Category: Luận Văn Thạc Sĩ – Cao Học – Tiến Sĩ

  • Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-ki%E1%BA%BFn-v%E1%BB%81-s%E1%BB%ADa-%C4%91%E1%BB%95i-lu%E1%BA%ADt-thu%E1%BA%BF-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-gia-t%C4%83ng-theo-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%C4%83ng-thu%E1%BA%BF-su%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    Ý kiến về sửa đổi luật thuế giá trị gia tăng theo hướng tăng thuế suất

    PGS.TS. Phan Duy Minh*

    Hiện Bộ Tài chính đang có Đề án đề nghị Chính phủ trình Quốc hội cho sửa đổi, bổ sung 6

     

    Luật thuế (Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập cá nhân, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế Tài nguyên, Thuế XK & NK). Việc xem xét, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật nói chung, các luật thuế nói riêng sau một

    thời gian áp dụng để phù hợp hơn với hoạt động thực tiễn vốn thay đổi, biến động không ngừng, đó là công việc bình thường, rất cần thiết. Để bổ sung sửa đổi cùng một lúc 6 luật thuế sẽ bao gồm rất nhiều vấn đề, với nhiều nội dung khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn bàn một vấn đề là điều chỉnh thuế suất thuế Giá trị gia tăng theo hướng tăng lên trên các khía cạnh cả về lý luận và thực tiễn.

     

    Từ khóa: Sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT, tăng thuế suất.

     

    Comments on amending the Law on Value Added Tax along the direction of increasing the tax rate

     

    Currently, the Ministry of Finance is proposing to the Government to submit to the National Assembly amendments and supplements to 6 tax laws (Law on Value Added Tax, Law on Corporate Income Tax, Law on Personal Income Tax, Law on Consumption Tax Special and Resource Tax Laws). Considering and proposing to amend general legal documents and tax laws in particular after a period of time of application so that they are more suitable with practical activities that change incessantly is ordinary and necessary type of work. At the same time amending 6 tax laws will cover a wide range of issues, with varying content. Within the scope of this article, we limit ourselves to the issue of adjusting the VAT rate in the direction of increasing both theoretical and practical aspects.

     

    Key words: Amending and supplementing the VAT Law, increasing the tax rate.

     

     

    1.   Cần có nhận thức đúng hơn về bản chất của Thuế Giá trị gia tăng

     

    Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) được triển khai áp dụng ở nước ta tính đến nay là sắp tròn 18 năm (1999 – 2017). Luật được kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9 thông qua và được ban hành bởi Sắc lệnh số 57/1997/L-CTN ngày 10/05/1997 của Chủ tịch nước và có giá trị thi hành từ ngày 01/01/1999

     

    thay cho Luật Thuế Doanh thu. Sau đó, Luật được bổ sung, sửa đổi bằng Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội khóa 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.

     

    Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954 (Theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tée – TVA, còn theo tiếng

     

    *Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  13

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

     

    Anh gọi là Value Added Tax gọi là – VAT). Ngày nay, phần lớn các nước trên thế giới (năm 2016 là 166 nước) đều áp dụng thuế này. Đó là các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu (EU), Châu Phi, Châu Mỹ và một số quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam.

     

    Theo cách hiểu chung của thế giới cũng như theo quy định của Luật thuế GTGT của Việt Nam thì đây một loại thuế gián thu. “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (Điều 1 – Luật Thuế GTGT 1997) và tại Luật Thuế GTGT sửa đổi năm 2008 thì quy định này vẫn được giữ nguyên (Điều 2). Nói cách khác, thuế GTGT là khoản được cộng thêm vào giá cả hàng hóa của người sản xuất và cơ sơ để tính khoản thuế này là một tỷ lệ nhất định của phần giá trị gia tăng được thực hiện ở các khâu sản xuất, lưu thông trước khi bán cho người tiêu dùng. Như vậy, thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và hoàn toàn do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng các dịch vụ đó.

     

     

     

     

     

    Thuế GTGT theo chúng tôi luôn phải được hiểu đúng như trên, nhưng trên thực tế thì đáng tiếc không ít người, kể cả người hướng dẫn luật lại không hiểu đúng như vậy. Họ cho rằng, thuế GTGT được “đánh” trên GTGT của hàng hóa, dịch vụ. Cách hiểu như thế này vô tình đã đánh đồng thuế GTGT với một số thuế trực thu khác như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, coi khoản thuế là điều tiết một phần GTGT vừa được tạo ra về cho Nhà nước. Phải chăng vì cách hiểu như vậy mà khá nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình trốn các khoản thuế GTGT bằng cách không xuất hóa đơn cho người mua khi bán hàng và cơ quan thuế chưa thực sự quyết liệt để thu bằng được các thuế này về cho Nhà nước.

     

    Dưới đây xin được đề cập sâu hơn một chút về bản chất kinh tế của khoản thuế GTGT như sau.

     

    Để cho vấn đề được đơn giản, chúng tôi gộp các chủ thể cụ thể có liên quan thành ba chủ thể lớn là Nhà sản xuất (bao gồm cả người sản xuất và người làm công tác lưu thông hàng hóa, dịch vụ), Người tiêu dùng và Nhà nước.

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Chúng ta đều biết, sau khi sản xuất hoàn thành, sản phẩm trước khi đến Người tiêu dùng, giá bán sản phẩm của Nhà sản xuất là Giá sản xuất (Pp). Giá này bao gồm Giá thành (Z) và phần Lãi gộp, hay đó chính là phần GTGT (Va). Giá thành (Z)

     

    • đây tập hợp các chi phí hữu hình, cụ thể, có thể hạch toán và phân bổ được gắn với quá trình sản xuất kinh doanh (còn gọi là các chi phí có hóa đơn). Chúng gồm Chi phí sản xuất (Chi phí tiêu hao vật tư nguyên liệu, khấu hao TSCĐ, tiền công… – Cc), Chi phí quản lý (Cm), Chi phí hữu hình khác (Các chi phí trong khâu lưu thông, các khoản thuế, phí… phải nộp “đầu vào”…). Còn Va bao gồm Lãi vay ngân hàng (Rl – nếu có), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (Te) và phần Lợi nhuận (f) của Nhà sản xuất. Cụ thể

    Pp = Z + Va ; trong đó

     

    Z = Cp + Cm + Co

     

    Va = Rl + Te + f

     

    Nên Giá của nhà sản xuất giờ đây được viết lại như sau:

     

    Pp = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f (1)

     

    Khi người tiêu dùng mua sản phẩm phải trả theo Giá tiêu dùng (Pc), gồm Giá sản xuất (Pp) và cả phần thuế GTGT (VAT) nộp cho Nhà nước. VAT được tính trên cơ sở GTGT (Va) và Thuế suất (t). Tức là:

     

    Pc = Pp + VAT ; với VAT = Va . t = (Rl + Te + f).t , nên

     

    Pc = Pp + (Rl + Te + f).t (2)

     

    Kết hợp (1) và (2) ta có

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t (3)

     

    Như chúng ta đã biết, trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm đã phải tiêu tốn nhiều loại sản phẩm, vật tư, nguyên liệu, nhân công, dịch vụ hữu hình và chúng đã được tính vào giá thành, nếu có chi phí vốn vay

    thì phải trả lãi vay… Song trong quá trình đó, họ đã được hưởng rất nhiều hàng hóa công cộng (HHCC) thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp (Giữ gìn nền hòa bình, bình yên, an toàn xã hội, được quyền giao lưu tự do quốc tế… do các hoạt động quốc phòng, an ninh, quản lý xã hội, đối ngoại… của Nhà nước mang lại). Để có được những HHCC ấy Nhà nước đã tiêu tốn rất nhiều chi phí, nguồn lực…, nhưng do chúng thuần túy, vô hình nên Nhà sản xuất khi hưởng thụ chúng để phục vụ quá trình sản xuất đã chưa trả tiền cho Nhà nước và Nhà nước cũng không thể loại trừ được việc thụ hưởng đó. Vì thế, trong giá của Nhà sản xuất (Pp), cả phần Giá thành (Z) cũng như phần GTGT (Va) đều chưa hề có khoản chi phí trả cho các HHCC vô hình này của Nhà nước, thì giờ đây, theo quy luật Trao đổi ngang giá của thị trường, Nhà nước phải cộng thêm vào Giá của Nhà sản xuất (Pp) phần chi phí của mình do đã cung cấp HHCC để thu hồi về dưới dạng thuế GTGT (VAT) là hoàn toàn thỏa đáng.

     

    Qua phân tích trên cho thấy, thuế GTGT không phải là một phần của GTGT (Va), nên nó không “đánh” vào GTGT, mà thực chất đây là việc thu hồi lại các khoản chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất cung cấp HHCC thuần túy vô hình cho xã hội mà Nhà sản xuất đã được hưởng trước đây nhưng chưa trả cho Nhà nước; còn cơ sở để tính số thuế này là một tỷ lệ % (thuế suất) nhất định của phần GTGT. Nhà sản xuất có trách nhiệm thu hộ khoản thuế này và nộp trả về cho Nhà nước.

     

    2.   Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tăng thuế suất thuế GTGT

     

    Giá mà Người tiêu dùng phải trả (Pc) theo công thức (3) trên đây giờ đây có thể được viết lại như sau:

     

    Pc = Cp + Cm + Co + Rl + Te + f + (Rl + Te + f).t

     

    Pc = (Cp + Cm + Co) + (Rl + Te + f).(1 + t)

     

    Pc = Z + Va.(1 + t) (4)

     

    Như vậy, tại công thức (4), giá cả sản phẩm mà

     

    (1) Ở những nước này là Thuế Tiêu thụ, Thuế Hàng hóa (GST). Về bản chất, các thuế này cũng tương tự như VAT.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  15

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

     

     

     

    người tiêu dùng phải trả đều có quan hệ tỷ lệ thuận với cả 3 yếu tố: Giá thành (Z), GTGT (Va) và Thuế suất thuế GTGT (t). Dó đó, Pc sẽ tăng hoặc giảm khi có ít nhất 1 trong 3 yếu tố trên tăng hoặc giảm. Vì thế, nếu Nhà nước có ý định tăng Thuế suất thuế GTGT (t) thì về lý thuyết giá cả tiêu dùng sẽ tăng là điều có lẽ không có gì phải bàn cãi.

     

    Với đề xuất của Bộ Tài chính sẽ tăng thuế suất thuế GTGT thêm 1 đến 2%, xin được bàn luận thêm một số khía cạnh sau.

     

    Thứ nhất, Tác động đến tăng giá cả hàng hóa.

     

    Như trên đã chỉ ra, việc tăng thuế suất thuế GTGT (và cả với các loại thuế gián thu khác được cộng vào giá cả hàng hóa) thì về lý thuyết đều làm tăng giá cả hàng hóa. Tuy vậy, ở đây thuế suất chỉ điều chỉnh tăng thêm 1 đến 2%, thì giá chỉ tăng thêm một phần, 1 đến 2% của phần GTGT. Theo con số thống kê, GTGT chiếm trong giá tiêu dùng của nền kinh tế bình quân 10%, thì khi tăng thuế suất như dự định, mặt bằng giá chỉ có thể tăng thêm 0,1 đến 0,2% mà thôi. Tuy nhiên, tác động đến giá cả còn do rất nhiều yếu tố khác nhau, như do cung – cầu, cạnh tranh, tâm lý tiêu dùng…

     

    Thứ hai, Cơ sở để đề xuất tăng thuế suất.

     

    Bản Đề án có đưa ra các căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT dựa trên một số yếu tố, gồm

     

    – Mặt bằng thuế suất của nhiều nước trên thế

    giới đều cao hơn nhiều so với thuế suất hiện tại của Việt Nam. Thuế suất thuế GTGT của Việt Nam hiện có 3 mức là 0%, 5% và 10%; trong đó, diện chịu mức thuế 10% là phổ biến nhất. Trong khi đó nhiều nước, thuế suất bình quân là 15 đến 20%, thậm chí cao hơn. Tuy vậy, qua báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) thì các nước có thuế suất cao chủ yếu là thuộc EU, Trung Quốc và một số quốc gia khác. Còn ở Châu Á nói

     

    chung, ASEAN nói riêng, trừ Myanmar, còn lại đều có thuế suất trung bình 10% trở xuống (Nhật Bản 8%, Hàn Quốc 10%, Singapore 7%, Malaysia 6%, Thái Lan 7%, sẽ là 10% từ 10/2018, Idonesia, Lào, Căm pu chia đều 10%). Vậy, Việt Nam hiện tại có thuế suất trung bình gần 10% là khá phù hợp với mặt bằng chung của khu vực.

     

    • Tỷ lệ thu thuế GTGT trong tổng thu NSNN của Việt Nam tương đối thấp. Qua số liệu báo cáo của Bộ Tài chính (và cũng đã được kiểm toán bởi KTNN), thuế GTGT trong tổng thu NSNN về thuế từ năm 2009 đến năm 2012 lần lượt là 21,25%, 24,38%, 27,55%, 27,28%, 26,08% (Theo Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013); trong các năm từ 2013 đến 2016, tỷ lệ đó dao động từ 26 đến 27%. Như vậy, nếu tổng thu NSNN của Việt Nam bình quân 20 đến 21% GDP, thì phần thu từ thuế GTGT tương ứng 5 đến 5,5% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ này của các nước thuộc EU trung bình là 7%GDP, của Trung Quốc là 7,36% GDP (Theo báo cáo của WB). Đối với các nước thuộc ASEAN, mặc dù hiện chưa có báo cáo thống kê chính thức, nhưng số thuế GTGT cũng chỉ chiếm trên dưới 5% GDP. Từ đó cho thấy, so với EU và Trung Quốc, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN qua thuế GTGT của Việt Nam là tương đối thấp, nhưng so với khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ này không thấp, thậm chí theo
    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    một số chuyên gia thì lại vào loại cao nhất khu vực.

     

    Theo chúng tôi, việc thu thuế GTGT là cao hay thấp, có lẽ cần so sánh với một yếu tố khác nữa không kém phần quan trọng. Đó là quy mô của các khoản chi NSNN có nguồn gốc từ thuế GTGT, hay nói cách khác, thu thuế GTGT là để thu hồi các chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra cho các hoạt động đó.

     

    Hiện nay, theo Luật NSNN 2015 mặc dù quy định, các khoản thu NSNN về thuế, phí, lệ phí… không gắn với các nhiệm vụ chi cụ thể (Điều 7), nhưng như đã phân tích ở trên về bản chất kinh tế của thuế GTGT, thì đây là khoản thu hồi những chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra để sản xuất, cung cấp các HHCC thuần túy vô hình cho xã hội, tức là các khoản chi cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. (Thực chất một vài thuế khác cũng có bản chất kinh tế tương tự như thuế này, như Thuế Thu nhập cá nhân, Thuế Thu nhập doanh nghiệp…, nhưng có lẽ thuế GTGT là điển hình nhất). Số chi NSNN cho quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước hàng năm đều được thể hiện khá cụ thể và Bộ Tài chính có thể thống kê tổng hợp chúng khá dễ dàng. Vậy hiện nay số chi này là bao nhiêu về số tuyệt đối và tương ứng bằng bao nhiêu trong Tổng chi NSNN? Là bao nhiêu %GDP? So với số thu từ

     

     

     

     

    thuế GTGT hàng năm là nhiều hơn hay ít hơn. Trường hợp thu từ thuế GTGT ít hơn các khoản chi này thì đây là một căn cứ để đề xuất tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Tuy vậy, theo chúng tôi, đất nước ta đang trong thời kỳ có lẽ là thanh bình nhất, các nguy cơ chiến tranh có thể nổ ra có thể nói là rất thấp, thậm chí bằng 0. Chúng ta lại chủ trương thực hiện một nền quốc phòng toàn dân, không thực hiện chạy đua vũ trang… Nên đây là giai đoạn hoàn toàn có thể giảm thấp chi tiêu cho quốc phòng về con số tương đối. Các chi tiêu khác về an ninh, quản lý nhà nước cũng có nhiều cơ hội, điều kiện để tiết giảm. Vậy nếu những khoản chi này hàng năm vượt quá 5% GDP của quốc gia (khoảng 20% tổng chi NSNN) là chưa hợp lý. Vì thế, đây có lẽ không phải là áp lực lớn để chúng ta tăng thuế suất thuế GTGT.

     

    Ngoài ra, với đề xuất mở rộng diện đối tượng chịu thuế GTGT, vẫn giữ 3 mức thuế suất như hiện tại, theo chúng tôi cơ bản là hợp lý, nhưng cũng cần tính toán, cân nhắc thêm.

     

    Về mở rộng diện chịu thuế. Theo lý thuyết, bất cứ Nhà sản xuất nào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa đều được thụ hưởng những

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 122 – tháng 12/2017  17

     

    SÖÛA ÑOÅI CAÙC SAÉC LUAÄT THUEÁ TÖØ GOÙC NHÌN KIEÅM TOAÙN

     

    HHCC thuần túy, vô hình do Nhà nước cung cấp, nhưng chưa hề trả chi phí thụ hưởng này trong bất cứ khoản mục nào của giá bán, thì phải cộng thêm khoản thuế GTGT vào giá bán cuối cùng cho Người tiêu dùng để giúp Nhà nước thu hồi các chi phí đã bỏ ra là hoàn toàn hợp lý. Vì thế, về lý thuyết, trong giá bán cho Người tiêu dùng của mọi hàng hóa, dịch vụ nào đều phải có phần thuế GTGT trả cho Nhà nước (Người sản xuất thu hộ thuế để trả cho Nhà nước). Tuy vậy, bất cứ một sắc thuế nào cũng thường có khá nhiều chức năng. Thông thường, bên cạnh chức năng Tài khóa (Tạo thu nhập cho NSNN), chúng còn có các chức năng khác, như chức năng Bảo hộ sản xuất trong nước; chức năng Điều tiết thu nhập; chức năng Khuyến khích, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng… Do đó, có thể có những sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế, nhưng cần phải bảo hộ, hay khuyến khích sản xuất… Nhà nước có thể chưa thu thuế bằng cách áp dụng mức thuế suất bằng 0% là rất cần thiết.

     

    Giữ nguyên 3 mức thuế suất, trong đó có mức thuế 0%. Đây là điều có thể cần phải tính toán, cân nhắc thêm. Nếu cứ giữ 3 mức thuế suất và tăng thêm 1 đến 2% cho mỗi mức thuế suất theo chúng tôi chưa hẳn đã là phương án hay. Vì cách này dễ gây ra tâm lý trong xã hội là Nhà nước thuế! Phải chăng, có thể nghiên cứu chọn thêm những hướng khác. Như (i) Có thể quy định bổ sung thêm một mức thuế suất 15% cho một số mặt hàng cần phải chịu mức thuế suất cao; (ii) Điều chỉnh một số mặt hàng đang từ thuế suất 0% sang mức 5%, đang từ 5% sang 10%… chẳng hạn. Bên cạnh đó, việc áp thuế suất cho các mặt hàng cũng cần lưu ý đến nhiều yếu tố, như:

     

    • Những sản phẩm hàng hóa thiết yếu đối với đời sống, sản xuất… cần áp dụng mức thuế suất thấp, thậm chí tạm miễn thuế theo mức thuế suất 0%;
    • Những sản phẩm hàng hóa cần bảo hộ thì áp mức thuế suất cao. Ngược lại, các sản phẩm cần khuyến khích xuất khẩu thì áp mức thuế suất thấp, thậm chí với thuế suất bằng 0%;
    • Những sản phẩm không thật thiết yếu, có

    nhiều mặt hàng thay thế, độ co dãn của cầu lớn…, có thể áp dụng mức thuế suất cao…

     

    Nếu làm như vậy sẽ góp phần phát huy đầy đủ hơn các chức năng của thuế GTGT và sử dụng chúng một cách uyển chuyển, hiệu quả trong tay Nhà nước.

     

    Kết luận

     

    Thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay xét cả về thuế suất, số thu cũng như tỷ trọng trên GDP của nền kinh tế so với các nước EU, Trung Quốc… là tương đối thấp, nhưng so với các nước ASEAN và một số nước Châu Á khác là không thấp, thậm chí còn tương đối cao. Số thu thuế GTGT hàng năm của chúng ta chiếm khoảng 25 đến 27% tổng thu NSNN, tương đương 5 đến 5,5% GDP, có thể trang trải đủ các nhiệm vụ chi về quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. Việc đề xuất tăng thuế suất thêm 1 đến 2% trên thực tế có thể mang lại một khoản thu không đáng kể, nhưng rất có thể tạo ra những tác động mạnh về tâm lý xã hội và bất ổn định về kinh tế vĩ mô, nên rất cần phải được tính toán thận trọng và tốt nhất nên theo hướng giữ ổn định trong giai đoạn này. Ngược lại, mở rộng diện chịu thuế, có thể thiết kế thêm một mức thuế suất 15%, vẫn giữ mức thuế suất 0%, linh hoạt điều chỉnh các mặt hàng chịu những mức thuế suất phù hợp với điều kiện cụ thể… Đồng thời, tích cực áp dụng các biện pháp khác để chống thất thu thuế GTGT thì không cần tăng thuế suất, chúng ta vẫn có thể tăng được số thu từ sắc thuế này như mong muốn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kinh tế học công cộng, Joseph Siglitz, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, 1994;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính kèm theo Tờ trình Chính phủ số 06/TTr-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2013;

     

    1. Báo cáo của Bộ Tài chính về Kinh nghiệm cải cách chính sách thuế trên thế giới – 2017;

     

    1. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính và một số tài liệu khác.

     

     

    • Số 122 – tháng 12/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/KINH-T%E1%BA%BE-T%C6%AF-NH%C3%82N-V%C3%99NG-%C4%90%C3%94NG-NAM-B%E1%BB%98-C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-V%C3%80-XU-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-V%E1%BA%ACN-%C4%90%E1%BB%98NG-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-H%C3%93A-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BA%A0I-H%C3%93A-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-2016-%E2%80%93-2020-V%C3%80-T%E1%BA%A6M-NH%C3%8CN-%C4%90%E1%BA%BEN-N%C4%82M-2030.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

     

    PRIVATE ECONOMY IN THE SOUTHEAST REGION: INFLUENTIAL FACTORS AND DEVELOPMENT TREND DURING INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION IN 2016-2020 AND VISION TOWARD 2030

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò quan tṛng, là một bộ phận phát trỉn lâu dài trong th̀i kỳ xây dựng CNXH ở Việt Nam. Bài báo phân t́ch các yếu tố tác động đến sự phát trỉn c̉a kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ trong quá tr̀nh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2016-2020 và tầm nh̀n đến năm 2030. Từ những phân t́ch đó, bài viết chỉ ra xu hứng vận động phát trỉn ch́nh c̉a kinh tế tư nhân trong th̀i gian t́i, đó là: (1) Kinh tế tư nhân sẽ phát trỉn v́i tốc độ nhanh hơn so v́i trức đây, (2) kinh tế tư nhân sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất h̀nh thành những doanh nghiệp ĺn, những tập đoàn KTTN, (3) kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế gíi mạnh hơn nữa trong những năm t́i, và (4) kinh tế tư nhân sẽ có xu hứng phát trỉn lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin.

     

    Từ khóa: kinh tế tư nhân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đông Nam Bộ

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) bao gồm 6 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước và Tây Ninh; được đánh giá là vùng kinh tế năng động nhất của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn vùng luôn ở mức rất cao. Đây là khu vực dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, đóng

     

    Nguyễn Hữu Trinh (*)

     

    ABSTRACT

     

    The private sector plays an important role, and is a consolidated part of long-term development in the period of building socialism in Vietnam. The paper analyzes the factors affecting the development of the Southeast private economy in the process of industrialization and modernization during the period 2016-2020 with a vision to 2030. From that analysis, article points out development trends of the private economy in the coming period, namely: (1) private economic development will be at a faster rate than before,

     

    • private sector will increase the scale, expand its production in larger scale and form private sector corporations, (3) private sector in Southeast region will integrate more in the world economy in the coming years, and (4) private sector will tend to develop more intensively in the service sector such as tourism, counsulting, legal assistance, capital funds, transport, production support, business information services.

    Keywords: private economy, industrialization, modernization, Southeast region

     

    góp 2/3 ngân sách và tỷ lệ đô thị hóa cao. Trong sự phát triển mạnh mẽ đó, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) vùng ĐNB là một bộ phận kinh tế có những đóng góp rất lớn cho tỷ trọng GDP quốc gia, việc tạo công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước… nên việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển của KTTN Vùng và xu hướng vận động của nó là điều hết sức cần thiết.

     

     

    • Trung tâm LLCT, ĐHQG TPHCM, NCS. Trừng Đại Kinh tế Tp. H̀ Ch́ Minh

     

     

    106

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KTTN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (ĐCSVN)

     

    Từ khi đổi mới, KTTN chưa được chính thức coi như một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Nhưng trong nhận thức, ĐCSVN khẳng định nhất quán lâu dài xây dựng, phát triển kinh tế nhiều thành phần, và đã thừa nhận những yếu tố, bộ phận cấu thành KTTN.

     

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng c̉a th̀i kỳ quá độ, Văn kiện viết: “Ở nước ta, các thành phần đó là:

     

    Kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với các bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với các thành phần đó.

     

    Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác” (ĐCSVN, 2006, tr. 57-58).

     

    Văn kiện Đại hội VII: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức” (ĐCSVN, 1991, tr. 69). Sau đó, trong Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khoá VII tiếp tục khẳng định: Phát triển kinh tế hộ cá thể, tư nhân trong nông nghiệp là một chính sách nhất quán, lâu dài trong thời kỳ quá độ.

     

    Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII viết: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài. Giúp đỡ kinh tế các thể, tiểu

     

    chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” (ĐCSVN, 1996, tr. 96).

     

    Từ những chủ trương đúng đắn, phù hợp, KTTN càng có bước phát triển mới góp phần phát triển kinh tế đất nước, giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất của cả nước, bộ mặt kinh tế

     

    • xã hội ngày càng thay da đổi thịt. Bên cạnh sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, KTTN cũng đóng góp vào tích lũy ngân sách nhà nước. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Kinh tế cá th̉ tỉu ch̉ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng mối quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động” (ĐCSVN, 2001, tr. 98-99). Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Ban chấp hành trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ hai, nhấn mạnh thêm: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng

     

     

    107

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2002, tr. 57).

     

    Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định phát triển KTTN và coi nó là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân. KTTN gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đảng ta nhấn mạnh về vai trò của KTTN như sau: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.” (ĐCSVN, 2006, tr. 83). Về mặt thực tiễn KTTN là khu vực kinh tế năng động, hiệu quả năm 2005 chiếm 37,7% GDP của cả nước và hiện nay khu vực này phát triển rất hiệu quả trở thành động lực thúc đấy nền kinh tế phát triển. Trong quan điểm của ĐCSVN tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, khái niệm kinh tế tư nhân được sử dụng dùng để chỉ các bộ phận: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Như vậy, cách sử dụng khái niệm này có sự linh hoạt hơn, đó là KTTN bao hàm cả kinh tế tư bản tư nhân, tạo điều kiện để chúng ta phát triển mở rộng các lực lượng xã hội có điều kiện tham gia phát triển KTTN.

     

    Đến nay, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối, chủ trương phát triển KTTN. Đại hội Đảng XI cũng nhận thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển KTTN còn gặp phải những khó khăn về vốn, khoa học công nghệ, pháp lý, v.v. cho nên Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục hỗ trợ cho KTTN phát triển tốt hơn nữa trong giai đoạn phát triển kế tiếp. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI viết: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực mạnh của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện để hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” (ĐCSVN,

     

    2011, tr. 209) . Theo đó, KTTN sẽ ngày càng có điều kiện phát triển cùng các thành phần kinh tế khác, KTTN được khuyến khích phát triển thành các tập đoàn kinh tế lớn trên các lĩnh vực, các ngành, có điều kiện nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà với các nền kinh tế thế giới.

     

    Như vậy, cả về mặt lý luận và chủ trương đường lối của Đảng ta là thống nhất về phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, là một bộ phận quan trọng sẽ phát triển lâu dài trong thời kỳ xây dựng CNXH.

     

    Trong quá trình cải tạo, xây dựng CNXH

     

    • nước ta, ĐCSVN đã nhận định: “Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài” (ĐCSVN, 1986, tr. 23).

    Sau khi đổi mới, chúng ta đã có những thay đổi về tư duy kinh tế một cách đầy đủ hơn. Mặc dù, thời gian đầu còn chập chững trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, song thực tiễn đổi mới đất nước đã chứng minh đường lối đó là đúng đắn. Các thành phần kinh tế ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong cơ cấu nền kinh tế.

     

    Kinh tế tư nhân của vùng ĐNB sẽ chịu những ảnh hưởng của những tác động của tình hình chung của thế giới, của nước ta cũng như những ảnh hưởng khác của vùng. Chính những ảnh hưởng ấy mà trong những năm tới, KTTN có xu hướng vận động biến đổi khác so với trước đây.

     

    CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KTTN VÙNG ĐNB TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GIAI ĐOẠN 2016

    – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030

     

    Về tình hình thế giới, nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Vùng nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Trong những năm tới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn. Nền kinh tế thế giới mặc dù có dấu

     

     

    108

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn chứa nhiều yếu tố khó khăn mất ổn định. Hiện nay, sự cạnh tranh về kinh tế – thương mại đang diễn ra giữa các nước trên thế giới ngày càng gay gắt hơn so với trước đây. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt khu vực Đông Nam

     

    • sẽ là một trong những khu vực phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, đồng thời tại đây vẫn còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh chấp vùng lãnh thổ, chủ quyền biển đảo ngày càng gay gắt, mâu thuẫn giữa các nước có tranh chấp chứa đựng những yếu tố gây mất ổn định. Những yếu tố trên có tác động quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và kinh tế ĐNB nói riêng trong đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cả thành phần KTTN.

    Về tình hình trong nước, hệ thống thể chế, cơ chế chính sách phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ngày càng được hoàn thiện nên các thành phần kinh tế có thêm cơ hội phát triển. Những thành tựu, kinh nghiệm đạt được trên các mặt qua 30 năm đổi mới đã trở thành cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Từ những thành tựu đạt được nên tiềm lực, vị thế đất nước được nâng lên một bước mới, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, sự ổn định chính trị là những điều kiện tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước cũng như tác động tích cực đến phát triển kinh tế vùng ĐNB trong những năm tới.

     

    Về tình hình của vùng ĐNB, là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi có mức độ giao thương hàng hóa trong và ngoài nước lớn, là vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao trong cả nước. Đồng thời với những thành tựu trong những năm qua và những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, điều hành, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu; sự ổn định về chính trị xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại trong và ngoài nước; là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới. Tuy nhiên, vùng ĐNB cũng đối mặt

     

    với những khó khăn và thách thức lớn đó là: dịch bệnh và biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông, dịch vụ kho bãi, cảng mang tính chất vùng; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, áp lực tăng dân số cơ học cao, thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia giỏi đầu ngành, cán bộ khoa học kỹ thuật, quản trị doanh nghiệp; tình hình khiếu kiện về đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tình hình đình công, lãn công trong các khu công nghiệp vẫn là những vấn đề ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của vùng nói chung cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển KTTN nói riêng.

     

    Về xu hứng vận động phát trỉn c̉a KTTN vùng ĐNB trong quá tr̀nh CNH, HĐH giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nh̀n đến năm 2030

     

    Từ những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước cũng như của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, thành phố Vùng ĐNB, những tác động hiện nay sẽ tạo ra những xu hướng vận động phát triển trong những năm tới. Cụ thể là:

     

    Thứ nhất, KTTN sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn so với trước đây. Hiện nay, mức tăng trưởng kinh tế của các địa phương trong vùng ĐNB tăng cao, sự tích lũy vốn của hộ cá thể, của DNTN ngày càng gia tăng cho nên sẽ tăng số lượng các doanh nghiệp tư nhân, cũng như trang trại, nông trại. Đồng thời, trong những năm tới với những chủ trương chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước, những chủ trương, chính sách phù hợp của Đảng bộ chính quyền thành phố, tỉnh trong vùng ĐNB sẽ thúc đẩy KTTN phát triển nhanh hơn.

     

    Thứ hai, KTTN sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất hình thành những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn KTTN. Hiện nay, vùng ĐNB có nhiều doanh nghiệp tư nhân phát triển khá mạnh, với quy mô lớn cả về vốn, về số lượng sản phẩm, doanh thu, lực lượng lao động. Mặt khác, sau khủng hoảng kinh tế, để tăng sức cạnh tranh với thị trường trong nước, thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại,

     

     

    109

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    phát triển đã có xu hướng liên doanh, liên kết mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư, thu hút thêm lực lượng lao động, xây dựng chiến lược kinh doanh mới nhằm tồn tại và phát triển.

     

    Thứ ba, KTTN trong vùng ĐNB sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế giới mạnh hơn nữa trong những năm tới. Vùng ĐNB có nhiều khu công nghiệp nên thu hút với nhiều nước tham gia đầu tư. Sự tác động ấy, cũng như nhu cầu phát triển thị trường nên dù muốn hay không các DNTN sẽ tìm hướng đầu tư, tìm thị trường với nước ngoài.

    Thứ tư, KTTN sẽ có xu hướng phát triển lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin, v.v.. Với tình hình phát triển kinh

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VI. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VII.Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VIII. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002.Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội, Nxb Sự thật.

    tế khá năng động hiện nay thì những lĩnh vực như dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển. Trong khi lĩnh vực sản xuất sản phẩm hàng hóa dễ bị thua lỗ, khó tìm kiếm thị trường, cũng như mức đầu tư vốn khá lớn thì lĩnh vực dịch vụ lại không cần nhiều vốn, xác suất thua lỗ, rủi ro ít hơn, thường không phụ thuộc nhiều vào thị trường mà phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong vùng ĐNB.

     

    Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, KTTN đã có những yếu tố phát triển theo những xu hướng nêu trên. Đó là những tín hiệu khả quan cho sự phát triển KTTN của vùng ĐNB.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội Đảng th̀i kỳ đổi ḿi. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011.Văn kiện đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đinh Thị Thơm, 2006. Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi ḿi thực trạng và những vấn đề, sách tham khảo.
    • Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), 2003. Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nức đối v́i kinh tế tư nhân ở nức ta hiện nay. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân, 2004. Phát trỉn kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực tiễn. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Nguyễn Thanh Tuyền, 2006. Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trừng định hứng xã hội ch̉ nghĩa ở Việt Nam. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

     

    110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C3%A0m-%C3%BD-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-v%E1%BB%81-chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-kinh-t%E1%BA%BF-sinh-th%C3%A1i-v%C3%A0-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-kinh-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-tri%E1%BB%83n-khai-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-legato.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Original Article

     

    Policy Implications on Socio Ecological and Economic Tranformation in Vietnam’s Agriculture: Experiences from Legato Project

     

    Dao Thanh Truong*, Nguyen Thi Quynh Anh

     

    VNU University of Social Sciences and Humanities,

     

    336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 06 May 2019

    Revised 17 June 2019; Accepted 17 June 2019

     

    Abstract: As one of the leading countries in rice export, Vietnam has always focused on investing and developing clean and green agriculture with the aim of sustainable development. In addition to traditional farming methods, farmers have gradually approached modern technologies and methods of large-scale goods production. The inter-regional nature between production and agriculture and interdisciplinary interactions between agriculture and services has become increasingly common in Vietnam’s major rice production areas such as the Red River Delta and the Mekong Delta. This paper focuses on analyzing the socio-economic-ecological transformation in rice production of Vietnam, adopting the experience of ecological technology application under the framework of the LEGATO project – an interdisciplinary project participated by the Institute of Policy and Management for the period 2011-2016. The results of the project affirmed the importance of combining different research approaches in considering the socio-economic-ecological impacts in ecological technology development of agricultural production in Vietnam

     

    Keywords: Social, ecological and economic transformation, policy, sustainable development, interdisciplinary approach, stakeholders.*

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

    26

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp: kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    Đào Thanh Trường*, Nguyễn Thị Quỳnh Anh

     

    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN,

     

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 06 tháng 5 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 17 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Là một trong những quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu gạo, Việt Nam luôn chú trọng việc đầu tư và phát triển nông nghiệp xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh phương thức canh tác truyền thống, người nông dân đã tiếp cận dần với các công nghệ hiện đại và phương thức sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Tính liên vùng trong sản xuất và nông nghiệp và liên ngành giữa nông nghiệp và dịch vụ được khai thác ngày càng phổ biến tại các trung tâm sản xuất lúa gạo lớn của Việt Nam như Khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề chuyển đổi kinh tế – xã hội – sinh thái của Việt Nam trong sản xuất lúa nước từ kinh nghiệm áp dụng công nghệ sinh thái trong khuôn khổ dự án LEGATO – một dự án liên ngành do Viện Chính sách và Quản lý tham gia triển khai trong giai đoạn 2011-2016. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp những tiếp cận nghiên cứu khác nhau trong việc xem xét những tác động kinh tế – xã hội – sinh thái trong phát triển công nghệ sinh thái trong hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam và những hàm ý chính sách cho quá trình phát triển nông nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội, chính sách, phát triển bền vững, tiếp cận liên ngành, các bên liên quan.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Khái niệm “Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái” được hình thành trong lòng cuộc đối thoại về những giá trị của quan điểm phát triển

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

     

    bền vững trước đây đặt ra. Trong đó khái niệm Chuyển đổi (Transformation) được đưa ra trong cuộc thảo luận về “Những chuyển đổi lớn”

     

    (Great Transformation)1 do Polanyi2 đưa ra năm 1995. Theo nghiên cứu của Phillip Degenhardt

     

    • Có tác giả dịch là Cuộc Đại biến chuyển.

    2Nhà văn và giáo sư gốc Hungary, đã sống ở Trung Âu và Anh trước khi di cư sang Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến

     

    27

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    (2016), Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái là một quan điểm đóng góp của Cánh tả cho cuộc thảo luận về học thuyết Degrowth (tạm dịch: Giảm phát triển) [1]. Trong đó, ngành năng lượng, ngành giao thông, nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp và các tổ hợp công nghiệp quân sự là những yếu tố tác động mạnh mẽ và tào ra những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái

     

    – xã hội của nhiều quốc gia hiện nay. Chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội liên quan đến việc đánh giá và tổ chức lại khung chính sách, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới hiện nay nhằm hạn chế các tác động âm tính của tăng trưởng và phát triển kinh tế đến sinh thái, xã hội, hướng đến một xã hội tương lai bền vững. Có thể thấy rằng, xu hướng định hình từ phát triển bền vững tới chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội đang xuất hiện ngày càng phổ biến ở các nước phát triển. Đây là sự định hình lại các hình thức liên kết giữa các yếu tố kinh tế – xã hội – sinh thái trong chiến lược phát triển, xem xét tác động của các hoạt động kinh tế với xã hội sinh thái hiện nay và giải pháp khắc phục, đảm bảo tính cân bằng, ổn định giữa các thành tố phát triển này. Từ phương diện chính sách, các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội cần được xem xét và áp dụng vào quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.

     

    Theo nghiên cứu của Joachim Spangenberg (2019), Việt Nam đang phải đối mặt với những biến chuyển có tương tác với nhau và hàm ý mà chúng mang lại, từ một múc thu nhập thấp đến trung bình và từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hóa, từ phân bổ dân cư nông thôn sang đô thị hóa, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và từ trạng thái ổn định sang khí hậu thay đổi nhanh chóng (tần suất và cường độ bão tăng, mực nước biển dâng cao, mất đa dạng sinh học,

     

    • nhiễm môi trường), nổi cộm trên những vấn đề môi trường phức tạp hiện nay. Bối cảnh này đòi hỏi cần có sự nhìn nhận lại về các trọng tâm phát triển. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trụ cột kinh tế vẫn là hướng mục tiêu

    ________

     

    3 Land-use intensity and Ecological Engineering – Assessment Tools for risks and Opportunities in irrigated rice based production systems.

     

    được tập trung hơn các trụ cột khác. Chính vì vậy, từ phát triển bền vững dịch chuyển sang triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một yêu cầu khách quan và cần được áp dụng trong quá trình phát triển đất nước. Trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, sự giao thoa giữa nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp chuyên môn hóa; giữa nông nghiệp với các ngành khác đã tạo nên những chuyển đổi kinh tế

     

    • sinh thái – xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu liên ngành trong phát triển nông nghiệp theo triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội.

    Dự án Kỹ thuật Thâm canh và Công nghệ Sinh thái – Công cụ đánh giá rủi ro và Cơ hội của

     

    hệ thống sản xuất lúa nước tưới3 (sau đây gọi tắt là LEGATO) là một dự án dự trên tiếp cận liên bộ môn (inter-disciplinary approach), liên ngành (inter- sectorial approach) được Viện Chính sách và Quản lý triển khai trong thời gian từ 2011-2016.

