L.A: Đặc trị utụ huyết trùng, viêm phổi.

     

    36

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • Cuối năm 2003, đầu năm 2004 dịch cúm gia cầm xuất hiện, lây lan ra 11 nước và lãnh thổ Châu á, trong đó có Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, các bộ, ngành địa phương và lực lượng Thú y dịch cúm gia cầm ở nước ta đã được kiểm soát nhanh chóng. Về phía công ty, công ty đã đẩy mạnh được lượng tiêu thụ góp phần tăng doanh thu đồng thời hạn chế khả năng lan truyền của dịch bệnh. Vào những ngày cuối tháng 4 năm 2004 dịch cúm gia cầm bùng phát trở lại ở một số vùng, công ty đã rất cố gắng trong việc sản xuất thuốc để hạn chế dịch bệnh lây lan. Vì vậy trong năm này công ty cũng đã sản xuất được một số chế phẩm vi sinh như: men USB, USA. Đặc biệt công ty sản xuất một bộ gồm 18 sản phẩm cho nhiều loại gia súc, gia cầm như cho bò sữa, cho lợn tập ăn, cho gà, vịt, ngan ở các lứa tuổi. Có thể kể ra một số sản phẩm đáng lưu tâm như: Ho, B52, RTD – F111…

    Trước nhu cầu đòi hỏi cấp bách trong xúc tiến thương mại và thực hiện hiệp định SPS của WTO, ngành Thú y chúng ta đã và đang gồng mình lên thực hiện một số chương trình thú y tầm cỡ quốc tế. Biết bao sự kiện tạo nên dấu ấn cho năm 2004 này. Năm 2004 là năm kỷ niệm thành lập 80 năm ngày thành lập Tổ chức Thú y thế giới(OIE). Tổ chức này kêu gọi các nước thành viên trong đó có Việt Nam, phối hợp phòng chống dịch bệnh động vật đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho đất nước mình và cho toàn cầu.

     

    Để từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực, nền kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và đưa ra nhiều quyết sách như: Nghị quyết TW2 khoá VIII về khoa học và công nghệ, nghị quyết TW6 lần 1 về phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá, nghị quyết 15 khoá IX về đẩy nhanh, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, nhằm tạo ra những nguồn thực phẩm có chất lượng, an toàn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đây là những động lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của các doanh nghiệp nói chung và công ty RTD nói riêng.

    Trong thời gian tới công ty RTD tăng cường nghiên cứu và sản xuất thuốc theo hướng dùng các chủng vi sinh hữu ích, đây là các chế phẩm probiotic – gọi là chế phẩm trợ sinh học. Hướng này hiện nay trên thế giới đang phát triển mạnh. Để

     

    37

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    các hướng nghiên cứu và sản xuất nêu trên phát triển tốt và có hiệu quả, công ty đang hoàn thiện hệ thống sản xuất theo tiêu chuẩn GMP – ASEAN do dây truyền sản xuất thuốc tiêm và dung dịch do Tập đoàn TUV Cộng hoà liên bang Đức công nhận.

     

    2.1.2. Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty

     

    2.1.2.1. Tổ chức nhân sự

     

    Lao động là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, nó tác động đến quá trình sản xuất trên hai mặt số lượng lao động và chất lượng lao động. Công ty RTD có một lực lượng đông đảo là 300 lao động có tay nghề, có trình độ cao và công ty luôn quan tâm đến việc đào tạo cho số lao động mới vào nghề, tiến hành bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn thi nâng bậc cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, tuyển dụng lao động mới có trình độ. Điều này được thể hiện qua bảng: Phân tích

     

    2.1.2.2. Tổ chức sản xuất kinh doanh

     

    Hiện nay công ty có các địa điểm hoạt động:

     

    Cửa hàng tại Trường Chinh – Hà Nội: Đảm nhiệm việc giới thiệu và tiêu thụ hàng ở khu vực Hà Nội và những khách hàng ở các vùng lân cận.

    Chi nhánh miền Nam : Đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng hoá tại khu vực miền Nam tính từ Đà Nẵng trở vào đến mũi Cà Mau.

    Hệ thống phân phối của công ty tại chi nhánh Hà Tây: Đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng hoá tại các tỉnh ở miền Bắc và miền Trung đến Đà Nẵng.

    Hệ thống phân phối của công ty tại chi nhánh Hưng Yên: Đầu năm 2005 bắt đầu đi vào hoạt động và tiến hành hạch toán độc lập.

    Quá trình sản xuất từng nhóm sản phẩm của công ty được thực hiện theo dây truyền tại các phân xưởng riêng biệt, công ty có các phân xưởng sau:

    Phân xưởng sản xuất thức ăn chăn nuôi.

     

    Phân xưởng sản xuất thuốc bột.

     

    Phân xưởng sản xuất thuốc nước.

     

    38

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    2.1.2.3.Tổ chức bộ máy quản lý.

     

    Tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh.

     

    Quản lý là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Để quản lý có hiệu quả thì đòi hỏi phải tổ chức bộ máy quản lý phù hợp cùng đội ngũ quản lý có trình độ, có năng lực.

     

    Xuất phát từ thực tế, đặc thù sản xuất của ngành, quy mô, loại hình doanh nghiệp và do nhận thức đúng về tầm quan trọng trong công tác tổ chức quản lý. Công ty đã từng bước củng cố tổ chức, cơ cấu phòng ban, tuyển chọn nhân viên, cán bộ mới có năng lực đồng thời đào tạo và nâng cao nghiệp vụ cho công nhân, cán bộ cũ của công ty cho phù hợp với công việc và phục vụ cho kế hoạch xây dựng công ty lâu dài.

    Để thực hiện các nhiệm vụ của mình có hiệu quả cao nhất trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh đồng thời tạo ra một cơ cấu năng động sẵn sàng thích ứng trước biến động của thị trường. Công ty đã tổ chức cho mình một bộ máy kinh doanh tinh giản, gọn nhẹ và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, công ty áp dụng mô hình trực tuyến – chức năng trong hệ thống quản lý kết hợp với hoạt động theo nhóm, lấy thị trường làm trung tâm và mục đích của các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, các hoạt động của công ty là để đáp ứng tốt cho các yêu cầu của thị trường:

    * Đại Hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ

     

    phần.

     

    • Tổng Giám Đốc: Lãnh đạo, quản lý và điều hành chung mọi hoạt động của công ty.
    • Các Phó Tổng Giám Đốc: Giúp việc cho Tổng Giám Đốc trong công tác lãnh đạo, quản lý và điều hành theo lĩnh vực công tác được uỷ quyền.
    • Trưởng Phòng thuộc cơ cấu giúp việc cho Ban Giám Đốc: Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc(hoặc Ban Giám Đốc) về mọi nhiệm vụ được giao.

    39

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các thành viên trong Ban Giám Đốc, các phòng, đơn vị có trách nhiệm liên hệ công tác đúng hệ thống, đúng quy trình, thủ tục. Những trường hợp liên hệ công tác sai quy trình, thủ tục và chức năng nhiệm vụ không được giải quyết và bị xử lý theo quy định chung của công ty. Trường hợp đặc biệt do Tổng Giám Đốc công ty yêu cầu trực tiếp bằng văn bản hoặc nói trực tiếp thì không nhất thiết phải thông tin cho cán bộ quản lý trực tiếp biết.
    • Các Phòng Nghiệp Vụ: Là đầu mối tổng hợp thông tin theo mảng nghiệp vụ phụ trách, đảm bảo hệ thông tin quản lý trong toàn công ty, chịu trách nhiệm hướng dẫn, tư vấn và hỗ trợ các đơn vị, bộ phận khác về những mảng nghiệp vụ liên quan.

    Bộ máy quản lý của công ty được phân cấp khá hoàn chỉnh bao gồm Ban Giám Đốc và các phòng ban chức năng, thực hiện các chức năng quản lý nhất định:

     

    • Đại Hội Đồng Cổ Đông: Bao gồm toàn bộ các cổ đông cùng bầu ra hội đồng quản trị và ban kiểm soát để quản lý, giám sát hoạt động của công ty.
    • Hội đồng quản trị: Là cơ quan quyền lực cao nhất được các cổ đông bầu ra thông qua Đại hội đồng cổ đông, có trách nhiệm tập thể trong việc quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong phạm vi pháp luật và điều lệ của công ty quy định.
    • Ban kiểm soát: Do các cổ đông bầu ra thông qua Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về kiểm tra, có chức năng giám sát hoạt động của Giám đốc, bộ máy tiến hành hoạt động của công ty và chấp hành điều lệ cũng như nghị quyết, quyết điịnh của Đại hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông trong quá trình sản xuất kinh doanh.
    • Tổng giám đốc: Điều hành trực tiếp hoạt động kinh doanh của công ty dựa vào ý kiến chỉ đạo của Hội đồng quản trị, lãnh đạo và quản lý toàn diện các

    40

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    mặt công tác, các hoạt động đối nội, đối ngoại của công ty. Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

     

    • Đại diện lãnh đạo về chất lượng: Là đại diện một trong các lãnh đạo giúp Tổng giám đốc chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm của công ty, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về công việc được giao.
    • Các phó Tổng giám đốc: Giúp việc cho Tổng giám đốc trong chỉ đạo từng lĩnh vực công tác của công ty theo sự phân công, uỷ quyền của Tổng giám đốc. Giải quyết các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực phụ trách, báo cáo công tác thường kỳ lên Tổng giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.
    • Phòng hành chính – nhân sự: Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác đối nội, đối ngoại, quản trị hành chính nhân sự và quản lý đất đai, nhà xưởng… Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.
    • Phòng tài chính – kế toán: Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác quản lý tài chính kế toán, xây dựng chiến lược hoạt động kinh doanh, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của công ty. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về nhiệm vụ được giao và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của công ty theo quy định của Hội đồng quản trị.
    • Phòng kế hoạch – vật tư: Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác khai thác nguồn vật tư, cung ứng và quản lý vật tư, nguyên vật liệu đáp ứng cho các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh…
    • Phòng công nghệ: Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác quản lý công nghệ sản xuất và quản lý kỹ thuật, kiểm soát, đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cấp hoàn thiện sản phẩm cũ và nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới.
    • Phòng đảm bảo chất lượng: Tham mưu, giúp việc cho Ban giám đốảntong công tác xây dựng hệ thống chất lượng thông công ty, kiểm tra việc triển khai hệ

    41

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thống chất lượng trong công ty… Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Phó tổng giam đôc sản xuất và Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.

    • Phòng kiểm tra chất lượng: Tham mưu giúp việc cho Ban giám đốc tong công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm từ khâu đàu vào cho đến khi thử nghiêm sản phẩm Triển khai sản xuất sản phẩm. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Phó tổng giam đôc sản xuất và Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.
    • Xưởng sản xuất: Triển khai sản xuất sản phẩm theo kế hoạch nhận được từ phòng kế hoạch – vật tư theo các quy định của hệ thống quản lý chất lượng với tiêu chuẩn chất lượng và giá thành phù hợp. Quản đốc chịu trách nhiêm trực tiểp trước Phó tổng giám đốc sản xuất và Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.
    • Phòng kinh doanh: Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong công tác quản lý và chỉ đạo hoạt động kinh doanh – tiếp thị công ty, tổ chức hệ thống ma keting, hệ thống bán hàng và hệ thống bán lẻ, các chế độ cho khách hàng, quản lý tín dụng khách hàng. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về mọi nhiệm vụ được giao.

    Tổ chức bộ máy quản lý tài chính – kế toán.

     

    ở các doanh nghiệp nói chung và ở Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn nói riêng, phòng tài chính – kế toán giữ một vai trò hết sức quan trọng. Phòng tài chính – kế toán của công ty thực hiện chức năng là:

     

    • Tổ chức bộ máy kế toán trong toàn công ty.
    • Tổ chức thực hiện công tác kế toán, tập hợp, xử lý và cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin tài chính – kế toán cho giám đốc.
    • Tham mưu cho giám đốc về quản lý tài chính, quản lý kinh tế trên các lĩnh vực.
    • Hướng dẫn và phổ biến về nghiệp vụ cho các đơn vị thành viên về lĩnh vực tài chính – kế toán.
    • Xây dựng các quy chế về quản lý tài chính và kinh tế trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    42

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • Tổng hợp, phân tích đánh giá kết quả hoạt động kinh tế trên cơ sở báo cáo tài chính, tham mưu cho lãnh đạo những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của công ty.
    • Huy động vốn và các nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Đề xuất các phương án đầu tư trong và ngoài nước.

    Để thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo và chỉ đạo tập trung thống nhất công ty đã lập ra một bộ máy quản lý tài chính – kế toán gồm 10 người trong đó có 1 kế toán trưởng, 1 thủ quỹ, 2 kế toán tổng hợp và 5 kế toán viên khác:

    Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng tài chính – kế toán: Điều hành mọi công việc trong phòng và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về toàn bộ công tác tài chính của công ty.

     

    Kế toán trưởng chi nhánh.

     

    Kế toán bán hàng, công nợ phải thu.

     

    Kế toán vốn bằng tiền, công nợ phải trả. Kế toán thuế.

    Kế toán tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm. Kế toán kho vật liệu, thành phẩm.

    Kế toán tổng hợp. Thủ quỹ.

     

    Ngoài ra, trong quá trình hoạt động phòng kế toán tài chính của công ty đã xây dựng mục tiêu chất lượng cho phòng mình là:

    Toàn bộ nhân viên phòng kế toán tài chính không ngừng rèn luyện nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và tu dưỡng đạo đức, tác phong nhằm xây dựng điển hình của “văn hoá doanh nghiệp RTD”.

     

    Hợp tác chặt chẽ với các Phòng, Ban, Bộ phận khác trong công ty triển khai thực hiện: Phấn đấu đạt chứng nhận GMP – ASEAN cho Nhà máy sản xuất Thuốc Thú y vào năm 2005.

     

    43

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Đáp ứng yêu cầu phục vụ của khách hàng và nội bộ với phương châm:

     

    “nhanh, gon, rõ ràng, chính xác”.

     

    Hoàn thiện việc áp dụng phần mềm kế toán trong công tác hạch toán kế toán…

     

    Trong những năm gần đây, nhằm hiện đại hoá công tác quản lý tài chính, nâng cao hiệu quả công việc, công ty đã áp dụng chương trình kế toán máy để đảm bảo việc kiểm tra, đối chiếu cũng như in ấn báo cáo một cách nhanh chóng, góp phần tiết kiệm chi phí thời gian cũng như nâng cao hiệu quả làm việc độc lập của kế toán viên.

     

    2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty.

     

    2.1.3.1. Đặc điểm và quy trình sản xuất sản phẩm.

     

    Đặc điểm sản phẩm.

     

    Đặc điểm của thuốc thú y.

     

    Thuốc thú y có tác dụng bảo vệ sức khoẻ cho đàn gia súc, gia cầm, động vật nuôi; làm thuốc chữa bệnh cho tất cả các vật nuôi khác nhằm mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế cao và cho những sản phẩm sạch làm thực phẩm cho con người và các nguyên liệu phụ phẩm sử dụng vào các mục đích khác nhau. Thuốc thú y còn có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây từ gia súc, gia cầm sang con người nhằm bảo vệ con người tránh khỏi sự lây nhiễm. Chăn nuôi muốn trở thành ngành sản xuất chính thì vai thò thuốc thú y lại vô cùng quan trọng.

     

    Thuốc thú y là sản phẩm đòi hỏi đặc tính kỹ thuật cao, quy trình bảo quản nghiêm ngặt. Mỗi sản phẩm sản xuất ra phải đúng quy trình kỹ thuật bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng, sức khoẻ vật nuôi và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Do đó thuốc thú y có một số đặc điểm sau:

    • Thuốc thú y là loại sản phẩm mà người tiêu dùng mua về để phòng và chữa bệnh cho gia súc, gia cầm; giúp cho vật nuôi tăng trưởng và phát triển nhanh nên nhu cầu thuốc thú y phụ thuộc vào quy mô đàn gia súc và tình trạng sức khoẻ của chúng tức là quy mô đàn gia súc lớn và tình trạng sức khoẻ đàn gia súc kém

    44

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thì cần phải sử dụng nhiều thuốc thú y và ngược lại quy mô đàn vật nuôi nhỏ hay tình trạng sức khoẻ của đàn vật nuôi tốt thì lượng sử dụng thuốc thú y giảm.

    • Nếu thuốc thú y mà quá hạn định sử dụng hoặc là bảo quản thuốc không theo chế độ thì việc sử dụng thuốc thú y sẽ không có khả năng phòng và trừ các loại dịch bệnh cho gia súc. Vì vậy trong quá trình đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cần phải lưu ý đặc điểm này để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc.
    • Một số sản phẩm thuốc thú y mang tính thời vụ do xuất hiện một số bệnh thường gặp ở vật nuôi như bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò thường xảy ra thành dịch
    • các tỉnh miền Nam vào mùa mưa hàng năm và ở miền Trung bệnh thường xảy ra sau các trận lũ lụt, còn ở các tỉnh miền Bắc thường xảy ra trước mùa đông. Để hạn chế bệnh này cần có vắc xin tiêm phòng hoặc gần đến tết Nguyên Đán để đảm bảo thực phẩm cho ngày tết người ta thường sử dụng thuốc thú y nhiều hơn thuốc bổ.
      • Thuốc thú y có ảnh hưởng gián tiếp đến con người nên phải được sản xuất trong điều kiện cho phép và tuyệt đối đảm bảo về chất lượng.

    Đặc điểm của thức ăn chăn nuôi.

     

    2.1.3.2. Thị trường tiêu thụ và kênh tiêu thụ sản phẩm.

     

    Thị trường tiêu thụ sản phẩm.

     

    ở các vùng khác nhau nhu cầu về sản phẩm của công ty cũng khác nhau: ở vùng đồng bằng đất đai màu mỡ, trồng trọt phát triển đi đôi với chăn nuôi phát triển nên ở những vùng này cần nhiều đến thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi. Còn ở vùng đồi núi cao trình độ dân trí thấp, chăn nuôi chủ yếu theo tập quán thủ công, không theo kỹ thuật nên nhu cầu về thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y rất ít.

     

    Mỗi khu vực thị trường chứa đựng trong lòng nó các yếu tố khác nhau. Thị trường thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y của công ty RTD được chia thành 3 vùng chính: Miền Bắc, miền Trung và miền Nam nhưng chủ yếu được tiêu thụ ở miền Bắc:

    • Cửa hàng tại Trường Chinh – Hà Nội: Đảm nhiệm việc giới thiệu và tiêu thụ hàng ở khu vực Hà Nội và những khách hàng ở các vùng lân cận.

    45

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • Hệ thống phân phối của công ty tại chi nhánh Hà Tây: Đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng hoá tại các tỉnh ở miền Bắc và miền Trung đến Đà Nẵng.
    • Chi nhánh miền Nam : Đảm nhiệm việc tiêu thụ hàng hoá tại khu vực miền Nam tính từ Đà Nẵng trở vào đến mũi Cà Mau.

    Nhìn chung, thị trường tại miền Bắc của công ty vẫn chiếm thị trường lớn nhất. Công ty đã có cố gắng đưa hàng hoá vào thị trường miền Nam và miền Trung, trong tương lai thị trường miền Nam cũng hứa hẹn nhiều tiềm năng lớn.

     

    Kênh tiêu thụ sản phẩm.

     

    Bất cứ doanh nghiệp nào muốn bán được nhiều sản phẩm, liên tục có lãi, kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh đều tăng qua các năm thì bắt buộc phải có một hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm phù hợp. Đây là khâu rất quan trọng quyết định sự sống còn của một doanh nghiệp.

    Sơ đồ:

     

                               

    1

    2

         

    Người bán lẻ

               
                     
                           
         

    4

                       

    Công ty

                 

    Người

    Đại lý

       

    Bán

     

    Bán lẻ

                     

    tiêu

                           
         

    3

                 

    dùng

           

    Chi

       

    Bán

     

    Bán lẻ

           
                               

    Sơ đồ 3: Tiêu thụ sản phẩm qua các kênh của công ty RTD

     

    Hiện nay công ty sử dụng các kênh phân phối theo sơ đồ 3 đối với tất cả các loại sản phẩm của công ty. Kênh tiêu thụ trực tiếp là kênh (1), kênh tiêu thụ gián tiếp gồm kênh (2), kênh (3) và kênh (4):

     

    • Kênh trực tiếp: Kênh (1) các sản phẩm sản xuất do công ty sản xuất ra được phân phối trực tiếp từ công ty tới người tiêu dùng thông qua các cửa hàng bán lẻ của công ty. Công ty đã mở các cửa hàng này để bán và giới thiệu sản phẩm của công ty tại nơi sản xuất, đó là cửa hàng Trường Chinh – Hà Nội. Hàng bán ra

    46

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • kênh này không có sự trung gian của các đại lý, người bán buôn, người bán lẻ. Lượng hàng bán ra ở kênh này không nhiều, khả năng thu hút khách hàng khó hơn, người tiêu dùng ít có ấn tượng mạnh. Do kênh này không có mặt đại lý nên điều kiện mở rộng thị trường bị hạn chế. Hàng bán ở kênh này không có chi phí trung gian, sản phẩm luôn được bảo quản chặt chẽ, không hỏng, đúng kỹ thuật, người tiêu dùng yên tâm hơn về chất lượng sản phẩm. Tiền hàng thu về 100%, khách hàng không nợ nần, tránh được rủi ro.
    • Kênh tiêu thụ gián tiếp:
    • Kênh (2): Sản phẩm do công ty sản xuất ra dược đưa tới người bán lẻ, người bán lẻ sẽ bán các sản phẩm này cho người tiêu dùng. Hàng bán ra ở kênh này không có sư tham gia của các trung gian (các đại lý, người bán buôn). Công ty bán sản phẩm cho nhiều người bán lẻ một lượng hàng nhỏ nên chi phí cao bao gồm: chi phí chào hàng, đưa hàng, hóa đơn thanh toán, hàng đóng thành kiện nhỏ…Do đó giá bán cho người bán lẻ cao. Ngược lại, người bán lẻ cũng mua hàng của nhiều nhà sản xuất, để có nhiều chủng loại hàng thì phải thường xuyên liên hệ với nhiều nhà sản xuất khác với tất cả các chi phí liên quan nên chi phí của người bán lẻ cũng cao, doanh số tiêu thụ sản phẩm ở kênh này cũng không nhiều lắm. Bán hàng ở kênh này có ưu điêm là: Do người bán lẻ tiêp xúc trực tiếp với người tiêu dùng nên họ có nhiều thông tin về thị trườn(như đòi hỏi của khách, nhu cầu thị hiếu, mức tiêu thụ …) để cung cấp thẳng cho người sản xuất, bắt buộc người bán lẻ phải theo dõi sát thị trường. Mặt khác vì tiếp xúc trực tiếp với các nhà sản xuất nên người bán lẻ cũng đem lại cho khách hàng những thông tin chính xác về sản phẩm, những khuynh hướng tiên tiến của sản phẩm như nâng cấp sản phẩm, mẫu mã, thay thế sản phẩm. ở mỗi cửa hàng bán lẻ, khách hàng không tìm được một số lượng lớn của mỗi loại sản phẩm nhưng có thể xem xét và lựa chọn giữa nhiều nhãn hiệu, chất lượng, mức giá khác nhau. Bán hàng ở kênh này không lớn nhưng góp phần tăng doanh số bán ra cho công ty, giúp công ty nắm bắt thông tin marketing trực tiếp, nhanh, chính xác.

    47

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    • Kênh (3): Sản phẩm do công ty sản xuất ra được tiêu thụ ở chi nhánh(chi nhánh miền Nam). Công ty coi chi nhánh như là đại lý đặc biệt.

    Giá bán của công ty cho các chi nhánh = Giá vốn + 10% giá vốn = Giá mua của chi nhánh.

    Công ty chịu toàn bộ chi phí vận chuyển, chi nhánh bán hàng theo chỉ đạo giá của công ty. Hàng hoá là do chi nhánh bán lại cho người bán lẻ cuối cùng đến người tiêu dùng. Tổng giá tại đây sẽ bao gồm các chi phí của 4 giai đoạn(sản xuất, chi nhánh, bán buôn, bán lẻ). Người tiêu dùng sẽ phải trả trong giá mua lợi nhuận của cả 4 giai đoạn. Lượng sản phẩm được tiêu thụ qua kênh này không nhiều mặc dù ở các khu vực này chăn nuôi rất phát triển, lượng sản phẩm tiêu thụ chiếm khoảng 11,09% tổng doanh số bán ra. Bán hàng ở kênh này khó lòng cạnh tranh được khách hàng, thông tin thực về thị trường có nhiều hạn chế. Giá bán của các sản phẩm cao(do chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, bắt buộc nó phải hoạt động, tồn tại, phát triển và có lợi nhuận). Chế độ đãi ngộ khách hàng ở đây chưa hợp lý nhưng ban lãnh đạo công ty vẫn duy trì kênh tiêu thụ này. Trong hai năm đầu khi mới thành lập chi nhánh sản lượng bán ra chỉ chiếm rất nhỏ so với tổng số bán ra của công ty, nhưng đến năm 2003 do sự nỗ lực của ban lãnh đạo công ty và chi nhánh trong việc quyết tâm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nên doanh số bán ra tăng khá nhanh, chiếm một phần không nhỏ trong tổng doanh số bán của công ty.

    • Kênh (4): Là kênh tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của công ty, các đại lý ở các tỉnh ký hợp đồng trực tiếp với công ty về số lượng, chủng loại thuốc. Sau đó các đại lý bán cho người bán buôn. Sản phẩm này từ nhà bán buôn phân tán đến những người bán lẻ, từ những người bán lẻ phân tán đến người tiêu dùng.

    Công ty sẵn sàng dành những điều kiện thuận lợi cho khách mua nhiều, một khách hàng lớn làm phát sinh ít chi phí hơn là nhiều khách hàng nhỏ. Đồng thời những người bán lẻ cũng đỡ chi phí hơn vì họ sẽ tìm thấy ở một cửa hàng đại lý bán buôn tát cả các sản phẩm họ cần mà không cần phải giao dịch với nhiều nhà sản xuất. Tổng giá thành ở đây bao gồm các chi phí của 4 giai đoạn(sản xuất, đại

     

    48

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    lý, bán buôn, bán lẻ). Khách hàng phải trả trong giá mua lợi nhuận của cả 4 giai đoạn. Các đại lý, nhà bán buôn, nhà bán lẻ là các khâu trung gian cung cấp những dịch vụ hữu ích, giúp cho các nhà sản xuất tiêu thụ được nhiều sản phẩm và giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu. Những lợi ích này phải được cân nhắc với mức giá phải trả. Các nhà phân phối hay bị coi là các khâu “ ăn bám” đè nặng lên giá thành và giá bán “mua đi bán lại” một cách vô ích, cuối cùng là những trở ngại cho việc tiêu thụ hàng hoá vì đã làm tăng mức giá lên. Bán hàng theo kênh này không tránh khỏi những rủi ro lớn xảy ra vì khách hang luôn nợ tiền hàng từ 50%- 70% thậm chí có đại lý nợ đến 100%.

     

    Tóm lại, qua những ưu nhược điểm từng kênh tiêu thụ của công ty, kết hợp những hạn chế của sản phẩm như nhiều sản phẩm thời gian sử dụng ngắn mà kênh tiêu thụ dài nên việc bảo quản khó khăn hơn, sản phẩm dễ bị hết hạn sử dụng. Do vậy công ty phải chủ động trong việc sản xuất và bố trí sản phẩm tiêu thụ theo từng kênh cho phù hợp. Các kênh tiêu thụ đã làm tăng doanh số tiêu thụ của công ty nhất là kênh (4), số lượng sản phẩm đưa ra thị trường nhiều, tiền hàng thu gom gọn, các khoản chi phí lưu kho giảm, chu kỳ sản xuất sớm hình thành và vòng quay vốn thực hiện nhanh. Chỉ có kênh (4) mới thỏa mãn nhu cầu thị trường lớn. Hệ thống kênh phân phối của công ty chủ yếu thực hiện qua nhiều thành viên, khi mà trên các kênh có nhiều nhà sản xuất với quy mô nhỏ, khả năng kiểm soát của công ty mờ nhạt đôi khi còn bị động và chịu sự chi phối của các nhà phân phối. Thông qua các kênh phân phối công ty đã thiết lập một hệ thống thông tin chính xác và kịp thời. Qua đó nắm bắt được nhu cầu thị trường và dự đoán được các tình huống biến động xảy ra . Sự đa dạng hoá kênh tiêu thụ đã làm cho lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty tăng lên đáng kể.

     

    2.1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật.

     

    Trong những năm qua, công ty không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, đầu tư cho máy móc thiết bị. Hiện nay, các dây chuyền thiết bị công nghệ đều rất hiện đại, được nhập từ các nước tiên tiến như Đức, Trung Quốc. Các dây truyền

     

    49

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    đồng bộ, đảm bảo chất lượng cao. Bên cạnh đó, công ty còn tiến hành xây dựng các phòng thí nghiệm cơ lý hoá, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học…

    Nhìn chung, các điều kiện hoạt động kinh doanh của công ty là khá tốt, khả năng tiêu thụ được mở rộng, công suất máy móc được khai thác tối đa, hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng cao.

     

    2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh

    Công ty cổ phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong nền kinh tế thị trường nhưng công ty đã không ngừng cố gắng vươn lên để khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Để biết rõ hơn về vấn đề nay ta đi tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty.

     

    2.1.4.1. Những thuận lợi

     

    Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, nâng cao quyền và khả năng tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính cho các doanh nghiệp nói chung và công ty RTD nói riêng đã đem lại luồng sinh khí mới cho công ty, công ty được quyền lựa chon phương án kinh doanh, được giữ lại toàn bộ quỹ khấu hao để mở rộng sản xuất. Đây là một trong những thuận lợi khách quan cơ bản nhất giúp cho công ty có thể phát huy hơn nữa lợi thế riêng của mình.

     

    Trong những năm qua, quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng mở rộng, xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá diễn ra ngày càng sâu sắc. Vì vậy, Việt Nam có điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới, tham gia ký kết nhiều hiệp ước thương mại song phương và đa phương, tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế. Do đó, các công ty của Việt Nam cũng có những thuận lợi nhất định trong việc mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác nước ngoài.

    Ngoài ra, công ty còn có những điều kiện thuận do bản thân công ty có đó

     

    là:

     

    50

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Từ khi thành lập công ty không ngừng mở rộng thị trường ra nhiều địa phương trong cả nước, các sản phẩm của công ty có rất nhiều thuận lợi để mở rộng thị trường tiêu thụ của mình. Hiện nay, thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty là ở miền Bắc. Do vậy trong tương lai công ty có nhiều tiềm năng để mở rộng thị trường ra toàn quốc nếu có một chiến lược chiếm lĩnh thích hợp.

     

    Công ty có tập thể ban lãnh đạo và toàn thể công nhân viên chức đoàn kết nhất trí cao, có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao, năng động, sáng tạo, giàu kinh nghiệm trong quản lý sản xuất kinh doanh, tâm huyết xây dựng công ty vững mạnh và phát triển toàn diện. Đây chính là cơ sở để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của công ty, đáp ứng kịp thời trước sự thay đổi của thị trường.

     

    Quan hệ hợp tác với các đối tác trong ngoài nước một cách chân tình trên phương diện hai bên cùng có lợi, công ty đã tạo được uy tín với khách hàng nhờ chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cho nên việc cung cấp nguyên vật liệu kịp thời, đảm bảo về số lượng chất lượng, ổn định về giá cả và tình hình tiêu thụ sản phẩm cũng ổn định.

     

    Với việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công ty không ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm. Do vậy, công ty đã tiết kiệm được chi phí đàu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng cường hợp tác với nhiều khách hàng và mở rộng thị phần từ đó tăng doanh thu và nâng cao lợi nhuận.

     

    Trên đây là những thuận lợi trong kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, bên cạnh đó công ty gặp không it những khó khăn ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh.

     

    2.1.4.2. Những khó khăn

     

    Một trong những hệ quả cuă chính sách mở cửa nền kinh tế là việc hàng hoá được tự do lưu thôngkhiến cho hàng ngoại tràn vào nước ta theo nhiều con đường. Đây là một thách thức không dễ vượt qua đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, không chỉ riêng công ty RTD.

     

    51

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường: Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều phải cố gắng vươn lên để khẳng định vị trí của mình. Vì vậy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt.

     

    Công ty chưa thực sự chủ động về nguồn hàng, đa số nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài nên công tác vận chuyển và bảo quản gặp nhiều khó khăn, thủ tục hành chính rườm rà, đôi khi việc cung cấp nguyên vật liệu vẫn chưa đáp ứng kịp thời gây khó khăn cho hoạt động sản xuất. Mặt khác, do trực tiếp ký hợp đồng với bên xuất khẩu nên với những mặt hàng mà công ty đã chọn mua không được trả lại, trừ trường hợp hàng không đúng theo các điều khoản ghi trong hợp đồng. Điều này làm công ty gặp khó khăn trong quản lý hàng tồn kho.

     

    Mặc dù trình độ lao động của công ty nói chung là tương đối cao nhưng việc bố trí lao động hiện tại vẫn chưa hợp lý. Công ty chưa xây dựng được một chính sách sử dụng lao động hợp lý, chưa có các biện pháp khuyến khích, động viên người lao động nhiệt tình tham gia công việc, lao động sáng tạo. Hơn nữa, công tác tổ chức lao động, tổ chức kinh doanh của công ty còn nhiều bất cập vì vậy công tác quản lý còn nhiều thiếu sót và hiệu quả lao động trong công ty thực sự chưa cao.

     

    Quy mô vốn của công ty như hiện nay nhìn chung là còn nhỏ so vớic các công ty cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì vậy đây cũng là một trong những khó khăn không nhỏ trong quá trình cạnh tranh, bỏ lỡ các hợp đồng. Về lâu dài là không tốt và sẽ ảnh hương tới tình hình tài chính của công ty.

    Những thuận lợi và khó khăn trên đã ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Từ đó cần phải nhận thức và hạn chế những khó khăn, phát huy những thuận lợi vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

     

    2.2. Khái quát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty

    2.2.1. Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty

     

     

    52

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Trong kinh doanh, vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp sử dụng vào sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định. Khi đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, không thể không xem xét về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần có vốn. Vốn được coi là tiềm lực trong kinh doanh góp phần đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vấn dề đặt ra là phải quản lý và sử dụng vốn như thế nào để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Để có thể đánh giá khái quát thực trạng về tình hình tài chính của doanh nghiệp, ta đi xem xét tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty.

     

    2.2.1.1. Tình hình sử dụng tài sản của công ty

     

    Qua số liệu bảng 1 ta thấy tổng tài sản của công ty năm 2004 tăng so với năm 2003 là 3.705.773.760(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 14,41%. Từ đó có thể khẳng định công ty đã có sự gia tăng quy mô tài sản, tuy nhiên để có kết luận về việc phân bổ vốn có hợp lý hay không phải đi sâu phân tích từng khoản mục.

    Sở dĩ có sự gia tăng trên là do phần tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn(TSLĐ và ĐTNH), tài sản cố định của công ty năm 2004 đều tăng so với năm 2003. Cụ thể như sau:

     

    TSLĐ và ĐTNH chiếm tỷ trọng lớn, năm 2003 tỷ trọng của nó chiếm 64,75% so với tổng tài sản, năm 2004 tỷ trọng của nó là 68,76%, tăng 4,01%. TSLĐ và ĐTNH năm 2004 tăng so với năm 2003 là 3.705.773(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 21,50%. Qua đó đánh giá được TSLĐ và ĐTNH đã có sự gia tăng đáng kể và kết quả đó cũng phản ánh việc phân bố vốn ở công ty là chưa phù hợp với doanh nghiệp chuyên sâu về sản xuất sản phẩm như công ty RTD. Nếu đi sâu xem xét từng loại tài sản có thể thấy được TSLĐ và ĐTNH tăng là do sự gia tăng chủ yếu của các khoản phải thu và TSLĐ khác.

    Về tài sản lưu động khác, đây là khoản mục có mức tăng lớn nhất, năm 2004 tăng so với năm 2003 là 1.082.057.292(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng là195,47%. Sở dĩ có sự tăng vậy là do các khoản tạm ứng chưa được thanh toán,

     

    53

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    chi phí chờ kết chuyển chưa dược kết chuyển. Vậy tài sản lưu động khác tăng là chưa hợp lý.

    Năm 2004 các khoản phải thu tăng so với năm 2003 là 1.679.724.124(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 47,33%. Khoản phải thu tăng khá lớn, điều này cũng dễ hiểu bởi năm 2004 doanh nghiệp tiến hành đẩy mạnh công tác tiêu thụ hàng hoá, tăng doanh thu. Tuy nhiên, các khoản phải thu tăng cao là biểu hiện vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng quá nhiều thể hiện công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

     

    Ngoài hai khoản mục trên thì vốn bằng tiền và hàng tồn kho cũng có tỷ lệ tăng đáng kể. Vốn bằng tiền của công ty năm 2004 tăng so với năm 2003 là

    38.730.171(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 2,74%. Tỷ lệ tăng này là thấp nhất so với các khoản mục của TSLĐ và ĐTNH. Việc gia tăng vốn bằng tiền chứng tỏ mức độ an toàn ngân quỹ của công ty tăng lên, đảm bảo khả năng toán của công ty. Tuy nhiên, vốn bằng tiền mà vượt quá nhu cầu gây tình trạng ứ đọng vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì việc gia tăng vốn bằng tiền là không hợp lý, chứng tỏ doanh nghiệp chưa thực sự phát huy hết hiệu quả của đồng vốn. Nhưng nếu số tiền hiện có phù hợp với nhu cầu về vốn thì vốn bằng tiền tăng là hợp lý.

    Với các số liệu như trên thì việc phân bổ vốn lưu động của công ty là chưa hợp lý vì một phần vốn của đơn vị là “vốn chết”, một phần không nhỏ bị chiếm dụng. Để đánh giá được chính xác và cụ thể hơn, cần đi sâu nghiên cứu chi tiết của hàng tồn kho.

    Năm 2004 hàng tồn kho tăng so với năm 2003 là 778.483.473(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 6,99%, đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các khoản mục khác của TSLĐ và ĐTNH nó chiếm 66,86% năm 2003, năm 2004 tỷ trọng giảm xuống còn 58,88%, giảm 7,98%. Nếu là do thành phẩm tồn kho quá lớn, như vậy ta có thể đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty đang gặp khó khăn, công tác quản lý chưa tốt, doanh nghiệp phải tìm thị trường mới cho công tác tiêu

     

    54

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thụ, điều chỉnh giá bán để tăng khối lượng hàng hoá bán ra. Tuy nhiên, hàng tồn kho tăng là

    do doanh nghiệp tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng, vì công ty có nhiều mặt hàng với quy trình sản xuất khác nhau nên sản xuất với lượng lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường, mặt khác do dịch cúm bùng phát trở lại… thì hàng tồn kho tăng là tốt, doanh nghiệp phải tìm thị trường mới cho công tác tiêu thụ, điều chỉnh giá bán hợp lý để tăng khối lượng hàng hoá bán ra.

     

    Đối với tài sản cố định và đầu tư dài hạn(TSCĐ và ĐTDH) năm 2004 tăng so với năm 2003 là 126.778.700(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 1,40% nhưng tỷ trọng TSCĐ và ĐTDH chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng tài sản. TSCĐ ít cho thấy doanh nghiệp không áp dụng được những công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh, điều này sẽ làm cho chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm tăng lên, công ty sẽ gặp khó khăn trong việc giảm chi phí hạ giá thành. Năm 2003 chỉ chiếm 35,25%, năm 2004 giảm xuống còn 31,24%, giảm 4,01% đây là một điều không phù hợp bởi công ty sản xuất kinh doanh là chủ yếu. Tuy vậy quy mô TSCĐ và ĐTDH của doanh nghiệp nghiệp có sự tăng đáng kể, sự tăng đó có được là do TSCĐ hữu hình tăng còn TSCĐ giảm nhưng mức tăng của TSCĐ hữu hình lớn hơn mức giảm của TSCĐ vô hình. Như vậy, doanh nghiệp đã có sự đầu tư thêm máy móc thiết bị để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, để sản xuất sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị trường thì tất nhiên sự tăng đó là tốt, nhưng công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh để sản xuất sản phẩm như trước thì không phù hợp vì sản phẩm đó không được thị trường chấp nhận. Đồng thời, công ty cũng tiến hành thanh lý một số tài sản cũ không còn sử dụng nữa hoặc không sử dụng tới. Hy vọng với việc tăng quy mô sản xuất kinh doanh như hiện nay, công ty sẽ không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận hoạt động kinh doanh.

     

    Chi phí xây dựng cơ bản có xu hướng tăng, năm 2004 chi phí xây dựng cơ bản tăng so với năm 2003 là 312.228.255(đồng) tương ứng tăng 894,57%, mức độ tăng rất lớn.Để có nhận xét chính xác thì cần tiến hành kiểm tra thời hạn, đối chiếu

     

    55

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    với dự toán để kiểm tra việc chấp hành dự toán ây dựng từ đó có các quyết định thích hợp, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành công trình cho đơn vị.

    Nhìn chung, tổng tài sản của công ty đã tăng lên trong đó chủ yếu là do sự tăng của TSCĐ và ĐTNH, TSCĐ và ĐTDH cũng có tăng nhưng không nhiều lắm. Trong TSLĐ và ĐTNH thì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn nhất ,các khoản phải thu và TSLĐ khác có mức tăng nhanh. Còn TSCĐ hữu hình cũng tăng đáng kể. Như vậy việc quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp có nhiều điểm tốt như doanh nghiệp đã quan tâm đến việc đổi mới máy móc thiết bị nhưng còn nhiều biểu hiện chưa tốt như các khoản phải thu tăng, vốn bị chiếm dụng, cơ cấu tài sản như thế là không phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty. Đây là điều đáng quan tâm khi thực hiện việc đánh giá tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.

     

    2.2.1.2. Tình hình sử dụng nguồn vốn của công ty

     

    Đối với mỗi doanh nghiệp, việc phân tích tình hình sử dụng nguồn vốn sẽ giúp cho các nhà đàu tư, các bạn hàng, các nhà cung cấp, các ngân hàng… có cái nhìn đúng đắn về cơ cấu nguồn vốn của công ty lẫn các dơn vị liên quan bởi nó giúp cho các đơn vị đó đưa ra quyết định đúng đắn về công ty. Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn như thế nào là hợp lý lại tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Sau đay sẽ xem xét cơ cấu nguồn vốn của công ty RTD.

    Về mặt nguồn vốn,tài sản được hình thành từ hai nguồn: Nợ phải trả chiếm 68,95% tương ứng với số tuyệt đối là 20.282.039.398(đồng), nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 31,05% tương ứng với số tuyệt đối là 9.132.430.750(đồng).

     

    Tổng nguồn vốn của công ty năm 2004 tăng so với năm 2003 là 3.705.773.760(đồng), tương ứng tỷ lệ tăng 14,14%. Điều này là do sự gia tăng của nợ phải trả lẫn nguồn vốn chủ sở hữu.

     

    *Đối với nợ phải trả, năm 2004 tăng so với năm 2003 là 2.542.038.888(đồng) tương ứng tỷ lệ tăng 14,33%. Tổng nguồn vốn tăng lên chủ yếu là do nợ phải trả tăng, đây là một tỷ lệ tăng khá cao. Như vậy, có thể nhận xét

     

    56

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    sự phụ thuộc của công ty vào vốn vay là lớn, do đó khả năng tự chủ về tài chính giảm.

    Trong cơ cấu nợ phải trả thì nợ ngắn hạn chiếm 78,98%, tỷ trọng này khá lớn và có xu hướng ngày càng tăng, năm 2004 tăng so với năm 2003 là 2.224.088.687(đồng) tương ứng tỷ lệ tăng 16,12%. Công ty tăng nguồn vay ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động tăng lên, điều này là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc sử dụng vốn, tuy nhiên công ty rất dễ dàng dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Nợ dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ là 14,49%, năm 2004 tăng so với năm 2003 là 317.950.210(đồng) tương ứng tỷ lệ tăng là 8,06%.

     

    Với cơ cấu vốn như hiện tại và nợ phải trả không ngừng tăng lên cho ta thấy tình hình diễn biến nguồn vốn của công ty đang xấu đi

     

    *Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, tính đến 31/12/2004 là 9.132.430.750(đồng) chiếm 31,05%, năm 2004 tăng so với năm 2003 là

     

    1.163.734.872(đồng) tương ứng tỷ lệ tăng là 14,60%. Trong đó, là do nguồn vốn quỹ có sự tăng thêm 1.163.734.872(đồng)với tỷ lệ tăng tương ứng 14,60%, chiếm 100% nguồn vốn chủ sở hữu, trong nguồn vốn quỹ thì nguồn vốn kinh doanh chiếm tới 99,58% và năm 2004 tăng so với năm 2003 là 1.153.515.790(đồng) tương ứng tỷ lệ tăng 14,53%.

     

    Như vậy, cơ cấu vốn nghiêng về nợ phải trả, chứng tỏ tình hình tài chính của công ty chưa thực sự vững chắc. Công ty phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn bên ngoài và khó có thể độc lập về tài chính, hệ số nợ cao(0,69 lần) thì mức độ rủi ro càng lớn. Đặc biệt trong cơ cấu nợ phải trả của công ty thì nợ phải trả chiếm tỷ trọng rất cao, vì vậy nguy cơ mất khả năng thanh toán của công ty cao. Tuy nhiên, nếu công ty làm ăn có hiệu quả thì rất có lợi. Do đó, trong thời gian tới công ty cần có biện pháp để trả dần các khoản nợ phải trả để giảm hệ số nợ, mặt khác cũng cần nâng cao hệ số vốn chủ sở hữu từ đó đảm bảo cân bằng giữa an toàn và rủi ro.

     

    Tóm lại, qua phân tích tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty có thể đưa ra đánh giá là quy mô vốn của công ty đã có sự tăng lên đáng kể, cơ cấu tài sản nghiêng về TSLĐ, còn cơ cấu nguồn vốn có hệ số nợ cao và có xu

     

    57

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    hướng tăng lên, điều này là không tốt đối với tình hình tài chính của công ty. Với cơ cấu vốn như trênchúng ta sẽ đi sâu phân tích tình hình kinh doanh cụ thể cũng như hiệu quả sử dụng vốn của công ty.

     

    2.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua hai năm 2003 – 2004

     

    Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự mở cửa của Nhà nước đã góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế mới. Nhưng trước sự biến động của nền kinh tế nước ta, từ khi ra đời và phát triển công ty RTD cũng gặp không ít trở ngại trong hoạt động kinh doanh của mình. Trong điều kiện như vậy công ty đang cố gắng vượt qua những trở, vươn lên khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Công ty đã xét cho mình một đường lối kinh doanh đúng đắn đó là đẩy nhanh doanh số hàng hoá tiêu thụ hàng năm, mở rộng thị trường, ưu tiên xuất khẩu, sản xuất các mặt hàng có tính chất truyền thống, đa dạng hoá các loại sản phẩm. Thông qua số liệu là bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ta có thể khái quat về tình hình hoạt động của công ty:

    Trong năm 2004, tình hình sản xuất của công ty có những kết quả đáng nghi nhận so với năm trước, doanh thu tăng thêm được 4.419.391.690 đồng tương ứng tỷ lệ tăng 9,65%. Điều đó chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có chiều hướng phát triển, tổng doanh thu của công ty tăng là do công ty đã mở rộng thị trường tiêu thụ tiến hành các hoạt động marketing cho sản phẩm của mình, tạo ra những mẫu mã đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Bên cạnh đó công ty chú trọng đến việc nâmg cao chất lượng sản phẩm và tạo được uy tín đối với khách hàng. Mặc dù năm 2004 dịch cúm gia cầm xuất hiện, việc tiêu thụ sản phẩm thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi của công ty không giảm mà còn tăng lên, doanh thu tiêu thụ tăng cùng với việc tăng quy mô vốn kinh doanh. Qua đó thấy được sự cố gắng chủ quan của doanh nghiệp.

     

    Giá vốn hàng bán của công ty tăng năm 2003 giá vốn hàng bán đạt 40.741.843.943 đồng năm 2004 giá vốn hàng bán đạt là 44.396.181.494 đồng. Như vậy năm 2004 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2003 là 3.654.337.551 đòng

     

    58

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    tương ứng với tỷ lệ tăng là 8,97 %. Giá vốn hàng bán tăng lên là điều dễ hiểu vì doanh thu của doanh nghiệp tăng. Tuy nhiên tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán làm cho lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty tăng lên.

     

    Cùng với sự gia tăng của doanh thu thuần, lợi nhuận gộp của công ty cũng đã tăng lên tỷ lệ tăng khá cao. So với năm 2003, lợi nhuận gộp năm 2004 tăng lên 765.054.139 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 15,1%. Điều này được coi là một tất yếu bởi mức tăng doanh thu là 9,65% nhưng mức tăng giá vốn hàng bán là 8,97%. Sự chênh lệch này đã làm cho lợi nhuận gộp năm 2004 tăng. Mặc dù vậy chi phí bán hàng cũng tăng 20.177.490 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,6 %, chi phí bán hàng tăng lên được coi là hợp lý bởi doanh thu tăng 9,65%. Còn chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng, năm 2004 tăng so với năm 2003 là 3,26% với số tiền tăng là 20.177.490 đồng. Như vậy m, ức độ tăng của chi phí quản lý doanh nghiệp là nhỏ so với mức độ tăng của doanh thu. Qua đây chứng tó công ty đã rất cố gắng trong việc quản lý chi phi, chú trọng tới việc tạo các mối quan hệ tốt đối với các đối tác.

     

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tăng lên là 565.440.711 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 28,46%. Đây là tỷ lệ tăng khá lớn cho thấy hoạt động sản xuất của công ty về cơ bản là tốt, thấy được sự cố gắng toàn công ty.

    Lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm, tuy nhiên hoạt động này không phỉa là hoatj động chính của công ty lên lợi nhuận từ hoạt động này tuy có giảm nhưng không ảnh hưởng nhiều tới tổng lợi nhuận của công ty có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như là: trong tổ chức công tác tài chính kế toán của công ty, công tác tài chính chưa được đánh giá đúng mức, đồng thời số cán bộ am hiểu về đầu tư chứng khoán còn hạn chế.

    Về lợi nhuận khác ta thấy thu nhập khác năm 2004 tăng so với năm 2003 kà 124.096.623 đồng và chi phí khác năm 2004 tăng 93.311.254 đồng, thu nhập khác

     

    59

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    tăng cao hơn so mức tăng của chi phí khác. Do đó làm lợi nhuận khác tăng 30.785.369 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 944,25%.

    Như vậy lợi nhuận từ hoạt động tài chính có sự giảm đáng kể còn lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận từ hoạt động khác tăng nhưng do tỷ trọng của những hoạt động thu nhập cao gia tăng trong khi đó tỷ trọng của những hoạt động có thu nhập thấp giảm nên làm tổng lợi nhuận vẫn tăng. Tổng lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2004 tăng so với năm 2003 là 596.226.080 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 29,96%. Đây là một tốc độ tăng khá lớn thể hiện được những nỗ lực vượt bậc của công ty trong năm qua.

     

    Qua bảng kết quả hoạt động của công ty ta thấy tổng lợi nhuận trước thuế năm sau cao hơn năm trước, đó là kết quả rất tốt đối với công ty. Trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận khác có xu hướng tăng còn lợi nhuận từ hoạt động tài chính có xu hướng giảm. Vậy công ty cần quan tâm hơn nữa đến công tác quản lý tài chính.

     

    Thông qua việc xem xét sơ lược tình hình tài chính và những kết qủ đạt được của công ty qua 2 năm chúng ta thấy được những thành tích cung như tồn tại cần khắc phục.Một số điểm nổi bật mà ta dễ nhận thấy là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng, chiểm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận là do trong những năm qua công ty đã chú trọng đến việc đầu tư trang thiết bị máy móc, đổi mới day truyền công nghệ nên các sản phẩm của công ty đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Do vậy doanh thu thu được từ hạot đọng này hoạt động này có xu hướng tăng lợi nhuận từ hoạt động tài chính có xu hướng giảm, lợi nhuận từ hoạt động bất thường tăng. Trên đây là những đấnh giá sơ bộ về kết quả sản xuất kinh doanh năm 2003, năm2004 của công ty RTD. Để có cái nhìn rõ hơn ta đi sâu nghiên cứu tình hình thực hiện lợi nhuận cua công ty.

     

    2.3 Tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty.

     

    Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sản xuất kinh doanh vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị trường doanh nghiệp có tồn tại và

     

    60

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    phát triển hay không điều quyết định doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận không. Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh kế quan trọng đồng thời là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói nên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

    Mặc dù công ty còn gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh xong công ty luôn cố gắng phấn đấu không ngừng vươn lên để được đạt kết quả tốt. Công ty từng bước mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm cũng như tìm kiếm đối tác mới, làm cho tổng lợi nhuận trướcthuếvà tổng doanh thu tăng lên đáng kể cụ thể như sau ( Bảng 2.3)

     

    Qua bảng số liệu ta thấy: tổng lợi nhuận của công ty năm 2003 đạt 2.317.778.743 đồng, năm 2004 đạt 3.014.022.491 đồng. Lợi nhuận năm 2004 so với năm 2003 tăng với số tiền là 669.243.748đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 29,96%. Tổng lợi nhuận tăng là dò công ty tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các sản phẩm của công ty đã có tính cạnh tranh trên thị trường và có tính cạnh tranh cao so với các sản phẩm của các công ty khác. Trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận khác có xu hướng tăng, còn lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm. Cụ thể:

     

    • Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.

    Năm 2003 và 2004 lợi nhuận từ hoạt động tài chính đều âm và có xu hướng giảm: năm 2003 lợi nhuận từ hoạt động tài chính là – 331.161.283 đồng, năm 2004 lợi nhuận – 461.964.320 đồng. Như vậy lợi nhuận từ hoạt động tài chính năm 2004 giảm so với năm 2003 là 130.083.037 đồng, tỷ lệ giảm 39,5%. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tổng lợi nhuận trước thuế. Sở dĩ có sự giảm như vậy là do năm 2004 số nợ của công ty đã tăng so với năm 2003 làm cho lãi vay tăng. Bộ phận kế toán của công ty chưa chú ý đến công tác quản lý tài chính. Tuy nhiên, đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu thì việc vay nợ để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh là điều đương nhiên. Một phần do việc mở rộng sản xuất mà lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh năm 2004 tăng so với năm 2003. Vậy lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm chưa hẳn đã tốt, nhưng

     

    61

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    trong thời gian tới công ty có biện pháp thích hợp để tăng lợi nhuận từ hoạt động tài chính mà vẫn đảm bảo được hoạt động kinh doanh ở mức cao nhất.

     

    • Lợi nhuận khác.

    Đây là khoản thu nhập bất thường mang tuính bất thường không ổn định. Năm 2004 khoản lợi nhuận này tăng 944,25% so với năm 2003, đây là tỷ lệ tăng rất lớn, Nếu như năm 2003 lợi nhuận khác của công ty là 3.260.300 đồng năm 2004 khoản này 34.045.669 đồng. Qua đó thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của công ty trong năm qua, với việc mở rộng quy mô sản xuất thì công ty tiến hàn thanh lý một số máy móc cũ thay vào đó là những máy móc mới hiện đại hơn có thể sản xuất các sản phẩm có chất lượng tốt giá thành hạ đáp ứng được nhu cầu thị trường.Vì vậy doanh thu từ những hoạt động này có xu hướng tăng.

     

    • Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004 tăng so với năm 2003 là 696.243.747 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 30,04%.Tỷ lệ này khá lớn cho thấy hoạt động sản xuất của công ty về cơ bản là tốt.

     

    Như vậy trong tổng lợi nhuân thu được thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn, và có xu hướng tăng, lợi nhuận từ hoạt động khác có tăng nhưng không ổn định, còn lợi nhuận từ hoạt động TC luôn âm. Vì vậy, luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi tình hình thực hiện lợi nhuận và những biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm năm 2004 của công ty RTD ta có bảng 2.4

     

    Từ số liệu trên cho thấy doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004tăng lên là 4.419.391.690 đồng với tỷ lệ tăng là 9,65%. Doanh thu tăng cho thấy thị trường tiêu thụ của công ty được mở rộng làm cho số lượng hàng hóa tăng , dấu hiệu tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, nhìn vào số liệu tổng hợp ta thấy giá vốn hàng bán cũng tăng năm 2004 tăng so với năm 2003 là 3.654.337.551 đồng với tỷ lệ tăng là 8,97%, giá vốn hàng bán tăng nhưng tốc độ tăng của vốn hàng bán không tăng bằng mức độ tăng của doanh

     

    62

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thu. Chính điều này làm cho lợi nhuận gộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng với tỷ lệ cao, cụ thể là: Nếu như năm 2003 lợi nhuận gộp đạt được là 5.066.600.998 đồng thì năm 2004 lợi nhuận đạt là 5.831.625.137 đồng vậy lợi nhuận gộp năm 2004 tăng so với năm 2003 là 765.054.139 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 15,1%. Điều nàycùng là do sản lượng tiêu thụ thực tế tăng hoặc là do kết cấu mặt hàng tiêu thụ thay đổi theo chiều hướng tốt, đó là tăng tỷ trọng những mặt hàng có lợi nhuận đơn vị cao giảm tỷ trọng những mặt hàng có lợi nhuận đơn vị thấp. Từ đó ta có thể đánh giá là doanh nghiệp đã nắm bắt nhu cầu thị trường, ttổ chức công tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tốt. Kết quả đạt được này cũng có thể do chất lượng sản phẩm sản xuất tăng làm cho giá bán đơn vị tăng, đó là sự cố gắng chủ quan của doanh nghiệp trong công tác quản lý chất lượng, công tác sản xuất.

     

    Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng.Trong bảng ta thấy chi phí bán hàng năm 2004 tăng so năm 2003là 20.177.490 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 1,6% , trong khi đó chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 3,26%, chi phí bán hàng tăng bởi vì trong những năm gần đây để cạnh trang được với các công ty khác sản xuất sản phẩm cùng loại công ty RTD có những nghiên cứu nhằm mở rộng thị trường mở rộng quy mô hoạt động do vậy cho phí bán hàng tăng lên là điều không tránh khỏi, mặt khác chi phí bán hàng tăng với tỷ nhỏ so với tốc độ tăng của doanh thu. Đây cũng là nguyên nhân làm cho lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên, một dấu hiệu khả quan trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Chi phí quản lý doanh nghiệp năm2004 tăng so với năm 2003là 3,26% với số tiền là48.632.901 đồng. Khi mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên là điều tất nhiên. Tuy nhiên, tốc độ tăng của chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nhanh hơn tốc độ của chi phí bán hàng qua đó cho thấy doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý. Do vậy doanh nghiệp có những biện pháp giảm chi phí quản lý.

     

    63

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Năm 2004 so với năm 2003 các chỉ tiêu doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng. Nhưng tỷ lệ tăng của doanh thu thuần là lớn nhất cho nên lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004 tăng so với năm 2003 là 696.243.748 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 30,04%, tỷ lệ tăng này khá cao. Qua đây cho thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là rất khả quan, công ty cần phát huy. Để hiểu rõ hơn tình hình này ta cần đi sâu phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 2 năm qua như:

     

    2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ củacông ty qua 2 năm 2003 và 2004.

     

    • Về tình hình sản xuất:

    Với dây chuyền thiết bị hiện đại nhập từ Đức và Trung Quốc, năng lức sản xuất của công ty không ngừng được nâng cao. Điều này thể hiện thông qua số lượng sản xuất và tiêu thụ qua các năm. Hiện nay công ty sản xuất thuốc thú y và thức ăn gia súc. Sản phẩm của công ty chủ yếu là tiêu thụ thị trường trong nước, một phần sản phẩm của công ty được đặt theo đơn đặt hàng.

     

    • Về tình hình tiêu thụ:

    Lợi nhuận chính là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí doang nghiệp bỏ ra để doanh nghiệp đạt được doanh thu đó. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm lại phản áng kết quả hoạt động bán hàng, đó là nguồn thu chủi yếu để bù đắp chi phí và có lãi. Vì vậy nếu công ty tăng được doanh thu sẽ góp phần trực tiếp làm tăng lợi nhuận

     

     

     

    64

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    Bảng 2.5 Tình hìnhthực hiện doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2003 và năm 2004 của công ty RTD

     

    ĐVT: đồng

     

    Doanh thu

    Năm 2003

    Năm 2004

    So sánh 2004/2003

     
                   
     

    Số tiền

    Tỷ trọng

    Số tiền

    Tỷ trọng

    Số tiền

    Tỷ lệ %

    Tỷ trọng

                     

    Thuốc thú y

    23.743.748.685

    51,8

    26.179.706.618

    52,1

    2.435.962.933

    10,26

     

    54,7

                     

    Thức ăn chăn nuôi

    22.064.701.256

    48,2

    24.048.130.013

    47,9

    1.983.428.757

    8,9

     

    44,3

                     

    Tổng doanh thu

    45.808.444.941

     

    50.227.836.631

     

    4.449.391.638

         
                     

     

     

     

    65

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh thu năm 2003 đạt 45.808.444.941 đồng nhưng sang năm 2004 doanh thu tăng lên đạt 50.227.836.631 đồng, tăng 4.449.391.680 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 19,16%. Đây là một kết quả khả quan cho thấy sự phấn đấu của công ty. Đặc biệt trong điều kiện dịch cúm gia cầm xuất hiện gây không ít trở ngại cho việc tiêu thụ sản phẩm của công ty thì đây là điểm đáng khích lệ trong công tác tổ chức tiêu thụ hàng hoá. Trong năm 2004, công ty đã tìm hiểu và mở rộng thị trường tiêu thụ, mở rộng quan hệ với các đối tác để xúc tiến việc tiêu thụ sản phẩm đem lại doanh thu cao hơn trước. Cụ thể hơn ta xem xét doanh từng hoạt động sản xuất qua số liệu chi tiết ở bảng trên.

     

    Ta thấy doanh thu tiêu thụ thuốc chiếm tỷ trọng lớn năm 2003 chiếm tỷ trọng 51,8%, năm 2004 chiếm 52,1% và có xu hướng tăng lên. Năm 2004 doanh thu thuốc thú y tăng so với năm 2003 là 2.435.962.933 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 10,26%. Điều này chứng tỏ công ty có nhiều cố gắng trong nghiên cứu thị trường, cũng như thị hiếu của khách hàng, sản phẩm của công ty ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ ra khắp cả nước. Còn về thức ăn chăn nuôi, mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có xu hướng tăng, cụ thệ doanh thu thức ăn chăn nuôi năm 2004 tăng so với năm 2003 là 1.983.428.757 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 8,9%. Đây là biểu hiện tốt trong việc thực hiện chỉ tiêu doanh thu và góp phần mang lại lợi nhuận cao cho công ty. Để hiểu sâu tình hình thực hiện doanh thu ta đi phân tích tình hình thực hiện kê hoạch tiêu thụ sản phẩm của từng nhóm mặt hàng.

     

    Trong năm 200 và năm 2004 mặt hàng thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất và có tốc tăng khá nhanh. Cụ thể năm 2003 doanh thu tiêu thụ là 14.065.829.907 đồng, năm 2004 doanh thu tiêu thụ là 14.938.748.939 đồng và hoàn thành vượt mức kế hoạch là 21,89%. Đây là mặt hàng chủ lực của công ty, vì vậy tăng được doanh thu và tỷ trọng mặt hàng này cho thấy công ty đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động kinh doanh của mình.

     

    66

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    Bảng 2.6: Tình hình thực hiện tiêu thụ sản phẩm năm 2004 của

     

    Công ty RTD

     

             

    ĐVT :Đồng

     

    Loại thuốc tiêu thụ

    Thực

    tế

    Năm 2004

       

    So sánh 2004/2003

     

    2003

               
         

    Kế hoạch

    Thực tế

    TT/KH

    Số tiền

    Tỷ lệ ±

             

    %

       

    1.Thuốc kháng sinh

    14.065.829.907

     

    14.618.710.000

    14.938.748.939

    21,89

    872.919.032

    5,84

                   

    2.Thuốc kháng khuẩn

    650.761.564

     

    711.013.000

    735.503.792

    3,4

    84.742.246

    11,52

                   

    3.Thuốc bổ

    995.683.237

     

    1.052.094.000

    1.106.300.678

    5,15

    110.617.441

    10

                   

    4.Thuốc bổ xung và dinh dưỡng

    3.720.257.164

     

    3.409.905.000

    4.903.403.086

    43,79

    1.183.145.922

    24,12

                   

    5.Thuốc giải độc

    761.889.568

     

    783.036.000

    801.070.154

    2,3

    39.180.586

    4,89

                   

    6.Thuốc sát trùng

    444.142.696

     

    454.416.300

    464.438.837

    0,32

    20.293.141

    4,37

                   

    7.Thuốc kháng thể

    3.105.179.567

     

    3.120.240.000

    3.230.241.112

    3,5

    125.061.565

    3,87

                   

    Tổng cộng

    23.743.743.685

     

    24.149.405.300

    26.179.706.618

         
                   

     

    67

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Mặt hàng thuốc kháng khuẩn: mặt hàng này chiế m tỷ trọng không lớn lắm, tuy vậy doanh thu năm 2004 tăng 11,52% so với năm 2003 và hoàn thành vượt mức kế ho ạch năm 2004 là 3,4%. Như vậy mặc dù hoàn thành vượt ức kế hoạch nă m 2004, nhưng công ty cũng cần phải quan tâm đến mặt hàng này để nâng cao tỷ trọng của mặt hàng.

     

    Thuốc bổ : mặt hàng này có tác dụ ng rất lớn đối với vật nuôi, nó làm cho vật nuôi lớn nhanh hơn. Tuy v ậy mặt hàng này lại thu được doanh thu không lớn so với mặt hàng khác, mặc dù năm 2004 đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 5,15% và tăng so với năm 2003 là 110.617.441 đồng tương ứng với tỷ lệ là 10%

     

    Thuố c bổ xung và dinh dưỡng: mặt hàng này chiếm tỷ trọng cao sau mặt hàng thu ốc kháng sinh và doanh thu năm 2004 tăng 183.145.922 đồ ng t ương ứng với tỷ lệ tăng 24,12%. Như vậy năm 2004 công ty đã chú trọng đến mặt hàng này nhiều hơn, và kinh doanh mặt hàng này có hiệu quả hơn. Đây là biểu hiện tốt trong việc thực hiện chỉ tiêu doanh thu và góp phần tăng lợi nhuận của công ty.

     

    Thuốc gi ải độc và sát trùng: đều hoàn thành kế hoạch năm 2004và năm 2004 doanh thu đều tăng so với năm 2003 nhưng tốc độ tăng không lớn, thuốc giải độc tăng 4,89% tương ứng v ới số tiền 39.180.856 đồng, còn thuố c sát trùng tăng 4,37% tươ ng ứng với số tiền 20.296.141 đồng. Tuy tỷ lệ tăng củ a 2 mặt hàng này không lớn nhưng cũng góp phần làm tăng doanh thu của công ty.

     

    Thuốc kháng thể: đây là loại thuố c có thời gian sử dụ ng tương đối ngắn so với các loại thuốc khác nên khố i lượng sản xuất ra vừa đủ đáp ứng nhu cầu thị trường, hơn nữa những năm g ần thuốc kháng thể được sử dụng nhiều để hạn chế dịch cúm gia cầm. Doanh thu tiêu thụ nă m 2003 là 3.105.179.567 đồng đến năm 2004 đ ã tăng lên đến 3.230.241.132 đồng với tốc độ tăng là 3,87% tương ứng với số tiền tăng là 125.061.565 đồng.

     

    Như vậy doanh thu năm 2004 các mặt hàng đều tăng so v ới năm 2003 và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2004. Sở dĩ do vậy năm 2004 công ty đã t ừng bước cải tiến dây chuyền sản xuất cũ mạnh dạn áp dụ ng nhiều biện pháp thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm… Đây là kết quả đáng ghi nhận

    • Đối với thức ăn chăn nuôi:

    Thức ăn ch ăn nuôi có tác dụ ng lớn đố i với cơ thể vật nuôi, làm cho vật nuôi tăng nhanh và góp phần đem lại hiệu quả cao cho bà con chăn nuôi. Công ty chủ yếu sản xuất thức ăn cho lợn, v ịt, ngan, gà… Sản phẩm này của công ty được tiêu thụ h ầu hết ở các vùng trong cả nướ c và được bà con tin dùng. Trong thời gian qua công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng nhiều biện pháp tiêu thụ như đơn đặt hàng, phân phối trực tiếp, lập các đại lý…Vì vậy doanh thu năm 2004 tăng so với năm 2003 là 1.983.428.7576 đồ ng tương ứng với tỷ lệ là 19,16%. Tỷ lệ tăng này cũng khá cao, tuy vậy doanh thu tiêu thụ thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng khoong lớn trong tổng doanh thu. Vì vậy trong thời gian tới công ty cần đưa ra các giải pháp phù hợp để làm tăng doanh thu của thức ăn chăn nuôi, như

     

    68

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thực hiện các chương trình marketing, quảng cáo… để từ đó góp phần nâng cao tổng lợi nhuận của công ty.

