Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-V%E1%BA%A4N-%C4%90%E1%BB%80-C%E1%BA%A6N-B%C3%80N-V%E1%BB%80-C%C4%82N-C%E1%BB%A8-T%C3%8DNH-THU%E1%BA%BE-THEO-QUY-%C4%90%E1%BB%8ANH-C%E1%BB%A6A-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-THU-NH%E1%BA%ACP-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-V%C3%80-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN

     

    Phạm Quốc Thuần*

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết đề cập đến phương pháp xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trên cơ sở tham chiếu các quy định của Chuẩn mực kế toán và các quy định về thuế, chủ yếu là quy định về Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Bài viết cho thấy có sự khác biệt về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành giữa thuế và kế toán, từ đó đề ra các kiến nghị nh̀m hoàn thiện việc xác định và ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tại các doanh nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Thu nhập tính thuế, thu nhập chịu thuế, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, kế toán thuế.

     

    DISCUSSING THE TAX BASES IN ACCORDANCE WITH THE ENTERPRISE INCOME TAX LAW AND THE ACCOUNTING STANDARDS

     

    ABSTRACT

     

    This article refers to the method of determining the corporate income tax payable on the basis of the provisions of accounting standards and tax regulations, primarily concentrates on the Corporate Income Tax Regulations. The paper indicates that there are the differences in calculating the income tax amount between Tax Regulations and Accounting Standards. Furthermore, the proposals are also set out to improve the identiication and recognition of income tax expense in the business today.

     

    Key words: The income tax, the taxable income, the tax cost for enterprises, the tax accountant.

     

     

    1.  Tổng quan về căn cứ pháp lý

     

    Tại Việt Nam, kể từ khi VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành ngày 15/2/2005, sự khác biệt giữa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (là chỉ tiêu được kế toán ghi nhận để xác định lợi nhuận kế toán) và

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (là chỉ tiêu trình bày trên báo cáo thuế xác định số thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp Nhà Nước) đã được xác định rõ. Theo VAS 17, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp được khái niệm là tổng chi phí thuế thu nhập hiện hành

     

     

    • GV. Trường Đại học Kinh Tế – Luật ĐHQG TPHCM

     

     

    44

     

    Một số vấn đề ….

     

    và chi phí thuế thu nhập hoãn lại. Như vậy có thể thấy rằng liên quan đến việc ghi nhận thuế TNDN, giữa kế toán và thuế vẫn có điểm chung được cả hai bên cùng ghi nhận đó là thuế thu nhập hiện hành (kế toán ghi vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và thuế ghi nhận là một khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán cho Nhà Nước) và phần tạo ra sự khác biệt giữa thuế và kế toán chính là thuế thu nhập hoãn lại (kế toán ghi nhận nhưng không được thuế ghi nhận). VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham chiếu quy định của Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành năm 2003. Kể từ đó đến nay, quy định về thuế TNDN đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ

    sung và từ đó đã làm xuất hiện sự khác biệt về căn cứ để xác định chỉ tiêu thuế thu nhập hiện hành (điểm chung được cả thuế và kế toán ghi nhận) giữa thuế và kế toán. Điều này đã gây khó khăn cho công tác kế toán trong việc ghi nhận các nghiệp vụ liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp.

    2. Quy định hiện hành về căn cứ tính

    thuế

     

    Theo quy định của Luật thuế

     

    Theo Thông tư 123/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN do Quốc hội ban hành năm 2012, căn cứ tính thuế TNDNlà thu nhập tính thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

     

     

    Thuế TNDN phải nộp   =  Thu nhập tính thuế

    x

    Thuế suất thuế TNDN

     

    Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:

       

    Thu nhập

    =

    Thu nhập

    ( TN được

    +

    Các khoản lỗ được kết)

     

    tính thuế

    chịu thuế

    miễn thuế

    chuyển theo quy định

     
         

    Công thức tính thu nhập chịu thuế:

             

    TN chịu thuế  =

    (Doanh thu  –

    Chi phí được trừ)

    +   Các khoản thu nhập khác

     

     

     

    Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của thuế có sự phân biệt rất rõ ràng khái niệm thu nhập tính thuế và thu nhập chịu thuế. Theo đó, thu nhập tính thuế chính là căn cứ để xác định thuế TNDN mà các tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải nộp cho Nhà Nước, là căn cứ để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của các doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thu nhập chịu thuế chính là chênh lệch giữa doanh thu tính thuế, thu nhập khác và chi phí được trừ. Cần lưu ý rằng thu nhập chịu thuế chưa phải là căn cứ cuối cùng để xác định nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp với Nhà Nước.

     

    Thí dụ 1: Doanh nghiệp Hoàng Giác trong năm 200X có các thông tin sau: (ĐVT: 1.000 đồng)

     

    • Doanh thu bán hàng: 3.000.000
    • Khoản thu từ nợ khó đòi đã xử lý: 100.000

     

     

    • Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: 2.000.000

     

    • Doanh thu tài chính (lãi được chia từ hoạt động liên doanh): 300.000

     

    • Khoản lỗ từ năm trước chuyển sang: 200.000.

     

     

    • Các khoản còn lại liên quan đến doanh thu, chi phí giả sử không phát sinh; doanh nghiệp không thực hiện trích lập quỹ khoa học và công nghệ; thuế suất thuế TNDN theo quy định là 25%.

     

    Dựa vào dữ liệu trên, thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế và thuế TNDN phải nộp trong năm 200X được xác định như sau:

     

    • Xác định thu nhập chịu thuế

     

     

    45

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Thu nhập chịu thuế = Doanh thu bán hàng

     

    • Doanh thu tài chính = 3.300.000 Chi phí được tính trừ = 2.000.000 Thu nhập khác = 100.000

    Thu nhập chịu thuế = (3.300.000 – 2.000.000) + 100.000 = 1.400.000

     

    • Xác định thu nhập tính thuế Thu nhập chịu thuế = 1.400.000

    Thu nhập được miễn thuế = 300.000

     

    (điều 8 chương II của TT 123/2012/TT-BTC quy định thu nhập được chia từ hoạt động góp vốnsau khi bên nhận góp vốn đã nộp thuế TNDNtheo quy định của Luật Thuế TNDNđược xem là thu nhập được miễn thuế)

     

    Khoản lỗ năm trước chuyển sang = 200.000

     

    Thu nhập tính thuế = 1.400.000 – (300.000 + 200.000) = 900.000

     

    Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x 25% = 900.000 x 25% = 225.000.

     

    Theo thí dụ này, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán khoản thuế TNDN năm 200X cho Nhà Nước là 225.000.

     

    Theo quy định của VAS 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    Theo chuẩn mực kế toán Thuế TNDN (VAS 17): “thuế thu nhập hiện hành là số thuế TNDN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành”.

     

    Như vậy, theo chuẩn mực kế toán, chỉ tiêu để xác định nghĩa vụ thuế TNDN được gọi là Thuế TNDN hiện hành. Để xác định thuế thu nhập hiện hành cần phải xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó thu nhập chịu thuế được định nghĩa như sau:“Thu nhập chịu thuế: Là thu nhập chịu thuế TNDN của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế TNDN hiện hành và là cơ sở để tính thuế TNDN phải nộp (hoặc thu hồi được)”.

    Như vậy VAS 17 không đưa ra nguyên tắc để xác định thu nhập chịu thuế mà theo đó, chỉ tiêu này được tính toán dựa vào quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    Thông tư 20/2006/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2006, hướng dẫn kế toán ghi nhận thuế thu nhập hiện hành:” Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định và ghi nhận số thuế TNDN thực tế phải nộp trong năm trên cơ sở tổng thu nhập chịu thuế cả năm và thuế suất thuế TNDN hiện hành. Thuế TNDN thực phải nộp trong năm được ghi nhận là chi phí thuế TNDN hiện hành trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm đó”. Theo đó, chi phí thuế TNDN hiện hành được hạch toán như sau: N TK 8211- Chi phí thuế TNDN hiện hành/ Có TK 3334- Thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

    3.  Vấn đề tồn tại

     

    Các nội dung trình bày trên cho thấy căn cứ để xác định số thuế mà các doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước là thu nhập tính thuế (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), trong khi đó quy định kế toán lại là thu nhập chịu thuế. Điều này làm cho nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải nộp được trình bày trên báo cáo thuế (tờ khai thuế TNDNMS 03/TNDN ban hành theo Thông tư 28/2011 do Bộ Tài chính ban hành ngày 28 tháng 2 năm 2011) và phản ánh trên sổ sách kế toán (trên tài khoản 3334 Thuế thu nhập doanh nghiệp) có sự chênh lệch với nhau, hay nói khác đi là số liệu trên sổ sách kế toán không phản ánh đúng thực chất nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Thí dụ sau đây minh chứng rõ điều này.

     

    Thí dụ 2- Lấy lại dữ liệu của thí dụ 1, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với Nhà Nước trình bày trên báo cáo thuế và ghi nhận trên sổ sách kế toán được ghi nhận như sau:

     

     

    46

     

    Một số vấn đề ….

     

    Trên báo cáo thuế (Bảng 1).

     

    Theo số liệu trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, năm 200X công ty Hoàng Giác phải nộp cho Nhà Nước một khoản thuế TNDN là 225.000 nghìn đồng.

     

    Trên sổ sách kế toán (bảng 2)

     

    • Thuế thu nhập hiện hành = Thu nhập chịu thuế x thuế suất thuế TNDN= 1.400.000

     

    • 25% = 350.000

     

    • Ghi nhận chi phí thuế TNDN hiện hành: N 8211/C 3334 350.000

     

    • Hoàn nhập tài sản thuế thu nhập hoãn lại (phát sinh từ khoản lỗ của năm trước chuyển sang): N 8212/ C 243: 200.000 x 25% = 50.000

     

    • Nộp thuế TNDN vào ngân sách Nhà Nước theo số thuế phải nộp trên tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp: N 3334/C 111, 112: 225.000
    • Thông tin về nghĩa vụ nộp và thanh toán thuế TNDN của công ty Hoàng Giác năm 200X với Nhà Nước được phản ánh trên tài khoản 3334- Thuế TNDN như bảng 2.

    Nhận xét: sau khi ghi nhận số thuế TNDN phải nộp và đã nộp, tài khoản 3334- Thuế TNDN vẫn còn kết dư bên nợ một khoản là 125.000 nghìn đồng (Nhà nước còn nợ công ty một khoản thuế TNDN là 125.000 nghìn đồng). Đây là số dư ảo bởi lẽ sau khi đã nộp thuế thì giữa công ty và Nhà nước không còn phát sinh nghĩa vụ về công nợ với nhau, lúc này số dư trên tài khoản 3334 phải bằng 0 (không). Nguyên nhân là do kế toán và thuế không đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định căn cứ dùng để tính nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với Nhà nước. Cần lưu ý là theo hướng dẫn thực hiện VAS 17, tài khoản 3334 không phải là tài khoản được dùng để ghi nhận chênh lệch thuế thu nhập doanh nghiệp.

     

     

    TỜ KHAI QUYẾT TOÁN THUẾ TNDN(lược trích) (bảng 1)

     

     

    Kỳ tính thuế: từ ngày 1/1/200X đến ngày 31/12/200X

     

    ĐVT: 1.000 đồng

               

    STT

    Chỉ tiêu

     

    Mã số

     

    Số tiền

               

    (1)

    (2)

     

    (3)

     

    (4)

    A

    Kết quả kinh doanh ghi nhận theo báo cáo tài chính

           
               

    1

    Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp

     

    A1

     

    1.400.000

    B

    Xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

           
               

    1

    Điều chỉnh tăng tổng lợi nhuận trước thuế TNDN

     

    B1

       

    (B1= B2+B3+B4+B5+B6)

       

           

    2

    Điều chỉnh giảm tổng lợi nhuận trước thuế

     

    B7

     

    TNDN(B7=B8+B9+B10+B11)

       
             

    3

    Tổng thu nhập chịu thuế

     

    B12

       

    (B12=A1+B1-B7)

       

    1.400.000

           

    3.1

    Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh

     

    B13

       

    (B13=B12-B14)

       

    1.400.000

           

    C

    Xác định thuế TNDN phải nộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh

           
               

    1

    Thu nhập chịu thuế (C1 = B13)

     

    C1

     

    1.400.000

               

    2

    Thu nhập miễn thuế

     

    C2

     

    300.000

               

    3

    Lỗ từ các năm trước được chuyển sang

     

    C3

     

    200.000

               

    47

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    4

    Thu nhập tính thuế

         

    C4

     

    900.000

    (C4=C1-C2-C3)

             
                   

    6

    Thu nhập tính thuế sau khi đã trích lập quỹ khoa học công nghệ

     

    C6

       

    (C6=C4-C5)

             

    900.000

                 

    7

    Thuế TNDN từ hoạt động SXKD tính theo thuế suất phổ thông

     

    C7

       

    (C7=C6 x 25%)

             

    225.000

                 

    11

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    C11

       

    (C11=C7-C8-C9-C10)

           

    225.000

               

    D

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản còn phải

     

    D

       

    nộp sau khi trừ thuế TNDN đã nộp ở địa phương khác

           

               

    E

    Tổng số thuế TNDN phải nộp trong kỳ

         

    E

     

    225.000

                       

    1

    Thuế TNDN của hoạt động sản xuất kinh doanh

         

    E1

     

    225.000

                       

    2

    Thuế TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản

         

    E2

     

       

    SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 3334 – THUẾ TNDN (Bảng 2)

         
                     

    Ngày

    Chứng từ

    Diễn giải

    TKĐƯ

       

    ST

     
                     
     

    SH

    Ngày

           

    N

    C

                       
         

    SDĐK

         

     

                     

    xxx

    xxx

    xxx

    Ghi nhận thuế TNDN phải nộp năm 0X

    8211

       

    350.000

     

    xxx

    xxx

    xxx

    Nộp thuế TNDN vào NSNN

    111

           

    225.000

                     
         

    TPS

         

    350.000

    225.000

         

    SDCK

         

    125.000

     
                       

    4.  Kiến nghị

     

    VAS 17 được biên soạn trên cơ sở tham khảo Luật thuế TNDN do Quốc Hội ban hành

     

    ngày 17 tháng 6 năm 2003. Theo quy định của Luật này, căn cứ để tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

     

     

    Thu nhập chịu thuế = chưa trừ chuyển lỗ

    Doanh thu để tính thu nhập – chịu thuế trong kỳ tính thuế

    Chi phí hợp lý trong     +        Thu nhập chịu thuế

    kỳ tính thuế                            khác trong kỳ tính thuế

     

     

    Thu  nhập  chịu  thuế  đã  trừ =       Thu nhập chịu thuế         chưa trừ –       Lỗ từ các năm trước chuyển sang

    chuyển lỗ                                              chuyển lỗ

     

     

    Như vậy có thể thấy rằng Luật thuế TNDN năm 2003 chỉ đưa ra khái niệm thu nhập chịu thuế và vì vậy giữa thuế và kế toán là đồng nhất với nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ về thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước (cả kế toán và thuế đều căn cứ vào thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập

    hiện hành và thuế TNDN phải nộp). Đến năm 2008, khi Luật thuế TNDN mới ra đời thay thế cho Luật thuế TNDN năm 2003 thì đã có sự thay đổi về các khái niệm làm căn cứ tính thuế. Theo đó Luật thuế năm 2008 có sự phân biệt khá rạch ròi giữa khái niệm thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế, theo

     

     

    48

     

    Một số vấn đề ….

     

    đó, thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế điều chỉnh cho các khoản thu nhập miễn thuế và lỗ từ các năm trước chuyển qua và là căn cứ để xác định nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Trong khi đó, quy định của kế toán thì vẫn không có sự chỉnh sửa về thuật ngữ cho phù hợp với sự thay đổi của thuế và đây chính là nguyên nhân làm cho thuế và kế toán lệch nhau trong vấn đề xác định nghĩa vụ thuế TNDN của các doanh nghiệp đối với Nhà nước. Vì vậy chúng tôi kiến nghị như sau:

     

    • Quy định kế toán liên quan đến thuế TNDN cần phải có sự điều chỉnh về căn cứ

    tính thuế nhằm đảm bảo số thuế thu nhập danh nghiệp mà doanh nghiệp phải nộp cho Nhà Nước được khớp đúng với số thuế TNDN phải nộp trên báo cáo thuế. Theo đó, quy định của kế toán cần thay đổi thuật ngữ “thu nhập chịu thuế” thành “thu nhập tính thuế”.

     

    • Các quy định của thuế, nhất là về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng thường xuyên được thay đổi và sự thay đổi này thường ảnh hưởng đến việc tính toán và ghi chép của kế toán, vì vậy những văn bản của kế toán có liên quan cũng cần phải có sự rà soát, chỉnh sửa kịp thời cho phù hợp.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2012), TT 123/2012/TT-BTC: hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
    • Bộ Tài chính (2005), QĐ 12/2005/QĐ-BTC: về việc ban hành và công bố 6 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 4.
    • Bộ Tài chính (2006), TT 20/2006/TT-BTC: hướng dẫn kế toán 6 chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
    • Phạm Quốc Thuần (2009), Kế toán thuế, NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM, 2009.

     

     

     

     

     

    49


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG

    THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG

    THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/THI%E1%BA%BET-L%E1%BA%ACP-V%C3%80-%C3%81P-D%E1%BB%A4NG-B%E1%BA%A2NG-%C4%90I%E1%BB%82M-C%C3%82N-B%CC%80NG-%C4%90%E1%BB%82-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-TH%E1%BB%B0C-HI%E1%BB%86N-CHI%E1%BA%BEN-L%C6%AF%CC%A3C-T%E1%BA%A0I-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TMCP-NGO%E1%BA%A0I-TH%C6%AF%C6%A0NG-VI%E1%BB%86T-NAM-CHI-NH%C3%81NH-KI%C3%8AN-GIANG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG

    THIẾT LẬP VÀ ÁP DỤNG BẢNG ĐIỂM CÂN B̀NG ĐỂ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHIẾN LỰC TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM, CHI NHÁNH KIÊN GIANG

     

    Nguyễn Thị Kim Anh*

     

    Hồ Hữu Tấn**

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết này sử dụng công cụ quản trị hiện đại bảng điểm cân b̀ng (Balanced Scorecard – BSC) để nhằm mục đích chuyển tầm nhìn và chiến lược của Vietcombank (VCB) Kiên Giang thành các mục tiêu, thước đo cụ thể theo bốn viễn cảnh của BSC là tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động nội bộ và đào tạo – phát triển. Trong mỗi viễn cảnh, BSC đều diễn giải chiến lược thành các mục tiêu giúp tổ chức vạch ra con đường đi cho từng giai đoạn. Đồng thời BSC cũng trình bày các thước đo để đo lường việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ tiêu chí tài chính là 80%; tiêu chí khách hàng là 93%; tiêu chí quy trình nội bộ là 85%; tiêu chí đào tạo và phát triển là 91% và phần trăm hoàn thành chiến lược của VCB Kiên Giang là 87,2%. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu bài viết đưa ra các giải pháp về tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển cán bộ.

     

    Từ khóa: bảng điểm cân bằng; quản lý; chiến lược.

     

    ABSTRACT

     

    This paper uses a modern management instrument – Balanced Scorecard (BSC) to transfer visions and strategies of VCB – Kien Giang branch to aims and speciic scales according to 4 types of BSC’s visions: inance, customers, internal operation process and training – development. In each vision, BSC divides strategies into aims which guide the ways for each period. BSC also shows the scales to measure the performance of the set aims. The results of the study shows that (1) the percentage of inance is 80%, customers 93%, internal process 85% and training – development 91% and (2) the percentage of strategy fulilment of VCB Kien Giang is 87,2%. Based on the results, the paper suggests some solutions for inance, customers, internal process and staff development.

     

    Keywords: Balanced Scorecard; Managament; Strategy

     

     

    1.  Đặt vấn đề

     

    Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt hiện nay, để có thể đứng vững và từng bước phát triển, ngân hàng cần phải có chiến lược phù hợp và quản lý thực thi chiến lược

     

    đó thật hiệu quả. Trong quá trình nghiên cứu các mô hình quản trị như: Quản trị toàn diện, quản trị theo mục tiêu, quản trị chất lượng, quản trị bằng Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard-BSC), theo nhận định của bài viết

     

     

    • GV Trường Đại học Nha Trang
    • TS. Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương, Chi nhánh Kiên Giang

     

     

    32

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

     

    này thì BSC là một hệ thống quản trị hữu hiệu trong việc triển khai thực hiện chiến lược. Không những thế BSC còn là công cụ đánh giá thành quả hiệu quả và còn là công cụ truyền đạt thông tin. Bằng cách liên kết tầm nhìn, chiến lược với các yếu tố quyết định thành công của bốn viễn cảnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ và Đào tạo – phát triển của tổ chức trong mối quan hệ nhân quả, cùng với việc xây dựng hệ thống thước đo có thể lượng hóa và đo lường được bằng các chỉ tiêu cụ thể đã giúp cho các ngân hàng xác định rõ con đường đi đến thành công.

     

    2.           Phương pháp nghiên cứu

     

    • Sử dụng phương pháp chuyên gia với

     

    quy trình nghiên cứu như sau:

     

    Œ Xây dựng sơ đồ mục tiêu chiến lược cho Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

    – Chi nhánh Kiên Giang (VCB KG): Định hướng chiến lược và mục tiêu của Ngân hàng sẽ được dịch chuyển vào trong cấu trúc BSC, trên cơ sở bốn yếu tố của nó: viễn cảnh tài chính, viễn cảnh khách hàng, viễn cảnh quy trình nội bộ và viễn cảnh đào tạo – phát triển, để hình thành nên sơ đồ mục tiêu chiến lược

     

    cho Ngân hàng.

     

    Œ Thiết lập các tiêu chí đo lường: Sau khi đã xây dựng xong sơ đồ mục tiêu chiến lược cho Ngân hàng, xây dựng các tiêu chí để đo lường cho từng mục tiêu đó, mục đích là để đo lường mức độ đạt được của các mục tiêu

     

    chiến lược của Ngân hàng.

     

    Œ Lên kế hoạch hành động: Chương trình hành động đó sẽ bao gồm các chương trình thực thi – những chương trình thực thi này sẽ tạo nên kết quả, là yếu tố cần thiết để đạt được các mục tiêu của Ngân hàng, các chương trình này sẽ chỉ định các nguồn lực như con người, các năng lực và nguồn ngân sách cần thiết để thực hiện.

    • Đánh giá kết quả các mục tiêu chiến lược: Các tiêu chí đo lường này cần phải được thu thập dữ liệu để so sánh kết quả thực tế đạt được với mục đích đã đề ra của Ngân hàng, từ đó Ngân hàng có thể xác định được khoảng trống giữa kết quả thực tế và mục đích.

     

    • Áp dụng mô hình BSC vừa thiết lập cho Ngân hàng.

    – Phương pháp thu thập số liệu:

     

    • Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo. Trên cơ sở những nghiên cứu và lý thuyết có trước như nghiên cứu của Robert S.Kaplan, David P.Norton, Brian E.Becker… và những số liệu thu thập được từ các báo cáo về tình hình tài chính, nhân sự, các hoạt động kinh doanh của (VCB KG).

     

    • Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được xác định thông qua sự kết hợp của hai phương pháp đó là phỏng vấn trực tiếp và phương pháp chuyên gia.

     

    Phương pháp phỏng vấn trực tiếp (bảng câu hỏi): Đối tượng quan sát đó là các nhân viên trong VCB KG (tất cả các bộ phận), số lượng phỏng vấn trực tiếp là 60 người trong tổng số 176 nhân viên, mục tiêu của phỏng vấn trực tiếp là nhằm xác định kết quả của một số chỉ số thực hiện (Key performance indicators-KPIs), như mức độ liên kết các nhân viên, sự tham gia ra quyết định của nhân viên, cách thức bố trí vị trí của các nhân viên,…

     

    Phương pháp chuyên gia: sẽ được phỏng vấn trên hai đối tượng. Đối tượng 1: Phỏng vấn trưởng và phó phòng. Nội dung phỏng vấn sẽ chuyên sâu vào trong bốn tiêu chí tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển. Để xem xét mức độ thích hợp của các chỉ số KPIs. Thời gian phỏng vấn: Khoảng 30 phút các ngày thứ 7 hàng tuần. Đối tượng 2: Phỏng vấn Ban Giám đốc. Nội

     

    33

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    dung phỏng vấn là nhằm đánh giá kết quả và xác định sự định chuẩn cho các chỉ số thực hiện KPIs. Thời gian đánh giá được diễn ra trong khoảng 30 phút.

     

    • Các dữ liệu thu thập sẽ được tổng hợp trên phần mềm Excel. Phân tích dữ liệu dựa trên phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp.

     

    3. Cơ sở lý luận

     

    3.1. Khái niệm bảng điểm cân bằng (balanced scorecard – BSC)

     

    Kaplan và Norton mô tả BSC như là những nỗ lực hệ thống đầu tiên nhằm thiết kế một hệ thống đo lường hiệu quả. Hệ thống này chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, phép đo

     

     

    3.2. Cơ sở lý thuyết để xây dựng phương pháp đánh giá BSC

     

    BSC vẫn giữ các thước đo tài chính truyền thống. Tuy nhiên, những thước đo tài chính này thì chưa thỏa đáng trong việc đánh giá, trong thời đại thông tin và tri thức thì doanh nghiệp phải tạo ra giá trị thông qua việc đầu tư vào khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, quá trình sản xuất, công nghệ và cải tiến.

     

    BSC bổ sung thêm cho thước đo tài chính bằng các thước đo và định hướng doanh nghiệp tiến tới thành công trong tương lai. Những mục tiêu và thước đo của BSC được rút trích ra từ tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp. Các mục tiêu và thước đo này được nhóm lại trong bốn viễn cảnh: Tài chính, khách hàng, hoạt động

    và những chỉ tiêu rõ ràng. Những phép đo của BSC thể hiện sự cân bằng giữa bốn viễn cảnh: Tài chính, khách hàng, quá trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển. Các phép đo được lựa chọn sử dụng cho bảng điểm là công cụ dành cho người lãnh đạo sử dụng để truyền đạt tới người lao động và các bên liên quan những định hướng về kết quả và hiệu quả hoạt động mà qua đó tổ chức sẽ đạt được những mục tiêu chiến lược của mình.

     

    Tuy nhiên, một khái niệm đơn giản như vậy không nói lên hết mọi điều về BSC, về cơ bản công cụ này cùng một lúc là 03 hệ thống: Hệ thống đo lường, hệ thống quản lý chiến lược và công cụ trao đổi thông tin (công cụ giao tiếp). (Sơ đồ 3.1)

     

     

    nội bộ, đào tao và phát triển. Những viễn cảnh này cung cấp khuôn mẫu cho BSC. (Sơ đồ 3.2).

     

    34

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

    Sơ đồ 3.3 thể hiện mô hình bảng điểm cân bằng và sơ đồ 3.4 thể hiện bảng điểm cân

     

     

     

     

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

     

    4.1. Xây dựng bản đồ chiến lược cho vietcombank Kiên Giang

     

    4.1.1. Sứ mạng: Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng.

     

    4.1.2. Các giá trị cốt lõi: Tiếp tục khẳng định vị thế đối với mảng hoạt động kinh doanh cốt lõi của Vietcombank là hoạt động Ngân hàng thương mại. An toàn và hiệu quả trong kinh doanh là mục tiêu hàng đầu; “Hướng tới một ngân hàng xanh, phát triển bền vững vì cộng đồng” là mục tiêu xuyên suốt. Phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại với nguồn nhân lực chất lượng cao và quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Phát triển và mở rộng quy mô hoạt động thông qua mua bán sáp nhập và hợp nhất khi có đủ điều kiện.

     

    4.1.3. Tầm nhìn đến năm 2030: Năm 2030 trở thành Tập đoàn tài chính đa năng hùng mạnh, ngang tầm với các Tập đoàn tài chính lớn trong khu vực.

    bằng là một bước trong chuỗi liên tục thể hiện giá trị là gì và được thể hiện như thế nào.

     

     

     

     

    4.1.4. Định hướng kinh doanh và chiến lược phát triển: Thị trường: Tiếp tục duy trì và mở rộng thị trường hiện có trong nước và phát triển ra thị trưởng quốc tế.

     

    4.1.5. Sản phẩm: Tiếp tục đẩy mạnh các sản phẩm bán buôn, bán lẻ, các sản phẩm liên kết trên nền tảng công nghệ hiện đại. Từng bước phát triển các sản phẩm ngân hàng đầu tư, dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và phi tài chính khác. Huy động vốn, thẻ, thanh toán: phục vụ cho Khách hàng đại chúng.

     

    4.1.6. Marketing và bán hàng: Chuyên nghiệp hoá hoạt động marketing và bán hàng; xây dựng chính sách, quản lý và hỗ trơ ̣ bán hàng; các chi nhánh là đơn vị trực tiếp Marketing và bán hàng.

     

    4.1.7. Các mục tiêu theo bốn viễn cảnh của BSC

     

    Các mục tiêu chiến lược của Vietcombank Kiên Giang được phân theo 4 viễn cảnh của BSC, như sau: Viễn cảnh Tài chính có 7 mục tiêu theo thứ tự từ F1 đến F7; Viễn cảnh Khách hàng có 3 mục tiêu theo thứ tự từ C1 đến C3;

     

     

    35

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Viễn cảnh Quy trình nội bộ có 6 mục tiêu theo thừ tự từ I1 đến I6; Viễn cảnh Đào tạo và Phát triển có 9 mục tiêu theo thứ tự từ L1 đến L9.

     

    4.1.8. Bản đồ chiến lược cho Vietcombank Kiên Giang

     

    Chiến lược và các mục tiêu ở mục 4.1.7 sẽ được dịch chuyển vào trong cấu trúc BSC,

    trên cơ sở bốn viễn cảnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ và Đào tạo – Phát triển. Sự dịch chuyển này sẽ hình thành nên bản đồ mục tiêu chiến lược cho VCB KG (sơ đồ 4.1). Bản đồ chiến lược cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa các mục tiêu của từng viễn cảnh.

     

     

     

     

    Kết quả Nghiên cứu

     

     

    4.2. Các ch̉ số đo lừng cốt lõi (Key

    hợp với các dữ liệu đo lường trong quá khứ để

    Performance  Indicators–  KPIs)  và  các

    tìm ra các chỉ số đo lường cốt lõi (KPIs) cho

    chương trình thực thi

    các mục tiêu chiến lược. Sau khi có các chỉ số

    4.2.1. Các chỉ số đo lường cốt lõi (KPIs)

    đo lường cốt lõi, để lượng hóa một cách chính

    Trên cơ sở các mục tiêu chiến lược ở sơ đồ

    xác, tác giả đã thảo luận và lọc lại theo các

    4.1, tiến hành phỏng vấn Ban Giám đốc và kết

    tiêu chuẩn được nêu trong Bảng 4.1:

    Bảng 4.1. Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ số đo lường cốt lõi.

     

    Tiêu chuẩn lựa chọn

    Chỉ số đo

    Chỉ số đo

    Chỉ số đo

    Chỉ số đo

     

    lường 1

    lường 2

    lường 3

    lường n

     
     
               

    Liên kết với chiến lược

             

    Khả năng truy cập

             

    Tính định lượng

             

    Dễ hiểu

             

    Đối trọng

             

    Phù hợp

             

    36

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

    Không phải tất cả các tiêu chí đo lường này được đo lường trong cùng một thời gian, thực chất khoảng thời gian đo lường nó khác nhau ở các tiêu chí. Tần số đo lường được xác định trên bốn khoảng, đó là: hàng tháng, hàng quý, hàng năm và đo lường khác. Việc xác định tần số đo lường thông qua tính chất của các tiêu chí đo

    lường và việc đo lường sẽ được thực hiện vào cuối mỗi giai đoạn, kết quả đo lường sẽ được so sánh với mục đích của từng tiêu chí đo lường. Mỗi mục tiêu chiến lược sẽ được đo lường trên các tiêu chí khác nhau. Sau khi sàng lọc, tác giả lựa chọn được 31 chỉ số đo lường cốt lõi cho ngân hàng, được thể hiện ở Bảng 4.2:

     

     

    Bảng 4.2. Các chỉ số đo lường cốt lõi cho Vietcombank Kiên Giang

     

    Viễn cảnh

    Mục tiêu chiến lược

    Đo lường

    Mục đích

    Tần số

     

    BSC

    đo lường

                 
         

    F1: Gia tăng lợi nhuận

    Số tuyệt đối

    69 tỷ đồng/ năm

    Tháng

                 
         

    F2: Tăng thu từ dịch vụ

    % tăng thu từ dịch vụ ngân hàng

    Tăng 10%/năm

    Quý

         

    ngân hàng

       
                   
         

    F3: Tăng doanh số thanh

    Số tuyệt đối

    333 triệu USD

    Tháng

         

    toán XNK

       
                   

    Viễn cảnh

    F4: Tăng nguồn vốn huy

    % tăng huy động vốn

    Tăng 6,65% /năm

    Tháng

    Tài chính

    động

       
             
         

    F5: Tăng dư nợ cho vay

    % tăng dư nợ cho vay

    Tăng 16,14%/năm

    Tháng

                 
         

    F6: Khống chế tỷ lệ nợ

    Tỷ lệ nợ xấu tối đa

    tối đa 2,3%/năm

    Tháng

         

    xấu

         
                     
         

    F7: Giảm

    chi phí (cải

    % giảm so với kế hoạch chí phí

    Tối thiểu 10% năm

    Quý

         

    thiện cấu trúc chi phí)

               
         

    C1:

    Giữ

    vững

    khách

    Tỷ lệ khách hàng truyền thống

    Nhỏ hơn 10 %

    Quý

         

    hàng truyền thống

    bỏ đi

             

    Viễn cảnh

    C2:

    Phát

    triển

    khách

    Số lượng khách hàng mới tăng

    6.000 khách hàng

    Quý

    Khách hàng

    hàng mới

       

    thêm

           
         

    C3: Nâng

    cao

    sự thỏa

    % khách hàng được thỏa mãn

    95 %

    Quý

         

    mãn khách hàng

     
                 
         

    I1: Nâng cao chất lượng

    Tỷ lệ % sai sót tối đa khi cung

    0,001%/GD

    Tháng

         

    cấp dịch vụ

       
         

    dịch vụ

           
       

    Quá

       

    Tỷ lệ % khách hàng phàn nàn

    0,01%

    Tháng

               
       

    trình

                 
             

    % chậm trễ so với thời gian

       

    bộ

     

    quản

               
     

    I2: Giảm thời gian cung

    trung bình cung cấp sản phẩm

       
     

    lý điều

     

    Tháng

    Nội

       
     

    cấp sản phẩm dịch vụ

    dịch vụ theo qui định về qui

    0%

     

    hành

     

    trình

               

    trình nghiệp vụ

       
       

    I3: Giảm thiếu rủi ro

    Tỷ lệ % rủi ro tối đa liên quan

    Nhỏ hơn 0,01%/GD

    Tháng

    Quy

       

    đến tác nghiệp

                   
     

    Quá

                 

    cảnh

             

    Thực hiện phân loại khách hàng

    100%

     
     

    trình

             
     

    I4: Hiểu rõ khách hàng

    theo nhóm

     

    Quý

    Viễn

     

    quản lý

    và phân khúc thị trường

    Số chương trình chăm sóc đối

    04/năm

     

    khách

     
             

    với từng phân đoạn khách hàng

       
       

    hàng

                 
       

    Quá

    I5:

    Phát

    triển  gói  sản

    Số gói sản phẩm được cung cấp

    02/năm

    Năm

       

    phẩm (SP)

     
       

    trình

           
       

    I6: Gia tăng tiện tích cho

         
       

    cải tiến

    Số tiện ích được tích hợp thêm

    04/năm

    Năm

       

    SP truyền thống

     
                 

     

    37

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Viễn cảnh

    BSC

     

    Con

    người

     

    Đào tạo và phát triển

    Thông

     

    cảnh

    tin

     

    Viễn

       

    Tổ

    chức

     

    Mục tiêu chiến lược

    Đo lường

     

    Mục đích

     

    Tần số

     
       

    đo lường

     
                     
           

    Tỷ lệ LĐ đi học tập ở nước

    5%/số cán bộ quản

       

    L1: Nâng

    cao kỹ

    năng

    ngoài.

     

       

    Năm

     

    quản lý cho lãnh đạo

    Tỷ lệ LĐ đạo đi học tập trong

    30%/số cán bộ quản

       
           

    nước.

     

           

    L2: Nâng cao kỹ

    năng

    Tỷ  lệ  nhân  viên  được

    huấn

    95%

           

    luyện nghiệp vụ mới

             

    chuyên  môn  cho

    nhân

               

    Số chương trình huấn

    luyện,

         

    Năm

     

    viên

         

    04 CT/năm

     
         

    đào tạo

           
                       

    L3: Nâng

    cao đạo

    đức

    Số lượng các vụ sai phạm liên

    0

       

    Tháng

     

    nghề nghiệp

     

    quan đến đạo đức nghề nghiệp

       
               
           

    Hiệu suất làm việc của nhân

    –  Giảm

    10%

    thời

       

    L4: Cải thiện môi trường

    viên tăng (giảm thời gian giao

    gian/ 1

    GD so với

    Quý

     

    làm việc cho nhân viên

    dịch so với quy định và không

    quy định

       
           
           

    sai sót)

     

    – Sai sót 0%

         

    L5: Nâng

    cao sự

    thỏa

    Sự thỏa mãn nhân viên

     

    95%

       

    Quý

     

    mãn cho nhân viên

           
                   

    L6: Khai thác hiệu quả

    Tỷ lệ máy tính được nâng cấp

    100%

           

    hiện đại và nội mạng

             

    hệ

    thống

    công

    nghệ

           

    Quý

     

    Tỷ lệ nhân viên có thể khai thác

         

    thông tin hiện đại

     

    100%

           
     

    hệ thống thông tin

             
                       

    L7: Phát triển phần mềm

    Số phần mềm tiện ích cho HĐ

    2 phần mềm

     

    Năm

     

    tiện ích

       

    KD chi nhánh

       
                   
           

    Các phong trào thi đua được

             
           

    thực hiện Bộ tiêu chuẩn phục

    2 phong trào

         

    L8: Phát huy bản sắc văn

    vụ khách hàng và sổ tay văn hóa

         

    Năm

     

    hóa Vietcombank

     

    Vietcombank

           

    Quý

     
           

    Tỷ lệ nhân viên thực hiện tốt Bộ

    95%

           
           

    tiêu chuẩn phục vụ khách hàng

             
           

    và sổ tay văn hóa Vietcombank

             
                         

    L9:

    Phát

    triển

    các

    Số chương trình xã hội từ thiện

             

    chương trình hoạt động

    8

       

    Năm

     

    Chi nhánh tham gia và tổ chức

       

    xã hội

                 
                     

    4.2.2. Triển khai các chương trình hành động.

     

    Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, VCB KG phải xây dựng những chương trình hành động cụ thể, các chương trình hành động đó bao gồm các kế hoạch, chương trình thực thi, những dự án, …. Cuối cùng để hoàn

     

    thành các mục tiêu theo bản đồ chiến lược, Ban Giám đốc cùng với các trưởng phó phòng ban thảo luận và đã thống nhất lựa chọn 23 chương trình, dự án phục vụ cho các mục tiêu chiến lược. Dựa vào chức năng và nhiệm

    Kết quả nghiên cứu

     

    vụ của từng Phòng, tổ, Ban giám đốc VCB KG sẽ tiến hành lựa chọn Phòng, tổ hoặc bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện chương trình phù hợp nhất. Có thể liên kết nhiều bộ phận, nhiều phòng trong một chương trình để đạt được hiệu quả tổng thể cao nhất và từ đó lập kế hoạch ngân sách để thực thi nó. Các chương trình hành động này có mối quan hệ nhân quả với nhau và được liên kết với các mục tiêu chiến lược, thông qua bảng điểm cân bằng cho Vietcombank Kiên Giang năm 2012 (Bảng 4.3)

     

     

    38

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

    Bảng 4.3: Bảng điểm cân b̀ng cho Vietcombank Kiên Giang năm 2012

     

         

    Hệ thống bảng điểm cân bằng

       

    Kế hoạch hành động

                       

    Viễn cảnh

           

    Tần

     

    Ngân sách

    Mục tiêu chiến lược

    Đo lường

     

    Mục đích

    số đo

    Chương trình thực thi

    (triệu

     

    BSC

     
             

    lường

     

    đồng)

                   
         

    F1: Gia tăng lợi nhuận

    Số tuyệt đối

     

    69 tỷ đồng/năm

    Tháng

       
                       
         

    F2: Tăng thu từ dịch

    % tăng thu từ dịch

     

    Tăng 10%/năm

    Quý

    – Tham gia Hội nghị về

    VCB TW

         

    vụ ngân hàng

    vụ ngân hàng

     

    dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

                 
         

    F3: Tăng doanh số

    Số tuyệt đối

     

    333 triệu USD

    Tháng

    – Tham gia Hội nghị về

    VCBTW

         

    thanh toán XNK

       

    TTXNK.

