Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-T%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-GDP-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-1995-2011.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Chương 1: TỔNG QUAN

    1. Lý do chọn đề tài:

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia. Bởi vậy, GDP là một công cụ quan trọng, thích hợp được dùng phổ biến trên thế giới để khảo sát sự phát triển và sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức chính xác và sử dụng hợp lý chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát và đánh giá tình trạng phát triển bền vững, nhịp nhàng, toàn diện nền kinh tế. Bất cứ một gia quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể cho những nổ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, các yếu tố ảnh hưởng đến GDP giúp chính phủ có thể thay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những vấn đề vĩ mô mà ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm. Đó là lý do nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011”

    2. Mục tiêu nghiên cứu:

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    3. Phạm vi nghiên cứu:

    Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    4. Kết cấu của bài tiểu luận:

     

    Chương 1: Tổng quan

     

    Chương 2: Cơ sở lý luận

     

    Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.

     

    Chương 4: Kết quả nghiên cứu

     

    Chương 5: Kết luận

    Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều không phân biệt khuynh hướng chính trị, mổi quốc gia đều tự xác định riêng cho mình một chiến lược riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến

    bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Không riêng một đất nước nào cả, ở Việt Nam cũng vậy luôn xem việc phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất bức thiết. Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đã có những bước phát triển đáng kể, đất nước ta từ nền kinh tế thời bao cấp trì trệ đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổng thu nhập quốc dân hằng năm đã tăng lên. Hơn thế nữa đất nước chúng ta hiện nay gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu WTO, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước tiến rất quan trọng và mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều hứa hẹn. Tăng trưởng kinh tế diễn ra nó biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP ngày càng cao và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ có nhiều thành tựu to lớn. Như vậy thu nhập và mức sống của người dân càng ổn định thì đất nước càng phát triển. Chính vì vậy mà việc tăng trưởng kinh tế được xem như là vấn đề hấp dẫn trong nghiên cứu kinh tế, nó chính là tiêu điểm để phản ánh sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc gia. Để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, các nhà kinh tế đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    2.1.  Khái niệm:

    Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia.

    Đầu tư: trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.

    Xuất khẩu: là những hàng hoá được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).

    Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP)

    2.2. Nguồn gốc của mô hình từ lý thuyết:

    Có phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): có 3 phương pháp

    2.2.1. Phương pháp tính theo luồng sản phẩm:

    Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;c hăm sóc y tế, thương mại và du lịch… những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.

    Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dể dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ.

    Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau:

    GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G +NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

    C: Tiêu dùng của hộ gia đình

    I: Đầu tư của các nhà sản xuất

    • Xuất khẩu
    • Nhập khẩu

    Te: Thuế gián thu

    NX: Xuất khẩu ròng

    • Chi tiêu của Chính phủ

    2.2.2. Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí:

    Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn. Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm.

    GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố. Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm:

    • Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W)
    • Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i)
    • Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R)
    • Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r)
    • Thuế gián thu (Te)

    Trang 3

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Khấu hao (De)

    Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau:

    GDP = W + i + R + r + Te + De

    Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.

    Trang 4

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.2.3. Mô hình nghiên cứu :

    Thiết bị

    Cơ sở hạ tầng

    Công nghệ

    Trình độ

    Nguồn lao động

    Xuất khẩu

    Giới tính

    Vốn chủ sở hữu

    Vốn

    Vốn vay

    Giá

    Nhu cầu tiêu dùng

    Thu nhập cá nhân

    GDP   Nhập khẩu

    Chính sách nhà nước

       

    Tín dụng

         
         

    Kinh tế nhà nước

     

    Tài khóa

         
         
       

    Tiền tệ

         

    Thu nhập dân cư

    Đầu tư

    Kinh tế ngoài nhà nước                 Lạm phát

    Tỷ giá

    K.Vực có vốn đầu tư

    nước ngoài

    Trang 5

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.3. Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình:

    Theo PGS – TS Nguyễn Văn Công, GDP chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong thời kỳ nhất định. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau:

    Thứ nhất, nguồn nhân lực. Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. Thứ ba, tài nguyên thiên nhiên. Các nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Không những có thể khai thác đưa vào sản xuất mà còn có thể phục vụ xuất khẩu, mua về những hàng hóa cần thiết.

    Thứ tư, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.

    Thứ năm, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính.Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn.

    Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là vốn đầu tư và xuất khẩu ròng (xuất khẩu và nhập khẩu). Vì hai yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do hai nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cải xoay quanh các chính sách về hai nhân tố này. Do tính thời sự của hai nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm. Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế.

    Trang 6

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

    Mô hình gồm 4 biến:

    • Biến phụ thuộc : Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ đồng )
    • Biến độc lập :
    • Đầu tư I (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Xuất khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Nhập khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng )

    GDP = β1 + β2 I +β3XK + β4NK + V

    3.2. Dự đoán kỳ vọng giữa các biến:

    • β2 dương : Khi Đầu tư tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β3 dương : Khi giá trị xuất khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β4 âm : Khi giá trị nhập khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm.

    3.3. Mô tả số liệu

    • Số liệu bao gồm: Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
    • Số liệu tìm được từ tổng cục thống kê Việt Nam.
    • Bảng số liệu :

    STT

    Năm

    GDP

    Đầu tư I

    Xuất khẩu NX

    Nhập khẩu NX

               

    1

    1995

    228677

    72447.0

    5448.9

    8155.4

               

    2

    1996

    269654

    87394.0

    7255.9

    11143.6

               

    3

    1997

    308600

    108370.0

    9185.0

    11592.3

               

    4

    1998

    352836

    117134.0

    9360.3

    11499.6

               

    5

    1999

    392693

    131171.0

    11541.4

    11742.1

               

    6

    2000

    435319

    151183.0

    14482.7

    15636.5

               

    7

    2001

    474855

    170496.0

    15029.2

    16218.0

               

    8

    2002

    527056

    200145.0

    16706.1

    19745.6

               

    Trang 7

    GVHD : Trương Bích Phương

    9

    2003

    603688

    239246.0

    20149.3

    25255.8

               

    10

    2004

    701906

    290927.0

    26485.0

    31968.8

               

    11

    2005

    822432

    343135.0

    32447.1

    36761.1

               

    12

    2006

    951456

    404712.0

    39826.2

    44891.1

               

    13

    2007

    1108752

    532093.0

    48561.4

    62764.7

               

    14

    2008

    1436955

    616735.0

    62685.1

    80713.8

               

    15

    2009

    1580461

    708826.0

    57096.3

    69948.8

               

    16

    2010

    1898664

    830278.0

    72236.7

    84838.6

               

    17

    Sơ bộ 2011

    2415204

    877850.0

    96905.7

    106749.9

     
               

    (Đơn vị tính : tỷ đồng)

    3.4. Mô hình hồi quy

    • Mô hình hồi quy tổng thể :

    (PRF)    GDP =      1+  2 I+  3 XK+ β4NK +Vi

    • Mô hình hồi quy mẫu:

    (SRF) GDP =     1  +     2  I+ ˆ 3 XK +       4 NK+ ei  ( ei là ước lượng của Vi)

    Trang 8

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1. Xác định mô hình hồi quy và đọc ý nghĩa các hệ số :

    • Kết quả chạy mô hình từ phần mềm Eviews
    • Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy như sau:

    (SRF)  GDP = 80485,27 + 1,147315I + 31,03140XK – 16,21289NK + ei

    • Ý nghĩa của các hệ số hồi quy:

    Đối với  1 = 80485,27 có ý nghĩa là tổng giá trị Đầu tư, Xuất khẩu, Nhập khẩu đồng thời

    bằng 0 thì GDP đạt giá trị trung bình là 80485,27 tỷ đồng/ năm.

    Đối với  2 = 1,147315 có ý nghĩa là khi Xuất khẩu, Nhập khẩu NX không đổi, tổng giá trị

    Đầu tư tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 1,147315 tỷ đồng /năm.

    Đối với 3 = 31,03140 có ý nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Nhập khẩu không đổi và nếu Xuất khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 31,03140 tỷ đồng /năm.

           Đối với 4 = 16,21289 có nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Xuất khẩu không đổi, Nhập khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP giảm (tăng) 16,21289 tỷ đồng /năm.

    Trang 9

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.2. Kiểm định giả thiết và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

    4.2.1. Hệ số thu được từ hàm hồi quy có phù hợp với lý thuyết kinh tế không ?

    – Kiểm định giả thiết :

    H

    0

    :

    1

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    1    0

    Ta thấy β1 có giá trị kiểm định t = 4,01689 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0015< α=0,05

    • Bác bỏ H01 ≠ 0 Khi I=XK=NK=0 thì GDP ≠ 0 .

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    2

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    2

    0

    Ta thấy β2 có giá trị kiểm định t = 4,029686 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0014< α=0,05

    • Bác bỏ H02 ≠ 0 Đầu tư ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế.

             

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    3

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    3

    0

    Ta thấy β3 có giá trị kiểm định t = 6,911423 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0000< α=0,05

    • Bác bỏ H03 ≠ 0 Xuất khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP   Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế

             

    – Kiểm định giả thiết

    H

    0

    :

    4

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    4

    0

    Ta thấy β4 có giá trị kiểm định t = -3,806839 mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0022< α=0,05

    à Bác bỏ H0 4 ≠ 0 Nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý thuyết kinh tế

    4.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

    – Kiểm định giả thiết :

     

    H 0

    : R

    2

    0

    với mức ý nghĩa α=0,05

     
       
     

    H1

    : R2

    0

     

    ( H0 : Mô hình không phù hợp ; H1 : Mô hình phù hợp )

    Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,995305 có xác suất Pvalue = 0,000000 < α=0,05

    Trang 10

    GVHD : Trương Bích Phương

    Bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy là phù hợp

    4.3. Kiểm định và khắc phục các hiện tượng trong mô hình hồi quy

    4.3.1. Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến:

    4.3.1.1. Nhận biết đa cộng tuyến

    1. Xét hệ số tương quan giữa các biến I, XK, NK: với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên cho thấy:

    • Hệ số tương quan giữa I và XK là 0,984396 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa I và NK là 0,987254 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa XK và NK là 0,994846 > 0,8
    • Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
    1. Hồi quy phụ I theo XK và NK:

    Mô hình hồi quy phụ:

    Ii =     1 +      2 XKi3NKi+Vi

    – Kiểm định giả thiết: Ho: R2 = 0

    H1: R2 ≠ 0, với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 11

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Từ kết quả trên ta thấy F= 274,74 có xác suất Pvalue= 0,000000 nên ta bác bỏ giả thiết Ho:

    R2 = 0. Tức mô hình hồi quy phụ phù hợp. Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

    4.3.1.2. Biện pháp khắc phục:

    1. Sử dụng sai phân cấp 1:
    • Hồi quy D(GDP) theo D(I), D(NK) và D(XK), ta được kết quả như sau:
    • Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,916563, các Pvalue ứng với các hệ số hồi quy của 3 biến D(I), D(XK), D(NK) rất thấp (<0,05). Do đó, cách khắc phục này là hợp lý.
    1. Loại bỏ biến I hoặc XK hoặc NK khỏi mô hình ban đầu.

    Hồi quy lại mô hình trong đó loại bỏ biến I:

    Trang 12

    GVHD : Trương Bích Phương

    Mô hình hồi quy đã loại bỏ XK :

    Mô hình hồi quy đã loại NK :

    • So sánh R2 ở 3 mô hình hồi quy lại ta thấy R2loại XK < R2loại I < R2loại NK. Vậy ta có thể loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.

    4.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi: (Dùng kiểm định White)

    Kiểm định giả thiết: Ho: Phương sai không thay đổi, với mức ý nghĩa α=0,05.

    4.3.2.1. Kiểm định phương sai thay đổi mô hình ban đầu:

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 13

    GVHD : Trương Bích Phương

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 12,13429 có xác suất Pvalue= 0,2058 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng hương sai thay đổi.

    Trang 14

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.3.2.2 Kiểm định phương sai thay đổi mô hình sau khi đã loại bỏ biến

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 10,13299 có xác suất Pvalue= 0,0716 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

    Trang 15

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 5: KẾT LUẬN

    5.1. Kết luận:

    • Tổng giá trị vốn đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011.
    • Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
    • I, XK, NK giải thích được 99,5 % sự biến động của GDP, còn 0,5% là các yếu tố khác chưa biết, chưa đưa vào mô hình.
    • Mô hình ban đầu có hiện tượng đa cộng tuyến và đó là hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, khắc phục bằng cách loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.
    • Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi
    • Có thể bỏ biến NK ra khỏi mô hình trong trường hợp cần thiết.

    5.2. Kiến nghị:

    • Để tăng GDP trong một nước thì phải tăng cường thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
    • Chú trọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, tạo bước chuyển biến trong tái cơ cấu, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện cho DN trong nước phát triển.
    • Để tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu:
    • Ở cấp độ nhà nước đó là sự ổn định về chính trị- xã hội, quan hệ quốc tế tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phương hướng ổn định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
    • Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung – cầu (cả lượng lẫn chất) trên thị trường thế giới cả sản xuất và kinh doanh. Các mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh được thể hiện trước hết ở giá thành hạ, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì phù

    hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được tiếp thị rộng rãi.

    5.3. Hạn chế của bài

    • Có thể đưa thêm một số biến nữa vào mô hình để độ phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên làm như vậy mô hình sẽ phức tạp hơn, có thể sẽ có nhiều khuyết tật hơn gây khó khăn trong việc kiểm định .

    Trang 16

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Do năng lực bản thân của mỗi thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được những đóng góp ý kiến và phê bình của thầy cô và các bạn để chúng tôi kịp thời nắm bắt và củng cố kiến thức.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-L%C6%AF%E1%BB%A2NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

     

    Đề bài

    Cho các biến K,L FDI,GDP

    Xây dựng mô hình    GDP=A. . . . (1)

    Đơn vị:+GDP,A,K là tỷ USD

      +L là triệu người

    Từ mô hình (1) ta chuyển đổi về dạng đơn giản hơn như sau:

    lnGDP=lnA+ .lnK+ .lnL+ .lnFDI+Ui (2)

    Yêu cầu

    1. Chạy phần mềm eview để đưa ra mô hình hồi quy mẫu của (1) và (2). Nêu ý nghĩa của các hệ số.
    2. Mô hình (2) có đa cộng tuyến hay không?
    3. Mô hình (2) có phương sai sai số không?
    4. Mô hình (2) có tự tương quan hay không?
    5. Mô hình (2) có thiếu biến hay thừa biến không?

    Bảng số liệu như sau:

    K

    L

    FDI

    GDP

    12.68300

    11.85000

    1.169000

    57.65000

    24.99720

    2.230000

    63.12000

    112.6000

    47.46720

    2.900000

    138.4000

    204.6000

    54.33880

    2.670000

    189.7000

    222.7000

    71.63640

    50.13000

    31.66000

    294.8000

    72.29580

    10.91000

    77.70000

    357.9000

    85.09000

    12.50000

    45.40000

    335.0000

    86.82240

    4.940000

    41.32000

    326.4000

    89.00000

    45.73000

    29.23000

    222.5000

    94.15420

    22.49000

    37.66000

    431.9000

    98.19600

    20.49000

    90.40000

    467.6000

    115.2140

    16.10000

    60.04000

    523.7000

    127.1411

    7.500000

    450.9000

    638.9000

    142.4500

    37.12000

    69.06000

    519.9000

    199.5616

    108.0000

    21.91000

    845.6000

    211.6368

    10.90000

    246.2000

    766.8000

    280.2800

    17.90000

    398.4000

    1274.000

    290.8950

    45.38000

    236.2000

    1353.000

    329.0020

    99.47000

    214.3000

    1838.000

    335.2680

    23.99000

    133.0000

    1206.000

    370.8000

    24.86000

    294.8000

    1800.000

    392.9010

    30.71000

    1135.000

    2147.000

    402.7440

    75.10000

    271.6000

    2076.000

    419.4960

    22.01000

    439.4000

    1362.000

    427.8690

    27.76000

    697.4000

    2067.000

    521.2720

    43.63000

    763.9000

    2833.000

    942.8700

    516.4000

    67.72000

    2965.000

    1064.497

    66.70000

    88.62000

    4417.000

    2162.160

    146.1000

    1818.000

    13860.00

    2972.146

    803.3000

    758.9000

    7043.000

    BÀI LÀM

     

    1.Xét hàm hồi quy mẫu

    i= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi

    Với 1=lnA

          2=

          3=

        4=

    Bước 1 Nhập số liệu vào eview.

    Bước 2 Tại ô gõ câu lệnh LS log(GDP) C log(K) log(L) log(FDI)

    Sau đó ta có kết quả bảng eview:

    Suy ra MHHQ mẫu:

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Suy ra mô hình (2) :

    • lnGDP =1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi +Ui

    Từ kết quả trên ta được lnA=1,479245 => A= =4.38963

    =0,908368

    =0,008015

    =0,087486

    Suy ra mô hình (1):

    GDP=4.38963. . . .

    * Ý nghĩa của các hệ số

    – 2: khi vốn tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không thay đổi thì GDP tăng lên 0,908368 tỷ USD.

    3: khi số lượng lao động tăng lên 1 triệu người,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,008015 tỷ USD.

    4: khi vốn đầu từ trực tiếp từ nước ngoài tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,087486 USD.

    2.Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    a.Phương pháp R2 cao và ttn thấp

    Từ kết quả mô hình hồi quy thu được ở trên khi chạy eview ta thấy như sau:

    R2=0,973080>0,8àR2 cao

    Các ttn lần lượt là 9.095672 ;0.122274 và 1.615056 đem so sánh với  = =2.056 à Các ttn không đồng thời nhỏ hơn  nên chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    b.Phương pháp hệ số tương quan cặp cao

    Từ cửa sổ chính eview chọn quick/group statistics/correlations. Cửa sổ series list xuất hiện sau đó đưa vào danh sách các biến của ma trận tương quan.

    Ta có kết qủa hiển thị ma trận tương quan như sau:

    Nếu hệ số tương quan cặp giữa các biến giải thích cao ( >0.8) thì có khả năng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.

    Nhìn vào bảng trên thì ta thấy  nhưng lại <0.8.Suy ra chưa thể kết luận được mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    c.Phương pháp hồi quy phụ:

    Hồi quy lần lượt các biến giải thích theo các biến giải thích còn lại.

    Giả sử hồi quy biến FDI theo biến K và L.

    Suy ra mô hình hồi quy lnFDIi= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+vi

    Chạy kết quả eview bằng cách viết công thức vào màn hinh chính

    Ls log(FDI) C log(K) log(L)

    Mô hình hồi quy:

    lnFDIi= + .lnKi .lnLi thu được R2=0.753507.

    Có =0.05 cần kiểm định giả thiết  Ho: R2=0

                                                              H1: R2  0

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F=

    Nếu Ho đúng thì F F(k-1,n-k)

    Ta thấy P-value của thống kê F =0<  .Vậy nên bác bỏ giả thiết cho rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Kết luận:Với mức ý nghĩa   =5% có thể nói rằng  mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.

    3.Phát hiện hiện tượng phương sai sai số

    a.Phương pháp dựa trên biến phụ thuộc

    Bước 1: Ước lượng mô hình ban đầu

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Bước 2: Ước lượng mô hình = 1+ 2ln i2+vi

    Tạo biến , ta được bảng kết quả

    Sử dụng phần mềm tạo lnGDP: vào forecast -> tích vào log(GDP) và điền YF vào forecast name.

    Chạy eview:

    Tại cửa sổ chính vào Quick -> estimate equation -> hiện bảng nhập Ei2 c yf

    Kiểm định giả thuyết:    Ho: R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                           H1: R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F= 2 .Nếu H0 đúng thì F F(1,n-2)

    Nhìn vào bảng eview thấy p-value của ftn=0.038260<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1

    Kết luận với =0.05 thì mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    1. Kiểm định park

    -Hồi quy mô hình gốc thu được phần dư ei.

    + Ước lượng mô hình hồ quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Ki)+vi

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(K))àOK

    Chạy eview ta thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Ki)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.2293>0.05àchấp nhận Ho, bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Li)+vi

    Tương tự

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(L))àOK

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Li)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.1903>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(FDIi)+vi

    Tương tự chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy:Ln ei2= -0.239734.ln(ln(FDIi)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.6867>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    => Kết luận chung Với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuật hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    1. Kiểm định glejser

    Ta đã tạo được phần dư e ở trên nên chỉ phải ước lượng mô hình

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Ki)+ vi để ước lượng

    Tại vị trí gõ lệnh, ta gõ cú pháp sau: ABS(Ei) C log(K)

     Chạy eview thu được bảng

    Suy ra mô hình hồi quy:|ei| = -0.059054 + 0.040758ln(Ki)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.0292<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Li)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.007808 + 0.045048ln(Li)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value= 0.0059<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(FDIi)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.098770 + 0.011792ln(FDIi)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.465119>0.05 suy ra chấp nhận H0 bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    àKết luận chung:Với mức ý nghĩa 0.05 thì chúng ta chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không.

    1. Kiểm định White:

    Ước lượng mô hình hồi quy:ei2= 1+  2ln(K) +  3ln(L) +  4ln(FDI) +  5ln2(K) +  6ln2(L) +  7ln2(FDI) +  8ln(K).ln(L) +  9ln(L).ln(FDI) +  10ln(K).ln(FDI) + ui

     

    Chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình: ei2=0.448595 -0.240865 ln(K) + 0.088626ln(L) + 0.005712ln(FDI) + 0.024483ln2(K) + 0.031051ln2(L) -0.019771ln2(FDI) -0.056395ln(K).ln(L) + 0.003875ln(L).ln(FDI) + 0.034515ln(K).ln(FDI) + ui

    Kiểm định giả thiết:   Ho:R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                        H1:R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định:

    Nếu  đúng thì 

    Nhìn vào bảng ta thấy P-value=0.0485<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1.

    Kết luận với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    4.Phát hiện hiện tượng tự tương quan

    1. Kiểm định d.Durbin – Watson

    Bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, ta có bảng kết quả sau:

     

    Mô hình hồi quy gốc

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Bài toán kiểm định:

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Thay số suy ra:

    Với

    Ta có các khoảng sau:

                0     (1)      dL       (2)        dU       (3)    4-dU       (4)     4-dL         (5)               4

               0                                                2.35                   2.786                    4

    Từ bảng Eview, ta có  nên mô hình không có tự tương quan.

    b.Kiểm định Breush – Godfrey (BG)

    Kiểm định tự tương quan bậc 1

    Từ bảng kết quả eview ta suy ra mô hình hồi quy gốc từ ý 1:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Giả sử có hiện tượng

    Ước lượng mô hình sau đây bằng phương pháp OLS:

    Chạy lại eview bằng cách:

    Từ cửa sổ equation,chọn views/residual test/serial correlation LM test

    Cửa sổ Lag specificationànhập số thời kì p cho biến trễ .kết quả xuất hiện bảng như sau:

    Bài toán kiểm định

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Nhìn vào bảng eview có P-value=0.1361>0.05àchấp nhận H0.

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 1.

    -Kiểm định tự tương quan bậc 2.

    Làm tương tự như trên ta có kết quả eview

    Mô hình hồi quy gốc:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Ước lượng mô hình

    Suy ra

    Bài toán kiểm định 

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Từ bảng kết quả Eview, ta thấy  nên chấp nhận H0,  bác bỏ H1

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 2.

    1. Mô hình thừa biến hay thiếu biến

    a.Kiểm định sự thừa biến

    Bước 1: Ước lượng mô hình (2)

    Log(GDP) C Log(K) Log(L) Log(FDI)

    Từ bảng kết quả ta có mô hình hồi quy

    LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • Kiểm định thừa biến Ln(K)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(K) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết               Ho: 2=0 (biến Log(K) là không cần thiết)

                                 H1: 2≠0 (biến Log(K) là cần thiết)

    Ta thấy Prob(F-Statistic ) = 0 <α = 0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận biến log(K) là biến cần thiết trong mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(L)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(L) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 3=0 (biến Log(L) là không cần thiết)

                             H1: 3≠0 (biến Log(L) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(L) là cần thiết cho mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(FDI)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(FDI) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 4=0 (biến Log(FDI) là không cần thiết)

                             H1: 4≠0 (biến Log(FDI) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(FDI) là cần thiết cho mô hình

    Kết luận chung: Với α= 0.05 mô hình (2) không thừa biến

    1. Mô hình thiếu biến

    –  Bước 1 Sử dụng phần mềm Eviews ta được bảng kết quả

    Hồi quy mô hình(2) ta được mô hình sau:

     LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • = 0.973080
    • Bước 2 Hồi quy mô hình

    LnGDP= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi +  + Vi

    Từ cửa sổ equation => stability test => Ramsey reset test

    Ta được bảng kết quả

    Từ bảng kết quả ta thu được mô hinh

    LnGDP=1.528175+).882845.lnKi+0.007223.lnLi+0.085943.lnFDIi +  

    • = 0.973091
    •  

    Tiêu chuẩn kiểm định

    F= .

    Từ bảng kết quả ta có

    Prob(F-Statistic)=0<  =0.05 nên bác bỏ Ho

    • Chấp nhận Ho, bác bỏ H1
    • Kết luận Với α=0.05 mô hình không thiếu biến

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các  đề cương đại học  hiện có của  Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan : Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I. Đặt Vấn Đề:

    Mạnh mẽ là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của họ. Một phần của chúng tôi, một trong những tài sản của chúng tôi sức mạnh và làm việc ở nước ta

    Trong trọng lượng của chúng tôi, bạn có thể quan tâm và quan trọng. Tối nay, bạn có thể sử dụng NPK, là một trong những vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, nhu cầu, sức khỏe, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh

    Mạnh mẽ, bạn có thể sử dụng NPK.

    II. PHƯƠNG PHÁP

    2.1. Phương pháp

    – trên mạng

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá rẻ NPK cho lúa, thu thập, chăn nuôi, chăn nuôi.

    • Đẹp

    Trong lòng có một phần của họ, phần còn lại, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng của bạn 4 4, một phần lớn

    2.2. Phương pháp văn hóa

    Tôi nhận được một số thứ khác nhau.

    Voi: Y i là cầu hôn NPK của nam tính (kg)

                        X 1 là thu khách và thú tính (triệu đồng / năm)

                        X 2 là NPK (giá đồng / kg)

                        X 3 là tích phục

    Ta có mô hình tổng hợp:

                                              Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3.1.         Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    3.2.         Kết quả và giải thích mô hình   

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT

    Yi

    X1

    X2

    X3

    1

    9.4

    4.3

    4.7

    4.2

    2

    9.7

    5.2

    4.5

    4.6

    3

    10.3

    5.6

    4.6

    5.2

    4

    10.5

    4.9

    4.4

    5.5

    5

    10.9

    6.4

    4.3

    5.8

    6

    11.7

    6.8

    4

    6

    7

    12.1

    6.5

    4.1

    6.2

    8

    12.4

    7

    4.2

    6.3

    9

    12.2

    7.2

    3.9

    6.1

    10

    12.9

    7.5

    3.6

    6.4

    11

    13.4

    7.8

    3.8

    6.9

    12

    13.7

    7.6

    3.7

    7

    13

    13.9

    8.1

    3.5

    7.2

    14

    14.9

    8.3

    3.4

    7.6

    15

    14.2

    8.6

    3.3

    7.4

    16

    15.3

    8.9

    3.1

    7.9

    17

    15.8

    9.3

    3.2

    8.2

    18

    16.3

    9.7

    2.9

    8.6

    19

    17.5

    9.5

    3

    9.1

    20

    16.9

    9.8

    2.8

    8.9

    21

    18.7

    10.2

    2.3

    9.5

    22

    18.1

    10.5

    2.6

    9.1

    23

    18.6

    10.8

    2.5

    9.4

    24

    18.9

    11.2

    2.7

    9.8

    25

    19.7

    11.6

    2.4

    10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

     

    Coefficients

    Standard Error

    t Stat

    P-value

    Lower 95%

    Upper 95%

    Lower 95.0%

    Upper 95.0%

    Intercept

    6.9449215

    2.711499803

    2.561284161

    0.0181912

    1.306048988

    12.58379401

    1.306048988

    12.58379401

    X1

    0.0532633

    0.187956968

    0.283380083

    0.7796603

    -0.33761465

    0.444141173

    -0.33761465

    0.444141173

    X2

    -0.9242324

    0.413411223

    -2.23562481

    0.0363651

    -1.783968087

    -0.064496687

    -1.78396809

    -0.06449669

    X3

    1.3895078

    0.229648716

    6.050579381

    5.272E-06

    0.911927138

    1.867088432

    0.911927138

    1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

                 Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

                Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

                Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

                Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

     

    IV.            KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề cương ôn tập môn khai thác tàu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Đầu tư có vai trò quan trọng, là nhân tố tế quốc dân của mỗi nước, thúc đẩy sự tăng nước.

    quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh trưởng và phát triển nền kinh tế đất

     

    Thực hiện đường lối đổi mới về phát triển kinh tế, trong những năm qua Chính phủ đã đầu tư vốn cho xây dựng cơ bản chiếm khoảng 30 – 35% GDP. Trong năm năm 2001 – 2005, vốn đầu tư xây dựng trong toàn xã hội đạt khoảng 50 tỷ USD, trong đó riêng vốn ngân sách Nhà nước đầu tư khoảng 35 tỷ USD. Hàng chục công trình trọng điểm của Nhà nước đã được đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng, cải tạo, như quốc lộ 1A; đường Hồ Chí Minh; Thủy điện Sơn La; Khu lọc dầu Dung Quất; Khu công nghiệp khí, điện, đạm Cà Mau; các công trình phục vụ SEA Games 22…

     

    Những công trình nói trên cùng với hàng trăm công trình khác đã làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội của đất nước, góp phần quan trọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế đất nước đạt bình quân 7,5 %/năm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của toàn xã hội.