     

    Để đạt được những thành tích trên công ty đã thực hiện hang loạt những biện pháp như sau.

    Công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, đ áp ứng toot nhu cầu của khách hàng, công ty luôn chú trọng đến chất lượng sản phẩm, công ty có chế độ thưởng phạt để thắt chặt và giằng buộ c trách nhiệm của công nhân, sản phẩm của công ty phải trải qua nhiều khâu kiểm tra chất lượng.

     

    Công ty đã tận d ụng khai thác triệt để và có hiệu quả năng lực sản xuất hiện có nhu cải tiến thiết bị máy móc v.v..

    Công ty đã áp dụng những bi ện pháp tích cực để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm: Tham gia các triển lãm, hội chợ. Kết quả là sản phẩm công ty đạt giải thưởng Sao vàng đất Việt.

    Tuy nhiên, để thấy được s ự biến động của lợi nhuận một cách đầy đủ hơn ta phải đ i sâu vào phân tích tình hình quản lý chi phí tại công ty, nhân tố quyết định tới sự tăng giảm lợi nhuận.

     

    2.3.2 Tình hình thực hiện chi phí kinh doanh của công ty năm 2003-2004

     

    Đối với b ất cứ doanh nghiệp nào, để tăng lợi nhuận thì biện pháp h ữu hiệu không thể thiếu là thực hiện giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất kinh doanh là toàn bộ những khoản chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ và chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện sản xuất cho một thời kỳ. Đặc biệt đối với công ty RTD là một doanh nghiệp sản xuất là chủ yếu thì việc qu ản lý chi phí càng trở nên quan trong. Chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng tr ực tiếp đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp, trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, chi phí này tăng lên sẽ làm lợi nhuận giảm và ngược lại. Do v ậy quản lý chi phí và hạ giá thành luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của củ a tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Giảm được chi phí hạ giá thành sản phẩm đồng nghĩa v ới gi ảm chi phí cá biệt của doanh nghiệp và tăng lợi nhuận. Sau đây sẽ đi phân tích tình hình thực hiện chi phí củ a hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty RTD qua bản số liệu sau: (Bảng 2.7 Tình hình thực hiện chi phí kinh doanh của công ty)

     

     

     

     

    69

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    BẢNG 2.7 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHI PHÍ KINH DOANH CỦA CÔNG TY

     

           

    ĐVT: đồng

         

    Yếu tố chi phí

    Năm 2003

     

    Năm 2004

       

    So sánh 2004/2003

     
     

    Số tiền

    Tỷ trọng %

    Số tiền

     

    Tỷ trọng %

    Số tiền

     

    Tỷ lệ %

    1.Giá vốn hàng bán

    40.741.843.943

    93,68

    44.396.181.494

     

    94,04

    3.654.337.551

     

    8,97

                     

    2.Chi phí bán hàng

    1.258.197.097

    2,89

    1.278.374.587

     

    2,7

    20.177.490

     

    1,6

                     

    3.Chi phí quản lý doanh

    1.490.625.158

    3,43

    1.539.258.059

     

    3,26

    48.632.901

     

    3,26

    nghiệp

                   

    Cộng

    43.490.267.196

    100

    47.211.814.140

     

    100

    3.723.147.942

       
                     

     

     

    70

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Qua bảng phân tích trên ta thấy chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty được cấu thành bởi các khoản mục chi phí bán hàng, gía vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Xét trên sự gia tăng của gia v ốn hàng hóa trong 2 năm qua cho thấy giá vốn hàng hóa tăng lên 3.654.337.551 đồng, tỷ lệ tăng tươ ng ứng là 8,97% tuy nhiên chưa thể khẳng định giá bán tăng lên là bất hợp lý bởi vì doanh thu thuần về hàng bán và cung cấp dịch vụ tăng thì giá vốn hàng bán năm 2004 tăng là tất y ếu. Xét trên góc độ t ăng doanh thu là 9,65% mà tốc đọ tăng của giá vố n hàng bán là 8,97% thì tốc độ tăng của giá vốn hàng bán là hợp lý, làm cho lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tăng, hơn nữa tỷ trọng giá vốn hàng bán trong t ổng chi phí s ản xuất kinh doanh là rất cao 93,68%. Vì vậy nhân tố này ảnh hưởng có tính ch ất quyết định đến l ợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nhân tố này phụ thuộc vào giá mua, chi phí mua, thuế. Vì v ậy, bên cạnh việc chủ độ ng tìm hi ểu nguồn hàng để mua hàng với giá thấp nh ất thì công ty phải xem lại chi phí cho việc thu mua, vận chuyển hàng hóa, giảm giá vốn hàng bán đống một vai trò quan trọng để tăng lợi nhuận. Qua tìm hiểu th ực tế cho ta thấy rằng đã có nh ững cố gắng chủ quan trong việc tìm nguồ n hàng mua có giá mua thấp, chất liệu phù hợp. Nhưng bởi vì nguyên vật liệu của công ty chủ yếu là nhập ngoại, nên quá trình bảo qu ản v ận chuyển khó, chi phí vận chuyển tăng, thuế thu nhập cũng tăng làm cho giá vốn hàng bán tăng.

     

    Chi phí bán hàng của công ty năm 2004 t ăng là 20.177.490 đồng so với năm 2003 v ới tỷ lệ tăng là 1,6%. Chi phí bán hàng tăng lên chưa thể khẳng định là hợp lý hay không bởi doanh thu bán hàng của công ty trong năm là tăng cao. Tuy nhiện việc chi phí bán hàng tăng quá lớn sẽ làm giảm lợi nhu ận củ a công ty, so với tỷ lệ tăng của doanh thu thì t ỷ lệ tăng của chi phí bán hàng là nh ỏ. Qua đó công tác tiêu thụ hàng hóa của công ty không tốn kém và việc quản lý chi phí này tương đối tốt.

     

    Đối với khoản chi phí quản lý doanh nghiệp.

     

    Năm 2004, chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty tăng so với nă m 2003 là 48.632.901 đồng t ỷ lệ tăng là 3,26%, chi phí này chiế m một tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng chi phí năm 2004. Chi phí này tăng một lượng không lớn chứng tỏ công ty đã quản lý hiệu quả chi phí này.

     

    Vậy xét một cách tổng quát tình hình thực hiện chi phí kinh doanh của công ty ta thấy công tác quản lý chi phí của công ty nhìn chung là tốt, các chi phí đều tăng nhưng là do công ty mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến nâng cấp tài sản cố định. Nh ưng công ty cũng cấn qu ản lý tốt h ơn các khoản chi nguyên vật liệu trong giá vốn hàng bán nhằm tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận.

     

    2.3.3 Tình hình quản lý và sử dụng vốn của Công ty trong năm 2004

     

     

    71

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của kinh t ế thị tr ường, khi các doanh nghiệp đều được t ự chủ trong kinh doanh và tự chủ về mặt tài chính thì mặt huy động vốn mới chỉ là bước đầu, vấn đề quan trọng là phân bổ và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đây là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu xem xét.

     

    Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính đến 31/12/2004 v ốn kinh doanh của công ty là 29.414.470.148 đồng trong đó: vốn cố định (VCĐ) 7.356.407.771 đồng, vốn lưu động (VLĐ) 20.244.748.248 đồng . Xem xét tình hình sử dụng vốn và quản lý của Công ty

    • Vốn cố định

    Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCD mà doanh nghiệp sử dụng vào sản xu ất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Toàn bộ TSCĐ của công ty là TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, TSCĐ phi tài chính, nguyên giá, giá trị còn lại, số đã khấu hao TSCĐ của Công ty năm 2004 được thể hiện qua bảng số liệu sau

     

    Bảng 2.8: Tình hình tăng giảm TSCĐ của Công ty năm 2004

     

    Qua bảng số liệu ta thấy cuối năm 2004 nguyên giá TSCĐ củ a công ty là 9.860.103.419 đồng, nguyên giá còn lại là 7.356.407.771 đồ ng, chi ếm tỷ lệ 216,46% .Trong khi đó đầu năm TSCĐ là 7.945.421.014 đồng chiếm 280,38% trong tổng nguyên giá TSCĐ. Như vậy công ty đã chú trọng đầu tư vào TSCĐ làm tăng quy mô vốn, nhưng TSCĐ cuối năm lại nhỏ h ơn đầu năm chứng tỏ khấu hao rất lớn. Với việc mở rộng quy mô sản xuất thì khấu hao tăng lên là đương nhiên.

     

    Đối với TSCĐ hữu hình, đây là lo ại tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSCĐ, cuố i năm 2004 TSCĐ h ữu hình tăng so v ới đầu năm là 1.864.862.405 đồng trong khi đó tài sản còn lại hữu hình đầu năm là 4.966.120.536 đồng chiếm 91,94% tổng nguyên giá TSCĐ hữu hình, cuối năm là 5.183.872.705 đồng chiếm 94,44% tổng nguyên giá TSC Đ hữu hình. Từ đó có thể đánh giá công ty đầu từ vào tài sản hữu hình mua sắm máy móc trang thiết bị. Nhu vậy công ty rất đầu tư cho tài sản phục vụ cho sản xuất, điều này giúp công ty hoạt độ ng có hiệu quả hơn. Cuối năm công suất máy so với đầu năm tăng, sản xu ất sản ph ẩm t ăng làm cho doanh thu tiêu thụ tăng. Với việc sử dụ ng tri ệt để tài sản hữu hình củ a mình để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, điều này có ý nghĩa thực tiễn mỗi một mặt hàng nâng cao năng lực sản xuất.

     

    Đối với TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính, cuối năm nguyên giá không tăng so với đầu năm tuy nhiên khấu hao tăng nên giá trị còn lại của chúng giảm về cuối năm. Chứng tỏ công ty không quan tâm tới đầu tư TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính.

     

    72

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Đối với TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính cuối năm nguyên giá không tăng so với đầu kỳ , tuy nhiên khấu hao tăng giá trị còn lại của chúng giảm về cuối năm.Chứng tỏ công ty không quan tâm đến đầu tư TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính, trong khi đó TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính cuối năm giảm so với đầu năm. Chứng tỏ quá trình sử dụng nhiều hơn.

     

    Tóm lại, trong thời gian qua công ty đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ. Tuy nhiên vốn cố định chiếm tỷ trọng nhỏ đây là một điều không phù hợp với doanh nghiệp đi sâu vào sản xuất kinh doanh, do vậy doanh nghiệp sẽ gặp ph ải những khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Tuy nhiên để có những đánh giá đúng đắn ta đi xem xét hiệu quả sử dụng vốn cố định.

     

    Bảng 2.9 Hiệu quả sử dụng vốn cố định

     

    Qua bảng số lượng ta thấy hiệu quả sử dụ ng vố n cố định trong sản xuất kinh doanh của công ty n ăm 2004 là 5,50% có ngh ĩa là cứ 1 đồng vốn cố định tham gia sản xuất kinh doanh trong kỳ góp phần tạo ra 5,5đồng, tăng 0,21 đồng so với năm 2003, tương ứng v ới tỷ lệ tăng là 29,96%. Hiệu qu ả s ử dụng vốn cố định trong hai năm qua đều thấp nhưng có xu hướng tăng ch ứng tỏ công ty đã có nhiều cố gắng trong vi ệc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Tuy nhiên trong thời gian tới công ty phỉa có biện pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định.

    Hiệu suất sử dụng vốn cố định cuar công ty năm 2004 là 5,6%, nghĩa là cứ một đồng TSCĐ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần tạo ra 5,6 đồng doanh thu. So với năm 2003hiệu suất svoonshieeujTSCĐ gi ảm 0,83 đồng tướng ứng với tỷ lệ giảm 12,9%. Điều này ch ứng tỏ công tác quản lý và sử dụng TSCĐ của công ty là không tố t, Hiệu quả sử d ụng TSCĐ ngày càng giảm. Đi ều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của công ty.Cũ ng tuef bảng số liệu trên ta thấy tỷ xuất lợi nhuận TSCĐ năm 2004 là 28,33%và năm 2003 là 23% như vậy năm 2004 tỷ suất lợi nhu ận VCĐ tăng so với n ăm 2003. Điều này là do lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2004 tăng so với năm 2003

    • Vốn lưu động

    Vố n lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trướ c để đầu tư hình thành nên các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Công ty RTD với đặc đ iểm là doanh nghiệp ho ạt động trong lĩnh vực sản xuất là chủ yếu nhưng lại có số lưu động tương đối lớn trong tổng số vốn kinh doanh. Cơ cấu vốn lưu động được thể hiện qua bảng sau, bảng 2.10.

    Tính     đến     ngày   31/12/2003   tổng   vốn   lưu      động      của   công    ty     là

    18.327.447.347(đồng) trong đó vốn dự trữ là 10.310.703.980 đồ ng., choieems 56,26%vốn lưu động , v ốn trong khâu sản xuất là 132.317.482 đồng chiếm 0,72%, còn vốn trong khâu lưu thông là 7.884.425.885 đồng chiếm 43,02%. Kết cấu trên có thể nói là chưa hợp lý bởi vì vốn trong sản xuất chiếm tỷlệ thấp nhất, vốn dự

     

    73

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    trữ lại chiế m tỷ trọng lớn nhất trong vốn lưu thông thì các khoản phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng rất cao là 60,26%.Qua bảng số liệu trên ta thấ y vốn của công ty b ị ứ đọng nhiều, vốn của khách hàng chiếm dụng lớn. Cuối năm 2004 vốn lưu độ ng của công ty có sự thay đối đáng kể tăng 42,97%, v ốn d ự trữ cũng tăng nhưng không đáng kể. Vi ệc tăng vốn l ưu thông chủ yếu là do vố n thanh toán tăng trong đó cacskhoanr phải thu từ khách hàng tăng nhanh nhất. Sở dĩ có điều này là do công ty thực hiện tiêu thụ theo hình thức bán trước trả tiền sau. Bên cạnh đó khi mua nguyên vật li ệu công ty phải ứng trước một khoản tiền từ đó giảm hiệu quả s ử dụng vốn. Với việc l ưu gi ữ mộ t lượng vốn l ưu thông quá lớn l ại không sử dụng hết vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phần lớn nằm trong các khoản phải thu đã làm tăng nhu cầu vốn l ưu động đòi h ỏi công ty phải vay nợ để đáp ứng nhu cầu về vốn do đó lãi vay tăng là điều đương nhiên.

     

    Nh ư vậy tình hình quản lý và sử dụng vốn cố định của công ty luôn được nâng cao công ty đã sử dụng ngày càng có hiệu quả tài sản của mình. Về cơ b ản, tình hình quản lý hai loại vốn trên là tố t, điều đó góp phần nâng cao hiệuquả sử dụng vốn kinh doanh của công ty. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chưa cao.

     

    Qua phân tích tình hình thực hiện lợi nhuận ta có thẻ đưa ra nhận xét là Tổng lợi nhuận năm 2004 tăng so với 2003, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty có nhiều biến triển tốt. Tuy nhiên điều này chưa thể đánh giá chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.

     

    2.4 Tình hình thực hiện tỷ suất lợi nhuận năm 2004 của công ty RTD.

     

    Như ta đã biết lợi nhuận tuyệt đối không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá ch ất l ượng lợi nhuận kinh doanh của một doanh nghiệp. Bởi lợi nhuận ph ụ thu ộc và nhiều nhân tố, có nh ững yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, để đánh giá chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp ngoài lợi nhuận tuyệt đối ta cần phải xem xét tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Bảng2.10

     

     

     

     

     

    74

     

    Luận văn tốt nghiêp                                                                                                                       Hà Nội 5/2005

     

    ==============================================================

     

    Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh.

     

    Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Qua số liệu bảng 10 ta thấy năm 2004: Cứ 100đồng vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh công ty 6,7 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2003 tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là 5,7%. Điều này chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn của công ty năm 2004 tăng lên. Đây là dấu hiệu tốt, đó là do quy mô vốn kinh doanh tăng, việc quản lý vốn cố định tố và cả sự nỗ lực của công ty, Nhưng trong những năm tới công ty cần cố gắng hơn nữa để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.

     

    Tỷ suất lợi nhuận giá thành đây là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận tu được và chi phí bỏ ra. Năm 2003 tỷ suất lợi nhuận giá thành là 3,3%, năm 2004 là 3,9%. Nghĩa là năm 2003, cứ 100 đồng chi phí mà công ty bỏ ra thu về được 3,3 đồng lợi nhuận sau thuế, Năm 2004 thu về 3,9 đồng. Tỷ suất lợi nhuận giá thành không cao nhưng có xu hướng tăng. Như vậy, kết quả kinh doanh của công ty rất khả quan và có xu hướng đi lên.

     

    Tỷ suất lợi nhuận doanh thu.

     

    Năm 2004 tỷ suất lợi nhuân sau thuế doanh thu bán hàng của công ty là 3,7% năm 2003 chỉ tiêu này là 3,1%.Như vậy tỷ suất lợi nhuận sau thuế doanh thu tăng so năm 2003 là 19,35% Đây là một biểu hiện tốt tuy nhiên tỷ suất này không cao.

     

    2.5 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty RTD

     

    2.5.1 Những kết quả đạt được

     

    Năm 2004 , tổng vốn kinh doanh tăng so với năm 2003 điều này cho thấy công ty đã từng bước mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Lợi nhuận tăng, doanh thu tăng tình hình tiêu thụ hàng hóa của công ty nói chung là tốt.

    Hiệu suất sử dụng vốn là tương đối tốt nhất là vốn cố định.

     

    Nguyễn Thị Nga                                                                                                                               Lớp K39 – 11 –07

     

    ==============================================================

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Điều kiện làm việc và đời sống của cán bộ công nhân viên đều được cải thiện đáng kể.

    Nhìn chung, Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty năm 2004 có nhiều biểu hiện tốt so với năm 2003.

     

    2.5.2 Những mặt tồn tại .

     

    -Vốn của công ty bị chiếm dụng nhiều.

     

    -Công tác quản lý chi phí của công ty chưa thực sự hiệu quả.

     

    -Các khoản phải thu chiêm tỷ trọng quá cao trong tổng vốn lưu động.

     

     

     

     

     

     

     

    76

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    CHƯƠNG III

    CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NÔNG THÔN

    3.1. Định hướng phát triển của công ty trong năm tới.

     

    Trên cơ sở đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong hai năm 2003 và 2004 cùng với những điều kiện vốn có của mình, công ty nhận định để tồn tại và phát triển là phải tìm ra hướng đi đúng đắn phù hợp với điều kiện hiện tại của công ty. Việc tìm ra một hướng kinh doanh thích hợp để có một thị trường vững chắc và vị trí tương xứng là mục tiêu phương hướng của công ty trong những năm tới. Công ty cần phải cải thiện được tình hình kinh doanh và nâng cao chất lương hoạt động của mình. Trước mắt công ty cần duy trì đã đạt được, củng cố và phát triển hơn nữa các mặt đó làm cơ sở cho phương hướng kinh doanh tiếp theo.

     

    Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và phương hướng phát triển của mình, mục tiêu cụ thể của công ty trong năm 2004 là :

    -Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải có lợi nhuận cao, phấn đấu tăng lợi nhuận hoạt động tài chính.

     

    -Doanh thu bán hàng đạt trên 100 tỷ đồng

     

    -Thu nhập bình quân tháng của cán bộ công nhân viên trên một triệu đồng. Từng bước cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên.

     

    -Thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý chi phí, giảm bớt các khoản chi phí gián tiếp, các khoản chi phí bất hợp lý.

     

    -Nâng cao nhận thức tư duy về kinh doanh và khả năng nắm bắt nhu cầu trong cơ chế thị trường cho cán bộ công nhân viên để kịp thời với những biến động của thị trường và tự tin hơn trong kinh doanh.

     

    -Tăng cường giáo dục, đào tạo nâng cao, đào tạo lại cho phù hợp với nhiệm vụ mới nhằm nâng cao chất lượng làm việc cho cán bộ công nhân viên.

     

    -Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu thị trường nhằm cung cấp những mặt hàng mà thị trường có nhu cầu lớn.

     

    – Tập trung thu hồi các khoản nợ phải thu, hạn chế bớt các khoản vốn bị

     

    77

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    khách hàng chiếm dụng.

     

    -Trả bớt các khoản nợ đối với ngân hàng nhằm giảm hệ số nợ, đảm bảo độc lập và an toàn tài chính.

     

    3.2 một số biện pháp chủ yếu góp phần phấn đấu tăng lợi nhuận tại công ty RTD .

     

    Theo phần lý luận ở chương I thì lợi nhuận của công ty chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. Do đó, để nâng cao lợi nhuận các công ty phải nghiên cứu tìm ra nhiều giải pháp thích hợp tác động vào từng nhân tố cụ thể. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và điều kiện cụ thể của mình, các công ty khác nhau thường có các giải pháp khác nhau. Đối với công ty Cổ Phần Phát Triển Công Nghệ Nông Thôn với đặc thù kinh doanh của mình có thể áp dụng các giải pháp sau:

     

    3.2.1 Tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

     

    Vấn đề tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng tới sự gia tăng lợi nhuận của công ty bởi vì doanh thu có cao thì lợi nhuận mới cao được. Do đó, để tăng lợi nhuận trước hết phải tăng doanh thu. Muốn tăng doanh thu, công ty cần tập trung vào một số biện pháp sau:

     

    3.2.1.1 Mở rộng và đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh.

     

    Có thể nói, đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh là một trong những chiến lược rất hiệu quả và được áp dụng khá phổ biến ở các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp chỉ kinh doanh một hoặc một số mặt hàng thì rất khó tăng doanh thu. Do đó, công ty phải không ngừng đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh, mở rộng kinh doanh nhiều mặt hàng mới nhằm tăng doanh thu.

     

    3.2.1.2 Đẩy mạnh công tác bán hàng.

     

    Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng. Khối lượng sản

     

    78

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    phẩm tiêu thụ có lớn thì doanh thu mới cao được và ngược lại khối lượng tiêu thụ nhỏ thì doanh thu không thể cao được.

    Công ty nên xây dựng tốt hệ thống dịch vụ sau bán hàng thì khả năng tiêu thụ hàng hoá sẽ được tăng nhanh.

     

    3.2.1.3 áp dụng các phương thứ thanh toán hợp lý.

     

    Công tác thanh toán tiền hàng cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng doanh thu bán hàng. nếu công ty chỉ duy trì mỗi hình thức thanh toán ngay bằng tiền mặt thì sẽ không khuyến khích được tiêu thụ hàng hoá và hàng hoá của công ty sẽ dễ bị ứ đọng. Vì vậy, công ty cần nghiên cứu, cân nhắc để có nhiều phương thức thanh toán thích hợp, lựa chọn phương thức thanh toán có hiệu quả nhất vừa tăng được doanh thu bán hàng, vừa đảm bảo thu hồi tiền hàng.

    Hiện nay, công ty thường áp dụng phương thức thanh toán chậm, cung cấp hàng trước thanh toán sau. Với phương thức thanh toán như vậy, sẽ làm cho vốn của công ty dễ bị chiếm dụng, trong khi đó bản thân công ty lại phải đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vì vậy, công ty nên có các phương thức thanh toán hợp lý như yêu cầu khách hàng trả tiền trước với một tỷ lệ nhất định, yêu cầu khách hàng đặt cọc, thế chấp,… nhưng cố gắng làm sao vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng và công ty vẫn có lợi trong hoạt động kinh doanh.

     

    3.2.1.4 Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường.

     

    Trong nền kinh tế thị trường việc sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào đều do thị trường quyết định. Mặt khác nhu cầu thị trường thường xuyên thay đổi cho nên doanh nghiệp nào linh hoạt điều chỉnh hoạt động kinh doanh phù hợp thì sẽ phát triển, ngược lại sẽ bị đào thải. Vì vậy công ty không thể xem nhẹ công tác nghiên cứu thị trường vì điều này sẽ giúp cho công ty thích nghi và thoả mãn nhu cầu thị trường.Công ty cần tập trung cho công tác này thông qua việc thành lập ban maketinh để thực hiện công tác nghiên cứu thị trường về chủng loại, giá cả, các yêu cầu dịch vụ kèm theo. Cần thực hiện tốt công tác hỗ trợ bán hàng, để thực

     

    79

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    hiện tốt cần đào tạo, nâng cao kiến thức về thị trường cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, đặc biệt là nhân viên bán hàng, nhân viên nghiên cứu thị trường. Hơn nữa nên thiết lập quan hệ chặt chẽ giữa ban maketinh và các phòng ban chuyên môn để xây dựng chiến lược tiêu thụ hàng hoá.

     

    3.2.2 Tăng cường công tác quản lý chi phí.

     

    Chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của công ty cho nên việc giảm các khoản chi phí đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận nếu các yếu tố khác không thay đổi. Qua phân tích ở chương II cho thấy chi phí hoạt động kinh doanh của công ty tăng quá cao. Do đó, để làm giảm chi phí trong năm tới công ty cần thực hiện các biện pháp sau:

     

    3.2.2.1. Lựa chọn nguồn cung cấp thích hợp.

     

    Công ty phải chủ động trong việc mua hàng đầu vào, cần có đội ngũ chuyên môn để nghiên cứu tìm hiểu thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để từ đó lựa chọn nguồn cung cấp tốt nhất với số lượng và giá cả phù hợp. Đội ngũ chuyên gia này phải am hiểu sâu về các lĩnh vực vật tư kỹ thuật, đồng thời phải am hiểu thị trường. Có như vậy công ty mới dễ dàng thẩm định được chất của các sản phẩm và xác định được giá mua hợp lý. Bởi trong điều kiện giá bán đầu ra không thay đổi, nếu giá mua đầu vào thấp hơn thì sẽ làm cho giá vốn hàng bán giảm đi.

     

    Chúng ta đều biết rằng trong giá vốn hàng bán bao gồm giá mua, chi phí mua và thuế nhập khẩu. Với những nhân tố mang tính khách quan thì công ty khó có thể thay đổi để giảm giá vốn. Nhưng công ty lại có thể chủ động giảm giá mua bằng cách tìm các nguồn hàng có giá mua thấp nhất. Ngoài ra công ty phải hết sức lưu ý đến chi phí mua. Đó là các khoản chi phí bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí bảo hành, chi phí bốc dỡ, bảo quản,…Công ty phải cân nhắc tính toán sao cho tổng giá mua và chi phí mua là thấp nhất. Tránh tình trạng công ty mua được hàng

     

    80

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    với giá mua rẻ nhưng các chi phí mua lại quá cao làm cho giá vốn tăng cao. Do đó, công ty cần lựa chọn địa điểm mua hàng, phương tiện vận chuyển, bảo quản hàng hoá sao cho tối thiểu hoá được chi phí.

     

    Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của việc hạ thấp chi phí, công ty nên có chế độ khen thưởng phù hợp với những cá nhân có sự nổ lực trong việc giảm chi phí cho công ty như tìm được nguồn hàng cung cấp với giá rẻ, phương tiện vận chuyển rẻ nhất, từ đó giúp họ nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc tiết kiệm chi phí.

     

    3.2.2.2 Tăng cường việc kiểm tra giám sát đối với việc sử dụng chi phí của công ty.

     

    Đối với các khoản chi tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,…là các khoản chi dễ bị sử dụng thiếu ý thức tiết kiệm, rơi vào tình trạng lãng phí hoặc lợi dụng làm việc tư. Vì vậy, công ty cần đề ra các nội quy quy định việc sử dụng các khoản chi phí này sao cho tiết kiệm nhất. Việc sử dụng phải đúng mục đích phục vụ cho công việc cua công ty. Bên cạnh đó công ty cần phải có các biện pháp nâng cao ý thức tiết kiệm cho toàn bộ công nhân viên trong quá trình sử dụng, mỗi cá nhân phải có ý thức tự góp phần vào lợi ích chung của công ty, không dùng phương tiện chung để phục vụ lợi ích riêng.

    Chi phí bằng tiền khác của công ty bao gồm : chi phí tiếp khách, chi phí quảng cáo, chi công tác phí, văn phòng phí, chi thủ tục hành chính,…chi phí bằng tiền tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá nhưng nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng chi phí sản xuất kinh doanh. Các khoản chi phí này rất dễ bị lạm dụng trong chi tiêu, chi tiêu quá định mức, quá kế hoạch, lợi dụng việc công chi cho việc tư. Vì vậy, công ty cần có biện pháp quản lý chặt chẽ. Trong điều kiện công ty ngày càng mở rông quy mô hoạt động và mở rộng quan hệ với các đối tác thì các khoản chi bằng tiền tăng lên là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, việc tăng các khoản chi phí này phải hợp lý, phục vụ cho các hoạt động của công ty, không được lãng phí. Do đó, công ty cần xem xét một cách kĩ lưỡng để xây dựng một định mức một cách cụ

     

    81

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    thể và thích hợp dựa trên nguyên tắc tiết kiệm nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong thời gian tới, các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh

    nghiệp, chi phí sản xuất chung công ty nên quản lý theo dự toán. bởi các khoản chi phí này rất khó xây dựng định mức. Để quản lý tốt các khoản chi này, công ty nên lập ra các bảng dự toán. các bảng này được xây dựng dựa trên số liệu thống kê kinh nghiệm của các thời kỳ trước để ấn định nội dung chi tiêu, ấn định khung chi tiêu cho từng khoản mục. Dựa theo bảng dự toán này, trong quá trình thực hiện công ty nên tiến hành cấp phát chi tiêu theo nội dung của bảng dự toán. dựa vào dự toán để xác minh các khoản chi phí vượt dự toán và ngoài dự toán, xác định các khoản chi phí không đúng nội dung và kém hiệu quả.

     

    3.2.3 Điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn hợp lý, giảm hệ số nợ.

     

    Hiện nay mọi doanh nghiệp đều phải tự hạch toán kinh doanh độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh , nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của công ty. Do vậy, việc trông chờ vào nguồn vốn của nhà nước là không thể. Vì vậy, trong thời gian tới để tăng vốn chủ sở hữu, giảm hệ số nợ công ty nên thực hiện các giải pháp sau :

     

    -Huy động vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên trong công ty theo các dự án, chương trình nhất định hay hình thức người lao động muốn làm việc tại công ty phải đóng góp một số vốn nhất định, từ đó góp phần làm tăng vốn lên, đồng thới nâng cao được ý thức tách nhiệm của người lao đông trong công ty. Tuy nhiên, hình thức này có những giới hạn nhất định bởi thu nhập của cán bộ công nhân viên hiện nay còn thấp và số lượng lao động của công ty không nhiều.

    -Tăng cường thu hồi các khoản nợ không để vốn bị khách hàng chiếm dụng quá lớn và lâu bởi một mặt công ty phải đi vay nợ để tài trợ cho nhu cầu vốn kinh doanh trong khi lại để khách hàng chiếm dụng vốn quá lớn và lâu như vậy là không hợp lý. Cho nên giảm bớt các khoản phải thu sẽ giải phóng một lượng vốn lớn cho công ty để tài trợ cho các nhu cầu vốn trong kinh doanh, hạn chế được vay nợ và có tiền để thanh toán các khoản nợ đối với khách hàng.

     

    82

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    -Cần có biện pháp quản lý chặt chẽ vốn bằng tiền, đặc biệt là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, phải có cách sở dụng đem lại hiệu quả.

     

    3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

     

    Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động công ty cần tập trung vào các biện pháp sau :

    -Đối với các khoản phải thu:

     

    do việc tiêu thụ theo đơn đặt hàng nên trong các hợp đồng ký kết thì công ty nên quy định rõ phương thức và thời hạn trả tiền cụ thể, các điều khoản vi phạm hợp đồng, thời hạn thanh toán và các điều kiện liên quan. Đồng thời công ty cần nghiên cứu để đưa ra các giải pháp thu hồi nợ đúng kỳ hạn đồng thời vẩn giữ được các mối quan hệ tốt đẹp với bạn hàng. công ty nên cử cán bộ chuyên trách khâu thu hồi nợ, thường xuyên theo dõi, kiểm tra và đốc thúc thu hồi nợ.

    Bên cạnh đó là những khoản nợ quá hạn khó đòi thì cần có biện pháp thường xuyên theo dõi, đôn đốc để thu hồi nợ đúng kỳ hạn. quy định những khoản trong một thời hạn nhất định, nếu quá hạn thì chủ nợ phải chịu phạt bằng cách tính theo lãi vay nhất định. nếu khách hàng vẩn dây dưa không chịu trả nợ thì công ty có thể áp dụng các biện pháp cứng rắn nếu thấy cần thiết. Những khoản nào không có khả năng thu hồi thì công ty có thể xoá sổ để khỏi tốn kém chi phí theo dõi, quản lý. Việc thu hồi nợ nhanh chóng sẽ giúp cho công ty quản lý đơn giản hơn, giảm được các khoản chi phí phát sinh trong quá trình quản lý nợ, đồng thời làm cho việc sử dụng vốn linh hoạt hơn và hiệu quả hơn.

     

    -Định kỳ tiến hành kiểm kê, kiểm soát để đánh giá chính xác số vốn lưu động hiện có để kịp thời điều chỉnh những chênh lệch giữa thực tế và sổ sách kế toán.

    -Do công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ nên công ty cần phải lưu ý mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý tránh tình trang lưu trữ quá nhiều dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn. đảm bảo mức dự trữ hàng hoá hợp lý và phải có biện pháp quản lý tốt hàng tồn kho, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa.

    Ngoài ra, công ty cần nghiên cứu để có nhiều giả pháp thích hợp nhằm nâng

     

    83

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    cao mọi mặt hoạt động của công ty.

     

    3.3. Một số kiến nghị.

     

    Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực trạng hoạt động của công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn trong hai năm qua cùng với những giải pháp đã đưa ra, là sinh viên thực tập tại công ty em xin mạnh dạn đề xuất một số ý kiên sau:

     

    – Công ty nên xác định tỷ lệ vốn lưu động theo phần trăm doanh thu.

     

    Công ty nên tính toán số vốn lưu động cần thiết hiện nay cho thích hợp. Trên cơ sở đó, dựa vào khả năng tăng doanh thu dự báo trong năm để tính toán xác định nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho năm tới, tránh tình trạng xác định vốn lưu động quá cao gây nên tình trạng ứ đọng vốn hoặc vốn lưu động quá thấp không đáp ứng yêu cầu trong kinh doanh.

     

    -Công ty nên xây dựng một chính sách tín dụng thương mại một cách có hiệu quả. chính sách tín dụng thương mại này một mặt phải kích thích được tiêu thụ hàng hoá, tăng doanh thu đồng thời vẩn đảm bảo cho công ty thu hồi nợ đùng kỳ hạn và tạo nên mối quan hệ mật thiết với các khách hàng mua sản phẩm của công ty.

     

    -Cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty. Hệ thống chỉ tiêu này nên xây dựng một cách đơn giản, dễ hiểu đồng thời vẩn phản ánh chính xác, đầy đủ tình hình tài chính của công ty. Hàng năm, công ty nên thực hiện tính toán đánh giá váo cuối mỗi quý, 6 tháng hoặc cuối năm để đánh giá chính xác tình hình tài chính của công ty.

     

    -Công ty nên xây dựng kế hoạch tài chính ngắn hạn. kế hoạch tài chính này phải sát với hoạt động thực tế của công ty , đảm bảo cho công ty chủ động trong mọi hoạt động, không bị động trong các hoạt động tài chính.

     

    -Công ty nên đánh giá rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh thông qua các hệ số về khả năng thanh toán, mức độ tác động của đòn bẩy tài chính. Có như vậy công ty mới chủ động trong mọi hoạt động, hạn chế được rủi ro trong kinh doanh và chủ động phòng tránh rủi ro.

     

     

    84

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

     

    KÊT LUẬN

     

    Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính cảu doanh nghiệp. Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc. ý thức được tầm quan trọng của chỉ tiêu lợi nhuận, mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đều phấn đấu hết mình vì mục tiêu lợi nhuận.

     

    Trong thời gian qua C«ng ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn đã có nhiều cố gắng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phấn đấu tăng lợi nhuận và nâng cao đời sống mọi mặt cho cán bộ công nhân viên. quy mô hoạt động và vị thế của công ty trên thị trường ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty còn gặp nhiều khó khăn và còn nhiều vấn đề hạn chế cần giải quyết tốt hơn trong thời gian tới. Hy vọng với tiềm lực hiện có và sự nỗ lực có gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty sẽ không ngừng lớn mạnh và trưởng thành trong nền kinh tế thị trường.

     

    • thức được vai trò quan trong của lợi nhuận, sau một thời gian thực tập tại công ty và được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của tiến sĩ Bùi Văn Vần, em đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp “Lợi nhuận và các giả pháp phấn đấu tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển Công Nghệ Nông Thôn”.

    Đề tài đã đi vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý thuyết lợi nhuận và phân tích một cách khái quát tình hình tài chính của công ty trong hai năm 2003 và 2004, đặc biệt là việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của công ty trong hai năm qua. đồng thời, qua bài viết em đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để công ty xem xét, nghiên cứu nhằm góp phần tăng lợi nhuận cho công ty trong thời gian tới.

     

    85

     

    Luận văn tốt nghiêp

     

    ==============================================================

    Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thấy cô giáo, các cô chú trong công ty để bài viết của em hoàn thiện hơn.

     

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phòng tài chính kế toán của công ty đã giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo – Tiến sĩ Bùi Văn Vần đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.

     

    Hà nội, ngày 25 tháng 4 năm 2005

     

    Sinh viên

     

    Nguyễn Thị Nga

     

     

     

     

     

     

    86


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÁO CÁO TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HOÀNG HƯNG

    BÁO CÁO TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HOÀNG HƯNG

    BÁO CÁO TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HOÀNG HƯNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%81O-C%C3%81O-T%E1%BB%90T-NGHI%E1%BB%86P-X%C3%81C-%C4%90%E1%BB%8ANH-K%E1%BA%BET-QU%E1%BA%A2-KINH-DOANH-V%C3%80-PH%C3%82N-PH%E1%BB%90I-L%E1%BB%A2I-NHU%E1%BA%ACN-T%E1%BA%A0I-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-T%C6%AF-NH%C3%82N-HO%C3%80NG-H%C6%AFNG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÁO CÁO TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HOÀNG HƯNG

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    ********

             Từ khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thì đời sống nhân dân ta ngày càng phát triển và trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có những chuyển biến đang kể cùng những thắng lợi to lớn và tốc độ tăng trưởng nhảy vọt. Hiện nay nước ta bước dần vào thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước đã khuyến khích các loại doanh nghiệp mạnh dạng đầu tư vào sản xuất. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, hợp tác liên doanh với Việt Nam. Do đó công tác kế toán có một vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp và trở thành trung tâm cung cấp thông tin,không những cho các doanh nghiệp, cho nhà nước mà còn cho các đơn vị quan tâm đầu tư. Qua đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoàn thiện công tác hoạch toán kế toán của mình và tự tìm thị trường tiêu thụ.

             Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là thu lợi nhuận. Muốn biết đươc lãi, lỗ thì doanh nghiệp phải xác định kết quả kinh doanh sau một chu kỳ sản xuất của sản xuất nhằm rút ra được kinh nghiệm cho năm sau, định hướng được tiêu thụ sản xuất các sản phẩm kinh doanh,xác thực với thị trường hiện tại.

             Mục đích nghiên cứu kết quả kinh doanh là để doanh nghiệp biết được phần chi phí bỏ ra trong một quá trình sản xuất sản phẩm, trong một thời gian nhất định để thu được kết quả cuối cungflaf kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định và biết được lãi, lỗ giúp doanh nghiệp đè ra phương hướng cách giải quyết cho thời gian tới nên kinh doanh như thế nào cho tốt hơn và tìm kiếm thị trường tiêu thụ nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.

            Phương pháp nghiên cứu kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh.

            Nghiên cứu chi tiết từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

            Phương pháp xác định lãi tháng trước thuế và kết chuyển khi kết thúc kỳ kế toán.

            Nghiên cứu nội dung phân phối kết quả kinh doanh. Phương pháp kế toán tổng hợp kết quả kinh doanh và phân phối kết quả kinh doanh.

            Phương pháp kế toán phân phối kết quả kinh doanh trích lập các quỹ, phân chia cho các bên tham gia liên doanh các cổ đông.

            Đặc biệt đối với DNTN Hoàng Hưng là loại hình chuyên cung cấp các loại bánh, kẹo thì kết quả hoạt động KD và việc phân phối kết quả kinh doanh của DN đóng vai trò rất quan trọng, nó góp phàn làm cho DN biết rõ thêm hiệu quả kinh doanh để tiếp tục tạo lợi nhuận nhiều hơn và đưa kết quả cao hơn.

           Được tiếp nhận thực tập tại DNTN Hoàng Hưng, với khả năng hiểu biết của em trong quá trình học tập và làm việc từ những kiến thức đã học kết hợp với tình hình thực tế tại DN. Bản thân muốn trình bày suy nghĩ về vấn đề nayftrong chuyên đề tốt nghiệp của em từ đó đưa ra những nhận xét đứng trên góc độ là một DN hướng tới thị trường. Do kiến thức còn non trẻ chưa có kinh nghiệm nên đề tài còn nhiều sai xót và chưa hoàn chỉnh tới mức độ tối đa. Em rất mong sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của thầy, cô và các cô, chú anh, chị ở DNTN Hoàng Hưng.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN I:

    Giới Thiệu Về Doanh Nghiệp Tư Nhân Hoàng Hưng.

    A.Quá trình hình thành và phát triển của Doanh Nghiệp:

              Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Hưng đăng ký kinh doanh vào ngày 07/11/2002 theo số 5201000477 tại phòng đăng ký kinh doanh của sổ kế hoạch và đầu tư An Giang và mã số thuế tỉnh An Giang.

              Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Hưng là một doanh nghiệp tư nhân, hoạch toán độc lập và có đủ tư cách pháp nhân, cơ sơ vật chất ban đầu khi mới tiếp nhận còn rất nhiều khó khăn nhưng với tinh thần nổ lực, đoàn kết trí tuệ và sự sáng suốt của chủ Doanh Nghiệp đã dần dần đưa Doanh Nghiệp đi lên và có chổ đứng vững chắc trên thị trường, cho thấy Doanh Nghiệp kinh doanh mang lại hiệu quả cao.                                                                                                                                  

    – Tên cơ sở: DNTN Hoàng Hưng.                                                                                         

    – Tên giao địch: DNTN Hoàng Hưng

    –  Địa chỉ: 130 Lê Minh Ngươn,phường.Mỹ Long. TPLX.An Giang.

    – Điện thoai: 0763844049.

    – Fax: 076387741.

    – Ngành nghề kinh doanh: Mua bán sữa và các sản phẩm từ sữa(51241-512410), bánh, mức, kẹo, mì ăn liền, trà đường, café (51249-512490), đồ uống, nước ngọt, nước khoáng, nước tinh khiết (51251-512510), đồ uống có cồn(rượu,bia) (51252-512520).

    – Vốn điều lệ: 372450000 đồng, trong đó tiền mặt là 200000000 đồng, còn lại là hiện vật với trị giá 172450000 đồng.

    – Chủ doanh nghiệp: Hoàng Minh Phương.

    – Sinh ngày: 12/05/1959.

    – CMND: 351268376, ngày cấp 28/04/1994, tại công An Giang.

    – Nơi ĐKHKTT: số 21/10. khóm An Giang, p.Mỹ Thới, TPLX,An Giang.

    B. Chức Năng, Nhiệm Vụ:

    I.Chức năng:

    Chuyện cung cấp hàng hóa, thực phẩm các loại phục vụ cho mọi tầng lớp trong xã hội.

    Doanh nghiệp hoạt động theo chế độ kế toán tự trách nhiệm, có đủ tư cách pháp nhân.

      1.Nhiệm vụ:

    • Hoàn thành đúng thời gian yêu cầu của khách hàng.
    • Phát triển và năng cao cơ sở khoa học kỷ thuật sao cho phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội.
    • Quản lý tốt cán bộ công nhân viên viên chức, chống tham ô, lãng phí chấp hành tốt các chế độ kế toán, chính sách của Nhà Nước.

     2.Quyền Hạn:

    • Chủ động ký kết hợp đồng với các Doanh Nghiệp, các thương gia trong và ngoài địa phương. Tạo nguồn vốn kinh doanh thông qua hình thức đầu tư và vay vốn ngân hàng.
    • Mục tiêu:
    • Xây dựng các phương thức kinh doanh linh hoạt.
    • Đẩy mạnh quan hệ với khách hàng để gia tăng số lượng hợp đồng.

     II. Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức Quản Lý Của Doanh Nghiệp:

    1.Cơ Cấu Bộ Máy Tổ Chức Của Doanh Nghiệp:

    Là Doanh Nghiệp Tư Nhân theo cấu trúc mô hình “ vừa và nhỏ” hạch

    toán một cách độc lập nên Doanh Nghiệp Tư nhân Hoàng Hưng có cấu bộ máy giản đơn sơ đồ sau:

    Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức:

     

     
     

    GIÁM ĐỐC

     

     

    NV GIAO HÀNG

    THỦ QUỶ

    KẾ TOÁN

    2.Nhiệm Vụ Các Phòng:

    • Giám Đốc: Điều hành trực tiếp các hoạt động của Doanh Nghiệp, phụ trách công tác đối ngoại, ký kết hợp đồng mua bán. Trực tiếp chịu trách nhiệm với cơ quan chủ quản, với nhà nước và toàn thể cán bộ công nhân viên về hoạt động kinh doanh của Doanh Nghiệp.
    • Phó Giám Đốc: Là người chịu sự quản lý của giám đốc Doanh Nghiệp là một công sự giúp đỡ cho Giám Đốc trong một số trường hợp đặc biệt liên quan đến quá trình hoạt động của Doanh Nghiệp thì phó Giám Đốc có quyền thay thế, điều hành mọi hoạt động của Doanh Nghiệp.
    • Tham mưu cho Giám Đốc, soạn thảo, triển khai thực quy chế của Doanh Nghiệp, sắp xếp, phân công theo từng nhiệm vụ thích hợp.
      • Giám sát Bán Hàng:
    • Giám sát, theo dõi tiến độ làm việc của nhân viên bán hàng.
    • Kiểm tra đôn đốc quá trình làm việc cua nhân viên bán hàng.
    • Tìm hiểu, khảo sát thị trường để hỗ trợ nhân viên bán hàng.
    • Lên kế hạch chỉ tiêu doanh số cho từng nhân viên.
    • Kiểm hàng và lên kế hạch đặt hàng.
    • Tổng kết báo cáo, các chương trình khuyến mại và đề xuất những chương trình mới.
      • Kế toán:
    • Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám Đốc xem xét và quản lý những vấn đề liên quan đến sổ sách kế toán và các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra tổ chức tính toán ghi chép, phản ánh chính xác kịp thời tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, tiền vốn của Doanh Nghiệp, vốn cho các hoạt động khác, lập đầy đủ và đúng hạn của báo cáo tài chính. Đảm bảo yêu cầu của chế độ báo cáo theo mẫu thông nhất, nói lên thông tin cập nhật cần thiết.
    • Theo dõi thu hồi công nợ kịp thời, đầy đủ chính xác, không để thất thoát tài sản của Doanh Nghiệp.
    • Tổ chức kiểm kê cân đối tiền hàng, nghiên cứu vận dụng các cơ sở tài chính kế toán, thống kê, đề xuất các biện pháp hạn chế khó khăn, vạch ra các phương án tổ chức trong lĩnh vực tài chính kế toán.
      • Nhân Viên bán hàng:
    • Trực tiếp bán hàng và xuất sản phẩm cho khách hàng theo yêu cầu.
      • Thủ quỷ:
    • Có nhiêm vụ vô sổ quỷ, báo cáo và rút số dư hàng ngày.
    • Thu chi khi có chứng từ hợp lệ.
      • Thủ kho:
    • Là người quản lý, theo dõi, ghi chép tình hình xuất nhập tồn của hàng hóa.
      • Nhân viên giao hàng:
    • Có nhiệm vụ giao hàng hóa cho khách hàng.

    3.Hình thức kế toán của Doanh Nghiệp:

    • Doanh nghiệp Tư Nhân Hoàng Hưng đang thực hiện chế độ sổ sách kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính, áp dụng chế độ kế toán dành cho Doanh Nghiệp “vừa và nhỏ” theo quy định.
    • Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng,biểu thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán.
    • Theo quy định của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái hoặc Nhật ký-Sổ Cái) và các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.Cuối tháng (hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khóa sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài chính. Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đã được nhập trong kỳ. Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy.
    • Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo quy định.
    • Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay.

     

    SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN TRÊN MÁY VI TÍNH

     

     

     ] Ghi chú:

     

    :   Nhập số liệu hàng ngày.

     

    :   In sổ, báo cáo cuối tháng, cuối năm.

     

    :   Đối chiếu, kiểm tra.

         

     

           
         
     
       
     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

      

     

     

     

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN

     

                                                                       –    —

     

    I. KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM:

     1. Điều kiện ghi nhận doanh thu và nguyên tắc hạch toán doanh thu:

    1. Khái niệm:

           Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sỏ hữu. Nói cách khác,doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được từ hoạt động bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng hóa mua vào, nhằm bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    1. Điều kiện ghi nhận doanh thu:

          Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện sau:

             >  Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.

             >  Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

             >  Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

             >  Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

             >  Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

    1. Nguyên tắc hạch toán doanh thu:

         *  Phản ánh donh thu của sản phẩm, hàng hóa đã bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ trong kỳ không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền.

         *  Ghi nhận doanh thu:

             –  Giá bán chưa thuế GTGT ( đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế).

             –  Tổng giá thanh toán ( đối với DN nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, doanh nghiệp nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu).

         *  Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp: ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu.

         *  Trường hợp nhận bán hàng đại lý theo phương thức bán đúng giá hưởng hoa hồng: ghi nhận doanh thu là hoa hồng bán hàng đại lý được hưởng.

         *  Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì chưa được coi là tiêu thụ và không được ghi vào TK “Doanh thu“ mà chỉ ghi vào bên có TK 131 “phải thu khách hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng. Khi giao hàng cho người mua thì mới ghi vào TK “doanh thu”.

         *  Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa, dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.

         *  Không hoạch toán vào TK “doanh thu” các trường hợp sau:

             –  Trị giá vật tư, hàng hóa, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chế biến.

             –  Trị giá sản phẩm, bán thành phẩm, dịch vụ cung cấp giữa các đơn vị thành viên trong cùng một công ty, tổng công ty hoạch toán toàn ngành.

             –  Trị giá sản phẩm, hàng hóa đang gửi bán, dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được người mua chấp nhận thanh toán.

             –  Trị giá hàng gửi bán theo phương thức bán đại lý, ký gửi nhưng chưa bán được.

             –  Các khoản thu nhập khác không được coi là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.

         *  Khoản tiền mà người bán giảm trừ cho người mua do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng ( chiết khấu thanh toán ) không được ghi giảm doanh thu mà được coi là chi phí tài chính.  

    1. Các khoản làm giảm doanh thu:

         *  Chiết khấu thương mại: là khoản tiền mà DN đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho những khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

       –  Nếu mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua được hưởng chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại được ghi giảm trừ vào Hóa đơn GTGT hoặc Hóa đơn báng hàng lần cuối.

      –  Chiết khấu thương mại lớn hơn số tiền bán hàng ghi trên hóa đơn lần cuối: chi tiền chiết khấu thương mại cho người mua.

      – Giá bán trên hóa đơn là giá đã trừ chiết khấu thương mại: khoản chiết khấu thương mại này không được hoạch toán vào TK 521 “chiết khấu thương mại”.

      –  Trong kỳ chiết khấu thương mại thực tế phát sinh được phản ánh vào bên nợ TK 521. Cuối kỳ, khoản chiết khấu thương mại được kết chuyển sang TK 511 để xác định doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thực tế thực hiện trong kỳ hạch toán.

       *  Doanh thu hàng bán bị trả lại: là giá trị hàng bán đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

       *  Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

    2. Chứng từ sử dụng:

       Hóa đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL): dùng cho các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

       Hóa đơn bán hàng (mẫu 02-GTTT-3LL): dùng cho các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.

       Hóa đơn đặc thù: dùng cho các doanh nghiệp đề nghị và đã được bộ tìa chính chấp nhận bằng văn bản cho phếp sử dụng hóa đơn đặc thù như vé xe, vé tàu…

       Ngoài các chứng từ trên, hạch toán chi tiết tiêu thụ còn sử dụng các bản kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi và sổ chi tiết bán hàng.

    3.Tài khoản sử dụng:

    TK 511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”

     

     – Thuế TTĐB, thuế XK, và thuế GTGT      – Doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.

    theo PP trực tiếp phải nộp.

    – CKTM kết chuyển cuối kỳ.

    – Giảm gía hàng bán kết chuyển cuối kỳ.

    – Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển

    cuối kỳ.

     – Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911

                  Tổng phát sinh                                                 Tổng phát sinh

     

    TK 521 “Chiết khấu tương mại”

     

    – Khoản chiết khấu thương mại đã chấp nhận  – Kết chuyển số chiết khấu thương mại vào

    thanh toán cho khách hàng.                              TK 511 để xác định doanh thu thuần cuối  

                                                                               kỳ kế toán.

                   Tổng phát sinh                                                Tổng phát sinh

     

    TK 531 “Doanh thu hàng bán bị trả lại”

    – Doanh thu của hàng bán bị trả lại phát sinh   – Kết chuyển doanh thu hàng bán bị trả lại trong kỳ.                                                           sang TK 511 để xác định doanh thu thuần                                             

                                                                             cuối kỳ kế toán.

                  Tổng phát sinh                                                 Tổng phát sinh

     

    TK 532 “Giảm giá hàng bán”

    – Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp nhận   – Kết chuyển số tiền giảm giá hàng bán cho khách hàng phát sinh trong kỳ.                  vào TK 511 để xác định doanh thu thuần

                                                                              cuối kỳ kế toán.

                  Tổng phát sinh                                                 Tổng phát sinh

     

    4. Phương pháp hạch toán. (Kế toán thuế GTGT theo PP khấu trừ)

    1. Kế toán bán hàng trực tiếp:

    – Khi bán sản phẩm hàng hóa, căn cứ hóa đơn GTGT hay hóa đơn bán hàng, kế toán ghi:

               Nợ TK 111,112,131                  tổng giá thanh toán.

                      Có TK 511                                 Giá bán chưa thuế GTGT

                      Có TK 3331                                Thuế GTGT đầu ra phải nộp

      Phản ánh giá vốn của thành phẩm đã bán:

               Nợ TK 632

                      Có TK 155

    – Khi chấp nhận khoản chiết khấu thương mại, giảm giá cho khách hàng ghi:

               Nợ TK 521,532

               Nợ TK 3331

                      Có TK 111,112,131

    – Trường hợp hàng bán bị trả lại, ghi:

       + Phản ánh doanh thu hàng bán bị trả lại:

               Nợ TK 531

               Nợ TK 3331

                      Có TK 111,112,131

       + Phản ánh giá vốn của thành phẩm bị trả lại (nhập kho, còn gửi tại bên mua):

               Nợ TK 155,157

                      Có TK 632

    – Cuối kỳ, kết chuyển các khoản chiết thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ, ghi:

               Nợ TK 511,512

                      Có TK 521,531,532

    1. Kế toán bán hàng thông qua các đại lý hoặc gửi hàng đi bán:

      Theo phương thứ này, đơn vị bán sẽ gửi hoặc tự chuyển thành phẩm, hàng hóa, lao vụ dịch vụ cho người mua, người nhận đại lý theo sự thỏa thuận giữa đôi bên.

      Hàng hóa, thành phẩm xuất kho gửi đi bán chưa được xem là tiêu thụ, chỉ khi nào khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán mới được xem là tiêu thụ.

     Trình tự hạch toán:

        – Khi xuất kho thành phẩm, hàng hóa gửi đi bán:

               Nợ TK 157

                     Có TK 154,155,156

       –  Khi hàng được xem là tiêu thụ:

         + Ghi doanh thu:

               Nợ TK 111,112,131                 Giá có thuế GTGT

                     Có TK 511                               Giá chưa thuế GTGT

                     Có TK 3331                             Thuế GTGT phải nộp

         + Ghi giá vốn:

                Nợ TK 632

                      Có TK 157

    –  Trường hợp hàng cho đại lý bán, sau đó xác định số hàng bán được, ghi:

                 Nợ TK 111,112,131             giá có thuế GTGT

                       Có TK 511                          giá chưa thuế GTGT

                        Có TK 3331                       thuế GTGT phải nộp

              Phản ánh hoa hồng cho đại lý:

                 Nợ TK 641

                 Nợ TK 133                          thuế GTGT (nếu có )

                       Có TK 131,111,112

              Hoặc ghi:

                 Nợ TK 111,112                   ( số tền thực nhận )

                 Nợ TK 641                          ( hoa hồng đại lý )

                 Nợ TK 133              thuế GTGT được khấu trừ (tính trên hoa hồng đại lý nếu có.

                       Có TK 511                    giá bán chưa thuế

                       Có TK 3331                   thuế GTGT đầu ra ( tính trên gía bán chưa thuế )

              Đồng thời phản ánh giá vốn Có TKủa số thành phẩm được đại lý tiêu thụ:

                 Nợ TK 632

                        Có TK 157

    1. Kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp: 

           Khi bán hàng trả chậm, trả góp phản ánh số tiền thu lần đầu và số tiền phải thu ghi:

                 Nợ TK 111,112           số tiền thu lần đầu

                 Nợ TK 131                 số tiền còn phải thu

                        Có TK 511               giá bán trả ngay chưa thuế

                        Có TK 3331             thuế GTGT phải nộp

                        Có TK 3387             chênh lệch giữa giá bán và giá bán trả ngay

                 Đồng thời phản ánh giá vốn Có TKủa số thành phẩm tiêu thụ:

                         Nợ TK 632

                               Có TK 155,156

           Khi thu tiền bán hàng lần tiếp theo, ghi:

                 Nợ TK 111,112

                        Có TK 131

             Đồng thời kết chuyển lãi trả chậm:

                    Nợ TK 3387

                          Có TK 515

    1. Kế toán trao đổi thành phẩm: (trao đổi hàng không tương tự).

         Giá vốn hàng mang đi trao đổi:

               Nợ TK 632

                      Có TK 155

         Doanh thu hàng mang đi trao đổi:

               Nợ TK 1314

                     Có TK 511

                     Có TK 3331

         Giá trị hàng nhận lại:

               Nợ TK 152,153,156,..

               Nợ TK 133

                     Có TK 131

         Thanh toán bù trừ giữa các bên trao đổi hàng không tương tự:

    1. Các trường hợp khác:   

           Doanh thu bán hàng nội bộ:  Phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp

              –  Tiêu thụ Nợ TKội bộ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty, (hạch toán tương tự như sử dụng sản phaamrtrong các trường hợp quảng cáo, biếu tặng,…)

              –  Trả lương cho công nhân viên bằng sản phẩm, hàng hóa:

                        Nợ TK 334

                              Có TK 512 

                              Có TK 3331

    –  Khi chuyển hàng hóa, thành phẩm thành tài sản cố định:

               Nợ TK 211           giá vốn

                      Có TK 155,156,154

    –  Sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để biếu tặng, khuyến mãi, quảng cáo không thu tiền:

        +  Sản phẩm, hàng hóa xuất biếu tặng, khuyến mãi, quảng cáo, phục vụ cho hoạt động SXKD chịu thuế GTGT (chỉ ghi trên hóa đơn dòng giá thanh toán theo giá thành hoặc giá vốn, bỏ dòng thuế suất)

               Nợ TK 641,642

                      Có TK 512

        +   Nếu sản phẩm, hàng hóa xuất biếu tặng, khuyến mãi, quảng cáo, phục vụ cho hoạt động SXKD không chịu thuế GTGT thì DN phải lập hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng ghi đầy đủ các chỉ tiêu như bán hàng cho khách hàng:

                Nợ TK 641,642

                       Có TK 512

                       Có TK  3331

        +   Nếu sản phẩm hàng hóa biếu tặng được trang trải bằng quỹ khen thưởng phúc lợi:       Nợ TK 431

                       Có TK 512

                       Có TK 3331

    1. Cuối kỳ:
    • Kết chuyển các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ, ghi:

                                Nợ TK 511,512

                                       Có TK 521,531,532

    • Xác định số thuế GTGT được khấu trừ để tính số thuế GTGT phải nộp trong kỳ đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, ghi:

                 Nợ TK 3331

                        Có TK 133

    • Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì số thuế GTGT phải nộp trong kỳ ghi:

                 Nợ TK 511

                         Có TK 3331

    • Đối với những đối tượng chịu thuế TTĐB, thuế xuất khẩu thì số phải nộp trong kỳ ghi:

                 Nợ TK 511

                        Có TK 3332,3333

    • Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả kinh doanh:

                 Nợ TK 511,512

                        Có TK 911

    DT thuần = DT bán hàng – (các khoản làm giảm DT + thuế TTĐB, thuế XK, thuế GTGT theo pp trực tiếp)

     

    II. KẾ TOÁN DOANH THU HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ CHI PHÍ TÀI CHÍNH:

     1.  Kế toán doanh thu hoạt động tài chính:

    1. khái niệm:Là những khoản doanh thu do hoạt động đầu tư tài chính mang lại như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.

         Tiền lãi: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp như: lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán,…..,

         Tiền bản quyền: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tài sản như: bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm máy vi tính,…,
         Cổ tức và lợi nhuận được chia: là số tiền lợi nhuận được chia từ việc nắm giữ cổ phiếu hoặc góp vốn.

         Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác: thu nhập về hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán, chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, thu nhập về chuyển nhượng cho thuê cơ sở hạ tầng,…

    1. Nguyên tắc hạch toán:

       –  DT hoạt động tài chính được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau:

    • Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó.
    • DT được xác định tương đối chắc chắn.

          –  DT từ tiền lãi, tiền bản quyền,  Có TKổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận trên cơ sở:

    • Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ.
    • Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng.
    • Cổ tức và lợi nhuận được chia ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ góp vốn.

          –  Giá trị ghi nhận DT hoạt động tài chính:

    • Đối với hoạt động mua bán chứng khoán, bán ngoại tệ: DT được ghi nhận theo phần chênh lệch lãi (giá bán – giá gốc) của các loại chứng khoán hay ngoại tệ.
    • Đối với hoạt động bán bất động sản đầu tư, doanh thu được ghi nhận theo giá bán bất động sản.
    • Bán hàng trả chậm, trả góp: phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay được xem là lãi do bán trả chậm, trả góp và ghi nhận vào doanh thu chưa thực hiện và phân bổ dần vào doanh thu tài chính theo kỳ hạn thanh toán.
    • Khi tiền lãi chưa thu được của một khoản đầu tư dồn tichstrwowcs khi doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư đó, thì khi thu được tiền lãi từ khoản đầu tư, doanh nghiệp phải phân bổ vào cả các kỳ trước khi nó được mua, chỉ có tiền lãi của các kỳ sau khi khoản đầu tư mới mua được ghi nhận là doanh thu tài chính của doanh nghiệp. Phần tiền lãi của các kỳ trước khi khoản đầu tư được mua hạch toán giảm giá trị của chính khoản đầu tư đó.
    1. Tài khoản sử dụng:

    TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính

    –  Số thuế GTGT phải nộp tính theo PP trực      –  Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh tiếp.                                                                   trong kỳ.

    –  Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính

    thuần sang TK 911.

     

                Tổng phát sinh                                                 Tổng phát sinh

    TK 515 không có số dư.

    1. Phương pháp hạch toán:

    –  Lãi tín phiếu, trái phiếu, cổ tức, lợi nhuận được chia từ hoạt động góp vốn cổ phần, liên doanh,….

                  Nợ TK 121,228,222,223      Dùng lãi bổ sung mua trái phiếu, cổ phiếu, góp vốn.

                  Nợ TK 111,112                    Nhận lãi bằng tiền.

                  Nợ TK 131                      Nhận thông báo về lãi được hưởng nhưng chưa thu tiền.

                         Có TK 515

    –  Lãi chuyển nhượng chứng khoán đầu tư ngắn hạn, dài hạn.

                  Nợ TK 111,112,131            Giá thanh toán.

                         Có TK 121,228              Giá vốn.

                         Có TK 515                       Lãi bán chứng khoán.

    –  Định kỳ, tính toán lãi cho vay phải thu trong kỳ theo khế ước vay:

                 Nợ TK 111,112                     Nếu thu tiền ngay.

                 Nợ TK 131                            Nếu chưa nhậ tiền.

                        Có TK 515                     

    –  Lãi tiền gửi: Nợ TK 112

                                  Có TK 515

    –  Hàng kỳ, tính, xác định và kết chuyển lãi bán hàng trả chậm, trả góp vào doanh thu tài chính:             Nợ TK 3387

                                  Có TK 515

    –  Chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn, được người bán chấp nhận:      Nợ TK 331

                                                    Có TK 515

    –  Doanh thu cho thuê cơ sở hạ tầng:  Nợ TK 111,112,131

                                                                      Có TK 515   Nếu thu theo từng kỳ hạn cho thuê.

                                                                      Có TK 3331

    –  Doanh thu chịu thuế GTGT theo PP trực tiếp, cuối kỳ tính thuế GTGT phải nộp đối với hoạt động tài chính:   Nợ TK 515

                                              Có TK 3331

    –  Cuối kỳ, kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang TK 911.

                  Nợ TK 515

                         Có TK 911

    2. Kế toán chi phí tài chính:

    1. Khái niệm: là những chi phí và những khoản lỗ liên quan đến hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính bao gồm:

    –  Lỗ chuyển nhượng chứng khoán, chi phí giao dịch bán chứng khoán.

       –  Chi phí góp vốn liên doanh, liên kết.

       –  Chi phí cho vay và đi vay vốn.

       –  Lỗ do bán ngoại tệ, lỗ chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

       –  Chiết khấu thanh toán chấp thuận cho khách hàng được hưởng.

       –  Chi phí đất chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định là tiêu thụ.

       –  Khoản lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán

       –  Chi phí và lỗ về các hoạt động đầu tư khác,…

    1. Nguyên tắc hạc toán:

       –  Đối với hoạt động mua bán chứng khoán, ngoại tệ: ghi nhận vào chi phí tài chính phần chênh lệch lỗ (do giá bán thấp hơn giá gốc) của các loại chứng khoán hay ngoại tệ.

       –  Đối vơi hoạt động bán bất động sản đầu tư: ghi nhận vào chi phí tài chính toàn bộ giá trị (giá gốc) của bất động sản đã bán.

       –  Kết thúc hoạt động liên daonh, vốn góp liên doanh không thu hồi đủ phải ghi nhận vào chi phí tài chính trong kỳ.

       –  Lãi đi vay vốn được ghi nhận vào chi phí tài chính trên cơ sở thời gian và lãi suất từng kỳ, không phân biệt khoản lãi đi vay do thực tế doanh nghiệp đã thanh toán tiền cho bên vay hay chưa. 

    1. Tài khoản sử dụng:

    TK 635 “Chi phí tài chính”

    – Các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên    – Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư

    quan đến hoạt động tài chính phát sinh          chứng khoán.

    trong kỳ.                                                          – Kết chuyển chi phí tài chính và các khoản

                                                                            lỗ về hoạt động tài chính sang TK 911

                 Tổng phát sinh                                               Tổng phát sinh

    TK 635 không có số dư cuối kỳ.

    1. Phương pháp hạch toán:

     –  Lỗ chuyển nhượng chứng khoán:

            Nợ TK 111,112,131                 Giá thanh toán.

            Nợ TK 635                                Lỗ bán chứng khoán.

                   Có TK 121,228,..                Giá vốn.

    –  Chi phí giao dịch bán chứng khoán, chi phi phát sinh trong quá trình góp vốn liên doanh, liên kết:   Nợ TK 635

                                       Có TK 111,112,141,…

    –  Kết thúc hoạt động liên doanh, liên kết, vốn không thu hồi đủ.