     

    Viễn

    F4: Tăng nguồn vốn

    % tăng huy động

         

    – Tổ chức, tham gia Hội

     

    cảnh Tài

    vốn

     

    Tăng 6,65% /năm

    Tháng

    thảo về công tác huy động

    200

    huy động

     

    chính

           

    vốn.

     
               
         

    F5: Tăng dư nợ cho

    % tăng dư nợ cho

     

    Tăng 16,14%/

    Tháng

    – Tham gia tập huấn về

    VCBTW

         

    vay

    vay

     

    năm

    công tác tín dụng.

         

    F6: Khống chế tỷ lệ

    Tỷ lệ nợ xấu tối đa

     

    tối đa 2,3%/năm

    Tháng

    – Tham gia Hội nghị nợ có

    VCBTW

         

    nợ xấu

       

    vấn đề.

         

    F7: Giảm chi phí (cải

    % giảm so với kế

     

    Tối thiểu 10%

    Quý

    – Kế hoạch tiết giảm chi

    50

         

    thiện cấu trúc chi phí)

    hoạch chí phí

     

    năm

    phí.

               
                   

    – CT chăm sóc khách hàng

    700

         

    C1: Giữ vững khách

    Tỷ lệ khách hàng

         

    thường xuyên

     
           

    Nhỏ hơn 10 %

    Quý

    -Hoàn thiện hệ thống

    400

         

    hàng truyền thống

    truyền thống bỏ đi

     
                   

    thông tin khách hàng

     
                   

    -Hội nghị khách hàng

    450

           

    Số lượng khách

         

    CT thu hút khách hàng

     

    Viễn cảnh

    C2: Phát triển khách

         

    mới

    450

    hàng mới tăng

     

    6.000 khách hàng

    Quý

    Khách

    hàng mới

     

    CT quảng cáo thường

    100

    thêm

         
     

    hàng

           

    xuyên

     
                 
                   

    CT khảo sát sự thỏa mãn

    200

                   

    của khách hàng

                     
         

    C3: Nâng cao sự thỏa

    % khách hàng được

     

    95 %

    Quý

    Giới thiệu SP và tiện ích

    50

         

    mãn khách hàng

    thỏa mãn

         

    mới

     
                   

    CT chăm sóc khách hàng

    (Xem C1)

                   

    thường xuyên

                     
           

    Tỷ lệ % sai sót tối

         

    Nâng cấp hệ thống CNTT

    (Xem L6)

           

    đa khi cung cấp

         

    Tập huấn và bồi dưỡng

         

    I1: Nâng cao chất

     

    0,001%/GD

    Tháng

    150

         

    dịch vụ

     

    nghiệp vụ

         

    lượng dịch vụ

    Tỷ lệ % khách

     

    0,01%

    Tháng

    Đào tạo kỹ năng chuyên

    150

       

    Quá

     

    hàng phàn nàn

         

    môn cho nhân viên

     
         

    % chậm trễ so với

       

    Tháng

       
       

    trình

             
         

    thời gian trung bình

     

    0%

         
       

    quản

    I2: Giảm thời gian

           
       

    cung cấp sản phẩm

         

    Xem xét lại quy trình cung

     
       

    lý điều

    cung cấp sản phẩm

         

    VCBTW

       

    hành

    dịch vụ

    dịch vụ theo qui

         

    cấp sản phẩm dịch vụ

     

    bộ

     

    định về qui trình

             
                   
         

    nghiệp vụ

             

    Nội

                   
       

    I3: Giảm thiếu rủi ro

    Tỷ lệ % rủi ro tối

     

    Nhỏ hơn 0,01%/

    Tháng

    Tập huấn và bồi dưỡng

    (Xem I1)

    trình

       

    đa liên quan đến

     

    GD

     

    nghiệp vụ

         

    tác nghiệp

         

    Quy

     

    QT

     

    Thực hiện phân

             
     

    quản

     

    loại khách hàng

         

    Hoàn thiện hệ thống quản

    (Xem C1)

    cảnh

             
     

    I4: Hiểu rõ khách

    theo nhóm

     

    100%

     
         

    lý thông tin khách hàng

     
     

    khách

    hàng và phân khúc thị

    Số chương trình

     

    04/năm

    Quý

     

    Viễn

       

    CT chăm sóc khách hàng

    (Xem C1)

     

    hàng

    trường

    chăm sóc đối với

         
           

    thường xuyên

     
         

    từng phân đoạn

           
                   
                     
           

    khách hàng

             
         

    I5: Phát triển gói SP

    Số gói sản phẩm

     

    02/năm

    Năm

    Nâng cấp hệ thống CNTT

    (Xem L6)

         

    được cung cấp

       
       

    Quá

               
                     
                 

    Nâng cấp hệ thống công

     
       

    trình

             

    nghệ thông tin

    (Xem L6)

       

    cải

    I6: Gia tăng tiện tích

    Số tiện ích được

     

    04/năm

    Năm

    Tập huấn và bồi dưỡng

    ( Xem I1)

       

    tiến

    cho SP truyền thống

    tích hợp thêm

     

    nghiệp vụ

    ( Xem I1)

                   

    Đào tạo kỹ năng chuyên

     
                   

    môn cho nhân viên

     

    39

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

         

    Hệ thống bảng điểm cân bằng

       

    Kế hoạch hành động

                       

    Viễn cảnh

           

    Tần

     

    Ngân sách

    Mục tiêu chiến lược

    Đo lường

     

    Mục đích

    số đo

    Chương trình thực thi

    (triệu

     

    BSC

     
             

    lường

     

    đồng)

                   
         

    L1: Nâng cao kỹ năng

    Tỷ lệ LĐ đi học tập

     

    5%/số cán bộ

     

    Phát triển các chương trình

    500

         

    ở nước ngoài.

     

    quản lý

    Năm

    đào tạo kỹ năng cho các

     
         

    quản lý cho lãnh đạo

    Tỷ lệ LĐ đạo đi

     

    30%/số cán bộ

    nhà lãnh đạo

     
               
           

    học tập trong nước.

     

    quản lý

         
           

    Tỷ lệ nhân viên

     

    95%

     

    Đào tạo kỹ năng chuyên

    ( Xem I1)

         

    L2: Nâng cao kỹ năng

    được huấn luyện

     

    04 CT/năm

    Năm

           

    môn cho nhân viên

     
         

    chuyên môn cho nhân

    nghiệp vụ mới

           
               

    Huấn luyện nhân viên mới

    VCBTW

         

    viên

    Số chương trình

         
                   
           

    huấn luyện, đào tạo

             
       

    Con

     

    Số lượng các vụ

         

    Quản lý nhân sự

     
       

    người

    L3: Nâng cao đạo đức

    sai phạm liên quan

         

    100

         

    0

    Tháng

    Hoàn thiện các qui trình

         

    nghề nghiệp

    đến đạo đức nghề

     

    VCBTW

               

    nghiệp vụ

           

    nghiệp

           
                     
           

    Hiệu suất làm việc

             
         

    L4: Cải thiện môi

    của nhân viên tăng

     

    -Giảm 10% thời

     

    Xây dựng mới trụ sở

     
         

    (giảm thời gian

     

    gian/ 1 GD so với

     

    80.000

         

    trường làm việc cho

     

    Quý

    chính, sữa chữa cải tạo các

    triển

       

    nhân viên

    giao dịch so với

     

    quy định

     

    phòng giao dịch

     
       

    quy định và không

     

    Sai sót 0%

       
                 

    phát

         

    sai sót)

             
       

    L5: Nâng cao sự thỏa

    Sự thỏa mãn nhân

     

    95%

    Quý

    Phúc lợi cho nhân viên

    800

       

    mãn cho nhân viên

    viên

     
                 

    tạo

       

    L6: Khai thác hiệu

    Tỷ lệ máy tính

     

    100%

         
       

    quả hệ thống công

    được nâng cấp hiện

             

    Đào

                 
       

    nghệ thông tin hiện

    đại và nối mạng

     

    100%

    Quý

    Nâng cấp hệ thống Công

    300

    cảnh

     

    Thông

    đại

    Tỷ lệ nhân viên có

       

    nghệ thông tin

             
     

    tin

     

    thể khai thác hệ

             

    Viễn

       

    thống thông tin

             
                   
       

    L7: Phát triển phần

    Số phần mềm tiện

         

    Nghiên cừu và viết phần

     
         

    ích cho HĐ KD chi

     

    2 phần mềm

    Năm

    200

         

    mềm tiện ích

     

    mềm

         

    nhánh/ năm

           
                     
           

    Các phong trào thi

             
           

    đua được thực hiện

             
           

    Bộ tiêu chuẩn phục

         

    – Tổ chức thi tìm hiểu và

    300

           

    vụ khách hàng

     

    2 phong trào

    Năm

    thực hiện theo Bộ tiêu

               
         

    L8: Phát huy bản sắc

    và sổ tay văn hóa

     

    chuẩn phục vụ khách

     
                 
         

    Vietcombank

         

    hàng và sổ tay văn hóa

     
         

    văn hóa Vietcombank

         

    40

       

    Tổ

    Tỷ lệ nhân viên

     

    95%

    Quý

    Vietcombank

             
         

    thực hiện tốt Bộ

     

    – Đánh giá nhân viên tiêu

    50

       

    chức

           
         

    tiêu chuẩn phục

         

    biểu hàng quý

                   
           

    vụ khách hàng

         

    – Truyền thông mục tiêu

     
           

    và sổ tay văn hóa

             
           

    Vietcombank

             
         

    L9: Phát triển các

    Số chương trình xã

         

    Chương trình hoạt động

     
         

    chương trình hoạt

    hội từ thiện Chi nhánh

     

    8

    Năm

    400

           

    xã hội

         

    động xã hội

    tham gia và tổ chức

           
                   

    Kết quả nghiên cứu

     

    4.3 Ứng dụng thí điểm BSC để đánh giá hiệu quả hoạt động của Vietcombank Kiên Giang trong năm 2012

     

    – Các bước cơ bản thực thi BSC cho VCB KG thể hiện ở sơ đồ 4.2.

     

     

    40

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

    4.4. Kết quả thực hiện các kế hoạch kinh doanh đến 30/11/2012

     

    Bảng 4.4: Kết quả thực hiện các mục tiêu chiến lược

     

         

    Điểm

    % hoàn

     
     

    Tiêu chí

    Kết quả

    đánh

    Xếp loại

         

    giá

    thành

     
             

    I. Tiêu chí về tài chính

       

    80 %

     
               

    TC-01

    Tốc độ tăng lợi nhuận

    Đạt 24 tỷ

    1,7

    34,78%

    Yếu

    TC-02

    Thu từ dịch vụ ngân hàng

    giảm 9,1%

    4,1

    82,63%

    Mạnh

    TC-03

    Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu

    238 triệu USD

    3,6

    71%

    Khá

    TC-04

    Huy động vốn

    Tăng 6,74%

    5,0

    100,18%

    Mạnh

    TC-05

    Dư nợ cho vay

    giảm 4,33%

    4,1

    82,38%

    Mạnh

    TC-06

    Khống chế nợ xấu

    2,55%

    4,5

    89%

    Mạnh

    TC-07

    Giảm chi phí

    2,918 tỷ

    5,0

    119,48%

    Mạnh

    II. Tiêu

    chí về khách hàng

       

    93%

     

    KH-01

    Tỷ lệ khách hàng truyền thống bỏ đi

    4%

    5.0

    160%

    Mạnh

    KH-02

    Số lượng khách hàng mới tăng lên

    8.705 khách hàng

    5,0

    135,82%

    Mạnh

    KH-03

    % khách hàng được thỏa mãn

    84,24%

    4,0

    80%

    Mạnh

    III. Tiêu chí về hoạt động nội bộ

       

    85%

     
               

    HN-01

    Tỷ lệ % sai xót tối đa khi cung cấp sản phẩm dịch vụ

     

    3,8

    75%

    Khá

               

    HN-02

    Tỷ lệ % khách hàng phàn nàn

     

    3,8

    75%

    Khá

               

    HN-03

    % chậm trễ so với thời gian trung bình cung cấp sản

     

    4,0

    80%

    Mạnh

    phẩm dịch vụ theo qui định về qui trình nghiệp vụ

     

    HN-04

    Tỷ lệ % rủi ro tối đa liên quan đến tác nghiệp

     

    2,5

    50%

    Trung bình

               

    HN-05

    Thực hiện phân loại khách hàng

    100%

    5,0

    100%

    Mạnh

    HN-06

    Số chương trình chăm sóc đối với từng phân đoạn

    06

    5,0

    150%

    Mạnh

    khách hàng

    HN-07

    Phát triển gói sản phẩm

    03

    5,0

    150%

    Mạnh

    HN-08

    Gia tăng tiện ích cho sản phẩm truyền thống

    05

    5,0

    100%

    Mạnh

    IV. Tiêu chí về đào tạo và phát triển

       

    91%

     
               

    DP-01

    Tỷ lệ % lãnh đạo được đi học tập ở nước ngoài

    0%

    0,0

    0%

    Yếu

    DP-02

    Tỷ lệ % lãnh đạo được đi học tập trong nước

    30%

    5,0

    100%

    Mạnh

    DP-03

    Tỷ lệ nhân viên được huấn luyện nghiệp vụ mới

    97%

    5,0

    102%

    Mạnh

    DP-04

    Số chương trình đào tạo, huấn luyện

    05

    5,0

    125%

    Mạnh

    DP-05

    Số vụ sai phạm liên quan đến đạo đức nghề nghiệp

    0

    5,0

    100%

    Mạnh

    DP-06

    Hiệu suất làm việc của nhân viên tăng

    15%

    5,0

    150%

    Mạnh

    DP-07

    Sự thỏa mãn của nhân viên

    95%

    5,0

    100%

    Mạnh

    DP-08

    Tỷ lệ máy tính được nâng cấp hiện đại và nối mạng

    100%

    5,0

    100%

    Mạnh

    DP-09

    Tỷ lệ nhân viên có thể khai thác hệ thống thông tin

    87%

    4.4

    87%

    Mạnh

    DP-10

    Số phần mềm tiện ích cho HĐ KD chi nhánh/ năm

    2

    5,0

    100%

    Mạnh

    DP-11

    Các phong trào thi đua được thực hiện

    05

    5,0

    125%

    Mạnh

    DP-12

    Tỷ lệ nhân viên thực hiện tốt Bộ tiêu chuẩn phục vụ

    95%

    5,0

    100%

    Mạnh

    khách hàng và sổ tay văn hóa Vietcombank

    DP-13

    Số chương trình xã hội từ thiện mà Chi nhánh tham

    15

    5,0

    188%

    Mạnh

    gia và tổ chức

    Kết quả nghiên cứu

     

     

    41

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    4.5. Đánh giá kết quả hoàn thành chiến lược của VCB KG

     

    Phần trăm hoàn thành chiến lược của VCB KG được tính theo công thức sau:

    % Hoàn thành chiến lược =

     

    (%TC+%KH+%HN+%DP)

     

    4

       

    Theo kết quả ở bảng số liệu 4.4 và theo công thức tính toán, ta có kết quả phần trăm hoàn thành của các tiêu chí là:

     

    • Tiêu chí Tài chính là 80%

     

    • Tiêu chí Khách hàng là 93%

     

    • Tiêu chí Quy trình nội bộ là 85%

     

    • Tiêu chí Đào tạo và phát triển là 91% Vậy phần trăm hoàn thành chiến lược của

    VCB KG là 87,2 %.

     

     

    5. Giải pháp

     

    5.1. Những điểm mạnh và điểm yếu của VCB KG nhìn t̀ BSC

     

    5.1.1. Đào tạo và huấn luyện nhân viên

     

    • Điểm mạnh: Thực hiện tốt công tác đào tạo và huấn luyện, khuyến khích nhân viên tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện làm việc tốt cho nhân viên, đầu tư cho các hoạt động phục vụ cho nhiệm vụ kinh doanh, tích cực tham gia các hoạt động xã hội vì cộng đồng.

     

    • Điểm yếu: VCB KG không có cán bộ quản lý nào đi đào tạo ở nước ngoài.

    5.1.2. Hoat động nội bộ

     

    • Điểm mạnh: Trong hoạt động nội bộ có 5/8 tiêu chí thực hiện tốt và được đánh giá là điểm mạnh.

     

    • Điểm yếu: Tỷ lệ sai sót khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ, tỷ lệ khách hàng phàn nàn, chỉ tiêu rủi ro liên quan đến tác nghiệp mà đặc biệt rủi ro tín dụng.

     

    5.1.3. Tiêu chí khách hàng

     

    • Điểm mạnh: Thực hiện tốt các mục tiêu đề ra như: Giữ chân khách hàng truyền thống, số khách hàng mới tăng lên, khách hàng được thỏa mãn.

     

    • Điểm yếu: Khách hàng được thỏa mãn nhưng chưa cao.

     

    5.1.4. Tiêu chí Tài chính

     

    • Điểm mạnh: Thực hiện tốt các mục tiêu

     

    đề ra

     

    • Điểm yếu: Chỉ tiêu lợi nhuận chưa đạt, do trích dự phòng cho nợ xấu năm trước.

     

    5.2. Giải pháp thực hiện BSC

     

    • Về vĩn cảnh Đào tạo và phát triển: Chính sách về mạng lưới thông tin và con người, làm tốt công tác nhân sự.

     

    • Về vĩn cảnh Qui trình nội bộ: Hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ và giảm thiểu các điều kiện, thủ tục sử dụng. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro.

     

    • Về vĩn cảnh khách hàng: Làm tốt hơn nữa công tác phân loại và đánh giá khách hàng, tăng cường công tác tư vấn khách hàng và triển khai hiệu quả các chương trình thu hút khách hàng mới.

     

    • Về vĩn cảnh Tài chính: Có biện pháp thu hồi nợ xấu và kiểm soát chặc chẽ các khoản cho vay.

     

     

    42

     

    Thiết lập và áp dụng…

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nguyễn Thị Kim Anh, Quản trị Chiến lực, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.

     

    • Trần Kim Dung (2006) Quản trị Nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Thống kê.

     

    • Lê Thế Giới và các cộng sự (2007), Quản Trị Chiến Lược, Nhà Xuất Bản Thống Kê.

     

    • Đào Duy Huân (2007) Quản trị Chiến lực, Nhà xuất bản Thống kê.

     

    • Nguyễn Thanh Liêm (2007), Quản Trị Tài Chính, Nhà Xuất Bản Thống Kê.

     

    • Cao Hoàng Long, Quản trị chiến lược sử dụng Balanced Scorecard.

     

    • Đình Phúc – Khánh Linh (2007), Quản lý Nhân sự, Nhà xuất bản tài chính.

     

    • Nguyễn Hữu Thân (2001), Quản trị Nhân sự, Nhà xuất bản Thống kê.

     

    • Nguyễn Quốc Tuấn và các công sự, Quản trị Nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Thống kê.

     

    • Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong quản trị (1999), Khoa quản trị kinh doanh – Đại học Kinh tế TP.HCM.
    • Robert S.Kaplan, David P.Norton (2004), Strategy Maps, Harvard Business School, Boston. [12]Paul R.Niven, Balanced Scorecard Step-by-Step: Maximizing Performance and Maintaining Results

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-%C3%9D-KI%E1%BA%BEN-V%E1%BB%80-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-C%C3%94NG-T%C3%81C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-CHO-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-NH%E1%BB%8E-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO DOANH NGHIỆP NHỎ Ở VIỆT NAM

     

    Võ Văn Nhị *

     

    Đậu Thị Kim Thoa**

     

    TÓM TẮT

     

    Với đặc điểm của một nước đang phát triển nên số lượng doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam chiếm đại bộ phận trong tổng số doanh nghiệp (DN) và đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, tổ chức công tác kế toán của các DN này còn nhiều hạn chế, do đó thông tin kế toán cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng có liên quan. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tổ chức công tác kế toán cho DN nhỏ là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng. Bài viết này tập trung tìm hiểu và đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán của các DN nhỏ ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đưa ra một số ý kiến để tổ chức công tác kế toán phù hợp với những đặc thù của các DN nhỏ tại Việt Nam nh̀m nâng cao hơn nữa chất lượng của thông tin kế toán cung cấp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy DN nhỏ phát triển.

    Từ khoá: Tổ chức công tác kế toán, doanh nghiệp nhỏ.

    SOME IDEAS ABOUT THE ORGANIZATION OF ACCOUNTING WORK FOR SMALL ENTERPRISES IN VIET NAM

     

    ABSTRACT

     

    As a developing country, small businesses account for the majority of Vietnamese enterprises and have contributed signiicantly to the country’s economic development. However, the organization of accounting system of the enterprises has many limitations. Therefore, the accounting information does not meet requirements of users. Hence, research in the organization of accounting system for small companies has important meaning in practice. This article focused on understanding and assessing the reality of the organization of accounting system for small businesses in Vietnam. From then, the article suggested some ideas for the organization of the accounting system to be relevant for small businesses. The resulted improved accounting information will contribute to the improvement of the management eficiency that promotes the development of small businesses.

     

    Keywords: the organization of accounting system; small company

     

    • TS. Khoa Kế toán – Kiểm toán, trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh ** ThS. GV. Khoa Kế toán – Kiểm toán, trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

     

     

    22

     

    Một số ý kiến…

     

    1. DN nhỏ được xác định dựa trên sự phân loại doanh nghiệp theo độ lớn về quy mô của doanh nghiệp. Việc phân loại doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều tiêu thức và không có một sự phân loại chung nào được thống nhất trên toàn thế giới. Nhìn chung tiêu chuẩn được sử dụng để phân biệt các doanh nghiệp gồm có hai nhóm: nhóm định tính và nhóm định lượng. Các tiêu chí định tính là các tiêu chí dựa vào những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như: chuyên môn hóa, nhân viên quản lý, trình độ quản lý…, còn các tiêu chí định lượng là các tiêu chí thường được ưa chuộng bao gồm số lượng lao động, giá

    trị tài sản và vốn, doanh thu và lợi nhuận… Các tiêu chí này thay đổi theo từng điều kiện hoàn cảnh và từng giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều phân doanh nghiệp nhỏ ra thành 2 nhóm: doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, một số quốc gia vẫn chưa phân biệt một cách rõ ràng giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa mà chỉ có thể phân chia là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, điển hình như Nhật Bản.

     

    Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới và các công ty tài chính quốc tế thì các doanh nghiệp nhỏ được phân chia như sau:

     

     

     

    Lao động

    Tổng tài sản

    Doanh thu hàng năm

           

    DN siêu nhỏ

    1- 9

    < 0,1 triệu USD

    < 100.000 USD

    DN nhỏ

    10- 49

    0,1 triệu – < 3triệu USD

    0,1 triệu – < 3triệu USD

    Theo tiêu chí Thái Lan thì phân chia như sau:

     

    Khu vực sản xuất

    Lao động

    Vốn đăng ký

    DN siêu nhỏ

    1- 4

    0,5 triệu Baht

    DN nhỏ

    5- 49

    0,5 – < 8 triệu Baht

    Khu vực kinh doanh

    Lao động

    Doanh thu hàng năm

    DN siêu nhỏ

    1- 4

    < 1 triệu Baht

    DN nhỏ

    5- 19

    1- < 20 triệu Baht

     

     

    Nguồn vốn hoạt động thấp và số lượng lao động tương đối ít nên các doanh nghiệp nhỏ có phạm vi hoạt động hẹp, chỉ kinh doanh một hoặc một số mặt hàng nhất định. Vì vậy, tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ cũng khá đơn giản. Tổ chức bộ máy kế toán thường thực hiện theo hình thức tập trung tại phòng kế toán và chỉ có một vài nhân viên kế toán hoặc một số doanh nghiệp nhỏ thuê dịch vụ kế toán từ bên ngoài. Do đó, việc phân quyền trách nhiệm cũng gặp nhiều khó khăn, số lượng nhân viên ít nên thường dẫn đến kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.

    Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ít, đơn giản, nên việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác kế toán cũng có phần hạn chế. Các doanh nghiệp có thể xử lý kế toán bằng thủ công, bằng excel hay bằng phần mềm kế toán đơn giản thông qua mua hoặc đặt hàng từ các nhà cung cấp.

     

    Doanh nghiệp nhỏ chủ yếu tồn tại dưới hai loại hình công ty tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn nên người chủ thường sẽ là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại một số ít doanh nghiệp thì nhà quản lý cũng có thể được thuê từ bên ngoài. Việc quản lý tại các doanh nghiệp này mang

     

     

    23

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    nặng tính gia đình và kinh nghiệm. Do quy mô nhỏ nên việc quản lý tại các doanh nghiệp loại này thường không chia theo nhiều tầng nấc, chủ doanh nghiệp quản lý theo hình thức mệnh lệnh, chỉ đạo trực tiếp từ trên xuống và ít khi nhận sự phản hồi từ dưới lên khi đưa ra các quyết định kinh doanh. Ngoài ra cũng do phạm vi, quy mô hoạt động nhỏ nên các nhà quản lý dễ dàng nắm rõ tình hình hoạt động, kiểm soát và chi phối trực tiếp đến tổng thể tình hình tài chính cũng như hoạt động của doanh nghiệp.

     

    Doanh nghiệp nhỏ không hoặc chưa tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán nên hoạt động kinh doanh của nó không tác động mạnh đến nền kinh tế, đồng thời cũng không bắt buộc phải công bố các Báo cáo tài chính (BCTC) tổng quát cho các đối tượng sử dụng bên ngoài như các công ty có quy mô lớn như các công ty cổ phần. Vì vậy, đối tượng sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp nhỏ chủ yếu là nhà quản lý; những người có lợi ích tài chính trực tiếp (chủ sở hữu, ngân hàng, nhà cung cấp); và những người có lợi ích tài chính gián tiếp (cơ quan Thuế).

     

    Thông tin cung cấp thông qua các BCTC đến các đối tượng sử dụng này nhằm đáp ứng các yêu cầu:

     

    Đưa ra các quyết định thích hợp về đầu tư, tín dụng hay các quyết định tương tự khác.

     

    Dự đoán được dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp. Có thể dự đoán được số tiền, thời gian, và mức rủi ro của những khoản tiền sẽ thu hồi, tiền lãi, kết quả từ việc mua bán hay các khoản nợ vay…

     

    Đánh giá về nguồn lực kinh tế của đơn vị, nguồn hình thành các nguồn lực này và các trường hợp phát sinh đã làm tăng, giảm nguồn lực.

    Đánh giá hiệu quả hoạt động của đơn vị. Đánh giá được việc chấp hành, tuân thủ các chính sách, chế độ kế toán, tài chính do

     

    Nhà nước quy định.

     

    Qua tìm hiểu nhiều tài liệu khác nhau, chúng tôi thấy rằng mô hình tổ chức công tác kế toán cho doanh nghiệp nhỏ ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động doanh nghiệp nhỏ cũng như nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau ở bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên, xét trên bình diện chung thì mô hình tổ chức công tác kế toán ở các quốc gia đều có những nét tương đồng:

     

    Thông tin cung cấp chỉ bao gồm một số nội dung chủ yếu liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và lợi nhuận chứ không đi vào các thông tin quá chi tiết như các doanh nghiệp có quy mô lớn.

     

    Tổ chức hệ thống thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị thường được tích hợp và xử lý linh hoạt theo yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau, đặc biệt là của các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp.

     

    Việc tổ chức bộ máy kế toán thì thông thường ở các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chỉ mới tuyển dụng những người làm kế toán chuyên nghiệp. Riêng với doanh nghiệp siêu nhỏ thì thông thường thuê người làm kế toán ở các công ty chuyên về dịch vụ kế toán hoặc các kế toán viên hành nghề.

     

    1. Doanh nghiệp nhỏ chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế và thường chiếm số lượng lớn ở các nước đang phát triển, kể cả

     

    • các nước phát triển như Mỹ, Nhật,… Tại Việt Nam cũng không ngoại lệ, số lượng các DN nhỏ ở Việt Nam đang không ngừng tăng lên đáng kể. Theo “Báo cáo thường niên DN Việt Nam 2011” do Phòng Thương mại

     

     

    24

     

    Một số ý kiến…

     

    và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố hôm 14/03/2012 dựa trên tiêu chí phân loại quy mô DN theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, nếu xét theo lao động, có tới 95% trong số hơn 500.000 DN Việt Nam đang hoạt động hiện nay là các DN nhỏ và siêu nhỏ, trong đó DN siêu nhỏ chiếm khoảng 66%. Cũng theo báo cáo, tỷ trọng các DN siêu nhỏ về quy mô lao động có xu hướng ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng DN vừa và lớn giảm lần lượt từ 2,8% và 4,49% (năm 2005) còn 1,9% và 2,5% (2010). Tuy nhiên, nếu xét về quy mô vốn thì xu hướng diễn ra ngược lại, cụ thể, tỷ trọng vốn của DN nhỏ giảm từ 89,36% (2005) xuống còn 79,22% (2010). Trong khi đó tỷ trọng DN vừa và lớn tăng gấp đôi trong giai đoạn này, từ 7,36% và 3,28% (2005) lên 14,19% và 6,59% (2010)(1).

     

    Doanh nghiệp nhỏ tại Việt Nam có các đặc điểm phổ biến như sau(2):

     

    • Về hình thức sở hữu: chủ yếu là DN tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo VCCI, tính đến 31/12/2011 trong 543.963 DN thì có gần 97% doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân.

     

    • Về hoạt động kinh doanh: các DN nhỏ hoạt động rất đa dạng, trong mọi lĩnh vực và ngành nghề, chủ yếu là các ngành nghề thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ hoặc sản xuất, gia công nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nội địa.

     

    • Về hiệu quả kinh doanh: số lượng DN nhỏ chiếm bộ phận lớn , điều kiện kinh doanh còn nhiều hạn chế nên áp lực cạnh tranh cao điều này đã làm cho hiệu quả hoạt động của các DN nhỏ thường không cao và khả năng phát triển thấp.

     

    • Hệ thống thông tin kế toán: các DN nhỏ còn yếu về vấn đề này, do phong cách quản

    lý mang nặng theo kiểu gia đình và tính kinh nghiệm, nên thông tin chủ yếu cung cấp cho cơ quan Thuế hơn là phục vụ cho việc quản lý, điều hành DN.

     

    Với những đặc điểm trên cho thấy các DN nhỏ ở Việt Nam để có thể tồn tại và phát triển lâu dài thì đang phải đối mặt với những thách thức như sau:

     

    • Về nguồn lực tài chính của các DN nhỏ, đặc biệt là nguồn vốn tự có còn khá hạn chế để có thể thực hiện việc duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập như hiện nay đang xảy ra các tình trạng cạnh tranh khốc liệt giữa các DN nhỏ với nhau.

     

    • Về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung còn yếu kém, lạc hậu so với các nước khác, môi trường làm việc như nhà xưởng, nơi giao dịch, quản lý còn khá chật hẹp.

     

    • Phong cách quản lý còn mang tính gia đình, cá nhân vì các DN nhỏ chủ yếu là các DN tư nhân cho nên thiếu tầm nhìn và thiếu các chiến lược kinh doanh dài hạn gây khó khăn cho sự phát triển lâu dài của DN nhỏ ở Việt Nam.

     

    • Ngoài ra quá trình hội nhập phát triển nên các DN nhỏ dễ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của nền kinh tế thế giới đặc biệt là chịu ảnh hưởng của tình hình lạm phát, lãi suất, tỷ giá, thuế và các chính sách hỗ trợ khác… Do đó, Nhà nước cần phải có sự quan tâm chặt chẽ, ban hành các chính sách hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của các DN nhỏ.

     

    Mặc dù còn phải đối mặt với những thách thức trong việc tồn tại và phát triển nhưng các DN nhỏ có vị trí khá quan trọng và là nền tảng

     

     

    • Nguồn http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120314/doanh-nghiep-sieu-nho-ngay-cang-tang.aspx

     

    • Võ Văn Nhị và Nguyễn Ngọc Dung, 2011. Tình hình hoạt động kinh doanh và công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, số 249, trang 51.

     

     

    25

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    trong nền kinh tế Việt Nam, đã sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP của cả nước, vì vậy Nhà nước cần có sự quan tâm đặc biệt đến các DN nhỏ. Với những lợi thế của mình, các DN nhỏ đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của Nhà nước và tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lớn người lao động cả nước, cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho xã hội. Có thể nêu ra một số lợi thế của doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam:

     

    • Các DN nhỏ năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường bởi quy mô hoạt động nhỏ, vốn ít và nguồn lao động ít nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, chuyển hướng mặt hàng, tăng giảm lao động dễ dàng, thậm chí có thể tạm ngừng hoạt động để chờ đợi thời cơ và có thể chịu đựng được những thiệt hại mà không gây xáo trộn, bất ổn lớn cho nền kinh tế.

     

    • Tổ chức sản xuất cũng như tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, nên việc bàn bạc để ra các quyết định quản lý nhanh chóng đi đến sự đồng thuận và thực hiện nhanh. Đồng thời công tác kiểm tra điều hành quản lý trực tiếp nên góp phần tiết kiệm chi phí quản lý DN.

     

    • Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao và có khả năng thu hồi vốn nhanh, nên dễ hấp dẫn việc đầu tư của các thành phần kinh tế khác vào khu vực này.

     

    • Hơn nữa các DN nhỏ thường có tính chủ động và độc lập cao do không có trách nhiệm lớn đối với xã hội, vì vậy các DN nhỏ giải quyết hoạt động kinh doanh của mình với rất ít áp lực về trách nhiệm và đạo đức.

     

    Tuy nhiên để phát huy tối đa những ưu điểm của DN nhỏ thì Nhà nước cần phải có những chính sách hỗ trợ phù hợp, đặc biệt là những chính sách quản lý và điều hành DN nhỏ.

    1. Tình hình tổ chức công tác kế toán ở các DN nhỏ tại Việt Nam qua khảo sát và tìm hiểu thực tế có thể phân ra làm 2 dạng: đối với DN nhỏ nhưng có quy mô hoạt động tương đối rộng thì tổ chức công tác kế toán khá tốt và đã đáp ứng được nhu cầu của DN ở mức độ nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều nhược điểm cần phải cải thiện. Đối với các DN có quy mô siêu nhỏ và cận nhỏ thì tổ chức công tác kế toán vẫn chưa được chú trọng và gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, do đó chưa đáp ứng tốt nhu cầu thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng có liên quan. Sở dĩ có tình hình trên là do các nguyên nhân sau

    đây:y Nguyên nhân khách quan:

     

    Do sự phát triển không ngừng và mạnh mẽ của nền kinh tế đã tác động làm thay đổi đáng kể khung pháp lý nói chung và các quy định về kế toán DN nói riêng ở Việt Nam. Thêm vào đó, khung pháp lý của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện tại cũng như chưa bắt kịp với thế giới. Để có thể đáp ứng nhu cầu đó thì Nhà nước phải hoàn thiện khung pháp lý, nhưng việc nghiên cứu xây dựng chưa đón đầu được sự phát triển lâu dài trong tương lai của nền kinh tế, vì vậy các quy định thường xuyên bổ sung đã gây ra nhiều khó khăn, lúng túng, mất nhiều thời gian cho DN trong quá trình nghiên cứu, chuyển đổi, cập nhật những quy định mới.

     

    Các cơ quan Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp có liên quan vẫn chưa hoạt động hiệu quả trong việc phổ biến, hướng dẫn và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn về kế toán cũng như về quản lý cho các DN nhỏ. Do đó, những quy định pháp lý mới ban hành các DN vẫn chưa được cập nhật và hướng dẫn kịp thời, đặc biệt là các DN nhỏ hoạt động nhỏ,

     

     

    26

     

    Một số ý kiến…

     

    lẻ, trình độ quản lý và nhân viên kế toán còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức này vẫn chưa phát huy chức năng và vai trò của mình trong việc kiểm định, đánh giá và kết nối các công ty dịch vụ kế toán đến các DN nhỏ. Do đó, các DN nhỏ này khi tìm kiếm dịch vụ kế toán khá khó khăn, chi phí cao và không đảm bảo chất lượng.

     

    Các cơ quan Nhà nước còn kiểm tra lỏng lẻo và chưa có biện pháp chế tài đủ mạnh kiểm soát chất lượng thông tin kê khai tài chính và đóng thuế của các DN nói chung và DN nhỏ nói riêng. Hiện tại chỉ có cơ quan Thuế thực hiện kiểm tra tại các đơn vị nhưng cũng chỉ kiểm tra sự đúng khớp của sổ sách với kê khai và nộp thuế như thế nào mà chưa kiểm tra được liệu rằng số liệu đó có đúng hay không. Thêm vào đó, Nhà nước vẫn chưa yêu cầu kiểm toán độc lập đối với DN thuộc loại này. Điều này đã tác động phần nào lên tâm lý, thái độ chủ quan, xem nhẹ khâu kế toán của các DN.

     

    Ngoài cơ quan Thuế thì đối tượng quan tâm sử dụng BCTC của DN nhỏ chủ yếu chỉ là ngân hàng, còn nhà cung cấp hay nhà đầu tư thì rất hiếm xảy ra, trong khi đó DN khi nộp BCTC cho ngân hàng cũng đã qua xử lý số liệu và ngân hàng cũng không thể kiểm tra được sự trung thực của BCTC hoặc đi vay dựa trên mối quan hệ thân thiết với ngân hàng. Chính vì vậy, đã làm giảm áp lực cho các DN phải cung cấp thông tin minh bạch.

     

    Do quy mô hoạt động nhỏ, khối lượng công việc phát sinh ít nên chi trả lương cho nhân viên kế toán không cao, điều này dẫn đến tình trạng là các DN với quy mô nhỏ rất khó tuyển dụng được nhân viên có trình độ và năng lực cao đáp ứng tốt nhu cầu của nhà quản trị đặc biệt là các vấn đề về kế toán quản trị.

    Mặc dù đã có những quy định cụ thể đối với những người hành nghề kế toán nhưng các biện pháp của Nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các đối tượng hành nghề vẫn còn đang lỏng lẻo. Và ngay cả những DN đi thuê vẫn không nắm rõ những quy định này. Do đó, đã tạo điều kiện để cho những người không đủ tiêu chuẩn hoặc không còn đủ tiêu chuẩn, năng lực cũng như phẩm chất vẫn tiếp tục hành nghề đã gây khó khăn cho DN trong việc lựa chọn dịch vụ kế toán thuê ngoài.

