Category: Tài Liệu Lớp 11

  • [Soạn văn] Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    [Soạn văn] Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    Soạn văn lớp 11: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)

    Tóm tắt: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

    Văn bản là bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ Mác. Trong đó ông giới thiệu về khoảnh khắc Mác – một trong số những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại đã đi vào giấc ngủ ngàn thu. Ăng-ghen đã khẳng định ba cống hiến vĩ đại của Mác với cuộc sống của nhân loại: Tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người; Tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra; Cống hiến vĩ đại nhất là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, biến lý thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng. Qua đó Ăng–Ghen đã thể hiện niềm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của Mác.

    Câu 1: Bài điếu văn có thể chia làm 3 phần:

    – Phần 1 (đoạn 1 và 2): Thông báo sự qua đời của Các Mác, một sự tổn thất lớn của nhân loại.

    – Phần 2 (đoạn 3, 4, 5, 6): Đánh giá những cống hiến vĩ đại của Các Mác.

    – Phần 3 (đoạn 7 và câu kết): Bày tỏ sự tiếc thương – khẳng định sự bất tử của Các Mác.

    Câu 2:

    – Các Mác là người tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người qua các thời kì lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    – Các Mác đã tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó để ra. Đó là quy luật về giá trị thặng dư.

    – Các Mác đã kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, biến các lí thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng.

    Với những cống hiến đó, Các Mác đã trở thành một nhà khoa học, một nhà cách mạng lỗi lạc và là người tiên phong trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Ngoài ra, ông còn là người sáng lập ra hội Liên hiệp công nhân quốc tế. Tất cả những cống hiến và đóng góp đó, Các Mác đã trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong các nhà tư tưởng hiện đại“.

    Câu 3: Để làm nổi bật tầm vóc vĩ đại của Các Mác, Ăng-ghen đã sử dụng biện pháp so sánh kết hợp kết cấu tầng bậc (tăng tiến):

    So sánh vượt trội:

    – So sánh tương đồng:

    + Đác-uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ.

    + Các Mác tìm ra quy luật phát triển lịch sử loài người.

    – Tăng tiến:

    + Nhưng không chỉ có thế thôi (Các Mác còn phát hiện ra giá trị thặng dư…)

    + Nhưng đấy hoàn toàn không phải là điều chủ yếu ở Các Mác (trước hết Các Mác là một nhà cách mạng…)

    -> Hiệu quả biểu đạt: Các Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời (so sánh với các vĩ nhân, so sánh với những phát minh nổi tiếng không phải ai cũng làm được) không những thế, Các Mác còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Cách lập luận đó đã làm nổi bật tầm vóc vĩ đại của Các Mác và sự kính trọng, tiếc thương của Ăng-ghen và nhân loại trước sự ra đi của ông (Các Mác là đỉnh cao của mọi đỉnh cao).

    Câu 4: Niềm tiếc thương và kính trọng đối với Các mác:

    – Thái độ: đề cao, ca ngợi.

    – Tình cảm: tiếc thương xuất phát tự đáy lòng.

    Trong việc trình bày công lao: trình bày các phát hiện của Các Mác đã có sự kết hợp ca ngợi công lao. Đồng thời ca ngợi và khẳng định thể hiện sự thương tiếc của Ăng-ghen đối với Các Mác.

  • [Soạn văn] Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

    [Soạn văn] Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

    Soạn văn lớp 11: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Câu 1:

    Ông phê phán những kiểu học đòi “Tây hoá“:

    – Bập bẹ xem vài ba tiếng Tây trong lời nói: làm tổn thương tiếng mẹ đẻ và tự bộc lộ là người kém văn hoá.

    – Lối sống lai căng từ kiến trúc đến lời ăn tiếng nói. Đó là biểu hiện từ bỏ văn hoá dấu hiệu mất gốc => mất nước.

    – Ông phê phán quan niệm sai lầm cho rằng tiếng nước mình nghèo nàn nhưng vẫn khuyến khích giới trí thức học tiếng nước ngoài.

    Câu 2:

    – Tiếng nói rất quan trọng với vận mệnh dân tộc.

    tiếng nói … thống trị

    tiếng nói là tinh thần của dân tộc … từ chối quyền tự do

    => Tiếng nói được bảo tồn và phát triển thì nó là nhịp cầu tri thức giúp tiếp xúc nền văn minh, khoa học thế giới, mở mang dân trí.

    – Dẫn chứng để chứng tỏ tiếng nước mình không nghèo nàn:

    + Ngôn ngữ của Nguyễn Du giàu hay nghèo.

    + Tại sao dịch những tác phẩm Trung Quốc mà không viết tác phẩm tương tự.

    => Ngôn ngữ nghèo hay người dùng bất tài.

    Câu 3:

    Tác giả đưa ra 3 dẫn chứng để khẳng định rằng tiếng nước mình không nghèo nàn:

    – “Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?“. Tác giả đặt ra một câu hỏi mang tính khẳng định. Ngôn ngữ của Nguyễn Du là ngôn ngữ nổi bật trong Truyện Kiều một kiệt tác văn chương được đánh giá là đã thể hiện được một cách sâu sắc và phong phú nhiều mặt của đời sống con người nhất là đời sống nội tâm.

    – Tác giả tiếp tục đưa ra câu hỏi mang tính khẳng định: “Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?“. Một sự suy luận rất logic và hoàn toàn có lí.

    – Dẫn chứng thứ 3: “Ở An Nam cũng như mọi nơi khacsm đều có thể ứng dụng nguyên tắc này: Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra“.

    Câu 4:

    Nguyễn An Ninh không phủ nhận ngôn ngữ nước ngoài, thậm chí còn khuyến khích việc “để cho đồng bào họ cũng phải được thông phần nữa“. Việc biết thêm ngôn ngữ nước ngoài là sự cần thiết nhưng không kéo theo việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Việc học ngôn ngữ nước ngoài phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình.

    Câu 5:

    Trong hoàn cảnh nước nhà đang bị thực dân thống trị thì câu nói “Nếu người An Nam hãnh diện … vấn đề thời gian” có lí, nhưng không hoàn toàn đúng. Bởi vì nói như vậy là đặt tiếng nói lên một vị trí quá cao, tách rời khỏi nhiều yếu tố quan trọng khác trong sự kiện cách mạng giải phóng dân tộc như đường lối cách mạng, sức mạnh tự cường, vai trò lãnh đạo của Đảng.