                 Nợ TK 635

                       Có TK 222,223

    –  Chi phí đi vay vốn ghi nhận vào chi phí SXKD trong kỳ phát sinh (trừ trường hợp chi phí đi vay được vốn hóa theo quy định)

               Nợ TK 635

                     Có TK 111,112,142,242…

    –  Định kỳ, tính vào chi phí tài chính số lãi trả chậm, trả góp của từng kỳ (khi mua TSCĐ theo phương thức trả chậm, trả góp)

              Nợ TK 635

                     Có TK 242

    –  Chiết khấu thanh toán cho khách hàng hưởng:

              Nợ TK 635

                     Có TK 131,111,112,…

    –  Chi phí cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định là tiêu thụ

             Nợ TK 635

                    Có TK 228

    –  Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính phát sinh sang TK 911.

    III. KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG & CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP:

     1.  Kế toán chi phí bán hàng:

    1. Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

         Chi phí bán hàng là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bao gồm:

    –  Chi phí cháo hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm.

    –  Hoa hồng bán hàng.

    –  Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng.

    –  Chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển.

    Về nguyên tắc, chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ được tính hết vào giá thành toàn bộ của những sản phẩm đã tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.

    Tài khoản sử dụng:

    TK 641 “Chi phí bán hàng”

    – Tập hợp các chi phí phát sinh liên quan đến   – Các khoản làm giảm chi phí bán hàng.

    quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch      – Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911

    vụ.                                                                     để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

                   Tổng phát sinh                                                   Tổng phát sinh

     

    TK 641 không có số dư cuối kỳ.

    1. Phương pháp hạch toán:

     

     

     

            111,112,331                                        641                                        111,112,138

     

                      Chi phí điện, điện thoại, thuê          Khi phát sinh các khoản được  

                              ngoài sửa chữa,…                      ghi giảm chi phí bán hàng.

                                              1331

           
       
     
         

                        VAT đầu vào

                         (PP khấu trừ)

             152,153                                                                                                    911

     

                    Xuất vật liệu, CCDC sử dụng            Kết chuyển chi phí bán hàng để

     

                                                                                    xác định KQKD kỳ này.

             334,338

                     Tiền lương, các khoản trích theo

                    lương phải trả cho nhân viên đóng

                               gói, bảo quản,…

                214

                               Khấu hao TSCĐ

     

            142,242

                    Phân bổ các khoản chi phí trả trước

                              vào chi phí bán hàng.

     

                 335

                     Trích trước chi phí sửa chữa lớn

                     TSCĐ đang dùng ở bộ phận bán

                                         hàng.

    2.  Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:

    1. Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    –  Là các chi phí kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan dến hoạt động của toàn doanh nghiệp,bao gồm:   

    –  Chi phí về lương nhân viên bộ phận QLDN: BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên QLDN.

    –  Chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho QLDN.

    –  Khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi: Thuế nhà đất, thuế môn bài, dịch vụ mua ngoài,…

    Về nguyên tắc, chi phí QLDN phát sinh trong kỳ được tính hết vào giá thành toàn bộ của những sản phẩm đã tiêu thụ trong kỳ xác định kết quả kinh doanh.

    1. Tài khoản sử dụng:

    TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”

     

    – Tập hợp các chi phí phát sinh liên quan       – Các khoản làm giảm chi phí QLDN.

    đến QLDN.                                                     –  Kết chuyển chi phí QLDN vào TK 911 để

                                                                           xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

     

                  Tổng phát sinh                                           Tổng phát sinh

     

    TK 642 không có số dư cuối kỳ.

    1. Phương pháp hạch toán:

           111,112,331                                          642                                                111,112,138

                         Chi phí điện, thuê ngoài sửa         Khi phát sinh các khoản được ghi

                                    chữa,…                                    giảm chi phí QLDN

                                                     1331

                                VAT đầu ra                

     
       

                               (PP khấu trừ)

                152,153                                                                                                        911

     

                        Xuất vật liệu,CCDC sử dụng         Kết chuyển chi phí QLDN để xác

                                                                                      định KQKD kỳ này

     
       

                334,338

                        Tiền lương, các khoản trích theo

                            lương phải trả cho cán bộ

                                         QLDN

     

                   214

     

                               Khấu hao TSCĐ

     
       

               142,242

     
       

                         Phân bổ các khoản chi phí trả

                            trước vào chi phí QLDN

     
       

                   335

                       Trích trước chi phí sữa chữa lớn

                        TSCĐ đang dùng chung cho DN

           
       
     
         

                   333

     

                           Thuế môn bài,thuế nhà đất,…   

                                     phải nộp.

     

                   139                               

                          Khoản dự phòng nợ phải thu

                                      khó đòi.

     
       

    IV.  KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THU NHẬP, CHI PHÍ KHÁC:

      1.  Kế toán các khoản thu nhập khác:

    1.   Khái niệm:  Là các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm:
    • Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ.
    • Thu về tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng.
    • Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ.
    • Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.
    • Các khoản thuế được nhà nước hoàn lại.
    • Thu nhập quà biếu, tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, các nhân tặng cho doanh nghiệp.
    • Các khoản tiền thưởng cho khách hàng có liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu.
    • Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót hay quên ghi sổ kế toán, năm nay mới phát hiện ra,…
    1. Tài khoản sử dụng:

    TK 711 “Thu nhập khác”

            –  Số thuế GTGT phải nộp (nếu có) tính    –  Các khoản thu nhập khác phát sinh

      theo phương pháp trực tiếp.                             trong kỳ.

            –  Cuối kỳ, kết chuyển sang TK 911.

     
       

                           Tổng phát sinh                                       Tổng phát sinh

     

    TK 711 không có số dư.

    1. Phương pháp hạch toán:

         –  Thu nhập do nhượng bán, thanh lý TSCĐ.

                   Nợ TK 111,112,131,152,..

                         Có TK 711

         –  Tiền thu phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng.   

                   Nợ TK 111,112

                         Có TK 711

            Đồng thời ghi  đơn Có TK 004

         –   Xử lý xóa sổ nợ không xác định được chủ:

                   Nợ TK 331,338

                         Có TK 711

         –  Thu nhập kinh doanh của các niên độ trước bị bỏ sót hay quên ghi sổ nay phát hiện:

                    Nợ TK 111,131,..

                          Có TK 711

         –  Thuế GTGT được giảm trừ vào số thuế phải nộp kỳ này hoặc NSNN hoàn lại:

                    Nợ TK 333,111,112

                          Có TK 711

         –  Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân tặng cho doanh nghiệp:

                    Nợ TK 152,211,…

                         Có TK 711

         –   Thuế GTGT phải nộp (nếu có) đối với các khoản thu nhập khác (DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp).

                    Nợ TK 711

                          Có TK 3331

         –  Kết chuyển thu nhập khác sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh:

                   Nợ TK 711

                         Có TK 911

      2.  Kế toán các khoản chi phí khác: 

    1. Khái niệm: Là các khoản chi phí của các hoạt đỗngảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra chi phí của đơn vị gồm:

          –  Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, nhượng bán (nếu có).

          –  Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.

          –  Khoản bị phạt thuế, truy nộp thuế.

          –  Các khoản chi phí do kế toán bị nhầm, hoặc bỏ sót khi ghi sổ kế toán.

          –  Các khoản chi phí khác,…

    1. Tài khoản sử dụng:

    TK 811 “Chi phí khác”

        –  Các khoản chi phí khác phát sinh              –  Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ các khoản      

                                                                              chi phí khác phát sinh trong kỳ vào TK 911

                 Tổng phát sinh                                                     Tổng phát sinh

     

    1. Phương pháp hạch toán:

          –  Chi phí cho hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ.

                    Nợ TK 811

                          Có TK 111,112,152,…

          –  Các khoản bị phạt do hợp đồng kinh tế, bị phạt thuế, truy nộp thuế.
                    Nợ TK 811

                          Có TK 111,112,333,338,…

          –  Chi phí khác: như khắc phục tổn thất do gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh (bão lụt, hỏa hoạn, cháy nổ,…).

                    Nợ TK 811

                          Có TK 111,112,141,…

          –  Cuối kỳ kết chuyển sang TK 911

                    Nợ TK 911

                          Có TK 811

    V.  KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH

       1.  Nội dung:

       Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của các hoạt động kinh tế đã thực hiện. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác.

       Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và trị giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.

       Lợi nhuận khác là số chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác.

     2.  Tài khoản sử dụng:

        Kế toán xác định kết quả doanh sử dụng TK 911 “xác định kết quả kinh doanh”. TK này dùng để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của DN trong một kỳ hạch toán.

    TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”

     –  Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, lao      –  Doanh thu thuần về số sản phẩm, hàng vụ, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.                       hóa,lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ.

     

     

    3.  Phương pháp hạch toán:

       –  Kết chuyển chi phí sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh:

                 Nợ TK 911

                        Có TK 632

                        Có TK 641,642

                        Có TK 635,811

       –  Kết chuyển doanh thu và thu nhập sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh:

                  Nợ TK 511,512

                  Nợ TK 515

                  Nợ TK 711  

                         Có TK 911

       –  Kết chuyển chi phí thuế TNDN sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh:

                  Nợ TK 911

                         Có TK 821

       –  Sau đó khi xác định lợi nhuận sau thuế kế toán kết chuyển:

           Kết chuyển lãi:  Nợ TK 911

                                             Có TK 421

           Kết chuyển lỗ:   Nợ TK 421

                                             Có TK 911

    Kế toán xác định lợi nhuận sau thuế TNDN:

    TK 821 “Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”

     
       

     

     

    –  Chi phí thuế TNDN hiện hành phát sinh        –  Chênh lệch thuế TNDN thực tế phải nộp

    trong năm.                                                          trong năm nhỏ hơn số thuế TNDN đã tạm

    –  Chi phí thuế TNDN hoãn lại phát sinh trong  nộp.

    năm.                                                                    –  Ghi giảm chi phí thuế TNDN hoãn lại

    –  Kết chuyển sang TK 911 để XĐKQKD.       và ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại.

                                                                                – Kết chuyển sang TK 911 để XĐKQKD.

     

                  Tổng phát sinh                                                    Tổng phát sinh

     

    TK 821 không có số dư cuối kỳ.

    TK 821 có 2 TK cấp hai: TK 8211 “Chi phí thuế TNDN hiện hành”

                                             TK 8212 “Chi phí thuế TNDN hoãn lại”

    VI.  KẾ TOÁN PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP:

    1.     Nội dung và nguyên tắc:

             Lợi nhuận thực hiện cả năm là kết quả kinh doanh của DN bao gồm: lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác.

             Theo chế độ hiện hành đối với các DNNN, lợi nhuận được phân phối theo theo thứ tự sau:

    • Trả tiền phạt như tiền phạt vi phạm kỹ luật thu nộp ngân sách, tiền phạt vi phạm hành chánh, phạt vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí đã chi nhưng chưa được trừ vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế.
    • Trừ các khoản lỗ không được khấu trừ vào lợi nhuận trước thuế.
    • Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.
    • Phần lợi nhuận còn lại trích lập các quỹ của doanh nghiệp như sau:

    –  Quỹ đầu tư phát triển: trích từ tỷ lệ quy định 50% trở lên khhonh hạn chế mức tối đa.

    –  Quỹ dự phòng tài chính: trích 10% số dư của quỹ nayftoois đa không vượt quá 25% vốn điều lệ.

    –  Số còn lại sau khi trích các quỹ trên được trích lập quỹ khen thưởng và các quỹ phúc lợi.

     2.  Tài khoản sử dụng:

        Để phản ánh kết quả kinh doanh và tình hình phân phối kết quả kinh doanh của DN, kế toán sử dụng TK 421 “lợi nhuận chưa phân phối”.

    TK 421 “Lợi nhuận chưa phân phối”

     
       

     

     

     –  Số lỗ về hoạt động kinh doanh của DN.       –  Số lợi nhuận thực tế của hoạt động kinh

     –  Trích lập các quỹ.                                         doanh của DN trong kỳ.

     –  Chia lợi nhuận cho các bên tham gia liên     –  Số lợi nhuận cấp dưới nộp lên, số lỗ

    doanh cho các cổ đông.                                     được cấp trên cấp bù.

     –  Bổ sung nguồn vốn kinh doanh.                   –  Xử lý các khoản lỗ về hoạt động KD.

     –  Nộp lợi nhuận cho cấp trên.

     
       

     SDCK: Số lỗ hoạt động KD chưa xử lý.          SDCK: số lợi nhuận chưa phân phối hoặc

                                                                                chưa xử dụng.

     –  TK 421 có thể có số dư bên Có hoặc số dư bên Nợ.

     –  TK 421 có 2 TK cấp hai:

         +  TK 4211 “Lợi nhuận chưa phân phối năm trước”: phản ánh kết quả hoạt động KD, tình hình phân phối kết quả và số lãi chưa phân phối năm nay”: phản ánh kết quả hoạt động KD, tình hình phân phối lãi và số lãi chưa phân phối của năm nay.

    Sơ đồ hạch toán

           911                                                          421                                                  911

               
               
     

                             Kết chuyển lỗ                                           Kết chuyển lãi

     
       

    414,415,431

     

                      Trích lập các quỹ từ lợi nhuận

     

    111,112,131

     

                       Chia lãi cho người góp vốn

     
       

           411

     
       

                          Bổ sung nguồn vốn KD

     
       

    VII.  KẾ TOÁN VÀ CÁC KHOẢN PHẢI NỘP NHÀ NƯỚC

    1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán.

    – Các khoản phải nộp cho NN là số tiền mà DN phải có nghĩa vụ thanh toán với NN về các khoản như thuế gián thu, thuế trực thu, các khoản phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác phát sinh theo chế độ quy định.

    – DN chủ động tính và xác định số thuế, phí ,lệ phí và các khoản phải nộp cho NN theo luật định và kịp thời phản ánh vào sổ kế toán số thuế phải nộp.

    – DN phải thực hiện nghiêm chỉnh việc nộp đầy đủ, kịp thời các khoản thuế, phí và lệ phí cho NN.

    – Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng khoản thuế, phí ,lệ phí và các khoản phải nộp, đã nộp và còn phải nộp.

    2.Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 333 “Thuế và các khoản phải nộp nhà nước”.

     

    – Số thuế GTGT đã được khấu trừ trong kỳ.   –  Số thuế GTGT đầu ra và số thuế GTGT 

    – Số thuế, phí ,lệ phí và các khoản khác đã     hàng nhập khẩu phải nộp.  

    nộp vào NSNN.                                               – Số thuế, phí ,lệ phí và các khoản khác

    – Số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại, bị    phải nộp vào NSNN.

    giảm giá.

     
       

             Tổng số phát sinh Nợ.                                     Tổng số phát sinh Có.

     
       

    Số dư: Số thuế, phí ,lệ phí và các khoản đã    Số dư: Số thuế, phí ,lệ phí và các khoản

    nộp lớn hơn số phải nộp ở cuối kỳ.                khác còn phải nộp vào NSNN ở cuối kỳ.

     

    TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp NN ,có 9 TK cấp 2.

    • TK 3331: Thuế giá trị gia tăng phải nộp.
    • TK 3332: Thuế tiêu thụ đặc biệt.
    • TK 3333: Thuế xuất, nhập khẩu.
    • TK 3334: Thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • TK 3335: Thuế thu nhập cá nhân.
    • TK 3336: Thuế tài nguyên.
    • TK 3337: Thuế nhà đất, tiền thuê đất.
    • TK 3338: Các loại thuế khác.
    • TK 3339: Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác.

    3.  Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

    1. Thuế giá trị gia tăng phải nộp:

         –  Doanh nghiệp hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

             +  Khi mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định dùng vào hoạt động SXKD, căn cứ vào hóa đơn GTGT, kế toán ghi:

                         Nợ TK 151,152,153,156,211,641,642,…(trị giá mua chưa có thuế GTGT).

                         Nợ TK 133                                                (thuế GTGT đầu vào).

                                Có TK 11,112,331,…                          (tổng số tiền thanh toán).

             +  Thuế GTGT của hàng nhập khẩu:

                         Nợ TK 133

                               Có TK 33312

             +  Khi bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ:

                         Nợ TK 111,112,131,…(tổng giá bán đã có thuế GTGT).

                                Có TK 511,512,…(giá bán chưa có thuế GTGT).

                                Có TK 3331           (thuế GTGT đầu ra).

             +  Cuối tháng kế toán tính, xác định số thuế GTGT được khấu trừ với số thuế GTGT đầu ra và số thuế GTGT phải nộp:

                        Nợ TK 3331     (Số thuế GTGT được khấu trừ)

                               Có TK 133

             +  Số thuế GTGT thực nộp cho NSNN:

                        Nợ TK 3331

                               Có TK 111,112

             +  Trường hợp số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, phân bổ vào giá vốn hàng bán:    Nợ TK 632

                               Có TK 133

    –  Doanh nghiệp hạch toán thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:

       +  Khi mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định dùng vào hoạt động SXKD, căn cứ vào hóa đơn múa hàng, kế toán ghi:

                 Nợ TK 151,152,153,156,211,641,642,…(tổng số tiền thanh toán).

                        Có TK 111,112,331,…

       +  Khi bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ:

                 Nợ TK 111,112,131,…(tổng giá bán đã có thuế GTGT).

                        Có TK 511,512,…(tổng giá bán đã có thuế GTGT).

       +  Cuối tháng kế toán tính, xác định số thuế GTGT phải nộp:

                 Nợ TK 511,512

                              Có TK 3331     (số thuế GTGT phải nộp)

             +  Số thuế GTGT thực nộp cho NSNN:

                       Nợ TK 3331

                              Có TK 111,112

    1. Thuế tiêu thụ đặc biệt:

         Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB, kế toán phản ánh doanh thu là giá bán đã có thuế TTĐB:

                       Nợ TK 111,112,131,…(tổng giá thanh toán)

                              Có TK 511,512      (tổng giá thanh toán)

         Khi xác định số thuế TTĐB phải nộp của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ:

                       Nợ TK 511,512

                              Có TK 3332   (số thuế TTĐB phải nộp).

     

         Khi nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB, kế toán xác định số thuế TTĐB phải nộp của hàng nhập khẩu:

                       Nợ TK 152,153,211,…

                              Có TK 3332

         Khi nộp thuế TTĐB vào NSNN:

                       Nợ TK 3332

                              Có TK 111.112

    1. Thuế nhập khẩu.:

         Khi nhập khẩu vật tư, hàng hóa, TSCĐ, kế toán phản ánh số thuế nhập khẩu phải nộp:

                       Nợ TK 152,153,211,…

                              Có TK 3333

         Khi nộp thuế nhập khẩu vào NSNN:

                       Nợ TK 3333

                              Có TK 111,112

    1. Thuế xuất khẩu:

         Khi xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, kế toán phản ánh doanh thu là giá bán đã có thuế xuất khẩu:

                      Nợ TK 111,112,131,…(tổng giá thanh toán).

                             Có TK 511,512,…(tổng giá thanh toán).

         Khi xác định số thuế xuất khẩu phải nộp của hàng hóa,dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ:

                      Nợ TK 511,512

                             Có TK 3333  (số thuế xuất khẩu phải nộp).

         Khi nộp thuế xuất khẩu vào NSNN:

                      Nợ TK 3333

                             Có TK 111,112

    1. Thuế thu nhập doanh nghiệp:

          Căn cứ vào số thuế TNDN phải nộp vào NSNN hàng quý theo định kỳ:

                      Nợ TK 821   (chi phí thuế TNDN)

                             Có TK 3334

          Khi nộp thuế TNDN vào NSNN:

                      Nợ TK 3334

                             Có TK 111,112

          Cuối năm, khi xác định số thuế TNDN thực tế phải nộp của năm:

               –  Nếu số thuế TNDN thực tế phải nộp nhỏ hơn số thuế TNDN tạm nộp hàng quý, thì chênh lệch ghi:

                      Nợ TK 3334

                             Có TK 821

               –  Nếu số thuế TNDN thực tế phải nộp lớn hơn số thuế TNDN tạm nộp hàng quý, thì chênh lệch ghi:

                      Nợ TK 821

                             Có TK 3334

    1. Thuế thu nhập cá nhân:

         Hàng tháng, khi xác định số thuế TNCN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuê của công nhân viên và người lao động khác:

                      Nợ TK 334

                             Có TK 3335

         Khi nộp thuế TNCN vào NSNN thay cho người lao động:

                      Nợ TK 3335

                             Có TK 111,112

    1. Thuế tài nguyên:

         Xác định số thuế tài nguyên phải nộp tính vào chi phí sản xuất chung:

                      Nợ TK 627

                             Có TK 3336

         Khi nộp thuế tài nguyên vào NSNN:

                      Nợ TK 3336

                             Có 111,112

    1. Thuế nhà đất, tiền thuê đất:

         Xác định số thuế nhà đất, tiền thuê đất phải nộp tính vào chi phi QLDN:

                      Nợ TK 642

                             Có TK 3337

         Khi nộp thuế nhà đất, tiền thuê đất vào NSNN:

                      Nợ TK 3337

                             Có TK 111,112

    1. Các loại thuế khác, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác:

        Xác định số lệ phí trước bạ phải nộp tính trên giá trị tài sản mua về:

                      Nợ TK 211,213

                             Có TK 3339

        Thuế môn bài phải nộp tính vào chi phí QLDN

                      Nợ TK 642

                             Có TK 3338

        Khi nộp thuế vào NSNN:

                      Nợ TK 3338

                             Có TK 111,112

     

     
       

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-L%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-C%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-D%C6%B0%E1%BB%A3c-H%E1%BA%ADu-Giang.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

     

    1      PHẦN GIỚI THIỆU

    1.   LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanh nghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, tăng tích luỹ đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Ngoài vai trò đối với doanh nghiệp lợi nhận còn là nguồn tích luỹ cơ bản, là nguồn để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Sự tham gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp đã nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động viên một phần lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người lao động.

    Công Ty Cổ Phần Dược Hậu Giang (HG.PHARM) có quá trình hình thành và phát triển trên 30 năm, với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất – kinh doanh dược phẩm, các loại trà thảo dược thiên nhiên, xuất nhập khẩu trực tiếp thuốc và các nguyên liệu sản xuất thuốc, trang thiết bị y tế… Sản phẩm của DHG được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam Chất Lượng cao trong nhiều năm liền. DHG đã được công nhận là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp dược Việt Nam.

    Qua nhiều năm hoạt động DHG đạt được nhiều hiệu quả, được biểu hiện qua lợi nhuận của doanh nghiêp hằng năm. Vì đối với doanh nghiệp mục tiêu lợi nhuận luôn quan trọng, mức lợi nhuận cao là cần thiết cho việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo đời sống cho người lao động cũng như khuyến khích họ tận tụy với công việc. Qua đó cũng tạo được uy tín và lấy được lòng tin với khách hàng. Nhưng trong điều kiện nền kinh tế của nước ta hiện nay, bên cạnh những cơ hội và thuận lợi mới  được mở ra thì cũng tồn tại song song đó là những thách thức và khó khăn đang phải đối diện. Chính vì vậy, nhóm chúng em chọn đề tài “Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang” làm chuyên đề môn Phân tích hoạt động kinh doanh. Từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm gia tăng  lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2.   MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

    2.1    Mục tiêu chung

    Phân tích tình hình lợi nhuận của công ty Cổ Phần DHG và đề ra những giải pháp thích hợp nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2.2    Mục tiêu cụ thể

    • Đánh giá chung tình hình lợi nhuận của công ty qua 2 năm 2008 -2009.
    • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận từ đó đề ra các giải pháp gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    3.   PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    3.1    Phương pháp thu thập số liệu

    Thông tin về doanh nghiệp và số liệu dùng để phân tích chủ yếu lấy từ Website của công ty cổ phần DHG qua các báo cáo tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hằng năm.

    Ngoài ra nhóm còn nghiên cứu, tham khảo thêm sách, báo, tạp chí, Website chuyên ngành, các luận văn mẫu để hỗ trợ cho việc phân tích, nghiên cứu và đánh giá.

    3.2    Phương pháp phân tích số liệu

    Nhóm sử dụng 2 phương pháp chính:

    • Phương pháp so sánh: Lợi nhuận thực hiện năm 2009 so với lợi nhuận năm 2008 để xem xét tốc độ tăng trưởng tình hình lợi nhuận,
    • Phương pháp gián tiếp (xác định lợi nhuận qua các bước trung gian): để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận (được trình bày ở phần nội dung – 2).

    4.   PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    4.1    Phạm vi nghiên cứu

    • Không gian: trường Đại học Cần Thơ.
    • Thời gian: đề tài thực hiện nghiên cứu số liệu trong 2 năm 2008 và 2009, thời gian nghiên cứu từ tháng 02 đến 03 năm 2010.

    4.1    Đối tượng nghiên cứu

    Tình hình lợi nhuận  của DHG.

    2      PHẦN NỘI DUNG

    4.1  GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

    2..1           Lịch sử hình thành và phát triển

    • Lịch sử hình thành

    Thành lập ngày 2/9/1974: Doanh nghiệp Nhà nước;

    Tháng 11/1975 chuyển thành Cty Dược phẩm Tây Cửu Long;

    Năm 1976 Cty Dược phẩm Tây Cửu Long đổi tên thành Cty Dược thuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang;

    Từ năm 1976 – 1979: Cty Dược thuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang tách thành 03 đơn vị độc lập: Xí nghiệp Dược phẩm 2/9, Cty Dược phẩm và Công ty Dược liệu;

    Ngày 19/9/1979, 3 đơn vị trên hợp nhất thành Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang;

    Năm 1996 đơn vị được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao động thời kỳ đổi mới (1991-1995);

    Năm 1997: năm đầu tiên DHG được người tiêu dùng bình chọn HVNCLC liên tục cho đến nay (12 năm liền);

    Năm 2002: nhận chứng chỉ ISO 9001:2000, nhà máy được công nhận tiêu chuẩn ASEAN-GMP/GLP/GSP, Phòng kiểm nghiệm được công nhận tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2001;

    Ngày 2/9/2004: Cổ phần hóa, vốn điều lệ ban đầu 80 tỷ đồng – Nhà nước giữ 51%;

    Năm 2004 năm đầu tiên DHG thực hiện mục tiêu doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp dược Việt Nam;

    Năm 2005 Doanh nghiệp đầu tiên thử tương đương lâm sàng 2 sản phẩm thuốc bột Haginat và Klamentin tại Viện Nhi Trung Ương;

    Năm 2006 đứng trong Top 100 Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam;

    Năm 2006 nhà máy được công nhận tiêu chuẩn WHO-GMP/GLP/GSP;

    Cổ phiếu Công ty cổ phần Dược Hậu Giang (mã DHG) trong phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 21/12/2006 đã đạt mức giá 320.000 đồng, gấp 32 lần mệnh giá, trở thành một blue-chip (top những cổ phiếu đắt giá nhất thị trường).

    • Quá trình phát triển

    Từ năm 1988 khi nền kinh tế cả nước chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty vẫn còn hoạt động trong những điều kiện khó khăn: máy móc thiết bị lạc hậu, công suất thấp, sản xuất không ổn định, áp lực giải quyết việc làm gay gắt, …. Tổng vốn kinh doanh năm 1988 là 895 triệu đồng, Công ty chưa có khả năng tích lũy, tái sản xuất mở rộng. Doanh số bán năm 1988 đạt 12.339 triệu đồng, trong đó giá trị sản phẩm do Công ty sản xuất chỉ đạt 3.181 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 25,8% trong tổng doanh thu).

    Trước tình hình này, Ban lãnh đạo DHG đă thay đổi chiến lược: “giữ vững hệ thống phân phối, đầu tư phát triển mạnh cho sản xuất, mở rộng thị trường, tăng thị phần, lấy thương hiệu và năng lực sản xuất làm nền tảng”.

    Kết quả  của việc định hướng lại chiến lược kinh doanh đó là nhiều năm liên tiếp Công ty đạt mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển sản phẩm, tăng thị phần, tăng khách hàng, nâng cao thu nhập người lao động, đóng góp ngày càng cao vào ngân sách Nhà nước.

    Qua hơn 32 năm hình thành và phát triển, hiện nay, DHG được công nhận là doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp Dược Việt Nam. Sản phẩm của Công ty trong 11 năm liền (từ năm 1996 – 2006) được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” và đứng trong “Top 05 ngành hàng dược phẩm”. Thương hiệu “Dược Hậu Giang” được người tiêu dùng bình chọn trong “Top 100 Thương hiệu dẫn đầu Việt Nam” trong 02 năm liền (2005 – 2006) do Báo Sài G̣òn Tiếp thị tổ chức, “Top 10 Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam” do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức, đoạt giải “Quả cầu vàng 2006” do Trung tâm phát triển tài năng – Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức và cũng là “Thương hiệu được yêu thích” thông qua bình chọn trên trang web www.thuonghieuviet.com cùng với những giải thưởng khác về thương hiệu.

    Hệ thống quản lý chất lượng được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Nhà máy đạt các tiêu  chuẩn: WHO GMP/GLP/GSP. Pḥòng Kiểm nghiệm được công nhận phù hợp với tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Đây là những yếu tố cần thiết giúp DHG vững bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

    2..2           Các sản phẩm, dịch vụ và ngành nghề kinh doanh chủ yếu

    Sản xuất kinh doanh dược; Xuất khẩu: dược liệu. dược phẩm theo qui định của Bộ Y tế; Nhập khẩu: thiết bị sản xuất thuốc, dược liệu, dược phẩm theo qui định của Bộ Y tế; Sản xuất kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chế biến. In bao bì; Dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ; Gia công, lắp đặt, sửa chữa điện, điện lạnh; Nhập khẩu trực tiếp trang thiết bị y tế; Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị sản xuất thuốc tự chế tạo tại Công ty; Dịch vụ du lịch và vận chuyển lữ hành nội địa; Kinh doanh bất động sản. Sản xuất, Kinh doanh, xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chức năng, mỹ phẩm; Kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên liệu thuốc thú y, thức ăn gia súc, gia cầm và thủy hải sản; Kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu dùng làm thuốc cho người. Nhập khẩu thành phẩm dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng.

     

    2..3           Sơ đồ tổ chức và quản lý của Dược Hậu Giang

     

    4.1  PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

    Bảng 1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY QUA 2 NĂM THỰC HIỆN 2008- 2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Chỉ tiêu Năm Chênh lệch
    2008 2009 Tuyệt đối %
    1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.518.436.877.452 1.769.376.517 251.255.499.065 16,55
    2 Các khoản khấu trừ 32.973.054.953 24.322.485.821 (8.650.132) -26,24
    3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.485.463.822.499 1.745.369.890.696 259.906.068.197 17,50
    4 Giá vốn hàng bán 694.444.594.610 818.625.724.207 124.181.129.597 17,88
    5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 791.019.227.889 926.744.166.489 135.724.938.600 17,16
    6 Doanh thu hoạt động tài chính 22.329.305.076 32.813.088.553 10.483.783.477 46,95
    7 Chi phí tài chính 38.495.242.865 23.744.201.219 (14.751.041.646) -38,32
    8 Chi phí bán hàng 521.504.942.048 410.400.779.740 (111.104.162.308) -21,30
    9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 103.918.190.916 115.752.271.846 11.834.080.930 11,39
    10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 149.430.157.136 409.660.002.237 260.229.845.101 174,15
    11 Thu nhập khác 1.530.843.862 13.831.277.305 12.300.433.443 803,51
    12 Chi phí khác 6.077.378.067 11.843.438.660 5.766.060.593 94,88
    13 Lợi nhuận khác (4.546.534.205) 1.987.838.645 6.534.372.850 143,72
    14 Phần lãi, lỗ trong liên doanh, liên kết 141.77.333 (95.272.636) (237.044.969) -167,20
    15 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 145.025.395.264 411.552.568.246 266.527.172.982 183,78
    16 Thuế thu nhập doanh nghiệp 15.030.801.641 40.000.330.965 24.969.529.324 166,12
    17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 129.994.593.623 371.552.237.281 241.557.643.658 185,82

    (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh DHG 2009)

    2..4           Đánh giá tình hình lợi nhuận chung

    Phân tích chung tình hình lợi nhuận giúp chúng ta đánh giá được sự biến động của lợi nhuận năm nay so với năm trước của công ty nhằm thấy được khái quát tình hình lợi nhuận và biết được mức đóng góp của các lợi nhuận thành phần như thế nào.

    Bảng 2. TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY QUA 2 NĂM

    Đơn vị tính : đồng

    Chỉ tiêu Năm Chênh lệch
    2008 2009 Tuyệt đối %
    Tổng doanh thu 1.542.438.798.723 1.816.241.469.739 273.802.671.016 17,75
    Tổng chi phí 1.397.413.403.459 1.404.688.901.493 7.275.498.034 0,52
    Lợi nhuận trước thuế 145.025.395.264 411.552.568.246 266.527.172.982 183,78

    ( Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Thuế thu nhập doanh nghiệp là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng do thuế là khoản đóng góp bắt buộc và cố định theo luật quy định nên thuế không nằm trong phạm vi điều chỉnh chủ quan cho lợi nhuận của doanh nghiệp, do đó trong bài phân tích này chúng tôi chỉ phân tích đến lợi nhuận trước thuế của công ty.

    Lợi nhuận trước trước thuế = doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ – các khoản giảm trừ – giá vốn hàng bán – chi phí bán hàng – chi phí quảnlí  lãi (lỗ) hoạt động tài chính   lãi (lỗ) hoạt động khác .

    Dựa vào bảng 1 và bảng 2, ta thấy lợi nhuận trước thuế của công ty qua 2 năm đều dương. Lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2009 là 411.552.568.246 đồng tăng 266.527.172.982 đồng (tức tăng 183,78%) khá cao so với năm 2008. Nguyên nhân là do doanh thu năm 2009 tăng 273.802.671.016 đồng (tức tăng 17,75%) so với năm 2008, chi phí năm 2009 cũng tăng 7.275.498.034 đồng (tức 0,52%) nhưng  không đáng kể so với năm 2008. Vì tốc độ tăng của chi phí thấp hơn của doanh thu  nên cho lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng khá nhiều so với năm 2008. Một nguyên nhân khác là lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2009 lại tăng cao (17,6%) so với năm 2008.

    2..5           Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

    Do hạn chế về thời gian, năng lực cũng như đặc thù kinh doanh của công ty nên nhóm tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty theo phương pháp gián tiếp. Phương pháp này căn cứ trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của công ty năm 2009.

    Giải thích cách tính bảng 1: Phương pháp gián tiếp

    Chúng ta xác định lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách tiến hành tính dần lợi nhuận của doanh nghiệp qua từng khâu trung gian. Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chúng ta cần tính lần lượt các chỉ tiêu sau:

    1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
    2. Các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu)
    3. Doanh thu thuần về bán hàng (= 1 – 2 )
    4. Trị giá vốn hàng bán
    5. Lợi nhuận gộp về hoạt động kinh doanh (= 3 – 4)
    6. Doanh thu hoạt động tài chính
    7. Chi phí tài chính
    8. Chi phí bán hàng
    9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
    10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (=5 + 6 – 7 – 8 – 9)
    11. Thu nhập khác
    12. Chi phí khác
    13. Lợi nhuận khác (=11 – 12 )
    14. Phần lãi hoặc lỗ trong công ty liên kết, liên doanh
    15. Lợi nhuận kế toán trước thuế (=10 + 13 + 14)
    16. Thuế thu nhập doanh nghiệp
    17. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (=15 – 16 )

    Cách tính này cho phép người quản lý nắm được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu hoạt động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận ròng). Phương pháp này giúp chúng  ta có thể lập Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên, nhờ đó chúng ta dễ dàng phân tích và so sánh được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ trước so với kỳ này. Mặt khác chúng ta có thể thấy được sự tác động của từng khâu hoạt động tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp điều chỉnh thích hợp góp phần nâng cao lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Bảng 3. TỔNG HỢP CÁC LOẠI DOANH THU QUA 2 NĂM 2008 – 2009

    Đơn vị tính : đồng

    STT Chỉ tiêu Năm % Đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng doanh thu
    2008 2009 Năm 2008 Năm 2009
    1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.518.436.877.452 1.769.692.376.517 98.44 97.43
    2 Doanh thu hoạt động tài chính 22.329.305.076 32.813.088.553 1.44 1.80
    3 Thu nhập khác 1.530.843.862 13.831.277.305 0.099 0.76
    4 Phần lãi hoặc lỗ trong công ty liên kết, liên doanh 141.772.333 (95.272.636) 0.009 (0.0052)
    5 TỔNG DOANH THU 1.542.438.798.723 1.816.241.469.739    

    (Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Để có thể thấy rõ hơn các chỉ tiêu tạo nên tổng doanh thu của công ty. Ta tiến hành phân tích phần trăm đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng doanh thu, từ đó có thể đề xuất các giải pháp làm tăng doanh thu cũng như đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tổng doanh thu từ các doanh thu thành phần. Theo bảng 3, trong hai năm 2008 và 2009 thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đều chiếm tỷ trọng lớn lần lượt là 98.44% và 97.43%. Kế đến là doanh thu từ các hoạt động tài chính, thu nhập từ các hoạt động khác và khoản thu do liên kết, liên doanh. Dựa vào kết quả này thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là nguồn thu nhập chủ yếu của công ty, do đó cần có các khoản đầu tư nhiều hơn cho hoạt động này, như nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng kênh phân phối, và thực hiện các chiến lược marketing hiệu quả để tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Tuy doanh thu từ các hoạt động tài chính chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu doanh thu nhưng so sánh mức tăng trưởng ta thấy doanh thu từ hoạt động này tăng 46.95% (xem bảng 1). Điều này cho thấy các hoạt động đầu tư tài chính của công ty ngày càng có hiệu quả, cho nên đây cũng là một thế mạnh mà công ty cần đầu tư thêm để tăng doanh thu cho công ty. Đối với các loại thu nhập khác, qua tình hình hoạt động hai năm vần chiếm tỷ trọng rất nhỏ, do đó công ty không nên đầu tư nhiều trong các hoạt động này. Còn riêng các hoạt động liên kết, liên doanh trong năm 2008 chỉ đóng góp được 0.009% vào tổng doanh thu và đến năm 2009 thì hoạt động này không những không làm tăng mà còn làm giảm tổng mức doanh thu. Do đó, công ty cần thận trọng hơn trong các hoạt động đầu tư liên kết, liên doanh, cần có những nghiên cứu kỹ trước khi thực hiện các dạng đầu tư này.

    Tương tự như tổng mức doanh thu, tổng chi phí của công ty cũng bao gồm nhiều chi phí thành phần mà ta cần phân tích để thấy rõ ảnh hưởng của các chi phí này đến tình hình lợi nhuận của công ty.

    Đơn vị tính: đồng

    Bảng 4. TỔNG HỢP CÁC CHI PHÍ QUA 2 NĂM 2008 – 2009

    STT Chỉ tiêu Năm % Đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng chi phí
    2008 2009 Năm 2008 Năm 2009
    1 Các khoản giảm trừ 32.973.054.953 24.322.485.821 2.35 1.73
    2 Giá vốn hàng bán 694.444.594.610 818.625.724.207 49.69 58.27
    3 Chi phí tài chính 38.495.242.865 23.744.201.219 2.75 1.69
    4 Chi phí bán hàng 521.504.942.048 410.400.779.740 37.31 29.21
    5 Chi phí quản lý doanh nghiệp 103.918.190.916 115.752.271.846 7.43 8.24
    6 Chi phí khác 6.077.378.067 11.843.438.660 0.43 0.84
    7 TỔNG CHI PHÍ 1.397.413.403.459 1.404.688.901.493    

    (Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Dựa vào bảng trên thì giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của công ty. So với năm 2008 thì chi phí này tăng 17.88% ở năm 2009 (Bảng 1). Trong khi đó doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2009 so với năm 2008 chỉ tăng 16.55%, nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí giá vốn hàng bán. Do đó công ty cần xem xét lại mức chi phí chiếm tỷ trọng lớn này để có biện pháp cải thiện tình hình lợi nhuận. Loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng chi phí đó là chi phí bán hàng. Mặc dù số lượng hàng hóa dịch vụ năm 2009 tăng so với năm 2008 (thuyết minh báo cáo tài chính năm 2009), nhưng chi phí bán hàng năm 2009 lại giảm 111.104.162.308 đồng (tức giảm 21.3%) so với năm 2008. Điều này cho thấy một tín hiệu tốt trong việc quản lý chi phí bán hàng của công ty, góp phần lớn trong việc làm giảm tổng mức chi phí và tăng mức lợi nhuận. Do đó, công ty cần có những kế hoạch rút kinh nghiệm và phát huy thế mạnh quản lý chi phí bán hàng trong thời gian tới. Ngoài hai chi phí chiếm tỷ trọng lớn nêu trên, thì chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là chỉ tiêu quan trọng mà công ty cần quan tâm. Vì nó là một chi phí bắt buộc đối với bất kỳ một công ty nào, bên cạnh đó chi phí này cũng có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng điều hành, lãnh đạo của công ty. So với năm 2008 thì ở năm 2009 chi phí này tăng 11.39% và là một trong ba loại chi phí có tốc độ tăng cao (Bảng 1). Mặc dù trong chiến lược phát triển tổng thể của công ty thì cũng có những giai đoạn chúng ta phải đầu tư mạnh cho chi phí này để phát triển và hoàn thiện tổ chức, tuy nhiên đây là chi phí chiếm tỷ trọng khá cao (chỉ sau giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng) do đó công ty cũng cần có những nghiên cứu trong việc sử dụng chi phí này sao cho hợp lý.

    2..6           Phân tích các chỉ tiêu tỷ số lợi nhuận

    Tỷ suất lợi nhuận (doanh lợi) chính là các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp, các chỉ tiêu này luôn luôn được các nhà quản trị tài chính quan tâm, bởi chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả  hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định. Tỷ suất lợi nhuận là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn là một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai.

     

    Bảng 5: KẾT QUẢ CHỈ TIÊU TỶ SUẤT LỢI NHUẬN

      Năm Chênh lệch
    2008

     

     

    (%)

    2009

     

     

    (%)

    Lợi nhuận trên doanh thu thuần 9.76 23.58 13,83
    Lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân 14,00 31,51 17,51
    Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân 21,74 47,78 26,04

    (Nguồn: Tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và cân đối kế toán của DHG 2009)

    2.3.1                      Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần

    Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng doanh thu mà Công ty thực hiện kinh doanh trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Theo bảng 5 ta có: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần của năm 2009 tăng so với năm 2008 là 13,83 đồng (tức là cứ 100 đồng doanh thu thuần của năm 2009 sẽ có 13,83 đồng lợi nhuận tăng thêm so với 100 đồng doanh thu thu được năm 2008). Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của công ty hiệu quả.

    2.3.2                      Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân

    Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản bình quân. Chỉ tiêu này dùng để đo tỷ suất sinh lời của tài sản. Theo bảng 5, ta có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân năm 2009 tăng 17,51 đồng so với năm 2008. Cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản có xu hướng ngày càng tăng, việc quản lý và sử dụng tài sản của công ty có hiệu quả.

    2.3.3                      Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

    Mục tiêu hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là tạo ra lợi nhuận ròng lớn. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (hay còn gọi là doanh lợi vốn chủ sở hữu) là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này. Qua hai năm ta thấy tỷ suất này có xu hướng tăng, cụ thể năm 2009 tăng 26,04 đồng so với năm 2008. Tỷ số này đánh giá được khả năng sử dụng được nguồn vốn chủ sở hữu hiệu quả của công ty, đây là thế mạnh cần phát huy trong tương lai.

    Qua phân tích tình hình lợi nhuận chung, các nhân tố ảnh hưởng và các tỷ số tài chính phản ánh tình hình lợi nhuận. Chúng tôi nhận thấy, tình hình lợi nhuận của công ty DHG qua hai năm 2008 và 2009 có chuyển biến tốt. Về tổng thể, tình hình lợi nhuận có xu hướng tăng qua hai năm (tốc độ tăng doanh thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí), một số chỉ tiêu doanh thu có tốc độ tăng nhanh (doanh thu do liên doanh, các hoạt động tài chính, doanh thu từ các hoạt động khác), bên cạnh đó thì một số chỉ tiêu về chi phí lại có xu hướng giảm mạnh (chi phí tài chính, chi phí bán hàng) càng làm cho mức lợi nhuận của công ty tăng cao. Ngoài ra, thông qua các tỷ số lợi nhuận, ta thấy được rằng tình hình sử dụng các nguồn lực của công ty ngày càng hiệu quả hơn, đây là những ưu điểm  mà công ty cần phát huy để cải thiện và nâng cao mức lợi nhuận. Tuy nhiên, qua phân tích tình hình lợi nhuận của công ty, chúng tôi nhận thấy vẫn tồn tại những yếu tố ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận (phần lãi lỗ trong các công ty liên kết liên doanh, các khoản giảm trừ, giá vốn hàng bán,chi phí quản lý doanh nghiệp) mà công ty cần nghiên cứu thêm để có những hướng giải quyết nhằm làm tăng lợi nhuận của công ty trong tương lai.

    4.1  GIẢI PHÁP

    3.1    Chi phí giá vốn hàng bán

    Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên làm cho tình hình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của công ty gặp không ít khó khăn. Một trong những khó khăn đó đòi hỏi công ty phải giảm giá bán hàng hóa dịch vụ để kích thích tiêu dùng. Đây là nguyên nhân chính làm giảm tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Trong khi đó chi phí giá vốn hàng bán ngày càng tăng cao, làm ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận. Do đó, trong dài hạn công ty cần có những biện pháp làm giảm giá vốn hàng bán để thích ứng tốt hơn trong điều kiện nền kinh tế hiện nay. Nhóm chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:

    • Giảm chi phí nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên, nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, thường vào khoảng 60% đến 70%. Bởi vậy, phấn đấu tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm giá vốn hàng bán. Muốn tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao công ty phải xây dựng định mức tiêu hao tiên tiến và thực hiện theo kế hoạch đã đề ra để khống chế sản lượng tiêu hao, cải tiến kỹ thuật sản xuất và thiết kế sản phẩm nhằm giảm bớt số lượng tiêu hao cho mỗi đơn vị sản phẩm, sử dụng vật liệu thay thế và tận dụng phế liệu phế phẩm, cải tiến công tác thu mua, công tác bảo quản để vừa giảm tối đa nguyên vật liệu hư hỏng kém phẩm chất vừa giảm được chi phí mua nguyên vật liệu. Bên cạnh đó công ty cần chủ động tìm kiếm các nhà cung cấp nguồn nguyên liệu với chất lượng tốt nhưng có giá thành thấp hơn các nhà cung cấp hiện nay. Còn đối với các nhà cung cấp hiện tại công ty cần có những thương lượng để đạt được mức giá tốt nhất.
    • Tăng năng suất lao động. Nâng cao năng suất lao động làm cho số giờ công tiêu hao để sản xuất ra mỗi đơn vị sản phẩm giảm bớt hoặc làm cho số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng thêm. Kết quả của việc nâng cao năng suất lao động làm cho chi phí về tiền lương của công nhân sản xuất và một số khoản chi phí cố định khác trong chi phí giá vốn hàng bán được hạ thấp. Nhưng sau khi năng suất lao động tăng thêm, chi phí tiền lương trong mỗi đơn vị sản phẩm hạ thấp nhiều hay ít còn phụ thuộc vào chênh lệch giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng lương bình quân. Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch và quản lý quỹ tiền lương phải quán triệt nguyên tắc: tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng lương bình quân sao cho việc tăng năng suất lao động một phần dùng để tăng thêm tiền lương, nâng cao mức sống cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp, phần khác để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, đảm bảo phát triển sản xuất. Muốn không ngừng nâng cao năng suất lao động để hạ thấp giá thành sản phẩm, công ty phải nhanh chóng đón nhận sự tiến bộ của Khoa học công nghệ, áp dụng những thành tựu về khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Tổ chức lao động khoa học tránh lãng phí sức lao động và máy móc thiết bị, động viên sức sáng tạo của con người, ngày càng cống hiến tài năng cho doanh nghiệp.
    • Giảm bớt những tổn thất trong sản xuất. Những tổn thất trong quá trình sản xuất của công ty là những chi phí về sản phẩm hỏng và chi phí ngừng sản xuất. Các khoản chi phí này không tạo thành giá trị sản phẩm nhưng nếu phát sinh trong sản xuất đều dẫn đến lãng phí và chi phí nhân lực, vật lực, giá thành sản phẩm sẽ tăng cao. Bởi vậy, công ty phải cố gắng giảm bớt những tổn thất về mặt này. Muốn giảm bớt sản phẩm hỏng phải không ngừng nâng cao kỹ thuật sản xuất, công nghệ và phương pháp thao tác. Nâng cao ý thức trách nhiệm trong sản xuất, vật liệu và máy móc thiết bị dùng trong sản xuất phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, xây dựng và chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kiểm tra chất lượng sản xuất ở các công đoạn sản xuất, thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất khi xảy ra sản phẩm hỏng.

    2..7           Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí này phản ánh những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình quản lý doanh nghiệp gồm các chi phí về tiền lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng liệu, công cụ lao động, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế muôn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng).

    Qua các năm ta thấy, chi phí quản lý doanh nghiệp của chiếm từ 7% đến 9% trong tổng chi phí của công ty, đây là một trong những chi phí quan trọng làm ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận. Chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau :

    • Cần xây dựng ý thức tiết kiệm chi phí trong toàn thể cán bộ nhân viên công ty và Ban lãnh đạo phải là người gương mẫu để khuyến khích nhân viên tham gia. Chẳng hạn có ý thức trong việc tiết kiệm vật liệu văn phòng, điện, nước, chi phí điện thoại công, phương tiện đi lại, … Việc kiểm soát chi phí của công ty không chỉ là bài toán về giải pháp tài chính mà còn là giải pháp về cách dùng người của nhà quản lý và là vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập.
    • Công ty nên hạn chế, tiết kiệm các khoản chi phí bằng tiền trực tiếp như hội nghị khách hàng, tiếp khách bằng cách lên kế hoạch tài chính chi tiết, rõ ràng và tiết kiệm.

    2..8           Các hoạt động liên kết liên doanh

    Công ty Cổ phần DHG có xu hướng phát triển như một tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề. Do đó các hoạt động liên kết liên doanh trong lĩnh vực đầu tư phát triển là không thể thể tránh khỏi. Theo số liệu cho thấy các hoạt động này mang lại doanh thu không lớn, thậm chí có năm (2009) hoạt động đầu tư này còn làm giảm doanh thu của công ty. Cho nên chúng tôi đề xuất những biện pháp sau:

    • Cần xây dựng một tổ chuyên trách trong vấn đề nghiên cứu đầu tư liên doanh với các đối tác. Tổ nghiên cứu này sẽ có trách nhiệm trong việc tìm hiểu đối tác, nghiên cứu thị trường về ngành nghề công ty sẽ dự định liên doanh đầu tư. Đồng thời, tổ nghiên cứu này cũng chịu trách nhiệm về tình hình lợi nhuận trong hoạt động này.
    • Có sự liên kết giữa các phòng ban trong công ty để hỗ trợ trong việc đề ra các chính sách đầu tư vào hoạt động liên kết liên doanh. Chẳng hạn: phòng marketing có thể hỗ trợ trong việc nghiên cứu thị trường, tìm năng phát triển của ngành nghề dự định đầu tư, phòng nhân sự có thể tuyển chọn những nhân viên giỏi để tham gia tư vấn và bổ sung nhân sự cho những dự án đầu tư.
    • Thiết lập danh mục đầu tư riêng cho hoạt động liên kết liên doanh để đảm bảo nguồn tài chính hợp lý cho từng dự án đầu tư này góp phần hạn chế rủi ro.

     

    3      PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    4.1  KẾT LUẬN

    Trước những chính sách nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới của Đảng và Nhà Nước cùng với sự nổ lực hết mình của Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong công ty và sự tín nhiệm của người tiêu dùng nên tình hình lợi nhuận  trong năm 2009 của công ty có bước chuyển biến đáng kể so với năm 2008.

    Cụ thể như sau:

    • Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ (chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn thu của công ty) tăng đáng kể trong năm 2009.
    • Doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính (tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng nguồn thu) có mức tăng trưởng khá ấn tượng trong năm 2009 so với năm 2008 (gần 47%). Đây là một thế mạnh nên công ty cần đầu tư nghiên cứu để làm tăng hơn nữa nguồn thu từ hoạt động này.
    • Doanh thu từ hoạt động liên kết, liên doanh: đây là vấn đề mà công ty nên quan tâm vì trong năm 2009 công ty đã phải chịu lỗ từ hoạt động này góp phần làm giảm doanh thu.
    • Về tình hình chi phí: công ty đã làm giảm được chi phí bán hàng nhưng giá vốn hàng bán và chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn còn tăng.
    • Quy mô sản xuất của công ty không ngừng được mở rộng chẳng những trong nước mà còn vươn ra thế giới, nhiều sản phẩm mới ra đời đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu của người tiêu dùng.

    Dược Hậu Giang cần phát huy hơn nữa những ưu thế cũng như những mặt đạt được trong năm 2009, đồng thời  phải biết tận dụng những điểm mạnh này để khắc phục những điểm yếu cũng như những mặt chưa đạt được trong năm 2009.

    4.1  KIẾN NGHỊ

    • Đối với công ty

    Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, công ty nên thành lập nhóm chuyên gia phụ vụ cho việc lập kế hoạch kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ.

    Công ty cần khai thác nhiều dòng sản phẩm phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau về sức khỏe của người tiêu dùng để tăng nguồn thu cho doanh nghiệp.

    Không ngừng cập nhật, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới tiên tiến trên thế giới vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như quản lý doanh nghiệp.

    Cần có những hoạch định chiến lược cũng như kế hoạch rõ ràng trong việc thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết nhằm cải thiện và tạo nguồn thu từ các hoạt động này.

    Đối với việc mở rộng quy mô sản xuất doanh nghiệp cần chú ý đến nguồn cung ứng, kho bãi để giảm giá thành nguyên liệu, hư hao trong qua trình vận chuyển, bảo quản.

    • Đối với Nhà Nước

    Cần có những chính sách khuyến khích ngành Dược phát triển, bình ổn giá cả để giúp các nhà sản xuất Dược phẩm nói chung và của DHG nói riêng giảm được giá thành nguồn nguyên vật liệu đầu vào góp phần giảm giá vốn hàng bán, giá thành sản phẩm.

    Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tránh tình trạng hàng giả, hàng nhái kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, tại môi trường cạnh tranh lành mạnh trong ngành Dược, ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.

    Quyết liệt hơn nữa trong việc quản lý chất lượng sản phẩm ngành Dược, đặc biệt là những sản phẩm mới thì cần được kiểm nghiệm kỹ về công dụng cũng như những tác dụng phụ của thuốc đối với người sử dụng.

    Bên cạnh đó, cần khuyến khích nhà sản xuất có những chính sách ưu đãi đối với nhân dân vùng sâu, vùng xa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phạm Văn Dược (2008), Phân tích hoạt đông kinh doanh, Nxb. Thống kê;
    2. Nguyễn Quang Thu (2007), Quản trị tài chính căn bản, Nxb. Thống kê;
    3. Địa chỉ Website tham khảo :
    • Dược Hậu Giang : dhgphrma.com
    • Hiệp hội sản xuất kinh doanh Dược Việt Nam : vnpca.org.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Câu hỏi trắc nghiệm môn Mạng máy tính (Có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A1o-c%C3%A1o-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-X%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-kinh-doanh-v%C3%A0-Ph%C3%A2n-ph%E1%BB%91i-l%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-TNHH-SX-TM-%E2%80%93-DVXD-L%C3%BD-T%C3%A0i-Ph%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    PHẦN MỞ ĐẦU

        1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Trước xu hướng kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, kinh tế Việt Nam đang vững bước chuyển mình và hội nhập. Ñể tồn tại và phát triển được buộc các doanh nghiệp phải có đủ trình độ, sự nhạy bén để đưa ra những phương pháp chiến lược kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận có thể đạt được. Vì thế,vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải làm sao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng hiệu quả, nguồn vốn kinh doanh luôn luôn ổn định và phát triển. Để đạt được mục tiêu đòi hỏi những mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trong nước cũng như  ngoài nước.

    Lợi nhuận kinh doanh phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp.Kế toán xác định kết quả kinh doanh là một công cụ rất quan trọng trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp. Hiện nay việc xác định kết quả kinh doanh là rất quan trọng vì căn cứ vào đó các nhà quản lý có thể biết được quá trình kinh doanh của doanh nghiệp mình có đạt hiệu quả hay không, lời hay lỗ như thế nào? Từ đó định hướng phát triển trong tương lai. Vì vậy công tác xác định kết quả kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả  của việc quản lý ở doanh nghiệp.

    Do thấy được tầm quan trọng của việc xác định kết quả kinh doanh nên em đã chọn đề tài báo cáo tốt nghiệp của mình là “Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận” tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát.

    Do hạn chế về kiến thức của bản thân và thời gian học tập có hạn, vì vậy trong Chuyên đề này chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Em kính mong được sự chỉ dẫn của quý thầy cô cùng các bạn để Chuyên đề được hoàn thiện tốt hơn.

        2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

    Thực hiện đề tài nhằm  so sánh giữa lý thuyết đã học và công tác kế toán tại doanh nghiệp. Qua đó tự mình có thể củng cố và rút ra những kiến thức đã học, so sánh với thực tế từ đó có thể học hỏi những kinh nghiệm giúp cho công tác sau này.

        3.PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

             3.1.Phạm vi nghiên cứu:

    – Nội dung nghiên cứu:

    Xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM-DV&XD LÝ TÀI PHÁT.

    – Không gian nghiên cứu:

    Thực tập tốt nghiệp tại công ty TNHH SX-TM-DV&XD LÝ TÀI PHÁT.

    – Thời gian thực tập:

    Từ ngày 30-03-2009 đến ngày 22-05-2009.

             3.2.Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp thu thập số liệu thông qua chứng từ, sổ kế toán có liên quan

    –  Phương pháp phân tích: phân tích các thông tin thu thập được trong quá trình tìm hiểu thực tế.

    1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

    Thu thập, tổng hợp và phân tích các chứng từ, sổ kế toán liên quan đến chuyên đề. Nội dung nghiên cứu của thời gian thực tập tại công ty là Xác Định Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh và Phân Phối Lợi Nhuận của công ty,nhằm đánh giá, xác định một năm hoạt động kinh doanh của công ty và từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp giúp công ty có những hướng phát triển hơn trong xu thế kinh tế toàn cầu như hiện nay.

     

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN

    XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN

    1.1.KẾ TOÁN DOANH THU:

        1.1.1.Khái niệm doanh thu:

    Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán,phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được từ hoạt động bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng hoá mua vào nhằm bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

        1.1.2. Điều kiện ghi nhận doanh thu:

    Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mản tất cả 5 điều kiện sau:

    1/ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.

    2/Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

    3/Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

    4/Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

    5/Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

        1.1.3. Nguyên tắc hạch toán doanh thu:

    – Doanh thu phát sinh từ các giao dịch được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại,giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

    – Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp ghi nhận doanh thu bán hàng trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm  phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu.

    – Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì chưa được coi là tiêu thụ và không được ghi nhận doanh thu mà chỉ ghi vào bên có vào tài khoản tiền đã thu của khách hàng, khi giao hàng cho người mua thì mới ghi nhận vào  TK “Doanh Thu”.

    – Đối với các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho yêu cầu của nhà nước, được nhà nước trợ cấp,trợ giá theo quy định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được nhà nước chính thức thông báo, hoặc thực tế trợ cấp trợ giá.

        1.1.4.Chứng từ hạch toán:

    – Hoá đơn giá trị gia tăng

    – Hoá đơn bán hàng

    – Các bảng kê bán lẻ hàng hoá,dịch vụ;bảng thanh toán hàng đại lý,kí gửi

    – Sổ chi tiết bán hàng

        1.1.5.Tài khoản sử dụng:

             1.1.5.1. Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”

    Bên Nợ:

    – Số thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu phải nộp tính theo doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ,

    – Thuế GTGT phải nộp ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp trực tiếp.

    – Chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ.

    – Giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ.

    – Doanh thu của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ.

    – Kết chuyển doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh.

    Bên Có:

    – Doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.

    Tài khoản  511 không có số dư cuối kỳ

    TK 511 có 4 TK cấp 2:

    – TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”

    – TK 5112 “Doanh thu bán sản phẩm”

    – TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”

    – TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”

    Các tài khoản này lại có thể chi tiết theo từng loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã bán.

             1.1.5.2.TK 512 “Doanh thu nội bộ”

    Tài khoản này có nội dung kết cấu tương tự như TK 511

    Tài khoản này ghi nhận doanh thu được tiêu thụ trong nội bộ công ty.

             1.1.5.3.TK 338 (3387) “Doanh thu chưa thực hiện”

    Bên Nợ:

    – Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện sang tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” hoặc TK “Doanh thu hoạt động tài chính”.

    Bên Có:

    – Doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ

    Số dư bên có:

    – Doanh thu chưa thực hiện lúc cuối kỳ.

        1.1.6.Sơ đồ tài khoản tổng hợp:

    :

    TK 521,532                                 TK 511                                                   TK 111,112

    Kết chuyển chiết khấu TM

    giảm giá hàng bán phát                                            TK131

    sinh trong kỳ               Giá bán chưa

    có thuế                                                                                                                                                                                                                                                                                  TK635                                                                                               Chiết khấu

    TK531                                                                                              thanh toán                                         Kết chuyển giá bán chưa có                                           tính trừ cho

    thuế hàng bán bị trả lại phát                                               khách hàng

    sinh trong kỳ

             TK 532, 521                                                                                                           Giảm giá chiết

    khấu thương

    mại hàng bán

    TK 911                                                                                              TK 333(1)                                                                                                                                                                             Kết chuyển doanh thu thuần

                      TK531

                             TK333(1)                                         Hàng bán                                                                                                                  bị trả lại                                                                                                                                                      TK152(611)                                                      Thuế GTGT                                       Trao đổi hàng                                                                                                                                    có hoá đơnGTGT                                                                                                             loại được khấu trừ                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               TK334                  TK 133

    Thanh tóan

    Cho CNV

     
       

    1.2.KẾ TOÁN CÁC KHOẢN GIẢM TRỪ DOANH THU:

        1.2.1.Kế toán chiết khấu thương mại:

    TK 521 “Chiết khấu thương mại” dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua hàng đã mua với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc cam kết mua, bán hàng.

    Bên Nợ:

    – Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng được hưởng

    Bên Có:

    Kết chuyển số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

    Tài khoản 521 không có số dư cuối kỳ.

    TK 521 có 3 TK cấp 2:

    TK 5211: “Chiết khấu hàng hoá”

    TK 5212: “ Chiết khấu thành phẩm”

    TK 5213:  “Chiết khấu dịch vụ”

        1.2.2.Kế toán hàng bán bị trả lại:

    TK 531 “Hàng bán bị trả lại” dùng để phản ánh trị giá của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, hàng không đúng chủng hoặc quy cách.

    Bên Nợ:

    – Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho khách hàng hoặc tính trừ vào số tiền khách hàng còn nợ.

    Bên Có:

    – Kết chuyển trị giá của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

    Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ.

        1.2.3.Kế toán giảm giá hàng bán:

    TK 532 “Giảm giá hàng bán” dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ kế toán cho khách hàng được hưởng do hàng bán kém phẩm chất; không đúng quy cách theo yêu cầu trong hợp đồng đã ký kết.

    Bên Nợ:

    Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho khách hàng được hưởng.

    Bên Có:

    Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác đinh doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

        1.2.4.Chứng từ sử dụng:

    – Biên bản xác nhận hàng bán bị trả lại

    – Biên bản xác nhận giảm giá hàng bán.

    – Phiếu chi.

    – Giấy báo nợ.

    – Các chứng từ gốc khác,…

        1.2.5.Sơ đồ  tài khoản:

      TK 111, 112, 131                      TK 521, 531, 532                                  TK511                                      

    (2)

    (1)

        TK 3331

       

     

        * Giải thích sơ đồ:

    (1) Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán thực hiện trong kỳ.

    (2) Cuối kỳ kết chuyển giảm trừ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần.

    Riêng đối với trị giá hàng bán bị trả lại đồng thời với việc ghi giảm doanh thu, phải ghi giảm giá vốn

    1.3.KẾ TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN

        1.3.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Giá vốn hàng bán là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh số tiền được trừ ra khỏi doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh của từng kỳ kế toán, trong điều kiện doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, giá vốn hàng bán là một chi phí thường được ghi nhận đồng thời với doanh thu theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu với chi phí được trừ.

    Nội dung cơ bản của chỉ tiêu giá vốn hàng bán ở các doanh nghiệp sản xuất là giá thành sản xuất thực tế của các loại sản phẩm đã bán được từng kỳ kế toán.Ngoài ra còn những khoản khác cũng tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ:

    – Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, công nhân trực tiếp trên mức bình thường.

    – Dự phòng giảm  giá hàng tồn kho

    – Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho,sau khi trừ phần bồi thường trách nhiệm do cá nhân gây ra.

        1.3.2.Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”

    Bên Nợ:

    – Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường vật chất.

    – Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập ở năm trước.

    Bên Có:

    – Giá vốn hàng bán đã bị trả lại.

    – Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay nhỏ  hơn số dự  phòng đã lập ở năm trước.

    – Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thu trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.

    Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ.

        1.3.3.Sơ đồ kế toán tổng hợp:

    1.4.KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG:

         1.4.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Chí phí bán hàng là các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ các loại sản phẩm hàng hoá hay cung cấp dịch vụ như:

    – Tiền lương và các khoản chi phí tính theo lương của nhân viên bán hàng,tiếp thị,đóng gói, bảo quản…

    – Khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng ,chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ đồ dùng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền như: quảng cáo, giao dịch, giao hàng, hoa hồng bán hàng….

    Trong quá trình hạch toán chi phí bán hàng phải được theo dõi chi tiết theo yếu tố chi phí và tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp chi phí bán hàng có thể được kết hợp theo dõi dưới những nội dung khác nhau để giám đốc chặt chẽ công dụng và hiệu quả kinh tế của chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí từng đợt bán hàng….

        1.4.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 641 “Chi phí bán hàng”

    Bên Nợ:

    – Chí phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ

    Bên Có:

    – Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng

    – Kết chuyển chi phí bán hàng để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ chi phí bán hàng cho những sản phẩm sẽ tiêu thụ ở kỳ sau

    TK 641 không có số dư cuối kỳ

    TK 641 có 7 tài khoản cấp 2:

    – TK 6411 “ Chi phí nhân viên”

    – TK 6412 “ Chi phí vật liệu, bao bì”

    – TK 6413  “ Chi phí dụng cụ đồ dùng”

    – TK 6414  “ Khấu hao TSCĐ”

    – TK 6415 “ Chi phí bảo hành”

    – TK 6417 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”

    – TK 6418 “ Chi phí khác bằng tiền”

     

        1.4.3.Sơ đồ tài khoản:

    TK 334,338                                                 TK 641                            TK138,111

    Tiền lương và các khoản             Ghi giảm chi phí bán hàng

           
       
         
     

    trích theo lương được tính

    vào chi phí bán hàng

    TK 152,153                                                                                                   TK335

    Giá trị vật liệu,công cụ                Số trích trước lớn hơn chi

    tính cho bộ phận bán hàng        chiphí thực tế, ghi giảm chi                                                                                                     phí bán hàng

    TK 142,335                                                                                            TK142(1422)

    Khi phân bổ chi phí trả trước                   Chi phí bán hàng chuyển

    hoặc trích trước chi phí sửa chữa            sang kỳ sau

    TSCĐ ở bộ phận bán hàng

     

    TK214                                                                                                            TK911

    Khấu hao TSCĐ ở bộ phận         Kết chuyển chi phí bán

    bán hàng                            hàng để tính kết quả kinh

    doanh kỳ này

    TK 331

    Chi phí                  TK 133                                                                                                   điện nước,

    điện

    thoại…

    TK111.112                                       

    1.5.KẾ TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP:

        1.5.1.Khái niệm:

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản chi phí tính theo lương của ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban,chi phí vật liệu, đồ dùng cho văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế,lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài văn phòng doanh nghiệp và các chi phí bằng tiền chung cho toàn doanh nghiệp như: phí kiểm toán,chi phí tiếp tân, khánh tiết,công tác phí, tiền nộp quỹ quản lý tổng công ty và các khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ.

        1.5.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 642 “Chí phí quản lý doanh nghiệp”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Các khoản ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.

    – Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp cho những sản phẩm chưa bán được lúc cuối kỳ.

    TK 642 không có số dư cuối kỳ.