     

    Thực tế tình hình đầu tư của nước ta trong những năm vừa qua đặc biệt là từ năm 2001 – 2006 tăng khá mạnh, song bên cạnh đó chúng ta còn thấy nhiều mặt trái trong hoạt động đầu tư trong đó nổi lên là tình trạng thất thoát, lãng phí. Trong hai năm 2002 – 2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra 31 dự án xây dựng với tổng vốn đầu tư là 17.300 tỷ đồng, thì cả 31 dự án đều có sai phạm với số tiền thất thoát, lãng phí lên đến 2.070 tỷ đồng.Thất thoát, lãng phí trong đầu tư đã làm giảm đáng kể hiệu quả của hoạt động đầu tư. TTLP như là căn bệnh truyền nhiễm lan tràn trên tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội:lãng phí tài nguyên, nguồn nhân lực, chất xám,tài sản,…lãng phí trong nông nghiệp, công nghiệp…và đặc biệt là trong ĐTXDCB đây là một trong vấn đề nhức nhối nhất mà các ngành, các cấp và toàn xã hội đang quan tâm nó kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm trọng. Theo đánh giá chung tỉ lệ thất thoát trong ĐTXDCB chiếm tới hơn 30% tổng số vốn đầu tư tương đương với 20-25 ngàn tỉ mỗi năm. Vậy mà đến nay mặc dù đã có nhiều cải cách nhưng vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế.

     

    Vậy những nguyên nhân nào gây ra thất thoát, lãng phí? biểu hiện của nó ra sao? thực trạng ở nước ta thời gian qua thế nào? Do giới hạn về hiểu biết và thời gian trong bài viết này chúng em xin được chỉ nêu những nội dung chung nhất về TTLP nói chung và chỉ đi sâu vào thất thoát, lãng phí trong ĐTXDCB

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    Chương I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ

    TRONG ĐẦU TƯ

     

    I.                   Khái niệm về thất thoát, lãng phí

     

    Theo pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngày 26/2/1998 thì “Lãng phí là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định. Thất thoát là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất tăng thêm năng lực cho xã hội”.

     

    Qua phân tích những dự án có thất thoát đã được đưa ra ánh sáng, phân tích quy trình đầu tư nhận thấy tiền đầu tư bị thất thoát ở mọi giai đoạn đầu tư và diễn ra nổi lên theo một số dạng sau đây: Nâng giá; Khai khống khối lượng; Bớt vật tư, tráo vật tư…

     

    Cả ba dạng trên, để được thanh toán dĩ nhiên phải có hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ và để tránh bị phát hiện. Do vậy chúng phải hợp pháp hoá, hợp lý hoá hồ sơ, chứng từ ngay từ khâu đầu đến khâu cuối (dự toán, đấu thầu, hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán, giải ngân, kiểm toán). Chúng phải sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối, tinh vi, tạm kể ở đây một số thủ đoạn thông thường sau: hối lộ quan chức, cán bộ, thậm chí bằng cả cách của “maphia”; lợi dụng những sơ hở trong các quy định quản lý; mua bán hoá đơn chứng từ, lập hoá đơn chứng từ giả; tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình; lập các công ty “ma”; liên kết giữa các nhà thầu; làm rối các thủ tục, quy trình triển khai quản lý; thiếu minh bạch, dân chủ trong quản lý dự án; phối hợp chặt chẽ, thông đồng giữa những kẻ có liên quan.

     

    Vì những thủ đoạn gian dối, tinh vi trên nên trong thực tế không dễ gì phát hiện những khoản tiền đầu tư bị thất thoát.

     

    Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí.

     

    Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suất không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểm không hợp lý; Thiết bị và công trình của dư án có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chi phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự án được chi chưa tiết kiệm.

     

    TTLP là hai căn bệnh kinh niên trong đầu tư nói chung và đặc biệt là trong xây dựng cơ bản . Trong sự lãng phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không cần thiết hoặc làm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư

    II.                Nội dung thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

    Có thể hiểu việc thất thoát trong lĩnh vực xây dựng cơ bản là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí, không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn định mức của nhà nước.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu chuẩn bị đầu tư (quy hoạch, quyết định quy hoạch), thiếu lồng ghép giữa các loại quy hoạch, tình hình đầu tư không gắn với quy hoach vùng, địa phương, quyết định đầu tư sai, chất lượng báo cáo nghiên cứu khả thi kém…

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu thực hiện đầu tư : như là khảo sát không đạt yêu cầu dẫn đến thiết kế sai làm chất lượng công trình không đảm bảo phải khắc phục sửa chữa, nhiều trường hợp buộc phải huỷ vì không thể khắc phục được; công tác thiết kế sơ sài, giải pháp thiết kế chưa hợp lý, chậm giải phóng mặt bằng…

     

    Ngoài ra còn có trong các khâu đấu thầu, trong ký kết hợp đồng, trong thi công, quyết toán, nghiệm thu…

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực, chất xám

    Các doanh nghiệp nhà nước lâu nay vẫn được coi là sân sau của bộ máy công quyền trực tiếp liên quan đến doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Con cháu cán bộ lãnh đạo thường được gửi gắm vào những vị trí then chốt trong các công ty nhà nước. Điều này tạo thực tế ở DNNN thừa người không biết làm việc nhưng thiếu người có năng lực. Bên cạnh đó còn vấn đề đạo tạo cán bộ chuyên môn cũng gây ra nhiều bức xúc cho xã hội. Tình trạng đào tạo theo phong trào tràn lan nhưng đào tạo không hợp lý, chất lượng đào tạo thấp nên mặc dù hàng năm chính phủ đã tốn rất nhiều chi phí nhưng nguồn lực này không đáp ứng được nhu cầu cho xã hội

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong việc sử dụng đất, công nghệ,chi tiêu, chi phí trong công tác nghiên cứu lập dự án.

    Đất do DNNN sử dụng đều là những mảnh đất “đắc địa” có giá trị rất lớn nhưng khi tính toán hiệu quả kinh doanh của DNNN người ta lại không tính toán giá trị sử dụng đất vào giá trị DNNN. Điều này làm cho hiệu quả kinh doanh của DNNN được tính không đúng. Nếu tính cả giá trị, giá trị sử dụng đất vào giá trị của DNNN có lẽ nhiều DNNN làm ăn không có lãi.

     

    Thực tế cho thấy có nhiều dự án được cấp đất nhưng vẫn bỏ không do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như chậm giải phóng mặt bằng rồi thiếu vồn…cũng đă gây thất thoát, lãng phí hàng chục tỷ đồng của nhà nứơc trong khi đó giá thuê đất ở Việt Nam vẫn được đánh giá là rất cao trong khu vực và trên thế giới còn người dân thì không có đất canh tác sản xuất.

     

    Thất thoát, lãng phí trong nghiên cứu và sử dụng công nghệ.

     

    \

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Lâu nay người ta vẫn thường kháo nhau rằng: lãng phí trong các đề tài nghiên cứư khoa học rất nhiều nhưng mà… khó nói. Bởi lẽ lãng phí ấy chẳng rõ ràng, cụ thể và cũng chẳng chết ai. Những đề tài nghiên cứu xong chỉ cần qua một vài cuộc bảo vệ, đề tài được nghiệm thu thế là hoàn tất. Còn việc có đi vào cuộc sống hay không thì không cần biết. Thực tế cho thấy nhiều công trình nghiên cứu xong không được sử dụng, chất lượng công trình không cao, không đạt hiệu quả tối ưu,nhiều dự án nghiên cứu xong thì đắp chiếu bỏ đấy không sử dụng nhưng vốn rót vào đầu tư nghiên cứu thì không phải là nhỏ. Hàng năm NSNN phải tốn rất nhiều cho hoạt động này

     

    Trong việc sử dụng công nghệ cũng TTLP đáng kể. Các công nghệ được nhập về hoặc là không được sử dụng hoặc là sử dụng không hợp lý. Tình trạng này một mặt là do ta còn thiều cán bộ KHCN trình độ, kĩ năng chuyên môn thấp nên không tiếp cận được sự phát triển như vũ bão của công nghệ thế giới nên đã cản trở việc ứng dụng CN hiện đại vào sản xuất.

     

    III.             Tác hại của thất thoát và lãng phí trong đầu tư

     

    Thất thoát, lãng phí làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư. Theo số liệu điều tra của Thanh tra Nhà nước 100% các công trình xây dựng cơ bản đều thất thoát 1052 tỷ đồng sai phạm kinh tế trong 995 dự án được thanh tra trên toàn quốc do thanh tra nhà nước, thanh tra của các địa phương, các Bộ ngành. Khoản thu tăng thêm cho ngân sách nhà nước (NSNN) là lấy từ phần GDP tăng thêm hằng năm. Trong khi đó để có được 1 đồng tăng thêm cho NSNN xã hội phải tốn kém một khoản tiền đầu tư nhiều gấp gần 5 lần. Sự yếu kém trong quản lý đầu tư, dàn trải thất thoát trong xây dựng cơ bản làm mỗi năm cả nước mất đi từ 1-2% tăng trưởng GDP. Vì vậy thất thoát và lãng phí mất mát trên thực tế còn lớn hơn nhiều những cái mà chúng ta đo đếm được.Thất thoát lãng phí đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước giảm uy tín cùa Việt Nam trước cộng đồng quốc tế nhất là trước các nhà đầu tư, tài trợ. Chỉ tiêu thất thoát, lãng phí của Việt Nam xếp thứ 97 trên hơn 100 nước làm các nhà đầu tư ngần ngại khi rót vốn vào nước ta.

     

    IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Nhân tố khách quan
    1. Do đặc điểm của hoạt động đầu tư

    Sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, nơi hoạt động gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu nên nếu công tác khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ dẫn đến lãng phí nghiêm trọng vì kết cấu kỹ thuật không phù hợp và chất lượng công trình kém.

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, có kết cấu phức tạp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài. Do đó vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí hoặc nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn kéo dài thời gian xây dựng, công trình bị bỏ hoang làm gia tăng thất thoát, lãng phí.

     

    Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, tuổi thọ cao nên sai lầm trong xây dựng sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị ( chi phí xây dựng dự án) và chất lượng dự án.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    1. Do cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, đường sá giao thông, điện nước còn hạn chế nên dẫn đến không đảm bảo tiến độ thi công, cản trở công tác thực hiện đầu tư.
    1. Vấn đề giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập dẫn đến chậm bàn giao mặt bằng làm tiến độ thi công dự án chậm chạp gây thất thoát, lãng phí.
    1. Nhân tố chủ quan

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu nhiều nhưng vẫn còn nhiều sơ hở, không là một hệ thống ban hành đồng bộ và thường xuyên thay đổi; chủ quan duy ý chí trong đầu tư tạo ra kẻ hở cho người thi hành vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân.

     

    Do sự vận hành chính sách cơ chế quản lý của Nhà nước gây ra, Nhà nước đã ban hành Bộ luật Xây dựng nhưng cũng chưa quy định rõ nguyên tắc đầu tư dẫn đến tình trạng phổ biến là tất cả các khâu tham gia trong một công trình đều thuộc một cơ quan theo dõi và quản lý, việc tổ chức thực hiện thường theo một chu trình khép kín từ khâu thiết kế thi công, đến giám sát đấu thầu, nghiệm thu đều do một bộ hoặc một cơ quan, một tổ chức đảm nhiệm, trọng tài là người cùng đơn vị, hiện tượng vừa “đá bóng, vừa thổi còi” thì làm sao đảm bảo tính khách quan, trung thực được? Vì vậy, vai trò của giám sát tư vấn coi như bị xoá sổ. Nghị định về quy chế đấu thầu mới trong xây dựng cơ bản cũng chưa có quy định rõ ràng, rành mạch, dẫn đến tình trạng ở nước ta, ai cũng có thể trở thành chủ đầu tư, hay trưởng ban quản lý dự án, bất kể là họ có chuyên môn về lĩnh vực xây dựng cơ bản hay không?

     

    Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp nhiều chồng chéo, không quy rõ trách nhiệm, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị và khép kín. Chính sách về tài chính thiếu ổn định, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư không thống nhất và thiếu nhất quán.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư nguyên nhân chủ yếu là do con người. Nói về nguyên nhân chủ yếu của lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng,

    nhiều nhà quản lý thường đổ lỗi là do “cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư xây dựng chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; do sự bất cập giữa thể chế nhà nước với quy luật của thị trường và xã hội; do thể chế tổ chức và quản lý doanh nghiệp chưa theo kịp các cải cách về luật lệ và chính sách kinh tế…”. Điều đó cần phải được nhìn nhận lại.

     

    Có đúng là tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua do nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế, chính sách hay không? Chúng ta hãy quay lại thời kỳ bao cấp cách đây hơn chục năm, lúc ấy làm gì có đầy đủ các văn bản pháp luật như bây giờ. Các công trình xây dựng từ ngân sách nhà nước, nếu để xảy ra lãng phí vài khối bêtông, vài tấc gỗ, công nhân lấy vài “cặp lồng” ximăng, vài thanh sắt, đã bị lên án, bị kỷ luật rất nặng chứ đâu có chuyện thất thoát, lãng phí lớn và nghiêm trọng như hiện nay. Phải chăng nếu những người có chức, có quyền trong quản lý đầu tư xây dựng có tâm trong sáng, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, không tiêu cực, tham nhũng chắc chắn sẽ không xảy ra lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng như những năm vừa qua.

     

    Mỗi dự án đầu tư đều được những nhà chuyên môn tư vấn nghiên cứu tính toán kỹ qua nhiều bước, được nhiều cấp thẩm định, xét duyệt, được bàn kỹ trong

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tập thể lãnh đạo trước khi quyết định và quyết định rồi mới đến đấu thầu rồi triển khai thực hiện. Song song với các quá trình đó đều có sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan chức năng theo từng lĩnh vực quản lý. Chúng ta cũng có hệ thống định mức, dự toán XDCB, có hệ thống các tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật tương đối đầy đủ để làm căn cứ tính toán và xem xét. Thế nhưng tình trạng lãng phí vẫn diễn ra ở nhiều dự án với mức độ được công luận đánh giá là “thật kinh khủng”. Vậy tại sao?

     

    Câu trả lời tại sao thất thoát, lãng phí trước hết là do chủ quan của các đối tượng tham gia có ý đồ trục lợi,cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân; nếu không chỉ có thể là: buông lỏng quản lý; quản lý chưa khoa học; năng lực của tổ chức tư vấn, của nhà thầu xây dựng và của cán bộ quản lý dự án còn hạn chế dẫn đến tính toán đầu tư, xây dựng chưa hợp lý.

     

    Những dự án nào có thất thoát, lãng phí thì chắc chắn ở đó công tác quản lý bị buông lỏng, quản lý chưa khoa học và gần chắc chắn có những sai phạm về trình tự thủ tục, sai phạm về quy chế đấu thầu; sai phạm kỹ thuật thiết kế và thi công; vi phạm về nghiệm thu; vi phạm thanh quyết toán và có tiêu cực xảy ra ở phía chủ đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung cấp. Ngược lại có vi phạm và tiêu cực thì có thất thoát, lãng phí, và buông lỏng quản lý.

     

    Báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về số liệu thất thoát, lãng phí còn ở mức độ rất hạn chế, chủ yếu căn cứ vào công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Trên thực tế, khó định lượng một cách chính xác số liệu về thất thoát, lãng phí. Tỉ lệ lãng phí, thất thoát 20%-30% mà dư luận xã hội hoặc một số chuyên gia đưa ra chưa đủ để khẳng định nhưng cũng đủ để thấy tính chất rất nghiêm trọng của tình hình. Một số dự án, công trình bị thất thoát lớn do tham nhũng. Tình trạng lãng phí, thất thoát do vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều lĩnh vực, địa phương. Đó là hiện tượng “thông đồng”, “móc ngoặc”, “chạy thầu”, “vây thầu”, “quân xanh, quân đỏ”… để được trúng thầu. Trong số các dự án đã thanh tra, các sai phạm trong quá trình đấu thầu thường là hưởng chênh lệch do bán thầu, nhượng thầu, thu phí nhà thầu sai chế độ, điều chỉnh giá trúng thầu sai quy định, bỏ thầu quá thấp, sau đó tạo cớ điều chỉnh, bổ sung, kéo dài thời gian thi công… Tình trạng này còn xảy ra trong các dự án thuộc nguồn vốn của doanh nghiệp Nhà nước, như đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm thiết bị, ô tô không đúng quy định, không tương ứng với kết quả sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư làm thất thoát lớn như trong các tổng công ty dầu khí, bưu chính viễn thông, thủy sản.

     

    Các cơ quan chức năng rất coi nhẹ việc cần làm rõ trách nhiệm của các đơn vị thiết kế thi công và tư vấn giám sát các công trình, thường thì chỉ khi nào báo chí vào cuộc, nêu cụ thể thì họ mới bắt tay tiến hành điều tra, khảo sát, thiết kế.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

     

    I. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

    Thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có thể hiểu là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn, định mức quy định của nhà nước.

     

    Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xảy ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư.

     

    Theo báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội trong những năm 2001 – 2005, trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; 198 dự án, công trình vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; 415 dự án, công trình vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án, công trình vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng.

     

    Báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí, thất thoát cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp, chất lượng kém (đặc biệt là các công trình của chương trình 135); 25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng, riêng Công trình đường Thạch Yên – Công Sự của tỉnh Kiên Giang thất thoát tới 58,6% vốn đầu tư…

     

    Nhiều dự án do không làm tốt công tác điều tra, khảo sát các báo cáo tiền khả thi báo cáo, khả thi sơ sài, không chính xác, công tác thẩm định yếu kém, chiều theo ý người quyết định đầu tư, dẫn đến lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp: Chợ không có người họp, cảng không có tàu cập bến hoặc công suất sử dụng thấp, nhà máy không có nguyên liệu phải sản xuất cầm chừng hoặc phải di dời…Theo số liệu quan sát đầu tư 9 tháng đầu năm 2005 của hơn 5000 dự án thuộc các bộ, ngành của hơn 10 địa phương thì có tới hơn 15% dự án đang thi công thì phải điều chỉnh mức đầu tư.Nhiều dự án kéo dài thời gian thực hiện quá lâu như theo số liệu thống kê năm 2005 có tới hơn 960 dự án nh óm B &C bố trí quá thời hạn qui định trong đó 230 dự án nhóm B bố trí kéo dài quá 4 năm, 730 dự án nhóm C kéo dài hơn 2 năm chưa đ ược khắc phục.

     

    Tình hình cụ thể ở các khâu như sau:

     

    1.1 Thất thoát, lãng phí do đầu tư không có quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch thấp

     

    Quy hoạch là sự sắp xếp, bố trí hợp lý giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất xã hội phải phân công lại lao động xã hội hợp lý trên các vùng lãnh thổ đất nước. Do vậy quy hoạch phải đi trước một bước. Trong nhiều năm qua, tuy công

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tác quy hoạch đã được chú ý, hàng năm Chính Phủ đều bố trí vốn đầu tư cho công tác quy hoạch, song thực tế quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước để làm căn cứ xác định địa điểm xây dựng cho dự án đầu tư nên không ít dự án lớn, quan trọng của nhà nước khi ra quyết định về chủ trương đầu tư đã thoát ly quy hoạch nên thiếu chính xác. Vì thế trong thực tế có không ít dự án khi xây dựng không có quy hoạch tổng thể được phê duyệt nên trong quá trình triển khai thực hiện dự án phải rời đi rời lại gây tổn thất lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp. Qui hoạch chưa sát thực tế, còn chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏa đáng yếu tố môi trường xã hội.

     

    Việc bố trí nhiều sân bay, bến cảng gần nhau mà chưa tính hết sự gắn kết trong việc khai thác hiệu quả tổng hợp, kết cấu hạ tầng hiện có chưa phù hợp với khả năng phát triển kinh tế và nguồn vốn đầu tư dẫn đến nhiều đoạn đường, cảng biển, cảng sông, cảng sân bay khai thác hiệu quả thấp.

     

    Quy hoạch phát triển ngành giao thông đến năm 2010 cần đến 300.000 tỷ đồng thiếu tính khả thi, không phù hợp với nhu cầu khai thác và huy động vốn. Vì vậy 5 năm qua mới huy động khoảng 60.000 tỷ đồng ( 20%).

     

    Trong công nghiệp, qui hoạch ngành chưa thống nhất qui hoạch vùng, địa phương. Một số dự án không nằm trong qui hoạch vẫn được các điạ phương phê duyệt, triển khai.

    – Một số địa phương quyết định đầu tư dự án sản xuất thép có công suất thấp không theo qui hoạch, vùng Bắc Giang qui hoạch nhà máy bột giấy 200 ngàn tấn/năm, ván nhân tạo 300 ngàn tấn/năm trong khi trước đó 3 năm đã có qui hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vùng cung cấp gỗ mỏ 255 ngàn m3/năm. Dự án nhà máy bột giấy Kon Tum công suất 130 ngàn tấn/năm (giai đoạn I), 260 ngàn tấn/năm (giai đoạn II) được phê duyệt trước khi phê duyệt vùng nguyên liệu giấy nay phải ngừng triển khai theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

     

    – Qui hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương còn tràn lan, chưa cân đối, chưa có sự phối hợp tốt với các Bộ, ngành trong việc xây dựng qui hoạch tổng thể, giữa khu công nghiệp với khu ngoài hàng rào khu công nghiệp về giao thông, nhà ở công nhân, tập trung quá gần khu đô thị … ở nhiều địa phương nhiều dự án chưa quan tâm đến việc xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường.

     

    Trong nông nghiệp nhiều trường hợp qui hoạch đầu tư nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, rau quả chưa gắn kết hoặc không phù hợp với vùng nguyên liệu và thị trường, điển hình là các nhà máy đường xây dựng xong không đủ nguyên liệu bị thua lỗ hoặc phải di chuyển đi nơi khác. Nhiều dự án đầu tư nhà máy chế biến rau quả, hải sản công suất khai thác rất thấp hoạt động không có hiệu quả.

     

    Qui hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng cơ sở ở các địa phương thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp giữa các ngành giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoát nước… làm cho hạ tầng giao thông thường xuyên bị đào bới, hư hại gây lãng phí lớn.

     

    Hệ thống bệnh viện Trung ương tại các thành phố lớn quá tải, các địa phương đều đầu tư xây dựng đài phát thanh truyền hình nhưng thời lượng sử dụng và chương trình nội dung rất hạn chế.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, qui hoạch phát triển và đầu tư chưa được chú trọng thỏa đáng, qui hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch triển khai chậm, vốn đầu tư còn thấp, còn vướng mắc với qui hoạch khác vì vậy đã hạn chế khai thác lợi thế và chương trình quốc gia về du lịch…

     

    1.2 Thất thoát, lãng phí trong khâu xác định chủ trương đầu tư

     

    Sai lầm trong chủ trương đầu tư, bắt nguồn từ qui hoạch sai hay không có qui hoạch, chất lượng báo cáo tiền khả thi thấp, thường “bỏ qua điều tra xã hội học, môi trường, các công trình hạ tầng hoặc điều tra không kỹ thị trường tiêu thụ và các yếu tố cho sản xuất kinh doanh”.

     

    Sai lầm trong quyết định đầu tư bắt nguồn từ chủ trương đầu tư sai: đầu tư theo “phong trào”, theo ý muốn chủ quan, chạy theo thành tích, và còn do sai lầm trong lập và thẩm định báo cáo khả thi dẫn đến sai lầm trong việc chọn địa điểm đầu tư, xác định qui mô đầu tư không phù hợp, không đồng bộ, lựa chọn công nghệ sản xuất không phù hợp hoặc lạc hậu.

     

    Các sai lầm thiếu sót trong quyết định đầu tư dẫn đến hậu quả:

     

    – Công trình xây dựng xong đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội, thậm chí không có hiệu quả (nhà máy không có đủ nguyên liệu, chợ không có người họp, cảng không khai thác hết công suất,…)

     

    – Công trình xây dựng với chi phí quá cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao, không đủ sức cạnh tranh hoạt động cầm chừng càng sản xuất càng lỗ.

     

    Định hướng đầu tư, xác định khả năng hiệu quả đầu tư, tính khả thi của dự án xây dựng, đây là công đoạn ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả đầu tư. Chủ trương đầu tư sai chiếm tới 60 đến 70% số thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Có thể mất trắng toàn bộ vốn và gây hậu quả lâu dài cho khu vực và xã hội có thể lớn hơn rất nhiều lần so với vốn trực tiếp đầu tư cho công trình ban đầu. Ví dụ:Chi phí ước tính cho sân bay Long Thành – Đồng Nai là 8tỷ USD.

     

    Việc đầu tư theo phong trào dẫn đến hiệu ứng xi măng và các nhà máy đường mọc lên ở khắp mọi nơi tuy nhiên một số nhà máy khi xây dựng không tính toán hết các điều kiện và nguyên liệu để hoạt động. Chẳng hạn: nhà máy đường Quảng Bình đến hết năm 2002 lỗ khoảng 136 tỷ đồng chưa kể khoản vay khó trả để xây dựng nhà máy là trên 170 tỷ đồng.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu quyết định đầu tư thường bắt nguồn từ việc xác định mục tiêu đầu tư dự án do không được chủ đầu tư cân nhắc, tính toán trước khi xây dựng nên khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chủ đầu tư mới nhận thấy công trình phát huy không hiệu quả.

     

    Ví dụ: tại một số địa phương đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để cải thiện và xây dựng mới một loạt chợ như chợ đầu mối Đền Lừ với số vốn đầu tư hơn 10 tỷ đồng, chợ đầu mối Hải Bá (Đông Anh) đầu tư 13 tỷ đồng…

     

    1.3. Thất thoát, lãng phí trong khâu thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán

     

    Tình trạng phê duyệt lại nhiều lần là khá phổ biến hiện nay, thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp pháp hoá các thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh. Chẳng hạn tổng mức đầu tư của dự án cầu Sông Danh phải điều chỉnh 3 lần trong quá trình thực hiện (năm 1995 là 186 tỷ đồng, năm 1998 là 239 tỷ đồng và năm

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2000 là 257 tỷ đồng); hay gần đây nhất là dự án đầu tư xây dựng TTGD – LĐXH Hải Phòng qua 3 lần điều chỉnh dự án đã bổ sung, điều chỉnh cả về quy mô và tổng mức đầu tư, tăng 49 tỷ 210 triệu đồng, đưa tổng mức đầu tư từ 72tỷ 482triệu đồng lên 121tỷ 692 triệu đồng (tăng 67,8%). 3 lần điều chỉnh dự án đều là do công tác khảo sát lập dự án không đến nơi đến chốn.