  • [Soạn văn] Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    [Soạn văn] Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    Soạn văn lớp 11: Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    Tóm tắt: Về luân lí xã hội ở nước ta

    Luân lí xã hội ở nước ta tuyệt không ai biết đến. Sở dĩ thiếu luân lý xã hội là bởi người nước ta không biết cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người, không biết nghĩa vụ của mỗi người trong nước đối với nhau, dẫn đến tình trạng ai sống chết mặc ai, người này không biết quan tâm đến người khác. Đó là do thiếu ý thức đoàn thể, chưa biết giữ quyền lợi chung, chưa biết bênh vực nhau. Xưa dân ta cũng đã có ý thức đoàn thể nhưng nay đã xa sút. Nước ta chưa có luân lý xã hội còn do bọn vua quan chỉ biết quyền lợi ích kỷ của chúng, chỉ biết mua quan bán tước, dân càng nô lệ thì ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý. Nay nước Việt Nam muốn được tự do, độc lập thì trước hết dân ta phải có đoàn thể. Mà muốn có đoàn thể thì phải tuyên truyền XHCN.

    Câu 1: Cấu trúc đoạn trích gồm có 3 phần:

    – Phần 1: Khẳng định nước ta chưa có luân lí xã hội.

    – Phần 2: Sự thua kém về luân lí xã hội của ta so với phương Tây.

    – Phần 3: Chủ trương truyền bá XHCN cho người Việt nam.

    Chủ đề tư tưởng của đoạn trích: Cần truyền bá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để gây dựng đoàn thể nhằm hướng tới mục đích giành độc lập, tự do.

    Câu 2:

    Phần 1: Tác giả đã chọn cách vào đề trực tiếp, thẳng thắn, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe.

    – Phủ định tuyệt đối: Nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến xã hội luân lí.

    – Tác giả còn phủ nhận sự ngộ nhận, sự xuyên tạc vấn đề của không ít người.

    + Một tiếng bè bạn không thể cho thay xã hội luân lí được.

    + Những người học ra làm quan thường nhắc câu “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhưng mấy ai hiểu đúng bản chất của vấn đề “bình thiên hạ”.

    – Sự sống động trong tư duy, sự nhảy cảm trong quan hệ giao tiếp của tác giả thể hiện ở phần đầu đã khẳng định uy lực lời nói, tạo ấn tượng mạnh mẽ.

    Câu 3:

    Phần 2: Hai đoạn đầu tác giả đã so sánh bên châu Âu, bên Pháp với bên mình về những điều:

    – Ý thức nghĩa vụ giữa người với người (là giữa người này với người kia, mỗi người với mọi người, cá nhân với cộng đồng):

    + Xã hội ở Châu Âu: đề cao dân chủ, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn cả thế giới. Dẫn chứng cụ thể: “Bên Pháp, mỗi người khi người có quyền thế, hoặc Chính phỉ, lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của mỗi người hay một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị sai, vận động kì cho đến được công bình mới nghe“. Nguyên nhân vì người ta có đoàn thể, có công đức, ý thức sẵn sàng làm việc chung, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng quyền lợi của nhau.

    + Ở ta thì “Người nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người“, không biết cái nghĩa vụ của mỗi người đối với nhau, dẫn đến tình trạng ai sống ai chết mặc ai, người này không biết quan tâm đến người khác. Dẫn chứng cụ thể là: “Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình“. Có hiện tượng ấy là do “người nước mình” thiếu ý thức đoàn thể?

    Câu 4: Nguyên nhân của việc dân không biết đoàn thể, không trọng công ích:

    – Hồi cổ sơ ông cha ta đã có ý thức đoàn thể, cũng biết đến công đức.

    – Lũ vua quan phản động, thối nát, “ham quyền tước, ham bả vinh hoa“, “muốn giữ túi tham của mình được đầy mãi” nên đã tìm cách “phá tan tành đoàn thể của quốc dân“.

    – Tác giả hướng mũi nhọn đả kích vào bản chất phản động, thối nát của bọn vua quan:

    + Không quan tâm đến cuộc sống của dân.

    + Muốn dân tối tăm, khốn khổ để chúng dễ dàng thống trị, vơ vét.

    + “rút tỉa của dân” để trở nên giàu sang, phú quí.

    + Dân không có đoàn thể nên chúng mặc sức lộng hành mà không có ai lên tiếng, tố cáo, đánh đổ.

    + Quan lại chỉ toàn là bọn người xấu chạy chức, chạy quyền.

    – Tác giả dùng những từ ngữ, hình ảnh gợi tả, lối so sánh ví von sắc bén thể hiện thái độ căm ghét cao độ đối với chế độ vua quan chuyên chế.

    + “bọn học trò“, “bọn thượng lưu“, “kẻ mang đai đội mũ“, “kẻ áo rộng khăn đen“, “bọn quan lại“, “ngất ngưởng ngồi tin“, “lúc nhúc lạy dưới“…

    => Thể hiện tấm lòng của một người có tình yêu đất nước thiết tha, xót xa trước tình cảnh khốn khổ của người dân, luôn quan tâm đến vận mệnh của dân tộc, căm ghét bọn quan lại xấu xa thối nát. Dưới mắt tác giả, chế độ vua quan chuyên chế thật vô cùng tồi tệ, cần phải xoá bỏ triệt để.

    Câu 5: Cách kết hợp yếu tố biểu cảm với yếu tố nghị luận trong đoạn trích:

    – Yếu tố nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm gắn bó chặt chẽ giữa các phần; lí lẽ; dẫn chứng; tranh luận; bày tỏ chính kiến….

    – Yếu tố biểu cảm: câu cảm thán, câu hỏi tu từ, hình ảnh ví von… Yếu tố biểu cảm góp phần làm cho lí lẽ của bài diễn thuyết tăng thêm sức thuyết phục. Người nghe cảm thấy tác giả không chỉ nói bằng lí trí tỉnh táo mà còn bằng trái tim đầy xót xa trước tình trạng trì trệ thê thảm của xã hội Việt Nam.