    TK 642 có 8 tài khoản cấp 2:

    – TK 6421 “ Chi phí nhân viên”

    – TK 6422 “ Chi phí vật liệu quản lý”

    – TK 6423 “ Chi phí đồ dùng văn phòng”

    – TK 6424 “ Khấu hao TSCĐ”

    – TK 6425 “ Thuế ,phí và lệ phí”

    – TK6426 “ Chi phí dự phòng”

    – TK 6427 “ Chi phí dịch vụ mua ngoài”

    –  TK 6428 “Chi phí khác bằng tiền”

        1.5.3.Sơ đồ tài khoản

    TK 334.338                                                         TK 642                               TK 138.111

    Lương  và các khoản trích                            Ghi giảm chi phí

     
       

    theo lương

    TK152,153                                                                                                            TK 335

    Giá trị vật liệu, công cụ

    dùng cho quản lý

    TK 142.242.335

    Khi tính trước chi phí sửa                                                  TK 142(1422)

       

    chữa lớn TSCĐ ở bộ phận

    Chi phí QLDN chuyển

    TK 214

    Khấu hao tài sản dùng

     
       

    chung cho doanh nghiệp                                                                   TK 911

    TK 139

    Khoản dự phòng được tính                  Kết chuyển chi phí quản lý

           
         
       
     

    vào chi phí QLDN                                doanh nghiệp để tính kết

    quả kinh doanh kỳ này

    TK 333

    Thuế môn bài, nhà đất

     
       

    phải nộp

    TK 331

    Khi phát sinh

     
       

    TK 133

    TK 111.112

    Chi phí được tính vào Chi

     
       

    Phí QLDN

    1.6.KẾ TOÁN DOANH THU HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ CHI PHÍ TÀI CHÍNH:

        1.6.1.Kế toán doanh thu hoạt động tài chính:

             1.6.1.1.Khái niệm:

    Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu do hoạt động tài chính mang lại như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.

             1.6.1.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”

    Bên Nợ:

    – Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp

    – Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang tài khoản 911

    Bên Có:

    – Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    TK 515 không có số dư cuối kỳ.

    1.6.1.3.Sơ đồ tài khoản:

        TK 3331                                        TK 515                 TK 111,112,131,138

    (1)                                             (3)

           
           

                TK 911                                                                                 TK 413

    (2)                                           (4)

    TK121.221.222

    (5)

     

      * Giải thích sơ đồ:

    (1). Xác định thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với hoạt động  tài chính (nếu có).

    (2). Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

    (3).  Thu nhập hoạt động tài chính, nhận được thông báo lãi chứng khoán,lãi do bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán được hưởng,doanh thu cơ sở hạ tầng, doanh thu bất động sản,…

    (4). Kết chuyển chênh lệch tỷ giá hối đoái trong kỳ và đánh giá lại cuối kỳ (sau khi đã bù trừ).

    (5). Thu nhập về lợi nhuận được chia bổ sung góp vốn liên doanh, lãi cho vay, lãi kinh doanh chứng khoán bổ sung mua chứng khoán.

        1.6.2.Kế toán chi phí hoạt động tài chính:

             1.6.2.1.Khái niệm:

    Chi phí tài chính là những chi phí và những khoản lỗ liên quan đến hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính, bao gồm:

    – Lỗ chuyển nhượng chứng khoán, chi phí giao dịch bán chứng khoán.

    – Chi phí góp vốn liên doanh.

    – Chi phí cho vay và đi vay vốn.

    – Lỗ do bán ngoại tệ, lỗ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

    – Chiết khấu thanh toán chấp nhận cho khách hàng được hưởng khi khách hàng thanh toán trước thời hạn…

    1.6.2.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 635 “ Chi phí tài chính”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.

    – Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ chi phí và các khoản lỗ về hoạt động tài chính để xác định kết quả kinh doanh.

    TK 635 không có số dư cuối kỳ.

             1.6.2.3.Sơ đồ tài khoản:

           TK 129,229                                    TK 635                                  TK 129,229

    (1)                                                (6)

      TK 111,112,131,141                                                                            TK 911

    (2)                                                          (7)

       TK 121,128,221,222

    (3)

            TK 228,413

                                             (4)

      TK 111,112,311,315

     

    (5)

         * Giải thích sơ đồ:

    (1). Lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn ( lập lần đầu, lập bổ sung ).

    (2). Khoản chiết khấu thanh toán cho người mua hàng hoá, dịch vụ được hưởng. Chi phí phát sinh cho hoạt động vay vốn, chi phí hoạt động đầu tư chứng khoán, chi phí hoạt động tài chính; số lỗ về tỷ giá do bán ngoại tệ.

    (3). Lỗ về đầu tư thu hồi ( số tiền thực thu nhỏ hơn vốn đầu tư thu hồi).

    (4). Kết chuyển lỗ do chênh lệch tỷ giá; trị giá vốn đầu  tư bất động sản.

    (5). Lãi tiền vay đã trả hoặc phải trả.

    (6). Hoàn nhập dự phòng đầu tư ngắn hạn, dài hạn.

    (7). Kết chuyển chi phí tài chính để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

    1.7.KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THU NHẬP KHÁC VÀ CHI PHÍ KHÁC:

        1.7.1.Kế toán các khoản thu nhập khác:

             1.7.1.1.Khái niệm:

    Thu nhập khác là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm:

    – Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ.

    – Thu các khoản nợ khó đòi do xử lý xoá nợ.

    – Các khoản thuế được ngân sách nhà nước hoàn lại,…

             1.7.1.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 711 “Thu nhập khác”

    Bên Nợ:

    – Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với các khoản thu nhập khác (nếu có).

    – Cuối kỳ kết chuyển các khoản thu nhập khác sang TK 911

    Bên Có:

    – Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    TK 711 không có số dư cuối kỳ.

             1.7.1.2.Sơ đồ tài khoản:

    TK 3331                                      TK711                      TK111,112,131

    (1)                                           (3)

          TK 911                                                                     TK 338,344,334

    (2)                                           (4)

     

    TK 331,338,3331

    (5)

         * Giải thích sơ đồ:

    (1). Xác định thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với hoạt động khác ( nếu có).

    (2). Cuối kỳ kế toán, kết chuyển các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    (3). Thu về thanh lý TSCĐ, thu phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng kinh tế, tiền bảo hiểm được các tổ chức bảo hiểm bồi thường, nợ khó đòi đã sử lý sau đó thu được nợ.

    (4). Khoản tiền phạt khách hàng khấu trừ vào tiền ký cược, ký quỹ ngắn hạn, dài hạn, khấu trừ lương của CB – CNV.

    (5). Các khoản nợ phải trả mà chủ nợ không đòi được tính vào thu nhập khác, số thuế GTGT được giảm trừ vào số thuế GTGT phải nộp trong kỳ.

        1.7.2.Kế toán các khoản chi phí khác:

             1.7.2.1.Khái niệm:

             Chi phí khác là khoản chi phí của hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu của đơn vị, gồm:

    – Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý,nhượng bán (nếu có).

    – Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.

    – Khoản bị phạt thuế, truy nộp thuế.

    – Các khoản chi phí khác…

             1.7.2.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 811 “Chi phí khác”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Cuối kỳ kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào tài khoản 911.

    TK 811 không có số dư cuối kỳ.

             1.7.2.3. Sơ đồ tài khoản:

    TK 111,112,141                                 TK 811                                     TK911        (1)                                                  (4)

            TK 211,213

    (2)

            TK 333,338

     
       

     

    (3)

        * Giải thích sơ đồ :

    (1). Chi phí phát sinh khi khắc phục tổn thất do gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

    (2). Giá trị còn lại của tài sản cố định mang đi thanh lý, nhượng bán.

    (3). Tiền phạt phải nộp về vi phạm hợp đồng kinh tế, phải nộp về khoản doanh nghiệp bị truy thu thuế.

    (4). Cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ chi phí khác phát sinh trong kỳ để xác địmh kết quả kinh doanh.

    1.8. KẾ TOÁN CHI PHÍ THUẾ TNDN

        1.8.1. Khái niệm:

    Chi phí thuế TNDN là tổng chi phí thuế TNDN hiện hành và chi phí thuế thu nhập hoãn lại khi xác định lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ.

        1.8.2. Tài khoản sử dụng và nguyên tắc hạch toán:

    TK 821 “Chi phí thuế TNDN” có 2 TK cấp 2:

    – TK 8211 – Chi phí thuế TNDN hiện hành

    – TK 8212 – Chi phí thuế TNDN hoãn lại

        * TK 8211 – chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

    Quy định hạch toán:

    1) Hàng quý, kế toán căn cứ vào tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp để ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp vào chi phí thuế thu nhập hiện hành.

    2) Cuối năm tài chính căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế, nếu số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp trong năm < số phải nộp cho năm đó, kế toán ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêm vào chi phí thuế thu nhập hiện hành. Trường hợp số thuế thu nhập tạm phải nộp trong năm > số phải nộp của năm đó, kế toán phải ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số chênh lệch giữa số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm > số phải nộp.

    3) Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liên quan đến khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước, doanh nghiệp được hạch toán tăng (hoặc giảm) số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành của năm phát hiện sai sót.

    4) Kết thúc năm, kế toán kết chuyển giữa chi phi thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành phát sinh trong năm vào TK 911 để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

    Bên Nợ:

    – Thuế TNDN phải nộp tính vào chi phí thuế TNDN hiện hành phát sinh trong năm.

    –  Thuế TNDN của các năm trước phải bổ sung do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi tăng chi phí thuế TNDN hiện hành của năm hiện tại.

    Bên Có:

    –  Số thuế TNDN thực tế phải nộp trong năm nhỏ hơn số thuế thu nhập tạm nộp được giảm trừ vào chi phí thuế TNDN hiện hành được ghi nhận trong năm.

    –  Số thuế TNDN phải nộp được ghi giảm do phát hiện sai sót  không trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chi phí thuế TNDN hiện hành trong năm hiện tại.

    –   Kết chuyển chi phí thuế TNDN hiện hành vào bên Nợ TK 911.

        * TK 8212 – Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

    Quy định hạch toán:

    1) Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định số thuế thu nhập hoãn lại phải trả để ghi nhận vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại. Đồng thời phải xác định tài sản thuế thu nhập hoãn lại để ghi nhận vào thu nhập thuế thu nhập doanh nghiệp “Ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại”.

    2) Kế toán không được phản ánh vào TK này tài sản thuế thu nhập hoãn lại hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ các giao dịch đươc ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu.

    3) Cuối năm tài chính, kế toán phải kết chuyển số chênh lệch giữa số phát sinh bên Nợ và số phát sinh bên Có TK 8212 vào TK 911.

    Bên Nợ:

    – Chi phí thuế TNDN hoãn lại phát sinh trong năm từ việc ghi nhận thuế TNDN hoãn lại phải trả.

    – Chi phí thuế TNDN hoãn lại được ghi nhận từ số chênh lệch giữa tài sản thuế thu nhập hoãn lại được hoàn nhập trong năm lớn hơn tài sản thuế TNDN hoãn lại phát sinh trong năm.

    – Kết chuyển chênh lệch giữa số phát sinh Bên có lớn hơn Bên nợ TK 8212 phát sinh trong năm  vào TK 911.

    Bên Có :

    – Ghi giảm chi phí thuế TNDN hoãn lại (chênh lệch giữa tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh trong năm lớn hơn tài sản thuế thu nhập hoãn lại được hoàn nhập trong năm).

    – Ghi giảm chi phí thuế thu nhập hoãn lại (Số chênh lệch giũa số thuế thu nhập hoãn lại phải trả được hoàn nhập trong năm).

    – Kết chuyển chênh lệch giữa số phát sinh Bên có nhỏ hơn Bên nợ TK 8212 vào TK 911.

        1.8.3.Sơ đồ tài khoản:

    TK 3334                                         TK 821                                         TK 911

    Kết chuyển chí phí thuế       Kết chuyển chí phí thuế                                                                     TNDN phải nộp                TNDN vào TK 911

    1.9.KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH:

        1.9.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Kết quả hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu với giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ và nộp theo quy định của pháp luật (trừ  thuế thu nhập doanh nghiệp ) của từng kỳ kế toán.

    – Khi xác định kết quả hoạt động kinh doanh cần tôn trọng các nguyên tắc sau đây:

    + Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán chi tiết theo từng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện của bộ phận sản xuất khác nhau trong doanh nghiệp.

    +  Phải đảm bảo mối quan hệ tương xứng giữa doanh thu với các chi phí được trừ. Những chi phí phát sinh trong kỳ  này nhưng có liên quan đến doanh thu được hưởng ở kỳ sau thì phải chuyển sang chi phí hoạt động của kỳ sau, khi nào thu dự kiến đã thực hiện được thì chi phí có liên quan mới được trừ để tính kết quả kinh doanh.

    – Không được tính chi vào chi phí của hoạt động kinh doanh các khoản sau:

    + Chí phí hoạt động tài chính và các chi phí bất thường .

    + Các khoản thiệt hại được nhà nước trợ cấp hoặc cho phép giảm vốn và các khoản thiệt hại được bên gây ra thiệt hại và công ty bảo hiểm bồi thường.

    + Chi phí công tác nước ngoài vượt định mức do nhà nước quy định.

    +Các khoản chi do các nguồn khác đài thọ như: chi sự nghiệp, chi cho nhà ăn tập thể, chi phí hoạt động của các tổ chức Đảng đoàn thể,….

        – Cách xác định kết quả kinh doanh:

    Kết quả                            Kết quả                         Kết quả                         Kết quả

    hoạt động                 =     hoạt động           +        hoạt động           +        hoạt động

    kinh doanh                      bán hàng                       tài chính                        khác

        Trong đó:

    Kết quả                                                                                                          Chi phí

    hoạt động       =      Doanh thu  –   Giá vốn    –    Chi phí        –           lý doanh

    bán hàng                   thuần             hàng bán          bán hàng                     nghiệp

        Mà:

    Doanh thu         Tổng doanh          Thuế              Chiết khấu     Giá trị       Giảm  giá bán hàng     =   thu hàng        –    phải nộp    –    thương     –  hàng  bán  –  hàng bán

    thuần                   bán hàng                                         mại            bị trả lại

    Kết quả hoạt                                      Doanh thu hoạt                                    Chi phí tài

    động tài chính          =                      động tài chính                  –                  chính

    Kết quả hoạt

    động khác                  =                      Thu nhập khác          –           Chi phí khác

    1.9.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”

    Bên Nợ :

    – Trị giá vốn của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ.

    – Chi phí hoạt động tài chính và bất thường phát sinh trong kỳ.

    – Kết chuyển lợi tức trước thuế của hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.

    Bên Có :

    – Doanh thu thuần về số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Thu nhập hoạt động tài chính và các khoản bất thường .

    TK 911 không có số dư cuối kỳ

    1.9.3. Sơ đồ kế toán tổng hợp và xác định kết quả kinh doanh:

    TK632                                                    TK911                                     TK511

    Kết chuyển giá vốn hàng bán                Kết chuyển doanh thu

    sản phẩm tiêu thụ                                         bán hàng thuần

    TK641                                                                                                            TK 515

    Kết chuyển chi phí bán hàng                Kết chuyển doanhn thu

    phát sinh trong kỳ                                       hoạt động tài chính

        TK 642

                     TK711

    Kết chuyển chi phí quản lý                           Kết chuyển thu nhập khác

    doanh nghiệp phát sinh trong kỳ

          TK 635                                                                                                         TK421

    Kết chuyển chi phí hoạt động             Kết chuyển lỗ hoạt                                 tài chính phát sinh trong kỳ               động kinh doanh trong kỳ

    TK811

    Kết chuyển chi phí khác

    phát sinh trong kỳ

          TK 821

    Kết chuyển chi phí thuế TNDN

    hiện hành

    TK142(1422)          

    Tính và kết chuyển chi phí bán hàng,

    chi phi quản lý doanh nghiệp còn lại

    kỳ trước vào chi phí hoạt động kinh

    doanh kỳ này

    TK 421

    Kết chuyển lãi hoạt động

    kinh doanh trong kỳ

    1.10.KẾ TOÁN PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP

    1.10.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Lợi nhuận hoạt động cả năm là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận hoạt động khác.

    Theo chế độ hiện hành đối với các doanh nghiệp nhà nước, lợi nhuận được phân phối theo trình tự sau:

    – Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

    – Trả tiền phạt như: tiền phạt vi phạm kỷ luật, thu nộp ngân sách, tiền vi phạm hành chính, phạt vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

    – Trừ các khoản lỗ không được trừ vào lợi nhuận trước thuế.

    – Chia lãi cho các đối tác gốp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    – Phần lợi nhuận còn lại trích lập các quỹ của doanh nghiệp như sau:

    + Quỹ đầu tư phát triển: trích từ tỷ lệ quy định là 50% trở lên không hạn chế mức tối đa.

    + Quỹ dự phòng tài chính: trích 10% số dư của quỹ này tối đa không được vượt quá 25% vốn điều lệ.

    + Số còn lại sau khi trích các quỹ trên được trích lập quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi.

        1.10.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 421 “ Lợi nhuận chưa phân phối”

    Bên Nợ:

    – Số lỗ về hoạt động kinh doanh của doannh nghiệp.

    – Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

    – Trích lập các quỹ

    – Chia lợi nhuận cho các bên tham gia liên doanh, cho các cổ đông.

    – Bổ sung nguồn vốn kinh doanh.

    – Nộp lợi nhuận cho cấp trên.

    Bên Có:

    – Số lợi nhuận thực tế của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tronh kỳ.

    – Số lợi nhuận cấp dưới nộp lên, số lỗ của cấp dưới được cấp trên cấp.

    – Xử lý các khoản lỗ về hoạt động kinh doanh.

    Số dư bên Có:

    – Số lợi nhuận chưa phân phối hoặc chưa sử dụng

    Số dư bên Nợ:

    – Số lỗ hoạt động kinh doanh chưa xử lý

    TK 421 có 2 tài khoản cấp 2:

    – TK 4211 “ Lợi nhuận năm trước”

    – TK 4212 “ Lợi nhuận năm nay”

        1.10.3.Sơ đồ tài khoản tổng hợp:

    Tạm phân phối lợi nhuận năm nay

    TK333(3334)                               TK421(4212)                                       TK 911

    Số thuế thu nhập doanh                  Lãi về hoạt động kinh

    nghiệp phải nộp                                doanh trong kỳ

    TK111,112,338

    Chia lãi cho các bên tham

    gia liên doanh,cổ đông

    TK414,415,431

    Phân phối vào các quỹ

    doanh nghiệp

    TK421(4211)

    Kết chuyển vào cuối năm

    CHƯƠNG 2

    GIỚI THIỆU KHÁT QUÁT VỀ

    CÔNG TY TNHH SX- TM-DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY:

        2.1.1/ Lịch sử hình thành và phát triển của Doanh nghiệp :

    Doanh nghiệp tư nhân Lý Tài Phát được thành lập và họat động tuân theo Luật Doanh Nghiệp được Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 12/06/1999

    Ngày thành lập: 10/01/2006

    Ngày chính thức hoạt động: 27/03/2006

    Tên Doanh Nghiệp: – Doanh nghiệp lấy tên: Cty TNHH Lý Tài Phát

    – Mã số Thuế:       1 7 0 0 4 8 7 7 6 8

    Địa chỉ: Quốc Lộ 80 – Ấp Mỹ Lộ – Xã Mỹ Đức – TX. Hà Tiên – Kiên giang

    Vốn điều lệ: 6,000,000,000 VND (Sáu Tỷ Đồng Việt Nam).

    Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc LÝ BẢN LẢNH

    Phạm vi trách nhiệm: Chịu trách nhiệm toàn bộ về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Doanh Nghiệp.

        2.1.2/ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp :

    *Hình thức hoạt động :  Kinh doanh tư nhân

    *Lĩnh Vực Kinh Doanh : Thương mại – xuất khẩu

        2.1.3/ Thuận lợi và khó khăn :

        *Thuận Lợi :

    – Về Kinh Tế: Do nằm ngay trục đường chính gần biên giới cửa khẩu Quốc Tế Hà Tiên. Nên rất thuận lợi cho việc buôn bán và giao hàng tại khu biên giới. Tạo thu nhập cao, nâng cao đời sống của công nhân viên trong doanh nghiệp.

    – Về Xã Hội: Tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều công nhân biên giới, đặt biệt là người dân tộc

    *Khó khăn :

    Chưa đáp ứng được hết nhu cầu tối đa của khách hàng, do tính chất của hàng hóa đa dạng. Phương tiện vận chuyển, đường xá đi lại của bên xuất khẩu còn nhiều khó khăn.

              2.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA DOANH NGHIỆP:

             2.2.1/ Sơ đồ tổ chức.

    Do là Công ty vừa và nhỏ và tính chất công việc đơn giản đòi hỏi ít người làm nên cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp chỉ có:

    – Chủ doanh nghiệp: 1 người

    – Thủ quỷ:1 người

    – Kế toán: 1

    – Thủ kho: 2 người

    – Nhân viên bán hàng: 4 người

    – Nhân viên giao hàng: 4 người

        SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

     

     

     

     

        2.2.2/ Chức năng nhiệm vụ của bộ máy doanh nghiệp:

    – Chủ doanh nghiệp : là người quản lý, giám sát quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng là người có nghĩa vụ pháp lý.

    – Kế toán:

    + Lập sổ kế toán, ghi chép sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo qui định của pháp luật.

                + Tiến hành lập báo cáo tài chính trung thực, chính xác, chịu sự kiểm tra của cơ quan nhà nước.

    + Hằng ngày tập hợp, phân loại chứng từ ghi chép vào sổ sách liên quan, cuối tháng làm căn cứ  xác định kết quả kinh doanh,.

    – Nhân viên bán hàng : là người trực tiếp bán hàng và xuất hóa đơn cho khách hàng.

    – Thủ Kho : là người chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hóa. Tồn, xuất bao nhiêu, kiểm kê hàng nhập kho. Từ đó điều chỉnh mức mua bán phù hợp.

    – Thủ quỹ : là người có trách nhiệm về việc thu, chi các khoản tiền mặt đầy đủ, chính xác, biết bảo quản tiền quỹ tốt, đồng thời cuối tháng nên đối chiếu với kế toán xem có khớp không.

    2.3.TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY :

        2.3.1. Hình thức tổ chức:

    Là DNTN vừa và nhỏ nên bộ máy kế toán khá đơn giản. Tất cả các hóa đơn chứng từ, được nhân viên bán hàng tập hợp và giao cho kế toán. Kế toán tập hợp phân loại chứng từ có liên quan và ghi sổ sách liên quan. Đến cuối kỳ kế toán lập báo cáo tài chính, báo cáo thuế và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời giải thích cho doanh nghiệp thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như tình hình sử dụng tài chính của đơn vị mình.

    2.3.2. Hình thức hạch toán kế toán:

        * Đặc điểm :

             – Đơn vị tiền tệ sử dụng : VNĐ

    – Nguyên tắc hạch toán  TSCĐ : theo nguyên giá

    – Phương pháp khấu hao : Bình quân

    – Tỷ lệ khấu hao: Nguyên giá/năm/tháng

    – Hạch toán giá vốn theo phương pháp :nhập trước- xuất trước

    * Phương pháp kế toán hàng tồn kho:

    – Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: ghi nhận theo giá gốc

    – Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ : Bình quân gia quyền

    – Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên

        * Sổ kế toán sử dụng :

    – Sổ nhật ký- sổ cái

    – Sổ theo dỏi tiền mặt

    – Sổ chi tiết mua hàng

    – Thẻ kho

        * Hình thức ghi sổ :

    Do tính chất đa dạng của hàng hóa và để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình theo dỏi và kiểm tra hàng hóa doanh nghiệp đã chọn hình thức : Nhật Ký – sổ Cái

        2.3.3.Sơ đồ bộ máy kế toán:

    Do doanh nghiệp nhỏ nên sơ đồ bộ máy kế toán tổ chức tương đối đơn giản,gọn nhẹ chỉ bao gồm kế toán trưởng, kế toán viên và thủ quỹ.

     
       

        2.3.4.Sơ đồ lưu chuyển chứng từ:

     
       
    Sổ, thẻ kế toán chi tiết
    Sổ quỹ
           
       
         
     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ghi chú:                   Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu, kiểm tra

    CHƯƠNG 3

    KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH SX – TM – DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    3.1.KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH:

        3.1.1.Kế toán doanh thu bán hàng:

    Do doanh nghiệp có quy mô  vừa và nhỏ nên chỉ phát sinh tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng, không có các khoản làm giảm trừ doanh thu nên doanh thu bán hàng chính là doanh thu thuần.

             3.1.1.1 Chứng từ kế toán:

             – Hoá đơn GTGT

    – Hoá đơn bán hàng

    – Các bảng kê bán hàng hoá

    – Sổ chi tiết bán hàng

             3.1.1.2 Thủ tục và trình tự luân chuyển chứng từ:

    Hoá đơn bán hàng do người bán lập khi bán hàng theo mẫu sổ của Bộ tài chính quy định để làm căn cứ ghi sổ. Hoá đơn được lập thành 3 liên:

    + Liên 1: lưu làm hồ sơ gốc.

    + Liên 2: giao cho người mua hàng làm chứng từ đi đường và ghi sổ kế toán đơn vị mua.

    + Liên 3: Người bán giữ để làm chứng từ thu tiền và ghi nhận doanh thu hoặc cuối ngày mang cùng tiền mặt, séc nộp cho kế toán để làm thủ tục nhập quỹ và ghi sổ kế toán có liên quan. Nếu khách hàng thanh toán bằng tiền thì đóng dấu “Đã thu tiền”. Nếu khách hàng chưa thanh toán tiền thì ghi Nợ phải thu.

    Trình tự luân chuyển chứng từ: Khi có khách hàng đến mua hàng với số lượng lớn thì thủ kho và nhân viên bán hàng tiến hành lập hoá đơn bán hàng, vô sổ sách chứng từ có liên quan, trình để ký đóng dấu và đưa cho kế toán trưởng ký tên xác nhận và tiếp tục chuyển lên Ban giám đốc ký tên và đóng dấu rồi đem xuống kho. Tại kho, thủ kho sẽ xuất số lượng thực tế theo số lượng được ghi trên hoá đơn xuất hàng và đóng dấu “ Đã giao hàng”. Sau đó, thủ kho giao liên đỏ cho người mua, người mua nhận hàng, ký tên xác nhận và liên xanh được chuyển lên phòng kế toán để thanh toán tiền. Cuối cùng, kế toán sẽ hạch toán vào các sổ sách liên quan như: sổ chi tiết bán hàng, Sổ Nhật ký – Sổ Cái

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 511- Doanh thu bán hàng

    Ngày Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ :    
            Tháng 4 Phải thu khách hàng 1311   10.508.665.559
    Tháng 5 Phải thu khách hàng 1311   13.573.916.383
    Tháng 6 Phải thu khách hàng 1311   14.530.175.947
    Tháng 7 phải thu khách hàng 1311   11.248.813.300
    Tháng 8 Phải thu khách hàng 1311   8.782.495.828
    Tháng 9 Phải thu khách hàng 1311   7.478.207.800
    Tháng 10 Phải thu khách hàng 1311   12.125.829.131
    Tháng 11 Phải thu khách hàng 1311   15.874.386.432
    Tháng 12 Phải thu khách hàng 1311   15.540.360.500
      Xác định KQKD 911 109.662.850.880  
    Phát sinh 109.662.850.880 109.662.850.880
    Lũy kế    
    Số dư cuối kỳ    

             3.1.1.3.Sơ đồ hạch toán:

    Cuối năm kế toán tổng hợp số liệu và khoá sổ chi tiết bán hàng.Sau đó tổng hợp chi tiết (số liệu được kiểm tra đối chiếu với số phát sinh trên Nhật ký – Sổ cái), sau cùng kế toán áp dụng số liệu trên để lập báo cáo tài chính.

        TK 911                                 TK 511                                   `TK112,131

    109.622.850.880                                 109.622.850.880

        3.1.2.Kế toán doanh thu hoạt động tài chính:

    Các khoản thu nhập hoạt động tài chính bao gồm : Lãi tiền gửi ngân hàng,chênh lệch tỷ giá ngoại tệ

    3.1.2.1.Chứng từ sử dụng:

    – Sử dụng các hoá đơn

    –  Các chứng từ thu tiền liên quan

             3.1.2.2.Sổ kế toán:

         SỔ CÁI TỔNG HỢP

              Năm 2008

    TK 515 –Doanh thu hoạt động tài chính

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền gửi ngân hàng –

     

    tiền Việt Nam

    1121   8.559.221
    Xác định KQKD 911 8.559.221  
    Phát sinh: 8.559.221 8.559.221
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.2.3.Sơ đồ hạch toán:

    TK911                                           TK 515                                  TK1121

    8.559.221                              8.599.221

        3.1.3.Kế toán giá vốn hàng bán:

             3.1.3.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu xuất kho

    – Bảng kê hàng hoá mua vào

             3.1.3.2.Sổ kế toán

    Giá vốn hàng bán được kế toán phản ánh ngay khi xuất kho bán hàng.Sau đó  ghi vào nhật ký sổ cái để cuối kỳ tiến hành đối chiếu số liệu dùng làm báo cáo.

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 632- Giá vốn hàng bán

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Hàng hoá 1561 106.421.587.363  
    Xác định KQKD 911   106.421.587.363
    Phát sinh: 106.421.587.363 106.421.587.363
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

    3.1.3.3.Sơ đồ hạch toán:

           TK 156                                       TK 632                                    TK 911

    106.421.587.362                  106.421.587.362

        3.1.4.Kế toán chi phí bán hàng:

              3.1.4.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu chi

    – Chứng từ gốc

           3.1.4.2.Trình tự luân chuyển chứng từ

               Hàng  ngày có các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến bộ phận bán hàng, kế toán sẽ ghi sẽ ghi vào sổ Nhật ký – sổ cái.Sau đó  được ghi vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan..

             3.1.4.3.Sổ kế toán :

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 641- Chi phí bán hàng

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Khấu hao TSCĐ 2141 7.959.616  
    Chi phí chuyển tiền 338 8.955.888  
    Phân bổ CCLĐ 242 7.185.953  
    Lương bán hàng 3443 136.800.000  
    Chi lệ phí hải quan 3339 12.660.000  
    Xác địnhKQKD 911   173.561.457
    Phát sinh: 173.561.457 173.561.457
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.4.4:Sơ đồ tài khoản:

    TK2141                                              TK 641                                           TK 911

    7.959.616                      7.959.616        173.561.457            173.561.457

    TK 338

    8.955.888                       8.955.888

    TK 242

    7.185.953                    7.815.983

    TK 3343

    136.800.000              136.800.000

    TK 3393

    12.660.000                     12.660.000

    173.561.457        173.561.457

     

        3.1.5.Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:

              3.1.5.1.Chứng từ sử dụng:

    – Chứng từ chi

    – Phiếu chi

    – Giấy đề nghị chi

    – Bảng tính lương và các khoản trích theo lương

    – Hoá đơn điện, nước, điện thoại

    – Giấy thông báo nộp thuế

             3.1.5.2.Trình tự luân chuyển :

    Sau khi hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hằng ngày có liên quan đến việc quản lý doanh nghiệp vào chứng từ gốc. Căn cứ vào chứng từ gốc, nhân viên kế toán sẽ ghi vào sổ Nhật ký – sổ cái. Đến cuối tháng, kế toán sẽ hạch toán vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan.

             3.1.5.3.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 641- Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Lương gián tiếp 3341 157.500.000  
    BHXH + BHYT 3383 30.753.000  
    Chi BHTS 242 10.878.091  
    Văn phòng phẩm 1111 5.511.700  
    Chi tiếp khách 1111 7.400.000  
    Chi trả tiền điện-nước , điện thoại 1111 9.998.819  
    Thuế môn bài 3338 2.000.000  
    Chi khác 1121 48.219.589  
    X ác định KQKD 911   272.261.199
    Phát sinh: 272.261.199 272.261.199
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

            3.1.5.4.Sơ đồ tài khoản:

    TK1111                                         TK 642                                              TK911

    22.910.519            22.810.519

    272.261.199              272.261.199

          TK1121

     

    48.219.589            48.219.589

     

          TK242

    10.878.091               10.78.091

             TK 3341

    157.500.000          157.500.000

    TK 3338

    2.000.000               2.000.000

         TK 3383

     

    30.753.000             30.753.000

     
       

    272.261.199           272.261.199

     

        3.1.6.Kế toán chi phí tài chính:

    Trong năm 2008,doanh nghiệp không có hoạt động nào phát sinh chi phí tài chính.

        3.1.7.Kế toán thu nhập khác:

               3.1.7.1.Chứng từ sử dụng:

    – Sử dụng hoá đơn

    – Các chứng từ thu tiền liên quan

              3.1.7.2.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 711 – Thu nhập khác

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền mặt –

     

    Tiền Việt Nam

    1111 6.014.776.249  
    Xác định KQKD 911   6.014.776.249
    Phát sinh: 6.014.776.249 6.014.776.249
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.7.3.Sơ đồ kế toán:

    TK 911                              TK 711                             TK 1111

     

     

                             6.014.776.249                      6.014.776.249

     

     

     

        3.1.8.Kế toán chi phí khác:

             3.1.8.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu chi

    – Biên bản xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế

              3.1.8.2.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 811 – Chi phí khác

     

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền mặt

     

    Tiền Việt Nam

    1111 5.349.033.221  
    Xácđịnh KQKD 911   5.349.033.221
    Phát sinh: 5.349.033.221 5.349.033.221
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

              3.1.8.3.Sơ đồ hạch toán:

    TK 911                           TK 811                             TK1111

     

                            5.349.033.221           5.349.033.221

     

        3.1.9.Kế toán xác định kết quả kinh doanh:

              3.1.9.1.Sổ kế toán:

    Cuối kỳ kế toán tập hợp doanh thu ,chi phí để xác định kết quả lãi lỗ kinh doanh trong kỳ.

     

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh

     

    Diễn giải Tài khoản đối ứng Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Giá vốn hàng bán 632 106.421.587.363  
    Chi phí bán hàng 641 173.561.457  
    Chi phí quản lý doanh nghiệp 642 272.261.199  
    Doanh thu tài chính 515   8.599.221
    Doanh thu bán hàng 5111   109.662.850.880
    Thu nhập khác 711   6.014.776.249
    Chi phí khác 811 5.349.033.221  
    Lợi nhuận năm nay 4212 3.469.783.110  
    Phát sinh: 115.686.226.350 115.686.226.350
    Luỹ kế:    
    Dư cuối:    

        3.1.9.2.Sơ đồ hạch toán:

        TK 632                                TK 911                                   TK 5111

    106.421.587.363                       109.662.850.880

           
           

    TK 641                                                                          TK 515

     
       

    173.561.457                                      8.599.221

    TK 642                                                                                     TK 711

           
           

    272.261.199                                      6.014.776.249

           
           

    TK 811

     
       

    5.349.033.221

    TK 421

    3.469.783.110

                               115.686.226.350               115.686.226.350

     

         
         
     
       

     

     

     

     

     

     

     

       

    Cty TNHH SX – TM – DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    Địa chỉ: Căn 14, lô 6 khu Trung TâM TM Trần Hầu

    MST :1700568093 

    Mẫu số B 02 – DNN

                 (ban hành theo QĐ số 48/2006/QĐ –BTC

                       ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC

                     BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

                                             Năm 2008

                                                                                        Đvt: Đồng

    CHỈ TIÊU MÃ SỐ Thuyết minh Năm 2008
    A B C 1
    1.Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1   109.662.850.880
    2.Các khoản giảm trừ doanh thu 2    
    3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (10 = 01 – 02 ) 10   109.662.850.880
    4.Giá vốn hàng bán 11   106.421.587.363
    5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ ( 20 = 10 – 11 ) 20   3.241.263.517
    6. Doanh thu hoạt động tài chính 21   8.599.221
    7. Chi phí tài chính 22    
    Trong đó: Chi phí lải vay 23    
    8. Chi phí quản lý kinh doanh 24   445.822.656
    9. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh ( 30 = 20 + 21 – 22 – 24 ) 30   2.804.040.082
    10. Thu nhập khác 31   6.014.776.249
    11. Chi phí khác 32   5.349.033.221
    12. Lợi nhuận khác ( 40 = 31 – 32 ) 40   665.743.028
    13. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế ( 50 = 30 + 40 ) 50   3.469.783.110
    14. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 51    
    15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp ( 60 = 50 – 51 ) 60   3.469.783.110

    3.2.KẾ TOÁN PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN:

             Qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,doanh nghiệp sẽ có khoản thu nhập sau khi đã bù đắp các khoản chi phí có liên quan, phần còn lại là lợi nhuận.

    Lợi nhuận của doanh nghiệp là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nói lên sự nỗ lực phấn đấu của từng bộ phận, từng công nhân viên trong doanh nghiệp, nhất là sự lãnh đạo của Giám Đốc công ty.

    Do là doanh nghiệp tư nhân không có trích lập các quỹ cho doanh nghiệp nên phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp chủ yếu sử dụng để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ kế tiếp.

    CHƯƠNG 4

    KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

    4.1.NHẬN XÉT:

         4.1.1.Nhận xét về công tác kế toán:

    Công tác kế toán tại Công ty TNHH SX – TM – DV & XD Lý Tài Phát được tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt,có tính khoa học.Hình thức mở sổ kế toán của doanh nghiệp đúng theo chuẩn mực của nhà nước quy định.

    Trong tổ chức bộ máy kế toán của Công ty theo hình thức tập trung, vì tất cả các công việc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng, trong năm của Công ty đều được tập trung giải quyết tại phòng Kế Toán nên đảm bảo được tính thống nhất, chặt chẽ, tiết kiệm, việc xử lý và cung cấp thông tin nhanh nhạy. Nhờ đó Công ty cũng dễ dàng trong việc theo dõi, quản lý và chỉ đạo công tác kế toán một cách có hệ thống.

    4.1.2.Nhận xét về chế độ kế toán sử dụng:

    Hiện nay doanh nghiệp đã áp dụng chế độ kế toán đúng với Quyết định số: 48/2006 /QĐ-BTC về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC.

    Nhằm đảm bảo cho việc thu thập, xử lý thông tin và kiểm tra, kiểm soát, kế toán doanh nghiệp đang vận dụng chế độ kế toán từ Nhật ký – sổ cái, hệ thống tài khoản kế toán đến việc tổ chức, vận dụng sổ sách kế toán, hệ thống báo cáo kế toán đều thực hiện đúng chế tài chính kế toán quy định hiện hành theo các văn bản của Bộ tài chính.

    Doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán vào hạch toán, hệ thống mẫu sổ sách, báo cáo được thiết lập sẳn, do đó số liệu được rút trích tự động,  điều đó đã giảm nhẹ rất nhiều trong công tác kế toán. Trên cơ sở đó luồng thông tin giữa các pḥòng ban được cung cấp nhanh chóng, chính xác giúp các bộ phận phối hợp hoạt động, ban Giám đốc ra quyết định kịp thời, tránh những tình trạng tiêu cực trong quản lý.

    Mọi hoạt động thu, chi đều phải dưạ trên chứng từ đã được ký duyệt, thể hiện sự kiểm soát tốt tình hình thu chi tiền mặt. Những hoạt động khác từ các bộ phận đều phải thông qua sự xét duyệt của ban Giám đốc Doanh nghiệp hoặc người có thẩm quyền.

    Một điều đáng chú ý nữa là doanh nghiệp rất quan tâm đến đời sống của nhân viên luôn có chế độ ưu đăi đối với họ. Chính vì thế nên nhân viên làm việc rất nhiệt tình, thoải mái luôn hoàn thành tốt công việc được phân công.

    4.2.Kiến nghị

    Trong quá trình thực tập tại Doanh nghiệp, so sánh giữa thực tế ở Doanh nghiệp và kiến thức đã thu thập trong nhà trường. Em xin được đưa ra một số kiến nghị sau :

    – Thường xuyên tạo điều kiện để cán bộ, nhân viên kế toán tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn.

    – Doanh nghiệp cần phải liên tục cập nhật những chuẩn mực kế toán mới áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để công tác kế toán ngày càng chính xác hơn.

    – Tuy phần mềm kế toán đã giúp không ít cho công việc kế toán của Công ty nhưng kế toán cũng cần phải rà soát các số liệu thật kỹ nhằm tránh xảy ra sai xót.

    4.3.Kết luận:

    Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, tiêu thụ hàng hóa là thực hiện giá trị của hàng hóa, kết thúc tuần hoàn vốn kinh doanh và nhằm thực hiện giá trị sử dụng với khách hàng mua từ nhiều mục đích khác nhau. Thực hiện quá trình tiêu thụ sẽ đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhất là trong việc chuyển đổi môi trường kinh tế, tiêu thụ hàng hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu thì việc tổ chức kế toán tiêu thụ hàng hóa càng đòi hỏi phải hoàn thiện. Thực hiện quá trình tiêu thụ quyết định sự giàu nghèo của doanh nghiệp.

    Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh kết quả kinh doanh và trình độ quản lý của Doanh nghiệp, đồng thời là phương tiện để duy trì và mở rộng hoạt động. Xác định kết quả kinh doanh là công cụ để nhà quản lý kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác tiêu thụ, công tác quản lý, đánh giá thành quả hoạt động, xác định lợi nhuận. Do đó công tác tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trở nên bức thiết trong hoạt động kinh doanh của đơn vị và cả những người bên ngoài có quan tâm.

    Để đảm bảo hiệu quả trong công tác hạch toán tiêu thụ, xác định kết quả đơn vị ngoài việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả còn phải không ngừng hoàn thiện hệ thống kế toán.

    Vì vậy kế toán xác định kết quả kinh doanh vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiển cao.

    Do thời gian thực tập không nhiều, bước đầu tiếp cận với thực tế, kiến thức còn hạn hẹp nên bài viết không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, giúp đỡ của Thầy Cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn, thực tiển hơn.

    Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Cô Huỳnh Thị Đăng Khoa đã giúp em hoàn thành báo cáo thực tập này.

    cce&fdd


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận Xu hướng phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%8Bnh-v%E1%BB%8B-ng%C3%A0nh-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    Định vị ngành bán lẻ Việt Nam

    “Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ dự kiến sẽ đạt 7.000 tỉ đồng, tăng 23% so với năm ngoái. Việt Nam cũng đang dẫn đầu về tiêu dùng hàng hi-tech.” Đằng sau hàng loạt những tích cực, những chỉ số xếp hạng cao ngất của những tổ chức uy tín về thị trường bán lẻ Việt Nam, có một sự thật khác, một mối lo ngại khác về khả năng thất thế của hệ thống phân phối bán lẻ thuần Việt trước ngưỡng cửa 1.1.2009, khi mà ta buộc phải mở cửa thị trường.

    Một thị trường ồn ã

    Tốc độ phát triển khá nhanh của thị trường bán lẻ trong nước đang hấp dẫn các tập đoàn phân phối đa quốc gia.

    Mức hấp dẫn này dẫn đến một nguy cơ tiềm ẩn mà nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển phải thốt lên: “Vừa rồi, chúng ta cho phép Metro hình thành đến tám điểm, phát triển thành một chuỗi hệ thống bán buôn. Mà trong thị trường, ai hình thành được chuỗi liên kết, nắm được yếu tố cạnh tranh thì người ấy thắng. Chúng ta cam kết nhưng chúng ta vẫn có quyền hạn chế việc mở thêm các điểm

    bán lẻ. Do đó không nên cấp phép ồ ạt cho các nhà phân phối mở thêm đại lý lập thành chuỗi, gây ra sự cạnh tranh quá khốc liệt”.

    Sự khốc liệt này được diễn giải qua việc Ngân hàng Thế giới công bố chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu của Việt Nam năm 2007 đạt 74/100 điểm, đứng thứ 4 trên thế giới sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc.

    Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi năm, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ dự kiến sẽ đạt 7.000 tỉ đồng, tăng 23% so với năm ngoái. Việt Nam cũng đang dẫn đầu về tiêu dùng hàng hi-tech. Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen công bố: người tiêu dùng Việt Nam xếp thứ năm về chỉ số lạc quan tiêu dùng (Global Consumer Confidence Index). Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam đang ở mức cao kỷ lục, đạt 118 điểm và tăng lên 1 điểm, trong khi chỉ số này trên toàn cầu giảm 2 điểm, chỉ còn 97 so với cuối năm 2006.

    Trong số 10 quốc gia lạc quan nhất về tình hình tài chính cá nhân, 72% người Việt Nam tham gia cho biết họ sẵn sàng bỏ tiền trang bị vật dụng kỹ thuật cao, các loại hình giải trí và quần áo mới. Khát khao sở hữu những phương tiện hiện đại của người Việt Nam cao hơn cả những nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil. Những điều kiện trên báo hiệu một cơ hội lớn cho sự phát triển và duy trì một thị trường bán lẻ thuận lợi.

    Chủ nhà đang lúng túng

    Hiệp hội siêu thị Hà Nội đã chỉ ra những điểm yếu đang tồn tại trong hệ thống phân phối Việt Nam: tính chuyên nghiệp yếu vì nguồn nhân lực chưa qua đào tạo, chỉ có khoảng 4-5% nhân lực được đào tạo chuyên ngành, 60-70% các đơn vị kinh doanh chưa sử dụng công nghệ thông tin vào lãnh vực quản lý và khoảng 20% đơn vị mới xây dựng web đơn giản với nội dung nghèo nàn.

    Ngoài ra hậu cần cho hệ thống phân phối như kho bảo quản, các kho lạnh, xe tải chuyên dùng thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Việc tổ chức cung ứng hàng hoá chủ yếu là có gì bán nấy, chưa xây dựng được vùng cung cấp nguồn

    hàng ổn định để tiêu thụ. Tính chủ động trong hợp tác liên kết, liên doanh thu mua, tiêu thụ hàng hoá còn rời rạc.

    Do vậy, hệ thống thương mại bán lẻ của Việt Nam tuy đã có nhiều, nhưng còn mang nặng tính đại lý, thu lợi nhuận thấp.

    Chính vì thế các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã tìm mọi cách vào Việt Nam khai thác cơ hội từ sự sơ khai, thiếu chuyên nghiệp này.

    Điều này được chứng minh qua những thành quả thực tế từ doanh thu, tốc độ tăng trưởng đạt trên 40%/năm mà Metro, Big C, Parkson… đạt được khi mạnh dạn mở kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Như Metro Cash & Carry của Đức kiếm lời khoảng 500 triệu USD/năm và tăng trưởng hàng năm đạt 45%.

    Trong báo cáo “Phân tích công nghiệp bán lẻ Việt Nam” của Công ty nghiên cứu, tư vấn toàn cầu RNCOS dự báo sẽ có thêm hàng loạt đại gia bán lẻ nước ngoài đến Việt Nam trong những năm tới. Thị trường bán lẻ Việt Nam đang và sẽ tăng trưởng nhanh, lãnh vực bán lẻ ở Việt Nam sẽ thu hút những khoản đầu tư khổng lồ từ nước ngoài và sẽ ra đời những trung tâm thương mại, mua sắm lớn hơn, hiện đại hơn.

    Theo ông Nguyễn Cẩm Tú – Thứ trưởng Bộ Công thương, mặc dù các nhà phân phối Việt Nam có nhiều động thái củng cố lại hệ thống của mình để chống lại áp lực cạnh tranh từ các nhà phân phối nước ngoài, nhưng phải thừa nhận các tập đoàn phân phối nước ngoài đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường các nước đang phát triển.

    Họ có nguồn vốn rất lớn, đã tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường rất bài bản, sẵn sàng đưa ra giá bán buôn thấp hơn, cung cấp dịch vụ bán hàng thuận tiện và mời chào các chương trình khuyến mãi hấp dẫn.

    Xu hướng bán lẻ 2008 – 2010

    Theo phân tích của Retailer Asia, nếu như trong bảng xếp hạng “Ngôi sao bán lẻ” (bảng xếp hạng các doanh nghiệp bán lẻ dẫn đầu từng quốc gia) năm ngoái, việc một nhà bán lẻ có mặt trong top 3 và top 10 của nhiều nước là phổ biến (Dairy Farm, Carrefoure, Aeon,…) thì năm nay chỉ còn Dairy Farm và Aeon còn trụ lại. Điều này cho thấy sức cạnh tranh nội tại của các nước trong vùng châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước đang phát triển, là rất lớn.

    Sự xuất hiện của loại hình bán lẻ chuyên biệt chuyên về dược phẩm và/hoặc mỹ phẩm (health and beauty stores), chuyên về hàng điện tử điện máy… được tổ chức thành chuỗi cửa hàng với concept thống nhất: phản ánh xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng các nước này đang dần dần chuyển dịch, từ việc dành phần lớn thu nhập cho việc mua thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu, sang tiêu dùng những mặt hàng cao cấp và có giá trị cao hơn như hàng điện tử, mỹ phẩm và dược phẩm.

    Mức thu nhập tăng lên, người tiêu dùng châu Á đang có xu hướng trang trí nội thất nhiều hơn những năm trước. Thêm vào đó, ở các thị trường phát triển hơn, với việc kích cỡ gia đình đang dần co lại, các hộ gia đình nhỏ hơn hoặc chỉ có một người mà chủ hộ là giới trẻ đang đi làm lại có xu hướng cởi mở hơn trong việc mua sắm đồ nội thất để trang trí cho ngôi nhà.

    Điều này đã dẫn đến những viễn cảnh tươi sáng hơn cho các cửa hàng chuyên doanh đồ dùng sửa chữa nhà cửa cũng như những cửa hàng bán đồ nội thất.

    Loại hình nhà sách và trung tâm thương mại đang hạn chế khách hàng. Bản chất của loại hình nhà sách đã cho thấy giới hạn trong các cơ hội đổi mới về chưng bày và bố trí cửa hàng. Thêm vào đó, cùng với những sáng tạo mới về công nghệ, người tiêu dùng châu Á – cũng như ở những nơi khác trên thế giới – đang được giới thiệu với những cách tiêu khiển trong thời gian rảnh rỗi khác hơn là đọc sách.

    Các trung tâm thương mại sẽ chuyển lên vị trí cao hơn trong thị trường, tập trung vào những nhãn hiệu sang trọng, duy trì được tính cao cấp và dịch vụ tốt.

    Loại hình siêu thị nhìn chung đang đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ loại hình đại siêu thị. Về mặt tiến hoá của ngành bán lẻ, siêu thị có vẻ như là loại hình bán lẻ hiện đại đầu tiên xuất hiện ở các nước. Tuy nhiên chính vị trí đã ổn định của loại hình siêu thị ở hầu hết các nước, kể cả những nước đang phát triển như Việt Nam và Indonesia, ngoài Trung Quốc và Ấn Độ, là nguyên nhân làm cho siêu thị không còn dẫn đầu trong mức tăng trưởng của ngành bán lẻ tạp hoá.

    Cửa hàng tiện ích: việc kinh doanh của loại hình cửa hàng tiện ích khá bình lặng so với các loại hình bán lẻ khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-Marketing-n%C3%A0o-cho-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam

    Chiến lược Marketing nào cho Ngân hàng bán lẻ Việt Nam?

    Dăm bảy năm trước đây, ngành ngân hàng chẳng mấy ai nghĩ đến bỏ ngân sách ra truyền thông! Bởi dịch vụ ngân hàng là ban phát là xin cho. Giờ thì đã khác, tiền tỷ tỷ đổ vào các hoạt động quảng cáo, tài trợ như để khẳng định đẳng cấp của ngân hàng mình. Nhưng một hiện trạng là tiền thì cứ đổ còn số thương hiệu ngân hàng tạo được chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng đếm trên đầu ngón tay!


    Tiếp thị ngân hàng Bán lẻ Việt Nam – Thời xa vắng…

    Tôi vẫn còn nhớ như in các hình ảnh “tín dụng viên” phường xã đầy quyền uy trong các dịch vụ cho vay đối với người dân. Họ là một tầng nấc trung gian của ngân hàng với khách hàng,đầy uy quyền và cả phức tạp rắc rối nếu người dân muốn có đặc ân được vay nợ ngân hàng. Không đâu xa, khoảng năm 2000 tôi đưa mẹ tôi đến ngân hàng mở cho bà một cái tài khoản để chuyển tiền cho bà hàng tháng cho tiện. Cô giao dịch viên Ngân hàng Nông nghiệp Thị xã G. phán một câu: nếu bà chỉ nhận tiền thì không mở tài khoản được, ngân hàng chỉ phục vụ nếu bà muốn gửi tiền đi. Tôi thì gân cổ cãi rằng cô phải phục vụ còn cô thì khăng khăng bác chỉ cần chứng minh nhân dân là có thể chuyển nhận tiền an toàn. Cuối cùng thì mẹ tôi kéo tay tôi về với một câu tôi còn nhớ mãi – con đừng cãi sau này đụng tới họ phiền phức lắm! Kết quả là đến giờ bà cũng chưa có được tài khoản ngân hàng và được hưởng tiện ích của nó.

    Giờ thì đã khác, các ngân hàng khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng của họ mà nói vui – chẳng khác gì nắm tay kéo khách ở các quán cơm lề đường! Bạn tôi làm ở ngân hàng nhiều lắm, nên tôi chẳng lạ gì dăm ba bữa có người bảo: cậu xem mở tài khoản công ty qua ngân hàng tớ đi, nhiều ưu đãi lắm. Hay như ba hôm trước, ra chi nhánh ngân hàng Vietcombank Tân Bình làm thẻ. Anh nhân viên cứ khuyên mở thêm cái tài khoản đi, đang khuyến mãi mà, chẳng mất mát gì đâu dù tôi cứ bảo anh ta rằng tôi đã có tài khoản! Kết quả là tôi có thêm một cái tài khoản nữa mà chưa biết họ có tính phí gì hay không!

    Bùng nổ truyền thông quảng cáo ngành ngân hàng thương mại tại Việt Nam

    Một dạo gần đây, cứ y như rằng bật TV lên là thấy quảng cáo về ngân hàng. Hết ngân hàng này đến ngân hàng khác, hết quảng cáo sang tài trợ, hết tài trợ thể thao đến tài trợ game show… Người tiêu dùng có cảm giác như ngân hàng có nhiều tiền quá nên thi nhau xài khi có ngân sách. Thậm chí cả dự báo thời tiết, cả những game show như “Hãy chọn giá đúng”… Nhiều người nói vui, ngân hàng là nơi nhiều tiền nên xài quảng cáo cho đã! Bước ra đường thì các chi nhánh ngân hàng mọc lên như nấm, bởi họ hiểu rằng (dù có lờ mờ hiểu) càng tiếp cận với người dân thì cơ hội phát triển dịch vụ càng lớn. Cũng như thắng hay thua của một ngân hàng là điểm tiếp xúc với khách hàng (POP – Point of Purchase). Các dịch vụ đi đến ngõ ngách phố phường ở các đô thị và người dân quen dần với dịch vụ của ngân hàng Bán lẻ (dù rằng gần đây báo chí đăng tin một cách “trách móc” rằng chỉ có 5 triệu tài khoản cá nhân trên hơn 80 triệu dân Việt Nam!) Nói vậy, nhưng cũng không phủ nhận một vài thương hiệu ngân hàng cũng đi vào lòng người một cách chuyên nghiệp, nhưng có vẻ như là hiếm hoi và đầy khó khăn.

    Không rõ ràng về truyền thông, thiếu tính cách thương hiệu (brand personality) do thiếu chiến lược định vị thương hiệu (brand positioning)

    Có thể khẳng định trong trường hợp các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang cố gắng xây dựng thương hiệu của mình thông qua các hoạt động truyền thông, tiếp thị ồ ạt. Ít nhất là trong giai đoạn khẳng định tên tuổi để nâng cao giá trị cổ phiếu chẳng hạn. Có chăng vung tiền nhiều thì sẽ thu lợi nhiều? Câu trả lời đôi khi không phải vậy. Tuy nhiên, cũng sẽ thật kiên cưỡng khi nhà quảng cáo mà không biết tạo cho mình một chỗ đứng “trong tâm trí người tiêu dùng”. Một ngày nào đó bạn có thể bật TV lên và kiểm chứng xem, các mẩu quảng cáo các ngân hàng và cũng chỉ mỗi một thông tin đó là ngân hàng, ngoài ra không hề có sự khác biệt hay một định vị nào rõ ràng. Mà cứ là ngân hàng là tiết kiệm, là tin cậy, là sự bảo đảm, chấm hết!

    Dạo gần đây, cứ cuối mẩu quảng cáo thì có một câu ca hay đọc gì đó ngân ngân vang vang nhắc lại tên ngân hàng như một mốt của thời đại. Và như vậy sự lãng phí, vung tiền qua các hoạt động truyền thông tiếp thị là tất yếu!

    Hãy xem ngân hàng “ngoại” H. truyền thông, họ khẳng định đẳng cấp quốc tế nhưng am hiểu địa phương, điều này nhất quán trong việc truyền thông từ tài trợ đua xe xích lô từ thiện đến các giải golf quốc tế tại Việt Nam. Điều này tạo ra một sự khác biệt, một đẳng cấp cũng như khẳng định người tiêu dùng Việt Nam một cơ hội tiếp cận với dịch vụ ngân hàng của họ. Và vì vậy, họ thành công!

    Bản thân chúng tôi cũng không có những dữ liệu cụ thể nhưng có cảm giác rằng hiệu quả hình ảnh thương hiệu (brand awareness) có vẻ như quá kém thông qua các hoạt động truyền thông các ngân hàng Việt Nam thực sự đáng để chính các ngân hàng xem xét khi quyết định một chiến lược marketing của mình.

    Chiến lược nào cho các ngân hàng Bán lẻ Việt Nam?

    Không có chiến lược, các hoạt động truyền thông liệu có hiệu quả, chưa kể đến có mấy ai đo lường định tính hiệu quả của các chiến dịch tiếp thị này của các ngân hàng. Điều cần thiết đầu tiên là các ngân hàng cần định vị cho mình vị trí nào trong tâm trí người tiêu dùng trước khi lập chiến lược tiếp cận. Kế tiếp, các thương hiệu được xây dựng và gán cho nó tính cách thương hiệu (personality) bởi vì thương hiệu là một thực thể sống, có cả giá trị lý tính (physical) và giá trị cảm tính (emotional), nó ví như đời sống của một con người có hỉ, nộ ái, ố; có sinh, lão, bệnh, tử… Truyền thông chỉ là thể hiện bên ngoài của đứa con thương hiệu này. Và cuối cùng, các ngân hàng đừng quên rằng truyền thông không chỉ có quảng cáo. Nó là một nghệ thuật kết hợp của các biện pháp đối thoại với khách hàng. Nó bắt đầu từ những giá trị bên trong nội bộ nhân viên doanh nghiệp (internal) cho đến bên ngoài (quảng cáo, tiếp thị…). Sẽ thật khiên cưỡng và phản tác dụng (đôi khi là những cú đá hậu – hồi mã thương – đau đớn) nếu những quảng cáo rất tốt nhưng khi đến tiếp xúc với ngân hàng thì thái độ hay dịch vụ tồi tệ như một bài báo đăng trên saga về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ thẻ A. gần đây!

    Tóm lại, để có một chiến lược marketing chuyên nghiệp và hiệu quả, các ngân hàng thương mại Việt Nam còn cần phải xem lại và đầu tư cho các hoạt động marketing của doanh nghiệp mình nếu không muốn tình trạng tiền tỷ đổ vào các hoạt động tiếp thị trong khi giá trị thương hiệu vẫn là những mong muốn mơ hồ và xa vời. Quả thật, con đường đi đến một thương hiệu vững mạnh quả là còn chông gai và rất xa.

    Thực hiện: Nhóm 2 – Lớp MBA5 – ĐH Mở Bán công TPHCM (Lê Thanh Dũng; Huỳnh Thị Kim Liên; Nguyễn Thị Hạnh Tâm; Nguyễn Văn Thiệu; Đặng Thanh Toàn)

    Bài viết của các nhóm khác

    1. Để việc thẩm định dự án FDI tại các ngân hàng đạt hiệu quả cao
    2. Vai trò của tổ chức định mức tín dụng tại các thị trường chứng khoán đang nổi
    3. Năng lực tài chính các ngân hàng thương mại
    4. Sân chơi nào cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
    5. Huy động vốn cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp nhỏ từ quỹ đầu tư mạo hiểm

    ===============================================================
    Bài viết www.saga.vn hợp tác với báo Doanh nghiệp và Thương hiệu, số tháng 07/2007
    ===============================================================


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-b%C3%A1n-l%E1%BA%BB-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2010-2015.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ giai đoạn 2010-2015

    Trong quá trình tái cơ cấu các NHTM Việt Nam, việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ đang nổi lên trong hoạch định và thực thi chiến lược của từng hệ thống ngân hàng cũng như ở tầm quản lý vĩ mô của NHNN. Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của DVNH Việt Nam, nhất là khối bán lẻ.

    Dịch vụ ngân hàng (DVNH) bán lẻ?

    Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm DVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay, có nhiều khái niệm về DVNH bán lẻ theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, các dịch vụ… chứ không chỉ là DVNH. Có lẽ cách nhìn nhận về bán lẻ nên thoáng và đúng nghĩa của nó.

    “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối” (Jean Paul Votron – Ngân hàng Foties): Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại- mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Bán lẻ ngày càng phát triển sang lĩnh vực xuyên quốc gia.

    Để xác định mức độ thực hiện DVNH bán lẻ của một NHTM, các tổ chức tài chính lớn trên thế giới dựa vào các tiêu chí sau: Giá trị thương hiệu; Hiệu lực tài chính; Tính bền vững của nguồn thu; Tính rõ ràng trong chiến lược; Năng lực bán hàng; Năng lực quản lý rủi ro; Khả năng tạo sản phẩm; Thâm nhập thị trường; Đầu tư vào nguồn nhân lực.

    Đó cũng chính là mục tiêu mà các NHTM Việt Nam cần quan tâm thực sự khi phát triển DVNH bán lẻ của mình. Trong hoạt động bản lẻ của ngân hàng có 3 vấn đề cần quan tâm:

    • Xây dựng kênh phân phối là mối quan tâm lớn của DVNH bán lẻ, mà đặc trưng là sử dụng hệ thống công nghệ thông qua các phương tiện, các kênh phân phối. Các NHTM lớn trên thế giới đang thử nghiệm các kỹ năng phân phối đa kênh (multi chanel distribution skills) trong triển khai DVNH bán lẻ.
    • Xác định khách hàng và nhu cầu của khách hàng qua việc tìm hiểu kẽ hở thị trường, từ đó xây dựng mối liên kết và cơ chế tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính. Việc tìm tòi những thị trường chưa khai phá là điều quan trọng, bao gồm khách hàng, loại sản phẩm mà họ cần và kênh phân phối. Vì vậy, với những thị trường mới nổi hoặc đang phát triển, khi mà người dân chưa làm được làm quen nhiều với các DVNH thì tiềm năng của thị trường bán lẻ là vô cùng lớn.
    • Kết hợp thương mại và tài chính, các hoạt động tài chính với nhau trong mối liên hệ chung, chú trọng vào các mối liên kết mới như bancassurance, ngân hàng-chứng khoán…

    Ai tham gia vào thị trường DVNH bán lẻ?

    • Các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
    • Các tập đoàn phi tài chính và các tổ chức tài chính trong tập đoàn.
    • Khách hàng: chủ yếu là khách hàng cá nhân.

    Ưu điểm của DVNH bán lẻ:

    • Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro.
    • Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng.
    • Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với NHTM, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM.

    Hoạt động bán buôn của NHTM lại có ưu thế về hoạt động trên các thị trường tài chính, đầu tư ngân hàng, từ đó đem lại doanh thu ổn định hơn, nhưng rủi ro cũng là cao hơn.

    Tại Việt Nam: Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam đều hướng tới phát triển DVNH, đây là hướng đi hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ:

    Trước hết, DVNH bán lẻ là xu hướng tất yếu của các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam:

    • Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày càng mạnh và khốc liệt tại Việt Nam.
    • Ngày càng có nhiều tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này.
    • Đây là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ ở một đất nước đông dân, có tiềm năng phát triển cao trong những năm tới, tiêu dùng dân cư có tiềm năng tăng trưởng cao.
    • Sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ.

    Thứ hai, về nhận thức. Hiện nay, ban lãnh đạo của khối NHTMCP Việt Nam đều xác định mục tiêu hoạt động tới năm 2010 là trở thành ngân hàng bán lẻ, hướng tới khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc chuyển sang ngân hàng đô thị đa năng (ACB, Techcombank…). Các NHTMNN cũng đã xác định thị trường bán lẻ trong kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng, cổ phần hóa ngân hàng sau năm 2010. Sau năm 2015, thị trường bán lẻ sẽ là thị trường chủ đạo mà các ngân hàng nước ngoài sẽ khai thác mạnh sau khi đã đặt chân vững chắc vào thị trường Việt Nam. Từng hệ thống NHTM xác định chiến lược thực hiện DVNH bán lẻ dựa vào:

    • Phát triển mạng lưới của mình,
    • Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.
    • Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối
    • Tạo sự khác biệt trong DVNH bán lẻ: Các NHTMCP có chiến lược tương đối rõ ràng về chiến lược phát triển DVNH bán lẻ tại các đô thị lớn trên nền tảng công nghệ cao, cung cấp dịch vụ tài chính trọn gói cho khách hàng. Như vậy, ở tầm chiến lược, nhận thức về DVNH bán lẻ đã hình thành mà hầu hết các ngân hàng trong nước đều đi theo để phục vụ đối tượng hơn 86 triệu người dân. Để thực hiện được chiến lược này, các ngân hàng cần đến nhiều yếu tố liên quan.

    Thứ ba, nhu cầu của xã hội về dịch vụ và các tiện ích của chúng ngày càng gia tăng và luôn đổi mới.

    Về sản phẩm: Các dịch vụ bán lẻ của NHTM Việt Nam ngày càng đa dạng, trở nên đồng đều hơn với việc triển khai của hầu hết các NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn. Theo dõi sự phát triển của dịch vụ này có thể nhận thấy nổi lên một số vấn đề sau:

    • Các sản phẩm của ngân hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến: Nếu như năm 2004 chỉ có 3 NHTM triển khai dịch vụ Internet banking thì đến năm 2008, con số này lên tới 25, chủ yếu là cung cấp thông tin, thanh toán hoá đơn định kỳ, chuyển tiều trong hệ thống, trong đó có 5 NHTM là Đông Á, Kỹ thương, Á châu, Citibank Việt Nam, Indovina là chuyển khoản ra ngoài hệ thống trong tổng số 11 ngân hàng có chức năng chuyển khoản trực tuyến. Có 3 NHTM là Đông Á, Vietcombank, Kỹ thương và Á châu thực hiện đầy đủ cả 3 nội dung của Internet banking là cung cấp thông tin, giao tiếp và giao dịch. Riêng NHTMCP Á châu triển khai dịch vụ này, dịch vụ Home banking, Mobile Banking, Phone banking tới tất cả khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Ngoài các tiện ích khi sử dụng dịch vụ ngân hang điện tử, khách hàng còn được hưởng ưu đãi về phí dịch vụ. Riêng về dịch vụ Inernet banking, có thể thấy 2 vấn đề nổi lên: (1) khối NHTMCP nhanh và thực hiện toàn diện hơn các tiện ích của ngân hàng điện tử so với khối NHTMNN; (2) khối NHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ này với các tiện ích và chất lượng vượt trội so với NHTM Việt Nam (HSBC Việt Nam được Global Finance bình chọn là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009).

    Dịch vụ thẻ ngày càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp với nhiều tiện ích, nhiều loại thẻ tín dụng. Việc chuyển từ thẻ từ sang sử dụng thẻ chip là một hướng đi đúng và cần thiết nhằm bảo toàn cho khách hàng, mặc dù cần đến công nghệ, nhân lực và chi phí. Theo thống kê của NHNN, hệ thống ngân hàng có gần 9.000 máy ATM, hơn 28.000 điểm chấp nhận thẻ (POS), 9/41 tổ chức đã phát hành và thanh toán bằng thẻ chip với hơn 28.000 thẻ. Hiện nay có 13.500 máy POS và 2.000 máy ATM đã chấp nhận thanh toán bằng thẻ chip. Riêng ACB đã phát hành hơn 38.000 thẻ tín dụng quốc tế và 205.000 thẻ thanh toán quốc tế cho đến nay.

    Các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh cả về danh mục và doanh số, tất cả NHTM của Việt Nam đều có sản phẩm cho vay tiêu dùng, đứng đầu là ACB và Techcombank.