     

    Mục tiêu tổng quát của dự án là xây dựng những quy trình ứng dụng thực hiện “công nghệ sinh thái” –bao gồm thiết kế, điều tra, theo dõi và cấu trúc của các hệ sinh thái. Đồng thời, dự án còn thực hiện việc định lượng sự phụ thuộc của các chức năng của hệ sinh thái và các dịch vụ tạo ra trong hệ thống nông nghiệp trong ba khu vực ở Đông Nam Á: Malaysia (Đề án thủy lợi Muda), Việt Nam (tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL và thung lũng sông Hồng từ khu vực miền núi Tây Bắc đến đồng bằng) và Philippines (Trung Luzon từ Banaue đến Cabanatuan).

     

    Cơ sở hoạt động của LEGATO là hướng dẫn phát triển chức năng sinh thái (ecosystem functions) và dịch vụ sinh thái (ecosystem services) phù hợp điều kiện văn hóa – xã hội và tự nhiên tại địa phương, nhằm giúp nông dân tại khu vực Nam và Đông Nam Á xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra. LEGATO sẽ phân tích tiềm năng của “công nghệ

     

    sinh thái”4 và thử nghiệm khả năng áp dụng và

     

    • Công nghệ sinh thái hướng đến tính bền vững trong phát triển nông nghiệp. Nền nông nghiệp sinh thái cung cấp cho con người một không gian sản xuất lành mạnh, sản phẩm nông nghiệp sạch và một môi trường tự nhiên ổn định. Áp

     

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    29

    chuyển giao tại địa bàn nghiên cứu. Bước tiếp theo là hợp tác với cơ quan Nông nghiệp và Khuyến nông địa phương để chuyển giao cho người dân triển khai trên quy mô rộng hơn. Việc thực hiện có hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái tạo được sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái trong trồng lúa giúp bà con nông dân trồng lúa giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, bảo vệ sức khỏe và môi trường sống tốt hơn.

     

    LEGATO là một dự án mà hiển thị các xu hướng hợp tác của các nhà khoa học giữa các quốc gia khác nhau trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có 7 quốc gia và gần 100 nhà khoa học từ các lĩnh vực như xã hội học, sinh học, địa lý học, sinh thái học, kinh tế học, nhân học v.v. Để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hệ sinh thái quanh đồng ruộng, mà còn phân tích các đặc trưng văn hóa của phương thức canh tác nông nghiệp, những tác động của chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đến canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu. Các nghiên cứu phân tích sự kết hợp giữa nông nghiệp – dịch vụ trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh gắn với các giá trị truyền thống của sản xuất nông nghiệp tại các địa bàn nghiên cứu, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

     

    • Phạm vi: Tại Việt Nam, địa bàn nghiên cứu bao gồm: Trung Chải, Sapa (Lào Cai) và xã Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương). Kết quả khảo sát cho thấy, Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương) là hai địa bàn được chọn để áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa).

     

    • Phương pháp tiếp cận
    • Tiếp cận phân tích vai trò của các bên liên quan (stakeholders)

    Để đảm bảo tính khách quan và sự tham gia của nhiều đối tượng trong hoạt động của dự án,

     

    ________

     

    dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp tiến bộ được rất nhiều các quốc gia áp dụng, với mong muốn điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất trồng lúa, hạn chế các biện pháp khai thác làm suy thoái tài nguyên đất nói

     

    các nhóm bên liên quan được xác định là đối tượng cung cấp các thông tin đầu vào trong các nghiên cứu ban đầu khảo sát thực trạng của các hoạt động kinh tế – xã hội – sinh thái liên quan đến dự án, vừa tham gia thực hiện và đánh giá các hoạt động này. Sự khác biệt trong quan điểm của các bên liên quan là gợi ý để các nhà nghiên cứu phát hiện các vấn đề nghiên cứu. Phân loại các bên liên quan căn cứ theo ảnh hưởng và lợi ích từ dự án với các hình thức: Tham dự, Thông tin, Hợp tác và Tư vấn.

     

    Dự án đã triển khai các cuộc phỏng vấn tại tất cả các khu vực của dự án LEGATO, tức là ở ba tỉnh ở Philippines (Laguna, Nueva, Ecija và Ifugao), và tại bốn tỉnh ở Việt Nam (Tiền Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc và Lào Cai), và các bên liên quan tại Hà Nội và Manila (các bên liên quan cá nhân phỏng vấn). Từ năm 2011 đến 2016, đã có hơn 150 cuộc phỏng vấn cá nhân và hơn 20 cuộc phỏng vấn nhóm được thực hiện, với khoảng 400 người tham gia (với các bên liên quan như bảng dưới đây).

     

    STT       Nhóm các bên liên quan

     

    • Người nông dân và gia đình của họ
    • Các đơn vị hành chính: cán bộ nông nghiệp, cán bộ khuyến nông
    • Các đại lý chuỗi sản xuất gạo: trung gian và thương nhân (sấy khô, làm sạch và tiếp thị sản phẩm)
    • Quản trị cấp cao hơn: cán bộ nông nghiệp cấp tỉnh, quản lý nông nghiệp
    • Doanh nghiệp nhỏ địa phương (taxi, cho thuê xe, nhà hàng, khách sạn)
    • Các doanh nghiệp lớn hơn tại địa phương, các công ty con của các tổ chức hoặc doanh nghiệp quốc gia, Ban quản lý địa phương, du lịch
    • Chính quyền cấp tỉnh và quốc gia

    riêng và đảm bảo việc thực hiện được nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái. Bên cạnh đó, áp dụng công nghệ sinh thái cũng góp phần tăng cường chức năng của hệ sinh thái và sự phát triển của dịch vụ sinh thái.

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Giai đoạn 1: Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trong giai đoạn đầu của dự án để xác định các địa điểm phù hợp nhất cho các khu vực dự án. Mục đích chính của tất cả các cuộc phỏng vấn ban đầu là hiểu rõ hơn vị trí của người được phỏng vấn và xác định mức độ quan tâm tương ứng của họ.

     

    Giai đoạn 2: Các cuộc phỏng vấn tập trung vào các đặc điểm về kinh tế xã hội và văn hóa xã hội, tình hình sử dụng đất và bối cảnh, quan điểm cuộc sống của họ với sự phát triển của khu vực như được quan sát và mong đợi, các vấn đề văn hóa liên quan, các kỳ vọng về thay đổi phương thức canh tác và nâng cao thu nhập. Các cuộc phỏng vấn này được tổ chức riêng biệt theo giới tính (nhóm nam, nhóm nữ).

     

    Giai đoạn 3: Phỏng vấn về đánh giá lộ trình áp dụng, kết quả và tác động của việc áp dụng CNST và kỳ vọng. Người tham gia phỏng vấn phải được đáp ứng hai điều kiện: những người được phỏng vấn được chọn phải đại diện cho khu vực và thủ tục phỏng vấn phải được chuẩn hóa.

     

    • Tiếp cận chính sách

    Để đánh giá khả năng và điều kiện áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up) với các nhóm liên quan, đặc biệt là với nhóm thụ hưởng (người dân).

     

    Tiếp cận từ trên xuống (Top-down) được xây dựng trên cơ sở một mạng lưới các đối tác là các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu của dự án là Sapa và Hải Dương (bao gồm Sở Văn hóa Thể thao Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm phát triển Văn hóa của địa phương v.v.). Tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up): người dân được hỏi về hiệu quả của các chính sách phát triển trước khi áp dụng công nghệ sinh thái (nhóm dự kiến áp dụng và nhóm không áp dụng), quan điểm và đánh giá của họ về những chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội trong sản xuất nông nghiệp. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu và tìm kiếm các vấn đề xung đột quan điểm và khoảng trống giữa

     

    nhận thức và hành động của người làm chính sách và đối tượng thụ hưởng.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bảng hỏi, thực nghiệm mô hình công nghệ sinh thái.

     

    Kết quả và thảo luận

     

    2.1. Những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong hoạt động canh tác và sản xuất lúa của Sapa và Hải Dương

     

    2.1.1. Sự thiếu hụt của nhân lực trong sản xuất nông nghiệp

     

    Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lao động tại Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2018 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính là 20,9 triệu người, chiếm 38,6% (giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Công nghiệp và xây dựng là 14,4 triệu người, chiếm 26,7% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Dịch vụ là 18,7 triệu người, chiếm 34,7% (tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) [3]. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động nông nghiệp bị thu hút bởi các ngành hoạt động sản xuất và dịch vụ. Theo kết quả nghiên cứu của dự án LEGATO, xu hướng này được thể hiện rõ tại hai địa bàn chính là Sapa và Hải Dương:

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển đổi sang làm ngành dịch vụ

    Tại Sapa, Dự án LEGATO khảo sát đặc điểm phương thức canh tác trên ruộng bậc thang tại các địa điểm: Trung Chải, Tả Văn, v.v. và hoạt động liên quan khác như việc sử dụng và quản lý đất nông nghiệp, sự phát triển của du lịch sinh thái tại các địa bàn này. Tại Sapa, trên địa hình cao và dốc, lại chịu tác động mạnh mẽ của thời tiết khắc nghiệt, của biến đổi khí hậu, nông dân địa phương chỉ có thể canh tác 1 vụ lúa trong

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    31

    năm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, kết hợp trồng thêm ngô, thảo quả và rau, chủ yếu vẫn sử dụng phương thức sản xuất theo kinh nghiệm truyền lại của ông cha và phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện tự nhiên. Người dân mở rộng diện

     

    tích ruộng bậc thang theo kinh nghiệm, gần các khu vực có nhiều nước và sử dụng các ông nứa, ống tre ghép thành các hệ thống dẫn nước thô sơ cho ruộng của họ.[4]

     

     

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2011.

     

     

    Bên cạnh những khó khăn về điều kiện khí hậu, nguồn nước, sự suy giảm của tài nguyên rừng cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Trước kia, nông dân ở Sapa trồng giống lúa địa phương, hiện nay, người dân chủ yếu trồng lúa lai bên cạnh các giống lúa truyền thống như Sén Cù, Khẩu Nậm Sít, Bắc Thơm, Tàu Bay. Sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt là việc canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa chủ yếu phụ thuộc điều kiện tự nhiên, canh tác trên địa hình cao và phức tạp, hệ thống thủy lợi chưa phát triển, trong mùa khô, ruộng không đủ nước; nguồn nước chủ yếu sử dụng ở khu vực ruộng bậc thang là nước suối, nước ngầm, v.v. Tại Sapa tập quán du canh du cư vẫn tồn tại, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quá trình thoái hóa đất. Chính vì vậy, lúa canh tác chủ yếu chỉ đủ cung cấp cho người dân địa phương, một số ít loại gạo đặc sản được cung cấp theo nhu cầu của các cơ sở dịch vụ du lịch tại thị trấn Sapa. Các dịch vụ về nông nghiệp chậm phát triển như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, công nghệ sơ chế bảo quản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được với

    nhu cầu của phát triển sản xuất. Chính vì thế, năng suất lúa thấp, mất mùa không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của người dân địa phương.

     

    Theo kết quả phỏng vấn nhóm nông dân là nữ, thời gian canh tác lúa giảm đi do người dân bán các sản phẩm thổ cẩm, trang sức bạc, v.v. cho các du khách đến du lịch. Nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình là từ hoạt động bán sản phẩm cho khách du lịch. 90% gia đình được phỏng vấn cho biết con cái họ đều tham gia bán sản phẩm du lịch (độ tuổi trung bình từ 6-12 tuổi). Trong khi nhóm nam (độ tuổi 30-45 tuổi) cho rằng họ tiếp tục sản xuất do canh tác và đất đai được truyền lại từ thế hệ trước và cũng để đảm bảo nguồn lương thực phục vụ cho hộ gia đình duy trì cuộc sống hàng ngày. Theo kết quả phỏng vấn sâu con cái của các hộ gia đình, 98% con cái của họ (độ tuổi từ 15 tuổi) đều mong muốn chọn lựa công việc khác. Công việc nông nghiệp được người dân mô tả là “vất vả, thu nhập thấp, không ổn định và không có tương lai”.

     

    Như vậy, xu hướng chuyển đổi lao động nông nghiệp (trồng lúa trên ruộng bậc thang) tại Sapa, Lào Cai chủ yếu tập trung vào quá trình

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    giảm tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp sang ngành dịch vụ, du lịch. Xu hướng này tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây do tốc độ phát triển và chiến lược phát triển du lịch của địa phương. Mặc dù, sản xuất công nghiệp tại Lào Cai cũng phát huy hiệu quả những tiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản. Nhiều dự án, nhà máy lớn chế biến sâu khoáng sản của địa phương: Apatit, sắt, đồng… đi vào hoạt động. Song chủ yếu là do lao động từ các tỉnh khác đến phục vụ quá trình khai thác và sản xuất công nghiệp.

     

    Khi chuyển sang giai đoạn hai về phỏng vấn người dân về việc áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa) trong sản xuất lúa tại các hộ gia đình. Kết quả dự án cho thấy, 89% số lao động được hỏi cho rằng họ tin tưởng vào tác động của việc áp dụng công nghệ (do Nhà khoa học cung cấp). Tuy nhiên, người dân lo sợ không sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp (trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt) và mất thời gian. Vì vậy, việc áp dụng CNST cần phải có hỗ trợ giống, kinh phí và kỹ thuật, tính phương án đền bù nếu áp dụng mô hình không thành công. Số người dân được phỏng vấn còn lại cho rằng áp dụng công nghệ sinh thái là không khả thi và không hiệu quả, đặc biệt khi áp dụng với mô hình sản xuất trên ruộng bậc thang. Người dân không muốn áp dụng kể cả trong điều kiện có sự hỗ trợ. Tại địa bàn phỏng vấn, rất ít hộ nông dân chọn đáp án sản xuất nông nghiệp để phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch như mô hình của Banaeu, Phillipines (trồng lúa trên ruộng bậc thang để tạo cảnh quan du lịch, thiết kế tour du lịch sinh thái với các đại lý du lịch). Khi được hỏi kỳ vọng về sản xuất kinh tế của gia đình, người dân cho rằng sẽ tiếp tục tham gia hoạt động bán hàng và các dịch vụ du lịch để có

     

    ________

     

    5 Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam với diện tích 1656,0 km². Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên phù hợp với việc trồng

     

    thu nhập, nếu gặp thiên tai và không sản xuất đủ lúa sẽ mua gạo tại các chợ gần thị trấn.

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang lĩnh vực công nghiệp

    Tại Hải Dương5, với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, Hải Dương đã và đang phát triển các khu vực chuyên canh sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn cung cấp số lượng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phục vụ các khu vực lân cận và xuất khẩu. Khác với Sapa, Hải Dương có nhiều điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp, và trở thành một trong những tỉnh có sản lượng gạo cao tại Việt Nam. Tại Hải Dương, có 126,000 ha diện tích lúa trồng. Năng suất trung bình là khoảng 6 tấn /ha /vụ, diện tích trung bình khoảng 400-500m2 người.

     

    Tài nguyên đất của Hải Dương khá phong phú và đa dạng, bao gồm đất phù sa và feralit, trong đó đất phù sa chiếm 148.929 ha với 2 loại chính là: đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Thanh Hà, Kinh Môn) và phù sa không được bồi đắp hằng năm (Nam Sách, Gia Lộc, Cẩm Giàng, v.v.) thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tại Hải Dương, người dân sản xuất 2 vụ mỗi năm, Vụ Đông Xuân bắt đầu vào tháng Hai và kết thúc với việc thu hoạch tháng năm hoặc tháng 6, vụ Hè Thu kết thúc vào tháng 10. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm lúa gạo của Hải Dương bao gồm thị trường trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh). Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Một số sản phẩm dễ trồng nhưng hiệu quả kinh tế không cao, chẳng hạn như ngô, đậu tương, trên bàn tay khác, người nông dân không sẵn sàng đầu tư vào trồng một số cây có giá trị mà yêu cầu chăm sóc khó khăn hơn trong một thời gian dài. Sản xuất nông nghiệp đem lại nguồn thu thấp do chi phí đầu tư cho các khâu sản xuất là khá cao, trong khi chuyển đổi nghề nghiệp sang làm việc tại các khu công nghiệp có

     

    cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    33

    thu nhập cao, ổn định hơn. Bên cạnh đó, theo đánh giá của cán bộ quản lý nông nghiệp, diện tích canh tác lúa tăng giảm không ổn định do Hải Dương nằm trong xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất chuyên dụng và đất thổ cư. Đây là một tác nhân dẫn đến việc địa phương tăng cường ban hành các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung của địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phục vụ các dự án, các KCN.

     

    Tính đến giai đoạn 2016-2017, Hải Dương có 10 KCN đã được thành lập, đang đi vào hoạt động và thực hiện xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng diện tích theo quy hoạch chi tiết là 1.732 ha, trong đó có 07 KCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật trong các KCN; có 219 dự án đầu tư trong các KCN còn hiệu lực đến từ 29 quốc gia và vùng lãnh thổ; có trên 163 dự án đã triển khai và đang hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 63,6%; thu hút gần 8 vạn lao động làm việc trong các KCN [5]. Cho đến nay, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh (đặc biệt là các ngành sản xuất cao su, điện tử, sản phẩm quang học, sản xuất thiết bị điện, công nghệ chế biến khác…).

     

    Kết quả phỏng vấn cho thấy, độ tuổi lao động trong sản xuất lúa trung bình là 40-45 tuổi và có xu hướng già hóa do lực lượng lao động trẻ tìm công việc tại các khu Công nghiệp. Mặc dù có điều kiện thuận lợi song các hộ nông dân đều cho rằng sản xuất nông nghiệp không mang lại điều kiện thu nhập cao kể cả khi các nông sản này được thu mua với quy mô lớn. Đặc điểm canh tác từ 2-3 vụ một năm chiếm một tỷ trọng lớn thời gian lao động trong năm trong khi thu nhập không cao, khiến lao động trẻ không còn mặn mà trong sản xuất nông nghiệp. Trong canh tác nông nghiệp xuất hiện phương thức thuê khoán các quy trình, sản xuất nông nghiệp trong hộ gia đình từ sản xuất phục vụ thu mua sang thuê sản xuất để phục vụ nhu cầu sử dụng của gia đình. Thậm chí, kinh phí thuê nhân công tham gia các hoạt động canh tác (gieo mạ, phun thuốc trừ sâu, gặt v.v.) tương đương với giá trị sản phẩm nông

     

    nghiệp sau khi thu hoạch, nhiều hộ gia đình vẫn chấp nhận do có thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác. Khi được hỏi về việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, 98% các hộ gia đình cho rằng đây là biện pháp có hiệu quả để giúp cải thiện năng lực cho người dân trong sản xuất lúa (do kết quả từ chuyển giao công nghệ). Khi hỏi về điều kiện triển khai, người dân chủ yếu quan tâm đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Trong năm 2015-2016, dự án đã triển khai hoạt động áp dụng công nghệ sinh thái tại một số địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên kết quả cho thấy, người dân chỉ áp dụng được trong năm đầu tiên. Do chính sách dồn điền đổi thửa còn gặp nhiều bất cập, diện tích sản xuất lúa của các hộ gia đình vẫn chưa tập trung mà bị phân cắt tại nhiều khu vực, diện tích áp dụng CNST chỉ trong quy mô thực nghiệm tại 05 hộ gia đình tại Kim Thành, Hải Dương. Sau 1 năm triển khai, do ảnh hưởng của việc tăng cường phát triển hạ tầng cho nông thôn mới và tăng cường cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp, diện tích áp dụng giảm đi nhanh chóng. Nguyên nhân xác định chủ yếu do lực lượng lao động tại các hộ tìm được việc làm tại các KCN nên giảm quy mô canh tác. Trong khi tại Tiền Giang, địa phương áp dụng CNST theo mô hình ruộng lúa bờ hoa được người dân tiếp nhận và triển khai trên quy mô lớn.

     

    Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực của địa phương, mà còn tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân ở các địa bàn khảo sát Sapa và Hải Dương. Trước các mục tiêu phát triển kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ. Nhân lực nông nghiệp không chỉ muốn chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp mà còn không quan tâm đến những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường sinh thái xung quanh hoạt động sản xuất nông nghiệp khi sử dụng các chất hóa học trong canh tác. Điều này đã và đang đặt ra những vấn đề kinh tế – xã hội và sinh thái quan trọng của địa phương: tình trạng thiếu hụt lao động, tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, v.v. Áp dụng công nghệ sinh thái trong canh tác lúa không chỉ

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    nhằm thúc đẩy nông nghiệp bền vững, mà còn tạo ra các tác động thu hút nhân lực nông nghiệp quay trở lại làm việc và tăng thu nhập từ các sản phẩm nông sản sạch và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, gắn các giá trị của sản xuất nông nghiệp với các khu vực dịch vụ có thể tạo ra các sản phẩm du lịch dịch vụ mang bản sắc truyền thống, thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam.

     

    2.1.2. Thay đổi cảnh quan sinh thái trong canh tác lúa nước tại Sapa và Hải Dương

     

    • Sự suy giảm/mất đi các cảnh quan nông nghiệp do việc suy thoái tài nguyên đất và tình trạng ô nhiễm môi trường do việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp.

    Phân hóa học được sử dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương và Sapa, nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Bên cạnh việc sử dụng phân hóa học, nông dân tại 2 địa bàn nghiên cứu còn sử dụng các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp như Thuốc trừ sâu (insectides) và Thuốc trừ cỏ (herbicides). Mặc dù, nông dân kết hợp phân chuồng với phân bón hóa học trong trồng lúa song hầu hết trong số họ nói rằng việc sử dụng hiệu quả phân bón hóa học mang lại hiệu quả một cách nhanh chóng hơn so với phân bón từ động vật.

     

    Khi được phỏng vấn về cách thức sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ và một số loại thuốc trừ sâu, người nông dân chia sẻ:

     

    • Về nguồn gốc: chủ yếu mua tại các cửa hàng bán gần nhà hoặc ra các trạm bảo vệ thực vật mua, thấy dùng loại thuốc nào hiệu quả sẽ dùng tiếp. Loại thuốc sử dụng do người bán hàng giới thiệu hoặc do những người khác dùng hiệu quả giới thiệu dùng để diệt sâu hại.
    • Về mức độ sử dụng: khi thấy có sâu hại hoặc khi thấy sâu hại xuất hiện tại các ruộng cạnh bên.
    • Thói quen sử dụng: Về cơ bản, kiến thức về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón của người dân ở Sapa hạn chế hơn so với mặt bằng dân trí tại Hải Dương, do sự bất đồng về mặt ngôn ngữ. Song liều lượng cách thức sử

    dụng của người dân với cá loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa hợp lý, không được sử hướng dẫn cụ thể của cán bộ nông nghiệp. Nông dân cũng không biết nhiều về cách áp dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ họ thường mua chúng một cách bừa bãi mà không có hướng dẫn trong các cửa hàng nhỏ xung quanh khu vực của họ. Đó không chỉ là vấn đề nghiêm trọng của việc trồng lúa ở vùng đất thấp, mà còn hiện tượng phổ biến trong lĩnh vực ruộng bậc thang ở miền núi.

     

    • Tác động: Việc các vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi trên các khu vực quanh ruộng, đất ruộng bị thoái hóa, ô nhiễm chất đất… Sự phân hủy của túi Nilon chứa thuốc bảo vệ thực vật rất lâu, hóa chất có thể gây độc hại cho gia súc thậm chí con người.

    Như vậy, tại Sapa và Hải Dương, kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên nguy cơ về sự thoái hóa đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Việc sử dụng bừa bãi, lạm dụng phân bón không chỉ làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp, dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp, phun xịt thuốc trừ sâu có thể làm chết các sinh vật sống trong môi trường ruộng lúa. Nghiêm trọng hơn là sử dụng các chất hóa học gây ra những tác hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

     

    • Chất thải công nghiệp – hệ quả của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    Tại Hải Dương, cùng với quá trình công nghiệp hóa, các khu công nghiệp được xây dựng xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp tại Hải Dương. Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí ở xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp và khu dân cư. Chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp ngấm vào đất và làm ô nhiễm môi trường đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của con người. Tại Hải Dương, nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt tỉnh Hải Dương được xây dựng với

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    35

    công suất là 64.000 tấn rác thô/ năm thành phẩm     nguồn nước; các xe chở rác ngày đêm gây ô

     

    khoảng 12.390 tấn phân hữu cơ/năm. Các địa            nhiễm tiếng ồn xung quanh các khu vực dân cư

    điểm tập kết rác gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm    và khu vực trồng lúa.

     

     

     

    Chất thải công nghiệp tập kết ngay cạnh khu vực ruộng lúa tại Hải Dương

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2014-2015.

     

     

    Tại Sapa, sự thay đổi cảnh quan chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 98% người dân nhận thấy có sự thay đổi rõ ràng về cảnh quan xung quanh khu vực họ ở, trong đó xuất hiện các cảnh quan mới tập trung tại các khu vực dịch vụ, các khu vực khai thác khoáng sản, các khu vực dân cư do quá trình đô thị hóa. Với vị trí địa lý giáp khu vực biên giới, Sapa còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh biên giới, an ninh chính trị, an ninh xã hội và an ninh trong vùng dân tộc, tôn giáo. Hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, tuyên truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người, vượt cấp, tội phạm, vi phạm pháp luật, tai nạn, tệ nạn xã hội còn xảy ra. Công tác nắm tình hình và xử lý, giải quyết một số vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự tại cơ sở còn lúng túng. Ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận nhân dân chưa cao. Điều này cũng gây những tác động gián tiếp đến quá trình ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

     

    2.1.3. Nguy cơ khác

     

    Tại Sapa

    • Biến đổi khí hậu: Tại Sapa, biến đổi khí hậu dẫn đến điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt như sương giá, thiếu nước gây khô hạn…làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Những thay đổi khí hậu xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày tại Lào Cai: Ví dụ, băng xuất hiện ở Sa Pa, mưa lớn vào mùa đông. Vấn đề thiếu nước trong canh tác: Nước sử dụng chủ yếu ở vùng núi, từ mùa xuân. Nông dân chỉ trồng từ mùa mưa (từ tháng Tư đến tháng Chín), mùa khô (từ tháng Mười đến tháng Ba) không đủ nước cho sinh hoạt và nông nghiệp.
    • Phương thức canh tác lạc hậu: Tại Sapa, tập quán du canh du cư, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quả trình thoái hóa đất. Phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, người nông dân chủ yếu trồng theo các phương pháp trồng cũ, tự cung tự cấp là cần thiết và chỉ trồng đủ ăn. Mặt khác, nông dân nhận thức rõ ứng dụng của công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới nhưng họ cho rằng không có tiền để trả cho phí mua sắm trang thiết bị và hướng dẫn sử dụng công nghệ.
    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    • Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa: Những hạn chế trên tạo ra những rào cản cho quá trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa ở Sapa, do diện tích trồng lúa trên ruộng bậc thang của từng hộ có thể bị thay đổi do các tác động của khí hậu khắc nghiệt, hoặc do người dân không canh tác trên khu vực ruộng của gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ, cá thể, dàn trải, không tập trung. Địa hình đi lại khó khăn khiến cán bộ quản lý nông nghiệp không có nhiều điều kiện kiểm định được thực trạng sử dụng đất trồng lúa thường xuyên. Theo người dân, trung bình cán bộ nông nghiệp đến trao đổi các vấn đề sản xuất, canh tác nông nghiệp 1-2 lần/năm. Cán bộ nông nghiệp thường thông qua người chủ tịch xã hoặc trưởng thôn để tập hợp người dân đến nghe các thông tin sản xuất nông nghiệp, lịch mùa vụ. Theo phỏng vấn sâu các hộ gia đình, người dân phun thuốc khi thấy ruộng khác có sâu bệnh hoặc phát hiện trên ruộng có sâu bệnh, hoặc phun theo thói quen, kinh nghiệm (phun theo kinh nghiệm nhận biết thời điểm xuất hiện sâu bệnh). Điều này làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp và sự sự suy giảm các loại sinh vật có ích, gây ô nhiễm nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khai thác chế biến khoáng sản chưa được giải quyết triệt để. biến đổi khí hậu còn kém, hậu quả thiên tai nặng nề; việc ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học triển khai chưa đồng bộ.

    Tại Hải Dương, xung đột môi trường phát sinh từ quá trình chuyển dịch mục đích sử dụng đất Nông nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nông dân sinh sống tại khu vực xung quanh các khu công nghiệp và chịu ảnh hưởng từ chất thải công nghiệp đã nhiều lần khuyến nghị song tình trạng trên chưa thay đổi. Ô nhiễm nguồn nước và đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp từ việc phát triển làng nghề truyền thống: Thôn An Xá, xã Quốc Tuấn là làng nghề mây tre đan và làm hương. Nhờ vậy, bộ mặt của thôn được đổi thay từng ngày. Hiện 95% số đường làng đã bê-tông hóa, nhiều nhà cao tầng kiên cố mọc lên. Thôn hiện có 969 hộ, trong đó có hơn 330 hộ làm

     

    ________

     

    6http://sct.haiduong.gov.vn/News/content/viewer.html?a=2 771&z=160

     

    nghề, chiếm 41%. Tuy nhiên, An Xá cũng đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường. Đến An Xá vào những ngày này, sẽ chứng kiến những dòng nước đen ngòm, ứ đọng, đặc quánh dưới rãnh tiêu nước hai bên đường và tại những ao nhỏ

     

    trong làng bốc lên mùi hôi thối.6

     

    2.2. Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong phát triển nông nghiệp

     

    Phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của ngành nông nghiệp – một ngành sử dụng đa dạng nguồn lực (tự nhiên, xã hội). Nông nghiệp Việt Nam là một thế mạnh của Việt Nam, không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà đã hướng tới xuất khẩu các mặt hàng nông sản có chất lượng, trong đó có mặt hàng lúa gạo. Dự án LEGATO với cách tiếp cận liên ngành đã nhận diện những vấn đề chuyển đổi kinh tế sinh thái xã hội của Sapa và Hải Dương, hai địa bàn có hoạt động canh tác lúa nước với các xu hướng phát triển khác nhau. Tại Sapa, áp dụng công nghệ sinh thái giúp phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch, gắn văn hóa truyền thống về canh tác lúa với phát triển hoạt động du lịch sinh thái. Tại Hải Dương, áp dụng công nghệ sinh thái trong quản lý và sử dụng đất trồng lúa, không chỉ góp phần thực hiện chiến lược phát triển vùng sản xuất lúa tập trung với hiệu quả cao, mà còn góp phần duy trì cảnh quan sinh thái nông nghiệp, kết hợp với dịch vụ văn hóa tâm linh của người Việt, tạo nét riêng thu hút khách tham quan đến với Hải Dương.

     

    Từ những kết quả nghiên cứu của dự án cũng chỉ ra rằng: hoạt động canh tác và sản xuất lúa gạo đang đối mặt với rất nhiều thách thức, không chỉ là các thách thức nội tại mà còn là những thách thức do tác động khách quan của tăng trưởng và phát triển kinh tế mang lại. Đồng thời quá trình phỏng vấn với các đối tượng làm chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách đã chỉ ra một thực tế rằng: sau một quá trình thực thi chính sách, chỉ khi tác động âm tính của chính sách phát triển kinh tế được bộc lộ một cách sâu sắc và gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thì quá trình khắc phục và điều chỉnh chính sách mới

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    37

    diễn ra, thậm chí là rất chậm do thiếu nguồn lực. Chỉ khi mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, xung đột xã hội xảy ra, các nhà hoạch định, các nhà quản lý mới đưa ra các chính sách giải quyết hậu quả bằng một chính sách mới, song cũng không thể khẳng định đó là chính sách tối ưu.

     

    Chính vì vậy, vai trò của hoạch định chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội có thể coi là một giải pháp phù hợp với bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam. Trong đó, cần có sự thống nhất về triết lý này trong hệ thống các văn bản liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt ban hành xuyên suốt từ Trung ương bằng các nghị quyết của Đảng, đến các chiến lược, chương trình, dự án, các kế hoạch hành động của Chính phủ và của các địa phương. Trong định hướng phát triển chung đó, Chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện các báo cáo Đánh giá quốc gia đa chiều [6] có thể được coi là một nỗ lực gần đây nhất, kết hợp với nhiều nỗ lực và chiến lược hiện nay nhằm thúc đẩy hình thành định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, báo cáo của OECD sẽ phân chia thành 03 giai đoạn: Xác định các vấn đề ràng buộc trong phát triển, phân tích chuyên sâu về các vấn đề và khuyến nghị chính sách phát triển và cuối cùng là hỗ trợ chính phủ các nước biến các khuyến nghị chính sách thành chiến lược cụ thể. [7]. Báo cáo sẽ cung cấp những phân tích sâu sắc và đa chiều về các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và sinh thái, góp phần cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách phát triển tại Việt Nam.

     

    Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một triết lý quan trọng cần được áp dụng trong quy trình chính sách. Đây cũng là một nhu cầu tất yếu trong phát triển bền vững nông nghiệp trong thời gian tới, với một số hàm ý chính sách cụ thể như sau:

     

    • Xem xét tác động của chính sách phát triển kinh tế với sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nhận diện các tác động âm tính/tiêu cực và ngoại biên âm tính);
    • Sử dụng các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội trong quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp;
    • Phát triển hệ thống dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội qua các năm, giai đoạn
    • Áp dụng các công cụ đánh giá tác động đa chiều (kinh tế – sinh thái – xã hội) và top down (với các cơ quan ban hành thực thi và đánh giá chính sách ) với bottom up (từ dưới lên qua các đánh giá của đối tượng thụ hưởng) với các dự án, chính sách phát triển tại các địa phương;
    • Xây dựng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội để xác định hướng ưu tiên trong chính sách đầu tư (của các cơ quan quản lý, của các địa phương).
    • Áp dụng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong các chính sách phát triển vùng, liên vùng
    1. Kết luận

    Từ phát triển bền vững đến triết lý về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội là một trong những vấn đề chính sách quan trọng hiện nay không chỉ với Việt Nam mà với các quốc gia đang phát triển hiện nay. Mục tiêu phát triển kinh tế và các chính sách ưu tiên đầu tư, phát triển kinh tế không đi kèm với đánh giá các tương tác với sinh thái, xã hội đang là một khoảng trống trong nghiên cứu và ban hành chính sách. Dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội sẽ là nền tảng để xem xét ưu tiên phát triển địa phương, phát triển vùng và các ngành. Trong đó, canh tác và sản xuất lúa trong nông nghiệp là một ví dụ điển hình về sự cần thiết áp dụng triết lý chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội tại Việt Nam hiện nay. Kết quả của dự án LEGATO đã giúp nhóm nghiên cứu xác định những hàm ý chính sách về áp dụng triết lý này trong phát triển canh tác lúa nói riêng và phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung. Những hàm ý chính sách này là những gợi suy để giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện hơn quy trình ban hành,

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    thực thi và đánh giá chính sách phát triển bền vững trong nông nghiệp hiện nay.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    [1]  Phillip Degenhardt, From Sustainable Development to Socio-Ecological Transformation, Tài liệu cung cấp bởi Quỹ Rosa Luxemburg, CHLB Đức, 2016.

     

    [2]  Joachim       H.        Spangenberg,       Sustainable

     

    development and social, ecological, and economic transformation in Vietnam: Insights for policy, Kỷ yếu tọa đàm quốc tế: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và CHLB Đức về nghiên cứu và hoạch định chính sách trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội”, Phú Yên, Tháng 5/2019.

     

    dmid=2&ItemID=18787 (Truy cập ngày 17 tháng 03 năm 2019).

     

    • Viện Chính sách và Quản lý, Báo cáo nghiên cứu của dự án LEGATO, Hà Nội, 2011.
    • Nhân dân điện tử, Khởi động xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam, Nhân dân

    điện tử, 2019. http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/3932330 2-khoi-dong-xay-dung-bao-cao-danh-gia-quoc-gia-da-chieu-cua-viet-nam.html (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019)

     

    • OECD, OECD  Development  Pathways,  Multi-

    dimensional Country Reviews, 2018 https://www.oecd.org/development/mdcr/ (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Y%C3%AAu-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Original Article

     

    Globalization and the Need of Improving Law on Foreign Worker Management in Vietnam

     

    Pham Thi Huong Giang*

     

    Institute of State and Law, 27 Tran Xuan Soan, Hai Ba Trung, Hanoi, Vietnam

     

    Received 29 January 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: Immigration for employment is becoming a basic element of the globalization era. In this context, each country has a legal framework to regulate foreign workers. The article assesses the reality of the Vietnamese law on foreign worker management, thereby proposing five requirements for improving the law, including: (1) the law should reflect the demand of the domestic labour market; (2) the law should be compatible with the contents and principles of the law on worker management in Vietnam; (3) the law should ensure the rigor in the State management of foreign workers; (4) the law should be comprehensive and consistent with the national law system; and (5) the law should be compatible with the international labour laws.

     

    Keywords: Foreign workers, law on foreign worker management, requirements, globalization.

     

    *

     

     

    ________

    *Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

    90

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    Phạm Thị Hương Giang*

     

    Viện Nhà nước và Pháp luật, 27 Trần Xuân Soạn, phường Ngô Thì Nhậm,

     

    quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 01 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Ngày nay, di trú vì việc làm trở thành yếu tố cơ bản của kỷ nguyên toàn cầu hóa. Trước thực trạng đó, mỗi quốc gia đều có khung pháp luật điều chỉnh lao động nước ngoài. Bài viết đánh giá thực trang pháp luật Việt Nam về quản lý lao động nước ngoài. Qua đó, tác giả đưa ra 5 yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam bao gồm: (1) pháp luật phản ánh nhu cầu thị trường lao động trong nước; (2) phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam; (3) đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài; (4) phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia; và (5) phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động.

     

    Từ khóa: Lao động nước ngoài, pháp luật quản lý lao động nước ngoài, yêu cầu, toàn cầu hóa.

     

    Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa *

     

    Hiện nay các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, bên cạnh việc phát triển thị trường dịch vụ hàng hoá thì thị trường lao động cũng là một yếu tố đang được chú trọng. Theo Tổ chức Lao động quốc tế – ILO thì “Thị

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

     

    91

     

    trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” [12]. Qua nhận định của ILO đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thị trường lao động và vấn đề mở cửa thị trường lao động là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá dẫn tới hiện tượng lao động di trú ngày càng sôi nổi.

     

    Dưới góc độ pháp lý, Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 có ghi nhận các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để đảm bảo quyền được có cơ hội kiếm sống bằng công

     

    92                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    việc do công dân tự do lựa chọn (Điều 6). Như vậy, tạo ra và phát triển thị trường lao động là trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của nước mình. Người nước ngoài di trú đến một nước mà họ không phải là công dân nhằm mục đích lao động thuộc vào đối tượng đặc thù và cần phải tuân theo những điều kiện nhất định về trình tự, thủ tục…để được làm việc hợp pháp tại quốc gia đó. Như vậy, mỗi quốc gia cần phải có một khung pháp lý riêng biệt để điều chỉnh đối tượng này.

     

    • nước ta, các quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đề cập trong Bộ luật Lao động 2012 và các quy định hướng dẫn thi hành bởi Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9/2013) và Thông tư số 40/2016/TT -BLĐTBXH ngày 25/10/2016 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Thông tư số 03/2014/TT-

    BLĐTBXH ngày 20/01/2014). Có thể nhận thấy các quy định pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam bên cạnh những bước tiến đáng kể vẫn tồn đọng những bất cập sau:

     

    Thứ nhất, một số quy định của pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam chưa thể hiện được nhu cầu thị trường lao động trong nước. Pháp luật Việt Nam thiếu những quy định về công nhận bằng cấp, chứng nhận trình độ, kinh nghiệm làm việc để tuyển dụng lao động nước ngoài. Hơn nữa, nhu cầu của thị trường lao động Việt Nam là chiêu mộ lao động nước ngoài có trình độ cao tại những vị trí việc làm mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được. Như vậy, người sử dụng lao động nước ngoài có trình độ cao thường là những doanh nghiệp lớn, trong những ngành nghề đặc thù đòi hỏi sự chuyển giao chất xám. Tuy nhiên, hiện nay điều kiện giao kết hợp đồng lao động của người sử

     

    dụng lao động với lao động nước ngoài quá rộng, bao gồm cả những chủ thể phải đăng ký kinh doanh và những chủ thể không phải đăng ký kinh doanh, có thu nhập thấp (cá nhân hoạt động thương mại, hộ kinh doanh sử dụng lao động dưới 10 người), không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động.