     

    Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, dẫn đến ở một vài dự án có giá trị trúng thầu cao hơn có giá trị thực tế do tính toán sai khối lượng.

     

    1.4 Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong khâu kế hoạch hoá đầu tư Trong những năm qua mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng tình trạng đầu tư

    dàn trải trong bố trí kế hoạch của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố vẫn chưa được khắc phục triệt để. Tình trạng này được tích tụ nhiều năm gây thất thoát, lãng phí lớn. Chẳng hạn, tổng dự toán của các công trình giao thông được đưa vào kế hoạch năm 2004 gấp hơn 10 lần số vốn bố trí trong kế hoạch do đó chỉ có một số công trình được tập trung vốn để hoàn thành sớm còn lại là kéo dài.

     

    Việc bố trí danh mục các dự án còn quá phân tán, hàng năm số dự án đưa vào kế hoạch đầu tư quá lớn. Theo số liệu Bộ tài chính công bố, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2005 có 19 dự án với tổng vốn là 125 tỷ đồng chưa có quyết định đầu tư mà đã được ghi vào danh mục đầu tư. Có 336 dự án với tổng vốn là trên 1000tỷ chưa phê duyệt tổng dự toán nhưng cũng được ghi vào.

     

    Bố trí kế hoạch không đồng bộ,còn mang tính “xin cho”, cũng theo số liệu trên, 16 dự án nhóm C đã thực hiện quá 2 năm (quy định không được quá 2 năm), 30 dự án nhóm B quá 4 năm (quy định không được quá 4 năm) cũng được ghi vào kế hoạch đầu tư.

     

    1.5 Thất thoát, lãng phí trong đấu thầu xây dựng

    Đấu thầu có thể được hiểu là một cách thức mua sắm (hàng hoá, công trình, dịch vụ) mà trong đó người mua tiến hành lựa chọn người bán theo một quy trình nhất định, quy trình này được áp dụng cho tất cả các hoạt động mua bán của người mua trong một thời gian dài. Đây là một phương thức tiến bộ tuy nhiên trong thực tế ở nước ta hiện nay, đất thầu đã và đang bộc lộ nhiều tiêu cực. Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu khí…

     

    Tình trạng không tuân thủ quy chế đấu thầu như dự án mở rộng cảng Cái Lân(Quảng Ninh), cơ quan chức năng đã phát hiện tổng số sai phạm lên đến 36,7 tỉ đồng. Trách nhiệm chính thuộc về Bộ GTVT, Cục Hàng hải VN. Trong đó, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến (bị can trong vụ án PMU18) phải chịu trách nhiệm về 6 tỉ đồng thất thoát.

     

    Tại gói thầu số 1 có tổng vốn đầu tư theo giá trúng thầu 510,1 tỉ đồng nhưng qua thanh tra đã phát hiện 26,1 tỉ đồng sai phạm ở các khâu thuộc quá trình đấu thầu. Cụ thể, chủ đầu tư đã đưa các nhà thầu không đủ tiêu chuẩn vào giai đoạn 2 nhưng không báo cáo Bộ GTVT. Kết quả là nhà thầu Penta Ocean dù không đủ tiêu chuẩn vẫn trúng thầu. Sau khi trúng thầu, nhà thầu này ký với 36 nhà thầu phụ

     

    10         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tham gia dự án trong khi hồ sơ mời thầu qui định chỉ được phép ký với một nhà thầu phụ VN.

    Trong việc mời thầu hợp đồng tư vấn của dự án với tổng giá trị 98,4 tỉ đồng, chủ đầu tư đã chấm cho Công ty tư vấn Nippon Koei trúng thầu mà không cần đấu thầu.

    Có sự móc ngoặc giữa hai bên A và B để tính phát sinh khối lượng, rút tiền của dự án. Tiêu biểu là vụ tiêu cực ở Vietsovpetro đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu do những cán bộ có chức vụ quyền hạn thuộc xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô và công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) thuộc tổng công ty dầu khí Việt Nam thực hiện. Cụ thể như sau: đầu tháng 11/1999 biết tin liên danh PTSC/Corall trúng thầu nhưng chưa công bố chính thức, Dương Quốc Hà (phó tổng giám đốc Vietsovpetro) là phó hội đồng xét thầu đã gặp Nguyễn Quang Thường (phó tổng giám đốc tổng công ty dầu khí Việt Nam) thống nhất nâng giá bỏ thầu từ 15,5 triệu USD lên 16,9 triệu USD để rút tiền vênh hơn 1,2 triệu USD chia nhau.

     

    1.6 .Thất thoát, lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng

     

    Công tác đền bù giải phóng mặt bằng chưa chấp hành đúng các quy định của nhà nước ở một số dự án như dự án khôi phục và phát triển hệ thống thuỷ lợi khu vực miền trung và thành phố Hồ Chí Minh, các hồ sơ đền bù thiếu và không đảm bảo so với quy định nhưng đã chi phí đền bù 39 tỷ đồng. Ban quản lý cho tiến hành xây dựng trong khi công tác đền bù cũng chưa hoàn thành nên khi dân khiếu kiện phải dừng thi công gây thiệt hại gần 400 triệu đồng.

     

    Theo các chi cục thuế, đến thời điểm thanh tra 10/2004 nhiều đơn vị còn nợ tiền sử dụng đất như công ty đầu tư và xây dựng TNXP Cinco nợ hơn 60 tỷ đồng công ty xây dựng và kinh doanh nhà Phú nhuận nợ trên 26 tỷ đồng.

     

    Lại có những dự án sau khi giải phóng mặt bằng xong lại bỏ không, không đầu tư xây dựng. Chẳng hạn dự án đầu tư cụm khách sạn 5 sao – trung tâm hội nghị quốc tế và cao cố văn phòng ở đường Lý thường kiệt tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là dự án được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế thu hồi đất cấp cho công ty bất động sản Sông Đà để đầu tư xây dựng. Sau khi được giao đất công ty này đã san lấp mặt bằng và rào chắn bằng một hệ thông tôn bao che. Tuy nhiên tiến độ xây dựng công trình thì được triển khai một cách chậm chạp và đến nay thì dừng hẳn.

     

    1.7. Thất thoát và lãng phí trong khâu tổ chức thực hiện

     

    Thất thoát và lãng phí ở khâu này được coi là rất nghiêm trọng.Việc bớt liệu trong quá trình xây dựng làm cho các công trình không đảm bảo chất lượng khi đưa vào sử dụng. Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp. Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng.

     

    Tiến độ xây dựng công trình chậm diễn ra phổ biến nhiều dự án đã làm tăng chi phí lên nhiều tỷ đồng. Theo thanh tra nhà nước thì có tới nửa các dự án thanh

     

    11         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tra kiểm tra chậm tiến độ. Chỉ riêng dự án đường vành đai 3 ở Hà nội, việc chậm tiến độ đã làm phát sinh thêm khoảng trên 1000 tỷ đồng đầu tư. Hay là dự án xây dựng quốc lộ 5 sử dụng vốn JBIC Nhật Bản do bàn giao mặt bằng chậm nên nhà nước đã phải bồi thường cho nhà thầu hơn 570 triệu yên Nhật.

     

    1.8. Thất thoát và lãng phí trong khâu nghiệm thu thanh toán

     

    Công tác nghiệm thu thanh toán thường căn cứ theo thiết kế dự toán được duyệt. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp tình trạng nghiệm thu thanh toán không đúng khối lượng thực tế, không đúng chế độ, đơn giá thực tế và chủng loại vật tư. Việc làm này đã làm tăng giá trị công trình không đúng chế độ, thoát ly thực tế, gây ra thất thoát và lãng phí vốn. Như dự án trung tâm triển lãm văn hoá nghệ thuật Việt Nam thất thoát và lãng phí gần 450 triệu đồng, dự án trung tâm sách VN gần 311 triệu đồng, dự án nhà hát lớn Hà Nội khoảng 12.418 triệu đồng…

     

    Công tác thanh toán vốn đầu tư còn chậm, thủ tục rờm già, các đơn vị nhận thầu phải làm thủ tục quá nhiều để được cấp vốn. Hiện tượng này đã tạo khe hở cho những tiêu cực, gây ra thất thoát lãng phí.

     

    1.9. Thất thoát lãng phí trong khâu quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn

     

    thành

     

    Công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là cửa cuối cùng trong dây chuyền quản lý vốn đầu tư. Nhiều dự án sau khi làm báo cáo quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán trước khi phê duyệt quyết toán đã phát hiện một số khoản thanh toán sai định mức, đơn giá không phù hợp với chế độ nhà nước quy định… Cần phải thu hồi của các nhà thầu. Nên không thực hiện quyết toán hoặc chất lượng quyết toán thấp gây thất thoát lãng phí lớn vốn của nhà nước. Thực tế công tác này ở các cấp, ngành địa phương thực hiện chưa nghiêm, làm chậm.

     

    Các công trình thuộc dự án phát triển THCS của tỉnh Đồng Tháp là một trong những ví dụ điển hình. Giá trị chủ đầu tư đề nghị quyết toán so với giá trị hợp đồng xây lắp chênh nhau hơn một tỷ đồng. Công trình xây dựng trường cấp 2, cấp 3 tại huyện Bảo Lạc, Cao Bằng, dự toán thừa nhưng lại thiếu một số hạng mục; giám sát, tư vấn lỏng lẻo dẫn đến quyết toán sai hơn 165 triệu đồng.

     

    Qua kết quả tổng hợp tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư trong cả nước trên đây có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá như sau:

     

    • Một trong những ý nghĩa quan trọng của công tác quyết toán vốn đầu tư là thông qua công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư để xác định được khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện hàng năm; đồng thời, xác định được năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do kết quả đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động, sử dụng kịp thời và phát huy hiệu quả vốn đầu tư trong cả nước.
    • Giai đoạn từ năm 1994 đến hết năm 1999: bình quân mỗi năm thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư được khoảng 6.200 dự án; tương đương với số vốn đầu tư được quyết toán là 7.933 tỷ đồng; phát hiện được nhiều khoản chi không đúng qui định, mỗi năm tiết kiệm được trên 150 tỷ đồng (2% tổng số vốn đầu tư được quyết toán).
    • Số dự án hoàn thành chưa được thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư do tồn đọng luỹ kế từ trước đến nay vẫn còn khá nhiều. Tổng số dự án hoàn thành chưa phê duyệt quyết toán vốn đầu tư luỹ kế đến 31/12/2001 là: 13.364 dự án; với tổng số vốn là 35 nghìn tỷ đồng

    12         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư (theo Chỉ thị 11/TTg của Thủ tướng Chính phủ) của nhiều đơn vị trong cả nước chưa nghiêm túc.

    Thực tế ở nước ta hiện nay còn có rất nhiều công trình xây dựng mà thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu không chỉ ở trong các dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ phát triển kinh tế mà ngay cả trong những dự án xây dựng trường học, bệnh viện, thể thao…Một ví dụ nhỏ về 1 vụ thất thoát trong xây dựng nhà thi đấu thể thao cũng đủ cho ta thấy tình trạng này d iễn ra nhức nhối đến thế nào. Thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu gây thiệt hại lớn đến nguồn ngân sách của nhà nước.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố Hà Nội, Nhà thi đấu Gia Lâm – công trình phục vụ SEA Games 22 đã bị thất thoát hơn 2,2 tỷ đồng.

     

    Bị “rút ruột” nghiêm trọng:

     

    Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp.

     

    Ngay sau khi SEA Games 22 kết thúc, nhiều nguồn tin đã phản ánh, một số công trình phục vụ cho kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á bị xuống cấp và có hiện tượng gian lận trong thi công. Chỉ sau một thời gian ngắn, Thanh tra Nhà nước thành phố đã làm rõ hàng loạt những sai phạm tại nhiều công trình, trong đó có công trình Nhà thi đấu Gia Lâm. Chỉ riêng ở công trình này, số tiền thất thoát đã lên đến hơn 2,232 tỷ đồng. Đáng chú ý là trong 7 gói thầu, chỉ duy nhất có gói thầu lắp đặt hệ thống PCCC là không có sai phạm.

     

    Sai phạm nhiều nhất ở công trình này là ở gói thầu số 2. Đơn vị được phép thi công là Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội với giá trúng thầu là 15,57 tỷ đồng, bao gồm: Thiết kế kỹ thuật, thi công nhà thi đấu, xây dựng tường rào, hạ tầng kỹ thuật, san nền…

     

    Ngay sau khi trúng thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đã giao cho Cty Xây dựng số 9 đảm nhiệm thi công và Cty lại giao cho Xí nghiệp II (thuộc Cty) trực tiếp thi công. Theo quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội phải hoàn thành gói thầu trong thời gian là 305 ngày, chậm nhất đến tháng 7/2002 phải hoàn thành. Song, do sự lòng vòng chuyển giao các đơn vị thi công và có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình thi công nên đến ngày 18/11/2003, gói thầu mới được nghiệm thu, bàn giao.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng

     

    Về phía BQL dự án, hồ sơ mời thầu còn quá nhiều kẽ hở để các bên thi công lợi dụng “rút ruột” công trình. Cụ thể, một số nội dung chi tiết như khối lượng bê tông, khối lượng san nền đã không được tính toán cụ thể, thậm chí còn sót, chưa đưa vào dự toán như khối lượng xây thu hồi, khối lượng lan can, trần thép, thạch cao… và không nêu rõ quy cách, phẩm cấp vật tư thi công. Chính vì vậy đã xảy ra

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tình trạng, bên thi công không hề làm mà vẫn được thanh toán 4.280m3 cát san nền với số tiền là 129 triệu đồng.

    Đối với xi măng xây dựng, theo hợp đồng thì đơn vị thi công phải bảo đảm sử dụng xi măng Bỉm Sơn, nhưng trong thực tế, đã có một lượng lớn các loại xi măng có phẩm cấp thấp hơn, giá rẻ hơn được đưa vào sử dụng tại công trình. Thế mà toàn bộ các hạng mục trên đều được nghiệm thu, thanh toán.

     

    • gói thầu số 3, gói thầu về dàn mái không gian, đơn vị trúng thầu vẫn là TCty Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội, giá trúng thầu là hơn 4,2 tỉ đồng. Sau khi trúng thầu, đơn vị này cũng không trực tiếp thi công mà lại giao lại cho Cty Xây dựng số 9. Cty Xây dựng số 9 đã liên danh với Công ty cổ phần kết cấu không gian TADITS để thực hiện. Khi phát hiện TADITS không đủ năng lực thi công, Cty Xây dựng số 9 lại quay sang ký lại hợp đồng với Cty Cơ khí Đông Anh.

    Có được bản hợp đồng, Cty Cơ khí Đông Anh tiếp tục chuyển cho Xí nghiệp giao thông 8 thực hiện phần chế tạo, lắp dựng mái. Mặc dù các bản hợp đồng được chuyển qua nhiều “tay” nhưng theo kết luận thanh tra thì đơn vị nào cũng có “lãi”, chỉ có Nhà nước là “lỗ” trên 415 triệu đồng ở gói thầu này.

     

    Xuống cấp thảm hại:

     

    Chính vì những thất thoát trong mọi khâu, đến nay công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm đã xuống cấp rõ rệt. Cụ thể là sàn sảnh tầng 2-3 của khán đài B đã bị thấm dột, nước mưa không chảy vào phễu mà lại chảy ngược vào phía trong sàn thi đấu. Hệ thống van phao bể nước tầng trên cũng gần như bị “tê liệt”, không tự động đóng khi nước đầy; các vách kính tấm lớn yếu. Nguy hiểm hơn là hệ thống điện tầng áp mái được lắp đặt phức tạp, các ổ cắm điện không bảo đảm chất lượng và đã bị hư hỏng nhiều, có nhiều nguy cơ cháy, chập…

     

    Như vậy, với một công trình có vốn đầu tư trên 37 tỉ đồng đã thất thoát tới 8% tổng giá trị. Đây là một trong những công trình có tỉ lệ thất thoát cao ở Hà Nội và có những sai phạm nghiêm trọng ở nhiều khâu mà trước hết thuộc về chủ đầu tư. Điều này cũng thể hiện sự buông lỏng quản lý, yếu kém về năng lực trong thực hiện dự án, không chỉ riêng ở công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm.

     

    Trong thời gian gần đây dư luận cả nước đang xôn xao vì vụ 1 vụ tham nhũng lớn nổi tiếng được phanh phui vụ PMU18- gây thất thoát hàng ngàn tỉ đồng của nhà nước, đây đang là 1 vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm chú ý không chỉ có trong nước mà cả nước ngoài đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tài trợ vốn ODA cho nước ta. Vụ tham nhũng này không chỉ làm TTLP vốn đầu tư mà còn làm dư luận hoang mang và ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của nước ta trước các nhà đầu tư.

     

    Ban quản lý các dự án 18 (PMU 18), trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, được thành lập theo quyết định ngày 23-8-1993 của Bộ Giao thông vận tải.

     

    Chức năng của PMU 18 là: thay mặt chủ đầu tư quản lý quá trình đầu tư và xây dựng các công trình giao thông do bộ giao; giao dịch, tiếp xúc với các tổ chức trong và ngoài nước để tìm nguồn vốn cho các dự án do ban quản lý. PMU 18 luôn được ưu ái giao cho quản lý hàng trăm triệu USD từ nguồn vốn ODA, vốn trái phiếu chính phủ… để đầu tư hạ tầng giao thông.

     

    Trong thời gian qua, PMU18 đã quản lý 20 dự án với số vốn lên gần 33.000 tỉ đồng.

     

    14         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    PMU 18 đang là chủ đầu tư của nhiều dự án lớn như QL18, QL10, QL2, cầu Đà Rằng, cầu Bãi Cháy (mức đầu tư 2.142 tỉ đồng)… PMU18 đang được tuyển chọn tư vấn cho dự án xây dựng đường cao tốc trên QL3 có vốn đầu tư 3.533,4 tỉ đồng

     

    Những dự án tai tiếng của PMU 18

     

    Trừ đi khoảng 13.000 tỷ đồng vốn sử dụng trong thời gian của vị tổng giám đốc tiền nhiệm và vốn do người khác quản lý, Dũng cũng quản lý các dự án với tổng vốn 20.000 tỷ đồng. Như vậy, giả định tỷ lệ hoa hồng cho mọi dự án ở mức 10%, số hoa hồng mà Dũng và PMU18 được hưởng phải là khoảng 2.000 tỷ đồng!

     

    Nhiều nguồn tin xác định rằng ông tổng giám đốc Ban Quản lý các dự án (PMU) 18 Bùi Tiến Dũng “cá độ” 1,8 triệu USD

     

    Chưa ai rõ tiền ở đâu mà ông chơi dữ thế. Trong khi đó, có những điều đã rõ là PMU 18 từng gây ra nhiều tai tiếng trong quá trình xây dựng các công trình giao thông lớn như cầu Hoàng Long (Thanh Hóa), phà Minh Châu, dự án giao thông nông thôn…

     

    Cầu Hoàng Long vốn tăng 2,7 lần nhưng sụt lún

     

    Công trình cầu Hoàng Long (Thanh Hóa) do PMU 18 làm chủ đầu tư đã thất thoát 4,5 tỉ đồng trong tổng kinh phí đầu tư 224 tỉ đồng.

     

    Dự án xây mới cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa (sau được đổi là cầu Hoàng Long) được Bộ GTVT phê duyệt tháng 10-1995 với tổng mức vốn đầu tư 83,5 tỉ đồng, cầu có chiều dài 240m, đường dẫn hai đầu cầu dài 3.158m, dự kiến triển khai vào tháng 10-1996.

     

    Tuy nhiên hai tháng trước khi khởi công, Bộ GTVT phê duyệt lại dự án, cầu được kéo dài thêm 140m kéo theo sự thay đổi hàng loạt hạng mục công trình làm tổng vốn đầu tư được điều chỉnh lên 224 tỉ đồng, gấp 2,7 lần dự kiến ban đầu.

     

    Thế nhưng chi phí đầu tư tăng lên 2,7 lần vẫn không đem lại chất lượng tốt cho công trình. Hàng loạt sự cố sụt, lún xảy ra trong quá trình thi công. Những sự cố này đã làm công trình liên tục phải thay đổi thiết kế làm tăng chi phí bổ sung lên tới 36 tỉ đồng, riêng số tiền để khắc phục 140m lún trượt của nền đường phía bắc cầu là 5,5 tỉ đồng.

     

    Tại công trình này, đoàn thanh tra của Thanh tra Nhà nước đã phát hiện các công ty thi công tìm cách rút tiền của dự án như dùng sai chủng loại cáp đồng, thanh toán vượt khối lượng… gây thất thoát lãng phí vốn dự án lên 4,5 tỉ đồng.

     

    Thanh tra Nhà nước đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kiểm điểm Bộ GTVT (giai đoạn 1995-2002), giao bộ này kiểm điểm và có hình thức xử lý nghiêm tổng giám đốc PMU18, cục trưởng Cục Quản lý giám định chất lượng công trình giao thông, vụ trưởng Vụ Kế hoạch – đầu tư…

     

    Tuy vậy, đến chiều qua (18-1), trả lời Tuổi Trẻ, một số quan chức có trách nhiệm của Bộ GTVT vẫn không nắm được, không biết Bộ GTVT đã xử lý vụ việc này như thế nào…

     

    Phà Minh Châu vừa chạy đã hư

     

    Tháng 12-2003, Thanh tra Nhà nước cũng có kết luận về ba sai phạm lớn của Bộ GTVT và PMU 18 liên quan đến triển khai dự án giao thông nông thôn – WB2 (tổng vốn đầu tư 145,3 triệu USD, chủ yếu vay Ngân hàng Thế giới) và bến phà Minh Châu (Ba Vì, Hà Tây): năm tháng trước khi Bộ GTVT có quyết định cho

     

    15         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phép tiến hành chuẩn bị đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án giao thông nông thôn – WB2 và giao PMU 18 làm chủ đầu tư, PMU18 đã ký hợp đồng thuê Công ty Tư vấn khảo sát thiết kế xây dựng (Bộ Quốc phòng) lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án này.

     

    Trong báo cáo nghiên cứu khả thi dự án được Bộ Kế hoạch – đầu tư thẩm định, không có nội dung nào về công trình bến phà Minh Châu nhưng trong kế hoạch xây lắp năm thứ nhất trình Bộ GTVT tháng 9-1999, PMU18 đã tự ý đưa công trình này vào (trị giá 64.000 USD).

     

    Việc Bộ GTVT phê duyệt kế hoạch này là không thực hiện đúng quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ; Ngoài ra, cơ quan thanh tra cũng chỉ rõ hàng loạt sai phạm của các cơ quan liên quan trong vụ phà Minh Châu trọng tải 15 tấn “vừa chạy đã hỏng”.

     

    Quốc lộ 2 xuống cấp sau ba tháng sử dụng

     

    Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 2 từ Đoan Hùng (Phú Thọ) tới Vị Xuyên (Hà Giang) có vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ do PMU 18 làm chủ đầu tư thông xe vào cuối tháng 3-2005 cũng để lại nhiều tai tiếng khi chỉ sau gần ba tháng sử dụng công trình đã có biểu hiện xuống cấp, sạt lở. Các đoạn quốc lộ qua Đoan Hùng, Tuyên Quang đều xuất hiện nhiều điểm rạn nứt, bong tróc lớp nhựa.

     

    Ngoài ra hầu hết các cầu trên quốc lộ này cũng xuất hiện hiện tượng sụt lún taluy đường đầu cầu, trong đó cầu Luống (km 182+ 663) bị sạt lở nghiêm trọng ở đường dẫn cả hai đầu cầu. Đến nay, trách nhiệm của PMU 18 và các đơn vị thi công cải tạo quốc lộ 2 vẫn còn bỏ ngỏ…

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực khác

    2.1 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề nghiên cứu KHCN

     

    Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2001-2005 NSNN đầu tư cho KHCN

     

    chiếm gần 2% tổng chi ngân sách, chiếm hơn 0,5% GDP trong đó chi cho các viện nghiên cứu KH-CN cấp nhà nước chiếm 19.1%, các bộ, ngành hơn 30% hoạt đông KHCN cấp cho địa phương là 25%, số còn lại chi cho tăng cường cơ sở vật chầt trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu. Như vậy có thể thấy 2% tổng chi ngân sách không phải là ít vậy mà… số dự án không phát huy tác dụng, không ứng dụng thực tế còn nhiều, mới thấy được sự lãng phí quá lớn trong lĩnh vực này. Đã có hơn 40% các doanh nghiệp cũng tự thừa nhận là đã phí tiền vào các kế hoạch nâng cấp công nghệ nhưng không sử dụng đến gây ra thất thoát lớn cả về vốn, nhân lực và thời gian . Có tình trạng 80%-90% công nghệ tốt nhập khẩu từ nước ngoài nhưng chính sách phục vụ cho việc sử dụng lại chưa được nâng cấp tới mức cần thiết để tận dụng tốt những công nghệ này. Chưa kể đến bên cạnh đó còn rất nhiều công trình, dự án còn sử dụng bất hợp lý và hiệu quả ứng dụng công nghệ thấp cũng đã gây những lãng phí rất lớn cho nền kinh tế.

     

    2.2 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng nguồn nhân lực

     

    Do các DNNN không tuyển được người có năng lực nên không có quỹ chất xám, không thu hút được đề tài. Trong lúc đó, nhóm người phải nhận do quan hệ thường có sự chi phối công việc quản lý công ty của giám đốc gây nên khó xử. Mối quan hệ giữa giám đốc và nhóm người này trở nên mù mờ, giám đốc thì

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không thể mạnh tay trong điều hành làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của công ty lãng phí, tham nhũng từ mối quan hệ này mà ra.

    Mặt khác trong những năm qua, tình trạng lao động được đào tạo nhưng không được sủ dụng đúng mục đích diễn ra phổ biến, chiếm 6,5% số lao động được đào tạo. Tình trạng này diễn ra do lao động cử đi đào tạo không đủ trình độ tiếp thu chiếm khoảng 3%, do lao động cử đi đào tạo làm việc cho doanh nghiệp khác chiếm 1%, do chủ đầu tư thay đổi quy trình công nghệ hoặc công nghệ không phù hợp chiếm 2%…Ngoài ra tình trạng sử dụng nhiều lao động nước ngoài trong doanh nghiệp trong khi lao động trong nước cũng có đủ trình độ và năng lực đáp ứng công việc cũng gây ra thất thoát, lãng phí nguồn nhân lực ở nước ta. hiện nay số lao động nước ngoài được tuyển dụng ở nước ta thường chiếm trên 5% đặc biệt là trong các lĩnh vực đặc thù như công nghệ cao, giáo dục đào tạo…

     

    2.3 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng đất

     

    Đất cho các dự án chiếm một chi phí rất lớn trong tổng vốn đầu tư của các dự án vậy mà hiện nay nhiều khu đất vẫn bị bỏ hoang,các tài sản nằm chờ không người sử dụng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi.

     

    Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội Vũ Đức Khiển cho biết: báo cáo gần đây nhất của Chính phủ về tình hình khiếu nại của công dân nêu rõ: tại 51 tỉnh, thành, có 252 dự án đầu tư xây dựng cơ bản huy động trên 27 000 hécta đất, nhưng chỉ có 1/3 diện tích này được duyệt sử dụng thực sự. Trong các khu công nghiệp và khu chế xuất, cao nhất chỉ có 50% diện tích đất được sử dụng, có khu chỉ lấp đầy 10% diện tích.Một ví dụ đơn giản nhưcông ty vật tư nhà nước Kiến An – Hải Phòng được định giá 850 triệu gồm 1 dãy nhà cấp 4 cũ nát và một xưởng cơ khí tan hoang lâu nay không hoạt động, tất cả các khu nhà toạ lạc trong một khuôn viên 1,6ha. Khi bán công ty này định giá công khai, kết quả thu 6,6tỷ. ở trường hợp này thực chất các nhà đầu tư chỉ nhìn vào giá trị của 1,6ha đất tại thĩ xã Kiến An – cái mà nhà nước không định giá. Trong khi đó người dân phố bán nhà ở với giá 500 nghìn đồng trên 1m2 đất mặt tiền. khu 1,6ha của công ty có khoảng 100m mặt tiền cũng chỉ thu được 8tỷ. Qua ví dụ trên thấy được giá trị to lớn của DNNN hiện nay có thể bán được và giá trị quyền sử dụng đất nhưng khi cổ phần hoá và bán doanh nghiệp trong suốt một thời gian dài chúng ta lại bỏ giá trị này không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp. Thật là lãng phí và vô lý.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    II. Những mặt được và chưa được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    1. Những mặt được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    Có nhiều đổi mới trong cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, trong chỉ đạo

     

    điều hành của Chính Phủ.

