Category: Tài Liệu Lớp 11

  • Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-Ch%E1%BA%A1y-Gi%E1%BA%B7c-Nguy%E1%BB%85n-%C4%90%C3%ACnh-Chi%E1%BB%83u.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Bố cục

    – 2 câu đề: thực dân Pháp nổ súng xâm lược

    – 2 câu thực cảnh tượng tan hoang của dân chúng

    – 2 câu luận: toàn cảnh sau khi chúng tới

    – 2 câu kết: sự ai oán những tên quan phụ mẫu vô dụng, bất tài

    Câu 1 (Trang 49 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Mở đầu bài thơ tác giả nêu:

    + Cảnh chạy giặc nhốn nháo trước tiếng súng xâm lược

    + Cảnh phiên chợ quê ồn ào, tấp nập trở nên hỗn loạn, nháo nhác

    + Tình cảnh đất nước rơi vào nguy khốn “một bàn cờ thế phút sa tay”

    + Cảnh nhân dân hoảng loạn “lũ trẻ lơ xơ chạy”, “bầy chim dáo dác bay”…

    + Sự bị động của triều đình phong kiến trước kẻ thù đã dẫn tới hậu quả mất nước, mất mát về người lẫn của

    b, Phân tích nét đặc sắc trong ngòi bút tả thực của tác giả:

    + Hai câu thực: bức tranh cụ thể sinh động cảnh tan tác bi thương của nhân dân khi giặc xuất hiện đột ngột

    + Biện pháp đảo ngữ, làm nổi bật trước mắt người đọc vẻ xơ xác, tan tác của lũ trẻ và bầy chim khắc họa được sự hoang mang và ngơ ngác của chúng

    + Những địa danh cụ thể Bến Nghé, Đồng Nai bị giặc cướp bóc, phá phách đều tan tác

    + Tác giả viết ra những dòng thơ bằng sự xót xa trước tình cảnh của người dân vô tội, bằng sự căm thù chất chứa trong tâm can

    + Những câu thơ thể hiện sự phẫn nộ, lòng căm thù giặc của tác giả thông qua ngòi bút sắc bén

    Câu 2 (trang 49 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Từng chữ từng câu trong bài thơ là tiếng kêu đau xót, đau đớn xuất phát từ trái tim nồng nàn yêu quê hương trước tội ác trời không dung tha của giặc

    + Nhà thơ đau xót trước cảnh nước mất nhà tan, quốc gia diệt vong, nhân dân tan tác

    + Ông thất vọng trước cảnh quê hương ngập tràn bóng giặc, triều đình vô dụng mặc cho nhân dân phải khổ sở điêu linh

    ⇒ Tác giả Nguyễn Đình Chiểu luôn tấm gương sáng về tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm

    Câu 3 (trang 49 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Hai câu thơ cuối bài thể hiện sự đau xót của tác giả trước thực tại lầm than của dân tộc

    + Ông đặt ra câu hỏi tu từ nhằm mục đích hỏi cụ thể ai là người cứu nước giúp dân

    + Cách gọi “trang”- kính trọng- hỏi những người có chức trách trước tình cảnh của đất nước, nhân dân

    + Câu kết bài lại hạ thấp họ- những kẻ mũ áo quan lại nhưng tài thao lược không có

    + Tác giả gián tiếp tố cáo triều đình nhà Nguyễn vô dụng, bạc nhược, hèn nhát

    ⇒ Bài thơ vừa tả thực, vừa tả khái quát để kể tội quân giặc, xót xa trước cảnh nhân dân. Giá trị của bài thơ góp phần làm nên tính chiến đấu mạnh mẽ của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

  • Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn mẫu Tìm hiểu thi phẩm Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mặc Tử


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-B%C3%A0i-L%E1%BA%BD-Gh%C3%A9t-Th%C6%B0%C6%A1ng-Nguy%E1%BB%85n-%C4%90%C3%ACnh-Chi%E1%BB%83u.pdf[/pdfviewer]

    Soạn Bài Lẽ Ghét Thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Bố cục

    – Phần 1 (6 câu đầu): cuộc đối thoại của ông Quán và Vân Tiên

    – Phần 2 (10 câu tiếp): Lời ông Quán về lẽ ghét

    – Phần 3 (14 câu tiếp): lời ông Quán bàn về lẽ thương

    – Phần 4 (2 câu cuối): tư tưởng và tấm lòng của tác giả

    Câu 1 (Trang 48 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    – Những điều ông Quán ghét (10 câu):