    II. Luyện tập

    Câu 1:

    Phần tiểu dẫn đã nói rõ Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, hủy bỏ chế độ Nam triêu, cải cách đổi mới (duy tân) mọi mặt làm cho dân giàu, nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia. Trong bài diễn thuyết này, cùng với việc thúc đẩy gây dựng tinh thần đoàn thể vì sự tiến bộ, Phan Châu Trinh vạch trần sự xấu xa, thối nát của chế dộ vua quan chuyên chế là nhằm mục đích ấy. Có thể hình dung tâm trạng Phan Châu Trinh khi viết đoạn trích này là căm ghét bọn quan lại phong kiến, thương xót đồng bào, lo lắng cho đất nước, hi vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

    Câu 2:

    Phan Châu Trinh là một người có tình yêu đất nước thiết tha, quan tâm đến vận mệnh của dân tộc, xót xa thương cảm trước tình cảnh khốn khổ của nhân dân, hết sức căm ghét bọn quan lại xấu xa, thối nát. Đoạn trích cũng cho thấy tầm nhìn xa rộng, sắc sảo của ông. Ông thấy được mối quan hệ mật thiết giữa truyền bá xã hội chủ nghĩa, gây dựng tinh thần đoàn thể với sự nghiệp dành tự do, độc lập. Tất nhiên, cái đích cuối cùng là giành độc lập, tự do nhưng lựa chọn bước đi phải tỉnh táo. Phan Châu Trinh nhận thấy dân trí nước ta quá thấp, ý thức đoàn thể quá kém, cho nên ông kêu gọi gây dựng đoàn thể. Nhưng muốn thế phải có tư tưởng mới, tư tưởng xã hội chủ nghĩa, vì thế phải “truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này“.

    Câu 3: Chủ trương gây dựng nền luân lí xã hội ở Việt Nam của Phan Châu Trinh đến nay vẫn còn có ý nghĩa thời sự:

    – Cảnh báo nguy cơ tiêu vong các quan hệ xã hội tốt đẹp do lũ người “ham quyền tước, ham bả vinh hoa” (Thời nào cũng có) gây nên.

    – Khơi dậy niềm lo âu vì sự chậm tiến của đất nước do ý thức dân chủ chưa được phát huy cao.

    – Nhắc nhở tầm quan trọng của đoàn thể trong đời sống cộng đồng.

  • [Soạn văn] Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    [Soạn văn] Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    Soạn văn lớp 11: Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)

    Tóm tắt: Người cầm quyền khôi phục uy quyền

    Phăng tin bị Gia-ve bắt bỏ tù, nhờ có Giăng Van-giăng chị mới thoát nạn rồi được đưa vào bệnh xá. Trong lúc đang hết lòng cứu giúp Phăng Tin, Giăng Van-giăng lại quyết định ra tòa tự thú vì muốn cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan. Đoạn trích kể lại tình huống tên Gia-ve dẫn lính đến bắt Giăng Van-giăng khi ông đến thăm Phăng-tin ở bệnh xá. Khi Gia-ve đến, Phăng-tin nghĩ hắn đến bắt mình nên vô cùng sợ hãi. Vì không muốn dập tắt niềm hi vọng của Phăng-tin nên Giăng Van-giăng hạ mình cầu xin Gia-ve cho ông ba ngày để tìm ra con gái của chị. Nhưng Gia-ve vẫn tàn nhẫn tuyên bố Giăng Van-giăng là một tên tù khổ sai vượt ngục, hắn sẽ bắt ông. Nghe xong những lời lẽ ấy Phăng-tin đã tuyệt vọng tắt thở. Căm phẫn trước sự tàn nhẫn của Gia-ve, Giăng Van-giăng khôi phục uy quyền khiến Gia-ve phải run sợ. Giăng Van-giăng đến chỗ Phăng- tin nói những lời cuối với chị rồi đứng dậy quay về phía Gia-ve và nói “giờ thì tôi thuộc về anh”.

    Bố cục của tác phẩm Những người khốn khổ: 5 phần

    – Phần 1: Phăng-tin ;        Phần 2: Cô-dét

    – Phần 3: Mari-uýt ;         Phần 4: Tình ca phố

    – Phần 5: Giăng Van-giăng

    Đoạn trích: “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” thuộc phần cuối của phần 1 có bố cục gồm 2 phần:

    + Phần 1 (từ đầu đến Phăng tin tắt thở): Gia-ve biết thân phận của ông thị trưởng Ma-đơ-len chính là tên tù khổ sai Giăng Van-giăng đến bắt ông và gây nên cái chết của Phăng-tin

    + Phần 2 (còn lại): Giăng Van-giăng tìm lại uy quyền của mình

    Nhan đề: thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện, “người cầm quyền” ở đây chính là Giăng Van-giăng và đến cuối cùng chính anh đã “khôi phục uy quyền của mình“.

    Câu 1: Nghệ thuật đối lập hai nhân vật Giăng Văn-giăng và Gia-ve qua đối thoại, qua hành động.

    Người cầm quyền khôi phục uy quyền

    – Ý nghĩa của thủ pháp tương phản nhằm làm nổi bật sự đối lập giữa thiện-ác, tốt-xấu, yêu thương-tàn bạo. Từ những hình ảnh tương phản trên tác giả muốn gửi tới người đọc thông điệp. Trong hoàn cảnh bất công và tuyệt vọng, con người chân chính vẫn có thể bằng ánh sáng của tình thương đẩy lùi bóng tối của cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai.

    Câu 2:

    Ở Gia-ve tác giả đã sử dụng một loạt chi tiết nhằm quy chiếu về một ẩn dụ: Hình tượng con ác thú Gia-ve.

    – Bộ dạng, ngôn ngữ, hành động của hắn như con ác thú đang chuẩn bị vồ mồi (Tiếng thét “Mau lên” nghe như tiếng “thú gầm”; “phóng vào Giăng Van-giăng cặp mắt nhìn như cái móc sắt“; hành động “túm lấy cổ áo…“; “hắn cười phá lên, cái cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng“…)

    – Hắn mang dã tâm của loài thú (quát tháo Phăng-tin khi cô đang bệnh nặng, nói những lời kích động mạnh khiến Phăn-tin đột tử).

    Ở Giăng Van-giăng ta không tìm thấy một hệ thống hình ảnh so sánh quy về ẩn dụ như Gia-ve. Tuy nhiên, qua diễn biến tình tiết dẫn tới đoạn kết, những chi tiết về Giăng Van-giăng có thể quy chiếu về hình ảnh: Một con người chân chính – con người của tình yêu thương.

    – Để cứu một nạn nhân bị Gia-ve bắt oan, Giăng Van-giăng buộc phải tự thú.

    – Khi Phăng-tin chết “trong nét mặt và dáng điệu ông cho thất một nỗi thương xót khôn tả“.

    – Lời thì thầm bên tai người đã chết là những lời hứa (về sau ông đã thực hiện được lời hứa đó).