    • Các sản phẩm liên kết, bán chéo sản phẩm tài chính, được triển khai ngày càng nhiều, ví dụ Bancasurrance (liên kết ngân hàng – bảo hiểm), đem lại khoản thu cho ngân hàng, phát triển khách hàng, tạo ra tiện ích đa dạng hơn. Các sản phẩm này được nhiều ngân hàng ứng dụng như BIDV, Vietcombank… Năm 2009, dịch vụ này được các ngân hàng và công ty bảo hiểm quan tâm nhiều để gia tăng tiện ích và tăng nguồn thu dịch vụ, mở rộng thị phần. Điều này không những có lợi cho khách hàng trong sử dụng các dịch vụ tài chính (tiết kiệm thời gian thanh toán phí bảo hiểm, được tư vấn bảo hiểm, thanh toán…) mà còn là mong muốn của các NHTM và công ty bảo hiểm nhằm thu hút tiền gửi, thu phí bảo hiểm và chi trả qua thẻ ATM. Việc hợp tác giữa Sacombank và PVN trong cho vay tiêu dùng và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, NH ABBank và Prudential Việt Nam (PVN) mở các điểm giao dịch ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, HDBank và ACE Life, Standard Chartered Bank – SCB và PVN… đã cho thấy triển vọng của dịch vụ bán chéo sản phẩm tài chính ở Việt Nam. Riêng Prudential đã thành công với mô hình này với hơn 70 quan hệ hợp tác ở 12 quốc gia châu Á.
    • Dịch vụ bán lẻ của NHTM phát triển dựa nhiều vào ứng dụng hệ thống công nghệ. Ngày càng nhiều NHTM Việt Nam ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí lớn và diện phủ sóng rộng. Công nghệ thông tin trở thành kênh phân phối quan trọng và không thể thiếu của các DVNH điện tử nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. Các NHTM lớn như Vietinbank sử dụng hệ thống INCAS, Agribank sử dụng hệ thống IPCAS… trong toàn hệ thống.

    Hộp 1: NHTMCP Đông Nam Á (SeABank) là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam

    triển khai thành công các kiến trúc công nghệ hàng đầu của Oracle như Oracle Grid Computing, Real Application Clusters – RAC, Oracle Enterprice Manager… cho phép mở rộng, linh hoạt và tính sẵn sàng cao, từ đó ngân hàng rút ngắn thời gian giới thiệu sản phẩm ngân hàng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đem lại khả năng hoàn vốn cao và hiệu quả chi phí cao nhất.

    Bên cạnh đó, kênh phân phối truyền thống qua mạng lưới vẫn tiếp tục được mở rộng: Agribank với hơn 2000 chi nhánh, BIDV với 104 chi nhánh cấp 1, sở giao dịch và hàng trăm phòng giao dịch, Vietinbank với 2 SGD, 130 chi nhánh và trên

    • điểm giao dịch, Sacombank với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch, Techcombank với 109 điểm giao dịch, ACB với 84 chi nhánh và phòng giao dịch,…
    • Về tốc độ phát triển: khối NHTMCP phát triển nhanh hơn và mạnh hơn về các DVNH (ngân hàng điện tử, tín dụng tiêu dùng, cho vay chứng khoán…).

    Hạn chế:

    Hạn chế hiện nay trong việc mở rộng các DVNH hiện đại về phía NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam là:

    • Chiến lược phát triển của các NHTM có nhiều điểm tương đồng, như phát triển dịch vụ bán lẻ, dịch vụ doanh nghiệp hoặc trên thị trường tiền tệ, mở rộng quy mô mạng lưới và phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, quản trị điều hành… Điều này phản ánh mặt bằng phát triển chung, song cũng là điểm khó trong xây dựng chiến lược riêng của mỗi NHTM khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công chúng.
    • Sự phối kết hợp giữa các NHTM trong thực hiện các DVNH mới còn kém: Mỗi hệ thống ngân hàng phát triển một chiến lược hiện đại hoá khác nhau, ít có sự gắn kết với nhau, ví dụ, về hoạt động thanh toán thẻ, séc, máy rút tiền tự động ATM…, gây ra sự lãng phí vốn và thời gian, sự cạnh tranh không đáng có giữa các ngân hàng, sự khó khăn cho lựa chọn của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ ngân hàng. Hiệu quả sử dụng vì vậy còn thấp.
    • Khả năng tài chính của các ngân hàng còn thấp, mặc dù phần lớn các NHTM Việt Nam đều đạt yêu cầu vốn điều lệ 3000 tỷ đồng. So với quy mô tài chính của các NHTM trong khu vực thì mức vốn này vẫn ở mức khiêm tốn. Trong bối cảnh hiện nay, năng lực tài chính của các ngân hàng hạn chế, nhất là đối với các NHTMCP, là một trong các nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc triển khai về công nghệ đối với các DVNH mới như Home banking, Internet banking…
    • Sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn ban đầu. Các sản phẩm tài chính hiện đại phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động của thương mại và dịch vụ trong nước và không nên đi sớm quá sự phát triển của thương mại trong nước. Theo thống kê gần đây, 97% doanh nghịêp Việt Nam trong hơn 300.000 doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoảng 80% số vốn hoạt động của doanh nghiệp là vốn vay ngân hàng. Cầu nối giữa họ và các tổ chức tín dụng còn gặp nhiều rào cản về nhận thức, cách làm việc…
    • Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn ở mức thấp, tỷ trọng sử dụng tiền mặt trong lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/tổng phương tiện thanh toán hiện đang dao động ở mức 24-25%, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Thái lan: 6,3%, Trung quốc: 9,7%…). Chính tâm lý dùng tiền mặt, bao gồm cả VND và ngoại tệ mặt, và sự hiểu biết về DVNH của đa số người dân Việt Nam thấp, cũng là một nguyên nhân để cho việc mở rộng các DVNH mới còn gặp nhiều khó khăn.
    • Hiện nay các ngân hàng đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn 2 về ứng dụng công nghệ thông tin. Ngay cả NHNN vẫn đang thử nghiệm ở giai đoạn 1 của chương trình AFD. Các ngân hàng chưa có đủ điều kiện để thực hiện các giao dịch chuyển tiền với các tài khoản khác hoặc thanh toán thông qua tài khoản … theo đúng ý nghĩa của dịch vụ này.
    • Bức tranh hoạt động ngân hàng sẽ được vẽ lại khá đậm với việc các NHTMNN cổ phần hóa để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và việc chuyển hướng sang các SME và bán lẻ; các NHNg xâm nhập vào thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức, các ngân hàng TNHH 100% vốn nước ngoài sẽ mở rộng hoạt động, trong đó DVNH bán lẻ sẽ là một trong những đích ngắm của họ; các định chế tài chính phi ngân hàng đang hoạt động mạnh mẽ về các dịch vụ ngân hàng.

    Hạn chế về phía NHNN là: các NHTMVN sẽ là ngân hàng đa năng, vì vậy, quản lý nhà nước sẽ gặp khó khăn do thiếu thông tin, kinh nghiệm quản lý, mặt bằng công nghệ, nhận thức và trình độ.

    Vậy yêu cầu đặt ra trong việc phát triển các DVNH bán lẻ của các NHTM Việt

    Nam hiện nay là:

    • Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi không chỉ trong một hệ thống NHTM mà còn phải kết nối giữa các NHTM trong những DVNH đòi hỏi có sự liên kết.
    • Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của từng NHTM để tạo ra tính khác biệt trong thương hiệu và hấp dẫn riêng.
    • Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh với khối NHNg.

    Một số giải pháp: để phát triển các dịch vụ bán lẻ của mình trong thời gian tới, trên cơ sở các thành quả đạt được, các NHTM cần chú ý phát triển đồng bộ cả 4 hoạt động:

    • Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của dịch vụ bán lẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH, mặc dù Việt Nam mới có khoảng 10% dân số tham gia vào thị trường ngân hàng bán lẻ.

    • Kênh phân phối: Chú trọng thật sự vào kênh phân phối điện tử qua việc ứng dụng công nghệ (internet/phone/sms banking), mặc dù việc này đòi hỏi chi phí cao từ ban đầu. Hiện nay, số người dân Việt Nam sử dụng Inernet ngày càng tăng, năm 2008 con số này lên tới 22 triệu người, việc sử dụng thương mại điện tử ở Việt Nam ngày càng phát triển. Nhiều hoạt động quản lý hành chính như hải quan điện tử, thuế điện tử, đấu thầu điện tử… đang được triển khai rộng. Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin phát triển nhanh ở Việt nam như FPT, công ty Fujitsu Việt Nam…, tạo điều kiện cho các NHTM phát triển kênh phân phối này. Các chi phí cao trong việc mở rộng thị trường có thể được giải quyết một phần với việc phối hợp với công ty viễn thông khi sử dụng kênh phân phối điện tử.

    Cùng với kênh phân phối mới này là vấn đề bảo mật và an toàn, vì đây là rủi ro của DVNH và vấn đề chuyên viên kỹ thuật để bảo hành công nghệ. Trên thực tế, có những ngân hàng sở hữu corebanking hàng chục triệu USD nhưng DVNH điện tử chủ yếu là truy vấn thông tin, chưa cung cấp dịch vụ giao tiếp và giao dịch, gây lãng phí công nghệ.

    • Dịch vụ: Chú trọng phát triển các dịch vụ trên nền tảng công nghệ internet/phone/sms banking) và liên kết (ngân hàng – bảo hiểm, ngân hàng – chứng khoán…) bên cạnh việc phát triển các sản phẩm ngân hàng bán lẻ khác,
    • Chi phí: Việc ứng dụng công nghệ và phát triển dịch vụ bán lẻ nói chung cần đến chi phí lớn, việc áp dụng các DVNH điện tử đòi hỏi chi phí hoà mạng trong kết nối với các ngân hàng nước ngoài. Ví dụ: mua 1 phôi thẻ chip cao gấp 5 lần 1 phôi thẻ từ (chi phí cho thẻ từ ít nhất 330.000đ/thẻ). Vốn bình quân trang bị cho mỗi máy ATM từ 10.000USD-13.000 USD kể cả chi phí bảo hành và duy tu kỹ thuật. Nhưng đây là hoạt động mà NHTM phải thực hiện sớm theo chiến lược của mình để giữ gìn và mở rộng khách hàng.

    Hộp 2: Yếu tố vững mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng là:

    • Ổn định vĩ mô của nền kinh tế và sự cải thiện của kết cấu hạ tầng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của hệ thống tài chính và thị trường bán lẻ. Điều này đặc biệt cần thiết đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển.

     

    • Quy mô, cơ cấu sở hữu, quy tắc hoạt động.

     

     

    • Hiệu lực của giám sát an toàn hệ thống.

     

     

    • Khả năng giải quyết các phát sinh trong một ngân hàng không lây lan sang các nơi khác.

     

    • Sự sẵn có của nguồn vốn phi ngân hàng.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngoại thương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-NG%C3%82N-H%C3%80NG-B%C3%81N-L%E1%BA%BA-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    I.Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, xu hướng tất yếu của các NHTM

    Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ ngân

    hàng bán lẻ (NHBL). Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên các dịch vụ

    thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản,

    vay vốn, mở thẻ tín dụng…

    Theo các chuyên gia kinh tế củ a H ọc viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp vớ i sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.

    Theo định nghĩa trên, dịch vụ NHBL chỉ được thực hiện nhờ công nghệ thông tin (CNTT), cụ thể là:

    • CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện;
    • CNTT hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau;
    • Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc

    quản trị ngân hàng, tạ o điều kiệ n thực hiện mô hình xử lý t ập trung các giao dịch có tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch;

    • CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.

    Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển

    tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời

    sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân

    hàng và khách hàng.

    Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, NHBL mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưở ng của chu k ỳ kinh tế. Ngoài ra, NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị tr ường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng.

    • Đối với khách hàng, dịch vụ NHBL đem đến sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình.

    Tạp chí Stephen Timewell cũng nhận định: xu h ướng ngày nay thể hiện rõ rằng, ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ NHBL cho một lượng dân cư khổng lồ đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai.

    • Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các NHTM trên thế giới, các NHBL toàn cầu sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách 20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vào năm 2015.
    • Các NHTM Việt Nam đã và đang phát triển dịch vụ NHBL, đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ, đảm bảo cho các ngân hàng quản lý rủi ro hữu hiệu, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, định hướng kinh doanh, thị trường sản phẩm mục tiêu, giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.
    • Tại Việt Nam, kinh tế tăng trưởng liên tục, môi trường pháp lý hoàn thiện dần, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, thị trường dịch vụ NHBL còn nhiều tiềm năng phát triển.

    II. Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM

     

    1. Những thành công và hạn chế

    Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng lộ trình

    nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở chi nhánh

    và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND, khả năng mở rộng

    dịch vụ ngân hàng và sự phát triển bùng nổ của CNTT, các NHTM Việt Nam đã đạt được

    những kết quả đáng khích lệ về phát triển dịch vụ NHBL. Nhìn chung, các ngân hàng bắt đầu

    quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân

    hàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy

    giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking, PC banking, mobile banking. Thực

    tế đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trường dịch vụ NHBL tại Việt Nam, làm cơ sở

    cho việc phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ trọng nguồn vốn huy động từ

    dân cư tăng lên đáng kể và chiếm 35-40% tổng vốn huy động. Hình thức huy động ngày càng

    đa dạng và linh hoạt hơn, lượng kiều hối qua các ngân hàng tăng mạnh. Các NHTM Việt Nam

    đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ

    chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần phát

    triển dịch vụ NHBL, đem lại cho khách hàng ngày càng nhiều tiện ích mới và văn minh trong

    thanh toán.

    Đến cuối năm 2006, hầu hết các NHTM đã xây dự ng phần mềm NHBL dựa trên nền tảng quy trình xử lý nghiệ p vụ thi ết kế của Mỹ vớ i mục tiêu giải phóng khách hàng nhanh nhất bằng việ c phân chia xử lý nghiệp vụ thành hai bộ phận: Bộ phận giao dịch tạ i quầy và bộ phận hỗ trợ xử lý nghiệp vụ . Hệ thống này đã tạo ra nhi ều giao diện r ất tiện ích, tài khoản của khách hàng được kết nối trên toàn h ệ thống, tạo nề n tảng mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và đưa các sả n phẩm dịch vụ NHBL đến tay ngườ i tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập:

    • Tính cạnh tranh chưa cao, chủ yếu nhờ mở rộng mạng lưới và cạnh tranh về giá cả và lãi suất, cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và công nghệ chưa phổ biến, thị trường dịch vụ NHBL thiếu ổn định, chưa có sự liên kết giữa các ngân hàng trong việc phát hành các loại thẻ và khai thác dịch vụ mới, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật, gây lãng phí trong việc đầu tư mua sắm máy móc và chưa tạo sự thuận lợi cho khách hàng trong việc sử dụng thẻ;
    • Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng;
    • Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụ NHBL, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng vẫn còn ở mức khiêm tốn;
    • Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng;
    • Các dịch vụ NHBL phát triển dưới mức tiềm năng. Sau 10 năm làm dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ, số người sử dụng thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương chỉ đạt trên 1 triệu khách hàng, phần lớn chủ thẻ là thương nhân và những người sống ở các đô thị lớn, dư nợ cho vay cá nhân chỉ chiếm 5-9% tổng dư nợ;
    • Hiệu quả của chính sách khách hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, thủ tục giao dịch chưa thực sự thuận tiện, bộ máy tổ chức chưa theo định hướng khách hàng, thiếu bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, thiếu hệ thống chỉ tiêu định lượng và đánh giá hoạt động NHBL, mức độ ứng dụng CNTT chưa cao.

    2. Những yếu tố hạn chế phát triển dịch vụ NHBL tại Việt Nam

    Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng khách hàng cá nhân, song

    người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng. Do mức thu nhập của phầ n lớn dân cư còn thấp, thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến, nên khả năng phát triển và mở rộng dịch vụ NHBL còn hạn chế.

    Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chư a thực sự phù hợp với tình hình thự c tế. Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếu được xây dự ng trên cơ sở các giao dịch thủ công với nhiều loại giấ y tờ và quy trình xử lý nghiệp vụ phứ c tạp. Trong khi đó, phát triển dịch vụ NHBL đòi hỏi phải áp d ụng công nghệ mới và quy trình nghiệp vụ hiệ n đại, nhanh chóng. Với tốc độ phát triển dịch vụ như hiệ n nay, nhiều quy định pháp lý đã tỏ ra bất cậ p và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho các NHTM khi muốn triển khai dịch vụ mới.

    Về phía các NHTM, các ngân hàng chư a xây dự ng được chiến lược đồng bộ về phát triển dịch vụ NHBL, s ản ph ẩm và dịch vụ NHBL còn đơn điệu, chưa đáp ứng nhu cầ u khách hàng, bộ máy tổ chức chưa xây dựng theo định hướng khách hàng, chư a có đội ng ũ cán bộ chuyên nghiệp về nghiệp vụ NHBL, mạng lưới kênh cung cấp dịch vụ còn mỏng, nền tảng công nghệ và khả năng ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế.

    • Một số giải pháp phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM Việt Nam Hoàn thiện các qui định pháp lý về nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng

    Các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngân hàng do nhiều cấp và nhiều cơ quan ban hành, đ iều này đòi hỏi phải hoàn thiện môi trường pháp lý một cách đầy đủ, đồng bộ và thố ng nh ất về các loại hình dịch vụ theo hướng đơ n giản, dễ hiểu, dễ phổ cậ p, phù hợp vớ i thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của khách hàng và ngân hàng.

    2. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối có hiệu quả

    Trong xu thế hộ i nhập, cạnh tranh trên thị trường NHBL ngày càng gay gắt, phát tri ển dịch vụ NHBL được xác định là m ột định hướng chiến lược quan trọng của các NHTM Việ t Nam. Trong đó, việ c phát triể n các kênh phân phối là một trong nhữ ng giải pháp tiên quyết, đòi hỏi phải tích cự c phát triển mạng lưới các chi nhánh c ấp I và cấ p II, chú tr ọng mở r ộng thêm các phòng giao dịch vệ tinh vớ i mô hình g ọn nhẹ. Bên cạnh việ c duy trì và mở rộng các kênh phân phối truyền thố ng như các chi nhánh, các phòng giao dịch, các NHTM cần nghiên cứ u và ứng dụng các kênh phân phối hiện đại, đồng thời tăng cường qu ản lý phân ph ối nhằm tố i đa hóa vai trò của từng kênh phân phối một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giao dịch ở mọi lúc, mọi nơi như:

    • Tăng cường hiệu quả và khả năng tự phục vụ của hệ thống ATM nhằm cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau với chi phí rẻ hơn, nâng cấp hệ thống ATM thành những “ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp các tỉnh, thành phố. Đồng thời, phát triển mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên k ết giữa các NHTM để nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần sớm đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy vấn số dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
    • Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí rất

    thấ p, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại bất cứ thời gian, địa điểm nào;

    • Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.

    Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ NHBL phải được thực hiệ n từng bước, vữ ng chắc, đồ ng thời có bướ c đột phá để tạ o đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ vữ ng thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho ngườ i sử dụng dịch vụ, kết hợp hài hoà lợi ích khách hàng với lợi ích của ngân hàng và có lợi cho nền kinh tế.

    Chìa khóa của Chiến lược NHBL là phát triển CNTT, làm nền tảng phát triển kinh doanh và

    mở rộng các loại hình dịch vụ mới theo hướng tă ng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát tri ển h ệ thống giao dịch trực tuyế n và từng bước triển khai mô hình giao dịch một cử a, hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, đảm b ảo hòa nhập với các ngân hàng quốc tế trong m ọi lĩnh vực. Tăng cường xử lý tự động trong tất cả qui trình tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định và xử lý thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính bảo mật và an toàn trong kinh doanh.

    3. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ

    Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nh ọn để phát triể n dịch vụ ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phậ n nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổ i trội trên thị trường nhằm tạo sự khác biệ t trong c ạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.

    Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phát

    huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt

    bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao tính thanh khoản của VND và hiệu quả sử dụng vốn

    trong nền kinh tế. Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm

    thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc

    thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm. Các NHTM cũng cần

    tăng cường hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường

    xuyên, ổn định số lượng khách hàng, trả lương như bưu điện, hàng không, điện lực, cấp thoát

    nước, kinh doanh xăng dầu. NHNN cần sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp quy

    về thanh toán với cơ chế khuyến khích hơn là ngăn cấm như cho phép thu phí giao dịch tiền

    mặt cao hơn giao dịch chuyển khoản, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng

    nhằm hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống nhất và an toàn.

    Phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền

    • nước ngoài, các ngân hàng đại lý nước ngoài. Có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng. Triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và bảo hiểm, vì có tới 50% khách hàng sử dụng một sản phẩm duy nhất là tài khoản nhận lương.

    4.                 Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng

    Do phần lớn đố i tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, việ c quảng bá, tiếp thị các s ản phẩm dịch vụ đ óng vai trò c ực kỳ quan trọng, có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng. Tă ng cường chuyển tải thông tin tới công chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín c ủa ngân hàng, hiểu biết cơ bản về dịch vụ NHBL, nắm được cách thức sử dụng và lợi ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    5. Các giải pháp khác

    • NHNN và các NHTM cần phối hợp với Tổng cục Thống kê trong việc xây dựng danh mục dịch vụ NHBL theo chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở để xây dựng hệ thống báo cáo định kỳ về các loại hình dịch vụ cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng quản trị, điều hành.
    • Xây dựng hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân nhằm giảm nhẹ rủi ro, có thể ra

    quyết định cho vay mộ t cách nhanh chóng, chính xác. Xây dựng bộ phận quản lý và phân loại khách hàng nhằm xác định mức chi phí và lợi nhuận của từng phân đo ạn khách hàng, thực hiện tốt chính sách khách hàng, triển khai mô hình tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng và ch ủ độ ng tìm đến khách hàng, xác định nhu cầu của từng nhóm khách hàng, từ đó đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ phù hợp.

    • Mỗi NHTM cần thành lập bộ máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển dịch vụ NHBL, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động NHBL.

    XT-VPNHNN


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luận văn tốt nghiệp Tìm hiểu về vấn đề sử dụng hợp đồng mẫu trong đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-m%E1%BB%9F-r%E1%BB%99ng-v%C3%A0-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trung-d%C3%A0i-h%E1%BA%A1n-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sau hơn 10 năm đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, lạm phát được kiểm soát, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên trong năm

    1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  5

    không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động tín dụng trung dài hạn trong việc phục hồi và thúc đẩy nền kinh tế sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng phát triển theo hướng CNH – HĐH. Hoạt động tín dụng trung dài hạn có hiệu quả hay không không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi ngân hàng mà còn là vấn đề quan tâm của cả nền kinh tế. Hiệu quả hay nói cách khác chất lượng tín dụng trung dài hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thuộc về ngân hàng nhưng cũng có yếu tố thuộc về khách hàng, chất lượng tín dụng trung dài hạn còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như các yếu tố: chính trị, tình hình phát triển kinh tế…

    Qua một thời gian thực tập tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam, em nhận thấy mặc dù ngân hàng ngoại thương đã có những biện pháp nhất định nhưng hoạt động tín dụng trung dài hạn còn có nhiều khó khăn và tồn tại, ngân hàng cũng chưa phát huy hết hiệu quả và vai trò của nghiệp vụ này trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, cũng như chất lượng tín dụng trung dài hạn cũng còn nhiều bức xúc mà ngân hàng phải giải quyết.

    Sau khi tìm hiểu sâu vấn đề, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm mở

    rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam”.

    Nội dung bài viết của em được chia thành ba chương:

    Chương i: Những lý luận chung về hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    Trong chương này em xin trình bày về một nét khái quát về NHTM và về hoạt động tín dụng trung dài hạn của NHTM.

    Chương ii: Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này em trình bày về thực trạng tín dụng trung dài hạn thông qua các con số của ngân hàng ngoại thương thống kê từ đó đưa ra những thành tựu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  6

    mà ngân hàng đã thực hiện được và các tồn tại cần phải giải quyết cùng các nguyên nhân của tồn tại đó.

    Chương iii: Những giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Trong chương này, xuất phát từ những tồn tại đã nêu ở chương ii, em đưa ra một số giải pháp có thể áp dụng vào thực tế hoạt động của ngân hàng ngoại thương trong những năm tới.

    Cuối cùng, em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài, cùng toàn thể cán bộ tín dụng phòng dự án của ngân hàng ngoại thương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài viết của mình.

    CHƯƠNG MỘT:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤNG TRUNG DÀI

    HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    i. Khái quát chung về ngân hàng thương mại

    1.     Khái niệm ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  7

    triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ… trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.

    Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.

    Ngân hàng quốc gia Việt Nam ra đời ngày 05/05/1951 theo sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước VNDCCH. Trong giai đoạn 1951 – 1987, ở Việt Nam đã tạo lập hNệ thông ngân hàng một cấp, chỉ phù hợp với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung. Khi nước ta chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, hệ thông ngân hàng một cấp tất yếu phải được cải tổ sang hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp quản lý và kinh doanh. Sau khi Nghị định số 53/HĐBT được ban hành ngày 26/03/1998 bộ máy NHNN được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 – LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    2.     Chức năng của Ngân hàng thương mại.

    Trung gian tín dụng

    Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh

    tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối”

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  8

    giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.

    Trung gian thanh toán

    Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền… Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

    Chức năng tạo tiền

    Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những

    phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi… Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia. Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc. Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm.

    3.Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam  9

    Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm chí chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có tác dụng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của ngân hàng được thể hiện như sau:

    Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng.

    Ngân hàng góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung

    cấp các dịch vụ tài chính khác.

    ii.Tính dụng trung dài hạn của hệ thống ngân hàng thương mại.

    Tính dụng là hoạt động tryền thống chủ yếu và quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. Các nhà nghiên cứu cho rằng các khoản cho vay chiếm tới 60% tài sản của ngân hàng và đem lại 55 – 70% lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy ngân hàng phải thực hiện thành công chính sách, kế hoạch tín dụng thì mới có thể tồn tại và phát triển, đồng thời đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế.

    1.     Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng.

    Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVi, đó là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, đã và đang thể hiện ngày càng rõ nét những đặc tính ưu việt của mình, đóng góp một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Tín dụng ngân hàng là “quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định giữa một bên là ngân hàng – một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội, và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay ”.

    Đề hiểu rõ bản chất của tín dụng ngân hàng, chúng ta cần xem xét quá trình

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          10

    vận động của tín dụng qua các giai đoạn sau:

    Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay.

    • đây vốn được chuyển từ Ngân hàng sang người đi vay. Xét về bản chất, khi đi vay giá trị của vốn tín dụng ngân hàng giống với việc mua bán các hàng hoá

    thông thường. Chỉ một bên nhận được giá trị còn lại một bên nhượng đi giá trị.

    Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất.

    • giai đoạn này, vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Người đi vay không có quyền sở hữu

    mà chỉ có quyền sử dụng vốn vay.

    Giai đoạn 3: Hoàn trả tín dụng

    Đây là giai đoạn kết thúc của một vòng tuần hoàn tín dụng. Khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng của người vay hoàn trả lại cho ngân hàng. ở đây tiền không được bỏ ra thanh toán cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ được đem nhượng đi với một điều kiện là nó quay trở lại điểm xuất phát sau một chu kỳ nhất định. Đó là một bản chất riêng của ngành ngân hàng, sự hoàn trả được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng lên dưới hình thức lợi tức.

    2.Tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại.

    2.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn, nguồn vốn trung dài hạn và sự cần thiết của nó

    2.1.1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn

    Tín dụng trung dài hạn: “là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”. Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn. ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 11

    hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn được xác định như sau:

    Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm.

    Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống.

    Như vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng cơ bản sau:

    Chúng có thời hạn trên một năm.

    Chúng được trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, tháng, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay.

    Chúng thường được đảm bảo bằng những tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặc văn tự cầm cố tài sản cố định.

    Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.

    2.1.2. Nguồn vốn để cho vay trung dài hạn

    Có thể nói rằng nguồn vốn cho hoạt động tín dụng trung dài hạn ở Việt Nam hiện nay là rất nhỏ bé được hình thành từ các nguồn sau:

    Nguồn vốn tự có: nguồn vốn này rất hạn chế vì nó chỉ chiếm từ 5 đến 10% tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.

    Nguồn vốn huy động từ hình thức phát hành trái phiếu trung dài hạn hoặc huy động tiền gửi trung dài hạn.

    Nguồn huy động ngắn hạn định kỳ. Nguồn này có thể được xem xét, tính trích ra một tỷ lệ phần trăm nào đó tuỳ thuộc vào sự biến động của tiền gửi.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          12

    Nguồn vốn vay từ ngân hàng nhà nước. Nguồn này bị hạn chế vào chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN. Các ngân hàng thương mại rất khó thuyết phục NHNN cho vay trung dài hạn vì nó rất dễ gây ra lạm phát, nhất là trong thời kỳ xây dựng cơ bản chưa có hàng hoá đối ứng.

    Nguồn nhận vốn uỷ thác và vốn tài trợ cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tư của nhà nước, của tổ chức kinh tế – tài chính – tín dụng trong và ngoài nước. 2.1.3. Sự cần thiết của tín dụng trung dài hạn

    Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay nhu cầu về vốn xây dựng cơ bản là rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế. Do vậy các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn tự có của mình và bộ phận chủ yếu còn lại phải dựa vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh của mình, các doanh nghiệp ngày càng thích huy động vốn để tiến hành đầu tư thông qua hình thức đi vay trung dài hạn tại các ngân hàng hơn là việc phát hành cổ phiếu hoặc phát hành trái phiếu dài hạn vì:

    Việc đi vay vốn trung dài hạn ở ngân hàng sẽ làm cho doanh nghiệp có thể tự chủ và khả năng kiểm soát độc lập được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình mà không bị pha loãng quyền kiểm soát doanh nghiệp với các cổ đông mới trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu mới.

    Trong trường hợp phát hành trái phiếu, không phải doanh nghiệp nào khi cần huy động vốn trung dài hạn chỉ cần bán trái phiếu là có người mua ngay mà còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Các nhà đầu tư chỉ tiến hành mua trái phiếu của doanh nghiệp khi họ thật

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          13

    sự tin tưởng vào doanh nghiệp mà yếu tố này không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có được.

    Khi doanh nghiệp vay vốn trung dài hạn ngân hàng, ngân hàng sẽ có thể điều chỉnh được kỳ hạn nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian đến hạn trả nợ khi họ không cần phải sử dụng đến vốn vay trung dài hạn. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định thì cũng có thể xin ngân hàng gia hạn nợ. Còn việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu thì doanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc trả lãi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi khi công việc kinh doanh gặp khó khăn.

    Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được ấn định theo một sự phân chia hợp lý và ổn định vì vậy các doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các khoản trả nợ một cách dễ dàng hơn.

    Tín dụng trung dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp ưa thích hơn vì phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp nhỏ. Các công ty cổ phần lớn cũng thích vay vốn trung dài hạn để tránh những sự phân chia quyền lợi, kiểm soát công ty do việc phát hành cổ phiếu đem lại.

    Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn cho đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ là rất lớn. Nhu cầu vốn này được thoả mãn một phần nhờ vốn do ngân sách nhà nước cấp phát, vay nước ngoài và một phần huy động từ dân cư. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu, việc cung cấp vốn thông qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tín dụng trung dài hạn là rất quan trọng.

    Hệ thống ngân hàng thương mại là một hệ thống kinh doanh tiền tệ, có kinh nghiệm thẩm định các dự án, các chương trình đầu tư do vậy việc các ngân hàng thương mại cung cấp vốn trung dài hạn cho các doanh nghiệp sẽ đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. Khi ngân hàng cho vay thì có thể soạn thảo hộ những doanh

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          14

    nghiệp các dự án đầu tư, có thể tư vấn cho các doanh nghiệp về đầu tư và giúp đỡ các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với khách hàng, thông tin cho khách hàng những thông tin cần thiết.

    2.2. Các hình thức tín dụng trung dài hạn:

    Hoạt động tín dụng theo dự án đầu tư: đây là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Dự án đầu tư là tợp hợp những đề xuất dựa trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để cải tạo đổi mới kỹ thuật và công nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Dự án do doanh nghiệp đưa ra và sau khi được các cấp có thẩm quyền xét duyệt về các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, xã hội sẽ được gửi tới ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vay vốn tài trợ của dự án. Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà ta chia làm hai hình thức phổ biến:

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài sản cố định. Trong hình thức này, nguồn vốn của Ngân hàng tham gia vào dự án tương đối lớn, thời gian tín dụng của dự án không dài, các dự án này thường có quy mô vừa và nhỏ. Các dự án loại này đã và đang được ngân hàng tài trợ có hiệu quả.

    -) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm để đầu tư xây dựng theo dự án mới, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi tham gia vào hình thức này nguồn vốn của ngân hàng tham gia thường nhỏ hơn nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, thời gian của dự án thường dài.

    Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi hết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          15

    thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng

    Thấu chi: tức là ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được quyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định. Chi phí cơ bản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi ngày. Người vay nói chung chỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồi thường và cho trong giai đoạn số tiền bị lấy đi. Vì lý do đó, chi phí hữu hiệu của một khoản nợ thấu chi là lãi suất được định ra trên số dư thấu chi.

    Bảo lãnh trung dài hạn mua thiết bị trả chậm: là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ đầu tư, đứng trả nhập thiết bị máy móc, thiết bị với thời hạn ít nhất là một năm trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất khẩu. Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ ngay một lần. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của thiết bị hàng năm dưới sự bảo lãnh của ngân hàng. Hình thức này rất có lợi cho chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoản tiền nay sẽ được trả dần theo một chuỗi niên kim khi các máy móc này sinh lời. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư.

    2.3. Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường.

    2.3.1. Đối với ngân hàng

    Ngân hàng là tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nhận gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục tiêu lợi nhuận. An toàn trong lợi nhuận là mục của ngân hàng, nói cách khác ngân hàng là một kinh doanh gặp nhiều rủi ro do phần lớn tài sản có của nó là bộ phận tài sản sinh lợi lại không do ngân hàng trực tiếp sử dụng do vậy mà trong quá trình hoạt động, ngân hàng đạt được mục tiêu lợi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          16

    nhuận nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn. Vì vậy ngân hàng luôn quan tâm đến những dự án mang hiệu quả cao. Hơn thế nữa, ngày nay sản phẩm ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong những nghiệp vụ truyền thống như nhận gửi, cho vay hay trung gian thanh toán mà còn rất nhiều các nghiệp vụ đa dạng khác. Lợi nhuận do các nghiệp vụ này ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Một trong những khách hàng quan trọng nhất của những nghiệp vụ này không ai khác chính là các doanh nghiệp. Do vậy để tạo được mối quan hệ lâu dài trong tương lai, cũng là thị trường sinh lợi chính của mình, ngân hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn như là một công cụ cuốn hút các khách hàng, củng cố lòng trung thành của các khách hàng truyền thống, đồng thời tạo ra các mối quan hệ mới với các khách hàng mới. Ngân hàng thông qua nguồn vốn tín dụng ưu đãi cung cấp tín dụng trung dài hạn cho các khách hàng, không những thu được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đem lại mà còn thu thêm được lợi nhuận từ những dịch vụ khác cung cấp cho khách hàng. Hơn nữa năng lực cung cấp tín dụng trung dài hạn cũng chứng tỏ ngân hàng có được niềm tin lớn từ khách hàng cũng như công chúng, trong giai đoạn hiện nay nó cũng chứng tỏ khả năng cạnh tranh của ngâng hàng.

    2.3.2. Đối với doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp đang phải tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt, đây là một thực tế tất yếu xảy ra ở bất kỳ nền kinh tế nào. Do sức ép của cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn có những nhu cầu đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tăng khả năng sản xuất, phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo tồn tại và phát triển. Nhưng muốn thực hiện các kế hoạch như vậy doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định. ở Việt Nam hiện nay khi mà thị trường tài chính chưa hoàn thiện thì tín dụng ngân hàng là một giải pháp tối ưu nhất cho các doanh nghiệp. Đối với tất cả các dự án trên doanh nghiệp cần phải được tài trợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 17

    bằng một nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp có những công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp có thể chịu được những sức ép ban đầu của cạnh tranh và của môi trường kinh doanh mới, giúp cho doanh nghiệp yên tâm hơn trong đầu tư và rảnh tay tính toán với những dự án lớn, hiệu quả cao. An toàn về tài chính và khả năng thanh toán là mối quan tâm của nhiều phía đặc biệt là các doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng trung dài hạn của ngân hàng vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

    2.3.3. Đối với nền kinh tế

    Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng như chế độ chính trị xã hội bởi vì tất cả các quốc gia đều có chung một nhu cầu đó là nhu cầu đầu tư để phát triển. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh. Khác với các loại hình đầu tư khác, hoạt động tín dụng trung dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung dài hạn. Đối với các Chính phủ, đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như: đường xá, cầu cảng, sân bay, nâng cấp, xây mới các đô thị… không thể đem lại hiệu quả trong chốc lát nhưng nó sẽ mang lại ích lợi to lớn sau này. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trung dài hạn, đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô từ đó có thể hướng được đầu tư tư nhân vào các ngành mà họ đang khuyến khích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn. Với những công trình lớn do Chính phủ thực hiện, sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, hình thành nhiều công ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ. Những công trình phúc lợi được tài

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          18

    trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiện nhưng lợi ích mà nó tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế là vô cùng to lớn. Như vậy có thể nói tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chương trinh kinh tế xã hội của một quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc, theo chiều sâu.

    Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ: Hiện nay ở nước ta đang tiến hành CNH – HĐH. Công nghiệp hoá không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện hiện nay khi thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện tại và trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình CNH – HĐH. Thông qua hoạt động tín dụng trung dài hạn, ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế này cũng như hạn chế đối với ngành kinh tế khác. Như vậy qua chính sách tín dụng trong từng thời kỳ mà các NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: tín dụng trung dài hạn đầu tư cho một dự án mới để đầu tư vào các máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát triển. Khi đó nhu cầu vôn lưu động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng lớn.

    Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ có tín dụng trung dài hạn của ngân hàng mà các doanh nghiệp có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm, được thị trường quốc tế chấp nhận. Thị trường của doanh nghiệp được mở rộng ra thị trường quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          19

    Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêu thụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK…Trong trường hợp hàng hoá được xuất khẩu thì

    chúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.

    Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế. Sản xuất phát triển, các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, tích luỹ trong xã hội tăng lên, nền kinh tế biến đổi về chất, phúc lợi xã hội được đảm bảo, việc làm tạo ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thất nghiệp giảm đi đôi với chất lượng cuộc sống ngày một tăng lên của các tầng lớp dân cư trong xã hội.

    2.     Chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Tín dụng ngân hàng là một sản phẩm của ngân hàng cung ứng phục vụ các khách hàng của mình. Cũng như các sản phẩm khác nó cũng có chất lượng, tuy nhiên vì ngành ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nên chất lượng tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng.

    Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có lựa chọn, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội

    Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đặp được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội

    Từ khái niệm trên ta thây rằng khách hàng, NHTM, và bối cảnh kinh tế là ba

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          20

    nhân tố được đề cập đến khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn. Việc xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn mà thiếu đi một trong ba nhân tố đó là phiến diện vì ba nhân tố này tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa kiềm chế lẫn nhau. Do đó chúng ta xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn trên ba giác độ đó

    Đối với ngân ngân hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở phạm vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực theo hướng tích cực của ngân hàng và phải bảo đảm được khả năng cạnh tranh trên thị trường, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển. Chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm bảo cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế.

    Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn là sự thoả mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo thu hút khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng những quy định của tín dụng, góp phần làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.

    Đối với nền kinh tế: khoản tín dụng trung dài hạn có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ

    tầng kinh tế, vừa thúc đẩy tiêu dùng, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Chỉ tiêu về huy động vốn trung dài hạn:

    Tổng nguồn vốn trung dài hạn và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn này: chỉ tiêu này thể hiện tốc độ tăng trưởng và khả năng huy động vốn trung dài hạn của ngân hàng.

    Vốn trung dài hạn / Tổng nguồn vốn huy động: phản ánh cơ cấu vốn trung dài hạn của ngân hàng và khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển. Ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          21

    không có cơ hội mở rộng hoạt động tín dụng nếu như tỷ lệ này quá thấp.

    Nhóm chỉ tiêu cho vay trung dài hạn

    Doanh số cho vay trung dài hạn: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân giúp doanh nghiệp trong đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới… Con số này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lại doanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng là xấu, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của ngân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

    Doanh số thu nợ trung dài hạn: phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà ngân hàng đã được hoàn trả trong một thời kỳ. Doanh số này có thể phản ánh doanh nghiệp do tình hình kinh doanh ổn định mà trả nợ ngân hàng đúng hạn hoặc ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lành mạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu hồi vốn.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn: là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể. Không thể đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn cao hay thấp dựa vào chỉ tiêu này mà phải xem xét mức độ an toàn và tính lành mạnh của nó.

    Dư nợ tín dụng trung dài hạn / Tổng dư nợ: Cho biết tỷ trọng dư nợ tín dụng trung dài hạn là lớn hay nhỏ trong tổng dư nợ, đồng thời cũng cho biết mối tương quan với dư nợ tín dụng ngắn hạn.

    Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn:

    Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn = Nợ quá hạn trung dài hạn / Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Để tỷ lệ này phản ánh đúng chất lượng cho vay trung dài hạn nên loại trừ các khoản nợ khoanh ra khỏi nợ quá hạn cũng như loại trừ các khoản cho vay ưu đãi và cho vay theo chỉ định của Nhà nước ra khỏi tổng dư nợ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn thông thường (cho các khoản nợ dưới 180 ngày): chỉ tiêu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          22

    này có ý nghĩa với ban lãnh đạo ngân hàng trong việc đốc thúc cán bộ cho vay nhằm thu nợ đúng hạn. Tuy vậy, nó chưa phản ánh đúng chất lượng cho vay bởi những khoản vay do khách quan mà doanh nghiệp không thể trả nợ được đúng hạn nhưng doanh nghiệp có khả năng trả nợ vào một thời gian ngắn sau đó

    Tỷ lệ nợ quá hạn khê đọng: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn từ 6 đến 12 tháng. Đây là khoản nợ quá hạn có vấn đề với ngân hàng, thể hiện chất lượng cho vay của khoản vay kém. Ngân hàng nếu không có biện pháp khắc phục khoản nợ này sẽ phải gánh chịu tổn thất.

    Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi: áp dụng cho các khoản nợ quá hạn trên 1 năm. Nếu tỷ lệ này cao, ngân hàng không những phải gánh chịu tổn thất mà còn có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán.

    3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn:

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          23

    3.3.1. Các nhân tố về phía khách hàng

    Tiềm lực tài chính của khách hàng: Thể hiện qua các chỉ tiêu như vốn tự có, hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi hàng năm… có tiềm lực tài chính mạnh, doanh nghiệp vay vốn sẽ dễ dàng hơn trong việc thoả thuận với ngân hàng về các khoản vay và dịch vụ tài chính khác cũng như uy tín của doanh nghiệp trong việc trả nợ ngân hàng

    Triển vọng kinh doanh: Thông thường khi doanh nghiệp đưa vốn của ngân hàng vào kinh doanh, một doanh nghiệp đang trong tình trạng thị phần của mình bị thu hẹp, nhà cung cấp không ổn định, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì tất nhiên khả năng hoàn trả vốn tín dụng cho ngân hàng sẽ không được đảm bảo. Ngược lại một triển vọng kinh doanh sáng sủa đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ mạnh dạn trong việc tài trợ cho doanh nghiệp các nhu cầu về vốn do ngân hàng có thể xác định được các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là có chất lượng hay không.

    Mức độ bảo đảm tín dụng: Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại luôn đề cập đến vấn đề tài sản đảm bảo cho khoản vay đặc biệt là đối với các khoản tín dụng trung dài hạn.

    Xét về cầm cố thế chấp: ngân hàng sẽ cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên số tài sản cầm cố thế chấp. Loại trừ sự vi phạm đạo đức kinh doanh, nếu doanh nghiệp có đủ tài sản để thế đảm bảo cho các khoản vay thì khoản cho vay này có thể được xem là ít rủi ro, từ đó chất lượng khoản cho vay này cũng được cải thiện.

    Xét về bảo lãnh: Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín, có mối quan hệ làm ăn lâu dài với các đối tác của mình có thể nhận được sự bảo lãnh để vay vốn ngân hàng. Nếu bên bảo lãnh thường xuyên đảm bảo được năng lực tài chính và năng lực pháp lý tham gia vào hoạt động kinh doanh thì chất lượng cho vay có thể được đảm bảo.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          24

    Đạo đức kinh doanh: nếu khách hàng trung thực sử dụng vốn vay đúng mục đích thì rủi ro xảy ra đối với ngân hàng sẽ ít đi do để dẫn tới quyết định cung cấp vốn trung dài hạn cho khách hàng ngân hàng đã có một quá trình xét duyệt hồ sơ xin vay và nếu như quá trình này thực hiện một cách chính xác thì khi vốn sử dụng đúng mục đích như hồ sơ xin vay, sẽ xảy ra ít rủi ro hơn. Trong thời gian qua một tỷ lệ rủi ro tín dụng tương đối cao xuất phát từ nguyên nhân sử dụng vốn sai mục đích. Đặc biệt là có một số doanh nghiệp tư nhân làm ăn theo kiều lừa đảo khiến cho các ngân hàng không dám cho vay nhiều đối với thành phần kinh tế này.

    Năng lực quản lý và trình độ của doanh nghiệp vay vốn: Xem xét triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp cần xuất phát từ yếu tố con người. Thiếu năng động trong kinh doanh, không kịp thay đổi chiến lược khi môi trường kinh doanh thay đổi, đội ngũ nhân viên không có trình độ, thiếu kỷ luật… sẽ làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng, chất lượng khoản vay không được đảm bảo.

    3.3.2. Các nhân tố về phía ngân hàng.

    Chính sách tín dụng:

    Với chính sách tín dụng do ngân hàng nhà nước ban hành và các ngân hàng thương mại dựa vào đó để đề ra các chính sách cho phù hợp với ngân hàng của mình. Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng là văn bản thể hiện chiến lược và đường lối của ngân hàng thương mại trong việc thực thi các giao dịch cho vay đơn lẻ cũng như chiến lược cho vay trong từng thời kỳ. Trong đó có quy trình về một nghiệp vụ cho vay chuẩn để quy định trình tự các bước tiến hành trong quá trình xét duyệt cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo các khoản vay để tạo ra các khoản vay chất lượng tốt.

    Chất lượng nhân sự:

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          25

    Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại của công việc. Nghiệp vụ hoạt động ngân hàng càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao hơn. Để thực hiện tốt hoạt động tín dụng trung dài hạn thì cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định dự án. Nhưng nếu trình độ hạn chế do không được đào tạo chính quy, chuyên sâu hoặc thiếu kinh nghiệm nên không đánh giá được tính khả thi của dự án, không phân tích chính xác báo cáo tài chính, khả năng quản lý của khách hàng… nên thường không có quyết định chính xác về việc cho vay dự án. Bên cạnh đó, đặc biệt cán bọ ngân hàng cần phải có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp. Một công việc có liên quan đến tiền bạc, phải là người có lòng trung thực, có lương tâm và đạo đức tốt, ý chí cao thì cán bộ tín dụng mới tránh khỏi những cám dỗ của đồng tiền. Trên thực tế đã có không ít những món vay không đảm bảo an toàn cho ngân hàng nhưng vẫn được cán bộ tín dụng cho phép, tất nhiên sau đó họ sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật nhưng tổn thất họ gây ra ngân hàng và nền kinh tế vẫn không tránh khỏi.

    Công tác thẩm định dự án

    Thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét một cách khách quan toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho ngân hàng rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ ngân hàng từ đó ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ chối. Cũng từ quá trình thẩm định , ngân hàng có thể tham gia tư vấn, góp

    • cho chủ đầu tư đồng thời căn cứ vào đó để xác định số tiền cho vay, thời hạn cho

    vay cũng như hình thức trả gốc và lãi tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động có hiệu quả. Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng với trình tự, nội dung không đầy đủ, chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn. Tuy nhiên, nếu quá trình thẩm định diễn ra quá thận trọng, tốn nhiều gian, quá trình cho vay có nhiều thủ tục rườm rà thì ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội đầu tư, làm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          26

    giảm tính hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tất nhiên chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ giảm sút.

    Công tác tổ chức của ngân hàng

    Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động

    đến mọi hoạt động của ngân hàng. Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, thì việc tổ chức thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo trong việc phối hợp công việc giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với một món vay. Tổ chức thiếu khoa học cũng có thể tạo ra sự thiếu chặt chẽ giữa các khâu, tính ỷ lại, thiếu trách nhiệm của các cán bộ tín dụng đối với công việc. Vì vậy, công tác tổ chức trong ngân hàng phải được hết sức coi trọng. Tổ chức phải đảm bảo đúng người đúng việc, phát huy được khả năng của cán bộ, tạo ra sự nhịp nhàng giữa các khâu. nếu được tổ chức một cách hợp lý, ngân hàng sẽ rút ngắn thời gian thẩm định nhưng vẫn hạn chế tối đa sự thiếu chính xác trong quá trình thẩm định, vừa đảm bảo an toàn cho ngân hàng vừa phục vụ khách hàng tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

    Thông tin tín dụng

    Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng, những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra quyết định cho vay hay không đồng thời cũng thuận tiện cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra, giám sát khoản vay… Thông tin tín dụng chính xác sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro ở mức thấp nhất.

    3.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

    Môi trường kinh tế

    Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trong đó có tín dụng trung dài hạn. Chẳng hạn trong một nền kinh tế phát triển quá nóng, Chính phủ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng bền vững đề ra một số biện pháp nhằm hạn chế đầu tư. Định hướng này của chính phủ sẽ tác động đến hệ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          27

    thông ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ. Các ngân hàng sẽ phải thắt chặt chính sách tín dụng, các khoản tài trợ cho nền kinh tế sẽ được xem xét một cách kỹ lưỡng hơn trước khi quyết định đầu tư thay cho các quyết định nhanh chóng trước kia, từ đó khả năng xảy ra rủi ro cho ngân hàng sẽ ít hơn. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho một nền kinh tế đang phát triển, đòi hỏi bản thân ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với tình hình mới. Sự đổi mới này diễn ra ở tất cả các khâu bao gồm công tác tổ chức, trang thiết bị, trình độ nhân sự… chất lượng tín dụng do đó cũng được nâng lên.

    Môi trường chính trị – xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn cho hoạt đông sản xuất kinh doanh. Một môi trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, vì chỉ khi có nhu cầu đầu tư dài hạn trong nền kinh tế mới xuất hiện nhu cầu vay vốn trung dài hạn ngân hàng. Hơn nữa sự mất ổn định về chính trị – xã hội sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp và nếu doanh nghiệp này đang vay vốn ngân hàng thì rõ ràng việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn. Chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

    Môi trường pháp lý

    Môi trường pháp lý không chặt chẽ hoặc thiếu chặt chẽ hay thay đổi cũng gây

    ra ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Môi trường pháp lý ở Việt Nam ta là một vấn đề nổi cộm. Ngay trong lĩnh vực ngân hàng, hiện nay không có một cơ quan nào chứng thực về tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch sở hữu tài sản thế chấp để khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa có sơ sở pháp lý để phát mại; việc thế chấp đất của thành phần kinh tế quốc doanh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng phần lớn là đi thuê của nhà nước; các chính sách thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ chế như việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          28

    không đồng bộ với việc giải quyết các khoản nợ ngân hàng cũng như làm cho hoạt động thu hồi vốn kinh doanh của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng; các chính sách thường hay thay đổi là một bất lợi lớn vì các doanh nghiệp không dự đoán được cơ hội kinh doanh nên không thực hiện được các dự án, hoặc việc thực hiện các dự án không diễn ra theo đúng kế hoạch ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ của ngân hàng.

    Bên cạnh các yếu tố trên còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng chẳng hạn môi trường tự nhiên: thiên tai làm cho hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ thậm chí phá sản dẫn tới không trả nợ được cho ngân hàng. Tuy nhiên đây là một yếu tố bất khả kháng, trong trường hợp này các ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tài trợ cho khách hàng để tiếp tục kinh doanh từ đó có thể thu hồi được cả nợ cũ lẫn nợ mới.

    3.4. Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    3.4.1. Sự cần thiết phải mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn hiện nay.

    a/ Về mở rộng tín dụng trung dài hạn

    Hoạt động của doanh nghiệp hiện nay theo nguyên tắc hạch toán kinh tế và phải chấp nhận tự bù đắp. kinh doanh có hiệu quả và có lãi là yêu cầu của hạch toán kinh tế, đồng thời cũng là một trong những điều kiện khi đi vay vốn ngân hàng. Do đó tín dụng trung dài hạn thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả kinh doanh. Việc cấp tín dụng được thực hiện trong điều kiện phải hoàn lại chi phí đầu tư. Việc xác định thời hạn hoàn trả tín dụng phải xuất phát từ tính chất luân chuyển của vật tư và chí phí. Điều đó thúc đẩy cải tiến hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó góp phần tác động đến việc nâng cao mức doanh lợi của doanh nghiệp.

    Đối với nước ta, là một nước đang trong quá trình CNH – HĐH, xây dựng những tiền đề cần thiết để có những bước phát triển mạnh ở giai đoạn sau thì nhu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn. Theo báo cáo, thì nhu cầu vốn trong giai đoạn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          29

    2000 – 2003 của toàn bộ nền kinh tế là 56 – 57 tỷ USD, trong đó hơn 60,5% (tương đương 36 tỷ USD) là vốn từ nội bộ nền kinh tế và 40,5% còn lại là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác thị trường tài chính của nước ta còn kém phát triển, thị trường chứng khoán tuy đã đi vào hoạt động nhưng quy mô chưa lớn thì việc mở rộng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. b/ Về nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Đối với nền kinh tế

    Thứ nhất: Chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba: tín dụng trung dài hạn là công cụ để thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đầu tư đúng hướng để khai thác tiềm năng về tài nguyên, lao động, đảm bảo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các vùng trong cả nước theo hướng CNH – HĐH.

    Đối với ngân hàng

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng, các thủ tục về tín dụng trung dài hạn được đơn giản, thuận tiện sẽ tạo điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho ngân hàng.

    Thứ hai: chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng: làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ do tăng nhanh vòng quay vốn tín dụng, nâng cao uy tín của ngân hàng để có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          30

    nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng bởi nó cho phép ngân hàng giữ được khách hàng trung thành và thu hút được các khách hàng khác.

    Đối với doanh nghiệp

    Thứ nhất: chất lượng tín dụng trung dài hạn được nâng cao tăng niền tin cho khách hàng đối với ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền chọn ngân hàng làm đối tác, khách hàng chỉ đến những ngân hàng nào giúp họ thực hiện các dự án một cách có hiệu quả thông qua các dịch vụ của ngân hàng về tín dụng. Điều này tác động ngược trở lại ngân hàng: khi chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng được nâng cao thì thị trường của ngân hàng được mở rộng.

    Thứ hai: nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần phát triển hoạt động kinh doanh, lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chất lượng tín dụng trung dài hạn được đảm bảo thì hoạt động của ngân hàng cũng phát triển, do đó ngân hàng có điều kiện đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các doanh nghiệp. Mặt khác để đảm bảo nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn, các ngân hàng phải giúp đỡ, kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó chấn chỉnh những sai sót trong hoạt động tìa chính của họ.

    Chính vì những lý do trên, việc củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là sự cần thiết khách quan để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển vững chắc đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội.

    3.4.2. Một số kinh nghiệm để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Đa dạng hoá các hình thức cho vay trung và dài hạn: Bên cạnh việc cho vay trực tiếp với những khách hàng, cần tăng cường việc cho vay hợp vốn với các dự án lớn mà một mình ngân hàng khó có thể kham nổi (tăng cường các hợp đồng đồng tài trợ). Mở rộng các nghiệp vụ cho vay bất động sản, cho vay trả góp…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          31

    Mở rộng thị trường cho vay: Tiến hành thu hút khách hàng thông qua chính sách cho vay ưu đãi, các ưu đãi có thể là cho vay với lãi suất thấp hoặc ưu đãi về thời hạn trả nợ… áp dụng nhiều hình thức dịch vụ mới như dịch vụ tri trả hộ, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ bảo quản tài sản, dịch vụ tư vấn khách hàng…

    Điều chỉnh cơ cấu cho vay phù hợp với cơ cấu kinh tế đang chyển đổi. Tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế đang có tốc độ tăng trưởng cao. Đối với nước ta, một nước đang tiến hành công nghiệp hoá, với xu hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế thì khi tiến hành cho vay cũng cần ưu tiên cho các ngành công nghiệp và dịch vụ.

    Bên cạnh việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng mạng lưới chi nhánh trong nước, ngân hàng cần tiến hành thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường cho vay quốc tế.

    Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác với các ngân hàng, tổ chức tín dụng quốc tế nhằm mở rộng thị trường cho vay liên ngân hàng.

    Nâng cao trình độ đội ngũ tín dụng: con người là nhân tố mấu chốt của mọi thắng lợi, trình độ của cán bộ ngân hàng được nâng cao. Có trình độ chuyên môn, am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan đến hoạt động tín dụng trung dài hạn, được trang bị những kiến thức về sự phát triển của kinh tế thị trường, kiến thức về Marketing với việc đáp ứng nhu cầu, thoả mãn mọi mong muốn của khách hàng.

    Tăng cường đổi mới công nghệ ngân hàng: trang bị, nâng cấp máy móc thiết bị tin học công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện để một ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính ngân hàng quốc tế. Hiện đại hoá công nghệ nhằm nâng cao chất lượng phụ vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường cạnh tranh để có thị phần khách hàng lớn trong hệ thống ngân hàng quốc gia.

    Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ: ở Việt Nam công tác kiểm tra, kiểm soát còn yếu trong những năm qua còn yếu nên đây là

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          32

    một trong những chương trình hành động quan trọng để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đi đúng hành lang pháp lý, thực hiện các biện pháp an toàn và kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời tăng cường tập trung chỉ đạo công tác kiểm toán để nhìn nhận một cách khách quan thực trạng tài chính của các doanh nghiệp vay vốn cũng như đơn vị mình.

    Nâng cao chất lượng thẩm định của các dự án về cả mặt tài chính cũng như về mặt kỹ thuật của dự án đó.

    Giảm nợ quá hạn, tăng cường khai thác tài sản xiết nợ gồm có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh có nghĩa là hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh, quản lý và sử dụng các tài sản xiết nợ tốt hơn. Đối với các khoản nợ quá hạn trước đây có thể thu hồi lại bằng một số biện pháp:

    Đối với khách hàng gặp khó khăn nhất thời trong sản xuất kinh doanh, ngân hàng có thể giảm lãi suất, thu nợ gốc trước, tạo điều kiện cho khách hàng trả nợ Trong trường hợp bên vay cố tình không trả nợ, ngân hàng kiên quyết yêu cầu

    các cơ quan có thẩm quyền can thiệp nhằm thu hồi nợ

    Đối với các khoản vay không thu được nợ, nếu có thể thu hồi bằng tài sản, ngân hàng cần nhanh chóng nắm giữ hồ sơ gốc của các tài sản này, tránh để các ngân hàng khác hoặc chủ nợ khác nắm giữ.

    Lập các quỹ đề phòng rủi ro để làm nguồn tài chính quan trọng cho việc bù đắp các khoản xoá nợ, khoanh nợ, giãn nợ, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của ngân hàng.

    Nợ không thể đòi được do doanh nghiệp phá sản, giải thể có thể giải quyết bằng quỹ phòng ngừa rủi ro, nếu chưa có quỹ này thì chờ khi nào trích được quỹ phòng ngừa rủi ro thì xử lý

    Nợ có thể đòi được thì ngân hàng cùng ban lãnh đạo của doanh nghiệp cùng bàn bạc để tìm ra biện pháp trả nợ, kể cả trường hợp bán nợ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          33

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để đề phòng những rủi ro

    không lường trước được như thiên tai, hoả hoạn, chính trị…

    Đa dạng hóa danh mục đầu tư: không nên hạn chế vào một số ít doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mà nên đầu tư vào tất cả các lĩnh vực với một cơ cấu hợp lý để phân tán rủi ro khi tình hình kinh doanh của một ngành nghề, một số các doanh nghiệp bị xấu đi.

    Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn thông qua việc thu hút các nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế, của dân cư để tạo nguồn. Từ đó ngân hàng có cơ sở để tiến hành cho vay trung dài hạn. Đặc biệt nguồn tiền gửi có kỳ hạn dài, đây là một nguồn quan trọng để ngân hàng có tiềm lực mạnh trong việc cho vay trung dài hạn. Ngân hàng cần có những giải pháp mới trong việc huy động vốn qua các kênh: hoàn thiện các hình thức huy động vốn hiện có, áp dụng thêm các hình thức huy động mới với thủ tục đơn giản, có khả năng chuyển nhượng dễ dàng, với các phương thức trả lãi linh hoạt…

    CHƯƠNG HAI:

    THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI

    THƯƠNG VIỆT NAM

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          34

    i.Tổng quan về ngân hàng ngoại thương.

    1. Sự hình thành và phát triển

    Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được thành lập vào năm 1963, với chức năng là ngân hàng phục vụ kinh tế đối ngoại duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tổ chức tiền thân là Cục quản lý Ngoại hối của Ngân hàng quốc gia. Ngân hàng ngoại thương ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hoạt động ngân hàng của Việt Nam. Trong hơn 35 năm hoạt động, không ngừng phát triển và trưởng thành, Ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là từ khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường – hướng mạnh về xuất khẩu – có sự quản lý của nhà nước và đinh hướng xã hội chủ nghĩa.

    Khi thành lập Ngân hàng ngoại thương chỉ có một cơ sở ở Hà Nội, ngày nay ngân hàng đã trở thành một hệ thống hoàn chỉnh gồm Ngân hàng ngoại thương Trung ương và 23 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, duy trì mối quan hệ với hơn 1000 Ngân hàng khác tại 85 nước trên thế giới nhằm đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng quốc tế và các nghiệp vụ ngân hàng khác, an toàn và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng ngoại thương.

    3.     Hệ thống tổ chức của Ngân hàng ngoại thương hiện nay

    Trong thời gian qua, ngân hàng đã triển khai mô hình tổ chức mới theo loại hình doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo trong hoạt động kinh doanh. Ngân hàng ngoại thương hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các hoạt động liên quan đến hoạt động tài chính, tiền tệ, ngân hàng.

    Sơ đồ tổ chức ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    Trụ sở chính

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          35

    Hội đồng

    quản trị

    Ban kiểm

    soát

    Ban

    Tổng giám

    Hội đồng

    Tín dụng

    Phòng kiểm tra nội bộ

    Phòng quản lý tín dụng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng Công nợ

    Phòng Khách hàng

    Phòng kế toán tài chính

    Phòng kế toán quốc tế

    Phòng quản lý thẻ

    Trung tâm thanh toán

    Phòng tin học

    Phòng quản lý các đề án công nghệ

    Phòng tổng hợp thanh toán

    Phòng tổng hợp và phân tích kinh

    Phòng vốn

    Phòng quan hệ quốc tế

    Phòng quản lý liên doanh và văn phòng đại diện

    Phòng tín dụng quốc tế

    Phòng báo chí

    Văn phòng

    Phòng đầu tư và chứng khoán

    Phòng quản trị

    Phòng pháp chế

    Phòng thông tin tín dụng

    Mạng lưới trong nước

                         
    Trung tâm đào tạo và   Sở giao   Các chi nhánh   Các công ty con
    bồi dưỡng nghiệp vụ                  
                   
                         

    Mạng lưới ngoài nước

               
               
    Văn phòng đại diện     Công ty Tài chính
    (Paris, Moscow, Singapore)     (Hồng Kông)
               

    Cơ quan cao nhất của Ngân hàng ngoại thương là hội đồng quản trị mà đứng đầu là vị chủ tịch. Hội đồng quản trị là nơi đề ra các chiến lược kinh doanh chủ yếu cũng như các chế độ chính sách lớn của ngân hàng. Ban kiểm soát có nhiệm vụ

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 36
     

    giám sát các hoạt động của Hội đồng. Tổng giám đốc trực thuộc Hội đồng quản trị thay mặt Hội đồng quản trị để điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân hàng. Ngoài ra theo cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ngoại thương còn có một hội đồng tín dụng giám sát hoạt động tín dụng của Tổng giám đốc ngăn ngừa những vi phạm chế độ tín dụng có thể xảy ra. Tại VCB Trung ương có 23 phòng ban có nhiệm vụ phối hợp với nhau để giúp cho Tổng giám đốc điều hành công việc kinh doanh.

    4.     Các nghiệp vụ của Ngân hàng ngoại thương

    Trong khuôn khổ của pháp luật, Ngân hàng ngoại thương có quyền thực hiện các nghiệp vụ:

    1. Huy động vốn

    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của tất cả các tổ chức, dân cư trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ.

    Phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và các hình thức huy động vốn khác.

    1. Tiếp nhận tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân khác cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
    2. Vay vốn ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tài chính tín dụng khác trong và ngoài nước, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
    1. Cho vay

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế.

    Chiết khấu các thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác trị giá bằng tiền.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          37

    1. Thực hiện các nghiêp vụ cho thuê tài chính (kể cả nhập khẩu và tái xuất thiết bị cho thuê).
    1. Thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C, bảo lãnh, tái bảo lãnh cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước.
    1. Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối ngoại
    1. Đầu tư dưới hình thức mua cổ phần, hùn vốn, liên doanh, mua tài sản và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp và tổ chức tài chính tín dụng khác.
    1. Thực hiện nghiệp vụ cầm cố bất động sản.
    1. Kinh doanh vàng bạc, kim khí quí, đá quí (kể cả xuất nhập khẩu).
    1. Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
    1. Kinh doanh chứng khoán và làm môi giới, đại lý phát hành chứng khoán cho

    khách hàng.

    1. Cất giữ bảo quản và quản lý các chứng khoán, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các tài sản quý cho khách hàng.
    1. Thực hiện các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, đại lý ngân hàng quản lý tiền vốn và các dự án phát triển theo yêu cầu của khách hàng.
    1. Đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản thế chấp, cầm cố đã được chuyển

    thành tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Ngân hàng ngoại thương quản lý để sử dụng hoặc kinh doanh; tự doanh hoặc liên doanh dầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ kinh doanh và được phép cho thuê phần năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật chưa sử dụng.

    1. Thực hiện dịch vụ bảo hiểm.
    1. Kinh doanh những ngành nghề khác theo qui định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
    1. Thực hiện các nghiệp vụ uỷ nhiệm khác của Nhà nước và ngân hàng nhà nước.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          38

    4.Tình hình hoạt động của ngân hàng ngoại thương năm 2000

    4.1. Nguồn vốn

    Tổng nguồn vốn tăng trưởng mạnh và liên tục. Đến cuối tháng 12 năm 2000 tổng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đạt 66.618 tỷ quy VND, tăng 45,3% so với cuối năm 1999. Nếu ngoại trừ yếu tố tỷ giá thì tổng nguồn vốn tăng ở mức 41,7% vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra là 25%. Trong đó nguồn vốn ngoại tệ phát triển mạnh đạt 3.395 triệu USD (tương đương 49.229 tỷ VND), tăng 43,7%, chiếm tỷ trọng tới 74,9% trong tổng nguồn vốn. Nguồn vốn tiền đồng đạt 17.389 tỷ đồng chiếm 25,1%. Nguồn vốn huy động từ nền kinh tế (thị trường 1) của ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ cao so với toàn ngành và so với khối bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, chiếm tương ứng khoảng 24,7% và 32,0% (năm 1999 khoảng 23,1% và 29,6%).

    4.2.     Hoạt động tín dụng

    Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2000 đạt khá cao, tổng dư nợ cho vay đạt 15.634 tỷ quy VND, tăng 36,0%. Doanh số cho vay đạt 38.731 tỷ quy VND tăng 35,1%; doanh số thu nợ đạt 34.235 tỷ, tăng 23%. Thị phần tín dụng trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế của toàn ngành đạt 8,8% tăng hơn so với 8,3% của năm ngoái.

    4.3.     Thanh toán quốc tế

    Thanh toán xuất nhập khẩu trong năm 2000 đạt 9.175 triệu USD, tăng 39,4% so với năm 1999, và chiếm thị phần 31,1% trong thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước – vượt chỉ tiêu so với kế hoặc đầu năm đề ra là giữ thị phần thanh toán 28%. Trong đó thanh toán xuất khẩu đạt 4.163 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 1999, đưa thị phần của ngân hàng ngoại thương trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng từ 28,3% năm 1999 lên 29,1% trong năm nay. Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu qua ngân hàng ngoại thương trong năm là 5.012 triệu USD, tăng 51,1% so với năm 1999, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          39

    của cả nước (30,8%), dẫn đến thị phần thanh toán hàng nhập khẩu của ngân hàng ngoại thương tăng lên 33,0% từ 28,5% năm 1999.