    + Ghét việc tầm phào, ghét vua Trụ mê dâm, U Vương, Lệ Vương, Ngũ Bá…

    + Điểm chung của vua chúa được nhắc tới: ăn chơi, hoang dâm vô độ, ham quyền lợi, tranh đoạt quyền lợi

    + Căn nguyên của sự ghét do lòng thương dân, vì dân, ghét những kẻ hại dân, làm dân lầm than, khốn khổ

    – Lẽ thương của ông Quán (14 câu):

    + Nói tới những bậc hiền tài phải chịu lận đận, không được ước nguyện giúp đời: Khổng Tử, Nhan Uyên, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Hàn Dũ…

    + Những trí thức nho sĩ có tài, có đức, ngay thẳng nhưng không gặp thời

    + Tác giả tìm thấy bóng dáng mình trong ước mơ lập thân giúp đời

    Câu 2 (trang 48 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Đoạn trích thành công khi sử dụng cặp từ ghét- thương

    + Cặp từ này được lặp lại 12 lần, sắp sóng đôi, đăng đối linh hoạt

    + Phép lặp cũng được vận dụng linh hoạt từ hai từ ghét- thương đã giúp biểu hiện nổi bật phân minh tình cảm của tác giả

    + Thương và ghét rành rọt, không mập mờ, không nhạt nhòa, chung chung

    + Việc lặp lại hai từ này làm tăng cường độ của cảm xúc: yêu thương, căm ghét đạt đến tột cùng, đều nồng nhiệt

    Câu 3 (trang 42 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Yêu và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít trong tâm hồn nhà thơ

    + Tác giả xót xa trước cảnh lầm than, khổ cực của nhân dân và những con người tài hoa bị vùi dập

    + Căm ghét sâu sắc những kẻ làm hại dân, hại đời, đẩy con người vào cảnh ngộ éo le

    + Tình cảm yêu- ghét đan xen, nối tiếp nhau, hòa nhập vào cuộc đời, với nhân dân: đỉnh cao của tư tưởng, tình cảm của tác giả

    ⇒ Đoạn thơ mang tính triết lý đạo đức mà không khô khan, cứng nhắc, ngược lại rất trữ tình, dạt dào cảm xúc.

    Cảm xúc đó xuất phát từ cảm xúc sâu sắc và nồng đượm từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thơ, từ trái tim nặng trĩu tình đời, tình người tha thiết

    Luyện tập

    Câu thơ thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn:

    Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

    + Yêu thương và căm ghét có mối quan hệ khăng khít như hai mặt của một vấn đề.

    + Càng xót thương cảnh người dân lầm than, người tài bị vùi dập thì tác giả càng căm ghét những kẻ hại dân bán nước.

    + Sự yêu ghét rạch ròi, phân minh trong trái tim của tác giả.

    + Phía sau lẽ ghét thương đó chính là tình thương dân, thương đời sâu sắc, bao la

  • Soạn văn Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Soạn văn Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Soạn văn Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Soạn văn Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU MÀU SẮC DÂN GIAN TRONG BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/So%E1%BA%A1n-v%C4%83n-B%C3%A0i-ca-ng%E1%BA%AFn-%C4%91i-tr%C3%AAn-b%C3%A3i-c%C3%A1t-Cao-B%C3%A1-Qu%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Soạn văn Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Bố cục

    – Phần 1 (4 câu đầu): hình ảnh đi trên bãi cát và người đi trên bãi cát

    – Phần 2 (6 câu tiếp theo): tâm trạng suy tư của người đi đường

    – Phần 3 (còn lại): sự bế tắt của người đi đường

    Câu 1 (trang 42 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    Ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố thực người đi trên bãi cát

    + Con đường công danh, con đường đời vô cùng xa xôi, trắc trở, gập ghềnh

    + Con người đi trên bãi cát vẫn tất tả bước về phía trước vì danh lợi, hào nhoáng

    → Cao Bá Quát về sự cần thiết của đổi mới giáo dục qua cái nhìn chán ghét lối học cũ mưu cầu danh lợi

    Câu 2 (trang 42 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    Các câu thơ liên kết lo-gic với nhau:

    + Danh lợi (chỉ việc học hành, thi cử làm quan) là khái niệm xâu chuỗi toàn bộ đoạn thơ