     

    Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước quan trọng theo hướng giảm đáng kể sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp

    Tăng cường vai trò trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc quyết định, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả của công trình đầu tư.

     

    Quản lý nhà nước đầu tư và xây dựng đã được quy định tại các nghị định số 52/1999/NĐ-CP; số12/2000/NĐ-CP; số07/2003/NĐ-CP; số 88/1999/NĐ-CP; số 14/2000/NĐ-CP và số 66/2003/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản pháp quy liên quan; các Bộ ngành và địa phương phải nghiêm túc thực hiện, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư.

     

    Năm 2004 trong lĩnh vực đầu tư phát triển tiếp tục được phân cấp mạnh cho các Bộ, ngành, địa phương. Thủ tướng Chính phủ chỉ giao cho các Bộ, ngành, địa phương tổng mức vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước, danh mục và mức vốn đầu tư các dự án thuộc nhóm A; ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch vốn thiết kế quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, vốn đầu tư theo mục tiêu hỗ trợ của Trung ương (đối với các Bộ, ngành); đối với các tỉnh, thành phố chỉ giao vốn thiết kế quy hoạch, vốn chuẩn bị đầu tư, vốn bổ sung có mục tiêu cho đầu tư phát triển. Việc lựa chọn, bố trí danh mục và mức vốn cụ thể cho các dự án nhóm B và C (kể cả các dự án chuyển tiếp, khởi công, hoàn thành) do các Bộ trưởng, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định và tự chịu trách nhiệm.

     

    Cùng với việc phân cấp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế về quản lý đầu tư và xây dựng và Chỉ thị số 29/2003/CT-TTg ngày 23/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Trong hoạt động đầu tư, Nhà nước quản lý chặt chẽ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và tạo khung pháp lý cùng các hỗ trợ cần thiết cho nhà đầu tư mà không trực tiếp quyết định đầu tư. Đồng thời, Nhà nước thực hiện cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá, để thực hiện hiệu quả dự án đầu tư, giảm bớt sai sót, vi phạm, thất thoát. Trong quản lý đầu tư, đã tăng cường được vai trò của Hội đồng Nhân dân, coi trọng sự tham gia giám sát của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

     

    Việc sửa đổi, bổ sung các quy chế về quản lý đầu tư, xây dựng, đấu thầu đã tạo khung pháp lý hoàn thiện hơn về đầu tư xây dựng cơ bản. Công tác chỉ đạo, điều hành, lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch được quan tâm. Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước theo hướng tăng cường phân công, phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương. Tính công khai, minh bạch, công bằng, hợp lý trong việc phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo Luật Ngân sách nhà nước mới đã được quan tâm hơn.

     

    Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng của Chính phủ, công tác giám sát của các cơ quan dân cử đối với đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phát hiện yếu kém, tiêu cực trong quản lý và thực hiện các dự án, công trình, góp phần hạn chế và khắc phục những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2.Một số tồn tại trong hoạt động quản lý đầu tư gây thất thoát, lãng phí

     

    Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển

     

    Chất lượng các dự án quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế, các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa có đủ các căn cứ vững chắc, nhất là các thông tin về dự báo, nhất là dự báo tác động của các yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học công nghệ, sự cạnh tranh của các

     

    quốc gia và doanh nghiệp…

    Quản lý nhà nước về quy hoạch còn nhiều yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là phân công, phân cấp không rõ ràng, thiếu một khung pháp lý đầy đủ cho việc lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch, thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất về các vấn đề liên quan đến công tác quy hoạch trong phạm vi cả nước; thiếu kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch. Nhiều cơ quan nhà nước, nhiều cá nhân có trách nhiệm chưa quan tâm đúng mức và chưa nhận thức đúng đắn về công tác quy hoạch, trách nhiệm đối với công tác quy hoạch chưa đủ tầm… Quy trình kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân chưa được thể chế hoá; phương pháp lập quy hoạch chưa thống nhất; thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình lập các quy hoạch ngành, nên xảy ra tình trạng chồng chéo và không ăn khớp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh; thiếu quy chế phê duyệt thống nhất.

     

    Nhận thức về quy hoạch trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế còn nhiều điểm chưa thống nhất; việc phân định nội dung cũng như phạm vi giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội các vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng còn nhiều điểm chưa rõ.

     

    Các quy hoạch ngành, tuy đã xác định rõ hơn những ngành thuộc loại quy hoạch “mềm” và quy hoạch “cứng”, nhưng ngay đối với các ngành sản phẩm chủ lực cần được lập quy hoạch cũng chưa được xác định ở cấp nhà nước.

     

    Nguyên nhân của tình hình nêu trên có nhiều nhưng trước hết phải kể đến công tác điều tra cơ bản chưa đủ, thông tin phục vụ nghiên cứu quy hoạch thiếu, lực lượng nghiên cứu quy hoạch hạn chế; công tác dự báo và xử lý liên ngành, liên vùng yếu; công tác chỉ đạo quy hoạch chưa đúng mức.

     

    Quy hoạch ngành và quy hoạch vùng, quy hoạch của từng tỉnh ít gắn kết với nhau. Quy hoạch phát triển ngành chưa thể hiện cụ thể trên các địa bàn lãnh thổ của các tỉnh, thành phố. Mặt khác trong khi có một số quy hoạch ngành đã thể hiện trên lãnh thổ nhưng quy hoạch tỉnh, thành phố chưa căn cứ vào quy hoạch ngành bố trí trên lãnh thổ của mình. Trong quá trình thực hiện quy hoạch, một số ngành, một số địa phương còn tuỳ tiện thay đổi mục tiêu của quy hoạch sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.

     

    Nhiều quy hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã không kịp thời triển khai các quy hoạch cụ thể, quy hoạch chi tiết để tiến hành đầu tư, dẫn tới có tình trạng quy hoạch “treo”.

     

    Việc thẩm định, kiểm tra, giám sát quy hoạch còn yếu, có trường hợp quy hoạch có chất lượng thấp vẫn được thông qua.

     

    Về trách nhiệm của các cơ quan quản lý: còn buông lỏng trong công tác quản lý đầu tư và xây dựng. Việc phân cấp quản lý trong đầu tư và xây dựng cho các Bộ, ngành và địa phương đã thực hiện tương đối mạnh. Tuy nhiên, cơ chế quản

     

    19         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    lý đầu tư và xây dựng hiện tại thiếu các chế tài, những quy định cụ thể (kể cả biện pháp hành chính) nhằm kiểm soát và hạn chế được việc phê duyệt dự án đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.

     

    Việc nhận thức công tác Đấu thầu còn nhiều hạn chế cả về nội dung đấu thầu, quy trình, trình tự và các quy định khác. Một số cán bộ thuộc đơn vị Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế trong triển khai công tác đấu thầu.

     

    Nhiều chủ dự án chưa chủ động, chỉ dựa vào ý kiến của tư vấn, không xem xét kỹ kết quả trước khi trình duyệt, dẫn đến những sai sót không đáng có trong quá trình thực hiện. Cấp có thẩm quyền chưa chỉ đạo sát sao, quản lý công tác đấu thầu chưa chặt chẽ.

     

    Công tác giám sát và đánh giá đầu tư chưa được tất cả các Bộ, ngành và địa phương quan tâm đúng mức và thực hiện nghiêm túc theo quy định; chỉ có khoảng 30% các đơn vị Bộ, ngành, 40% các tỉnh, thành phố có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Đối với việc giám sát và đánh giá đầu tư của các chủ đầu tư còn rất hạn chế, chỉ có 30% các chủ dự án sử dụng vốn ngân sách có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Chất lượng các báo cáo về đánh giá đầu tư còn sơ sài, chưa đủ các thông tin cần thiết để tổng hợp báo cáo.

     

    Công tác giám sát nói chung còn chưa thường xuyên, bị động và chủ yếu tổng hợp từ các báo cáo theo quy định, chưa có tác dụng phát hiện kịp thời và xử lý các vi phạm. Công tác giám sát cộng đồng chưa được chú trọng.

     

    Công tác giám sát, đánh giá đầu tư chưa đáp ứng được các yêu cầu theo quy định, một mặt do đội ngũ cán bộ chưa được chuẩn bị chu đáo, cán bộ nghiệp vụ còn thiếu kinh nghiệm, năng lực còn hạn chế, chưa có hệ thống thông tin phục vụ hoạt động giám sát. Mặt khác, lãnh đạo ở một số Bộ, ngành và địa phương cũng chưa nhận thức đầy đủ được vị trí, vai trò của công tác giám sát, đánh giá đầu tư trong quản lý đầu tư nói chung

     

    Các chủ đầu tư, nhất là chủ đầu tư, các ban quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước chưa khẩn trương cùng các nhà thầu hoàn tất các thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán. Nhiều công trình, dự án đã hoàn thành nghiệm thu, đưa vào sử dụng trong nhiều năm nhưng không quyết toán công trình.

     

    Chương III

    NHỮNG GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ Ở VN

     

    Nạn thất thoát, lãng phí tiêu cực trong đầu tư xây dựng đã được đặt ra tại nhiều kỳ họp Quốc hội. Song tình hình dường như đâu lại vào đó, lại còn có xu hướng “phát triển” hơn. Tại sao lại như vậy? Theo các chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính của những hiện tượng này chủ yếu là do hành vi tiêu cực gây ra: tiêu cực trong khâu lập và duyệt quy hoạch thì có quy hoạch treo, hoặc chồng chéo; Tiêu cực trong khi lập dự án là do tổ chức, cá nhân tư vấn và chủ đầu tư móc nối với nhau; Tiêu cực trong thẩm định dự án để trình cấp quyết định đầu tư là sự “ăn dơ” giữa tư vấn, chủ đầu tư và cơ quan thẩm định. Tiêu cực trong thiết kế dự toán

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    là sự “rỉ tai” của tổ chức tư vấn và cơ quan thẩm định, cái “rỉ tai” này lại kéo sang tiêu cực về đấu thầu vì nhà thầu lại lo lót từ tổ chức tư vấn đến người duyệt thiết kế và chủ đầu tư.

     

    Còn tiêu cực trong giám sát thì sao? Ở khâu này có thể gây nên thất thoát về chấtlượng công trình không đảm bảo là do sự thông đồng giữa cơ quan tư vấn giám sát, hoặc cán bộ giám sát với bên thi công (nhà thầu). Ở khâu này các tổ chức tư vấn thiết kế có kiểm tra thì cũng hạn chế được một phần.

     

    Qua đó có thể nói được rằng mọi thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng là do hành vi tiêu cực gây nên của cán bộ viên chức và công chức. Vì vậy để ngăn chặn và hạn chế tình trạng hiên nay thì chính phủ cần phải đưa ra những biện pháp xử lý kiên quyết hơn nữa để hạn chế những tiêu cực này. Để làm được điều này thì ta cần phải kiện toàn các chính sách, luật quản lý đầu tư,phải có chính sách phân công, phân cấp rõ ràng, công khai, minh bạch, chặt chẽ trách để tình trạng sơ hở để các nhà thầu có cơ hội luồn lách rút ruột công trình. Thất thoát, lãng phí là vấn đề nan giải hiện nay không thể giải quyết trong ngày một ngày hai chính vì vậy để chống được “quốc nạn”đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp và cùng toàn thể xã hội tham gia từ chính phủ đến các cá nhân, nhà báo,các phưong tiện thông tin đại chúng….Cụ thể một số biện pháp xin được nêu sau

     

    1. Các giải pháp liên quan đến cá nhân:

    Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề. Trong hoạt động đầu tư có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chức danh phải có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên đới trách nhiệm, không thể để tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất ít người chịu trách nhiệm cụ thể” và tình trạng “cha chung không ai khóc” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự án. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên trước hết cần làm một số việc sau:

     

    • Phải có các quy định chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm cá nhân với công việc được giao quản lý. Cần xác định rõ theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì người quyết định là người chiụ trách nhiệm chứ không phải là tập thể chịu trách nhiệm, không có tập thể quyết định chuyên môn. Ví dụ: Hàng loạt các dự án mà đầu tư không hiệu quả, dàn trải, thất thoát vốn lớn như mía đường, dầu khí… nhưng để truy cứu trách nhiệm người ra quyết định đầu tư rất khó khăn. Các dự án mía đường đến nay hậu quả ”sờ sờ” ra đấy, chưa biết đến bao giờ khắc phục xong. Nhưng người ra quyết định đầu tư, nay đã về hưu, ”hạ cánh an toàn”, hoặc chuyển làm công tác khác
    • Cần trả thù lao tương xứng với trách nhiệm.
    • Kiên quyết xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu. Không bao che, dung túng, nể nang, né tránh đối với bất kể cán bộ nào làm sai để giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
    • Những cán bộ có trách nhiệm trực tiếp quản lý dự án, trước khi được giao nhiệm vụ phải khai báo tài sản và thu nhập cá nhân.
    • Phải xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn hoá chức danh với các công việc quản lý dự án, tư vấn, quản lý kinh doanh tư vấn và xây dựng. Phải bố trí cán bộ có

    21         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    đủ trình độ và kinh nghiệm, đúng chuyên môn và có phẩm chất phù vợp với chức danh công việc được giao. Nghiêm cấm và xử phạt nghiêm mọi trường hợp mượn danh, mua danh để hành nghề.

     

    1. Các giải pháp liên quan đến xây dựng quy định quản lý:

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu là cơ sở, là “cái gậy” của cán bộ quản lý. Nếu nghiên cứu chưa kỹ thì có nhiều sơ hở dẫn đến hay thay đổi và ban hành không đồng bộ thì dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý, bị kẻ xấu lợi dụng để trục lợi các nhân. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên cần làm một số việc sau:

     

    • Cần rà soát các quy định hiện tại để sủa đổi, bổ sung mới từ đó hình thành một hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch, đầy đủ, phù hợp với thực tế hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta và ban hành cách đồng bộ.
    • Cùng với xây dựng một hệ thống quy định trên phải xây dựng quy trình và biện pháp kiểm tra hữu hiệu để đảm bảo các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu phải được tuân thủ đúng, đủ và để phát hiện ngay được những sơ hở trong các quy định.
    • Có một tổ công tác gồm các nhà chuyên môn ở nhiều lĩnh vực, có nhiều kinh nghiệm thực tế trong quản lý dự án, có tâm huyết. Tổ công tác này hoạt động độc lập, chuyên trách giúp chính phủ nghiên cứu soạn thảo ra hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu đạt được các yêu cầu trên. Việc soạn thảo, ban hành các quy định theo đúng quy trình.
    1. Các giải pháp liên quan đến công tác kiểm tra, thanh tra và điều tra:

    Có quy định mà không có sự giám sát, kiểm tra và thanh tra thì việc thực thi không nghiêm. Nhưng các sai phạm thường được che dấu bởi nhiều thủ đoạn tinh vi vì thế nếu không điều tra thì không thể phát hiện được. Cho nên có thể nói trong nguyên nhân: Công tác quản lý bị buông lỏng và có kẻ cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân là do công tác thanh tra, điều tra chưa làm mạnh, lực lượng thanh tra, điều tra còn yếu và thiếu lực. Do vậy những việc cần làm ngay là: Nâng cao năng lực, hiệu quả công tác của lực lượng này và đẩy mạnh công tác này để ngăn chặn và phát hiện những sai phạm; đưa ra ánh sáng nhưng kẻ cố ý làm trái quy định, pháp luật gây ra tình trạng thất thoát, lãng phí hiện nay; thu hồi tài sản bị thất thoát. Các biện pháp cụ thể là:

     

    • Bổ sung thêm nhiều cán bộ “có năng lực ,trình độ” vào lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Trang bị thêm trang thiết bị kỹ thuật và tăng kinh phí cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Mở rộng phạm vi quyền hạn cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Lực lượng thanh tra, điều tra phải độc lập để đảm bảo tính khách quan, công bằng, khắc phục ”quy trình khép kín”. Một điều dễ thấy là với các dự án của bộ, ngành, địa phương, tất các khâu đều do cơ quan, DN của bộ ngành, địa phương đó làm, khép kín từ quy hoạch, quyết định đầu tư, khảo sát thiết kế, đấu thầu, thi công, quyết toán… Chẳng hạn, khâu giám sát thi công thì vì ”anh em trong một nhà” nên dễ thông cảm với nhau! Nhiều dự án chỉ khi ”anh em” ăn chia không sòng
    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phẳng, đấu đá, tranh chấp với nhau mới lộ ra ngoài, báo chí đưa, cơ quan điều tra vào vụ việc mới được phơi bày.

    • Có sự thưởng, phạt phân minh với những thành tích và khuyết điểm trong công tác.
    • Cần áp dụng “các giải pháp liên quan đến cá nhân” ở trên đối với lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Xác định rõ trách nhiệm của lực lượng này đối với sự gia tăng số vụ và mức độ thất thoát.
    • Đã có đơn tố giác, đã có biểu hiện, dư luận về sai phạm, thất thoát ở dự án nào thì lực lượng thanh tra, điều tra phải sớm xác định và làm rõ, phải làm cho đến nơi đến chốn để rõ trắng đen để đưa vụ việc ra ánh sáng, để có tác dụng dăn đe và quan trọng là thu hồi tài sản của đất nước bị thất thoát.
    • Nhà nước cần mở tài khoản kế toán riêng để theo dõi và quản lý tập trung tất cả tài sản bị thất thoát thu hồi qua kết quả kiểm tra, thanh tra và điều tra. Số tiền thất thoát là rất lớn vì vậy số tiền thu hồi sẽ rất lớn, Nhà nước có thể dùng một phần số tiền thu hồi để chi cho việc đầu tư nâng cao năng lực lực lượng thanh tra, điều tra, chi cho việc bảo vệ nhân chứng, bổ sung kinh phí cho hoạt động thanh tra, điều tra…vì vậy có thể sẽ phát hiện nhiều hơn những dự án có thất thoát và thu hồi được nhiều hơn số tiền bị thất thoát.
    • Tập trung giám sát đầu tư với tất cả các dự án đang ở giai đoạn chuẩn bị triển khai hoặc đã triển khai để đánh giá hiệu quả đầu tư, phát hiện những sai sót trong tính toán có thể dẫn đến lãng phí từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời làm giảm hoặc tránh xảy ra lãng phí.
    • Tập trung thanh tra tất cả các dự án đang và đã triển khai để phát hiện những sai phạm quy định, thủ tục triển khai, những sơ hở trong quản lý có thể dẫn đến lãng phí, thất thoát từ đó có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời ngăn chặn hoặc tránh xảy ra lãng phí, thất thoát.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy dân chủ

    Những vụ việc thất thoát mà thanh tra, điều tra phát hiện được là dựa vào đơn thư tố giác của dân. Thực tế tình hình thất thoát tiền đầu tư hiện nay là phổ biến, nhưng số vụ việc mà lực lượng thanh tra, điều tra đưa ra ánh sáng được còn rất ít, rất ít vì có ít đơn thư tố cáo, rất ít vì dân còn chưa giám nói, dân chưa giám nói vì tư tưởng “muốn yên thân”, vì “ngại va chạm”, vì sợ “đấu tranh – tránh đâu”, vì dân chưa tin vào quyết tâm chống thất thoát của lãnh đạo. Tài sản công là tài sản của dân, nghĩa là dân là “người chủ” nhưng tinh thần làm chủ của “người chủ” chưa được phát huy. Quyền làm chủ chưa được phát huy vì thiếu cơ chế thực hiện quyền làm chủ cụ thể trong xây dựng cơ bản, hoặc có mà chưa được coi trọng, hoặc vì “người chủ” thiếu thông tin. Do vậy những việc cần làm ngay là: phát huy tinh thần làm chủ của “người chủ ” trong phòng và chống thất thoát tiền đầu tư của “người chủ ”. Các biện pháp cụ thể như sau:

     

    • Xây dựng hoàn chỉnh cơ chế để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong quản lý dự án, có chế tài để đảm bảo cơ chế này được tôn trọng.
    • Có cơ chế đảm bảo sự công khai, minh bạch trong công tác đấu thầu, trong xây dựng, mua sắm, trong thanh, quyết toán để “ngừơi chủ” có thể giám sát quá trình đầu tư tốt hơn.

    23         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Phải có chính sách, biện pháp cụ thể bảo vệ có hiệu quả những cá nhân đứng ra tố giác những hành vi cố tình làm trái các quy định quản lý, pháp luật, tố giác những cán bộ tham ô, nhận và đưa hối lộ. Đồng thời kiên quyết xử lý theo đúng pháp luật mọi cá nhân cố tình vu khống, tố cáo sai sự thật để phục vụ mục đích xấu của họ.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy vai trò của thông tin đại chúng

    Dư luận xã hội, ý kiến của các chuyên gia, của những người trong cuộc, của các đại biểu Quốc hội đánh giá tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là “kinh khủng”, là “rất phổ biến đối với đầu tư xây dựng của nhà nước ” …thế nhưng số những dự án được phát hiện có lãng phí, thất thoát; được xử lý và đưa ra công luận còn rất ít có thể đếm trên đầu ngón tay – vậy tại sao? Có ý kiến cho rằng đưa ra báo chí nhiều quá làm bôi đen xã hội ta, làm mất uy tín của cán bộ …Tôi cho rằng ngược lại. Tìm, kiên quyết xử lý nghiêm minh và đưa ra công luận nhiều hơn nữa những dự án đầu tư có thất thoát và lãng phí để thu hồi tiền bị thất thoát; để răn đe từ đó ngăn chặn sự phát triển của tình trạng lãng phí, thất thoát hiện nay; để chứng minh bằng hành động quyết tâm chống thất thoát, lãng phí của Chính phủ.

     

    Vừa qua, thông tin đại chúng mới phản ánh một số ít dự án thất thoát, lãng phí thôi nhưng đã có tác dụng rất lớn, hiệu quả cao ví dụ như­ vụ PMU 18… điều đó chứng tỏ vai trò to lớn của thông tin đại chúng. Vì vậy để chống thất thoát, lãng phí quyết liệt hơn, báo chí không chỉ đưa tin kết quả thanh tra, điều tra mà cần phải tham gia điều tra phát hiện.

     

    PHẦN KẾT LUẬN

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra ở hầu hết các khâu,

    từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu, quyết toán công

    trình, diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Song kết quả phát hiện,

    điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng còn thấp, tỷ lệ tội phạm ẩn còn cao. Hậu

    quả của tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng đã làm cho nhiều tỷ đồng tiền

    vốn của Nhà nước bị thất thoát, khó có khả năng thu hồi; nguồn vốn của Nhà nước

    trong đầu tư xây dựng bị phân tán; chất lượng công trình trước mắt cũng như lâu

    dài đều bị ảnh hưởng. Trong số những người vi phạm pháp luật, có nhiều người là

    cán bộ khoa học, cán bộ lãnh đạo, kỹ sư và công nhân có tay nghề cao.

    Tình hình  nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trước hết là do tác

    động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự yếu kém trong quản lý kinh tế, sự sơ

    hở và thiếu đồng bộ của hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý, kiểm tra, giám

    sát trong đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó là vai trò của cơ quan chủ quản trong việc

    tuân thủ pháp luật, và trách nhiệm cũng như đạo đức nghề nghiệp của những người

    làm công tác xây dựng. Về mặt chủ quan, công tác phối hợp phòng ngừa, đấu tranh

    chống tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng của lực lượng công an nói riêng

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    và các cơ quan chức năng nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Chính vì vậy, Ðảng, Quốc hội cũng như Chính phủ đã có nhiều nghị quyết quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Bộ Công an và các ngành chức năng cũng đã xác định đây là một trong những lĩnh vực trọng điểm cần bảo vệ.

     

    Nhân dân, các nhà khoa học, nhiều cán bộ hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp, quản lý kinh tế, xây dựng cơ bản… rất quan tâm vấn đề này và đã có nhiều công trình khoa học, bài viết về phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng. Năm 1998, Cục CSÐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh“. Năm 2003, Bộ Xây dựng và Tổng Hội xây dựng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: “Chống thất thoát trong đầu tư xây dựng nhìn từ nhiều phía“; Năm 2004 -2005, Tổng Hội xây dựng Việt Nam nghiên cứu đề tài khoa học: “Xác định mức độ thất thoát trong đầu tư xây dựng” và đang triển khai nghiên cứu tiếp đề tài “Chống khép kín trong đầu tư xây dựng”.

     

    Tuy nhiên, do nhu cầu xây dựng ngày càng cao, phạm vi ngày càng mở rộng, cộng thêm năng lực quản lý yếu kém và việc chấp hành kỷ cương, pháp luật của Nhà nước chưa nghiêm đã dẫn đến thất thoát ở nhiều công trình, ảnh hưởng đến công tác xây dựng trên nhiều mặt. TTLP đã làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư trong những năm qua, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước với mục tiêu phấn đấu là từ nay cho đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước CN hiện đại. Mục tiêu này có thực hiện đựơc không một phần phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của chúng ta.

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quy trình đánh giá nhân viên

    Quy trình đánh giá nhân viên

    Quy trình đánh giá nhân viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy-tr%C3%ACnh-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-nh%C3%A2n-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quy trình đánh giá nhân viên

    QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ NHÂN VIÊN

    Thiết lập các mục tiêu, yêu cầu cho từng nhân viên khác nhau. Mỗi công việc khác nhau, nội dung đánh giá sẽ khác nhau. Thiết lập các tiêu chí đánh giá chung cho tất cả các nhân viên….

    1.  Xác định tiêu chí đánh giá

    Thiết lập các mục tiêu, yêu cầu cho từng nhân viên khác nhau. Mỗi công việc khác nhau, nội dung đánh giá sẽ khác nhau.

    Ví dụ về các yêu cầu, mục tiêu như:

    • Đảm bảo năng suất 230 sản phẩm/ngày.
    • Không có khách hàng khiếu nại quá 3 lần/năm.
    • Tăng sản lượng 15% so với năm trước.

    Thiết lập các tiêu chí đánh giá chung cho tất cả các nhân viên, bao gồm:

    • Thực hiện nội quy.
    • Tinh thần hợp tác, hỗ trợ.
    • Tinh thần, thái độ làm việc.
    • Tính sáng tạo
    • Khả năng phát triển..

    2. Chuẩn bị đánh giá:

    • Lên kế hoạch cụ thể về thời gian, địa điểm và không gian phù hợp.
    • Xem lại phạm vi trách nhiệm, nhiệm vụ của từng nhân viên.
    • Xem lại hồ sơ đánh giá của các kỳ trước.
    • Xem lại quy trình đánh giá công việc chung.
    • Chuẩn bị các biểu mẫu đánh giá.

    3. Tiến hành đánh giá:

    • Thu thập các thông tin đánh giá bao gồm:
    • Quan sát nhân viên thực hiện công việc
    • Kiểm tra lại các mẫu công việc đã hoàn thành
    • Xem lại sổ giao việc.
    • Nói chuyện trực tiếp với nhân viên.
    • Xem lại các biên bản ghi lỗi của NV.

    4. Phỏng vấn đánh giá:

    Mục đích của phỏng vấn là giúp nhà quản lý đối chiếu với các thông tin do nhân viên cung cấp và đánh giá chính xác hơn hiệu quả công việc.

    Phỏng vấn cũng là cơ hội để nhân viên bày tỏ các nguyện vọng, ý kiến đối vối công việc, công ty…

    Chuẩn bị các công tác cho cuộc đánh giá, cụ thể như sau:

    • Thống nhất với nhân viên ngày giờ đánh giá.
    • Giới thiệu sơ bộ mục đích và các nội dung trao đổi chính.
    • Chuẩn bị địa điểm đánh giá phải kín, để có thể trao đổi thoải mái.
    • Phổ biến cho nhân viên sơ lược nội dung và một số yêu cầu về cuộc đánh giá.
    • Trấn an nhân viên.