    Câu 3:

    Đoạn văn từ câu “Ông nói gì với chị?” đến câu “có thể là những sự thực cao cả” là phát ngôn của nhà văn. Thuật ngữ văn học dùng để chỉ tên loại ngôn ngữ này là: Bình luận ngoại đề (hay “Trữ tình ngoại đề“). Khái niệm này được giải thích như sau:

    “Trữ tình ngoại đề chỉ một trong những yếu tố ngoài cốt truyện trong tác phẩm tự sự, là những đoạn văn đoạn thơ mà tác giả hay người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tình cảm, ý nghĩ, quan niệm của mình đối với nhân vật, đối với cuộc sống thể hiện trọng tác phẩm …

    … Trữ tình ngoại đề góp phần bộc lộ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, làm sáng tỏ thêm hình tượng nhân vật. Nếu xuất phát từ tư tưởng tiển bộ, từ những thể nghiệm sâu sắc về cuộc sống, những đoạn trữ tình ngoại đề có ý nghĩa giáo dục lớn đối với người đọc …

    Trong tác phẩm tự sự, tính cách thông qua cốt truyện thể hiện nội dung của tác phẩm. Quá lạm dụng trữ tình ngoại đề sẽ làm cho tác phẩm tản mạn. Những đoạn trữ tình ngoại đề sai lệch về tư tưởng, thiếu kinh nghiệm sống, ảnh hưởng lớn đến chất lượng tác phẩm”.

    Câu 4: Những dấu hiệu của nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa qua đoạn trích:

    – Phăng-tin đã chết rồi mà khi nghe những lời thì thầm của Giăng Van-giăng trên đôi môi nhợt nhạt của chị hiện lên “nụ cười không sao tả được“.

    – Khi Giăng Van-giăng sửa sang thi thể Phăng-tin như “một người mẹ sửa sang cho con” thì “gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường“.

    Có thể đó chỉ là ảo tưởng do người khác (bà Xơ Xem-phích và tác giả) quá xúc động trước cử chỉ, hành động của Giăng Van-giăng. Bút pháp lãng mạn giúp nhà văn làm nổi bật vẻ đẹp trong tâm hồn đầy yêu thương của Giăng Van-giăng.

  • [Soạn văn] Người trong bao (Sê-khốp)

    [Soạn văn] Người trong bao (Sê-khốp)

    Soạn văn lớp 11: Người trong bao (Sê-khốp)

    Tóm tắt: Người trong bao

    Bê-li-cốp là giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Ông nổi tiếng khắp thành phố nước Nga với phong cách ăn mặc đặc biệt. Tất cả những vật dụng của ông đều được để trong một cái bao. Ông khát khao thu mình vào trong một cái vỏ và tạo cho mình một cái bao để ngăn cách với bên ngoài. Ông luôn có những ý nghĩ không thực, luôn ngợi ca quá khứ, ca ngợi tiếng Hi lạp. Ngay cả ý nghĩ cũng được ông giấu kĩ vào bao. Ông có thói quen kì quặc là đi hết nhà các đồng nghiệp, kéo ghế ngồi rồi chẳng nói gì, chỉ nhìn xung quanh độ một giờ sau thì ra về khiến ai cũng sợ. Ông cũng nghĩ đến chuyện cưới Va-ren-cô làm vợ . Có người đã vẽ bức tranh châm biếm về ông và Va-ren-cô. Ngày chủ nhật hôm sau, ông chứng kiến cảnh hai chị em Va-ren-ca phóng xe vụt qua khiến ông ngạc nhiên và sửng sốt. Ông quyết định đến nhà Va-ren-ca để góp ý cho hai chị em. Ông và cô em gái Cô-va-len-cô đã cãi nhau. Bê-li-cốp đoạn sẽ báo cáo với hiệu trưởng nên Cô-va-len-cô đã túm áo và xô mạnh khiến Bê-li-cốp ngã xuống cầu thang. Vừa lúc đó, Va-ren-ca nhìn thấy, cười phá lên khiến Bê-li-cốp cảm thấy nhục nhã, lo sợ và vội vã về nhà. Một tháng sau, Bê- li- cốp qua đời. Mọi người ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng nhưng lâu sau họ lại cảm thấy nặng nề, mệt nhọc, vô vị. Bê- li- cốp qua đời nhưng trong thành phố hiện còn nhiều người trong bao. Trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người “trong bao” như thế nữa.

    Câu 1: Hình tượng “Người trong bao” – nhân vật Bê-li-cốp.

    a. Chân dung Bê-li-cốp

    – Cách ăn mặc: đi giày cao su, cầm ô khi trời đẹp, mặc áo bành tô, đeo kính râm, lỗ tai nhét bông …

    – Đặc điểm: Tất cả đều đề trong bao

    => kì quái, khác người, lập dị

    b. Tính cách Bê-li-cốp

    – Có khát vọng kì dị, mãnh liệt: Thu mình vào một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao để ngăn cách …

    – Nhút nhát, ghê sợ hiện tại nhưng lại ca ngợi tôn sùng quá khứ: say mê và ca ngợi tiếng Hi lạp.

    – Máy móc, giáo điều, rập khuôn: phản ứng việc đi xe đạp của 2 chị em Va-ren-ca, thói quen trong quan hệ đồng nghiệp.

    – Cô độc, luôn lo lắng và sợ hãi

    – Luôn luôn thoả mãn và hài lòng với lối sống cổ lỗ, hủ lậu, kì quái của mình

    => Hèn nhác, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong bao và cảm thấy an tâm sung sướng, mãn nguyện

    – Lối sống ảnh hưởng dai dẳng, mạnh mẽ đến lối sống và tinh thần của mọi người

    – Bê-li-cốp là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đã và đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận tri thức Nga cuối thế kỉ XIX. Hắn không phải là một cá nhân quái đản mà là con đẻ của chế độ phong kiến chuyên chế đang phát triển mạnh trên con đường tư bản hóa ở nước Nga cuối thế kỉ XIX.

    Câu 2: Cái chết của Bê-li-cốp bất ngờ nhưng tất yếu, hợp với tính cách hắn.

    Việc hắn bị Kô-va-len-cô đẩy ngã xuống cầu thang đã bị Va-ren-ca nhìn thấy (chẳng ra thể thống gì), Va-ren-ca còn “cười phá lên”, “cười âm vang, lảnh lót”. Điều kinh khủng nhất đối với hắn là sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ mà trước hết là tiếng cười của Va-ren-ca. Hắn chết và hắn được nằm trong quan tài – “Cái bao” bền vững nhất, đó là khát vọng mãnh liệt – kì dị cả đời Bê-li-cốp.