    + “ Không học được tiên ông phép ngủ- Trèo non lội suối giận khôn vơi”: thể hiện nỗi chán nản của nhà thơ vì tự hành hạ mình theo đuổi công danh

    – Bốn câu thơ còn lại nói về cám dỗ của chuyện công danh với đời người

    + Những kẻ ham lợi danh phải tất tả ngược xuôi, nhưng ở đời chẳng ai thoát khỏi cám dỗ lợi danh

    + Danh lợi cũng giống như thức rượu làm u mê con người

    → Tác giả khuyên cần thoát khỏi con u mê danh lợi

    Câu 3 (trang 42 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Tâm trạng chán nản, mệt mỏi của tác giả khi đi trên bãi cát

    + Tầm cao tư tưởng thể hiện ở chỗ nhà thơ nhìn ra tính vô nghĩa của lối học khoa cử theo công danh

    + Cuối cùng ông vẫn bị cuốn vào dòng người đi trên bãi cát ấy

    → Cao Bá Quát nhìn thấy sự vô nghĩa, hời hợt của con đường công danh theo lối cũ

    Câu 4 (trang 42 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    Bài ca ngắn đi trên bãi cát thuộc loại cổ thể có sự tự do về vần, nhịp điệu, kết cấu

    + Nhịp điệu được tạo từ sự thay đổi độ dài ngắn của câu và cách ngắt nhịp

    + Ngắt nhịp linh hoạt 2/3; 3/5 có khi 4/3

    + Nhịp điệu diễn tả sự gập ghềnh, trắc trở

    Luyện tập (trang 42 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

    Cao Bá Quát hăm hở tìm lý tưởng nhưng không thành

    + Chín năm cứ ba năm một lần đi thi không đỗ tiến sĩ

    + Về sau được nhận chức tập sự ở Bộ Lễ

    + Tình thương, trọng người tài nên gây tội và bị đi đày ở

    + Ông nhận ra nhiều điều bất công từ sự bóc lột của triều đình nhà Huế

    → Ông ý thức được sự tầm thường của danh lợi, và chế độ vì vậy ông khao khát làm nên điều ý nghĩa, lớn lao hơn cho đời, dẫn tới cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn


  • SOẠN VĂN BÀI CA NGẤT NGƯỞNG (NGUYỄN CÔNG TRỨ)

    SOẠN VĂN BÀI CA NGẤT NGƯỞNG (NGUYỄN CÔNG TRỨ)

    SOẠN VĂN BÀI CA NGẤT NGƯỞNG (NGUYỄN CÔNG TRỨ)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI CA NGẤT NGƯỞNG (NGUYỄN CÔNG TRỨ)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU PHÂN TÍCH BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI LƯƠNG THIỆN CỦA CHÍ PHÈO TRONG TRUYỆN NGẮN CÙNG TÊN CỦA NHÀ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-CA-NG%E1%BA%A4T-NG%C6%AF%E1%BB%9ENG-NGUY%E1%BB%84N-C%C3%94NG-TR%E1%BB%A8.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI CA NGẤT NGƯỞNG ( NGUYỄN CÔNG TRỨ)

    Bố cục

    – Phần 1 (6 câu thơ đầu): quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan

    – Phần 2 (10 câu thơ tiếp): quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu

    – Phần 3 (còn lại): quãng đời khi cáo quan về hưu

    Câu 1 (39 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Ngất ngưởng từ láy tượng hình vốn được dùng sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định

    – Từ ngất ngưởng được dùng chỉ sự khác thường, vượt lên dư luận

    – Nhan đề được nhắc lại 4 lần trở thành biểu tượng, phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, thách thức xung quanh dựa trên sự tự ý thức, tài năng, nhân cách cá nhân:

    + Chỉ sự thao lược, tài năng, phong cách ngạo nghễ khi làm quan của tác giả

    + Chỉ sự ngang tàng của ông khi làm dân thường

    + Khẳng định cái chơi ngông hơn người

    + Tác giả hơn người vì dám coi thường công danh, phú quý, coi thường dư luận, không bị ràng buộc

    Câu 2 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nguyễn Công Trứ biết làm quan là mất tự do nhưng ông vẫn làm quan vì:

    + Ông muốn thể hiện tài năng, hoài bão của bản thân

    + Ông quan niệm bản thân đã cống hiến hết tài năng, nhiệt huyết nên ông có quyền ngất ngưởng nhất so với các quan trong triều