    Trình tự buổi đánh giá

    • Tạo sự thoải mái cho nhân viên.
    • Lặp lại mục đích của cuộc đánh giá.
    • Thông báo trình tự của buổi phỏng vấn.
    • Tiến hành phỏng vấn
    • Kết thúc phỏng vấn

    Trong khi phỏng vấn

    • So sánh kết quả công việc với các yêu cầu và mục tiêu.
    • Ghi nhận và biểu dương các việc đã làm tốt.
    • Tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn
    • Thoả thuận về hiệu quả làm việc trong tương lai.
    • Thoả thuận về kế hoạch đào tạo phát triển

    Khuyến khích và lắng nghe

    • Hãy để nhân viên tự đánh giá họ.
    • Hãy đưa ra các câu hỏi để khuyến khích nhân viên nói lên quan điểm của họ.
    • Lặp lại các cụm từ mà nhân viên vừa nói để khuyến khích họ.
    • Sử dụng các từ như: đúng vậy, để cho biết là bạn đang lắng nghe.

    5. Hoàn tất đánh giá:

    • Khen ngợi lại các thành tích của NV. Hãy hỏi hỏi điều gì làm cho họ đạt được thành tích nhý vậy?
    • Trường hợp họ thừa nhận các điểm yếu, hãy hỏi họ nguyên nhân là gì?
    • Sau cùng hãy chia sẽ ý kiến của bạn như thế nào?
    • Thông báo kết quả đánh giá và cho nhân viên biết ý kiến của họ.

    Bản chất của quá trình đánh giá không phải là việc nhân viên có đồng ý hay không.

    Nhân viên không đồng ý với kết quả đánh giá

    Có hai hình thức như sau:

    • Nhân viên đấu tranh, nổi giận, đổ lỗi..
    • Nhân viên không đồng ý, nhưng lảng tránh sang chủ đề khác (có thể vẫn gật đầu đồng ý).

    Người đánh giá cần chủ động dự đoán tình huống, chuẩn bị các câu hỏi để hoàn thành buổi phỏng vấn tốt đẹp.

    Trường hợp nhân viên trốn tránh

    • Đối với loại NV nhút nhát, khi có kết quả xấu, họ thường “cam chịu” mặc dù họ cho rằng hiệu quả làm việc của họ cao hơn.
    • Hãy cho nhân viên thời gian để bình tĩnh lại.
    • Từ từ để hỏi quay lại quan điểm của nhân viên
    • Tốt hơn hết với loại nhân viên này nên cho họ có bản đánh giá từ trước.

    Trường hợp nhân viên đấu tranh

    • Hãy cho phép anh ta trút giận.
    • Lắng nghe và khuyến khích họ nói hết vấn đề.
    • Sau khi nhân viên bình tĩnh lại, hãy hỏi anh ta: Theo tôi hiểu thì bạn…, sau đó hãy thảo luận từng điểm bất đồng với nhân viên.

     * Các lỗi thường gặp khi đánh giá

    1. Lỗi thiên kiến:
    • Khi đánh giá, người đánh giá có xu hướng chỉ dựa vào một đặc điểm nào đó làm cơ sở đánh giá cho các điểm khác. Lỗi thiên kiến xảy ra thường do:
    • Sự phù hợp về cá tính, sở thích
    • Ấn tượng bề ngoài
    • Ấn tượng về năng lực.
    • Sự đối nghịch giữa người đánh giá và nhân viên.
    • Để tránh lỗi thiên kiến, người đánh giá cần:
    • Quan tâm đến những điểm khác nhau giữa các tiêu chí đánh giá.
    • Xem xét tất cả các khía cạnh liên quan đến hiệu quả làm việc.
    • Vượt qua bản ngã.
    1. Khuynh hướng bình quân chủ nghĩa

    Nguyên nhân chủ yếu là:

    • Chuẩn mực công việc không rõ ràng
    • Người quản lý quan niệm nếu công việc của nhân viên không có gì nổi trội, thì tất cả đều là trung bình.
    • Ngại xếp nhân viên vào xuất sắc hay kém để tránh rủi ro.
    1. Quá dễ dãi hoặc khắt khe:
    • Xu hướng là hầu như đánh giá cao hoặc đánh giá quá chặt chẽ.
    • Do người đánh giá hay so sánh với bản thân mình.
    • Do đánh giá cá nhân thông qua tập thể.
    • Người đánh giá yêu cầu quá cao.
    1. Các lỗi khác
    • Chỉ dựa trên các thông tin trong trí nhớ.
    • Thành kiến cá nhân.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên người dân tộc ở trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-x%C3%A1c-l%E1%BA%ADp-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%A1c-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-v%C4%83n-h%C3%B3a-c%E1%BB%91t-l%C3%B5i-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp

    Phần 2: Làm thế nào để xác lập và phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp?

    Để xác lập giá trị văn hóa cốt lõi, doanh nghiệp có thể sử dụng quy trình sau:

       
     

    Xác định đối tượng điều tra

     
     

    Xác định phương pháp và công cụ

     
     

    Tiến hành điều tra và xử lý dữ liệu

     
     

    Hội thảo

     
     

    Quyết định tập giá trị văn hóa cốt lõi

    Bước 1: Xác định đối tượng điều tra.

    Đối tượng điều tra phục vụ xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi có thể bao gồm:

    • Các chuyên gia và những cá nhân có kinh nghiệm trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
    • Khách hàng và các đối tác của doanh nghiệp.
    • Tập thể cán bộ nhân viên của công ty.

    Quá trình xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp được triển khai như một hoạt động quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp. Quá trình này cho phép nắm bắt được cảm nhận của các cá nhân có liên quan về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh.

    Với khách hàng và các đối tác, doanh nghiệp xác lập có chọn lọc và mang tính đại diện.

    Với các đối tượng đến từ bên trong doanh nghiệp, điều tra nên được tiến hành trên diện rộng.

    Nếu doanh nghiệp có quy mô nhân sự xấp xỉ 100 người, nên tiến hành điều tra toàn thể. Với doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn, điều tra chọn mẫu có thể được tiến hành. Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu phải đảm bảo đại diện tất cả các thế hệ và các cấp độ nhân sự. Với doanh nghiệp có quy mô nhân sự nhỏ hơn 50, nên sử dụng bổ sung ý kiến các chuyên gia.

    Bước 2: Xác định phương pháp và công cụ điều tra

    Giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp có thể được tiến hành theo hai phương pháp chủ yếu:

    Phương pháp chuyên gia: Sử dụng ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp để lựa chọn các giá trị cốt lõi. Các chuyên gia thường dùng phương pháp brainstorming để đưa ra các giá trị, sau đó thảo luận, hội thảo để thống nhất.

    Phương pháp điều tra xã hội học (thường sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn): Doanh nghiệp tiến hành điều tra xã hội học các đối tượng có liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để làm rõ những giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp có thể sử dụng một hoặc kết hợp cả hai phương pháp nêu trên. Thông thường, phương pháp chuyên gia được sử dụng để xác lập các tập các giá trị ban đầu. Trên cơ sở tập các giá trị này, chuyên gia sẽ xây dựng bảng hỏi để tiến hành điều tra xã hội học trên diện rộng để kiểm chứng và lựa chọn các giá trị quan trọng nhất.

    Bảng hỏi là phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều tra xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp (Corporate Culture Questionnaire). Bảng hỏi được thiết kế sử dụng thang bậc Likert, với cấp độ từ 5 -10. Kết quả xử lý thống kê các dữ liệu cho phép đúc rút ra được tập các giá trị văn hóa cốt lõi.

    Ví dụ một phần bảng hỏi được sử dụng trong điều tra xác lập tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietinbank:

    Anh, ChÞ h·y cho biÕt quan ®iÓm cña riªng m×nh vÒ c¸c nhËn ®Þnh sau vÒ c¸c gi¸ trÞ sau Ng©n hµng

    Rất đúng

    Đúng

    Gần đúng

    Không  ý kiến

    Gần sai

    Sai

    Sai hoàn toàn

     

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    ThÝch thó víi ®æi míi 

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    S½n sµng chÞu rñi ro

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Cã ý thøc vÒ chÊt l­îng

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    §Þnh h­íng theo kh¸ch hµng cao

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Cã t­ duy chiÕn l­îc dµi h¹n

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¸c c«ng viÖc ®­îc tiÕn hµnh kh«ng quan liªu

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Møc ®é phi tËp trung ho¸, trao quyÒn cho c¸c ®¬n vÞ cao

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¬ cÊu tæ chøc ®¬n gi¶n, gän nhÑ vµ tiÕt kiÖm chi phÝ hµnh chÝnh

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Sè l­îng c¸c cÊp l·nh ®¹o lµ tèi ­u

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Linh ho¹t trong kÕ ho¹ch

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Ra quyÕt ®Þnh cã sù tham gia cña tËp thÓ

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    §¸nh gi¸ thµnh tÝch mang tÝnh x©y dùng

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    L·nh ®¹o rÊt g­¬ng mÉu

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    C¸c nhµ l·nh ®¹o rÊt cëi më

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    Chó träng ®Õn vai trß cña c¸ nh©n

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    q

    (Nguồn: Lê Quân)

    Bảng hỏi được thiết kế phù hợp với từng đối tượng điều tra. Với các đối tượng đến từ bên ngoài doanh nghiệp, bảng hỏi thường được thiết kế giản lược, tập trung vào thu nhận thông tin định vị các giá trị doanh nghiệp đã, đang và nên mang lại cho khách hàng, cho các đối tác khác.

    Bước 3: Tiến hành điều tra và xử lý dữ liệu

    Quá trình điều tra được tiến hành đồng thời với các hoạt động truyền thông nhằm lôi kéo sự tham gia của mọi người vào cuộc. Quá trình điều tra được tiến hành khuyết danh. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp tiến hành điều tra thông qua các bảng hỏi điều tra trực tuyến. Một số diễn đàn trao đổi trên mạng nội bộ, bản tin… của doanh nghiệp được sử dụng như những công cụ truyền thông nội bộ rất tốt cho quá trình này.

    Dữ liệu thu được được xử lý thống kê. Các phần mềm xử lý thống kê phổ biến hiện nay là Excel, SPSS… Các phân tích PCA, typology, discriminant được sử dụng phổ biến trong xác định tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy ba giá trị quan trọng là tinh thần hợp tác, truyền thống, sáng tạo và chất lượng được đề cao nhất (vạch ngang thể hiện mức trung bình).

    Bước 4: Hội thảo. Các buổi hội thảo nhằm hai mục đích: truyền thông về phát triển văn hóa doanh nghiệp và lấy ý kiến để hoàn chỉnh tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp.

    Bước 5: Quyết định tập giá trị văn hóa cốt lõi của doanh nghiệp. Lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên cơ sở kết quả điều tra, ý kiến của các thành viên để quyết định lựa chọn các giá trị văn hóa. Một số giá trị được lựa chọn đang được thừa nhận sẽ được doanh nghiệp duy trì và phát triển. Với một số giá trị khác, doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng các chương trình hành động nhằm phát triển và tôn vinh.

    1. Lê Quân – Chủ tịch Hội đồng chuyên gia EduViet

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ph%E1%BB%95-th%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý trường phổ thông

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Review Article

    The Management and Leadership Skills

    of School Administrators

    Nguyen Phuong Huyen*, Duong Thi Hoang Yen

    VNU University of Education, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    Received 05 December 2018

    Revised 27 December 2018; Accepted 27 December 2018

    Abstract: This article presents a study of management and leadership skills of current education administartors (principals, vice principals) of schools in Vietnam. Based on the insights from the theory on management and leadership skills, the performance of these skills by a group of school principals and vice principals was explored. The research results have effectively contributed to the development of training programs for school administartors to promote the radical and comprehensive renovation of education and training in Vietnam.

    Keywords: Management and leadership skills, education administrators, school principals, vice principals.

    *

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4198

    19

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ

     

    quản lý trường phổ thông

    Nguyễn Phương Huyền*, Dương Thị Hoàng Yến

    Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    Nhận ngày 05 tháng 12 năm 2018

    Chỉnh sửa ngày 27 tháng 12 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 27 tháng 12 năm 2018

    Tóm tắt: Bài báo giới thiệu một nghiên cứu về các kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) các trường phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu đã làm rõ các lý thuyết về kỹ năng, kỹ năng quản lý lãnh đạo đồng thời đánh giá thực trạng mức độ thực hiện các kỹ năng này của hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông. Kết quả nghiên cứu đã có những đóng góp cụ thể vào việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm góp phần vào thực hiện đổi mới toàn diện căn bản giáo dục, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

    Từ khóa: Kỹ năng, kỹ năng quản lý lãnh đạo, cán bộ quản lý, hiệu trưởng, hiệu phó nhà trường.

    1.   Nhập đề*

    Xu hướng đào tạo, bồi dưỡng nhà quản lý nói chung, hiệu trưởng, hiệu phó các nhà trường nói riêng theo hướng tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng việc phát triển kỹ năng thực hành đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tùy theo quan điểm cũng như bối cảnh riêng tại từng quốc gia, các tác giả đã chỉ ra các kỹ năng lãnh đạo của hiệu trưởng, hiệu phó nhà trường trên cơ sở đó xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cũng như đề xuất các biện pháp hướng vào việc phát triển, nâng cao kỹ năng lãnh đạo cho đội ngũ này.

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4198

    Các nghiên cứu có liên quan, đặc biệt trong thời gian gần đây đã làm rõ sự cần thiết xây dựng những chương trình đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng quản lý, kỹ năng lãnh đạo cho các cán bộ quản lý giáo dục một mặt hướng đến việc hoàn thiện chất lượng đội ngũ mặt khác đáp ứng xu hướng đào tạo mang tính ứng dụng. Để thiết kế được những chương trình như vậy cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý mà cụ thể là hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông.

    Nhiệm vụ của nghiên cứu là để đánh giá thực trạng kỹ năng quản lý, lãnh đạo cho hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông. Xuất phát từ mục đích nêu trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

    20

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    21

    • Kỹ năng lãnh đạo, quản lý nào cần thiết nhất cho cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay?
    • Các kỹ năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) trường phổ thông đang được thực hiện ở mức độ như

    thế nào?

    Các khái niệm

    • Kỹ năng: Theo một cách phổ biến nhất kỹ năng được hiểu là việc cá nhân thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào

    đó. Tóm lược lại tất cả những quan điểm, chủ yếu tập trung vào các khuynh hướng nổi bật như sau:

    • Khuynh hướng thứ nhất xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác hay kỹ thuật hành động. Các tác giả đi theo xu hướng này coi kỹ năng như sự nắm vững và vận dụng phương thức hành động vào thực tiễn trên cơ sở tri thức và những kỹ năng được hình thành trước đó.
    • Khuynh hướng thứ hai xem xét kỹ năng như một biểu hiện của năng lực cá nhân.

    Khuynh hướng này cũng đồng thời xem xét kỹ năng như là một điều kiện cần thiết để có năng lực trong một lĩnh vực nhất định. Đại diện cho quan điểm này là các tác giả N.D.Levitov; G.G. Golobev; K.K.Platonov…[1].

    • Khuynh hướng phân chia kỹ năng làm hai loại kỹ năng nhận thức và kỹ năng phi nhận thức. Nhóm kỹ năng nhận thức liên quan đến các nỗ lực trí tuệ đòi hỏi sự tham gia của ý thức, như suy nghĩ, lý luận hay ghi nhớ. Đánh giá kỹ năng nhận thức gắn với các hoạt động liên quan đến sự tính toán, ghi nhớ… Nhóm kỹ năng phi nhận thức hoặc “kỹ năng mềm” có liên quan đến động cơ, tính toàn vẹn và sự tương tác giữa các cá nhân. Trong các lý thuyết gần đây về quản lý, lãnh đạo tổ chức, các tác giả có xu hướng nhấn mạnh đến vai trò các kỹ năng phi nhận thức trong hiệu quả quản lý và lãnh đạo nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cũng như tính nhân văn. Gần gũi với xu hướng này, các khái niệm như lãnh đạo sáng tạo, lãnh đạo cảm xúc (Geher, 2004; Joseph & Newman, 2010; Matthews et al., 2002) ngày càng được nghiên cứu và ứng dụng gắn liền với sự phát triển của lý thuyết lãnh đạo [2, 3].
    • Gần đây khi đề cập đến kỹ năng, nhiều tác giả có xu hướng mở rộng hơn khi xem xét cả các yếu tố như thái độ, động cơ của cá nhân trong việc thực hiện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp. Cách tiếp cận này đặt kỹ năng trong mối quan hệ với các yếu tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) ở mỗi hành vi của một hoạt động nhất định. J.N.Richard (2003) cho rằng mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà con người ta suy nghĩ, kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ Kurt Fischer (Fischer, 1980; Bidell, 1998; Mascolo,

    Fischer & Neimeyer, 1999) đưa ra quan điểm kỹ năng là đại diện sống động cho năng lực, thái độ, cảm xúc của mỗi cá nhân. [1, 4]

    Theo quan niệm của chúng tôi, kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm cùng thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để

    thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã xác định. * Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản  lý  (hiệu  trưởng,  hiệu  phó)  trường

    phổ thông.

    Cheng và Townsend (2000) cho rằng vai trò của hiệu trưởng thường rất quan trọng đối với thành công của nhà trường. Hiệu trưởng là người khởi xướng để tạo ra văn hóa chất lượng thâm nhập vào các yếu tố, quy trình và các hệ thống của một nhà trường cụ thể. Mỗi hiệu trưởng cần thường xuyên đặt ra câu hỏi cho chính bản thân mình là “Tôi đã tác động đến thành công của nhà trường như thế nào bằng kiến thức, kỹ năng của mình?” [5].

    Lãnh đạo nhà trường thành công không phải là là đạt được một vị trí nào đó trong nhà trường mà hơn thế nữa đó là việc sử dụng những kiến thức và kỹ năng để xây dựng và phá triển một nhà trường thành công, sự thành công của một hiệu trưởng được đo bằng sự thành công của chính nhà trường đó. Do đó, “các hiệu trưởng cần có những kỹ năng lãnh đạo, quản lý để đảm bảo vai trò là người đứng đầu một nhà trường trong một bối cảnh mang tính đa dạng và thay đổi như hiện nay”. Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự liên kết thành công của nhà trường

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    với tính hiệu quả của kỹ năng quản lý, lãnh đạo – Sailesh Sharma (2001) [6, 7].

    Abdikadir Issa Farah (2013) cho rằng Hiệu trưởng một nhà trường giống như quản lý bất kỳ một tổ chức nào, đó đồng thời là nhà chính trị học học, nhà kinh tế, nhà tâm lý học và nhà xã hội học [8]. Mỗi nhà trường cũng đồng thời tồn tại sự đa dạng về văn hóa, giới tính, khả năng người học cũng như sự đa dạng về nhu cầu. Hiệu trưởng trước hết là trụ cột của nhà trường, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các chương trình nhà trường trên cơ sở đánh giá đúng nhu cầu và đặc điểm người học của nhà trường mình, điều đó đòi hỏi hiệu trưởng cần có kỹ năng quản lý, phát triển các chương trình giáo dục. Bên cạnh đó, hiệu trưởng cầu có kỹ năng tương tác giữa các cá nhân để kết nối các thành viên trong nhà trường, phát hiện và tập hợp sức mạnh của họ. Cuối cùng để thích ứng với sự thay đổi của bối cảnh xã hội, người hiệu trưởng nhà trường trong giai đoạn hiện nay không thể thiếu kỹ năng lãnh đạo sáng tạo để chủ động dẫn dắt nhà trường mình bước vào thử thách mới, những thay đổi mới [9].

    NASSP (Hiệp hội quốc gia hiệu trưởng các trường trung học) đã đưa ra mô hình 10 kỹ năng kỹ năng lãnh đạo, quản lý của hiệu trưởng trường phổ thông trên cơ sở những định nghĩa, mô tả và nghiên cứu thực tế. Trên cơ sở xác định 4 nhiệm vụ cơ bản của hiệu trưởng nhà trường phổ thông bao gồm: (a) lãnh đạo giáo dục; (b) giải quyết vấn đề; (c) giao tiếp; (d) Phát triển chuyên môn cá nhân và đội ngũ giáo viên. Hiệp hội NASSP thống nhất rằng để giải quyết 4 nhóm nhiệm vụ trên đòi hỏi họ (các hiệu trưởng trường phổ thông) cần có 10 kỹ năng lãnh đạo, quản lý như sau: Xây dựng và thiết lập mục tiêu của nhà trường; Làm việc nhóm; kỹ năng nhận thức xã hội; kỹ năng phán đoán; Kỹ năng ra quyết định; kỹ năng hành động độc lập; Kỹ năng tổ chức; Kỹ năng giao tiếp truyền thông; kỹ năng sử dụng văn bản; kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên; kỹ năng Phát triển chuyên môn cá nhân [1, 6].

    Việc xác định các kỹ năng quản lý, lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ thông nói trên có tác dụng phản ánh được bối cảnh chung của xã

    hội đồng thời phản ánh được đặc thù của nhà trường phổ thông. Cách phân loại này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng chuẩn hiệu trưởng các trường phổ thông ở một số quốc gia có sự tương đồng về bối cảnh kinh tế, xã hội cũng như văn hóa.

    Wagner (2013) nhấn mạnh đến các thay đổi về công nghệ thông tin và đổi mới trong nhà trường ở thế kỷ 21 đặt ra những đòi hỏi đối với hiệu trưởng các trường trung học cần có các kỹ năng quản lý, lãnh đạo như sau: Phát huy trí tuệ cảm xúc; Tư duy phê bình và kỹ năng phân tích; Sáng tạo và cải tiến; Kỹ năng giao tiếp và liên cá nhân; Kỹ năng sử dụng công nghệ; Những kỹ năng tổ chức; Kỹ năng quản lý bản thân; Làm việc nhóm và cộng tác; Phát triển quan hệ đối tác; Huy động cộng đồng phát triển nhà trường; Chống phân biệt đối xử trong trường học; Nhận thức và hiểu biết toàn cầu [12].

    Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng làm rõ vai trò lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường theo nhiều cách khác nhau để từ đó đề ra các kỹ năng lãnh đạo, quản lý cần thiết đối với họ. Peretomode (1991) tuyên bố tầm quan trọng của lãnh đạo trong trường học trước hết là để hoàn thành các chương trình, mục tiêu giáo dục

    • Cheng (1994) đề xuất rằng lãnh đạo trong các tổ chức giáo dục gồm năm nhiệm vụ chính, đó là: lãnh đạo cấu trúc, lãnh đạo con người, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo văn hóa và lãnh đạo giáo dục. Từ các nhóm chức năng này, các tác giả đã đưa ra nhóm kỹ năng cụ thể như sau: Kỹ năng xây dựng tầm nhìn của nhà trường; Kỹ năng lãnh đạo giảng dạy; Kỹ năng lãnh đạo tổ chức; Kỹ năng huy động cộng đồng; Kỹ năng quản lý hình ảnh; Kỹ năng phân tích bối cảnh; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng ra quyết định; Kỹ năng gây ảnh hưởng; Kỹ

    năng quản lý thời gian [5].

    Khái quát lại các lý thuyết trên đây, chúng tôi đưa ra khái niệm như sau: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của người cán bộ quản lý một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    23

    hiện vai trò quản lý, điều hành nhà trường phổ thông có hiệu quả.

    Sau khi nghiên cứu những quan điểm nêu trên về kỹ năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông cùng với việc phân tích những đặc trưng bối cảnh của nhà trường phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi đưa ra các kỹ năng lãnh đạo, quản lý cơ bản của hiệu trưởng trường phổ thông như sau:

    • Kỹ năng quản lý sự thay đổi
    • Kỹ năng phát triển chuyên môn cá nhân và cán bộ giáo viên
    • Kỹ năng quản lý stress
    • Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường
    • Kỹ năng tạo động lực
    • Kỹ năng giao tiếp và truyền thông
    • Kỹ năng huy động cộng đồng phát triển nhà trường
    • Kỹ năng quản lý hoạt động dạy học
    • Kỹ năng phát triển và quản lý chương trình nhà trường
    • Kỹ năng quản lý chất lượng trong nhà trường.

    Kết quả nghiên cứu:

    Nghiên cứu này thực hiện trên 240 hiệu trưởng, hiệu phó các trường trung học tại bốn tỉnh thành là Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Bảng câu hỏi được thiết kế trên cơ sở mô hình lý thuyết đã xây dựng cùng với tham khảo ý kiến các chuyên gia là giảng viên, nhà nghiên cứu và các hiệu trưởng, hiệu phó trường phổ thông. Các yếu tố thuộc về đặc thù

    bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay cũng được tính đến và đưa vào nghiên cứu. Các kỹ năng thành phần được thiết kế thành các items cụ thể trong thiết kế bảng hỏi. Mỗi items được phát triển với 5 mức độ tương ứng 5 thang điểm. Những người tham gia được yêu cầu đánh dấu “V” vào các items phản ánh các quan điểm và các kinh nghiệm mà họ đã trải qua các liên quan đến các kỹ năng quản lý, lãnh đạo.

    Tính điểm trung bình của các bảng theo công thức:

    k

    k

    =

    åXi K i

    =

    åXi K i

    X

    i=1

    i=1

    k

    n

    åK i

    i=1

    Trong đó: Điểm trung bình; Xi: Điểm ở mức độ i; Ki: Số người cho điểm ở mức độ i; n: Số người tham gia đánh giá.

    Các mức ý nghĩa được phân loại như sau:

    1.00 – 1.80: Rất yếu kém/ hoàn toàn không thực hiện/ hoàn toàn không cần thiết…;

    1,81 – 2,60: Yếu/kém/không thực hiện/không cần thiết …;

    2,61 – 3,40: Trung bình/ít khi/Ít cần thiết/phân vân…;

    3,41 – 4,20: Khá/Khá thường xuyên/Khá cần thiết…;

    4,21 – 5,00: Rất tốt/rất thường xuyên …

    (Như vậy điểm trung bình sẽ ở trong khoảng từ 1-5)

    * Một số thông tin về khách thể điều tra:

    Bảng 1. Một số thông tin của người tham gia khảo sát

    Giới tính

    Độ tuổi

    Kinh nghiệm quản lý

    Số năm công tác

    M

    F

    35<

    35‐45

    > 45

    <5

    5‐10

    >10

    <5

    5‐10

    >10

    153(63.75)

    87(36.25)

    9.5

    58.5

    32.0

    11,5

    52.0

    36.5

    2%

    24%

    74%

    i

    Nội dung bảng 1 cho thấy trong tổng số 240

    63,75% trong nhóm nghiên cứu này nếu so với

    cán bộ quản lý có 87 người (36.25%) là nữ giới

    tỉ lệ giáo viên nam chiếm 20,46%. Đây cũng là

    và 153 (63.75%) là nam giới. 58.5% cán bộ

    một thực tế đặt ra đối với công tác bồi dưỡng và

    quản lý ở độ tuổi 35-45, tiếp sau đó là 9.5%

    phát triển cán bộ nữ. Bảng 1 cũng cho thấy

    thuộc độ tuổi dưới 35 tuổi và 32% ở độ tuổi

    phần lớn cán bộ quản lý có kinh nghiệm quản lý

    trên 45. Số liệu này cũng phản ánh xu hướng trẻ

    từ 5- 10 năm (52,0%), 36,5% cán bộ quản lý

    hóa trong đội ngũ cán bộ quản lý các trường

    được  khảo sát  có kinh nghiệm hơn 10 năm,

    phổ thông hiện nay, bên cạnh đó cũng có thể

    trong khi chỉ có 11,5% cán bộ quản lý có kinh

    nhận thấy tỉ lệ cán bộ quản lý là nam giới chiếm

    nghiệm dưới 5 năm.

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    Về thâm niên công tác trong lĩnh vực giáo dục: 74% cán bộ quản lý có thâm niên công tác trên 10 năm (phổ biến ở mức trên 15 năm); 24% có thâm niên công tác từ 5- 10 năm; chỉ có 2% số cán bộ quản lý có thâm niên công tác dưới 5 năm. 100% cán bộ quản lý tại các trường phổ thông đều được trưởng thành và phát triển từ vị trí giáo viên.