    – Khi Bê-li-cốp còn sống mọi người sợ hãi, căm ghét, bị ám ảnh. Khi hắn chết mọi người cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng chưa được bao lâu cuộc sống lại diễn ra như cũ nặng nè, mệt nhọc, vô vị, tù túng.

    Từ đó nhà văn muốn nói đến tác động dai dẳng, nặng nề, của kiểu người Bê-li-cốp, đã ám ảnh đầu độc bầu không khí trong sạch, làm kìm hãm sự tiến bộ của xã hội nước Nga đương thời. Nhà văn muốn thức tỉnh mọi người “không thể sống như thế mãi được”.

    Câu 3: Ý nghĩa tư tưởng – nghệ thuật của hình ảnh “cái bao”.

    – Nghĩa đen: Vật dùng để đựng có hình túi hoặc hình hộp, là vật dụng quen dùng của Bê-li-cốp.

    – Nghĩa bóng: Lối sống và tính cách của nhân vật Bê-li-cốp.

    – Nghĩa biểu trưng: Lối sống thu mình, hèn nhác, ích kỉ cá nhân, hủ lậu … đã và đang tồn tại làm ảnh hưởng đến một bộ phận không nhỏ ở nước Nga => giá trị phê phán.

    – Ý nghĩa phổ quát: Cả xã hội Nga thời điểm đó cũng là cái bao khổng lồ trói buộc, ngăn chặn sự tự do của co người => sức mạnh tố cáo.

    => Cái bao là biểu tượng giàu ý nghĩa là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả.

    Câu 4: Những đặc sắc về nghệ thuật.

    – Ngôi kể: Nhân vật trong truyện đồng thời là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất (Pu-rơ-kin). Tác giả giữ ngôi thứ ba kể lại câu chuyện của Pu-rơ-kin. Tăng tính chân thật, khách quan cho câu chuyện.

    – Giọng kể trầm tĩnh, bình thản, khách quan nhưng bên trong đầy trăng trở, bức xúc.

    – Xây dựng nhân vật vừa cụ thể vừa khái quát, tính cách nhân vật kì quái mà vẫn chân thực.

    – Hình ảnh “cái bao”, câu nói lặp đi lặp lại của nhân vật “Nhỡ lại xảy ra việc gì thì sao”. Có giá trị nghệ thuật cao.

    Câu 5: Trao đổi, thảo luận về ý nghĩa thời sự của truyện “Người trong bao”.

    – Lối sống trong bao vẫn tồn tại trong xã hội ngày nay trong học đường (ở một số cá nhân): hèn nhát, ích kỉ, giáo điều, hèn hạ trước quyền lực.

    – Các bạn cần bày tỏ thái độ, tình cảm:

    + Phê phán, chỉ trích, không đồng tình với lối sống đó.

    + Xác định lối sống lành mạnh, chan hòa với mọi người, sống theo chuẩn mực văn hóa, đạo đức của cộng đồng hiện đại.

    II. Luyện tập

    Câu 1: HS tự nhập vai Bê-li-cốp để kể lại truyện ngắn Người trong bao bằng cách xưng “tôi”.

    Câu 2: không nên thay nhan đề Người trong bao bằng các nhan đề đã cho, vì nhan đề này giàu hình ảnh, vừa mang tính khái quát lại vừa gây ấn tượng sâu sắc.

    Câu 3:

    Con ốc nằm co.

    Nhát như thỏ đế.

    Rùa rụt cổ.

    Co vòi rụt cổ.

    – …

  • [Soạn văn] Bài thơ số 28 (Ta-go)

    [Soạn văn] Bài thơ số 28 (Ta-go)

    Soạn văn lớp 11: Bài thơ số 28 (Ta-go)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến … không biết gì tất cả về anh): khát vọng hòa hợp trong tình yêu.

    – Phần 2 (tiếp đến … em có biết gì về biên giới của nó đâu): khát vọng dâng hiến trong tình yêu.

    – Phần 3 (còn lại đến hết): sự vô cùng của cuộc đời – trái tim – tình yêu.

    Cuối mỗi phần đều có câu chuyển ý Em chẳng thể biết tất cả về anh.)

    Câu 1: Hình tượng so sánh trong câu thơ mở đầu:

    Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng anh

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cả

    Thể hiện niềm khát khao hòa hợp, hiểu biết nhau trong tình yêu. (Đôi mắt như ánh sáng lung linh diệu huyền muốn rọi sáng tận đáy sâu trái tim người yêu. Khát khao thấu hiểu người mình yêu là chính đáng nhưng vô vọng bởi chiều sâu tâm tưởng anh là vô cùng như chiều sâu biển cả).

    Câu 2:

    Lối cấu trúc đưa ra giả định rồi phủ định để đi đến kết luận, được sử dụng trùng điệp trong bài thơ nhằm thể hiện triết lí của Tago về trái tim, tình yêu.

    – Nếu đời anh là viên ngọc (quý giá), đóa hoa (đẹp đẽ) thì anh sẵn sàng dâng tặng tất cả cho em, để em xinh đẹp và đáng yêu hơn. Nghĩa là Ta-go muốn hiến dâng trọng vẹn cho người yêu nếu có thể được. Nhưng nhà thơ đành phải thừa nhận “đời anh là trái tim, nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó“. Nó là thế giới bí ẩn, thăm thẳm vô biên, làm sao dâng hiến trọn vẹn một lần.

    – Nếu trái tim anh chỉ là một trái tim bình thường, đơn điệu ít lạc thú, ít khổ đau thì em sẽ cảm nhận rất dễ dàng nhưng “trái tim anh lại là tình yêu, nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên” nên “chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu“. Tago muốn cho người yêu biết rằng trái tim tình yêu không đơn giản. Niềm khát khao lạc thú cũng như nỗi đau khổ, buồn bã trong tình yêu là vô biên, những người yêu nhau phải hiểu điều đó để cùng chia sẽ, tận hưởng hoặc cùng chịu đựng, vượt qua.