    → Ngất ngưởng thực chất là phong cách sống tôn trọng trung thực, cá tính, không chấp nhận “khắc kỉ phục lễ” uốn mình theo lễ và danh giáo của Nho gia

    Câu 3 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nguyễn Công Trứ đã tự kể về mình, tự thuật, tự đánh giá về bản thân

    + Giọng điệu tự thuật khảng khái, đầy cá tính

    + Ông ý thức được rõ ràng tài năng, phong cách sống của bản thân

    + Ông tự hào vì có cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội

    + Ông tự hào vì dám sống cho mình, bỏ qua sự gò bó của lễ và danh giáo

    Câu 4 (trang 39 sgk ngữ văn 11 tập 1)

    Nhiều nhà thơ, nhà chính trị nổi tiếng dường như đều gửi gắm tâm sự của mình nói

    + Thể loại hát nói nhanh chóng trở thành thể loại chiếm được vị trí độc tôn, trở thành một khuynh hướng văn học

    + Hát nói có những ưu điểm về sự phóng khoáng thích hợp với việc truyền tải quan niệm nhân sinh mới mẻ của tầng lớp nhà nho

    Luyện tập

    Sự khác biệt:

    + Ngôn ngữ bài ca ngất ngưởng phù hợp với nội dung, phong cách của Nguyễn Công Trứ tự do, có chút ngạo nghễ

    + Ngôn ngữ bài ca phong cảnh Hương Sơn nhẹ nhàng, thấm đẫm ý vị thiền, say mê phong cảnh thiên nhiên đất nước

  • SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-B%C3%80I-V%E1%BB%8ANH-KHOA-THI-H%C6%AF%C6%A0NG-TR%E1%BA%A6N-T%E1%BA%BE-X%C6%AF%C6%A0NG.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN BÀI VỊNH KHOA THI HƯƠNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

    Bố cục

    – Hai câu đề: Giới thiệu về kì thi

    – Hai câu thực: Cảnh tượng khi đi thi

    – Hai câu luận: Những ông to bà lớn đến trường thi

    – Hai câu kết: Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi

    Câu 1 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    Kì thi có điều khác thường là trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ “lẫn”: lẫn lộn, báo hiệu điều gì thiếu nghiêm túc, ô hợp, láo nháo trong kì thi.

    Câu 2 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Hình ảnh:

    + Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ → dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

    + Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

    – Nghệ thuật:

    + Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

    + Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

    + Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

    ⇒ Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước

    ⇒ Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

    Câu 3 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Hình ảnh:

    + Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

    + Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

    ⇒ Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

    – Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

    ⇒ Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, bản chất của xã hội thực dân phong kiến.

    Câu 4 (trang 34 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.

    – Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

  • SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Cảm nhận về bài Vội vàng của Xuân Diệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-KH%C3%93C-D%C6%AF%C6%A0NG-KHU%C3%8A-NGUY%E1%BB%84N-KHUY%E1%BA%BEN.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI KHÓC DƯƠNG KHUÊ (NGUYỄN KHUYẾN)

    Bố cục

    – Đoạn 1 (hai câu đầu): Giới thiệu về sự ra đi đột ngột của Dương Khuê

    – Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

    – Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

    Câu 1 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

    – Đoạn 1 (hai câu đầu): Giới thiệu về sự ra đi đột ngột của Dương Khuê

    – Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

    – Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

    Câu 2 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): *Kỉ niệm của tác giả với người bạn của mình

    – Cùng nhau thi đỗ làm quan

    – Cùng nhau dong chơi khắp chốn non nước

    – Cùng ngân nga hát ả đào

    – Cùng nhau uống rượu và bình luận thơ văn

    – Cùng nhau trải qua những buổi hoạn nạn, vật đổi sao rời

    * Nỗi đau, trống vắng khi mất bạn

    – Chân tay rụng rời khi nghe tin bạn mất

    – Rượu ngon không có bạn hiền

    – Câu thơ hay không có người bình luận

    – Đàn kia gảy cũng không ai thấu hiểu

    ⇒ Cho thấy tình cảm thắm thiết giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê. CÙng với tâm trạng lúc đột ngột, lúc ngậm ngùi, luyến tiếc, lúc lắng đọng thấm sâu chi phối tuổi già của tác giả. Hai câu kết là nỗi đau không nước mắt, nỗi đau như dồn vào lòng.