    Trong giới hạn của bài báo này, chúng tôi xin được trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu

    thực trạng 4 kỹ năng thành phần là: kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; kỹ năng phát triển chuyên môn; kỹ năng quản lý stress. Kết quả cụ thể như sau:

    (i) Kỹ năng quản lý sự thay đổi

    Chúng tôi thiết kế bảng hỏi với 9 items có nội dung như sau:

    Bảng 2. Thực trạng kỹ năng quản lý sự thay đổi của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    CM1

    Phân tích bối cảnh bên trong và bên ngoài nhà trường

    3,44

    0.776

    CM2

    Phát triển nhóm, tổ/đội chức năng với sức mạnh để dẫn dắt sự thay đổi

    2,07

    0.826

    trong nhà trường

    CM3

    Xác định tầm nhìn và kế hoạch chiến lược để giúp tạo ra những nỗ lực

    3,37

    0.718

    cho sự thay đổi

    CM4

    Tổ chức các hoạt động truyền thông trong nhà trường để thay đổi tầm

    3,66

    0.823

    nhìn và triển khai kế hoạch chiến lược

    CM5

    Loại bỏ các rào cản để thay đổi

    3,22

    0,775

    CM6

    Khuyến khích việc chấp nhận rủi ro

    3,17

    0.814

    CM7

    Giải quyết vấn đề sáng tạo

    3,03

    0.867

    CM8

    Hợp nhất hệ thống và tạo ra nhiều thay đổi hơn

    2,87

    0.720

    CM9

    Củng cố các cách tiếp cận mới trong văn hóa nhà trường nhằm thích

    2,76

    0.831

    ứng sự thay đổi.

    Điểm trung bình

    3,06

    h

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 2 cho thấy 2/9 kỹ năng thành phần đạt mức khá (CM1, CM4); 6/9 kỹ năng đạt mức trung bình và 1/9 kỹ năng (Kỹ năng phát triển nhóm, tổ/đội chức năng với sức mạnh để dẫn dắt sự thay đổi trong nhà trường – CM2) đạt mức dưới trung bình.

    Qua trao đổi, các cán bộ quản lý cho biết chưa khi nào nhà trường phổ thông tại Việt Nam lại đứng trước nhiều thay đổi như giai đoạn hiện nay. Những thay đổi đến từ bên trong và bên ngoài nhà trường khiến cho chính họ – những người lãnh đạo mỗi nhà trường cũng gặp phải nhiều lúng túng. Bên cạnh đó, sự thay đổi dường như lại mâu thuẫn với những đặc trưng về tính ổn đinh, có phần bảo thủ của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường.

    Thầy N.M.Ph – một Hiệu trưởng trường THPT tại Hà Nội – chia sẻ quan điểm: Bản thân thầy vốn là hiệu phó ở một trường THPT có

    tiếng khu vực nội thành, nay mới được giao nhiệm vụ hiệu trưởng một trường mới thành lập

    • vùng ven đô. Trở ngại đối với sự thay đổi đến từ chính bên trong mỗi cán bộ quản lý mà vượt qua được nó mới có thể dẫn dắt tập thể nhà trường quản lý được sự thay đổi. Một trở ngại nữa là việc tập hợp, phát triển được một nhóm tiên phong cho đổi mới trong nhà trường, huy động được sức mạnh của từng cá nhân trong nhà trường đã khó mà gắn kết được các cá nhân

    này càng khó hơn.

    Thầy N.V.T – hiệu trưởng một trường phổ thông tại Phú Thọ – nêu quan điểm: “Có dịp được tham quan, học tập một số trường bạn, tôi thường cảm thấy rất hăm hở áp dụng và triển khai những cách làm hay có thể học tập nhưng cái khó là chưa biết bắt đầu từ đâu. Tôi cũng nỗ lực trong việc xây dựng một văn hóa nhà trường sẵn sàng cho sự thay đổi nhưng gặp khó

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    25

    khăn giữa cái mong muốn và cái có thể thực hiện. Nhìn chung rào cản còn nhiều quá!”.

    Cô T.T.H.Y. – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội cho biết: “Chưa bao giờ nhà trường phổ thông tại Việt Nam đứng trước nhiều thay đổi như giai đoạn hiện nay. Sự thay đổi từ chính nội tại nhà trường và những đòi hỏi từ bên ngoài nhà trường như sự thay đổi về chính sách, chương trình cũng như xu hướng về hợp tác, hội nhập quốc tế. Quản lý sự thay đổi trong nhà trường theo quan điểm của tôi đòi hỏi sự sáng tạo từ Ban giám hiệu nhà trường, sự chấp nhận rủi ro, tuy nhiên điều quan trọng hơn theo kinh nghiệm cá nhân tôi là xây dựng được văn hóa của tập thể nhà trường để thích ứng với sự thay đổi, phải có sự đồng hành của tập thể”.

    (ii) Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường

    Bảng hỏi cho kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường thiết kế với 8 items có nội dung như sau (Bảng 3):

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 3 cho thấy 3/8 kỹ năng thành phần của cán bộ quản lý được thực hiện ở mức độ khá (trong đó cao nhất là Kỹ năng chia sẻ tầm nhìn, giá trị và mục tiêu của nhà trường với cộng đồng và xã hội – Mean: 3.72); 5/8 kỹ năng

    còn lại đạt mức độ trung bình trong đó Kỹ năng xây dựng kế hoạch hành động (Mean: 3.11) là ở mức thấp nhất. Như vậy có thể thấy vai trò lãnh đạo của hiệu trưởng các trường phổ thông đã ngày càng được quan tâm và hoàn thiện mặc dù không phải không còn những khó khăn, hạn chế. Qua trao đổi, nhiều cán bộ quản lý cho biết bản thân họ vốn trưởng thành từ giáo viên. Họ có thể là những giáo viên dạy giỏi, chuyên môn vững nhưng khi trở thành nhà quản lý đa số họ lại chưa được chuẩn bị về kiến thức và đặc biệt là kỹ năng quản lý dẫn đến tình trạng vừa làm vừa học hỏi. Việc thu thập thông tin và có những dự báo để xâ dựng kế hoạch đòi hỏi cái nhìn chiến lược của hiệu trưởng nhà trường phải mở rộng từ phạm vi của một đơn vị nhỏ (chẳng hạn như tổ bộ môn) sang phạm vi một nhà trường gắn với sứ mệnh nhà trường đó. Bà T.T.H.Y – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội – cho biết những kế hoạch mang tính ngắn hạn và trung hạn bản thân bà cũng như nhiều hiệu trưởng khác có thể khá thành thạo, nhưng với những kế hoạch dài hạn mang tính chiến lược lại gặp khó khăn trong việc dự báo được bối cảnh xã hội, những tác động đến nhà trường.

    Bảng 3. Thực trạng kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    SD1

    Thu thập thông tin và dự báo nhằm phân tích, đánh giá những

    3,57

    0.784

    thông tin đã xác định

    SD2

    Chia sẻ tầm nhìn, giá trị và mục tiêu của nhà trường với cộng

    3,72

    0.726

    đồng và xã hội

    SD3

    Xác định vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong những giai đoạn

    3,69

    0.725

    SD4

    Xây dựng kế hoạch hành động

    3,11

    0.813

    SD5

    Chia sẻ, thu hút và quản lý các nguồn nhân lực để thực hiện mục

    3,37

    0,755

    tiêu, sứ mệnh

    SD6

    Thúc đẩy sự cam kết của các lực lượng bên trong và bên ngoài

    3,21

    0.810

    nhà trường để thực hiện mục tiêu

    SD7

    Xây dựng các chính sách trong nội bộ Nhà trường nhằm tối đa

    3,42

    0.877

    hóa khả năng thực hiện các mục tiêu của Nhà trường

    SD8

    Đánh giá, phản hồi để theo dõi sự tiến bộ ở các mặt trong hoạt

    3,18

    0.721

    động của nhà trường hướng vào các mục tiêu chung

    Điểm trung bình

    3,40

    l

     

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

     

    Đồng tình với quan điểm này, một số hiệu trưởng còn chia sẻ quan điểm, có địa phương thực hiện luân chuyển cán bộ. Có khi qua một nhiệm kỳ, ở một trường đã dần hiểu và xây dựng văn hóa dần đi vào ổn định thì được phân công sang trường khác. Văn hóa nhiệm kỳ cùng những điểm chưa hợp lý trong chính sách nói chung cũng khiến cho việc xây dựng các mục tiêu có tính chiến lược trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, mức độ chia sẻ mục tiêu, sứ mệnh ngay chính trong tập thể nhà trường và các lực

    lượng bên ngoài nhà trường cũng chưa thực sự tốt dẫn đến những cản trợ cho xây dựng và thực hiện các mục tiêu mang tính chiến lược. Những khó khăn nêu trên là lí do để kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường của hiệu trưởng các trường phổ thông hiện nay còn có những hạn chế.

    (iii) Kỹ năng phát triển chuyên môn

    Bảng hỏi cho kỹ năng phát triển chuyên môn được thiết kế với 9 items có nội dung như sau:

    Bảng 4. Thực trạng kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    PD1

    Chia sẻ, tạo sự đồng thuận trong tập thể cán bộ giáo viên về

    3,87

    0.874

    những sứ mệnh, giá trị và mục tiêu chất lượng của nhà trường

    PD2

    Theo dõi thường xuyên các yếu tố quan trọng của nỗ lực cải

    3,41

    0.715

    thiện chất lượng nhà trường.

    PD3

    Xây dựng văn hóa học hỏi, hợp tác trong nhà trường

    3,27

    0.726

    PD4

    Khuyến khích, ủng hộ thử nghiệm và các ý tưởng, sáng kiến

    3,12

    0.814

    chuyên môn của giáo viên.

    PD5

    Duy trì và phát triển các cam kết về phát triển chuyên môn

    3,45

    0,776

    giáo viên

    PD6

    Cung cấp các điều kiện thuận lợi để hỗ trợ bồi dưỡng, phát triển

    3,21

    0.811

    chuyên môn giáo viên

    PD7

    Cung cấp các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn

    2,77

    0.897

    giáo viên có mục tiêu và nội dung được xây dựng dựa trên các

    dữ liệu nghiên cứu thực tế.

    PD8

    Khuyến khích, đề cao các cá nhân giáo viên và tổ chuyên môn

    3,88

    0.701

    tự hiệu quả

    PD9

    Duy trì cam kết cải thiện liên tục chất lượng chuyên môn của

    3,29

    0.861

    nhà trường.

    Điểm trung bình

    3,36

    S

     

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 4 cho thấy kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên của cán bộ quản lý ở mức độ trung bình với Mean là 3,36. Có 4/9 kỹ năng thành phần của các cán bộ quản lý trường THPT thực hiện đạt kết quả khá, còn lại 5/9 đạt kết quả trung bình. Kỹ năng khuyến khích, đề cao các cá nhân giáo viên và tổ chuyên môn tự hiệu quả có mean cao nhất (3.88) và Kỹ năng cung cấp các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn giáo viên có mục tiêu và nội dung được xây dựng dựa trên các dữ liệu nghiên cứu thực tế có mean thấp nhất (2.77).

    Qua phỏng vấn hiệu trưởng các trường THPT cũng cho kết quả tương tự. Bà V.T.Th – hiệu trưởng một trường THPT tại Vĩnh Phúc – cho biết bản thân bà cũng như các hiệu trưởng khác đánh giá cao hoạt động phát triển chuyên môn giáo viên, những kỹ năng như khuyến khích các cá nhân, tập thể điển hình có thành tích chuyên môn hay chia sẻ sứ mệnh, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường được vận dụng thường xuyên. Bên cạnh đó, cũng phải thừa nhận có những kỹ năng khó thực hiện, ví dụ như làm sao để xây dựng văn hóa học hỏi trong một tập thể cán bộ giáo viên, bằng cách nào để có đủ

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    27

    điều kiện duy trì thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường khi mà còn có quá nhiều khó khăn mặc dù chúng tôi biết những chương trình như thế là cần thiết và đáp ứng đúng, sát với nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên. Bà T.T.H.Y. – Hiệu trưởng một trường THPT ở Hà Nội – nêu quan điểm: Bằng kinh nghiệm của mình tôi coi trọng kỹ năng phát triển chuyên môn giáo viên bởi đó là chìa khóa chất lượng, là lợi thế cạnh tranh của chúng tôi nhưng việc làm như thế nào trong điều kiện hiện có là một vấn đề khác. Tôi phải thừa nhận sự khó khăn trong xây dựng một văn hóa biết học hỏi của nhà trường nói chung. Thầy cô có kinh nghiệm ngại chia sẻ chuyên môn, thầy cô giáo trẻ thì cũng không sẵn lòng để học hỏi. Sự thừa nhận rằng tôi cần phải học hỏi từ người khác là điều mọi người e ngại như thể đó là sự công nhận hạn chế của mình.

    (iv) Kỹ năng quản lý Stress

    Bảng hỏi cho kỹ năng quản lý stress được thiết kế với 9 items có nội dung như sau (Bảng 3.5):

    Đánh giá:

    Kết quả bảng 5 cho thấy 2/5 kỹ năng thành phần được các cán bộ quản lý thực hiện ở mức độ khá, 3/5 kỹ năng còn lại ở mức trung bình và không có kỹ năng nào ở mức dưới trung bình. Các cán bộ quản lý khi thảo luận đều có đánh giá chung rằng tình trạng stress ngày càng gia tăng tỉ lệ thuận với những áp lực đang đặt lên các cán bộ giáo viên với bất kỳ vai trò nào của họ trong xã hội đặc biệt là những thay đổi diễn ra bên trong và bên ngoài nhà trường, những vai trò, sứ mệnh mà xã hội kỳ vọng ở thầy cô. Tuy thực tế là vậy, xong đa số stress của cán bộ giáo viên và của chính cán bộ quản lý lại không được quan tâm đúng mức và bị dấu đi. Thầy hiệu trưởng P.H.H cho biết: “Bản thân chúng tôi cũng là những cũng đang phải chịu đựng stress, áp lực về trách nhiệm giải trình chất lượng với cơ quan quản lý, với địa phương. Cùng với đó là những xung đột trong tập tập thể về sự cân đối các nguồn lực được phép huy động và nhu cầu để phát triển nhà trường…”.

    Bảng 3.5. Thực trạng kỹ năng quản lý stress của cán bộ quản lý trường phổ thông

    Item

    Nội dung

    Mean (1-5)

    SD

    SM1

    Loại bỏ, hạn chế yếu tố gây stress

    3,26

    0.821

    SM2

    Giảm thiểu các tác động tiêu cực từ stress

    3,31

    0.762

    SM3

    Thay đổi nhận thức về stress

    3,44

    0.812

    SM4

    Kiểm soát các tác động của stress

    3,41

    0.818

    SM5

    Cung cấp các hỗ trợ can thiệp cho tình trạng stress

    3,20

    0.834

    Điểm trung bình

    3,32

    I

     

    Thực tế về những hành vi bột phát, nằm ngoài phạm vi quyền hạn của cán bộ giáo viên

    • nhiều địa phương như đã diễn ra có thể nhận thấy một phần nguyên nhân từ tình trạng stress
    • trong đó. Nhiều cán bộ quản lý cũng đồng tình quan điểm hạn chế trong kỹ năng quản lý stress có phần từ khách quan nhưng trong đó có cả lí do chủ quan là bản thân cán bộ quản lý cũng chưa thành thạo các kỹ năng này thậm chí ngay trong quản lý stress cho chính họ. Các cán bộ quản lý đánh giá kỹ năng khó nhất là cung cấp các hỗ trợ can thiệp cho stress trong nhà trường, băn khoăn nói chung là các hỗ trợ can

    thiệp này có thể là gì và bằng cách nào huy động được.

    (v) Đánh giá chung

    Kết quả khảo sát cho thấy 4 kỹ năng nêu trên của các cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) các trường phổ thông hiện nay đều ở mức độ trung bình. Trong 4 kỹ năng thành phần thuộc nhóm kỹ năng này có Kỹ năng xây dựng chiến lược nhà trường ở mức độ cao nhất với (Mean: 3,40) sau đó là Kỹ năng phát triển chuyên môn (3,36); Kỹ năng quản lý stress (3,32), và Kỹ năng quản lý sự thay đổi thực hiện ở mức độ thấp nhất (3,06).

    • P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    Hình 2. Mô hình đánh giá thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý.

    5.           Kết luận

     

    • Về vấn đề kỹ năng, chúng tôi khái quát lại hai hướng nghiên cứu chủ yếu: Coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực – khả năng thực hiện hành động và xu hướng coi kỹ năng là mặt kỹ thuật – trình độ của hành động, hoạt động. Với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất đưa ra quan niệm: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động đó có kết quả. Kỹ năng không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân mà là sản phẩm của hoạt động thực tiễn. Kết quả thực hiện kỹ năng là sự tổng hòa của kiến thức, thái độ… của cá nhân với mỗi tình huống cụ thể trong khách quan.
    • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo là sự vận dụng có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết của nhà quản lý vào trong hoạt động quản lý của mình ở những tổ chức cụ thể để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở định nghĩa này mà chúng tôi đưa ra quan niệm: Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện vai trò quản lý, điều hành nhà trường phổ thông có hiệu quả.
    • Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của cán bộ quản lý (hiệu trưởng; hiệu phó) các trường phổ thông bao gồm: Kỹ năng quản lý sự thay đổi; Kỹ năng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; Kỹ năng phát triển chuyên môn; Kỹ năng quản lý stress; Kỹ năng tạo động lực; Kỹ năng giao tiếp truyền thông; Kỹ năng huy động cộng đồng phát triển nhà trường; Kỹ năng quản

    lý hoạt động dạy học; Kỹ năng quản lý, phát triển chương trình; Kỹ năng quản lý chất lượng nhà trường.

    • Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng quản lý, lãnh đạo của các cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) trường phổ thông đạt mức độ trung bình. Thực tế này đặt ra một yêu cầu trong thiết kế nội dung, tổ chức thực hiện các chương trình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn quản lý cho các cán bộ quản lý đặc biệt trong bối cảnh các nhà trường phổ thông đang đứng trước áp lực ngày một gia tăng về đổi mới căn bản trong giáo dục đào tạo.

    Lời cảm ơn

    Nghiên cứu trên đây (mã số QG.16.62) do nhóm các tác giả thuộc Trường Đại học Giáo, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, được tài

    trợ bởi Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU).

    Tài liệu tham khảo

    • Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên), Dương Thị Hoàng Yến, Nguyễn Phương Huyền, Ứng dụng Tâm lý học trong quản lý giáo dục, NXB Đại học Quốc Gia, 2018.
    • C. Cranston, School based management, Leaders and leadership: change and challenges for principals, International Studies in Educational Administration. 30(1) (2002) 2-12.
    • Halimah M. Yusof , Hamdan A. Kadir, Mastura Mahfar, The Role of Emotions in Leadership Faculty of Management, Universiti Teknologi Malaysia, UTM Skudai, Johor, Malaysia.
    • Ira Pant, Bassam Baroudi, Project Management Education: The Human Skills Imperative, School of Natural And Built Environments, University of South Australia (City East), North Terrace, Adelaide, South Australia, Australia, 2007.
    • C. Cheng, School effectiveness and school based management: A mechanism for development, London: Falmer Press, 1996.
    • Andrews, R. Soder, Principal leadership and student achievement. Educational leadership, 44(6), 9-11. L.G. Beck, J. Murphy, Ethics in Educational Leadership Programs. Thousand Oaks: Corwin Press, 1987.
    • Sailesh Sharma, Attributes of school principals-leadership qualities and capacities- Institute of Principalship Studies, University of Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia.

    N.P. Huyen, D.T.H. Yen / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 19-29

    29

    • Abdikadir Issa Farah, School Management: Characteristics of Effective Principal, 2013.
    • T. Bossert, D.C. Dwyer, B. Rowan, G.V. Lee, The instructional management role of the principal. Educational Administration Quarterly. 18(3) (1982) 34-64.
    • Arikewuyo Olalekan, Teachers Perception of Leadership Capacities of Their Principals, Academic Leadership: The Online Journal, vol. 5, Issue 3. Coleman, Marianne, Glover And Derek

    (2010) Educational Leadership And Management:

    Developing Insights And Skills, Open University Press, 2007.

    • A. Lipham, Leadership and administration, In D. Griffiths (Eds), Behavioral Sciencen and Educational Administration, Chicago: University of Chicago Press, 1964.
    • Anne Touwen, Handbook For Projects: Development Management And Fundraising, Convener Ifuw Special Committee On Project Development, 2001.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-chuy%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

     

    PGS.TS. Đinh Trọng Hanh*

    Những giải pháp phát triển phương thức kiểm toán chuyên đề của kiểm toán nhà nước

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản

    lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị. Trong thời gian qua, KTNN đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề, mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng vẫn còn những tồn tại, vướng mắc. Bài viết trình bày khái quát về phương thức kiểm toán chuyên đề và giải pháp phát triển phương thức kiểm toán này.

    Từ khóa: Kiểm toán chuyên đề, Kiểm toán nhà nước

    Solutions to the development of thematic audit methods of SAV

    Thematic auditing is a method of organizing auditing activities that have been implemented by the State Audit of Vietnam (SAV) for many years and in many fields and have yielded certain results in evaluating professional activities of auditees, and therefore, the management consultancy and management proposals are of practical value. Over the past years, SAV carried out many thematic audits, bringing many remarkable results but also the remaining several problems. This article provides an overview of the method of thematic auditing and solutions to develop this audit method.

    Keywords: Thematic audit, SAV

     

    1. Đặt vấn đề

    Kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán đã được Kiểm toán nhà nước (KTNN) triển khai thực hiện trong nhiều năm, nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết quả nhất định trong việc đánh giá những hoạt động có tính chất chuyên môn, chuyên sâu của các đơn vị được kiểm toán, từ đó, đưa ra các ý kiến tư vấn, kiến nghị quản lý có giá trị thực tiễn cho đơn vị.

    Việc tổ chức kiểm toán chuyên đề của KTNN có nhiều ưu điểm: giúp cho KTNN có thể đánh giá theo chiều sâu những vấn đề, hoạt động trọng yếu… của đơn vị được kiểm toán, song, đến nay, do nhiều lý do, hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN còn những hạn chế nhất định, chưa phát

    huy đầy đủ những ưu điểm, thế mạnh của kiểm toán chuyên đề đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán.

    Hoạt động kiểm toán của KTNN, trong đó, chủ yếu là kiểm toán tài chính, trong hơn 20 năm qua đã khá ổn định và phát huy được những tác động tích cực đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán, phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, sự tác động của kiểm toán đối với hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công thì hoạt động kiểm toán của KTNN cần tiếp tục được phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán mà một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là cần mở rộng, phát triển phương thức tổ chức kiểm toán chuyên đề.

    *Chuyên gia, Nguyên Kiểm toán trưởng KTNN Khu vực X

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  7

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    2. Khái niệm, đặc điểm và những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    2.1. Khái niệm

    Kiểm toán chuyên đề, trước tiên, thể hiện ở nội dung cuộc kiểm toán: đó là việc thực hiện kiểm toán được giới hạn ở một hoặc một nhóm hoạt động trong quản lý tài chính công, tài sản công (một chủ đề hay một vấn đề kiểm toán) của đơn vị được kiểm toán. Như vậy, kiểm toán chuyên đề hướng đến một phạm vi hoạt động được kiểm toán hẹp và theo chiều sâu của nội dung kiểm toán.

    Về hình thức tổ chức, kiểm toán chuyên đề: dù được tổ chức thành cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nội dung trong cuộc kiểm toán toàn diện tại đơn vị thì vẫn phải được tổ chức thành các nhóm, tổ Kiểm toán viên (KTV) có chuyên môn chuyên sâu về hoạt động kiểm toán và giữa các KTV có mối quan hệ chặt chẽ trong phối hợp thực hiện các nội dung nghiệp vụ kiểm toán (khác với cuộc kiểm toán tài chính, các KTV được giao các nhiệm vụ, nội dung kiểm toán độc lập).

    Như vậy, từ những đặc thù về nội dung và hình thức tổ chức của cuộc kiểm toán chuyên đề như trên có thể hiểu: kiểm toán chuyên đề là một phương thức tổ chức hoạt động kiểm toán hướng đến một hoặc một nhóm hoạt động quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công tại đơn vị được kiểm toán nhằm đánh giá và đưa ra ý kiến tư vấn, kiến nghị chuyên sâu đối với đơn vị.

    2.2. Đặc điểm của kiểm toán chuyên đề

    Hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN có những đặc điểm chủ yếu sau:

    • Mục tiêu kiểm toán: nhằm đánh giá về một chủ đề hoạt động chuyên sâu trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công để tư vấn, kiến nghị về những giải pháp, biện pháp khắc phục những yếu kém, hạn chế của đơn vị được kiểm toán.

     

    • Đối tượng kiểm toán: thường tập trung vào một hoặc một nhóm nội dung kiểm toán có tính trọng yếu hoặc có rủi ro lớn hoặc có “vấn đề” (có dấu hiệu yếu kém, sai phạm…) tại đơn vị được kiểm toán.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Phạm vi về khách thể kiểm toán: do đặc thù hoạt động kiểm toán của KTNN nên phạm vi khách thể kiểm toán thường rất rộng, có tính hệ thống (thường thực hiện kiểm toán trong cả hệ thống ngành, địa phương hoặc lĩnh vực kiểm toán).

     

    • Nội dung kiểm toán: do mục tiêu kiểm toán xác định như ở trên nên nội dung kiểm toán khá đa dạng: kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động hoặc cuộc kiểm toán hỗn hợp.

     

    • Hình thức tổ chức cuộc kiểm toán: thường được tổ chức theo một “chuỗi” cuộc kiểm toán; trong đó, hình thành các cuộc kiểm toán độc lập hoặc là một nhiệm vụ “chuyên biệt” trong một cuộc kiểm toán toàn diện đối với đơn vị được kiểm toán.

    2.3. Những vấn đề đặt ra trong kiểm toán chuyên đề

    Từ thực tiễn kiểm toán chuyên đề của KTNN cho thấy: để nâng cao chất lượng, hoàn thiện tổ chức hoạt động kiểm toán chuyên đề thì cần nghiên cứu, giải quyết một số “vấn đề” sau:

    • Công tác định hướng và quản lý kiểm toán còn nhiều hạn chế: chưa hoạch định được các định hướng, chương trình kiểm toán chuyên đề cho từng ngành, lĩnh vực để có những đánh giá chuyên sâu, có giá để giải quyết các “vấn đề” của ngành, lĩnh vực…; việc lựa chọn chuyên đề kiểm toán, tạo lập chương trình thực hiện (kế hoạch) các chuyên đề kiểm toán chưa được xây dựng trong “kế hoạch kiểm toán trung hạn” để chủ động thực hiện các giai đoạn cần thiết của hoạt động kiểm toán chuyên đề.
    • Việc chọn chủ đề kiểm toán của KTNN hiện nay thường có chủ đề kiểm toán có phạm vi rộng (ví dụ: kiểm toán hoạt động ngân sách huyện; kiểm toán quản lý đất đai của các dự án đô thị, kiểm toán sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ…) nên tính chất “chuyên đề”, mục tiêu “chuyên sâu” bị hạn chế; mặt khác, việc lựa chọn và nghiên cứu chuyên đề kiểm toán của các KTNN chuyên ngành hoặc KTNN khu vực thường tương đối thụ động nên thiếu nghiên cứu thận trọng về vấn đề được lựa chọn kiểm toán.
    • Việc tổ chức công việc kiểm toán về cơ bản tuân thủ quy trình chung của cuộc kiểm toán, song, một số hoạt động kiểm toán có tính đặc thù của kiểm toán chuyên đề: chọn chuyên đề kiểm toán; tổ chức kiểm toán “thử” để xây dựng mô hình cuộc kiểm toán; tổng hợp kết quả và kiến nghị kiểm toán… còn chưa được thực hiện hoặc không đảm bảo sự thống nhất làm hạn chế lớn đến chất lượng cuộc kiểm toán.