     

    Thứ hai, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa phù hợp với nội dung của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định cụ thể về việc tạm hoãn, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động (Mục 2, 3 chương

     

    • tuy nhiên lại không có quy định riêng điều chỉnh các vấn đề này đối với lao động nước ngoài. Ngoài ra, về hình thức làm việc của lao

    động nước ngoài quy định còn có sự trùng lặp, chưa có sự phân loại theo các tiêu chí thống nhất và logic, đồng thời cũng chưa cập nhật các quy định về tiếp nhận lao động trong các Hiệp

     

    định hợp tác lao động như hình thức làm việc kết hợp với kỳ nghỉ được quy định trong Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Australia về chương trình lao động kết hợp kỳ nghỉ. Về trình tự tuyển dụng lao động nước ngoài, quy định sau khi lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì hai bên mới được ký hợp đồng lao động và phải gửi bản sao của hợp

     

    đồng lao động tới Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép đó nhưng không có quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra, xác nhận sự phù hợp của giấy phép lao động với hợp đồng lao động đã ký dẫn đến trường hợp hợp đồng lao động không phù hợp với giấy phép lao động.

     

    Thứ ba, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa đảm bảo được tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài. Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn trực tiếp và cụ thể về trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động đối với việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, dẫn đến sự áp dụng không thống nhất tại cơ quan giải quyết tranh chấp.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    93

    Thứ tư, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật trong nước. Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đi kèm không quy định cụ thể khái niệm “Người lao động nước ngoài”, mà theo đó khái niệm người lao động nước ngoài được xác định trên căn cứ của một đạo luật khác theo khái niệm “người nước ngoài” tại Luật Quốc tịch (Khoản 2 Điều 1). Trong khi đó, Bộ luật lao động quy định điều kiện để công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không đồng nhất với khái niệm người lao động nước ngoài được xây dựng trên khái niệm người nước ngoài và người lao động. Như vậy, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam với mọi hình thức trong đó có hợp đồng lao động. Ngoài ra, Bộ luật lao động 2012 chưa có quy định về khái niệm “người sử dụng người lao động nước ngoài” nhưng Nghị định 11/2016 lại sử dụng khái niệm trên.

     

    Thứ năm, một số quy định của pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động. Quy định của pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng được nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và nguyên tắc “đối xử quốc gia”. Việt Nam là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế, vì vậy pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được một phần của hai nguyên tắc này đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn đã hạn chế một phần quyền kinh tế của lao động nước ngoài, đồng thời cũng thể hiện sự không bình đẳng giữa lao động nước ngoài và lao động Việt Nam.

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

     

    2.1. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp và phản ánh được nhu cầu thị trường lao động trong nước

     

    Đối với từng quốc gia, nhu cầu phát sinh của thị trường lao động là khác nhau. Thị trường lao động tại những nước phát triển có xu hướng tuyển dụng lao động phổ thông để làm những công việc mà số lượng lao động trong nước không đủ đáp ứng hoặc những công việc mà lao động trong nước không muốn làm. Ngược lại, những quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển lại có nhu cầu chiêu mộ lao động trình độ cao như các chuyên gia, kĩ sư…trong từng lĩnh vực cụ thể vì mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Tùy thuộc vào nhu cầu điều tiết của thị trường lao động mà mỗi quốc gia xây dựng khung chính sách pháp luật thích ứng nhằm thu hút lực lượng lao động nước ngoài.

     

    • Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường lao động thời gian qua tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện, số người làm công ăn lương, có quan hệ lao động tăng dần… Theo thống kê, năm 2017, cả nước đã tạo việc làm cho gần 1,6 triệu người. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu vực, trong đó tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị chỉ khoảng hơn 3%. Chất lượng việc làm, thu nhập của người lao động đều đặn được tăng lên, mức độ phân biệt giữa việc trả công cho lao động nam và nữ cũng được thu hẹp. Số lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng tiếp tục tăng [13].

    Hiện nay, Việt Nam là nước đang phát triển, trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để hội nhập quốc tế nên rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao từ những quốc gia khác để bồi dưỡng năng lực, củng cố phát triển kinh tế. Bởi thế pháp luật Việt Nam quy định “chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lào động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh” [1]. Thị trường lao động Việt Nam đang thiếu hụt lao động nước ngoài có kĩ năng, trình độ chuyên môn cao, nên pháp luật quốc gia không chấp thuận lao động nước ngoài phổ thông, chỉ cho phép

     

    94                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    lao động nước ngoài chất lượng cao vào làm các công việc mà lao động Việt Nam không đáp ứng được. Tuy nhiên quy định cụ thể về việc xác định tiêu chí tuyển dụng lao động nước ngoài với trình độ, bằng cấp và kinh nghiệm làm việc lại đang bị bỏ ngỏ. Hơn nữa, chủ thể giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiện nay theo quy định pháp luật là quá rộng, không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động trong nước.

     

    Trong những năm 1960-1970, Hàn Quốc là một trong những quốc gia xuất khẩu lao động, với thị trường tiếp nhận lao động chủ yếu là Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản và các Trung Đông [14]. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của kinh tế Hàn Quốc và mức lương tăng đã dẫn đến thiếu hụt lao động trong lĩnh vực sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Người lao động bản địa ngày càng ít tham gia vào nhóm các ngành nghề kỹ năng thấp và thu nhập thấp, còn gọi là “công việc 3-D” (dirty, difficult and dangerous). Trong khi đó, pháp luật về nhập cư và di cư vào thời điểm này không cho phép lao động nước ngoài kỹ năng thấp được làm việc ở Hàn Quốc. Sức ép về tăng trưởng kinh tế nhanh và thiếu hụt lao động trong những năm 1980 đã buộc Hàn Quốc thay đổi chính sách lao động nhằm thu hút lao động giá rẻ từ các quốc gia khác. Chính phủ ban hành Chương trình Đào tạo Kỹ thuật và Công nghiệp (Industrial and Technical Training Program) vào tháng 11/1991, cho phép thuê mướn trên thực tế lao động nước ngoài tay nghề thấp. Chương trình này được thay thế bởi Hệ thống Thực tập sinh (Industrial Trainee System) vào năm 2001 nhằm giải quyết thiếu hụt lao động ở các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, Hàn Quốc đưa ra một loạt các chính sách mở cửa nhằm thu hút lao động nước ngoài, đặc biệt là số lượng lớn lao động phổ thông thông qua Chương trình dành cho lao động phổ thông đi theo chương trình cấp phép việc làm tại Hàn Quốc theo Luật làm việc của Hàn Quốc (EPS). Khảo sát của OECD năm 2018 cho thấy lao động với mức lương thấp (low-wage workers) chiếm tỷ lệ cao ở Hàn Quốc so với các quốc gia khác trong khối OECD [11].

     

    Trước kinh nghiệm của Hàn Quốc và thực trạng của Việt Nam về đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước thì pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần phải: Một là, xây dựng những chế định mở để thu hút lao động chất lượng cao vào làm việc tại Việt Nam như chính sách bảo hiểm, chế độ đãi ngộ đối với lao động nước ngoài và thành viên gia đình họ. Hai là, mở cửa thị trường lao động thông qua việc tổ chức những diễn đàn trong và ngoài nước cho các lao động nước ngoài chất lượng cao có khả năng tiếp cận được nguồn thông tin về vị trí việc làm và có cơ hội được tham gia ứng tuyển tại Việt Nam. Ba là, với những thách thức đặt ra từ cuộc cách mạng công nghệ 4.0 thì thị trường lao động ở Việt Nam cần phải có sự thay đổi từ thâm dụng lao động sang thâm dụng về trí tuệ và công nghệ. Do đó, trong thời gian tới việc mở cửa thị trường lao động trong nước cần chú trọng hơn đến chất lượng lao động nước ngoài và lĩnh vực thu hút lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.

     

    2.2. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam

     

    Nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động nói chung và pháp luật về quản lý lao động nước ngoài nói riêng phải bảo vệ được người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động, tức là ngăn chặn và xử lý được các hành vi xâm hại có nguy cơ hoặc xảy ra đối với người lao động. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật lao động, pháp luật về quản lý lao động. Bởi lẽ, trong mối quan hệ với người sử dụng lao động thì người lao động luôn là đối tượng ở vị thế yếu hơn, phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Cụ thể, đối với lao động nước ngoài, đây là đối tượng trải qua quá trình tuyển dụng, đáp ứng các yêu cầu pháp định để tham gia vào thị trường lao động tại nước sở tại, điều đó có nghĩa lao động nước ngoài là chủ thể trong quan hệ lao động có đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    95

    Làm việc trong môi trường lao động tại nước sở tại, lao động trong nước và lao động nước ngoài đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động và không có sự tách biệt. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải được xây dựng trên cơ sở những nội dung và nguyên tắc chung của pháp luật về quản lý lao động. Là đối tượng đặc thù nên mỗi quốc gia đều có những chế định riêng về quản lý người lao động nước ngoài, tuy nhiên vẫn phải phù hợp với nguyên tắc và nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý lao động.

     

    Pháp luật của các quốc gia châu Á quy định những chế định về quản lý lao động nước ngoài rất khác nhau, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia xây dựng đạo luật độc lập về tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Trong khi đó, một số quốc gia khác như Philippines hay Việt Nam thì quy định những nội dung này là một phần trong bộ luật lao động. Dù ở hình thức nào thì lao động nước ngoài vẫn được coi là một thực thể tham gia vào quan hệ lao động và được hưởng quyền và nghĩa vụ như lao động trong nước, trừ khi pháp luật quy định những chế định pháp lý đặc biệt khác. Những quốc gia có đạo luật riêng dành cho lao động nước ngoài thì quản lý đối tượng lao động này được thiết chặt hơn bởi những quy định trong suốt quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Chẳng hạn, Hàn Quốc và Singapore có những chính sách đãi ngộ ưu tiên cho lao động chất lượng vào và thành viên gia đình họ; Đài Loan phân định các chế độ dành cho lao động nước ngoài chất lượng cao và lao động nước ngoài phổ thông… Đa phần các quốc gia đều có quy định hạn ngạch tuyển dụng đối với lao động nước ngoài và ở một số các ngành nghề, như Thủ tướng Ý hàng năm ban hành nghị định xác định số lượng lao động nước ngoài được tuyển dụng dựa trên những tiêu chí như: loại hình công việc, lãnh thổ, tính chất công việc và quốc tich; Indonesia hạn chế tuyển dụng lao động nước ngoài ở lĩnh vực nhân sự. Bên cạnh đó, một số quốc gia như Việt Nam, Singapore sử dụng tỷ lệ phần trăm lao động nước ngoài dựa trên tổng lao động địa phương nhằm đảm bảo việc làm cho lao động trong nước.

     

    Người sử dụng lao động cũng được pháp luật quy định chặt chẽ trong việc sử dụng, quản lý người lao động nước ngoài. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định từ khâu tuyển dụng, người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài đối với từng vị trí việc làm mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và kê khai số lượng, trình độ người lao động nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình sử dụng lao động nước ngoài, người sử dụng lao động phải báo cáo định kỳ cho cơ quan cấp trên. Người sử dụng lao động Singapore có trách nhiệm đảm bảo quyền được tham gia bảo hiểm, được kiểm tra sức khoẻ của lao động nước ngoài, hay người sử dụng lao động phải chịu các chi phí hồi hương cho lao động nước ngoài tại Philippines. Bên cạnh đó, một số các quy định đặc biệt về tuyển dụng, quản lý lao động nước ngoài phụ thuộc vào các hiệp định song phương, đa phương về lao động của nước tiếp nhận lao động và nước ký gửi lao động.

     

    Như vậy, pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải đảm bảo những nguyên tắc và nội dung phù hợp với chế định chung của pháp luật quản lý lao động, đảm bảo lợi ích cơ bản của các chủ thể trong quan hệ lao động. Lao động nước ngoài được hưởng những quyền và nghĩa vụ tương tự như lao động trong nước.

     

    2.3. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là người lao động nước ngoài

     

    Lao động nước ngoài là đối tượng đặc biệt và cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng trong công tác quản lý diễn ra suốt quá trình di trú bắt đầu từ khâu nhập cảnh, cư trú, làm việc đến khi xuất cảnh. Đối với vấn đề lao động, Nhà nước là chủ thể quản lý lao động thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, bao gồm cả lao động trong nước và lao động nước ngoài mặc dù là đối tượng có những quy định riêng. Các cơ quan nhà nước cần phân công nhiệm vụ, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, với các quy định

     

    96                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    pháp luật hiện nay thì các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động về lao động nước ngoài đang gặp những khó khăn trong việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ hay không đối với trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động bởi chưa có hướng dẫn cụ thể.

     

    Cộng hòa Liên bang Nga thành lập Cục di trú Liên bang (the Federal Migration Service – FMS) thuộc Bộ Nội vụ có chức năng phụ trách chính sách nhập cư và bảo đảm thực hiện các chính sách nhà nước trong lĩnh vực di cư và tiến hành việc thực thi pháp luật, giám sát và cung cấp các dịch vụ công về di cư. Bên cạnh đó, Sở di trú liên bang (FMS) dự định sẽ đưa loại hộ chiếu sử dụng dấu vân tay vào thí điểm. Nga kiểm tra, giám sát lao động nước ngoài thông qua hệ thống cấp phép lao động, số lượng hạn ngạch cấp giấy phép lao động cho công dân nước ngoài, được phân chia ngành nghề. Hệ thống tòa án độc lập, công minh và tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nga sử dụng bản đồ mật độ cư trú để theo dõi số lượng người nước ngoài đang có mặt ở Nga, có bao nhiêu người trong số đó thuộc diện du lịch thăm thân, đi học, đi chữa bệnh, có bao nhiêu người đến làm việc, bao nhiêu người có quyền lao động và thẻ xanh đang còn hiệu lực… Bản đồ chỉ rõ tình trạng di trú theo khu vực, theo dân tộc của người nước ngoài đến Nga [10].

     

    Tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cơ quan quản lý lao động các cấp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, UBND các cấp… đều có trách nhiệm trong việc phối hợp để quản lý lao động nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng có những quy định chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc quản lý lao động nước ngoài và hỗ trợ các cơ quan chức năng thực hiện công tác này. Nghị định 11/2016/NĐ-CP

     

    • quy định: “Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục trục xuất đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động; Hướng dẫn việc cấp thị thực cho lao động nước ngoài liên quan đến việc cấp, cấp lại giấy phép lao động; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động;

    cung cấp thông tin về lao động nước ngoài được cấp thị thực vào làm việc cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tới Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn về lệ phí cấp, cấp lại giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn căn cứ, thủ tục để xác định lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới”. Nhiệm vụ của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được quy định tại Nghị định 140/2018/NĐ-CP [9]: “Thực hiện chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động; cấp, cấp lại giấy phép lao động và đề nghị cơ quan công an trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động theo quy định của Nghị định này và người sử dụng lao động có trụ sở chính tại một tỉnh, thành phố nhưng có văn phòng đại diện và chi nhánh tại các tỉnh, thành phố khác”

     

    Như vậy, trước thực trạng trên, yêu cầu đặt ra đối pháp luật về quản lý lao động nước ngoài là: Thứ nhất, quy định chức năng cụ thể của từng cơ quan quản lý nhà nước và người sử dụng lao động nước ngoài, thể hiện sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng lao động này. Thứ hai, nâng cao vai trò của thanh tra lao động trong công tác thanh, kiểm tra việc quản lý lao động nước ngoài đối với người sử dụng lao động như việc gia hạn giấy phép lao động, nội dung giấy phép lao động phù hợp với hợp đồng lao động…

     

    2.4. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia

     

    Trong quá trình lập pháp, mỗi quốc gia đều dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội cũng như chính trị của quốc gia mình để ban hành những quy định pháp luật phù hợp với môi trường

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    97

    pháp lý chung và đạt hiệu quả thực thi cao nhất. Việc tuyển dụng lao động nước ngoài không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động mà còn hàm ý quan hệ ngoại giao, thương mại giữa các quốc gia. Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động. Tuy nhiên, luật lao động có mối quan hệ tương quan với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, mối quan hệ lao động này mang yếu tố nước ngoài nên gắn chặt với tư pháp quốc tế. Bởi thế, lao động nước ngoài làm việc trong từng ngành nghề cụ thể còn chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành. Cụ thể, lao động nước ngoài được tuyển dụng làm việc tại Việt Nam bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn chung về độ tuổi, sức khỏe… như quy định trong pháp luật lao động mà công tác trong ngành giáo dục đòi hỏi có những giấy chứng nhận chuyên môn, bằng cấp, chứng chỉ mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; lao động nước ngoài phục vụ cho lĩnh vực thể thao phải tuân thủ các quy định của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch…

     

    Yêu cầu đặt ra là xây dựng những quy định pháp luật cụ thể để quản lý đối tượng lao động này để đẩy mạnh mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhưng vẫn đảm bảo chính sách việc làm cho lao động trong nước. Trước tiên, pháp luật quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với tinh thần Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Theo GS. TSKH. Đào Trí Úc nhận định: “Xét về bản chất, Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của Nhà nước, vừa là bản khế ước mang trong mình ý chí chung của xã hội” [6]. Bên cạnh đó, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về quản lý lao động nước ngoài với các ngành luật khác là yêu cầu cơ bản trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam cần phải có sự quan tâm, nỗ lực của từng cơ quan, trong đó quan trọng nhất là cơ quan quản lý nhà nước về lao

     

    động từ trung ương đến địa phương; cần có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan đó, giữa các ngành trong quá trình xây dựng, soạn thảo, thẩm định ban hành cho đến cơ quan kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật về lao động nước ngoài nói riêng và pháp luật lao động nói chung.

     

    2.5. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động

     

    Có thể nói, Điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật về lao động là hai trong số những loại nguồn quan trọng của pháp luật lao động Việt Nam hiện nay. Trong đó, Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm 1990 và Công ước số 97 về quyền của người lao động di trú, năm 1949 được xem là hiến chương quốc tế về lao động di trú. Ngoài ra, pháp luật quốc tế về lao động bao gồm: Các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế – ILO về quyền con người: Công ước 143 về lao động di cư; Công ước số 87 về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội, 1948; Công ước số 98 về quyền được tổ chức và thương lượng tập thể, 1949; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức; Công ước số 100 về việc trả lương bình đẳng, 1951; Công ước số 105 về cấm cưỡng bức lao động, 1957; Công ước số 111 chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958; Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiếu, 1973; Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức sử dụng lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999. Công ước và khuyến nghị liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú: Công ước số 26 về cơ chế xác định lương tối thiểu, 1928; Công ước số 81 về thanh tra lao động, 1947; Công ước số 88 về dịch vụ việc làm, 1948; Công ước số 103 về bảo vệ quyền thai sản (sửa đổi), 1952; Khuyến nghị số 115 về nhà

     

    • cho người lao động, 1961; Công ước số 122 về chính sách việc làm, 1964; Khuyến nghị số 155 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, 1981; Công ước số 158 về chấm dứt việc làm, 1982; Công ước số 169 về các dân tộc và bộ lạc bản

    98                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    địa, 1989; Công ước số 181 về tổ chức giới thiệu việc làm tư nhân, 1997.

     

    Các công ước và khuyến nghị trên liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú, bao quát toàn diện nhất về vấn đề lao động di trú bao gồm những nội dung cơ bản về an sinh xã hội, tuổi lao động, giờ làm việc, quyền tham gia công đoàn, mức lương tối thiểu, nơi ở, thuế, chống phân biệt đối xử…Các quốc gia thành viên là nước tiếp nhận lao động nước ngoài có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định của công ước, phải đảm bảo thực hiện các cam kết đối với lao động di trú.

     

    Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng mà tất cả các quốc gia quan tâm. Mối quan hệ này thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia [7]. Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của lao động nước ngoài trong Bộ luật lao động và Nghị định và Thông tư hướng dẫn kèm theo. Theo đó, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, hiện nay quy định chưa cho phép lao động nước ngoài tham gia công đoàn sẽ hạn chế việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Tự do công đoàn là một trong những quyền quan trọng thuộc nhóm quyền đối xử bình đẳng giữa người lao động di trú và người lao động bản địa [5]. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định thành phần tham gia phiên hòa giải có đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động [2]. Vậy đại diện cho người lao động Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là tổ chức Công đoàn. Nhưng lao động nước ngoài không được gia nhập công đoàn Việt Nam thì tổ chức nào sẽ đại diện cho họ trong việc giải quyết tranh chấp lao động?

     

    Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán 16 hiệp định thương mại tự do FTA [4], trong đó có hai hiệp định có

     

    chứa các điều khoản về lao động là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam gia nhập năm 2018 và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam

     

    – EU (EVFTA) đang trong quá trình đàm phán. Đối với Hiệp định CPTPP, Việt Nam phải tuân theo nguyên tắc “thông qua và duy trì”, tức là Việt Nam phải nội luật hóa các điều khoản của Hiệp định vào pháp luật quốc gia, sửa đổi pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng để phù hợp với các cam kết đã ký trong Hiệp định. Bên cạnh đó, Việt Nam đã gia nhập 21 công ước của ILO, trong đó phê chuẩn 5/8 công ước cơ bản. Ở phạm vi khu vực, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập năm 2005 cho phép các lao động có tay nghề cao, dịch vụ, đầu tư và hàng hóa của 10 quốc gia thành viên được di chuyển tự do trong khu vực. Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) của các thành viên ASEAN cho phép 8 ngành nghề mà lao động có kĩ năng, kinh nghiệm phù hợp được hành nghề ở nước ngoài [13]. Nhìn chung, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực ASEAN đều là thành viên của ILO, bởi thế khi xây dựng pháp luật quốc gia cũng như pháp luật của cộng đồng khu vực đều tuân theo những tiêu chuẩn lao động quốc tế.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 1 Điều 170.
    • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 209.
    • Các Hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết quá trình và lợi thế, nguồn:

    https://www.geskualalumpur2013.org/ngoai-giao/cac-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-da-ky-ket-qua-trinh-va-loi-the/, truy cập ngày 10/11/2018.

     

    • Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, Quyền của người nước ngoài, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, (2018) 115.
    • Đặng Minh Tuấn, Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: Nhìn từ góc độ hiến

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    99

    pháp trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam,

    nguồn:

    https://hienphap.wordpress.com/2013/07/23/moi-

     

    quan-he-giua-phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-

    quoc-gia-nhin-tu-goc-do-hien-phap-tren-the-gioi-

    va-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam-dang-minh-tuan/,

    truy cập ngày 9/4/2019.

     

    • Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy

    định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Điều 20.

     

    • Nghị định 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 về sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Khoản 8 Điều 11.
    • Nguyễn Thị Lan Hương, Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đề tài cấp Nhà nước, mã số

    KX.02.01/11-15, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, (2014) 13.

     

    A

     

    a

     

    aq

     

    • OECD, OECD Economic Surveys: Korea, (2018) 38.
    • Phạm Quý Thọ, Thị trường lao động Việt Nam – Thực trạng và các giải pháp phát triển, NXB. Lao động – xã hội, Hà Nội, (2003) 10.
    • Thị trường lao động Việt Nam đối mặt nhiều thách thức trong tiến trình hội nhập, nguồn: http://dangcongsan.vn/xa-hoi/thi-truong-lao-dong-viet-nam-doi-mat-nhieu-thach-thuc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-468083.html, truy cập ngày 27/12/2017.
    • Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ LĐTB&XH, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật ASEAN về lao động và các vấn đề xã hội – tính tương thích của pháp luật Việt Nam” ngày 1/12 tại Hà Nội, (2016), 25-40.
    • Wang-Bae Kim, Migration of Foreign Workers into South Korea: From Periphery to Semi-Periphery in the Global Labor Market, Asian Survey, 44 (2) (2004) 317.

    aa

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%C3%ADnh-quy%E1%BB%81n-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%E1%BB%ABa-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%E1%BB%ABa-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    Review Article

    Vietnamese Local Government: Centralized and Decentralized/ Autonomous and Nonautonomous

    Nguyen Dang Dung*

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    Received 29 April 2019

    Revised 28 May 2019; Accepted 20 June 2019

    Abstract: Although the autonomy of the local government has not been recognized in Vietnam to date, there is not much difference between the autonomous local government in the West and the nonautonomous local government in Vietnam – they are all to solve local issues relating to the lives of local people. However, the deciding of important issues, especially those on human resources, by the local government in Vietnam, unlike in the West, must be approved by the higher authorities.

    Keywords: Local government, autonomous local government, nonautonomous local government.*

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address:[email protected]

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

    1

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và

     

    vừa không phân quyền/ vừa tự quản và vừa không tự quản

     

    (Tiếp theo bài Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 3/ 2016)

     

    Nguyễn Đăng Dung*

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 04 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nhìn chung ở Việt Nam cho đến hiện nay vẫn chưa thừa nhận tính tự quản của chính quyền địa phương. Nhưng giữa chính quyền địa phương tự quản của phương Tây và chính quyền địa phương không tự quản ở Việt Nam không có gì gọi là khác nhau quá lớn. Vì giữa chúng các chính quyền địa phương đều phải giải quyết tất cả các vấn đề có tính chất địa phương có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương. Nhưng đi vào cụ thể giữa chúng có sự khác nhau không nhỏ. Các quyết định quan trọng của địa phương nhất là vấn đề nhân lực của chính quyền địa phương Việt Nam phải có sự đồng ý phê chuẩn của chính quyền cấp trên.

     

    Từ khóa: Chính quyền địa phương; chính quyền địa phương tự quản, chính quyền địa phương không tự quản.

     

    *Hiện nay trong lí luận cũng như trong các quy định của pháp luật các quốc gia, nhất là của các nước phát triển đều thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Nên trong tất cả giới lí luận cũng như pháp luật của Việt Nam cho đến hiện nay chưa có một nhận thức thống nhất thế nào là chính quyền địa phương tự quản và nhất là vấn đề chính quyền địa phương của

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email:[email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

     

    Việt Nam hiện thuộc loại nào tự quản hay không tự quản. Phạm vi bài viết này muốn giải quyết vấn đề chính quyền địa phương của Việt Nam thuộc loại nào, thuộc loại tự quản hay không tự quản.

     

    1.   Về sự cần thiết và mô hình của chính quyền tự quản

     

    Thuật ngữ “địa phương tự quản” được dùng từ xa xưa, ngay từ thời La Mã cổ đại tương đương với thuật ngữ “địa phương tự trị”. Ở Italia, khi Rome từ một công xã nhỏ, vào năm 45 trước Công nguyên Hoàng đế Julius Caesar

     

    2

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    3

    (100 – 44 tr.CN) đã ban hành đạo luật đầu tiên về chế độ tự quản cho các địa phương. Hình thức tự quản lãnh thổ ra đời cùng với quá trình hình thành các đô thị tự do của thời kì trung đại vào những năm của thế kỉ X và XI với hai đặc điểm chính: i. vai trò chính trong cộng đồng thuộc về cư dân thuộc tầng lớp quy tộc trung lưu; ii. Tính tổ chức chặt chẽ của cộng đồng lãnh thổ. Sự hình thành này diễn ra do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, lịch sử, xã hội và chính trị. Với sự phát triển của nông nghiệp, người dân có mức sống khá giả hơn, dẫn đến sự ra đời của các tầng lớp thủ công, hình thành tầng lớp công nhân công nghiệp, dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc. đẩy nhanh quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị. Với sự phát triển các lãnh chúa đứng đầu các cộng đồng có nhu cầu duy trì năng lực tự vệ của cộng đồng cho phép các thị dân có quyền mang vũ khí hình thành ra các trung tâm chính quyền, với hai điều kiện căn bản: i. do sự tự nguyện trao quyền từ phía các chính quyền; ii. do kết quả của các phong trào đấu tranh của tầng lớp trung lưu đòi quyền tự quyết.

     

    Hiến chương London của Hoàng đế Henrich I năm 1129 với tên gọi là Hiến chương về các Quyền Tự do (Charter of Liberties) là văn kiện đầu tiên xác nhận quyền của các thị dân tự bầu ra những người lãnh đạo cộng đồng, thành phố London trở thành một công xã đặt dưới quyền lãnh đạo của một Thị trưởng do dân bầu ra. Sự khai phóng này của các vương triều phong kiến Châu Âu lúc bấy giờ thúc đẩy sự ra đời của chính quyền địa phương tự quản, nền tảng cho môt xã hội văn minh dân chủ như ngày nay.

     

    Sự hình thành ra các chính quyền tự quản ở các nước Đức và Pháp lại theo một con đường khác, không bằng con đường hòa bình như Anh đã nói ở phần trên. Ở Đức các chính quyền tự trị của các cộng đồng địa phương được hình thành sau những cuộc đấu tranh chống sách cai trị phong kiến độc đáo, và các phong trào chống sự cai trị của các Giám mục của nhà thờ, các thương nhân, các thợ thủ công thành lập ra các Koln (Cologne) được thừa nhận có quyền tự quản cộng dồng của mình, các thành phố được quyền tự quản, không còn các lãnh thổ dưới sự

     

    quản lí của các Nhà thờ, mặc dù Giám mục của các xứ này vẫn giữ lại vai trò quan trọng trong việc quản lí các xứ đạo. Một hình thức khác giành quyền tự trị của các địa phương ở Châu Âu là sự ra đời của phường hội thủ công nghiệp và buôn bán. Các phường hội này trong quá trình hoạt động buôn bán và sản xuất đã nhanh chóng cố kết lại với nhau để bảo vệ lợi ích của họ, dần dần hình thành ra các công xã, nơi diễn ra các hoạt động buôn bán và sản xuất của họ.

     

    Vào cuối thế kỉ XVIII, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng dân chủ tư sản, ở Đức và ở Pháp đã hình thành một xu hướng tập trung quyền lực chống lại tư tưởng quân chủ phong kiến chuyên chế, xác lập nguyên tắc thống nhất trong quản trị địa phương cho cả đô thị và nông thôn, các địa phương đặt dưới sự quản lí chặt chẽ của trung ương thông qua cơ chế bổ nhiệm người đứng đầu các công xã. Nhưng chẳng bao lâu hệ thống quản lí tập trung đó tỏ ra kém hiệu quả, phải quay lại chế độ quản trị tự quản địa phương.

     

    Kết quả tất cả các con đường hình thành chế độ tự quản địa phương là việc các đô thị mới ra đời xác định các quyền tự do cho mình. Trong đó quan trọng nhất là việc xác định các quyền tự quản lí các công việc của cộng đồng, quyền được miễn trừ các thứ thuế cho các lãnh chúa và nhà thờ. Sự chế độ tự quản địa phương đồng nghĩa với sự hạn chế sự chuyên chế của chính quyền phong kiến. Tuy vậy, quyền của các cá nhân tham gia vào quản lí cộng đồng vẫn còn bị hạn chế bởi các điều kiện về tài sản và đẳng cấp [1].

     

    Nhu cầu của nhà nước pháp quyền cho tất cả các chủ thể: Cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước trong đó có các địa phương đều phải tuân thủ pháp luật. Trong phạm vi thẩm quyền của mình mọi chủ thể phải tự chịu trách nhiệm. Không chủ thể nào, kể cả các chính quyền địa phương được đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Không ai có thể chịu trách nhiệm thay, hay bảo trợ cho các hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

     

    Thuật ngữ tự quản địa phương là thể hiện mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với chính quyền trung ương về 2 khía cạnh: i.

     

    4                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    Quyền đưa ra sáng kiến độc lập để giải quyết vấn đề địa phương; ii. Quyền miễn trừ đối với sự can thiệp của chính quyền cấp trên và chính quyền trung ương vào việc giải quyết các công việc chính quyền địa phương.

     

    • các những nước phát triển phương Tây, việc tổ chức chính quyền địa phương tự quản không những chỉ được nhận thức bằng học thuật, mà còn dần dần trở thành tiêu chí đánh giá mức độ phát triển và mức độ dân chủ của quốc gia. Hay nói một cách khác chính quyền địa phương gắn liền với dân chủ, với phát triển, gắn liền với nhà nước pháp quyền, không có

    điều ngược lại. Ở Châu Âu đã thông qua Hiến chương chính quyền địa phương tự quản. Muốn trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu, thì phải có chính quyền địa phương tự quản. Trong Hiến chương chính quyền tự quản nêu rõ khái niệm chính quyền địa phương tự quản: Tự quản là khả năng chính quyền địa phương trong giới hạn của luật, điều tiết các công vụ thuộc trách nhiệm của địa phương vì lợi ích của cư dân địa phương. Tự quản địa phương được thông qua bởi Hội đồng các thành viên bầu ra một cách tự do qua các lá phiếu kín trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bình đẳng. /Điều 3 Hiến chương Chính quyền tự quản Châu Âu.

     

    Đặc điểm của Chính quyền địa phương tự quản: i.Địa phươngđược quản lí bởi cơ quan dân cử; ii. Có thẩm quyền riêng được tự quyết trong phạm vi thẩm quyền; iii. Có phương tiện để thực hiện tự quản: Có nguồn thu độc lập – thuế, phí, và các tài sản khác / Ngân sách riêng.

     

    Một khi đã thành chính quyền tự quản thì vấn đề các cấp chính quyền không có mấy ý nghĩa. Bởi vì cho dù có hai cấp, hay ba, bốn cấp, thì chúng vẫn là tự quản. Đã là tự quản, tự trị thì không có khái niệm của sự trực thuộc trên dưới. Việc sai đúng đều phải nại ra tòa để giải quyết nếu như có sự hiện diện của một sự nại ra. Việc thành lập các đặc khu có lẽ cũng không cần thiết phải đặt ra đối với các nhà nước có chính quyền địa phương tự quản. Đã là đặc khu thì sẽ có vấn đề ưu tiên về thuế về kinh doanh, về xuất nhập khẩu. Một khi có sự ưu tiên thì đã

     

    có sự bất bình đẳng giữa các thực thể địa phương, một trong những nguyên tắc của chính quyền tự quản.

     

    Tự quản địa phương là vấn đề tự quyết những vấn đề có liên quan đến địa phương. Muốn chính quyền địa phương tự quản thì trước tiên phải là phân quyền giữa các chính quyền. Vấn đề nào thuộc chính quyền địa phương, thì phải được cơ quan địa phương giải quyết không thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một thực thể nào khác, không thể phân cho thực thể nào khác. Nếu như có cách phân quyền, hay phân cấp, thì không biết lấy quyền đó ở đâu ra để phân cho địa phương.

     

    Vấn đề căn bản là ở chỗ vấn đề nào của địa phương. Với sự cố gắng miệt mài của một học giả người Mỹ đã liệt kê ra tới 400 đầu việc đâu là của trung ương (liên bang, tiểu bang), đâu là của đô thị, đâu là của tỉnh, của quận, của xã. Nhưng cho đến nay cũng chỉ có một mình ông nêu ra mà không có một tác giả thứ hai nào nhắc lại. Và cũng không có một đạo luật của bất cứ liên lang, hay tiểu bang nào được thông qua quy định thẩm quyền của các chính quyền địa phương. Tôi cũng đã nhiều lần chép lại trong các sách chuyên khảo về chính quyền địa phương của mình, nhưng cũng chẳng được một độc giả nào của Việt Nam để ý [2].

     

    Về phương pháp luận, vấn đề tự quản địa phương có lẽ chẳng khác nào như vấn đề nhân quyền. Con người có nhân quyền, thì địa phương cũng có quyền tự trị. Sự khó khăn của vấn đề nhân quyền như thế nào thì cũng diễn ra khó khăn như thế đối với vấn đề công nhận hay không công nhận quyền tự quản của địa phương. Hôm nay vấn đề đó chưa phải là vấn đề nhân quyền, nhưng tương lai thì sẽ là nhân quyền. Ví dụ khi quy định quyền con người của Mỹ khi thông qua 10 tu chính án đầu tiên, bí mật thư tín là quyền riêng tư chưa được ghi nhận, mà mãi sau này con người mới có quyền này, bằng cách suy ra từ quyền bí mật nơi cư trú qua một án lệ. Quyền im lặng là quyền con người được suy ra từ vụ Tối cao Pháp viện quyết định trong Miranda kiện Arizona, (1966) [3], mà mãi cho đến Bộ Luật Tố tụng Hình sự

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    5

    Việt Nam năm 2015 mới được thừa nhận một cách gián tiếp của các Điều 60, 61 khi Bộ Luật này quy định quyền của bị can, bị cáo. Cũng tương tự như vậy, hôm nay chính quyền địa phương chưa có tự quản nhưng ngày mai sẽ trở thành tự quản.

     

    Chính quyền địa phương tự quản là đa dạng các mô hình. Mô hình chính quyền địa phương trước hết thể hiện mối quan hệ giữa trung ương, với chính quyền địa phương và sau đấy là mối quan hệ giữa chính quyền cấp trên với chính quyền cấp dưới. Trong trường hợp chính quyền tự quản thì mối quan hệ này dựa trên quy định của luật pháp, mà không bằng các chỉ thị/ quyết định trực tiếp của các cơ quan nhà nước cấp trên.

     

    Mô hình của Anh quốc (British model) có đặc điểm trung ương không phải là cơ quan quản lí cấp trên đối với địa phương, không điều khiển địa phương. Các cấp chính quyền địa phương được độc lập lẫn nhau, và không có sự trực thuộc lẫn nhau. Trong phạm vi quyền hạn của mình các chính quyền đều có quyền tổ chức hoạt động chỉ phụ thuộc vào pháp luật mà không phụ thuộc vào bất cứ một sự chỉ đạo nào của cấp trên. Trong trường hợp có mâu thuẫn, tranh chấp hoặc có hiện tượng vi phạm pháp luật sẽ bị sự phân giải của toà án. Thiết nghĩ rằng đây là mô hình dân chủ hơn cả, và chính trong quan niệm như vậy chính quyền địa phương mới có khả năng và điều kiện phát huy được quyền chủ động của mình, mà gạt đi bất cứ một sự bảo trợ nào của chính quyền cấp trên, cũng như của cả chính quyền trung ương. Trong trường hợp hãn hữu gặp khó khăn về tài chính chính quyền địa phương được sự trợ giúp của chính quyền trung ương. Một khi đã nhận sự trợ giúp về mặt kinh tế của trung ương, ít nhiều chính quyền địa phương phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Trong trường hợp không chịu sự chỉ đạo của trung ương, thì lẽ đương nhiên các khoản viện trợ kinh phí sẽ bị giảm bớt, thậm chí là cắt hẳn. Điều đặc biệt ở chính quyền địa phương Anh quốc có nơi chỉ có các cơ quan đại diện, mà không có cơ quan chịu trách nhiệm chung thực hiện các quyết định do cơ quan đại diện ban hành kiểu như Ủy ban

     

    nhân dân của Việt Nam hiện nay, mà trực tiếp thành lập ra các sở chuyên ngành.

     

    Đặc điểm của mô hình Anh – Mỹ là tính chịu trách nhiệm của quyền lực nhà nước được thực hiện một cách triệt để, vì các chính quyền địa phương được phân quyền triệt để và đầy đủ. Trong phạm vi thẩm quyền các địa phương có toàn quyền giải quyết và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đó là sự tự quản của chính quyền địa phương.

     

    Mô hình của Pháp (French model)có đặc điểm là chính quyền địa phương bị song trùng giám sát của đại diện chính quyền trung ương và của chính quyền cấp trên. Mô hình này được phát triển từ những năm của chế độ quân chủ chuyên chế mà hình thành nên. Thuở ban đầu của chế độ phong kiến, chính quyền địa phương chỉ là các quan cai trị do Nhà Vua cử về địa phương chỉ nhằm mục đích thực hiện hay giám sát sự thực hiện các quyết định của Nhà Vua, mà không tính đến các điều kiện hoàn cảnh của địa phương, hoặc thậm chí cai trị theo cách riêng của quan chức được cử về. Sau dần với sự đấu tranh của dân chủ, các lãnh đạo địa phương có một thẩm quyền nhất định cho việc giải quyết các công việc của địa phương, trong đó có cả các việc có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương, và cuối cùng các quan chức được cử về chỉ làm mỗi một chức năng giám sát việc thực hiện các quyết định của cấp trên và các văn bản luật của trung ương, mà không còn có quyền hành như trước đây. Tại tất cả các tỉnh ở Pháp đều có những Thị trưởng do hội đồng thành phố bầu cử và ở dưới quyền kiểm soát của các tỉnh trưởng. Thị trưởng vừa chăm nom đến những quyền lợi địa phương vừa quan tâm đến những quyền lợi của trung ương, dần dần tạo nên tính tự quản của chính quyền địa phương. Hiện nay quan cấp trên cử về chỉ được thực hiện quyền giám sát địa phương.