    Câu 3 (trang 32 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Nghệ thuật nói giảm nói tránh “Bác Dương thôi đã thôi rồi”

    – Nghệ thuật sử dụng các câu hỏi tu từ trong đoạn cuối bài thơ. Hàng loạt các câu thơ như: Làm sao bác vội về ngay; Vội vàng sao đã mải lên tiên, … Để rồi lắng đọng trong những câu thơ hụt hẫng, chơi vơi

    – Điệp từ không dùng rất hợp hoàn cảnh và đặc sắc. Chỉ một cặp lục bát mà chồng xếp 5 chữ không diễn tả thật đúng cái trống vắng khi mất bạn. Để rồi kết đọng trong tiếng khóc đáng thương của người bạn già tri kỉ. Câu thơ cuối buông nhẹ mà khơi gợi, xót đau, hờn tủi.

  • SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: VĂN MẪU NGHỊ LUẬN BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG

    ——————————————–

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-TH%C6%AF%C6%A0NG-V%E1%BB%A2-TR%E1%BA%A6N-T%C3%9A-X%C6%AF%C6%A0NG.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI THƯƠNG VỢ (TRẦN TÚ XƯƠNG)

    Bố cục

    – Có thể chia thành: Đề, thực, luận, kết

    – Hoặc chia như sau:

    + 6 câu thơ đầu: Hình ảnh bà Tú

    + 2 câu cuối: Nỗi lòng của tác giả

    Câu 1: Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu

    – Côn việc: Buôn bán

    – Địa điểm: ở mom sông

    – “Quanh năm”: Suốt cả năm, từ năm nay đến năm khác, không trừ ngày nào, dù mưa hay nắng.

    – Hình ảnh ẩn dụ “thân cò”, trong không gian thời gian “khi quãng vắng”, tính chất công việc “lặn lội”: Gợi nên không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy âu lo, nguy hiểm và nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú.

    – Từ “eo sèo”, “đò đông” gợi cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người bán hàng nhỏ. Sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau, lời qua tiếng lại với nhau. Hình ảnh “đò đông” còn ẩn chứa những sự bất trắc không ngờ.

    ⇒ Hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả với một không gian sinh tồn bấp bênh, khó khăn. Sự vất vả, đơn chiếc, bươn trải trong cảnh chen chúc làm ăn của bà Tú

    Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú

    – Bà Tú là người đảm đang tháo vát, chu đáo với chồng con “Nuôi đủ năm con với một chồng”

    – Bà Tú là người giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con: “Năm nắng mười mưa dám quản công”

    Câu 3:

    – Lời chửi trong hai câu cuối là lời của nhà thơ Tú Xương

    – Ý nghĩa của lời chửi là tác giả thầm trách bản thân mình một cách thẳng thắn, nhận ra sự vô dụng của bản thân mình. Nhưng đó lại là một lẽ thường tình trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Tú Xương dám thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, dám tự nhận khuyết điểm của mình. Từ đó cho thấy ông là một người có nhân cách đẹp

    Câu 4 :Nỗi lòng của nhà thơ

    – Tình cảm yêu thương, quý trọng những nỗi vất vả, hi sinh của người vợ dành cho mình

    – Tự trách mình là một người chồng nhưng lại “ăn lương vợ”. Trong câu “nuôi đủ năm con với một chồng” cho thấy người khong không khác gì một đứa con dại, vẫn phải nuôi lớn, chăm nom.

    – Lời chửi trong hai câu kết là Tú Xương đang tự chửi mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ông chửi “thói đời”, đã khiến bà Tú phải khổ. Từ đó cho thấy tình cảm sâu nặng của ông với người vợ của mình

    Luyện tập

    – Về hình ảnh: Tú Xương đã vận dụng hình ảnh “con cò” trong ca dao thành hình ảnh “thân cò” có phần xót xa, tội nghiệp hơn. Hình ảnh “thân cò” còn có tác dụng nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú và nỗi đau thân phận.

    – Về từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ “nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với “nắng, mưa” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

  • SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHỮNG BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-C%C3%82U-C%C3%81-M%C3%99A-THU-THU-%C4%90I%E1%BA%BEU-C%E1%BB%A6A-NGUY%E1%BB%84N-KHUY%E1%BA%BEN.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI CÂU CÁ MÙA THU (THU ĐIẾU CỦA NGUYỄN KHUYẾN)

    Bố cục

    – Cách chia 1:

    + Hai câu đề: Quang cảnh mùa thu

    + Hai câu thực: Những chuyển động nhẹ nhàng của mùa thu

    + Hai câu luận: Bầu trời và không gian làng quê

    + Hai câu kết: Tâm trạng của nhà thơ

    – Cách chia 2:

    + Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc bộ

    + Phần 2 (2 câu thơ cuối): Tình thu

    Câu 1 : Điểm nhìn của tác giả

    – Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: từ chiếc thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu.