     

    • Nguyên nhân chủ quan

    Do nguồn lực kinh tế của các DN nhỏ còn nhiều hạn chế và yêu cầu cân đối giữa lợi ích và chi phí bỏ ra nên đại bộ phận DN nhỏ vẫn chưa đủ tài chính để xây dựng bộ máy kế toán đầy đủ, có trình độ cũng như đầu tư vào trang bị phần mềm kế toán hoàn chỉnh để thực hiện công tác kế toán đáp ứng nhu cầu của DN.

     

    Năng lực quản lý của các chủ DN mà đặc biệt là các DN siêu nhỏ còn hạn chế do các DN này xuất phát từ kinh doanh hộ gia đình nên hoạt động kinh doanh còn mang tính tự phát và quản lý theo kinh nghiệm chưa khoa học do đó chưa đưa ra được các kế hoạch kinh doanh dài hạn nên vẫn chưa nhận thấy được vai trò quan trọng của kế toán trong việc hỗ trợ nhà quản trị xây dựng các chiến lược và ra các quyết định kinh doanh. Cũng chính vì không có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản của rất nhiều DN nhỏ như hiện nay khi nền kinh tế gặp biến động lớn.

     

    Do nhận thức của chủ DN còn xem nhẹ kế toán, bộ phận kế toán lập ra chủ yếu nhằm mục đích đối phó với cơ quan Thuế, các số liệu trong sổ sách kế toán và báo cáo kế toán không dùng để phục vụ cho công tác quản lý

     

     

    27

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1. Nên để thuận lợi cho mục đích này đã dẫn tới các DN tuyển dụng nhân viên kế toán dựa trên mối quan hệ gia đình hơn là trình độ và năng lực làm việc.
    1. Để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán cho DN nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo chúng tôi cần phải giải quyết các vấn

     

    đề sau đây:

     

    y Gắn kết chặt chẽ kế toán tài chính và kế toán quản trị

    Dù DN thuộc quy mô như thế nào thì nhu cầu về thông tin kế toán cũng không thể thiếu, nó được xem là công cụ quan trọng trong quản lý điều hành hoạt động của DN. Trong đó thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị không thể tách rời nhau, chúng tác động hỗ trợ cho nhau và ảnh hưởng đến sự sống còn của DN, đồng thời giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DN.

     

    Việc xác định thông tin kế toán có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng tổ chức công tác kế toán, vì thông tin kế toán là sản phẩm cuối cùng của cả một quá trình tổ chức công tác kế toán của DN, nó phải được lập, trình bày và công bố để đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. Do đó, để tạo ra được những thông tin hữu ích thì công việc trước tiên cần phải thực hiện là xem xét các đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu của DN là ai và họ cần những thông tin gì để ra các quyết định, từ đó đơn vị đưa ra những định hướng cùng với cách thức tổ chức công tác kế toán phù hợp nhằm cung cấp được các thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị một cách hiệu quả nhất.

     

    + DN siêu nhỏ: Đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu của DN là cơ quan Thuế, ngân hàng và các tổ chức tín dụng nên thông tin kế toán cung cấp cũng chủ yếu tập trung vào thông tin kế toán tài chính phản ánh về tình

    hình kinh doanh của DN. Còn đối với thông tin kế toán quản trị thì do những hạn chế về năng lực quản lý cũng như chưa nhận thức được tầm quan trọng của thông tin kế toán quản trị của các chủ DN và quy mô hoạt động còn khá nhỏ nên mức độ thông tin kế toán quản trị cung cấp mang tính chất đơn giản, phục vụ cho việc hoạch định trong ngắn hạn.

     

    • DN nhỏ: Do phạm vi hoạt động khá rộng nên đối tượng sử dụng thông tin kế toán của nhóm DN này có sự đa dạng hơn so với nhóm DN siêu nhỏ. Các đối tượng sử dụng thông tin bao gồm: cơ quan Thuế, ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp, và các nhà đầu tư với nhu cầu cung cấp thông tin tập trung về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của DN. Với nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị cũng có sự phức tạp hơn, thông tin kế toán quản trị phải đưa ra được các dự báo cũng như phân tích về tình hình tài chính của DN để hỗ trợ cho nhà quản lý xây dựng các chiến lược kinh doanh dài hạn.

     

    Mặc dù nội dung thông tin, tính chất của thông tin, cũng như phương pháp và kỹ thuật xử lý 2 loại thông tin này không giống nhau nhưng với đặc điểm quy mô hoạt động còn nhỏ, khả năng về tài chính và số lượng nhân viên kế toán tuyển dụng cũng hạn chế thì tổ chức bộ máy kế toán cho các DN nhỏ cần tích hợp bộ phận kế toán quản trị với bộ phận kế toán tài chính. Thêm vào đó, với những DN nhỏ thì nhu cầu về thông tin kế toán quản trị cũng không quá phức tạp do trình độ và nhận thức của nhà quản lý còn hạn chế, kinh doanh với quy mô nhỏ nên nhà quản trị nắm khá rõ và kiểm soát chặt chẽ về tình hình hoạt động của DN. Việc gắn kết này sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho DN: (1) Sử dụng chung nguồn nhân lực giữa 2 bộ phận này; (2) Hai bộ phận này đều có chung dữ liệu đầu vào, do đó chỉ

     

     

    28

     

    Một số ý kiến…

     

    cần ghi nhận 1 lần cho các dữ liệu đầu vào này, tùy yêu cầu quản lý mà sẽ theo dõi chi tiết các đối tượng kế toán từ đó có thể truy xuất thông tin cần thiết theo yêu cầu, tránh ghi nhận thông tin bị trùng lắp.

     

    Sự kết hợp này hoàn toàn không mâu thuẫn mà tạo nên sự hỗ trợ cần thiết để đảm bảo cho chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin kế toán. Từ đó giúp tiết kiệm được chi phí đáng kể cho DN về công tác quản lý, nhân sự, thời gian ghi chép cũng như xử lý thông tin kế toán.

     

    • Tổ chức nhân sự kế toán tinh gọn theo hướng từ thuê ngoài đến tuyển dụng dài hạn Yếu tố con người là yếu tố cốt lõi nhất quyết định sự thành công hay thất bại của mọi vấn đề. Và đối với công tác xây dựng mô hình tổ chức kế toán cũng không ngoại lệ, thông tin kế toán cung cấp có chất lượng không, có đáp ứng được yêu cầu quản lý, có hỗ trợ cho chủ DN hay nhà quản lý trong việc tham mưu đưa ra các quyết định chiến lược hay không, tất cả đều phụ thuộc vào việc tuyển dụng và xây dựng bộ máy kế toán của DN. Do vậy, khi xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán cho DN nói chung và DN nhỏ nói riêng cần phải chú trọng đến người làm kế toán và bộ

     

    máy kế toán.

     

    Cần căn cứ vào đặc điểm hoạt động kinh doanh, quy mô, tổ chức quản lý, trình độ nhận thức và quản lý của chủ DN, trình độ của kế toán viên, mức độ ứng dụng CNTT để xây dựng bộ máy kế toán cho phù hợp. Với quy mô của DN nhỏ thì việc bộ máy kế toán thuê hoàn toàn dịch vụ, thuê một phần dịch vụ kế toán hay tuyển nhân viên kế toán dài hạn là hoàn toàn có thể xảy ra, do đó, khi tổ chức các nội dung công tác kế toán phải theo hướng tinh gọn, phù hợp với bộ máy kế toán nhằm đảm bảo hệ thống xây dựng ra có thể được

    vận hành có hiệu quả, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ và hữu ích cho các đối tượng sử dụng có liên quan.

     

    • Tổ chức công tác kế toán phù hợp với điều kiện kế toán b̀ng thủ công cũng như ứng dụng CNTT

     

    Đối với các DN thuộc nhóm DN nhỏ thì mức độ ứng CNTT không đồng đều. Nhiều DN đã ứng dụng phần mềm vào công tác kế toán nhưng nhìn chung còn rất hạn chế và còn nhiều DN nhỏ mà đặc biệt là DN siêu nhỏ thì vẫn còn thực hiện kế toán bằng thủ công. Do vậy khi tổ chức công tác kế toán cho DN nhỏ thì cần phải tổ chức phù hợp với cả 2 điều kiện thực hiện kế toán bằng thủ công cũng như ứng dụng CNTT.

     

    Để phù hợp với điều kiện thực hiện kế toán hiện tại của DN nhỏ thì công tác thực hiện phải chú trọng đến các giai đoạn xây dựng hệ thống thông tin kế toán bao gồm xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán, sổ sách và báo cáo kế toán. Mức độ phức tạp của các hệ thống này sẽ tăng dần tương ứng với mức độ ứng dụng CNTT của DN, tuy nhiên ban đầu phải đảm bảo tính đơn giản, gọn nhẹ, đồng thời phải có tính kế thừa và tạo thuận lợi trong việc chuyển đổi dữ liệu khi DN có sự chuyển đổi từ thực hiện kế toán bằng thủ công sang phần mềm kế toán.

     

    Việc ứng dụng CNTT vào công tác kế toán đã trở thành một xu thế tất yếu, nó góp phần giúp cho công tác ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán được nhanh chóng, chính xác và đảm bảo chất lượng đồng thời với sự hỗ trợ của CNTT sẽ làm giảm số lượng nhân sự kế toán từ đó DN sẽ tiết kiệm chi phí đáng kể. Vì vậy mỗi DN cần mạnh dạn đầu tư, lựa chọn ứng dụng CNTT vào công tác kế toán phù hợp với tình hình tài chính, đặc điểm kinh doanh và quản lý của DN.

     

     

    29

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Đối với các DN nhỏ mà đặc biệt là DN siêu nhỏ chưa có bộ máy kế toán hoàn chỉnh phải thuê kế toán dịch vụ thì không nhất thiết phải trang bị phần mềm kế toán nhưng dù DN làm bằng thủ công thì cũng phải trang bị các thiết bị phần cứng một cách đầy đủ như máy tính, máy in phù hợp với đặc điểm hoạt động của DN, số lượng nhân viên kế toán để giảm thiểu khối lượng công việc cho nhân viên cũng như tránh những sai sót trong quá trình tính toán, tổng hợp số liệu.

     

    Những DN chưa có đủ tài chính để đầu tư vào phần mềm thì sử dụng excel là một giải pháp tối ưu, giúp dễ dàng mở các tài khoản, sổ và báo cáo chi tiết theo yêu cầu, đồng thời tiết kiệm thời gian và có thể cung cấp báo cáo kế toán một cách nhanh chóng, kịp thời thông qua các công thức cài đặt kết nối thông tin giữa các sổ sách với nhau vì chỉ cần nhập liệu vào nhật ký chung thì đã có thể truy xuất các sổ cái, sổ chi tiết và các báo cáo theo yêu cầu. Khi ứng dụng excel thì DN cần đầu tư máy tính có cấu hình mạnh và kết nối mạng để nộp khai báo thuế qua cổng thông tin điện tử.

     

    Đối với các DN nhỏ có quy mô rộng thì cần thiết ứng dụng CNTT vào công tác kế toán. Phần mềm có thể mua ngoài hoặc đặt thiết kế riêng phù hợp với quy mô, đặc điểm kinh doanh, năng lực quản lý, trình độ của nhân viên kế toán và khả năng tài chính của DN. Khi trang bị phần mềm thì phải tương thích với cơ sở hạ tầng trang thiết bị kỹ thuật hiện tại của DN và phần cứng, mạng cần được đầu tư kỹ lưỡng hơn để đảm bảo sự kết nối toàn hệ thống. Cần cân đối giữa lợi ích và chi phí để xác định mức độ DN sẽ ứng dụng CNTT vào trong công tác kế toán nhằm đạt được những hiệu quả mà CNTT mang lại.

     

    Nhưng dù hình thức excel hay các phần mềm thì phải đảm bảo các yêu cầu sau:

    –    Phải được thiết kế phù hợp dựa trên những quy định của chế độ kế toán về hệ thống TKKT, hệ thống chứng từ, sổ sách và tự động lập các BCTC theo đúng quy định.

     

    –    Đáp ứng được yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của DN.

     

    –    Kết xuất được các báo cáo bắt buộc theo quy định của pháp luật

     

    –    Có tính mở, linh hoạt để DN dễ dàng bổ sung, cập nhật theo yêu cầu cũng như đơn vị có thể mở thêm các TK chi tiết và mã hóa các đối tượng kế toán.

     

    –    Có thể lập và in được các sổ theo yêu cầu.

     

    –    Chi phí đầu tư phù hợp với tình trạng tài chính của DN

     

    –    Nguồn nhân lực vận hành và phần mềm sử dụng phải tương thích với nhau

     

    y Gắn kết chặt chẽ hệ thống thông tin kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ

     

    Như chúng ta thấy hệ thống thông tin kế toán là bộ phận hỗ trợ không thể thiếu cho DN và các đối tượng sử dụng bên ngoài DN trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh thông qua các báo cáo kế toán khác nhau. Để các báo cáo này cung cấp thông tin một cách trung thực và hợp lý nhất ngoài việc thông qua các cuộc kiểm toán BCTC – một hình thức hậu kiểm thì một hình thức tiền kiểm không kém phần quan trọng là gắn kết chặt chẽ toàn bộ hệ thống thông tin kế toán trong từng quy trình với hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm giúp cho DN chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm và yếu kém. Dù DN có quy mô nhỏ hay lớn thì hệ thống kiểm soát nội bộ đều là một quá trình chịu sự chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị cũng như các nhân viên của toàn đơn vị.

     

     

    30

     

    Một số ý kiến…

     

    5.  Kết luận

     

    Hoàn thiện nội dung tổ chức công tác kế toán cho DN nhỏ để góp phần tăng cường năng lực quản lý cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và hội nhập sâu rộng nhưng có nhiều biến động là một trong những vấn đề có tính cấp thiết cần được quan tâm thực hiện từ cơ quan Nhà nước cũng như bản thân các DN.

     

    Để tăng cường chất lượng thông tin kế toán phục vụ tốt cho công tác quản lý ở các

    DN nhỏ thì nội dung tổ chức công tác kế toán cần phải gắn kết chặt chẽ kế toán tài chính và kế toán quản trị, phải tổ chức nhân sự tinh gọn, phải tăng cường khả năng ứng dụng CNTT trong quá trình thực hiện và phải gắn kết chặt chẽ với hệ thống kiểm soát nội bộ. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra được nhiều thông tin hữu ích, trung thực phục vụ tốt cho các đối tượng sử dụng khác nhau đặc biệt là cho các nhà quản trị DN nhỏ.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài Chính, 2006. Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006. Hà Nội.

     

    • Bộ Tài Chính, 2006. Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006. Hà Nội.

     

    • Bộ Tài Chính, 2006. Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006. Hà Nội.

     

    • Bộ Tài Chính, 2011. Thông tư 138/2011/TT-BTC ngày 4/10/2011. Hà Nội.

     

    • Chính phủ, 2009. Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009. Hà Nội.

     

    • Hiệp Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam http://vinasme.vn/news/index.html. [Ngày truy cập: 12 tháng 8 năm 2012]
    • Nguyễn Thị Huyền Trâm, 2007. Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh.
    • Phạm Ngọc Toàn, 2010. Xây dựng nội dung và tổ chức kế toán quản trị cho các DN nhỏ và vừa ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ. Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh.
    • Võ Văn Nhị và Nguyễn Ngọc Dung, 2011. Tình hình hoạt động kinh doanh và công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 249, tháng 7/2011, trang 51.

     

    • Võ Văn Nhị, 2011. Xây dựng mô hình tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị cho DN vừa và nhỏ ở Việt Nam. Nghiên cứu khoa học cấp trường. Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh.

     

    • Vũ Xuân Tiền, 2007. Những bất cập trong công tác kế toán trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục. Tạp chí Quản lý kinh tế, số 16, tháng 9+10/2007, trang 54- 72.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kết quả điều tra hiệu quả chương trình thực tập tốt nghiệp theo hướng tăng cường thực hành nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Kế toán trường Đại học Tây Bắc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%C3%9D-THUY%E1%BA%BET-V%C3%80-TH%E1%BB%B0C-H%C3%80NH-TH%C3%94NG-TIN-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-%C4%90%E1%BB%82-RA-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-NG%E1%BA%AEN-H%E1%BA%A0N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

     

    LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN

    Phạm Văn Dược*

     

    Huỳnh Thị Bích Ngọc **

     

    TÓM TẮT

     

    Ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án, nh̀m mục đích chọn một phương án có tính thỏa mãn cao nhất, cả về lượng và chất. Ra quyết định là một chức năng quan trọng của nhà quản trị. Vì nhà quản trị luôn đứng trước những vấn đề cần phải ra quyết định.

     

    Các thông tin để ra quyết định căn cứ chủ yếu vào các thông tin định lượng của kế toán; lượng giá dòng thu với dòng chi để tìm ra lợi nhuận cao nhất trong các phương án hoặc trong các tình huống kinh doanh là những vấn đề không đơn giản, đòi hỏi người ra quyết định và lập quyết định phải thấu hiểu rõ cơ sở lý thuyết và quá trình thực hành để ứng dụng chúng thích hợp nhất.

    Từ khoá: Lý thuyết, thực hành, thông tin kế toán, ra quyết định.

    THEORY AND PRACTICE OF ACCOUNTING INFORMATION FOR MAKING SHORT-TERM DECISIONS

    ABSTRACT

     

    Making decision is the choice of many alternatives, aimed at choosing a plan with the highest satisfaction, both in quantity and quality. Making decision is an important function of management. Because managers are faced with many problems that are needed to make decisions.

     

    The information for making decisions is primarily based on the quantitative information about the accounting value of revenue with more ields to ind the most proitable in the plan or in business situations that is not the simple problem, its requiring decision makers and decision-makers to clearly understand the theoretical basis and practical process for most applications which are suited.

     

    Keywords: Theory, practice, accounting information, decision-making

     

    1. Cơ sở lý thuyết ra quyết định

     

    1.1. Các quyết định ngắn hạn: Việc ra quyết định là việc lưa chọn từ nhiều phương án

     

    hoặc nhiều tình huống khác nhau. Khi chưa

    –  Có nên loại bỏ một sản phẩm cá biệt

    có phương án thì không thể có quyết định nào

    nào không?

    được thực hiện được, do không có sự lựa chọn

    –  Có nên thêm một sản mới hay không?

    nào để có thể ra quyết định. Các nhà quản trị

    –  Có nên thay đổi cách trả lương nhân

    thường xuyên quan tâm đến các quyết định

    viên bán hàng từ định phí chuyển

    ngắn hạn như:

    thành biến phí hay không?

    • TS. Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

     

    • Giảng viên Trường Cao đ̀ng Kinh tế Đối ngoại

     

     

    14

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    –  Có nên tiếp tục sản xuất chi tiết rời tại phân xưởng hay mua nó ở bên ngoài?

     

    – Có nên tiếp tục chế biến thành sản phẩm thành thành phẩm hoàn chỉnh hay bán ngay bán thành phẩm?

     

    –  Lựa chọn phương thức, cơ cấu sản

     

    xuất như thế nào để cho hiệu quả tối ưu nhất?…

    1.2. Đặc điểm của các quyết định: Đặc điểm chủ yếu của các quyết định là chúng gắn liền với các hoạt động trong tương lai, và chúng không thể làm thay đổi ngược lại được, đặc điểm này có 2 nhân tố tác động:

    • Nhân tố thứ nhất: vì các quyết định của nhà quản trị phải dựa trên các con số ước tính, một quyết định chưa chắc là không tốt vì một số thay đổi thực tế ngoài dự kiến trong một số các trường hợp gây sẽ ra các kết quả một cách chính xác với dự đoán.

     

    • Nhân tố thứ hai: các nhà quản trị sẽ không bao giờ có thể chắc chắn một quyết định cá biệt nào đó là không khôn ngoan, vì họ không thể dự đoán được chính xác những gì sẽ xảy ra trong tương lai nếu họ lựa chọn tiến trình hoạt động khác. Nhưng các nhà quản trị có thể có mức tin cậy hợp lý nếu quyết định được dựa vào các thông tin tốt nhất đáng tin cậy có sẵn, và nếu họ thấu hiểu những thông tin này để ứng xử một cách thích hợp nhất.

     

    Hầu hết các nhà quản trị khi ra các quyết định ngắn hạn, nếu nó chỉ liên quan đến một kỳ (một năm) hoặc ngắn hơn. Các quyết định ngắn hạn thường không đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Vì lý do này, các quyết định ngắn hạn dễ thay đổi nhiều hơn so với các quyết định dài hạn. (Bạn có thể thay đổi dễ dàng phương thức trả lương cho nhân viên bán hàng, nhưng bạn không thể thay đổi dễ dàng quyết định đầu tư vào tài sản cố định). Các nguyên tắc cơ bản áp dụng cho các quyết định ngắn hạn cũng áp

    dụng cho các quyết định dài hạn, nhưng các quyết định dài hạn đòi hỏi phải xem xét thêm một số kỹ thuật tính toán khác. Nói chung các quyết định dài hạn đòi hỏi sự cam kết về tiền tệ cho một chu kỳ khá dài.

     

    1.3. Tiêu chuẩn đối với các quyết định ngắn hạn:

     

    Tiêu chuẩn kinh tế của việc lập các quyết định ngắn hạn rất đơn giản, đó là chọn lựa một hoạt động mà khi bạn dự tính ra quyết định sẽ mang lại hiệu quả cao nhất (hoặc lỗ ít nhất) cho doanh nghiệp, sự vận dụng nguyên tắc này không phải là việc đơn giản, do vậy yêu cầu cần có thêm hai nguyên tắc phụ hỗ trợ là:

     

    1. Các nguồn thu và chi phí duy nhất thích hợp cho việc ra quyết định là các nguồn thu và chi ước tính trong tương lai sẽ khác trong số các phương án có sẵn, chúng được gọi là các nguồn thu chênh lệch và các nguồn chi phí chênh lệch (vì có rất nhiều quyết định dẫn đến các mức tăng về thu nhập và chi phí nên còn được gọi là các nguồn thu tăng thêm và chi phí tăng thêm).
    1. Các nguồn thu và chi hoặc đã phải gánh chịu (đã phát sinh) nó không thích hợp với các quyết định kinh doanh. Cách sử dụng duy nhất là, cần nghiên cứu chúng có thể giúp cho việc dự đoán các nguồn thu và các nguồn chi trong tương lai.
    • Các nguồn thu và chi chênh lệch (tăng thêm):

     

    Thuật ngữ chênh lệch có nhiều hàm ý hơn thuật ngữ tăng thêm. Thuật ngữ sau đề xuất các mức tăng, và một số quyết định dẫn đến các mức giảm cho cả thu nhập và chi phí. Nhưng các thuật ngữ được sử dụng không quan trọng bằng điều mà chúng phản ánh. Các chi phí chênh lệch là các chi phí có thể tránh được, do đó sẽ là thông tin thích hợp cần phải xem xét trong các quyết định kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có thể thay đổi một khoảng

     

     

    15

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    chi phí bằng cách chọn một hành động ngược lại với hành động trước đó, đo đó chi phí này là chi phí có thể tránh được và nó chính là chi phí chênh lệch.

     

    Ví dụ: doanh nghiệp dự kiến có thể tiếp kiệm được 100 triệu đồng tiền lương và các định phí khác nếu doanh nghiệp ngưng kinh doanh một loại sản phẩm ở một khu vực địa lý cá biệt nào đó, thì 100 triệu đồng này là chi phí tránh được (chênh lệch), vì nó sẽ có thể phát sinh nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục bán sản phẩm đó và sẽ không phát sinh nếu doanh nghiệp ngưng bán sản phấm trong khu vực đó. Dĩ nhiên, doanh nghiệp sẽ bị mất một khoản thu nếu ngưng bán sản phẩm đó. Như vậy, thu nhập bị mất có tính chênh lệch khi doanh nghiệp quyết định ngưng bán sản phẩm ở vùng địa lý cá biệt đó.

     

    1.4. Nhận diện chi phí chìm và chi phí cơ hội:

     

    Việc nhấn mạnh vào các khoản thu và chi phí chênh lệch, làm chúng ta quan tâm đến các khái niệm, chi phí chìm và chi phí cơ hội: a. Chi phí chìm: là một loại chi phí đã phải chịu và do đó sẽ phải chịu như vậy cho dù nhà quản trị chọn phương án hay hành động nào. Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra quyết định vì chúng không có tính chênh lệch (Chi phí chìm là chi phí đã phát sinh ở các quyết định quá khứ, do đó

     

    không thay đổi được trong tương lai).

     

    Thí dụ: Doanh nghiệp đã chi 200 triệu đồng để tiếp thị phát triển một sản phẩm mới. Nhiều vấn đề đã phát sinh và bây giờ nhà quản trị phải đứng trước quyết định có nên hay không nên tiếp thị sản phẩm đó. Như vậy 200 triệu đồng này là không thích hợp với quyết định vì nó không có tính chênh lệch; nghĩa là, chi phí này sẽ luôn luôn như vậy dù doanh nghiệp có tiếp thị sản phẩm hay không. Tương tự, khi doanh

    nghiêp đứng trước quyết định sự lựa chọn thay thế một chiếc máy mới bằng một chiếc máy cũ mà doanh nghiệp đang sử dụng, thì giá trị còn lại của chiếc máy cũ sẽ là chi phí chìm.

     

    1. Chi phí cơ hội: Cho dù chi phí lịch sử của một nguồn chi có tính chìm thì vẫn có thể có khoản chi phí để nhằm các mục đích ra kế hoạch. Nếu một nguồn chi có thể sử dụng theo nhiều cách, thì có chi phí cơ hội.

     

    Nói tổng quát, chi phí cơ hội là lợi ích bị mất vì chọn phương án này thay vì chọn phương án khác. Phương án (hành động) khác là phương án tốt nhất sẵn có so với phương án đang được nghiên cứu.

     

    Thí dụ 1: Doanh nghiêp Q sở hữu một nhà kho có thể sử dụng nó để chứa hàng hóa hoặc cho thuê với giá 100 triệu mỗi năm. Sử dụng diện tích đó để tồn trữ hàng hóa đòi hỏi doanh nghiệp Q bỏ qua cơ hội cho thuê, điều này có nghĩa là có một sự chênh lệch, nếu doanh nghiệp Q chọn hành động này thay vì hành động khác. Khi Q xem xét bất cứ một hành động nào mà đòi hỏi việc sử dụng mặt bằng để tồn trữ, chi phí thích hợp của mặt bằng là chi phí cơ hội của Q, số tiền 100 triệu mà Q không thu được. Điều gì sẽ xảy ra nếu Q sẽ chi 40 triệu mỗi năm cho một hợp đồng thuê nhà kho? Chi phí cơ hội của việc sử dụng mặt bằng để tồn trữ chỉ còn 60 triệu, mức thiệt hại thực mà Q phải chịu vỉ bỏ qua cơ hội cho thuê.

     

    Thí dụ 2: Giả sử doanh nghiệp Q sở hữu một chiếc máy mà có thể dùng để sản xuất một trong 2 sản phẩm X hoặc Y. Các sản phẩm đòi hỏi số thời gian máy như nhau, nhưng số dư đảm phí của X lớn hơn số dư đảm phí của Y. Khi Q xem xét một quyết định để sử dụng máy vào việc sản xuất sản phẩm X, chi phí của việc sử dụng máy là một chi phí cơ hội của Q. Nếu Q sử dụng máy để sản xuất sản phẩm Y. Chi phí là số dư đảm phí bị thiệt hại

     

     

    16

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    vì không sử dụng nó để sản xuất sản phẩm X. Như vậy, chi phí cơ hội phụ thuộc vào hành động hoăc phương án đang được xem xét.

     

    1. Thực hành ra quyết định ngắn hạn Ví dụ: Công ty M sản xuất hàng may sẵn.

    M đang có trong kho 5.000 áo không thể bán được thông qua kênh bình thường. Có một cửa hàng đã tiếp xúc với công ty M và đề nghị mua hết số áo với giá 120 triệu đồng. Chi phí để sản xuất số áo này là 170 triệu đồng. Giám đốc công ty cho rằng chẳng thà vứt bỏ số áo đó đi còn hơn bán sẽ chịu lỗ 50 triêu đồng (170 triệu đồng – 120 triệu đồng). Giám đốc công ty có đúng không? Nếu không có đề nghị nào khác tốt hơn thì ông ta sai, và lời đề nghị của mạng lưới cửa hàng trên phải được chấp thuận.

     

    2.1. Nghiên cứu 2 phương án: (1) Bỏ số áo đó hoặc (2) Bán chúng cho mạng lưới bán lẻ. Nếu bỏ áo đi sẽ không mang lại thu nhập và cũng không đòi hỏi tăng thêm chi phí. Như vậy thì chi phí cơ hội của việc bán áo cho mạng lưới bán lẻ đó là gì? Sẽ không có, vì công ty M không thu được khoản lợi nhuận nào từ phương án kia, là phương án vứt bỏ số áo đó đi. Như vậy, chi phí cơ hội phụ thuộc vào phương án nào sẽ được đem ra xem xét.

     

    Nhưng còn 170 triệu đồng chi phí để sản xuất số áo đó thì sao? Từ các khái niệm chi phí chênh lệch và chi phí chìm, cho ta thấy 170 triệu đồng có tính chất chìm. Khoản chi phí này đã phát sinh và sẽ không thay đổi cho dù chọn phương án nào. Thật vậy, công ty M sẽ bị lỗ 50 triệu đồng nếu công ty bán số áo đó cho mạng lưới bán lẻ. Nhưng số áo đó bỏ đi, công ty sẽ bị lỗ 170 triệu đồng (lưu ý là công ty M tốt nhất là nên bán số áo đó với giá 120 triệu đồng, cho dù chi phí để sản xuất chúng là 170 triệu đồng, hoặc thậm chí chi phí là 250 triệu đồng, nếu chỉ có phương án khác duy nhất là đem vứt bỏ chúng đi).

    2.2. Nghiên cứu thêm một phương án mới: Có một mạng lưới bán lẻ cửa hàng khác đề nghị trả 200 triệu đồng cho số áo đó. Nếu công ty M chịu thêm chi phí để làm thêm 2 túi áo và nhuộm màu khác. Bộ phận quản lý sản xuất ước tính chi phí tăng thêm để làm công việc này 50 triệu đồng. Giám đốc công ty M không thích thú với phương án này, vì tổng chi phí là 220 triệu đồng (170 triệu đồng + 50 triệu đồng) sẽ lớn hơn số đề nghị là 200 triệu đồng.

     

    Mặc dù, bây giời công ty M đã có sẵn 3 phương án, chúng ta đã biết là phương án bán được ưa chuộng hơn phương án vứt bỏ số áo đó đi. Do dó, chúng ta chỉ cần so sánh phương án làm thêm rồi bán với giá 200 triệu đồng, với phương án bán ngay với giá 120 triệu đồng như đã trình bày trên. Công ty M nên chọn phương án nào trong 2 phương án đó?

     

    Để làm rõ vấn đề này, hãy nghiên cứu các khoản thu và chi phí chênh lệch của 2 phương án này như sau:

     

    Phương án: Làm thêm để bán, thay vì bán ngay:

     

    Thu nhập chênh lệch: (200 triệu đồng – 120 triệu đồng) = 80 triệu đồng

     

    Chi phí chênh lệch: (50 triệu đồng – 0 triệu đồng) = 50 triệu đồng

     

    Lợi nhuận chênh lệch: = 30 triệu đồng Công ty M sẽ lãi thêm 30 triệu đồng bằng

     

    cách làm lại số áo đó so với bán ngay chúng. Đối với phương án bán ngay thì chi phí cơ hội là bao nhiêu? Phương án tốt nhất có sẵn hiện nay là phương án làm thêm có một khoảng lợi nhuận là 150 triệu đồng (200 triệu đồng – 50 triệu đồng) chi phí. Như vậy, chi phí cơ hội của phương án bán ngay là 150 triệu đồng bị thiệt hại nếu không chấp nhận phương án làm thêm. Chi phí cơ hội của việc chấp nhận lời đề nghị làm thêm là gì? Chi phí cơ hội là 120 triệu

     

    đồng, bị mất do từ chối phương án bán ngay.

     

     

    17

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    Một số nhà quản trị ra quyết định muốn kết hợp các chi phí cơ hội trực tiếp vào quá trình phân tích các phương án của họ. Sử dụng cách này, phân tích phương án bán ngay sẽ cho thấy bị lỗ 30 triệu đồng (120 triệu đồng thu và 150 triệu đồng của chi phí cơ hội được lưu ý ở trên). Một quá trình phân tích tương tự đối với phương án làm thêm cho thấy một khoản lãi là 30 triệu đồng (các khoản thu là 200 triệu đồng và chi phí lá 170 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng của chi phí làm thêm cộng với 120 triệu đồng chi phí cơ hội của việc vào phương án này).

    Phân tích các phương án một cách tách biệt với nhau nhưng kết hợp chi phí cơ hội của từng phương án phân tích, cũng đã chỉ rõ sự lựa chọn tương tự như được chỉ ra trong phân tích so sánh nếu chấp nhận lời đề nghị làm thêm, vì khoản lãi 30 triệu đồng được ưa chuộn hơn khoản lỗ 30 triệu đồng từ phương án bán ngay.

     

    Như trên đã nói, 170 triệu đồng chi phí của quá trình sản xuất áo là chi phí không thích hợp. Để nhấn mạnh tính không thích hợp của chi phí này, hãy xem xét báo cáo thu nhập của công ty M đối với từng phương án.

     

    Đơn vị tính: Triệu đồng

     

     

    Chỉ tiêu

    Vứt bỏ

    Bán ngay

    Làm thêm

    Thu nhập

    0

    120

    200

    Chi phí sản xuất

    (170)

    (170)

    (170)

    Làm thêm

    (50)

    Lãi ( lỗ)

    (170)

    (50)

    (20)

     

     

    Như vậy, việc làm thêm sẽ làm cho lỗ ít hơn, được chứng minh qua kết quả phân tích chênh lệch, đã cho thấy phương án này là phương án tốt nhất trong cả 3 phương án nghiên cứu. Khoản lỗ phải chịu khi bán ngay là 120 triệu đồng, ít hơn so với khi vứt bỏ số áo đó, khoản này phản ánh qua khoản 120 triệu đồng lợi nhuận chênh lệch được trình bày trong bảng phân tích đầu tiên là khoản lỗ 20 triệu đồng được báo cáo đối với việc làm thêm số áo thì thấp hơn 30 triệu đồng với khoản lỗ từ phương án bán ngay, khoản này chính là khoản 30 triệu đồng lợi nhuận chênh lệch mà chúng ta tìm được khi so sánh chúng với nhau.

     

    2.3. Nghiên cứu trong tình huống giả định Sự kiện không đổi là Công ty M có trong tay 5.000 áo đã được sản xuất với chi phí 170 triệu đồng. Bây giờ hãy giả sử số áo đó có thể bán với giá bình thường. Công ty M dự kiến sản xuất một số lượng áo tương tự để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ tương lai, nếu Công ty

    đã bán số áo có trong tay. Nhà quản lý sản xuất cho rằng chi phí sản xuất 5.000 áo đã tăng lên đến 200 triệu đồng.

     

    Một cửa hàng bán lẻ đề nghị mua 180 triệu đồng cho số áo của công ty hiện có trong tay. Công ty phải làm gì trong điều kiện này

     

    • Mấu chốt của quá trình phân tích là phải hiểu rằng, dù công ty quyết định làm cái gì thì công ty cũng phải có sẵn 5.000 áo để đáp ứng nhu cầu dự kiến trong tương lai ở mức giá chuẩn. (Mọi điều xảy ra sau thời điểm này kể cả doanh thu bình thường theo dự kiến, sẽ giống nhau dù công ty quyết định phải làm gì đối với 5.000 áo có trong tay).

     

    Công ty có 2 phương án:

     

    Một là, Công ty có thể cứ giữ số áo đó cho đến khi chúng có thể được bán với giá chuẩn, điều này có nghĩa là công ty chọn cách “không làm gì cả”. Nếu chọn cách này, công ty sẽ không có doanh thu và cũng không phải chịu bất cứ chi phí nào cả từ bây giờ cho đến

     

     

    18

     

    Lý thuyết và thực hành…

     

    khi số áo được xuất bán hoàn toàn cho tiêu thụ bình thường.

     

    Hai là, Công ty có thể bán số áo lúc này và làm một số áo khác để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ bình thường. Nếu phương án này được chọn, công ty nhận được 180 triệu đồng doanh thu và chịu một khoảng chi phí 200 triệu đồng (để sản xuất số áo cần thiết cho nhu cầu tiêu thụ bình thường), chịu lỗ 20 triệu đồng. sự lựa chọn tốt nhất là “ không làm gì cả”, công ty sẽ không phải lỗ 20 triệu đồng khi chọn phương án này. Chi phí cơ hội của việc chọn để bán ngay số áo bây giờ là 200 triệu đồng, sẽ là chi phí của việc thay thế chúng sau này. Đây là giá trị của chúng vì bán chúng bây giờ cần phải sản xuất lại với chi phí sản xuất là 200 triệu đồng. Chi phí cơ hội là chi phí thay thế trong một số trường hợp. Trong các trường hợp trên, chi phí cơ hội luôn luôn là giá bán (từ chi phí tăng thêm để hoàn thành chúng).

     

    3. Triển khai thông tin thích hợp và phân bổ chi phí

    3.1. Khai triển các thông tin thích hợp

     

    Các nhà quản trị phải ra nhiều quyết định có ảnh hưởng đến những phần nhỏ của công ty: như một sản phẩm, một dây chuyền sản phẩm, một phân xưởng, thậm chí một chi tiết rời của sản phẩm. Thông thường, bộ phận (hoạt động cá thể) mà các nhà quản trị đang xem xét những thay đổi khả dĩ không đủ lớn để được báo cáo chi tiết.

    Ví dụ: Hãy xem xét một công ty sản xuất trang thiết bị văn phòng. Công ty có thể làm một số mẫu đối với máy đánh máy chữ, máy tính và máy copy, bán chúng trong một số vùng cho nhiều tầng lớp khách hàng khác nhau (doanh nghiệp, bệnh viện, cơ quan, nhà nước vv…), và điều hành một số phân xưởng, mà trong các phân xưởng đó chỉ sản xuất một sản phẩm hoặc một dây truyền sản phẩm và các phân xưởng khác sản xuất một số sản phẩm khác. Các báo cáo kế toán

    bình thường không thể trình bày thông tin theo mẫu sản phẩm, theo vùng, theo từng khách hàng và theo từng phân xưởng.

     

    Một báo cáo kế toán hiện hành, như báo cáo thu nhập theo bộ phận kinh doanh (các nhóm hàng, các mặt hàng, các dây truyên sản xuất…), là căn cứ tốt để từ đó phân tích theo các bộ phận sản xuất kinh doanh, vì nó làm rõ các chi phí có thể tránh được. Những thông tin trong các báo cáo kế toán đã qua chỉ được quan tâm khi nó dự toán được trong tương lai. Các nguồn thông tin khác thường quan trọng hơn; các chuyên viên cung cấp thông tin về nhu cầu nguyên liệu và yêu cầu đối với lao động của một sản phẩm mới, phòng tiếp thị đưa ra các ước tính về doanh thu tương lai của một sản phẩm. Như vậy, dù có sẵn một báo cáo kế toán chuẩn về một bộ phận mà từ đó ta có thể xem xét một số thay đổi, thì điều này không có nghĩa là báo cáo gồm những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định về các thay đổi đó.