     

    Mô hình của Cộng hoà Liên bang Đức (Germanic model) có đặc điểm giống của Pháp quốc nhưng không có cơ quan đại diện của chính quyền cấp trên xuống giám sát chính quyền cấp dưới. Đây là một mô hình mà chính quyền liên bang phụ thuộc vào chính quyền

     

    6                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    bang, chính quyền bang phụ thuộc vào chính quyền địa phương trong việc quản lí và cung cấp các dịch vụ cho dân. Điểm đặc trưng nhất của mô hình của Đức là tính phân quyền. Đây là hệ thống quyền lực được phân theo nguyên tắc: cái gì địa phương làm tốt thì địa phương làm, trung ương chỉ làm những gì mà địa phương làm không tốt hơn. Vấn đề quan trọng trong hệ thống của Đức là ở đây phân rất rõ trách nhiệm của từng cấp, cấp này làm thì cấp kia không làm. Và như vậy thì quyền của mỗi cấp mang tính chủ động và được phân cấp; đồng thời được phân nhiệm vụ thì cũng được phân ngân sách, tức là cấp đó sẽ có nguồn thu bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Mô hình của Đức, cũng giống như của Pháp, có 5 cấp, trong đó một cấp không có cơ quan đại diện gọi là regierungsbezirke. Ở Đức có liên bang, dưới liên bang có bang, dưới bang có regierungsbezirke, dưới đó là Kries và tiếp theo là gemeind.

     

    Trong một nhà nước dân chủ và nhất là của một nền kinh tế thị trường sự trực thuộc vào chính quyền cấp trên của các cơ quan chính quyền địa phương cấp dưới càng giảm bớt, càng ngày tăng thêm tính chất tự quản tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền. Từng cấp chính quyền phải tự chịu trách nhiệm về những hoạt động của mình. Mối quan hệ trên dưới bằng cách hướng dẫn, chỉ đạo, ra lệnh sẽ được thay dần bằng pháp luật, và thậm chí bằng các hợp đồng quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các bên.

     

    Xét dưới giác độ cấu trúc chính quyền tự quản, nhìn chung chúng không khác nào cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương cũng có cơ cấu phân quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng đi vào cụ thể chúng đa dạng hơn và không rõ nét 3 quyền như của chính quyền trung ương. Mặc dù là chính quyền địa phương nhưng cơ cấu chính quyền cũng phải có cơ quan đại diện có chức năng lập pháp, cũng có cơ cơ quan hành pháp có chức năng thực hiện các quyết định của cơ quan đại diện. Rõ và điển hình nhất là cơ cấu chính quyền Mỹ quốc.

     

    Mô hình chính quyền địa phương của Mỹ là một trong những mô hình áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách đậm đặc nhất. Địa phương ở Mỹ quốc được toàn quyền giải quyết các công việc của mình mà không cần thiết có sự bảo trợ từ trung ương. Sự phục tùng trung ương, cũng như việc giám sát trung ương đối với địa phương chủ yếu bằng pháp luật và thông qua hoạt động xét xử của toà án. Việc phân quyền tuyệt đối được thể hiện trước hết bằng sự các địa phương thoải mái trong việc lựa chọn các mô hình tổ chức và hoạt động cuả mình. Hiện nay nước Mỹ có tới 4 mô hình tổ chức: Hội đồng và Thị trưởng mạnh; Hội đồng và thị trưởmg yếu; Ban quản đốc cùng với hội đồng do dân bầu ra; và uỷ ban và hội đồng cùng do dân bầu ra.

     

    Hội đồng và Thị trưởng yếu hoặc Hội đồng và Thị trưởng mạnh

     

    Những đô thị Mỹ trên 5 ngàn dân đều có hình thức Hội đồng với thị trưởng. Dưới hình thức được mệnh danh là “Thị trưởng mạnh thế”, Hội đồng thành phố và Thị trưởng đều trực tiếp do cử tri bầu ra. Thị trưởng thi hành việc kiểm soát chặt chẽ các nhân viên chấp hành trong nền hành chánh đô thị và thường có trách nhiệm soạn thảo ngân sách hàng năm. “Thị trưởng yếu thế” không có quyền đề cử hoặc bãi chức những viên chức chấp hành quan trọng nhất. Trong những trường hợp này, hội đồng có thể đề cử những viên chức, hoặc những viên chức ấy có thể do dân bầu ra. Về nguyên tắc ở địa phương có thị trưởng yếu thì Thị trưởng không có quyền phủ quyết đối với các quyết định của Hội đồng. Thị trưởng của 12,6 % những đô thị có trên 5 ngàn dân không có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. 58, 5% đô thị có từ trên 10 ngàn dân cũng không dành cho thị trưởng có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. Tuy nhiên trong số đó có khoảng 12,6 % thị trưởng được quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng (tức ở đây có cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng và thị trưởng mạnh). Quyền này có thể dùng để phản đối một số đoạn đặc biệt trong dự án tài chính mà không huỷ bỏ toàn bộ dự án đó. Số các địa phương được

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    7

    tổ chức theo phương thức Hội đồng và thị trưởng kể cả mạnh thế và yếu thế lên tới 60%. [4]

     

    Hội đồng và Quản đốc

     

    Cùng với việc giảm bớt số các viên chức do dân bầu lên để gia tăng quyền kiểm soát của các cử tri đối với những viên chức đó và để tiết kiệm nhiều hơn, có một phong trào tại các tỉnh, thành ở Mỹ nhằm thay đổi địa vị của các Thị trưởng. Từ bước thành công lúc đầu tại Mỹ năm 1908 phong trào này thường được gọi là “cử người quản trị thành phố”. Theo hình thức hành chánh đó, hội đồng do các khu tuyển cử hay toàn thể đô thị bầu ra bổ nhiệm một viên quản đốc chuyên môn và giao cho viên quản đốc ấy hầu hết các quyền hạn hành chánh của địa phương. Viên quản đốc ấy chịu trách nhiệm với hội đồng thành phố về những kết quả các công việc của ông ta và có thể bị hội đồng cách chức hoặc cho nghỉ việc trước khi mãn hạn hợp đồng, nếu công việc của ông ta không làm vừa lòng hội đồng. Công việc của địa phương được điều hành như một công ty do một Ban giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng thực hiện. Trong trường hợp không thực hiện được, Hội đồng sẽ huỷ bỏ hợp đồng và có thể thuê Ban giám đốc khác.

     

    Các hình thức cai trị bằng uỷ hội và những phiên họp

     

    Hai hình thức cai trị thành phố sau cùng ít được thi hành tại nước Mỹ là cai trị bằng những uỷ hội và bằng những phiên họp. Lối cai trị bằng những uỷ hội được áp dụng trước hết tại Galveston, trong tiểu bang Texas, năm 1900 và bành trướng một cách mau lẹ trong mấy trăm thành thị trước năm 1917. Theo lối cai trị này thì các cử tri bầu cử năm uỷ viên họp lại thành uỷ hội hành chánh tỉnh. Các uỷ hội cùng cai trị chung, nhưng về thực tế thì mỗi uỷ viên phụ trách cai quản một ngành hành chính chẳng hạn như các công viên, an ninh công cộng, luật pháp, tu bổ đường sá và tài chính.

     

    Lối cai trị bằng uỷ hội hơi giống lối cai trị bằng văn phòng quận và bằng cách tuyển lựa một số uỷ viên hành chính trong chế độ cai trị bằng phiên họp. Những tỉnh, thành đầu tiên ở New England áp dụng lối hội họp những cử tri có đủ tư cách trong những phiên họp được

     

    triệu tập thường xuyên để giải quyết các vấn đề hành chính địa phương. Sau vì dân số càng ngày càng tăng và công việc hành chính trở nên liên tục, đồng thời số cử tri tăng lên qua quyền tuyển cử được nới rộng, nên những phiên họp trở nên tương đối vô hiệu và phiền phức. Những phiên họp của thành phố đó, tuy gần là hoàn toàn tự trị nhưng không lúc nào tránh khỏi sự thể bị một thiểu số, một nhóm gia đình hoặc một nhóm có thế lực chính trị chi phối. Kết quả là nhiều tỉnh đông dân cư bỏ lối cai trị bằng những phiên họp và thay thế bằng những đại diện cử tri do các khu phố bầu lên. Những đại diện ấy cũng hội họp giống những phiên họp trước bầu ra ban quản đốc và những quản trị viên để quản lí địa phương.

     

    Khi soạn thảo Hiến pháp năm 1787 của mình, các nhà lập hiến Mỹ quốc đã không đả động đến hệ thống chính quyền đa cấp và đa dạng này. Trong khi vẫn coi cơ cấu quốc gia là quan trọng nhất, họ đã khôn khéo thừa nhận sự cần thiết một loạt các cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn đến dân chủ và thích ứng một cách nhạy bén hơn với các nhu cầu của họ. Do vậy các chức năng nhất định, như quốc phòng, quản lí tiền tệ, và các quan hệ đối ngoại, chỉ có thể kiểm soát bằng một chính quyền mạnh. Nhưng những vấn đề khác, như hệ thống vệ sinh, giáo dục và giao thông vận tải địa phương, thì chủ yếu thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương [5] .

     

    Nhà nước pháp quyền là nhà nước không có sự bảo trợ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà các chủ thể phải chịu trách nhiệm. Không có một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại phải chịu trách nhiệm cho một chủ thể khác, và ngược lại cũng không thể có một một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại có thể nhờ một chủ thể khác chịu trách nhiệm thay mình. Với tính chịu trách nhiệm các địa phương chịu trách nhiệm chính các hành vi của mình. Những biểu hiện mối quan hệ trên dưới, báo cáo của cấp chính quyền cấp dưới đối với cấp trên; hướng dẫn của cấp trên đối với cấp dưới trong mô hình của nhà nước pháp quyền là không cần thiết, không còn tồn tại. Các địa phương phải chịu

     

    8                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    trách nhiệm về những tổ chức và hoạt động của mình theo quy định đúng của pháp luật.

     

    2. Chính quyền địa phương ở Việt Nam

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam có lịch sử theo chiều dài của lịch sử Việt Nam. Nếu chiều dài của lịch sử Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn, ứng với 4 thời kì: Bắc thuộc, Pháp thuộc, thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, và hiện nay thống nhất đất nước thì 4 thời kì này chưa bao giờ chính quyền địa phương được quy định là chính quyền tự quản. Tất cả các cấp chính quyền đều là phần nối dài của chính quyền trung ương.

     

    Nếu có chăng tính tự quản hoặc đúng hơn là mang tính tự quản thì chỉ có thể tính đến chế độ làng xã của thời kì phong kiến cổ xưa, trước khi Pháp thuộc. Nhận xét đó được thể hiện bằng những đặc điểm như sau: i. Xã có ban quản trị độc lập với quan chức cấp trên: Hội đồng kì mục, là cơ quan quyết định và vừa tư vấn cho Lí trưởng; ii. Lí trưởng là người quyết định đồng thời cũng là chấp hành Hội đồng kì mục;

     

    • Xã có tài sản riêng; ruộng đất; Có pháp

     

    đình riêng, căn cứ lệ làng riêng. Chế độ tự trị làng xã có tác dụng: i. Hạn chế tính chuyên chế của chế độ phong kiến quân chủ; ii. Giải quyết những vấn đề địa phương; iii. Giải phóng nhà nước trung ương không phải giải quyết vấn đề địa phương. Theo Trần Ngọc Thêm thì nguyên nhân của chế độ tự trị này ở Việt Nam có từ truyền thống văn hóa lúa nước. Dân chủ làng xã như một hình thức dân chủ địa phương từng tồn tại lâu dài gần như trong suốt lịch sử, các địa phương đều dân chủ nên buộc quốc gia cũng phải chấp nhận dân chủ theo, như vậy dân chủ quốc gia trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam

     

    Á luôn là dân chủ bị động [6]. Trong đời sống của người Việt Nam làng xã cho đến tận bây giờ vẫn luôn luôn đóng một vai trò quan trọng.

     

    Với chế độ thuộc địa, người Pháp đã tiến hành cải cách chế độ tự trị làng xã gọi là cuộc Cải lương hương chính. Theo chủ trương này, mỗi làng bầu ra một Hội đồng tộc biểu có chức

     

    năng quyết nghị vấn đề làng xã, thay thế Hội đồng kì mục. Lí trưởng có vai trò chấp hành. Việc bầu cử chức danh lí trưởng phải được thông qua công sứ. Không chỉ can thiệp về nhân sự xã, chính quyền Pháp còn quản lí ngân sách xã. Mọi việc thu, chi đều phải được công sứ chấp thuận phê chuẩn. Nhưng cuộc cải lương này chỉ được một thời gian ngắn, vì không hiệu quả, năm 1927, Thống sứ Bắc Kì điều chỉnh quy định về tổ chức chính quyền cấp xã, khôi phục Hội đồng kì mục với vai trò tư vấn cho các quyết nghị Hội đồng tộc biểu. Tồn tại song song hai Hội đồng (tộc biểu và kì mục) gây khó khăn cho quá trình bầu cử; quyền lực của các kì mục đứng đầu bị giảm sút; trách nhiệm của các tộc biểu và kì mục bị phân tán. Vì vậy, cần thiết phải cải tổ chính quyền làng xã. Thống sứ: huỷ bỏ việc bầu cử; khôi phục thực quyền cho các kì mục chính vốn là người đứng đầu các làng và giảm số lượng kì mục hàng xã…

     

    Nhưng chỉ đến khi chính quyền dân chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tính tự quản của làng xã được thay bằng chính quyền địa phương phải trực thuộc cấp trên của huyện, quận và tương đương. Cũng gần tương tự như vậy, các chính quyền quận, huyện cũng không được tổ chức theo nguyên tắc tự quản mà phải trực thuộc chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đó là một trong những biểu hiện của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Hơn thế nữa theo nguyên tắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa chính quyền địa phương còn phải trực thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng địa phương. Về nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương của thời kì này kéo dài cho đến hiện nay theo mô hình không tự quản, tức là tập quyền của Xô viết. Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam không còn chế độ tự quản làng xã, mặc dù đã được hình thành từ xa xưa ở Việt Nam, mà ngay cả chế độ thuộc địa hà khắc của Thực dân Pháp cũng không xóa bỏ được. Những hình bóng “cây đa bến nước sân đình” và đường làng quanh co chỉ còn lại rơi rớt trở

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    9

    thành những khu du dịch như Đường Lâm, Sơn Tây Hà nội ngày nay1.

     

    Đây chính là mô hình tập quyền của Xô viết, mà đặc điểm cơ bản của nó là không có sự phân quyền rõ ràng giữa trung ương và địa phương, tức là tập quyền vào trung ương không có phân quyền cho địa phương. Địa phương chỉ được giải quyết những gì mà trung ương cho phép. Nhiều quyết định của địa phương phải có sự phê chuẩn chính quyền cấp trên. Ở địa phương phải có cả cơ quan quyết nghị, có cả cơ quan chấp hành và có cả cơ quan xét xử và phải đặt dưới sự lãnh đạo và trực thuộc của cơ quan dân cử. Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của hệ thống nhà nước thống nhất, không có sự phân chia quyền lực giữa các cấp chính quyền, mà chỉ có sự phân công, phân nhiệm. Ngoài việc phải chịu sự lãnh đạo của chính quyền cấp trên, chính quyền địa phương còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương.

     

    Mô hình chính quyền địa phương này cộng với cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương được mô tả con bút bê Matryoshka, biểu tượng của nước Nga con nhỏ nằm trong con to. Mỗi mảnh đất, mỗi con người đều phải chịu tới 5 tầng chính quyền từ xã, cho đến trung ương tiểu bang và tới chính quyền liên bang. Chính quyền cấp trên có cơ cấu gì thì chính quyền địa phương có cấu đó. Con người cùng cơ cấu của nó với chính sách luôn luôn là một. Chính quyền địa phương không những được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cấp trên, giữa chính quyền cấp trên đối với cấp dưới, giữa trung ương với địa phương, như các nước phương Tây phần Châu Âu lục địa thời phong kiến chuyên chế, mà còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương, và của cơ chế tập trung bao cấp. Nhân dân các địa phương thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình bầu ra các Xô viết, cơ quan quyết nghị của địa phương có quyền quyết định các vấn đề quan trọng có liên quan đến nhân dân trong

     

    ________

     

    1Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006.

     

    vùng lãnh thổ địa phương. Xô viết địa phương được gọi là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương, thành lập ra các cơ quan chấp hành và điều hành của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của Xô viết các văn bản pháp luật và quyết định khác của các cơ quan Nhà nước cấp trên. Các công việc hành chính địa phương đều do những uỷ ban đảm nhiệm; các cơ quan hành chính địa phương thi hành những đường lối của cơ quan nhà nước cấp trên. Cách thức tổ chức này đã và đang dẫn đến tình trạng, một vấn đề có rất nhiều cơ quan, cơ cấu giải quyết, nhưng lại có vấn đề không có cơ quan, cơ cấu nào trong bộ máy trùng trùng điệp điệp chịu trách nhiệm, khi có vấn đề xảy ra, theo nguyên tắc “mất mùa thì tại thiên tai, được mùa thì tại thiên tài đảng ta”.

     

    Sang đến thời kì đổi mới và với sự sụp đổ của chế độ Xô viết, nước Nga quay trở lại thực hiện chế độ tự quản của chính quyền địa phương [7]. Khác với sự thay đổi chế độ chính trị của Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, các nước Việt Nam và Trung Quốc, Cu Ba vẫn kiên định chế độ xã hội chủ nghĩa.

     

    • Việt Nam với sự đổi mới về mặt kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng về mặt chính trị vẫn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì sự kiên định mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới tập trung vào lĩnh vực kinh tế. Sau một thời gian thu được nhiều thắng lợi trong kinh tế, Việt Nam chuyển sang đổi mới lĩnh vực chính trị, mà bắt đầu bằng công cuộc đổi mới chính quyền địa phương. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2001 bên cạnh mục tiêu gạt bỏ những quy định lỗi thời cản trở công cuộc đổi mới kinh tế là

    đổi mới chính quyền địa phương.

     

    Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 đã chỉ rõ nhiệm vụ: phải phân cấp mạnh, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương, nhất là trong quyết định về tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính với TW… bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệmcủa chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Tổ chức hợp lí chính quyền địa phương, phân

     

    10                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    định lại thẩm quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; phải đổi mới tổ chức hoạt động chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động HĐND & UBND, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo. Tiếp tục thí điểm chủ trương không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

     

    Thực hiện nghị quyết trên, năm 2008 Quốc Hội khóa XII ra quyết định thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, xã và tương đương ở 10 tỉnh thành, nhưng bằng Luật tổ chức chính quyền địa phương hiện hành năm 2015 thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc thực hiện thí điểm trên bị chấm dứt, với một luận điểm hết sức đơn giản, ở đâu có cơ quan chấp hành- hành chính thẩm quyền chung, thì phải có cơ quan đại diện. Dân chủ như là một con đường đi một chiều một khi đã có sự hiện diện thì khó có khả năng bãi bỏ.

     

    Mặc dù có rất nhiều biện pháp nhằm tiến hành cải cách chính quyền địa phương như trên đã

     

    nêu, nhưng cuối cùng vẫn không có gì tạo nên sự thay đổi. Lí do căn bản của vấn đề nằm ở chỗ không thừa nhận nguyên tắc phân quyền, cũng không thừa nhận chính quyền địa phương tự quản.

     

    Hiến pháp mới 2013 thay tên gọi tên chương Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân thành về chương Chính quyền địa phương, mở ra khả năng đa dạng các mô hình tổ chức chính quyền địa phương, phân biệt rõ các loại hình đơn vị hành chính giữa nông thôn, thành thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt… Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 được Quốc hội thông qua thể hiện và triển khai thực hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn không thể hiện được tinh thần của nguyên tắc chính quyền địa phương tự quản. Vì khái niệm này cho đến hiện nay vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức trong các văn kiện của Đảng. Mặc dù Luật tổ chức chính quyền có phân biệt rõ ràng chương quy định về giữa chính quyền địa phương thành thị khác với vùng nông thôn. Nhưng đi vào cụ thể các nhiệm vụ quyền hạn giữa chúng vẫn là giống nhau không có gì thay đổi.

     

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    ở tỉnh (Điều 17)

    ở thành phố trực thuộc trung ương (Điều 37)

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    pháp luật trên địa bàn tỉnh.

    pháp luật trên địa bàn thành phố.

    2. Quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi

    2.  Quyết  định  vấn  đề  trong  phạm  vi  được  phân

    được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về

    về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của

    kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính

    chính quyền địa phương ở tỉnh.

    quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương.

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    nền kinh tế quốc dân.

    nền kinh tế quốc dân.

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    địa bàn tỉnh.

    địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương.

    a

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Luật Tổ chức Chính quyền địa phương thể hiện rất nhiều những quy định vừa mang tính tự quản vừa mang tính trực thuộc, tức là vừa tự quản vừa không tự quản. Các quy định mang tính tự quản luôn luôn phải được đi kèm theo tính trực thuộc. Đó là các quy định rất cơ bản mang tính nguyên tắc của tự quản như việc quy định: HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri

     

    • địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc cấp trên của HĐND trong việc phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên. Tương tự như vậy, Ủy ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp là quy định mang tính tự quản, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc của cơ quan này trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

    Ngoài những quy định thể hiện tính vừa tự quản vừa trực thuộc, trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương chứa đựng nhiều quy định thuần túy sự trực thuộc. Nặng nề nhất của sự phụ thuộc trên là ở quy định về vấn đề nhân sự. Theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp cấp trên có quyền phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; có quyền điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trong trường hợp khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới giữa hai kì họp Hội đồng nhân dân; yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân đình chỉ, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc vi phạm pháp luật; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động,

    cách chức, khen thưởng, kỉ luật cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lí theo quy định của pháp luật. Đó cũng là quyền tương tự của Thủ tướng Chính phủ đối với Chủ tịch và các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Pháp luật có những quy định này quy định kia thể hiện sự phân quyền giữa các cấp chính quyền nhưng với nguyên tắc tập quyền không thể làm cho các chính quyền địa phương có sự chịu trách nhiệm trước thực trạng của địa phương. Chính thực trạng này không tạo nên những biểu hiện của nhà nước pháp quyền.

     

    Tập quyền nhưng thực trạng diễn ra một cách ngược lại phân quyền

     

    Những điều phân tích ở phần trên chỉ là những quy định hình thức của luật pháp. Nhưng trên thực tế, thì mọi việc hầu như đều không hoàn toàn như vậy. Mặc dù không là chính quyền tự quản, tức là không được phân quyền như các nhà nước phát triển, nhưng ở hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với sự hiện diện các cấp ủy Đảng Cộng sản, do Bí thư địa phương đứng đầu có quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện trong phạm vi lãnh thổ địa phương đã làm cho chính quyền địa phương trở nên rất cát cứ. Với quyền lãnh đạo này, các cấp ủy, mà đứng đầu là các Bí thư có quyền hạn rất lớn, từ chủ trương chính sách đến các nhân sự của địa phương, làm cho các địa phương trở thành phân quyền rất lớn. Trong một nền kinh tế thị trường chưa ổn định, thiếu chặt chẽ, cộng với nguồn tài sản đất đai, tài nguyên trong phạm vi quản lí của mình, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền. Vì vậy mặc dù về nguyên tắc địa phương không phân quyền, không tự quản, tức là phải trực thuộc trung ương, nhưng với hoạt động của các cấp ủy Đảng lãnh đạo và người đứng đầu cấp ủy Đảng do Đảng bộ địa phương bầu ra, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền cát cứ, thoát ly khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương, nhất là cấp tỉnh, nơi

     

    11

     

    12                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    đứng đầu của các địa phương. Hơn thế nữa với các quy định bầu cử trong Đảng như hiện nay, các chức sắc lãnh đạo trong Đảng và Nhà nước đều phụ thuộc vào khối các lá phiếu các đại biểu của địa phương, tính cát cứ địa phương lại càng có cơ hội cho sự phát triển. Các đại biểu trung ương phải tìm sự ủng hộ các địa phương thì mới có cơ hội giành được các tỉ lệ phiếu bầu qua các lần bầu cử các chức danh quan trọng, kể cả quan trọng nhất là người đứng đầu Đảng Cộng sản – Tổng Bí thư. Các địa phương thi đua nhau mở cảng nước sâu, mở các sân bay. Địa phương này mở được thì địa phương khác cũng xin mở2. Địa phương này xin trung ương có cơ chế đặc biệt thì địa phương khác cũng đòi hỏi phải hưởng một quy chế gần tương tự, đã gây nên tình trạng bất bình đẳng giữa các địa phương. Xem Hộp sau đây:

     

    Cho đặc thù nhưng cần phải cân đối

     

    Trong phiên họp thứ 50, các thành viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý nới khung đặc thù về tài chính, ngân sách cho Đà Nẵng, để thành phố này có nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư, phát triển.

     

    Theo đó, trong khuôn khổ phiên họp, UB Thường vụ Quốc hội đã cân nhắc và thông qua đề xuất nâng mức dư nợ vay của Đà Nẵng lên không quá 40%, tức là cao hơn quy định của luật 10% và thấp hơn hai thành phố Hà Nội, TP.HCM 20% (hiện là 60%). Đồng thời, nhất trí con số thưởng vượt thu ngân sách cho thành phố Đà Nẵng là 70%.

     

    ________

     

    • Theo thống kê của Tổng Công ty CHKVN, đơn vị này hiện đang quản lí và khai thác 22 cảng hàng không, sân bay trên cả nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này mới chỉ có

     

    • sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất kinh doanh có lãi, còn lại đều trong tình trạng hòa vốn hoặc thua lỗ, nhất là những sân bay ở các địa phương chưa thực sự phát triển về du lịch. Thế nhưng, nhiều địa phương vẫn “đắm đuối” với viễn cảnh có sân bay riêng, viện dẫn đủ loại lí do như: Tỉnh vùng núi khó khăn; có nhiều di tích lịch sử, thậm chí là địa phương anh hùng trong thời kì kháng chiến… để kiến nghị, đề xuất. (Nhiều địa phương đua mở sân bay/Giao thông vận tải 25/ 5 /2017).

    Về con số này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu quan điểm: “Đà Nẵng xứng đáng được hưởng cơ chế đặc thù, nhưng chỉ mở mức độ nào đó, chứ không thể bằng Hà Nội và TP.HCM được. Không nên vung tay quá nhiều. Vung quá nợ công tăng cao thì Đà Nẵng sẽ gánh chịu hậu quả. Đặc thù có thể là 40% (Luật Ngân sách nhà nước cho phép 30%). Mức đặc thù thêm 10% so với hiện tại là ổn”.

     

    Còn Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, Chính phủ cần cân đối, tính toán vì nhiều tỉnh, thành cũng sẽ xin cơ chế đặc thù, cần phải hài hòa giữa các địa phương.

     

    Nguồn: Cơ chế đặc thù có giúp địa phương cất cánh của Nguyễn Thanh Lan / Diễn đàn doanh nghiệp 13/7/2016.

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay rất giống với mô hình của Trung quốc vừa tự quản vừa không tự quản, thậm chí còn phân quyền hơn nhiều quốc gia tư sản.Về hình thức, thì Trung quốc có chính quyền tập quyền, nhưng trên thực tế thì lại phân quyền một cách cao độ. Cuộc phân tranh giữa chính quyền trung ương và địa phương luôn là một đề tài dai dẳng xuyên suốt chiều dài lịch sử Trung quốc, một cuộc chiến có thể tóm bằng câu nói, “trên có chính sách, thì dưới có đối sách”. Tỉ lệ khoản thu chi ngân sách cho địa phương phụ trách thì Trung Quốc là nước có tính phân quyền cao nhất toàn cầu – chỉ riêng tỷ lệ khoản thu chi của chính quyền địa phương đã cao gấp đôi mức thông thường của các nước phát triển theo nhóm OECD, mà các nước này vốn có xu hướng phân quyền nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Ở mức phân quyền cao độ Trung quốc như một quốc gia chuyên chế, nơi chính quyền trung ương chỉ cần búng tay là dàn xếp được mọi chuyện. Nhưng trên thực tế theo chiều hướng ngược lại, Trung quốc là quốc gia phân mảnh đến mức chính quyền địa phương tự tung, tự tác làm bất cứ điều gì, bất chấp chỉ thị từ Bắc Kinh [8].

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đào Bảo Ngọc, Quản trị địa phương ở các Châu Âu – nghiên cứu trường hợp Anh, Pháp, Đức và tiếp thu kinh nghiệm cho Việt Nam (LA Tiến sĩ Luật học), (2019) 32- 34.
    • Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Hội đồng Nhân dân trong nhà nước pháp quyền, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011.
    • Miranda kiện Arizona 384 U.S. 436.

    A

     

    a

     

    .

     

    • The Elements of Political Science by Alfred de Grazia Copyright 1959 by Metron Princeton, New Jersey tr. 651.
    • Khái quát về chính quyền Hợp Chủng quốc Hoa

    Kì/Outline of U.S. Government. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2002) 130.

     

    • Trần Ngọc Thêm, Giá trị Việt Nam – từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai.

    NXB. Văn hóa – Văn nghệ, (2016) 473.

     

    • Hiến pháp Liên bang Nga, Điều 130 – 131.
    • Kroeber A. R., Sự trỗi dậy của một cường quốc, cái nhìn từ bên trong, NXB. Hồng Đức, 2019.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-%C4%82N-M%C3%92N-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-%E1%BB%90NG-D%E1%BA%AAN-KH%C3%8D-B%E1%BA%A0CH-H%E1%BB%94-DINH-C%E1%BB%90-V%C3%80-%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-C%C3%81C-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-CH%E1%BB%90NG-%C4%82N-M%C3%92N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    TẠP CHÍ DẦU KHÍ

     

    Số 4 – 2019, trang 62 – 66

     

    ISSN-0866-854X

     

    ĐÁNH GIÁ ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG DẪN KHÍ BẠCH HỔ – DINH CỐ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN

     

    Phan Công Thành, Trương Quang Trường, Trần Mai Khôi

    Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP

     

    Email: [email protected]

     

    Tóm tắt

     

    Đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố (16”, dài 116,5km) được đưa vào vận hành từ năm 1995 để vận chuyển khí đồng hành từ giàn nén khí trung tâm (CCP) mỏ Bạch Hổ đến Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.

     

    Khi sản lượng khí của mỏ Bạch Hổ suy giảm, Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” và Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) đã xem xét khả năng sử dụng đường ống dẫn khí này để vận chuyển khí từ mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Cá Chó – Gấu Chúa và Đại Nguyệt ở bể Nam Côn Sơn về bờ. Do đó, tuổi thọ của đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cần được đảm bảo đến năm 2025 để đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và vận chuyển các nguồn khí mới.

     

    Bài báo đánh giá hiện trạng ăn mòn của hệ thống đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố trên cơ sở các thông số thiết kế, vận hành, kết quả cập nhật sau khảo sát, bảo dưỡng sửa chữa, đánh giá các ảnh hưởng đến an toàn vận hành của hệ thống đường ống khi tiếp nhận khí từ mỏ Thiên Ưng, Đại Hùng với thành phần CO2 cao hơn và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn cụ thể.

     

    Từ khóa: Đường ống dẫn khí, ăn mòn, CO2, Bạch Hổ – Dinh Cố.

     

    1. Giới thiệu

     

    Các dạng ăn mòn phổ biến đối với đường ống dẫn khí gồm: ăn mòn đều, ăn mòn cục bộ (ăn mòn pitting, ăn mòn khe, ăn mòn mesa, ăn mòn vùng hàn), nứt do tác động môi trường và phá hủy do dòng chảy [1, 2].

     

    Nhiều tác nhân hóa học khác nhau trong đường ống có thể ảnh hưởng đến quá trình ăn mòn bên trong hệ thống. Sự phá hủy ăn mòn đối với từng tác nhân sẽ thay đổi theo điều kiện vận hành và môi trường vật lý. Có 4 tác nhân chính: CO2, H2S, O2, hoạt động trao đổi chất của vi khuẩn. Để tác nhân này có thể gây ăn mòn, bắt buộc phải có nước [1, 2].

     

    Các cơ chế phá hủy: Cơ chế ăn mòn (ăn mòn Galvanic, ăn mòn do chênh lệch nồng độ), cơ chế nứt do tác động môi trường (phá hủy do hydro, nứt ăn mòn ứng suất, giòn do kim loại lỏng), cơ chế phá hủy do dòng chảy (xói mòn, va chạm, ăn mòn xói mòn, tạo bọt khí) [3].

     

    Ngày nhận bài: 27/8/2018. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 27/8 – 19/9/2018.

     

    Ngày bài báo được duyệt đăng: 5/4/2019.

     

    2. Hiện trạng ăn mòn đường ống dẫn khí của PV GAS và Vietsovpetro trên cơ sở dữ liệu vận hành đến thời điểm hiện tại

     

    Trên cơ sở các thông số vận hành, khi có nước, cơ chế ăn mòn chủ yếu đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố là ăn mòn do CO2 [4]. Khả năng xảy ra và cơ chế ăn mòn được đưa ra trong Bảng 1:

     

    • Có khả năng: Cơ chế này khi chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn có khả năng phá hủy tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Các biện pháp phòng ngừa cần được áp dụng để kiểm soát mối nguy.
    • Không có khả năng: Cơ chế này dự báo sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến tính toàn vẹn của thiết bị/đường ống theo thiết kế. Không cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn.

    Mỗi cơ chế “Có khả năng” sẽ cần sử dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn. Nguy cơ xảy ra những cơ chế này sau khi được áp dụng các biện pháp giảm thiểu ăn mòn được chia thành 3 mức độ:

     

    • Cao: Dù sử dụng các biện pháp nhưng khả năng xảy ra rất cao, cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, bảo

    62       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    dưỡng để kiểm soát nguy cơ, có thể phải thay đổi thiết kế/ vật liệu nếu cần.

     

    • Trung bình: Có thể kiểm soát sử dụng các phương pháp công nghiệp đã được công bố; kiểm tra, theo dõi, bảo dưỡng ở mức độ thông thường.
    • Thấp: Chỉ cần kiểm tra, theo dõi và bảo dưỡng ở mức độ tối thiểu.

    Dựa trên đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí, có thể kết luận cơ chế ăn mòn chính là do CO2.

     

    3. Đánh giá tốc độ ăn mòn đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố bằng phương pháp mô phỏng thực nghiệm và lý thuyết

     

    Các phần mềm mô phỏng thường được thiết lập chế độ an toàn khi đưa ra kết quả tốc độ ăn mòn dự đoán và trong nhiều trường hợp mức độ ăn mòn cao hơn thực tế rất nhiều. Một số phần mềm lại giả sử đường ống có sự bảo vệ từ lớp dầu hoặc sản phẩm ăn mòn và đưa ra mức độ ăn mòn thấp hơn so với thực tế [5 – 8].

     

    Theo tiêu chuẩn của Canada, bất kỳ khí có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành sẽ được coi là không có tính ăn mòn. Khí chứa H2S và CO2 có nhiệt độ điểm sương dưới nhiệt độ vận hành do khử nước hoặc sử dụng chất ức chế, cũng được coi là không có tính ăn mòn [9]. Nhiệt độ điểm sương của khí trong đường ống được duy trì ở mức 5oC ở áp suất vận hành, thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ vận hành (khoảng 30oC).

     

    Số liệu trong giai đoạn 2010 – 2017 được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Dịch vụ Kỹ thuật (DMC RT) sử dụng là kết quả thực tế, trong khi đó WebCorr và DNV sử dụng kết quả dự báo từ phần mềm Hysis. Ngoài ra, WebCorr không tính đến tham số hàm lượng acid acetic/ acetate và hàm lượng bicarbonate, 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn. Trong khi đó, DNV có tính đến các tham số này nhưng bộ dữ liệu thiếu chắc chắn (2 bộ dữ liệu lệch nhau tương đối lớn).

     

    Thực nghiệm bằng phương pháp đo điện hóa và phương pháp tổn hao khối lượng, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 trong khí tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện

     

    Bảng 1. Tóm tắt các cơ chế phá hủy và nguy cơ xảy ra

     

                 

    Cơ ch

                     

    Nguy cơ

             

    Nguy cơ sau áp d ng bi n pháp

                                                   

    gi m thi u ăn mòn

         
                                                                     
               

    Ăn mòn oxy

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn vi khu n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Giòn th y ngân l ng

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn xói mòn

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    H2S (do MIC)

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
           

    H2S (nư c chua)

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                   

    C n

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Clo hòa tan

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
               

    Ăn mòn CO2

               

    Có kh  năng

                   

    Trung bình

         
         

    Ăn mòn vùng hàn

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
       

    Giòn nhi t đ  th p

             

    Không có kh  năng

         

    Không có kh  năng

         
       

    Ăn mòn dư i l p c n

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
               

    Acid h u cơ

               

    Có kh  năng

                   

    Không có kh  năng

         
         

    Ăn mòn đ nh  ng

               

    Có kh  năng

                     

    Th p

         
                           

    Bảng 2. So sánh tốc độ ăn mòn từ các phần mềm với số liệu coupon/đầu dò

                     
                                                                               
       

    Đơn v

             

    Ph n m m

                             

    T c đ  ăn mòn (mm/năm)

                     
       

    th c hi n

             

    2010

       

    2011

         

    2012

         

    2013

       

    2014

       

    2015

         

    2016

       

    2017

     
                                                       
       

    DMC-RT

           

    ECE 5.4

    0

       

    0

     

    0

     

    0

       

    0,01

       

    0,01

     

    0,04

     

    0,08

     
               

    M-506

       

       

     

    0,19

       

    0,31

       

    0,3

     

    0,57

     

    0,69

     
                                           
       

    DNV

               

    ECE 4

       

     

     

       

       

    0,46

     

    0,58

     

    0,8

     
                   

    Predict 6.1

       

       

     

       

       

    0,045

     

    0,0005

     

    0,0005

     
                                           
                     

    ECE 5.1

       

     

     

       

       

    0,3

     

    0,41

     

    0,62

     
       

    WebCorr

           

    Predict 6.1

       

     

     

       

       

    0,66

     

    0,81

     

    1,1

     
               

    M-506

       

       

     

       

       

    0,42

     

    0,62

     

    0,99

     
                                           
                     

    DWM

       

     

     

       

       

    0,42

     

    0,53

     

    0,72

     
             

    Probe

     

    NA

     

    NA

     

    0,00035

     

    0,00155

       

    0,00195

       

    0,0003

     

    0,0001

     

    0,00025

     
           

    Coupon

    0,002

     

    0,0015

     

    0,0025

     

    0,00231

       

    0,00068

       

    0,00035

     

    0,00055

     

    0,00013

     

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    63

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    mô phỏng khắc nghiệt hơn thực tế (dung dịch NaCl 0,1%, 1.000ppm acid acetic) ở mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086mm/năm và 0,066mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59mm đến 0,77mm.

     

    Theo tiêu chuẩn của NACE, nếu không có nước, CO2 là chất không ăn mòn [1]. Trên thực tế, hàm lượng nước trong đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố rất thấp, tốc độ ăn mòn chậm, điều này được phản ánh qua kết quả khảo sát bằng đầu dò và coupon.

     

    Tuy nhiên, theo ghi nhận và thông tin từ PV GAS, trong quá trình vận hành, đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố gặp phải các vấn đề liên quan đến ăn mòn tại một số vị trí và đã phải sửa chữa. Để kiểm soát vấn đề này, cần nghiên cứu và khảo sát điều kiện địa hình tuyến ống biển, từ đó tính toán được góc tới hạn của độ nghiêng cho từng đoạn ống, tính toán vị trí có nguy cơ đọng nước và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp. Phóng thoi định kỳ cũng là biện pháp để kiểm soát các bất thường này [1, 5].

     

    4. Đánh giá hiệu quả của hóa phẩm chống ăn mòn đang sử dụng tại đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố và đề xuất các giải pháp chống ăn mòn hiệu quả

     

    Nhóm tác giả sử dụng phương pháp đặt mẫu coupon (Wheel test) và phương pháp đo điện trở phân cực trong điều kiện sục khí (LPR bubble test) [3, 10 – 12].

     

    Các hóa phẩm chống ăn mòn được đánh giá gồm 1 mẫu hóa phẩm đang sử dụng (chất ức chế A) và 2 mẫu hóa phẩm thương mại khác (chất ức chế B và C).

     

    • Chất ức chế A: BAKER PETROLITE CR080143.
    • Chất ức chế B: CORRTREAT 5745.
    • Chất ức chế C: HB CI 8102.

    Kết quả đo điện hóa tại các nồng độ khảo sát và so sánh khả năng bảo vệ của 3 chất ức chế ở mỗi nồng độ cho thấy:

     

    ++ Đối với chất ức chế A: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 100ppm.

     

    ++ Đối với chất ức chế B: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 150ppm.