    – Điểm nhìn ấy giúp nhà thơ bao quát được toàn cảnh mùa thu, từ bầu trời đến con nước, cảnh vật, cuộc sống ở làng quê vào mùa thu

    Câu 2 :Nét riêng của cảnh sắc mùa thu

    – Sự dịu nhẹ thanh sơ của cảnh vật:

    + Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắ, lá vàng. Tạo nên các điệu xanh: Ao xanh, bờ xanh, sóng xanh, tre xanh, bèo xanh, một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi.

    + Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng …

    – Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc …

    ⇒ Một bức tranh mùa thu trong trẻo, tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

    Câu 3 :

    – Không gian rộng, sâu của bầu trời đối lập với mặt ao hẹp với ngõ trúc

    – Không gian hiu quạnh, tĩnh lặng, thoáng buồn, vắng tiếng, vắng người được thể hiện qua hình ảnh “ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Không gian tĩnh lặng đến độ người câu cá có thể nghe thấy tiếng “cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

    ⇒ Thể hiện nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn tác giả. Qua hoàn cảnh chúng ta có thể hiểu đó là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến.

    Câu 4 :

    – Cách gieo vần “eo” – tử vận, oái oăm, khó làm, được Nguyễn Khuyến sử dụng rất tài tình.

    – Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng uẩn khúc của thi nhân.

    Câu 5 :

    Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được ở Nguyễn Khuyến một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc.

    Luyện tập (trang 22 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

    Câu 1 :

    Cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ: dùng từ ngữ gợi cảnh để diễn tả tâm trạng

    – Cảnh thanh sơ, dịu nhẹ được gợi lên qua các từ: trong veo, biếc, xanh ngắt, các cụm động từ: gợn tí, khẽ đưa, lơ lửng

    – Từ “vèo” trong câu thơ “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” nói lên tâm sự thời thế của nhà thơ

    – Vần “eo” được tác gải sử dụng rát tài tình. Trong bài thơ, vần “eo” giúp diễn tả không gian dần thu nhỏ, vắng lặng, hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của tác giả

    Câu 2 :

    Học thuộc và đọc diễn cảm bài thơ.

  • SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Văn Mẫu Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/SO%E1%BA%A0N-V%C4%82N-B%C3%80I-V%C3%80O-PH%E1%BB%A6-CH%C3%9AA-TR%E1%BB%8ANH.pdf[/pdfviewer]

    SOẠN VĂN BÀI VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( LÊ HỮU TRÁC)

    Tóm tắt

    Vào sáng sớm tinh mơ ngày 1 tháng 2, tôi được lệnh triệu vào phủ chúa. Tôi nhanh chóng được điệu đi trên một cái cáng chạy như ngựa lồng. Tôi đi vào từ cửa sau, nhìn quanh tôi thấy cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua mấy lần cửa, các hành lang dài quanh co tôi được đưa tới một ngôi nhà thật lớn gọi là phòng trà. Đồ đạc trong phòng đều được sơn son thếp vàng. Lúc đó thánh thượng đang ngự phòng thuốc cùng các phi tần nên tôi không thể yết kiến. Tôi được thiết đãi bữa sáng mĩ vị với đồ dùng toàn bằng vàng, bạc. Ăn xong tôi được đưa đến yết kiến ở Đông Cung và khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Thế tử vì “ăn quá no, mặc quá ấm” mà sinh bệnh. Nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi dốc lòng kê đơn cho thế tử, rồi từ giã lên cáng trở về kinh Trung Kiền chờ thánh chỉ. Bạn bè ai ai trong cung cũng đến thăm hỏi.

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến không có dịp): Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh.

    – Phần 2 (tiếp đến phòng chè ngồi): Thực trạng trong phủ chúa, hình ảnh Trịnh Cán ốm yếu.

    – Phần 3 (còn lại): Tâm trạng, cảm nghĩ của Lê Hữu Trác

    Câu 1 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    * Quang cảnh trong phủ Chúa

    – Phải đi qua nhiều lần cửa, với những dãy hành lang dài quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có lính canh gác, ai muốn vào phải có thẻ.