    4.4.     Thanh toán phi mậu dịch

    Trong năm 2000, doanh số thu chi phi mậu dịch qua ngân hàng ngoại thương đạt 2.480 triệu USD, giảm 5,5% so với năm trước. Doanh số thu đạt 1.798 triệu USD giảm 1,7% chủ yếu vì doanh số đổi tiền giảm 47,7%. Thu từ kiều hối đạt 271,5 triệu USD tăng 17,1%. Doanh số chi đạt 682 triệu USD, giảm 14,4%, chủ yếu là do giảm doanh số chi từ các tổ chức cơ quan và người nước ngoài tại Việt Nam, chi kiều hối và đổi tiền

    4.5.     Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng

    Tổng số thẻ phát hành năm 2000 là 1372 thẻ, tăng 2% so với năm 1999, nâng tổng số thẻ phát hành từ trước đến nay lên 5.029 thẻ. Doanh số thanh toán thẻ năm 2000 đạt 71 triệu USD, bằng doanh số năm 1999. Hầu hết doanh số các loại thẻ đều tăng, riêng thẻ Amex bị giảm vì tổ chức thẻ Amex đã ký thêm hợp đồng thanh toán với ngân hàng khác nên thị phần của ngân hàng ngoại thương bị phân chia. Số phí dịch vụ thu được từ phát hành thẻ đạt 903.517 USD trong năm 2000 giảm 7% do ngân hàng ngoại thương có trủ trương thu hút khách hàng nên giảm tỷ lệ thu phí đối với các đơn vị chấp nhận thẻ.

    4.6.     Kinh doanh ngoại tệ.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong năm 2000 của ngân hàng ngoại thương diễn ra trong tình hình khan hiếm ngoại tệ kéo dài. Tổng doanh số mua vào là 3684 triệu USD tăng 23% so với năm ngoái, trong khi đó tổng doanh số bán ra là 3721 triệu USD. Mặc dù có sự hỗ trợ của NHNN trong việc mua bán ngoại tệ phục vụ xuất nhập khẩu nhưng ngân hàng ngoại thương vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhập khẩu.

    4.7.     Hoạt động ngân quỹ

    Mặc dù khối lượng công việc lớn nhưng công tác ngân quỹ ở ngân hàng

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          40

    ngoại thương vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối, không xảy ra trường hợp nào mất ngân quỹ. Cán bộ kiểm tra đã trả lại 1582 món tiền thừa cho khách với tổng số tiền là 1.874 triệu VND và 19200 USD. Trong năm 2000 toàn hệ thống đã phát hiện được số tiền giả là 483 triệu VND và 16200 USD.

    4.8.     Một số hoạt động khác

    Công tác đối ngoại: ngân hàng ngoại thương trong năm 2000 đã có những bước tiến đáng kể trong việc cũng cố và mở rộng mối quan hệ với ngân hàng trên thế giới: Kết nghĩa giữa các chi nhánh ở Huế, Hà Tĩnh, Vinh với các chi nhánh ngân hàng của ngân hàng Lào. Ký thoả ước với City Bank, Scotia Bank về thực hiện một số mặt nghiệp vụ ngân hàng…

    Công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ (KTKTNB) đang từng bước được hoàn thiện về chức năng nhiệm vụ cũng như tổ chức hoạt động. Trong năm 2000 bộ phận KTKTNB tại trung ương đã tiến hành kiểm tra tại một số chi nhánh phát hiện và chấn chỉnh một số sai sót trong việc thực hiện đầy đủ các quy định về kiểm toán, đối chiếu số dư tiết kiệm và quy trình tín dụng tại các chi nhánh này.

    Công tác đào tạo cán bộ tại ngân hàng ngoại thương thường xuyên được coi trọng. Ngoài đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã được củng cố và tăng cường, trong năm 2000 ngân hàng đã tổ chức cho 470 lượt cán bộ tham gia các khoá đào tạo, học tập, khảo sát ngắn hạn trong và ngoài nước. Cũng trong năm 2000, ngân hàng đã hoàn thiện hồ sơ mời thầu và tổ chức lễ mời thầu giai đoạn một và hiện đã lập xong báo cáo lượng thầu giai đoạn 1 gửi NHNN và ngân hàng thế giới xin phê duyệt.

    Công tác kế toán tài chính đã được thực hiện tốt góp phần vào quản lý an toàn vốn và tài sản, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tại thời điểm 01/01/2000 được NHNN đánh giá là một trong những ngân hàng thực

    hiện đầy đủ các báo cáo không sai sót và nộp đúng hạn.

    1. Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          41

    3.     Một số quy định về cho vay trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt

    Nam.

    Ngân hàng ngoại thương chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, có khả năng hoàn trả nợ vay và tự chịu trách nhiệm về các quyết định cho vay của mình

    Ngân hàng ngoại thương xem xét và quyết định cho vay khi các khách hàng thoả mãn:

    Các pháp nhân phải có trách nhiệm dân sự: Các cá nhân và chủ doanh nghiệp tư

    nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Các khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng ngoại thương nơi vay vốn (không bắt buộc với các cá nhân, hộ gia đình hoặc trường hợp cho vay hợp vốn mà ngân hàng ngoại thương không phải là đầu mối)

    Có khả năng tài chính trong thời hạn cam kết, tức là tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả, các báo cáo tài chính theo định kỳ phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp theo đúng hợp đồng ký khi tiến hành vay vốn của ngân hàng.

    Có dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh khả thi, có hiệu quả; tức là dự án đó mang lại lợi ích cho số đông và có khả năng hoàn trả vốn vay khi đến hạn.

    Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN và ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

    Thời hạn cho vay được xác định là:

    Đối với cho vay trung hạn từ trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm), nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân.

    Đối với cho vay dài hạn từ trên 60 tháng nhưng không vượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không vượt quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          42

    Mức lãi suất cho vay do ngân hàng ngoại thương và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng và phù hợp với biểu lãi suất công bố của ngân hàng do Tổng giám đốc ngân hàng ngoại thương quy định trong từng thời kỳ.

    Đối tượng cho vay trung và dài hạn: Cho vay để thanh toán tiền nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ… Cho vay bắt buộc thanh toán nợ nước ngoài do ngân hàng ngoại thương bảo lãnh và cho vay với các đối tượng không trái với quy định về quản lý của Nhà nước và được Thống đốc NHNN chấp nhận

    Mức cho vay: được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo nợ vay theo đúng luật và tuỳ thuộc vào vốn tự có của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương. Mức phán quyết cho vay tối đa do Tổng giám

    đốc ngân hàng ngoại thương quy định. Thông thường là:

    Mức cho vay = tổng nhu cầu vốn của dự án – Vốn tự có của các bên tham gia – Nguồn vốn huy động khác (trong đó có vay của các tổ chức tín dụng khác).

    Tổng nhu cầu vốn bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động

    Việc phát tiền vay, ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện theo quy định của hợp đồng trong thời hạn rút vốn.

    Trả gốc và lãi:

    Do ngân hàng và khách hàng thoả thuận có thể trả nợ gốc và lãi theo một kỳ hạn hoặc nhiều kỳ hạn

    Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, khách hàng phải chủ động chuyển tiền trả nợ. Nợ chưa có khả năng trả nợ đúng hạn thì khách hàng phải gia hạn nợ nếu không ngân hàng sẽ tự động trích tiền trong tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ gốc và lãi. Nếu số dư trong tài khoản không đủ thu nợ thì số nợ này có thể chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          43

    Phương thức cho vay:

    Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, thì ngân hàng áp dụng hình thức cho vay từng lần. Trong thời hạn rút vốn của hợp đồng khách hàng có thể rút vốn nhiều lần hoặc một lần nhưng tổng số tiền rút ra không vượt quá số tiền vay. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng phải nhận giấy tờ nhận nợ theo mẫu quy định của ngân hàng ngoại thương cùng các giấy tờ cần thiết khác.

    Trường hợp cho vay ngoại tệ mở LC thanh toán hàng nhập khẩu, khách hàng làm thủ tục ký nhận trên giấy nhận khi mở LC; ngân hàng ghi nợ khách hàng từ ngày chính thức thanh toán cho ngân hàng nước ngoài hoặc từ ngày ngân hàng nước ngoài ghi nợ ngân hàng ngoại thương.

    Ngân hàng ngoại thương có thể cho vay theo hạn mức khi giữa ngân hàng và khách hàng có một thoả thuận về một hạn mức cho vay trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có tín nhiệm với ngân hàng. Và các cán bộ ngân hàng luôn phải thực hiện kiểm tra đảm bảo nợ vay bằng phương pháp tính toán cân đối vật tư đảm bảo nợ vay.

    Cho vay theo dự án đầu tư để phát triển sản xuất, cơ sở hạ tầng, kinh doanh, phục vụ và các sự án phục vụ đời sống.

    Đối với các dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuất phải có vốn tự có tối thiểu tham dự dự án bằng 15% tổng mức vốn đầu tư.

    Đối với dự án mới khách hàng phải có tối thiểu bằng 20% tổng mức đầu tư .

    Giới hạn cho vay:

    Tổng dư nợ cho vay với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của

    ngân hàng ngoại thương tại thời điểm xét cho vay, trừ trường hợp có chỉ thị của Chính phủ

    Ngoài ra còn một số các quy định khác như lập hồ sơ vay vốn, thẩm định và quyết định cho vay, gia hạn nợ…

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          44

    2.Thực trạng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    2.1. Tình hình huy động vốn trung dài hạn

    Trong những năm qua, nguồn vốn của ngân hàng ngoại thương đã tăng trưởng mạnh mẽ

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Tỷ đồng)

                   
      Năm 31/12/1999 31/12/2000 Tăng/ giảm  
      Chỉ tiêu Quy VND Tỷ trọng Quy VND Tỷ trọng  
      Vốn huy động 37.939 100% 57035 100% 50,3%  
      Vốn kỳ hạn 19.111 47,7% 33.356 58,8% 84,2%  
      Vốn kỳ hạn thị trường i 16.389 43,2% 28.290 49,6% 72,6%  
      Vốn kỳ hạn thị trường ii 1.722 4,5% 5.066 8,9% 194,2%  
      Vốn kỳ hạn trên 12 tháng 7.221 19% 12.788 22,4% 77,1%  
                   

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 2000) Năm 1998 tăng 32,6% so với năm 1997, năm 1999 tăng 34,4% so với năm 1998 và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của năm 2000 là 45,3% so với năm 1999

    (vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 25%) đạt mức 66.618 tỷ VND (số liệu tại thời điểm 31/12/2000).

    Nguồn vốn huy động tại ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng liên tục trong các năm gần đây: Năm 1999 vốn huy động từ hai thị trường đạt 37939 tỷ, năm 2000 đạt 57035 tỷ, tăng 50,3% so với năm 1999.

    Trong tổng nguồn vốn huy động tại hai thị trường nguồn vốn kỳ hạn đến cuối năm 2000 (31/12/2000) đạt 33356 tỷ quy VND tăng 84,2%, chiếm 58,5% tổng vốn huy động từ hai thị trường cao hơn mức 47,7% cuối năm 1999. Trong đó 84,8% tổng vốn kỳ hạn huy động trên thị trường i, 16,2% huy động trên thị trường ii.

    Điều đáng chú ý là tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng trở lên trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao và chiếm tỷ trọng lớn: năm 1999 tiền gửi trên 12 tháng đạt 7220 tỷ quy VND, năm 2000 đạt 12788 tỷ quy VND tăng 77,1% so với năm 1999 và chiếm 45,2% vốn kỳ hạn của thị trường i và 38,3% tổng vốn kỳ hạn,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          45

    tương đương với 22,4% tổng vốn huy động. Đây là yếu tố thuận lợi cho ngân hàng ngoại thương mở rộng cho vay trung dài hạn.

    Việc tăng trưởng nguồn vốn trong những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh vào năm 2000 là do tác động của một số nhân tố sau:

    Ngân hàng ngoại thương đã chủ động cải thiện huy động vốn bằng biện pháp đa dạng hoá các hình thức huy động, bổ sung các kỳ hạn lãi suất khác nhau, linh hoạt điều chỉnh lãi suất, áp dụng chính sách ưu đãi lãi suất đối với khách hàng có số dư lớn

    Lãi suất USD trên thị trường quốc tế tăng mạnh kéo theo việc tăng lãi suất của thị trường trong nước đã khuyến khích dân cư tăng cường gửi USD trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại có thế mạnh trong việc huy động nguồn vốn này

    Nguồn kiều hối trong năm tăng mạnh, nhất là vào những tháng cuối năm.

    2.2. Tình hình cho vay trung dài hạn

    2.2.1. Cho vay, thu nợ và dư nợ trung dài hạn

    Bảng 2: Tình hình cho vay trung dài hạn: (tỷ VND)

                         
      Chỉ tiêu 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giả Quy VND Tăng/giảm  
          m   m   m      
      Cho vay 859 20% 1065 24% 1385 30% 1869 35%  
      Thu nợ 567 20% 835 47% 1973 136% 1419 -28%  
      Dư nợ 2874 10% 3104 8% 2516 -19% 2966 17%  
                         

    (Nguồn:  Báo  cáo  kết  quả  kinh  doanh  của  ngân  hàng  ngoại  thương  các  năm

    1998,1999,2000)

    Doanh số cho vay đạt tốc độ tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng cho vay những năm gần đây liên tục tăng, mặc dù trong các năm 1997 và 1998 nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Năm 1998 doanh số cho vay tăng 24% so với năm trước, con số này trong các năm tiếp theo lần lượt là 30 và 35%. Do việc tăng doanh số cho vay tăng trưởng, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương cũng tăng trưởng theo. Trong các năm 1997 và

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          46

    1998 tốc độ tăng trưởng dư nợ khá chậm. Năm 1999 dư nợ giảm 19% so với năm 1998 tuy nhiên đây là kết quả của việc thu nợ tăng đột biến: thu nợ năm 1999 tăng 136% so với năm 1998. Thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ: năm 1999 ngân sách nhà nước đã cấp vốn cho Vaxuco để thanh toán khoản vay 70,6 triệu USD, và việc Tổng công ty điện lực Việt Nam thanh toán khoản nợ trước hạn trên 8 triệu USD Năm 2000 dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn nhưng vẫn ở mức thấp đạt 2966 tỷ quy VND, tăng 17% so với năm 1999. Nguyên nhân là các dự án lớn như dự án khí Nam Côn Sơn, dự án điện Phú Mỹ 2.1, công ty Bia Hà Nội, công ty cổ phần đầu tư xây dựng… vẫn chưa được giải ngân.

    Bảng 3: Cơ cấu dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng (Tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tín dụng thông thường 10338 100% 10102 100% 14317 100%  
      1.Ngắn hạn 7234 70% 7586 75,1% 11351 79,3%  
      2.Dài hạn 3104 30% 2516 24,9% 2966 20,7%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    Bên cạnh việc dư nợ tín dụng trung dài hạn tăng trưởng chậm, nó còn chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng dư nợ tín dụng tại ngân hàng ngoại thương: năm 1998 dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm 30% tổng dư nợ tín dụng thông thường, tuy nhiên tỷ lệ này liên tục giảm trong các năm tiếp theo, đến năm 2000 chỉ chiếm 20,7% trong tổng dư nợ tín dụng thông thường.

    Điều này có thể thấy được: ngoài việc cho vay trung dài hạn gặp nhiều rủi ro

    12000

    10000

    8000

    6000

    4000

    2000

    0

     1.Ng¾n h¹n

     2.Dµi h¹n

     

    1998                   1999                    2000

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          47

    Biểu đồ 1: Tương quan giữa dư nợ ngắn hạn và trung dài hạn

    hơn so với cho vay ngắn hạn do các loại rủi ro có thể gặp như: rủi ro kỳ hạn, rủi ro lãi suất… thì khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế là thấp, không có nhiều các dự án đầu tư trung dài hạn có hiệu quả, ngay cả một số công trình lớn do chính phủ đề xuất mặc dù đã ký hợp đồng tín dụng nhưng vẫn chưa thể giải ngân. Bên cạnh đó công tác Marketing ngân hàng ở ngân hàng ngoại thương hoạt động chưa hiệu quả, và chưa thật sự chủ động tìm kiếm các dự án có hiệu quả để cho vay…

    2.2.2. Dư nợ theo nội tệ, ngoại tệ

    Trong năm 1999, dư nợ tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ tại ngân hàng ngoại thương là 199 triệu USD giảm 37% so với năm 1998, năm 2000 là 103 triệu USD, giảm 13,9% so với năm 1999. Tình hình này dẫn đến cơ cấu cho vay trung dài hạn theo nội ngoại tệ có xu hướng cân bằng (năm 2000 dư nợ theo nội ngoại tệ đều xấp xỉ 50%). Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ giảm là do các nguyên nhân sau:

    Khi cho vay bằng ngoại tệ ngân hàng không những phải đối phó với những Bảng 4 :Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo cơ cấu nội ngoại tệ: (tỷ VND)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1. Nội tệ 658 21,2% 844 33,5% 1477 49,8%  
      2.Ngoại tệ 2446 78,8% 1627 66,5% 1489 50,2%  
      (USD quy đổi ra VND)              
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000)

    rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro về tỷ giá hối đoái (đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính). Việc đồng Việt Nam bị mất giá so với đồng ngoại tệ gây ra tâm lý e ngại đối với khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ. Hơn nữa trong năm 1999 lãi suất bằng đồng Việt Nam liên tục giảm (NHNN đã liên tục giảm trần lãi suất cho vay VND từ 1,25%/ tháng xuống 0,8% đối với khu vực đô thị và 1%/ tháng đối với khu vực nông thôn), do đó các doanh nghiệp được khuyến khích vay bằng nội tệ và lãi suất cho vay thấp nên doanh nghiệp sẽ giảm được chi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          48

    phí vốn vay. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng tốt vì ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có tiềm lực mạnh về vốn ngoại tệ và có nhiều kinh nghiệm trong việc cung cấp tín dụng bằng USD, nên việc tỷ lệ cho vay bằng USD bị giảm sút làm cho một lượng vốn lớn ngoại tệ bị ứ đọng.

    2.2.3. Dư nợ theo thành phần kinh tế

    Bảng 5: Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế (tỷ VND):

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Quốc doanh 2669,4 86% 2264,4 90% 2728,7 92%  
      2.Ngoài quốc doanh 434,56 14% 251,6 10% 237,3 8%  
      3. Tổng 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999,2000) Theo số liệu ở trên ta thấy, dư nợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp quốc doanh. Năm 1998 tỷ trọng nay là 86%, năm 1999 tăng lên 90% và năm 2000 đã đạt tỷ lệ 92% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng ngoại thương đặc biệt là các tổng công ty lớn như: Tổng công ty điện lực Việt Nam, Animex, Tổng công ty xây dựng Lũng Lô, Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Tổng

    công ty xây dựng sông Đà…

    Việc dư nợ tín dụng của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng cao bởi thực tế cho thấy: đầu tư vào khu vực ngoài quốc doanh, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, ngay cả trong trường hợp có tài sản thế chấp thì ngân hàng cũng rất khó khăn trong việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn: Giá của tài sản thế chấp luôn biến động, có thể lúc đánh giá là cao nhưng khi phát mại thì giá của tài sản lại ở múc thấp. Mặt khác, trung tâm bán đấu giá tại Việt Nam hoạt động chưa có hiệu quả nên việc bán tài sản là vấn đề phức tạp. Nhiều trường hợp khách hàng sở hữu một tài sản nhưng lại mang đi thế chấp tại nhiều ngân hàng khác nhau. Các cán bộ của ngân hàng ngoại thương trong quá trình thẩm định khó có thể phát hiện được.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          49

    Tình trạng này cũng gây ra khó khăn cho ngân hàng khi tiến hành phát mại tài sản. Lúc này, các ngân hàng sẽ không thể hiểu được ai là người thực sự có quyền đối với tài sản đó. Hơn nữa các công ty ngoài quốc doanh (Trừ các công ty liên doanh với nước ngoài) thường có trình độ tổ chức kém, đội ngũ nhân viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ vì vậy mà rủi ro xảy ra đối với thành phần kinh tế này là lớn. Tuy nhiên, những rủi ro này cũng có thể xảy ra đối với thành phần kinh tế quốc doanh.

    Tỷ trong dư nợ của khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn là phù hợp với định hướng phát triển của nước ta trong đó ngành kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, thực tế là với sự hỗ trợ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương các doanh nghiệp nhà nước đã cũng cố được vị trí và phát huy được vai trò của minh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm tới ngân hàng ngoại thương cũng cần có những biện pháp đẩy mạnh cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh vì đâu là khu vực kinh tế rất năng động và tất nhiên nhu cầu vốn cũng lớn.

    2.2.4. Dư nợ theo ngành kinh tế

    Cơ cấu này trong những năm gần đây gần như không thay đổi nhiều gồm các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại và các ngành khác. Ngân hàng tập trung cho vay chủ yếu là hai ngành công nghiệp và thương mại. Hai ngành

    Bảng 6: Dư nợ cho vay trung dài hạn theo ngành kinh tế (tỷ đồng)

                     
      Chỉ tiêu 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      1.Công nghiệp 1316,2 39,5% 1071,82 42,4 1251,65 42,2%  
      2.Xây dựng 180 5,8% 156,48 6,1% 186,86 6,3%  
      3.Giao thông 242,11 7,8% 231,47 9,2% 281,77 9,5%  
      4.Thương mại 1244,7 40,1% 1016,46 40,3% 1204,2 40,6%  
      5.Ngành khác 121,09 3,9% 42,77 1,7% 41,52 1,4%  
      Tổng dư nợ 3104 100% 2516 100% 2966 100%  
                     

    (Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1999, 2000) này chiếm tỷ trọng khá cao (hơn 80% trong tổng dư nợ trung dài hạn ). Tổng dư

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          50

    nợ của ngành xây dựng chiếm tỷ trọng không cao (dưới 6,5%), điều này phản ánh từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thì ngân hàng ngoại thương đã thận trọng hơn khi đầu tư cũng như cho vay vốn đối với các trong lĩnh vực xây dựng như khách sạn, bất động sản, cao ốc… bởi đây là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, theo nhận định trong một số năm tới ngành kinh doanh khách sạn sẽ tăng trưởng chậm hơn so với thời kỳ năm 1995, chính vì vậy tỷ trọng dư nợ trung dài hạn theo ngành xây dựng trong năm 1999 chỉ tăng nhẹ so với năm 1998 và đến năm 2000 cũng chỉ ở mức 6,3% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn.

    Bên cạnh đó sau tác động của cuộc khủng hoảng, hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đều có dầu hiệu phục hồi, vì thế trong những năm tới đầu tư vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Do đó nhu cầu vay vốn của các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông, đường xá, cầu cống… đều có xu hướng tăng lên. Điều này thể hiện trong tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của ngành giao thông năm 1998 chỉ đạt 7,8% nhưng sang năm 1999 đạt mức 9,2% và đến năm 2000 đạt mức 9,5% trong tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn, chủ yếu là do ngân hàng cho vay làm đường xá như đường Trường Sơn, công trình cảng Cái lân…

    Tỷ trọng dư nợ của ngành công nghiệp trong những năm qua vẫn tăng trưởng mặc dù vẫn còn ở mức thấp (năm 1998 tỷ trọng là 39,5%, năm 1999 là 42,4%). Mặc dù năm 2000, tỷ trọng này có giảm nhẹ xuống còn 42,2% tuy nhiên có một số dự án lớn thuộc ngành này đến nay vẫn chưa giải ngân được.

    Tỷ trọng dư nợ trong ngành thương nghiệp vẫn tăng ổn định và chưa có sự đột phá: tỷ trọng này trong năm 1998 là 40,1%, năm 1999 là 40,4$ và đến năm 2000 là 40,6%.

    2.3.     Tình hình nợ quá hạn

    Bảng 7: Tình hình nợ quá hạn trung dài hạn tại ngân hàng ngoại thương

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          51

                 
      Năm 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000  
      Nợ quá hạn 98 123 116 160  
      Tổng dư nợ 2874 3104 2516 2966  
      Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 3,4 3,9% 4,6% 5,4%  
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    Bên cạnh tăng tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn thì tỷ lệ nợ quá hạn trong những năm qua cũng gia tăng, điều này phản ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn có chiều hướng đi xuống và đây là một vấn đề cần giải quyết.

    Nói đến kinh doanh không thể không nói đến rủi ro mà nghề ngân hàng được biết đến như là một ngành có nhiều rủi ro nhất mà đặc biệt là trong hoạt động tín dụng trung dài hạn. Rủi ro này có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như rủi ro về kỳ hạn, rủi ro đạo đức khách hàng, rủi ro về tỷ giá và cũng có những rủi ro do yếu tố khách quan như thiên tai, hoả hoạn…Vì vậy tình hình nợ quá là không thể tránh khỏi, vấn đề đặt ra đối với ngân hàng là giảm tối đa các khoản nợ quá hạn để vừa tránh được rủi ro, vừa đảm bảo lợi nhuận cũng như việc xử lý các khoản nợ quá hạn đó như thế nào.

    Năm 1997 tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng ngoại thương ở mức tương đối thấp là 3,4% nhưng tỷ lệ này lại tăng dần qua các năm: năm 1998 là 3,9%, năm 1999 là 4,6% và năm 2000 là 5,4%. Thực ra trong những năm gần đây ngân hàng ngoại thương đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn các khoản nợ quá hạn hầu hết là của các khoản vay trước năm 1997 và theo dự báo của ngân hàng nợ quá hạn sẽ còn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo do một số dự án cho vay theo chỉ định của Chính Phủ chưa thể thu hồi vốn ngay như việc cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số năm.

    Một điều rất đáng quan tâm là tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản vay bằng USD lại tăng ở mức rất cao từ 4,2% năm 1999 đã tăng lên tới 6,9% trong năm 2000 trong khi đó tỷ lệ này đối với các khoản vay bằng VND lại giảm từ 5,4% năm

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          52

    1999 xuống còn 3,9% năm 2000. Điều này có vẻ như không hợp lý khi ngân hàng ngoại thương là một ngân hàng có kinh nghiệm trong việc cho vay và thu hút vốn bằng ngoại tệ.

    Tỷ lệ nợ quá hạn đối với doanh nghiệp nhà nước ở mức thấp 3,0%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực kinh tế tư nhân là 7,6%. Điều này phản ánh một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp tư nhân, ngoài quốc doanh (không kể đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) do trình độ tổ chức chưa cao, năng lực cán bộ còn hạn chế nên tình hình kinh doanh không đạt hiệu quả, do đó phát sinh nợ quá hạn lớn đối với ngân hàng. Có thể thấy rõ nhận định qua sự so sánh với tỷ lệ nợ quá hạn của Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nơi mà có trình độ tổ chức cao, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ được xem là tốt nhất hiện nay: tỷ lệ nợ quá hạn ở mức rất thấp 1,3%.

    Về cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian: Nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ lệ cao xấp xỉ 74% (năm 1999 chiếm 74,5% và 73,6% vào năm 2000), tỷ lệ nợ khê đọng chiếm khoảng 19% trong hai năm gần đây, trong khi đó tỷ lệ nợ thông thường

    Bảng 8: Cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian

                 
      Chỉ tiêu 31/12/1999 31/12/2000  
        Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng  
      Tổng dư nợ 116 100% 160 100%  
      Nợ quá hạn thông thường 7,6 6,6% 11,9 7,4%  
                 
      Nợ quá hạn khê đọng 21,9 18,9% 30.4% 19%  
                 
      Nợ quá hạn khó đòi 86,5 74,5% 117,7 73,6%  
                 
                 

    (Nguồn :Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương năm 1998, 1999, 2000)

    (dưới 6 tháng) chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 8%. Sở dĩ tình hình nợ quá hạn khó đòi chiếm tỷ trọng lớn là do các khoản nợ phát sinh từ năm 1997 trở về trước đều là những khoản nợ khó đòi gần như là mất luôn. Các khoản nợ này cho vay theo những dự án mà chất lượng thẩm định của ngân hàng ngoại thương những năm trước đây còn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          53

    nhiều bất cập. Trong khi đó ngân hàng ngoại thương lại chưa có biện pháp xử lý

    hữu hiệu những khoản nợ đó

    4.     Một số kết quả đạt được và tồn tại trong hoạt động tín dụng trung dài hạn

    tại ngân hàng ngoại thương.

    3.1. Những thành tựu đạt được

    Trong những năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thấp nhưng dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng với tốc độ khá. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện tốt việc cung ứng vốn tín dụng trung dài hạn cho nền kinh tế vừa đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp vừa tạo ra một đội ngũ khách hàng truyền thống như các Tổng công ty lớn của cả nước.

    Để có thể đáp ứng nhu cầu cho vay ngày một tăng, công tác huy động vốn của ngân hàng ngoại thương cũng đạt kết quả tốt tỷ lệ nguồn vốn trung dài hạn ngày một tăng trong tổng nguồn vốn huy động.

    Ngân hàng đã tăng cường khâu giám sát khách hàng trước, trong và sau khi cho vay, cùng với việc thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay theo quy định của

    NHNN cũng như các quy định do ngân hàng đề ra đã làm cho chất lượng các khoản tín dụng trung dài hạn trong thời gian gần đây được nâng cao rõ rệt.

    Ngân hàng đã từng bước đơn giản hoá thủ tục cho vay, giảm thời gian cho khách hàng trong quá trình đến vay vốn tại ngân hàng.

    Chính sách tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đề ra phù hợp với thực tế phát triển của nước ta và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, với chính sách tín dụng này, hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng ngoại thương đã đóng góp tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.

    Ngân hàng đã sắp xếp những cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình vào phòng dự án tại các Chi nhánh và tại Sở giao dịch, điều này là nhân tố

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          54

    quyết định cho việc thành công của hoạt động tín dụng trung dài hạn. 3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    3.2.1. Những tồn tại

    Mặc dù dư nợ tín dụng trung dài hạn vẫn tăng trưởng qua các năm, nhưng tỷ trọng của nó so với tổng dư nợ tín dụng thông thường ngày một giảm, hoạt động tín dụng trung dài hạn vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng đặc biệt là tiềm năng về huy động vốn trung dài hạn đang chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.

    So với các ngân hàng khác, ngân hàng ngoại thương có ưu thế hơn hẳn về khả năng huy động vốn ngoại tệ, tuy nhiên xu hướng vay bằng ngoại tệ hiện đang giảm. Có thể nói ngân hàng ngoại thương chưa phát huy được điểm mạnh về khả năng cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ này của mình.

    Ngân hàng còn khá dè dặt trong việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh làm cho tỷ trọng dư nợ của khu vực này đã nhỏ lại càng nhỏ hơn.

    Công tác xử lý tài sản xiết nợ còn kém hiệu quả

    3.2.2. Nguyên nhân:

    Thứ nhất: trong quy trình xét duyệt cho vay ngân hàng còn khá cứng nhắc trong việc áp dụng các quy định của cấp trên.

    Thứ hai: Công tác Marketing ngân hàng tại ngân hàng ngoại thương chưa được coi trọng đúng mức, ngân hàng chưa có các biện pháp Marketing nhằm hỗ trợ cho hoạt động tín dụng trung dài hạn.

    Thứ ba: Ngân hàng thiếu những thông tin trung thực về khách hàng, đặc biệt là các khách hàng mới. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều dự án có tính khả thi nhưng ngân hàng không dám cho vay hoặc ngược lại nhiều dự án hiệu quả không cao nhưng ngân hàng vẫn cho vay do những thông tin được cung cấp là không chính xác.

    Thứ năm: Môi trường pháp lý ở nước ta hiện nay chưa thật tốt, điều này gây

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          55

    rất nhiều khó khăn cho ngân hàng trong công tác xử lý nợ quá hạn và phát mại tài sản thế chấp.

    Thứ sáu: một số yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định đặc biệt là tỷ giá hối đoái. Chính nhân tố này là một trong những nghuyên nhân quan trọng dẫn đến tỷ trọng vay bằng ngoại tệ giảm trong những năm gần đây

    CHƯƠNG BA:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG

    DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

    i.                   Định hướng hoạt động của ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong thời gian tới (Đến năm 2010).

    Mặc dù trong những năm vừa qua ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng mạnh (trong mười năm từ năm 1991 đến năm 1999 quy mô

    nguồn vốn đã tăng hơn 6 lần), tuy nhiên để đứng vững và tiếp tục phát triển trong một môi trường mà sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, ngân hàng ngoại thương đã xây dựng cho mình một chiến lược phát triển đến năm 2010 tập trung vào bốn nội dung chủ yếu sau:

    Mục tiêu và phương châm

    Chiến lược chung

    Những nhiệm vụ chiến lược và định hướng phát triển Các giai đoạn triển khai thực hiện chiến lược

    Trong đó mục tiêu chiến lược phát triển của ngân hàng ngoại thương đến

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          56

    năm 2010 là phấn đấu trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn với bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế trong nước và trở thành một ngân hàng quốc tế khu vực

    Phương châm của ngân hàng ngoại thương là:

    Đối với ngân hàng: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng. An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng.

    Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn tiền gửi, phục vụ nhanh chóng, giá rẻ. Khách hàng chính của ngân hàng ngoại thương là các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, khách hàng có địa bàn hoạt động chính tại các thành phố và các khu vực có tiềm năng kinh tế…

    Chiến lược phát triển chung của Ngân hàng ngoại thương đó là định hướng quyết định bước phát triển mới cả về chất lượng và số lượng: từng bước xây dựng ngân hàng ngoại thương trở thành một ngân hàng hiện đại, hội nhập với quốc tế có mô hình tổ chức khoa học, có công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên có phẩm chất tốt.

    Cụ thể là:

    Trong năm 2001, ngân hàng ngoại thương tiếp tục thực hiện định hướng phát triển 10 năm của mình là: “ An toàn – Hiệu quả – Phát triển ”, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước năm 2001 và nhiệm vụ của ngành ngân hàng với năng lực của ngân hàng mình, ngân hàng ngoại thương định hướng hoạt động kinh doanh trong năm 2001 với các chỉ tiêu chính sau:

    1. Tăng trưởng nguồn vốn 19 – 20%
    2. Tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%
    3. Tỷ lệ nợ quá hạn / Tồng dư nợ Dưới 4,0%
    4. Thị phần trong thanh toán xuất nhập khẩu 29%

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          57

    5.  Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 5%

    Để thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh trên, ngân hàng ngoại thương sẽ triển khai các nhiệm vụ công tác sau:

    Đẩy mạnh công tác huy động vốn, thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn (trả lãi trước, có thưởng, khuyến mại), bổ sung các loại kỳ hạn, áp dụng lãi suất linh hoạt… để phát triển nguồn vốn đạt tốc độ tăng trưởng 19 – 20%, trong đó chú ý đến việc phát triển nguồn vốn bằng VND.

    Chủ động tìm các dự án khả thi không phân biệt thành phần kinh tế, loại hình sở hữu, bám sát các dự án lớn, các chương trình kinh tế trọng điểm… để đẩy mạnh cho vay nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng 20 – 22%, cải tiến phương pháp quản lý rủi ro tín dụng, giữ tỷ lệ nợ quá hạn dưới 4%.

    áp dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, giảm phí… nhằm giữ vững thị phần 29% trong kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của cả nước.

    Triển khai đề án tái cơ cấu ngân hàng ngoại thương, trong năm 2001 cần đạt một số mục tiêu như: thành lập công ty quản lý tài sản, bổ sung hoàn thiện hệ thống quy chế các mặt hoạt động của ngân hàng ngoại thương, đổi mới phương thức kiểm tra nội bộ…

    ii.                Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất luọng tín dụng trung dài hạn tại

    ngân hàng ngoại thương Việt Nam

    l. Giải pháp để mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng ngoại

    thương

    Hiện nay, yêu cầu trước tiên đối với Ngân hàng ngoại thương là phải làm thế nào để mở rộng được hoạt động tín dụng trung dài hạn. Như đã phân tích ở trên là chất lượng các khoản tín dụng hiện có của Ngân hàng là khá tốt nhưng mức dư nợ còn thấp, do đó Ngân hàng cần phải thực hiện những giải pháp tích cực để cải thiện tình hình :

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          58

    1.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn trung dài hạn.

    Ngân hàng vẫn có thể chuyển một phần vốn ngắn hạn sang tín dụng trung dài hạn nhưng còn tùy thuộc vào tính ổn định của nguồn tiền gửi. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới chỉ ra mức tín dụng trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn được khống chế bởi chỉ số an toàn về mức chuyển hóa vốn ( H ) :

    Tổng số nguồn vốn dài hạn trên 5 năm

    H = ——————————————————-

    Tổng các khoản sử dụng vốn trên 5 năm

    • Trái Phiếu Ngân hàng

    Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn, là giấy nhận nợ của các Ngân hàng đối với người mua (hoặc chủ sở hữu) cam kết sẽ trả nợ và lãi theo kỳ hạn đã định. Đối với người mua, nó là giấy chứng nhận quyền đầu tư và quyền hưởng một phần lãi theo số tiền đầu tư. Đây là hình thức phổ biến

    • nhiều nước trên thế giới, nó hấp dẫn hơn các hình thức gửi tiền có kỳ hạn dài bởi tính đa dạng trong hình thức trả lãi cũng như lãi suất huy động. Khi cần phát hành trái phiếu, để có thể thu hút được người mua, Ngân hàng có thể đưa ra các mức lãi suất chiết khấu tại các mốc thời gian khác nhau trước khi trái phiếu đáo hạn .

    Ngân hàng phát hành các trái phiếu dài hạn có bảo đảm giá trị bằng USD

    và có thể chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường. Điều đó có nghĩa là khoản tiền gửi gốc sẽ được bảo đảm theo giá trị của USD tại thời điểm gửi tiền, nếu thiếu hụt sẽ được bù đắp. Biện pháp này lựa trên hai căn cứ khoa học; một là: hiện nay nền kinh tế Mỹ phát triển khá ổn định lên USD có giá trị ít biến động, hai là: trong tiềm thức người dân Việt Nam hiện nay vẫn rất tin tưởng vào USD .

    • Tiền gửi dài hạn có lãi suất biến động theo thị trường hoặc được bảo đảm

    bằng vàng.

    Ngân hàng có thể là cho người gửi tiền an tâm bằng cách áp dụng lãi suất biến động theo thị trường để giảm rủi ro cho người gửi tiền khi lãi suất lên cao, có

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          59

    thể dùng vàng để đảm bảo chi khoản tiền gửi vì đó là tâm lý của người Việt Nam từ xưa đến nay, một tập quán có từ lâu đời vì cất trữ vàng người ta cảm thấy an toàn hơn khi mà đồng tiền không ổn định.

    Mặt khác vàng vẫn là hình thức được ưa chuộng mang tính độc tôn trong xã hội Việt Nam vì chúng có tính thanh khoản cao, đảm bảo được giá trị ngay cả trong thời kỳ đồng tiền không ổn định, là phương tiện thanh toán thay tiền mặt trong việc mua bán các hàng hóa có giá trị lớn như nhà cửa, đất đai,…

    • Giấy chứng nhân tiền gửi có thể bán lai

    Giấy chứng nhận tiền gửi có thể bán lại là công cụ huy động tiền gửi dài hạn do Ngân hàng bán cho người gửi tiền. Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản nhất định và khi hết hạn thì hoàn trả hết giá mua ban đầu. Do có thể bán lại trên thị trường nên nó biến việc gửi các khoản dài hạn thành các khoản tiền gửi ngắn hạn. Đặc điểm này khiến giấy chứng nhận tiền gửi rất thịnh hành ở các nước Châu âu từ những năm 1970 cho đến nay nó vẫn chiếm những vị trí đầu trong danh sách nguồn huy động vốn của các Ngân hàng Châu âu.

    1.2. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng trung dài hạn

    Hiện nay, nếu so sánh hệ thống Ngân hàng Việt Nam với hệ thống Ngân hàng của nhiều nước có nền tài chính phát triển thì các hình thức cho vay của các Ngân hàng Việt Nam là quá đơn điệu. Chính điều đó đã là một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng. Tình trạng ứ đọng vốn của các NHTM Việt Nam thời gian qua có liên hệ khá chặt chẽ với điều này. Khi Ngân hàng không có khách hàng phù hợp, không có nghĩa là không có thị trường mà có thể hiểu là không khai thác được thị trường. Điều kiện của mỗi khách hàng xin vay vốn rất khác nhau, để thu hút được nhiều khách hàng cần có các hình thức tín dụng đa dạng và phù hợp. Hơn nữa theo các lý thuyết kinh tế, đa dạng hóa là một biện pháp quan trọng để giảm rủi ro. Khi các NHTM Việt Nam không có các hình thức cho vay đa dạng, nghĩa là đã tự loại bỏ cơ hội giảm rủi ro của mình .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          60

    Như vậy, có thể nói một nguyên nhân làm tăng những thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam là do tính kém phát triển về các lĩnh vực đầu tư. Giải pháp cho điều đó là cần phải tích cực mở rộng các loại hình hoạt động, cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích mới để tận dụng tối đa những cơ hội sinh lời tốt nhất. Thực tế là một khi Ngân hàng có các loại hình đầu tư và lĩnh vực hoạt động đa dạng, nó có thể lựa chọn những cơ hội có khả năng sinh lời tốt nhất. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ giảm được mức thiệt hại có tính chi phí cơ hội trên các dự án. Ngoài ra như đã nói, với các lĩnh vực hoạt động đa dạng, Ngân hàng có thể phân đều rủi ro của mình sang các lĩnh vực khác nhau, trên cơ sở đó có thể tăng được tính ổn định của mình. Em xin được đề cập đến một số hình thức đầu tư tín dụng mới với mục tiêu nghiên cứu để góp phần đa dạng hóa hoạt động của ngành Ngân hàng :

    Đồng tài trợ.

    Việc đông tài trợ là quá trình cho vaybảo lãnh của một nhóm các tổ chức tín dụng (LCTD ) cho một dự án, do một TCTD làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các TCTD. Các hình thức đồng tài trợ là cho vay hợp vốn; bảo lãnh, tái bảo lãnh hoặc kết hợp của các hình thức trên .

    Nghiệp vụ đồng tài trợ được áp dụng trong các trường hợp sau: nhu cầu vay vốn để thực hiện dự án vượt giới hạn tối đa được cho phép vay hoặc bảo lãnh của một TCTD; do nhu cầu phân tán rủi ro của các TCTD; khả năng nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án .

    Theo cách làm truyền thống từ trước tới nay, các TCTD thường ngồi chờ khách hàng đem dự án tới Ngân hàng để xin vay, mà không chịu tìm kiếm các khách hàng tiềm năng nhất là trong giai đoạn hiện nay, các TCTD Việt Nam hoạt động trong môi trường khó cạnh tranh được với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài về vốn, công nghệ và cả cách tổ chức quản lý. Do vậy, Ngân hàng ngoại

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          61

    thương nên căn cứ vào chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành kinh tế, của từng địa phương, của toàn nền kinh tế, liên kết với các NHTM khác để xây dựng các phương án đầu tư vốn để chủ động nguồn vốn tín đụng trung dài hạn chủ động trong công tác thẩm định, cho vay đúng mục đích, đồng thời quản lý được rủi ro của mình. Ngân hàng ngoại thương không chỉ cần liên kết với các NHTM quốc doanh mà còn cần phải liên kết với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh. Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về vốn vô cùng lớn nhưng do quy định của NHNN nên khả năng cho vay bằng VNĐ của các Ngân hàng này bị hạn chế. Do đó, Ngân hàng ngoại thương có thể liên kết với các Ngân hàng này cho vay bằng VNĐ hay làm trung gian cho các Ngân hàng này. Sự liên kết không chỉ giúp Ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng mà còn giúp nâng cao hiệu quả món vay. Bên cạnh đó, trong quá trình liên kết thực hiện dự án, Ngân hàng và đội ngũ cán bộ tín dụng cũng học hỏi được các kinh nghiệm, cách thức thẩm định dự án, phương pháp quản lý món vay, phương pháp quản lý điều hành hoạt động Điều này giúp cho Ngân hàng nâng cao năng lực riêng của mình trong hoạt động quản trị nói chung và hiệu quả trong hoạt động tín dụng trung dài hạn nói riêng.

    Tín dụng thuê mua tài sản cố định.

    Thuê – mua, thuê mua trả góp hay tín dụng thuê mua trả góp đều có chung một nội dung. Nó được coi như một hình thức cho thuê tài chính, chỉ khác ở chỗ Công ty thuê mua trực tiếp mua tài sản hoặc chế tạo tài sản cho thuê. Khi bên thuê thanh toán hết tiền thuê theo thỏa thuận của hợp đồng thuê, quyền sở hữu mặc nhiên chuyển cho bên thuê.

    Với loại hình này, các máy móc thiết bị phù hợp theo yêu cầu sử dụng của người thuê, trên các nhà doanh nghiệp nắm được chất lượng của sản phẩm làm ra, khả năng tiêu thụ của chúng, nên sản xuất kinh doanh có hiệu quả, do đó xác suất rủi ro rất nhỏ. Ưu điểm của tín dụng thuê mua là các doanh nghiệp có thể đổi mới

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          62

    trang thiết bị máy móc, quy trình công nghệ hiện đại mà không cần đến tài sản thế chấp và một số lượng lớn vốn tự có như trong cho vay dự án.

    Chính ưu điểm lớn này khiến cho tín dụng thuê mua trở thành một giải pháp vô cùng quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhu cầu vốn trung dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp hiện nay là rất lớn, nhưng để có thể được vay vốn của các Ngân hàng, doanh nghiệp ngoài phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả còn phải cần tới 30% vốn tự có và phải có tài sản thế chấp (đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Trong khi đó với hình thức này, doanh nghiệp chỉ cần có điều kiện là có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, vì bản chất của tín dụng thuê mua đã bao hàm tài sản thế chấp trong hợp đồng thuê mua.

    Tín dụng hối phiếu

    Thay vì trực tiếp cho khách hàng vay tiền, Ngân hàng ký phát một giấy nhận nợ hẹn sẽ thanh toán cho người vay một khoản tiền vào một thời gian định trước trong tương lai ( khách hàng cũng đồng thời phải ký phát một giấy nhận nợ tương tự với Ngân hàng với mệnh giá và thời hạn theo thỏa thuận giữa Ngân hàng với khách hàng để bảo đảm Ngân hàng là có lợi nhận ). Sau đó khách hàng có thể dùng giấy nhận nợ đó đem thế chấp lại một Ngân hàng khác để vay vốn. Nếu khắc phục được các rủi ro đi kèm, phương thức này là một hình thức đầu tư hấp dẫn đối với Ngân hàng ( không cần thiết phải xuất tiền cho vay ).

    Cho vay xây dưng nhà ở

    Cho vay xây dựng nhà ở là hình thức trung dài hạn nhằm mục đích cho vay tiền xây dựng đối với các cá nhân, những cặp vợ chồng trẻ có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, có nhu cầu về nhà ở nhưng chưa có đủ tiền xây nhà hoặc mua nhà. Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động và số cặp vợ chồng trẻ rất cao. Vấn đề nhà ở đang là một trong những ván đề cấp bách đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM Để giải quyết nhu

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          63

    cầu nhà ở, ổn định đời sống cho người dân, đồng thời lại giải quyết được tình trạng ứ đọng vốn Ngân hàng thì Ngân hàng ngoại thương nên thực hiện món cho vay xây nhà theo hai cách sau:

    • Thứ nhất Ngân hàng đầu tư bằng cách mua đất, xây nhà rồi bán cho

    những người có nhu cầu với phương thức trả góp, lượng trả căn cứ vào thu nhập của người mua. Ngân hàng sẽ nắm quyền sở hữu nhà cho đến khi người mua trả hết tiền thì làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.

    • Thứ hai, Ngân hàng cho những người có nhu cầu vay tiền để họ tự mua

    nhà hoặc xây nhà. Để giảm rủi ro, Ngân hàng chỉ có thể cho vay đối với những người có sẵn đất và coi quyền sở hữu mảnh đất đó là tài sản thế chấp. Người vay cũng thực hiện trả dần theo phương thức trả góp theo thu nhập.

    Thí điểm áp dung loai hình cho vay theo hình thức ” Không thời han “.

    Theo hình thức này món cho vay sẽ không có thời hạn hoàn trả cụ thể định trước, thay nào đó Ngân hàng sử dụng hình thức có báo trước. Nghĩa là khi muốn thu nợ Ngân hàng có thể báo trước cho khách hàng. Khách hàng sẽ có một thời gian nhất định để chuẩn bị nguồn tiền cần thiết trả cho Ngân hàng. Thực tế đây là một hình thức tín dụng khá linh hoạt cả về thời hạn và lãi suất. Mức lãi suất sẽ được điều chỉnh theo một tiêu thức chung trên thị trường (chẳng hạn theo lãi suất tín phiếu kho bạc ).

    1.3. Đẩy mạnh công tác tư vấn đầu tư

    Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế đã phát triển, hệ thống thông tin đã rộng khắp, mạng lưới tin học đã đi sâu vào mọi lĩnh vực ngành nghề thì việc đáp ứng các hiểu biết của con người trở lên cần thiết hơn. Cũng như nhiều trung tâm tư vấn khác, tư vấn của Ngân hàng là một lĩnh vực nhằm đánh giá phân tích, dự báo các thông tin về tình hình kinh tế, xã hội, pháp luật, thị trường, giá cả Liên quan đến vấn đề đầu tư giúp cho các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư một cách đúng đắn nhất, sáng suốt nhất .

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          64

    Cho đến nay hầu như các doanh nghiệp ở nước ta ít hiểu biết về lĩnh vực đầu tư, chính vì vậy đầu tư vào các công trình chưa thu hút được kết quả như mong muốn, rủi ro đầu tư vẫn còn. Để phổ biện rộng khắp, giải đáp các thắc mắc, Ngân hàng nên có trung tâm dịch vụ tư vấn và đầu tư về các công trình, hướng dẫn cố vấn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triền nhanh hơn, điều đó cũng làm cho chính Ngân hàng phát triển, thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển .

    1.4. Tăng cường thực hiện Marketing Ngân hàng

    Công bằng mà nói, không chỉ riêng Ngân hàng ngoại thương mà nhìn chung các NHTM nước ta chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của Marketing trong hoạt động Ngân hàng nên chưa dành sự quan tâm hợp lý, thích đáng cho nó. Tư duy kinh doanh theo quan niệm Marketing còn thiếu vắng ở các NHTM Việt Nam, dẫn tới việc Marketing tuy bước đầu đã được ứng dụng trong Ngân hàng nhưng chủ yếu mới tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuếch trương còn các chức năng chủ yếu có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công trong thực hành Marketing như nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, nâng cao uy tín, chất lượng dịch vụ Ngân hàng... thì hầu như còn rất mờ nhạt, bế tắc. Do vậy, để đưa Marketing thực sự thâm nhập vào Ngân hàng và phát huy tác dụng của nó, Ngân hàng ngoại thương cần thực hiện một số biện pháp sau :

    • Các cán bộ quản lý cần phải nhanh chóng chuyển sang tư duy kinh doanh

    mới, lấy quan điểm Marketing làm chủ đạo vì chỉ có tìm hiểu thị trường một cách kỹ lưỡng nắm bắt được sự thay đổi nhu cầu của khách hàng mới có thể đưa ra những giải pháp, chính sách linh hoạt nhằm hướng hoạt động của Ngân hàng về mục tiêu.

    • Triết lý Marketing cần phải được thâm nhập vào tất cả các bộ phận giao

    dịch, tất cả các cán bộ nhân viên trong Ngân hàng.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          65

    • Thành lập phòng chức năng Marketing trong cơ cấu lổ chức quản trị, đề ra và định hướng hoạt động Marketing một cách khoa học, với đội ngũ cán bộ thực sự

    nhạy bén, am hiểu về Marketing.

    • Cán bộ Marketing Ngân hàng cần phải xem xét ba yếu tố có tác động trực

    tiếp đến hoạt động của Ngân hàng:

    • Nhu cầu của khách hàng trên thị trường đối với sản phẩm của Ngân hàng

     

    • Khả năng thích ứng cầu của tất cả các Ngân hàng đối thủ trên thị trường.

     

    • Các sản phẩm, dịch vụ cung ứng của chính bản thân Ngân hàng mình.

    Tất nhiên, nói thì bao giờ cũng dễ hơn làm, để đưa được Marketing vào Ngân hàng thực tế cần nhiều thời gian và phải trải qua rất nhiều khó khăn. Nhưng thực sự đây là một điều rất cần thiết đối với tất cả các NHTM Việt Nam, đặc biệt khi sự cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng mang tính quốc tế.

    1.5. Mở rộng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

    Ngân hàng tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cho vay và đầu tư phải phù hợp với cơ cấu thành phần kinh tế quốc dân. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng để phân chia rủi ro và điều quan trọng là không phân biệt thành phần kinh tế, thực hiện chính sách khách hàng để cho vay .

    Hiện nay, ở ngân hàng ngoại thương tỷ trọng tín dụng trung dài hạn đối với khu vực KTNQD còn quá nhỏ bé và ngày càng giảm sút. Mặc dù quy định về cho vay thành phần kinh tế này đòi hỏi rất cao và chặt chẽ nhưng không vì thế mà Ngân hàng không cho vay ra, thờ ơ với khách hàng, coi những khoản vay này là nhỏ bé Ngân hàng cần phải làm tốt hơn nữa quan hệ Ngân hàng – khách hàng, lấy khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân để hướng tới. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năng động, nhạy bén, thích ứng với cơ chế thị trường, bộ máy kinh doanh gọn nhẹ, hiệu quả kinh tế luôn gắn liền với lợi ích của người sản xuất, tuy vậy sự ra đời cũng như hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn rất nhiều điều chưa sáng tỏ, vì vậy Ngân hàng rất dè dặt khi cho vay vì

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          66

    sợ không thu hồi được nợ, khách hàng bỏ trốn mất. Cho nên cho vay khu vực kinh tế này phải vừa biết năng động, nhìn nhận đâu là khách hàng đáng tin cậy, vừa phải phân tích xem khách hàng nào có triển vọng sẽ quịt nợ hay kinh doanh kém mà dẫn tới khả năng không lrả được nợ. Muốn mở rộng ra khu vực này Ngân hàng phải biết chấp nhận kiểu ” năng nhặt chặt bị ” không chê những vay nhỏ.

    1.6. Đơn giản hóa các thủ tục cho vay

    Ngân hàng ngoại thương nên đơn giản hóa các thủ tục xin vay vốn, đẩy mạnh quá trình điều tra xét duyệt cho đối với các dự án có hiệu quả. Nhìn chung, khách hàng đi vay vốn bao giờ cũng ngại thủ tục xét duyệt cho vay quá rườm rà. Trong bộ hồ sơ xin vay vốn trung dài hạn có rất nhiều các thủ tục: Đơn xin vay, luận chứng kinh tế, dự toán công trình kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bản quyết toán hiệu quả kinh tế của dự án

    Trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của Ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước Do đó, Ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với Ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tại điều kiện cho Ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của Ngân hàng trước khi điều tra cho vay .

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          67

    2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

    Thực hiện song song với việc mở rộng hoạt động tín dụng trung dài hạn là việc nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn. Ngân hàng nên áp dụng những giải pháp sau:

    2.1. Đổi mới chính sách tín dụng

    Chính sách tín dụng vừa phải phù hợp với đường lối phát triển của Nhà nước đồng thời đảm đảm bảo kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi, người đi vay và chính bản thân Ngân hàng. Muốn vậy, phải xây dựng chính sách tín dụng trên cơ sở khoa học, phải đảm bảo khả năng sinh lời của các hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật và đường lối chính sách của Nhà nước, đồng thời đảm bảo tính công bằng. Chính sách tín dụng cần được tiếp tục hoàn thiện, đảm bảo vừa huy động được tiền gửi vào Ngân hàng (đặc biệt là vốn trung dài hạn) vừa đảm bảo NHTM kinh doanh có lãi, bảo toàn được vốn khuyến khích được các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn của các Ngân hàng, kích thích mở rộng tín dụng trung dài hạn đề đổi mới kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ, tăng cường sức mạnh của sản phẩm nội địa.

    2.2. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư

    Thẩm định tài chính là phương diện quan trọng nhất trong công tác thẩm định dự án đầu tư Chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án quyết định chất lượng tín dụng .

    Tuy nhiên, công tác này ở các NHTM Việt Nam nói chung và ngân hàng ngoại thương nói riêng còn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả. Bên cạnh các nguyên nhân như trình độ của cán bộ tín dụng còn hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu, thông tin khách hàng cung cấp bị sai lệch thì phương pháp thẩm định cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho chất lượng công tác thám định dự án chưa cao.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          68

    • Thứ nhất, hiệu quả tài chính cũng như các loại hiệu quả khác, bản chất

    của nó được thực hiện không đơn thuần chỉ trên một mặt nào đó mà trên nhiều khía cạnh khác nhau.

    Do vậy hệ thống chỉ tiêu về thẩm định tài chính dự án đầu tư phải đầy đủ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để phản ánh về dự án đầu tư một cách hiệu quả nhất, trung thực nhất. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, cho thấy các chỉ tiêu đó tựu trung chia làm hai nhóm chính: Một là, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của dự án đầu tư. Hai là, nhóm phản ánh mức độ rủi ro của dự án. Trong mỗi nhóm chỉ tiêu cần phải lựa chọn, xác định số lượng, loại chỉ tiêu để phản ánh đặc thù của nhóm san cho phù hợp với hoàn cảnh phân tích cụ thể.

    • Thứ hai, thực chất của việc xây dựng tính toán những chỉ tiêu thẩm định

    dự án tài chính đầu tư có cơ sở toán học chặt chẽ, logic, ở đây, nếu quá chú trọng đến cơ sở lý thuyết thì rất khó cho việc áp dụng triển khai trong thực tiễn thẩm định tài chính dự án vì bị giới hạn nhiều điều kiện như thời gian, hoạt động tổ chức

    • Thứ ba, hệ thống chỉ tiêu là nội dung chính trong thẩm định phương diện

    tài chính dự án đầu tư nhưng dù sao nó cũng chỉ là phương tiện để phân tích, đánh giá. Điều quan, trọng là phải sử dụng những chỉ tiêu đó để phân tích, đánh giá chất lượng hiệu quả của dự án đầu tư.

    2.3. Cho vay kịp thời đầy đủ đối với các dự án có hiệu quả kinh tế

    Ngân hàng cần tiến hành đầu tư dứt điểm cho từng dự án, từng công trình tránh tình trạng cho vay thiếu hài hòa, khi thì tràn lan, khi thì thưa thớt. Trong quá trình điều tra xét duyệt cho vay, Ngân hàng cần chú trọng đến những công trình phục vụ xây dựng cơ cấu cả nền kinh tế quốc dân, thực sự có hiệu quả, đảm bảo đầu tư đúng mục đích, đúng kế hoạch có khả năng trả nợ lãi vay Ngân hàng đúng thời hạn, có khả năng thu hổi vốn nhanh, để đó có kế hoạch đầu tư một cách đầy đủ, kịp thời. Công trình sau khi được phê duyệt, Ngân hàng cần phát tiền vay theo

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          69

    đúng kế hoạch để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ thi công đã đề ra, sớm đưa dự án vào sử dụng phát huy hiệu quả .

    2.4. Xử lý linh hoạt các tình huống trong quá trình cho vay

    Đây thực chất chỉ là giải pháp mang tính chất “chữa cháy” hơn là tính chất “phòng ngừa“. Thực hiện giải pháp này, cán bộ tín dụng thường xuyên phải theo sát tình hình thực tế cơ sở, đốc thúc thu nợ, lãi đúng hạn, tuyệt đối không để khách hàng có cảm giác là Ngân hàng không quan tâm tới mục tiêu thu hồi nợ lãi. Tuy nhiên, trong khi thu nợ sớm hoặc đốc thúc thu nợ lãi, cán bộ tín dụng nên sử dụng các biện pháp nghệ thuật ứng xử, nghiệp vụ phù hợp để vừa thu hồi được vốn vừa không làm mất lòng khách hàng. Trong trường hợp, khách hàng không trả được nợ, nhưng còn khả năng phát triển bởi hiện tại họ đang gặp khó khăn do những nguyên nhân bất khả kháng, thì cán bộ tín dụng có thể lập bảng tường trình và đơn xin gia hạn nợ hoặc cho vay thêm đối với khách hàng đó .

    2.5. Tăng cường các biện pháp thu nợ, đảm bảo trả nợ và lãi vay Ngân hàng

    Nếu thẩm định dự án là khâu đầu tiên và là khâu quyết định để cho vay đối với dự án thì quá trình đưa vốn ra theo dõi đôn đốc thu nợ cũng là khâu không kém phần quan trọng.

    Khi một dự án đầu tư trung và dài hạn được cho vay theo đúng mục đích, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng số vốn ghi trong hợp đồng tín dụng thì công việc quản lý vốn vay ở đây là theo dõi kiểm tra số tiền mà doanh nghiệp rút ra lần trước xem có sử dụng đúng mục đích không. Việc kiểm tra này thông qua các chứng từ, hóa đơn, hợp đồng giá cả... Nếu doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng tín dụng thì đó là cơ sở cho việc phát vốn lần sau. Những trường hợp nào sử dụng sai mục đích thì phải xử lý ngay theo chế độ tín dụng. Ngoài ra phải theo dõi, bám sát mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá chính xác những diễn biến trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, phát hiện

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          70

    kịp thời khả năng có thể phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi, từ đó có biện pháp xử lý ngay.

    Việc đôn đốc thu nợ, thu lãi đúng kỳ hạn và đủ là trách nhiệm, là kỷ luật đối với cán bộ tín dụng. Lịch trả nợ gốc và lãi vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng phải theo dõi hàng ngày. Ngân hàng đồng thời phải gửi báo cáo cho doanh nghiệp có nợ quá hạn chuẩn bị nguồn trả vào trước kỳ hạn trả. Việc thu nợ, lãi đúng kỳ hạn sẽ không có nợ quá hạn thể hiện sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

    Khi một dự án vay mà đã đến hạn trả nhưng doanh nghiệp chưa có nguồn vốn để trả nợ thì việc xem xél để gia hạn, trả nợ gốc phải đúng thẩm quyền được uỷ nhiệm và các chế độ tín dụng quy định, không tùy tiện gia hạn. Nếu trong các dự án cho vay có nợ quá hạn thì cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi mọi diễn biến để kịp thời thu hồi, tránh để nợ nần dây dưa .

    Để xử lý nợ quá hạn thì Ngân hàng có biện pháp thích hợp để giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ mọi khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Ngân hàng giúp doanh nghiệp việc tư vấn trong sản xuất để giảm nợ quá hạn. Tuyệt đối không cho vay khoản mới khi chưa hết nợ cũ, không lấy nợ nuôi nợ .

    2.6. Luôn luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn trong tín dụng trung dài hạn và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu

    Rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất luôn đe dọa các Ngân hàng bởi cấp độ của khoản vay trung dài hạn lớn hơn đáng kể so với khoản vay ngắn hạn. Sự quan tâm đến vấn đề phòng ngừa rủi ro đối với khoản tín dụng trung dài hạn không chỉ đòi hỏi đối với Ngân hàng mà còn đặc biệt đối với cơ quan quản lý tiền tệ. Bởi vì mức độ của khoản vay trung dài hạn là rất lớn, gây đột biến và kéo dài cho cả bên vay, Ngân hàng tài trợ và các bên có liên quan. Chính vì vậy, biện pháp xác định dự báo rủi ro tiềm ẩn trong thế chấp và bảo lãnh vay vốn là hết sức cần thiết đối với Ngân hàng. Việc dự báo rủi ro tiềm ẩn càng đầy đủ, các biện pháp phòng ngừa càng cẩn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 71

    trọng thì hiệu quả tín dụng ngay từ khâu phán quyết càng cao. Đương nhiên việc phát hiện và dự báo các rủi ro tiềm ẩn để đề ra các biện pháp phòng ngừa phải là việc làm liên tục, thường xuyên không chỉ trước khi phán quyết mà cả trong suất trong quá trình đưa vốn vay ra cho đến khi thu hết nợ gốc và lãi vay .

    Vì vậy khi tính toán nguồn trả nợ, thời hạn trả nợ, người ta tính toán cả phương án: phương án lạc quan nhất, phương án trung bình nhất. Để an toàn và phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn, có một cách thường dùng là lấy phương án sản xuất xấu nhất đề xem xét. Nếu phương án này vẫn trả được nợ và lãi vay Ngân hàng trong giới hạn cho phép, thì chắc chắn ngay từ khi phán quyết đã có thể yên tâm về khoản vay được duyệt.

    Thế chấp và bảo lãnh cho việc vay vốn là chìa khóa an toàn cuối cùng cho việc vay vốn. Trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng công cụ này đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Ngân hàng phải biết sự nhạy cảm, đảm bảo nguyên tắc và chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Nhà nước, áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng không tùy tiện. Tuyệt đối không coi thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là “bùa hộ mệnh ” trong cho vay, không thể coi là chiếc chìa khóa an toàn đặc biệt mà chỉ coi là chiếc chìa khóa an toàn cuối cùng trong việc đảm bảo an toàn tín dụng. Thực hiện việc thế chấp, bảo lãnh đúng quy định và cho vay lãi phải dựa trên những cơ sở thực sự từ phía doanh nghiệp chứ không phải dựa vào duy nhất tài sản thế chấp .

    2.7. Nâng cao công nghệ ngân hàng.

    Một công nghệ bao giờ cũng gồm bốn yếu tố: Thiết bị, con người, tổ chức, và thông tin. Vì vậy để nâng cao công nghệ của mình, ngân hàng ngoại thương cần quan tâm phát triển cả bốn yếu tố trên:

    2.7.1. Về thiết bị ngân hàng:

    Hiện nay các ngân hàng đứng trước nhu cầu đổi mà trước hết là đổi mới thiết bị, ngân hàng ngoại thương cần nâng cấp hệ thống thiết bị của mình mà trước

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          72

    hết là hệ thống mạng máy tính. Đây là một điều kiện để ngân hàng hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu quản lý và tăng cường sức cạnh tranh. Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện chuyển tiền qua mạng SWiFT. Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ Ngân hàng ngoại thương có thể đặt hàng với các công ty tin học trong hoặc ngoài nước nghiên cứu hoàn thiện phần mềm cũng như hệ thống mạng máy tính.

    2.7.2. Về con người

    Con người luôn là nhân tố quyết định đến sự thành công của một tổ chức. Để có một khoản tín dụng có chất lượng, yếu tố trước tiên thuộc về người cán bộ tín dụng. Họ phải là người am hiểu khách hàng, hiểu biết sâu sắc thực lực tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng kể cả hiện tại cũng như sau này, xác định được tiềm năng phát triển và dự báo được những biến động trong tương lai. Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cần phải hiểu được tâm lý của khách hàng, xem xét được mức độ trung thực của khách hàng để bảo đảm tính an toàn của khoản tín dụng. Có khả năng giao tiếp ứng xử hợp lý để có thể duy trì được các khách hàng có mối quan hệ từ trước, đồng thời lại thu hút được những khách hàng mới có tiềm năng .

    Sự tác động của các chính sách kinh tế của Chính phủ hay ảnh hưởng của các biến động trên thị trường đến kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp là vô cùng phức tạp. Điều này đòi hỏi cán bộ tín dụng cần có kiến thức hiểu biết nhất định về thị trường và về lĩnh vực chuyên môn mà khách hàng của mình đang tiến hành kinh doanh.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy Ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình dộ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          73

    tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức.

    Hoạt động tín dụng sử dụng phần lớn nguồn vốn của Ngân hàng, giao tiền vào tay người khác, chính vì vậy cán bộ tín dụng phải cớ trình độ chuyên môn cao. Nhất là trong lĩnh vực trung dài hạn, phải thẩm định dự án, dự đoán trước cho một khoảng thời gian dài, vì vậy cán bộ tín dụng phải có cái nhìn tổng quát, có đầu óc phán đoán. Chính vì vậy Ngân hàng nên chọn những cán bộ có đầy đủ năng lực và nhiệt tình công tác vào hoạt động tín dụng trung dài hạn. Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, Ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận về giờ giấc, học phí… để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, Ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại Ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được Ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, tránh Ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học nhưng sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    2.8.3. Về tổ chức:

    Trong những năm qua ngân hàng ngoại thương đã có những bước tiến vững chắc trong việc củng cố bộ máy tổ chức ngân hàng, trong những năm tới kết hợp với đề án tái cơ cấu ngân hàng, ngân hàng tiếp tục sắp xếp lại tổ chức tránh việc

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          74

    chồng chéo trong công việc. Để đơn giản hoá thủ tục và không lãng phí thời gian trong quá trình xin vay cho khách hàng thì đây cũng là một giải pháp tốt.

    2.8.4.Về thông tin:

    Ngân hàng cần cập nhật những thông tin về sự đổi mới công nghệ ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cả trong và ngoài nước để có sự tiếp thu kế thừa, và thích ứng một cách hợp lý và đem lại hiệu quả cao

    2.8. Phát triển hình thức bảo hiểm quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có hai cách thực hiện: một là, các doanh nghiệp trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh thì phải mua bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm; hai là, Ngân hàng

    kiêm luôn chức năng này. ở đây em xin đề cập đến cách thứ hai, vì nó phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay hơn .