     

    Hiu qu bo v (%)

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

    10ppm

    30ppm

    50ppm

    100ppm

    150ppm

       

    N ng đ  (ppm)

       
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

     

    Ch t  c ch  C

     
                 
                   
         

    Hình 1. So sánh hiệu quả bảo vệ các chất ức chế

           
           

    Bảng 3. So sánh hiệu quả bảo vệ

           
                           

    N ng đ

               

    Hi u qu  b o v  (%)

           
       

    Ch t  c ch  A

         

    Ch t  c ch  B

       

    Ch t  c ch  C

     
                     

    10ppm

       

    83,98

         

    80,58

       

    89,96

     

    30ppm

       

    85,10

         

    81,89

       

    90,92

     

    50ppm

       

    87,45

         

    84,55

       

    91,17

     

    100ppm

       

    90,12

         

    88,69

       

    91,73

     

    150ppm

       

    90,32

         

    90,04

       

    91,82

     

    64       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019

     

    PETROVIETNAM

     

    ++ Đối với chất ức chế C: Đạt hiệu quả bảo vệ 90% từ nồng độ 30ppm và đạt hiệu quả tối ưu ở nồng độ từ 100ppm.

     

    Trong 3 chất ức chế A, B, C thì chất ức chế C cho hiệu quả bảo vệ cao nhất đạt trên 90% tại hầu hết các nồng độ khảo sát.

     

    • Tách nước (kiểm soát điểm sương) kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp là biện pháp chủ yếu được sử dụng trên thế giới [1].

    ++ Ngay cả trong điều kiện áp suất riêng phần CO2 cao (7 – 8 bar), nhiệt độ cao (93 – 130oC) và tốc độ dòng lớn (25m/s), chất ức chế ăn mòn vẫn đạt hiệu quả bảo vệ cao [10].

     

    ++ Ở nhiệt độ lên tới 150oC, áp suất CO2 lên tới 10 bar, áp suất H2S lên tới 10 bar, tốc độ dòng trên 20m/s, đường ống thép carbon vẫn hoạt động tốt bằng việc sử dụng chất ức chế ăn mòn [5].

     

    • Tách CO2 và kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp cũng là một giải pháp. Tuy nhiên, chi phí cho việc lắp đặt hệ thống tách CO2 khá cao, cần cân nhắc yếu tố kinh tế khi quyết định sử dụng giải pháp này [13].
    • Giải pháp khác: Điều chỉnh pH (The pH stabilisation

    technique): tăng pH sẽ tăng sự hình thành sản phẩm ăn mòn có tính bảo vệ trên bề mặt kim loại (FeCO3) [13, 14].

     

    Đề xuất yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố nhằm đảm bảo an toàn vận hành: Hạn chế tối thiểu hàm lượng các khí ăn mòn trong thành phần khí giao vào đường ống Bạch Hổ – Dinh Cố. Theo kết quả thực nghiệm bằng phương pháp trong phòng thí nghiệm, tốc độ ăn mòn khi hàm lượng CO2 tăng lên khoảng 3% mol ở điều kiện mô phỏng phòng thí nghiệm đạt mức 0,86mm/năm (phương pháp điện hóa) và mức 0,66 mm/năm (phương pháp tổn hao khối lượng). Nếu sử dụng chất ức chế có hiệu quả bảo vệ trên 90% và đảm bảo các yếu tố về độ tương thích và độ bền, tốc độ ăn mòn sẽ giảm về mức dưới 0,086 mm/năm và 0,066 mm/năm tương ứng, chiều dày ăn mòn dự trữ cần 0,59 – 0,77mm. Theo thiết kế, chiều dày ăn mòn dự trữ là 1mm, trong khi những năm trước đó, tốc độ ăn mòn không đáng kể, theo lý thuyết thành phần khí giao như vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn. Tuy nhiên, để kiểm chứng các mô hình mô phỏng, các thử nghiệm hiện trường (field test) là yêu cầu bắt buộc trước khi áp dụng thực tế bởi thử nghiệm hiện trường sẽ mô phỏng được đầy đủ hơn các yếu tố trong thực tế.

     

    5. Kết luận

     

    Kết quả đánh giá cơ chế phá hủy và nguy cơ đối với đường ống dẫn khí Bạch Hổ – Dinh Cố cho thấy cơ chế ăn mòn chính là do CO2. Với hàm lượng CO2 được duy trì ở mức thấp (dưới 1% mol), ăn mòn CO2 đang được khống chế bằng việc bơm chất ức chế ăn mòn. Trong thực tế vận hành, các vị trí ăn mòn xuất hiện bất thường trên đường ống, vì vậy cần thường xuyên theo dõi ăn mòn bằng việc phóng thoi định kỳ và sử dụng phần mềm mô phỏng, xác định các vị có nguy cơ ăn mòn cao.

     

    Kết quả mô phỏng bằng các phần mềm mô phỏng với kết quả thực tế từ coupon, đầu dò, phần mềm Predict 6.1 cho kết quả phù hợp nhất.

     

    Kết quả thử nghiệm bằng phương pháp điện hóa và thử nghiệm bằng phương pháp tổn hao khối lượng tương đối phù hợp so với các kết quả tốc độ ăn mòn từ coupon, đầu dò và phần mềm Predict 6.1.

     

    Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp chống ăn mòn: tách nước kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; tách CO2 kết hợp sử dụng chất ức chế ăn mòn phù hợp; sử dụng phần mềm Predict 6.1.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. NACE International. Control of internal corrosion in steel pipelines & piping systems. NACE SP0106-2018-SG.
    1. NACE International. Internal corrosion for pipelines
    • Advanced. www.nace.org.

     

    1. Papavinasam, R.W.Revie, M.Attard, A.Demoz, K.Michaelian. Comparison of laboratory methodologies to evaluate corrosion inhibitors for oil and gas pipelines. Corrosion. 2003; 59(10): p.897 – 912.
    1. Internal corrosion study for PL-16A gas pipeline, DNV GL. Report No.: 2014/474/008, Rev. 3.
    1. Sergio D.Kapusta, Bernardus F.M.Pots, R.A.Connell. Corrosion management of wet gas pipelines. Corrosion. 25-30 April, 1999.
    1. Rolf Nyborg. CO2 corrosion models for oil and gas production systems. Corrosion. 14 – 18 March, 2010.
    1. Seyed Mohammad Kazem Hosseini. Avoiding common pitfalls in CO2 corrosion rate assessment for upstream hydrocarbon industries. The 16th Nordic Corrosion Congress, Stavanger Norway. 20 – 22 May, 2015.
    1. Vishal V.Lagad, Sridhar Srinivasan, Rusell D.Kane. Facilitating internal corrosion direct assessment using

    DẦU KHÍ – SỐ 4/2019    65

     

    CÔNG NGHỆ – CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ

     

    advanced flow and corrosion prediction models. Corrosion.

     

    16 – 20 March, 2008.

     

    1. Standards Council of Canadian. Oil & gas pipeline systems. CAN/CSA-Z662-11.
    1. Michael Swidzinski, Bob Fu, Audrey Taggart, W.Paul Jepson. Corrosion inhibitor of wet gas pipelines under high gas and liquid velocities. Corrosion. 2000.
    1. Papavinasam. Evaluation and selection of corrosion inhibitors. Materials Technology Laboratory, Ottawa, Canada.
    1. ASTM   Standard  practice  for

    preparing, cleaning, and evaluating corrosion test specimens.

     

    ASTM G1.

     

    1. Sridhar Srinivasan, Vishal Lagad. ICDA: A quantitative framework to prevent corrosion failures and protect pipelines. Corrosion. 12 – 16 March, 2006.
    1. NACE International. Internal corrosion direct assessment methodology for pipelines carrying normally dry natural gas (DG-ICDA).
    1. Prediction of corrosion growth rate for 16″ Bach Ho – Dinh Co pipeline from 2015 to 2025. CSM-15606.

    CORROSION ASSESSMENT OF BACH HO – DINH CO GAS TRANSMISSION PIPELINE AND SOLUTIONS FOR CORROSION CONTROL

    Phan Cong Thanh, Truong Quang Truong, Tran Mai Khoi

    Petrovietnam Drilling Mud Corporation (DMC)

    Email: [email protected]

     

    Summary

     

    Bach Ho – Dinh Co gas transmission pipeline (16” and 116.5km long) was put into operation in 1995 to transport associated gas from the Central Compression Platform (CPP) in Bach Ho field to Dinh Co Gas Processing Plant.

     

    As gas output from Bach Ho field decreases, Vietsovpetro and Petrovietnam Gas Joint Stock Corporation (PVGAS) have considered the possibility of using this pipeline to transport gas from Dai Hung, Thien Ung, Ca Cho, Gau Chua and Dai Nguyet fields in the Nam Con Son basin to shore. The service life of Bach Ho-Dinh Co gas transmission pipeline therefore needs to be guaranteed until 2025 to meet the requirements for receiving and transporting new gas sources.

     

    This article assesses the corrosive status of Bach Ho – Dinh Co gas pipeline system based on the design and operation parameters, updated results after survey, maintenance and repair. It also assesses the operational safety of the pipeline system when receiving gas with higher CO2 content from Thien Ung and Dai Hung fields and proposes anti-corrosion solutions.

     

    Key words: Gas pipeline, corrosion, CO2, Bach Ho – Dinh Co.

     

     

    66       DẦU KHÍ – SỐ 4/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thuyết minh thi công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-TH%C3%94NG-S%E1%BB%90-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-%C4%90%E1%BA%BEN-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-B%E1%BB%98T-H%E1%BB%92NG-TR%C3%80-H%C3%92A-TAN-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-S%E1%BA%A4Y-PHUN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT HỒNG TRÀ HÒA TAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN

     

    Nguyễn Quốc Sinh1*, Nguyễn Thị Diễm Hương1, Nguyễn Thành Thuận2

    1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;

    2Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng.

     

    *Liên hệ email: [email protected]

     

    TÓM TẮT

     

    Bột Hồng trà hòa tan là sản phẩm được chế biến bằng phương pháp sấy phun dịch trích ly từ nguyên liệu Hồng trà được sản xuất theo phương pháp lên men toàn phần. Trong công trình này chúng tôi tiến hành khảo sát một số thông số trong quy trình sản xuất trà hòa tan như công đoạn trích ly (4 mốc thời gian và 3 mức nhiệt độ), công đoạn bổ sung chất mang (5, 10 và 15% maltodextrin) và sấy phun (5 mức nhiệt độ và 4 tốc độ bơm) đến chất lượng sản phẩm bột Hồng trà hòa tan. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả quá trình trích ly. Điều kiện trích ly thích hợp là: nhiệt độ trích ly 85oC, thời gian trích ly 40 phút. Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10%. Tiến hành sấy phun ở nhiệt độ thích hợp là 170oC với tốc độ bơm nhập liệu là 30%. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có tính chất cảm quan tốt, sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô.

     

    Từ khóa: bột hồng trà hòa tan, polyphenol, sấy phun, trích ly.

     

    Nhận bài: 17/03/2019          Hoàn thành phản biện:  27/03/2019                  Chấp nhận bài: 30/03/2019

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trà hòa tan dạng bột được sản xuất từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau, trong đó phần lớn là từ các nguồn thảo dược (Nguyễn Văn Tặng, 2008). Trên thế giới, trà hòa tan chủ yếu được sản xuất từ trà khô để làm đồ uống (Clark và cs., 1984; Mehta và cs., 2001; Bavan và Bengal, 2009). Quá trình sản xuất bột trà hòa tan có các công đoạn chủ yếu là trích ly, cô đặc dịch và sấy phun. Sato và cs. (1984) đã sử dụng nước nóng để trích ly trà xanh, dịch trà được bổ sung maltodextrin và sấy phun để tạo bột hòa tan. Bavan (2005) cũng sử dụng nước nóng để trích ly trà đen và trà ô long, dịch trà sau đó được cô đặc, sấy phun để tạo bột trà. Lunder và Nestec (1997) dùng nước nóng để trích ly hỗn hợp chè xanh và chè đen để thu được dịch chè. Đã có nhiều công trình khác nghiên cứu quá trình trích ly polyphenol từ chè khô và sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm ở dạng bột, dịch lỏng hoặc dạng cao. Công trình nghiên cứu của Trịnh Xuân Ngọ (2009) sử dụng dung môi là nước nóng. Phạm Thành Quân và cs. (2005) trích ly polyphenol sử dụng dung môi là ethanol có hỗ trợ vi sóng. Nguyễn Trọng Điệp và cs. (2017) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh.

     

    Việc nghiên cứu các thông số công nghệ trong quá trình chế biến bột Hồng trà hoà tan bằng các phương pháp đơn giản, dễ làm như tách chiết bằng dung môi nước, sử dụng maltodextrin làm chất mang trong quá trình sấy phun tạo sản phẩm…nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt là vấn đề có ý nghĩa thực tế và mang tính cấp thiết, bởi vì nó góp phần đa dạng hoá sản phẩm từ Hồng trà và hơn nữa có thể sử dụng được các thiết bị sẵn có ở các cơ sở chế biến nông sản trong quá trình chế biến sản phẩm bột trà. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan bằng phương

     

    1217

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    pháp sấy phun nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm này

     

    • nước ta.

    2.   VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Nguyên liệu

    Hồng trà loại OP do Công ty Cổ phần Long Đỉnh (thôn Phúc Tân, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) cung cấp. Hồng trà hay còn gọi là trà đen là loại trà được lên men hiếu khí toàn phần 100% từ đọt chè. Chè khô đảm bảo độ ẩm ≤ 7%.

     

    Maltodextrin: dùng làm chất trợ sấy, được bổ sung vào dịch trà trước khi đem sấy phun. Sản phẩm nhập từ Pháp, dạng bột mịn, màu trắng, tan hoàn toàn trong nước, độ ẩm 6 – 7%, chỉ số DE là 12.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    2.2.1. Phương pháp công nghệ

     

    Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ sản xuất bột trà hòa tan, chúng tôi chọn phương pháp công nghệ (Hình 1) theo nghiên cứu của Santo và cs. (2007) và dựa vào đặc điểm của máy sấy phun Mini B-290. Một số công đoạn chính trong quy trình công nghệ như sau: Chè khô sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, được đóng gói chân không, bảo quản trong điều kiện cách ẩm và tránh ánh sáng. Nguyên liệu được nghiền mịn và rây qua rây 1 mm, đạt kích thước 0,8-0,9mm nhằm làm dập tế bào trong lá chè để các chất hòa tan thoát ra dễ dàng trong quá trình trích ly. Nguyên liệu sau khi nghiền được trích ly bằng dung môi là nước nóng với khối lượng mẫu là 10g nguyên liệu/lần). Trích ly một lần với tỷ lệ dung môi nước so với nguyên liệu là 1/10 (g/ml) được trích ly ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Dịch chè được lọc nhằm loại bỏ thành phần bã ra khỏi dịch chè, sau đó hòa trộn với tá dược maltodextrin trước khi sấy phun tạo bột trà hòa tan bằng máy sấy phun B-290 Buchi. Mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần, 3 mẫu/nghiệm thức.

     

       

    Nguyên liệu

         
       

    Nghiền

         
         

    Nước

     

    Trích ly

         
         
       

    Lọc thô

         
         

    Maltodextrin

    Bổ sung tá dược

         
         
       

    Lọc tinh

         
         
       

    Sấy phun

         
    • Khảo sát nhiệt độ trích ly (75; 85; 95oC)
    • Thời gian trích ly (20; 30; 40; 50 phút)
    • Khảo sát tỷ lệ bổ sung maltodextrin theo tỷ lệ 5%; 10%; 15%
    • Khảo sát nhiệt độ sấy phun (150;160;170; 180; 190oC)
    • Khảo sát tốc độ bơm (25;

    30; 35; 40%)

     

    Sản phẩm trà hòa tan

     

    Hình 1. Phương pháp công nghệ sản xuất trà hòa tan quy mô phòng thí nghiệm.

     

    1218

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    2.2.2. Phương pháp phân tích

     

    • Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi: Dùng hơi nóng làm bay hơi lượng nước trong chè. Cân khối lượng chè trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong mẫu chè (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định chất hoà tan theo phương pháp Voronsov: Dùng hơi nước để bốc hơi nước dịch chiết xuất, còn lại là chất khô hòa tan, sấy khô đến khối lượng không đổi, chất hòa tan được tính theo % khối lượng khô của mẫu. Đây là phương pháp thông dụng, đơn giản (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001).

     

    • Xác định khả năng hòa tan của bột trà sau khi sấy: Để xác định khả năng hòa tan trong nước của bột trà hòa tan. Thí nghiệm được thực hiện với 20ml nước và 0,1g bột chè ở

     

    nhiệt độ 90oC với số lần lặp lại 3 lần, để quan sát đánh giá khả năng hòa tan của các chất tan trong nước. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách tính thời gian hòa tan.

     

    • Xác định polyphenol tổng số bằng phương pháp Folin – Denis: Phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc các hợp chất polyphenol trong dung dịch phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteau cho sản phẩm màu xanh lam, đo độ hấp thụ ở bước sóng 660 nm, lấy acid gallic làm chất chuẩn (Vũ Thỵ Thư và cs., 2001)

     

    • Định lượng cafein trong chè bằng Na2S203: Khi dung dịch chứa cafein, nếu có mặt HCl thì dung dịch trong KI sẽ chuyển toàn bộ cafein thành chất kết tủa có công thức như sau: C6H10O2N4KI4. Sau đó dùng Na2S2O3 0,1N chuẩn lượng I2 dư sẽ biết được lượng I2 tham gia phản ứng, từ đó tính được lượng cafein trong dung dịch thí nghiệm (Hà Duyên Tư, 2001)

     

    2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm thị hiếu về mức ưa thích (Hà Duyên Tư, 2016) để đánh giá chất lượng sản phẩm (theo thang điểm Hedonic).

     

    2.2.4. Phương pháp xử lý thống kê

     

    Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng ANOVA và kiểm định Turkey trên phần mềm Minitab 16.20 để so sánh các giá trị trung bình có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu

     

    Việc xác định thành phần hóa học của nguyên liệu ban đầu là cơ sở để đưa ra các thông số công nghệ trong quá trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hóa học của Hồng trà (Bảng 1).

     

    Bảng 1. Một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà

     

    Chỉ tiêu

    Đơn vị

    Kết quả

    Độ ẩm

    (%)

    4,64 ± 0,44*

    Hàm lượng chất hòa tan

    (% chất khô)

    22,89 ±2,09

    Hàm lượng cafein

    (%chất khô)

    2,05 ±0,16

    Hàm lượng polyphenol

    (%chất khô)

    15,86 ±0,01

    Ghi chú *: Sai số của giá trị

     

    Số liệu thực nghiệm thu được ở Bảng 1 cho thấy: Hàm lượng ẩm của nguyên liệu Hồng trà chiếm 4,64% nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng ẩm trong trà khô, đảm bảo

     

    1219

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256            Vol. 3(2) – 2019

     

    độ ẩm ≤ 7%, đạt theo TCVN 1454:1993. Chất hòa tan là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về chất lượng trà thành phẩm, chính là hàm lượng các chất chiết được. Hàm lượng chất hòa tan trong trà nguyên liệu chiếm khá cao đạt 22,89%. Hàm lượng cafein và polyphenol lần lượt chiếm 2,05% và 15,86%. Đây là những hoạt chất sinh học khá quan trọng. Nó là thành phần không thể thiếu của bất kỳ loại trà nào, giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị cho sản phẩm, đồng thời có tác dụng gây cảm giác hưng phấn cho người sử dụng. Như vậy, kết quả khảo sát một số thành phần hóa học cơ bản của nguyên liệu Hồng trà cho thấy loại nguyên liệu này đảm bảo các yêu cầu cho việc tạo ra sản phẩm bột trà.

     

    3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly

     

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình trích ly dịch trà ở ba mức nhiệt độ: 75oC, 85oC, 95oC. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10, thời gian trích ly là 20 phút. Kết quả được thể hiện ở Hình 2.

     

    Hàm lượng (% ck)

    20

         

    18,05a

           
                 

    15

                   
         

    12,61a

     

    12,50b

     
               

    10

     

    8,33c

           

    9,34b

     
                 
       

    6,70c

               

    5

                   
                   

    0

                   

    75

    85

       

    95

     
           
           

    Nhiệt độ trích ly (oC)

       

     Chất hòa tan  Polyphenol

     

    Hình 2. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả ở Hình 2 cho thấy khả năng trích ly và khả năng khuếch tán của các chất hòa tan bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ trích ly. Ở các mức nhiệt độ biến thiên từ 75 – 95oC, hàm lượng chất hòa tan và polyphenol trích ly được có giá trị tăng dần theo nhiệt độ và đạt giá trị cao nhất

     

    • nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 18,05%, polyphenol là 12,61%). Nhưng khi đến nhiệt độ 95oC thì hàm lượng các chất giảm thấp hơn nhiệt độ 85oC (chất hòa tan là 12,50%, polyphenol là 9,34%). Trong quá trình trích ly nếu nhiệt độ quá thấp thì không đủ nhiệt để hòa tan các hợp chất cần chiết làm giảm hiệu quả trích ly nhưng nếu nhiệt độ quá cao lại làm tăng các phản

    ứng hóa học gây ra những biến đổi bất lợi cho hợp chất cần trích ly, làm giảm khả năng trích

     

    1. Mặt khác, dựa vào màu sắc dịch trích ly trà, chúng tôi thấy khi trích ly ở nhiệt độ thấp 70oC thì dịch trích ly có màu nhạt hơn so với nhiệt độ 85oC và 95oC. Vì vậy, chọn nhiệt độ trích ly
    • 85oC là thích hợp để thu được dịch trích ly có hàm lượng chất hòa tan và polyphenol cao.

    3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly

     

    Sự ảnh hưởng của thời gian đến quá trình trích ly được nghiên cứu khảo sát ở bốn mức: 20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút. Các yếu tố cố định là nhiệt độ trích ly: 85oC (lấy từ nghiệm thức trước); tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình trích ly ảnh hưởng đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol được thể hiện ở Hình 3.

     

    1220

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    Hàm lượng (% ck)

    30

                             
               

    25,00a

               

    25

                           
     

    18,05b

     

    20,83ab

           

    19,44b

     
                 

    20

                 
     

    12,61c

    14,02

    b

     

    15,74a

     

    14,20b

           

    15

                     

    Chất hòa tan

                     
                         

    10

                           

    Polyphenol

                           
                           
                             
                             

    5

                             
                             

    0

                             

    20

    30

     

    40

    50

           
               
           

    Thời gian trích ly (phút)

               

    Hình 3. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hàm lượng chất hòa tan và polyphenol

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, thời gian trích ly ảnh hưởng nhiều đến quá trình trích ly. Khi thời gian trích ly tăng thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol tăng dần theo thời gian. Tại thời gian trích ly là 40 phút thì hàm lượng chất hòa tan và polyphenol đạt cao nhất (chất hòa tan là 25,00%, polyphenol là 15,74%). Ở thời gian trích ly 50 phút thì hàm lượng các chất giảm xuống so với thời gian 40 phút (chất hòa tan là 19,44% và polyphenol là 14,20%). Bởi vì các hoạt chất sinh học đều nhạy cảm với nhiệt độ cao, giữ trong thời gian dài sẽ dẫn đến sự phân hủy các hoạt chất sinh học tương tự như báo cáo của Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư (2009). Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian trích ly thích hợp là 40 phút để nghiên cứu các công đoạn tiếp theo.

     

    3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung tá dược maltodextrin đến chất lượng bột Hồng trà hòa tan

     

    Maltodextrin là một trong những tá dược (còn gọi là chất độn, chất trợ sấy) có ảnh hưởng lớn đến quá trình sấy phun và khả năng hòa tan của bột trà. Ảnh hưởng tỷ lệ maltodextrin bổ sung được khảo sát ở ba mức với tỷ lệ: 5%, 10%, 15%. Các yếu tố cố định là tỉ lệ nguyên liệu/nước: 1/10 với thể tích dịch trà: 150ml, trích ly ở nhiệt độ 85oC nhiệt độ trong thời gian 40 phút, nhiệt độ sấy phun là 170oC; tốc độ bơm: 30%. Kết quả thể hiện ở Hình 4 và Bảng 2.

     

    Nghiên cứu của Kha Chấn Tuyền và cs. (2010) chỉ ra hàm lượng maltodextrin có ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm của bột. Kết quả ở hình 4 cho thấy, tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà càng tăng thì độ ẩm bột trà càng giảm. Bổ sung tỷ lệ maltodextrin càng cao thì nồng độ chất khô của dịch càng cao, khi đó hàm lượng nước trong dịch sấy thấp nên quá trình bốc hơi nước xảy ra nhanh hơn, độ ẩm của bột sẽ thấp hơn (với tỷ lệ maltodextrin là 5% thì độ ẩm đạt 5,48%, tỷ lệ 10% là 4,82%, tỷ lệ 15% là 4,28%). Ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 15%, lượng bột nhiều nhất (15,13 g) nhưng hàm lượng polyphenol là thấp nhất (6,85%). Do đó màu sắc của bột trà nhạt đi nên khi pha sẽ bị ảnh hưởng đến màu, mùi và vị sản phẩm (Bảng 2).

     

    Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến tính chất cảm quan nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tỷ lệ maltodextrin

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     
     

    (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    5

    Đỏ nâu đậm có viền vàng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    10

    Đỏ nâu sáng có viền vàng

    Thơm vừa

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    15

    Đỏ nâu nhạt có viền vàng

    Thơm nhẹ

    Vị hơi ngọt,

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

             

    1221

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    50

                   

    45,00a

     

    45

                       
                       

    40

                       
                       

    35

                       
                   

    26,67c 28,33b

     

    30

                   
                       

    25

                       
                       

    20

             

    15,13a

         

    15

             

    11,29b

     

    a

       

    10

    5,48

    a

    4,82

    b

    6,09

    c

     

    9,52 7,91b6,85c

       
     

    4,28c

             

    5

                       
                       

    0

                       

    Độ ẩm (%)

    Khối lượng bột

    Polyphenol

    Khả năng hòa

     
     
             

    thu được (g)

    (%ck)

    tan (s)

     
               

    5%

    10%

    15%

       

    Hình 4. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung maltodextrin đến độ ẩm, khối lượng thu hồi bột, hàm lượng polyphenol và khả năng hòa tan của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Hơn nữa các mức bổ sung maltodextrin khác nhau thì khả năng hòa tan bột trà khác nhau. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở tỷ lệ bổ sung maltodextrin 5% thì khả năng hòa tan tan nhanh hơn so với 10% và 15%. Trong khi tỷ lệ bổ sung maltodextrin ở 5% thì tan nhanh và ít bị vón cục. Bổ sung maltodextrin tỷ lệ 15% thì khả năng hòa tan chậm đi do lượng maltodextrin chiếm nhiều nên vón cục nhiều hơn nên khó tan hơn. Vì thế chúng tôi chọn công thức tỷ lệ bổ sung maltodextrin 10% vì khả năng hòa tan tốt trong nước pha trà. Đồng thời sản phẩm bột có kích thước và cảm quan tốt. Kết quả này hoàn toàn thích hợp với công bố của Zhang và cs. (2005).

     

    3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến chất lượng bột trà

     

    Trong quá trình sấy phun, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bột trà. Nhiệt độ không khí đầu vào không nên vượt quá 180 – 190oC. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ sấy đến chất lượng bột ở các mức nhiệt độ khác nhau: 150oC, 160oC, 170oC, 180oC và 190oC. Các yếu tố cố định là tốc độ bơm nhập liệu: 35%; tốc độ gió 100%. Kết quả được thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3.

     

    Kết quả nghiên cứu ở Hình 5 cho thấy độ ẩm của bột trà ở tất cả các công thức thí nghiệm đều nhỏ hơn 6% đạt tiêu chuẩn theo TCVN 9739:2013. Qua nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun thấy rằng, hàm lượng ẩm thấp nhất khi sấy ở nhiệt độ 180oC nhưng ở nhiệt độ này thì có một ít vật liệu sấy bị cháy, sản phẩm bột bám lên thành của buồng sấy, sản phẩm giảm mùi thơm, vị đắng hơn. Mặt khác sấy ở nhiệt độ 150oC thì bột tạo ra có độ ẩm cao, khả năng thoát ẩm kém, bột bám dính vào thành buồng sấy.

     

    Khi tăng nhiệt độ sấy phun, hoạt chất polyphenol đã bị tổn thất và có xu hướng giảm dần. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sản phẩm bột trà. Đồng thời, quan sát trong quá trình sấy phun nhận thấy, ở nhiệt độ thấp (150 – 160oC) bột có độ ẩm cao, bám dính thành từng mảng ở thành buồng sấy. Ở nhiêt độ cao (180 – 190oC) thì bột có hiện tượng bị cháy bám

     

    1222

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    trên thành buồng sấy ảnh hưởng đến mùi và vị của bột. Còn ở nhiệt độ 170oC cho ra bột tơi, mịn có độ ẩm đạt 4,86% và hàm lượng polyphenol là 7,98%. Ở nhiệt độ này, bột ít bị bám dính và không bị cháy ở thành buồng sấy. Như vậy, mức nhiệt độ thích hợp là 170oC vì hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol cao và đảm bảo độ ẩm của trà thành phẩm (TCVN 5613:2007).

     

    9

     

    8,43a

     

    8,34a

     

    7,94b

     

    7,66c

               
                         

    8

                             
                       

    6,71d

    7

                       
           

    5,83a

                       

    6

     

    5,14

    ab

                         
           

    4,86abc

     

    4,30b

     

    4,72bc

    5

                 
                             

    Độ ẩm (%)

                             

    4

                               
                               

    Polyphenol (%ck)

                               

    3

                               
                                 
                                 

    2

                                 
                                 

    1

                                 
                                 

    0

                                 

    150

    160

    170

    180

     

    190 Nhiệt độ sấy phun (oC)

       

    Hình 5. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà hòa tan.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Ngoài hàm lượng polyphenol và độ ẩm, tính chất cảm quan của nước trà pha phản ảnh chất lượng cảm quan của bột trà hòa tan. Số liệu ở bảng 3 cho thấy ở nhiệt độ sấy phun thấp hơn 180oC, bột trà khi pha vẫn giữ được màu đỏ sáng và mùi thơm đặc trưng của Hồng trà. Khi nhiệt độ sấy phun trên 180oC, nước trà pha có màu đỏ nâu và mùi vị cũng kém dần đi.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ sấy phun đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Nhiệt độ

     

    Tính chất cảm quan của nước trà

     
     

    sấy phun (oC)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    150

    Đỏ có

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    viền vàng

    đặc trưng

           
     

    160

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    170

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu, có hậu

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

           
     

    180

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           
     

    190

    Đỏ nâu

    Thơm dịu

    Ít hậu vị, kém

    Trong, đồng nhất

     

    kém đặc trưng

    đặc trưng

           

    Các kết quả trên cho thấy nhiệt độ sấy phun đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và màu sắc nước pha. Nhiệt độ phù hợp cho quá trình sấy phun là 170oC.

    3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến chất lượng của bột trà

     

    Tốc độ bơm nhập liệu có ảnh hưởng lớn đến lưu lượng dòng nhập liệu, năng suất thiết bị, nhiệt độ không khí đầu ra của máy sấy phun. Vì hệ thống bơm nhập liệu của thiết bị nghiên cứu là bơm nhu động nên trong quá trình này, tốc độ bơm được nghiên cứu với các mức lần lượt là 25%, 30%, 35% và 40% thì tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu của máy sấy phun

     

    1223

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    B-290 Buchi thực tế là 8,3; 10,3; 12,3 và 14,3 (ml/phút). Các yếu tố được cố định là nhiệt độ sấy 170oC; tốc độ gió 100%. Kết quả nghiên cứu đươc thể hiện ở Hình 6 và Bảng 4.

    10

                             
     

    8,54a

     

    8,19b

     

    7,85d

     

    8,01c

             

    8

                     
                 

    5,16a

             

    6

     

    4,30b

     

    4,37b

     

    4,92a

             

    Độ ẩm (%)

    4

                       
                           
                             
                             

    2

                             
                             

    0

                       

    Tốc độ bơm

    25

    30

    35

    40

       
         
     

    nhập liệu (%)

                     
                               

    Hình 6. Biểu đồ biểu diễn ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến độ ẩm và hàm lượng polyphenol của bột trà.

     

    (Các giá trị trung bình được biểu thị trên biểu đồ có cùng chữ cái là không sai khác ở mức ý nghĩa 5%)

     

    Số liệu ở Hình 6 cho thấy, tốc độ bơm nhập liệu càng cao thì độ ẩm càng cao. Mẫu sản phẩm có tốc độ bơm thấp nhất (25%) đạt độ ẩm thấp nhất là 4,30% và ngược lại mẫu sản phẩm có tốc độ bơm cao nhất 40% thì đạt độ ẩm cao nhất là 5,16%. Tốc độ bơm nhập liệu tăng, đồng nghĩa với thời gian lưu của vật liệu sấy trong buồng sấy giảm, do đó hiệu quả sấy sẽ không cao độ ẩm sẽ tăng, phần hạt ẩm dính lại trong buồng sấy cũng tăng dẫn đến hiệu suất thu hồi sản phẩm sau quá trình sấy phun giảm. Tốc độ bơm nhập liệu càng tăng thì bột trà có hàm lượng polyphenol càng giảm. Hàm lượng polyphenol đạt giá trị cao nhất ở tốc độ bơm là 25% đạt 8,54% chất khô.

     

    Mặc dù ở tốc độ bơm 25% thì độ ẩm của bột sản phẩm tuy thấp hơn nhưng thời gian sấy dài. Đồng thời, với tốc độ bơm nhập liệu 30% tương ứng với lưu lượng dòng nhập liệu 10,3 ml/phút, hiệu quả thu nhận hàm lượng polyphenol và độ ẩm đảm bảo chất lượng của bột trà hòa tan. Sản phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol là 8,19% chất khô.

     

    Bảng 4. Ảnh hưởng của tốc độ bơm nhập liệu đến tính chất cảm quan của nước trà pha từ bột trà

     

     

    Tốc độ bơm

     

    Tính chất cảm quan của nước trà pha

     

    nhập liệu (%)

    Màu

    Mùi

    Vị

    Trạng thái

     

    25

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    30

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    35

    Đỏ nâu sáng

    Thơm dịu

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    đặc trưng

    có hậu

         
     

    40

    Đỏ nâu sáng

    Thơm yếu,

    Đậm dịu,

    Trong, đồng nhất

     

    có viền vàng

    kém đặc trưng

    kém đặc trưng

    Kết quả nghiên cứu (Bảng 4) cho thấy, khi tốc độ bơm nhập liệu từ 25 – 40%, màu sắc bột trà hòa tan vẫn đồng đều nhau, nước pha trà vẫn giữ được mùi thơm, vị đậm dịu, trong đồng nhất. Mùi vị sản phẩm giảm khi tốc độ bơm trên 35%. Tốc độ bơm thấp hơn 35% thì sản phẩm có mùi thơm dịu, đặc trưng, có hậu. Như vậy, tốc độ bơm nhập liệu đã ảnh hưởng đến quá trình sấy, tạo bột và mùi vị nước pha (Bảng 4). Tốc độ bơm phù hợp cho quá trình sấy phun là 30%.

     

    1224

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP                  ISSN 2588-1256                          Tập 3(2) – 2019

     

    3.7. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột trà hòa tan

     

    Đánh giá chất lượng cảm quan tổng thể của một sản phẩm là một chỉ tiêu không thể thiếu được, nói lên mức độ ưa thích của người tiêu dùng và giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành chế biến mẫu sản phẩm bột Hồng trà hòa tan ở quy mô phòng thí nghiệm. Sản phẩm được tiến hành phân tích, kiểm nghiệm một số chỉ tiêu hóa lý và cảm quan. Kết quả được thể hiện ở bảng 5 và bảng 6 sau đây:

     

    Bảng 5. Kết quả kiểm nghiệm chỉ tiêu hóa lý sản phẩm bột trà hòa tan

     

    Chỉ tiêu

    Phương pháp thử

    Kết quả mẫu thí

    TCVN

     

    nghiệm

    9739:2013

     
       

    Độ ẩm (%)

    TCVN 5613:2007

    5,0

    ≤ 6

     

    Hàm lượng tro tổng số (%)

    TCVN 5611:2007

    0,9

    ≤ 20

     

    Số liệu ở Bảng 5 và 6 cho thấy sản phẩm Hồng trà hòa tan đạt được các chỉ tiêu chất lượng nằm trong giới hạn cho phép về độ ẩm và hàm lượng tro tổng số theo TCVN 9739:2013 về bột trà hòa tan. Sản phẩm có tính chất cảm quan và khả năng hòa tan tốt.

     

    Bảng 6. Kết quả đánh giá chỉ tiêu cảm quan của sản phẩm

     

     

    Chỉ tiêu

    Tính chất

     

    Trạng thái

    Dạng bột mịn, đồng nhất, không bị vón cục

     

    Màu sắc

    Sản phẩm bột trà có màu kem, khi pha ra nước có màu nâu đỏ

     

    Mùi

    Sản phẩm còn giữ được mùi thơm thoảng của hồng trà,

     

    không có mùi khét, mùi lạ

       
     

    Vị

    Vị chát nhẹ, khi pha nước có vị ngọt dịu

    4. KẾT LUẬN

     

    Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận như sau:

     

    Trong quá trình trích ly trà bằng dung môi nước, nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian trích ly 40 phút là phù hợp.

     

    Tỷ lệ maltodextrin bổ sung vào dịch trà để làm chất trợ sấy thích hợp là 10% khi nhiệt độ trích ly 85oC và thời gian 40 phút.

    Sấy phun ở nhiệt độ 170oC với tốc độ bơm nhập liệu 30% cho sản phẩm có tính chất cảm quan tốt, bột chè thành phẩm có độ ẩm đạt 4,37% và hàm lượng polyphenol đạt 8,19% chất khô. Sản phẩm bột Hồng trà hòa tan có chất lượng tốt.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Tài liệu tiếng Việt

    Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Hoàng Hiệp và Trịnh Thanh Hùng. (2017). Đánh giá ảnh hưởng của thông số quy trình phun sấy đến chất lượng bột cao khô lá chè xanh (Camellia sinensis L.). Tạp chí Y – Dược học Quân sự, 4.

     

    Trịnh Xuân Ngọ. (2009). Nghiên cứu quy trình sản xuất nước giải khát từ chè xanh, chè đen. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2.

     

    Vũ Hồng Sơn và Hà Duyên Tư. (2009). Nghiên cứu trích ly polyphenol từ chè xanh vụn – Phần 1: Các yếu tố ảnh hưởng quá trình trích ly polyphenol. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 47(1).

     

    Nguyễn Văn Tặng. (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình sản xuất trà Actisô dạng viên sủi bọt. Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, 2.

     

    Vũ Thy Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm và Giang Trung Khoa. (2001). Các hợp chất hóa học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Nông Nghiệp.

     

    1225

     

    HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY         ISSN 2588-1256           Vol. 3(2) – 2019

     

    Hà Duyên Tư. (2016). Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật.

     

    Hà Duyên Tư. (2001). Quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

     

    Phạm Thành Quân, Tống Văn Hằng, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Nguyễn Tuyết Anh và Trương Ngọc Tuyển (2005). Trích ly polyphenol từ trà xanh sử dụng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng. Hội Nghị Khoa Học và Công Nghệ lần thứ 9.

     

    1. Tài liệu tiếng nước ngoài

    Bavan D. S. (2005). Hot water soluble tea. United States Patent Application Publication. US 2005/0884566 A1.

     

    Clark A. V. and Zientara F. J. (1984). Process for the production of a soluble tea product. United States Patent, 4, 472-441.

     

    Lunder T. L. (1997). Preparation of cold-water-soluble instant tea. United States Patent, 5.

     

    Mehta S. S., Sukumar V. and Virkar P. D. (2001). Process for producing tea concentrates. United States Patent, 6.

     

    Pandey R. K. and Manimehalai N. (2014). Production of Instant Tea Powder by Spray Drying.

    International Journal of Agriculture and Food Science Technology, 5(3), 197-202.

     

    Santo J., Kurusu T. and Kondo N. (2007). Process for the preparation of instant tea. United States Patent, 4.

     

    Tuyen Chau Kha, Minh Nguyen and Roach, P.D., (2010). Effects of sparay drying conditions on the physicochemical and antioxidant properties of Gac (Momordica cochinesis) fruit aril powder. Journal of Food Engineering, 90(3), 471-479.

     

    Zhang L.M, Zhou J. F. and Peter S. Hui. (2005). A comparative study on viscosity behavior of water-soluble chemically modified guar gum derivatives with different functionl lateral groups. Jounal of the Science of Food and Ariculture, 85, 2638-2644.