    – Vườn hoa trong phủ Chúa cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa cỏ thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

    – Bên trong phủ là nhà Đại đường, Quyển bổng, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng ơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

    – Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng chén bạc

    – Đến nội cung phải đi qua 5, 6 lần trướng gấm

    – Phòng thắp nến, sập thếp vàng, ghế rồng sơn son, nệm gấm mà che

    ⇒ Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ lộng lẫy, không đâu sánh bằng

    * Cung cách sinh hoạt trong phủ Chúa

    – Khi đi thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường

    – Trong phủ người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi

    – Lời lẽ nhắc đến thế tử đều hết mực cung kính, lễ độ tránh phạm úy.

    – Chúa Trịnh luôn cho phi tần chầu chực xung quanh. Tác gải không được thấy mặt Chúa

    – Thế tử bệnh có 7, 8 người thầy thuốc tục chực, phục dịch

    – Tác giả phải quỳ lạy 4 lần lúc đến và 4 lần lúc về

    ⇒ Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa với những lễ nghi, khuôn phép, cách nói năng, người hầu kẻ hạ cho thấy sự cao sáng, quyền uy, cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.

    * Cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống trong phủ

    – Lê Hữu Trác mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ Chúa những tác giả tỏ vẻ dửng dưng trước những thứ vật chất xa hoa và không đồng tình với cuộc sống quá xa xỉ, thừa thãi, hưởng lạc nhưng thiếu khí trời và tự do như ở trong phủ Chúa

    Câu 2 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chi tiết được cho là đắt nhất

    – “Một đứa bé độ 5, 6 tuổi ngồi chễm chệ trên sập vàng để cho thầy thuốc già cúi lạy bốn lần rồi cười và ban một lời khen “ông này lạy khéo”. Khi đi đi qua độ 5, 6 lần trướng gấm tối om như vậy là một khung cảnh vàng son nhưng tù hãm, thiếu sinh khí của thế tử. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt mấy người hầu cận đứng xúm xít.

    – Qua chi ấy cho thấy cuộc sống ăn chơi hưởng lạc trong phủ Chúa. Thế tử được mọi người chăm sóc, hầu cận đến phát bệnh. Không gian ngột ngạt, tù túng, thiếu sinh khí trong phủ Chúa.

    Câu 3 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

    – Cách chẩn đoán bệnh của Lê Hưu Trác cho thấy ông là một người thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm

    – Ông là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ

    – Đặc biệt ông còn có những phẩm chất cao quý: khinh thường danh lợi, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị

    Câu 4 (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bút pháp đặc sắc trong truyện

    – Sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực những gì đã nhìn thấy

    – Tả cảnh sinh động

    – Kể diễn biến sự việc một cách khéo léo, lôi cuốn người đọc

    Luyện tập (trang 9 sgk Ngữ văn 11 Tập 1)

    So sánh hai đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” (Lê Hữu Trác) với “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Phạm Đình Hổ)

    * Giống nhau: Đều phán ánh hiện thực cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh

    * Khác nhau:

    Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh – Phạm Đình Hổ

    + Phản ánh sự nhũng nhiễu của quan lại đối với nhân dân

    + Các sự kiện được kể một cách tản mạn, ghép nối

    + Thể hiện thái độ phê phán gay gắt của tác giả đối với Chúa và quan lại

    Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác

    + Ghi chép sự việc theo trình tự thời gian một cách tỉ mỉ và trung thực

    + Thể hiện thái độ phê phán một cách kín đáo

    + Thể hiện thái độ dửng dưng, coi thường vinh hóa phú quý và tấm lòng y đức của Lê Hữu Trác

  • [Soạn văn] Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    [Soạn văn] Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    Soạn văn lớp 11: Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)

    Tóm tắt: Một thời đại trong thi ca

    Trong tiểu luận này, Hoài Thanh đã nêu một vấn đề quan trọng là đi tìm tinh thần thơ Mới. Tác giả đã đưa ra nguyên tắc nhận diện tinh thần thơ Mới: Không căn cứ vào cục bộ và bài dở, phải căn cứ vào đại thể và bài hay. Xác định tinh thần thơ Mới là chữ “tôi” trong thơ Mới đối lập với chữ “ta” trong thơ cũ và cho thấy bi kịch của cái Tôi trong thơ Mới. Cuối cùng chỉ ra sự vận động của cái “tôi” và việc giải quyết bi kịch thời đại của nó bằng cách gửi cả vào tình yêu tiếng Việt.