    Để vay vốn Ngân hàng trước tiên doanh nghiệp phải lập một dự án như bình thường. Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án đó. Nếu Ngân hàng thấy không cho vay được thì thôi, còn nếu cho vay được thì khi giao tiền cho khách hàng, Ngân hàng sẽ giữ lại một tỷ lệ nhất định của khoản vay và cấp cho khách hàng một thẻ bảo hiểm. Các khoản tiền bảo hiểm đó sẽ được sử dụng để bù đắp rủi ro cho Ngân hàng trong trường hợp khách hàng làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán. Cách làm này có lợi là Ngân hàng có thể chủ động phòng ngừa từ xa những rủi ro có thể xảy ra khi cho vay những dự án có tính rủi ro cao, đổng thời khách hàng không có lý do gì để trốn tránh trách nhiệm mua bảo hiểm, vì khoản đóng bảo hiểm đã được Ngân hàng giữ lại ngay khi cho vay. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng đây cũng chỉ là một trong những biện pháp nhằm hạn chế bớt tác hại của rủi ro, không thể coi đó là chỗ dựa cho Ngân hàng, mà điều cốt yếu là phải thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa để không cho các rủi ro đó xảy ra. Đó mới là mục tiêu mà ngành Ngân hàng cần hướng tới. Các doanh nghiệp cần phải thấy rõ được điều này không chỉ có lợi cho Ngân hàng mà còn có lợi cho chính doanh nghiệp vì khi

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          75

    mua bảo hiểm nếu gặp rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ có khoản để bù đắp lại một phần hoặc toàn bộ tổn thất tùy thuộc vào mức đóng bảo hiểm .

    2.9. Bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn:

    Tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn để phòng ngừa các rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra là do khách quan xảy ra như thiên tai, hoả hoạn… cũng có thể do chủ quan của ngân hàng dẫn đến việc không thu hồi được vốn vay.

    Hiện nay, tại ngân hàng ngoại thương việc tham gia bảo hiểm cho các khoản vay trung dài hạn cho các dự án ở trong nước gần như là không có. Vì vậy, cần tiến hành phân tích, nghiên cứu một số dự án xin vay vốn trung dài hạn có mức độ rủi ro khá cao mà thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ cho vay thì ngân hàng khó có thể cho vay được

    Nhưng theo quy luật thì một dự án có rủi ro cao lại đem lại một tỷ lệ sinh lời lớn, vì vậy ngân hàng sẽ tính toán để có thể tham gia bảo hiểm cho các khoản vay này khi nó gặp rủi ro. Nhờ vậy, ngân hàng ngoại thương có thể cho dự án này vay vốn, một mặt để thu được lợi nhuận, một mặt có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua hình thức bảo hiểm cho chính khoản vay này.

    Như vậy, vô hình chung ngân hàng có thể mở rộng cho vay trung dài hạn và thông qua tăng doanh số cho vay trung dài hạn vừa hạn chế được rủi ro khi dự án này gặp phải khó khăn trong việc thu hồi nợ.

    Nói tóm lại, trên đây chỉ là một số suy nghĩ riêng của cá nhân dựa trên cơ sở lý thuyết, chưa có ý nghĩa thực tế, chính vì vậy chúng chỉ có giá trị tham khảo. Em hy vọng những giải pháp trên đây sẽ ít nhiều có ích trong việc áp dụng vào thực tế tại ngân hàng nhằm giải quyết những vướng mắc mà ngân hàng đang gặp phải.

    • Một số kiến nghị

    3.1 Đối với Nhà nước

    3.1.1. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho Ngân hàng hoạt động

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          76

    Do tình hình kinh tế – xã hội phát triển nhanh, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường thực sự phải có pháp luật điều chỉnh, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh trong sự phát triền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ làm chỗ dựa pháp lý cho Ngân hàng, cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Hơn nữa, luật lệ của nước ta chưa ổn định, thay đổi luôn luôn không tạo ra cơ sở vững chắc cho Ngân hàng. Việc luôn bị sửa đổi của các Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài, Luật đất đai nhà cửa khiến cho các giấy tờ liên quan như giấy phép kinh doanh, giấy sở hữu nhà đất không rõ ràng, rất khó khăn cho Ngân hàng xem xét dự án có thể cho vay.

    Riêng đối với lĩnh vực Ngân hàng, có hai bộ Luật Ngân hàng (Luật NHNN và Luật các TCTD) là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngân hàng cho vay đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên việc ban hành các quy định ngặt nghèo đối với khu vực KTNQD, khiến cho dư nợ của thành phần kinh tế này ngày càng giảm sút. NHNN cần ban hành quy chế có tính mềm dẻo hơn nhằm kích thích cán bộ tín dụng tìm nhiều khách hàng để cho vay.

    Làm rõ nội dung lợi nhuận chịu thuế, chi phí hợp lý vốn chủ sở hữu và cơ sở ấn định mức phải chịu thuế lợi tức bồ sung. Có hai kiến nghị của các TCTD đối với các Luật thuế mới là áp thuế đúng luật định và thuế suất hợp lý .

    • Trong Luật các TCTD quy định các hoạt động bảo lãnh mua bán tài sản

    xiết nợ, chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá... thì không phải chịu thuế. Thế nhưng trong Thông tư 178/ TT hướng dẫn Thuế GTGT lại xếp các hoạt động trên vào hoạt động chịu thuế.

    Chính vì vậy việc hoàn thiện môi trường pháp lý là rất cần thiết. Các Luật không được chồng chéo lên nhau mà phải vừa đảm bảo tính dân chủ vừa phải kích thích cho tất cả các hoạt động đều phát triển và đi vào khuôn phép.

    3.1.2 Nhà nước cần có các biện pháp đồng bộ để ổn định tiền tệ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam 77

    Trên tổng quan, chính sách tiền tệ giai đoạn 1998 – 2005 vẫn phải hướng vào mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển với tốc độ cao và bền vững. Chính sách tiền tệ phải được điều hành bởi các công cụ, chính sách cụ thể về tín dụng đối với nền kinh tế, về quản lý ngoại hối và chính sách đối với Ngân sách thay cho cách điều hành thông qua các chỉ tiêu kế hoạch như trước đây. Quan điểm trong xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn này là phải điều hòa được các quan hệ vốn có mâu thuẫn, đó là:

    • Giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế .
    • Giữa lợi ích chung kiềm chế lạm phát và lăng trưởng kinh tế với lợi ích

    của các NHTM và các TCTD .

    • Giữa lợi ích người gửi tiền, nhà kinh doanh tiền tệ và người đi vay.

    Định hướng trong giai đoạn này là phải chuyển mạnh sang vận dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp thay cho việc sử dụng các công cụ tiền tệ trực tiếp vì hiện nay Việt Nam đã bước đầu hình thành các khung định chế và môi trường cho các công cụ gián tiếp được sử dụng.

    Bên cạnh đó các công cụ trực tiếp ngày càng bộc lộ những nhược điểm như làm cho việc phân phối vốn không hiệu quả, kiềm chế tài chính cứng nhắc và thiếu linh hoạt trong khi đó các công cụ gián tiếp sẽ giúp cho NHNN điều hành tiền tệ một cách linh hoạt theo thị trường.

    Giai đoạn sau năm 2000 về cơ bản hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã được củng cố về nhiều mặt, do đó cần tiến thêm một bước trong cải cách quản lý về tiền tệ để tiến tới một hệ thống tài chính tự do và hòa nhập vào hệ thống tài chính khu vực và quốc tế.

    3.1.3. Tăng cường trách nhiệm từ phía Nhà nước Doanh nghiệp Ngân hàng

    Từ năm 1996 đến nay, việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đã gặp không ít

    khó khăn, thậm chí có lúc tưởng chừng như vốn Ngân hàng đang bị “đóng băng“,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          78

    trong khi đó các doanh nghiệp lại thiếu vốn trầm trọng. Để quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng ngày càng phát triển, cần có sự phối hợp đồng bộ của các cấp các ngành, và thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây :

    Kiên quyết sắp xếp lại các DNNN, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phái triển dân sinh, tạo điều kiện cho đầu tư tín dụng nâng cao được hiệu quả. Trong hội nghị tổng kết đổi mới và phát triển DNNN từ năm 1986 đến nay (3 – 4 /5/2000), đã thống nhất lộ trình đổi mới doanh nghiệp NN giai đoạn 2000 – 2003, số lượng DNNN sẽ chỉ còn lại 3000 doanh nghiệp, giảm đi 2280 doanh nghiệp, bao gồm 1498 doanh nghiệp được tiến hành CPH, hoặc giao bán, khoán, cho thuê (65,3%); 380 doanh nghiệp sáp nhập vào các doanh nghiệp khác (16,7%) và 368 doanh nghiệp phải giải thể, phá sản ( 6%); 43 doanh nghiệp chuyển thành đơn vị sự nghiệp (2%). Đến năm 2003, quy mô DNNN sẽ tăng vốn bình quân từ hơn 18 tỷ đồng /1 doanh nghiệp lên trên 27 tỷ đồng; giảm 18,5% tổng nợ, 15,3% nợ Ngân hàng và quan trọng nhất là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được nâng lên. Hiện chỉ có 20% DNNN đạt mức lợi nhuận trước thuế cả năm từ 12% trở lên (tương đương với mức lãi suất Ngân hàng). Theo phương án sắp xếp lại đến năm 2003, số DNNN đạt mức lợi nhuận nêu trên sẽ tăng lên 50%. Đến năm 2005, dự kiến chỉ còn 2000 DNNN, có thể nói, đây chính là sự “giảm lượng tăng chất”. Các DNNN khẳng định được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế, làm ăn có hiệu quả, có định hướng hoạt động chắc chắn, tạo sự tin lượng cho nhà đầu tư và cũng là mảnh đất tốt để phát triển hoại động tín dụng của Ngân hàng. Bên cạnh đó, sau khi sắp xếp sẽ xử lý nợ được 21 .000 tỷ đổng, trong đó có 7.000 tỷ đổng nợ Ngân hàng . Bộ Tài chính cần tiếp tục cấp bổ sung đủ mức vốn điều lệ đã được duyệt cho các doanh nghiệp để đảm bảo số tiền vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          79

    trong sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng của chu kỳ sản xuất hoặc thực sự cần thiết phải tồn tại thì đề nghị Bộ Tài chính cho phép giãn nợ 3 – 5 năm để doanh nghiệp có thời gian sắp xếp lại sản xuất, tạo nguồn trả nợ cho Ngân hàng.

    Tiếp tục hoàn thiện sửa đổi, ban hành các bộ Luật, văn bản dưới Luật liên quan đến hoạt động của nền kinh tế nói chung, đến hoạt động của Ngân hàng nói riêng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động củadoanh nghiệp và NHTM đi đúng giới hạn cho phép và phân rõ trách nhiệm của người đi vay và người cho vay trong quan hệ tín dụng.

    Rà soát lại năng lực trình độ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác trực tiếp kinh doanh. Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ Ngân hàng.

    Tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ của Ngân hàng, tạo ra nhiều sản phẩm mới ( tư vấn, bảo hiểm, thuê mua ) .

    3.1.4. Thành lập trung tâm quản lý và bán đấu giá tài sản thế chấp

    Hình thức công ty mua bán nợ đã xuất hiện từ rất lâu trên ở nhiều nước trên thế giới như : Nhật Bản, Hàn Quốc Các công ty này được hình thành khách quan trong nền kinh tế thị trường khi có nhiều khoản nợ xuất hiện ở các TCTD khác nhau. Bản chất của chúng là các công ty kinh doanh các khoản nợ của các doanh nghiệp vay các TCTD để thu lợi nhuận.

    Hiện nay, ở Việt Nam, Chính phủ đang xúc tiến thành lập công ty nợ trực thuộc Chính phủ thực hiện hai mục tiêu là đảm bảo an toàn, lợi ích của các TCTD và thực hiện mục tiện lợi nhuận. Ban lãnh đạo của công ty phải bao gồm các thành viên của NHNN, Bộ Tài chính, Tổng cục địa chính và cán bộ các ngành có liên quan đến việc quản lý và bán đâu giá.

    Hoạt động của công ty bao gồm từ khâu định giá; nhận tài sản thế chấp, cầm cố đến việc quản lý các tài sản này và cuối cùng là bán đấu giá để thu hồi khoản vay nếu khách hàng không trả được nợ.

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          80

    3.1.5. Thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc

    Để giúp các Ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế đồng thời việc thu thập thông tin của Ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy, Nhà nước cần sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với khu vực KTNQD. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán Nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm cả công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ly kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lý do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện ra những điều mà doanh nghiệp cần giấu kín

    Đề nâng cao hiệu quả của công tác kiểm toán và làm cơ sở cho việc thẩm định tín dụng, trước mắt cần có sự thống nhất giữa các cơ quan kiểm toán Việt Nam, cụ thể hóa chuẩn mực kiểm toán sao cho phù hợp với thông lệ của kiểm toán quốc tế. Ví dụ như: một doanh nghiệp có số vốn điều lệ bao nhiêu thì cần phải tiến hành kiểm toán, trách nhiệm cung cấp và giữ bí mật thông tin của các cơ quan kiểm toán, áp dụng công nghệ kiểm toán gì, giá trị pháp lý của số liệu và chữ ký của cơ quan kiểm toán… Tiến tới, Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư .

    3.2 Đối với NHNN

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          81

    Về xử lý tài sản thế chấp: NHNN quy định nếu sau thời hạn trả nợ cuối cùng là 10 ngày, bên vay không trả được nợ thì Ngân hàng làm đơn đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Mặt khác, trong thủ tục cho vay ràng buộc bên vay bằng một hợp đồng thế chấp tài sản có ghi: ” nếu không trả nợ gốc và lãi thì Ngân hàng phải phát mai tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ “. Như vậy, người vay tự nguyện mang tài sản thế chấp hợp pháp đến vay vốn đã cam kết với Ngân hàng bằng đảm bảo. Ngân hàng làm bản thông báo công khai, trước hết dành quyền ưu tiên cho người có tài sản thế chấp đó được mua lại tài sản đó theo đánh giá của Hội đồng định giá. Sau 10 ngày nhận dược thông báo, nếu chủ tài sản không mua thì Ngân hàng sẽ có quyền bán cho người khác.

    Như vậy, Ngân hàng có thể tự phát mại tài sản đó mà không phải xin ý kiến của các cơ quan Nhà nước khác.

    Về nâng cao chất lượng thông tin: một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng trung dài hạn của các NHTM là sự thiếu thông tin cần thiết, chính xác từ phía khách hàng, từ thị trường và dự án. Vì vậy, muốn hoạt động của các NHTM đạt hiệu quả cao thì NHNN phải thiết lập một trung tâm lưu trữ thông tin có thể cung cấp những thông số chính xác nhất, mới nhất về các doanh nghiệp, các biến động trên thị trường, các thông tin có liên quan đến dự án

    Về mức lãi suất: NHNN nên áp dụng hai mức lãi suất khác nhau cho nợ quá hạn phân theo nguyên nhân khách hàng và chủ quan. Sẽ là không công bằng nếu doanh nghiệp phải trả mức lãi suất cao gấp 1,5 lần nếu nguyên nhân gây nên nợ quá hạn là sự thay đổi của cơ chế chính sách của Nhà nước, hay do những ảnh hưởng của môi trường tự nhiên.

    3.3. Đối với doanh nghiệp

    Doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin chính xác cho Ngân hàng

     

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          82

    Đa số khách hàng đi vay vốn thường than phiền rằng Ngân hàng còn gây nhiều khó khăn cho họ với nhiều thủ tục nhiêu khê, phiền hà, làm mất cơ hội sản xuất kinh doanh của họ. Song họ không ý thức được một điều là họ cũng là một phần trong những khó khăn đó vì :

    • Khách hàng không muốn cung cấp đầy đủ thông tin vì họ sợ cung cấp

    nhiều sẽ vô tình phơi bày ra những yếu điểm của họ.

    • Khách hàng thường cung cấp những thông tin không hoàn toàn chính xác vì họ muốn giữ kín những số liệu kinh doanh, sợ Ngân hàng tiết lộ ra ngoài. Chỉ gò ép vào những số liệu tài chính, sản xuất kinh doanh mà không căn cứ vào thực tế

    thì Ngân hàng khó có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng và chính xác được.

    Số tiền vay và thời gian xin vay không đúng với nhu cầu thực tế, vì vay vốn trung dài hạn thì phải trả lãi suất cao hơn ngắn hạn nên mặc dù muốn vay trung dài hạn nhưng doanh nghiệp lại vay ngắn hạn, đến thời hạn trả nợ ngắn hạn thì lại đệ đơn xin gia hạn nợ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

    Để có thể đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn của toàn bộ nền kinh tế thì chỉ có sự nỗ lực cố gắng của toàn bộ hệ thống NHTM là chưa đủ, mà phải có sự nỗ lực hợp tác, giúp đỡ từ phía đối tác còn lại đó là các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải đổi mới tư duy, khắc phục những nhận thức sai lầm trên để có thể tự khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân đồng thời giúp đỡ hỗ trợ các Ngân hàng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Nâng cao năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Trong nền kinh tế mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp luôn phải chủ động tìm kiếm thị trường và nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó thực hiện nhiều biện pháp hợp lý như sắp xếp lại cơ cấu tổ chức,

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          83

    nâng cao khả năng quản lý, có chính sách đào tạo nhân lực, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, đẩy mạnh hoạt động Marketing, phát huy nội lực và kết hợp với sự hỗ trợ giúp đỡ của hệ thống NHTM để có vốn tiến hành các dự án sản xuất kinh doanh có khả năng sinh lời cao để từ đó có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước sau đó tiến ra thị trường quốc tế .

    KẾT LUẬN

    hư em đã trình bày ở trên, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng N thương mại đóng một vai trò hết sức to lớn đối với nền kinh tế, với ngân hàng và với doanh nghiệp. Vì vậy để hoạt động tín dụng trung

    dài hạn thật sự phát huy hết vai trò của nó cần có sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, khách hàng và nhà nước.

    Với vai trò đặc biệt quan trọng đó ngân hàng, nhà nước và các doanh nghiệp nên có các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động này, làm cho ngân hàng có thể mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          84

    Qua nghiên cứu đề tài, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên em không tránh khỏi những sai sót trong việc đưa ra và làm rõ các nguyên nhân, tồn tại, khó khăn và tìm ra những giải pháp để khắc phục những tồn tại trên.

    Một lần nữa em xin chân thành cám ơn Thầy giáo T.S Nguyễn Hữu Tài cùng toàn thể cán bộ phòng dự án của Sở Giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam và các bạn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài viết này.

    Sinh Viên: Trần Huy Phương

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Mishkin. Tiền tệ Ngân hàng và thị trường tài chính. NXB khoa học và kỹ thuật Hà Nội năm 1994
    1. Lê Vinh Danh. Tiền và hoạt động ngân hàng.
    1. Robert raymond. Tiền tệ ngân hàng và tín dụng
    1. Quy đinh về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng ngoại thương Việt Nam
    1. Quy chế về tín dung trung dài hạn của Thống đốc NHNN Việt Nam.
    1. Các báo cáo thường niên, báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương Việt Nam năm 1997, 1998, 1999, 2000.

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          85

    1. Tạp chí ngân hàng
    1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế
    1. Thị trường tài chính tiền tệ
    1. Thời báo kinh tế Việt Nam và một số báo khác

    Gi¶i ph¸p më réng vµ n©ng cao chÊt l­îng tÝn dông trung dµi h¹n t¹i Nng©n hµng ngo¹i th­¬ng ViÖt Nam          86


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyên đề tốt nghiệp Phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-thu%E1%BA%BF-quan-v%C3%A0-phi-thu%E1%BA%BF-quan-trong-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-Ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-c%E1%BB%A7a-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    LỜI NÓI ĐẦU

    1.Tính cấp thiết của đề tài :

    Ngày nay, trong hoạt động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, hoạt động ngoại thương giữ vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu của chính sách thương mại là dựa vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.

    • Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách thuế quan và phi thuế quan ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đối với một nước mà kinh nghiệm thị trường còn ít, thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển , đặc biệt là kinh nghiệm về chính sách Ngoại thương của Nhật Bản – đất nước được cho rằng “đã đạt tới sự phát triển thần kỳ” là vô cùng cần thiết.

     

    1. Mục đích nghiên cứu :
    • Phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế quan và phi thuế quan đối với ngoại thương của Nhật Bản.

     

    • Từ sự nghiên cứu tìm hiểu thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản rút ra những bài học từ kinh nghiệm và khả năng áp dụng đối với Việt Nam trong việc phát triển ngoại thương hiện nay.

     

    1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

    Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ nghiên cứu thuế nhập khẩu, các biện pháp phi thuế quan quản lý nhập khẩu của Nhật Bản những năm gần đây, từ đó rút ra bài học trong việc vận dụng đối với Ngoại thương ở Việt Nam.

    __________________________________________________________

    _____________

    1

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    4.Kết cấu khóa luận :

    Ngoài Lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau :

    Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sách Ngoại thương

    Chương II:                    Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản.

    Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển ngoại thương Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp phân tích tổng hợp, duy vật biện chứng & duy vật lịch sử, phương pháp thống kê số liệu, so sánh đối chiếu …

    Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Khoa Kinh tế Ngoại thương, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý thực hiện đề tài để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành đúng thời hạn.

    CHƯƠNG I

     

    TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CỦA

     

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG

     

    __________________________________________________________

    _____________

    2

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Đây là một hệ thống các nguyên tắc và các biện pháp kinh tế, hành chính, pháp luật thích hợp mà nhà nước áp dụng để đạt được nhữngmục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương. Bản chất của chính sách ngoại thương thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định, vì vậy nó luôn được điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính sách ngoại thương vẫn phải luôn luôn đảm bảo mục tiêu : tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong khi vẫn bảo vệ được thị trường nội địa, hạn chế được những cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài.

    Có rất nhiều hình thức và công cụ trong chính sách ngoại thương nói chung và mỗi quốc gia sẽ tự chọn lựa cho mình một công cụ phù hợp nhất. Tuy nhiên, trong các công cụ của chính sách ngoại thương, hầu hết các quốc gia đều chọn thuế quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn. Điều này chứng tỏ rằng thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có những ưu thế mà những công cụ khác khó có thể so sánh được. Đây chính là đặc điểm mà chúng ta nên nghiên cứu.

    I.                   CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

     

    1.     Khái niệm:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật liên quan đến hoạt động ngoại thương mà Nhà nước áp dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định. Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói chung của Nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    3

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh tế, vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.

    2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.

    Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.

    Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.

    Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền…. thì hộ biết mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó.

    Doanh nhân phải biết tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh doanh ở nước ngoài. nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ nhận một thực tế là chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại thương là một qúa trình tất yếu. chính sách ngoại thương tác động đến chiều hướng phát triển của nền kinh tế, đến công thương nghiệp thông qua ảnh hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và sản xuất. Vì vậy tác động của chính sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính sự phát triển ngoại thương theo chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có quan tâm đến lợi ích của doanh nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính sách ngoại thương phải bắt đầu

    __________________________________________________________

    _____________

    4

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu dùng. Tuy nhiên các chính sách ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính sách ngoại thương. Tuy là bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc điểm riêng. Đó là:

    • Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc gia, phải xuất phát từ lợi ích nước mình nhưng không được gây tổn hại đến lợi ích nước khác.
    • Chính sách ngoại thương làm cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nền kinh tế khu vực và quốc tế theo những bước đi có hiệu quả.
    • Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán thu chi. Các hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển vầ cân đối nền kinh tế quốc dân mà còn có nhiệm vụ đặc thù là cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

    II.               CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG.

     

    1.     THUẾ QUAN

    1.1. Khái niệm

    Là loại thuế lấy vật phẩm xuất nhập qua biên giới quốc gia hay quá cảnh làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của nhà nước do hải quan thực hiện. Một số hiệp định quốc tế đã đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về thuế quan là “ Thuế thu theo tỷ suất thuế kê rõ trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”. khái niệm này mmột mặt tách đối tượng nghiên cứu với thuế trong nước, mặt khác tách biệt thuế quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu như thuế chống phá giá, thuế trả đũa… các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng nhập khẩu không gắn với thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    5

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2. Vai trò của thuế quan

    Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các thời kỳ khác nhau không giống nhau. Trong xã hội phong kiến, thu thuế chủ yếu là tăng thu nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế quan không chỉ là nguồn thu tài chính mà còn là công cụ thực hiện chính sách ngoại thương của các nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xã hội, thuế đều có vai trò như sau:

    1.2.1. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

    Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.

    Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích thu thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung đình. Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế quan làm phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng thuế quan tài chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.

    Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :

    • Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
    • Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt cảm thấy gáng nặng của thuế.

    __________________________________________________________

    _____________

    6

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân

    Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước, tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.

    Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.

    1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :

    Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước. Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu kém và hàng hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ không thấp hơn mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá nhập khẩu. Nhưng trong thực tế thì tỷ lệ thuế cao hay thấp còn phụ thuộc vào tình hình cung cầu cũng như điều kiện thay đổi cung cầu gây ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu.

    1.2.4. Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :

    Có thể nói, thuế quan là biện pháp hay sử dụng để thực hiện phân biệt đối xử giữa các nước trong quan hệ thương mại. Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc hoặc những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính phủ hoặc từ những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.

    __________________________________________________________

    _____________

    7

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.5. Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:

    Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.

    Có thể nói thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của mọi quốc gia. Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã đề xướng tự do thương mại, huỷ bỏ hoặc cắt giảm các rào cản thương mại. Trong 7 vòng đàm phán (1948-1994) các thành viên GATT đã đạt được thoả thuận giảm thuế cho 89.900 hạng mục hàng hoá. Tỷ lệ thuế quan nói chung đã giảm đi nhiều, theo hiệp định Urugoay (kết quả của vòng đàm phán thứ 8 của GATT), mức thuế quan trung bình giảm 40%. Khi đó mức thuế nói chung ở các nước công nghiệp phát triển còn khoảng không quá 5%, trừ hàng dệt và may mặc, mức trung bình khoảng 10-40% chủ yếu là đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế quan trung bình ở các nước Đông Á chỉ còn từ 5-15%, Nam Á 10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.

    1.3.Phân loại thuế quan:

    1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :

    • Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    8

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.

    1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :

    • Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
    • Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai chức năng về tài chính và bảo hộ.
    • Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay lãnh thổ của một quốc gia.

    1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :

    • Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của lô hàng.
    • Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng lượng của lô hàng.
    • Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.

    1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :

    • Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay những khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho nhau những ưu đãi về thuế quan.
    • Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ những nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    9

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị trường nước mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ, trợ giá cho hàng xuất khẩu.

    2.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

    2.1. Khái niệm :

    Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện pháp thuế quan.

    2.2 Vai trò của phi thuế quan :

    Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển hình là nó được sử dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường – một vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến chính sách ngoại thương giữa các nước, đặc biệt là quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, liên quan đến việc chuyển vốn và công nghệ.

    Theo nguyên tắc lợi thế so sánh, ngoại thương sẽ tạo ra lợi nhuận cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, nhưng đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, không khí, đất đai mà mọi người nghĩ là vô tận thì không thể phản ánh được chi phí môi trường vì chi phí để bảo vệ, làm sạch hầu như không thể hiện.

    __________________________________________________________

    _____________

    10

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    GATT thừa nhận những trường hợp ngoại lệ của việc tự do hoá ngoại thương như đưa ra những biện pháp qui định để bảo vệ sức khoẻ con người, tài nguyên thiên nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định một cách rõ ràng. Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng các biện pháp phi thuế quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt hàng lương thực thực phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc thiết bị …

    2.3. Các biện pháp phi thuế quan.

    2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu.

    Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà nước quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh. toán.

    2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.

    Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.

    2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    11

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan quản lý hành chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai: nmgười nhập khẩu bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù vậy, hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.

    2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ trong đó quy định áp dụng dụng mức thuế thấp hơn hoặc bằng không (0%) đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng số lượng quy định, nhằm bảo đảm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa. Vì vậy, Chính phủ thường nghiên cứu kỹ càng việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước để đề ra mức thuế olần một, lần hai và thời hạn áp dụng… nhằm thúc đẩy tự do hoá ngoại thương.

    Như vậy chế độ hạn ngạch nhập khẩu, nhà nhập khẩu chỉ được phép nhập khẩu trong phạm vi số lượng quy định., Còn trong chế độ hạn ngạch thuế, nhà

    __________________________________________________________

    _____________

    12

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng quy định nhưng phải nộp thuế theo mức thuế quy định (mức thuế lần 2) đối với phần vượt đó.

    Theo quy định của GATT/ WTO, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối sử với tùng nước.

    2.3.5 Các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập

    khẩu.

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng xuất, nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá xuất khâủ, nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    13

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    CHƯƠNG II

    CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    Như chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815 km2. Mặc dù diện tích lớn hơn diện tích nước ta (khoảng 15%), song Nhật Bản lại là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả nước, diện tích đất trồng trọt được chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm…. Nhật Bản đều phải phụ thuộc

    vào nhập khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con người.

    Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ sống còn của đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách xuất khẩu và nhập khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan trọng.

    Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách thuế quan và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.

    I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN

    1. Các loại thuế

    1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu, do đó số tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản

    __________________________________________________________

    _____________

    14

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    xuất trong nước không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là cơ quan tính thuế sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu để đánh thuế.

    1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số lượng, dung tích, trọng lượng … hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ thuộc vào giá cả hàng hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số tiền thu thuế một cách đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát sinh sự không công bằng trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.

    1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức chêch lệch giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp dụng loại thuế này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp hơn mức giá tiêu chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với lợn, thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn.

    1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản xuất trong nước đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu có sức cạnh tranh với hàng hoá đó để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Nhưng khi chuyển sang các mùa khác thì người ta lại đánh thuế thấp để có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ở Nhật Bản thường hay áp dụng phương pháp tính thuế này đối với các loại trái cây sản xuất trong nước có chi phí cao, không trồng được quanh năm và rất khó cạnh tranh với các loại trái cây nhập khẩu giá rẻ như chuối, cam …

    1.5. Các loại thuế khác :

    • Thuế lựa chọn : áp dụng đối với những hàng hoá đồng loại, số lượng lớn. Người ta qui định cả 2 cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng và có thể chọn một trong hai cách tính theo số tiền thuế cao hay thấp.

    __________________________________________________________

    _____________

    15

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế hỗn hợp : là tổng hợp cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng, cũng áp dụng đối với hàng hoá đồng loại số lượng lớn.
    • Chế độ hạn ngạch thuế : là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hoặc bằng 0 khi hàng hoá nằm trong một số lượng qui định nhưng khi số lượng vượt quá mức qui định thì sẽ áp dụng mức thuế cao đối với phần vượt đó.

    Mỗi cách tính thuế đều có ưu điểm và nhược điểm. Tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất trong nước, tính chất của hàng hoá … mà chọn cách tính thuế phù hợp để vừa có thể đảm bảo tiền thu thuế cao vừa thực hiện chức năng bảo hộ sản xuất trong nước mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng.

        Biểu đồ 1: Các loại thuế
    CIF+ Thuế          
        CIF+ Thuế
    __________________________________________________________
        _____________
      CIF 16
     
            Thuế
             
             

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Nihon no kanzei, NXB Zaikeiyohosha- 1998

    2. Các loại mức thuế

    Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế hiệp định trong các hiệp ước.

    2.1. Mức thuế quốc định:

    __________________________________________________________

    _____________

    17

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế cơ bản : theo luật thuế hải quan, đây là mức thuế được áp dụng trong thời gian dài. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 6.952 mặt hàng.
    • Mức thuế tạm thời : theo luật thuế tạm thời, đây là mức thuế mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 1.010 mặt hàng.
    • Mức thuế ưu đãi : là mức thuế được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển và thấp hơn so với mức thuế qui định đối với hàng nhập khẩu từ các nước phát triển.

    2.2. Mức thuế hiệp định:

    Là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định với nước ngoài, theo đó sẽ chỉ đánh thuế thấp hơn một mức nhất định đối với một mặt hàng nào đó. Hiện nay, mức thuế qui định trong GATT là loại mức thuế hiệp định duy nhất ở Nhật Bản. Mức thuế hiệp định được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên của GATT một cách tự động. Trên thực tế, mức thuế hiệp định cũng được áp dụng đối với những nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Nhật Bản. Trong trường hợp các nước muốn sửa đổi lại mức thuế đã thoả thuận thì các nước cần thiết phải thương lượng với nhau.

    3. Chế độ thuế quan

    3.1. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

    Theo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước nào là thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế ưu đãi mà các nước thành viên dành cho nhau. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện như không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi … Thế nhưng, từ sau năm 1950 dưới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước Châu Á, Châu Phi mới giành được

    __________________________________________________________

    _____________

    18

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp … thì cuối cùng GATT đã cho tất cả các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập.

    Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển khác đã từng tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập

    Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện pháp đặc biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có GDP bình quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30 nước LDC, đã yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990 Nhật Bản đã chấp nhận.

    Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ

      yếu   Đơn vị tính: 1.000.000USD
                   
      Nhập khẩu từ các Nhập khẩu từ các nước được hưởng chế độ ưu đãi  
      nước trên thế giới            
                 
            Nhập khẩu những mặt hàng thuộc đối  
            tượng được hưởng ưu đãi  
                   
                Kim ngạch nhập khẩu  
                áp dụng ưu đãi  
               
    EC (Năm 1992) 567,688 149,164 74,454 35,727  
               
    Mỹ (Năm 1992) 532,654 117,900 35,700 16,700  
               
    Nhật (Năm 1996) 347,948 184,701 42,418 17.623  
                   

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/8/1971. Nó dựa trên hiệp ước của hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển năm 1970 và được dự định thực hiện trong 10 năm, nhưng cuối cùng được gia hạn áp dụng tới ngày 31/3/2001. Nội dung chủ yếu của chế độ này bao gồm những vấn đề sau :

    3.1.1. Danh mục hàng hóa được hưởng ưu đãi :

    __________________________________________________________

    _____________

    19

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông thuỷ sản (từ chương 1 đến chương 24 thuộc hệ HS) : 73 mặt hàng đã được công nhận hưởng qui chế ưu đãi (hệ thống danh sách tích cực). Các mặt hàng này được lựa chọn sau khi đã cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trong nước khi chúng được hưởng quy chế ưu đãi. Thuế quan ưu đãi không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong “danh sách tích cực”.

    * Các

    hệ  HS): tất

    sản phẩm từ

    bộ phận của

    sản phẩm công nghiệp, khai mỏ (từ chương 25 đến chương 97 thuộc cả đều được hưởng ưu đãi trừ 27 mặt hàng như dầu thô, đồ da, các các loại lông, gỗ dán, lụa thô, sợi lụa, vải lụa, sợi bông, giầy và các giầy … (hệ thống danh sách tiêu cực).

    3.1.2. Mức thuế ưu đãi :

    • Hàng hoá nông thuỷ sản : có mức thuế thấp hơn 10% đến 100% so với mức thuế chung hiện hành của các loại hàng hoá cùng loại.
    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc sẽ không phải chịu thuế nhập khẩu, tuy vậy có 66 mặt hàng mà thuế nhập khẩu không thể giảm đến 0 bởi cần tính đến các ngành sản xuất trong nước như các loại cặp bằng da, quần áo

    … Thay vào đó, các mặt hàng này chỉ phải chịu 50% so với mức thuế chung hiện hành.

    3.1.3. Phương thức về cấp thuế quan ưu đãi :

    • Nông, thuỷ sản : Thông thường, nông, thủy sản đủ tiêu chuẩn quy chế ưu đãi thì không chịu giới hạn của hạn ngạch. Tuy nhiên nếu như quy chế ưu đãi đối với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, thuỷ sản trong nước thì một qui định về trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn quy chế ưu đãi của các sản phẩm này.

    Để áp dụng qui định, cần phải chứng minh được việc áp dụng thuế ưu đãi sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu của nông, thuỷ sản và chứng minh các sản phẩm nhập khẩu đó sẽ phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc

    __________________________________________________________

    _____________

    20

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    cạnh tranh trực tiếp của các ngành. Bên cạnh đó, phải chứng minh rằng cần phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.

    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc cũng được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan giống như nông, thủy sản và đối với một số trường hợp ngoại lệ các sản phẩm đó cũng không được hưởng ưu đãi. Nhật Bản cũng đặt ra hạn ngạch trần đối với 146 mặt hàng cần thiết ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và áp dụng mức thuế ưu đãi đó trong phạm vi hạn ngạch đó. Các sản phẩm nhập khẩu đã sử dụng hết hạn ngạch thì không được hưởng ưu đãi thuế quan.

    3.1.4. Biện pháp ưu đãi đặc biệt đối với các nước chậm phát triển :

    Đối với 42 nước chậm phát triển (LLDC) , ngoài việc áp dụng mức thuế 0% đối với nông, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp, khai thác mỏ Nhật Bản còn không đưa ra mức hạn ngạch trần đối với các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ.

    Đến thời điểm 1997, Nhật Bản đã cho 155 quốc gia và 25 khu vực (trong đó tất cả đều là thành viên của UNCTAD và hầu hết là các nước đang phát triển) được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan.

    Về kim ngạch nhập khẩu có áp dụng ưu đãi, thì năm 1972 đạt 109.800 triệu Yên, đến năm 1991 tăng lên tới 1.621.900 triệu Yên, trong vòng gần 20 năm đã tăng 15 lần. Nếu so với mức tăng 5 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu trong thời gian này thì con số trên là rất lớn và nó góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển. So với 18 nước cho các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan ưu đãi, như EC : 2 tỷ USD, Nhật Bản: 14,2 tỷ USD, Mỹ : 10 tỷ USD.

    Nước đang hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất của Nhật Bản là Hàn Quốc, tiếp theo là Đài Loan, Trung Quốc, Braxin, ASEAN. Hơn nữa, do hoạt động ngoại thương, sản xuất công nghiệp của các nước NIES châu Á ngày càng phát triển, nên vào năm 1989 Mỹ đã huỷ bỏ quy chế thuế quan ưu đãi đối với các

    __________________________________________________________

    _____________

    21

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông. Ngay cả EC cũng chấm dứt việc cho Hàn Quốc hưởng quy chế ưu đãi trong một thời gian do những vướng mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì những lý do đó mà trong thời gian gần đây người ta chia các nước đang phát triển thành các nước thương mại Đông Á, Đông Nam Á và các nước con nợ lớn và vẫn tiếp tục thảo luận việc chấm dứt cho hưởng quy chế này.

    Bảng 2: Những nước và khu vực được hưởng chế độ GSP

      LDC LLDC
         
    1971 96 nước
         
    1975 110 nước và 28 khu vực
         
    1980 117 nước và 29 khu vực 29 nước
         
    1985 123 nước và 25 khu vực 34 nước
         
    1990 130 nước và 25 khu vực 38 nước
         
    1995 147 nước và 25 khu vực 41 nước
         
    1997 155 nước và 25 khu vực 42 nước
         

    LLDC:Các nước kém phát triển nhất

    LDC: Các nước kém phát triển

    (Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr.31)

    Biểu đồ 2: Kim ngạch nhập khẩu được hưởng ưu đãi của các nước từ

                                    Nhật             Tr¨m triÖu yªn
                                                     
    0 1000 2000   3000 4000   5000 6000
                                                                 
    Tæng Asean                                                          
                                                             
                                                               
    Singapore                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Morocco                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Braxin                                         Kim ng¹ch 95          
                                                     
                                                     
                                                         
                                                       
    Philippin                                         Kim ng¹ch 96          
                                                     
                                                         
                                                         
    Indonexia                                                 _____________
                                                   
                                                     
    Malayxia                                                
                                                   
                                                   
                                                              22
    Th¸i Lan                                                      
                                                         
                                                             
                                                               
    §μi Loan                                                          
                                                             
                                                             
                                                                 
                                                                 

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr31

    3.2 Chế độ thuế quan đặc biệt

    Thuế quan đặc biệt hiện nay của Nhật Bản bao gồm 3 loại: thuế khẩn cấp, thuế đối kháng và thuế chống phá giá hàng hoá.

    3.2.1 Thuế khẩn cấp: là loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ kịp thời ngành sản xuất trong nước khi có sự tăng nhanh nhập khẩu do giá hàng hoá của nước ngoài rẻ.

    3.2.2 Thuế đối kháng: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bù lại việc các nhà sản xuất và nhập khẩu được hưởng trợ cấp của chính phủ.

    3.2.3 Thuế chống phá giá hàng hoá: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ cho những ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại do việc các nhà sản xuất và xuất khẩu được hưởng trợ cấp từ chính phủ hoặc là do việc bán phá giá hàng hoá.

    Theo nguyên tắc WTO, các biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng khi nó gây thiệt hại đối với nền công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu. Thuế quan chống phá giá của Nhật Bản được quy định rất rõ ràng, chặt chẽ dựa theo hiệp định GATT và pháp lệnh Nhà nước. Cụ thể là :

    Bước 1: Yêu cầu đánh thuế quan chống phá giá

    Trước hết những nhà sản xuất trong nước phải chứng minh được một cách đầy đủ việc hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và hàng hoá nhập khẩu đó làm phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của các ngành, sau đó đưa lên Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét.

    __________________________________________________________

    _____________

    23

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bước 2 : Chính phủ sẽ bắt đầu điều tra khi thấy đơn yêu cầu đánh thuế đã được chứng minh đầy đủ. Thời gian đưa ra quyết định có bắt đầu tiến hành điều tra hay không kéo dài trong 2 tháng kể từ khi nhận được đơn yêu cầu.

    Bước 3 : Điều tra

    Ban điều tra bao gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ trực thuộc, Bộ thương mại. Việc điều tra sẽ hoàn thành trong vòng 1 năm kể từ sau khi bắt đầu điều tra.

    Bước 4 : Đánh thuế

    Sau khi chứng minh được hàng hoá nhâp khẩu được bán phá giá và có thiệt hại, chính phủ sẽ thực hiện đánh thuế chống phá giá trong phạm vi chênh lệch của mức giá thấp hơn.

    Tại vòng đàm phán Tokyo, người ta đã xây dựng những hiệp định về các biện pháp trợ cấp đối kháng và hiệp định chống phá giá. Vì vậy, Nhật Bản đã tiến hành sửa đổi luật, sửa đổi pháp lệnh của chính phủ và soạn thảo những qui định về thủ tục từ việc bắt đầu điều tra đến việc quyết định mức thuế. Sau đó, dựa vào những qui định trong quan điểm hướng dẫn liên quan đến những thủ tục của thuế đối kháng và thuế chống phá giá mà Nhật Bản đã làm rõ các vấn đề thủ tục, cơ sở áp dụng thuế.

    Nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương thế giới và tiềm lực kinh tế của Nhật Bản người ta có thể dự đoán rằng sản xuất trong nước sẽ ngày càng phải chịu nhiều thiệt hại do việc nhập khẩu hàng nước ngoài với số lượng lớn. Vì vậy, Nhật Bản đã áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt một cách thích hợp.

    3.                 Miễn giảm và hoàn trả thuế

     

    4.1. Miễn giảm thuế:

    __________________________________________________________

    _____________

    24

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Khi hàng hoá nhập khẩu đáp ứng được các điều kiện nhất định thì sẽ được miễn giảm một phần hoặc toàn bộ tiền thuế. Hàng hoá được miễn một phần thuế hải quan gọi là giảm thuế còn nếu hàng hoá được miễn toàn bộ thuế gọi là miễn thuế. Việc xem xét miễn giảm thuế xuất phát từ những yêu cầu mang tính chính sách của kinh tế, xã hội, văn hoá và trong nhiều trường hợp cũng căn cứ vào tập quán, hiệp ước quốc tế, quan hệ ngoại giao …

    Miễn giảm thuế gồm có 2 loại là miễn giảm vô điều kiện như đối với hành lý xách tay của du khách nước ngoài, đồ dùng của người tàn tật và miễn giảm thuế có điều kiện.

    Bên cạnh đó, căn cứ vào luật mà theo đó hàng hóa được hưởng miễn giảm thuế thì miễn giảm thuế được chia làm 2 loại là miễn giảm thuế tạm thời nếu theo Luật tính thuế tạm thời và miễn giảm thuế lâu dài nếu theo Luật thuế hải quan.

    * Theo Luật thuế hải quan, các hàng hoá sẽ được miễn thuế lâu dài là :

    • Hàng tiêu dùng, sinh hoạt : khi giá nhập khẩu của những mặt hàng như lương thực thiết yếu (gạo, bột mỳ … ) cao, khi giá cả trong nước lẫn giá nhập khẩu của thịt lợn và đường là những mặt hàng có giá biến động lớn đồng loạt tăng cao thì những hàng hóa này được miễn giảm thuế.

    Ngoài những mặt hàng có quan hệ mật thiết tới đời sống hàng ngày như lương thực, quần áo … thì ngay cả với những mặt hàng khác khi giá nhập khẩu tăng vọt mà đó lại là những mặt hàng rất cần thiết để đảm bảo đời sống nhân dân hoặc không ảnh hưởng tới sản xuất trong nước thì cũng có thể được miễn giảm thuế.

    • Vật tư nguyên liệu dùng để sản xuất : là vật tư, nguyên liệu cần thiết để sản xuất ra những hàng hoá chuyên dụng như thức ăn gia súc …
    • Hàng hoá có mục đích sử dụng đặc biệt : là những hàng hoá dùng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục, hàng là quà tặng, quà biếu cho các hoạt động

    phúc lợi xã hội.

    __________________________________________________________

    _____________

    25

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Hàng hoá của các nhà ngoại giao: miễn thuế cho hàng hoá được sử dụng trong đại sứ quán …
    • Ngoài ra, hàng hoá cũng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
    • Giảm thuế trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do thay đổi phẩm chất.
    • Giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu để gia công.
    • Miễn thuế đối với các hàng hoá như thuỷ sản đánh bắt nước ngoài.
    • Miễn thuế đối với hàng tái xuất.
    • Miễn thuế đối với những vật tư, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Miễn thuế xuất khẩu những hàng hoá mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã bị chịu thuế.
    • Theo Luật tính thuế tạm thời, các hàng hoá được hưởng miễn giảm thuế bao gồm:
    • Miễn đối với dầu thô được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu : căn cứ vào mục đích sử dụng, nếu là dầu thô dùng làm nhiên liệu thì sẽ phải chịu thuế, nếu sử dụng làm nguyên liệu thì không phải chịu thuế, Nhật Bản đã thực hiện miễn thuế đối với dầu thô được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm hoá dầu.
    • Giảm thuế đối với các hàng được gia công ở nước ngoài (rồi nhập khẩu trở lại Nhật) để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển ở xung quanh, Nhật Bản đã thực hiện chế độ này, theo đó chẳng hạn như đối với quần áo may mặc, Nhật Bản sẽ giảm thuế nguyên liệu được xuất khẩu ra nước ngoài để gia công, lắp ráp và chỉ đánh thuế vào phần giá trị gia tăng từ gia công, lắp ráp với điều kiện thời hạn thực hiện gia công, lắp ráp ở nước ngoài dưới 1 năm.

    __________________________________________________________

    _____________

    26

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Miễn giảm thuế cho nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử : là chế độ miễn thuế đối với những nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử mà Nhật Bản khó chế tạo. Ngoài ra cũng miễn thuế cho những hàng hoá sản xuất trong nước gặp khó khăn như máy bay và các bộ phận của máy bay, các máy móc, thiết bị để khám phá vũ trụ.
    • Miễn thuế cho sữa bột đã tách bơ dùng làm thức ăn ở nhà trẻ, trường học

    … Sau đại chiến lần thứ 2, chế độ dinh dưỡng của trẻ em Nhật Bản đã được cải thiện rõ rệt nên việc sử dụng sữa bột tăng lên nhanh chóng.

    Biểu đồ 3: Số tiền thuế được miễn giảm

    Tr¨m triÖu yªn

    1 8 0 0

    1 6 0 0

    1 4 0 0

    1 2 0 0

    1 0 0 0

    8 0 0

    6 0 0

    4 0 0

    Nguồ2n:00 Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha. 1997, tr.23

    0                    
                    9 6    N ¨m
    8 9 9 0 91   9 2 9 3 9 4 9 5
    4.2 Chế độ hoàn trả thuế:            
                         

    Chế độ này cho phép những hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế thoả mãn được những tiêu chuẩn để được hoàn trả thì sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế đã nộp trước đó. Hoàn trả thuế cũng được chia làm 2 loại là trả thuế tạm thời và trả thuế lâu dài.

    * Các trường hợp được hoàn trả thuế lâu dài theo Luật thuế hải quan :

    • Hàng hoá bị thiệt hại, hư hỏng do thay đổi phẩm chất.
    • Vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Những hàng hóa mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã phải chịu thuế.
    • Hàng hoá bị trả lại hoặc bị huỷ bỏ do không phù hợp với hợp đồng.

    __________________________________________________________

    _____________

    27

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Theo Luật thuế tạm thời có :
    • Chế độ hoàn trả thuế do tăng sản xuất những hàng hoá như các sản phẩm tinh dầu mỏ tinh chế thô : đây là chế độ hoàn trả một phần thuế trong trường hợp tình hình cung cấp các sản phẩm tinh chế từ dầu thô như dầu hoả, dầu nhẹ, dầu nặng loại A … bị thiếu nên phải sử dụng biện pháp xử lý đặc biệt sản xuất từ dầu nặng.
    • Chế độ hoàn trả thuế đối với những hàng hoá như dầu mỏ dùng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu.

    Bảng 3: Các mặt hàng áp dụng chế độ miễn giảm, hoàn trả thuế

    Năm Số lượng hàng hoá Tên hàng hoá  
    được áp dụng
         
           
    1969 5 Tủ lạnh, bộ nhớ, vòng bi, đèn chân không, các loại đồng hồ  
    đeo tay.  
       
    1974 24 Ống đồng vàng, pittong, máy kéo sợi, ôtô, tai nghe, dây điện  
    từ chậm…  
       
    1987 4 Ống đồng vàng, vòng bi, đèn chân không, dây điện từ chậm.  
    1988 626 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)  
    1989 843 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       
    1990 258 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       

    __________________________________________________________

    _____________

    28

     

    Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
         
    Từ 369 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)
    1994 & 28 mặt hàng tương ứng, các loại hàng may mặc (chương 62
    trở đi   trong hệ HS), các loại đạn dược (chương 57 trong hệ HS)…

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997,tr.25

    4.3 Chế độ thanh toán lại thuế Hải quan:

    Chế độ này giống với chế độ hoàn trả ở chỗ một phần hay toàn bộ thuế nộp trước được hoàn trả. Nhưng khác ở chỗ, theo chế độ hoàn trả, tiền thuế nộp trước được hoàn trả lại cho người nộp thuế. Còn theo chế độ này, tiền thuế đó được thanh toán cho người chịu thuế. Trong các trường hợp không thuộc sự điều chỉnh của chế độ miễn giảm hay hoàn trả thuế thì người ta sẽ áp dụng chế độ này để bảo vệ ngành sản xuất trong nước và áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm sản xuất từ dầu mỏ được sản xuất ở Nhật Bản mà có sử dụng dầu thô nhập khẩu đã bị đánh thuế hay các sản phẩm dầu được dùng làm nguyên liệu cho việc sản xuất các hàng hoá như các sản phẩm hoá dầu, khí gas.

    III.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG NHẬT BẢN

     

    1.     Hạn ngạch nhập khẩu

    Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu của các loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Vào đầu và giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và Thương mại (MITI) sẽ phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi trong giấy thông báo nhập khẩu. Thông báo nhập khẩu quy định trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nhà nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản

    __________________________________________________________

    _____________

    29

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công Nghiệp và Thương mại.

    Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập và hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phân cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau :

    • Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu : hạn ngạch được phân bố căn cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.
    • Chế độ theo dõi việc thông quan : việc phân bổ căn cứ vào tổng số lượng hạn ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian trước.
    • Chế độ thông báo chính thức : việc phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hạn ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo chính thức gửi cho các nhà nhập khẩu.
    • Chế độ theo đơn đặt hàng : hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.
    • Chế độ theo đầu doanh nghiệp : là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá hạn ngạch được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ này thường được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.
    • Chế độ ai xin trước được trước : hạn ngạch được phân theo nguyên tắc ai xin trước được trước cho đến khi đạt đến một nửa số lượng hay giá trị qui định.
    • Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bổ hạn ngạch: theo chế độ này, các quan chức Bộ Công Nghiệp và Thương mại và các Bộ khác sẽ bàn bạc để quyết định hạn ngạch phân bổ cho các nhà nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    30

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restrain: VER) là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa trong khoảng một thời gian nào đó. Hay nói cách khác hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu tự nguyện chấp nhận nhằm ngăn chặn trước những mối đe doạ lớn hơn và những hạn chế khác đối với thương mại của mình.

    Xét về hình thức, VER cũng giống như hạn ngạch nhập khẩu, đều làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch và làm cho giá cả hàng hoá tăng lên theo quy luật cung cầu. Tuy nhiên, xét về lợi ích thì đối với nước xuất khẩu VER sẽ có lợi hơn vì mặc dù số lượng xuất khẩu bị hạn chế nhưng giá cả hàng hoá lại tăng lên và phần thu nhập tăng thêm này các nhà xuất khẩu sẽ nhận được, trái ngược với hạn ngạch nhập khẩu, phần thu tăng thêm thuộc về các nhà nhập khẩu. Chính vì vậy, chính phủ Nhật Bản trong các cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề mâu thuẫn mậu dịch đã cố gắng ký được các hiệp định về VER thay cho việc để các nước bạn hàng ban hành các hàng rào mậu dịch.

    Nếu như trước đây, Nhật Bản chỉ phải thực hiện VER đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động do có những mâu thuẫn mậu dịch nảy sinh thì đến nay, Nhật Bản đã thực hiện VER đối với rất nhiều loại hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường Mỹ và Tây Âu như các sản phẩm sắt thép, nhiều loại sản phẩm máy móc công nghiệp, ôtô, tivi màu và đầu video…

    Trong đó, tự nguyện hạn chế xuất khẩu ôtô sang thị trường Mỹ là một trong những ví dụ điển hình. Đứng trước nguy cơ bị phá sản vì không thể cạnh tranh nổi các loại ôtô có chất lượng cao và tiêu tốn ít nhiên liệu của Nhật Bản, các nhà sản xuất ôtô Mỹ đã đấu tranh đòi chính phủ phải có những chính sách bảo hộ và kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật Bản đã chấp nhận thực hiện VER đối với các loại ôtô xuất khẩu sang Mỹ. Việc thực hiện VER trong khi có lợi cho nhà sản xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải chịu giá ô tô tăng lên.

    __________________________________________________________

    _____________

    31

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Theo yêu cầu của các chính phủ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản đã trực tiếp điều hành việc phân phối VER cho các ngành công nghiệp và các công ty trong nước. Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn hàng sẽ được phân phối cho các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành bởi MITI dựa trên cơ sở của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cũng được thực hiện thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối giữa các ngành có liên quan. Việc phân phối hạn ngạch xuất khẩu cố định cho các nhà xuất khẩu sẽ làm giảm cạnh tranh, giữ giá cả ở mức cao làm tổn hại đến người tiêu dùng và những ngành công nghiệp trong nước sử dụng những sản phẩm trung gian được sản xuất theo chế độ VER làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm khác.

    Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiệu quả. Nó có thể giúp làm giảm khối lượng thặng dư mậu dịch của Nhật Bản nhưng cũng đồng thời làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu dịch dẫn đến giảm hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc tế. Từ đó dẫn đến ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc trực tiếp sang thị trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứ ba mà từ đó sản phẩm sẽ được xuất khẩu sang thị trường các nước khác. Theo thống kê năm 1990, trong khi xuất khẩu ôtô của Nhật Bản theo VER sang Mỹ đã giảm xuống dưới 2,4 triệu xe, nhưng sản xuất ôtô của Nhật Bản ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7 triệu xe.

    VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của GATT và việc huỷ bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay về các thương thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp định về VER của Nhật Bản đã được huỷ bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với thép và các sản phẩm thép vào tháng 3-1992, máy công cụ vào tháng 12-1993, ôtô khách vào tháng 3-1994, đồ gốm sứ vào tháng 12-1994.

    __________________________________________________________

    _____________

    32

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    3. Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác :

    Ngoài các chế độ hạn ngạch nói trên, ở Nhật Bản còn có một số chế độ khác như :

    • Chế độ cho phép nhập khẩu : là chế độ theo đó người nhập khẩu muốn nhập khẩu phải được sự đồng ý của các tỉnh nhập hàng, hàng nhập khẩu có định mức được qui định trong nguyên tắc chi tiết của Luật quản lý thương mại.
    • Chế độ định mức nhập khẩu phối hợp : chế độ này căn cứ vào mối quan hệ cung cầu trong nước để hạn chế số lượng hoặc giá trị của hàng hoá nhập khẩu.
    • Chế độ báo cáo nhập khẩu : chế độ này được qui định cũng nhằm để hạn chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu.

    4.                 Giấy phép nhập khẩu

    Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ cấp giấy phép nhập khẩu. Hiệp định này đòi hỏi hệ thống giấy phép nhập khẩu phải rõ ràng và dự đoán trước được, đồng thời các bên phải công bố cho các thương nhân những thông tin đầy đủ về các loại giấy phép được cấp. Thời hạn tối đa cho các cơ quan quốc gia xem xét đơn xin phép nhập khẩu là 60 ngày.

    • Nhật Bản, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của MITI nhưng các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu :
    • Hàng hoá nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu.
    • Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu.
    • Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.
    • Hàng hoá đòi hỏi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác

    nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các

    __________________________________________________________

    _____________

    33

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan.

    Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi giấy phép nhập khẩu đã được cấp.

    5. Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ qui định trong đó áp dụng mức thuế bằng

    • hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui định nhằm đảm bảo cung cấp những hàng hoá với giá rẻ cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Có nhiều cách tính số lượng để áp dụng mức thuế suất lần 1 nhưng hiện nay ở Nhật Bản, phương pháp tính số lượng phổ biến là lấy số lượng dự đoán nhu cầu trong nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.

    Khi Nhật Bản thực hiện tự do hoá thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế được sử dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay gắt của sản xuất trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá. So với qui định hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số lượng nhất định thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng qui định, nhưng phải chịu thuế mức thuế suất lần 2 đối với phần vượt đó. Theo nguyên tắc của GATT, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch nhập khẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối với từng nước.

    Chế độ hạn ngạch này được xây dựng dựa trên sự đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, đối với mỗi danh mục hàng hoá chính phủ đều phải nghiên cứu ưu và nhược điểm của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét

    __________________________________________________________

    _____________

    34

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đến tình hình cung cầu, thời hạn áp dụng, thực trạng sản xuất trong nước … và tiến hành cách thức áp dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.

    Bảng 4: Các mặt hàng thuộc đối tượng của việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế (tính đến năm 1992), cụ thể như sau :

    ST Hàng hoá Thời hạn bắt     Mức thuế
    T đầu áp dụng Lần 1   Lần 2
       
    1 Bò thịt giống 4/1972   0   45.000 yên/con
    2 Pho mát tự nhiên 10/1970   0   35%
    3 Yến mạch 4/1971   0   10%
        4/1965   0   50% hoặc 12
    4 Ngô     yên/kg tuỳ theo
    4/1989   10%  
            cách nào cao hơn
               
    5 Lúa mạch 10/1974   0   25 yên/kg
    6 Đường  mật  dùng  để 4/1987   0   18 yên/kg, 25%
    nấu rượu    
               
    7 Cacao để làm sôcôla 4/1988   0   25%
    (không đường)    
               
    8 Cà chua dạng tương, 7/1989   0   20%
    cà chua bột    
               
    9 Dứa hộp 4/1990   0   30%
    10 Cồn để sản xuất rượu.. 4/1972   0   44.8 yên/1,20.2%
        96 yên/1,17.9%
               
            0    
    11 Dầu nặng và dầu thô 4/1972   2.770 yên/kl   3.750 yên/kl
      2.580 yên/kl  
               
            2.520 yên/kl    
    12 Da (ngựa, cừu, dê) 4/1986   20%   60%

    __________________________________________________________

    _____________

    35

     

      Khoá luận tốt nghiệp   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9
               
            15%  
      13 Giầy da 4/1986 27% 60% hoặc 4.800
      21.6% yên/đôi tuỳ theo
            30% cách nào cao hơn

    Nguồn: Thuế xuất nhập khẩu Nhật Bản

    6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tuỳ thuộc mỗi nước mà có các biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Thị trường Nhật Bản luôn là một thị trường có nhiều điểm khác biệt mang tính đặc trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là rất quan trọng, nhưng ở thị trường Nhật Bản, chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất quan tâm tới chất lượng mặt hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hoá của Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu quốc tế và thông thường, hàng hoá nước ngoài muốn xâm nhập thị trường Nhật Bản thì trước hết phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này.

    Hiện nay, hệ thống dấu chất lượng ở Nhật Bản bao gồm nhiều loại qui định cho những hàng hoá khác nhau, trong đó hai dấu chứng nhận chất lượng được sử dụng phổ biến là : dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và dấu chứng nhận công nghiệp Nhật Bản (JIS)

    6.1 Dấu JAS (tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản):

    Luật về tiêu chuẩn hoá các nông lâm sản và hợp lý hoá các nhãn hiệu chất lượng thường được gọi là Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản hay Luật JAS. Luật này qui định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các qui định áp dụng đối với các sản phẩm được phát hành theo định kỳ. Các qui định này xác định

    __________________________________________________________

    _____________

    36

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    phạm vi áp dụng của luật, nêu ra định nghĩa về các sản phẩm tiêu chuẩn JAS, xác định các tiêu chuẩn về chất lượng cần được thoả mãn và các phương pháp đánh giá chất lượng.

    Việc sử dụng dấu chứng nhận phẩm chất JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như những người bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng JAS. Tuy nhiên, việc ghi nhãn sản phẩm là bắt buộc đối với những sản phẩm do Bộ nông – lâm- ngư nghiệp qui định. Các nhà sản xuất muốn được dán nhãn hiệu chất lượng JAS lên các sản phẩm của họ thì phải thông qua các tổ chức giám định để đánh giá chất lượng của hàng hoá đó.

    Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS bao gồm : đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông lâm thuỷ sản chế biến. Đa số các sản phẩm như thực phẩm đóng hộp, nước hoa quả, các sản phẩm chế biến từ cà chua, dăm bông, thịt lợn hun khói được sản xuất tại Nhật đều mang dấu chất lượng JAS.

    Các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể được cung cấp dấu chứng nhận phẩm chất JAS nếu họ đạt các tiêu chuẩn do JAS đề ra. Việc giám định các tiêu chuẩn này có thể lấy kết quả của các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ trưởng Bộ nông- lâm- ngư nghiệp chỉ định.

    6.2 Dấu JIS (tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản):

    Dấu này cũng tương tự như dấu JAS nhưng là áp dụng đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản như vải, quần áo, lò sưởi, các thiết bị điện, giầy dép, bàn ghế, đồ dùng nấu nướng, dụng cụ thể thao, nhạc cụ và các loại sản phẩm khác đòi hỏi phải được tiêu chuẩn hoá về chất lượng và kích cỡ hay các qui cách phẩm chất khác. Dấu này lúc đầu được áp dụng để tạo ra một chuẩn mực về chất lượng cho các sản phẩm xuất khẩu khi Nhật Bản bắt đầu bán sản phẩm của mình ra nước ngoài.

    __________________________________________________________

    _____________

    37

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS chỉ được áp dụng đối thoả mãn các yêu cầu về chất lượng của JIS. Do đó khi kinh này chỉ cần kiểm tra dấu chất lượng tiêu chuẩn JIS là đủ để của chúng và người tiêu dùng Nhật Bản cũng thích chọn đóng dấu chất lượng JIS.

    với những sản phẩm doanh các sản phẩm xác nhận chất lượng những sản phẩm có

    Ngoài hai loại dấu chứng nhận phẩm chất trên, ở Nhật Bản còn có một số loại dấu chứng nhận phẩm chất khác, trong đó có những dấu mang tính bắt buộc như dấu S và những dấu mang tính tự nguyện như dấu G, dấu Q là hai loại dấu chuyên ngành hiện đang sử dụng rộng rãi.

    Dấu S được cấp cho các sản phẩm có đủ độ an toàn, dùng cho nhiều chủng loại hàng hoá dành cho trẻ em, đồ dùng gia đình, dụng cụ thể thao.

    Dấu G được áp dụng đối với các sản phẩm có thiết kế đạt tiêu chuẩn. Các sản phẩm được đóng dấu này được bộ phận giám định thiết kế của MITI lựa chọn trên cơ sở độ an toàn, độ bền, màu sắc và các đặc tính khác cùng với thiết kế. Các đồ gia dụng được lựa chọn để mang dấu chất lượng thiết kế là các sản phẩm dệt như rèm cửa, chăn, đồ nội thất, đồ điện, các thiết bị nghe nhìn, đồ thuỷ tinh và đồ uống. Hiện nay có khoảng 500 sản phẩm được cấp dấu G.

    Dấu Q được cấp cho các sản phẩm dệt có chất lượng cao. Dấu này được Viện giám định các sản phẩm dệt của MITI cấp sau khi tiến hành các cuộc giám định chất lượng đối với sản phẩm. Ban đầu dấu Q chỉ được cấp cho các sản phẩm quần áo trẻ em, về sau dấu này được cấp cho các loại sản phẩm phải trải qua rất nhiều cuộc kiểm tra về các đặc tính khác nhau như độ bền, độ co, độ phai và chất lượng của thiết kế.

    Bên cạnh đó cũng có một số loại dấu khác có các quy định về quy cách phẩm chất tương tự như của dấu JIS chẳng hạn như dấu “Len” có thể được áp dụng đối với các loại quần áo len may sẵn theo các tiêu chuẩn về quy cách phẩm

    __________________________________________________________

    _____________

    38

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    chất JIS hay như dấu SIF cấp cho các hàng may mặc có chất lượng tốt như quần áo nam, nữ, ba lô và các sản phẩm phục vụ thể thao.

    • Nhật có nhiều dấu chất lượng khác nhau, do các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức giám định đặt ra. Trong một số trường hợp các dấu này trùng nhau và một sản phẩm có thể cùng một lúc mang nhiều hơn một dấu.

    Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào các dấu chất lượng trên bao bì vì họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hoá được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định xâm nhập vào thị trường Nhật cần có được dấu chứng nhận phẩm chất cho sản phẩm của họ để đảm bảo rằng các sản phẩm này đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu của thị trường Nhật, từ đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tiêu thụ hàng hoá. Hơn nữa, nếu chất lượng của một sản phẩm đã được thị trường Nhật Bản chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở các thị trường khác.

    Nhiều nhà xuất khẩu hay sản xuất nước ngoài tại Nhật Bản cho rằng những tiêu chuẩn người Nhật đề ra là quá cao và việc đáp ứng được những tiêu chuẩn đó là không thể được vì quá tốn kém. Ngược lại, nhiều nhà xuất khẩu nhận thức là phải đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và độ an toàn của hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản và họ đã đạt được kết quả kinh doanh tốt.

    7. Keiretsu (Hệ thống)

    Keiretsu là một hệ thống kinh tế và tổ chức kinh doanh kiểu Nhật Bản và thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản. Nó được thành lập vào đầu những năm 60, khi các thị trường chứng khoán của Nhật Bản đã trở nên rất yếu kém. Các cổ phiếu của các công ty lớn lâm vào tình trạng ế ẩm, giá tụt xuống rất nhanh. Họ đang trong tình trạng có thể bị các đối thủ mạnh khác giành quyền kiểm soát. Theo đó, việc ra đời các tập đoàn này là một biện pháp đối phó hợp lý cho sự tồn tại của họ.

    __________________________________________________________

    _____________

    39

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Trong nền kinh tế Nhật Bản hiện nay có 8 tập đoàn lớn được xếp vào Keiretsu bao gồm Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Fuyo, DKB, Sanwa, Tokai và IBJ. Các tập đoàn này được tổ chức xoay quanh các ngân hàng và các tổng công ty thương nghiệp. Các công ty thành viên của mỗi tập đoàn được liên kết với nhau qua 3 yếu tố then chốt, đó là:

    • Nắm chéo các cổ phần của nhau.
    • Các mối quan hệ nhân sự.
    • Vấn đề tài chính bên trong.