     

    EFFECTS OF SOME SPRAY DRYING PROCESS PARAMETERS ON THE QUALITY OF INSTANT BLACK TEA POWDER

     

    Nguyen Quoc Sinh1*, Nguyen Thi Diem Huong1, Nguyen Thanh Thuan2 1Hue University – University of Agriculture and Forestry; 2College of Food Industry, Da Nang

     

    *Contact email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    Instant black tea power is presently manufactured by spray drying of the extracted liquor from fully fermented tea leaves. In this study, effects of some process parameters on the quality of instant black tea powder by spray drying method were determined. The results showed that the extraction in water was strongly influenced by the extraction time and temperature. The optimum extraction conditions were found to be 85oC for 40min. Spray-dry added substance was maltodextrin at 10%. The spray drying operating conditions including inlet air temperature (170°C), feed flow rate (30%) were used for production of instant black tea power had an excellent sensory quality. In the instant black tea power, some quality factors were determined: moisture content 4,37% and polyphenol content 8,19%.

     

    Key words: Black tea power, extraction, polyphenol, spray drying, temperature.

     

    Received: 17nd March 2019               Reviewed: 27th March 2019               Accepted: 30th March 2019

     

    1226


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BB%A9ng-hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ng%C3%A0nh-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Nghiên cứu này vận dụng số liệu của 21 NHTM (NHTM) VN từ năm 2003 – 2008, xem xét liên hệ giữa chi phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, và giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi hàng năm với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM, để phản ánh được hiện trạng kỷ luật thị trường ngành

     

     

    ngân hàng (NH) VN giai đoạn 2003-2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỷ luật thị trường ngành NH VN có tồn tại nhưng rất yếu. Ngoài ta tác giả cũng tiến hành phân tích kỷ luật thị trường (KLTT) từng loại hình NHTM – NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM cổ phần (NHTMCP), để làm rõ thêm một số nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Cuối cùng tác giả gợi

     

    • một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu ứng KLTT [1] ngành NH VN – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát tài chính NH.

    Sự cần thiết của nghiên cứu

     

    Trong bản thảo năm 2001 với việc thảo luận hiệp định Basel mới, tác dụng KLTT đã được nhấn mạnh. KLTT, các yêu cầu vốn tối thiểu và quá trình kiểm tra giám sát được phối hợp với nhau, cùng nhau thành một trong ba trụ cột của cấu trúc khung hiệp ước mới. Một trong những hình thức biểu hiện cụ thể của KLTT chính là nhấn mạnh sự công khai minh bạch thông tin kinh doanh của các NHTM. Trong

    thực tế, cơ chế KLTT trong thực tiễn kinh doanh và trong hệ thống giám sát NH trước khi Basel II ra đời đã tồn tại: ví dụ như, nếu những người có lợi ích liên quan cho rằng rủi ro kinh doanh của một NHTM khá cao, người gởi tiền và người nắm giữ trái phiếu NH đó sẽ yêu cầu NH trả lãi suất tiền gởi cao hơn hay là sẽ rút tiền gởi ra khỏi NH

     

     

    đó, điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lực cạnh tranh của NH. Ở tình huống thông thường, khi KLTT tồn tại người gởi tiền yêu cầu NH có độ rủi ro cao sẽ phải chi trả tiền lãi cao, nếu không thì người gởi tiền sẽ rút tiền gởi của mình từ NH có độ rủi ro cao chuyển sang NH có độ rủi ro thấp.

     

    Trụ cột 3 – KLTT bổ sung cho các yêu cầu vốn tối thiểu (trụ cột 1) và quá trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2). Ủy ban Basel khuyến khích nguyên tắc thị trường bằng việc phát triển một bộ các yêu cầu minh bạch, cho phép người tham gia thị trường đánh giá các thông tin chủ chốt, đánh giá độ rủi ro của các NHTM. KLTT có thể góp phần cho môi trường hoạt động NH an toàn và lành mạnh, các tổ chức giám sát NH có thể yêu cầu các NHTM phải cung cấp thông tin cho thị trường, điều này giúp cho các chủ thể liên quan giám sát hoạt động NHTM – một yếu tố cấu thành của hệ thống giám sát NH (Hệ thống giám sát ngân hàng gồm yếu tố cấu thành

    sau: cơ quan giám sát của nhà nước, cơ chế kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, KLTT, cơ chế hợp tác giám sát quốc tế; và các thành phần khác như: tổ chức bảo hiểm tiền gởi, hai ngành tài chính NH, các tổ chức đánh giá tín nhiệm,…

     

    • KLTT cũng đã được Ông Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia trong

     

    NGUYỄN CHÍ ĐỨC & HOÀNG TRỌNG

     

    khuyến nghị về tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính nhắc đến. Ông cho rằng “thế kiềng ba chân” (1. Quản trị doanh nghiệp tốt; 2. Cơ chế kỷ luật thị trường phát huy tác dụng đầy đủ; 3. Các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả) cần được phát triển cân bằng.

     

    Trong lĩnh vực nghiên cứu KLTT, các nhà nghiên cứu nước ngoài trong ngành NH đã nghiên cứu rất sâu và đạt được nhiều thành tựu, đồng thời đại đa số là nghiên cứu thực chứng người gởi tiền thực hiện KLTT. So sánh ở VN, chỉ vài năm gần đây cùng với việc ra đời Basel II, và việc cam kết thực hiện giám sát NH theo hiệp ước Basel II năm 2004, chúng ta mới biết đến KLTT như là một trong ba trụ cột của hiệp ước Basel II. Do vậy việc nghiên cứu KLTT ở khía cạnh định tính cũng như định lượng còn chưa phát triển. Đây là lý do chủ yếu tác giả muốn nghiên cứu hiện trạng KLTT ngành NH VN hiện nay trên

     

    26             PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    cơ sở phân tích định lượng.

     

    Mô hình, định nghĩa biến, và xử lý số liệu

     

    Mô hình

     

    Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Huizinga (1999 và 2004). Thông qua kiểm nghiệm mối quan hệ tương quan giữa lãi suất huy động thực tế của NHTM (chi phí trả lãi tiền gởi I) và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi (G) với rủi ro của NHTM (X) để khảo sát tình hình KLTT ngành ngân hàng của một quốc gia. Để tiến hành phân tích, phương pháp khá nổi tiếng

     

    Biến số

    Định nghĩa

     

    Dự đoán hệ số

       

    Ij,t (biến phụ

    lãi suất huy động của NH tại thời điểm t (tỷ lệ

             

    tổng chi phí trả lãi thực tế j mỗi năm và tổng nợ

             

    thuộc)

    phải trả.)

             
               

    Gj,t (biến phụ

    tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của NHj tại thời điểm

             

    t (tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động của khách

             

    thuộc)

    hàng.)

             
               

    GQj.t-1

    tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản

    Âm đối với Ij,t

    với

     

    Dương

    đối

     
         

    Gj,t

         

    LDj.t-1

    tỷ lệ lưu động (tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên

    – Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    – Dương đối với Gj,t

     

    LRj.t-1

    tỷ lệ lợi nhuận (tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế trên

    Âm đối với Ij,t

       

    tổng tài sản)

    Dương

    đối

    với

     
         

    Gj,t

         

    Dj.t

    bảo hiểm tiền gởi

    Âm đối với Ij,t

       

    NHTMNN là 1, NHTMCP là 0

    Dương

    đối

    với

     
       

    Gj,t

    đối

    với

     
       

    Dương

     

    Yj.t

    Tỷ lệ lạm phát

    Ij,t

         
       

    Âm đối với Gj,t

     
           

    này nhìn từ hai góc độ: NHTM có độ rủi ro cao có phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao, và NHTM có độ rủi ro cao sẽ thu hút số lượng tiền gởi ít hơn hay không. Tác giả áp dụng mô hình này để phân tích tình hình VN. Phương trình tính toán như sau:

     

    B j.t =α + β X j.t1 + γ Y j.t  + δ

     

    • Bj,t: Ij,t lãi suất huy động tiền gởi (chi phí trả lãi thực tế) của

    ngân hàng j

     

    • Bj,t: Gj,t tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi của ngân hàng j
    • Xj,t-1: biểu thị biến số trạng thái rủi ro ở thời kỳ t-1của ngân hàng j
    • GQj,t-1 (tỷ lệ vốn trên tài sản)
    • LDj,t-1 (tỷ lệ lưu động)
    • LRj,t-1 (tỷ lệ lợi nhuận)
    • Yj,t : biến kinh tế vĩ mô, lấy chỉ số tỷ lệ lạm phát
    • Dj,t : bảo hiểm tiền gởi (BHTG) [3] là biến nhị phân.
    • Dj,t × Xj,t-1: là tích của hai biến Dj,t và Xj,t-1
    • εj,t : là phần dư của mô hình.

    Giải thích các biến và lựa chọn:

     

    Tác giả áp dụng mô hình tính toán trên với một số điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của VN, tình hình số liệu mà tác giả đã thu thập được, và một số lý do khác. Cụ thể, việc lựa chọn các biến số và định nghĩa các biến số

     

    D j.t D j.t X j.t−1 + ε j.t

     

    có một số thay đổi như sau:

     

    • Tác giả không sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu (căn cứ để tính tỷ lệ này có chỉ tiêu tổng tài sản được điều chỉnh theo rủi ro) vì tác giả nhận thấy số liệu báo cáo của các NHTM về các chỉ tiêu trên chưa đảm bảo độ tin cậy.
    • BHTG ở đây tác giả muốn nhấn mạnh sự bảo đảm tín dụng của Nhà nước đối với hoạt động của các NHTMNN, để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế VN khi hệ thống NHTMNN vẫn tồn tại và chiếm vai trò chủ yếu, đồng thời Công ty bảo hiểm tiền gởi VN vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế. Vì vậy tác

    giả gọi BHTG tại VN là BHTG ẩn.

     

    • Công chúng biết kết quả kinh doanh các NHTM thường có độ trễ, giả định là một kỳ. Chúng ta thêm một biến chỉ tiêu vĩ mô, chọn tỷ lệ lạm phát thể hiện rủi ro hệ thống.

    Định nghĩa các biến

     

    – Tác giả cho rằng các NHTM sau: VCB (NHTMNN cổ phần hóa); Vietinbank (NHTMNN cổ phần hóa); BIDV; Agribank; MHB là NHTMNN.

     

    Nguồn số liệu

     

    Để tính toán các chỉ tiêu trên, tất nhiên cần phải tiến hành thu thập và chỉnh lý số liệu, tác giả sử dụng số liệu tổng hợp có liên quan từ năm 2003 – 2008 của 21 NHTM, trong đó có 5 NHTMNN và 16

     

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát tác giả tham khảo từ báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước.
    • Các chỉ tiêu Ij,t ; Gj,t ; GQt-1 ; LDj.t-1 ; LRj.t-1 ; Dj.t tác giả tự tính trên cơ sở tập hợp các báo cáo tài chính của 21 NHTM VN từ năm 2003 đến năm 2008. (VCB; Vietinbank; BIDV; Agrib-ank; MHB; ACB; STB; EIB;

    Số 10 – Tháng 3/2011  PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP

     

    27

     
           
           

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB) (Nguyễn Chí Đức, Hoàng Trọng 2009).

     

    Tất cả các số liệu tác giả đề cập đều được tính toán và lựa chọn phù hợp nên có tính tin cậy, và sử dụng được cho phân tích.

     

    Kết quả tính toán và phân tích kết quả

     

    Sau khi xây dựng bảng dữ liệu, tác giả sử dụng chương trình máy tính SPSS kiểm nghiệm mô hình. Các kết quả lần lượt được trình bày trong các phần tiếp theo (chú ý: những con số trong dấu ngoặc là hệ số hồi qui đã chuẩn hóa; * và ** là có ý nghĩa thống kê ở mức 10% và 5%).

     

    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chí phí huy động tiền gởi với mức độ rủi ro trong hoạt động của các NHTM.

     

    1a. Mẫu là toàn bộ các NHTM

     

    Các phương trình từ (1) đến (6)

    kiểm nghiệm ảnh hưởng tình hình rủi ro của NHTM và BHTG ẩn đến chi phí trả lãi thực tế của ngân hàng.

     

    • Trong các phương trình từ (1) đến (3), chúng ta lần lượt dùng 3 biến rủi ro tính toán ảnh hưởng đối với lãi suất huy động, áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (GLS) tiến hành tính

    toán. Kết quả cả LDj.t-1, LRj.t-1 đều có hệ số hồi qui âm, biểu thị

     

    LDj.t-1, LRj.t-1 cao sẽ làm giảm lãi suất huy động thực tế. Nhưng

     

    cả hai đều không là thể hiện rõ vì ý nghĩa thống kê kém. Còn

     

    GQj.t-1 có hệ số hồi qui dương, tương phản với dự đoán.

     

    • Các phương trình từ (4) đến
    • ứng với 3 biến rủi ro là GQt-1, LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi qui chúng ta đồng thời lấy các biến

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1 nạp vào trong mô hình. Kết quả là

     

    cả 3 biến rủi ro đều có hệ số âm phù hợp với dự đoán, nhưng đều

    có ý nghĩa thống kê kém. Trong tất

     

    cả các lần hồi qui, Yj.t đều có hệ số dương cùng dấu với dự đoán,

     

    và có ý nghĩa thống kê, thể hiện rõ ràng là khi lạm phát tăng thì lãi suất huy động tăng. Trong tất cả các lần hồi qui, giả định (4) và (5)

     

    Dj.t có hệ số âm cùng dấu với dự đoán, và (4) thể hiện rõ rệt, trong

     

    khi (6) Dj.t có hệ số dương ngược dấu với dự đoán nhưng không có ý

     

    nghĩa thống kê. Đây có thể là biểu thị của việc BHTG ẩn, sự bảo đảm của Nhà nước, làm giảm lãi suất huy động đối với các NHTMNN là có, nhưng không quá rõ ràng. Vậy chúng ta cũng sẽ phải đặt câu hỏi là cơ chế BHTG ẩn này có bao gồm tất cả các NHTM hay không.

     

    Từ những phân tích trên có thể nhận xét là KLTT có tồn tại nhưng

     

    rất yếu, qua đó hai chỉ tiêu LDj.t-1 (tỷ lệ thanh khoản), LRj.t-1 (tỷ lệ

     

    lợi nhuận), có ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn. Chỉ tiêu lạm phát Yj.t rõ ràng ảnh hưởng đến lãi suất huy động, đúng với lý thuyết

     

    Bảng 1: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

         

    Các phương trình

         

    Biến số

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

     
                   

    GQj.t-1

    0.043

       

    -0.008

         

    (0.087)

       

    (-0.015)

         

    LDj.t-1

     

    -0.058

       

    -0.098

       
     

    (-0.077)

       

    (-0.131)

       

    LRj.t-1

       

    -0.014

       

    -0.008

     
       

    (-0.137)

       

    (-0.078)

     

    Dj.t

         

    -0.023 (**)

    -0.005

    0.005

     
         

    (-0.351)

    (-0.069)

    (0.072)

     

    Yj.t

         

    0.329 (**)

    0.328 (**)

    0.34 (**)

     
         

    (0.547)

    (0.544)

    (0.565)

     

    Dj.t * Xj.t-1

         

    0.302

    -0.113

    -0.086 (**)

     
         

    (0.229)

    (-0.111)

    (-0.315)

     

    Tổng quan

    104

    104

    104

    104

    104

    104

     

    sát

                 

    R2

    -0.002

    -0.004

    0.009

    0.295

    0.302

    0.338

     
                   

    F

    0.789

    0.612

    1.975

    11.875

    12.255

    14.263

     
                   

    tài chính tiền tệ.

     

    1b. Mẫu là từng nhóm NHTM Tiến thêm một bước, chúng ta

     

    loại bỏ Dj.t ra khỏi phương trình, để so sánh sự thay đổi của lãi suất huy động của hai nhóm NHTM có bị tác động ảnh hưởng của một số nhân tố giống nhau hay không, ví dụ như kết quả kinh doanh của NHTM và nhận thức của người gởi tiền đối với rủi ro NH. Người gởi tiền có sự phân biệt giữa NHTMNN và NHTMCP hay không, hay nói cách khác BHTG ẩn hiện nay bao trùm lên toàn bộ hệ thống NHTM, hay Nhà nước chỉ bảo đảm tín dụng đối với nhóm NHTMNN. Trong các phương trình hồi qui từ (7) đến (12), chúng ta tiến hành tính toán cho từng nhóm NHTM. Cách tính toán đối với mỗi nhóm ngân hàng là giống nhau, tức là lần lượt

     

    28           PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

                                         

    (18) có 3

    biến rủi

    ro: GQj.t-1,

    Bảng 2: Kết quả tính toán phương trình hồi qui đối với tất cả

     
     

    LDj.t-1, LRj.t-1. Trong mỗi lần hồi

    NHTM (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực tế)

       
       

    qui chúng ta đồng thời đưa biến

           

    NHTMNN

                 

    NHTMCP

       

    Biến

                           

    kiểm soát Yj.t, Dj.t và Dj.t × Xj.t-1

     

    (7)

     

    (8)

    (9)

         

    (10)

       

    (11)

       

    (12)

         
                                         

    vào trong mô hình. Kết quả là:

       

    0.265 (*)

               

    -0.009

                     

    GQj.t-1

                                   

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

     

    (0.327)

               

    (-0.017)

                   
                                         

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    LDj.t-1

         

    -0.203

                 

    -0.102

             
         

    (0.247)

                 

    (-0.138)

           

    kê, còn LRj.t-1 có hệ số âm, ngược

             

    -0.093

                   

    -0.008

       

    với dự đoán. Yj.t trong tất cả các

    LR

           

    (**)

                         

    j.t-1

           

    (-0.651)

                 

    (-0.843)

     

    phương trình có được 1 dấu hiệu rõ

       

    0.267

     

    0.236

    0.331

       

    0.347

       

    0.356

     

    0.342

       

    ràng, cho thấy Yj.t có tác dụng ảnh

    Yj.t

     

    (**)

     

    (**)

    (**)

         

    (**)

       

    (**)

       

    (**)

         
                           

    hưởng giảm thấp tăng trưởng tiền

       

    (0.619)

     

    (0.548)

    (0.767)

       

    (0.546)

     

    (0.56)

     

    (0.537)

     

    gởi. Dj.t có 1 phương trình có hệ

    Tổng

                                       

    quan

     

    24

     

    24

    24

         

    79

       

    79

       

    79

         

    số dương, 2 mô hình hệ số âm, và

    sát

                                       

    trong đó 1 mô hình là có ý nghĩa

    R2

     

    0.331

     

    0.288

    0.625

         

    0.279

       

    0.298

       

    0.285

         
                           

    thống kê ngược dấu với dự đoán.

                                         

    F

     

    6.939

     

    5.855

    20.963

       

    16.252

       

    17.737

     

    16.734

       

    − Qua phân tích chúng ta có thể

                                         

    nhận thấy thị trường quan tâm đến

               

    2a. Kiểm nghiệm toàn bộ các

    áp dụng GQj.t-1, LDj.t-1, LRj.t-1

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1

    (tỷ lệ vốn tự

    là biến rủi ro, lấy Yj.t là biến kiểm

    NHTM

                   

    có trên tổng tài sản), KLTT có tồn

    soát khi hồi qui.

           

    − Trong các phương trình (13)

    tại.

           

    − Trong các phương trình (7)

    (14) (15), chúng ta lần lượt xem

    2b. Mẫu là từng nhóm NHTM

    (8) (9), tiến hành hồi qui 3 lần đối

    xét ảnh hưởng của 3 biến rủi ro

    Tiến thêm một bước nghiên

    với NHTMNN. Kết quả là GQj.t-1

    đối với tăng trưởng tiền gởi, áp

    cứu, chúng ta loại bỏ Dj.t ra khỏi

    có hệ số dương, có ý nghĩa thống

    dụng phương pháp bình phương

    phương trình, so sánh  tỷ lệ tăng

    kê, ngược với dự đoán; LDj.t-1

    nhỏ nhất thông thường. Kết quả là:

    trưởng tiền gởi của 2 nhóm NHTM

    và LRj.t-1

    có hệ số âm, trong đó

    GQj.t-1, LDj.t-1 có hệ số dương,

    có bị tác động ảnh hưởng của một

    LRj.t-1 có ý nghĩa thống kê.

     

    trong đó GQj.t-1 có ý nghĩa thống

    số nhân tố giống nhau hay không.

    − Trong các phương trình (10)

    kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược với

    Nếu chỉ số thống kê của nhóm

    (11) (12) tiến hành hồi qui 3 lần đối

    dự đoán.

                   

    NHTMNN đối sự với ảnh hưởng

    với NHTMCP. Kết quả là GQj.t-1,

       

    − Các phương trình (16) (17)

    đến chỉ tiêu tăng trưởng tiền gởi

    LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm

                                         

    phù hợp với dự đoán, nên phần nào

           

    Bảng 3: Kết quả tính toán đối với tất cả NHTM

    cũng phản ánh được một kỷ luật

               

    (Biến phụ thuộc là tăng trưởng tiền gởi)

       

    thị trường có hoạt động ở nhóm

     

    Biến số

     

    (13)

     

    (14)

     

    (15)

     

    (16)

     

    (17)

     

    (18)

    NHTMCP

    này,  tuy

    yếu  nhưng

             

    6 . 6 0 3

                 

    6.512 (**)

           
     

    GQj.t-1

     

    (**)

                         

    mạnh hơn kỷ luật thị trường ở

                     

    (0.434)

           
             

    (0.44)

                         

    nhóm NHTMNN.

         

    LDj.t-1

           

    (0.119)

               

    (0.136)

       
                               

    2.718

               

    3.113

       

    − Trong cả 6 phương trình ở 2

                                         
                         

    -0.208

             

    -0.29

    nhóm NHTM, thì Yj.t đều có hệ số

     

    LRj.t-1

                           
                   

    (-0.065)

           

    (-0.091)

    dương có ý nghĩa thống kê, phản

                                         
     

    Dj.t

                         

    0.06

     

    -0.134

     

    -0.504 (*)

    ánh được một cơ chế lãi suất hình

                           

    (0.03)

     

    (-0.067)

     

    (-0.25)

    thành trên nền kinh tế thị trường

     

    Yj.t

                         

    -2.743 (*)

     

    -2.566

     

    -2.451

                           

    (-0.15)

     

    (-0.141)

     

    (-0.134)

    đang được phản ánh rất rõ nét.

                                           
       

    Dj.t x Xj.t-1

                       

    -4.861

     

    -5.085

     

    0.182

                                         

    2. Kiểm định mối quan hệ tương

                         

    (-0.121)

     

    (-0.164)

     

    (0.022)

    quan giữa tỷ lệ tăng trưởng tiền

     

    Tổng quan

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    104

     

    sát

                 

    gởi hàng năm với mức độ rủi ro

                                     
     

    R2

       

    0.186

     

    0.005

     

    -0.005

     

    0.192

     

    0.049

     

    0.039

    trong hoạt động của các NHTM.

                                         
     

    F

       

    24.767

     

    1.476

     

    0.438

     

    7.195

     

    2.327

     

    2.048

                               
                                                     

    Số 10 – Tháng 3/2011    PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP         29

     

     Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    Bảng 4: Kết quả tính toán đối với 2 nhóm NHTM

    (Biến phụ thuộc là lãi suất huy động thực)

     

    Biến

     

    NHTMNN

       

    NHTMCP

       

    (19)

    (20)

    (21)

    (22)

    (23)

    (24)

     
     
     

    2 . 6 6 6

       

    6 . 5 4 7

         

    GQj.t-1

    (**)

       

    (**)

         
     

    (0.543)

       

    (0.408)

         
       

    – 2 . 1 3 0

       

    3.180

       

    LDj.t-1

     

    (**)

           
         

    (0.135)

       
       

    (-0.428)

             
         

    – 0 . 3 2 3

       

    -0.297

     

    LRj.t-1

       

    (*)

       
           

    (-0.92)

     
         

    (-0.373)

           

    Yj.t

    -0.617

    -0.922 (*)

    -0.631

    -3.367

    -3.085

    -2.952

     

    (-0.236)

    (-0.353)

    (-0.241)

    (-0.166)

    (-0.152)

    (-0.145)

     

    Số quan

    24

    24

    24

    79

    79

    79

     

    sát

                 

    R2

    0.363

    0.261

    0.194

    0.163

    0.012

    0.002

     

    F

    7.84

    5.249

    3.895

    8.7

    1.468

    1.075

     

    chỉ tiêu rủi ro của các NHTMNN (tất nhiên còn nhiều lý do khác như người gởi tiền có qua ít con đường để đầu tư). Còn đối với các NHTMCP, là các doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận, nhận sự bảo đảm tín dụng và giúp đỡ của nhà nước có giới hạn, đã từng có những NHTMCP nhỏ sụp đổ, đóng cửa, hay sáp nhập, vì vậy người dân sẽ phải quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro. Nhưng xét trên tổng thể mà nói, KLTT của ngành NH VN trong một nền kinh tế toàn cầu là còn rất yếu, chưa thể xem đó là một

     

    không rõ ràng, trong khi nhóm NHTMCP mà rõ ràng hơn, thì ít nhất chúng ta có thể xác định được KLTT đối với nhóm NHTMCP phản ứng mạnh hơn. Như vậy một sự lý giải hợp lý cho việc KLTT của nhóm NHTMNN yếu hơn chính là chế độ BHTG ẩn, sự bảo đảm tín dụng của nhà nước đối với NHTMNN, khiến cho người gởi tiền phản ứng một cách không rõ ràng đối với các chỉ tiêu rủi ro NH, hay cũng có thể nói họ không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro này. Còn đối với nhóm NHTMCP không có được chế độ BHTG ẩn, hay nếu có thì bị giới hạn, vì vậy người dân không thể không quan tâm đến các chỉ tiêu rủi ro, hay chí ít là có quan tâm mạnh hơn so với nhóm NHTMNN, để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

     

    Trong các phương trình (19),

     

    • và (21), GQt-1 có hệ số dương cùng dấu với dự đoán và

    có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Trong

     

    khi 2 biến rủi ro còn lại LDj.t-1 và LRj.t-1 đều có hệ số âm, ngược dấu dự đoán và cũng có ý nghĩa thống

     

    kê. Từ phân tích trên ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMNN rất yếu hay có thể nói

    là hầu như không có.

     

    • Trong các phương trình (22),
    • và (24), GQt-1 và LDj.t-1 có hệ số dương, trong đó GQj.t-1 phản

    ứng có ý nghĩa thống kê, LRj.t-1 có hệ số âm, ngược dấu với hệ số dự

     

    báo nhưng không có ý nghĩa thống kê. Từ đó ta có thể nhận định kỷ luật thị trường của nhóm NHTMCP cũng không phải là mạnh nhưng so với nhóm NHTMNN thì phản ứng có rõ ràng hơn.

     

    • Cả 6 giả định thì Yt đều có hệ số âm, cùng dấu với hệ số dự

    báo.

     

    • Thị trường quan tâm đến

    chỉ tiêu rủi ro GQj.t-1 (tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản), nên khiến

     

    cho chỉ tiêu rủi ro này phản ứng tác động đến biến tăng trưởng tiến gởi, người dân có quan tâm đến chỉ tiêu này ở ngành NH VN.

     

    Như vậy quan điểm của người dân về quy tắc Too big to fail (NH lớn không thể chết) ở VN vẫn đang tồn tại. Nhà nước vì xã hội và sự ổn định nền kinh tế sẽ không để cho các NHTMNN sụp đổ. Quan điểm này đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của mọi người, vì vậy loại BHTG ẩn này đã làm cho người gởi tiền hầu như không quan tâm đến các

    bộ phận cấu thành trong hệ thống giám sát tài chính NH VN.

     

    Kết luận và thảo luận

     

    Từ hai góc độ phân tích là lãi suất huy động và tăng trưởng tiền gởi của các NHTM, thì chúng ta có kết quả tương đồng về KLTT

     

    • ngành NH VN, và đối với từng nhóm NHTM.
    • KLTT đã bắt đầu hình thành trong ngành NH VN, nhưng hoạt động còn yếu.
    • KLTT của nhóm NHTMNN hoạt động yếu hơn so với nhóm

    NHTMCP.

     

    • Tỷ lệ lạm phát quan hệ rất chặt chẽ với lãi suất huy động vốn và tỷ lệ tăng trưởng tiền gởi theo đúng với lý thuyết tài chính tiền tệ, từ đó chúng ta có thể cho thấy được phần nào các quy luật tài chính tiền tệ đang hoạt động có hiệu quả tại VN.
    • Cũng nên thừa nhận, trong hơn 20 năm, BHTG ẩn của Nhà nước ở một mức độ nhất định đã duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, nhưng cùng với sự cải cách không ngừng của ngành NH, Chính phủ không nên tiếp tục duy trì việc bảo hộ che chở cho các NHTM (NHTMNN hay

    30            PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP   Số 10 – Tháng 3/2011

     

    Kinh Tế & Ứng Dụng

     

    NHTMCP), cần xây dựng chế độ BHTG phù hợp với nguyên tắc thị trường thay thế chế độ BHTG ẩn

     

    – đó là 1 chế độ BHTG hiệu quả và mạng lưới an toàn tài chính với cơ chế người cho vay cuối cùng là NHNN làm nội dung chủ yếu. Vì vậy xây dựng chế độ BHTG hiệu quả nên trở thành một bước đi quan trọng trong việc cải cách sâu rộng ngành NH nước ta.

     

    • Đồng thời tiếp tục tăng cường giám sát ngân hàng, kiểm soát nội bộ, tăng cường minh bạch thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng.
    • Phải nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác báo chí, làm sao cho người dân hiểu và tin cậy thông tin của các tổ chức truyền thông đưa ra, tổ chức truyền thống này đang bảo vệ họ, chứ không phải đang bảo vệ cho một số cá nhân có thế lực nào đó.
    • Đặc biệt là phải làm sao nâng cao trình độ hiểu biết của nhà đầu tư về lĩnh vực tài chính NH (vì theo tác giả, hiện nay đại bộ phận người gởi tiền xem không hiểu các báo cáo mà NHTM công bố, cho nên họ cũng không quan tâm đến các chỉ tiêu tài chính, thông tin tài chính của NHTM, đây cũng là một lý do KLTT ngành ngân hàng hoạt động rất yếu).
    • Tất cả các vấn đề trên không phải là một sớm một chiều có thể giải quyết được. Vì vậy việc quá đề cao kỷ luật tự thân của thị trường (bàn tay vô hình) hay quá dựa dẫm vào hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp trong khi lại không chú trọng đúng mức tới vai trò điều tiết và giám sát của Nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới khủng hoảng, đổ vỡ nền tài chính (bài học ở Mỹ năm 2008) (Nguyễn

    Chí Đức, Hoàng Trọng 2009). Đây cũng là một bài học cho hệ thống tài chính NH VN, khi mà nền kinh tế thị trường còn rất non trẻ và chưa hoàn hảo, thì chắc chắn bàn tay vô hình chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó, thì hiển nhiên vai trò thanh tra giám sát của các cơ quan nhà nước phải được đề cao và chú trọng, phải là một khâu mấu chốt của Hệ thống thanh tra giám sát tài chính ngân hàng VN giai đoạn hiện nay. Đây là một vấn đề không cần phải tranh luận.

     

    Cụ thể vừa qua Chính phủ thông qua Quyết định Số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 Về việc thành lập Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN. (Việc thành lập Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức NHNN với mục tiêu nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế). Quyết định số 398/1999/ QĐ-NHNN3 về hoạt động giám sát từ xa, quyết định số 06/2008/ QĐ-NHNN về xếp loại NHTM cổ phần, Quyết định số 457/2005/ QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, và nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến vấn đề tổ chức cơ cấu và nghiệp vụ thanh tra giám sát ngành ngân hàng, tăng cường công tác thanh tra giám sát các TCTD là rất phù hợp và cần thiếtl

     

    • Market discipline
    • Theo kết cấu luận văn “Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng VN và bài học từ Trung quốc” của NCS Nguyễn Chí Đức, Trường Đại học Đồng Tế, Thượng Hải, Trung Quốc.
    • Deposit Insurance

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà Nước VN
    1. Báo cáo tài chính của 21 NHTM: VCB; Vietinbank; BIDV; Agribank; MHB; ACB; STB; EIB; TCB; EAB; MB; SGB; VIB; OCB; PNB; VPB; NAB; HDB; ABB; GDB; SCB.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) “Market discipline and financial safety net design”, Finance, Policy Research Working Paper, Development Research Group, The World Bank.
    1. Demirguc-Kunt và Huizinga (2004) “Market discipline and deposit insurance” Journal of Monetary Economics, 51, 2004.
    1. Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2009) “Phân tích hệ thống giám sát tài chính ngân hàng VN”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng tháng 12 năm 2009.
    1. Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày
    • tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
    1. Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh Tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước VN.

    Số 10 – Tháng 3/2011   PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP          31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Customer satisfaction with online group buying services


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-marketing-mix-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-nh%E1%BA%ADn-bi%E1%BA%BFt-li%C3%AAn-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-v%C3%A0-l%C3%B2ng-trung-th%C3%A0nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Sanest-Kh%C3%A1nh-H%C3%B2a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ MARKETING-MIX ĐẾN SỰ NHẬN BIẾT, LIÊN TƯỞNG VÀ LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU – TRƯỜNG HỢP SANEST KHÁNH HÒA

     

    THE INFLUENCE OF MARKETING-MIX ELEMENTS ON THE AWEARNESS, ASSOCIATIONS AND LOYALTY OF BRAND – A SITUATION OF KHANH HOA SANEST

     

    Lê Thị Hồng Yến1, Hồ Huy Tựu2

     

    Ngày nhận bài: 01/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 26/11/2013; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu kiểm định vai trò và mối quan hệ của các yếu tố marketing-mix (chất lượng, giá, phân phối và xúc tiến) đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu cho Sanest Khánh Hòa. Dựa vào 333 mẫu điều tra khách hàng, phương pháp phân tích CFA, SEM để đánh giá độ tin cậy, giá trị các thang đo, kiểm định mô hình đề xuất, giả thuyết. Kết quả là bốn nhân tố marketing-mix đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Đến lượt nó, lại có ảnh hưởng dương đến lòng trung thành thương hiệu. Nghĩa là, các yếu tố marketing-mix đều ảnh hưởng gián tiếp đến lòng trung thành thông qua nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Điều này là quan trọng giúp Sanest Khánh Hòa có những định hướng phù hợp trong chiến lược marketing-mix để xây dựng và phát triển thương hiệu.

     

    Từ khóa: marketing-mix, nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu, Sanest Khánh Hòa

     

    ABSTRACT

     

    This study tests the role of marketing-mix elements (quality, price, distribution and promotion) on the awareness, associations and loyalty of brand for the case of Khanh Hoa Sanest company. Based on a data set of 333 customers, confi rmatory factor analysis (CFA) and structural equation model (SEM) were used to assess the reliability and validity of the constructs, and to test the proposed theoretical model and hypotheses. Results show that the marketing-mix elements have positive effects on the awareness and associations of brand. In its turn, on the awareness and associations of brand has a positive effect on brand loyalty. Therefore, the results say also that the marketing-mix elements have indirect effects on brand loyalty via the awareness and associations of brand. The results are important to help Khanh Hoa Sanest company with its marketing-mix strategies which need to build and develop the brand.

     

    Keywords: marketing-mix, awareness, association and brand loyalty, Khanh Hoa Sanest

     

     

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Các tranh luận về mặt lý thuyết và thực tiễn gần đây trên thế giới cho rằng chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu là các thành phần cốt lõi của giá trị thương hiệu và các nhân tố marketing-mix là tiền đề quan trọng tạo nên giá trị thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Keller, 2001; Wood, 2000). Mặc dù, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu đã thực hiện ở trong và ngoài nước (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Aaker, 1996; Nguyễn Đình Thọ

     

    và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) nhưng chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu. Vì vậy, bài báo này kiểm định vai trò của các yếu tố marketing-mix đối với giá trị thương hiệu trong mô hình quan hệ cấu trúc chung, trong đó các yếu tố marketing-mix được đề nghị có ảnh hưởng dương trực tiếp đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và có ảnh hưởng dương gián tiếp lên trung thành thương hiệu thông qua sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    • Lê Thị Hồng Yến: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 – Trường Đại học Nha Trang
    • Hồ Huy Tựu: Khoa Kinh tế – Trường Đại học Nha Trang

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 209

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa (Sanest Khánh Hòa) là một trong những công ty gặt hái được nhiều thành công và khẳng định được thương hiệu của mình. Tuy nhiên, hoạt động marketing hướng đến xây dựng, củng cố thương hiệu còn nhiều hạn chế: hình ảnh cửa hàng không ấn tượng, chương trình hậu mãi và dịch vụ sau bán hàng không được quan tâm đúng mức, quảng bá mờ nhạt. Vì thế, nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua xem xét ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu sử dụng phương pháp lập mô hình phương trình cấu trúc. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cung cấp một số hàm ý marketing giúp cho lãnh đạo Công ty có những thông tin cần thiết về tầm quan trọng của các yếu tố marketing-mix đến các thành phần nói trên mà công ty đang xây dựng.

     

    1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    2. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là khách hàng đã biết đến thương hiệu Sanest Khánh Hòa.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    2.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với khách hàng trên thị trường Nha Trang. Đối tượng phỏng vấn có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên và phỏng vấn khoảng 350 khách.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đọan chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp… Bảng câu hỏi được gửi đến trực tiếp 350 khách hàng nhưng thu về được 333 mẫu hợp lệ. Tác giả tiến hành các phân tích như: kiểm định độ tin cậy các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích SEM, và các phân tích cần thiết khác.

     

    1. Cơ sở lý thuyếtt, mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    • Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và mối quan hệ với trung thành thương hiệu

    Quan điểm tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng cho rằng tài sản thương hiệu bao gồm chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu (Aaker và Keller, 1990). Nhận biết thương hiệu là một thành phần thái độ của khách hàng với thương hiệu, có nhiều mô hình về thái độ

    con người. Mô hình thông thường cho rằng thái độ là một khái niệm đa thành phần: nhận biết, đánh giá, thích thú và xu hướng hành vi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức độ nhận biết thương hiệu nói lên khả năng nhận dạng, phân biệt các đặc điểm của một thương hiệu trong tập hợp các thương hiệu trên thị trường của khách hàng (Aaker, 1991). Liên tưởng thương hiệu mà khách hàng cảm nhận, đánh giá có thể là các thuộc tính sản phẩm, hình tượng cá nhân hoặc một biểu tượng nào đó và nó cũng được dẫn dắt bởi đặc tính của thương hiệu, đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách hàng (Keller và Aaker, 1990). Một số tác giả cho rằng nhận biết thương hiệu có mối quan hệ mật thiết với liên tưởng thương hiệu và hầu như giữa chúng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, họ thường cho 2 nhân tố này là một (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng bằng cách gợi lại trong tâm trí của họ hình ảnh sản phẩm, nó giống như sự hiển thị của cảm xúc đối với sản phẩm ấy (Keller, 1993). Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu nói lên xu hướng mà khách hàng mua, sử dụng một thương hiệu nào trong một họ sản phẩm, kí mới những hợp đồng giao dịch và lặp lại hành vi này, hay chống lại khả năng chuyển đổi sang nhà cung cấp khác (Aaker, 1991). Gia tăng sự trung thành đóng vai trò quan trọng khi các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội (Aaker và Keller, 1990). Sự trung thành thương hiệu thường được xem lại kết cục của sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Aaker, 1991). Tức là, nếu khách hàng có sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng nhiều thì lòng trung thành thương hiệu càng cao và ngược lại. (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Dựa vào các cơ sở lý thuyết và bàn luận trên đây, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H1: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh, mức độ trung thành thương hiệu càng cao

     

    3.1.2. Các yếu tố marketing-mix 4P và 4C của khách hàng

    Lý thuyết marketing cho rằng các yếu tố marketing-mix (4P) là nỗ lực của doanh nghiệp có tác dụng thúc đẩy mức độ mua hàng ở thị trường mục tiêu (Kotler, 2007). Quan điểm hành vi khách hàng lại cho rằng các yếu tố 4P có sự tương thích một đối một với 4 yếu tố cảm nhận quan trọng (4C) của khách hàng (Schiffman và Kanuk, 2010). Bởi vì giá trị thương hiệu là một hiện tượng cảm nhận và tích lũy kiến thức thương hiệu của khách hàng

     

    210 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    (Aaker, 1991). Do đó nghiên cứu này tiếp cận định nghĩa và đo lường các nổ lực marketing-mix dựa trên sự cảm nhận của khách hàng (Yoo, Donthu và Lee, 2000) hơn là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.

     

    Thứ nhất, sản phẩm (Product – P1) mang đến giải pháp cho khách hàng (Customer solution – C1) được biểu hiện qua chất lượng cảm nhận (Schiffman và Kanuk, 2010). Vì thế, nghiên cứu này tiếp cận chất lượng cảm nhận được đánh giá dựa vào những niềm tin nhận thức quan trọng liên quan đến một sản phẩm, dịch vụ hoặc thương hiệu (Olsen, 2002).