    Câu 1:

    – Cái khó trong việc tìm ra tinh thần thơ mới là ranh giới giữa thơ cũ và thơ mới không phải rạch ròi dễ nhận ra.

    – Các nhận diện:

    + Không thể căn cứ vào những bài thơ dở, thời nào chả có mà phải so sánh bài hay với bài hay.

    + Vả chăng cái mới và cái cũ vẫn tiếp nối qua lại cho nên phải so sánh trên đại thể.

    Câu 2:

    Điều cốt lõi mà nhà thơ mới đưa đến cho thi đàn Việt Nam lúc giờ là “chữ tôi” với một quan niệm trước đó chưa từng có: quan niệm cá nhân (sự tự ý thức về bản thân, khát vọng được thành thực). Đồng thời “chữ tôi” cũng nói lên bi kịch ngấm ngầm trong hồn người thanh niên lúc bấy giờ.

    Câu 3:

    Vì “cái tôi” đã đem đến cho tâm hồn họ nỗi buồn lạnh, bơ vơ, muốn thoát nhưng không được. Họ là những thi nhân đang sống trong cuộc đời mong mỏi, tù túng của thân phận mất nước, mang trong mình “cái tôi” cô đơn, bé nhỏ nên họ thật đáng thương.

    – Tương phản giữa khát vọng thoát thân và thực tế tù túng, bế tắc để thấy bi kịch của thi sĩ lãng mạn.

    – Thoát lên trên – Đồng tiền đã khép.

    – Phiêu lưu trong trường tình – Tình yêu không bền.

    – Điên cuồng – Điên cuồng rồi tỉnh.

    – Đắm say – Say đắm vẫn bơ vơ.

    Câu 4:

    Các nhà thơ lãng mạn cũng như “người thanh niên” bấy giờ đã giải tỏa bi kịch đời mình bằng cách gửi bi kịch ấy vào trong tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt, lấy tinh thần nòi giống, tìm về dĩ vãng để làm chỗ dựa tinh thần (chú ý điệp cấu trúc ở đoạn cuối “chưa bao giờ như bây giờ…” thể hiện giọng điệu thiết tha và hi vọng giải thoát khỏi bi kịch của thu sĩ lãng mạn.

    Câu 5: Nghệ thuật của bài tiểu luận thể hiện qua đoạn trích:

    – Đặt vấn đề rõ, gọn.

    – Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo sự liền mạch trong hệ thống luận điểm, luận cứ, sự liên kết, chuyển tiếp giữa các ý, các đoạn trong bài một cách thống nhất.

    – Câu văn nghị luận giàu chất thơ có sức gợi cảm xúc và gây hứng thú cho người đọc.

    – Nghệ thuật lí luận chặt chẽ, thấu đáo, khoa học.

    – Khi phân tích đặc điểm thơ mới, tác giả luôn phân tích “cái tôi” trong nhiều quan hệ với ta “cái ta” để tìm chỗ giống nhau và khác nhau.

    + Khi tìm cái mới của thơ mới và các nhà thơ mới tác giả nhìn vấn đề trong mối quan hệ với thời đại với tâm lí người thi nhân đương thời là thấu đáo, sâu sắc.

    + Lí luận gắn bó chặt chẽ giữa những nhân định, luận điểm có tính khái quát những ví vụ cụ thể, đa dạng, giàu sức thuyết phục.

    + Có cái nhìn thấu đáo về “cái tôi“, “cái ta“, có sự so sánh giữa các câu thơ và nhà thơ cũ, mới trong diễn biến lịch sử.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Theo quan niệm của Hoài Thanh, chữ tôi và ta trong thơ mới và thơ cũ có gì khác nhau?

    – Chữ tôi và chữ ta đều thể hiện ý thức về bản thân mình. Chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nó.

    – Chữ ta trong thơ cũ là cá nhân ý thức gắn với cộng đồng, đoàn thể (lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình).

    Câu 2:

    Lòng yêu nước của các nhà thơ mới biểu hiện ở sự thiết tha với những giá trị, sự nỗi lực sáng tạo ra những giá trị văn hóa. Các nhà thơ mới yêu tiếng Việt; qua thơ mình, họ muốn làm cho tiếng Việt giàu đẹp hơn. Lòng yêu nước của họ còn thể hiện ở sự trân trọng tinh thần giống nòi, tâm trạng những vẻ đẹp của quá khứ dân tộc.