    3. Phát triển và nâng cao chất lượng kiểm toán chuyên đề

    3.1. Cơ sở và tính cấp thiết

    Việc KTNN thực hiện nội dung kiểm toán truyền thống (kiểm toán tài chính) là cần thiết, song, việc nâng cao chất lượng và vai trò của KTNN đối với hoạt động quản lý tài chính công, tài sản công theo hướng phát triển kiểm toán chuyên đề là một định hướng đúng và cấp thiết; cụ thể:

    • Kiểm toán chuyên đề là cơ sở, là điều kiện để kiểm toán đánh giá theo chiều sâu những vấn đề trọng yếu, những hoạt động có rủi ro cao hoặc những hoạt động còn nhiều hạn chế, yếu kém trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công của các đơn vị được kiểm toán.
    • Việc triển khai, phát triển nội dung kiểm toán hoạt động của KTNN là một yêu cầu cấp bách, đáp ứng yêu cầu tăng cường quản lý của chính quyền nhà nước các cấp và sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với các tổ chức quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công mà trong đó, kiểm toán theo “chuyên đề”, “vấn đề” là định hướng chủ đạo của kiểm toán hoạt động.
    • KTNN là một cơ quan có vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào “cuộc chiến” của Đảng, Nhà nước đối với phòng và chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; hoạt động kiểm toán chỉ có thể hướng đến phát triển kiểm toán theo chiều sâu, kiểm toán chuyên đề.

    3.2. Phương hướng và giải pháp

    Để đáp ứng được yêu cầu cấp bách của thực tiễn

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  9

    PHAÙT TRIEÅN PHÖÔNG THÖÙC kieåm toaùn chuyeân ñeà cuûa Kieåm toaùn nhaø nöôùc

    trên, hoạt động kiểm toán của KTNN, nói chung, và hoạt động kiểm toán chuyên đề của KTNN, nói riêng, cần được đổi mới, hoàn thiện theo những phương hướng và giải pháp sau:

    • Đổi mới công tác quản lý hoạt động kiểm toán của KTNN dựa trên cơ sở đổi mới công tác kế hoạch kiểm toán của KTNN; cụ thể gồm 2 giải pháp:
    • Tổ chức một cách có hệ thống công tác xây dựng và quản lý kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán trung hạn (3 năm liên tục), trong đó, nội dung quan trọng (cốt lõi) là xây dựng các chương trình kiểm toán (kế hoạch và tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán) chuyên đề, kiểm toán hoạt động cho những ngành, lĩnh vực có những “vấn đề” để tổ chức thực hiện đạt được những mục tiêu có giá trị đối với quản lý ngành, lĩnh vực.
    • Nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý kế hoạch kiểm toán năm trong mối quan hệ hữu cơ với kế hoạch kiểm toán trung hạn; đây là cơ sở cho việc thực hiện các cuộc kiểm toán chuyên đề vượt khỏi giới hạn của từng “cuộc kiểm toán”, giải quyết được những “vấn đề” có tính hệ thống, tác động rộng đối với hệ thống các đơn vị được kiểm toán.
    • Đa dạng hóa các hình thức tổ chức kiểm toán chuyên đề phù hợp với đặc điểm của “vấn đề” kiểm toán và khách thể kiểm toán; cụ thể gồm 2 hình thức cơ bản sau:
    • Tổ chức kiểm toán chuyên đề theo mô hình hình thành “chuỗi” các cuộc kiểm toán đối với những chuyên đề ở phạm vi rộng cả một lĩnh vực, ngành, địa phương. Các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán này có thể được tổ chức trong 2 – 3 năm liên tục để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kiểm toán.
    • Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề lồng ghép trong các cuộc kiểm toán tài chính (bộ, ngành, địa phương) đối với các chuyên đề hướng vào đánh giá những “vấn đề” phát sinh trong từng đơn vị được kiểm toán (kiểm toán việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, bảo vệ và phục hồi môi trường…).
    • Xây dựng quy trình kiểm toán phù hợp với những đặc thù của các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các giai đoạn sau:
    • Giai đoạn 1: Nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn chuyên đề cho các chương trình, các “chuỗi” cuộc kiểm toán chuyên đề của KTNN. Đây là giai đoạn đầu tiên của quy trình kiểm toán, có ý nghĩa quyết định trong định hướng hoạt động kiểm toán. Giai đoạn này cần thực hiện cả việc nghiên cứu qua các tài liệu, báo cáo của ngành, lĩnh vực, đồng thời cần thực hiện khảo sát thực tế tại các đơn vị được kiểm toán để chọn đúng “vấn đề” có tính trọng yếu, hoạt động yếu kém hoặc hàm chứa nhiều rủi ro trong hoạt động.

     

    • Giai đoạn 2: Tổ chức các “cuộc kiểm toán thử nghiệm” tại một số đơn vị thuộc lĩnh vực, ngành, địa phương có các hoạt động thuộc chuyên đề kiểm toán đến (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là bước triển khai kiểm toán thực tế tại các đơn vị được kiểm toán, việc chọn mẫu các đơn vị được kiểm toán phải đảm bảo đại diện cho các loại hình đơn vị trong chương trình kiểm toán để làm cơ sở thực tiễn cho việc xác định, điều chỉnh chủ đề kiểm toán là xác định đầy đủ, chính xác các đơn vị được kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán và xây dựng “mô hình chuẩn” của cuộc kiểm toán chuyên đề. Dựa trên kết quả kiểm toán của giai đoạn 2, ban chỉ đạo chương trình kiểm toán phải tiến hành phân tích, đánh giá kết quả kiểm toán so với các mục tiêu của cuộc kiểm toán; đánh giá việc xác định nội dung, phạm vi và cách thức tổ chức các cuộc kiểm toán, việc bố trí nhân sự và chỉ đạo hoạt động kiểm toán…; từ đó, xác định, hoàn chỉnh các mục tiêu, nội dung, phạm vi cuộc kiểm toán và “chuẩn hóa” cách thức tổ chức cuộc kiểm toán để mô hình hóa, chuẩn hóa cách tổ chức cuộc kiểm toán. Trong “mô hình chuẩn” cần chú trọng đến xác định thống nhất các tiêu chí kiểm toán và tiêu chuẩn đánh giá kiểm toán để đảm bảo sự thống nhất trong các cuộc kiểm toán thành phần.

     

    • Số 133 – tháng 11/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Giai đoạn 4: Tổ chức các cuộc kiểm toán chuyên đề thành phần theo “mô hình chuẩn” (gồm 3 giai đoạn cơ bản của cuộc kiểm toán theo quy trình kiểm toán của KTNN). Đây là giai đoạn mở rộng việc thực hiện kiểm toán chuyên đề. Trong giai đoạn này, cần chú trọng đến hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán để đảm bảo cho việc hoàn thành các mục tiêu của cuộc kiểm toán một cách đồng bộ tại tất cả các cuộc kiểm toán thành phần, làm cơ sở trực tiếp cho việc tổng hợp có hệ thống, toàn diện kết quả của chương trình kiểm toán.

     

    • Giai đoạn 5: Tổng hợp kết quả và đề xuất các kiến nghị kiểm toán của cuộc kiểm toán chuyên đề tổng hợp của KTNN. Đây là giai đoạn cuối cùng rất quan trọng của việc thực hiện kiểm toán. Kết quả kiểm toán phải được tổng hợp theo những tiêu chí kiểm toán đã được xác định và phải được đánh giá theo các tiêu chuẩn của cuộc kiểm toán. Việc tổng hợp, phân tích kết quả kiểm toán một cách khoa học là cơ sở thực tiễn để KTNN đưa ra những đánh giá chính xác, kết luận và đề xuất các kiến nghị có giá trị đối với ngành về những vấn đề được kiểm toán.

    Với việc tổ chức cuộc kiểm toán theo quy trình như trên nên việc tổ chức từ hoạt động định hướng chuyên đề kiểm toán đến tổng hợp kết quả kiểm toán cần được xây dựng và tổ chức thực hiện thống nhất, gắn kết kế hoạch của từng cuộc kiểm toán với kế hoạch kiểm toán trung hạn và kế hoạch kiểm toán năm mới đảm bảo được sự thành công.

    • Vận dụng các phương pháp kiểm toán phù hợp với đặc thù của kiểm toán chuyên đề; cụ thể gồm các định hướng sau:
    • Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán: chuyển từ phương pháp tiếp cận kiểm toán toàn diện trong kiểm toán tài chính sang phương pháp tiếp cận “vấn đề” (tập trung vào những hoạt động trọng yếu, có rủi ro cao hoặc đang tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế) để tập trung vào các việc “then chốt” mà khi khắc phục được những mặt yếu kém, hạn chế sẽ có tác động “lan tỏa” tích cực đến các hoạt động khác của đơn vị được kiểm toán cũng như đối

    với ngành, lĩnh vực, địa phương được kiểm toán;

    • Chuyển từ việc áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán truyền thống trong kiểm toán tài chính (kiểm tra, đối chiếu, so sánh…) sang các phương pháp kiểm toán chuyên sâu (khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu; phân tích, điều tra…), đồng thời, mở rộng phạm vi cơ sở dữ liệu kiểm toán từ dữ liệu tài chính, kế toán sang dữ liệu thống kê kinh tế, điều tra xã hội học…;

    Ngoài ra, cùng với những phương hướng và giải pháp đổi mới trên, KTNN, các KTNN chuyên ngành, các KTNN khu vực cần đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức thông tin kiểm toán (đặc biệt là xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm toán), công tác quản lý hoạt động kiểm toán chuyên đề và các cuộc kiểm toán chuyên đề, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán phù hợp với đặc điểm của các cuộc kiểm toán chuyên đề.

    Kết luận

    Việc phát triển kiểm toán chuyên đề trong hoạt động kiểm toán của KTNN là một yêu cầu cấp bách, phù hợp với xu hướng vận động trong hoạt động kiểm toán của các nước có nền kiểm toán phát triển. Yêu cầu của thực tiễn đó đòi hỏi KTNN cần đề ra và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đổi mới và hoàn thiện kiểm toán chuyên đề: công tác quản lý hoạt động kiểm toán; xây dựng và tổ chức quy trình kiểm toán chuyên đề; phương pháp tiếp cận và áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán; tổ chức thông tin kiểm toán, quản lý cuộc kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán của KTNN năm 2015, 2016, 2017;

     

    1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng kế hoạch kiểm toán trung hạn của KTNN – Đề tài khoa học cấp bộ của KTTT, năm 2012;

     

    1. Quy trình kiểm toán của KTNN.

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 133 – tháng 11/2018  11


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-v%C3%A0-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-v%E1%BB%9Bi-hi%E1%BB%87u-su%E1%BA%A5t-b%E1%BB%87nh-vi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-v%C3%B9ng-T%C3%A2y-B%E1%BA%AFc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    ThS. Vũ Thị Sen*

     

    Bài viết nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính của thẻ điểm cân bằng (BSC) đến hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính có mối tương quan khá chặt chẽ và tác động tích cực đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc. Kết quả này

     

    là cơ sở khoa học để các nhà quản lý bệnh viện tập trung giải pháp nào về kế hoạch chiến lược và tài chính nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công vùng Tây Bắc.

     

    Từ khóa: Kế hoạch chiến lược, Tài chính, Thẻ điểm cân bằng (BSC), Hiệu suất, Bệnh viện công. The impacts between strategic and financial plans with the northern hospitals’ performance

     

    The paper examines the relationship between the strategic plan and the financial aspect of the balanced scorecard (BSC) on the performance of public hospitals in the North West of Vietnam. The results show that the strategic planning and the financial aspect have a relatively close relationship and have a positive impact on the performance of public hospitals in the northwest region. This result is the scientific basis for hospital managers to focus on what strategies and financial plans to improve and enhance the performance of public hospitals in the area.

     

    Key words: Strategic Planning, Finance, Balanced Scorecard (BSC), Performance, Public Hospitals.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Vùng Tây Bắc là vùng có điều kiện kinh tế xã hội chậm phát triển nhất cả nước. Về kinh tế, đây là vùng có số hộ nghèo cao gấp 2.7 lần so với trung bình cả nước, về điều kiện tự nhiên là vùng núi có địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu. Về mặt xã hội, đây là vùng có nhiều dân tộc sinh sống nhất trong cả nước với hơn 20 dân tộc khác nhau; trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, sự phát triển của giáo dục, y tế so với cả nước còn ở mức thấp.

     

    Theo Báo cáo Tổng kết ngành Y tế giai đoạn 2011-2015 của vùng Tây Bắc cho thấy: Ngành Y tế trong vùng đã có những cải thiện đáng kể so với

    giai đoạn trước, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, kéo dài tuổi thọ, ngăn chặn dịch bệnh… Tuy nhiên, những hạn chế chủ yếu của các bệnh viện công trong vùng là chất lượng dịch vụ y tế cung cấp chưa đáp ứng mong đợi của người dân, hạn chế cả về số lượng và chất lượng nhân lực y tế, đặc biệt là cơ sở vật chất còn yếu và thiếu đội ngũ bác sĩ có tay nghề cao và chuyên sâu, mức độ tự chủ và hiệu quả tài chính còn ở mức rất thấp…

     

    Với quan điểm của Ngành Y tế trong chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã đề ra “chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đem lại phúc lợi cho

     

    *Khoa Kinh tế – Trường Đại học Tây Bắc

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    người dân” và làm thế nào khắc phục được những hạn chế cơ bản trên đây của các bệnh viện vùng Tây Bắc, hướng tới đạt mục tiêu chung của Ngành y tế Việt Nam là bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo Chiến lược của ngành giai đoạn 2011 – 2020 thì cần thiết những nghiên cứu đưa ra cơ sở khoa học giúp nhà quản lý đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế, đạt được mục tiêu của ngành đề ra.

     

    Cùng với kết quả phỏng vấn trực tiếp một số lãnh đạo bệnh viện trong vùng cho thấy khâu lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng còn yếu, chưa có chiến lược dài hạn mà mới chỉ có kế hoạch thực hiện ngắn hạn hàng năm. Vậy, vấn đề này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất của các bệnh viện trong vùng hay không?

     

    Trong những vấn đề đặt ra trên đây, tác giả tập trung nghiên cứu chỉ ra sự tác động về kế hoạch chiến lược và tài chính đến hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc như thế nào để có cơ sở khoa học đối với các nhà quản lý bệnh viện trong nỗ lực cải thiện hiệu suất, nâng cao hiệu quả hoạt động chung của các bệnh viện trong vùng.

     

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Lockett (1992) cho rằng: Hiệu suất là một cấu trúc đa chiều gồm các yếu tố phổ biến mà thường xuyên kết hợp với hiệu năng tổ chức, đáp ứng chất lượng, chi phí và hiệu quả tổng thể trong tổ chức.

     

    Hiệu suất trong bệnh viện là mức độ mà dịch vụ bệnh viện cung cấp góp phần vào việc cải thiện sức khỏe của bệnh nhân, nó phù hợp với mong đợi của bệnh nhân và đảm bảo công bằng trong việc cung cấp chăm sóc y tế, không phụ thuộc vào cách thức thanh toán và những đóng góp của xã hội (Theo Tổ chức Y tế Thế giới).

     

    Kế hoạch chiến lược là một quá trình quản lý tìm cách sắp xếp hành vi tổ chức với mong muốn của tổ chức và là công cụ quản lý chiến lược nhằm cung cấp hệ thống quy trình và tạo sự gắn kết với các hoạt động của tổ chức đã xác định trong tương lai (Poister & Streib, 2005). Lập kế hoạch chiến lược là một công cụ của quản lý chiến lược và thẻ điểm cân bằng (BSC) là công cụ để dịch chuyển kế hoạch

    chiến lược của tổ chức thành hành động bằng các giải pháp cụ thể. BSC là công cụ được phát triển bởi Kaplan và Norton (1992) như là phương tiện đánh giá hoạt động của tổ chức ngoài dựa trên biện pháp truyền thống là tài chính còn có các biện pháp phi tài chính.

     

    Theo Kaplan và Norton (2001) và Niven (2003, 2008), các khía cạnh của BSC trong tổ chức phi lợi nhuận gồm: Sứ mệnh; Khách hàng; Quy trình nội bộ; Đào tạo và phát triển nhân viên; Tài chính.

     

    Về khía cạnh Tài chính trong mô hình BSC: Kaplan và Norton (2001) xác định khía cạnh Tài chính như kết quả của hành vi tổ chức được thể hiện theo các chỉ tiêu tăng trưởng ngân sách mang tính bền vững. Trong tổ chức phi lợi nhuận khía cạnh Tài chính sẽ kiểm tra tính hiệu quả của sử dụng chi phí một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo lợi ích đối với khách hàng. Niven (2008) cũng cho rằng khía cạnh Tài chính trong tổ chức phi lợi nhuận là không thể thiếu vì thông qua khía cạnh này sẽ thu thập thông tin về việc sử dụng nguồn lực hạn chế và các nguồn tiền từ ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Tương tự như đơn vị phi lợi nhuận, thước đo tài chính trong các bệnh viện không tập trung đo lường về vấn đề lợi nhuận mà cần đo lường xem trong giới hạn nguồn lực tài chính của bệnh viện có đạt được mục tiêu hoạt động của bệnh viện đề ra hay không.

     

    Đã có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu để chứng minh mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận. Trong nghiên cứu của Al.Shammari và Husein (2007) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát đo lường chứng minh mối quan hệ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của tổ chức. Giffords và Dina (2004) cũng khẳng định mối liên hệ trên thông qua một nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu trường hợp. Các nghiên cứu của Cothran và Clouser (2006), Bush (1996) cũng chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức. Linda W. Smith (2008), bằng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu các trường

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  53

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    hợp trong các tổ chức phi lợi nhuận cũng chỉ ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của các tổ chức thông qua việc vận dụng mô hình khái niệm về BSC.

     

    Các nghiên cứu của Blackmon (2008) và Franklin (2011) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng theo thiết kế nghiên cứu hồi cứu cắt ngang bằng bảng hỏi khảo sát để kiểm tra mối liên hệ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức thông qua các khía cạnh của BSC và kết quả nghiên cứu đã khẳng định giữa kế hoạch chiến lược, thành tựu sứ mệnh, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nhân viên và tài chính là có ảnh hưởng đến hiệu suất đối với các tổ chức phi lợi nhuận.

     

    Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), đã nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập, kết quả nghiên cứu cho thấy có các nhân tố sau: kế hoạch chiến lược, sứ mệnh, quy trình nội bộ, khách hàng là tác động tới hiệu suất của tổ chức phi lợi nhuận. Còn các nhân tố đào tạo và phát triển nhân viên, tình nguyện viên không có ý nghĩa thống kê trong tác động ảnh hưởng đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập.

     

    Weerasooriya và Ali Khatibi (2015), dựa trên BSC để nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức giáo dục và phi Chính phủ tại Srilanka, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố sau có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận là: Kế hoạch chiến lược, Quy trình nội bộ, Khách hàng, Đào tạo và phát triển nhân viên. Hai nhân tố chưa có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất là Tài chính và nhân tố Tình nguyện viên.

     

    Kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên đây, tác giả lựa chọn nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh Tài chính của BSC với hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc để thấy được mối tương quan và mức độ tác động giữa chúng trong nghiên cứu này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    3.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu được thu thập từ các nhà quản lý cấp

    trưởng, phó phòng, trưởng, phó khoa và ban giám đốc 43 bệnh viện trên địa bàn 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu của vùng Tây Bắc bằng phương pháp bảng hỏi. Nghiên cứu sử dụng dạng câu trả lời “Có”, “Không” cho những câu hỏi về Kế hoạch chiến lược, sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 là rất không đồng ý, 2 là không đồng ý, 3 là trung lập, 4 là đồng ý và 5 là rất đồng ý để đo lường về các khía cạnh của BSC, trong đó có khía cạnh Tài chính. Để đo lường về Hiệu suất nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm: 1 là thay đổi rất bất lợi, 2 là thay đổi bất lợi, 3 là trung lập, 4 là thay đổi thuận lợi và 5 là thay đổi rất thuận lợi. Số lượng phiếu bảng hỏi hợp lệ sử dụng trong nghiên cứu là 428 phiếu. Thời gian thu thập bảng hỏi từ tháng 3/2017 – tháng 7/2017.

     

    3.2. Thang đo

     

    Về Kế hoạch chiến lược: Trong bảng hỏi gồm 7 biến quan sát (các thang đo này đã được Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Lee (2006)).

     

    Về Tài chính: Gồm 12 biến quan sát trong bảng hỏi, trong đó 1 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Perters và các cộng sự (2007), 2 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Walker, Kenton B và Dunn Laura M (2006), 4 biến quan sát được phát triển từ nghiên cứu định tính, 5 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005). Biến phụ thuộc Hiệu suất trong bảng hỏi khảo sát: Gồm 14 biến quan sát, trong đó có 13 biến dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005), 1 biến quan sát được phát triển từ kết quả nghiên cứu định tính.

     

    3.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

     

    Bảng hỏi khảo sát sau khi thu thập về được rà soát loại bỏ những bảng hỏi trả lời không hợp lệ, những bảng hỏi hợp lệ được cập nhật, mã hóa trên phần mềm SPSS 22 và được xử lý theo từng bước sau: Trước hết tác giả thực hiện kiểm định sự tin cậy của thang đo. Theo Hair và cộng sự (1998), chấp nhận những biến quan sát có hệ số tin cậy của Cronbach’s Alpha >0.6, đồng thời loại

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    bỏ những biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3. Những biến quan sát đảm bảo độ tin cậy được chuyển sang bước phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để rút ra những biến quan sát có ý nghĩa hội tụ và tách biệt với điều kiện hệ số tải >0.5 và 0.5<KOM<1, với kiểm định Bartlett có Sig<0.05 và Phương sai trích >50%. Dựa trên kết quả phân tích EFA, tác giả phân tích hồi quy giữa các nhân tố Kế hoạch chiến lược và nhân tố Tài chính với biến phụ thuộc Hiệu suất bệnh viện để chỉ ra mối tương quan và mức độ tác động. Đồng thời, căn cứ vào hệ số β có dấu dương thì ảnh hưởng thuận chiều (tác động tích cực) với biến phụ thuộc, β có dấu âm thì ảnh hưởng ngược lại.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    Theo Hair và cộng sự (1998) cho thấy: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha có độ tin cậy cao của thang đo, các biến quan sát có hệ số đạt từ 0.774 – 0.940. Dựa trên sự tin cậy của các thang đo như trên tác giả tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA để loại bỏ những biến quan sát có hệ số tải <0.5, kết quả thu được 13 nhân tố hội tụ

    và tách biệt với hệ số tải Loading từ 0.558- 0.868, hệ số KMO = 0.876 nên phân tích nhân tố là phù hợp. Với kiểm định Bartlett có Sig<0.000 và Phương sai trích Total Variance Explained là 71%>50%, điều này chứng tỏ 71% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 13 nhân tố hội tụ, trong đó có các nhân tố về khía cạnh Kế hoạch chiến lược và Tài chính cụ thể như sau:

     

    • Về Kế hoạch chiến lược, có 2 nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01); Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02).
    • Khía cạnh Tài chính, có 2 nhân tố: Hiệu quả thực hiện các khoản thu, chi tài chính (TC01) gồm 8 biến quan sát; Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) gồm 3 biến quan sát.

    Kết quả hội tụ của các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính dưới đây có hệ số tải của các biến quan sát đều >0.5, do đó sự hội tụ của các biến đạt

     

    • mức khá tốt trở lên. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát trong từng nhân tố từ 0.608 -0.899, cho thấy chất lượng của các thang đo đạt yêu cầu. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 1 dưới đây:

    Bảng 1: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của các nhân tố

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’Alpha

     

    KHCL01  KHCL02  TC01  TC02

         

    Xây dựng tuyên bố về Tầm nhìn bệnh viện

    0.829

       

    Đánh giá môi trường hoạt động của bệnh

    0.758

       

    viện

       
     

    0.767

     

    Xây dựng tuyên bố về Sứ mệnh của bệnh

     

    0.724

       

    viện

       
         

    Xây dựng chiến lược bệnh viện

    0.709

       

    Biện pháp huy động nguồn kinh phí

    0.751

    0.608

     

    Biện pháp đối với nhân viên

    0.688

       

    Bệnh viện sử dụng chi phí hành chính hiệu

    0.792

       

    quả

       
         

    Bệnh viện phân bổ chi mua thuốc, vật tư y tế

    0.751

       

    so với tổng chi hợp lý

       
         

    Bệnh viện sử dụng tiết kiệm mọi khoản chi

    0.729

       
           

    Bệnh viện phân bổ mức chi cho lao động so

    0.727

       

    với tổng chi là hợp lý

       
         
           

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  55

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Bệnh viện sử dụng có hiệu quả chi phí

    0.702

     

    trong phạm vi dự toán

       

    Tổng số thu viện phí có xu hướng tăng

    0.666

     

    hàng năm

       

    Tổng thu viện phí/Tổng chi thường

    0.622

     

    xuyên tại bệnh viện có xu hướng tăng lên

       

    Bệnh viện làm việc tốt với các cơ quan

       

    có liên quan trong khả năng kinh phí của

    0.558

     

    mình

       

    Bệnh viện có đủ tiền để cung cấp cho các

    0.781

     

    lĩnh vực hoạt động dịch vụ của bệnh viện

       

    Bệnh viện thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài

    0.781

     

    chính

       

    Bệnh viện phân bổ hợp lý nguồn lực tài

    0.682

     

    chính cho các lĩnh vực

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

       

    0.899

     

     

    0.799

     

    Quá trình hội tụ từ 14 biến quan sát đo lường về Hiệu suất đã loại bỏ 1 biến do có hệ số tải thấp và thu được 13 biến quan sát có kết quả hội tụ vào biến phụ thuộc Hiệu suất với hệ số tải của các biến quan sát đều >0.6, do đó sự hội tụ của các biến

    quan sát đạt ở mức tốt. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát là 0.935 cho thấy chất lượng của các thang đo đạt ở mức rất tốt. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 2 dưới đây:

     

    Bảng 2: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của biến phụ thuộc hiệu suất

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’

     

    Alpha

     
       

    1.Danh tiếng của bệnh viện

    0.801

       

    2.Bệnh nhân tiếp tục lựa chọn bệnh viện để khám và điều trị

    0.797

       

    3.Tỷ lệ hoàn thành khám và điều trị cho bệnh nhân

    0.786

       

    4.Hình ảnh của bệnh viện

    0.782

       

    5.Bệnh viện hiểu những gì là quan trọng đối với bệnh nhân

    0.774

       

    6.Được bệnh nhân giới thiệu về bệnh viện

    0.772

       

    7.Sự tin tưởng của cộng đồng địa phương đối với bệnh viện

    0.770

    0.935

     

    8.Hiểu biết về các biện pháp thực hiện của bệnh viện

    0.754

       

    9.Sự cống hiến của nhân viên đối với bệnh viện

    0.747

       

    10.Số bệnh nhân mới tham gia khám và điều trị

    0.730

       

    11.Những người tham gia vào chương trình (hoạt động) của bệnh viện

    0.729

       

    12.Được các tổ chức khác giới thiệu về bệnh viện

    0.683

       

    13.Quy trình làm việc của bệnh viện

    0.629

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Dựa trên kết quả phân tích EFA trên đây, tác giả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược

    và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện cho kết quả như sau:

     

    Bảng 3: Bảng tổng hợp mô hình

     

    Model Summaryb

     

    Model

    R

    R Square

    Adjusted R Square

    Std. Error of the Estimate

     

    Durbin-Watson

     
     

    1

    .585a

    .342

       

    .336

     

    .348

         

    1.809

     
     

    a. Biến độc lập: KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

                 
     

    b. Biến phụ thuộc: Hiệu suất

                     
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 3, Kết quả chạy mô hình hồi quy có R2 =

    có mức tương quan là 58.5%>50% và <70%, do đó

     

    0.342, tương đương với 34.2% sự thay đổi của biến

    mức tương quan này đạt ở mức khá chặt chẽ.

     

    phụ thuộc Hiệu suất được giải thích bởi bốn biến

    Hệ số Durbin-Watson = 1.809<3, cho thấy mô

     

    độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính trên.

    hình không có tự tương quan, do đó đánh giá chất

     

    Ngoài ra, hệ số R = 0.585, tức là giữa Kế hoạch

    chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện

    lượng hồi quy tốt.