     

    Thứ hai, giá (Price – P2) phản ánh chi phí (Cost – C2) khách hành bỏ ra để có sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Các nghiên cứu đã cho rằng người tiêu dùng không phải luôn nhớ các mức giá thực sự của sản phẩm mà ghi nhận giá theo các cách có ý nghĩa với họ. Nghiên cứu này định nghĩa yếu tố giá theo cách hiểu của Zeithaml (1988).

     

    Thứ ba, phân phối (Place – P3) thường được liên hệ với cảm nhận về sự thuận tiện của khách hàng (Convenience – C3) (Schiffman và Kanuk, 2010). Các noõ lực phân phối của doanh nghiệp có thể liên quan đến cường độ, mật độ phân phối và xây dựng hình ảnh của nhà phân phối (Kotler, 2007). Tuy nhiên, đối với khách hàng cái họ cần là sự sẵn có, dễ dàng tìm mua, tốn ít thời gian và nỗ lực… để có được sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Nghiên cứu này tiếp cận yếu tố phân phối chỉ tập trung vào cường độ phân phối bỏ qua các khía cạnh khác và định nghĩa yếu tố phân phối như cảm nhận về sự thuận tiện thị trường của sản phẩm (Seiders và ctv, 2005).

     

    Cuối cùng, xúc tiến (Promotion – P4) cung cấp thông tin cho khách hàng (Communication – C4) liên quan đến sản phẩm hoặc thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010). Khách hàng có thể có thông tin qua đánh giá của họ về hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… của doanh nghiệp (Kotler, 2007). Từ đây, xúc tiến được định nghĩa bao gồm tất cả cảm nhận của khách hàng về thông tin truyền thông mà họ nhận được đối với thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010).

     

    3.1.3. Quan hệ giữa chất lượng cảm nhận với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Người tiêu dùng là người có khả năng nhận biết và liên tưởng thương hiệu tốt nhất, bởi vì khi khách hàng sử dụng sản phẩm và tin tưởng vào chất lượng mà nó đem lại, họ sẽ cố gắng lưu trữ hình ảnh thương hiệu đó trong tâm trí ngay lập tức (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Vì vậy, chất lượng cảm nhận của thương hiệu càng cao thì giúp họ nhận biết và

    liên tưởng thương hiệu càng nhanh (Aaker, 1991;

     

    Keller, 1993). Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H2: Chất lượng càng được cảm nhận tốt, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.4. Quan hệ giữa giá với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Hầu hết các nghiên cứu trước đây khẳng định giá có ảnh hưởng gián tiếp đến nhận biết và liên tưởng thương hiệu thông qua chất lượng cảm nhận, đặc biệt khi giá được cảm nhận ở mức cao hoặc thấp (Kamakura và Russell, 1993; Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức giá vượt trội cũng được xem là kết quả của thương hiệu mạnh (Aaker, 1996). Tuy nhiên, có thể tranh luận rằng việc định giá ở các mức cực biên (rất rẻ hoặc rất đắt) thường có tác dụng gia tăng sự nhận biết và liên tưởng trong giai đoạn kiến tạo thương hiệu bởi tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu. Chẳng hạn, Wal-mart đã không thể nổi tiếng như bây giờ nếu thiếu đi chiến lược định giá rẻ cốt lõi ngay những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường (Magretta, 2002). Bởi vì, Sanest Khánh Hòa đã và đang thực hiện một chiến lược định giá cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh, nó đã tạo lập được danh tiếng thương hiệu của mình như một nhà cung cấp các sản phẩm yến sào cao cấp. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng rằng giá có tác động đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    H3: Giá đươc cảm nhận càng cao (thấp), sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.5. Quan hệ giữa phân phối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Khi một sản phẩm được phân phối với số lượng lớn trong các cửa hàng, siêu thị, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hơn bởi vì họ có thể mua chúng mọi nơi, mọi lúc với ít nỗ lực và thời gian (Smith, 1992). Vì vậy, khi cường độ phân phối tăng lên, khách hàng sẽ cảm nhận nhiều giá trị đạt được hơn đối với sản phẩm phân phối (Seiders và ctv, 2005). Giá trị khách hàng tăng thêm này sẽ có tác động làm gia tăng liên kết tích cực đối với thương hiêu (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Việc phân phối rộng khắp tất nhiên cũng làm gia tăng mức độ tiếp xúc của khách hàng đối với sản phẩm và thương hiệu, qua đó gia tăng mức độ nhận biết của họ đối với thương hiệu. Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H4: Phân phối với cường độ càng mạnh, mức độ nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.1.6. Quan hệ giữa xúc tiến với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng mức độ xúc tiến quảng bá làm gia tăng sự nhận biết

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 211

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    thương hiệu (Boulding, Lee và Staelin, 1994). Các thông tin quảng bá được lặp đi lặp lại sẽ làm tăng xác suất lưu giữ hình ảnh thương hiệu và tạo ra các liên kết đối với thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng (Shimp, 1997). Vì vậy, cường độ xúc tiến quảng bá có tác động tích cực đến sự nhận biết và

     

    liên tưởng làm gia tăng giá trị thương hiệu (Aaker, 1996). Do đó, giả thuyết sau được đề nghị:

    H5: Hoạt động xúc tiến quảng bá càng mạnh, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

     

     

    Hình 1. Ảnh hưởng của các nhân tố marketing-mix đến giá trị thương hiệu

     

     

    1. Đo lường các cấu trúc khái niệm

    Các khái niệm đều được đo trên thang đo Likert 7 điểm từ (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) không đồng ý đôi chút, (4) trung dung,

     

    • đồng ý đôi chút, (6) đồng ý và (7) hoàn toàn đồng ý. 1. Đo lường khái niệm Giá

    Được đo lường bằng 3 biến quan sát trên thang đo Likert 7 điểm là: Giá các sản phẩm Sanest là:

    • cao; (2) đắt và (3) hợp lý (Smith và Park, 1992). 2. Đo lường khái niệm Chất lượng cảm nhận

    Được đo lường trên thang đối cực 7 điểm mở đầu bằng câu giới thiệu chung: “Khi dùng các sản phẩm Sanest, tôi cảm thấy”: (1) vô ích/hữu ích;

    • vô dụng/hữu dụng; (3) dở/ngon; (4) không tốt/ tốt cho sức khỏe; (5) rủi ro/an toàn và (6) kém bổ dưỡng/bổ dưỡng (Olsen, 2002).

    4.3. Đo lường khái niệm Phân phối

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Smith (1992) gồm 5 biến quan sát mở đầu bằng: “Tôi nhận thấy trên thị trường, các sản phẩm Sanest thì”: (1) rất nhiều; (2) vượt trội về số lượng; (3) thuận tiện để mua; (4) bao phủ rộng khắp; và (5) được phân phối ở những nơi hợp lý.

     

    4.4. Đo lường khái niệm Xúc tiến quảng bá

     

    7 biến quan sát được sử dụng để đo lường khái niệm này trên thang đo Likert 7 điểm như sau:

    • Tôi cảm thấy Sanest đã tốn nhiều chi phí đầu tư cho hoạt động quảng bá; (2) Hoạt động quảng bá của

    Sanest là rất chuyên nghiệp; (3) Hoạt động quảng bá của Sanest là rất thường xuyên; (4) Chương trình cổ động của Sanest là rất mạnh; (5) Sanest thường xuyên khuyến mãi bằng quà tặng; (6) Chính sách chiết khấu của Sanest là hấp dẫn; và (7) Quảng bá của Sanest là ấn tượng (Kirmani và Wright, 1989). 4.5. Đo lường khái niệm Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Yoo, Donthu và Lee (2000) gồm 11 biến quan sát: (1) Các sản phẩm Sanest có nguồn gốc từ thiên nhiên; (2) Các sản phẩm Sanest là rất khác biệt; (3) Các sản phẩm Sanest là dành cho mọi người; (4) Các sản phẩm Sanest là đáng tin cậy; (5) Các sản phẩm Sanest là cao cấp; (6) Các sản phẩm Sanest là rất dễ hình dung trong tâm trí;

     

    • Tôi biết rất rõ các sản phẩm Sanest; (8) Tôi có thể nhận biết các sản phẩm Sanest trong số các thương hiệu cạnh tranh; (9) Logo và slogan của Sanest là rất ấn tượng; (10) Tôi dễ dàng nhận biết được kí hiệu và biểu tượng của Sanest; và (11) Tôi cảm thấy dễ dàng nhận ra logo và slogan của Sanest.

    4.6. Đo lường khái niệm Lòng trung thành thương hiệu Sử dụng thang đo Likert 7 điểm của Beauty và Kahle (1988) với 5 biến quan sát: (1) sự lựa chọn hàng đầu của, (2) luôn ca ngợi, (3) khuyến nghị mọi người dùng, (4) không mua sản phẩm khác nếu có thương hiệu Sanest, (5) luôn quan tâm. Thêm vào đó,

     

    212 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    nghiên cứu Olsen (2002) tác giả đo lường 5 biến quan sát trong tháng đến: số lần mua/dùng, số lần muốn mua/sử dụng, dự định mua/sử dụng, mong muốn mua/sử dụng, cần mua/sử dụng.

     

    III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    1. Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

    Độ tin cậy của thang đo “Chất lượng” với hệ số alpha = 0.949 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.949. Độ tin cậy của thang đo “Giá” với hệ số alpha = 0.765 là khá tốt. Tuy nhiên, chỉ báo PR3 (giá thương hiệu Sanest là hợp lý) không đóng góp vào thang đo “Giá” (0.909 > 0.765). Vì vậy, chúng sẽ bị loại bỏ mục này ra khỏi thang đo. Độ tin cậy của thang đo “Hệ thống phân phối” với hệ số alpha = 0.920 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.920. Độ tin cậy của thang đo “Xúc tiến” với hệ số alpha = 0.921 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.921. Độ tin cậy của thang đo “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” với hệ số alpha = 0.946 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.946. Độ tin cậy của thang đo Likert “Lòng trung thành thương hiệu” của Olsen (2002) với hệ số alpha = 0.924 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.924. Thêm vào đó, ta cũng đi phân tích “Lòng trung thành thương hiệu” của Beauty và Kahle (1988) với hệ số alpha = 0.937 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.937. Điều này chứng tỏ tất cả các thang đo này có thể sử dụng được và không nên loại bỏ mục nào (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

    1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo sử dụng

    Trong quá trình phân tích và loại biến có trọng số < 0.3. Kết quả phân tích nhân tố cuối cùng là rất tốt, chỉ số Kaiser – Mayer – Olkin là 0.937 thuộc phạm vi được xem là thích hợp, tổng phương sai được giải thích bởi 6 nhân tố này là 75.749%. Đúng như mong đợi, 6 nhân tố được rút ra, các nhân tố khác nhau là tách rời, và các giá trị trọng số nhân tố đều lớn hơn 0.5. Do đó, cả 34 chỉ báo này đều được giữ lại cho bước phân tích tiếp theo.

     

    1. Phân tích mô hình đo lường

    Các thang đo khái niệm sẽ được tiến hành phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Kết quả cho thấy giá trị của thống kê chi – bình phương là 2000.135 với 512 bậc tự do, xác suất 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do CMIN/DF = 3.907 > 2.0. Giá trị RMSEA là 0.094 > 0.08, đồng thời giá trị CFI = 0.864 < 0.90 và GFI = 0.829 < 0.90 nên không thể chấp nhận được. Tác giả tiếp tục thực hiện các bước phân tích tiếp theo để có thể cải thiện độ phù hợp của mô hình tốt hơn. Đề tài này sử dụng một kỹ thuật lấy tổng trung bình các chỉ báo đối với 5 thang đo: “Chất lượng” có 6 chỉ báo lấy tổng ngẫu nhiên 3 trong số 6 chỉ báo, “Phân phối”, “Xúc tiến”, “Lòng trung thành thương hiệu” đều có 5 chỉ báo, lấy tổng ngẫu nhiên 2 và 3 trong số 5 chỉ báo của mỗi khái niệm, “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” có 11 chỉ báo lấy tổng 5 và 6 trong số 11 chỉ báo để hình thành nên 2 chỉ báo chung cho mỗi thang đo của 5 cấu trúc khái niệm này. Kỹ thuật này đã giúp cải thiện độ phù hợp của mô hình ở mức chấp nhận được (GFI > 0.95; CFI > 0.98; RMSEA = 0.073). Kết quả trên bảng 1 cung cấp các chứng cứ về độ giá trị hội tụ và tin cậy của các thang đo.

     

    Bảng 1. Cấu trúc khái niệm, trọng số nhân tố và độ tin cậy tổng hợp

     

    Cấu trúc khái niệm

    Trọng số nhân tố

    t-values

    Độ tin cậy

    Phương

     
       

    Không chuẩn hóa

    Chuẩn hóa

    tổng hợp

    sai trích

     
       
             
                 

    Giá

    1.13 – 1.21

    0.88 – 0.94

    16.83 – 18.06

    0.91

    0.83

     
                 

    Chất lượng

    3.29 – 3.69

    0.87 – 0.91

    19.06 – 20.58

    0.88

    0.80

     
                 

    Phân phối

    2.38 – 3.17

    0.89 – 0.91

    20.14 – 20.64

    0.90

    0.81

     
                 

    Xúc tiến

    2.00 – 3.27

    0.84 – 0.87

    17.81 – 18.73

    0.84

    0.73

     
                 

    Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu

    5.20 – 5.90

    0.89 – 0.93

    20.14 – 21.66

    0.91

    0.83

     
                 

    Trung thành thương hiệu

    2.95 – 3.34

    0.82 – 0.99

    16.98 – 21.98

    0.91

    0.83

     
                 
    1. Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định giả thuyết

    Kết quả cho thấy giá trị của thống kê Chi – bình phương là 122.419 với 43 bậc tự do, xác suất P = 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 213

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    CMIN/DF = 2.847 < 3.0 là khá tốt. Giá trị RMSEA = 0.075 < 0.08, đồng thời hai giá trị GFI = 0.941 và CFI = 0.975 là cao hơn mức đề nghị 0.90. Kết quả phân tích này hàm ý rằng mô hình phương trình cấu trúc có độ phù hợp tốt so với dữ liệu hiện có.

     

    Bảng 2. Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình đề xuất

     

    Giả thuyết

    Kết luận

    Hệ số cấu trúc

     

    Thống kê t

         

    Không chuẩn hóa

     

    Chuẩn hóa

           
               

    H1

    Ủng hộ

    0.42

     

    0.64

    10.54***

               

    H2

    Ủng hộ

    1.82

     

    0.35

    5.14***

               

    H3

    Ủng hộ

    0.82

     

    0.16

    3.43***

               

    H4

    Ủng hộ

    1.93

     

    0.37

    4.41***

               

    H5

    Ủng hộ

    0.91

     

    0.18

    2.45*

               

    p < 0.05, ** p < 0.01, *** p < 0.00

     

    R2: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu = 79.8%, Lòng trung thành thương hiệu = 41.5%.

     

     

    1. Thảo luận

    Kết quả phân tích khẳng định rằng, 4P đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, đến lượt nó cũng tác động rất mạnh đến lòng trung thành thương hiệu. Mặc dù tất cả 5 giả thuyết nghiên cứu đều được ủng hộ nhưng vai trò của chúng là khác nhau. Thật vậy, tương quan giữa sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu là mạnh nhất. Thứ hai, là tác động dương của phân phối đối với sự nhận biết và liên tưởng đó. Mối quan hệ của phân phối còn mạnh hơn của chất lượng cảm nhận tiếp đến là xúc tiến. Giá có ảnh hưởng yếu nhất. Điều này xuất phát từ thực tế vì khi đi mua sản phẩm thương hiệu người ta quan tâm đến chất lượng và xem giá như là một dấu hiệu của chất lượng. Vì thế, giá có tác động yếu nhất đối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000).

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
    2. Kết luận

    Mục tiêu nghiên cứu ở đây là kiểm định mối quan hệ giữa Chất lượng, Giá, Phân phối, Xúc tiến, Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, Lòng trung thành thương hiệu Sanest Khánh Hòa, Khách hàng, bao gồm các đoàn khách du lịch trên cả 3 miền đến Nha Trang. Kết quả đã ủng hộ 5 giả thuyết tác giả đưa ra. Nhưng Công ty cần tập trung nâng cao Lòng trung thành thương hiệu thông qua Sự nhận biết, liên tưởng đối với sản phẩm vì sự tương quan giữa 2 yếu tố này là mạnh nhất. Tuy nhiên, để làm được điều đó công ty cần đẩy mạnh công tác marketing-mix. Phân phối và Chất lượng có tác động mạnh đối với Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Vì thế, nên tập trung hoàn thiện hệ thống phân phối, chất lượng để đem lại sự thuận tiện và tự tin cho khách hàng,

    đó là yếu tố quan trọng trong bối cảnh ngày nay. Xúc tiến có tác động tương đối yếu nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng xúc tiến giúp khách hàng lưu giữ hình ảnh rất tốt. Do đó, Công ty nên có các chiến lược xúc tiến ấn tượng vì khách hàng đánh giá không cao yếu tố này. Giá cũng có ảnh hưởng đến Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu nhưng khách hàng nhận xét giá là cao, điều này phù hợp với lý luận ở trên và chiến lược giá mà Công ty xây dựng. Tuy nhiên, Công ty cũng nên hết sức linh hoạt để có những chiến lược giá sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay. Mặt khác, bài báo cũng có một số hạn chế: trước tiên là đối tượng điều tra, mẫu thuận tiện đã làm hạn chế tính khái quát hóa các kết quả của mô hình, điều này yêu cầu phải lặp lại nghiên cứu tương tự cho một mẫu có tính đại diện và ngẫu nhiên để tăng tính chính xác, khái quát hơn. Tiếp đến, vì chỉ tập trung nghiên cứu các biến marketing-mix, nên nghiên cứu này đã bỏ qua một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu như hình ảnh cửa hàng, văn hóa, giá khuyến mãi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng để có bức tranh toàn diện hơn.

     

    1. Kiến nghị

    Chất lượng và xúc tiến là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp khách hàng nhận biết, liên tưởng và tăng sự trung thành của người tiêu dùng. Với mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng của sản phẩm, đề tài này muốn đưa ra một số kiến nghị như sau:

     

    Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng và thủ tục tinh gọn hơn trong vấn đề nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới để phổ biến về cho các cán bộ học tập và chuẩn bị tiếp cận. Đây là một tiền đề hết sức quan trọng để

     

    214 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    các công ty không ngừng phát triển trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề, tính chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, đó cũng là nền tảng để tạo ra những sản phẩm chất lượng với giá cả hợp lý giúp khách hàng có điều kiện tiếp xúc với sản phẩm một cách dễ dàng hơn và hơn thế nữa nó là nhân tố nâng cao sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu trong họ.

     

    Thứ hai, hiện nay, thương hiệu Sanest đã được đa số khách hàng biết đến và tin dùng. Do đó, trong thời gian gần đây công ty chủ quan nên không có những điều tra về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng. Vì thế, nếu muốn đáp ứng tốt hơn nhu

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Việt

    cầu ngày càng cao của họ thì Công ty cần nỗ lực nhiều hơn trong việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, góp phần nâng cao sự hài lòng để đạt được mục tiêu cuối cùng là lòng trung thành của họ.

     

    Cuối cùng, hệ thống phân phối của Công ty hầu hết tập trung ở các thành phố lớn. Vì thế, Công ty nên mở rộng mạng lưới phân phối ở các tỉnh lẻ để họ có cơ hội tiếp cận với sản phẩm một cách dễ dàng hơn. Nhưng ở các tỉnh lẻ thì giá cả là vấn đề khiến họ quan tâm. Do đó, Công ty cần có chính sách giá theo khu vực phù hợp với thu nhập vẫn còn đang thấp.

     

    1. Phillip Kotler, 2007. Quản trị Marketing. NXB Thống kê. TP. Hồ Chí Minh.
    1. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002. Nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. B2002-22-33.

    Tiếng Anh

     

    1. Aaker, D.A. and Keller, K.L., 1990. Consumer evalutions of brand extensions. Journal of Marketing, 54 (1): 27-41.
    1. Aaker, D.A., 1991. Management brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. New York, the free press.
    1. Aaker, D.A., 1996. Measuring brand equitty aross products and markets. California Management Review, 38 (3): 102-120.
    1. Beauty, S.E. and Kahle, L.R., 1988. Alternative hierachies of the attitute behavior relationship: The impact of brand

    commitment and habit. Journal of Academy of Marketing Science, 16 (summer): 1-10.

     

    1. Boulding, W., Lee, E. and Stealin, R., 1994. Mastering the marketing mix do advertising, promotion and sales force activities lead to differentiation. Journal of Marketing Research, 31 (3): 159-172.
    1. Keller, K.L., 1993. Conceptualizing, measuring and managing customer-based brand equity. Journal of Maketing, 57 (1): 1-22.
    1. Keller, K.L., 2001. Building customer-based brand equity: A blueprint for creating strong brand. Marketing Management, 7: 15-19.
    1. Kamarura, W.A. and Russell, G.J., 1993. Measuring brand value with scanner data, International Journal of research marketing April: 3-22.
    1. Kirmani, A. and Wright, P., 1989. Money talks: Perceive advertising exppenditures and expected product quality. Journal of

    Consumer Reseach, 16 (12): 344-355.

     

    1. Magretta, J., 2003. What management is? How its works and why it’s everyone’s business. Profile books.
    1. Olsen, S.O., 2002. Comparative evaluation and the relationship between quality, satisfaction and repurchase loyalty. Journal of the Academy of Marketing Science, 30: 240-249.
    1. Schiffman, L.G. and Kanuk, L.L, 2010. Consumer behavior. 10th Pearson Prentice Hall, Boston, MA.
    1. Seiders, 2005. Do satisfied customers really buy more? Examining moderating influences in a retailing context. Journal of Marketing, 69 (October): 26-43.
    1. Shimp, T.E., 1997. Advertising, promotion and supplemental aspects of integrated maketing communication. Fort Worth TX: Druden Press.
    1. Smith, D.C and Park, C.W., 1992. The effect of brand extension on marketing share and advertising efficiency. Journal of Marketing Research, 29 (8): 296-313.
    1. Wood, L., 2000. Brands and brand equity: definition and management. Management Dicision, 38 (9): 662-669.
    1. Yoo, B., Donthu, N. and Lee, S., 2000. An examination of selected maketing mix elements and brand equality. Journal of Academy Maketing Science, 28 (2): 195-211.
    1. Zeithaml, V.A., 1988. Consumer perception of price, quality and value: a mean-end model and synthesis of evidence. Journal

    of Maketing, 52 (7): 2-22.

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 215


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Customer-satisfaction-with-online-group-buying-services.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Customer satisfaction with online group buying services

    Journal of Economics and Development Vol. 15, No.1, April 2013, pp. 91 – 120

    ISSN 1859 0020

       

    Customer Satisfaction with

     

    Online Group-Buying Services

     

    Vu Huy Thong

    National Economics University, Vietnam

    Email: [email protected]

     

    Tran Mai Trang

    Academy of Finance, Vietnam

     

    Abstract

     

    Given the essential role of customers to the success of any business, particularly newly-established ones, it is crucial for Hanoi’s online group-buying (OGB) compa-nies to make constant efforts to keep their customers satisfied. This research aims at investigating customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB through both quantitative and qualitative methods including an online customer survey with 150 OGB customers, in-depth interviews with 20 customers, and participant observation of five OGB websites.

     

    The research results show that the key factors affecting OGB customer satisfac-tion include product price, merchandise variety, information quality, product quali-ty, and delivery. Also, despite the high likelihood of customers’repurchasing and rec-ommending to others, Hanoi’s OGB business has not yet met customer satisfaction, particularly in terms of the information quality, supplier’s reputation, product qual-ity and delivery. The root causes of this situation include the incomplete legal frame-work and ineffective management at macro-level; the poor quality management and business ethics of OGB companies; and the limited OGB customers’ awareness of their rights and responsibilities.

     

    Keywords: Online group-buying, customer satisfaction, macro-management, Hanoi, business ethics.

     

    Journal of Economics and Development                            91                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. Introduction

     

    Vietnam’s market adopted the Online Group-Buying (OGB) business model in late 2010 and since then the business has been developing rapidly in big cities of the country, particularly Ho Chi Minh City (HCMC) and Hanoi. With its dominant economic advan-tages, OGB is considered a potential purchas-ing channel, which has attracted an increasing customer volume, particularly under the diffi-cult situation of Vietnam’s economy at the cur-rent time. Statistics show that as of April 2012, approximately 97 group-buying websites have been operating in Vietnam, in which Nhommua, Muachung, Hotdeal, and Cungmua are the four biggest players, accounting for around 90% of the total OGB market share (FTA Marketing Research and Consultant Company, 2011). Geographically, HCMC is a much more active market for OGB than Hanoi with its market share being 71% compared to only 23% for Hanoi (Do, 2011). The rapid establishment of group-buying websites regis-tered signals the fierce competition in order to attract and retain customers.

     

    On the other hand, the growth of OGB busi-ness is characterized by the revenue and num-ber of deals provided. Results from market research show a dramatically increasing trend of these two indicators in Vietnam’sOGB mar-ket.

     

    Despite the increasing number of OGB companies established in Vietnam, this new model is still in its initial development stage with a modest market share and a great level of spontaneity. Poor experience and professional-ism in operating this new type of business has resulted in the recent shutdowns of a number

     

    of OGB sites, which further implies the severe competition within this harsh and unsystemat-ic business context. This stresses the necessity for attracting and retaining OGB customers to maximise the potential of the business model. Improvement in customer satisfaction can be seen as the key to achieving this purpose, since customer satisfaction plays a role as a remark-able determinant of repeat sales, good word-of-mouth, and customer loyalty leading to an increase in profitability and growth (Sheth, 2001). This is particularly essential in today’s market where customers are presented with lots of choices and thus are becoming more demanding and very critical when their expec-tations are not met.

     

    Therefore, an in-depth understanding of OGB customers’ perspectives on this emerging business in Vietnam is of great importance, which has however, not been thorough ly examined yet. This research aims to:

     

    – identify key factors affecting customers satisfaction of Hanoi’s OGB;

     

    – measure the customer satisfaction degree for each key factor;

     

    – determine underlying reasons causing OGB customer dissatisfaction; and

     

    – come up with recommendations for key stakeholders to improve customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB business.

     

    The research focuses on Hanoi’s OGB mar-ket given its strong potential for the OGB busi-ness development in terms of high internet penetration rate (Cimigo, 2011), modest OGB market share (Do, 2011), and high level of cus-tomer loyalty (AC Nielsen, 2009).

     

    2. Theoretical framework

     

     

    Journal of Economics and Development                            92                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    2.1. Online group-buying

     

    OGB refers to a computer-based mercantile exchange mechanism that enables consumers to benefit from volume discounts achieved through shopping together (Kauffman, & Wang, 2001). In this mechanism, OGB web-sites play an intermediate role to enlarge the reach for the vendors offering discounts and create a convenient platform for customers to find the best bargains.

     

    Being one type of online shopping, OGB has all the advantages that online shopping can offer such as time and money savings, global access, reduction of customer’s discomfort caused by factors like judgmental sales assis-tants, traffic jams, etc. (Rowley, 1996). Furthermore, one major advantage of OGB has over ordinary online shopping is its impressive discount offer, which is either a dynamic pric-ing mechanism or a static one (Anand, & Aron, 2003; Kauffman, & Wang, 2001). The former mechanism determines the discount prices by price-quantity functions; whereas, the latter has pre-determined and fixed discount prices.

     

    On the other hand, online shopping cus-tomers in general and OGB customers in par-ticular face numerous challenges that might hinder their adoption of these shopping chan-nels. These challenges include: the possibility to physically examine the product or the retail-er (Ba, Whinston, & Zhang, 2003); the credi-bility and security of online transactions; the invasion of privacy (Libbon, 1999); the mech-anism of payment and refunds, reliability, cus-tomer service; and the ability to cancel orders online (Jones, & Vijayasarath y, 2000). Particularly, given the increasingly great con-cern of online customers on the privacy issues,

     

    numerous academic efforts over years have been made to address this issue such as those of Devlin (1965), Van Swaay (1995) and Flaherty (1991).

     

    2.2. Concept of customer satisfaction Despite the importance of customer satis-

     

    faction, there is still a lack of a consensus in the definition of this concept due to its ambi-guity. From the literature, customer satisfac-tion definitions are divided into two schools of thought that put stress on either an evaluation process or a response to an evaluation process (Giese, & Cote, 2002) with more representa-tives in the latter school. However, each of these definitions only focuses on one segment of response and at a certain stage of the pur-chasing process; thus, it might be difficult for either definition to create a whole conceptual picture of customer satisfaction.

     

    Addressing those weaknesses, Kotler’s def-inition of customer satisfaction is used in this research to conceptually shed light on Hanoi’s OGB customer satisfaction. Kotler (1997) states that customer satisfaction refers to the result of the customer’s experiences coming from various purchasing processes, including: need arousal, information search, alternatives evaluation, purchase decision, and post-pur-chase behaviour. This definition covers all possible responses that might occur as a result of the purchasing experience. Furthermore, it does not restrict the satisfaction timing in a single purchasing phase like many other defi-nitions but instead goes from the most initial stage to the very last step.

     

    2.3. Theoretical models on OGB customer satisfaction

     

     

    Journal of Economics and Development                            93                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    As the literature shows, very little customer satisfaction research has specialised in OGB. There is hardly any model that specifically looks into the satisfaction of OGB customers. Nonetheless, numbers of academic studies on online customer satisfaction can be utilised for the analysis of customer satisfaction in the OGB context, provided that suitable adapta-tion and adjustments are in place.

     

    After reviewing the most relevant models, two remarkable approaches stand out. The first approach stresses the analysis of processes through which customers reach satisfaction, while the second emphasises determinants of customer satisfaction during different stages of the purchasing process.

    A typical model of the first approach is the Expectation-Confirmation Theory (ECT). It emphasises the cause and effect relationship between consumers’ expectations prior to pur-chase, their perceived performance, and their confirmation, satisfaction and intention to repurchase goods or continue service use. It states that consumers’ repurchase intentions mainly depend on their satisfaction with the previous use of that product or service (Anderson, & Sullivan, 1993) while holding expectation as an additional determining factor of satisfaction (Bhattac herjee, 2001). However, Bhattacherjee (2001) is critical that the ECT model does not consider the possible changes in a customer’s expectation resulting from previous consumption experience. In addition, Yi (1990) singles out the differences and even contradictions in conceptualising whether the satisfaction construct in the ECT studies can be interpreted as attitude and emo-tion. The concept of expectation is also

     

    defined very differently across the ECT stud-ies.

     

    To address the lack of the post-consumption expectation construct in the ECT and better adapt the ECT to the information system con-text, Bhattacherjee (2001) introduces the

    Expectation-Conf irmation Model of Information System (IS) Continuance. This model only focuses on the post-consumption variables with the justification that the effects of pre-consumption variables are already cap-tured in the “confirmation” and “satisfaction” constructs. More importantly, it adds a crucial construct of post-consumption perceived use-fulness as a representative of the post-con-sumption expectation, a very essential but missing construct in the ECT model. However, as this advanced model only focuses on the whole process leading to the continuance of use in the IS context, it does not cover the spe-cific determinants contributing to customer satisfaction, thus it hardly facilitates a practical analysis to come up with realistic recommen-dations for the development of a specific type of business.

     

    The second approach puts great stress on the factors contributing to customer satisfaction during different stages of the purchasing process instead of the process leading to cus-tomer satisfaction. Two outstanding represen-tatives include the E-service Quality Dimension model (Lee, & Lin, 2005), and the Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment (Liu, He, Gao, & Xie, 2008).

     

    Lee and Lin’s E-service Quality Dimension model (2005) establishes linkages between e-service quality dimensions in online shopping with overall service quality and customer sat-

     

    Journal of Economics and Development                            94                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 1: Proposed research model for OGB customer satisfaction analysis

     

     

     

     

     

     

    Source: Adapted from Smith (2007) and Liu et al. (2008)

    isfaction, which in turn affect customer pur-

    Gao and Xie (2008) looks into various factors

    chase intentions, and therefore can be suitable

    that can affect customer satisfaction in the

    for studies on e-service in general, but not

    three stages of the purchasing process, namely

    research on particular aspects of the OGB cus-

    information search and alternatives evaluation

    tomer satisfaction.

    (pre-purchase), purchase, and post-purchase.

    The Model of Satisfaction Process in E-

    Nonetheless, Liu et al.’s model still misses

    commerce Environment proposed by Liu, He,

    some important factors typical for OGB that

    Journal of Economics and Development                            95                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    can affect customer satisfaction, particularly in Vietnam’s context; for example supplier’s rep-utation, quality of product and sales assistant’s attitude.

     

    Incorporating both of the above approaches, Smith (2007) introduces a comprehensive model called the Measuring Model for Customer Satisfaction, which covers both sat-isfaction process and factors affecting satisfac-tion. However, its list of product/service attrib-utes is quite generic and does not include dis-tinct characteristics of OGB where the partici-pation of an intermedia te party exists. Specifically, it does not cover attributes of OGB websites like website design and transac-tion capability as well as security and privacy factors, which are typical for online shopping.

     

    After a thorough analysis of the pros and cons of different relevant theoretical models, the authors developed the Proposed Model for OGB Customer Satisfaction Analysis to be used in this research (see Figure 1) to explore the customer satisfaction in general, and for each key factor affecting satisfaction in partic-ular while taking into account the customer’s expectation prior to purchase for further impli-cations on how well OGB companies fulfil the needs of customers.

     

    This model was adapted from the Smith’s Measuring Model for Customer Satisfaction and Liu et al.’s Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment. Specifically, it expressed the interaction between customer expectation, perceived quality and satisfaction and positive post-purchase behaviours, i.e. the process of customers reaching their satisfac-tion using the OGB service, as presented in Smith’s model, while listing a number of fac-

     

    tors affecting customer satisfaction suitable to the OGB context as introduced in Liu et al’s model. Moreover, three elements specifically related to Vietnam’s context including suppli-er’s reputation, product quality and sales assis-tant’s attitude were added as extra factors affecting OGB customer satisfaction in Hanoi’s context. These elements were derived from the results of the authors’ desk study via a number of relevant articles from newspapers like Thanh Nien, Tuoi Tre, Tien Phong, etc as well as the authors’ interviews prior to the sur-vey.

     

    3. Research methodology

     

    The aims of this research were not to test any assumption or theory but to explore how Hanoi’s customers are satisfied with OGB companies and to present remarkable patterns and phenomena related to this issue based on the proposed model in Section 2.3. Therefore, the authors followed an inductive approach to carry out the research. Given the limited sam-pling size, the research could hardly formulate a generalised theory for the phenomena that were observed. Instead, it could be a good starting point to facilitate any further research on a larger scale and with more statistical sig-nificance.

     

    Following this approach, a combination of quantitative and qualitative research was applied. The qualitative research, including in-depth interviews with 20 Hanoi OGB cus-tomers and observations on five OGB websites and stores in Hanoi, was conducted prior to the quantitative research to explore factors affect-ing OGB customer satisfaction, customer sat-isfaction relating to the affecting factors, and key root causes of customer dissatisfaction in

     

    Journal of Economics and Development                            96                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    order to provide insights for the formulation of the quantitative research. The selected inter-viewees were the authors’ acquaintances who purchased through the OGB channel at least five times. The limited number of interviewees was due to the authors’ time being constrained, scared financial resources as well as the reluc-tance of many people to do in-depth inter-views, as it is a time-consuming process. Key findings from the qualitative research are pre-sented in Box A1 – Appendix.

     

    On the other hand, the quantitative research in the form of a customer survey aimed at quantifying general patterns about the issues related to shopping experiences of Hanoi’s OGB customers and more importantly, meas-uring customer satisfaction towards OGB companies in Hanoi. To design the question-naire for the survey, it was important to find a suitable rating scale to measure the degree of satisfaction of Hanoi’s OGB customers. In this sense, the authors applied the Likert-type five-category satisfaction scale of “Very Dissatisfied – Dissatisfied – Neutral – Satisfied – Very Satisfied” (Vagias, 2006) with the rationale that a five to seven-point scale pro-vides a higher level of reliability and validity than a scale with fewer points; while more thoroughly graded scales were proven not to improve the reliability and validity any further and the results of five- and seven-point scales were found to be quite compatible (Dawes, 2008).

     

    In brief, the questionnaire design was based on the proposed theoretical framework, inputs of the qualitative research, and the Likert-type five-category satisfaction scale to measure Hanoi’s customer satisfaction with OGB serv-

     

    ices. Technically, the questionnaire was creat-ed through the exploitation of Google Docs, a free online survey-creation tool that assists both survey creation and data analysis.

     

    Before launching the survey, the question-naire was pre-tested for necessary adjust-ments; and then, in late September 2012, post-ed on online social networks including Facebook1, Webtretho forum2, sent via e-mail and online messengers3 with an invitation to join the research and help identify new cases by forwarding the invitation to their acquain-tances. In other words, non-probability sam-pling with self-selection and snowball sam-pling techniques were applied to collect pri-mary data.

     

    With regard to the sample size of the survey, given the current statistical system of Vietnam, it was very difficult (or, it could be said, impossible) to identify the total number of OGB customers currently in Hanoi. Therefore, instead of calculating the sample size using a specific formula and confidence level, the authors determined the sample size based on past research experience. Also, considering the above-mentioned limitations in terms of resources as well as the long-awaited respons-es of the two sampling techniques, the authors decided to finish the survey when 150 respons-es collected.

     

    The data analysis was executed with the help of Google Docs and Microsoft Excel. Google Docs was used to process the data col-lected in the forms of frequency distribution and percentage frequency distribution while Excel was for cross tabulation analysis.

     

    1. Results and discussion

     

     

    Journal of Economics and Development                            97                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    4.1. General characteristics of Hanoi’s OGB customers

     

    4.1.1 Profile of respondents

     

    This section presents the profile of the sur-vey respondents regarding their age, gender, marital status, occupation, and monthly per-sonal income as in the table 1.

     

    Table 1 shows that the majority of the respondents are female and in the younger age groups with 84% of the respondent under 36 years old. The dominant occupation is office staff and students accounting for 89% of the respondents in which office staff are in the

     

    majority (74%). There are no big differences in the proportion of married to single respondents as well as in the distribution of respondents in the various personal income groups.

     

    4.1.2. Overall OGB shopping experiences This section presents the sources of infor-

     

    mation through which the respondents learn of OGB, reasons they buy via OGB, and their shopping habits related to frequency, price range and product type.

     

    The survey results show that the majority of the respondents first learned of OGB websites through the Internet and friends/acquaintances,

     

     

    Table 1: Profile of respondents

       
             
       

    [1]

    

    

     

     

     

    [1]

    

     
     

    [1]

       
       
       

      

    

    

       

    
       

    

    


     

     

    

     

    
        

       
     

     

    

       
       

    [1]

       
       

    

    

    


     

      

     

    [1] 

    

    

       

    [1]

       
       

    ‑‑­  [1]‑‑

     

    

       

    ! 

    

     

     [1]

     

    “[1] 

       
       

    # 

     

    

       

    [1]

       
       

    $ % &'( 
     

    

     
       

    
     &'(      #[1]

     

     

    


    [1]

     

       
    [1]   [1]

     

    
     &'(   

     

    

    

       

     &'(

     

    

    

       

    [1]

       

    Journal of Economics and Development                            98                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    accounting for 70% and 60% respectively. This is expected given the high prevalence of the Internet in Hanoi and its advantages in terms of global access, availability, and inex-pensiveness, as well as the power of word-of-mouth advertising in such a collectivist socie-ty like Vietnam. This reasoning was also con-firmed by the interviewees’ answers in the qualitative research carried out prior to the sur-vey. In contrast, it seems that T.V. is not an appropriate advertising channel for OGB as only 4% reported that they first heard of OGB from T.V.

     

    It can be seen that attractive price is the most common reason for the majority of the respondents (82%) becoming OGB customers, followed by door-to-door delivery (49%). These results were similar to the findings of the qualitative research where most of the interviewees said that they selected this shop-ping channel mostly because of its pricing advantage and door-to-door delivery charac-teristic. These factors can be considered the key advantages of OGB over the traditional purchasing model. The attractiveness of dis-counts to Hanoi’s people is also emphasised in AC Nielsen’s 2009 report on HCMC and Hanoi regional consumer differences.

     

    With regard to shopping frequency, over half of the respondents made their latest pur-chases within the last month, in which 28% purchased within the last week. Women are found to have a greater OGB experience than men with 61% using OGB within one month while this percentage is 45% for men. However, most of the respondents are not reg-ular OGB shoppers since only 7% shop every week and 9% do it every two weeks.