    Câu 3: Cách nói nghịch lý:

    Anh không giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh

    Không chỉ xuất hiện ở đoạn đầu mà còn được sử dụng khá nhiều lần trong bài thơ. Cách nói ấy thể hiện một điều kì diệu trong tình yêu, đó là những cái bề ngoài thì dễ nắm bắt còn sự phong phú, phức tạp của trái tim thì không dễ dâu nắm bắt được. Cái quý giá nhất của cuộc đời chàng trai là một trái tim – một thế giới tinh thần bí ẩn, vô biên, một vương quốc mà em là nữ hoàng, là người làm chủ nó mà cũng không thể biết được biên giới của nó xa gần, rộng hẹp đến đâu. Đây chính là một khoảng cách không bao giờ phá nổi, một đỉnh cao không bao giờ bị chinh phục của tình yêu. Niềm hòa hợp, đồng cảm dù đẹp đẽ đến đâu cũng không bao giờ trọn vẹn bởi đặc tính này của trái tim con người.

    Bài thơ được kết cấu theo tầng bậc. Ý một: Anh xin dâng hiến trọn vẹn cuộc đời anh cho em. Ý hai: nhưng không bao giờ em có thể chiếm lĩnh trọn vẹn trái tim anh. Hai ý này ngày càng được bổ sung ở mức độ cao hơn trong những lập luận của toàn bài.

    Sự đối lập giữa khát vọng giãi bày, dâng hiến, chan hòa vào tâm hồn người yêu và cái bí ấn không gì khám phá nổi của trái tim là những đối lập tồn tại mãi mãi trong tình yêu. Sự hòa hợp trọn vẹn trong tình yêu là điều không thể đến, nhưng tình yêu luôn là niềm khao khát cái trọn vẹn ấy.

  • [Soạn văn] Tôi yêu em (Pu-Skin)

    [Soạn văn] Tôi yêu em (Pu-Skin)

    Soạn văn lớp 11: Tôi yêu em (Pu-Skin)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (bốn câu đầu): những tâm trạng dằn xé trong tâm trạng của nhà thơ.

    – Phần 2 (hai câu tiếp): khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình.

    – Phần 3 (còn lại): sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình.

    Câu 1:

    Điệp khúc “tôi yêu em” làm nổi bật cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Tám dòng thơ mà có đến ba lần điệp khúc tôi yêu em được láy đi láy lại ở dòng 1, 5, 7 và từng dòng thơ để nhấn mạnh ý. Điệp khúc tôi yêu em là giọng điệu chủ đạo của bài thơ, nó vang lên như tiếng lòng say đắm, mãnh liệt, vững bền của tình yêu thi sĩ đối với người yêu.

    Bài thơ dường như là lời từ giã cho một mối tình không thành. Đúng là như vậy, Pu-skin đã yêu một thiếu nữ đẹp tên là A. A. Ô-lê-nhi-a, và mùa hè năm 1828, nhà thơ ngỏ lời cầu hôn nhưng không được chấp nhận. Và bài thơ tôi yêu em ra đời năm 1829 là lời từ giả cho mối tình vô vọng ấy. Đây là lời từ giã của cả lí trí và tình cảm của nhà thơ.

    Nếu bốn câu thơ đầu, cảm xúc bị ghìm nén do lí trí chi phối, thì ở bốn câu thơ sau,mạch cảm xúc lại tuôn trào, không tuân theo mệnh lệnh của lí trí để khẳng định mộttình yêu mãnh liệt không che giấu của nhà thơ. Lời từ giã thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng vẫn đầy ắp một tình yêu nồng cháy, đằm thắm vang lên trong điệp khúc tôi yêu em tha thiết, vững bền. Vậy là từ giã mà vẫn yêu, càng yêu mãnh liệt, nhưng phải từ giã để không làm phiền muộn đến người mình yêu, và nhất là để cầu mong cho người yêu được hạnh phúc trong tình yêu. Bởi thế tuy có buồn nhưng đây là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành mãnh liệt, nhân hậu, vị tha. Trong lời từ giã này có cái điềm tĩnh, đúng đắn của lí trí và cả cái cao thượng, đẹp đẽ của tình cảm. Một lời từ giã như vậy, không chỉ cao đẹp cho riêng nhà thơ, mà nó còn vươn tới những giá trị tinh thần cao cả của loài người.

    Câu 2:

    Diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện tinh tế qua sự chuyển biến của giọng điệu trữ tình trong bài thơ:

    – Từ hai câu 1-2 sang hai câu 3-4:

    Tôi yêu em: đến nay chừng có thể

    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;

    Nhưng, không để em bận lòng thêm nữa,

    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

    Chú ý sẽ thấy hai cặp thơ diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây có sự “đấu tranh” giữa tình cảm và lí trí. Hai câu 1-2, giọng thơ có chút gì như cân nhắc, dè dặt (chừng có thể, chưa hẳn) nhưng vẫn là một sự khẳng định trong tình cảm của nhà thơ. Mạch thơ chuyển đột ngột:

    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,

    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

    Rõ ràng ở đây đã có sự can thiệp của lí trí khiến cảm xúc phải ghìm nén lại. Nguyên văn ghi rõ: “Nhưng mong sao nó không làm em băn khoăn thêm nữa, tôi chẳng muốnlàm em buồn vì bất cứ lẽ gì” nói lên một điều dứt khoát trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình: cần phải dập tắt ngọn lửa tình yêu (dù chỉ là âm thầm, dai dẳng) để tránh cho em phải bận lòng và chẳng muốn làm em buồn. Điều quan trọng không phải là tình yêu của nhà thơ mà là sự yên tĩnh, thanh thản của “hồn em”, của người mình yêu: đó mới là cái cao thượng trong tình yêu của tác giả.

    – Từ hai câu 5-6 sang hai câu 7-8:

    Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng,

    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,

    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,

    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

    Ở khổ thơ này, mạch cảm xúc lại tuôn trào, không bị dồn nén như ở khổ đầu. Điệp khúc tôi yêu em được láy lại ba lần thì khổ này chiếm hết hai chính là vì thế! Hai câu 5-6 bộc lộ rõ mối tình đơn phương của nhà thơ: một tình yêu âm thầm, không hi vọng. Đó là tình yêu “rất con người” với mọi sắc thái muôn thuở: có nỗi đau khổ âm thầm, có niềm tuyệt vọng chua xót, và nhất là cũng rụt rè, ghen tuông như mọi người đàn ông khác. Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà chân thành bày tỏ, thú nhận những cái “đời thường” trong tình yêu mà ai cũng có, cũng bị giày vò. Câu thơ dịch khá đạt “khi hậm hực lòng ghen“, nhưng ý thơ trong nguyên tác còn rõ hơn.

    – Dù nó chỉ là mối tình đơn phương của nhà thơ – trong hai chữ: chân thành, đằm thắm. Đó là một nét đẹp cần ghi nhận. Nhưng còn đẹp hơn nừa là lời cầu mong tha thiết, đầy vị tha của thi nhân đối với người mình yêu mà không được đền đáp:

    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thẳm.