    Việc nắm giữ cổ phần đan xen, chiếm một số vốn lớn gần 35% toàn bộ số vốn của nền kinh tế Nhật Bản cùng đội ngũ quản lý điều hành công việc với mục tiêu tạo ra lợi nhuận tối đa trong một thời gian dài đã cho phép các tập đoàn này khống chế thị trường trong thời kỳ mở rộng kinh tế, thủ tiêu cạnh tranh trong các thời kỳ suy thoái, bảo vệ lẫn nhau khỏi sự phá sản và thoát ra khỏi mối đe doạ bị mất quyền kiểm soát canh tranh. Các mạng lưới phân phối của Keiretsu còn cho phép kiểm soát giá bán lẻ. Chính vì vậy trung bình mỗi người tiêu dùng Nhật Bản phải trả giá cao hơn từ 30% đến 40% so với người tiêu dùng phương Tây đối với các sản phẩm cùng loại.

    Keiretsu là một trong số những đặc trưng nhất của nền kinh tế Nhật Bản và đã cung cấp một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác không thể địch được, nó tạo ra một hàng rào ngăn cản mậu dịch chính cho các bạn hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.

    8. Hệ thống phân phối Nhật Bản

    Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản sau chiến tranh có nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng riêng của nền kinh tế Nhật mà các nước khác không có như Keiretsu, hệ thống phân phối …

    __________________________________________________________

    _____________

    40

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Hệ thống phân phối bao gồm tất cả các khâu mà thông qua đó sản phẩm được đưa từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Hệ thống phân phối Nhật Bản hết sức phức tạp, có các đặc điểm chủ yếu sau phân biệt với hệ thống phân phối của các nước khác :

    • Có nhiều cửa hàng bán lẻ. Nói cách khác, mật độ cửa hàng bán lẻ rất đông.
    • Giữa nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân phối trung gian.
    • Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ.
    • Giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ có sự câu kết chặt chẽ, thể hiện ở chỗ : các nhà sản xuất sẽ cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng hoá nếu không bán được … Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hoá của các nhà sản xuất nhất định, không kinh doanh các hàng hoá của các nhà sản xuất khác kể cả các nhà sản xuất trong nước. Mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với các nhà phân phối, bán lẻ rất khăng khít, bền vững khiến cho hàng hóa nước ngoài rất khó thâm nhập thị trường Nhật Bản và mở rộng đại lý tiêu thụ hàng.

    Hệ thống này đã góp phần bảo hộ cho những sản phẩm sản xuất trong nước một thời gian khi những sản phẩm này chưa đủ sức cạnh tranh nhưng dần dần cùng với sự thay đổi của tình hình trong, ngoài nước, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế mà nếu tiếp tục duy trì, không thay đổi thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu tới kinh tế như làm cho giá hàng hoá đắt lên nhiều lần khi tới tay người tiêu dùng, giảm bớt tính minh bạch của việc định giá, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là chắc chắn vấp phải sự phản kháng của các nhà kinh doanh nước ngoài.

    Kể từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ vào cuối những năm 80 làm cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ gặp nhiều khó khăn cùng với những tác động từ bên ngoài như quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mâu thuẫn với các nước bạn hàng tăng do mất cân đối trong mậu dịch

    __________________________________________________________

    _____________

    41

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    buôn bán … điều đó đòi hỏi muốn tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải tích cực tự do hoá, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu của mình trong đó có hệ thống phân phối khép kín và bài ngoại. Cho đến nay, hệ thống này được thay đổi theo hướng tích cực bằng nhiều biện pháp khác nhau như các nhà phân phối có thể tự do bán các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các sản phẩm nhập khẩu, tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực thuộc tập đoàn chế tạo ôtô Nissan đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng Ford và được độc quyền bán các ôtô Ford tại Nhật Bản; các siêu thị lớn thực hiện hệ thống “phát triển và nhập khẩu” tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài, chẳng hạn như Tổng công ty siêu thị lớn nhất Nhật Bản – Daiei đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và các đồ gia dụng để bán …

    9.                 Quản lý ngoại tệ

     

    • Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản – Ngân hàng trung ương của Nhật Bản – là nơi tập trung các nguồn thu ngoại tệ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động ngoại thương thông qua những chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất.

    Khác với các nước khác, ngân hàng Nhật Bản được phân loại theo những lĩnh vực hoạt động khác nhau như ngân hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng tín dụng dài hạn … để cung cấp vốn một cách hiệu quả. Những loại ngân hàng này đã trợ giúp cho các công ty Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh vì vốn của họ tích lũy được còn rất thấp, phải dựa chủ yếu vào các khoản tiền đi vay. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các công ty Nhật Bản với số vốn ngày càng lớn đã làm thu hẹp sự khác biệt giữa các kênh cung cấp vốn khác nhau.

    Biện pháp trên được thực hiện chủ yếu trong các thập niên trước.Bước sang những năm gần đây, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vươn lên trở thành một trong những cường quốc kinh tế hùng mạnh của thế giới, ngân hàng Nhật

    __________________________________________________________

    _____________

    42

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bản thường hay sử dụng biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên việc quản lý ngoại tệ của mình.

    Một biện pháp gián tiếp khác Nhật Bản sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hoá trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế là đưa ra lãi suất tiền gửi cao để thu hút tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, giảm mức tiêu thụ của người dân.

    Ngoài ra, Nhật Bản còn sử dụng nhiều biện pháp khác như hạn chế những giao dịch ngoại tệ, chỉ cho phép một tỷ lệ % nhất định về việc chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài.

    IV.             TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    1.Hoạt động xuất khẩu:

    1.1 Kim ngạch xuất khẩu

    Đối với một nước nghèo tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản thì ngoại thương đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế.

    Trước đây, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật trong tổng xuất khẩu thế giới rất thấp. Xuất khẩu thì ngoài tàu thuyền, các mặt hàng chủ yếu là những sản phẩm công nghiệp nhẹ, công nghiệp thô sơ như vải, quần áo, giày dép mà phẩm chất chưa có uy tín trên thế giới. Để đẩy mạnh xuất khẩu, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như : “Luật về tỷ giá hối đoái và kiểm soát mậu dịch” hay chính sách giảm thuế đối với các khoản tiền thu từ xuất khẩu, thực hiện thuế ưu đãi đối với các ngành xuất khẩu. Nhờ đó đã giúp Nhật Bản có một lợi thế đáng kể trong việc mở rộng xuất khẩu.

    Trong giai đoạn này, chính phủ Nhật Bản đã thành lập nên các ngân hàng hỗ trợ phát triển, ngân hàng xuẩt khẩu để cung cấp vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Xuất khẩu của Nhật Bản liên tục tăng, ngày càng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường quốc tế làm cho thặng dư mậu dịch của Nhật Bản tăng mạnh.

    __________________________________________________________

    _____________

    43

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Ngoài ra, chính phủ còn thiết lập các tổ chức, cơ quan yểm trợ như Tổ chức xúc tiến mậu dịch JETRO để đẩy mạnh xuất khẩu. Mức tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản đạt bình quân trên 10% một năm.

    Vào những năm 90, khi cán cân mậu dịch giữa Nhật Bản và các nước ngày càng thặng dư, để tránh xảy ra mâu thuẫn xung đột, ngân hàng trung ương Nhật Bản đã thực hiện tăng lãi suất làm cho hoạt động xuất khẩu tăng chậm. Sau khi lượng hàng xuất khẩu giảm nhẹ vào năm 1990 với tỷ phần 2,1% tổng xuất khẩu của Nhật các năm sau tăng lên một cách vững chắc đạt 5% vào năm 1995 và 6,3% vào năm 2000.

    2.1 Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.

    Sự điều chỉnh trong chính sách sản phẩm xuất khẩu gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật. Trong thời kỳ đầu những năm 60, Nhật bản chủ yếu xuất khẩu hàng thô sau dố chuyển sang các hàng háo , sản phẩm công nghiệp nhẹ. Bước tiếp theo Nhật Bản chuyển sang khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng và sản phẩm hoá chất. Việc xuất khẩu máy móc thiết bị có sự gia tăng mạnh trong suốt hai thập kỷ gần đây.

    Bảng 5: Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản

                    Tỷ lệ %
                     
      Loại sản phẩm 1960 1970 1980 1997 1998 1999 2000
                     
    1. Lương thực thực phẩm 6,6 3,5 1,2 0,5 0,5 0,5 0,4
                     
    2. Sản phẩm dệt may 30,2 12,5 4,8 2,0 1,9 1,9 1,8
                     
    3. Hoá chất 4,2 6,4 5,2 7,1 7,0 7,4 7,4
                     
    4. Kim loại 13,8 19,7 14,6 6,4 6,3 5,7 5,5
                     
    5. Máy móc thiết bị 25,3 46,3 62,8 73,8 73,6 74,5 70,0
                     
      – Thiết bị thông dụng 5,5 10,4 13,9 23,8 22,5 21,4 21,5
                     
      – Thiết bị điện 6,8 14,8 17,5 23,6 23,2 24,4 26,5
                     

    __________________________________________________________

    _____________

    44

     

      Khoá luận tốt nghiệp     Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
                         
        – Thiết bị vận tải 2,6 6,9 17,9 14,0 15,4 14,9 13,4  
                         
        – Thiết bị chính xác 7,1 7,3 3,6 2,3 2,6 2,4 2,2  
                         
      6. Sản phẩm phi kim loại 3,6 1,9 1,4 1,2 1,1 1,1 1,2  
                         
      7. Sản phẩm khác 16,8 9,8 8,1 9,0 9,5 10,0 9,5  
                         

    Nguồn: – Japan Almanac 2002

    – Tổng giá trị xuất khẩu là 100%

    2.     Hoạt động Nhập khẩu

     

    • những thập niên trước, bằng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngoại tệ, nền kinh tế của Nhật Bản đã đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng, dần dần tham gia trở lại vào các quan hệ mậu dịch quốc tế, gia nhập các tổ chức thương mại, kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để tiếp tục đà tăng trưởng cao, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì các biện pháp nói trên và chưa gia nhập hoàn toàn mà mới chỉ gia nhập bảo lưu một số một điều khoản. Ví dụ, tháng 12-1955, Nhật Bản gia nhập GATT nhưng xin hoãn áp dụng điều 11 của tổ chức này mà theo đó các nước thành viên không được hạn chế nhập khẩu vì lý do cán cân thanh toán bị nhập siêu. Sau đó, khi Nhật Bản trở thành nước gia nhập điều thứ 11 của GATT, nhập khẩu của Nhật Bản có tăng nhưng chậm.

    Nhật Bản đã đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ khiến cả thế giới kinh ngạc, nhiều ngành sản xuất trong nước vươn lên có sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Vì vậy, Nhật Bản đã giảm mạnh về thuế quan đối với nhiều danh mục hàng hoá. Mức độ giảm thuế quan của Nhật nói chung là lớn so với các nước khác và là mức thuế quan nhập khẩu thấp nhất so với các nước phát triển. Thêm vào đó, Nhật Bản đã đơn giản hoá các thủ tục kiểm tra hải quan tạo điều kiện cho việc nhập khẩu.

    Kể từ sau năm 1980, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đổi mới trong việc tự do hoá trao đổi ngoại tệ và bắt đầu nới lỏng quy chế về các thị trường tài chính

    __________________________________________________________

    _____________

    45

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trong nước, hệ thống viễn thông nhằm khuyến khích sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã thông báo và thực hiện hàng loạt các “chương trình trọn gói” về các biện pháp khuyến khích xuất nhập khẩu một cách toàn diện bao gồm việc giảm hoặc xoá bỏ thuế quan, xoá bỏ hạn ngạch, cải tiến các thủ tục nhập khẩu, cử những phái đoàn vận động nhập khẩu ra nước ngoài, mở các hội chợ nhập khẩu ở Nhật Bản. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã đổi mới khoảng 100 nguyên tắc liên quan đến các thủ tục nhập khẩu, các tiêu chuẩn hàng hoá, vấn đề kiểm dịch …

    Những chính sách này giúp cho nhập khẩu tăng lên. Đến tháng 12-1987, Nhật Bản tiếp tục điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên 122 Yên = 1USD. Trước đó, vào 30-7-1985, chính phủ Nhật Bản đã thông báo một “Chương trình hành động” với mục tiêu đạt được mở cửa thị trường Nhật Bản vượt mức quốc tế hiện hành. Chương trình này bao gồm những biện pháp đặc biệt để cải thiện sự mở cửa của thị trường Nhật Bản trên 6 lĩnh vực : giảm thuế quan hạn ngạch các tiêu chuẩn chứng nhận và thủ tục nhập khẩu, sự thu mua của chính phủ, thị trường tài chính, vốn, các dịch vụ và khuyến khích nhập khẩu. Cụ thể :

    • Về hàng rào thuế quan : chương trình bao gồm việc huỷ bỏ hoặc giảm thuế quan đối với 1853 mặt hàng.
    • Về hàng rào phi thuế quan : tiến hành một cuộc cải cách căn bản về các tiêu chuẩn và chứng nhận đối với hàng hoá và các thủ tục nhập khẩu như chuyển đổi từ hệ thống chứng nhận của chính phủ sang hệ thống tự chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng và chủng loại hàng hoá, giảm hơn nữa hoặc huỷ bỏ hệ thống các qui định về tiêu chuẩn hàng hoá và chấp nhận các số liệu kiểm tra hàng hoá và thiết kế của các cơ quan nước ngoài; sửa đổi lại một cách toàn diện các điều luật và quy tắc.

    Các biện pháp tự do hoá này đã mở đường cho nhiều hàng hoá của Mỹ như các thiết bị điện tử, máy vi tính, ôtô, phụ tùng ôtô, nông sản phẩm … tràn vào thị

    __________________________________________________________

    _____________

    46

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trường Nhật Bản. Ngoài ra, ngày càng có thêm nhiều nước đang phát triển khác cũng tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang Nhật.

    Nhập khẩu của Nhật Bản đã liên tục tăng nhanh từ mức 3,8% năm 1993, 13,5% năm 1994 lên 22,5% năm 1995 và khoảng 12,6% năm 1996 – tức là cao nhất trong các nước G7, cao hơn hẳn mức trung bình của các nước công nghiệp phát triển (5,3%), các nước EU (3,7%) và còn cao hơn các nước đang phát triển (11,3%).

    Trong năm 1999, tỷ lệ thuế quan trung bình của Nhật Bản giảm từ 3,9% xuống 1,7% trong đó tỷ lệ thuế quan chính thức của các sản phẩm công nghiệp (trừ một số trường hợp ngoại lệ) được giảm xuống mức rất thấp, thậm chí nhiều loại sản phẩm được huỷ bỏ thuế quan hoàn toàn.

    Tới năm 2000, Nhật Bản cũng đã chuyển dần từ hình thức bảo hộ phi thuế quan sang hình thức thuế quan (trừ gạo) và sẽ giảm đi khoảng 36% đối với các sản phẩm nông nghiệp. Có lẽ, với chính sách đó, nông phẩm của các nước trong đó có Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Nhật Bản dễ dàng hơn.

    Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu :

    Mức thuế bình quân của Nhật Bản rất thấp, khoảng 2,7% (năm 1990) nhưng cũng rất phức tạp. Mức thuế của mỗi mặt hàng được xây dựng dựa trên tình hình sản xuất trong nước của mặt hàng đó. Nhìn chung, mức thuế đánh vào nguyên liệu, các sản phẩm công nghiệp có xu hướng thấp còn nông phẩm thì cao.

    Trước kia, thuế đánh vào nguyên liệu thấp và ngày càng cao khi tỷ lệ gia công ngày càng lớn. Nhưng hiện nay, dưới sức ép của các nước bạn hàng, mức thuế đánh vào thành phẩm đã giảm để tạo điều kiện cho nhập khẩu.

    Xét riêng từng ngành, mức thuế đối với các mặt hàng như sau :

    __________________________________________________________

    _____________

    47

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 20% tổng số hàng nông sản, còn lại là những mặt hàng phải chịu thuế trong đó hơn một nửa có mức thuế lên tới 15%. Trong đó :
    • Các sản phẩm từ động vật : thịt trên 10%, hải sản 5 ~ 15%
    • Các sản phẩm từ thực vật : hoa 0%, hoa màu 0 ~ 10%
    • Các sản phẩm chế biến như kem, rượu …: 10 ~ 40%
    • Các sản phẩm công nghiệp, khoáng sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 40% trong đó chủ yếu là khoáng sản, máy móc. Các mặt hàng như gỗ, dệt, da thuộc … có mức thuế tương đối cao.
    1. Gạo, lúa mỳ:
    • Nhật Bản, do môi trường chung không thuận lợi cho nông nghiệp nên sản xuất lúa gạo có quy mô nhỏ. Giá thành gạo sản xuất ở Nhật Bản cao gấp 4-5 lần ở Mỹ, 7-8 lần ở Thái Lan. Vì vậy, mức độ cần thiết bảo hộ để duy trì sản xuất là vô cùng cao.

    Từ sau chiến tranh, việc sản xuất, nhập khẩu lúa gạo chịu sự điều chỉnh của Luật quản lý lương thực, theo đó nếu muốn nhập khẩu gạo, lúa mỳ, lúa mạch thì cần thiết phải được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ nông thuỷ sản. Sau khi được phép mới tiến hành nhập khẩu và rồi bán luôn cho Bộ nông thủy sản (gọi là chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ). Còn gạo sản xuất trong nước thì nhà nước sẽ thu mua với giá được tính theo công thức thiết lập để duy trì thu nhập từ nông nghiệp ở mức trung bình của quốc gia. Đồng thời, lúa gạo cũng là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ thuộc Luật thương mại quản lý nhập khẩu).

    Từ quan điểm cho rằng phải tự cung lương thực, chính phủ Nhật Bản đã đứng ra quản lý hoàn toàn việc sản xuất cũng như nhập khẩu gạo, do vậy mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu không cao trừ những trường hợp phải nhập khẩu do

    __________________________________________________________

    _____________

    48

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thiếu gạo. Hiện nay, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 40.000 tấn gạo mà chủ yếu là dùng vào mục đích đặc biệt như chế biến rượu Sake ở Okinawa.

    Lúa mỳ, cũng như gạo, là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu. Hầu như toàn bộ lúa mì sản xuất trong nước đều do nhà nước kiểm soát. Trong quá trình công nghiệp hoá tiến lên một nước công nghiệp phát triển, người tiêu dùng Nhật Bản ngày càng chuyển từ món ăn truyền thống là gạo sang các món ăn theo kiểu phương Tây và lẽ dĩ nhiên, việc tiêu thụ lúa mì sẽ tăng lên dẫn đến mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu ngày càng lớn. Hàng năm, Nhật Bản phải nhập khẩu hơn 5 triệu tấn lúa mỳ.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu lúa mỳ

    800         Khối lương Nhập  
            Khối lượng SX  
    600          
             
                     
                     
                     

    400

    200

    0

    1980                         1985                          1990                          1995

    Nguồn: Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Các sản phẩm sữa, tinh bột

    Các sản phẩm sữa, tinh bột vừa là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ) vừa phải chịu thuế. Nguyên nhân xuất phát từ chỗ có một số loại thuộc sản phẩm sữa và tinh bột không nhập khẩu theo chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ nên không bị đánh thuế thì sẽ phải chịu hạn chế về số lượng nhằm tránh sự ảnh hưởng đến giá hàng hoá trong nước do giá nhập khẩu thấp.

    Cho dù hạn ngạch nhập khẩu trái với nguyên tắc của GATT nhưng cho đến nay, các sản phẩm sữa, tinh bột vẫn không được phép nhập khẩu tự do.

    Biểu đồ 5: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu của sữa bột tách bơ (1), tinh bột (2)

     

    __________________________________________________________

    _____________

    49

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    250

    200

    150

    100

    50

    0

     Khèi l−îng nhËp khÈu

     Khèi l−îng nhËp khÈu                                   3000

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2500

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2000

    1500

    1000

    500

    0

    1980             1985            1990             1995                           1980             1985            1990             1995

    Nguồn : Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Thịt bò, cam :

     

    Nhật Bản vốn là một nước nông nghiệp nhưng điều kiện sản xuất chăn nuôi khó khăn. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn cố gắng áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất cao nhằm đáp ứng được nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao khiến cho thịt lấy từ vật nuôi của Nhật Bản như thịt bò không thể nào cạnh tranh được với thịt bò nhập khẩu. Vì vậy nó cần được chính phủ bảo hộ, đưa vào danh sách những mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu.

    Nhưng dưới sức ép nhiều phía, sau những đàm phán với Mỹ và Ôxtrâylia về thịt bò, với Mỹ về cam, Nhật Bản thực hiện tự do hóa thịt bò, cam vào tháng 4-1991, nước cam vào tháng 4-1992.

    Nhật Bản đã có nhiều cố gắng để dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với thịt bò, cam nhưng cũng không thể nào tự do hoá hoàn toàn mà phải áp dụng mức thuế suất tương đối cao để bảo vệ sản xuất trong nước. Chính vì vậy, mức thuế của thịt bò sau khi thực hiện tự do hoá vào năm 1991 đã nâng lên 70% từ mức 25% của trước khi thực hiện tự do hoá. Sau đó nhờ hợp lý hoá trong quá trình sản xuất, chi phí giá thành giảm xuống nên mức thuế cũng được điều chỉnh hạ thấp dần xuống 60% vào năm 1992, đến năm 1993 còn 50%. Do vậy, lượng nhập khẩu thịt bò có xu hướng ngày càng tăng, một phần cũng do nhu cầu của người dân Nhật tăng lên. Tuy nhiên, trong trường hợp nhập khẩu thịt bò tăng nhanh thì chính phủ sẽ đề ra qui định tăng mức thuế mang tính khẩn cấp, bảo hộ (biện pháp áp dụng từ năm 1991 đến năm 1993).

    __________________________________________________________

    _____________

    50

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Đối với cam, sau khi xem xét, tính toán các yếu tố tác động, mức thuế vẫn không có gì thay đổi so với trước khi thực hiện tự do hoá : từ tháng 6 đến tháng 11/1992 : 20%, từ tháng 12/1992 đến tháng 5/1993 : 40%, nước cam (không đường) : 25% hoặc 30%.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu thịt bò

    1200 Khèi l−îng nhËp khÈu    
    Khèi l−îng s¶n xuÊt    
    1000    
         
    800      
    600      
    400      
    200      
    0      
    1980 1985 1990 1995

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Lâm sản

    Vào đầu những năm 90, nhu cầu về gỗ ở Nhật Bản vẫn tăng lên, đặc biệt là gỗ cho xây dựng và làm bột giấy. Nhưng sau đó, do giảm xây dựng nhà ở, nhu cầu lại giảm xuống 20% từ mức cao nhất. Gỗ có nhiều loại khác nhau nhưng ở đây sẽ đi sâu vào 3 loại gỗ chủ yếu :

    * Gỗ tròn:

    70% lượng gỗ tiêu thụ ở Nhật Bản là dựa vào nhập khẩu, do vậy mức thuế đánh vào mặt hàng này (trừ gỗ pơmu) chỉ 0%. Gỗ được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau như Mỹ, Canada, Malayxia, New Guinea … và được sử dụng làm ván ép, dùng để xây dựng, làm đồ nội thất…

    Hiện nay việc nhập khẩu gỗ tròn đang gặp vướng mắc do các nước xuất khẩu đang xem xét nâng giá xuất khẩu gỗ đồng thời Nhật Bản cũng bị chỉ trích trong việc gián tiếp gây ra hiện tượng phá rừng, làm huỷ hoại môi trường sinh thái ở các nước xuất khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    51

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    * Gỗ xẻ

    Gỗ xẻ là loại gỗ được xẻ từ gỗ tròn, dùng cho việc xây dựng, đồ dùng nội thất. Gỗ xẻ được nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và Canada.

    Mức thuế đối với gỗ SPF từ 4,8% đến 8%; gỗ lauan: 10%; còn lại nhiều loại gỗ khác không bị đánh thuế. (Gỗ SMF là gỗ xẻ từ các loại gỗ vân xam, gỗ thông, gỗ linh xam).

    * Gỗ ván ép

    Là những tấm gỗ mà người ta ghép dính những ván mỏng với số lượng lẻ

    vào nhau, được sử dụng để xây dựng, làm đồ nội thất trong gia đình …

    Trước đây, sản xuất ván ép của Nhật Bản để nhằm mục đích xuất khẩu nhưng gần đây nhập khẩu có xu hướng tăng lên, có đến 30% nhu cầu gỗ ván ép trong nước là phải nhập khẩu trong đó chủ yếu từ Indonexia. Gỗ ván ép phải chịu mức thuế tương đối cao so với các loại gỗ khác : 10 ~ 20%.

    Các ngôi nhà truyền thống của người Nhật thường được làm bằng gỗ. Do đó, nhu cầu về gỗ là rất lớn. Đặc biệt, vào những năm 89, 90, dưới tác động của nền kinh tế “bong bóng” làm cho giá đất tăng vọt, mọi người đổ xô vào xây dựng nhà khiến cho nhu cầu về nhập khẩu gỗ lên tới 1300 tỷ yên. Nhưng sau đó, khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, nhu cầu về gỗ cũng giảm theo. Điều này có thể thấy rõ qua biểu đồ dưới đây.

    Biểu đồ 7: Nhập khẩu các loại gỗ của Nhật Bản

    1400

    1200

    1000

    800

    600

    400

    200

    0

     G ç v¸n Ðp

     G ç x Î

     G ç trßn

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo – Bộ nông- lâm- thuỷ sản Nhật Bản, 1998

     

    1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991
    e. Dầu lửa, các sản phẩm dầu mỏ      

    __________________________________________________________

    _____________

    52

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dầu lửa có quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, nó không chỉ được sử dụng làm nhiên liệu mà còn sử dụng làm nguyên liệu để tạo ra tơ sợi hóa học, nhựa … Dầu lửa chiếm 89% trong cung cấp năng lượng chủ yếu của Nhật, cao hơn so với các nền kinh tế tiên tiến khác. Tuy nhiên kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu tiên, việc cắt giảm tiêu dùng dầu lửa và phát triển năng lượng nguyên tử và các nguồn năng lượng khác đã giúp Nhật Bản giảm sự lệ thuộc vào dầu lửa. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn phải dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng từ bên ngoài với mức độ lớn hơn bất kỳ nước phát triển nào khác. Do nhu cầu mở rộng sản xuất trong nước, nhập khẩu dầu lửa tăng nhanh vào những năm đầu thập niên

    1. Năm 1991, Nhật Bản nhập khẩu 236 triệu tấn kl tương đương với 30,2 tỷ USD, chiếm 13% trong tổng số tiền bỏ ra để nhập khẩu.

    Trước kia, Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu dầu naphatha, dầu nặng, nhưng từ năm 1986 lại nhập khẩu cả xăng, dầu phun, dầu nhẹ. Các sản phẩm nhập khẩu này đáp ứng 20% nhu cầu nhiên liệu dầu của Nhật Bản.

    Nhìn chung, đánh thuế là nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước (gọi là thuế bảo hộ) nhưng đối với Nhật Bản – một nước mà đến 99,7% dầu mỏ tiêu thụ trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu thì không cần thiết phải đánh thuế.

    Thuế đánh vào các sản phẩm dầu lửa ngoài chức năng là thuế bảo hộ còn thực hiện chức năng là thuế tài chính. Hàng năm, Nhật Bản vẫn xem xét, nghiên cứu để đưa ra một mức thuế phù hợp.

    Bảng 6 : Chương trình giảm thuế dầu lửa

    Sau

    Đến năm 1991    Từ 1992 đến 1996  Từ 1997 đến 2001

    2002

    Mức

    350 yên/kl                     315 yên/kl                          215 yên/kl                         0

    thuế

    Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản

    __________________________________________________________

    _____________

    53

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. Da thuộc

    * Da thuộc và các sản phẩm từ da

    Ngành sản xuất da thuộc của Nhật Bản phát triển dựa chủ yếu vào việc nhập khẩu da từ nước ngoài. Các doanh nghiệp tham gia vào ngành này phần nhiều có quy mô vừa, nhỏ hoặc rất nhỏ nên khả năng cạnh tranh quốc tế rất kém. Đặc biệt trong đó mặt hàng da thuộc và giầy da cho đến tháng 3-1986 vẫn là mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu, còn hiện nay nó chịu sự điều chỉnh của chế độ hạn ngạch thuế (TQ).

    Theo chế độ hạn ngạch thuế, mức thuế đánh lần 2 vào da thuộc, giầy da so với ngay cả các loại khoáng sản cũng thuộc loại cao. Ví dụ : cặp da xách tay từ 10 đến 17,5%; quần áo bằng da từ 12,5 đến 20% … Ngoài ra, cơ quan thuế sẽ qui định các mức thuế cụ thể đối với từng mặt hàng.

    Bảng 7: Mức thuế của da thuộc và giầy da

    . Mức tế hạn ngạch lần1 Mức tế hạn ngạch lần2
         
    Da: Bò, ngựa, cừu, dê 15% ~ 20% 60%
         
    Giầy da 21,6% ~ 30% 60% hoặc 4.800 yên
         

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    2.Đầu tư trực tiếp NN liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản

    • Nhật Bản, Luật về đầu tư nước ngoài đã được xây dựng từ khá lâu. Ban đầu, Luật qui định chỉ cấp giấy phép cho các dự án có tác dụng tích cực tới cán cân thanh toán của Nhật khi đang ở trong tình trạng khó khăn hoặc các dự án có

    __________________________________________________________

    _____________

    54

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đóng góp cho sự phát triển của các ngành sản xuất quan trọng; đối với các dự án đã được cấp giấy phép, Luật này đảm bảo chuyển lợi nhuận cũng như tiền vốn đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, lo sợ các công ty xuyên quốc gia của phương Tây, nhất là Mỹ chi phối kinh tế của mình, các tập đoàn kinh tế lớn ở Nhật Bản được sự hỗ trợ của chính phủ đã liên kết lại với nhau theo kiểu Keiretsu, lập nên một hệ thống phân phối hàng hoá mang tính chất bài ngoại, khép kín để ngăn chặn sự thâm nhập của các công ty nước ngoài, chống những mối đe doạ cạnh tranh thôn tính. Một loạt những Luật về tiêu chuẩn kỹ thuật, độ an toàn của sản phẩm … được ban hành đã làm cho các công ty nước ngoài rất ngại đầu tư vào Nhật Bản.

    Sau đó, Nhật Bản gia nhập OECD nên không thể đưa ra qui định hạn chế đầu tư trực tiếp của xí nghiệp nước ngoài nữa. Thêm vào đó, Nhật Bản đã nhiều lần thực hiện tự do hoá tư bản. Cho đến nay, ngoài một số rất ít các ngành cấm nước ngoài đầu tư (negative list), còn lại tất cả hoàn toàn được tự do hoá.

    Những năm gần đây, khi chính phủ chuyển hướng trọng tâm trước kia của Luật về đầu tư nước ngoài là “ngăn ngừa việc thôn tính doanh nghiệp trong nước của đầu tư nước ngoài” sang tự do hoá hơn, qui định dễ dàng hơn về phẩm chất hàng hoá, sự cải cách của hệ thống phân phối cùng với điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên mà đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản đã tăng lên.

    Đồng thời, những chính sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan của chính phủ về hạn chế hoặc tiến đến xoá bỏ hoàn toàn như giảm mức thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu, giảm hạn ngạch nhập khẩu làm xói mòn khả năng cạnh tranh của hàng hoá Nhật Bản không chỉ ở các thị trường nước ngoài mà ở ngay cả thị trường trong nước với các hàng nhập khẩu rẻ hơn. Do đó, ngày càng nhiều công ty Nhật đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với trọng tâm là thị trường Bắc Mỹ và Châu Á

    __________________________________________________________

    _____________

    55

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Việc di chuyển các cơ sở sản xuất ra nước ngoài là tạo ra nơi sản xuất hàng xuất khẩu sang nước thứ 3, nhờ đó làm giảm xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước này. Mặt khác, thông qua đó, việc nhập khẩu những nguyên liệu mà từ trước đến nay phải nhập khẩu để dùng cho sản xuất trong nước sẽ giảm. Hơn nữa, trong trường hợp hàng hoá sản xuất ở nước ngoài nếu được nhập khẩu trở lại Nhật Bản (gọi là hình thức xuất khẩu ngược) thì sẽ giúp cho nhập khẩu tăng.

    Những nỗ lực này đã đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản lên tới 69,7 tỷ USD trong năm tài chính 1990, gấp hơn 6 lần lượng đầu tư của năm năm trước đó khiến Nhật Bản trở thành nước đứng đầu thế giới về mặt này. Tổng số vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản vào các nhà máy ở nước ngoài trong năm 1996 tăng khoảng 11,6%.

    Thực tế hiện nay, hầu như toàn bộ các công ty hàng đầu của Nhật Bản đang tiếp tục quá trình di chuyển hoạt động sản xuất của họ ra nước ngoài và tăng tỷ lệ nhập khẩu trở lại thị trường nội địa về những hàng hoá được sản xuất tại đó. Xu hướng này được thể hiện rõ nhất trong ngành ô tô. Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ở các cơ sở nước ngoài của 5 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Nhật Bản đã vượt quá tổng khối lượng sản phẩm xuất khẩu của họ xuất ra từ Nhật Bản do sản xuất trong nước. Tỷ lệ sử dụng vốn để đầu tư ra nước ngoài của toàn bộ các công ty trong ngành lắp ráp chiếm tới 46% kinh phí của họ, trong ngành ô tô là 30% và trong toàn ngành công nghiệp nói chung là 13%.

    3. Chính sách sản phẩm

    Để thực hiện những mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ, chính phủ Nhật Bản nói riêng cũng như chính phủ các nước nói chung đều phải định ra hướng cho chính sách cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu. Việc xác định được một cơ cấu sản phẩm hợp lý dựa vào điều kiện trong nước cùng tình hình môi trường ngoài nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu những

    __________________________________________________________

    _____________

    56

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất trong nước không thuận lợi.

    Cơ cấu sản phẩm này được điều chỉnh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành nghề. Để thực hiện được sự điều chỉnh này, một trong những biện pháp là hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và ngược lại.

    Nhìn chung trong suốt quá trình phát triển từ trước đến nay, Nhật Bản luôn chủ trương đánh thuế thấp đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đánh thuế cao đối với các thành phẩm, cho nên trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, tỷ trọng của các nguyên liệu và sản phẩm sơ chế rất cao trong khi đó tỷ trọng của các thành phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu lại thấp.

    Trước đây, trong giai đoạn sản xuất bắt đầu hồi phục, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc thiết bị để sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Nhờ đó, tỷ trọng của các hàng hóa này trong cơ cấu nhập khẩu đã tăng lên.

    Bước sang thời kỳ tăng trưởng kinh tế, cùng với môi trường quốc tế thuận lợi cho sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và hướng vào xuất khẩu các hàng chế biến có giá trị gia tăng ngày càng cao, chính phủ tăng cường hỗ trợ vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá dầu làm cho hoạt động sản xuất của những ngành này phát triển, từ đó tăng xuất khẩu, thay thế vị trí của các hàng hóa công nghiệp nhẹ. Các sản phẩm tàu thuỷ, thép … trở thành những hàng xuất khẩu trụ cột của Nhật Bản. Bên cạnh đó, sau vòng đàm phán Kennơdy, Nhật Bản đã tiến hành giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng chế biến trước kia bị hạn chế, nhờ đó khối lượng nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng lên.

    Sau khi đạt tới tốc độ tăng trưởng cao, chính phủ Nhật Bản lại buộc phải có những điều chỉnh trong chính sách thuế quan để hạn chế tác động của hai cuộc

    __________________________________________________________

    _____________

    57

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    khủng hoảng dầu lửa lên nền kinh tế. Chính phủ đã tiến hành miễn thuế đối với các mặt hàng gia công ở nước ngoài để tăng cường nhập khẩu hàng gia công, giảm nhập khẩu hàng nguyên liệu và ban hành các hàng rào phi thuế quan để bảo hộ các ngành công nghiệp hoá học mới, kỹ thuật mới, sản phẩm điện tử …

    Một vài năm lại đây, các chế độ bảo hộ bằng hạn ngạch, thuế quan cao dần dần được nới lỏng nên số lượng nhập khẩu gạo, lúa mì đã tăng lên và trong những năm tới chắc sẽ còn tăng hơn nữa.

    Sau thoả thuận Plaza năm 1985, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái làm cho giá trị đồng Yên lên cao đã tạo điều kiện cho việc nhập khẩu ôtô, phụ tùng ôtô, thiết bị văn phòng, linh kiện điện tử như chất bán dẫn, những sản phẩm có mức độ gia công, giá trị gia tăng cao cũng tăng lên rõ rệt.

    CHƯƠNG III

    BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

    Như chương trước đã đề cập, hệ thống chính sách thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản đã phát huy hiệu quả cao đối với sự phát triển kinh tế. Vậy Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của Nhật Bản. Để trả lời câu hỏi

    __________________________________________________________

    _____________

    58

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đó, trong chương này sẽ nghiên cứu hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

    I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM

    1.                 Chính sách thuế quan

     

    • nước ta, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành vào năm 1987 để thay cho chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương tồn tại trong suốt thời quản lý theo cơ chế hành chính bao cấp. Vào thời kỳ đó, bạn hàng chính của Việt Nam là Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), họ chiếm khoảng từ 75% đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Do đó, Luật thuế ra đời chủ yếu áp dụng cho hàng hoá buôn bán giữa Việt Nam và các nước này và danh mục biểu thuế được ban hành theo danh mục hàng hoá của SEV. Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ yếu sụp đổ đã gây tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Bối cảnh quốc tế thay đổi buộc các nhà hoạch định chính sách Việt Nam phải tìm ra một hướng đi mới nếu không muốn bị tụt hậu.

    Chính sách ngoại thương – một trong những hướng trọng tâm của Việt Nam sau thời kỳ đổi mới đã được xây dựng theo hướng đa dạng hoá về thị trường và sản phẩm, tự do hoá các hoạt động nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hỗ trợ cho chính sách ngoại thương được thực hiện một cách có hiệu quả, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1991 và sửa đổi, bổ sung vào năm 1993, trong đó đưa ra nhiều nội dung thay đổi căn bản.

    1.1 Biểu thuế xuất nhập khẩu

    Trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu mới sử dụng danh mục hàng hóa HS của Tổ chức hải quan quốc tế thay cho danh mục hàng hóa của khối SEV, dù đã có những sửa đổi, bổ xung nhưng biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta vẫn còn dàn trải quá rộng. Mức thuế cao nhất (100%) áp dụng cho 28 mặt hàng trong đó

    __________________________________________________________

    _____________

    59

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    có 21 mặt hàng bia rượu, 6 mặt hàng thuốc lá và 1 mặt hàng quần áo cũ. Mức thuế cao (60%) áp dụng cho ôtô, hàng tiêu dùng (may mặc, giầy dép, dụng cụ gia đình khác) còn thuế đánh vào nhập khẩu các nguyên liệu thô, các máy móc thiết bị cơ bản và các sản phẩm trung gian khác nói chung rất thấp (từ 0% ~ 5%). Thuế suất dàn trải như vậy vừa phức tạp lại không có lợi cho nền kinh tế, chúng có thể đưa các nguồn lực vào những hoạt động không có hiệu quả, tạo tâm lý không tốt đối với các nhà kinh doanh nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất của Việt Nam quá phức tạp và quá cao. Trên thực tế, với việc qui định thuế suất như thế, nếu tính tổng số thuế thu được thì có thể còn thấp hơn việc qui định thuế suất tập trung.

    1.2 Chế độ thuế

    Theo Luật Thuế của Việt Nam năm 1987, sửa đổi, bổ xung vào các năm 1991 và 1993, thuế nhập khẩu gồm có 2 loại là thuế suất phổ thông và thuế suất ưu đãi nhưng trên thực tế chỉ có 1 loại thuế suất phổ thông áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá. Từ 1/1/1991, thuế nhập khẩu của Việt Nam đã được sửa đổi gồm 3 loại là: thuế suất phổ thông, thuế suất ưu đãi và thuế ưu đãi đặc biệt. Thuế suất phổ thông được áp dụng thống nhất cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi. Thuế ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với từng nước, hoặc khu vực hợp tác đa phương trên nguyên tắc bình đẳng.

    Ngoài ra, Luật thuế xuất nhập khẩu bổ sung cũng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn mức giá thông thường, thuế chống trợ giá đối với hàng hoá có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, thuế chống phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập từ nước có sự phân biệt đối xử khác với hàng hoá của Việt Nam.

    1.3 Thuế VAT (Thuế giá trị gia tăng)

    Luật thuế giá trị gia tăng (VAT) được áp dụng ở Việt Nam kể từ ngày 01/01/1999 theo Nghị định của Chính phủ ngày 11/05/1998.

    __________________________________________________________

    _____________

    60

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Nghị định nói trên.

    Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính & thuế suất đối với từng loại, nhóm mặt hàng đều

    thuế và thuế suất. Giá tính thuế được Chính phủ quy định rõ.

    2. Các biện pháp phi thuế quan trong hoạt động Ngoại thương

    2.1 Giấy phép xuất nhập khẩu

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý hàng nhập khẩu. Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn. Người nhập khẩu phải am hiểu các quy định của Nhà nước về việc xin giấy phếp và những phí tổn có liên quan đến việc xin giấy phép nhập khẩu để hoạt động kinh doanh được thuận lợi và có hiệu quả.

    Tại Việt Nam, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng ( chuyến hàng ) được bãi bỏ từ 15/12/1995. Tuy nhiên giấy phép nhập khẩu vẫn là một biện pháp quan trọng trong quản lý nhập khẩu. Ngày 04/042001, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, quy định cơ chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2005. Theo đó, nhiều hàng hoá chịu sự quản lý, thông qua hình thức cấp giấy phép của Bộ Thương mại và các Bộ chuyên ngành.

    2.2 Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

    Hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng cho các mặt hàng mà nhà nước và các tổ chức quốc tế ấn định đối với Việt Nam như hàng may mặc xuất sang Liên minh Châu Âu.

    Trong năm 1998, giá gạo trên thế giới cao do nhu cầu tăng và nguồn cung hạn chế, song hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn được điều phối để vừa tăng

    __________________________________________________________

    _____________

    61

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    kim ngạch xuất khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực. Nhờ lượng gạo xuất khẩu tăng, lúa hàng hoá trong dân đã được mua ở mức tối đa, giá lúa gạo tăng bảo đảm thu nhập có lợi cho nông dân, đồng thời nhờ công tác điều hành xuất khẩu gạo mà giá lúa, gạo không có sự biến động mạnh, không gây tác động xấu đến tình hình cung cầu của thị trường lương thực trong nước. Bên cạnh đó cũng có nhận xét cho rằng, việc qui định hạn ngạch về gạo đã làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước và thu nhập của người nông dân do họ bị các doanh nghiệp đầu mối được nhà nước phân bổ hạn ngạch ép giá nên hiện nay chính phủ Việt Nam đã bỏ chế độ hạn ngạch về gạo.

    Về may mặc, những năm trước kia, hạn ngạch may mặc được chính phủ phân bổ cho các doanh nghiệp nhưng bắt đầu từ năm 1999 đã thực hiện đấu thầu hạn ngạch. Vì là năm đầu tiên thực hiện nên lượng quota đem ra đấu thầu mới chỉ dừng ở mức 20% hạn ngạch thương mại, còn lại giao theo phương thức giao hạn ngạch thu phí, chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.

    Mục đích của hạn ngạch xuất khẩu là để bảo vệ các nhà sản xuất, người tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của sản phẩm này và cải thiện giá của các sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp chúng. Khả năng thứ hai chỉ có thể thực hiện được ở một nước hay nhóm nước có ưu thế xuất khẩu về một sản phẩm. Vào thời điểm hiện nay, so với năng lực sản xuất trong nước, hạn ngạch xuất khẩu may mặc vẫn còn thấp nên chúng ta cần xúc tiến các hoạt động đàm phán để nâng cao mức hạn ngạch xuất khẩu. Vừa qua, hiệp định mới ký với EU đã đạt được thoả thuận tăng hạn ngạch hàng năm là 3 ~ 5% so với 1,2 ~ 2,5% trước đây.

    Đối với hạn ngạch nhập khẩu, hàng năm, chính phủ đều xem xét, nghiên cứu, phân tích dự đoán khả năng sản xuất và nhu cầu trong nước, căn cứ vào mục tiêu, định hướng phát triển để qui định số lượng hoặc trị giá những hàng hoá được nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng, mặt hàng mà khả năng cạnh tranh

    __________________________________________________________

    _____________

    62

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    của các ngành sản xuất trong nước vẫn còn rất non kém so với hàng ngoại nhập vừa rẻ vừa mẫu mã đẹp. Tuy nhiên, từ những năm 90, những qui định về hạn ngạch nhập khẩu đã giảm một cách đáng kể.

    2.3 Qui định cấm xuất khẩu, nhập khẩu

    Theo qui định kèm theo nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 của chính phủ, có 6 mặt hàng bị cấm xuất khẩu (vũ khí, đạn dược …) và 9 mặt hàng cấm nhập khẩu (ma tuý, các loại văn hoá phẩm đồi truỵ …). Nhìn chung, những mặt bị cấm xuất khẩu chủ yếu xem xét ảnh hưởng của nó đến mặt chính trị, xã hội hơn là kinh tế nên nó cũng không gây mâu thuẫn mấy đến hoạt động ngoại thương. Riêng gỗ, trước kia được xuất khẩu nhưng từ tháng 1/1994 đã được đưa vào danh mục hàng cấm xuất khẩu do nguy cơ phá rừng tăng cao làm ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên. Điều này cũng dẫn đến chính phủ phải qui định hạn chế số lượng hoặc trị giá những đồ gỗ liên quan đến nguyên liệu gỗ khai thác trong nước.

    2.4 Quản lý ngoại tệ

    Theo qui định hiện hành, tất cả các nguồn thu ngoại tệ đều tập trung gửi vào ngân hàng hoặc các cơ quan quản lý ngoại hối để nhà nước có thể kiểm soát được hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt là hoạt động nhập khẩu, ngăn chặn nguồn vốn thất thoát ra ngoài, duy trì cân bằng thu chi quốc tế, thực hiện chính sách tỷ giá tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

    • Việt Nam, Ngân hàng trung ương hàng ngày qui định một khung tỷ giá chính thức cho việc mua bán ngoại tệ. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái do ngân hàng công bố thường chênh lệch so với tỷ giá hối đoái thị trường, là tỷ giá mà nhà sản xuất quan tâm vì nó cho phép nhà sản xuất có thể tính được lợi nhuận thực tế thu

    được.

    Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, bằng các biện pháp đồng bộ thắt chặt chính sách tiền tệ như điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức,

    __________________________________________________________

    _____________

    63

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thực hiện thu mua bắt buộc đối với nguồn ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, điều chỉnh cơ chế tín dụng ngoại tệ, giảm lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế, Việt Nam đã khắc phục được những tác động xấu của cuộc khủng hoảng tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể nào tránh khỏi tình trạng xuất khẩu suy giảm do đồng tiền các nước trong khu vực bị giảm giá so với đồng đôla, hàng hoá Việt Nam trở nên đắt đỏ so với hàng các nước trong khu vực. Sau đó, ngân hàng trung ương đã điều chỉnh để nâng giá đồng Việt Nam lên so với đồng đôla Mỹ, nhờ vậy mà xuất khẩu có xu hướng tăng trở lại.

    Từ ngày 11/9/1998, ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hạ thấp mức lãi suất cho vay bằng đôla của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp từ 8,5%/năm xuống còn 7,5%/năm đồng thời tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng cũng hạ xuống nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo tâm lý tốt và điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, tăng cường xuất khẩu.

    Ngoài các biện pháp bảo hộ nói trên, chính phủ còn áp dụng các biện pháp khác như qui định các quy chế hành chính kỹ thuật nhằm kiểm soát nhập khẩu; từ ngày 8/9/1998 chính phủ cũng đã lập ra quỹ thưởng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, theo đó, đối tượng được thưởng là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng mới lần đầu tiên xâm nhập thị trường nước ngoài, những mặt hàng có chất lượng cao, được tổ chức quốc tế về đánh giá chất lượng sản phẩm công nhận bằng văn bản; thâm nhập thị trường xuất khẩu cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam; mở rộng thị trường, gia tăng được kim ngạch xuất khẩu đối với những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu; sản xuất mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nguyên vật liệu sản xuất trong nước, thu hút nhiều lao động trong nước hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu ngoài hạn ngạch, có kim ngạch từ 50 triệu USD/năm trở lên. Biện pháp này đã tỏ ra có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu như trong các ngành dệt may, việc thưởng đã

    __________________________________________________________

    _____________

    64

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    làm tăng tỷ trọng sử dụng vải, nguyên phụ liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường ngoài hạn ngạch tăng. Thực tế, tại các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cho thấy họ thích thú vì được thưởng, hay chạy đua để được thưởng. Tiền thưởng có thể chưa nhiều nhưng có sự động viên rất lớn. Có doanh nghiệp nói rằng: “Một trăm đồng tiền công không bằng một đồng tiền thưởng”.

    Có thể nói rằng, sau khi mở cửa thị trường, nhà nước ta đã không ngừng đưa các biện pháp để kích thích nền kinh tế nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng phát triển, đặc biệt đã liên tiếp thực hiện các cải cách về thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của nước nhà. Trong các biện pháp trên có nhiều biện pháp đạt hiệu quả cao, cần tiếp tục phát huy nhưng cũng có một số biện pháp còn bất cập và trong quá trình thực hiện nhà nước phải từng bước sửa đổi, bổ sung, áp dụng thêm những biện pháp khác lấy từ kinh nghiệm của các nước khác điển hình như Nhật Bản.

    II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TỪ CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN ĐỐI

    VỚI VIỆT NAM

    Trước khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế cao độ, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải trực diện với bối cảnh quốc tế giống với Việt Nam: phải có chiến lược như thế nào trước trào lưu chung của thế giới là mở cửa và hội nhập vào các tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế trong khi nền kinh tế nước mình còn non yếu ? Và cuối cùng, người Nhật đã tìm ra chiến lược mở cửa, hội nhập đúng đắn cho mình – một chiến lược góp phần quan trọng vào việc làm cho nền kinh tế “phát triển thần kỳ” như đã thấy- bao gồm việc giải quyết 3 vấn đề đặt ra:

    • Mở cửa như thế nào để hàng ngoại nhập không cản trở sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    65

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Việc mở cửa phải kết hợp như thế nào với chiến lược, chính sách làm cho các ngành sản xuất ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
    • Để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ được nhiều nhất cơ hội của thị trường thế giới, phải có chiến lược và tổ chức như thế nào việc đẩy mạnh xuất khẩu.

    Việt Nam và Nhật Bản, ngoài những điểm khác biệt cũng có những tương đồng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Cả hai nước đều là nước nông nghiệp, đi lên từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ và không còn con đường nào khác là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, phải tham gia, hội nhập vào các tổ chức thế giới. Từ đó, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản để đưa ra một chính sách thuế phù hợp thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển trong những năm tới.

    1. Bài học và khả năng áp dụng về chính sách thuế quan

    1.1 Áp dụng giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu cho phù hợp với thông lệ quốc tế

    Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại 3 cách xác định giá tính thuế là:

    • Giá theo hợp đồng (giá CIF).
    • Giá tối thiểu do nhà nước qui định.
    • Giá do hợp đồng qui định.

    Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, đồng thời để phù hợp với các qui định về trị giá tính thuế quan của GATT, chúng ta nên xác định trị giá tính thuế dựa trên gía trị kinh doanh tức giá thực trả hoặc có thể trả cho hàng hoá được ghi trong hoá đơn hay các chứng từ khác của người bán mà dựa vào đó việc thanh toán được thực hiện. Trong trường hợp hàng hoá không thể sử dụng, giá trị kinh doanh sẽ áp dụng các phương pháp khác để quyết định giá trị như : giá của các

    __________________________________________________________

    _____________

    66

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    hàng hoá giống hệt, giá của hàng hoá tương đương hay phương pháp khấu trừ, phương pháp dự phòng.

    1.2 Giảm mức thuế và thuế suất

    Trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tiến hành nhiều sửa đổi để giảm mức thuế và thuế suất. Tuy nhiên so với các nước nói chung và Nhật Bản nói riêng thì còn nhiều và dàn trải rộng, do đó cần thu hẹp chẳng hạn còn khoảng mười mức từ 0% đến 50% để tạo sự công bằng trong kinh doanh, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta cũng cần nâng mức thuế suất các mặt hàng có thuế suất dưới 5% và giảm thuế suất đối với một số mặt hàng có thuế suất cao và quá cao (trên 50%).

    1.3 Đa dạng các biện pháp tính thuế

    Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chỉ mới áp dụng phương pháp tính thuế theo giá. Theo phương pháp này, số tiền thuế thu được tăng lên khi giá hàng hoá tăng nhưng trong trường hợp giá hàng thấp thì ngược lại, làm cho nguồn thu ngân sách không ổn định. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp có những hàng hoá nhu cầu trong nước đang rất cần nhưng do hàng hoá tăng cộng thêm giá thuế phải trả tăng khiến cho giá khi đến tay người tiêu dùng quá cao không thể mua được, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trong nước.

    Do vậy, ngoài cách tính thuế theo giá như hiện nay, cũng như Nhật Bản, ta nên áp dụng thêm các cách tính thuế khác như thuế theo lượng nhập khẩu, hoặc hỗn hợp cả hai vừa theo giá vừa theo lượng, thuế lựa chọn, thuế theo mùa, thuế chênh lệch đối với hàng hoá nhập khẩu. Mỗi cách đều có ưu điểm, nhược điểm, điều quan trọng là cần nghiên cứu, xem xét nên chọn cách tính thuế nào cho phù hợp với mỗi loại hàng hoá khác nhau để vừa bảo hộ sản xuất trong nước, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng lại vừa đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách.

    __________________________________________________________

    _____________

    67

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nhật Bản, thuế theo lượng được áp dụng đối với mặt hàng điển hình là dầu lửa. Việc tiêu thụ dầu dùng trong sản xuất và dùng trong tiêu dùng ở Nhật Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao độ, nhập khẩu chiếm đến 90% đồng thời giá dầu hay thay đổi theo sự điều chỉnh của OPEC và quan hệ cung cầu trên thị trường, vì lẽ đó, Nhật đã chọn cách tính theo lượng. Đối với Việt Nam, chúng ta cũng có thể áp dụng thuế theo lượng đối với một số mặt hàng mà nhu cầu trong nước rất cần nhưng giá của hàng hoá đó lại hay biến động.

    Việt Nam là một đất nước thuộc vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn quả, rau các loại … sản xuất nông nghiệp của ta so với các nước còn lạc hậu và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nhiều loại rau quả chỉ thu hoạch được theo mùa và chi phí sản xuất cũng thường cao hơn các nước. Trong những năm gần đây, nhờ kỹ thuật hiện đại, áp dụng biện pháp chế biến, bảo quản, người dân Việt Nam có thể ăn những loại rau quả trái mùa. Tuy nhiên, nếu không có những biện pháp bảo hộ hàng hoá do người nông dân sản xuất trước sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại nhập đặc biệt là từ Trung Quốc với giá rẻ thì có thể làm cho lợi nhuận của người nông dân thấp đi do phải bán với giá rẻ hoặc hàng hoá bị tồn đọng. Từ đó, phải chăng nhà nước cũng nên áp dụng thuế theo mùa đối với táo, lê … của Trung Quốc. Nhưng phần lớn những mặt hàng này nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch hoặc buôn lậu nên việc kiểm soát để thực hiện đánh thuế gặp nhiều khó khăn.

    1.4 Giảm thuế suất nhanh các ngành có lợi thế cạnh tranh mạnh, giảm thuế chậm cho các ngành có khả năng cạnh tranh kém

    Theo qui định của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), đến đầu năm 2006 (chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm), Việt Nam phải hoàn thành chương trình giảm thuế nhập khẩu nhằm đạt mức thuế suất cuối cùng từ 0 ~ 5%. Đồng thời để tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế như WTO , Việt Nam có thể giảm thuế theo hướng cắt giảm thuế sớm nhất đối với những

    __________________________________________________________

    _____________

    68

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    ngành hàng có thế mạnh về xuất khẩu, tiếp đó là những ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu và sau cùng là những ngành hàng thiếu khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, trong trường hợp cần thiết để bảo hộ ngành sản xuất non trẻ trong nước có thể xin bảo lưu chưa tham gia điều khoản đó như Nhật Bản đã thực hiện.

    • Việt Nam, những ngành hàng có thể coi là có thế mạnh xuất khẩu bao gồm các mặt hàng nông sản (gạo, cafê, chè … ), thuỷ sản, dệt may, cao su …

    Nhóm ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu như ngành hàng rau quả, thực phẩm chế biến, các sản phẩm hoá chất, cơ khí, xi măng … Những ngành hàng giấy, đường, luyện kim, khoáng sản … thuộc nhóm các ngành hàng có tiềm năng cạnh tranh kém so với hàng nhập khẩu.

    Nhà nước dựa vào tình hình sản xuất trong nước và nước ngoài để xác định các mặt hàng cần bảo hộ chặt chẽ và những mặt hàng có thể tự do hoá thông qua biện pháp thuế quan.

    1.5 Thực hiện chế độ miễn, giảm thuế lâu dài và chế độ miễn giảm thuế tạm thời

    Căn cứ vào những yêu cầu của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục mà Việt Nam có thể áp dụng chế độ miễn, giảm thuế lâu dài đối với những hàng hoá phục vụ cho mục tiêu dài hạn như nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu mà trong nước không có hoặc khan hiếm, những hàng hoá nhập khẩu cần thiết đối với cuộc sống của người dân Việt Nam, những hàng hoá dùng vào mục đích nghiên cứu khoa học, phát triển giáo dục … và chế độ miễn, giảm thuế tạm thời đối với những hàng hoá nhà nước cần thường xuyên theo dõi để điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của tình hình trong nước cũng như ngoài nước. Hơn nữa, việc qui định miễn, giảm thuế tạm thời là để tránh hiện tượng ỷ lại vào những đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước và tránh làm suy giảm năng lực cạnh tranh.

    __________________________________________________________

    _____________

    69

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.6. Mở rộng diện mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

    Để đảm bảo sự công bằng đối với những giao dịch trong nước, từ tháng 4/1989 chính phủ Nhật Bản không chỉ đánh thuế tiêu thụ đối với hàng trong nước mà đối với ngay cả hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Thuế tiêu thụ tại cửa khẩu cùng với hải quan. Thuế tiêu thụ được miễn đối với hàng hoá xuất khẩu, trong trường hợp những hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế tiêu thụ thì số tiền thuế đã thu được hoàn trả lại. Thuế tiêu thụ đóng vai trò là một loại thuế tài chính của chính phủ Nhật Bản, số tiền thuế thu vào ngân sách chính phủ hàng năm ngày càng tăng.

    • Nhật Bản, thuế tiêu thụ là một loại thuế gián tiếp đánh vào tất cả các hàng hoá, dich vụ, ngay cả những hàng hoá nhập khẩu, dù được miễn thuế nhập khẩu cũng vẫn phải chịu thuế tiêu thụ.

    Tại Việt Nam, chỉ có 12 nhóm hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả sản xuất trong nước và nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Để bảo hộ sản xuất trong nước, tăng thu ngân sách nhà nước đặc biệt là khi thực hiện AFTA và các định chế của APEC cũng như tham gia vào WTO mà theo đó Việt Nam phải từng bước giảm mức thuế quan xuống, chúng ta nên đưa thêm nhiều mặt hàng như nhóm mặt hàng tiêu dùng thành phẩm cao cấp (mỹ phẩm, nước hoa, đồ kim hoàn…) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế nội địa, không thuộc đối tượng đàm phán khi ký kết các hiệp định quốc tế.

    2. Bài học và khả năng áp dụng về các biện pháp phi thuế quan

    Dựa trên những biện pháp mà Nhật Bản đã thực hiện thành công cùng với tình hình Việt Nam ngày nay, có thể đưa ra những giải pháp sau để bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    70

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.1 Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu

    Vấn đề thủ tục xuất nhập khẩu hiện nay ở nước ta mặc dù đã được các cơ quan, bộ ngành từng bước sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với xu thế chung trên thế giới nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. So với Nhật Bản và các quốc gia khác, thủ tục xuất nhập khẩu của ta còn rất phức tạp, rườm rà, nhiều qui định không rõ ràng, đặc biệt là hiện tượng cửa quyền gây khó dễ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho các đối tác nước ngoài có thể từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam.

    2.2 Tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu

    Về vấn đề này, nhà nước ta cần chú trọng đúng mức bởi thị trường thế giới chỉ đánh giá chất lượng hàng hoá Việt Nam theo nhóm hàng, chứ không quan tâm nhiều đến tên tuổi doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm đó nên nếu để hàng kém chất lượng tiêu thụ ở nước ngoài sẽ làm giảm uy tín nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, ảnh hưởng xấu đến những doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu lớn. Chẳng hạn, vừa qua có tình trạng lái buôn ngâm tôm vào nước làm tăng trọng lượng lên 7 ~ 10% khiến cho hàng xuất khẩu bị khiếu nại trả lại. Sau đợt đó, chúng ta mất luôn cả khách hàng lẫn thị trường .

    Ngày nay, không chỉ Việt Nam mà ở nhiều nước khác trên thế giới, nói đến hàng Nhật Bản là người ta nghĩ đến những sản phẩm có chất lượng tốt, đó chính là ngay từ đầu Nhật Bản đã có sự kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua các tổ chức, cơ quan chuyên trách được thành lập, theo đó chỉ những hàng hoá có đủ tiêu chuẩn đặt ra mới được xuất khẩu để đảm bảo uy tín của hàng hoá Nhật.

    Trong xu thế hiện nay, các doanh nghiệp cạnh tranh chính là bằng chất lượng, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng chứ không phải hoàn toàn bằng giá cả như trước đây nên việc gây ấn tượng ban đầu về chất lượng hàng hoá Việt Nam đối với người tiêu dùng là rất cần thiết để tạo điều kiện dễ dàng cho việc buôn

    __________________________________________________________

    _____________

    71

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    bán về sau, tiếp cận với thị trường thế giới. Bên cạnh việc thiết lập cơ quan kiểm tra, chúng ta có thể dần dần luật hoá những qui định cụ thể về các yếu tố tối thiểu liên quan đến chất lượng hàng xuất khẩu để bảo vệ uy tín hàng hoá Việt Nam.

    2.3 Chuyển một số mặt hàng từ chế độ cấm nhập khẩu sang chế độ hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với biện pháp thuế quan :

    Trong số các biện pháp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, đánh thuế đối với những hàng hoá cạnh tranh với những sản phẩm quan trọng sản xuất trong nước, cấm nhập khẩu biện pháp mang tính cưỡng chế cao nhất nên hậu quả xấu gây ra cũng lớn. Chẳng hạn như trường hợp thuốc lá điếu do bị cấm nhập khẩu trong khi hoạt động hải quan của nước ta vẫn còn lỏng lẻo đã gây nên tình trạng buôn lậu rất nhiều và nhà nước thì bị thất thu thuế. Vì vậy, ngoài những hàng cấm (vũ khí, ma tuý …) đối với các loại hàng hoá khác như thuốc lá điếu nên chuyển sang áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với thuế quan là nếu hàng hoá vượt quá hạn ngạch qui định thì phải chịu thuế suất cao.

    2.4 Đầu tư hệ thống phân phối sản phẩm

    Mặc dù thị trường nội địa với gần 80 triệu dân rất hấp dẫn các doanh nghiệp nhưng để trụ được là điều không dễ dàng trước sự tràn ngập của hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng Trung Quốc, chủ yếu nhập lậu hoặc theo đường tiểu ngạch. Ví dụ như hàng dệt may Việt Nam với bình quân 75% giá trị đầu vào gồm bông sơ, hoá chất, thuốc nhuộm … được nhập khẩu nên sản phẩm may làm ra giá còn cao, khó cạnh tranh để tìm chỗ đứng. Trong thời gian qua, các giải pháp bảo hộ như dán tem chống hàng giả vẫn đang tỏ ra bất cập với thực tế các sản phẩm như vải, may mặc … chính vì vậy việc đầu tư cho hệ thống bán hàng, mở rộng các đại lý là rất cần thiết để đưa hàng hoá Việt Nam trở nên phổ biến trong hành

    • tiêu dùng của người Việt Nam thông qua việc thực hiện chiết khấu hoa hồng cho những người bán hàng của Việt Nam sản xuất hoặc sẵn sàng nhận hàng hoá bị trả lại …

    __________________________________________________________

    _____________

    72

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.5 Chính sách tỷ giá hối đoái

    Một tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá phù hợp là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái chính thức quá cao sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với hàng nội địa, còn hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn do phải chịu chi phí cao từ lạm phát trong nước, dẫn đến khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, một điều hoàn toàn bất lợi đối với Việt Nam đang thiếu vốn và ngược lại.

    Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, Việt Nam nên thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái như thế nào cho phù hợp. Nên chăng là chúng ta cần có một chiến lược dài hạn cho việc xây dựng tỷ giá hối đoái, tránh biến động lớn về tỷ giá, gây rủi ro cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để thực hiện chiến lược này, cần giảm bớt biên độ giao dịch của tỷ giá hối đoái ở mức nhỏ (0,5%~1%) và nâng dần tỷ giá chính thức lên ở mức nhỏ. Nếu không, chúng ta có thể thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo điều kiện dễ dàng cho việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch lâu dài mà không thể thiếu được cho công cuộc đưa một nước có nền kinh tế đang phát triển thành nước phát triển như Việt Nam. Hơn nữa, việc qui định này còn làm cho nguồn vốn trong nước có hạn cũng không bị lôi cuốn vào đầu cơ ngoại hối như trước và có thể tập trung vào cho đầu tư thực chất.

    KẾT LUẬN

     

    __________________________________________________________

    _____________

    73

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nhật Bản là một nước đảo nghèo tài nguyên thiên nhiên và phải chu cấp cho một số dân hơn 120 triệu người trên một diện tích tương đối nhỏ. Tuy nhiên, bất chấp những điều kiện hạn chế này và việc cơ sở chế tạo của đất nước bị tàn phá trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã không những có thể xây dựng lại được nền kinh tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới và ngày càng đuổi sát, thách thức vị trí cường quốc kinh tế số một của Mỹ. Đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển của Nhật Bản không thể không nói đến vai trò quan trọng của chính sách thuế quan và phi thuế quan.

    Từ những năm đầu bước vào công cuộc hồi phục đất nước sau chiến tranh cho đến lúc đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, các ngành sản xuất của Nhật Bản vốn đã bị tàn phá hầu hết muốn vực dậy thì cần có sự hỗ trợ đắc lực của chính phủ. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp thuế quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, từng bước nâng cao vị thế quốc gia.

    Sau khi các ngành sản xuất trong nước đã lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới, đồng thời, trước xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá, chính phủ Nhật Bản đã dần dần nới lỏng các biện pháp bảo hộ chặt trong thời kỳ trước, nhờ đó mà tránh được mâu thuẫn thương mại, thúc đẩy hơn nữa hoạt động ngoại thương phát triển.

    Từ việc phân tích, nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan và sự phát triển ngoại thương của của Nhật Bản cùng hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan ở Việt Nam, trên cơ sở đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tài liệu Tiếng Việt:

    __________________________________________________________

    _____________

    74

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. GS, TS, Dương Phú Hiệp – TS Nguyễn Duy Dũng “Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản” 2002
    1. “Nhật Bản ngày nay”, NXB Hiệp hội quốc tế về thông tin giáo dục, Tokyo 1993.
    1. Goro Ono, “Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới”, NXB Chính trị quốc gia, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình thuế & hệ thống thuế ở Việt Nam”, trường Đại học Ngoại thương, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình chính sách ngoại thương”, trường Đại học Ngoại thương, 2002.
    1. Hiroshi Nakajima – Harumi Uraoka, “Nhật Bản – tăng cường hiểu biết và hợp tác”, NXB Tokyo United Publisher Inc, 1998.
    1. “Các chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế của Nhật Bản”, NXB Chính trị quốc gia, 1996.
    1. Chalmers Johnson, “MITI và sự thần kỳ của Nhật Bản”, Viện kinh tế thế giới, 1989.
    1. Lê Văn Sang, “Kinh tế Nhật Bản : giai đoạn thần kỳ”, Viện Kinh tế thế giới, 1998.
    1. Yasusuke Marakami, “Kinh tế học chính trị Nhật Bản”, NXB Khoa học xã hội, 1994.
    1. Chủ Hữu Quý, “Nông nghiệp nông thôn Nhật Bản”, NXB Sự thật, 1991.

    12.”Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản” NXB Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản.

    1. Tài liệu Tiếng Nhật:
    • Japan Almanac 2001

    __________________________________________________________

    _____________

    75

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    __________________________________________________________

    _____________

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]