     

    Với sự kết hợp của internet và máy tính giúp các nhà quản trị nắm bắt và khai triển dễ dàng hơn một số loại thông tin, giống như khối lượng của một loại sản phẩm cá biệt tiêu thụ trong mỗi vùng cho từng nhóm khách hàng. Nhưng máy tính không thể xác định được liệu một số các chi phí phát sinh có tránh được hay không thể. Việc thực hiện công việc này đòi hỏi một số lượng lớn công tác nghiệp vụ kế toán và mối quan hệ chặc chẽ giữa kế toán viên, kế toán viên kế quản trị với các nhà quản trị khác.

     

    Điểm quan trọng nhất về các quyết định liên quan với các bộ phận là ở chỗ, các phân tích sẽ khác với các quyết định. Không có bất cứ công thức kỳ diệu duy nhất nào để nhận diện chi phí và thu nhập thích hợp đối với từng quyết định cá biệt. Chi phí mà có thể tránh được và do đó có tính chênh lệch, khi xem xét theo góc độ này có thể có tính không thể tránh

     

     

    19

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    được, khi xem xét theo góc độ khác. Nói chung

     

    • góc độ càng nhỏ thì chi phí có thể tránh được càng ít. Chi phí có thể tránh được của một mẫu máy đánh máy chữ được bán trong một vùng cá biệt chắc chắn bị giới hạn theo biến phí sản xuất của kiểu mẫu đó. Những chi phí có thể tránh được gắn liền với toàn bộ dây truyền của máy đánh máy đánh máy chữ trong cùng vùng đó gồm các biến phí sản xuất và có thể gồm cả một số chi phí bán hàng. Môt số định phí sản xuất cũng có thể được tiết kiệm, nhất là nếu các máy đánh máy chữ được bán trong vùng đó và được sản xuất trong một nhà máy mà không sản xuất các dây truyền sản phẩm khác. Nhưng dù vậy, quyết định này phụ thuộc vào các tình huống cụ thể của nhà máy đó. Khi góc độ nghiên cứu toàn bộ dây truyền sản xuất thì càng có nhiều chi phí có thể tránh được.

     

    3.2. Phân bổ chi phí chung

     

    Nhiệm vụ nhận diện chi phí thích hợp, cho một quyết định cá biệt thường rất phức tạp, mà kế toán thực hiện về việc phân bổ chi phí phí sản xuất chung vào các bộ phận. Thí dụ, các doanh nghiệp đều đặn phân bổ định phí sản xuất cho khối lượng sản phẩm, vì chúng thường được quy định như vậy nhằm cho mục đích kế toán tài chính và mục đích thuế. Vì sự phân bổ chi phí thường được kết hợp với các báo cáo nội bộ nó có vai trò như một điểm bắt đầu để ra quyết định.

     

    Trong phần trên chúng ta đã nghiên cứu và đã nhấn mạnh đến các căn cứ để ra quyết định là những thông tin hướng đến tương lai. Chúng ta đã biết rằng định phí của một đơn vị là kết quả của quá trình phân bổ chi phí, không có tín hiệu hữu ích trong quá trình dự đoán các chi phí trong tương lai. Như vậy định phí tính cho một đơn vị không thích hợp với quá trình ra quyết định. Theo định nghĩa chung nhất, các chi phí chung có tính không thể tránh được đối với các bộ phận cá thể mà chúng có đặc tính chung. Sự

    phân bổ các chi phí này cho các bộ phận cá thể không làm thay đổi tổng số tiền phân bổ có tính có thể tránh được trong tương lai. Như vậy, đối với quá trình ra quyết định một bộ phận, các chi phí chung được phân bổ cho bộ phận đó không có tính thích hợp, các chi phí thích hợp duy nhất là các chi phí mà sẽ làm thay đổi (có tính chênh lệch) nếu một doanh nghiệp chọn một tiến trình hành động này thay vì một tiến trình khác.

     

    Mặc dù có một số khẳng định mạnh mẽ rằng, chi phí được phân bổ có tính không thể tránh được, đôi khi có thể làm giảm chi phí chung nếu một bộ phận đủ lớn bị loại trừ. Thí dụ, giả sử có 20 nhân viên của phòng tiền lương tính lương cho sổ lương công nhân của tất cả 6 phân xưởng của công ty. Nhưng nếu một phân xưởng lớn đóng cửa, phòng tiền lương có thể phân bổ lại công việc và nhân viên bị giảm bớt còn 17 hoặc 18 người, do đó làm giảm một phần chi phí chung. Xác định những loại thay đổi này của chi phí là một phần của việc phân tích chi phí trong quá trình xác định chi phí căn cứ theo hoạt động. Như vậy, phân tích chi phí cho các quyết định đòi hỏi rất nhiều sự cẩn trọng đến từng tình huống cụ thể.

     

    Sự xuất hiện của các chi phí được phân bổ trên các báo cáo bộ phận làm phát sinh một vấn đề quan trọng về cung cấp thông tin trong phạm vi một doanh nghiệp. Hệ thống thông tin phải cung cấp số liệu để lập các báo cáo tài chính, lập các báo thuế và các mẫu báo cáo khác theo yêu cầu của nhà nước và nhà quản trị để ra các quyết định kinh doanh cần thiết. Hệ thống thường được thiết kế chung quanh các nhu cầu của kế toán tài chính và thuế, vì các thông tin cụ thể được yêu cầu cho các mục đích này được biết rõ và được cần đến thường xuyên. Vì hệ thống thông tin và các báo cáo kết quả bộ phận phục vụ một số mục đích nên nhà quản trị sử dụng những báo cáo này phải

     

     

    20


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-%C4%90%E1%BA%BEN-S%E1%BB%B0-H%C3%80I-L%C3%92NG-C%E1%BB%A6A-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-V%E1%BB%80-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-C%E1%BB%A6A-NG%C3%82N-H%C3%80NG-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-H%E1%BB%A2P-VIETCOMBANK-T%E1%BA%A0I-TP.H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

     

    FACTORS AFFECTING SERVICE QUALITY TO CUSTOMER SATISFACTION FOR COMERCIAL BANKS: CASE OF VIETCOMBANK IN HOCHIMINH CITY

     

     

    TÓM TẮT

     

    Khách hàng là nhân tố quyết định sự t̀n tại và phát trỉn c̉a một ngân hàng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá ra các nhân tố tác động lên sự hài lòng về chất lượng dịch vụ c̉a khách hàng đối v́i ngân hàng thương mại Vietcombank tại Thành Phố H̀ Ch́ Minh. Phương pháp nghiên cứu định lượng đã được thực hiện v́i đối tượng nghiên cứu là các khách hàng đang trực tiếp thực hiện giao dịch tại ngân hàng. Có 347 phiếu điều tra hợp lệ được xử lý thông qua phân t́ch nhân tố khám phá (EFA) và kỉm định các giả thuyết nghiên cứu bằng h̀i quy tuyến t́nh. Kết quả cho thấy, các nhân tố sự tin cậy, hệ thống, sự đảm bảo, lãi suất và ph́, các yếu tố hữu h̀nh (cơ sở vật chất và bỉu m̃u có ảnh hưởng t́ch cực lên sự th̉a mãn c̉a khách hàng v́i ngân hàng Vietcombank tại H̀ Ch́ Minh. Trong đó, nhấn mạnh tầm quan tṛng c̉a hai yếu tố lãi suất & ph́ sử dụng dịch vụ và hệ thống trong việc cải thiện mức độ hài lòng c̉a khách hàng v́i dịch vụ từ đó nâng cao lòng trung thành v́i ngân hàng.

     

    Từ khoá: Sự hài lòng, chất lượng dịch vụ

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, khách hàng ngày càng có nhiều nhu cầu, đòi hỏi được đáp ứng. Nhiều chuyên gia nhận định rằng khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Ngân hàng muốn cạnh tranh bền vững không thể không quan tâm đến việc giữ khách hàng sẵn có và thu hút khách hàng tiềm năng. Biết được tầm quan trọng của khách hàng,

     

    Nguyễn Văn Thụy(*)

     

    ABSTRACT

     

    Customers are the key factor to exist and develop of banks. This study was conducted to discover factors affecting satisfaction on service quality for commercial banks – case in Vietcombank Ho Chi Minh city. Quantitative research methods have been made with the object of study is the direct customers conduct transactions at the bank. There are 347 responses were processed through Exploration Factor Analysis (EFA) and ANOVA test to test the research hypotheses. The results showed that the reliability, system, assurance, interest rates and fees, the tangibles have a positive effect on customer satisfaction to Vietcombank that they are using. In particular, emphasized the importance of two factors interest rates & fees and system to improve the level of customer satisfaction with services thus improving loyalty to the bank.

     

    Keywords: satisfaction, service quality, reliability, system, assurance, tangibles, empathy, responsiveness, interest rates and fees.

     

    các ngân hàng luôn hướng tới làm thế nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng và thỏa mãn khi sử dụng dịch vụ tại ngân hàng mình và thu hút khách hàng mới sử dụng dịch vụ. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với các ngân hàng phải nhận diện được các nhân tố làm hài lòng khách hàng và định lượng nó. Như vậy, trong bài nghiên cứu này tôi sẽ trình bày 3 vấn đề (i) Hệ thống hoá cơ sở lý luận về các yếu tố tạo nên sự hài lòng của khách hàng

     

     

    (*) TS. GV. Khoa Quản trị Kinh doanh – Trừng Đại ḥc Ngân hàng TP. H̀ Ch́ Minh. Email: [email protected]

     

     

    56

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    trong lĩnh vực ngân hàng; (ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng Vietcombank tại Hồ Chí Minh; (iii) Kết luận và gợi ý.

     

    2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    • Khái niệm dịch vụ

    Theo quan điểm của Zeithaml & Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Còn theo chuyên gia marketing Philip Kotler, ông cho rằng “Dịch vụ là mọi hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó, sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất”. Theo TCVN ISO 8402:1999: “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”.

     

    2.2. Khái niệm chất lượng dịch vụ:

     

    Theo Parasurman, Zeithaml và Berry (1988): “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”.

    Theo Feigenbaum “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”.

     

    Theo Zeithaml (1987): “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được”.

     

    Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, cũng đã có rất nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng và họ đều có cùng một nhận định rằng chất lượng dịch vụ tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng. Berry & cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ rất quan trọng để phân khúc được các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ cũng như trong lĩnh vực ngân hàng. Các ngân hàng muốn tối đa hóa lợi nhuận nhận ra rằng muốn giữ chân khách hàng phải có chất lượng dịch vụ tốt, ngược lại khách hàng sẽ rời bỏ ngân hàng. Lewis (1993) thì chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để tạo được lợi thế cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận. Roger (1995) cho rằng muốn thiết lập lợi thế cạnh tranh, ngân hàng phải đo lường và xác định mức độ chất lượng dịch vụ ngân hàng để giữ chân khách hàng và đáp ứng được các nhu cầu cùa họ.

     

    2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đã được nghiên cứu nhiều trong các tài liệu, nhận định chung của các nhà nghiên cứu cho rằng đây là hai khái niệm riêng biệt, chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng. Theo Parasuraman & cộng sự (1988) chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ. Theo Oliver (1993), Cronin & Taylor (1992), đã kiểm định mối quan hệ này và kết luận rằng chất lượng dịch vụ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ liên quan đến cung cấp dịch vụ, còn sự hài lòng chỉ đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Nếu chất lượng được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì sẽ không bao giờ khách hàng hài lòng với dịch vụ đó. Do đó, khi sử dụng dịch vụ, nếu

     

     

    57

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng cao, thì họ sẽ hài lòng với dịch vụ đó. Ngược lại, nếu khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng thấp, thì việc không hài lòng sẽ xuất hiện.

     

    2.4. Các khái niệm nghiên cứu

     

    2.4.1. Sự hài lòng về dịch vụ (Satisfaction – SAS )

     

    Có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau:

     

    • Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn.

     

    • Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn.

     

    • Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú.

    2.4.2. Hệ thống cung ứng dịch vụ (Systemization of service delivery – SYS)

     

    Hệ thống hoá cung ứng dịch vụ là việc sắp xếp có trật tự và cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua các thủ tục và quy trình hiệu quả, được đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa. Các ngân hàng ngoài những quy trình dịch vụ bắt buộc, còn có những quy trình linh động theo mỗi ngân hàng. Việc một ngân hàng có quy trình thủ tục nhanh gọn, hợp lý góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất và chính xác nhất, từ đó có thể làm hài lòng khách hàng. Nghiên cứu của Abdullah và cộng sự (2010) tại Malaysia khẳng định hệ thống cung ứng dịch vụ là thành phần quan trọng nhất của chất lượng dịch vụ ngân hàng ảnh hưởng đến nhận thức tổng thể của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, khách hàng nhận thức hệ thống dịch vụ là quan trọng hơn các thành phần khác trong việc xác định chất lượng của các dịch vụ mà họ nhận được. Vậy giả thuyết đặt ra là hệ thống có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng?

     

    Giả thuyết H1: Có mối tương quan dương giữa hệ thống và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.3. Mức độ tin cậy (Reliability – REL)

     

    Độ tin cậy được hiểu là khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên, năng lực của nhân viên để thi hành lời hứa một cách chính xác. Độ tin cậy là thành phần chất lượng dịch vụ được nghiên cứu như: Karatepe & cộng sự (2005); Manshor và cộng sự (2011),….

     

    Theo Kwan & Hee (1994), Yavas & cộng sự (2004) độ tin cậy là thành phần quan trọng nhất. Nghiên cứu của Newman & Cowling (1994), Tahir & Bakar (2007) thì độ tin cậy không phải là thành phần quan trọng nhất mà chỉ đứng ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3. Qua nhiều nghiên cứu như trên, ta có thể nhìn thấy rằng độ tin cậy là một thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng. Vậy giả thuyết đặt ra rằng độ tin cậy có tác dộng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    Giả thuyết H2: Có mối tương quan dương giữa độ tin cậy và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.4. Sự đồng cảm (Empathyness – EMP )

     

    Đồng cảm được hiểu là việc quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. Nghiên cứu gần đây nhất của Ladhari và cộng sự (2010) nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia kết luận rằng sự đồng cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thành phần chất lượng dịch vụ tại Canada. Nhận định này đúng trong nghiên cứu của Newman & Cowling (1994); Lasser & cộng sự (2002) và cũng phù hợp với nghiên cứu của Karatepe và cộng sự (2005), Newman (2001) (đồng cảm là thành phần quan trọng thứ 2). Tuy nhiên, cũng có các nghiên cứu cho rằng sự đồng cảm là thành phần ít quan trọng nhất (Beerli và cộng sự, 2004; Tahir & Bakar, 2007). Nhìn chung, sự đồng cảm là thành phần của chất lượng dịch vụ, tác giả có giả thuyết như sau:

     

     

    58

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    Giả thuyết H3: Có mối tương quan dương giữa sự đồng cảm và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.5. Khả năng đáp ứng

     

    (Responsiveness – RES)

     

    Khả năng đáp ứng thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Nếu trong nghiên cứu của Ladhari và cộng sự (2010) nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia kết luận rằng sự đồng cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thành phần chất lượng dịch vụ tại ngân hàng ở Canada, thì tại các ngân hàng ở Tunisia, độ tin cậy và đáp ứng là thành phần quan trọng của chất lượng dịch vụ, đó là các yếu tố dự báo quan trọng nhất của sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Khả năng đáp ứng khách hàng cũng được đánh giá là thành phần quan trọng của chất lượng dịch vụ trong nghiên cứu của Newman (2001), Wang và cộng sự (2003), Tahir & Bakar (2007). Việc ngân hàng sẵn sàng giúp khách hàng và đáp ứng nhanh chóng, chính xác các yêu cầu của khách hàng sẽ đem lại sự hài lòng cho khách hàng, đó là giả thuyết mà tác giả đặt ra để nghiên cứu.

     

    Giả thuyết H4: Có mối tương quan dương giữa khả năng đáp ứng và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.6. Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ (Price & Fees – PRI)

     

    Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ là các vấn đề liên quan đến chi phí mà khách hàng phải bỏ ra. Trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, không chỉ trong riêng ngành ngân hàng, chi phí khách hàng sẵn sàng bỏ ra để có được hàng hóa hay dịch vụ luôn là vấn đề khách hàng và doanh nghiệp quan tâm. Để khách hàng có thể chi một món tiền để mua hàng hóa, dịch vụ thì bản thân hàng hóa dịch vụ đó phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng từ đó mới dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu của Bahia & Nantel (2000) nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng tại Canada đã cho thấy chi phí giao dịch và

     

    sử dụng dịch vụ là thành phần quan trọng thứ 3. Tại ngân hàng tại Việt Nam chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có phải là thành phần chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng hay không, đó là giả thuyết được đặt ra ở đây:

     

    Giả thuyết H5: Có mối tương quan giữa chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.7. Phương tiện hữu hình (Tangible – TAG)

     

    Phương tiện hữu hình thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên và các trang thiết bị, tài sản hữu hình hỗ trợ cho dịch vụ. Hiện nay, có nhiều ý kiến trái chiều rằng phương tiện hữu hình có là thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng hay không. Theo nghiên cứu của Yavas & cộng sự (1997) cho rằng phương tiện hữu hình là thành phần quan trọng nhất, trong nghiên cứu của Kwan & Hee (1994), Tahir & Bakar (2007) chiếm vị trí không cao. Trái ngược với kết luận của các nghiên cứu trên, nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia của Ladhari và cộng sự (2010) lại khẳng định rằng phương tiện hữu hình không quan trọng tại cả Canada và Tunisia. Ý kiến của Arasli & cộng sự (2005) cho rằng mặc dù các ngân hàng thay đổi môi trường, khách hàng vẫn đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong điều kiện của hỗ trợ cá nhân, họ nhận được từ các nhân viên, chứ không phải là cải tiến kỹ thuật. Còn theo Molina

     

    • cộng sự (2007), mặc dù công nghệ ngân hàng tự động hóa, khách hàng vẫn muốn giao dịch giữa người với người. Vì vậy câu hỏi đặt ra rằng liệu phương tiện hữu hình có là một thành phần của chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng hay không?

     

    Giả thuyết H6: Có mối tương quan dương giữa phương tiện hữu hình và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.5. Mô hình nghiên cứu

     

    Theo như các giả thuyết nêu trên, ta thấy các

     

     

    59

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    nhân tố: hệ thống, mức độ tin cậy, sự đồng cảm, khả năng đáp ứng, phương tiện hữu hình, chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ đều có mối tương

     

     

     

     

    quan dương với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Ta có mô hình nghiên cứu như hình 1.1 dưới đây:

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Để ứng dụng mô hình trong thực tiễn, từ 01/03/2015 – 15/05/2015 đã tiến hành điều tra khách hàng đang thực hiện giao dịch tại các chi nhánh của ngân hàng Vietcombank tại TP.Hồ Chí Minh. Số phiếu phát ra là 400 phiếu và thu về là 347 phiếu hợp lệ. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp khách hàng đang giao dịch với bảng câu hỏi thiết kế theo 6 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng và thang điểm từ 1 đến 5.

     

    3.1. Mô tả mẫu

     

    Theo kết quả khảo sát 347 khách hàng thì thời gian sử dụng dịch vụ có 78.1% khách hàng đã sử dụng trên 1 năm và 21.9 %. khách hàng sử dụng dịch vụ tại VCB dưới 1 năm. Về Trình độ học vấn kết quả cho thấy mẫu nghiên cứu đã được dàn trải đủ các đối tượng có trình độ học vấn khác nhau, trong đó có 49.6% khách hàng có trình độ từ trung cấp trở lên, có trình độ đánh giá tốt, phù hợp với nghiên cứu của tôi. Về Thu nhập: Trong 347 khách hàng được khảo sát, có 23.1% khách hàng có thu nhập từ 10-20 triệu/tháng, 53.9% khách hàng có thu nhập từ 5-10 triệu, nhóm khách hàng này có thu nhập thường xuyên, đối tượng này phù hợp với nghiên cứu của tôi.

     

    3.2. Đánh giá thang đo (Cronbach’s Alpha)

     

    Thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hai công cụ là hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố. Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để loại các biến “rác”, các biến có hệ số tương quan tổng biến (Corrected item total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo sẽ được chọn khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Độ tin cậy được dùng để mô tả độ lỗi của phép đo, bởi vì ta không thể biết chính xác mức độ biến thiên của biến đúng và biến lỗi, không thể tính được trực tiếp mức độ tin cậy của thang đo. Tuy nhiên, chúng ta có thể thiết lập độ tin cậy dựa vào hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số này cho biết mức độ tương quan giữa các biến trong bảng câu hỏi, được dùng để tính sự thay đổi của từng biến và mối tương quan giữa các biến (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

     

     

    Bảng 1: Bảng tổng hợp hệ số Cronbach’s alpha

     

    STT

     

    Nhân tố

    Hệ số

     

    Cronbach’s alpha

         

    1

    Hệ thống phân phối

     

    0.876

           

    2

    Mức độ tin cậy

     

    0.823

           

    60

     

       

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

           
           

    3

    Sự đồng cảm

     

    0.796

           

    4

    Khả năng đáp ứng

     

    0.818

           

    5

    Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ

     

    0.750

           

    6

    Các phương tiện hữu hình

     

    0.750

           

    7

    Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ

     

    0.866

           

    Bảng 1 tổng hợp các hệ số Cronbach’s alpha, cho thấy các thành phần chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có độ tin cậy khá cao (từ 0.750

     

    • 876), và có mối tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,4. Do vậy, tất cả các biến đều phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA tiếp theo.

     

    3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    3.3.1. Phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập

     

    Để nhận diện các nhân tố bảng câu hỏi gồm 29 biến quan sát với 6 nhân tố được giả định theo khung lý thuyết (hình 1). Sử dụng phần mềm SPSS – Phân tích nhân tố khám phá (Exploretary Factor analysis) cho kết quả kiểm định sau 4 vòng với kết quả kiệm định được đảm bảo:

     

    Độ tin cậy của các biến quan sát có hệ số truyền tải (Factor loading) nhỏ hơn 0.5 sẽ bị loại, điểm dừng khi Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 và tổng phương sai trích lớn hơn 50%.

     

    • Hệ số (Kaiser – Meyer – Olkin) KMO là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số của KMO (0.5<

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    KMO<1) phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu như trị số này nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu. (Trọng & Ngọc, 2008).

     

    • Kiểm định Bartlet’s về tương quan của các biến quan sát (Sig<0,005)

    Thang đo chất lượng dịch vụ gồm 29 biến quan sát, theo kiểm định Cronbach Alpha thì các quan sát này đều phù hợp. Kiểm định KMO và Barlett’s trong phân tích nhân tố cho thấy sig

     

    • .000 và hệ số KMO rất cao (0.929> 0.5) nên điều này có nghĩa là các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích EFA thích hợp sử dụng trong nghiên cứu này.

    Phân tích nhân tố lần 1: có 4 biến quan sát có hệ số tải nhân tố hơn 0,5 bị loại, đó là: EMP1 (VCB luôn đặc biệt chú ý đến khách hàng) có trọng số nhân tố 0.378 < 0.5; RES2 ( Nhân viên VCB luôn sắn sàng giúp đỡ và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng) có trọng số nhân tố 0.397 < 0.5; TAG1 (VCB có hệ thống máy móc hiện đại) có trọng số nhân tố 0.412 < 0.5; SYS7 (Khách hàng luôn được cập nhập thông tin mới nhất về các dịch vụ có tại VCB) có trọng số nhân tố 0.45 < 0.5.

     

     

     

    61

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2: Phân t́ch EFA các thành phần chất lượng dịch vụ

     

     

    Nhân tố

               
                   
     

    Hệ Thống

    Tin cậy

    Đồng

    Đáp ứng

    Giá&Phí

    Phương tiện

     
     

    cảm

    hữu hình

     
             
                   

    SYS6

    .719

               
                   

    SYS1

    .706

               
                   

    SYS4

    .704

               
                   

    SYS2

    .677

               
                   

    SYS5

    .644

               
                   

    SYS8

    .565

               
                   

    REL3

     

    .732

             
                   

    REL1

     

    .690

             
                   

    REL4

     

    .672

             
                   

    REL2

     

    .659

             
                   

    REL5

     

    .635

             
                   

    EMP4

       

    .774

           
                   

    EMP5

       

    .640

           
                   

    EMP3

       

    .635

           
                   

    EMP2

       

    .633

           
                   

    RES4

         

    .743

         
                   

    SYS3

         

    .630

         
                   

    RES1

         

    .582

         
                   

    RES3

         

    .554

         
                   

    PRI2

           

    .761

       
                   

    PRI1

           

    .710

       
                   

    PRI3

           

    .640

       
                   

    TAG3

             

    .769

     
                   

    TAG4

             

    .734

     
                   

    TAG2

             

    .602

     
                   

    Cronbach alpha

    0.86

    0.823

    0.771

    0.809

    0.75

    .733

     
                   

    Điểm dừng

    9.57

    1.635

    1.452

    1.345

    1.304

    1.01

     
                   

    Điêm dừng giải thich

    38.281

    5.54

    5.809

    5.379

    5.215

    4.04

     

    được (%)

                 
                   

    Cộng dồn (%)

    14.427

    26.453

    36.827

    46.996

    56.773

    65.264

     
                   

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

     

    62

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    Phân tích nhân tố lần 2 với 25 biến quan sát được đưa vào phân tích theo tiêu chuẩn điểm dừng (Eigenvalue) lớn hơn 1 thì có 6 nhân tố được rút ra và có tổng phương sai trích 62.264% cho biết 6 nhân tố đầu tiên giải thích được 62.264% biến thiên của dữ liệu. Dựa vào kết quả đó, tác giả tiến hành tính toán lại hệ số Cronbach alpha của các nhân tố kết quả cho thấy hệ số Cronbach alpha của các nhân tố đều lớn hơn 0.5 và hệ số tương quan biến tổng của các biến thành phần đều lơn 0.3. Kết quả sau khi phân tích nhân tố khám phá được tổng hợp lại ở bảng 2.

     

    Bảng 3: Kết quả EFA sự hài lòng về chất lượng dịch vụ

    Biến quan sát

    Sự hài lòng

       

    SAS4

    .864

    SAS2

    .860

       

    SAS3

    .855

       

    SAS1

    .799

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu  điều tra

     

    Tuy nhiên, khi kết thúc phân tích nhân tố EFA, biến SYS3 thuộc thành phần hệ thống bị chuyển qua thành phần khả năng đáp ứng. Có thể lý giải được vấn đề này như sau, vì SYS3 (VCB có thủ tục, quy trình giải đáp những khiếu nại nhanh chóng, hiệu quả) thể hiện yếu tố quy trình trong giải đáp thắc mắc khiếu nại nên phù

     

    hợp với thành phần đáp ứng được định nghĩa là sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Vậy sự thay đổi của biến SYS3 là hợp lý.

     

    3.3.2. Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc

     

    Nhân tố sự hài lòng có 4 biến quan sát được đưa vào phân tích có độ hội tụ cao và gom vào thành 1 nhân tố, các biến này đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5

     

    (bảng 3.23) và phương sai trích được là 71.450 %;

     

    sig =.000 và KMO là 0.801>0.5, điểm dừng (Eigenvalue) = 2.858 >1.

     

    3.4 Kiểm định mô hình

     

    Để xác định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hàng, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội giữa 6 nhân tố ảnh hưởng thu được từ phần phân tích nhân tố khám phá ở trên bao gồm: (1) Độ tin cậy; (2) Sự đồng cảm; (3) Khả năng đáp ứng; (4) Phương tiện hữu hình;

     

    • Hệ thống; (6) Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ, với biến phụ thuộc là sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng. Ta có mô hình kiểm định như sau:

     

    SAS= β0+ β1SYS + β2REL + β3EMP +β4RES + β5PRI + β6TAG + ε

     

     

    Bảng 4: Đánh giá độ phù hợp c̉a mô h̀nh

     

    Mô hình

    R

    R2

    R2 hiệu chỉnh

    Ước lượng sai số

    Durbin-Watson

     

    chuẩn

               
                 

    1

    .802a

    0.693

    0.684

    0.7185

    1.625

     
                 

    Kết quả này cho thấy mô hình hồi quy đưa ra khá phù hợp với mức ý nghĩa 0.05. Hệ số R2 hiệu chỉnh = 0.684, giá trị R2 hiệu chỉnh cho biết rằng 68.4% biến thiên được giải thích nhóm 6 biến độc lập: hệ thống (SYS); mức độ tin cậy (REL); sự đồng cảm (EMP); khả năng đáp ứng (RES); chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    (PRI) và phương tiện hữu hình (TAG) cho biến phụ thuộc Sự hài lòng chất lượng dịch vụ.

     

    Các biến độc lập đều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng, tất cả các nhân tố thuộc mô hình đều có ý nghĩa và có tương quan thuận chiều với sự hài lòng của khách hàng, các hệ số hồi quy β

     

     

    63

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đều > 0. Hiện tượng đa cộng tuyến không có ảnh hưởng đến kết quả giải thích của mô hình với VIF của mỗi biến lớn nhất bằng 1.00 (<10). Quy tắc là khi VIF vượt quá 10 đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến (Trọng & Ngọc, 2005). Theo bảng kết quả hồi quy theo phương pháp enter (Bảng 5), ta xác định được phương trình hồi quy bội như sau:

     

    SAS= 1.54E-17 + 0.366*SYS + 0.273*REL + 0.225*EMP + 0.204*RES + 0.402*PRI + 0.174*TAG Bảng 5: Kết quả h̀i quy mô h̀nh nghiên cứu

       

    Hệ số không chuẩn hóa

    Hệ số chuẩn hóa

       
     

    Mô hình

         

    t

    Sig.

     

    B

    Sai số chuẩn

    Beta

           
                 
     

    Hằng số

    1547E-17

    .039

     

    .000

    1.000

     

    SYS

    .366

    .039

    .366

    9.464

    .000

     

    REL

    .273

    .039

    .273

    7.058

    .000

    1

    EMP

    .225

    .039

    .225

    5.838

    .000

     

    RES

    .204

    .039

    .204

    5.293

    .000

     

    TAG

    .174

    .039

    .174

    4.512

    .000

     

    PRI

    .402

    .039

    .402

    10.409

    .000

                 

    3.5. Kết quả kiểm định các giả thuyết

     

    Giả thiết H1: Có mối tương quan dương giữa hệ thống và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần hệ thống có β = 0.366, giá trị t = 9.464, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H2: Có mối tương quan dương giữa mức độ tin cậy và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần mức độ tin cậy có β = 0.273, giá trị t = 7.058, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H3: Có mối tương quan dương giữa sự đồng cảm và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần sự đồng cảm có β = 0.225, giá trị t = 5.838, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H4: Có mối tương quan dương giữa khả năng đáp ứng và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần khả năng đáp ứng có β = 0.204, giá trị t

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    • 293, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

    Giả thiết H5: Có mối tương quan dương giữa chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có β = 0.402, giá trị t =10.409, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H6: Có mối tương quan dương giữa phương tiện hữu hình và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần mức phương tiện hữu hình có β = 0.174, giá trị t =4.512, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    4. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý

     

    Sự hài lòng của khách hàng là yếu tố được xem là then chốt trong hoạt động kinh doanh của bất kì tổ chức nào, đối với NHTM hiện nay đó là yếu tố sống còn, các Ngân hàng tích cực đưa ra các giải pháp đem lại sự hài lòng cho khách hàng thông qua các sản phẩm đa dạng hơn, quy

     

     

    64

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    cách phục vụ chuyên nghiệp, khuyến mãi…. Các

     

    nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới đã chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có mối tương quan dương với nhau. Khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng cao thì họ sẽ hài lòng với dịch vụ đó, khi khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng thấp, họ sẽ không hài lòng. Nghiên cứu này xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, đã đánh giá được thực trạng chất lượng dịch vụ tại VCB Hồ Chí Minh.

     

    Như vậy, thành phần chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng (β=0,402), thứ hai là thành phần hệ thống (β = 0.366), thứ ba là thành phần mức độ tin cậy (β=0.273), thứ tư là thành phần sự đồng cảm (β=0.225), thứ năm là thành phần khả năng đáp ứng (β = 0.204) và thấp nhất là thành phần phương tiện hữu hình (β = 0.174). Khách hàng đánh giá cao đội ngũ nhân viên VCB có năng lực, làm việc chuyên nghiệp, tác phong gọn gàng, giao dịch tại VCB nhanh chóng, không phải chờ đợi lâu và địa điểm giao dịch của VCB

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arasli, H., Mehtap-Smadi, S. and Katircioglu, S.T. (2005), “Customer service quality in the Greek Cypriot banking industry”, Managing Service Quality, Vol. 15 No. 1, pp. 41-56.

     

    • Bahia, K., and Nantel, J ( 2000), “A Reliable and Valid Measurement Scale for the Perceived Service Quality of Banks, International Journal of Bank Marketing. 18(2), pp 84-91.

     

    • Beerli A., Martin J.D., Quintana A.

    (2004). “a model of customer loyalty in the retail banking market European”, Journal of Marketing, pp.253-275.

     

    • Berry, L., Bennett, D.R. and Brown, C.W. (1988), Service Quality: A Proit Strategy

    thuận tiện cho khách hàng. Tuy nhiên, có một số vấn đề cần lưu ý là nhân viên VCB chưa thật sự quan tâm đến từng nhu cầu của khách hàng, chưa giải thích rõ ràng cho khách hàng về các mức phí, nên tham khảo điều chỉnh giờ làm việc để thuận tiện cho khách hàng hơn nữa.

     

    Do đó, một số giải pháp nhằm làm cho khách hàng hài lòng hơn với dịch vụ tại VCB là (i) Nhân viên VCB phải luôn giải thích rõ các mức phí khách hàng phải chi trả, thường xuyên tiến hành các cuộc khảo sát so sánh mức phí dịch vụ VCB và các ngân hàng khác, để chủ động đưa ra mức phí hợp lý nhất cho khách hàng. (ii) VCB cần tổ chức nhiều hơn các buổi học về kĩ năng bán hàng, kĩ năng giao tiếp với khách hàng và cần gia tăng kiểm tra năng lực nhân viên định kì, có chính sách khen thưởng hợp lý. (iii) Nhân viên cần phải quan tâm trò chuyện, tư vấn nhiều hơn cho khách hàng sử dụng được dịch vụ ưng ý nhất. (iv) Tiến hành các cuộc khảo sát về sự hài lòng về sản phẩm dịch vụ tại VCB và tiếp nhận đề xuất của khách hàng để có những sản phẩm dịch vụ tốt nhất.

     

    for Financial Institutions, Dow Jones-Irwin, Homewood, IL.

    • Cronin, J.J. and Taylor, S.A. (1992), “Measuring service quality: a re-examination and extension”, Journal of Marketing, Vol. 56, July, pp. 55-68

     

    • F, Suhaimi. R, Saban. G and Hamali. J (2010), “Bank Service Quality (BSQ) Index: An indicator of service performance”, International Journal of Quality & Reliability Management, Vol. 28 No. 5, 2011, pp. 542-555.

     

    • Hoàng Trọng & Nguyễn Chu Mộng Ngọc (2008), Phân t́ch dữ liệu nghiên cứu v́i SPSS, NXB Hồng Đức TPHCM
    • Karatepe, O.M., Yavas, U. and Babakus, E.

     

    (2005), “Measuring service quality of banks: scale development and validation”, Journal of

     

     

    65

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Retailing and Consumer Services, Vol. 12, pp.

     

    373-83.

     

    • Kwan, W. and Hee, T.J. (1994), “Measuring service quality in Singapore retail banking: a GAP analysis & segmentation approach”, Singapore Management Review, Vol. 16 No. 2, pp. 1-12.

     

    • Manshor Amat Taap, Siong Choy Chong, Mukesh Kumar, Tat Kee Fong (2010), “Measuring service quality of conventional and Islamic banks:a comparative analysis”, International Journal of Quality & Reliability Management, Vol. 28 No. 8, 2011, pp. 822-840

     

    • Nguyễn Văn Thụy & Đặng Ngọc Đại (8/2012), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến sự thoả mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với các ngân hàng thương mại tại TP. Hồ Chí Minh, Tạp ch́ Kinh tế và Phát trỉn, Số Chuyên san 8/2012, trang 61-71.

     

    • Oliver,R. (1993), “Cognitive, affective and attribute bases of the satisfaction response”, Journal of Consumer Research, 20, 418–430.

     

    • Parasuraman, A., Zeithaml, V.A. and Berry, L.L. (1988), “SERVQUAL: a multiple item scale for measuring consumer perception of service quality”, Journal of Retailing, Vol. 64 No. 1, pp. 12-37.

     

    • R, Ladhari. I and Morales.M (2010), “Bank service quality: comparing Canadian and Tunisian customer perceptions”, International Journal of Bank Marketing, Vol.

    29, No 3-2011, pp 224-246.

     

    • Lewis, B.R. (1991), “Service quality: an international comparison of bank customers’ expectations and perceptions”, Journal of Marketing Management, Vol. 7, pp. 47-62.
    • H (1995), “The relationhships of customer satisfaction, customer loyalty and proitability: an empirical study”, International Journal of Service Industry Managemant, Vol 7 No. 4 1996 ,pp 27-42

     

    • Tahir, I.M. and Abu Bakar, N.M.

    (2007), “Service quality GAP and customers’ satisfactions of commercial banks in Malaysia”, International Review of Business Research Papers, Vol. 3 No. 4, pp. 327-36.

    • Wang, T., Lo, H.-P. and Hui, Y.V. (2003), “The antecedents of service quality and product quality and their inluences on bank reputation: evidence from the banking industry in China”, Managing Service Quality, Vol. 13 No. 1, pp. 72-83.

     

    • Yavas U., Bilgin Z. and Shemwell D. J.,1997, “Service Quality in the Banking Sector in an Emerging Economy: A Consumer Survey”, International Journal of Bank Marketing, vol. 15. no. 6 pp. 217-223

     

    • Zeithaml, V.A. and Bitner, M.J. (2000), Services Marketing: Integrating Customer Focus Across the Firm, New York; McGraw-Hill.

     

    • Zeithaml, V.A. (1988), “Consumer perceptions of price, quality, and value: a means-end model and synthesis of evidence”, Journal of Marketing, Vol. 52, pp. 2-22.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-%C4%90%C3%92N-B%E1%BA%A8Y-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-L%C3%8AN-D%C3%92NG-TI%E1%BB%80N-T%E1%BB%B0-DO-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-C%C3%94NG-TY-NI%C3%8AM-Y%E1%BA%BET-TR%C3%8AN-S%E1%BB%9E-GIAO-D%E1%BB%8ACH-CH%E1%BB%A8NG-KHO%C3%81N-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH LÊN DÒNG TIỀN TỰ DO TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    IMPACT OF FINANCIAL LEVERAGE ON FREE CASH FLOW IN FIRMS LISTED ON HO CHI MINH STOCK EXCHANGE

     

    Bùi Ngọc Toản(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Bài nghiên cứu xác định sự tác động c̉a đòn bẩy tài ch́nh lên dòng tiền tự do tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố H̀ Ch́ Minh. Đòn bẩy tài ch́nh c̉a công ty được đo lừng thông qua hai chỉ tiêu là tỷ lệ nợ trên vốn ch̉ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn. Tác giả đã sử dụng dữ liệu c̉a 78 công ty phi tài ch́nh trong giai đoạn 2011-2015. Nghiên cứu áp dụng phương pháp b̀nh phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) đ̉ đảm bảo t́nh vững và hiệu quả c̉a mô h̀nh. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài ch́nh có tác động đến dòng tiền tự do. Ngoài ra, nghiên cứu cũng t̀m thấy sự tác động c̉a năng sinh lợi, cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai c̉a công ty (Tobin’s Q) và tốc độ tăng trưởng c̉a công ty đến dòng tiền tự do.