    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em

    Cái đẹp nằm trong mối liên hệ của hai câu thơ: chính vì yêu em chân thành, đằm thắm nên mới cầu mong em có được một người yêu em cũng chân thành, đằm thắm như mình. Mọi suy nghĩ của nhà thơ đều hướng về người yêu, mong người yêu được hạnh phúc. Điều này không dễ ai cũng có được như Pu-skin trong mối tình vô vọng đó.

    Câu 3:

    Hai câu kết bất ngờ hàm chứa nhiều ý vị:

    Bởi lẽ thông thường khi yêu người ta ích kỉ. Yêu nhau càng thiết tha thì khi chia tay càng hậm hực, nhỏ nhen… hận thù: Pu-skin đã vượt được thói ích kĩ tầm thường trong tình yêu bằng một sự ứng xử rất đẹp: yêu là trân trọng người mình yêu, mong muốn người yêu được hạnh phúc.

    Câu 4: Tâm hồn Pu-skin qua bài thơ.

    Bài thơ thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha.

  • [Soạn văn] Chiều xuân (Anh Thơ)

    [Soạn văn] Chiều xuân (Anh Thơ)

    Soạn văn lớp 11: Chiều xuân (Anh Thơ)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (khổ 1): cảnh xuân trên bến vắng.

    – Phần 2 (khổ 2): cảnh xuân trên đường đê.

    – Phần 3 (khổ 3): cảnh xuân trong ruộng lúa.

    Câu 1:

    Bài thơ là một bức tranh mùa xuân vào buổi chiều tà – tiêu biểu cho cảnh xuân nơi đồng quê miền Bắc nước ta. Bài thơ mạnh ở lối tả. Không tả tỉ mỉ chi tiết mà quan sát rộng, mặc dù thế vẫn muốn thâu tóm từ linh hồn của cảnh. Có thể nhận xét chung rằng bức tranh buổi chiều xuân khá yên ả. Thậm chí có phần hơi vằng lặng nữa.

    Buổi chiều xuân rất đặc trưng trước hết chính là ở cảnh mưa: mưa bụi, mưa xuân thưa thớt bay. Mưa gọi những mầm non thức dậy. Cảnh đầu tiên lọt vào tầm quan sát của tác giả là cảnh bến đò. Nhưng như đã nói, bức tranh không được chụp vào lúc đông vui nhộn nhịp, nên như hòa vào cái yên ả của buổi chiều xuân kia, con đò cũng “biếng lười nằm mặc nước sông trôi“. Điểm xuyết liên tục thêm vào bức tranh ấy là quán tranh vắng, là những chùm hoa xoan tím “rụng tơi bời”.

    Cảnh từ gần được mở rộng thêm, ca và xa hơn. Nhưng vẫn là nét đặc trưng của mùa xuân đồng bằng Bắc Bộ: cỏ non tràn biếc cỏ, đàn sáo đen, những cánh bướm rập rờn, … Khổ thứ hai có một hình ảnh thơ thật độc đáo và xuất sắc:

    Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

    Ba khổ thơ gần như chỉ là những câu thơ tả cảnh. Có thể nói cả bài thơ hợp thành một bức tranh quê giản dị, mộc mạc, thanh nhã, hơi gợi buồn vì cảnh vắng quá, yên tĩnh quá.

    Câu 2:

    Bài thơ tả cảnh nhưng lại gợi ra rất rõ cái không khí và nhịp sống muôn đời ở nông thôn nước ta thời trước, đó là sự bình yên. Con đò nằm biếng lười, quán vắng, những cánh bướm rập rờn, những đàn trâu thong thả, … tất cả đều có dáng khoan thai. Phải chờ đợi đến hai câu cuối của bài thơ, người đọc mới thấy xuất hiện hình ảnh con người. Nhưng con người sao cũng thụ động quá:

    Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

    Làm giật mình một cô nàng yếm thắm

    Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa

    Câu thơ chụp vội đúng cái thời khắc lao động của người thiếu nữ. Một cô thôn nữ chăm chỉ trong một buổi chiều quê tĩnh lặng. Câu thơ tả động nhưng thực ra là để nói cái tĩnh. Và nói cái tĩnh tất nhiên cũng lại để tiếp tục nhấn mạnh vào cái nhịp sống rất bình yên của một vùng quê mà dường như tất cả vẫn còn rất nguyên sơ.

    Câu 3:

    Trong bài thi sĩ đã dùng rất nhiều từ láy để dựng cảnh, hay nói đúng hơn là để gợi cái trạng thái tinh thần của cảnh: mưa thì êm êm, quán tranh đứng im lìm, hoa xoan rụng tơi bời, đàn sáo mổ vu vơ, mấy cánh bướm rập rờn, những trâu bò thong thả, … . Trong các từ láy đã nêu, trừ từ tơi bời, các từ láy còn lại đều là những từ láy có tính chất giảm nhẹ: êm êm, vu vơ, rập rờn, thong thả, … và hoặc thì diễn tả trạng thái thụ động hoặc thì diễn tả trạng thái đều đều của chủ thể. Rõ ràng trong tổng thể bài thơ, chính sự kết hợp của những từ láy này đã giúp thể hiện nổi bật vẻ dịu dàng, yên ả, thanh bình của cảnh chiều xuân cũng như của nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của tác giả.

  • [Soạn văn] Tương tư (Nguyễn Bính)

    [Soạn văn] Tương tư (Nguyễn Bính)

    Soạn văn lớp 11: Tương tư (Nguyễn Bính)

    Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (4 câu thơ đầu): khởi nguồn cho tâm trạng tương tư

    – Phần 2 (12 câu tiếp theo): giãi bày tâm sự tương tư

    – Phần 3 (còn lại): ước mơ muôn đời của tình yêu đôi lứa

    Câu 1: Nỗi nhớ mong và những lời kể lệ, trách móc, mơ tưởng, ước vọng xa xôi của chàng trai.

    – Nhớ nhung da diết thành bệnh tương tư:Thành ngữ “chín nhớ mười mong” chỉ sợ nhớ nhung rất nhiều.

    – Kể lệ, trách móc cũng chỉ là để bộc lộ nỗi tương tư của mình. Những câu hỏi tu từ xoáy vào lòng người nghe: Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Âm điệu câu hỏi biến thành lời than.