             
     

    Bảng 4: Hệ số phương sai

                       
               

    ANOVAa

               
     

    Model

     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

    F

       

    Sig.

     
     

    Regression

    25.207

     

    4

     

    6.302

    52.048

     

    .000b

     

    1

    Residual

    48.432

     

    400

     

    .121

             
     

    Total

     

    73.639

     

    404

                 
     

    a. Dependent Variable: Hiệu suất

                   
     

    b. Predictors: (Constant), KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

               
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 4, có F= 52.048, Sig = 0.000<0.05, do đó

    tính giữa biến phụ thuộc Hiệu suất với các các

     

    bác bỏ giả thiết: Toàn bộ hệ số hồi quy bằng 0,

    biến độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính

     

    chấp nhận giả thuyết: Tồn tại mối quan hệ tuyến

    trên đây.

             
     

    Bảng 5: Kết quả hồi quy

                       
               

    Coefficientsa

               
         

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số chuẩn hóa

     

    Mức ý

     

    Thống kê cộng

     
         

    hóa (Unstandardized

    (Standardized

    Giá trị

    tuyến (Collinearity

     
     

    Model

     

    nghĩa

       

    Coefficients)

    Coefficients)

    (T)

     

    Statistics)

     
         

    (Sig.)

     
         

    B

    Std. Error

    Beta

         

    B

    VIF

     
                 
     

    (Constant)

    1.510

     

    .168

                   
     

    KH CL01

    .053

     

    .095

    .024

     

    .557

    .578

     

    .909

    1.101

     

    1

    KH CL02

    .234

     

    .091

    .110

     

    2.570

    .011

     

    .904

    1.106

     
     

    TC 01

    .496

     

    .046

    .515

     

    10.772

    .000

     

    .721

    1.388

     
     

    TC 02

    .047

     

    .034

    .066

     

    1.387

    .166

     

    .722

    1.386

     
    1. Biến phụ thuộc (Dependent Variable): Hiệu suất

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  57

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Hệ số VIP = 1.101 – 1.388<3, do đó giữa các biến độc lập không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đây cũng là cơ sở đánh giá chất lượng hồi quy trong mô hình tốt.

     

    Phương trình hồi quy viết lại theo Bảng 5 như sau:

     

    Hiệu suất=1.510+0.024*KHCL01+0.110*KHC L02+0.515*TC01+ 0.066*TC02

     

    Hệ số β của các biến độc lập trong mô hình hồi quy trên đây >0, do đó có thể kết luận là: Có mối tương quan tích cực giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện công trong vùng Tây Bắc.

     

    Tuy nhiên, nhìn vào mức ý nghĩa thống kê trong bảng 5 cho thấy: Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02) và nhân tố Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) có hệ số Sig <0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là hai nhân tố có hệ số β lớn nhất trong phương trình hồi quy, do đó đây là những nhân tố có tác động lớn nhất đến Hiệu suất bệnh viện. Các nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01) và Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) có hệ số Sig>0.05, do đó những nhân tố này không có

     

    • nghĩa thống kê.
    1. Kết luận và một số hàm ý nghiên cứu

    Kết quả hồi quy bảng 5 cho thấy giữa Kế hoạch chiến lược và Tài chính có mối quan hệ tác động tích cực đến Hiệu suất bệnh viện công của vùng Tây Bắc. Mức độ tương quan giữa chúng có R=58.5% đạt ở mức tương quan khá chặt chẽ. Đồng thời, kết quả chỉ ra 34,2% sự thay đổi của Hiệu suất bệnh viện được giải thích bởi các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính. Tuy nhiên, trong đó chỉ có nhân tố Biện pháp kế hoạch chiến lược (KHCL02) và Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) là có ý nghĩa thống kê, còn các nhân tố còn lại không có ý nghĩa thống kê nên chưa có cơ sở chỉ ra tác động đến Hiệu suất của bệnh viện.

     

    Mặt khác, tác giả thực hiện hồi quy giữa các nhân tố của Kế hoạch chiến lược với Hiệu suất có R2 = 0.048, tức là có 4,8% sự thay đổi của Hiệu suất được giải thích bởi các nhân tố của Kế hoạch chiến lược. Do đó, mức độ tác động này rất yếu, không đáng kể. Kết hợp kết quả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất của bảng 5 có R2 = 34.2% cho thấy các nhân tố về

    Tài chính có tác động rất lớn đến hiệu suất trong mối tương quan này.

     

    Với kết quả nghiên cứu chỉ ra như trên, để cải thiện và tăng cường hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc các nhà quản lý cần tập trung mạnh các giải pháp cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về Kế hoạch chiến lược:

     

    Đối với nhân tố KHCL01 vừa có hệ số β=0.024 là nhỏ nhất và không có ý nghĩa thống kê cho thấy hoạt động lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng chưa thể hiện được vai trò đóng góp vào Hiệu suất của các bệnh viện trong vùng. Đây là một khâu còn yếu đối với các bệnh viện của vùng, do đó Bộ Y tế và các nhà quản lý bệnh viện cần quan tâm đến vai trò của hoạt động này để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Đối với nhân tố KHCL02 về Biện pháp thực hiện kế hoạch chiến lược có hệ số β=0.110 là khá lớn trong các nhân tố, do đó có tác động cũng khá lớn đến hiệu suất bệnh viện của vùng, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, cần tăng cường tác động đến các biện pháp tăng cường nguồn lực tài chính của bệnh viện và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhân viên, đặc biệt là đội ngũ y bác sĩ trong bệnh viện giúp cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cung cấp sẽ góp phần lớn vào hiệu suất, hiệu quả của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Thứ hai, về Tài chính:

     

    Đối với nhân tố TC01, có hệ số β= 0.515 là hệ số lớn nhất trong các nhân tố trên nên đây là nhân tố có tác động lớn nhất đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Với kết quả này cho thấy, để cải thiện mạnh mẽ hiệu suất thì các bệnh viện trong vùng cần:

     

    • Cần tăng cường sử dụng kinh phí trong phạm
    • dự toán, sử dụng tiết kiệm các khoản chi trong đó lưu ý đến sử dụng tiết kiệm các khoản chi phí hành chính trong bệnh viện, tuân thủ các tiêu chuẩn định mức về chi phí hành chính, thực hiện chi đúng nội dung. Phân bổ chi phí tiền lương và các khoản thanh toán cho cán bộ, y bác sĩ hợp lý theo hướng tăng cường thu nhập, góp phần để cán bộ yên tâm chăm sóc người bệnh. Thực hiện phân bổ chi phí thuốc, vật tư y tế phù hợp đảm bảo nhu cầu thuốc và vật tư phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh, nhằm tăng cường chất lượng khám và điều trị bệnh.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Bệnh viện cần nâng cao chất lượng khám và điều trị, gia tăng sự hài lòng của người bệnh sẽ đẩy mạnh thu hút bệnh nhân khám và điều trị tại các bệnh viện trong vùng, giảm các trường hợp phải chuyển tuyến từ đó tăng nguồn thu từ viện phí và bảo hiểm y tế. Nguồn thu từ viện phí tăng sẽ giúp các bệnh viện trong vùng tăng khả năng tự chủ tài chính, trong đó tăng tỷ lệ đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo tinh thần của Nghị định số 16/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
    • Ngoài ra, tính hiệu quả trong sử chi phí còn thể hiện trong việc sắp xếp ưu tiên các khoản chi mang tính cấp thiết, ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám và điều trị của bệnh viện của vùng.

    Đối với nhân tố TC02 về Hiệu quả quản lý tài chính chung trong bệnh viện, nhân tố này mặc dù tác động tích cực đến hiệu suất bệnh viện nhưng với hệ số β= 0.066 là nhỏ so với các nhân tố TC01, KHCL02 nên mức độ tác động đến hiệu suất là không lớn. Đồng thời, nhân tố này có hệ số Sig>0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là một trong những khâu yếu của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, do đó kết quả nghiên cứu chưa thể hiện được mức độ tác động rõ rệt đến hiệu suất bệnh viện. Vì vậy, để nhân tố này có tác động mạnh mẽ hơn đến hiệu suất bệnh viện thì cải thiện quản lý tài chính sao cho bệnh viện có đủ nguồn lực tài chính sử dụng cho các hoạt động, tăng cường sự tự chủ tài chính và phân bổ hợp lý nguồn lực tài chính của bệnh viện.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2016/ NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 2 năm 2015.
    2. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu (2016), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020.

     

    1. Al-Shammari, H. A. and Hussein, R. T. (2007), Strategic planning-firm performance linkage: Empirical in vestigation from an emergent market perspective, Advances in Competitiveness Reseach.

     

    1. Andrews, R., Boyne, G. A., and Walker, R. M. (2006), Strategy content and organizational performance: an empirical analysis, Public Administration Review.
    2. Blackmon, V. Y. (2008), Strategic planning and organizational performance: an investigation using the balanced scorecard in nonprofit organizations. Ph.D.dissertation, Caplla University, United States, Retrieved August.
    1. Franklin, P. W. (2011), Relationship between Strategic Planning and Nonprofit Organizational Performance, Ph.D. Dissertation, Capella University, United States.
    2. Giffords, E. D., and Dina, R. P. (2004), Strategic planning in nonprofit organizations: Continuous quality performance improvement – a case study, International Journal of Organization Theory and Behavior.

     

    1. Kaplan, R., and Norton, D. (1992a), The Balanced scorecard: Measures That Drive Performance. (Cover story), Harvard Business Review.

     

    • Kaplan, R., and Norton, D. (2001), Transforming the Balanced scorecard from Performance Measurement to Strategic Management, Part II. Accounting Horizons.

     

    1. Lockett, J. (1992), Effective Performance Mnaagement: A Strategic Guide to Getting the Best from People, Kogan Page, London.
    2. Nagarajah Lee (2006), Measuring the performance of public sector organisations: a case study on public schools in Malaysia, Measuring business excellence.

     

    1. Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), The Impact of Strategic Planning on Egyptian Non-profits’ Performance: An Assessment Using the Balanced Scorecard, Journal of US-China Public Administration.

     

    1. Niven, P. (2003), Adapting the Scorecard to fit public and non-profit organizations, In N. Paul, Balancedscorecard Step by Step Governments and Non-profits.

     

    1. Niven, P. R. (2008), Balanced scorecard step-by-step for government and nonprofit agencies (2nd ed).
    2. Peters and et (2007), A balanced scorecard for health services in Afghanistan, World Health Organization.
    3. Poister, T. H. & Streib, G. (2005), Elements of strategic planning and management in municipal government: status after two decades,Public Administration Review.

     

    1. Urrutia I, Eriksen SD (2005), Application of the balanced scorecard in Spanish private healthcare management, Measure Bus Excell.

     

    1. Voelker KE, Rakich JS, French GR (2001), The balanced scorecard in healthcare organizations: a performance measurement and strategic planning methodology, Hosp Top.
    2. Walker KB & Dunn LM (2006), Improving hospital performance and productivity with the balanced scorecard, Acad Health Care Manag.J.

     

    1. Weerasooriya và Ali Khatibi (2014), The impact of strategic planning for training and educational non government organizations Srilanka: An evaluation using the Balanced Scorecard, International Journal of Management Sciences and Business Research.

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  59


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BB%B1a-ch%E1%BB%8Dn-%C4%91%E1%BB%91i-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-n%E1%BB%99i-b%E1%BB%99-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-r%E1%BB%A7i-ro-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    ThS. Phan Thị Thùy Linh

     

    Trong mỗi tổ chức, nguồn lực kiểm toán nội bộ (KTNB) thường có sự hạn chế, “khan hiếm” một cách tương đối so với nhu cầu, do vậy, việc lựa chọn đối tượng kiểm toán hợp lý để đạt được mục tiêu kiểm toán và giảm thiểu rủi ro kiểm toán là vấn đề hàng đầu mà bộ phận KTNB quan

     

    tâm. Điều đó đòi hỏi KTNB cần có phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán một cách khoa học để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kiểm toán và phục vụ cho hoạt động quản lý của tổ chức.

     

    Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, rủi ro kiểm soát, đối tượng kiểm toán

     

    Selection of audit subjects of internal audit based on control risk assessment

     

    In each organization, internal audit resources are often limited, “scarce” in a way relative to demand, so the selection of auditor objectively to achieve the Auditing objects and mitigating audit risks are top issues that Internal audit Depts concerned about. This requires Internal audit Depts to have a method of selecting audit subjects in a scientific way to best serve the audit activities and serve the management activities of the organization.

     

    Key words: Internal audit, control risk, audit objects

     

     

    Trong hoạt động kiểm toán hiện đại, các tổ chức kiểm toán (trong đó, gồm cả KTNB) thường thực hiện kiểm toán dựa trên phương pháp tiếp cận rủi ro. Một trong những vấn đề của KTNB là cần lựa chọn các đối tượng kiểm toán thích hợp với mục tiêu quản lý, phù hợp với năng lực kiểm toán (số lượng KTV và thời gian kiểm toán) và giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Vấn đề đó có thể được giải quyết hợp lý thông qua việc ứng dụng đánh giá rủi ro kiểm soát để lựa chọn các đối tượng kiểm toán; đó là chủ đề mà Tác giả nghiên cứu trong bài viết này.

     

    1.   Kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát

     

    1.1. Mục tiêu và nội dung kiểm toán nội bộ

     

    Trong văn bản “Quy định về trách nhiệm KTNB” do IIA ban hành, xác định: “KTNB là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một

    tổ chức để kiểm tra và đánh giá những hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức” [(1)].

     

    Từ định nghĩa trên, có thể xác định những mục tiêu của KTNB là: i) Giúp cho tổ chức hoàn thành trách nhiệm; ii) Thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu; iii) Hoàn thành mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả thông qua việc KTNB thực hiện kiểm tra, phân tích, đánh giá, kiến nghị, tư vấn về các thông tin liên quan đến hoạt động được kiểm toán.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu đó, KTNB cần thực hiện ba nội dung kiểm toán cơ bản, gồm:

     

    1. Kiểm toán thông tin hay kiểm toán báo cáo tài chính (đánh giá độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động của tổ chức); ii) Kiểm toán tuân thủ (đánh giá sự tuân thủ pháp luật và các quy định có tác động đến hoạt động của tổ chức) và iii) Kiểm

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  47

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

     

     

     

    toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng các nguồn lực của tổ chức).

     

    1.2. Mục tiêu và nội dung kiểm soát nội bộ

     

    Để thực hiện được “sứ mệnh” trong dài hạn và các mục tiêu ngắn hạn của mình, mỗi tổ chức cần hoạch định chiến lược phát triển và các kế hoạch hành động. Mặt khác, để có thể duy trì được các hoạt động theo kế hoạch và đạt được các mục tiêu của tổ chức thì mỗi tổ chức đều cần sử dụng một công cụ, phương thức tác động đến toàn bộ hoạt động của tổ chức, đó là KSNB. KSNB có vị trí rất quan trọng, có tác động quyết định đến mức độ thực thi các mục tiêu và kế hoạch hoạt động của tổ chức.

     

    KSNB của một tổ chức là việc thiết kế và tổ chức thực hiện một hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những rủi ro xảy ra trong hoạt động để đảm bảo cho tổ chức quản lý và sử dụng tốt nhất các nguồn lực, thực hiện được các mục tiêu đề ra.

     

    Các mục tiêu chính của KSNB, gồm: “i) Đảm bảo độ tin cậy và tính trung thực của thông tin;

    1. Đảm bảo sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và quy định; iii) Đảm bảo về tài sản; iv) Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn

     

     

     

    lực; v)Hoàn thành các mục tiêu hoạt động”. (CM 300.05[2]).

     

    Nội dung của KSNB thể hiện ở 2 mặt cơ bản: i) Hệ thống KSNB (các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ) được thiết kế phù hợp với yêu cầu của quản lý và mục tiêu của tổ chức; ii) Tổ chức thực hiện KSNB là việc áp dụng các quy định của KSNB trong quá trình tổ chức sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức. Mặt tổ chức thực hiện là mặt quyết định vai trò, tác dụng của KSNB; tuy nhiên, mặt thiết kế hệ thống KSNB với mức độ chất lượng khác nhau sẽ là cơ sở và là điều kiện, tác động đến hiệu lực thực tiễn của hoạt động KSNB.

     

    1.3. Rủi ro kiểm soát

     

    Trong hoạt động KTNB, việc đánh giá rủi ro kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả: lựa chọn đối tượng kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán, chọn mẫu các nghiệp vụ trong kiểm toán; trong đó, dựa trên đánh giá rủi ro để chọn đối lượng kiểm toán trong KTNB là một ứng dụng quan trọng của việc đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Trong các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm toán (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện) thì rủi ro KSNB (thường gọi là rủi ro kiểm soát) là yếu tố trung tâm và cũng là yếu tố quan trọng nhất

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    để Kiểm toán viên (KTV) đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Rủi ro KSNB (sau đây gọi là rủi ro kiểm soát) là khả năng mà hệ thống KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém trọng yếu tác động đến hoạt động của tổ chức. Như vây, khi xác định rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV chưa xét đến hoạt động kiểm soát và hiệu lực thực tiễn của hệ thống KSNB.

     

    Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống KSNB. Hệ thống KSNB bao gồm 3 nhóm yếu tố: i) Nhóm yếu tố môi trường kiểm soát (môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức; ii) Nhóm yếu tố tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông (tổ chức thông tin kế toán, thống kê… và tổ chức giám sát, báo cáo);

    • Các thủ tục kiểm soát (hệ thống các quy định về chính sách, thủ tục, quy trình…). Nếu chưa xét đến hiệu lực thực tiễn của việc tổ chức thực hiện KSNB thì mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB sẽ tác động đến khả năng hoạt động KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém có thể xẩy ra trong hoạt động của tổ chức. Có thể hiểu: hệ thống KSNB (gồm các nhóm và các yếu tố của hệ thống KSNB) có khả năng (ở mức độ cụ thể khác nhau) tác động đến khả năng xẩy ra rủi ro kiểm soát.

    2. Quy trình và phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    2.1. Đối tượng của kiểm toán nội bộ

     

    Đối tượng của KTNB gồm các hoạt động quản lý và sử dụng các nguồn lực hoặc tác động đến việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức hoặc của các bộ phận của tổ chức phù hợp với mục tiêu, kế hoạch hoạt động của tổ chức. Các hoạt động chủ yếu được kiểm toán gồm:

     

    • Báo cáo tài chính của tổ chức và của các đơn vị trực thuộc;
    • Các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý và sử dụng các nguồn lực;
    • Các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư;
    • Các số dư tài khoản, các nghiệp vụ tài chính;
    • Các hệ thống thông tin;
    • Các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức;
    • Các dự án, chương trình hoạt động;
    • Các bộ phận trong tổ chức hoặc các đơn vị trực thuộc tổ chức…

    Mỗi đối tượng kiểm toán trên có những đặc điểm trong hoạt động khác nhau và cũng tồn tại rủi ro kiểm soát. Rủi ro kiểm soát của mỗi hoạt động đó đều chịu sự tác động của các yếu tố của hệ thống KSNB.

     

    2.2. Quy trình lựa chọn đối tượng kiểm toán nội bộ

     

    Việc lựa chọn các đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát, về tổng quan, gồm các bước công việc sau:

     

    • Tổng hợp, phân nhóm và lập danh sách các đối tượng kiểm toán. KTV phải tổng hợp danh sách của tất cả các đối tượng kiểm toán phù hợp với phạm vi và các tiêu chí phân nhóm các đối tượng kiểm toán. Việc sắp xếp các đối tượng kiểm toán vào một nhóm cần đảm bảo có sự tương đồng về tính chất hoạt động để phục vụ cho việc lựa chọn đối tượng kiểm toán và áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp…
    • Đánh giá rủi ro kiểm soát, phân loại rủi ro kiểm soát và sắp xếp các đối tượng kiểm toán theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát và lập bản tổng hợp sắp xếp đối tượng kiểm toán của mỗi nhóm theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm toán (theo 2 tiêu chí là: theo tổng điểm rủi ro kiểm soát và theo điểm trung bình rủi ro kiểm soát).
    • Xác định đối tượng kiểm toán lựa chọn. KTV phải dựa trên mục tiêu kiểm toán để xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán. Trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại rủi ro kiểm soát và các nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đưa ra quyết định về các đối tượng kiểm toán lựa chọn.

    2.3. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát và lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    2.3.1. Các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm soát

     

    Để đánh giá rủi ro kiểm soát, trước hết, cần

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  49

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

    xác định các yếu tố cụ thể, chủ yếu tác động đến rủi ro kiểm soát (thực chất là các yếu tố của hệ thống KSNB). Vận dụng theo hướng dẫn của IIA tại Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán 520.04 [(2)], có thể xác định các yếu tố chủ yếu tác đọng đến rủi ro kiểm soát gồm:

     

    Các yếu tố môi trường kiểm soát:

     

    Môi trường bên ngoài:

     

    • Những thay đổi về pháp luật và các chính sách của Nhà nước;
    • Những biến động của nền kinh tế, ngành kinh tế;
    • Tác động của các đối thủ cạnh tranh;
    • Tác động của hoạt động ngoại kiểm (Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập, thanh tra …);

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Môi trường bên trong:

     

    • Tổ chức – nhân sự: những thay đổi về tổ chức – nhân sự; năng lực và đạo đức của nhà quản lý và nhân viên quản lý;
    • Kinh tế: tình trạng kinh tế, tài chính của tổ chức; quy mô tài sản hoặc vốn của hoạt động;
    • Tính chất phức tạp của nghiệp vụ hoặc sự phân tán trong hoạt động;
    • Những thay đổi về cơ chế quản lý, công nghệ;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về hệ thống thông tin, giám sát:

     

    • Tổ chức công tác kế toán, thống kê;
    • Tổ chức truyền thông (công khai, minh bạch, kịp thời…);
    • Các quy định về giám sát, ủy quyền;
    • Kết quả KTNB kỳ trước và khoảng các giữa 2 lần KTNB;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về các thủ thục, quy trình kiểm soát:

    • Sự tuân thủ pháp luật và phù hợp với mục đích, mục tiêu của tổ chức và của hoạt động;
    • Sự đầy đủ, toàn diện của các quy định đối với các đối tượng kiểm soát;
    • Sự hữu hiệu: tính khả thi của các quy định trong thực hiện kiểm soát;
    • Sự thích ứng: khả năng thích ứng của các quy định đối với sự biến động từ môi trường kiểm soát.

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    2.3.2. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát là một tiến trình có tính hệ thống để đánh giá và tổng hợp những xét đoán mang tính chuyên môn về tình trạng hoặc sự kiện có thể xảy ra, gây tác hại cho hoạt động của tổ chức.

     

    Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện như sau:

     

    • Lựa chọn các yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát. Trong thực tế, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thường không dựa trên việc đánh giá đối với tất cả các yếu tố tác động (quá nhiều) mà dựa trên việc lựa chọn những yếu tố chủ yếu (có thể ở mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB lựa chọn 2 yếu tố để đánh giá hoặc nhiều hơn ở một nhóm nào đó, tùy theo nhận định của KTV). Việc chọn yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát phải được thống nhất trong mỗi nhóm đối tượng kiểm toán; mặt khác, những yếu tố của hệ thống KSNB của một nhóm đối tượng kiểm toán mà được xét đoán là có sự tương đương về mức độ rủi ro kiểm soát thì có thể không đưa vào danh mục các yếu tố để đánh giá.
    • Lượng hóa rủi ro kiểm soát cho từng yếu tố. Dựa trên các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán và nhận định của KTV về mức độ rủi ro kiểm soát do từng yếu tố của hệ thống KSNB tác động (đã được lựa chọn) để lượng hóa rủi ro kiểm soát theo 5 mức độ: rất cao (5 điểm); cao (4 điểm); trung bình (3 điểm); thấp (2 điểm); rất thấp (1 điểm).
    • Xác định trọng số cho rủi ro kiểm soát. Mặc dù là các yếu tố độc lập tương đối tác động đến rủi ro kiểm soát, song, giữa chúng cũng có mức độ
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    “quan trọng” về mức độ tác động đến rủi ro kiểm soát khác nhau (ví dụ: i) Các quy định càng có tính trực tiếp đối với hoạt động KSNB thì có xu hướng tác động “quan trọng” càng lớn: các yếu tố về thủ tục, quy trình kiểm soát có tác động “quan trọng” lớn hơn các yếu tố về môi trường kiểm soát; ii) Các yếu tố có sự biến động lớn sẽ có tác động “quan trọng” hơn các yếu tố ít biến động …). Do vậy, dựa trên những đánh giá về mức độ tác động “quan trọng” của các yếu tố, KTV xác định “trọng số” tác động rủi ro kiểm soát. Có thể xác định ở 3 mức: yếu tố có mức độ tác động “quan trọng” lớn (trọng số 2); mức độ tác động “quan trọng” trung bình (trọng số 1,5); mức độ “quan trọng” thấp (trọng số 1).

     

    • Tổng hợp và phân loại rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở xác định điểm rủi ro và trọng số rủi ro, KTV tính toán sự tác động của từng yếu tố đến rủi ro kiểm soát và tổng hợp rủi ro kiểm soát của các yếu tố (được lựa chọn) cho từng đối tượng kiểm toán trong cùng một nhóm đối tượng kiểm toán. Để tạo cơ sở cho lựa chọn đơn vị được kiểm toán cần phân loại rủi ro kiểm soát. Việc phân loại rủi ro kiểm soát được thực hiện theo phương pháp: i) Xếp loại rủi ro kiểm soát theo thứ tự từ rủi ro cao xuống thấp; ii) Xác định điểm rủi ro bình quân kiểm soát theo phương pháp tính bình quân gia quyền rủi ro của từng đối tượng kiểm toán; iii) Phân loại rủi ro kiểm soát cho từng đối tượng kiểm toán: dựa trên điểm rủi ro bình quân của từng đối tượng kiểm toán, thực hiện xếp loại: rủi ro rất cao (điểm từ trên 4 đến 5 điểm); rủi ro cao (điểm từ trên 3 đến 4 điểm); rủi ro trung bình (điểm từ trên 2 đến 3 điểm); rủi ro thấp (điểm từ 1 đến 2 điểm); rủi ro thấp (điểm từ trên 0 đến 1 điểm).

    2.3.3. Xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    Để lựa chon đối tượng kiểm toán cần xác định các nguyên tắc lựa chọn phù hợp với từng mục tiêu kiểm toán. Có 3 trường hợp lựa chọn như sau:

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán có mức rủi ro trên mức trung bình. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào các đối tượng có rủi ro kiểm soát cao. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (điểm rủi

    ro bình quân) để chọn tất cả các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát được xếp loại cao và rất cao.

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán theo giới hạn khả năng kiểm toán. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc khai thác cao nhất khả năng kiểm toán. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát) để chọn các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát từ cao xuống thấp cho đến khi số lượng phù hợp với dự kiến về khả năng kiểm toán.
    • Chọn đối tượng kiểm toán đại diện cho tổng thể. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc kiểm toán toàn diện các đối tượng kiểm toán đại diện cho các mức rủi ro kiểm soát. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát và theo phân loại rủi ro kiểm soát) để chọn tại mỗi mức rủi ro (5 mức) chọn theo một tỉ lệ (được xác định trước) các đối tượng kiểm toán; trong mỗi mức rủi ro kiểm soát có thể chọn đối tượng theo phương pháp từ trên xuống (theo tổng điểm rủi ro) hoặc theo lựa chọn ngẫu nhiên.

    Kết luận

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát dựa trên phương pháp lượng hóa làm cơ sở cho việc lựa chọn hợp lý các đối tượng kiểm toán trong hoạt động KTNB là một phương pháp mang tính khoa học và khả thi; việc áp dụng phương pháp đó trong thực tiễn KTNB (đặc biệt là tại các tổ chức có quy mô tương đối lớn) sẽ tạo cơ sở cho việc giảm thiểu rủi ro kiểm toán, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán của KTNB.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Quy định về trách nhiệm của kiểm toán nội bộ của IIA, 1990.

     

    1. Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp Kiểm toán nội bộ của IIA, 1993.

     

    1. Kiểm toán nội bộ – khái niệm và quy trình, NXB Thống kê, 1999.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]