     

    Từ khóa: Đòn bẩy tài chính, dòng tiền tự do, cấu trúc vốn, công ty niêm yết.

     

    1.  ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Lý thuyết về dòng tiền tự do của Jensen (1986) cho rằng các công ty có dòng tiền tự do lớn thường phải đối mặt với những xung đột về mặt lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần và hạn chế rủi ro. Các nhà quản lý lại hướng đến những mục tiêu trong ngắn hạn như tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận,… nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với công ty. Không chỉ vậy,

     

    ABSTRACT

     

    This paper examines the effect of inancial leverage on free cash low in irms listed on Ho Chi Minh stock exchange. Leverage of the irm is measured by using two ratios including debt to equity ratio and long term debt. The author used panel data of 78 non-inancial irms during 2011-2015. The research employs the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) technique to ensure the viability and effectiveness of the research model. The results reveal that inancial leverage are correlated with free cash low. In addition, the author also found out the effect of proit, growth and investment opportunities (Tobin’s Q) and growth on free cash low.

     

    Keywords: Financial Leverage, free cash low, capital structure, irms listed.

     

    việc sử dụng đòn bẩy tài chính cũng tạo nhiều xung đột giữa chủ sở hữu và nhà quản lý vì việc này ảnh hưởng khá nhiều đến dòng tiền tự do của công ty. Qua quá trình lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng có khá nhiều nghiên cứu đã tiến hành đánh giá thực trạng về đòn bẩy tài chính cũng như về dòng tiền tự do, nhưng lại có rất ít nghiên cứu thực nghiệm tiến hành xác định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Do đó, tác giả đã tiến hành nhận dạng và xác định mức độ tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do của các công ty phi tài

     

     

    • Giảng viên Khoa Tài ch́nh – Ngân hàng, Trừng Đại ḥc Công nghiệp Tp.HCM. ĐT: 0986.785.984. Email: [email protected].

     

     

    50

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhằm đưa thêm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này.

     

    2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Mô hình nghiên cứu

    Dòng tiền tự do là thước đo hoạt động của doanh nghiệp được tính toán bằng hiệu số giữa dòng tiền hoạt động và chi tiêu vốn. Nói cách khác, dòng tiền tự do đại diện cho lượng tiền mặt mà doanh nghiệp có thể tạo ra sau khi để lại một phần để duy trì hoặc mở rộng các tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Sở dĩ dòng tiền tự do quan trọng là bởi vì chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp có thể theo đuổi các cơ hội đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Nếu không có tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới, thực hiện các vụ mua lại, chi trả cổ tức và trả nợ.

     

    Sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do đã được khá nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu tại các nền kinh tế và khu vực khác nhau, dưới đây là phần tóm lược nội dung của một số nghiên cứu:

     

    Lingling (2004) đã nghiên cứu sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Nhật Bản. Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến dòng tiền tự do. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy tốc độ tăng trưởng của công ty có ảnh hưởng đến dòng tiền tự do.

    Trong một nghiên cứu khác, McKnight (2008) đã dựa vào lý thuyết của Jensen (1986) để kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Kết quả nghiên cứu cho

     

    thấy có sự tác động ngược chiều của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do và phù hợp với lý thuyết của Jensen (1986).

     

    Zhang (2009) cũng tìm thấy tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do của công ty. Tác giả cho rằng, khi đòn bẩy tài chính gia tăng có thể khiến cho dòng tiền tự do giảm xuống.

     

    Gần đây, Fatma (2011) đã nghiên cứu sự tác động của cơ cấu sở hữu và dòng tiền tự do của công ty. Kết quả cho thấy chính sách vay nợ kiểm soát chủ yếu sự biến động của dòng tiền tự do.

     

    Không chỉ vậy, Khan và các cộng sự (2012) đã kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do tại 54 công ty sản xuất ở Pakistan trong giai đoạn 2006-2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động ngược chiều của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Đòn bẩy tài chính được đo lường thông qua hai chỉ tiêu là tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động của hai biến kiểm soát là khả năng sinh lợi (được đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (thông qua chỉ tiêu Tobin’s Q).

     

    Căn cứ vào các nghiên cứu trước ta thấy, đòn bẩy tài chính được đo lường thông qua hai chỉ tiêu và có sự tác động ngược chiều của chỉ tiêu này đến dòng tiền tự do. Hai chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài chính được nêu trong các nghiên cứu trước bao gồm tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ dài hạn.

     

     

    Vậy, mô h̀nh nghiên cứu dự kiến có phương tr̀nh như sau:

     

    FCFit = β0 + β1 DEit + β2 LTDRit + β3 PRFTit + β4 TOBNQit + β5 GROWTHit + εit

     

    Trong đó:

     

    Biến phụ thuộc FCFit: tỷ lệ dòng tiền tự do của công ty.

     

    Các biến độc lập: tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit), tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit).

     

    Các biến kỉm soát: khả năng sinh lợi (PRFTit), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQit), tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTHit)

     

     

    51

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 1: Các biến sử dụng trong mô h̀nh nghiên cứu

     

    Tên biến

    Cách đo lường biến

     
         
     

    Biến phụ thuộc

     

    Tỷ lệ dòng tiền tự do của công ty

    Dòng tiền tự do / Tổng tài sản

     

    (FCFit)

       
     

    Các biến độc lập

     
         

    Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit)

    Tổng nợ / Tổng vốn chủ sở hữu

     
         

    Tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit)

    Tổng nợ dài hạn / Tổng nợ

     
     

    Các biến kiểm soát

     
         

    Khả năng sinh lợi (PRFTit)

    Lợi nhuận sau thuế / Tổng số cổ phiếu thường đang lưu

     

    hành

     
     
         

    Cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong

    (Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu + giá trị sổ sách

     

    của nợ dài hạn + Giá trị sổ sách của nợ ngắn hạn) / Tổng

     

    tương lai của công ty (TOBNQit)

    tài sản

     
     
         

    Tốc độ tăng trưởng của công ty

    (Doanh thu năm t – Doanh thu năm t-1) / Doanh thu năm

     

    (GROWTHit)

    t-1

     
         

    2.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán được công bố trên website của 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi dữ liệu được thu thập, tác giả thực hiện bước tiếp theo là tính toán các biến dựa trên số liệu thu thập được từ báo cáo tài chính.

     

    2.3. Phương pháp phân tích

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thông qua hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong mô hình. Trước tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF), nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là nghiêm trọng (Gujrati, 2003). Tiếp theo đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    sai của sai số thay đổi. Nếu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nếu có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ chuyển sang phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS). Wooldridge (2002) cho rằng, phương pháp này rất hữu dụng khi kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi.

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • Thống kê mô tả

    Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2015 với các biến số được mô tả trong bảng 2 sau đây:

     

     

    52

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    Bảng 2: Thống kê mô tả các biến

     

    Biến

    Số quan sát

    Trung bình

    Giá trị nhỏ nhất

    Giá trị lớn nhất

             

    FCFit

    390

    1,0349

    0,0159

    6,1603

    DEit

    390

    1,6585

    0,1479

    6,3208

    LTDRit

    390

    1,6585

    0,0002

    0,9139

    PRFTit

    390

    0,0022

    -0,0206

    0,0214

    TOBNQit

    390

    1,1125

    0,3049

    9,5349

    GROWTHit

    390

    1,1925

    0,1016

    14,0715

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    Từ kết quả thống kê mô tả cho thấy, các biến trong mô hình ước lượng đều thu đủ dữ liệu với 309 quan sát.

     

    3.2. Phân tích tương quan

     

    Hệ số tương quan giữa các biến được mô tả ở bảng 3 sau đây:

     

    Bảng 3: Hệ số tương quan giữa các biến

     

     

    FCFit

    DEit

    LTDRit

    PRFTit

    TOBNQit

    GROWTHit

    INFt

    FCFit

    1,0000

               

    DEit

    -0,0012

    1,0000

             

    LTDRit

    -0,3631

    0,0084

    1,0000

           

    PRFTit

    0,1180

    -0,2066

    -0,0346

    1,0000

         

    TOBNQit

    0,1787

    0,0820

    -0,0702

    -0,1174

    1,0000

       

    GROWTHit

    0,0365

    -0,1436

    -0,0258

    0,0550

    0,0049

    1,0000

     

    Dựa vào bảng 3, ta thấy: biến độc lập DEit và LTDRit tác động ngược chiều với FCFit. Trong khi đó, các biến kiểm soát tác động cùng chiều lên FCFit. Không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình) do các hệ số tương quan

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    có giá trị khá thấp (giá trị cao nhất là 0.2066, chuẩn so sánh theo Farrar & Glauber (1967) là 0,8). Kết quả phân tích tương quan trên phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước trên thế giới và phù hợp với kỳ vọng của tác giả trong giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam.

     

     

    3.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

     

    Bảng 4: Kết quả kỉm định VIF, phương sai c̉a sai số thay đổi và tự tương quan

     

    Kiểm định VIF

     

    Kiểm định phương sai của sai

    Kiểm định tự tương

     

    số thay đổi

    quan

           
               

    Biến

    VIF

     

    1/VIF

    White’s test

    Wooldridge test

    DEit

    1,07

     

    0,9362

       

    PRFTit

    1,06

     

    0,9449

    Chi2 (20) = 33,03

    F (1, 77) = 37,217

    TOBNQit

    1,02

     

    0,9769

    GROWTHit

    1,02

     

    0,9778

       

    LTDRit

    1,01

     

    0,9927

       

    Giá trị trung bình = 1,04

    Prob > chi2 = 0,0335**

    Prob > F = 0,000*

     

     

    53

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số nhân tử phóng đại phương sai cho kết quả VIF

     

    • Vậy, hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là không nghiêm trọng. Kiểm định White cho thấy mô hình có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi với mức ý nghĩa 5%. Trong khi đó, kiểm định Wooldridge cho rằng mô hình có hiện tượng tự tương quan ở mức ý nghĩa 1%.

    3.4. Kết quả hồi quy

     

    Kết quả kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu có hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan, các hiện tượng này có thể được kiểm soát bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (Wooldridge, 2002). Do đó, kết quả mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Bảng 5: Kết quả mô h̀nh nghiên cứu

     

    FCFit

    Hệ số hồi quy

     

    Hằng số

    0,9171*

     
         

    DEit

    -0,0831*

     

    LTDRit

    -0,4439*

     

    PRFT

    7,6406***

     

    it

       

    TOBNQit

    0,1453*

     

    GROWTHit

    0,0630*

     

    Số quan sát

    390

     

    F-test

    Wald chi2(5) = 169,42

     

    Prob > chi2 = 0,0000*

     
     
         

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Với biến phụ thuộc là dòng tiền tự do (FCFit), sau khi dùng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan, ta có kết quả nghiên cứu như sau: đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều

     

    lên dòng tiền tự do (FCFit). Trong đó, đòn bẩy của công ty được đo lường thông qua hai chỉ tiêu

     

    là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DEit) và tỷ lệ nợ dài hạn (LTDRit). Điều này cho thấy rằng, những

    công ty sử dụng đòn bẩy tài chính cao thường có tỷ lệ dòng tiền tự do thấp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy sự tác động cùng chiều của ba biến kiểm soát: năng sinh lợi (PRFTit), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQit) và tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTHit) đến dòng tiền tự do (FCFit).

     

    4. KẾT LUẬN

     

    Bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do (FCF) tại 78 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã áp dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy hai biến độc lập đại diện cho đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DE) và tỷ lệ nợ dài hạn (LTDR)) và ba biến kiểm soát (khả năng sinh lợi (PRFT), cơ hội đầu tư và tăng trưởng trong tương lai của công ty (TOBNQ) và tốc độ tăng trưởng của công ty (GROWTH)) đều tác động đến dòng tiền tự do (FCF). Kết quả nghiên cứu là cơ sở để góp phần giúp các công ty, nhà đầu tư nhận định một cách rõ hơn về sự tác động của đòn bẩy tài chính đến dòng tiền tự do. Kết quả này là bằng chứng thực nghiệm của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, do đó mang lại giá trị thiết thực đối với các doanh nghiệp ở nước ta. Với kết quả này, bài nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, bài nghiên cứu còn gặp hạn chế như số lượng công ty đưa vào nghiên cứu còn ít (chỉ nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh), chưa xét đến sự tác động của các biến kiểm kiểm soát đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô hoặc đặc điểm ngành,… đây cũng là hướng nghiên cứu cho các bài nghiên cứu tiếp theo.

     

     

    54

     

    Tác động của đòn bẩy . . .

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Farrar, D. and Glauber, R. (1967). Multicollinearity in Regression Analysis: The Problem Revisited, Review of Economics and Statistics, 49, pp.92-107.
    • Gujarati, D. (2003). Basic Econometrics (4th edn), New York: McGraw-Hill.
    • Khan, A., Kaleem, A., Nazir, M. (2012). Impact of Financial Leverage on Agency cost of Free Cash Flow: Evidence from the Manufacturing sector of Pakistan. Journal of Basic and Applied Scientiic Research. ISSN 2090-4304.

     

    • Jensen, M. C. (1986). Agency Costs of Free Cash Flow, Corporate Finance, and Takeovers. American Economic Review, 76, 323-329.

     

    • Lingling, W. (2004). The Impact of Ownership Structure on Debt Financing of

    Japanese Firms With the Agency Cost of Free Cash Flow (January 12, 2004). EFMA 2004 Basel Meetings Paper. Available at SSRN: http://ssrn.com/abstract=488042 or http:// dx.doi.org/10.2139/ssrn.488042

     

    • McKnight, J. (2008). Agency costs, corporate governance mechanisms and ownership structure in large UK publicly quoted companies: A panel data analysis. The Quarterly Review of Economics and Finance, 49, 139-158.

     

    • Zhang, Y. (2009). Are Debt and Incentive Compensation Substitutes in Controlling the Free Cash Flow Agency Problem? Financial Management, 38(3), 507-541.
    • Wooldridge, J. (2002). Introductory Econometrics: A Mordern Approach, 2nd Ed., South-Western College.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%E1%BA%A4U-TR%C3%9AC-V%E1%BB%90N-%C4%90%E1%BA%BEN-T%E1%BB%B6-SU%E1%BA%A4T-L%E1%BB%A2I-NHU%E1%BA%ACN-R%C3%92NG-BI%C3%8AN-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN TỶ SUẤT LỢI NHUẬN RÒNG BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

     

    IMPACT OF CAPITAL STRUCTURE ON THE NET INTEREST MARGIN OF THE COMMERCIAL BANK IN VIETNAM

     

     

    TÓM TẮT

     

    Bài viết này xem xét tác động c̉a cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài ch́nh c̉a 19 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014. Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được thống kê c̉a World Bank. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp h̀i quy trên dữ liệu bảng. Bao g̀m: phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Sau đó, nghiên cứu áp dụng phương pháp b̀nh phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để đảm bảo tính vững và hiệu quả của mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu trên

     

    tổng tài sản (CAPi,t ), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOANi,t ), tỷ lệ lạm phát hàng năm (CPIt ) và tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (GDPt ) tác

     

    động có ý nghĩa đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên c̉a NHTM Việt Nam.

     

    Từ khóa: cấu trúc vốn, tỷ suất lợi nhuận ròng biên, ngân hàng thương mại, Việt Nam

     

    Đoàn Thị Thu Trang(*)

     

    ABSTRACT

     

    This paper examines the impact of capital structure on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam. The data used for the research were collected from the inancial reports of 19 Commercial bank in Vietnam during the period 2007-2014. In addition the research also use the economic growth rate (GDP) and the inlation rate (CPIt ) were the World Bank’s statistics. The research applies the panel data regression models, including the OLS Model, the Fixed Effect Model (FEM) and the Random Effect Model (REM). Next, the research employs the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) technique to ensure the viability and effectiveness of the research model. The research result shows that the capital to assets ratio (CAPi,t ). The loans to assets ratio (LOANi,t ), the inlation rate (CPIt ) and the economic growth rate (GDPt ) have an impact on the net interest margin of the Commercial bank in Vietnam.

     

    Keywords: capital structure, the net interest margin, commercial bank, Vietnam

     

     

    • GV. Khoa Tài ch́nh – Ngân hàng, trừng Đại ḥc Công nghiệp thành phố H̀ Ch́ Minh. ĐT: 0935 98 98 97. Email: [email protected]

     

     

    27

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007, Việt Nam đã đón nhận nhiều cơ hội cũng như thách thức cho mọi lĩnh vực ngân hàng – một lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Việc mở cửa thị trường tài chính, làm các NHTM Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn từ các ngân hàng nước ngoài. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô và Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố tỷ suất lợi nhuận ròng biên (NIM) của hầu hết các NHTM Việt Nam trong những năm gần đầy đều có xu hướng giảm, đặc biệt là trong hai năm 2013 và 2014.

     

    Chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi biên (Net Interest Margin – NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất.

     

    Ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng đã là một đề tài tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và học giả. Các nghiên cứu khác nhau đã được tiến hành để tìm hiểu tác động của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Các nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật khác nhau và các phương pháp và đã có những ý kiến khác nhau về kết quả. Một số nghiên cứu cho thấy rằng có tác động tích cực của cơ cấu vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng. Mặc dù có một số nghiên cứu định lượng đã được tiến hành nhằm xác định tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới nhưng theo hiểu biết của các tác giả, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này

     

    được thực hiện tại Việt Nam.

     

    Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra câu trả lời về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Dựa vào kết quả này giúp các NHTM có thể xác định cấu trúc vốn hợp lý để góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung.

     

    2. CƠ SƠ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

     

    Tỷ suất lợi nhuận ròng biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu từ lãi (chủ yếu là thu từ cho vay, đầu tư) so với mức tăng trưởng của chi phí lãi (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ). Tỷ suất lợi nhuận ròng biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Do vậy nếu có cấu tài sản nợ, tài sản có hợp lý, tối ưu thì sẽ làm cho tỷ lệ này gia tăng qua các năm. (Trịnh Hồng Hạnh, 2015).

     

    Tổng hợp một số nghiên cứu gần đây có liên quan được tóm tắt ở bảng 1 sau đây:

     

    28

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 1: Tổng hợp các nghiên cứu trức

     

       

    Biến phụ

     

    Các biến độc lập tác động có ý nghĩa

    Tác giả

    Dữ liệu nghiên cứu

         
       

    Chiều

    thuộc

     

    Tên biến

         
             

    tác động

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ vốn

    (+)

             

    Sehrish Gul

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài

    (+)

    2005-2009

     
     

    sản

    & các cộng

    Dữ liệu 15 NHTM ở

    lợi biên

       

    sự (2011)

    (NIM)

         
     

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP

    (-)

    Pakistan

     
             
           

    Tỷ lệ lạm phát

    (+)

               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

    Tỷ suất sinh

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu

    (+)

    Bashir

    1993 – 1998

         

    lợi biên

         
         

    (2000)

    Dữ liệu tám quốc gia ở

     

    Tỷ lệ dư nợ cho vay trên

     

    (NIM)

     

    (+)

     

    khu vực Trung Đông

     
         

    tổng tài sản

           
               
     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản

    (-)

    Khalaf Taani

    2007-2011

    Tỷ suất sinh

         
         

    & các cộng

    Dữ liệu 12 NHTM niêm

    lợi biên

         

    sự (2011)

    yết trên sàn chứng khoán

    (NIM)

     

    Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

    (-)

     

    Amman

           
               
           

    Tỷ lệ nợ dài hạn trên Vốn

    (-)

     

    Giai  đoạn  nghiên  cứu

       

    chủ sở hữu

    Mubeen

         

    Tỷ suất sinh

         
         

    2008-2012

     

    Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên Vốn

     

    mụahid &

    lợi biên

     

    (-)

    các cộng sự

    Dữ liệu các ngân hàng ở

     

    chủ sở hữu

    (NIM)

       

    (2014)

    Pakistan

         
     

    Tỷ lệ tổng nợ trên Vốn chủ

    (-)

         
           
           

    sở hữu

             
               
         

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng để tìm ra sự tác động của một số yếu tố đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Căn cứ vào kết quả của các bài nghiên cứu trước có liên quan, mô hình nghiên cứu dự kiến có phương trình như sau:

     

    NIMit = β0 + β1CAPit + β2 LOANit + β3 INFt + β4GDPt + εit

     

    Trong đó:

     

    Biến phụ thuộc NIMit: Tỷ suất lợi nhuận ròng biên

     

    Các biến độc lập: Tỷ lệ vốn (CAPit), tỷ lệ cho vay (LOANit), tỷ lệ lạm phát (INFt), tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

     

    29

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2: Các biến sử dụng trong mô h̀nh nghiên cứu

     

     

    Biến

    Ký hiệu

    Đo lường

    Giả thuyết

               

    Biến phụ thuộc

    Tỷ  suất  lợi  nhuận

    NIM

    i,t

    Thu nhập lãi ròng / Tài sản có sinh lãi

     
     

    ròng biên

         

    Biến độc lập

    Tỷ lệ vốn

    CAPi,t

    Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản

    +

             

    Các biến kiểm

    Tỷ lệ cho vay

    LOANi,t

    Tỷ lệ cho vay / Tổng tài sản

    +

    Lạm phát

    CPI

     

    Tỷ lệ lạm phát hàng năm

    +

    soát

     

    t

         
             
     

    Tăng trưởng kinh tế

    GDPt

    Tỷ lệ tăng GDP hàng năm

    4. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng thông qua hồi quy tuyến tính đa biến để lượng hóa sự tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trong các mô hình. Trước tiên, nghiên cứu sẽ kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình thông qua hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF), nếu hệ số VIF lớn hơn hoặc bằng 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là nghiêm trọng (Gujrati, 2003). Tiếp theo đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi. Nếu không có hiện tượng tự tương quan và phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nếu có hiện tượng tự tương quan và

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

    phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ chuyển sang phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS). Wooldridge (2002) cho rằng, phương pháp này rất hữu dụng khi kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi.

     

    4.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được c̉a 19 NHTM Việt Nam trong giai đoạn

     

    2007-2014. Riêng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được lấy từ số liệu thống kê của World Bank.

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    • Thống kê mô tả

    Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 19 NHTM trong giai đoạn 2008 – 2014 với các biến số được thống kê mô tả trong bảng 3 sau đây:

     

     

    Bảng 3: Thống kê mô tả các biến

     

    Biến

    Số quan sát

    Trung bình

    Độ lệch chuẩn

    Giá trị nhỏ nhất

    Giá trị lớn nhất

               

    NIMi,t

    152

    0.0346482

    0.0152211

    0.008193

    0.104947

    CAPi,t

    152

    0.1267721

    0.0900562

    0.042556

    0.614083

    LOANi,t

    152

    0.5298685

    0.1369904

    0.156097

    0.944218

    CPIt

    152

    0.107225

    0.0618049

    0.0409

    0.2312

    GDPt

    152

    0.059375

    0.0059932

    0.0525

    0.0713

               
         

    Nguồn:

    Kết quả phân t́ch

    c̉a tác giả

     

     

    30

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    5.2. Phân tích tương quan

     

    Hệ số tương quan giữa các biến được mô tả ở bảng 4 sau đây:

     

    Bảng 4: Hệ số tương quan giữa các biến

     

     

    NIMi,t

    CAPi,t

    LOANi,t

    CPIt

    GDPt

               

    NIMi,t

    1.0000

           
               

    CAPi,t

    0.7284

    1.0000

         
               

    LOANi,t

    0.3494

    0.1885

    1.0000

       
               

    CPIt

    0.0887

    0.0423

    -0.0320

    1.0000

     
               

    GDPt

    -0.1943

    -0.0380

    -0.0910

    0.0045

    1.0000

               

    Dựa vào bảng phân tích tương quan trên, ta thấy:

     

    • Biến độc lập CAPi,t tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Các biến kiểm soát LOANi,t, INFt tác động cùng chiều đến NIMi,t.
    • Biến kiểm soát GDPt tác động ngược chiều đến NIMi,t.
    • Không có  hiện  tượng  đa  cộng  tuyến

    5.3. Kiểm định các giả thuyết hồi quy

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    nghiêm trọng (tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình) do các hệ số tương quan có giá trị khá thấp (cao nhất là 0.1885, chuẩn so sánh theo Farrar & Glauber (1967) là 0.8).

     

    Kết quả tương quan trên phù hợp với hầu hết các nghiên cứu trước trên thế giới và phù hợp với kỳ vọng của tác giả trong giai đoạn nghiên cứu này tại Việt Nam.

     

     

    Bảng 5: Kết quả kỉm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập

     

    Kiểm định VIF

     

    Biến

    VIF

    1/VIF

         

    LOANi,t

    1.05

    0.955888

    CAPi,t

    1.04

    0.961693

    GDPt

    1.01

    0.991268

    CPIt

    1.00

    0.996543

     

    Giá trị trung bình = 1.02

     

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

     

    Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình tương quan tuyến tính với nhau. Nghiên cứu tiến hành kiểm định giả thuyết không bị hiện tượng đa cộng tuyến bằng cách

    dùng chỉ tiêu VIF. Kết quả cho thấy VIF của tất cả các biến độc lập đều nhỏ hơn 10 nên hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình được đánh giá là không nghiệm trọng (Gujrati, 2003).

     

     

    31

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 6: Kỉm định phương sai c̉a sai số thay đổi và kỉm định tự tương quan

     

    Kiểm định phương sai của sai số thay đổi

    Kiểm định tự tương quan

       

    White’s test

    Wooldridge test

       

    Chi2 (14) = 70.80

    F (1, 18) = 52.478

       

    Prob > chi2 = 0.0000*

    Prob > F = 0.0000*

       

    Ghi chú: *, ***** có ý nghĩa tương ứng ở mức 1%, 5% và 10%

     

     

    • Phương sai của sai số thay đổi sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng ngộ nhận các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa, lúc đó kiểm định hệ số hồi quy và R bình phương không dùng được. Bởi vì phương sai của sai số thay đổi làm mất tính hiệu quả của ước lượng, nên cần thiết phải tiến hành kiểm định giả thuyết phương sai của

     

    sai số không đổi bằng kiểm định White, với giả thuyết H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi. Với mức ý nghĩa alpha= 1%, kiểm định White cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob

     

    • 01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có hiện tượng phương sai thay đổi.
      • Giữa các sai số có mối quan hệ tương quan với nhau sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng phương pháp OLS vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành

     

    kiểm định giả thuyết không bị tự tương quan trên dữ liệu bảng, với giả thuyết H0: không có sự tự tương quan. Với mức ý nghĩa alpha = 1%,

     

    kiểm định cho kết quả là: Prob = 0.0000. Vậy, Prob < 0.01 nên bác bỏ giả thuyết H0. Tức là có sự tự tương quan.

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Tổng hợp kết quả kiểm định

     

    Qua kết quả kiểm định từng phần ở trên, ta thấy: mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến được đánh giá là không nghiêm trọng. Tuy vậy, mô hình có sự tự tương quan giữa các sai số và có hiện tượng phương sai thay đổi. Hiện tượng này sẽ làm cho các ước lượng thu được bằng các phương pháp hồi quy thông trường trên dữ liệu bảng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Do vậy, tác giả dùng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (theo Wooldridge (2002)).

     

    5.4. Kết quả hồi quy

     

    Tiếp theo, nghiên cứu áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM) và Random effects model (REM). Mô hình nghiên cứu có hiện tượng tự tương quan giữa các sai số, hiện tượng này có thể được kiểm soát bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả (Wooldridge, 2002). Kết quả các mô hình nghiên cứu như sau:

     

     

    32

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    Bảng 7: Kết quả mô h̀nh nghiên cứu

     

    NPLit

     

    Hệ số hồi quy

           
                   

    OLS

    FEM

     

    REM

     

    FGLS

       
             
                     

    Hằng số

    0.0285146

    0.0378517

     

    0.0312934

     

    0.0166779

       
                     

    CAPi,t

    0.1149903*

    0.0840991*

     

    0.1084794*

     

    0.0973284*

       
                     

    LOANi,t

    0.0233054*

    0.0163841**

     

    0.0206192*

     

    0.0216005*

       
                     

    CPIt

    0.0165636

    0.0179918

     

    0.0167786

     

    0.0293592*

       
                     

    GDPt

    -0.3801066*

    -0.4122199*

     

    -0.3894229*

     

    -0.1717714**

       
                     

    R2

    60.39%

    59.83%

     

    60.36%

           
                     
     

    F( 4,  147) =

    F(4,129)

    =

    Wald chi2(4)

     

    Wald chi2(4)

       
     

    13.14

     

    = 142.28

     

    = 99.04

       

    F-test

    56.03

           

    Prob > F

    =

    Prob > chi2

    =

    Prob > chi2

    =

     
     

    Prob > F = 0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

     

    0.0000*

       
               
                 
     

    Ghi chú: *, *****

    có ý nghĩa tương ứng

    ở mức 1%, 5% và 10%

       
           

    Nguồn: Kết quả phân t́ch c̉a tác giả

     

    Với biến phụ thuộc là NIMi,t, sau khi dùng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan giữa các sai số và hiện tượng phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả, ta có kết quả như sau:

     

    NIMit = 0.0167 + 0.0973 CAPit + 0.0216 LOANit + 0.0294 INFt – 0.1718 GDPt + εit

     

     

    Biến độc lập, tỷ lệ vốn (CAPi,t) có mối tương quan dương và mạnh nhất (0.0973) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011), Bashir (2000), Khalaf Taani & các cộng sự (2011) và Mubeen mụahid & các cộng sự (2014), và có thể được giải thích rằng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên của NHTM càng cao và ngược lại. Điều này chứng tỏ quy mô vốn chủ sở hữu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam.

     

    Biến kiểm soát, tỷ lệ cho vay (LOANi,t) có mối tương quan dương (0.0216) với tỷ suất lợi

    nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có

     

    • nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Sehrish Gul & các cộng sự (2011) và Bashir (2000), và có thể được giải thích rằng, các NHTM Việt Nam càng mở rộng quy mô cho vay thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Tại Việt Nam hoạt động truyền thống và chủ yếu của các ngân hàng vẫn là cho vay (chiếm khoản 70 – 80% hoạt động của ngân hàng). Chính vì vậy, đa số các ngân hàng thường có xu hướng tập trung vào hoạt động cho vay, kênh chính để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    Biến kiểm soát, lạm phát (INFt) có mối tương quan dương (0.0294) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa

     

     

    33

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    thống kê với mức ý nghĩa 1%. Thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014 cho thấy, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao tăng đến 19.89% trong năm 2008 và 18.58% trong năm 2011 và kéo theo sự gia tăng lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi mặc dù với những tỷ lệ khác nhau, với quy định về trần lãi suất huy động đã làm hạn chế gia tăng lãi suất huy động và kết quả là làm hệ số NIM tăng lên.

     

    Biến tăng trưởng kinh tế (GDPt) có mối tương quan ngược chiều (– 0.1718) với tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%. Thực tế từ năm 2007 – 2014 cho thấy, khi các hoạt động kinh tế tăng sẽ làm tăng giá trị vay của khách hàng (lãi suất huy động được điều chỉnh giảm liên tục từ đó kéo theo lãi suất cho vay cũng giảm đáng kể, do đó làm giảm chênh lệch lãi suất và giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    Bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của cấu trúc vốn đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại 19 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014. Tác giả đã áp dụng các phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm: Phương pháp OLS, Fixed effects model (FEM), Random effects model (REM), tiếp đó là phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất lợi nhuận ròng biên bị tác động bởi

     

    lập tỷ lệ vốn (CAPi,t), tỷ lệ cho vay (LOANi,t), Lạm phát (INFt)và tăng trưởng kinh tế (GDPt).

     

    Kết quả nghiên cứu đã góp phần giúp cơ quan quản lý, các ngân hàng thương mại, nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện hơn về tỷ suất lợi nhuận ròng biên và những yếu tố nào tác động đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số gợi ý nhằm giúp các cơ quan quản

     

    lý, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư có kế hoạch cụ thể góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, phát triển ổn định và bền vững. Cụ thể:

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ vốn ch̉ sở hữu: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiều mạnh nhất đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng tăng thì tỷ suất lợi nhuận ròng biên càng tăng. Vì vậy NHTM cần nâng cao hơn nữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Tại NHTM có rất nhiều cách để tăng vốn chủ sở hữu của mình như: phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường, bán cổ phần cho đối tác chiến lược là các ngân hàng trong nước và nước ngoài, các tổng công ty trong nước và nước ngoài, thực hiện chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hay sử dụng thặng dư vốn cổ phần của những năm trước để lại để tăng vốn cho năm nay hoặc trích lập các quỹ từ nguồn lợi nhuận năm trước. Tùy theo thế mạnh của từng ngân hàng và tình hình cụ thể trong từng thời kỳ, ngân hàng sẽ có những lựa chọn phương thức tăng vốn chủ sở hữu đảm bảo nguồn vốn bền vững và đảm bảo lợi ích của các cổ đông trong ngân hàng.

     

    Về vấn đề tăng tỷ lệ cho vay : Tỷ lệ cho vay có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tăng tỷ lệ cho vay sẽ giúp tỷ suất lợi nhuận ròng biên gia tăng. Nhưng khi tăng tỷ lệ cho vay mà không kiểm soát được chặt chẽ thì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ngoài ra còn thúc đẩy lạm phát quốc gia tăng cao. Vì vậy các ngân hàng muốn tăng tỷ lệ cho vay sẽ phải chấp nhận đánh đổi rủi ro, nhưng phải đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

     

    Về vấn đề lạm phát : Lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, khi tỷ lệ lạm phát gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất

     

     

    34

     

    Ảnh hưởng của cấu trúc . . .

     

    cho vay và lãi suất tiền gửi với những tỷ lệ khác nhau, điều này có thể làm cho tỷ suất lợi nhuận ròng biên có thể gia tăng hoặc giảm sút. Khi mức lạm phát được kiềm chế, các ngân hàng có thể duy trì mức lãi suất thực dương mà không cần dựa vào các chi phí lãi suất ngầm để thu hút khách hàng, sẽ giúp gia tăng tỷ suất lợi nhuận ròng biên.

     

    Về vấn đề tăng trưởng GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều đến tỷ suất lợi nhuận ròng biên của các NHTM Việt Nam. Bởi vì khi các chủ trương, cơ chế chính sách hỗ

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bashir, A. (2000), Determinants of proitability and rates of return margins in Islamic banks: some evidence from the Middle East, Grambling State University Mimeo.
    • Sehrish Gul (2011), Factors affecting bank proitability in Pakistan, The Romanian Economic Journal
    • Gujarati (2003), Basic Econometrics (4th edn), New York: McGraw-Hill.

    trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh được ban hành như lãi suất cho vay, hỗ trợ các doanh nghiệp tăng trưởng sản xuất sẽ làm giảm chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động, làm giảm tỷ suất lợi nhuận ròng biên. Vì vậy, khi kích thích tăng trưởng GDP, nhà nước nên lưu ý điều hành linh hoạt, chủ động các công cụ chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa để điều chỉnh lãi suất ở mức hợp lý và cần đẩy mạnh cải cách hạnh chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí.

     

    • Khalaf Taani (2013), Capital Structure Effects on Banking Performance: A Case Study of Jordan. International Journal of Economics, Finance and Management Sciences. Vol. 1, No. 5, 2013, pp. 227-233.

     

    • Mubeen Muajahid (2014), Impact of Capital Structure on Banking Performance, Vol.5, No.19, 2014, pp. 2222-2847

     

    • Wooldridge (2002), Introductory Econometrics: A Mordern Approach, 2nd, South-Western College.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-FDI-kh%C3%B4ng-th%E1%BB%83-h%E1%BB%A7y-ngang-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong dự án FDI không thể hủy ngang tại Việt Nam

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    CÁC NHÂN TỐ BẤT ĐỊNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ TRONG DỰ ÁN FDI KHÔNG THỂ HỦY NGANG TẠI VIỆT NAM

     

    UNCERTAINTIES AFFECTING INVESTMENT DECISION IN FDI-IRREVERSIBLE PROJECTS IN VIETNAM

     

    Lê Quốc Thành1

     

    Ngày nhận: 16/10/2018           Ngày nhận bản sửa: 29/10/2018           Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được ưu tiên bởi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt với các nước đang phát triển do nhiều lợi ích của FDI mang lại. Quyết định đầu tư của công ty nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định tại Việt Nam luôn đối mặt với nhiều nhân tố bất định. Nghiên cứu này hướng đến việc khám phá các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của công ty nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số nhân tố bất định mới hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản trị và các chuyên gia tư vấn trong công tác thu hút đầu tư FDI tại Việt Nam.

     

    Từ khóa: quyết định đầu tư, dự án đầu tư, nhân tố bất định, FDI.

     

    Abstract

     

    Attracting foreign direct investment (FDI) is always given priority of Goverments and policy makers, especially developing countries due to benefits of FDI. Investment decision of foreign companies into fixed asset project is always facing many uncertainties. This study is aming at discovering uncertainties affecting investment decision of foreign companies into fixed asset projects in Vietnam. Research results show that there are several new uncertainies which are useful to policy makers, managers and investment consultant in attracting FDI into Vietnam. Key words: investment decision, investment project, uncertainties, FDI.

     

    1. Giới thiệu

     

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khái niệm chỉ dòng vốn từ các doanh nghiệp nước ngoài, đa phần là các công ty đa quốc gia (MNE/MNC) vào thị trường nội địa của một quốc gia, chủ yếu là vào các dự án đầu tư tài sản cố định như nhà xưởng máy móc nhằm sản xuất hàng hóa cung cấp dịch vụ. Loại hình đầu tư này đã trở thành một phần quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới (UNCTAD, 2004). Nghiên cứu về

     

    __________________________________________

    FDI phát triển mạnh từ những năm 1960-1970, Hymer (1960) và Caves (1971) cho rằng FDI là công cụ để khai thác các lợi thế về tài sản cố định của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài, tiếp cận nguồn nguyên liệu dễ dàng, phân công chuyên môn hóa trong chu trình sản xuất trên toàn hệ thống của công ty đa quốc gia. Dunning (1971) phát hiện FDI có vai trò như một bước đi chiến lược có tính chất phòng thủ của doanh nghiệp tránh đầu tư quá tập trung vào quốc gia chính quốc, đa dạng hóa nhằm giảm

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    43

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    rủi ro toàn hệ thống; Watters (1995) chứng minh rằng đầu tư FDI nhằm hạn chế các khó khăn của thị trường nội địa chính quốc nhất là khi thị trường đó ngày càng tiến đến bão hòa. Các nghiên cứu đánh giá lợi ích do FDI mang lại có thể kể đến như sau: (1) gia tăng thu nhập cho người lao động thông qua tiền lương, tăng việc làm (UNCTAD, 2004); (2) sử dụng nguyên vật liệu và nhiều yếu tố đầu vào cho sản xuất từ địa phương, thúc đẩy đầu tư nội địa, (3) tạo hiệu ứng lan tỏa từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp nội địa (Javorcik &ctg, 2007; Kneller

     

    • Pisu, 2007); (4) chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước và góp phần tăng năng suất (Kokko & ctg, 1996; Gorg & Strobl, 2001; UNCTAD, 2004; Potterie & Lichtenberg, 2001); (5) góp phần gia tăng xuất khẩu và ngoại tệ cho quốc gia nhận đầu tư (Nigel Pain & Katharine, 2002); (6) giúp chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa ( Dunning
    • Narula, 2003).