    – Tâm trạng chờ đợi mòn mỏi, sốt ruột:

    Ngày qua ngày lại qua ngày

    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

    + Câu thơ “Ngày qua ngày lại qua ngày” ngắt nhịp 3/3, chữ “lại” trở thành điểm nhấn của ngữ điệu diễn tả nhịp thời gian cứ trôi mà sự trông chờ càng vô vọng, chán ngán.

    + Lấy sự chuyển đổi màu sắc cây lá “lá xanh” đã thành “lá vàng” để chỉ thời gian chờ đợi. Ở câu trên còn tính từng ngày, câu dưới đã thấy những mùa đi qua. Thời gian chờ đợi dài theo nỗi tương tư nên héo mòn,vô vọng, vô vàng. Cách diễn tả thật tinh tế và giàu ý nghĩa nhưng vẫn dễ cảm nhận.

    – Mơ tưởng, ước vọng xa xôi:

    Bao giờ bến mới gặp đò?

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

    + Trong ao ước đã có mầm vô vọng: hình ảnh bến, hoa (cố định) – đò, bướm (di chuyển) thật khó mà “gặp” được nhau.

    + Chàng trai quê sống trong nỗi tương tư nhưng vẫn gửi theo gió nỗi niềm ước vọng xa xôi:

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

    Lẽ ra phải nói “cau thôn Đoài” nhớ “trầu thôn Đông” nhưng không dám chắc, đành nói lệch đi. Nhưng nỗi lòng nhớ nhung thì từ đầu đến cuối bài thơ đều không thay đổi.

    Nỗi nhớ da diết của nhân vật trữ tình trải suốt bài thơ nhưng đến tận cuối bài thơ vẫn chưa được đền đáp. Chính vì thế nó tạo nên cái cớ cho dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách tha thiết và sâu sắc.

    Câu 2: Cách bày tỏ tình yêu, giọng điệu thơ, cách so sánh ví von ở bài thơ này có những điểm đáng lưu ý.

    – Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, chân thành.

    – Hình ảnh ví von, ẩn dụ, chất liệu ngôn từ chân quê đậm màu sắc dân gian: thôn Đoài, thôn Đông, bến, đò, hoa, bướm, trầu – cau.

    – Cách bày tỏ tình yêu tự nhiên kín đáo, ý nhị và có ý vị chân thành mộc mạc của tâm hồn chàng trai quê.

    Câu 3:

    Trong thơ Nguyễn Bính “có hồn xưa đất nước” (Hoài Thanh). Điều đó được thể hiện ở cách biểu hiện cảm xúc, cách dùng ngôn ngữ, chất liệu đậm màu sắc dân gian, giàu chất “chân quê”.

  • [Soạn văn] Nhớ đồng (Tố Hữu)

    [Soạn văn] Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Soạn văn lớp 11: Nhớ đồng (Tố Hữu)

    Bố cục: 3 phần:

    – Phần 1 (9 khổ thơ đầu): khát khao và nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống tư do bên ngoài.

    – Phần 2 (2 khổ tiếp): nhớ những ngày còn ở ngoài tự do.

    – Phần 3 (còn lại): thực tại phòng giam ngột ngạt.

    Câu 1:

    – Tiếng hò vang lên lẻ loi, đơn độc giữa trưa yên tĩnh, sâu lắng, gợi cảm giác buồn, hiu quạnh, đồng điệu với cảnh ngộ và tâm trạng người tù.

    – Tiếng hò gợi dậy tất cả những gì của thế giới bên ngoài. Đó là âm thanh của cuộc sống bên ngoài đến được với nhà tù, âm thanh tiêu biểu của xứ Huế, gợi nỗi nhớ đồng quê, nhớ người dân quê da diết.

    Câu 2:

    Trong bài thơ Tố Hữu dùng khá nhiều phép điệp, nhất là điệp khúc: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ, Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh và điệp từ “đâu“. Việc lặp lại như vậy tạo được hiểu quả nghệ thuật cao, tác dụng như một điệp khúc, nhấn mạnh tô đậm cảm xúc của cả bài thơ:

    – Nỗi hiu quạnh: Hiu quạnh trong âm thanh tiếng hò não nùng, hiu quạnh của trưa vắng, hòa điệu cùng nỗi hiu quạnh của người tù một mình đối diện với bốn bức tường giam hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.

    – Nỗi thương nhớ: được khơi gợi từ tiếng hò, từ sự quạnh hiu. Thương nhớ đồng quê (từ cảnh sắc đến người dân quê).

    – Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

    Câu 3:

    – Hình ảnh đồng quê được hình dung rõ ràng, cụ thể, không chỉ bằng đường nét, màu sắc mà còn có cả hương vị, hơi mát … . Tất cả đều là những cảnh sắc đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương (màu sắc: ô mạ xanh; không khí yên bình; ruồng tre mát, thở yên vui; hương vị: gió cồn thơm, khoai ngọt sắn bùi; âm thanh: lúa xao xác, tiếng xe lùa nước hòa tiếng hò não nùng – những âm thanh buồn nhưng lại thể hiện được hồn quê).

    – Bao trùm là âm điệu tiếng than về nỗi quạnh hiu cùng cực của một người tha thiết yêu đời, say mê hoạt động bị cách li khỏi cuộc đời.

    Câu 4:

    Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi


    Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

    Đoạn thơ tạo hai hình ảnh đối lập: hình ảnh của nhà thơ trước khi gặp lí tưởng cách mạng được tái hiện trong kí ức (những ngày xưa tôi nhớ tôi) và hình ảnh sau khi đến với lí tưởng cách mạng:

    – Trước khi gặp lí tưởng cách mạng: băn khoăn, vẩn vơ, quanh quẩn, tâm hồn bế tắc, chán nản.

    – Sau khi gặp lí tưởng cách mạng: như cánh chim vui say, bay liệng trong không gian bao la, bát ngát. Tâm hồn được giải phóng, rộng mở, hòa nhập với cuộc đời.

    – Từ hai hình ảnh đối lập, nhà thơ quay về với thực tại: cánh chim buồn nhớ gió mây. Hình ảnh con chim tự do ngày nào giờ đây trong cảnh giam cầm, nhớ gió mây gợi niềm say mê lí tưởng, khao khát được hoạt động, được cùng đồng chí, đồng bào chiến đấu.

    Câu 5:

    Nhận xét chung về tâm trạng tác giả thể hiện trong bài thơ:

    Bài thơ không dùng lại nỗi thương nhớ đồng quê mà còn là thương nhớ cuộc sống, thương nhớ đồng bào, kháo khát tự do, bất bình với thực tại tù đày.