     

    In terms of price range, the respondents gen-erally buy products at rather low prices through this purchasing channel. Sixty percent often buy products priced from VND 200,000 to 500,000 and only 9% buy items over VND 1,000,000. Interestingly, the personal income level seems to be not strictly related to the price of the products bought. Many high-income respondents whose monthly salary is over VND 10 million, purchase products with-in the low price ranges, with 29% buying less than VND 200,000 and 54% buying from VND 200,000 to below VND 500,000.

     

    The most consumed product type is food and beverages (64%), followed by household items (47%) and fashion products (41%) which might result from the generally good experience of the customers with these prod-ucts and the fact that eating is among the most basic human needs, and eating out in a group is a Vietnamese people’s habit.

     

    Regarding the payment method, the majori-ty of the respondents (84%) chose to pay in cash. This possibly results from the incomplete technology infrastructure for online payment in Vietnam, consumer’s concern about online payment security, and the Vietnamese habit of using cash. Additionally, due to the lack of trust in the quality of OGB products, many customers want to check the products physi-cally before making payment instead of paying online in advance. These findings are support-ed by Cimigo’s recent research in Vietnam, which states that very few Internet users feel safe to buy products online and many do not trust online payment systems (Cimigo, 2011).

     

    4.2. Key factors affecting OGB customer

     

     

    Journal of Economics and Development                            99                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    satisfaction

     

    4.2.1. Factors affecting customer satisfac-tion

     

    Figure 2 presents the respondents’ percep-tion of factors affecting their satisfaction towards Hanoi’s OGB in three stages of the purchasing process, in which the factors in the pre-purchase and post-purchase stages were generally considered more meaningful than those in the during-purchase stage with higher rates of selection in these first and last stages by respondents. Interestingly, the four most voted factors include price level, product qual-ity, information quality and delivery, were also mentioned by many interviewees as the factors that had great impact on their satisfaction with OGB business.

     

    The section below provides a detailed analysis of the five most salient factors cited by the highest rates of the respondents (50% or more) as ones that affected their satisfaction towards Hanoi’s OGB including product price, merchandise variety, information quality, product quality, and delivery. Another factor – security/privacy – despite a low rate of selec-tion, signals a significant discrepancy between the findings and existing literature, and thus is also put into consideration.

     

    1. a) Product Price

    Most of the respondents (81%) selected the product price as a factor influencing their over-all satisfaction. This is rational since psycho-logically, customers in general and Hanoi’s customers in particular favour promotional

     

    Figure 2: Factors affecting the respondent’s satisfaction towards Hanoi’s OGB in different stages of purchasing process

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           100                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    programs (AC Nielsen, 2009), among which big discounts may be the most attractive par-ticularly in the current difficult economic con-ditions. The significant discount rates certain-ly give customers the feeling of getting a good deal economically. Therefore, it can be said that the product price receives the greatest attention of customers when judging their sat-isfaction. This goes in line with the finding in Section 4.1.2 that attractive price is the most popular reason for website visitors to use OGB.

     

    1. b) Information quality

    Approximately 50% of the respondents cited the information quality of the OGB web-sites as a factor affecting their satisfaction level. This can be explained by the fact that OGB customers cannot physically examine the products prior to purchase, so the information posted on the OGB websites is the key refer-ence source for their purchasing decisions.

    To enable customers to make informed pur-chasing decisions, it is therefore crucial to have detailed, complete and correct product information on the OGB websites. This is sup-ported by Liu et al.’s studies (2012) in their discussions about the importance of informa-tion quality in the OGB model.

     

    1. c) Merchandise variety

    52% of the respondents picked the merchan-dise variety as a factor that can vary their OGB satisfaction with the rationale that they consid-ered OGB as one of the main shopping chan-nels, and they expected a wide enough variety of products from the OGB websites to satisfy their needs. An inability to provide such a wide product range may damage customers’ positive

     

    feelings about the websites and make them turn to other shopping models eventually.

    Other interviewees, who did not pick this factor, thought of OGB as a “journey of enjoy-ment” rather than a normal purchasing experi-ence. They therefore tend to buy stuff that catches their interest, not necessarily based on their needs. The merchandise variety is there-fore not really their concern.

     

    1. d) Delivery

    The delivery of the purchased product is perceived by about half of the respondents as a contributing factor to their satisfaction. Delivery plays an important role in the opera-tion of an OGB website since delayed deliver-ies, lack of delivery points, charged deliveries or wrong deliveries can easily make customers frustrated. It is thus fair to say that delivery receives significant attention of customers, particularly in the new and flourishing OGB market in Hanoi where unsystematic operation is expected.

     

    1. e) Product quality

    Quite a high percentage (58%) of the respondents considers product quality as hav-ing an effect on their satisfaction with Hanoi’s OGB. Given that the quality issue is particular-ly crucial for Vietnam’s OGB in general and Hanoi’s OGB in particular, customers tend to put extra attention on this factor instead of just concentrating on big discounts. This proves the increasingly demanding characteristic of Hanoi’s consumers who love discount prices without tolerating low quality in exchange. This finding is supported by AC Nielsen’s sur-vey (2009) where the quality-consciousness of Hanoi’s consumers is emphasised.

     

    Journal of Economics and Development                           101                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. f) Security/Privacy

    The survey shows a modest percentage of the respondents (19%) think that the issue of security/privacy can affect their satisfaction level. This finding is totally opposite to the results of many academic studies worldwide where privacy and security in e-commerce have become increasing concerns of online customers; however, this is understandable in the particular context of Vietnam. The risks of the lack of security or privacy being violated mainly occur in two forms, including the expo-sition of customers’ personal contacts without their consent, and the leak of their banking information during online transactions. While many interviewees in the pre-survey qualita-tive research shared their experience about the first form, they hardly thought of it as privacy

     

    violation. This may signal a high level of Hanoi’s OGB customers’ lack of awareness and consciousness of the security/privacy issue. Besides, as most of the respondents pay directly in cash, they are not exposed to the risks of security caused by online payment.

     

    4.2.2. Factors affecting customer satisfac-tion in relation to demographic variables

     

    The research results show that respondents’ perception of which factors affect their satis-faction with OGB business to some extent depends on their demographic status in terms of gender, marital status, occupation, age and personal income.

     

    1. a) Gender

    The study results show differences in the way men and women perceive various factors as contributing to their satisfaction, particular-

     

    Figure 3: Factors affecting the satisfaction of female and male respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           102                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ly product price, and delivery and transaction capability (see Figure 3).

     

    It is found out that women generally paid more attention to the price of products than men (85% versus 68%) as they were often responsible for daily expenditures in their fam-ily. Also, since women in general might not be as good as men in information technology, they were more concerned about the transac-tion capability of the OGB websites (42% ver-sus 24%), i.e. the ease to order deals, pay online and track orders. Regarding delivery, the male respondents seemed to have greater interest than women (63% versus 45%), which is reasonable as men generally want to shop in

     

    the most efficient way, whereas women enjoy shopping and do not mind going to the OGB company offices or suppliers’ stores to choose the most suitable products. This finding is in agreement with Knowledge Wharton’s study (2007) about the variation of shopping behav-iour of different genders.

     

    1. b) Marital status

    The biggest difference between the married and the single respondents was their interest in the delivery, with 70% of the former caring about this factor when talking about their sat-isfaction with OGB compared to 38% of the latter (see Figure 4). While the single people seem to have more leisure time, the married

     

    Figure 4: Factors affecting the satisfaction of single and married respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           103                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ones are often busier, thus they are likely to be more concerned with how efficiently a product is delivered.

     

    1. c) Occupation

    Figure 5 shows a significant difference between office staff, students and traders in terms of their perception of product price as a factor affecting their OGB satisfaction, since the selection rates for the three groups were 100%, 77% and 63% respectively. The absolute rate of the student group is explain-able because most students are financially dependent on their parents; therefore, they have to be price-conscious.

     

    1. d) Age

    Clear discrepancies in the perception of the youngest group (under 23) and the oldest group (over 50) can be observed in the selec-tion rates of product price and delivery factors (see Figure 6). Almost all respondents in the youngest group (96%) cared about the product price. As most of the respondents within this age group were likely to belong to the student group, the results of these two groups were understandably comparable (see Section 4.2.2-

     

    c).Meanwhile, 78% of the oldest group were concerned about delivery compared to 38% of the youngest group. This might be because older people tend to be busier so they may

     

    Figure 5: Factors affecting the satisfaction of respondents from different occupations towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           104                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 6: Factors affecting the satisfaction of younger and older group of respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Figure 7: Factors affecting the satisfaction of lowest and highest personal income group towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           105                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    cherish the time-saving characteristic of deliv-ery more than the youngsters.

     

    It can be concluded that the younger age group generally paid more attention to the product price while the older group tended to be more concerned about the delivery process.

     

    1. e) Personal income

    As shown in Figure 7, 91% of the respon-dents who earned less than VND 3 million per month paid great attention to the product price when buying via OGB. This is expected since people with a lower level of personal income usually have to live on a tighter budget than others and thus have a tendency to be more critical of product prices.

     

    4.3. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

     

    The analysis in this section focuses on the overall satisfaction of the survey respondents towards OGB business in Hanoi and the satis-faction degree for each of the factors perceived by most of the respondents as the ones that affect their satisfaction level with OGB busi-ness. These include product price, information quality, merchandise variety, delivery and product quality (see Section 4.2.1). The input data were computed by taking the average sat-isfaction ratings of different variables (see Table A1 – Appendix). The respondents’ expectations of each factor were also taken into account in the analysis to have better insights into OGB business performance.

     

    4.3.1. Overall satisfaction

     

    The survey results on overall satisfaction show that the majority of the respondents (63%) stayed neutral about OGB performance, 27% were satisfied and 10% felt dissatisfied

     

    and worse, which suggests a medium level of overall satisfaction of the respondents (mean: 3.15). From these data, it can be commented that the overall performance of OGB in Hanoi was somewhat up to the respondents’ expecta-tion.

     

    4.3.2. Satisfaction degree for key factors affecting customer satisfaction

     

    1. a) Product price

    As the product price was perceived as the factor affecting customer satisfaction by the highest number of respondents, and the respondent’s top reason to use OGB, the prices offered by OGB were expected to be consider-ably cheaper than those offered by traditional shopping channels.

     

    The survey results show fairly good responses to this factor with the mean satisfac-tion ratings being 3.44 out of 5. Specifically, nearly 40% of the sample found it satisfactory and 5% expressed their utmost satisfaction. This clearly implies that the OGB economical-ly meets or exceeds the expectations of numer-ous Hanoi’s consumers in their search for a money-saving shopping model, particularly in the current difficult situation of the economy.

     

    1. b) Information quality

    It is common sense for customers, particu-larly OGB customers, to expect truthful infor-mation about the products they intend to buy, so that they can make informed purchasing decisio ns. Unfortun ately, the satisfaction degree of the respondents for information quality was quite low, with 45% of the respon-dents reporting their dissatisfaction and the mean satisfaction degree being only 2.57. This may suggest that many customers do not trust

     

    Journal of Economics and Development                           106                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    the information posted on the OGB websites. The  in-depth  intervie ws  captured  com-plaints  about  the  informatio n  inaccuracy regarding products’ original prices, key fea-tures and images as well as unclear and non-transparent origins of goods or unknown sup-pliers. The same findings are found through the authors’ observation of five OGB websites including Nhommua, Muachung, Cungmua,

     

    Hotdeal, and Cucre.

     

    Therefore, it is fair to state that the quality of information provided by Hanoi’s OGB web-sites generally do not meet the customer’s expectation in terms of truthfulness.

     

    1. c) Merchandise variety

    Consumers are likely to expect that the OGB websites will provide them with a large range of goods and services i.e. great merchan-dise variety to facilitate their shopping.

     

    The survey shows that generally the respon-dents were quite satisfied with this factor as the mean satisfaction level was 3.30. Percentage wise, 38% were either very satis-fied or satisfied with the merchandise variety while merely 10% were dissatisfied. Several interviewees who reported dissatisfaction expressed that sometimes they did not find the needed products in these websites or the prod-ucts they wanted to buy quickly had run out of stock.

     

    The above ratings suggest that the OGB websites meet and even exceed the expecta-tions of most customers about the product range.

     

    1. d) Delivery

    It is reasonable for customers to expect quick and free-of-charge delivery with correct

     

    types and sizes of products. Nonetheless, it is revealed through the survey that the delivery seemed not to satisfy the respondents with 36% choosing the “Dissatisfied” category whereas only 19% expressed their satisfaction, which meant an average satisfaction rating of 2.83. The in-depth interviews discovered that key complaints of the delivery focus on delayed, charged and incorrect delivery. This completely matches the authors’ experiences as OGB customers and the related secondary data in this area.

     

    This rating pattern suggests the inability of some OGB companies in meeting the cus-tomer’s expectation of product delivery.

    1. e) Product quality

    As it is often believed that there is a trade-off between low price and good quality, it is seen from the interviews that the respondents tend to set their expectation of the OGB prod-uct quality to be at an acceptable level.

     

    Looking at customer’s expectation of goods and services separately, while the buyers of goods often wish the goods to be functional with rather appealing appearance and good durability, customers buying services expect good quality, friendliness of service providers and particularly equal treatment with normal customers who do not buy through discount vouchers.

     

    Given the above expectation, the product quality received low levels of satisfaction as the respondents rated their satisfaction 2.68 in average 31% of the respondents expressing dissatisfaction, compared to only 2% reporting satisfaction. The qualitative interviews further explored that among the OGB products

     

    Journal of Economics and Development                           107                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    offered, the quality of food and beverage deals were likely to most satisfy the interviewees, while the quality of fashion deals received a lot of negative comments in terms of counterfeits, fakes, unregistered or Chinese products of low quality, which greatly disappointed customers.

     

    4.3.3. Satisfaction degree in relation to demographic and customer shopping habits variables

     

    The examination of possible relationships between the factors affecting customer satis-faction and the demographic, as well as the shopping habits variables, provides a more insightful understanding about the OGB cus-tomer satisfaction. Due to the time limitation, only two key variables were carefully studied, which included gender and shopping frequen-

     

    cy.a) Satisfaction degree and gender

     

    The following radar chart compares the average satisfaction ratings of female and male respondents with regard to different factors affecting customer satisfaction (see TableA2 – Appendix).

     

    The general trend illustrates a medium level of satisfaction from both genders across all the factors, in which females tend to express greater satisfaction than their male counter-parts. However, the factor of supplier’s reputa-tion seemed to please male respondents more than females. This is quite reasonable as females often shop more frequently than males, which might make them more familiar with brands and the repute of suppliers.

     

    Figure 8: Customer satisfaction degree in relation to gender

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           108                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Women can be more critical than men when it comes to supplier’s reputation. The satisfac-tion patterns between female and male do not differ much among the remaining factors.

     

    1. b) Satisfaction degree and shopping fre-quency

    A rough examination of the relationship between the respondents’ shopping frequency and their average ratings of satisfaction demonstrates some interesting findings (see Table A3 – Appendix).

     

    As shown in Figure 9, the more frequent shoppers, who shop every week, generally have a greater degree of satisfaction related to a variety of factors. It might be rationalised that when these respondents interact more fre-quently with OGB, they are likely to under-stand better about the business, have greater chance to experience good things, and become

     

    more tolerant with the OGB experience. This reasoning is in agreement with Zeithaml, Berry and Parasuraman’s journal (1996) about the relationship between shopping frequency and overall satisfaction.

     

    The average rating of supplier’s reputation of the frequent shoppers was remarkably high-er than that of the less frequent buyers, who only purchase via the OGB channel less fre-quently than every two months. This probably implies that the more a person experiences OGB, the better chance they will have to do transaction with more competent and presti-gious suppliers.

     

    4.3.4. Likelihood of using and recommend-ing the OGB channel in the future

    To comprehensively assess customer satis-faction with the OGB business, apart from measuring the satisfaction degree for each fac-

     

    Figure 9: Customer satisfaction degree in relation to shopping frequency

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           109                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tor affecting customer satisfaction, it is neces-sary to explore the likelihood for the existing customers to repeat their OGB buying practice and recommend this shopping model to others.

    Statistically, the majority of respondents (87%) stated that they would continue to buy via this channel and a remarkable percentage (75%) confirmed the likelihood of recommen-dation. This is surprising given the low degree of satisfaction about the product quality among the respondents as previously analysed. A possible explanation for this result is that the huge financial advantage of this OGB channel outweighs the existing quality problems for many customers. This implies that if OGB companies focus more on fixing current quali-ty issues, they can surely win over many more

     

    customers.

     

    4.4. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

     

    The analysis in the previous parts proposes that apart from the respondents’ positive reflection on Hanoi’s OGB business, there are lots of complaints about the business perform-ance. The survey reveals a number of direct reasons for the customer dissatisfaction as illustrated by Figure 10, among which low quality products, false discount rates and incorrect information provided on websites receive the highest level of dissatisfaction.

    To thoroughly address these defects, it is crucial to have a clear idea of the root causes of this dissatisfaction. To this end, the second-ary data from online articles and T.V. inter-views and the primary data from the qualita-

     

    Figure 10: Direct reasons for OGB customer dissatisfaction

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           110                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tive research provided a great help. Reviewing these sources of data, the root causes can be distributed into three stakeholder categories; namely: macro-level management, OGB com-panies and OGB customers.

     

    4.4.1. Shortcomings related to legislation and infrastructure at macro level

    Like other businesses, OGB is subject to macro-level management. Thus, to improve the OGB performance, it is necessary to exam-ine the weaknesses in macro management of this business in Vietnam. Based on the aggre-gation of data collected from different sources, the root causes related to macro-level manage-ment can be divided into two main categories regarding the legal framework and the technol-ogy infrastructure.

     

    1. a) Lack of legislative regulations and super-vision

    Despite being a hot-trend in the recent years, OGB business still gets little attention from policy makers in Vietnam. Although there are a number of legislative documents related to consumer protection and e-com-merce such as the Law of Consumer Rights Protection, the Decree on E-commerce, and the Circular on Regulation on Operation Management of E-Commerce Websites Selling Goods or Providing Services, it is fair to say that these documents are still incomplete and insufficient. Particularly, they lack forceful sanctions for violation. Additionally, there has been no legislative document specialised in the segment of OGB, where there is clear involve-ment of a third party.

     

    Furthermore, the supervision and inspection on compliance with the legislations related to

     

    consumer rights protection and e-commerce is inefficient and even weak. Consequently, numerous violations of OGB consumer rights related to low quality and counterfeit products, false price discount, incorrect advertisement information , disputes and redress, online fraud, and etc., increasingly take place without being rightfully addressed by any agencies. This is supported by the survey results about the key reasons for customer dissatisfaction with OGB as aforementioned. Customers who have been defrauded are eligible to take legal action against the fraudulent seller, but the process is particularly time and effort consum-ing while positive results are quite uncertain.

     

    The lack of legislative regulations on the specific responsibilities of each party involved in OGB is proven more clearly given the recent temporary shutdown of Nhommua.com. This shutdown caused a huge blow to its cus-tomers as they felt really anxious about who would protect their consumer rights and how if Nhommua.com was out of the picture.

     

    b)Underdeveloped technology infrastruc-ture in Vietnam

     

    To optimise the advantages of OGB, it is necessary to develop a modern and stable infrastructure of technology that allows smooth and safe online orders and payment.

     

    Unfortunately, the currently underdevel-oped technology infrastructure in Vietnam restricts the capacity of carrying out smooth online transactions while ensuring customer security and privacy. Although the respondents seem not to realise the seriousness of the pri-vacy and security issues with only 8% feeling discouraged by the possible leak of private information and 1% expressing displeasure

     

    Journal of Economics and Development                           111                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    with the risk of their money being stolen (see Figure 10), consumers are certainly exposed to these great risks.

     

    Besides the risk of security/privacy, retrieval of money through Vietnam’s online payment system is quite troublesome, which somewhat prevents customers from using this purchasing channel.

     

    4.4.2. Lack of business management skills and business ethics of OGB companies

    OGB companies are likely to be the party that receives the greatest blame from unhappy customers. The root causes of this dissatisfac-tion related to this party can be categorised into two main issues as follows:

     

    1. a) Limited business management skills of OGB companies

    One of the issues of most concern men-tioned by OGB’s unhappy customers is prod-uct quality. Statistics show that 55% of the respondents reason their dissatisfaction with the below-standard quality of products. This is partly due to the companies’ poor quality con-trol over the goods and services provided, par-ticularly the lack of efficient checking and test-ing of the product quality before signing the contract with suppliers.

     

    Turning to delivery, three main reasons for the respondents’ displeasure include slow delivery, wrong delivery and charged delivery with the consensus of 20%, 6%, and 24% of the respondents respectively. This owes to the OGB companies’ inability to create a system-atic procedure for accurate, smooth and timely delivery as well as to cover their expenses rea-sonably.

     

    The lack of management competence of

     

    many OGB companies is also demonstrated in their lack of professionalism in the handling of questions and complaints from customers, which was the contributing factor to the dissat-isfaction of 17% of the respondents.

     

    Furthermore, the OGB companies are responsible for the protection of customer’s privacy/security. Nevertheless, as David Tran, co-founder of Nhommua.com stated, many OGB companies still pay little attention to per-sonal informati on protection (Stories of Vietnamese products, 2012).

     

    Apart from the above mentioned factors, the inefficient operation of the websites, which dissatisfied 6% of the respondents, also proves the poor management of the OGB companies, particularly in terms of information technolo-

     

    gy.b) Lack of business ethics of OGB compa-nies

     

    Besides resulting from the incompetence in quality management, low product quality can also be caused by the poor business ethics of OGB companies that only focus on high com-missions and large numbers of vouchers sold by offering extremely cheap but low quality products.

     

    The most common demonstration of OGB companies’ unethical practices however, does not relate to the quality problem but involves false discount rates with 47% of the respon-dents being disappointed by this factor. In some cases, the discount prices are even high-er than when the products are sold in a regular manner.

     

    The dishonesty of some OGB companies is also expressed through incorrect product infor-

     

    Journal of Economics and Development                           112                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    mation posted on their websites with 38% of the survey participants expressing frustration. These websites have tons of beautiful and vivid photos of the products, most of which are either purely illustrative or heavily retouched and in no sense describe the actual state of the products. Also, the text descriptions of the product characteristics are sometimes inten-tionally vague or even inaccurate. These cer-tainly mislead site visitors to a high expecta-tion of the products advertised.

     

    4.4.3. OGB customers’ lack of awareness of consumer rights and responsibilities

     

    The dissatisfaction of customers comes from not only objective causes but also the customers themselves. The interview results and the secondary data show two main subjec-tive reasons for customer dissatisfaction , including the customers’ lack of awareness of their rights and their responsibilities while doing trading transactions.

     

    1. a) Customer’s lack of awareness of their rights

    This lack of perception has been described in articles in the mass media. As the customers do not perceive their rights as consumers ade-quately, they become more vulnerable to the bad practices of OGB companies. It is unfortu-nate that this unawareness together with hesi-tation psychology prevents many customers from exercising their rights legitimately.

     

    1. b) Customer’s lack of responsibility during trading transactions

    Besides being entitled to a set of rights, cus-tomers must be responsible for their shopping behavio urs to minimise possible harmful results. However, a lot of customers still lack

     

    this sense of responsibility during their involvement in the purchasing process.

     

    In terms of goods deals, a common problem is a customer’s hasty decision to buy eye-catching but unnecessary goods offered by OGB websites. This leads to a later waste as they hardly find any chance to use that prod-uct. Furthermore, the OGB companies often have tight policies on goods change or cash refund after the receipt of goods. Therefore, some customers who do not carefully check the product before finalising the purchase may get into trouble later if they are not satisfied with the products and want a refund.

     

    In terms of service deals, one serious mis-take that customers can make is not.reading the voucher’s instructions thoroughly This may create troubles for customers when using the vouchers.

     

    5 Conclusions and recommendations

     

    5.1 Conclusions

     

    5.1.1. Key factors affecting OGB customer satisfaction

    It is revealed that product price, product quality, merchandise variety, delivery, and information quality are the most popular fac-tors selected by the highest percentage of the respondents; whereas the response time, pay-ment method, and security/privacy are the least popular ones. It is surprising yet reason-able that the finding about security/privacy goes against the literature where security-pri-vacy is among of the most concerned areas in e-commerce.

     

    Some interesting findings come into view considering different demographic variables. Specifically, females pay more attention to the

     

    Journal of Economics and Development                           113                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    product price and transaction capability when shopping, but are less attentive to the product delivery than males. Delivery seemed to attract more attention of married people than the sin-gle ones, as well as more interest of the older age group than the younger age groups.

    5.1.2. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

    The measurement of the customer satisfac-tion degree with the OGB business indicates a medium level of overall satisfaction of the respondents. Among the key factors listed above, the product price and merchandise vari-ety have higher satisfaction degrees while the information quality, product quality and deliv-ery have lower rates.

     

    Taking gender and shopping frequency into account, female customers tended to have higher satisfaction rates than males and more frequent shoppers seemed to be more satisfied than less frequent buyers.

     

    It is revealed that despite not being quite satisfied, the respondents are likely to repeat purchase and recommend to others, which implies that the price advantage outweigh existing problems. This is clearly a good signal for the development of Hanoi’s OGB.

     

    5.1.3. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

    The root causes of customer dissatisfaction can result from three parties, including macro-level management, OGB companies, and OGB customers.

    Firstly, the macro-level management over OGB is considered ineffective due to the lack of specific legislative regulations related to OGB and a functional supervision system to

     

    manage the OGB companies’ operation, as well as the underdeveloped technology infra-structure, which may lead to the poor perform-ance of OGB companies and eventually cus-tomer dissatisfaction.

     

    Secondly, the OGB companies are claimed by the majority of interviewees to be responsi-ble for customer dissatisfaction, particularly in terms of the product quality, false price dis-counts, unprofessionalism in complaint han-dling, and incorrect product information. This may be due to their limitation in quality man-agement and more seriously, their poor busi-ness ethics.

     

    Lastly, the customers themselves may con-tribute to the bad purchasing experiences with OGB businesses where they are probably vul-nerable. This happens as a result of the limited awareness of the OGB consumers about their rights and responsibilities.

     

    5.2. Recommendations

     

    From the previous analysis, it is certain that necessary measures need to be taken to improve the satisfaction of Hanoi’s OGB cus-tomers. In this sense, the authors would pro-pose a number of recommendations as fol-lows:

     

    5.2.1. Strengthen macro-level management over the OGB market

     

    Given the incomplete legal framework spe-cialised in OGB, customers’ growing interest in this business form and the current chaotic situation of this market in Vietnam, it is the right time for the authorities to develop specif-ic and detailed regulations with strict sanctions for bad practices in the management and oper-ation of OGB. This is once again re-empha-

     

    Journal of Economics and Development                           114                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    sised by the incident of Nhommua, a big and firmly established OGB company, which tem-porary shut down last December.

     

    As a latecomer to the already-developed worldwide e-commerce market, Vietnam can and should fully take the advantages as a mar-ket follower to learn from the macro-manage-ment of other countries. Vietnam’s govern-ment can then tailor suitable regulations to proactively manage new e-commerce models instead of passively waiting until problems arise to generate ad-hoc solutions.

     

    Several important categories may be taken into consideration with regard to these legal regulations , for example contrac t terms between OGB companies and their suppliers to protect customers, especially in the case of business disputes, as well as a better method of securing suppliers and customers’ money in the case of OGB companies’ bankruptcy. The latter can be implemented through two possi-ble ways. First, OGB companies might be legally required to put customer’s money into an intermediate means of settlement, like an electronic wallet, which would be managed by a concerned governmental authority. Otherwise, OGB companies might be com-pelled to either put aside daily deposits or buy insurance on their business operation to reduce the financial risk for both suppliers and cus-tomers.

     

    These legal regulations should be broadly disseminated to concerned parties, particularly consumers. The OGB customers should be educated to become well-aware of their rights and responsibilities related to OGB business. In this aspect, the relevant social organisations can play a significant role.

     

    Furthermore, macro-level supervision over the operation of OGB companies must be taken into serious consideration. There should be clear-cut regulations prescribing that a gov-ernmental agency will be the direct manage-ment unit of these companies so that they can operate according to the rules while being strictly monitored by the specific agency that bears specific accountability in front of the government.

     

    Additionally, it is necessary for the govern-ment to develop a strategic plan to strengthen the country’s technology infrastructure in order to ensure a safer online transaction envi-ronment to facilitate the operation of e-com-merce in general and OGB in particular.

     

    5.2.2. Improve quality management and business ethics of OGB companies

    Capacity building activities for OGB com-panies are needed to enhance their manage-ment, particularly with regard to quality inspection, delivery, human resources training, question and complaint handling procedures, and information technology skills.

     

    More importantly, these companies must realise that for long-term profits, they have to use more ethical and more professional meas-ures to attract customers, such as improving the product quality and diversity, delivery process, and information quality, rather than trick customers with incorrect descriptions about products or falsely stated discount rates as some OGB companies are doing now. Otherwise, they will soon lose customers due to current fierce competition and increasingly demanding consumers.

     

    5.2.3. Raise awareness of OGB customers

     

     

    Journal of Economics and Development                           115                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    about customer rights and responsibilities Firstly, OGB customers need to well under-

     

    stand their rights and responsibilities to keep themselves from being vulnerable. They have to be continuously updated with legal knowl-edge related to e-commerce and particularly OGB as well as laws about consumer rights protection.

     

    Secondly, consumers should be critical about their responsibilities when shopping. They should refrain from impulse shopping and spend adequate efforts to study a product pre-purchase. Furthermore, they need to care-

     

    fully check the goods before finalising their purchase to avoid potential troubles later, as well as to thoroughly read the vouchers for service deals about the expiration date, appli-cable items, reservation, time requirement, and etc.

     

    Thirdly, given the current chaotic situation of low quality goods and services offered by many OGB websites, it is strongly advisable that the customers only choose deals from prestigious suppliers or from ones that are highly recommended by their family and friends.

     

    APPENDIX

     

    Box A1: Key findings from the qualitative research

     

    • Attractive price and door-to-door delivery were the most common reasons for selecting the OGB channel.
    • With advantages and a high prevalence of the Internet in Hanoi, and the power of word-of-mouth advertising, these channels were the main sources of information through which the interviewees learned about OGB websites.
    • Customer satisfaction was affected differently by different factors including price level, information quality, merchandise variety, supplier’s reputation, website design, sales assistant’s attitude, payment, response time, privacy, transaction capability, product quality, delivery and customer services, in which the most selected factors included price level, product quality, information quality and delivery.
    • Despite the exposition of customers’ personal contacts without their consent experienced by many interviewees, they were unaware of the security/privacy issues.
    • Product level and merchandise variety were the most satisfactory factors due to low price and a copious range of OGB products offered. In contrast, with fake, counterfeit and low quality OGB products generally, and inaccurate information on products’ original prices and features, the product quality and information quality were the least satisfactory ones.
    • Key root causes of customer dissatisfaction resulted from the ineffective macro-level management of OGB in terms of legislative regulations, supervision systems and technology infrastructure; the quality management limitation and poor business ethics of OGB companies; and the limited awareness of OGB consumers about their rights and responsibilities.

    Journal of Economics and Development                           116                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Table A1: Means and standard deviations of satisfaction degree for all the respondents

     

     [1] 
    

     

     
    
    [1]

    [1]

     
         

    

     [1]

    

       
    

    [1]

     
       

    [1] [1] [1]  

       

    

     

     

       


    

     

    ­[1] ! [1] “[1]

     

    

     

    #  $ [1]  %

    [1][1]&

    

     

    #   %

    [1][1]&

    ‑

     

    (    $ 

    


    ’

     

    )[1] $ [1] [1]

     

    ‑

     

    *[1] +#” 

       

    ’

     

    #[1]

     

    ‘

     

    ,[1]”[1] %$ [1]- [1]  [1][1]  ! [1]&

    ’

    ‑

     

    *[1] $[1]$[1].  [1]

     

    ‘‑

     

    /[1]    $ !

     


     

    *$$[1].  [1]$

    

     

    0″[1]   

     

    

     

    

     

    Table A2: Means and standard deviations of satisfaction degree for female and male

     

    

    [1]

     

       


    

     

    [1] [1]

      [1]
             

    [1]
    [1]

    
    
    

    [1]
    [1]

     

    
    
    

     

    

     

    [1]

     

     

    

     

     

    [1]

     

     

    [1]    

     

    

    

     

    

     

    

     

     

    

     

    

     

    ‑­­

    !”  #

     

    

    ‑­

    

     

    
    ‑

    $! %!

    

     

    ­

     


    ‑­

    $! 

    

    

       

    ‑‑‑

    &! !% 

    ‑
    ‑‑‑

    

     

    ­­

    ‘ %  

    

    

     

    ­‑

    ( !)$#!

     

    ­

       

    ­­

    $   “

    

    
    ­

       

    ‑

    * #  +%! ,      !” -

    ‑

    ­
    ‑

    ‑­

     

    ­‑

    ­

    ( % % . 

    

    

    ­

     

    ‑

    /  0 !% “

    

    ­

     

    
    
    

    (%% . %

    ­

    ­­‑‑­

    

     

    

    Journal of Economics and Development                           117                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Journal of Economics and Development

    118

     

    Vol. 15, No.1, April 2013

    Table A3: Means and standard deviations of satisfaction degree for respondents with regard to shopping frequency

     

     

    [1]   

     

    [1]

    

     

    [1]

     

    [1]

     

     [1]

     
               

    

      
     

     

       

     

     

     

     

     

       

     

     

     

     
                         
     

    [1]

    

     

    [1]

     

    

    [1]

     

     [1]

    [1]

     

    

     

    [1]

     

    

     
       

    [1]

         

    [1]

           

    [1]

         

    [1]

     
                     

    [1] [1] [1]  

     

    

     

    

     

    

    

     

    
    
    

    

     

    

         

    

    

     

     ‑­

    

    
    

         

    

    

     

    

       

    

    
    

     

    

     

    
    

     

    [1]!” [1] #[1]­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

    

     

    $! %![1]

     

    

     

    

     

    

    

     

    

    

     

    

    

     

    

     

    
    

     

    $! ‑­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    

     

    & ! !% ‑­

     

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    

         

    

     

    ‘[1] % [1] [1]

     

    
    

    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    ([1]!­)$#!­

     

    

         

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    $­[1]

     

    

    

     

    

     

    

       

    

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    *[1]‑#[1]­

    

    

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    
    

         

    

     

    (‑[1] %[1]%‑[1]+  [1]

    

    
    

         

    

    

    

     

    

    

           

    

     

    

     

    ,[1] - !%‑ “‑

    

    
    

         

    

       

    

    

       

    
    

         

    

     

    (%%‑[1]+  [1]%

    

    
    

     

    

     

    

       

    

    

     

    

     

    

     

    

     

    Notes:

     

    1. A very popular online social network in the world in general and in Vietnam in particular.
    1. A social interactive forum designed mainly for mothers, fathers and other adults to talk about issues regarding family, society, etc. This is a very popular and highly-active forum in Vietnam with more than 1 million members a t the moment. Link: http://www.webtretho.com/forum/
    1. Yahoo Messenger and Skype.

    References

     

    AC Nielsen. (2009), Ho Chi Minh City and Hanoi Regional Consumer Differences, The Nielsen Company, New York, the United States:

     

    Anand, K.S., & Aron, R. (2003), Group Buying on the Web: A Comparison of Price-Discovery Mechanisms’, Management Science, 49(11), 1546-1562.

     

    Anderson, E.W., & Sullivan, M.W. (1993), ‘The Antecedents and Consequences of Customer Satisfaction for Firms’, Marketing Science, 12(2), 125-143.

     

    Ba, S., Whinston, A. B., & Zhang, H. (2003), ‘Building Trust in Online Auction Markets through an Economic Incentive Mechanism’, Decision Support Systems, 35(3), 273-286.

     

    Bhattacherjee, A. (2001), ‘Underst anding Information Systems Continuance: An Expectation-Confirmation Model’, MIS Quarterly, 25(3), 351-370.

    Cimigo.(2011), 2011 Vietnam NetCitizens Report: Internet Usage and Development in Vietnam. Cimigo. Dawes, J. (2008), ‘Do Data Characteristics Change According to the Number of Scale Points

     

    Used? An Experiment Using 5 Point, 7 Point and 10 Point Scales’, International Journal of Market Research, 50(1), 1-19.

     

    Devlin, P. (1965), The Enforcement of Morals. Oxford, Oxford University Press, the United Kingdom. Do, Q.T. (2011), ‘Vietnam Group-Buying Market Overview 2010-2011 [PowerPoint slides]’, Accessed

     

    August 8, 2012, < http://www.doquangtu.net/2011/11/nghien-cuu-oc-lap-ve-thi-truong-group.html>. Flaherty, D.H. (1991), ‘On the Utility of Constitutional Rights to Privacy and Data Protection’, Case

     

    Western Reserve Law Review, 41(3), 831.

     

    FTA Marketing Research and Consultant Company. (2011), Survey on Online Shopping Behaviour, Accessed August 5, 2012, < http://www.ftaresearch.com/vn/library.php?id=106>.

    Giese, J.L., & Cote, J.A. (2002), ‘Defining Consumer Satisfaction’, Academy of Marketing Science Review, 2000(1), Accessed October 17, 2012, <http://www.amsreview.org/ articles/giese01-2000.pdf>.

     

    Jones, J.M., & Vijayasarathy, L.R. (2000), ‘Print and Internet Catalogue Shopping: Assessing Attitudes

     

    and Intentions’, Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, 10, 191-202.

     

    Kauffman, R.J., & Wang, B. (2001), ‘New Buyer’s Arrival under Dynamic Pricing Market Microstructure: The Case of Group-Buying Discounts on the Internet’, Journal of Management Information System, 18(2), 157-188.

     

    Knowledge Wharton. (2007), Men Buy, Women Shop”: The Sexes Have Different Priorities When Walking

     

     

    Journal of Economics and Development                           119                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Down the Aisles, Accessed November 16, 2012, <http://knowledge.wharton.upenn.edu/article.cfm?

    articleid=1848>.

       

    Kotler, P. (1997), Marketing Management: Analysis, Planning, Implementation, and Control, Prentice-

    Hall, New Jersey, United States:.

       

    Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005), ‘Customer Perceptions of E-service Quality in Online Shopping’,

    International

    Journal  of  Retail  &  Distributio n

    Manageme nt,

    33(2),  161-176.  doi:

    10.1108/09590550510581485.

       

    Libbon, R.P. (1999), ‘Data Dog’, American Demographics, 21(2), 35.

     

    Likert, R. (1932), ‘A Technique for the Measurement of Attitudes’, Archives of Psychology, 140(1), 55.

    Liu, X., He, M., Gao, F., & Xie, P. (2008), ‘An Empirical Study of Online Shopping Customer Satisfaction

    in China: A Holistic Perspective’, International Journal of Retail & Distribution Management,

    36(11), 919-940. doi: 10.1108/09590550810911683.

       

    OBG websites: Cucre. Available at http://cucre.vn; Cungmua. Available at http://www.cungmua.com;

    Hotdeal. Available  at  http://www.hotdeal.vn/;  Muachung. Available  at  http://muachung.vn;

    Nhommua. Available at http://www.nhommua.com <Accessed November, 2012>.

    Rowley, J. (1996), ‘Retailing and Shopping on the Internet’, International Journal of Retail and

    Distribution, Management, 24(3), 26–37.

     

    BMA Review, Retrieved,

    Sheth, J. N. (2001), ‘Competitive Advantages through Customer Satisfaction’,

    from http://www.jagsheth.net/publications_subject.html <Accessed Agust 12, 2012>.

    Smith, S.M. (2007), ‘How to Measure Customer Satisfaction: Satisfaction Measurement and Theory’,

    About Surveys. Available at http://www.aboutsurveys.com/how-to-measure-customer-satisfaction-

    satisfaction-measurement-and-theory/ <Accessed November 24, 2012>.

     

    Stories of Vietnamese Products. (2012), ‘Mua Hang Theo Nhom va Quyen Loi cua Nguoi Tieu Dung

    [Group-buying and Consumers’ Rights] [Motion picture]’, HTV9, Vietnam.

    Vagias, W.M. (2006),

    Likert-type Scale Response Anchors, Clemson International Institute for Tourism &

    Research Development, Department of Parks, Recreation and Tourism Management. Clemson

    University.

     

    Computer Networks and ISDN Systems,

    Van Swaay, M. (1995), ‘The Value and Protection of Privacy’,

    26(4), 149-155.

         

    Yi, Y. (1990), ‘A Critical Review of Consumer Satisfaction. In V.A. Zeithmal (Ed.)’, Review of Marketing (pp. 68-123), American Marketing Association, Chicago, the United States.

     

    Zeithaml, V.A., Berry, L.L., & Parasuraman, A. (1996), ‘The Behavioural Consequences of Service Quality’, Journal of Marketing, 60(2), 31-46.

     

     

    Journal of Economics and Development                           120                                                   Vol. 15, No.1, April 2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]