    FDI từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển tăng mạnh trong thời gian gần đây. Theo Peters (2009) thống kê từ năm 1992-2008, thế giới phương Tây đầu tư ngày càng nhiều ra các nước đang phát triển và nhập khẩu trở lại chính quốc với giá trị tăng gần gấp đôi trong vòng gần 20 năm. Việt Nam hiện là một nước đang phát triển có nhu cầu lớn về thu hút đầu tư FDI, đặc biệt là FDI vào các dự án có giá trị tài sản cố định lớn (hay giá trị đầu tư ban đầu lớn lên đến hàng tỷ USD). Theo dự báo viễn cảnh đầu tư vào hạ tầng thế giới do Trung tâm Hạ tầng toàn cầu (GI Hub – Global Infrastructure Hub) và Oxford Economics dự báo từ 2016 đến 2040 Việt Nam cần đầu tư vào hạ tầng cơ sở khoảng 608 tỷ USD (Global Infrastructure Outlook, 2007 & Oxford Economics).

     

    Các dự án đầu tư tài sản cố định lớn này còn được giới học thuật gọi là dự án đầu tư không

    thể hủy ngang/không thể đảo ngược được1, có vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian chuẩn bị đầu tư dài và đến thời điểm ra quyết định đầu tư dự án, doanh nghiệp phải chi một lượng chi phí khá lớn có thể đến 10% tổng vốn đầu tư dự án cho công tác nghiên cứu thị trường, khảo sát thiết kế kỹ thuật, lập báo cáo tiền khả thi và khả thi dự án (Burke, 2003). Các dự án này có thể chia làm 3 loại theo Archibald & Voropaev (2004) bao gồm: (1) Dự án hạ tầng giao thông vận tải, hạ tầng viễn thông; (2) Dự án hạ tầng năng lượng (nhà máy lọc dầu, nhà máy điện các loại); (3) Dự án sản xuất hàng hóa cơ bản của nền kinh tế (sắt thép, nguyên vật liệu, hóa chất…). Có thể thấy ngay các dự án này có tầm quan trọng thiết yếu cho bất kỳ một nền kinh tế mạnh nào trên thế giới. Do vậy, khuyến khích đầu tư vào loại hình dự án luôn là chính sách ưu tiên của các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, FDI vào các dự án không thể hủy ngang tại các nước đang phát triển luôn đi kèm nhiều nhân tố bất định.

     

    Chính vì vậy nghiên cứu về các nhân tố bất định ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam sẽ̃ đem lại nhiều lợi ích, có thể kể đến bao gồm: (1) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các nhà hoạch định chính sách am hiểu hành vi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào các dự án FDI lớn tại Việt Nam, nhờ đó công tác thiết kế chính sách và hoạch định các cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài tốt hơn; (2) Nghiên cứu sẽ̃ giúp các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà quản trị dự án, các chuyên gia tư vấn am hiểu về các nhân tố bất định, cơ chế ảnh hưởng của các bất định đến quyết định đầu tư mà nhờ

     

    • “Dự án đầu tư không thể hủy ngang hay không thể đảo ngược được” là các dự án đầu tư vào tài sản cố định lớn/có vốn đầu tư ban đầu lớn (Irreversible project) theo McDonald & Siegel (1986)

    44

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    vậy giúp chủ động nghiên cứu, làm rõ giảm thiểu các tác động tiêu cực từ các bất định này, nâng cao khả năng thành công dự án tại Việt Nam. (3) Nghiên cứu này sẽ̃ góp phần làm giàu kiến thức liên quan đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài trong trường hợp bất định nói riêng, góp phần vào công tác đào tạo chuyên ngành cho sinh viên các cấp học khác sau.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Doanh nghiệp được định nghĩa đơn giản nhất là một pháp nhân thành lập theo luật định có mục đích vì lợi nhuận và luôn tối đa hóa lợi nhuận (Chandler, 1992). Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều trực tiếp hay gián tiếp hướng đến lợi nhuận trong cả ngắn, trung và dài hạn. Hình thái hiện đại của doanh nghiệp hiện nay là mô hình doanh nghiệp công nghiệp (industrial organization), bắt đầu xuất hiện từ những năm 1880s và ngày càng phát triển (Chandler & Hikino, 2009). Hầu hết các tập đoàn lớn trên thế giới trong danh mục S&P 500 đều là các doanh nghiệp công nghiệp lớn. Bên cạnh việc đóng vai trò nhà sản xuất cung cấp hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao ra thị trường, doanh nghiệp công nghiệp còn đóng vai trò nhà đầu tư2 nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong trung và dài hạn, duy trì vị thế trên thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường tiềm năng (Carlton & Perloff, 2015). Do vậy, các doanh nghiệp công nghiệp này có xu hướng tập trung tìm kiếm, đánh giá và ra quyết định đầu tư trong các dự án công nghiệp lớn hay còn gọi là dự án đầu tư không thể hủy ngang. Các doanh nghiệp công nghiệp lớn, nhất là các công ty đa quốc gia (MNC/MNE), kể cả doanh nghiệp quản trị bởi gia đình, thông thường được lãnh đạo và quản trị bởi một nhóm các nhà quản

     

    • Trong toàn bộ nghiên cứu này, Nhà đầu tư luôn được hiểu là doanh nghiệp công nghiệp đầu tư vào dự án thâm dụng vốn lớn hay còn gọi là “Dự án không thể đảo ngược được” (Irreversible project).

    trị có quan hệ chặt chẽ̃ dựa trên các quy định quản trị nội bộ (corporate governance) nhằm đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp được quản trị hướng đến tối đa hóa lợi nhuận, hay tối đa hóa cổ tức cho các cổ đông, được thống nhất và tuân thủ triệt để bởi các thành viên hội đồng quản trị (Bernard S. Black, Hasung Jang

     

    • Woochan Kim, 2006). Do vậy các quyết định của doanh nghiệp với tư cách nhà đầu tư luôn có xu hướng ra quyết định duy lý (Carlton & Perloff, 2015). Nhà đầu tư duy lý luôn ra quyết định trên cơ sở các thông tin tốt nhất, các bằng chứng đáng tin cậy và lý lẽ̃ phù hợp, hạn chế các quan điểm cảm tính. Do vậy, các nhà đầu tư duy lý luôn có xu hướng nghiên cứu, tìm hiểu làm rõ nhằm làm giảm các nhân tố bất định ảnh hưởng đến dự án mà họ đang cân nhắc ra quyết định đầu tư.

    Một đặc tính quan trọng liên quan đến khía cạnh ra quyết định đầu tư của dự án lớn là tính chất không thể đảo ngược/hủy ngang (irreversibility) được McDonald & Siegel (1986) đề cập lần đầu tiên vào năm 1986 và mở ra một nhánh nghiên cứu về việc ra quyết định đầu tư vào loại hình dự án này (Bertola, 1998). Pindyck (1990) cho rằng hầu hết các dự án đầu tư hữu hình lớn đều có 2 đặc tính quan trọng là: (1) Không thể đảo ngược hay hủy ngang là: trong quá trình chuẩn bị đầu tư hay thực hiện đầu tư, nếu nhà đầu tư dừng hay hủy ngang, toàn bộ chi phí tính đến thời điểm dừng sẽ̃ bị mất do kết quả của dự án đến thời điểm hủy ngang không thể sử dụng cho mục đích kinh tế nào khác dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư luôn trì hoàn chờ thông tin tốt hơn nhằm giảm các nhân tố bất định về số lượng và cả mức độ bất định; (2) Dự án không thể đảo ngược/hủy ngang có thể được tạm dừng (Wait & See status) theo Bjerksund & Ekern (1990); Stokey (2016) nhằm chờ đợi những thông tin tích cực hơn cho

     

    45

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    việc ra quyết định đầu tư, như giá cả của sản phẩm dịch vụ dự án sẽ̃ cung cấp tăng, chi phí đầu tư ban đầu giảm, thay đổi chính sách theo hướng tích cực cho dự án.

    Đối với doanh nghiệp, ra quyết định đầu tư vào trong các dự án đầu tư không hủy ngang (Dixit & Pindyck, 1994), là một trong các quyết định tài chính chiến lược bên cạnh các quyết định tài chinh quan trọng khác như quyết định phân chia cổ tức (dividend policy), quyết định tài trợ (financing decision). Ngay trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư khi doanh nghiệp còn đầu tư rất ít chi phí, nếu phát triển dự án tốt và thực tốt công tác quan hệ công chúng quảng bá, giá trị thị trường của dự án có thể tăng, giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp nói chung (Fuss & Vermeulen, 2008).

     

    Nghiên cứu về “Quyết định đầu tư của doanh nghiệp trong trường hợp có nhiều yếu tố bất định3 – Investment decision under uncertainties” là những hướng nghiên cứu hàn lâm điển hình trong giới học thuật trên thế giới, phát khởi từ những năm 1960 (Hirshleifer, 1965), được phát triển bởi một số học giả điển hình như Lucas Jr & Prescott (1971); Abel (1983); Dixit & Pindyck (1994); và Abel & Eberly (1994, 1997); hiện rất phổ biến trên thế giới. Các nghiên cứu này chia làm 2 hướng chính: (1) Phát hiện và khẳng định các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp hay đến dòng vốn FDI;

     

    • Đo lường tác động của một vài nhân tố lên quyết định đầu tư hay tác động lên các nhân tố khác như vốn, công nghệ hay lao động trong dự án đầu tư. Nghiên cứu này được phát triển theo hướng thứ nhất là phát hiện và khẳng định các nhân tố bất định mới.
    • Uncertainty được hiểu là tình huống không chắc chắn hay “nhân tố bất định” là nhân tố mà doanh nghiệp chưa có thông tin đầy đủ đáng tin cậy để lượng hóa thành rủi ro hoặc có thể lượng hóa nhưng có sai số rất lớn.

    Từ những năm 1970, nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến FDI tại các nước phát triển ở cấp độ vĩ mô – quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ doanh nghiệp. Các nhân tố có thể được tổng kết như: mức độ phát triển hạ tầng, lãi suất/chi phí vốn tại thị trường nội địa, tỷ giá hối đoái, thuế, thể chế, vị trí của quốc gia nhận đầu tư, mức độ bảo hộ thương mại, tác động của các cam kết thương mại.

     

    Một ví dụ điển hình là nhân tố bất định thuế mà doanh nghiệp FDI phải chi trả. Theo Niemann (2004), sự bất định của thuế suất sẽ̃ ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền sau thuế và lãi suất của vốn đầu tư. Đối với thuế suất dự kiến trong tương lai không xác định, các nhà đầu tư duy lý thường phải giả định một mức thuế nhất định như họ mong đợi. Một số nghiên cứu về thuế ảnh hưởng đến đầu tư như Alvarez

     

    • ctg (1998) phát hiện ra rằng nếu các nhà đầu tư cho rằng thuế suất sẽ̃ giảm, họ có xu hướng đẩy nhanh đầu tư và ngược lại; Hassett & Metcalf (1999) và Agliardi (2001) kết luận rằng những bất định trong chính sách thuế chắc chắn sẽ̃ trì hoãn các dự án đầu tư.

    Tại Việt Nam một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư FDI nói chung đã được phát triển, điển hình là nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa & Bùi Bích Phương (2014) và Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017). Cả hai nghiên cứu đều áp dụng phương pháp định lượng nhằm khẳng định các nhân tố định lượng có quan hệ với đầu tư FDI vào Việt Nam như GDP, tổng dự trữ ngoại hối, mức độ phát triển hạ tầng, chi phí nhân công lao động, độ mở thương mại quốc gia, chất lượng lao động, mức độ đô thị hóa, mức độ tập trung của các doanh nghiệp trong nước. Các nghiên cứu này có ý nghĩa lớn trong xây dựng chính sách vĩ mô thu hút đầu tư.

     

    46

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Qua phần tổng quan lý thuyết, có thể kết luận rằng có nhiều nhân tố bất định, bao gồm cả định lượng và định tính tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn. Theo kết quả khảo cứu tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào các dự án đầu tư tài sản cố định lớn không thể hủy ngang. Một số nghiên cứu gần liên quan đến thu hút FDI của Việt Nam chưa hướng đến phát hiện các nhân tố bất định mới. Thế nên, chúng ta có thể kết luận là hiểu biết của chúng ta về các nhân tố bất định tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài vào dự án đầu tư không thể hủy ngang là hết sức hạn chế. Do vậy nghiên cứu này được thiết kế theo hướng nghiên cứu khám phá (exploratory research) theo Strauss & Corbin (1990), sử dụng cách tiếp cận nghiên cưu đinh tinh sư dung công cu phong vân sâu cho phép phat hiên va xac đinh cac nhân tô bất định mới chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập. Nhăm đam bao chât lương nghiên cưu đinh tinh, tác giả tuận thủ quy trinh nghiên cưu đinh tinh, sô tay phong vân bao gồm nhưng khuyên cao nhăm đao bao chât lương nghiên cưu đinh tinh theo Lincoln

     

    • Guba (1985) va Kvale (1995) sẽ đươc tuân thu triêt đê. Trinh tư thưc hiên nghiên cưu đinh tinh băng phong vân sâu nhiêu vong thiêt kê theo Seidman (2013); Okoli va Pawlowski (2004). Cũng theo (Okoli & Pawlowski, 2004), chất lượng chuyên gia ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu, nên các chuyên gia đang làm việc cho các công ty tư vấn kiểm toán lớn như KPMG, PWC, Ersnt & Young và Deloitte (Big Four)4, hoặc các công ty tư vấn luật quốc tế tại Việt Nam là phù hợp. Sô lương chuyên gia
    • Xếp hạng theo doanh thu của tổ chức Statista năm 2017: Revenue of the Big Four accounting / audit firms worldwide in 2017 (in billion U.S. dollars). (https://www.statista.com/statistics/250479/big-four-accounting-firms-global-revenue/)

    phong vân dư kiên dưới 10 chuyên gia (Crouch

     

    • McKenzie, 2006). Phong vân sẽ kêt thuc khi không phat hiên cac nhân tô mơi (có xu hướng bao hoa) trong 2-3 lân phong vân sau cung (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Trình tự phỏng vấn các chuyên gia được yêu cầu:
    • Nghiên cưu cac nhân tố bất định băng ca tiêng Viêt lẫn tiêng Anh, binh luân vê ngư nghia tiêng Viêt cua cac nhân tố bất định trong bôi canh Viêt Nam. Thông qua bươc nay, tên cac nhân tố bất định băng tiêng Viêt sẽ đươc chuân hoa.
    • Loai bo cac nhân tố bất định ma chuyên gia cho răng không xuât hiên trong bôi canh FDI tai Viêt Nam hoăc co tac đông qua nho đên quyết định đầu tư vào dự án

    không hủy ngang.

     

    • Bô sung cac nhân tố bất định mơi ma trong danh sach chưa co, giai thich vê nôi dung cua cac nhân tố bất định mơi nay va cơ chế tac đông giưa cac nhân tố bất định nay vơi quyết định đầ tư vào dự án FDI không hủy ngang.
    • Xêp hang cac nhân tố bất định theo mưc đô tac đông (đươc xac đinh bơi cac chuyên gia) lên quyết định đầu tư vào dự án FDi không hủy ngang.

    Sau môi lân phong vân, kêt qua phong vân sẽ đươc tông kêt va gưi đên chuyên gia nhăm khăng đinh lai xem co sư khac biêt trong ghi nhân vê nôi dung phong vân hay không trươc khi sư dung cho phân tich va đơt phong vân kê tiêp. Kết quả phỏng vấn đợt này được cập nhật vào Bảng câu hỏi cũng như Sổ tay phỏng vấn nhằm phục vụ cho lần phỏng vấn kế tiếp.

     

    4. Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    • Kết quả nghiên cứu

     

    Sau bảy vòng phỏng vấn, thông tin có xu

     

    hướng lặp lại rõ rệt trong hai lần cuối, do vậy, quá trình phỏng vấn kết thúc (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Các nhân tố bất định quan trọng được các chuyên gia đề xuất, khẳng định và xếp hạng được tổng hợp và trình bày trong Bảng 4.1 như sau.

     

    47

     

       

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     
     

    Bảng 4.1 Các nhân tố bất định được phát hiện và khẳng định

     

    STT

    Tên nhân tố

    Giải thích

    Xếp hạng

    Nhân

    tố bất định cấp độ vĩ mô

     

    1

    Tỷ giá hối đoái

    Doanh nghiệp đầu tư bằng đồng ngoại tệ, chuyển vào và

    3

       

    chuyển đổi sang đồng Việt Nam. Trong trung và dài hạn,

     
       

    khi doanh nghiệp bắt đầu chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt

     
       

    Nam, chênh lệch tỷ giá hối đoái thời điểm đầu tư và thời

     
       

    điểm chuyển lãi có ảnh hưởng đến lợi nhuận chuyển ra của

     
       

    doanh nghiệp FDI

     

    2

    Ổn định chính

    Đây là rủi ro có khả năng/xác xuất xảy ra nhỏ nhưng nếu

    6

     

    trị và quan hệ

    xảy ra tổn thất có thể rất lớn và có thể là tổn thất toàn bộ

     
     

    ngoại giao

    (nếu xảy ra chiến tranh), ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình

     
       

    hình “sức khỏe tài chính” của cả công ty mẹ. (Trường hợp

     
       

    Dự án nhà máy lọc dầu của Mitsui tại Iran khi chiến tranh

     
       

    Iran-Iraq xảy ra 1980-1988)

     

    3

    Bất định về

    Chính sách đầu tư không nhất quán, không rõ ràng, hay

    4

     

    chính sách

    thay đổi làm gia tăng chi phí đầu tư ban đầu cũng như gián

     
     

    đầu tư

    tiếp tăng chi phí hoạt động kinh doanh

     

    4

    Bất định về

    Một số ngành nhà đầu tư nước ngoài chưa được đầu tư đa

    3

     

    chính sách tiếp

    phần vốn để có thể quyết định ứng dụng các quy trình quản

     
     

    cận và mở rộng

    trị hiện đại, kiểm soát hiệu quả hoạt động kinh doanh, như

     
     

    thị trường

    cảng biển, viễn thông,… hay ngành điện vẫn phải bán buôn

     
       

    điện cho Điện lực Việt Nam. Đây là một số hạn chế tạo nên

     
       

    khiến nhà đầu tư nước ngoại thận trọng.

     

    Nhân

    tố bất định cấp độ doanh nghiệp – nhà đầu tư

     

    5

    Bất định về

    Bất định về thuế có ảnh hưởng trực trực tiếp làm giảm lợi

    1

     

    Thuế

    nhuận dự án. Các nhà đầu tư luôn cố gắng làm rõ các khoản

     
       

    thuế phí phải trả theo luật định cũng như đánh giá khả năng

     
       

    chính phủ tăng thuế suất và các sắc thuế mới trong tương

     
       

    lai như thuế môi trường, thuế phát thải…

     

    6

    Không rõ ràng

    Đây là nhân tố được các chuyên gia rất quan tâm do tiến

    2

     

    về các thủ tục

    trình này tốn nhiều thời gian, làm nản long nhà đầu tư cũng

     
     

    và diễn giải các

    như như mất cơ hội đầu tư. Cải cách thủ tục hành chính

     
     

    nội dung trong

    trong đầu tư cũng như công tác làm rõ các quy trình thủ tục,

     
     

    quá trình đầu

    mẫu biểu và tài liệu giải trình về cả thể thức nội dung là rất

     
     

    tư bao gồm các

    cần thiết nhằm giúp các nhà đầu tư làm rõ các thủ tục này.

     
     

    giấy phép con

       

    7

    Bất định về giá

    Dao động về giá bán sản phẩm tại nội địa và xuất khẩu ảnh

    3

     

    bán sản phẩm/

    hưởng trực tiếp đến doanh thu dự án. Tuy nhiên, dao động

     
     

    dịch vụ

    này cũng ảnh hưởng chung lên các đối thủ của dự án FDI.

     

    48

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    4.2. Thảo luận các kết quả nghiên cứu Tât ca cac chuyên gia tham gia phong vân

     

    đêu nhân định răng “quyết định đầu tư” vào dự án nói chung tại nước ngoài là một hoạt động đầy thách thức cho các doanh nghiệp, bởi một số nguyên nhân :

    • Xét theo góc độ doanh nghiệp: (1) Quyết định đầu tư là một trong vài loại quyết định chiến lược của doanh nghiệp và dường như các nhà quản trị doanh nghiệp coi là quan trọng nhất vì dự án đầu tư tiêu tốn một lượng vốn lớn và có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong trung và dài hạn; (2) Ngay trong thời kỳ nghiên cứu chuẩn bị đầu tư, doanh nghiệp đã phải tiêu tốn một chi phí đang kể và thông tin về tiến độ thực hiện dự án có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp; (3) Quyết định đầu tư ra nước ngoài nơi khác biệt hoàn toàn về văn hóa, chính trị, thị trường, môi trường luật pháp,… tạo ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp.

     

    • Xét theo góc độ nhà quản trị doanh nghiệp: Cá nhân các nhà quản trị được giao nhiệm vụ thay mặt doanh nghiệp thực hiện các công tác chuẩn bị phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư có trách nhiệm rất lớn trước hội đồng quản trị doanh nghiệp. Sự nghiệp và con đường phát triển nghề nghiệp của các cá nhân được giao chịu trách nhiệm công việc này phụ thuộc nhiều vào kết quả thành công của dự án đầu tư.
    • Xét theo tính chất phức tạp và tầm quan trọng của việc ra quyết định đầu tư: Ra quyết định đầu tư liên quan đến rất nhiều nhóm công việc phải thực thi để có cơ sở ra quyết định, bao gồm: (1) Tìm hiểu và phân tích thị trường xác định thị phần làm cơ sở cho một dự án đầu tư; (2) Thực hiện công tác lập dự án đầu tư bao gồm công tác nghiên cứu chi tiết, thiết kế xây dựng tổng mức đầu tư dự án; (3) Đánh

    giá các nhân tố bất định và rủi ro. Tất cả các hoạt động trên đều liên quan đến rất nhiều yếu tố ngoài doanh nghiệp, do vậy tính phức tạp và bất định rất cao.

    Do vậy, ngoài công tác chuẩn bị dự án, các doanh nghiệp luôn cập nhật thông tin, làm rõ các nhân tố bất định nhằm đủ thông tin và đưa các nhân tố bất định này về thành các rủi ro và nhờ vậy doanh nghiệp có thể áp chi phí để quản trị các rủi ro này và đưa chi phí quản trị rủi ro này vào tính toán các chỉ số tài chính của dự án. Trong trường hợp không đầy đủ thông tin, doanh nghiệp bắt buộc phải áp chi phí quản trị rủi ro với sai số lớn hơn và do vậy ảnh hưởng đến kết quả tính toán các chỉ số tài chính dự án. Các nghiên cứu thực nghiệm về nhân bất định ảnh hưởng đến lợi nhuận dự án đã cho thấy, với dự án điện chạy than, để đảm bảo dự án khả thi, giá điện đã phải tính tăng từ 5 – 10% do bất định về thuế phát thải carbon (William, & ctg, 2007).

     

    1. Khuyến nghị về chính sách và quản trị Qua kết quả nghiên cứu có thể thấy có nhiều

    nhân tố bất định, bao gồm cả cấp độ vĩ mô và cấp độ doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lợi nhuận mong đợi của dự án mà doanh nghiệp dự kiến đầu tư và do đó có ảnh hưởng lớn đến hành vi ra quyết định đầu tư vào dự án của doanh nghiệp. Trên cơ sở các nhân tố bất định phát hiện và khẳng định thông qua phỏng vấn chuyên gia, một số đề xuất hoàn thiện chính sách và gợi ý cho nhà quản trị, chuyên gia tư vấn dự án đầu tư FDI vào Việt Nam như sau.

     

    + Khuyến nghị về mặt chính sách:

     

    Cam kết ổn định luật liên quan đến đầu tư: Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách cần xây dựng luật với tầm nhìn trung và dài hạn cũng như việc sửa đổi luật cần thực hiện với sự tham vấn thích đáng của các nhà doanh nghiệp/ nhà đầu tư trong ngành nhằm tránh các sửa đổi

     

    49

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    ngoài mong đợi. Đồng thời Chính phủ và các cơ quan quản lý chuyên ngành cần có cơ chế phát tín hiệu tích cực với thị trường về sự ổn định hệ thống luật và chính sách dưới luật liên quan đến đầu tư nói chung, các luật chuên ngành và cơ chế dưới luật. Điều này đã được nhiều nghiên cứu khẳng định mà điển hình là nghiên cứu của White & ctg (2013) về bất định trong chính sách năng lượng sạch tại Na Uy đã làm mất niềm tin của nhà đầu tư. Nghiên cứu cũng khẳng định bất định trong chính sách đầu tư rõ ràng tác động tiêu cực đến mức độ đầu tư.

     

    Ổn định vĩ mô: Với các nhà hoạch định chính sách, rõ ràng để thu hút đầu tư cần xây dựng chính sách hướng đến bình ổn kinh tế vĩ mô thông qua ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô như lãi suất cơ bản, tỷ giá hối đoái, lạm phát bình ổn sẽ̃ góp phần thu hút FDI nói chung. Ngoài ra việc cam kết xây dựng và duy trì các luật lệ có ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh cần được xây dựng theo quan điểm dài hơi, tạo ổn định lâu dài.

     

    • Khuyến nghị về mặt quản trị: Với các nhà quản trị của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các tư vấn đầu tư cần tập trung vào các nhân tố bất định cấp độ doanh nghiệp như bất định thuế, bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường, bất định về giá bán, cụ thể như sau.

     

    Bất định về thuế: Đây là nhân tố bất định tác động trực tiếp vào lợi nhuận dự án và có

     

    Tai liêu tham khao

    tác động lâu dài nếu xảy ra, do vậy, cần tham vấn, phân tích và dự báo trước các loại thuế trong tương lai có thể được áp dụng theo thong lệ quốc tế mà các loại thuế liên quan đến môi trường như thuế phát thải carbon là một ví dụ điển hình. Đây là sắc thuế đã được nhiều quốc gia áp dụng và rất có thể trong tương lai xuất hiện tại Việt Nam theo nhu cầu thực tiễn nâng cao nguồn lực bảo vệ môi trường cũng như thực hiện các cám kết quốc tế như Nghị định thư Kyoto (1997) về chống biến đổi khí hậu.

     

    Bất định về khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường cũng như bất định về giá bán: Với một số ngành, nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào dự án tại Việt Nam có thể chưa được trực tiếp tiếp cận thị trường trực tiếp và/hoặc bị giới hạn ( như điện, cảng biển, viễn thông,…), và chi phí đầu tư phụ thuộc một phần vào các giấy phép chuyên ngành như xây dựng, môi trường,…, nhà đầu tư cần sử dụng các chuyên gia tư vấn nhiều kinh nghiệm nhằm làm rõ các thủ tục và chi phí này, giảm thiểu nguy cơ chậm trể tiến độ dự án ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Ngoài ra cần chú trọng công tác nghiên cứu thị trường, nâng cao mức độ chính xác của dự báo về khách hàng/doanh thu nhằm nâng cao độ tin cậy của các chỉ số tài chính trong thẩm định và ra quyết định đầu tư vào dự án.

     

    Abel, A. B. (1983). “Optimal investment under uncertainty”, American Economic Review, 73, 228-233.

     

    Abel, A. B. and J. C. Eberly (1994). “A unified model of investment under uncertainty”, American Economic Review, 84(5), 1369-1384.

     

    Abel, A.B. & J. C. Eberly (1997). “An exact solution for the investment and value of a firm facing uncertainty, adjustment costs, and irreversibility”, Journal of Economic Dynamics and Control, 21, 831-852.

     

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Agliardi,E. (2001).Taxation and investment decisions: a real options approach. Australian Economic Papers 40(1), 44-55.

     

    Alvarez, L. H., Kanniainen, V., & Sodersten, J. (1998). Tax policy uncertainty and corporate investment: A theory of tax-induced investment spurts. Journal of Public Economics 69(1), 17-48.

    Andrew B. Abel (1983). Optimal Investment Under Uncertainty (effects of uncertainty on investment). The American Economic Review, Vol. 73, No. 1 (Mar., 1983), pp. 228-233.

     

    Archibald Russell D & Vladimiri Voropaev. (2004). Project catergories and life cycle models: Report on the 2003 IPMA Global Survey, 18th IAPM Project Management World Congress, Budapest, June 18-21, 2004.

    Bernard S Black, Hasung Jang & Woochan Kim (2006). Does Corporate Governance Predict Firms’ Market Values? Evidence from Korea, The Journal of Law, Economics, and Organization.

     

    Bertola Giuseppe. (1998). Irreversible investment, Research in Economics (1998) 52, 3–37.

     

    Bjerksund P & S Ekern (1990). Managing Investment Opportunities under Price Uncertainty: From “Last Chance” to “Wait and See”, Strategies- Financial Management, JSTOR.

     

    Carlton DW & Perloff JM. (2015). Modern industrial organization. Pearson Higher Education.

     

    Crouch, M., & McKenzie, H. (2006). The logic of small samples in interview-based qualitative research. Social science information, 45(4), 483-499.

     

    Caves RE (1971). International corporations: The industrial economics of foreign investment, Economica, JSTOR.

     

    Chandler AD Jr. (1992). What is firm? A historical perspective. European Economic Review 36(1992) 483-994 North-Holland.

     

    Chandler AD & Hikino T. (2009). Scale and scope: The dynamics of industrial capitalism, Havard University Press.

     

    Dixit AK. (1992). Investment and hysteresis, Journal of economic perspectives, VOL. 6, NO. 1, WINTER 1992, (pp. 107-132).

     

    Dixit, A. K., & Pindyck, R. S. (1994). Investment under uncertainty. Princeton university press.

     

    Dunning, J. (1971). The Multinational, George Allen & Unwin Ltd, London.

     

    Dunning J.& Narula R. (2003). Foreign direct investment and governments: catalysts for economic restructuring, Routledge Taylor Francis Group.

     

    Fuss, C., & Vermeulen, P. (2008). Firms’ investment decisions in response to demand and price uncertainty. Applied Economics, 40(18), 2337-2351.

     

    Hassett, K. A., & Metcalf, G. E. (1999). Investment with uncertain tax policy: Does random tax policy discourage investment. The Economic Journal, 109(457),372-393.

     

    Harrison, A. (1994). The role of multinationals in economic development: the benefits of FDI. The Columbia Journal of World Business, 29(4), 6-11.

     

    Hirshleifer J. (1965). Investment Decision under Uncertainty: Choice—Theoretic Approaches, The Quarterly Journal of Economics, Volume 79, Issue 4, 1 November 1965, Pages 509–536.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Javorcik, Beata Smarzynska & Mariana Spatareanu (2007): “To Share or Not To Share: Does Local Participation Matter for Spillovers from Foreign Direct Investment?”, Journal of Development Economics, forthcoming.

    Kokko, A., Tansini, R., & Zejan, M. C. (1996). Local technological capability and productivity spillovers from FDI in the Uruguayan manufacturing sector. The Journal of Development Studies, 32(4), 602-611.

     

    Kneller, I.R., & Pisu, M., (2007). Industrial linkages and export spillovers from FDI. The World Economy, 30(1), 105-134.

     

    Lucas RE Jr & Prescott EC. (1971). Investment under uncertainty, Econometrica: Journal of the Econometric Society, – JSTOR.

     

    Myers, S.C., (1977). The determinants of corporate borrowing. Journal of Financial Economics 5, 147–175.

     

    McDonald R & Siegel D. (1986). The value of waiting to invest. The quarterly journal of economics, Volume 101, Issue 4 (Nov.,1986), 707-728.

     

    Nigel Pain & Katharine Wakelin (2002). Export Performance and the Role of Foreign Direct Investment, The Manschester School, Wiley Online Library.

     

    Niemann, R. (2004). Tax rate uncertainty, investment decisions, and tax neutrality. International Tax and Public Finance, 11(3), 265-281.

     

    Okoli, C., & Pawlowski, S. D. (2004). The Delphi method as a research tool: an example, design considerations and applications. Information & management, 42(1), 15-29.

     

    Peters, G. P., Minx, J. C., Weber, C. L., & Edenhofer, O. (2011). Growth in emission transfers via international trade from 1990 to 2008. Proceedings of the National Academy of Sciences, 108(21), 8903-8908.

     

    Potterie BP & Lichtenberg F, (2001). Does foreign direct investment transfer technology across borders? Review of Economics and Statistics, MIT Press.

     

    Pindyck, R. S. (1990). Irreversibility, uncertainty, and investment (No. w3307). National Bureau of Economic Research.

     

    Reilly FK & Brown KC. (2002). Investment analysis and portfolio management, South-Western Cengage Learning.

     

    Stokey, N. L. (2016). Wait-and-see: Investment options under policy uncertainty. Review of Economic Dynamics, 21, 246-265.

     

    William Blyth, & Richard Bradley & Derek Bunnc, & Charlie Clarked & Tom Wilsond & Ming Yang (2007). Investment risks under uncertain climate change policy. Energy Policy, 35(11), 5766-5773.

    White W, Lunnan A, Nybakk E & Kulisic B. (2013). The role of governments in renewable energy: The importance of policy consistency, Biomass and bioenergy, Volume 57, October 2013, Pages 97-105.

     

    52


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%B1-do-h%C3%B3a-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-%C4%91%E1%BA%BFn-m%E1%BB%91i-quan-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-gi%E1%BB%9Bi-h%E1%BA%A1n-t%C3%A0i-tr%E1%BB%A3-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH

     

    ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA GIỚI HẠN TÀI TRỢ VÀ ĐẦU TƯ

     

    THE IMPACTS OF FINANCIAL LIBERALIZATION ON THE RELATIONSHIP BETWEEN THE FUNDING CONSTRAINTS AND INVESTMENT

     

    Nguyễn Thị Liên Hoa1, Nguyễn Ngọc Thụy Vy2

     

    Ngày nhận: 20/8/2018            Ngày nhận bản sửa: 30/8/2018            Ngày đăng: 5/12/2018

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tại các doanh nghiệp phi tài chính ở 5 quốc gia Asean bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua việc xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980), hàm đầu tư được ước lượng bằng mô hình chuyển đổi trong đó trạng thái tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp được xác định đồng thời. Kết quả chính yếu cho thấy tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ, cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ). Từ khóa: giới hạn tài trợ, mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, tự do hóa tài chính.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impacts of financial liberalization on the relationship between funding constraints and investment in non-financial enterprises in five ASEAN countries, including Indonesia, Malaysia and the Philippines, Thailand and Vietnam for the period 2006-2016. The research method was conducted through constructing the investment function by the Euler equation, which was proposed by Abel (1980); the investment function was estimated by the transformation model in which the financial states and investment behaviors of the corporation were defined concurrently. The main outcomes showed that financial liberalization had negative impacts on firms, which were under funding constraints; particularly, financial liberalization would increased the sensitivity of investments followed by the cash flows (representing the funding constraints).

     

    Keywords: funding constraints, endogenous switching regression models, financial liberalization.

     

    1. Giới thiệu

     

    Giới hạn tài trợ là những cản trở về mặt tài chính khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài (Ismail và cộng sự, 2010). Giới

    hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003), lúc này chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
    • Trường Đại học Ngoại thương

    22

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Như vậy, trong thị trường tài chính bất hoàn hảo, khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài của doanh nghiệp là hữu hạn. Do đó doanh nghiệp buộc phải giữ lại phần lớn lợi nhuận và hạn chế chi trả cổ tức để đảm bảo có đủ nguồn tài chính cho các khoản đầu tư trong tương lai. Kết quả đầu tư của doanh nghiệp trở nên nhạy cảm trước các nguồn tài trợ khả dụng nội bộ (chẳng hạn như lợi nhuận giữ lại) hay nói cách khác doanh nghiệp bị giới hạn tài trợ. Tuy nhiên, giới hạn tài trợ không tương đồng giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Fazzazi, Hubbard và Petersen (1988) là các nhà nghiên cứu tiên phong tìm hiểu mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp trong điều kiện có hạn chế tài chính. Bằng cách sử dụng độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền dại diện cho giới hạn tài trợ và tỷ lệ chi trả cổ tức làm đại diện cho hạn chế tài chính, Fazzazi và cộng sự (1988) kết luận về sự khác biệt trong mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư tùy thuộc vào “loại hình” doanh nghiệp, cụ thể mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền cao ở những doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính lớn (tỷ lệ chi trả cổ tức thấp). Các nghiên cứu tiếp theo của các nhà kinh tế trên thế giới cũng tiếp tục phát triển chủ đề này theo các hướng khác nhau. Tuy nhiên cách tiếp cận của Fazzazi và cộng sự (1988) có một số hạn chế: (i) Hạn chế đầu tiên là tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính là ngoại sinh và được giả định không đổi trong suốt thời kỳ nghiên cứu (Farre-Mensa và Ljungqvist, 2016). Nếu những đặc trưng của doanh nghiệp thay đổi theo thời gian thì các chỉ tiêu sử dụng ban đầu sẽ̃ không còn phản ánh chính xác tình trạng tài

    chính của doanh nghiệp và kết quả ước lượng hàm đầu tư trong trường hợp này sẽ̃ không còn chính xác. (ii) Về cách đo lường cơ hội đầu tư theo Q, Q không thể đo lường hết cơ hội đầu tư, đặc biệt trong trường hợp thị trường kém hiệu quả, thông tin không được phản ánh đầy đủ vào giá.

     

    Vai trò của tự do hóa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là một lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu. Các nghiên cứu tiên phong ủng hộ tự do hóa tài chính, cho rằng tự do hóa tài chính làm tăng tính hiệu quả của đầu tư (về mặt chất cũng như mặt lượng) qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tác động của tự do hóa tài chính đến tăng trưởng kinh tế thường được phân tích thông qua “kênh” đầu tư của doanh nghiệp (O’Toole và Newman, 2015), tự do hóa tài chính giúp làm giảm giới hạn tài trợ, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bumann và cộng sự, 2013), O’Toole và Newman (2015). Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây (2007–2008) đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại vai trò của tự do hóa tài chính (Adler, 2014). Stiglitz (2002) lập luận tự do hóa tài chính không giúp giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin và do đó không làm tăng hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính. Về mặt thực nghiệm, Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng giới hạn tài trợ của doanh nghiệp, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ. Lúc này việc huy động vốn đầu tư sẽ̃ trở nên khó khăn hơn và do đó làm giảm mức đầu tư của doanh nghiệp cũng như sản lượng của nền kinh tế. Các nghiên cứu trên thế giới cho đến nay cũng chỉ tập trung vào việc nghiên cứu về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp và kết quả nghiên cứu tồn tại khá nhiều

     

    23

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Riêng tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư hầu như chưa được các nhà nghiên cứu khai thác.

    Trong bối cảnh trên, bài viết này được thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp. Phạm

    • nghiên cứu của bài viết giới hạn ở các doanh nghiệp phi tài chính của 5 quốc gia đang phát triển ASEAN bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh và sử dụng dạng rút gọn của phương trình Euler để nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa đầu tư và giới hạn tài trợ.

    2.           Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

     

    • Lý thuyết về tự do hóa tài chính

     

    Tự do hóa tài chính đề cập đến chính sách của Chính phủ nhằm bãi bỏ kiểm soát lãi suất cũng như kiểm soát tín dụng, dỡ bỏ hàng rào gia nhập ngành cho các định chế tài chính nước ngoài, tư nhân hóa các định chế tài chính trong nước và chấm dứt các biện pháp kiểm soát giao dịch tài chính có yếu tố nước ngoài (Bumann và cộng sự, 2013). Như vậy tự do hóa tài chính bao gồm khía cạnh trong nước và khía cạnh quốc tế. Khi xem xét tác động của tự do hóa tài chính dưới góc độ doanh nghiệp, Laeven (2003) với dữ liệu của các doanh nghiệp tại 13 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1988-1998 kết luận tự do hóa tài chính góp phần làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Với giới hạn tài trợ giảm, các doanh nghiệp ít phụ thuộc vào các nguồn tài trợ nội bộ và ít gặp khó khăn trong việc

    huy động vốn đầu tư bên ngoài. Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Guermazi (2014), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và O’Toole và Newman (2015) cũng đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu vai trò của tự do hóa tài chính với dữ liệu vi mô của từng quốc gia riêng lẻ. Bên cạnh các bằng chứng ủng hộ, tự do hóa tài chính cũng gặp không ít bằng chứng phản đối khi xem xét dưới góc độ doanh nghiệp. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ. Cơ sở lý thuyết hiện nay tồn tại khá nhiều bằng chứng trái chiều về vai trò của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp. Thị trường tài chính tại các quốc gia ASEAN thường có quy định giám sát và thực thi ít hiệu quả đồng thời mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thấp dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao (Gochoco-Baustia và cộng sự, 2014), do đó doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN thường gặp khó khăn trong huy động nguồn tài trợ bên ngoài (vốn cổ phần hoặc nợ). Vì lý do này đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia ASEAN có nhiều khả năng chịu tác động của giới hạn tài trợ và nhạy cảm hơn trước mức độ tự do hóa tài chính. Chỉ số tự do hóa tài chính có thể đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) sẽ̃ được trình bày cụ thể trong phần 3.

     

    2.2. Lý thuyết Q về đầu tư

     

    Lý thuyết Q bắt đầu bằng việc kết hợp cho phí điều chỉnh vốn trong mô hình đầu tư. Chi phí điều chỉnh vốn, theo Abel (1983), là phần sản lượng mất đi khi doanh nghiệp phát sinh các khoản đầu tư mới. Theo lý thuyết Q, các khoản đầu tư mới làm phát sinh chi phí điều chỉnh, lúc này doanh nghiệp chỉ có thể tối đa hóa giá trị khi lợi ích biên bằng với chi phí biên. Với cách thiết lập này, tỷ lệ đầu tư sẽ̃ được quyết định bởi q biên (marginal q), giá ẩn của vốn, dòng chiết

     

    24

     

     

    Hàm đầu tư có thể dễ dàng sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm do có thể đo lường một cách đơn giản dựa trên dữ liệu về giá trị thị trường của doanh nghiệp (giá chứng khoán trong trường hợp các doanh nghiệp niêm yết) và giá trị thay thế của vốn (thường dựa trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp). Yếu tố kỳ vọng trong mô hình được giải quyết thông qua việc chứng minh biến kỳ vọng tương lai không thể quan sát (q biên) bằng biến có thể quan sát (q trung bình). Trong mô hình đầu tư này, q trung bình đại diện cho tất cả lợi nhuận kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp. So với các mô hình đầu tư

     

    khấu của các khoản thu nhập biên trong tương lai của một khoản đầu tư. Dưới một số giả định (Hayashi, 1982), q biên có thể được đại diện bởi q trung bình hay còn gọi là Tobin’s Q được đo lường bằng tỷ số giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và giá trị sổ sách của vốn.

    Các mô hình thực nghiệm: v Mô hình Q

    Hàm đầu tư có thể viết dưới dạng:

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

     

     

    • t

     

    K t

     

     

       

    1

     

    Vt

         

    1

    (qtA − 1) ptI

     

    =

     

    ptI

    + τ t  =

    α

    Kt

    α

               

     

    Với Qt  = (qtA − 1) ptI

     

           

    dạng rút gọn, mô hình Q có các ưu điểm nổi bật:

     
           

    (i) Có cơ sở lý thuyết vững chắc do được suy

     
           

    ra trực tiếp từ bài toán tối đa hóa giá trị doanh

     
           

    nghiệp; (ii) Có xét đến yếu tố kỳ vọng hợp lý

     
           

    và (iii) Sai số của mô hình đại diện cho cú sốc

     
           

    năng suất. Với ưu điểm này mô hình Q được sử

     
           

    dụng phổ biến trong dòng lý thuyết kiểm định

     
           

    sự tồn tại của giới hạn tài trợ mà chúng ta sẽ̃

     
       

    1

     

    thảo luận trong phần 2.2.

     

    + τ t  =

    Qt + τt

    v Mô hình Abel – Blanchard

     

    α

       

    Abel và Blanchard (1986) gợi ý ước lượng

     
           

     

    • giá trị ẩn của vốn bằng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng phụ trợ cụ thể thông qua kết quả dự báo lợi nhuận biên kỳ vọng của vốn từ mô hình VAR. Cách tiếp cận này yêu cầu chúng ta

    phải xác định cụ thể dạng hàm cho năng suất biên của vốn, chi phí điều chỉnh biên cũng như hệ số chiết khấu ngẫu nhiên. Mô hình đầu tư trong Abel và Blanchard (1986) vẫn có dạng tuyến tính và do đó phụ thuộc chặt chẽ̃ vào dạng hàm bình phương của chi phí điều chỉnh vốn.

     

    • Mô hình Euler equation

     

    Cách tiếp cận Euler Equation đề xuất bởi Abel (1980) có thể nới lỏng giả định về dạng tuyến tính đơn điệu của hàm lợi nhuận và tránh sử dụng dữ liệu giá chứng khoán.

     

     

    I t

     

    + ptI  = FK ( K t , Lt ;τ t ) − GK ( K t , Lt ;τ t ) + β (1

     

    It +1

       

    + β (1 − δ )Et ptI+1

       

    α

    ut

    δ )α Et

    ut +1

     

    (2)

     

    K t

    Kt +1

                     

     

    Để kiểm định thực nghiệm mô hình đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cần thay thế giá trị kỳ vọng bằng giá trị quan sát cộng với

    sai số dự báo. Đặt Xt+1 = Et(Xt+1)) + t+1 với t+1 là sai số dự báo và khai triển hàm chi phí điều

     

    chỉnh vốn, chúng ta có:

     

    I t

    = cons + β (1 − δ )

    I t +1

    +

     

    1

    FK ( K t , Lt ;τ t ) +

    1

     

    It +1

    2

    +

    β (1 − δ )

    ptI+1

     

    1

    ptI +  t +1

    (3)

     
       

    K t

    K t +1

    α

    2

     

    α

    α

           

    Kt +1

             

    Với ∈t +1 là hằng số và là tổng các sai số dự báo cho đầu tư và chi phí vốn.

     

     

    Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương trình Euler tiêu biểu gồm Whited (1992), Bond và Meghir (1994), Hubbard, Kashyap và Whited (1995) và Laeven (2003).

    2.3. Giới hạn tài trợ

     

    Giới hạn tài trợ xuất hiện khi thị trường tài chính tồn tại những bất hoàn hảo (Laeven, 2003). Với sự hiện diện của hạn chế tài chính,

     

     

    25

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài trở nên đắt đỏ. Hạn chế tài chính chủ yếu bắt nguồn từ do tình trạng bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể tham gia thị trường (Tirole, 2006). Bất cân xứng thông tin dẫn đến việc bên cung cấp vốn đòi hỏi một phần bù (phần bù tài trợ bên ngoài) để bù đắp chi phí xác minh thông tin về bên huy động vốn khiến chi phí tài trợ bên ngoài cao hơn chi phí của nguồn tài trợ nội bộ (Myers và Majluf, 1984). Nguyên nhân thứ hai đến từ vấn đề đại diện giữa chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp (Oliner và Rudebusch, 1992). Nguyên nhân thứ ba là chi phí giao dịch

     

    liên quan đến việc phát hành cổ phần cũng như phát hành nợ.

    Sự tồn tại của hạn chế tài chính dẫn đến mối liên hệ giữa tài sản ròng, chi phí tài trợ bên ngoài và mức đầu tư của doanh nghiệp (Laeven, 2003). Trong mô hình đầu tư tân cổ điển với hạn chế tài chính, một sự suy giảm trong giá trị tài sản ròng (độc lập với cơ hội đầu tư) sẽ̃ làm tăng phần bù tài trợ bên ngoài và qua đó giảm khả năng huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên giới hạn tài trợ này không giống nhau giữa các doanh nghiệp mà phụ thuộc vào mức độ hạn chế tài chính của từng doanh nghiệp.

     

    Bất cân xứng thông tin

     

    Vấn đề đại diện

     

    Chi phí giao dịch

     

    HẠN CHẾ

    GIỚI HẠN

    ĐẦU TƯ

     

    TÀI

    TÀI TRỢ

       

    CHÍNH

         

    Hình 1. Mối quan hệ giữa hạn chế tài chính, giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp

     

     

    Nghiên cứu về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và mức độ ảnh hưởng của giới hạn này đến đầu tư là một trong những chủ đề chính trong lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Đầu tư của doanh nghiệp bị giới hạn hay nói cách khác doanh nghiệp gặp giới hạn tài trợ nếu một sự gia tăng bất ngờ trong nguồn cung vốn nội bộ dẫn đến một sự gia tăng trong chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp (Bond và Van Reenen, 2007). Trong mô hình Q, doanh nghiệp không bị giới hạn tài trợ do đầu tư của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào thu nhập biên hiện tại và tương lai của vốn được phản ánh trong q biên với mức giá và lãi suất cho trước.

     

    Để kiểm định sự hiện diện của giới hạn tài trợ, cơ sở lý thuyết hiện tại đề xuất hai hướng tiếp cận: (i) Kiểm định độ nhạy cảm quá mức của đầu tư theo các biến tài chính – phù hợp với mô hình đầu tư dạng cấu trúc như mô hình Q và

    Nguồn: Tác giả tự xây dựng mô hình Euler Equation hơn là mô hình đầu tư dạng rút gọn; (ii) Kiểm định sự khác biệt trong hệ số co dãn của đầu tư theo các biến tài chính giữa các nhóm doanh nghiệp.

     

    Nghiên cứu của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) cho thấy mô hình đầu tư theo q trung bình thường gặp hiện tượng tương quan chuỗi trong phần dư – một dấu hiệu cho thấy mô hình chưa được định dạng phù hợp. Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) bổ sung mô hình Q với biến dòng tiền – một biến tài chính và phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính dựa trên tỷ lệ chi trả cổ tức. Kết quả cho thấy đầu tư có tương quan dương với dòng tiền ngay cả khi đã kiểm soát q trung bình và hệ số này cao hơn ở nhóm chi trả cổ tức thấp. Các tác giả diễn dịch độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền là bằng chứng về sự tồn tại của giới hạn tài trợ và các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có mức độ giới hạn tài trợ cao hơn các

     

    26

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    doanh nghiệp khác. Cách tiếp cận của Fazzari, Hubbard và Petersen (1988) được các nghiên cứu về sau áp dụng rộng rãi với một vài điều chỉnh. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp bị hạn chế tài chính có thể là tỷ lệ chi trả cổ tức; quy mô, thời gian hoạt động và tỷ lệ tăng trưởng (Devereux và Schiantarelli, 1990); xếp hạng tín dụng (Whited, 1992); sự phân tán trong tỷ lệ sở hữu cổ phần (Schaller, 1993); liên kết với tập đoàn lớn (Hoshi, Kashyap và Scharfstein, 1991); liên kết với ngân hàng (Elston, 1993).

     

    Nhược điểm quan trọng của dòng lý thuyết này là chúng ta vẫn chưa xây dựng được một mô hình đầu tư dạng cấu trúc bao gồm giới hạn tài trợ có tính thuyết phục.

     

    2.4. Hạn chế tài chính

     

    Có hai cách tiếp cận về hạn chế tài chính thường được sử dụng trong cơ sở lý thuyết liên quan. Cách tiếp cận đầu tiên dựa trên nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981), Almeida và Campello (2007) và Whited và Wu (2006) trong đó hạn chế tài chính được định nghĩa là độ cong của đường cung vốn. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính nếu doanh nghiệp phải đối mặt với đường cung vốn có mức độ kém co dãn cao. Khi này doanh nghiệp khó có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài dù doanh nghiệp sẵn sàng chịu mức lãi suất cao. Cách tiếp cận thứ hai, đến từ Fazari, Hubbard và Petersen (1988), xem hạn chế tài chính là chênh lệch giữa chi phí cơ hội của nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp và chi phí huy động nguồn tài trợ bên ngoài. Doanh nghiệp bị hạn chế tài chính chỉ có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài tại mức lãi suất cao hơn mức lãi suất phản ánh mức độ rủi ro thực tế của doanh nghiệp. Một số phương pháp đo lường mức độ giới hạn tài trợ phổ biến như chỉ số như KZ (Kaplan and Zingales, 1997), chỉ số SA (Hadlock và Pierre, 2010) và chỉ số WW (Whited và Wu, 2006). Một cách tiếp

    cận phổ biến khác dựa trên xếp hạng tín dụng. Doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng được xem là doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và ngược lại. Cách tiếp cận trên bắt nguồn từ lập luận doanh nghiệp không có xếp hạng tín dụng không có khả năng tiếp cận thị trường nợ thông qua việc phát hành trái phiếu mà phải huy động từ các trung gian tài chính với các điều khoản kém thuận lợi như lãi suất cao (Faulkender and Petersen 2006).

     

    Cách phân loại mức độ hạn chế tài chính của doanh nghiệp theo các chỉ tiêu KZ, SA và WW trên mang tính ngoại sinh, đòi hỏi chúng ta phải biết trước về tình hình giới hạn tài trợ của doanh nghiệp (Hovakimian và Titman, 2006). Bên cạnh đó Farre – Mensa và Ljungqvist (2016) chứng minh các chỉ số KZ, SA và WW không thực sự đo lường mức độ hạn chế tài chính. Nhằm khắc phục hạn chế về việc phân loại tình hình tài chính doanh nghiệp, Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) đề xuất sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh (endogenous switching regression model) trong đó việc phân loại doanh nghiệp không dựa trên các tiêu chí ngoại sinh mà được quyết định nội sinh bởi những đặc trưng của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho phép chúng ta ước lượng riêng biệt hàm đầu tư khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và khi không bị hạn chế tài chính mà không cần phân loại trước các doanh nghiệp này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nhằm xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa đầu tư của doanh nghiệp và giới hạn tài trợ, đầu tiên chúng ta xây dựng mô hình hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong đó bao gồm giới hạn tài trợ. Do mẫu nghiên cứu bao gồm các quốc gia đang phát triển trong khu vực ASEAN với điều kiện

     

    27

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    thị trường tài chính kém hiệu quả, chúng ta xây dựng hàm đầu tư theo phương trình Euler đề xuất bởi Abel (1980) thay vì mô hình Q vốn dựa trên giả định thị trường hiệu quả. Sau khi thiết lập hàm đầu tư theo phương trình Euler, chúng ta cho phép tự do hóa tài chính (đại diện bởi chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự, 2010) tương tác với giới hạn tài trợ trong hàm đầu tư trên. Tiếp đến chúng ta sử dụng mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh theo đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007) để ước lượng và kiểm định hàm đầu tư. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh cho phép xác định đồng thời tình trạng tài chính và hành vi đầu tư của doanh nghiệp trong từng trạng thái tài chính, đồng thời cho phép khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy. Các chỉ tiêu nhằm xác định nội sinh tình trạng hạn

    chế tài chính của doanh nghiệp dựa trên đề xuất của Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Nhằm đảm bảo tính vững của kết quả hồi quy, chúng ta lần lượt thay thế chỉ số tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự bằng chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Cũng với mục đích đảm bảo tính vững, bên cạnh mô hình hồi quy chuyển đội nội sinh, hàm đầu tư cũng được ước lượng theo phương pháp System GMM. Lúc này trạng thái tài chính của doanh nghiệp được xác định một cách ngoại sinh dựa trên các chỉ tiêu phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại bao gồm quy mô doanh nghiệp và chỉ số KZ.

     

    3.1. Mô hình nghiên cứu

     

    3.1.1. Giới hạn tài trợ

     

    Hàm đầu tư theo phương trình Euler có dạng:

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

     

    2

     
         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

     

    + f i + dt + εit

    (4)

           

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    it

     

    it

     

    it

     

    Trong đó, Iit, Kit, Yit, CFit, Dt lần lượt là chi tiêu cho đầu tư, tổng vốn, doanh thu thuần,

     

    dòng tiền hoạt động và nợ của doanh nghiệp i tại thời điểm t; fi là hiệu ứng cố định theo doanh nghiệp; dt là hiệu ứng cố định theo thời gian; εit là phần dư nhiễu trắng. Biến CFK đại diện cho giới hạn tài trợ của doanh nghiệp là biến giải thích chính chúng ta quan tâm. Biến YK dùng để

    kiểm soát điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo.

    Biến          2  thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa

    K

     

    quyết định đầu tư và quyết định vay mượn. Để xem xét tác động của tự do hóa tài chính

    đến giới hạn tài trợ, chúng ta sẽ̃ điều chỉnh phương trình (22) bằng cách cho biến tự do hóa tài chính FLI tương tác với biến giới hạn tài trợ.

     

     

    I

     

    I

     

    2

     

    Y

    CF

    CF

     

    2

    (5)

         

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

       

    + α 4

       

    + α 5

       

    FLIt + α 6

     

    + f i + dt + εit

           

    K

    K

     
     

    it

     

    K  it −1

     

    K  it −1

     

    K  it

     

    it

     

    it

     

    it

     

    3.1.2. Đo lường tự do hóa tài chính

     

    Cơ sở lý thuyết hiện tại sử dụng 03 nhóm thang đo đo lường tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • tự do hóa tài khoản vốn, (ii) tự do hóa thị trường vốn và (iii) tự do hóa khu vực ngân hàng. Ngoài các thang đo riêng biệt, chúng ta còn có các thang đo đa chiều bao gồm tất cả các khía cạnh nêu trên. Thang đo tự do hóa tài chính đa chiều xem xét đồng thời các khía cạnh của

    tự do hóa tài chính. Một thang đo đa chiều tiêu biểu đến từ Abiad và cộng sự (2010) với 07 chỉ tiêu liên quan đến tự do hóa tài chính bao gồm:

     

    • kiểm soát tín dụng và yêu cầu dự trữ, (ii) kiểm soát lãi suất, (iii) rào cản gia nhập lĩnh vực ngân hàng, (iv) sở hữu nhà nước trong khu vực ngân hàng, (v) kiểm soát tài khoản vốn, (vi) quy định an toàn và giám sát khu vực ngân hàng và
    • chính sách đối với thị trường chứng khoán.

    28

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Với mục tiêu đánh giá tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ và đầu tư của doanh nghiệp, nghiên cứu áp dụng phương pháp đo lường tự do hóa tài chính theo Abiad và cộng sự (2010).

     

    3.2. Dữ liệu nghiên cứu

     

    Để phân tích tác động của tự do hóa tài chính đến mối quan hệ giữa giới hạn tài trợ cũng như giới hạn tài sản thế chấp và mức đầu tư của doanh nghiệp tại các nước đang phát triển trong khu vực Asean, chúng ta sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Các doanh nghiệp niêm yết được lựa chọn nghiên

    cứu do thông tin kế toán đến từ các doanh nghiệp này có chất lượng tốt hơn các doanh nghiệp không niêm yết. Giai đoạn nghiên cứu được lựa chọn từ năm 2006 nhằm đảm bảo độ cân xứng của dữ liệu. Nếu như thị trường chứng khoán các quốc gia như Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan đã hình thành từ những năm 1970 thì thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ được thành lập năm 2000. Tuy nhiên trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, số lượng doanh nghiệp niêm yết và giá trị vốn hóa thị trường rất hạn chế và chỉ thực sự tăng trưởng mạnh mẽ̃ từ năm 2006 và do đó việc lựa chọn thời gian nghiên cứu từ thời điểm này sẽ̃ giúp đảm bảo tính cân xứng của dữ liệu.

     

     

    Bảng 1. Danh sách biến và nguồn dữ liệu

     

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

    Nguồn

    Phương trình đầu tư

       
     

    Chi phí đầu tư kỳ t

     

    Báo cáo tài chính của

       

    DEP: khấu hao

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tổng lượng vốn kỳ t

    Giá trị tài sản cố định thuần

         

    Thompson Reuters

     

    Giá trị khấu hao kỳ t

     
       

    Datastream

     

    Sản lượng của doanh

    Doanh thu thuần

       
     

    nghiệp kỳ t

       
     

    Dòng tiền hoạt động

    Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao

     
     

    kỳ t

       
     

    Tổng dư nợ kỳ t

    Tổng nợ phải trả

     
     

    Giới hạn tài sản thế

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
     

    chấp kỳ t

    tài sản

     

    Phương trình chuyển đổi

       
     

    Quy mô doanh

    Log (Tổng tài sản)

    Báo cáo tài chính của

     

    nghiệp

     

    các doanh nghiệp niêm

         

    yếu trong cơ sở dữ liệu

     

    Tuổi doanh nghiệp

    Log(Số năm hoạt động)

         

    Thompson Reuters

     

    Biến giả chi trả cổ

    Nếu doanh nghiệp có chi trả cổ tức

     

    tức

    bằng tiền mặt trong kỳ t. Ngược lại,

    Datastream

       

    DIVt = 0.

     
     

    Nợ ngắn hạn

    Tỷ lệ Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản

     
     

    Nợ dài hạn

    Tỷ lệ Nợ dài hạn/Tổng tài sản

     
     

    Cơ hội tăng trưởng

    MTB – chỉ số giá thị trường trên giá

     
       

    sổ sách.

     
     

    Thặng dư tài chính

    Tỷ lệ Tiền và chứng khoán có tính

     
       

    thanh khoản cao/Biến trễ của tổng tài

     
       

    sản

     
     

    Tài sản cố định

    Tỷ lệ Tài sản cố định hữu hình/Tổng

     
       

    tài sản

     

    29

     

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

         
             

    Biến

    Định nghĩa

    Cách đo lường

     

    Nguồn

    Chỉ số tự

    do hóa tài chính

             

    FLI

    Chỉ số tự do hóa tài

    Tác giả tính toán theo cách tiếp cận

    Báo

    cáo

    thường  niên

     

    chính

    của Abiad và cộng sự (2010)

    của

    Ngân Hàng Trung

         

    Ương, báo cáo quốc gia

         

    của World Bank và IMF.

    KACON

    Chỉ  số  kiểm  soát

    Fernandez và cộng sự (2016)

    Website

    của

    Columbia

     

    vốn

     

    University:

     
         

    http://www.columbia.

         

    edu/~mu2166/fkrsu/

    KAOPEN

    Chỉ số KAOPEN

    Chinn – Ito (2006)

    Website

    của

    Portland

         

    State University:

         

    http://web.pdx.edu/~ito/

         

    Chinn-Ito_website.htm

    Dữ liệu trước khi sử dụng để ước lượng và kiểm định mô hình sẽ̃ được lọc bỏ các giá trị dị biệt. Đầu tiên chúng ta lọc bỏ dữ liệu tại phân vị thứ nhất và thứ 99 nhằm kiểm soát tác động của các giá trị dị biệt đến kết quả hồi quy. Tiếp theo, theo Laeven và cộng sự (2003), chúng ta loại trừ các quan sát có giá trị đầu tư và doanh thu nhỏ hơn 0. Cuối cùng chúng ta tiếp tục loại trừ các quan sát có tỷ lệ I/K, Y/K và D/K cao bất thường. Sau khi làm sạch dữ liệu của chúng ta gồm 1,394 quan sát đến từ 493 doanh nghiệp niêm yết tại 05 quốc gia Asean.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Chỉ số tự do hóa tài chính

     

    Chỉ số tự do hóa tài chính đo lường theo Abiad và cộng sự (2010) cho các quốc gia trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2006 -2016 được trình bày trong Hình 4.1. Bên cạnh chỉ số tự do hóa tài chính FLI, Hình 4.1 đồng thời thể hiện chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Frenandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Trong 5 quốc gia nghiên cứu, Malaysia và Phillipines là hai quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính cao và ổn định nhất do 2 quốc gia này đã sớm thực thi các chính sách tự do hóa tài chính từ cuối những năm 1970 và 1980. Thái Lan tuy tiến

    hành tự do hóa tài chính muộn hơn Malaysia và Philippines (cụ thể vào cuối những năm 1990) nhưng quốc gia này có mức độ tự do hóa nhanh và cho đến năm 2016, chỉ số tự do hóa tài chính của Thái Lan tương đương Malaysia (ở mức 0.8). Chỉ số tự do hóa tài chính của Indonesia hiện duy trì ở mức trung bình trên 0.5 sau một thời gian sụt giảm đáng kể do các chính sách kiểm soát vốn ban hành sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008. Việt Nam là quốc gia có mức độ tự do hóa tài chính thấp nhất trong mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ số tự do hóa tài chính của Việt Nam đang có xu hướng tăng từ sau năm 2008 và tính đến năm 2016 chỉ số này của Việt Nam xấp xỉ mức 0.5. Khi xem xét đồng thời chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số kiểm soát vốn theo Fernandez và cộng sự (2016), chúng ta nhận thấy hai chỉ số này có biến động ngược chiều trong hầu hết các trường hợp (trừ Philippines). Khi so sánh chỉ số tự do hóa tài chính FLI và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN, chúng ta thấy mức độ dao động trong chỉ số KAOPEN có phần khiêm tốn hơn. Tất cả các quốc gia trừ Việt Nam đều có sự sụt giảm mạnh trong chỉ số KAOPEN giai đoạn sau cuộc khủng hoảng 2008.

     

    30

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Hình 2. Chỉ số tự do hóa tài chính cho 5 quốc gia trong khu vực Asean

     

           

    Indonesia

                   

    Malaysia

           

    .75

                       

    .9

                       

    .70

                       

    .8

                       

    .65

                       

    .7

                       
                                             

    .60

                       

    .6

                       
                                             

    .55

                       

    .5

                       
                                             
                         

    .4

                       

    .50

                       

    .3

                       
                                             

    .45

                       

    .2

                       
                                             

    .40

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         
                                       
           

    Philippines

                   

    Thailand

           

    .9

                       

    .9

                       

    .8

                       

    .8

                       

    .7

                       

    .7

                       

    .6

                       

    .6

                       

    .5

                       

    .5

                       

    .4

                       

    .4

                       

    .3

                       

    .3

                       

    .2

                       

    .2

                       

    .1

                       

    .1

                       

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

         

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

               

    FLI

     

    KAOPEN

    KCON

         

    Vietnam

     

    1.0

     

    0.9

     

    0.8

     

    0.7

     

    0.6

     

    0.5

     

    0.4

     

    0.3

     

    0.2

     

    0.1

     

    06

    07

    08

    09

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    FLI         KAOPEN          KCON

     

    Ghi chú: Chỉ số tự do hóa tài chính FLI được nhóm tác giả tính toán theo cách tiếp cận của Abiad và cộng sự (2010). Chỉ số kiểm soát vốn KACON đến từ Fernandez và cộng sự (2016). Chỉ số độ mở tài chính KAOPEN đến từ Chinn và Ito (2006).

     

    4.2. Mô tả dữ liệu doanh nghiệp                                      Các dữ liệu trong bài nghiên cứu được trình

     

    bày trong Bảng 2.

     

    31

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 2. Kết quả thống kê mô tả

     

    Chỉ tiêu

    I/K

    Y/K

    CF/K

    D/K

    MTB

    CC

    FLI

    Số

     

    quan sát

     
                   

    Phần A. Thống kê toàn bộ mẫu

                 
                       

    Trung bình

    0.40

    7.43

    0.81

    3.68

    1.93

    0.56

     

    1,394

     
                       

    Trung vị

    0.21

    3.53

    0.41

    1.61

    1.25

    0.49

     

    1,394

     
                       

    Độ lệch chuẩn

    0.69

    11.58

    1.41

    6.52

    2.14

    0.38

     

    1,394

     
                       

    Phần B. Thống kê theo quốc gia

                 
                       

    Indonesia

    0.27

    5.52

    0.60

    3.03

    3.09

    0.60

    0.59

    271

     
                     

    0.18

    3.71

    0.35

    1.53

    2.23

    0.52

    0.58

    271

     
     
                       

    Malaysia

    0.20

    1.63

    0.32

    1.48

    2.96

    0.58

    0.83

    76

     
                     

    0.17

    1.74

    0.24

    1.45

    1.65

    0.53

    0.84

    76

     
     
                       

    Philippines

    0.52

    4.43

    0.77

    4.24

    1.95

    0.59

    0.69

    311

     
                     

    0.26

    2.32

    0.37

    1.73

    1.55

    0.54

    0.70

    311

     
     
                       

    Thailand

    0.31

    5.04

    0.57

    2.01

    2.60

    0.83

    0.67

    161

     
                     

    0.15

    2.40

    0.30

    1.07

    1.67

    0.88

    0.66

    161

     
     
                       

    Vietnam

    0.46

    11.40

    1.07

    4.45

    1.05

    0.45

    0.40

    575

     
                     

    0.23

    6.18

    0.58

    2.21

    0.86

    0.35

    0.44

    575

     
     
                       

    Phần C. Thống kê theo quy mô

                 
                       

    Lớn

    0.41

    8.42

    0.76

    4.46

    1.85

    0.51

     

    703

     
                     

    0.21

    4.50

    0.46

    1.98

    1.14

    0.42

     

    703

     
       
                       

    Nhỏ

    0.40

    6.44

    0.86

    2.90

    2.02

    0.61

     

    691

     
                     

    0.20

    2.71

    0.37

    1.46

    1.33

    0.54

     

    691

     
       
                       

    Phần D. Thống kê theo thời gian niêm yết

               
                       

    Dài

    0.36

    5.33

    0.61

    2.75

    2.16

    0.62

     

    785

     
                     

    0.19

    2.60

    0.35

    1.48

    1.45

    0.55

     

    785

     
       
                       

    Ngắn

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
                     

    0.46

    10.14

    1.07

    4.88

    1.63

    0.48

     

    609

     
       
                       

    Phần E. Thống kê theo chỉ số KZ

                 
                       

    KZ thấp

    0.53

    11.26

    1.34

    5.39

    2.10

    0.44

     

    692

     
                     

    0.26

    6.19

    0.78

    2.01

    1.34

    0.35

     

    692

     
       
                       

    KZ cao

    0.28

    3.67

    0.30

    2.00

    1.76

    0.68

     

    702

     
                     

    0.17

    1.98

    0.24

    1.48

    1.15

    0.61

     

    702

     
       
                       

    Phần F. Thống kê theo chỉ số SA

                 
                       

    SA thấp

    0.37

    5.14

    0.67

    2.73

    2.29

    0.64

     

    703

     
                     

    0.20

    2.43

    0.34

    1.45

    1.56

    0.58

     

    703

     
       
                       

    SA cao

    0.44

    9.77

    0.96

    4.65

    1.56

    0.48

     

    691

     
                     

    0.23

    5.30

    0.52

    2.11

    1.03

    0.38

     

    691

     
       
                       

    Ghi chú: phần B, C, D, E, F thể hiện giá trị trung bình và trung vị (số in nghiêng) của các biến.

     

     

    32

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Trong phần phân tích về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp, bên cạnh việc sử dụng mô hình chuyển đổi nội sinh nhằm xác định trạng thái tài chính của doanh nghiệp, chúng ta cũng phân loại tình trạng tài chính của doanh nghiệp theo các thang đo phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại như quy mô doanh nghiệp (đại diện bởi giá trị tổng tài sản) và chỉ số KZ. Các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường có mức độ hạn chế tài chính cao hơn các doanh nghiệp quy mô lớn (Laeven, 2003 và Nam Hoai Tran và Chi Dat Le, 2017). Trong phân tích của chúng ta, các doanh nghiệp được xem có quy mô nhỏ khi giá trị tổng tài sản nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu. Chỉ số KZ là thang đo mức độ hạn chế tài chính phổ biến nhất hiện tại theo số lượng trích dẫn trên Google Scholar. Các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao đồng nghĩa với doanh nghiệp có mức độ hạn chế tài chính cao (Lamont, Polk và Saa-Requejo, 2001). Chúng ta quy ước doanh nghiệp có chỉ số KZ cao khi chỉ số này lớn hơn giá trị trung vị mẫu. Khi so sánh giữa nhóm doanh nghiệp bị hạn chế tài chính (quy mô nhỏ hoặc chỉ số KZ cao) và nhóm không bị hạn chế tài chính (quy mô lớn hoặc chỉ số KZ thấp), chúng ta thấy các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính có tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ doanh thu và tỷ lệ dòng tiền trên tổng lượng vốn cao hơn các doanh nghiệp vị hạn chế.

     

    4.3. Tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ Kết quả ước lượng hàm đầu tư với giới hạn tài trợ (4) và (5) theo mô hình hồi quy chuyển đổi được trình bày lần lượt trong Bảng 3 – Phần A. Mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh giúp chúng ta xác định đồng thời hàm đầu tư cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính và các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Bên cạnh đó mô hình còn giúp xác định các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng hạn chế

    tài chính của doanh nghiệp. Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi được trình bày trong Bảng 3 – Phần B.

    Một cách tổng quát hành vi đầu tư của các doanh nghiệp thuộc hai trạng thái tài chính có sự tương đồng trong cách thức phản ứng với mức đầu tư trong quá khứ. Hệ số co dãn của tỷ lệ đầu tư theo biến trễ của tỷ lệ đầu tư được ước lượng khoảng 0.43 cho các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và 0.25 cho các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Hệ số này cho thấy hành vi đầu tư của doanh nghiệp có quán tính đáng kể. Một mức đầu tư cao trong quá khứ hàm ý mức đầu tư cao trong tương lai. Kết quả về quán tính của đầu tư phù hợp với giả định xem vốn hữu hình là một yếu tố sản xuất bán cố định. Tỷ lệ doanh thu trên tổng lượng vốn đại diện cho cơ hội tăng trưởng chỉ tương quan với tỷ lệ đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số của dương và có ý nghĩa thống kê. Đối với các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, doanh thu không giúp giải thích hành vi đầu tư. Mối quan tâm chính yếu của chúng ta trong kết quả hồi quy phương trình (4) và (5) là hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền đại diện cho giới hạn tài trợ. Chúng ta không tìm thấy bằng chứng ủng hộ sự hiện diện của giới hạn tài trợ trong cả hai trường hợp doanh nghiệp niêm yết và không niêm yết. Cụ thể hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền của các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính không có ý nghĩa thống kê trong khi hệ số này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, hệ số này có ý nghĩa thống kê nhưng mang dấu âm. Mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư và dòng tiền cũng đã được Bushman và cộng sự (2011) lưu ý khi các tác giả phân tích độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền với các biến đại diện dòng tiền khác nhau.

     

    33

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 3. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với FLI

     

    Phần A: Hàm đầu tư

    (I)

     

    (II)

     

    Biến phụ thuộc

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

     

    Doanh nghiệp

     

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     

    hạn chế tài chính

     

    0.429

     

    0.284

    0.431

     

    0.231

                 
     

    (3.88)***

     

    (3.62)***

    (3.90)***

     

    (2.66)***

                 
     

    -0.024

     

    -0.041

    -0.024

     

    -0.027

                 
     

    (0.99)

     

    (1.84)*

    (1.00)

     

    (1.11)

                 
     

    0.012

     

    -0.002

    0.013

     

    0.000

                 
     

    (3.79)***

     

    (0.57)

    (3.87)***

     

    (0.01)

                 
     

    -0.009

     

    -0.110

    -0.072

     

    -0.409

                 
     

    (0.43)

     

    (2.12)**

    (0.85)

     

    (2.01)**

                 
     

    0.000

     

    0.002

    0.000

     

    0.001

                 
     

    (0.66)

     

    (4.78)***

    (0.33)

     

    (1.81)*

                 
           

    0.125

     

    0.888

                 
           

    (0.77)

     

    (2.62)***

                 

    Constant

    0.253

     

    0.093

    0.251

     

    0.051

     

    (1.25)

     

    (0.77)

    (1.24)

     

    (0.47)

                 
                 

    Industry fixed effects

     

     

    Year fixed effects

     

     

    Số quan sát

    764

     

    764

    764

     

    764

    Ghi chú: Phần A Bảng 4.2 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    I1it = Xit α1 + ε1it

    I2it = Xitα2 + ε2it     lần lượt cho hai hàm đầu tư:

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    it

       
     

    I

           

    I

           

    2

       

    Y

       

    CF

       

    2

    (I)

               

    = c + α1

       

    + α 2

       

    + α 3

         

    + α 4

         

    + α 5

       

    + f i + dt + εit

           

    K

         

    K

    K

     

    K

    it

       

    it −1

         

    K  it −1

     

    it

       

    it

     

    it

    (II)

    I

         

    I

         

    2

       

    Y

     

    CF

     

    CF

         

    2

           

    = c + α1

         

    + α 2

         

    + α 3

       

    + α 4

         

    + α 5

         

    FLIt + α 6

       

    + f i + dt + εit

               

    K

           
     

    K

    it

     

    K  it −1

       

    K  it −1

       

    it

       

    it

     

    K

     

    it

         

    it

                                                                           

    Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016. Giá trị thống kê t được thể hiện trong ngoặc đơn dưới hệ số ước lượng. ***, ** và * lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm

    hạn tài trợ thể hiện qua biến , tự do hóa tài chính

    trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp

    không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các

    này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới

    doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm

    hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài

    34

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống kê. Hệ số của trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar

    (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng

     

    (2005). Điều này có thể được giải thích theo Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

               

    Bảng 3. Phần B – Giới hạn tài trợ

     
       

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinhvới FLI (tiếp theo)

           
     

    Phần B – Phương trình chuyển đổi

    Hàm đầu tư (I)

    Hàm đầu tư (II)

               

    SIZE

    0.060

    0.039

                 

    (2.47)**

    (1.57)

               

    AGE

    0.057

    0.122

                 

    (0.80)

    (1.73)*

               

    DIV

    -0.883

    -0.628

                 

    (3.54)***

    (2.38)**

               

    STD

    0.623

    0.543

                 

    (3.08)***

    (2.86)***

               

    LTD

    1.057

    0.873

                 

    (3.57)***

    (2.63)***

               

    GRO

    -0.054

    -0.036

                 

    (3.59)***

    (2.01)**

               

    FSK

    -0.525

    -0.467

                 

    (5.01)***

    (4.37)***

               

    TAN

    0.314

    0.227

                 

    (3.01)***

    (2.18)**

               

    Constant

    -0.214

    -0.259

                 

    (0.61)

    (0.74)

                     
               

    Số quan sát

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần B Bảng 4.2 thể hiện kết

    quả ước lượng hàm chuyển

    đổi trong mô hình chuyển đổi

    y*

    = Z

    itφ

    + u

    it

    nội sinh lần lượt cho hai hàm đầu tư (I) và (II).

     
     

    it

             

    y*it

    được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị

    hạn chế tài chính, bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    35

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả ước lượng phương trình chuyển đổi thể hiện trong Bảng 3 Phần B cho thấy hầu hết các biến trong phương trình lựa chọn có vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng tài chính và do đó tác động đến hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó các doanh nghiệp có quy mô lớn, được niêm yết lâu năm, có mức độ thặng dư tài chính thấp và có ít cơ hội đầu tư và có giá trị tài sản hữu hình cao thường được xem là những doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính. Kết quả trên phù hợp với suy luận thông thường đồng thời phù hợp với các nghiên cứu với cách tiếp cận tương tự như Hovakimian và Titman (2006) và Almeida và Campello (2007). Trái với các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính, các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thường là các doanh nghiệp nhỏ, thời gian niêm

    yết ngắn, có mức độ thặng dư. Bên cạnh việc xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thông qua mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh, chúng ta cũng ước lượng hệ số này theo cách tiếp cận phổ biến trong cơ sở lý thuyết hiện tại. Đầu tiên các doanh nghiệp sẽ̃ được phân loại thành doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính dựa trên tiêu chí về quy mô hoặc chỉ số KZ. Sau đó phương pháp System GMM được sử dụng để ước lượng mô hình đầu tư cho từng nhóm doanh nghiệp hoặc với biến giả xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kết quả hàm đầu tư ước lượng theo System GMM thể hiện trong Bảng 4. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc có chỉ số KZ cao được xem là các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính.

     

    Bảng 4 – Giới hạn tài trợ – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình System GMM

     

    Biến phụ thuộc

     

    (I)

       

    (II)

       

    (I.1)

    (I.2)

    (I.3)

    (II.1)

    (II.2)

    (II.3)

     
     
     

    0.340

    0.296

    0.326

    0.406

    0.409

    0.387

     
     

    (2.45)**

    (2.28)**

    (2.45)**

    (3.10)***

    (3.40)***

    (3.08)***

     
     

    -0.024

    -0.019

    -0.018

    -0.032

    -0.036

    -0.024

     
     

    -0.90

    -0.76

    -0.67

    -1.24

    -1.48

    -0.96

     
     

    0.034

    0.027

    0.028

    0.034

    0.017

    0.027

     
     

    (3.00)***

    (2.35)**

    (2.73)***

    (3.25)***

    (1.74)*

    (2.77)***

     
     

    0.004

    0.198

    0.005

    -0.240

    -0.976

    -0.240

     
     

    -0.15

    0.98

    -0.20

    0.40

    (3.24)***

    (2.44)**

     
     

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

    0.000

     
     

    -0.60

    -0.42

    -0.89

    -0.93

    -0.19

    -0.87

     
       

    -0.188

       

    -1.295

       
       

    (2.15)**

       

    (4.30)***

       
         

    -0.595

       

    -0.840

     
         

    (2.30)**

       

    -0.73

     
           

    0.471

    1.700

    0.499

     
           

    (2.49)**

    (2.92)***

    (2.70)***

     
             

    2.361

       
             

    (4.08)***

       
               

    0.467

     
               

    -0.25

     
                   

    Industry fixed effects

     

    Year fixed effects

     

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Bảng 4 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình System GMM lần lượt cho hai hàm đầu tư. Biến giả Small và HighKZ được sử dụng để xác định ngoại sinh tình trạng hạn chế tài chính của doanh nghiệp. Small bằng 1 cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn giá trị trung vị mẫu và HighKZ bằng 1 cho các doanh nghiệp có chỉ số KZ cao hơn trung vị mẫu. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016.

     

     

    36

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Kết quả mô hình System GMM căn bản khẳng định kết quả mô hình hồi quy chuyển đổi nội sinh: Tự do hóa tài chính làm gia tăng giới hạn tài trợ của tất cả các doanh nghiệp và đặc biệt trầm trọng hóa tình trạng này tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện qua hệ số dương và có ý nghĩa thống kê của các

     

    biến (CF/K)it × FLIt, (CF/K)it × FLIt × Smallit và (CF/K)it × FLIt × HighKZit.

     

    Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng mô hình hồi sinh chuyển đổi cho hàm đầu tư (23) khi thay thế chỉ số tự do hóa tài chính xây dựng theo Abiad và cộng sự (2011) bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính KAOPEN theo Chinn và Ito (2006). Do chỉ số kiểm soát vốn có hàm ý ngược với tự do hóa tài chính, chúng

    ta kỳ vọng hệ số của chỉ số kiểm soát vốn sẽ̃ mang dấu âm. Hệ số âm hàm ý việc gia tăng các hình thức kiểm soát vốn sẽ̃ làm giảm giới hạn tài trợ trong khi việc nới lỏng các biện pháp kiểm soát vốn sẽ̃ làm tăng giới hạn tài trợ. Như thể hiện trong Bảng 5 – Phần A, hệ số của biến (CF/K)it × KACONt đều nhỏ hơn không trong cả hai trường hợp doanh nghiệp bị và không bị hạn chế tài chính. Kết quả này một lần nữa khẳng định kết quả thu được từ mô hình hồi quy chuyển đổi.Các yếu tố xác định tình trạng tài chính của doanh nghiệp thể hiện trong mô hình chuyển đổi cũng có dấu và độ lớn tương tự khi chúng ta hồi quy với FLI. Điều này có nghĩa các doanh nghiệp trẻ, có quy mô nhỏ và có nhiều cơ hội đầu tư thường là những doanh nghiệp chịu ràng buộc về mặt tài chính.

     

    Bảng 5. Phần A – Giới hạn tài trợ

     

    Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN

     

               

    Phần A –

    KACON

    KAOPEN

     

    Hàm đầu tư

             

    Biến phụ

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp không

    Doanh nghiệp

     

    thuộc

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

    hạn chế tài chính

     
     

    0.422

    0.283

    0.430

    0.289

     
     

    (3.80)***

    (3.62)***

    (3.90)***

    (3.62)***

     
     

    -0.023

    -0.040

    -0.024

    -0.051

     
     

    -0.950

    (1.84)*

    -1.000

    (2.17)**

     
     

    0.012

    -0.002

    0.013

    -0.003

     
     

    (3.75)***

    -0.590

    (4.04)***

    -0.670

     
     

    -0.110

    0.164

    0.088

    0.327

     
     

    -0.630

    -0.420

    -1.450

    1.13

     
     

    0.000

    0.002

    0.000

    0.002

     
     

    -0.730

    (4.77)***

    -0.100

    (5.65)***

     
     

    -0.115

    -0.063

         
     

    -0.590

    -0.140

         
         

    -0.265

    -0.524

     
         

    (1.70)*

    -1.490

     

    Constant

    0.259

    0.091

    0.262

    0.076

     
     

    -1.280

    -0.750

    -1.300

    -0.630

     
               

    Industry fixed

     

    effects

             

    Year fixed

     

    effects

             

    Số quan sát

    764

    764

    764

    764

     

    Ghi chú: Phần A Bảng 5 thể hiện kết quả hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). Phương trình chuyển đổi nội sinh cho phép xác định một cách nội sinh tình trạng tài chính của doanh nghiệp giữa không bị hạn chế và bị hạn chế. Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp phi tài chính tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2007–2016.

     

    37

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Bảng 5. Phần B – Kết quả hồi quy hàm đầu tư theo mô hình chuyển đổi nội sinh với KACON và KAOPEN (tiếp theo)

    Phần B – Hàm chuyển đổi

    Hàm đầu tư với KACON

    Hàm đầu tư với KAOPEN

    SIZE

    0.061

    0.051

     

    (2.47)**

    (1.98)**

    AGE

    0.059

    0.070

     

    -0.810

    -0.950

    DIV

    -0.877

    -0.860

     

    (3.49)***

    (3.47)***

    STD

    0.620

    0.664

     

    (3.06)***

    (3.24)***

    LTD

    1.049

    1.067

     

    (3.49)***

    (3.50)***

    MTB

    -0.053

    -0.049

     

    (3.35)***

    (3.18)***

    FSK

    -0.523

    -0.520

     

    (4.99)***

    (4.96)***

    TAN

    0.313

    0.323

     

    (3.01)***

    (3.12)***

    Constant

    -0.226

    -0.174

     

    -0.630

    -0.490

         

    Số quan sát

    764

    764

    Ghi chú: Phần B Bảng 5 thể hiện kết quả ước lượng hàm chuyển đổi y*it= Zitφ + uit trong mô hình hồi quy theo mô hình chuyển đổi nội sinh. Trong đó chỉ số tự do hóa tài chính FLI lần lượt được

     

    thay thế bằng chỉ số kiểm soát vốn KACON theo Fernandez và cộng sự (2016) và chỉ số độ mở tài chính theo Chinn và Ito (2006). y*it được quy ước bằng 0 khi doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính và bằng 1 khi doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Zit bao gồm các biến quy mô (SIZE), số năm niêm yết (AGE), biến giả chi trả cổ tức (DIV), tỷ lệ nợ ngắn hạn (STD), tỷ lệ nợ dài hạn (LTD), cơ hội tăng trưởng (MTB), thặng dự tài chính (FSK) và tỷ lệ tài sản cố định (TAN). Hệ số dương (âm) hàm ý doanh nghiệp có nhiều khả năng không bị giới hạn tài chính khi giá trị của biến giải thích trong hàm chuyển đổi cao (thấp) hơn.

     

     

    Về tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ thể hiện qua biến (CF/K)it × FLIt, tự do hóa tài chính không giúp làm giảm giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp không bị hạn chế tài chính thậm chí tự do hóa tài chính còn có khả năng trầm trọng hóa giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp này. Tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính thể hiện rõ nét qua hệ số dương có độ lớn đáng kể và có ý nghĩa thống

    kê. Hệ số của (CF/K)it × FLIt trong trường hợp doanh nghiệp bị ràng buộc tài chính là 0.89. Điều này có nghĩa 1% gia tăng trong mức độ tự do hóa tài chính có thể khiến giới hạn tài trợ hay nói cách khác hệ số co dãn của đầu tư theo dòng tiền tăng 0.89%. Kết quả này đi ngược với luận điểm ủng hộ tự do hóa tài chính khi cho rằng tiến trình tự do hóa tài chính có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thị trường vốn trong nước cũng như quốc tế trong Laeven

     

    38

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    (2003), Forbes (2003), Gelos và Werner (2002), Harris, Schiantarelli và Siregar (1994), Koo và Shin (2004) và Koo và Maeng (2005).

    Một giải thích khả dĩ cho tác động gia tăng giới hạn tài trợ của tự do hóa tài chính đến từ Chan và cộng sự (2012). Chan và cộng sự (2012) trong khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cải cách tài chính và giới hạn tài trợ cũng tìm thấy bằng chứng về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ. Các tác giả cho rằng quá trình tự do hóa tài chính làm giảm vai trò của hoạt động cho vay dựa trên quan hệ (relationship-based lending) giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Do vậy các doanh nghiệp lớn thường mất dần ưu đãi từ các ngân hàng trong hoạt động cho vay dẫn đến khó khăn trong quá trình huy động vốn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, Chan và cộng sự (2012) cho rằng tự do hóa tài chính không khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin giữa loại hình doanh nghiệp này và bên cung cấp vốn. Do đó các doanh nghiệp nhỏ khó có thể hưởng lợi từ quá trình tự do hóa tài chính. Bhaduri (2005), Hermes và Lensink (1998), Jaramillo, Schiantarelli và Weiss (1996) và Nair (2009) cung cấp bằng chứng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa tự do hóa tài chính và giới hạn tài trợ.

     

    1. Kết luận

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xem xét tác động của tự do hóa tài chính đến giới hạn tài trợ và đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính tại 05 quốc gia Asean bao

     

    Tài liệu tham khảo

    gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Kết quả chính yếu cho thấy tại 05 quốc gia Asean thuộc mẫu nghiên cứu tự do hóa tài chính có tác động tiêu cực đến giới hạn tài trợ và giới hạn tài sản thế chấp tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Cụ thể tự do hóa tài chính làm tăng mức độ nhạy cảm của đầu tư theo dòng tiền (đại diện cho giới hạn tài trợ) tại các doanh nghiệp này. Một nguyên nhân có thể giải thích cho sự tác động không mong muốn của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển trong khu vực Asean là trình độ phát triển của thị trường tài chính tại các quốc gia này. Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển ở trình độ thấp với chất lượng thể chế chưa cao và cơ chế quản trị kém hiệu quả, tự do hóa tài chính làm gia tăng tình trạng bất cân xứng thông tin trong khi làm giảm chất lượng mối quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và bên cung cấp tài chính. Khi này doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn tài trợ đầu tư. Kết quả về tác động tiêu cực của tự do hóa tài chính đến đầu tư của doanh nghiệp trong nghiên cứu này gợi ý các chính sách tự do hóa tài chính nên được đánh giá cẩn trọng trước khi áp dụng nhằm tránh gây bất lợi cho đầu tư của doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp hiện đang trong tình trạng hạn chế tài chính. Tự do hóa tài chính chỉ có thể phát huy tác dụng trong trường hợp thị trường tài chính trong nước có sự vững mạnh nhất định.

     

    Abel A. B. (1983). Optimal Investment under Uncertainty.American Economic Review, 73, 228– 233.

     

    Abel, A. B. (1980). Empirical investment equations: An integrative framework. In: Brunner, K., Meltzer, A.(Eds.), On the State of Macroeconomics. In: Carnegie–Rochester Conference Series, vol. 12, pp. 39–93.

    Abel, A. B. and Blanchard, O.J. (1986). The Present Value of Profiits and Cyclical Movements in Investment.Econometrica 54, 249–273.

     

    39

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Abiad A., Detragiache E. and Tressel T. (2010). A New Database of Financial Reforms. IMF Staff Papers, Palgrave Macmillan, vol. 57(2), pages 281-302, June.

     

    Adler D. (2014). The New Economics of Liquidity and Financial Frictions. The CFA Institute Research Foundation: www.cfapubs.org.

     

    Almeida, H. and M. Campello (2007). Financial Constraints, Asset Tangibility and Corporate Investment.The Review of Financial Studies, 20 (5): 1429-1460.

     

    Bhaduri, N. S. (2005). Investment, Financial Constraints and Financial Liberalization: Some Stylized Facts from a Developing Economy, India. Journal of Asian Economics, 16 (2005) 704–718.

    Bond, S. and C. Meghir (1994). Dynamic Investment Models and the Firm’s Financial Policy.

     

    Review of Economic Studies, 61, 197-222.

     

    Bond, S., and van Reenen, J. (2007). Microeconometric Models of Investment and Employment.In James Heckman and Edward Leamer (Eds.), Handbook of Econometrics, vol. 6A. Amsterdam: Elservier.

    Bumann S., Hermes, N. and Lensink R. (2013). Financial Liberalisation and Economic Growth: A Meta-Analysis. Technical report. Journal of International Money and Finance, 33 (2013) 255–281 Financial liberalization Campbell, J.Y., Kyle, A.S. (1993).Smart money, noise trading and stock-price behaviour.Review of Economic Studies, 60, 1–34.

     

    Bushman, Robert M. and Smith, Abbie J. and Zhang, Frank (2011). Investment Cash Flow Sensitivities Really Reflect Related Investment Decisions. Available at http://dx.doi.org/10.2139/ ssrn.842085.

     

    Chan, Kenneth S.; Dang, Vinh Q. T. and Yan, Isabel K.M. (2012). Financial reform and financing constraints: Some evidence from listed Chinese firms. China Economic Review, Vol. 23, No. 2, 06.2012, p. 482-497.

    Chinn, Menzie D. and Hiro Ito (2006). What Matters for Financial Development? Capital Controls, Institutions, and Interactions. Journal of Development Economics, Volume 81, Issue 1, Pages 163-192 (October).

    Devereux, M. and F. Schiantarelli (1990). Investment, Financial Factors, and Cash Flow: Evidence from U.K. Panel Data. In R. G. Hubbard (Ed.), Asymmetric information, corporate finance, and investment. Chicago: University of Chicago Press.

     

    Elston, J. (1993). Firm ownership structure and investment: Theory and evidence from German manufacturing. WZB Discussion Paper no. FS IV 93-28. Berlin.

     

    Farre-Mensa J. and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, Volume 29, Issue 2, 1 February 2016, Pages 271–308, https://doi.org/10.1093/rfs/hhv052.

    Faulkender, M., Petersen, M. (2006). Does The Source of Capital Affect Capital Structure.Volume 19, Issue 1, 1 March 2006, Pages 45–79.

     

    Fazzari, S. M., Hubbard, R. G. and Petersen, B. C. (1988). Financing Constraints and Corporate Investment.Brookings Papers on Economic Activity, 1, 141–195.

     

    40

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Fernandez, A., Klein M., Rebucci A., Schindler M., and Uribe M. (2016). Capital Control Measures:

     

    A New Dataset.IMF Economic Review, 64, 2016, 548-574.

     

    Forbes, K. J. (2003). One cost of the Chilean capital controls: Increased financial constraints for smaller trade firms. NBER Working Paper 977.

     

    Gelos, R. G., and A. M. Werner (2002). Financial Liberalization, Credit Constraints, and Collateral: Investment in the Mexican Manufacturing Sector. Journal of Development Economics, 67, 1–27.

    Gochoco-Bautista, M.S., Sotocinal, N.R. and Wang, J. (2014). Corporate investments in Asian markets: financial conditions, financial development, and financial constraints. World Development, Vol.57(C), pp. 63–78.

    Guermazi A. (2014). Financial Liberalization, Credit Constraints and Collateral: The case of Manufacturing Industry in Tunisia. Procedia Economics and Finance, 13 (2014), 82 – 100.

     

    Hadlock, C. J., and Pierce Joshua R. (2010). New Evidence on Measuring Financial Constraints:

     

    Moving Beyond the KZ Index. The Review of Financial Studies, 23 (5): 1909-1940.

     

    Harris, J., F. Schiantarelli and M. Siregar (1994). The Effect of Financial Liberalization on Firms’ Capital Structure and Investment Decisions: Evidence from aPanel of Indonesian Manufacturing Establishments, 1981–1988. World Bank Economic Review, 8, 17–47.

     

    Hayashi F. (1982). Tobin’s Marginal q and Average q: A Neoclassical Interpretation. Econometrica, Vol. 50, No. 1. (Jan., 1982), pp. 213-224.

     

    Hermes, N. and R. Lensink (1998). Financial Reform and Informational Problems in Capital Markets: An Empirical Analysis Of The Chilean Experience, 1983–1992. Journal of Development Studies, 34, 27–43.

    Hoshi, T., Kashyap, A.K., Scharfstein, D. (1991). Corporate structure, liquidity and investment:

     

    Evidencem from Japanese industrial groups. Quarterly Journal of Economics, CVI, 33–60.

     

    Hovakimian, G. and S.Titman (2006). Corporate Investment with Financial Constraints: Sensitivity of Investment to Funds from Voluntary Asset Sales. Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 38, No. 2 (Mar., 2006), pp. 357-374.

    Hubbard R. G, Kashyap A. K. and Toni M. Whited (1995). Internal Finance and Firm Investment.

     

    Journal of Money, Credit and Banking, Vol. 27, No. 3 (Aug., 1995), pp. 683-701.

     

    Ismail M. A, Ibrahim H. M., Yusoff M. and Zainald M-P (2010). Financial Constraints and Firm Investment in Malaysia: An Investigation of Investment-Cash Flow Relationship. International Journal of Economics and Management, 4(1): 29 – 44 (2010).

    Jaramillo, F., F. Schiantarelli and A. Weiss (1996). Capital market imperfections before and after financial liberalization: An Euler Equation Approach to Panel data for Ecuadorian Firms. Journal of Development Economics, 51, 367–386.

    Kaplan N. S. and Zingales L. (1997). Do Investment-Cash Flow Sensitivities Provide Useful Measures of Financing Constraints? The Quarterly Journal of Economics, Vol. 112, No. 1 (Feb., 1997), pp. 169-215.

    Koo, J. and K. Maeng (2005). The effect of financial liberalization on firm’s investments in Korea.

     

    Journal of Asian Economics, 16, 281–297.

     

    41

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 48, 12/2018

     

    Koo, J. and S. Shin (2004). Financial Liberalization and Corporate Investments: Evidence from Korean Firm Data. Asian Economic Journal, 18, 277–292.

     

    Laeven, L. (2003). Does Financial Liberalization Reduce Financial Constraints? Financial Management, 32, 5-34.

     

    Lamont O., Polk C. and Saa-Requejo J. (2001). Financial Constraint and Stock Returns. The Review of Financial Stuties, Vol. 14, No.2, pp. 529-554.

     

    Mensa J. F., and Ljungqvist A. (2016). Do Measures of Financial Constraints Measure Financial Constraints? The Review of Financial Studies, 29 (2): 271-308. DOI: https://doi.org/10.1093/ rfs/hhv052.

    Myers, S. C. and N. S. Majluf (1984). Corporate Financing and Investment Decisions When Firms Have Information That Investors Do Not Have. Journal of Financial Economics, 13, 187–221.

     

    Nair V. R. P. (2009). Does Financial Liberalisation Reduce Credit Constraints: A Study of Firms in The Indian Private Corporate Sector.Proceedings of FIKUSZ ’09 Symposium for Young Researchers, 2009, 147-160. Hungary: Budapest.

    Nam Hoai Tran and Chi Dat Le (2017). Financial conditions and corporate investment: evidence from Vietnam. Pacific Accounting Review, Vol. 29 Iss 2.

     

    O’Toole C. and Newman C. (2015). Investment Financing and Financial Development: Evidence from Viet Nam. Review of Finance, 2015, 1–36.

     

    Oliner, S. D. and G. D. Rudebusch (1992). Sources of the Financing Hierarchy for Business Investment.Review of Economics and Statistics, 74, 643–654.

     

    Schaller, H. (1993). Asymmetric Information, Liquidity Constraints, and Canadian Investment.

     

    Canadian Journal of Economics, 26, 552–574.

     

    Stiglitz, J. and A. Weiss (1981). Credit Rationing in Markets with Imperfect Information.American Economic Review, 71, 393–410.

     

    Stiglitz, J. E. (2002). Globalization and Its Discontents. New York: W.W. Norton.

     

    Tirole, J. (2006). The Theory of Coprorate Finance. New Jersey: Princeton University Press.

     

    Whited, T. M, and Wu G. (2006). Financial Constraints Risk.Review of Financial Studies, 19, 531–559.

     

    Whited, T. M. (1992). Debt, Liquidity Constraints, and Corporate Investment: Evidence from Panel Data. Journal of Finance, 47, 1425–1460.

     

     

     

    42


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp thu hút hàng hóa trung chuyển nội địa đến các bến cảng khu vực Cái Mép – Thị Vải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-th%C3%A0nh-t%E1%BB%B1u-tr%C3%AAn-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-kinh-t%E1%BA%BF-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-%E1%BB%9F-H%E1%BA%A3i-Ph%C3%B2ng-2005-2010.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005-2010)

    MỘT SỐ THÀNH TỰU TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ HÀNG HẢI Ở HẢI PHÒNG

    (2005 – 2010)

    ACHIEVEMENTS OF MARITIME ECONOMY IN HAIPHONG (2005 – 2010)

     

    ThS. NGUYỄN THỊ THANH

     

    Khoa Lý luận Chính trị, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Kinh tế hàng hải là một thế mạnh của Thành phố Hải Phòng. Bài viết phân tích một số thành tựu trên lĩnh vực kinh tế hàng hải ở Hải Phòng (2005 – 2010), bao gồm: vận tải biển (vận tải hành khách và vận tải hàng hóa), dịch vụ cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển.

     

    Abstract

     

    Maritime Economy is the strength of Haiphong City. The paper would analyze a number of achievements in the field of maritime economy in Haiphong (2005 – 2010), including sea transport (passenger transport and freight), port services, shipbuilding and repairing industry.

     

    1. Giới thiệu

     

    Trong Quyết định số 1601/QĐ – TTg được Thủ tướng phê duyệt ngày 15/10/2009 đã nêu rõ mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (Nhằm thực hiện Nghị quyết Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đề ra), kinh tế hàng hải đứng thứ hai và sau năm 2020 kinh tế hàng hải đứng đầu trong 5 lĩnh vực phát triển kinh tế biển; đồng thời góp phần củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước. Là thành phố cảng quốc tế, đô thị loại I cấp quốc gia, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của Việt Nam và khu vực duyên hải, giữ vị trí trọng yếu về an ninh – quốc phòng, Hải Phòng được xác định là một trung tâm phát triển kinh tế biển của quốc gia. Trong đó, kinh tế hàng hải được coi là một thế mạnh của Thành phố.

     

    2. Đối với vận tải biển

     

    Vận tải biển là một nội dung quan trọng của phát triển kinh tế hàng hải ở Hải Phòng. Những kết quả vận tải biển đạt được trên hai khía cạnh: vận tải hành khách và vận tải hàng hóa.

     

    2.1. Vận tải hành khách

     

    Việt Nam có 3.260 km bờ biển, nằm ở vị trí xung yếu trên biển Đông, thuận lợi cho vận tải hàng hoá, hành khách và phát triển du lịch bằng tàu biển. Tuy nhiên, ngành hàng hải Việt Nam và đội tàu biển chủ yếu làm nhiệm vụ vận tải hàng hoá, còn vận tải hành khách và du lịch trên biển gần như từ lâu bị bỏ trống, không mấy hấp dẫn đối với các chủ tàu.

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               101

     

    Trong thời gian qua, bên cạnh hoạt động vận chuyển hành khách bằng đường bộ thì vận chuyển hành khách bằng đường biển cũng có những đóng góp không nhỏ. Hoạt động này chủ yếu tập trung đối với khu vực vận tải hành khách nội địa, đặc biệt trên tuyến Hải Phòng – Cát Bà – Hải Phòng. Thống kê khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển trong những năm gần đây có thể thấy qua bảng 1.

     

    Bảng 1. Khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hành khách vận chuyển

    Khối lượng hành khách luân chuyển

       

    (1000 người)

       

    (triệu người.km)

     

    Năm

     

    Chia ra

         

    Chia ra

     
     

    Tổng số

    Đường bộ

     

    Đường

    Tổng số

     

    Đường bộ

     

    Đường

           

    thủy

           

    thủy

    2005

    17.860

    15.267

     

    2.593

    598,7

     

    570,1

     

    28,6

    2006

    22.692

    20.040

     

    2.652

    756,0

     

    725,8

     

    30,2

    2007

    25.938

    22.706

     

    3.232

    1.017,0

     

    979,0

     

    38,0

    2008

    29.017

    26.188

     

    2.829

    1.138,3

     

    1.106,2

     

    32,1

    2009

    27.782

    25.555

     

    2.227

    1.043,1

     

    1.017,5

     

    25,5

    2010

    29.250

    26.704

     

    2.546

    1.051,7

     

    1.023,7

     

    28,0

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Nhìn vào bảng 1 có thể thấy, việc vận chuyển và luân chuyển hành khách có xu hướng tăng trong những năm 2005, 2006, 2007. Về khối lượng hành khách vận chuyển: năm 2005 là 2.593.000 người, đến năm 2006 là 2.652.000 người, và đến năm 2007 là 3.232.000 người. Về khối lượng hành khách luân chuyển: năm 2005 là 28,6 triệu người.km, đến năm 2006 là 30,2 triệu người.km, năm 2007 đạt 38,0 triệu người.km. Nhưng đến giai đoạn 2008, 2009, hoạt động vận chuyển, luân chuyển hành khách lại có sự sụt giảm rõ rệt. Khối lượng hành khách vận chuyển năm 2008 giảm xuống 2.829.000 người, năm 2009 tiếp tục giảm mạnh, còn 2.227.000 người (chỉ đạt 78,7%). Khối lượng hành khách luân chuyển năm 2008 giảm xuống 32,1 triệu người.km và năm 2009 là 25,5 triệu người.km. Đến năm 2010 đã có sự gia tăng trở lại, đạt được khối lượng vận chuyển 2.546.000 người và khối lượng luân chuyển 28,0 triệu người.km, với tốc độ tăng tương ứng là 114,3% và 109,7%.

     

    Xét trong tổng số khối lượng hành khách vận chuyển và luân chuyển của Hải Phòng thì hoạt động vận tải biển chiếm tỷ lệ còn rất khiêm tốn, chủ yếu là vận tải bằng đường bộ. Điều này dễ hiểu vì tính ưu việt của việc lựa chọn phương tiện đường bộ phục vụ đi lại của hành khách hơn hẳn so với việc lựa chọn phương tiện đường biển. Nhưng cũng đặt ra yêu cầu cho vận tải hành khách bằng đường biển của Hải Phòng cần phải quan tâm đổi mới phương thức hoạt động kinh doanh cho hiệu quả.

     

    2.2. Vận tải hàng hóa

     

    Trong lĩnh vực vận tải biển ở Hải Phòng thì vận tải hàng hóa được coi là hoạt động chủ yếu. Vận tải hàng hóa bằng đường biển giữ vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông hàng hóa ở Hải Phòng, là chủ lực trong xuất khẩu hàng hóa ra thị trường các nước trên thế giới (chiếm đến khoảng 90% đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa).

     

    Trên cơ sở so sánh giữa đường bộ và đường biển trong hoạt động vận chuyển, luân chuyển hàng hóa ở Hải Phòng, tác giả đưa ra số liệu cụ thể trong bảng 2.

     

    Bảng 2. Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển ở Hải Phòng

     

     

    Khối lượng hàng hóa vận chuyển

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển

     

    Năm

     

    (1000 tấn)

       

    (triệu tấn.km)

       

    Tổng số

    Chia ra

    Tổng số

    Chia ra

     
       
     

    Đường bộ

    Đường thủy

    Đường bộ

    Đường thủy

     
           

    2005

    25.373

    19.022

    6.351

    6.419,4

    1.578,4

    4.841,0

     

    2006

    26.123

    19.882

    6.241

    7.030,0

    2.089,0

    4.941,0

     

    2007

    31.871

    23.438

    8.433

    8.137,8

    2.528,4

    5.609,4

     

    2008

    40.494

    27.883

    12.611

    9.998,3

    2.756,3

    7.242,0

     
                   

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải

    Số 39 – 08/2014

     

    102

     

    2009

    47.053

    33.658

    13.395

    15.798,3

    2.775,6

    13.022,7

    2010

    56.599

    39.850

    16.749

    18.238,3

    3.156,0

    15.082,3

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Có thể thấy khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển bằng đường biển tăng đều trong các năm từ 2005 đến 2010. Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2005 đạt 6.351.000 tấn (tăng 109,5%), năm 2006 đạt 6.241.000 tấn (98,3%), năm 2007 đạt 8.433.000 tấn (tăng 135,1%), năm 2008 đạt 12.611.000 tấn (tăng 149,5%), năm 2009 đạt 13.395.000 tấn (tăng 106,2%), năm 2010 đạt 16.749.000 tấn (tăng 125,0%).

     

    Khối lượng hàng hóa luân chuyển năm 2005 đạt 4.841,0 triệu tấn.km (tăng 136,6%), năm 2006 đạt 4.941,0 triệu tấn.km (102,1%), năm 2007 đạt 5.609,4 triệu tấn.km (tăng 113,5%), năm 2008 đạt 7.242,0 triệu tấn.km (tăng 129,1%), năm 2009 đạt 13.022,7 triệu tấn.km (tăng 179,8%), năm 2010 đạt 15.082,3 triệu tấn.km (tăng 115,8%).

     

    3. Đối với dịch vụ cảng biển

     

    Cảng Hải Phòng nằm trên tuyến đường giao thông trên biển, kết nối Singapo với Hồng Kông và các cảng của Đông Á, Đông Bắc Á. Năm 1999, khi dự báo lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng, nhiều ý kiến cho rằng, đến năm 2010, lượng hàng hóa thông qua đạt khoảng 8,5 triệu tấn. Nhưng Hải Phòng đã chứng minh sự vượt trội khi năm 2010 đạt tới 38,4 triệu tấn; và năm 2011 là 43 triệu tấn, tương đương với nguồn thu hải quan khoảng 40.000 tỷ đồng. Lượng hàng qua Cảng tăng kỷ lục, vượt xa dự báo chính là sự khẳng định, Hải Phòng kiên định mục tiêu phát triển kinh tế hàng hải, gắn với kinh tế cảng biển.

     

    Việc hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật để nâng cao sức cạnh tranh; duy trì, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, tăng cường tiếp thị, tìm kiếm, xúc tiến thông tin thị trường cho khối cảng…

     

    đưa bạn hàng đến với Hải Phòng nhiều hơn, mật độ tàu hàng có mặt tại các cảng biển Hải Phòng cũng dày lên. Hiện Hải Phòng là địa phương đi đầu cả nước về cảng biển khi có tới 35 doanh nghiệp khai thác cảng với tổng chiều dài cầu cảng hơn 10,5 km, chiếm 1/4 chiều dài cầu cảng của cả nước. Hệ thống thiết bị bốc xếp tại các cảng thuộc hàng tối tân của thế giới như cẩu dàn QC tại Cảng Hải Phòng với sức nâng 50 tấn trở lên, hệ thống cần trục chân đế sức nâng 40 tấn tại các cảng và các loại xe nâng hàng hiện đại, xếp dỡ gần 110 tấn/ngày, tăng gấp 3 lần so với năm 2005.

     

    Không chỉ tăng về số lượng hàng hóa thông qua, doanh thu của các cảng biển cũng tăng trưởng đáng kể khi chuyển hướng sang xếp dỡ hàng container, mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất. Năm 2011, Cảng Hải Phòng đạt sản lượng xếp dỡ 17,5 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn so với năm 2010. Doanh nghiệp tập trung vào chuyển đổi Tân Cảng Đình Vũ thành cảng container chuyên dụng, mở rộng hệ thống kho bãi, đầu tư cần trục, cẩu dàn để đáp ứng nhu cầu phát triển. Không chỉ Cảng Hải Phòng, Công ty CP Cảng Đoạn Xá cũng đầu tư hơn 30 tỷ đồng lắp cần trục chân đế 40 tấn phục vụ việc xếp dỡ container.

     

    Bảng 3. Một số chỉ tiêu chủ yếu của Cảng Hải Phòng

     

     

    Đơn vị

    2000

    2005

    2008

    2009

    2010

     
     

    tính

                 

    Tổng số CNVC bình quân

    Người

    5.350

    5.022

    3.594

    3.679

    3.614

     

    trong danh sách

                 

    Diện tích bãi chứa hàng

    1000m2

    377,6

    258,6

    394,0

    394,0

    394,0

     

    Tổng số tàu vào cảng

    Tàu

    1.559

    2.011

    2.443

    2.410

    2.649

     

    Tàu trong nước

    Tàu

    542

    1.149

    969

    1.011

    1.211

     

    Tàu nước ngoài

    Tàu

    1.017

    862

    1.474

    1.399

    1.438

     

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    12.465

    14.857

    28.572

    31.748

    35.323

     

    qua cảng trên địa bàn

                 

    Khối lượng hàng hóa thông

    1000 tấn

    7.645

    10.512

    13.969

    14.370

    15.689

     

    qua cảng chính

                 

    Hàng xuất

    1000 tấn

    1.234

    2.349

    3.244

    2.376

    2.862

     

    Hàng nhập

    1000 tấn

    3.586

    5.197

    7.634

    8.226

    7.572

     

    Hàng nội địa

    1000 tấn

    2.825

    2.966

    3.091

    3.768

    5.255

     

    [Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, năm 2011]

     

    Ghi chú: Trừ chỉ tiêu khối lượng hàng hóa thông qua các cảng trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, các chỉ tiêu còn lại chỉ của riêng cảng chính (Cảng Hải Phòng)

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               103

     

    Thành phố đã đưa ra một số dự án trọng điểm cần ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2006 – 2010 nhằm phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của mình, trong đó, có những dự án lớn đầu tư vào cảng biển với số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Có thể theo dõi trong bảng 4.

     

    Bảng 4. Một số dự án trọng điểm ưu tiên đầu tư giai đoạn 2006 – 2010

    Đơn vị: Tỷ đồng

    TT

    Tên dự án

    Tổng mức

    Nguồn vốn

     

    đầu tư

           
     

    Cải tạo Cảng Hải Phòng giai đoạn II

    1.772

    Ngân sách, tín dụng

     
     

    Xây dựng Cảng cửa ngõ Lạch Huyện

    15.400

    Ngân sách, huy động

     
     

    Xây dựng Cầu Đình Vũ – Cát Hải

    3.950

    Ngân sách

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn II

    600

    Vốn tự có, huy động

     
     

    Xây Cảng tổng hợp Đình Vũ giai đoạn III

    300

    Vốn tự có, huy động

     

    [Nguồn: Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch đầu tư, 2006]

     

    Riêng đối với dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, sau khi hoàn thành có khả năng tiếp nhận các tàu có sức chở lớn từ 30.000 đến 80.000 tấn, trong đó có tàu container.

     

    UBND Thành phố Hải Phòng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho phép Công ty CP vận tải xăng dầu Vipco thực hiện đầu tư giai đoạn 1 cụm kho cảng container hóa dầu tại bán đảo Đình Vũ, Quận Hải An với tổng vốn đầu tư 481 tỷ đồng, trên diện tích sử dụng là 380.000 m2. Thời gian thực hiện 45 năm. Quy mô đầu tư xây dựng cụm cảng xăng dầu gồm: 1 cảng nhập dầu loại tàu trọng tải đến 20.000 DWT và 1 cảng xuất dầu cho sà lan trọng tải đến 5.000 DWT; các kho chứa xăng dầu và các công trình kỹ thuật phụ trợ đồng bộ khác. Cụm cảng container gồm 2 cảng cập tàu container cho tàu trọng tải đến 30.000 DWT; hệ thống bãi chứa container diện tích 36.000 m2, xưởng sửa chữa diện tích 600 m2 và các công trình phụ trợ.

    Trên địa bàn Thành phố còn có những cảng chuyên dụng như Cảng dầu Thượng Lý, Cảng

     

    • măng Chinh Phong, Cảng thuỷ sản Hạ Long… Hàng năm, những cảng này cũng được đầu tư nâng cấp nhằm duy trì và gia tăng năng lực bốc xếp.

    Hệ thống đèn biển cũng không ngừng được đầu tư nâng cấp. Từ năm 2002 đến nay, dự án đầu tư, nâng cấp hệ thống đèn biển đã được thực hiện. Dự án có tổng mức đầu tư là 70 tỷ đồng trong đó 22 tỷ dành cho xây dựng và 48 tỷ cho trang thiết bị đèn biển, một phần từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn vay ODA của Tây Ban Nha. Mục đích của dự án là xây dựng, hiện đại hoá 32 đèn biển nằm dọc theo tuyến từ Bắc vào Nam, xây mới 16 đèn biển, cải tạo nâng cấp 16 đèn khác, trong đó có 6 đèn cấp 1, có 3 đèn cấp 2, có 9 đèn cấp 3 và 14 đèn cấp 4.

     

    4. Đối với công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển

     

    Ngành công nghiệp đóng tàu được xác định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển công nghiệp của nước ta, được Chính phủ và Thành phố quan tâm với mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp đóng tàu lớn của cả nước.

     

    Trên địa bàn Thành phố Hải Phòng hiện có khoảng 50 doanh nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, chiếm khoảng 50% doanh nghiệp đóng tàu của quốc gia. Từ chỗ chỉ đóng được những con tàu vận tải cỡ nhỏ từ 400 đến 1.400 tấn, đến nay những kỹ sư và công nhân Hải Phòng đã đóng được những tàu biển có trọng tải lớn, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đạt tiêu chuẩn kiểm định nghiêm ngặt của hàng hải quốc tế từ 22.500 tấn đến 36.000 tấn và 53.000 tấn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Từ năm 2005 đến năm 2010, các doanh nghiệp đóng tàu đã huy động hàng nghìn tỷ đồng nâng cấp các ụ, triền đà cho phép đóng các chủng loại tàu trọng tải từ 6.500 tấn đến 100.000 tấn.

     

    Từ năm 2010 đến nay là thời điểm các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng lao đao. Với sự chỉ đạo, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các cấp, các ngành có liên quan, các doanh nghiệp đóng tàu đã dần từng bước củng cố và ổn định sản xuất. Các doanh nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng đã tập trung thực hiện tái cơ cấu ba lĩnh vực chính theo chỉ đạo. Trong đó, tập trung vào công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc đóng và sửa chữa tàu biển và đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp tàu biển. Ðây là một công việc đầy khó khăn, gian khổ và phức tạp. Các doanh nghiệp đã chuyển nhượng, sáp nhập, giải thể, thoái vốn, bán cổ phiếu những đơn vị kinh doanh không hiệu quả, những công ty không thuộc ngành nghề kinh doanh chính, để tập trung cho ngành nghề sản xuất chính và những đơn vị hoạt động có lãi, nhằm từng bước củng cố, ổn định và phát triển. Ðây mới

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 39 – 08/2014                                                               104


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]